Giảng kinh
(Phiên tả Pháp thoại ngày 15 & 19 tháng 03 năm 1998, tại xóm Thượng, Làng Mai, Pháp)
Kinh Trung đạo nhân duyên, 中道因緣, được dịch từ Hán tạng, kinh số 301 trong bộ Tạp A hàm, kinh số 99 của tạng Đại chánh. Trong khi dịch kinh này, thầy có tham khảo một kinh tương đương thuộc tạng Pāḷi, kinh Kaccāyanagotta, trong Tương ưng bộ (Saṃyukta Nikāya II, 16 –17).
Kinh Trung đạo nhân duyên nói về chánh kiến, về tri kiến chân chính, vượt thoát khỏi ý niệm có và không. Hôm trước chúng ta học sơ lược về chánh kiến, thân miệng ý noi về chánh kiến. Chúng ta đã học chánh kiến dưới khía cạnh của Bốn sự thật – khổ, tập, diệt, đạo và dưới ánh sáng của Tứ thực – bốn loại thức ăn (đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực, thức thực). Ở đây, chúng ta sẽ học chánh kiến dưới khía cạnh của Trung đạo, vượt thoát ý niệm có (being) và ý niệm không (non–being). Có là một ý niệm và không là một ý niệm khác.
Trung đạo, the middle way, là vượt thoát ý niệm có và ý niệm không. Trung đạo không có nghĩa là cộng cái này với cái kia rồi chia đôi, tức là một nửa có một nửa không, hoặc vừa có vừa không, hoặc không có cũng không không. Trung đạo là vượt thoát cả có, không, vừa có vừa không, không có không không.
Triết học vẫn thường đặt vấn đề về có và không. Thế giới có thật không hay chỉ là một ảo tưởng? Câu hỏi của các nhà triết học là: To be or not to be? Có hay không? Tồn tại hay không tồn tại? Thi sĩ Shakespeare có nói rằng: “To be or not to be, that is a question (Tồn tại hay không tồn tại, đó là một câu hỏi).” Tuy nhiên, trong đạo Bụt chúng ta phải vượt thoát hai ý niệm có và không, do đó chúng ta nói ngược lại rằng: “To be or not to be, that is not the question (Tồn tại hay không tồn tại, đó không phải là câu hỏi).”
Trong khi học kinh Trung đạo nhân duyên, chúng ta nên tham cứu thêm hai kinh khác nữa. Đó là kinh 296 (có thể gọi là kinh Duyên sinh, 緣生) và kinh 297 (kinh Đại không, Đại không pháp kinh, 大空法經). Hai kinh này cũng nằm trong Tạp A hàm, thuộc Hán tạng và đã được dịch sang tiếng Việt.
Kinh Trung đạo nhân duyên, bản tiếng Pāḷi là Kaccāyanagotta Sutta. Kaccāyana là tên tiếng Pāḷi của thầy Ca Chiên Diên, tiếng Phạn là Kātyāyana.
Đây là những điều mà chính tôi đã được nghe hồi Bụt cư trú tại ngôi nhà khách ở trong một khu rừng thuộc tụ lạc Na Lợi. Lúc ấy có tôn giả Tán Đà Ca Chiên Diên đến thăm Người. Sau khi đảnh lễ dưới chân Bụt, đại đức lui về một bên, ngồi xuống và bạch:
– Thế Tôn, Thế Tôn thường nói tới danh từ chánh kiến. Vậy chánh kiến là gì? Thế Tôn diễn giải về chánh kiến như thế nào?
Trong bản tiếng Pāḷi người ta ghi chép rằng kinh này Bụt nói ở thành Xá Vệ, khác biệt với bản Hán tạng. Thành Xá Vệ thuộc nước Kosala. Nhà khách trong khu rừng ở tụ lạc Na Lợi thuộc nước Ma Kiệt Đà.
Lần này Bụt không nói về chánh kiến như cái thấy về Tứ đế, về Bát chánh đạo hay về Tứ thực. Bụt nói chánh kiến dưới cái thấy của Trung đạo.
Bụt bảo tôn giả Tán Đà Ca Chiên Diên:
– Người đời thường nghiêng về hai khuynh hướng nhận thức: một là có, hai là không. Đó là do vướng mắc vào tri giác sai lầm của mình. Vì vướng vào tri giác sai lầm cho nên mới kẹt vào hoặc ý niệm có hoặc ý niệm không.
Những câu kinh này tự nó đã rất rõ ràng. Vì có những tri giác sai lầm cho nên chúng ta mới nghĩ rằng thế giới này hoặc có thật hoặc không có thật.
Tán Đà Ca Chiên Diên! Phần lớn người đời đều bị kẹt vào chấp và thủ. Người không còn bị kẹt vào chấp và thủ thì không còn nắm giữ, kế đạt và vọng tưởng về cái ngã nữa.
Ở đây chúng ta có hai danh từ là chấp và thủ. Chấp là nắm lấy, không buông bỏ. Thủ là mắc kẹt. Ví dụ khi bị cua kẹp, ta rút ra không được thì gọi là thủ. Con cua kẹp lấy ta không chịu nhả ra, bởi vì từ ban đầu chính ta nắm lấy nó. Đó là ý niệm, là tri giác sai lầm của ta. Ta kẹt vào ý niệm, vào tri giác sai lầm, vì vậy ta bị vướng mắc.
Người không còn bị kẹt vào chấp và thủ thì không còn nắm giữ, kế đạt và vọng tưởng về cái ngã nữa. Nắm giữ là không buông ra. Kế là đo (measure, calculate); đạt là ước lượng, ước tính (estimate). Kế đạt là đo lường, dự toán, so sánh, tưởng tượng, tức là ta cố gắng để có một ý niệm về cái đó, rằng cái đó là lớn, là nhỏ, là quan trọng, là không quan trọng, là có, là không. Vọng tưởng là tưởng tượng ra, gán cho sự thật những ý niệm này, ý niệm kia. Tự thân cái đó không như vậy mà ta nghĩ là như vậy; tự thân cái đó không phải là thường mà ta nghĩ là thường; tự thân cái đó không có ngã mà ta nghĩ là có ngã; tự thân cái đó là nguy hiểm mà ta nghĩ là an toàn. Vọng tưởng đó do kế đạt mà sinh ra. Đối tượng cũng như nguyên do của tất cả những nắm bắt, những kế đạt, những vọng tưởng đó là ý niệm về ngã. Ý niệm về ngã là cốt lõi, là trung tâm của tất cả những nắm bắt, những kế đạt và những vọng tưởng. Ý niệm về ngã là sự âm thầm tin tưởng rằng có một cái gọi là cái ta (ngã – ta, tiếng Anh là me) và có một cái thuộc về cái ta đó (ngã sở – của ta, tiếng Anh là mine).
Người ấy biết cái khổ khi có điều kiện phát sinh thì nó phát sinh, khi hết điều kiện tồn tại thì nó hoại diệt. Người ấy không còn nghi hoặc gì nữa cả. Cái thấy của người ấy không do bị ảnh hưởng của người khác mà có, trái lại do chính người ấy tự đạt được.
Đức Thế Tôn nói đến khổ như một ví dụ. Khổ là một pháp, như một bông hoa, một cái bình thủy hay một cái bàn. Ở đây, Bụt không có chủ đích nói về Tứ diệu đế. Ví dụ ta có một nỗi khổ đau, ta quán chiếu và thấy được khổ đau đó là do điều kiện này, điều kiện kia tập hợp lại và làm cho khổ đau biểu hiện. Cũng như bông hoa, quán chiếu cho sâu sắc thì thấy có những điều kiện tụ họp lại, làm cho bông hoa biểu hiện. Khi những điều kiện không còn thuận lợi nữa thì bông hoa tan rã.
Người ấy biết cái khổ khi có điều kiện phát sinh thì nó phát sinh, khi hết điều kiện tồn tại thì nó tiêu diệt. Người ấy không còn nghi hoặc gì nữa cả. Ta cũng vậy, quán chiếu cho sâu sắc thì thấy được tất cả đều do các nhân duyên hòa hợp mà biểu hiện. Khi những nhân duyên tan rã thì hiện tượng đó cũng tan rã, không có gì để phải nghi hoặc.
Cái thấy của người ấy không do bị ảnh hưởng của người khác mà có, trái lại do chính người ấy tự đạt được. Chúng ta tin không phải vì nghe Bụt nói cái này là vô thường, cái này là vô ngã, cái này do duyên sinh mà có. Mà chính nhờ vào sự quán chiếu nên ta thấy được. Cái thấy của ta không phải được hình thành từ những lời giáo huấn, những ý niệm của người khác. Ở đây, đức Thế Tôn nói về sự thực chứng. Ta tự quán chiếu để thấy chứ không lặp lại như con vẹt những điều người khác nói cho ta nghe. Ví dụ ta có một nỗi khổ, nhìn sâu vào trong lòng nỗi khổ ta thấy được những nguyên do xa gần đã đưa đến cái khổ ấy. Đó là điều ta tự thấy chứ không phải vì có người nói: “Anh đang khổ, anh phải tin rằng anh đang khổ”. Nhờ có sự quán chiếu, có trí tuệ, ta thấy ta đang khổ và đồng thời thấy được các yếu tố gần xa làm cho nỗi khổ ấy biểu hiện. Vì thế ta không còn nghi hoặc gì về cái thấy của ta nữa. Ta tự quán sát ra cái thấy chứ không phải do tiếp nhận một cách lý thuyết từ người khác.
Cái thấy ấy gọi là chánh kiến. Đó là cách trình bày chánh kiến của Như Lai.
Vì sao thế? Người có tri kiến chân chính khi quan sát về sự sinh khởi của thế gian thì không thấy thế gian là không.
Thế gian đang được sinh khởi, đang được biểu hiện. Bông hoa đang được biểu hiện, tại sao ta nói là không có bông hoa? Ta thấy nỗi khổ đang ùn ùn kéo tới, tất cả đang biểu hiện một cách rõ ràng, ta không thể nói là không có nỗi khổ. Ta kẹt vào ý niệm không là không đúng.
Người có tri kiến chân chính khi quán sát về sự hoại diệt của thế gian thì không thấy thế gian là có.
Khi bông hoa đang hoại diệt, khi cái bàn đang hoại diệt, khi cái khổ đang hoại diệt thì ta đâu thể nói bông hoa đang có, cái bàn đang có, cái khổ đang có. Đừng thấy sự biểu hiện của các pháp mà nói các pháp là có; đừng thấy sự tàn hoại của các pháp mà nói các pháp là không. Vì căn cứ trên tri giác cạn cợt, sai lầm mà ta nói cái đó là có hay là không, sự thật thực tại vượt khỏi cả hai ý niệm có và không. Đó là ý của đức Thế Tôn.
Khi ta không thấy biểu hiện thì ta nói là không có. Khi thấy có biểu hiện thì ta nói là có. Đó là sai lầm của rất nhiều người. Ví dụ khi thiền hành quanh xóm Hạ vào tháng Tư, ta không thấy hoa hướng dương và ta nói không có hoa hướng dương. Nhưng kỳ thực, khi lái xe ngang qua con đường ta thường thiền hành thì người nông dân thấy rất khác. Họ thấy có hoa hướng dương, vì họ đã gieo hạt giống rồi. Chỉ cần đợi đến tháng Năm, tháng Sáu là hoa hướng dương nở rộ. Ta không thấy được chiều sâu, nên vội vã kết luận là không có. Nhưng người nông dân biết là có. Đến khi hoa hướng dương đã biểu hiện, nhưng người nông dân thấy rất rõ rằng chỉ trong vòng một, hai tháng nữa là cánh đồng hoa hướng dương này sẽ trở nên trơ trụi và trống không. Trong khi đó, ta chưa thấy được điều này và cho rằng cánh đồng hoa hướng dương là có. Vì vậy cho nên hai ý niệm có và không không phù hợp với thực tại.
Tán Đà Ca Chiên Diên! Chấp có là một biên kiến, chấp không là một biên kiến khác; Như Lai lìa hai biên kiến đó mà thuyết pháp ở trung đạo.
Chữ biên là một bên (tiếng Anh dịch là extreme, biên kiến dịch là extreme view). Giáo lý của đức Như Lai phản chiếu trung đạo, tức là con đường vượt thoát hai thái cực có – không, sinh – diệt, một – khác, tới – đi. Không có cũng không không, không sinh cũng không diệt, không một cũng không khác, không tới cũng không đi. Nếu hiểu được trung đạo không có cũng không không thì ta có thể hiểu được không sinh cũng không diệt, không tới cũng không đi, không một cũng không khác. Anh với tôi không phải là một, cũng không phải là khác.
Như Lai lìa hai biên kiến đó mà thuyết pháp ở trung đạo. Nghĩa là: Cái này có vì cái kia có, cái này sinh vì cái kia sinh.
Đây là những lời rất đơn giản nhưng sâu sắc. Nếu người ta hỏi trong đạo Bụt có giáo lý giảng dạy về nguyên do hình thành thế giới hay không, thế giới này vì sao mà có, ai tạo ra thế giới này, lúc ban đầu như thế nào và kết cuộc như thế nào,… thì chúng ta có thể nói lên bài kệ này: “Cái này có vì cái kia có, cái này sinh vì cái kia sinh, cái này không vì cái kia không, cái này diệt vì cái kia diệt.” Đó là sự trình bày giáo lý duyên khởi một cách hết sức đơn giản. This is because that is. This is born because that is born. Bông hoa có mặt vì ánh sáng mặt trời có mặt, hạt giống có mặt, đất có mặt, người trồng hoa có mặt. Cái này có vì những cái kia có. Đó là câu trả lời siêu việt nhất mà đơn giản nhất của đạo Bụt về sự hình thành thế giới.
Chúng ta đã từng học chữ vô thỉ, nghĩa là không có bắt đầu. Vì thời gian là một pháp hữu vi và thời gian dựa vào không gian mà biểu hiện. Địa (đất), thủy (nước), hỏa (lửa), phong (gió), không (không gian), thời (thời gian), phương (phương hướng), thức (tâm thức) – tám đại này nương vào nhau mà thành, như thời gian được biểu hiện từ những cái khác. Thời gian có mặt vì bảy đại kia có mặt. Điều này cũng đúng cho bông hoa, cho nỗi khổ niềm đau và đúng cho tất cả mọi hiện tượng trên thế giới. Những câu hỏi: “Cái gì là nguyên nhân đầu tiên? Lúc đầu tiên nó như thế nào?… là những câu hỏi do sự vô minh, sự không thấu đáo lý duyên khởi mà có. Một khi ta thấu đáo được lý duyên khởi, nắm được giáo lý trung đạo nhân duyên thì những câu hỏi tương tự trở thành những câu hỏi rất vụng về, ngây thơ. Chúng ta thấy rằng, thời gian cũng như không gian, vật thể cũng như tâm thức, đều nương vào nhau mà có, cái này biểu hiện vì cái kia biểu hiện, cái này ẩn tàng vì cái kia ẩn tàng. Tất cả những điều này đều là đối tượng của sự quán chiếu. Ta không cần tiếp thu từ một vị thầy nào, một giáo lý nào mà phải tự quán chiếu để thấy.
Nghĩa là: Cái này có vì cái kia có, cái này sinh vì cái kia sinh; từ vô minh mà có hành, từ hành mà có thức, từ thức mà có danh sắc, từ danh sắc mà có lục nhập, từ lục nhập mà có xúc, từ xúc mà có thọ, từ thọ mà có ái, từ ái mà có thủ, từ thủ mà có hữu, từ hữu mà có sinh, từ sinh mà có lão tử và khổ đau chồng chất thành khối. Nếu vô minh không còn thì hành không còn, hành không còn thì thức không còn, thức không còn thì danh sắc không còn, danh sắc không còn thì lục nhập không còn, lục nhập không còn thì xúc không còn, xúc không còn thì thọ không còn, thọ không còn thì ái không còn, ái không còn thì thủ không còn, thủ không còn thì hữu không còn, hữu không còn thì sinh không còn, sinh không còn thì lão tử không còn và nguyên khối khổ đau chồng chất kia bị tiêu diệt.
Bụt nói kinh này xong, tôn giả Tán Đà Ca Chiên Diên thấy tâm bừng sáng giải thoát, cắt đứt được các hệ lụy và chứng quả A la hán.
Trong kinh Trung đạo nhân duyên, Bụt cũng nói đến Mười hai nhân duyên, tức là giáo lý duyên khởi phát triển đến mức đầy đủ nhất. Trước đó Bụt nói đến bảy nhân duyên, tám, chín, mười và mười hai nhân duyên. Thuyết nào cũng đúng, nói bảy cũng được, nói tám, chín, mười hay mười hai nhân duyên cũng được, thêm chi tiết vào để người ta hiểu rõ hơn thôi. Giống như chúng ta phân tích thì có khi nói danh sắc, gồm vật chất và tinh thần, là đủ. Hay chúng ta chia ra làm ngũ uẩn – sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng được. Hai yếu tố – danh sắc không trái chống với năm yếu tố – ngũ uẩn. Cũng như cách ta phân chia thành tứ đại (địa, thủy, hỏa, phong), rồi sau đó lại phân thành lục đại (địa, thủy, hỏa, phong, không, thức), tiếp đến là tám đại (địa, thủy, hỏa, phong, không, thời, phương, thức) thì cũng như nhau cả. Nếu chúng ta muốn làm ra mười đại cũng được vì trong một yếu tố có thể thấy được tất cả những yếu tố khác.
Trước khi tiếp tục ta nên đọc qua bản chữ Hán, đây là một trong những kinh khó dịch và văn rất cổ. Quý vị cũng phải tập cho quen để sau này có thể một mình đi vào được Đại tạng.
Như thị ngã văn: Đây là những điều tôi được nghe.
Nhất thời Phật trú Na Lê tụ lạc: Một thời nọ, Bụt đang cư trú tại một làng xóm tên là Na Lợi. (Na Lợi là ngôi làng nằm không xa quê hương của thầy Xá Lợi Phất).
thâm lâm trung: ở trong rừng sâu
đãi tân xá: nhà khách
Nhĩ thời, tôn giả Tán Đà Ca Chiên Diên: Lúc bấy giờ tôn giả Tán Đà Ca Chiên Diên
nghệ: đi tới
Phật sở: chỗ ở của Bụt
khể thủ Phật túc: cúi đầu làm lễ dưới chân Bụt, chạm trán mình vào chân Bụt
thối trú nhất diện: đi lui, ngồi xuống một bên. Thường là không ngồi trước mặt thầy mà ngồi sang một bên.
bạch Phật ngôn: bạch với Bụt rằng
Thế Tôn! Như Thế Tôn thuyết chánh kiến: Thế Tôn thường hay nói về chánh kiến
Vân hà chánh kiến?: Chánh kiến là như thế nào? (What is the right view?) Vân hà Thế Tôn thi thiết chánh kiến? Thi thiết là trình bày, diễn giải và xây dựng ra. Thế Tôn diễn giải về chánh kiến như thế nào? (How do you explain the right view?) Thế Tôn tức là bậc tôn quý ở trong đời.
Phật cáo Tán Đà Ca Chiên Diên: Phật nói với Tán Đà Ca Chiên Diên rằng
Thế gian hữu nhị chủng y: Người đời có hai chỗ nương vào. Nhị chủng là hai thứ; y là nương tựa, lệ thuộc, dựa vào.
nhược hữu: hoặc có
nhược vô: hoặc không
vi thủ sở xúc: vì cái nắm bắt đó mà bị mắc kẹt. Chữ xúc ban đầu có nghĩa là tiếp xúc. Ta nắm nó thì nó nắm ta, nó dính ta (giống như con chuồn chuồn, con ve khi dính vào mủ mít thì bị mủ mít dính lại).
thủ sở xúc cố: vì nắm và bị kẹt cho nên
hoặc y hữu, hoặc y vô: hoặc dựa trên ý niệm có hoặc dựa trên ý niệm không.
Nhược vô thử thủ giả: nếu không có sự nắm bắt đó
tâm cảnh hệ trước: thì khi tâm và cảnh tiếp xúc nhau. Tâm là chủ thể nhận thức, cảnh là đối tượng nhận thức; hệ trước là có liên hệ với nhau và tiếp xúc với nhau.
sử bất thủ, bất trú, bất kế ngã: khiến cho ta không phải nắm bắt, không bị giữ lại đó (bất trú là không bị ở lại đó), không tính toán, không kế đạt, không nắm bắt ý niệm về ngã, không kẹt vào ý niệm về ngã, không tưởng tượng, không đo lường, không ức đạt về ngã. Bất thủ, bất trú, bất kế ngã nghĩa là bất thủ ngã, bất trú ngã, bất kế ngã. Nhược vô thử thủ giả, tâm cảnh hệ trước, sử bất thủ, bất trú, bất kế ngã: nghĩa là nếu không có sự nắm bắt và ràng buộc đó thì khi tâm cảnh tiếp xúc nhau, ta không nắm vào ngã, không bị kẹt vào ngã, không kế đạt vào ngã.
khổ sinh nhi sinh, khổ diệt nhi diệt: ví dụ như cái khổ, khi nó sinh thì nó sinh, khi nó diệt thì nó diệt.
ư bỉ bất nghi, bất hoặc: nơi sự kiện sinh diệt của cái khổ đó ta không nghi hoặc gì cả, ta thấy rất rõ ràng cái khổ phát sinh vì những nguyên do nào và nó hoại diệt vì những lý do nào.
bất do ư tha nhi tự tri: không phải từ người khác mà là chính mình tự biết lấy; bất do ư tha là không phải do người khác; nhi tự tri: nhưng một mình tự biết.
thị danh chánh kiến: cái đó gọi là chánh kiến. Chánh kiến ở đây là một kinh nghiệm trực tiếp của ta về thực tại. Kinh nghiệm có được do sự quán chiếu của chính mình chứ không phải nhờ học hỏi từ người khác.
thị danh Như Lai sở thi thiết chánh kiến: đó là phương thức mà Như Lai trình bày, giảng giải và thực tập về chánh kiến; thi thiết là trình bày, giảng giải, thực tập.
Sở dĩ giả hà?: Tại sao vậy?
Thế gian tập: trong khi thế gian đang hình thành (như bông hoa, cái bàn hay nỗi khổ); tập là hình thành, sinh ra, being formed, những điều kiện tới với nhau và làm hình thành nên một cái gì đó thì gọi là tập.
như thật chánh tri kiến: nếu ta dùng tri kiến chân chánh, đích thực mà quán chiếu. Như thật ở đây được dịch từ chữ tathātā, reality as it really is, tức là chân như, là tự thân của thực tại. Ta không tưởng tượng về nó, không gán cho nó ý niệm này, ý niệm kia mà chính bản thân của nó là như vậy. Như thật chánh tri kiến là ta thấy được, biết được nó một cách như thật. (If we have the knowledge, the right view as what the reality really is).
nhược thế gian vô giả bất hữu: nếu chúng ta đang quán sát một cách chính xác sự hình thành của thế gian thì lúc đó ý niệm cho rằng thế gian không có là không đúng; bất hữu nghĩa là điều đó không đúng. Cái gì không đúng? Đó là ý niệm vô, trong khi thế giới đang hình thành.
thế gian diệt: thế gian đang tàn hoại (bông hoa đang tàn hoại, cái bàn đang tàn hoại, nỗi khổ đang tàn hoại).
như thật chánh kiến: nếu chúng ta có tri kiến chân chánh biết rõ bản chất sự thật.
nhược thế gian hữu giả vô hữu: mà nếu nói rằng thế gian có thì cũng không đúng. Có nghĩa là khi cái gì đang hình thành mà ta nói cái đó không có, điều đó không đúng; khi cái gì đang tàn hoại mà ta nói cái đó có, thì điều đó cũng không đúng.
Bản dịch tiếng Việt: Người có tri kiến chân chính khi quán sát về sự sinh khởi của thế gian thì không thấy thế gian là không. Người có tri kiến chân chính thì khi quán sát về sự hoại diệt của thế gian thì không thấy thế gian là có.
thị danh ly ư nhị biên thuyết ư trung đạo: điều đó gọi là xa lìa hai thái cực mà nói Pháp ở lĩnh vực trung đạo.
sở vị thử hữu cố bỉ hữu: cái này có vì cái kia có
thử khởi cố bỉ khởi: cái này biểu hiện vì cái kia biểu hiện. Có cha thì có con, có con thì có cha; có anh thì có em, có em thì có anh; có ngày thì có đêm, có đêm thì có ngày; hai cái nương vào nhau mà có.
vị duyên vô minh hành: do duyên vô minh mà có hành… Ở đây chỉ nói một cái, còn những cái như do duyên hành mà có thức,… không nhắc tới bởi vì ta đã biết những cái đó. Ở đây các thầy dịch lược bớt nên để dấu ba chấm. Trong bản dịch của chúng ta liệt kê đầy đủ nên dài hơn.
nãi chí thuần đại khổ tụ tập: thuần đại khổ là cả một khối đau khổ lớn – nó chứa nhóm, nó hình thành thì gọi là tụ tập.
vô minh diệt cố hành diệt: khi vô minh tan rã thì hành tan rã… Ở đây cũng để dấu ba chấm lược bớt.
nãi chí thuần đại khổ tụ diệt: cho đến khi cả khối khổ đau tụ tập kia tan rã.
Trong chương này của Tạp A hàm, có rất nhiều kinh nói về mười hai nhân duyên nên các thầy chỉ liệt kê đầy đủ mười hai nhân duyên trong một số kinh, còn các kinh khác các thầy dùng dấu ba chấm để thể hiện sự lược bớt.
Phật thuyết thử kinh dĩ, tôn giả Tán Đà Ca Chiên Diên văn Phật sở thuyết, bất khởi chư lậu, tâm đắc giải thoát, thành A La Hán: Phật nói kinh này xong, tôn giả Tán Đà Ca Chiên Diên nghe Phật nói rồi thì không phát khởi những tư tưởng hữu lậu, tâm được giải thoát và thầy trở thành một vị A La Hán.
