Dưới chân ngọn hùng phong

(Sư Cô Chân Thuần Khánh)

Tôi đến xóm Hạ vào một ngày cuối thu năm 2000. Xe dừng trước một căn nhà đá thấp mà sau này tôi biết đó là cư xá Mây Tím. Một sư cô dáng người nhỏ nhắn mặc đồ nâu, đeo tạp dề nâu và chít khăn nâu, ra đón hai chị em tôi trước cửa. Thầy Pháp Độ, giúp lái xe, nói: “Sư chị, sư em mới của sư chị nè”.

Đó là sư cô Bảo Nghiêm. Sư cô mỉm cười, mắt nheo nheo rồi nói với thầy Pháp Độ một cách vui vẻ: “Cám ơn sư em nhé”.

Thế là tôi đi vào nhà với sư cô, em tôi thì lên xóm Thượng với thầy. Tôi ở lại xóm Hạ từ đó. Xóm Hạ trở thành một nơi quay về, là quê hương thứ hai của tôi.

 

Về tới rồi hả con!

Một tuần sau, chị tôi, sư cô Tuệ Nghiêm, từ tu viện Thanh Sơn ở Mỹ về tới, và đưa tôi lên chào Sư Ông trong ngày quán niệm ở xóm Mới. Sư Ông ngồi trên một phiến đá cạnh khóm tre ngay trước Phật đường. Một vị Hòa thượng sao lại có thể ngồi bệt trên đá, sát nền đất vậy nhỉ? Ý nghĩ kia chỉ thoáng qua trong đầu tôi, rồi thay vào đó là một cảm giác quen thuộc và an tâm lạ lùng. Sư chị Tuệ Nghiêm chưa kịp thưa gì thì Sư Ông đã lên tiếng: “Về tới rồi hả con!”

Trong giây phút đầu tiên, tôi tưởng Sư Ông hỏi sư chị, nhưng đâu đó trong tâm thức đang bị khuấy động, tôi biết rằng câu hỏi đó dành cho tôi, dành cho một người mà Sư Ông chưa biết là ai: “Về tới rồi hả con!” Thực sự đó không phải là câu hỏi. Đó là lời chào đón ấm áp, đơn giản, thường nhật và rất gia đình của ôn nội, của ba, của mạ, lúc tôi đi học hay đi chơi đâu đó về. Tôi chắp tay đứng đó, nhìn Sư Ông chăm chú, không trả lời, cũng không kịp nhớ thưa thỉnh Sư Ông bất cứ điều gì. Mọi ý niệm trong đầu rụng rơi đâu mất, y như những tán cây cao lớn chẳng còn một chiếc lá nào xung quanh. Bỗng nhiên, tôi sụp lạy xuống chân Sư Ông, đầu chạm xuống nền cỏ xanh và còn kịp nhìn thấy tia mắt lấp lánh cười. Năng lượng bình an như bao trùm lấy khoảng không gian có tôi trong đó. Tay trái vẫn đặt nhẹ trên đầu gối, Sư Ông đưa tay phải nâng tôi dậy, xoa đầu tôi. Bỗng dưng tôi muốn khóc quá chừng, tâm tưởng dạt dào một niềm xúc động khó tả. Tôi không hề biết đó là cái gì và tại sao tôi lại bị chấn động sâu xa như thế. Sư Ông hỏi han, tôi trả lời, sư chị Tuệ Nghiêm cũng ngồi xuống bên cạnh và góp vào câu chuyện. Vậy nhưng tôi vẫn thấy thật mơ hồ, như bơi trong một giấc mơ đẹp đẽ và không thật nào đó mà tôi cảm thấy thích thú, vui tươi, an lành. Giấc mơ đó dường như đã lặp đi lặp lại nhiều lần với sự bí ẩn của những hàng cây cao lớn rụng hết lá một cách kỳ lạ, với những ngôi nhà đá thấp như ẩn chứa bí mật dưới lòng đất, với những tháp canh tròn mái nhọn có thể xuất hiện một bà phù thủy hay một cô tiên bất cứ lúc nào.

Người làm sách

Buổi chiều sau ngày quán niệm, tôi và em tôi – thầy Trung Hải, được Sư Ông dẫn đi tham quan Sơn Cốc. “Thầy làm hướng dẫn viên du lịch cho con”, Sư Ông nói với chúng tôi như vậy. Những hành lang hẹp dài, những căn phòng cũ kỹ với dáng vẻ rất xưa, những kệ sách cao lên tận trần nhà, bàn ghế và tủ giường y như là được mang ra từ một câu chuyện cổ tích nào đó. Tất cả những thứ ấy làm cho tôi thích thú lắm, giống như tôi đang đứng tại một thời điểm nào đó và chạm tay vào những khoảnh khắc của quá khứ. Sư Ông dẫn hai chị em tôi đến một căn phòng nhỏ, xung quanh còn nhiều trang sách, và vài cuốn sách để mở, nhiều quyển chưa đóng bìa và gáy. Trên bàn có một cái máy đóng sách, Sư Ông nói vậy. Rồi Sư Ông giới thiệu cách thức Sư Ông tự đóng sách, gáy và bìa sách như thế nào. Tôi yêu sách và thích ngửi mùi giấy. Vậy nên đứng trong căn phòng nhỏ hẹp chứa đầy sách và giấy, với sự có mặt thâm sâu, khoáng đạt và thú vị của người làm sách, tôi cảm thấy như có cái gì đó vượt lên trên những điều tầm thường nhỏ nhặt. Tôi không thể giải thích được cảm giác đó là gì, chỉ cảm thấy như cuộc sống xung quanh đẹp đẽ, ý nghĩa hơn lên. Mọi thứ sáng lên, sự vật như lên tiếng nói riêng của chúng và mỉm cười với tôi. Giới thiệu xong, Sư Ông lấy cuốn Nẻo vào thiền họcTuyển tập thơ đưa cho chúng tôi và nói: “Đây là quà cho các con, tự tay thầy đóng cuốn sách này đó con”. Mắt mở lớn và lòng tràn đầy niềm vui, hai tay tôi nhận lấy sách mà mắt vẫn như dán chặt vào Sư Ông. Sư Ông mỉm cười nhìn tôi trong dáng vẻ đó, và quay lưng ra cửa, tiếp tục dẫn chúng tôi khám phá những ngõ ngách khác của tòa nhà cũ kỹ mà lạ lùng, trước khi đưa chúng tôi ra thăm rừng trúc và con suối có tên Phương Khê.

 

Đón về những đứa con

Phương Khê là suối thơm. Có một con suối đơn giản hiền hòa chảy ngang Sơn Cốc. Bên bờ suối Sư Ông đã trồng trúc từ bao giờ tôi không rõ, chỉ biết Sư Ông gọi đó là rừng trúc. Tôi nhớ đến một đoạn thư ngày xưa Sư Ông đã viết cho các học trò đang làm việc tại Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội. Tôi cảm thấy đó như là những gì thâm sâu nhất mà Sư Ông muốn xây dựng cho cộng đồng:

“Các em tìm cho ra một nơi có đất tốt, cây xanh, có đá, có nước. Tôi mê những thứ đó. Cây, đá và nước là những thứ đẹp nhất: những thứ đó chữa lành thương tích của chúng ta. Và các em hãy cho tôi một lô đất trong làng ấy nhé. Tôi sẽ làm nhà, và xung quanh tôi sẽ trồng rau và rất nhiều rau thơm: ngò, tía tô, kinh giới, bạc hà, tần ô, lá lốt, thì là, vân vân. Khi em đến chơi thế nào tôi cũng đãi em một bát canh có rau thơm rắc lên trên mặt bát. Mỗi năm, ta có ít nhất một tháng tĩnh tu tại làng, không hoạt động gì hết. Cả ngày ta đối diện với đá, với nước, với cây; cả ngày ta đối diện với chính ta. Trồng rau, tỉa đậu, chơi với các cháu nhà bên, ta tìm lại ta, chữa lành thương tích, trang bị thương yêu để sẵn sàng trở lại môi trường phụng sự… Chúng ta hãy nhìn lại nhau để biết thương nhau hơn.”
Trả về cho non sông, thư viết ngày 18.07.1974

Đối với tôi, Sơn Cốc, Phương Khê trở nên thánh địa từ đó. Sau này trở về lại Làng, thân tâm mang đầy thương tích sau thời gian ở Bát Nhã, tôi đã lạy xuống nền cỏ xanh giữa lòng Phương Khê, dập đầu xuống đất để biết chắc là mình đã được an lành trong sự bình an, thánh thiện của thánh địa, để được ôm ấp và chữa lành.

Hôm đó là buổi sáng. Thầy dẫn tôi và sư chị Tịnh Hằng thiền hành quanh Sơn Cốc, rồi thầy trò cùng ngồi trên những mô đá thấp trong rừng trúc cạnh bờ suối. Đó là thời gian tôi bắt đầu gọi được tiếng Thầy, sau rất nhiều lần Sư Ông dạy tôi rằng Người muốn tôi gọi Người là Thầy. Thầy trò không nói gì nhiều, tiếng suối đổ như reo vui, như an lành, như đón về những đứa con lang thang mệt mỏi. Ngồi như thế dưới chân Thầy bên bờ suối, trong rừng trúc, tôi thấy mình ngồi dưới chân ngọn hùng phong cổ xưa hùng vĩ. Thầy chính là ngọn hùng phong đó, gọi về trong tôi sự khoảng khoát bao la của chính mình.

Hãy đến cùng tôi dưới chân hùng phong không tên gọi
Ngồi trên những tảng đá xanh không tuổi
Lặng nhìn thời gian se từng sợi tơ óng ánh
Dệt thành bức lụa không gian

Uyên nguyên, thơ Thầy

Sau này mỗi lần về Sơn Cốc, tôi vẫn nghe tiếng gọi của con suối thân thương ngọt ngào mà hùng tráng trong tâm can. Có vài sư em hỏi tôi rằng sao con suối nhỏ xíu và có gì đặc biệt đâu mà có tên là Phương Khê? Tôi mỉm cười không biết trả lời ra sao. Sư em nói chính xác về mặt hiện tượng. Những lúc đó, thế nào trong tâm thức tôi cũng hiện lên ngọn hùng phong đỉnh vươn cao vút giữa trời mây, và hiện lên hình ảnh Thầy, ngọn hùng phong của cuộc đời tôi, với nụ cười bình thản và bước chân an nhiên bên bờ suối, trong rừng trúc. Phương Khê là con suối thơm lành đẹp đẽ, cái thơm lành đẹp đẽ của tâm thức được trở về, được chở che. Con suối chảy quanh co dưới chân ngọn hùng phong đó, sư em có thấy không? Con suối này cũng đẹp đẽ không thua gì những con suối rộng lớn chảy dưới chân dãy núi Alps hùng vĩ.

Có những ngày xuất sĩ ở Sơn Cốc, các sư em thường muốn tổ chức sao cho năng động, có sinh khí mới hạnh phúc, mới vui. Tôi thì chỉ cần bước chân vào Sơn Cốc, chạm bước chân đầu tiên vào thánh địa, chắp tay xá Thầy, ngay từ khi đứng ở cổng vào, như ngày xưa tôi dập đầu lạy xuống thánh địa, là đã thấy hạnh phúc rồi. Tôi ưa đi thăm mọi ngõ ngách của Sơn Cốc, đi ngang con đường nhỏ quanh co trong rừng trúc mà Thầy thiền hành mỗi ngày, ngang qua những mô đá nhỏ bên bờ suối, chỗ treo võng Thầy thường dừng lại nằm chơi, cây hoa đào mà Thầy đã dẫn tôi ra thăm dạo nọ,… Đất Sơn Cốc không rộng như đất các xóm, nhưng hễ bước chân vào Sơn Cốc, lọt thỏm giữa lòng Phương Khê, là y như rằng tôi thấy nó thật rộng lớn và an toàn. Tôi thấy như bốn phía của Sơn Cốc được bảo vệ bởi một thứ quyền năng nào đó mà tôi hay bất kì vị xuất sĩ nào khi tiếp xúc được sẽ được bảo hộ trên con đường tâm linh của mình. Tôi vẫn thường tự chế giễu mình vì có vẻ đó là những ý tưởng “trên mây”. Nhưng chưa bao giờ bước vào Sơn Cốc mà tôi không cảm thấy và tiếp nhận được nguồn năng lượng bảo hộ đó, chưa bao giờ ngồi nơi một góc nào bên bờ suối mà không cảm thấy mình được trở về ngồi dưới chân ngọn hùng phong kia và bỗng nhiên bao nhiêu não phiền đều tan biến hết. Ngồi giữa lòng Phương Khê rồi thì tôi được trở về giản đơn với cái tôi nguyên sơ, lành lặn. Có một năm tôi bị bệnh và đang ở Huế, sư em Pháp Nguyện đi Việt Nam nên Thầy đã gửi về cho tôi một tấm thư pháp có chữ Phương Khê.

Trên tảng đá xanh không tuổi

 

 

Sáng hôm đó, ngồi trong rừng trúc, Thầy dang hai cánh tay ra hai bên ôm lấy chúng tôi như an ủi vỗ về. Tiếng suối vẫn róc rách, bình thản. Chợt Thầy nhìn xuống tà áo nhật bình của tôi và hỏi: “Con có cái áo nào mới và đẹp hơn cái áo này không con?” Tôi giật mình, không hiểu Thầy muốn nói gì. Hôm đó, tôi mặc chiếc áo nhật bình cũ mà tôi thích, nơi vạt áo chỗ đầu gối, không biết vì một “tai nạn” vấp ngã nào đó mà bị rách và được vá lại với hình mấy ngôi sao. Tôi chưa kịp trả lời thì Thầy đã dạy: “Thầy muốn con của Thầy ăn mặc thật đẹp. Thầy đủ sức nuôi con và cho con chiếc áo đẹp mà, phải không con?” Tôi cúi đầu dạ nhỏ và không dám nói gì thêm, nhưng tâm can xúc động mãnh liệt trước tình thương của Thầy. Thầy ơi, Thầy cho con cả cuộc đời tâm linh, Thầy đã sinh con ra thêm một lần trong cuộc sống xuất gia sáng đẹp này, Thầy cho con nhiều hơn như vậy nhiều lắm! Kể từ đó, không bao giờ lên Sơn Cốc gặp Thầy mà tôi còn mặc áo cũ nữa. Tôi cũng để ý để ăn mặc đàng hoàng tươm tất cả trong những ngày quán niệm. Vì nếu có gặp, Thầy sẽ vui khi thấy con của Thầy được mặc áo mới.

Thầy, trong tôi, mãi mãi vẫn là ngọn hùng phong không tuổi cho tôi nương tựa, hướng về. Hễ lắng lòng thì sư em sẽ nghe thấy tiếng hải triều vẫn trầm hùng vang vọng. Ngọn hùng phong vẫn muôn đời còn đó, uy nghiêm, che chở, hùng anh.

Một buổi mai
Thức dậy
Dưới chân ngọn hùng phong
Đầu ngẩng lên đỉnh non cao vút
Mây trắng từng cụm thong dong
Nụ cười nở trên tảng rêu ngàn năm tuổi
Ấm áp
Đến vô cùng
Thơm một cõi Phương Khê.

Có mặt với Phương Khê, tôi sẽ chẳng bao giờ cần phải lớn lên. Ở Phương Khê có nắng, có mưa, có cây, có suối, có đá, có Thầy và có cả rừng áo nâu. Phương Khê đang cất giữ bao nhiêu là kỷ niệm tình thầy trò, bao nhiêu là niềm thương, tiếng cười, tâm nguyện. Phương Khê còn cất giữ những bước chân tự do và hơi thở an lành của Thầy để trao tặng và gửi gắm gia tài cho các con. Tôi biết Thầy ở đâu thì Phương Khê ở đó, tôi ở đâu thì Phương Khê ở đó, sư em ở đâu thì Phương Khê ở đó. Những lúc ở xa Phương Khê về mặt địa lý, tôi cũng đã nuôi Phương Khê như vậy trong lòng.

Đâu đâu cũng dấu hài

(Thầy Chân Trời Nội Tâm)

Xuân Phong ơi, chuyến về Làng lần này, em có cảm giác như một đứa con cần tìm về hơi ấm của gia đình. Nó đến một cách tự nhiên, nhưng dứt khoát. Phải về Làng. Có lẽ Xuân Phong cũng thế, Xuân Phong được may mắn hơn em là được về bên Thầy, được hầu Thầy trong những ngày Thầy còn đang biểu hiện. Pháp thân Thầy thì bất diệt bất sinh, nhưng em có cảm tưởng mình vẫn muốn được gần Thầy bằng xương bằng thịt.

Em về Làng, Xuân Phong về chùa Tổ. Cả hai chúng ta đều được trở về, thế mà có lúc em cảm thấy tủi thân vì thấy mình phước mỏng, không được như Xuân Phong, được về bên Thầy trong thế giới của tích môn hiện tượng.

Ngày xưa em thấy một chút ngại ngùng khi gọi Sư Ông là Thầy, em vẫn ưa hai chữ Sư Ông hơn vì thấy nó gần gũi với mình. Nhưng không hiểu sao, mấy hôm nay chữ Thầy lại làm em có nhiều cảm xúc đến thế. Giống như người con muốn được gọi tên cha.

Giọt nước cành dương

Sự trở về nhà lần này của chúng ta như một lời mời gọi, từ Bụt, từ Thầy. Mình trở về để thấy rõ mình hơn. Xuân Phong chắc vẫn nhớ buổi sáng tinh khôi hôm ấy. Lễ xuất gia, Thầy đặt tay lên đầu từng người một. Bàn tay Thầy nhẹ nhàng, từ ái. Những giọt nước cam lộ từ trong bình tịnh thủy rưới lên như dập tắt phiền não, cởi trói những hỷ nộ ái ố của cuộc đời. Nước mắt chúng ta đã lăn dài, hòa vào dòng nước mát thanh lương, hòa vào âm thanh trầm hùng của tiếng niệm Bồ tát Quan Âm. Núi rừng Pakchong như chở che, bao bọc những đứa con từ bên kia biên giới muốn có một nơi để trở về. Nhìn lại, chúng mình quả có phước đức vì được Thầy trực tiếp làm lễ xuất gia. Em vẫn tự nhủ lòng, cơ hội chỉ xảy ra một lần duy nhất. Và giờ đây, khi Thầy ngưng biểu hiện, em lại càng trân quý giờ phút thiêng liêng đó.

Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời

Xóm Thượng mùa này đẹp lắm, Xuân Phong ơi. Sáng thức dậy là thấy khung cảnh mây mù giăng khắp lối. Cỏ cây đất đá đều đóng một lớp băng mỏng. Đi ngồi thiền, em ưa đi trên mặt cỏ. Khi đó băng giá còn chưa tan, tiếng giày giẫm lên cỏ kêu lắc rắc. Cái giây phút bàn chân tiếp xúc đó làm cho em có cảm tưởng mình đã về, đã tới. Về tới đâu hả Xuân Phong? Có lẽ em đã về đã tới trong phút giây hiện tại. Vì chỉ có giây phút đó là giây phút chân thật nhất. Mỗi bước chân trôi qua đã là một niệm trong quá khứ, tiến thêm một bước là một niệm ở tương lai. Cái giây phút ngắn ngủi, khi mặt giày chạm vào cỏ đó, là phút giây thực sự trọn vẹn nhất, em không cần nắm bắt hay tìm cầu gì nữa trong cả quá khứ lẫn tương lai. Sự thật là hiện tại mà trọn vẹn thì quá khứ và tương lai cũng trọn vẹn.

 

 

Mặt hồ trước thiền đường Nước Tĩnh đóng một lớp băng mỏng, thò tay xuống ấn nhẹ một cái là băng tan. Băng chìm lại vào làn nước mát, băng lại về với nước. Sự ẩn tàng của Thầy cũng giống như mọi hiện tượng cỏ cây hoa lá có tướng trạng tại xóm Thượng. Nhưng quán chiếu cho sâu thì tất cả đều đồng một thể tánh.

Vào những ngày có nắng, khoảng chừng 12 giờ trưa, khi mặt trời lên cao, chỗ nào có ánh nắng mặt trời chiếu vào thì chỗ đó sẽ tan băng trước. Cả mặt băng ở hồ sen cũng thế, mà cỏ cây đất đá cũng vậy. Băng lại tạm ẩn tàng, hòa vào đất, bay lên nghi ngút thành khói, thành sương.

Phiền não tức Bồ đề

Hình ảnh băng tan trên cỏ làm cho em ấn tượng lắm. Cùng xảy ra trên mặt đất thế mà lại có chỗ tan trước tan sau, tùy thuộc vào sức nóng của mặt trời rọi vào đó. Người tu tập cũng vậy, cũng cùng tiếp nhận mưa pháp mà lại có người được hưởng nhiều, người hưởng ít, cũng là khổ đau phiền não mà lại có người chứng quả Bồ đề. Cuộc đời của Thầy phải đối diện với muôn ngàn chông gai, thử thách của thời cuộc, đau thương của đất nước và với chí nguyện, hoài bão làm mới đạo Bụt để đưa lời Bụt dạy đi vào cuộc đời. Chính những hỷ nộ ái ố của cuộc đời đã làm tăng thượng duyên cho Thầy. Thầy có mặt trong cuộc đời này, tại quê hương của chúng ta, có lẽ là do Thầy đã phát nguyện lớn. Chính cuộc đời của Thầy đã làm vững mạnh bồ đề tâm trong em, cho em sức mạnh để đối diện với những chông gai phía trước.

Pháp giới thực ấn

Xuân Phong đang được hầu kim quan Thầy những ngày cuối cùng. Em tin là những đêm được ngồi bên Thầy, được thở cùng Thầy, được đi kinh hành cùng Thầy sẽ đi vào huyền thoại với Xuân Phong, và cả em nữa. Em ở đây cũng thế, em tập quán chiếu những gì mình đang thấy ở xóm Thượng, từ cỏ cây đất đá tới anh chị em xuất sĩ và các vị thiền sinh đang nhiếp tâm hộ niệm cho Thầy. Đó chính là những pháp thân của Thầy, em cũng là một phần nhỏ bé trong đó.

 

 

Mấy ngày nay khi tụng kinh ở thiền đường Chuyển Hóa, em quán chiếu thấy Thầy hồi còn 60 tuổi. Thầy đang đi, ra vào tự tại. Khi đó Làng còn giản dị, đơn sơ. Thầy còn trẻ, mắt Thầy sáng trưng, và miệng nở nụ cười tươi ơi là tươi. Em tụng kinh có nhiều hạnh phúc, cái giọng tụng kinh xưa nay dở tệ, bỗng hôm nay thấy hay hơn bao giờ hết.

Em đi dạo một vòng quanh Làng, đi từ đồi cao xóm Thượng, men theo rừng hoa mai, đi xuống rừng thông, ngang qua vườn Bụt, ghé xuống thiền đường Thánh mẫu Maya. Ở đâu em cũng thấy pháp thân Thầy. Quả thực em chưa bao giờ thấy pháp thân Thầy rõ ràng đến thế!

Đường xưa mây trắng

Giây phút Xuân Phong và đại chúng khắp chốn được ngồi quanh kim quan Thầy trong lễ trà tỳ sẽ là một giây phút thiêng liêng và đẹp hơn bao giờ hết. Chỉ nghĩ tới đó thôi, em đã muốn trào nước mắt. Hình ảnh đó làm em liên tưởng đến lúc đức Thế Tôn nhập Niết Bàn. Khắp các cõi trời, người rúng động. Từ Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Sa di, Sa di ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, cho đến vua quan đại thần, từ giai cấp Bà la môn tới những người dân nghèo của Ấn độ, cỏ cây đất đá, cầm thú chim muông đều dốc lòng cung kính niệm Bụt, niệm Pháp, niệm Tăng.

Em cũng sẽ tập quán chiếu như thế, để đi vào thế giới bản môn – vô sinh bất diệt, để thấy em và Xuân Phong cùng khắp pháp giới đồng chắp tay, hướng về kính lạy Thầy. Sau giờ ngồi thiền tối, ngước nhìn lên bầu trời với muôn vàn tinh tú sáng lấp lánh, ba ngôi sao thẳng hàng vẫn còn đó, bất chợt lời Thầy dạy đi lên “Trăng sao là tâm thức, ta là trăng sao.” Bước chân em dường như nhẹ nhàng, hòa vào trong sương đêm tinh khiết.

Thầy kính thương, con xin được kính dâng lên Giác linh Thầy bài thơ con làm, trong khi bàn tay đặt lên đầu, trước khi ngủ.

Trên đầu không lọn tóc
Dưới chân đạp cỏ gai
Trong ba ngàn thế giới
Đâu đâu cũng dấu hài

Con của Thầy,
Chân Trời Nội Tâm.
Xóm Thượng, Làng Mai, 27.01.2022

Tình Thầy là ánh trăng đầy

(Sư cô Chân Hội Nghiêm)

Thầy kính thương,

Con đang ngồi một mình ngoài hiên nhà, thưởng thức không khí yên tĩnh của trời đêm và cảm nhận những làn gió mát mẻ đang thổi vào da mặt. Tự nhiên, con nhớ đến Thầy. Mấy hôm nay con cũng thường hay nhớ về Thầy với niềm thương kính biết ơn vô hạn.

Con đang được phép về thăm nhà, có mặt cho ba mẹ và gia đình. Nhân dịp này, con thuyết phục mẹ con sửa chữa lại nhà cửa cho ổn định, tiện việc sinh hoạt cho ba con. Nhà con sống ở miền quê với nếp sống rất đơn giản. Cái chất đơn giản ấy đã thấm vào dòng máu của ba mẹ con, cho nên lúc nào ba mẹ cũng cảm thấy đầy đủ. Ba mẹ sống thiểu dục tri túc hơn cả con nữa Thầy ạ. Chính vì vậy mà không bao giờ ba mẹ thấy cần thêm một thứ gì cả. Con phải thuyết phục lắm mẹ con mới đồng ý xây thêm phòng. Mẹ con cứ nghĩ là nhà đâu có ai ở mà xây chi cho nhiều. Ba con năm nay cũng đã 88 tuổi rồi, đi lại rất khó khăn, dường như chỉ đi vào nhà vệ sinh, còn lại đều đi bằng xe lăn hoặc ngồi một chỗ. Ba con thường đùa là hồi trước tu tại gia bây giờ tu tại giường.

Con phụ dọn dẹp, đi vào đi ra, làm cái này cái nọ, phụ xúc vài thau đất, đẩy vài xe gạch, đập vài viên đá, có mặt cho mẹ và chị. Ba con thì tạm thời qua “tị nạn” bên nhà chị đầu của con. Hình như với sự có mặt của con thì mọi thứ trở nên yên ổn hơn. Con thấy vui và thầm cảm ơn Thầy đã cho con có mặt với gia đình, dạy cho con biết trân quý mẹ cha, biết thưởng thức chuối ba hương và xôi nếp một. Nhờ Thầy mà con đã học được phương pháp thở để thư giãn, để buông bỏ, để có mặt, để mỉm cười, để bình an, để trân quý người thương và để sống trọn vẹn giây phút hiện tại.

Con thấy may mắn là mình ở miền quê nên cũng có nhiều không gian, cây cối xanh tươi và không khí trong lành. Những đêm trời trong gió mát, trăng sáng vằng vặc, con thường hay đi dạo. Bước những bước chân an lành, con lại nhớ đến Thầy với niềm biết ơn. Thầy đã dạy cho con biết thưởng thức thiên nhiên, biết yêu cái đẹp và biết nuôi dưỡng mình bằng sự yên lắng. Mỗi lần ngắm trăng là con thấy lòng mình thật bình an và thanh thản.

Một mùa trăng đi qua và một mùa trăng khác nữa lại đến. Mới đây mà đã là thất thứ năm của Thầy rồi. Nhanh quá phải không Thầy? Con nhớ sáng hôm ấy, thức dậy, ánh trăng đã thu hút con, nên thay vì ngồi thiền con bước ra đi thiền hành mấy vòng quanh vườn. Không gian rất thanh bình và yên tĩnh. Yên đến nỗi con phải ngạc nhiên sao hôm nay đất trời yên bình đến lạ, và lòng con cũng yên. Không nghĩ ngợi điều gì, con chỉ thưởng thức cái yên tĩnh mà trời đất đã ban tặng. Sau đó con vào ngồi thiền, tiếp tục để cho cái yên tĩnh ấy thấm vào từng tế bào trong cơ thể của con. Con lại biết ơn Thầy đã dạy cho con biết ngồi yên.

 

 

Con vừa mới xả thiền thì chị con qua báo tin: “Cô Hội ơi, Sư Ông mất rồi!” Tự dưng lòng con chùng xuống rồi bàng hoàng, thương mến. Con mở điện thoại lên, không biết là bao nhiêu cuộc gọi nhỡ, bao nhiêu tin nhắn báo tin Thầy mất. Con có thói quen đi ngủ là tắt điện thoại nên không nhận được tin sớm. Con gọi cho sư em Khải Nghiêm, sư em đang sắp xếp cho các sư em gái ở Từ Đức đi Huế. Hôm đó không có máy bay nên sư em thuê xe cho mọi người cùng đi. Con chuẩn bị hành lý, thay quần áo, đi lạy Bụt, lạy Thầy rồi chào ba mẹ lên Từ Đức để tháp tùng đoàn ra Huế. Một cảm giác thật khó tả. Vừa an, vừa sâu, vừa thương, vừa nhớ và vừa chạnh lòng. Con ý thức là giờ này con phải thở những hơi thở thật bình an, phải đi những bước chân thật thanh thản, phải nói những lời hòa ái và phải nở những nụ cười thật tươi. Làm gì con cũng phải làm cho Thầy, vì con đang mang theo Thầy trong lòng.

Sư em Khải Nghiêm chu đáo lắm. Sắp xếp xe cho tất cả mọi người. Chuẩn bị hết mọi thứ. Con chỉ việc leo lên xe là đi thôi. Đúng là mình có phước lắm mới có sư em giỏi như vậy phải không Thầy? Trên đường đi xe bị nổ lốp, phải mất mấy tiếng đồng hồ mới thay được lốp xe mới. Thế nhưng con vẫn thấy lòng mình bình an, không hề nôn nao, bực bội hay khó chịu, chỉ ngồi đó thưởng thức từng hơi thở vào ra của mình. Con ý thức là mình phải thở cho Thầy, phải bước đi cho Thầy và phải thật bình an cho Thầy. Bởi vì Thầy đã trao truyền cho mình hết rồi mà mình không chịu làm thì thật không xứng đáng là con của Thầy. Con biết ơn Thầy đã là Thầy của chúng con, đã thắp sáng ngọn lửa trong tim chúng con.

Xe đến Diệu Trạm lúc hơn 12 giờ khuya. Mấy chị em đem hành lý vào phòng, tắm rửa, rồi qua Từ Hiếu đảnh lễ Thầy. Bước vào cốc Thầy, con cảm nhận một nguồn năng lượng bình an và thương kính tràn ngập nơi đây. Sau khi đảnh lễ Thầy, mấy chị em con ngồi yên. Sư cô Định Nghiêm đến gần và hỏi: “Em có muốn đến ngồi dưới chân Thầy không?” Chỉ cần một câu hỏi nhẹ như thế mà sống mũi con đã thấy cay cay, mắt con đã ươn ướt và cổ họng con đã nghẹn ngào rồi. Con hỏi lại: “Được hả sư cô?” Vì thực sự là con rất muốn được ngồi bên cạnh Thầy nhưng không biết có được phép hay không. Sư cô trả lời: “Được chứ”. Thế là con đứng dậy, đến ngồi dưới chân Thầy, thấy lòng bình an và ấm áp như thể Thầy vẫn đang còn sống, như những lúc con ngồi dưới chân Thầy đưa võng hầu Thầy, kể chuyện cho Thầy nghe hay nghe Thầy kể chuyện.

Sư cô Chân Không cũng ưu ái nhích qua một chút để cho con có được một chỗ ngồi thích hợp. Sư cô còn dạy con nhích qua để nhìn mặt Thầy cho rõ. Sư cô thật dễ thương. Lúc chúng con mới tới, đến chào sư cô, sư cô bảo: “Vào thăm Thầy, chơi với Thầy đi con, kẻo mai là hết được gặp Thầy rồi” (vì ngày hôm sau là lễ Nhập Kim Quan). Con thấy chung quanh con tràn ngập niềm thương mến. Thầy Trung Hải từ đằng sau đi đến mở chiếc y Thầy đang đắp ra. Con đến gần Thầy hơn, quỳ bên Thầy, kính cẩn đặt tay mình lên tay Thầy và cảm nghe một nguồn năng lượng bình an lan tỏa tràn ngập căn phòng như thể là Thầy vẫn đang còn thở với chúng con. Con thở với Thầy rất lâu rồi phát nguyện sẽ làm một tiếp nối đẹp của Thầy. Cám ơn Thầy đã truyền cho con nguồn năng lượng bình an, đầy tình thương yêu ấy.

Con biết những ngày tiếp theo mình sẽ rất bận rộn và có muốn ngồi yên bên cạnh Thầy cũng không thể được, nên tối hôm đó con đã ngồi suốt đêm trong cốc Thầy với ý thức là Thầy vẫn đang còn đó, đang có mặt trong các sư anh, sư chị, sư em, trong cỏ cây, hoa lá, trong trời đất, trăng sao, trong mây mưa nắng tuyết… và Thầy vẫn luôn còn đó trong con.

Sáng hôm sau là lễ Nhập Kim Quan. Cốc Thầy hơi nhỏ không đủ chỗ cho tất cả mọi người, đặc biệt là khi ban kinh sư vào làm lễ thỉnh Thầy ra thiền đường Trăng Rằm. Ai cũng muốn có mặt để chứng kiến giây phút linh thiêng đầy niềm thương kính ấy, nên dù thầy Mãn Phước đã mời mọi người ra ngoài cho có không gian bên trong nhưng ai cũng nấn ná, chần chừ không chịu ra. Con xúc động chứng kiến cảnh quý thầy đội Thầy trên đầu mà đi, từ cốc Thầy ra thiền đường Trăng Rằm, như một biểu tượng bày tỏ niềm cung kính của người học trò đối với Thầy. Và, cho dù chúng con có đội Thầy trên đầu mà đi suốt cả cuộc đời cũng không đủ để trả ơn Thầy, để bày tỏ niềm cung kính và biết ơn của chúng con. Cám ơn Thầy đã là một người Thầy tuyệt vời của chúng con.

Sau lễ Nhập Kim Quan, có một buổi họp giáo thọ để phân công trách nhiệm. Sau buổi họp đó ai nấy đều bắt tay vào công việc, mỗi người một tay, mỗi người nhiều việc. Con thấy thương và phục các sư anh, sư chị, sư em của mình quá!

Các anh chị em từ khắp nơi cũng lần lượt bay về. Quý thầy quý sư cô lớn từ các trung tâm, có những vị đã rời chúng, có những vị đã ra đời, tất cả đều quy tụ đầy đủ. Tuy gặp nhau cũng chỉ chào hỏi được đôi ba câu nhưng sao thấy vui và ấm áp, đầy tình huynh đệ. Âu đó cũng là ước muốn của Thầy. Thầy luôn mong muốn các anh chị em có mặt cho nhau, chơi với nhau cho vui, cùng nhau xây dựng tình huynh đệ. Con thấy dường như Thầy đã gọi các anh chị em con về để có mặt cho nhau, có mặt bên Thầy, hưởng năng lượng từ Thầy, giống như trong những khóa tu lớn Thầy đã sắp xếp cho các anh chị em chúng con đi cùng Thầy vậy. Cho nên lễ tang của Thầy vừa thương mà lại vừa vui. Giây phút nào cảm động thì cứ khóc, giây phút nào thương thì cứ thương, giây phút nào vui thì cứ vui. Thật khó có một tang lễ nào mà tràn đầy nguồn năng lượng thương yêu như thế. Cám ơn Thầy đã dạy cho chúng con biết thương yêu và trân quý nhau.

Con thấy mình thật may mắn có mặt trong dịp này để chứng kiến, để tham dự những buổi lễ của Thầy. Biết bao lần chúng con sắp xếp cho hậu sự của Thầy ở Làng, ấy vậy mà giờ này, con lại diễm phúc có mặt bên Thầy. Có ai sắp xếp được đâu phải không Thầy? Nếu có thì e là Thầy đã sắp xếp hết mọi thứ. Hay là nhân duyên, đất trời, vũ trụ đã thay Thầy sắp xếp tất cả.

Con được phép về thăm nhà, vừa mới cách ly tại nhà xong mấy ngày thì hay tin Thầy viên tịch. Rất nhiều anh chị em khác cũng về thăm nhà trong đợt này, có những người thì đúng hạn về thăm nhà, nhưng cũng có nhiều vị vì những lý do này hay lý do khác. Chúng con có cảm tưởng như Thầy gọi chúng con về.

Trong tình hình covid đang tăng cao, nhà nước mới ra thông báo bãi bỏ chỉ thị 16, bỏ chuyện cách ly thì Thầy đi, nên anh chị em khắp nơi tập trung về mà không hề bị cản trở. Khí trời cũng rất đẹp. Suốt hơn cả tuần, trời mát mẻ, không mưa một tí nào, cho dù đang trong mùa mưa lạnh. Hoa tim tím quanh chùa Tổ cũng nở rộ khắp vườn đồi. Con nghĩ là Thầy yêu cái đẹp nên Thầy chọn thời điểm đi cũng rất đẹp.

Qua lễ tang của Thầy, con thấy sự thật là mình chẳng sắp xếp được gì cả. Tất cả đều do nhân duyên sắp đặt. Mình cũng chỉ là một trong những nhân duyên đó thôi. Cho nên mình thực tập thuận theo nhân duyên thì mọi thứ mới hài hòa. Con thấy mình may mắn và biết ơn vô cùng đã được Thầy dạy bài học: “Tương lai mình đã có rồi, chỉ vì mình chưa thấy đó thôi”. Cám ơn Thầy đã cho con có mặt bên Thầy, cho chúng con cơ hội được hội ngộ.

Lúc Thầy còn sống, con rất thích được ngồi yên bên Thầy nên mỗi khi có những giây phút rảnh con thường vào cốc Thầy, đảnh lễ Thầy rồi ngồi yên và đi kinh hành. Đứng nhìn ra khung cửa sổ, con ý thức Thầy cũng đã từng đứng đó ngắm mây, ngắm nắng, ngắm mưa, ngắm nhìn đồi thông, hoa cỏ. Con cảm nhận nguồn năng lượng bình yên sâu thẳm của Thầy vẫn còn đó. Cám ơn Thầy đã để lại cho chúng con nguồn năng lượng quý giá ấy. Dường như Thầy ra đi mà không mang theo một thứ gì cả. Thầy đã để lại tất cả cho chúng con như một gia tài vô giá. Nơi nào Thầy đi qua chúng con cũng cảm nhận được nguồn năng lượng bình an ấy. Cái giây phút linh thiêng khi sáu ngọn lửa châm vào nhục thân của Thầy trong buổi lễ Trà tỳ đã làm con vỡ oà. Vỡ oà để được bình an trở lại. Vỡ òa để thấy Thầy mới mẻ, dưới muôn vàn hình thức khác.

Thầy kính thương, Thầy thường ca ngợi:

Bụt là vầng trăng mát
Đi ngang trời thái không
Hồ tâm chúng sanh lặng
Trăng hiện bóng trong ngần.

 

 

Con thấy Thầy cũng là một vầng trăng mát. Mỗi lần gần ánh trăng ấy là con thấy mát mẻ thanh lương, bình an tĩnh tại, tự do và thanh thoát. Trăng trên trời còn có lúc tròn lúc khuyết, còn vầng trăng của Thầy thì không bao giờ vơi, khuyết. Quả thật tình Thầy là ánh trăng đầy.

Thở cười con bước theo thầy
Hiểu thương con thấy tràn đầy niềm vui
Hạt bồ đề, quyết đem vùi
Mai thành cổ thụ chở che cho đời
Bao dung tha thứ vun bồi
Thân tâm chuyển hóa luân hồi còn đâu
Thầy ơi, con nguyện khắc sâu
Anh em bốn biển năm châu là nhà
Cùng nhau chung sống thuận hòa
Uy nghi giới luật nở hoa nơi này
Tình Thầy là ánh trăng đầy
Tình huynh đệ, áng mây bay giữa trời
Ta có nhau tự muôn đời
Bây giờ tiếp nối rạng ngời tương lai.

Con sẽ tiếp nối Thầy điều gì nhỉ? Con nhớ ngày Thầy dạy con làm trụ trì, lúc đó hai thầy trò đang ngồi trong thư viện ở Sơn Cốc. Bói Kiều cho con xong Thầy bảo: “Làm trụ trì hay không không quan trọng. Cái quan trọng là con phải có tự do”. Con thấy con thực tập điều này chưa giỏi, nên con phát nguyện sẽ tiếp nối Thầy đức tính tự do, tự tại. Vì không có tự do thì con cũng sẽ không có bình an và hạnh phúc được, phải không Thầy! Cám ơn Thầy đã là Thầy của chúng con, đã dạy cho chúng con biết thở, biết cười, biết bước những bước chân an lạc thảnh thơi, biết sống một nếp sống tĩnh lặng, thiểu dục tri túc, biết thương yêu trân quý, biết nhẫn nại bao dung, biết sống sâu sắc trong giây phút hiện tại. Con sẽ luôn mang Thầy trong lòng, Thầy kính thương của tất cả chúng con.

Thương kính Thầy thật nhiều!
Con của Thầy,
Chân Hội Nghiêm.

Ngày tuyết nhớ Thầy

(Sư cô Chân Duyệt Nghiêm)

“Dù trần gian có xót xa, cũng đành về với quê nhà…”Đóa hoa vô thường – tác phẩm của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Thầy đã về yên nghỉ dưới cội cây
Sau bao tháng năm miệt mài “mòn chân du thuyết”
Thầy đã nghỉ ngơi rồi, thảnh thơi và bình an như chiếc lá
Sau đời kia mộng huyễn với phong ba…

Thầy trở về đây cho đất Mẹ tươi hoa
Lại góp cho đất đai quê hương một mảnh vườn, một khung trời xanh mát
Thầy nhắc: năm xưa, “gậy trúc chống xuống, đạo Tổ hưng sùng”
Để chúng con mãi nhớ, “cháu con bảo hộ, sáng chói tông phong”Hai câu đối ở bàn thờ Tổ trong thiền đường Nến Hồng, xóm Hạ
Suối nguồn tâm linh bất tuyệt, Thầy chảy mãi giữa non sông
Chảy khắp trần gian mà Thầy vẫn thương yêu gọi là: “Hành tinh xanh xinh đẹp”
Quê hương gấm vóc mượt mà,
hay quê hương bình dị như rau tía tô, cơm gạo Tám
Thầy giữ mãi trong trái tim,
để trên bước đường ngược xuôi khắp nẻo địa cầu
Thầy vẫn luôn hướng về,
mà ngậm ngùi, mà thương, mà xót…
mà tìm mọi cách dựng xây, gieo trồng, chăm bón
Vững tin, ngày mai muôn triệu hạt mầm sẽ nên cây…

Chí nguyện năm xưa, Thầy khắc vào cây chốn Tổ
“Thệ nguyện độ chúng sanh”
Giờ đã viên thành
Để hôm nay lớp lớp người hướng về,
Cúi đầu thành tâm đảnh lễ
Muôn vạn cuộc đời đã đổi thay
từ lời dạy:
Mỗi lần ngã là một lần đứng dậy.
Để trưởng thành
Để cuộc đời nhường một bước đi lênDựng tượng tuổi thơ – Thơ Thầy
Đừng tìm kiếm hạnh phúc xa vời giữa cuộc sống vô thường…
Hãy sống trọn vẹn từng phút, từng giây
của ngày hôm nay, ở đây,
cho chính mình, cho tất cả…

Giờ đây, quê hương trọn vẹn có Thầy
Chúng con vẫn trọn vẹn có Thầy
Trong từng bước chân, nụ cười, hơi thở
Trong niềm thương yêu, bình an của lượng cả bao dung
Trong những “thiên đường” Thầy đã dựng xây và chúng con vẫn chung lòng
“Nếu gọi tên Thầy, con sẽ tự khắc thấy Thầy ngay”Bên mé rừng đã nở rộ hoa mai – Thơ thầy

Thầy… Thầy ơi!…
Những ngày này, mùa đông, tuyết cứ mải miết rơi
Có phải Thầy hóa thân làm tuyết?
Cho con nhớ, con vui, như năm nào Thầy vẫn ưa vui đùa trên tuyết
Hay Thầy muốn viết cho con một bài thơ màu trắng
Rồi kể câu chuyện của cội mai già, can trường đứng giữa mùa đông
Và cái đẹp của trần gian là vô tận, vô cùng
Bởi Thầy đã cho con một đôi mắt để ngắm nhìn, biết ơn, trân quý

Tạ ơn Thầy đã sinh ra con thêm một lần trong đời sống này
Cho con một con đường, để con đi theo Bụt, theo Thầy vào phương trời cao rộng
Cho con một niềm tin vào tình huynh đệ bao la
và tình thương không đòi điều kiện
Để con nguyện thương yêu từng cuộc đời, như chính cuộc đời con
Bao hoa ngọt, trái lành…, tấm lòng Thầy mãi sắt son…

 

Thầy mỉm cười thích thú

(Sư cô Chân Định Nghiêm)

Đi xem tuồng Tề thiên đại thánh

Bạch Thầy,

Con nhớ những chuyến đi hoằng pháp ở Trung Quốc vào những năm 1995, 1999, 2000 và 2002 đã mang đến cho Thầy thật nhiều niềm vui và hạnh phúc. Thầy từng nói với chúng con rằng xưa kia, các Tổ đã từ Trung Hoa đi sang Việt Nam hoằng hóa rất nhiều, kinh điển, sách Phật hầu hết bằng tiếng Hán. Hôm nay, Thầy trở lại Trung Quốc giảng dạy là để đền ơn chư Tổ. Phẩm vật cúng dường mà Thầy dâng lên chư Tổ là nhiều bộ sách của Thầy đã được dịch ra tiếng Hoa.

Chuyến đi nào chương trình cũng dày đặc, nào là những khóa tu, nào là những ngày quán niệm dành cho xuất sĩ cũng như cư sĩ. Trong chuyến đi 2002, có một lần sau ngày sinh hoạt, thầy trò mình lên xe đi về. Con và sư em Pháp Niệm làm thị giả nên sư em con ngồi cạnh Thầy, còn con thì ngồi sau lưng Thầy. Phía sau con là sư em Pháp Hải. Sư em con thông thạo tiếng Hoa nên lúc nào cũng có bao nhiêu là chuyện để kể cho các chị em, chuyện chốn chùa chiền cũng như chuyện thế giới bên ngoài. Chiều hôm đó, sư em rủ mấy chị em con đi xem tuồng hát Tề thiên đại thánh đang được diễn tại nhà hát lớn của Bắc Kinh. Các chị em đang thầm thì bàn tán sôi nổi thì bỗng nhiên Thầy xoay qua phía con và lên tiếng thật to: “Định Nghiêm, sao con không mời Thầy đi xem hát với tụi con?”. Con sửng sốt và nghĩ trong lòng: “Ủa, Thầy mà cũng đi xem hát sao?”. Con còn đang ngạc nhiên và chưa kịp phản ứng thì Thầy lặp lại câu hỏi thêm một lần nữa. Con bèn nhanh nhẩu chắp tay thưa: “Bạch Thầy, tụi con thỉnh Thầy đi xem Tề thiên đại thánh với tụi con.”

Thầy mỉm cười thích thú.

Trong lòng con và sư em Pháp Hải trào dâng một niềm vui khó tả. Không những đã không bị la vì đã dám bàn tính đến chuyện đi xem hát mà lại còn được Thầy hưởng ứng và cùng đi chung nữa chứ. Còn gì vui bằng khi có Thầy cùng tham dự cuộc vui với mình? Nhưng cuối cùng thì thầy trò đều đi về nghỉ ngơi để chuẩn bị cho một ngày dài kế tiếp chứ đâu có đi xem hát gì đâu! Ấy vậy mà cả thầy lẫn trò tràn đầy hạnh phúc, thỏa mãn không khác gì như vừa mới đi xem hát về.

 

Mở vườn ươm cây

Bạch Thầy, hiếm lắm Thầy mới có mặt ở Làng vào mùa thu, vì đó là mùa của những chuyến đi dài qua Bắc Mỹ hoặc các nước Đông Nam Á. Nhưng mùa thu năm ấy Thầy lại ở nhà với chúng con và đó là một mùa thu đặc biệt nhất, thú vị nhất cho tất cả chúng con.

Thầy có thật nhiều thì giờ để dẫn chúng con đi thiền hành dưới những hàng bạch dương lá vàng óng ánh ở xóm Hạ. Thầy thường ghé chơi ở xóm Mới và dẫn chúng con leo đồi mận, khi cả đồi thơm sực nức mùi mận chín. Thường thì mình không hái mận mà để cho mận chín tới rồi tự rụng xuống đất. Lúc bấy giờ trái mận mới thật ngọt và mọng nước. Nhưng trong số chúng con có những chị em lại thích ăn mận giòn. Thế là Thầy tự cắt một chai nhựa, cột vào một khúc tre khô. Đây là dụng cụ vô cùng tiện lợi và hữu hiệu Thầy sáng chế ra để khoèo những trái mận giòn.

Tại xóm Thượng, Thầy thích nhất đi thiền hành giữa những hàng sồi lá đỏ rực mà nhìn xa con cứ ngỡ là rừng hoa. Ở Sơn Cốc, từng chậu hoa, từng cụm cây đều hạnh phúc vì được Thầy chăm chút mỗi ngày. Cuối thu ở Pháp là mùa cúc, Thầy đang đợi những chậu cúc đại đóa thật to, thật tròn màu hỏa hoàng, hoặc những bông cúc thanh cảnh với những cánh hoa thon thả, cong vào cong ra như những bàn tay Bồ tát đang bắt ấn.

Sáng hôm đó ngoài vườn Sơn Cốc, Thầy đi gom hết lại những bụi cúc tàn của năm ngoái, còn con thì đi thu thập lại hết những cái chậu cây cũ bằng nhựa. Dưới sự hướng dẫn của Thầy, con bỏ đất vào chậu, chuẩn bị sẵn sàng cho Thầy chiết cúc vào đó. Ngồi trên chiếc ghế trắng bằng sắt dưới cây linden, Thầy thong thả làm công việc với tất cả sự bình an và thích thú. Chậu nào làm xong, Thầy chuyền qua con, để con lại rải thêm một lớp mỏng phân bón. Cuối cùng, hai thầy trò sẽ mở ống nước để tưới hết tất cả các chậu một lần.

 

 

Không khác gì lúc còn bé trong vườn nhà, con chỉ chú ý đến hai bàn tay mình đang vọc đất với tất cả sự thích thú. Thỉnh thoảng con ngước lên nhìn xem tay Thầy đang làm gì. Thì ra những tia nắng yếu ớt còn sót lại trong năm đang tìm cách len lỏi qua tán lá để chạm nhẹ vào hai bàn tay Thầy, chúng cũng muốn được phụ Thầy một tay! Thỉnh thoảng, vài chiếc lá chín rơi nhẹ lên đôi vai Thầy như muốn gây sự chú ý: “Thưa Thầy, có con đây, Thầy cho con chơi với!” Những chiếc lá chậm rãi nhảy xuống chân Thầy rồi đáp xuống nền đất để tạo thành một lớp thảm mỏng màu vàng nhạt. Trong vài ngày hay một tuần nữa, tấm thảm vàng sẽ dày hơn và êm hơn cho bước chân thiền hành của Thầy. Ngoài kia, những cây thông Thầy trồng năm xưa nay đã thật cao, thật mạnh mẽ, vẫn giữ chiếc áo xanh tươi của chúng. Sơn Cốc vào mùa thu đủ màu đủ sắc, và năm nay – Thầy ở nhà – đất, trời, cây cỏ, tất cả đều hớn hở, đua nhau khoe những vẻ đẹp đặc sắc nhất của mình để Thầy mặc tình thưởng thức.

Không đủ chậu để Thầy chiết tiếp, con phải về lại xóm Mới gom thêm chậu cho Thầy. Cuối cùng, chiều hôm đó, xung quanh hai thầy trò chỉ toàn là chậu với chậu, hơn cả trăm chậu. Bỗng nhiên con hình dung những nhánh cúc con này trong khoảng hai tháng nữa sẽ cứng cáp và mạnh khỏe để cho ra đời bao nhiêu là bông hoa thật to, thật tròn. Cao hứng, con thưa Thầy: “Bạch Thầy, nếu thầy trò mình thành công với những chậu hoa này, mình có thể mở được một tiệm bán cây con!”

Thầy mỉm cười thích thú.

Ngay trong khoảnh khắc ấy, con cảm thấy vui quá, giống y như thầy trò mình vừa mới khai trương được một tiệm bán cây con!

Con hướng dẫn khóa tu, Thầy đi theo chơi

Đó là vào năm 2006. Sau khóa tu mùa Hè, các chị em xóm Hạ và xóm Mới chúng con tổ chức đi chơi núi Pyrénées chung với nhau. Ban ngày, chúng con leo núi và rong chơi với thiên nhiên. Về đêm, con ngủ chung lều với sư em Anh Nghiêm ngay kế con suối bắt nguồn từ một thác nước. Đến ngày về, chúng con vẫn còn quyến luyến cảnh núi rừng nên trên đường, xe van chúng con đã dừng lại tại một ngôi làng nhỏ tên là Gavarny. Chị em chúng con đi thiền hành vào hướng núi khoảng một hay hai cây số chi đó. Ban đầu, chúng con chỉ nghe tiếng gió và tiếng chim hót, nhưng càng đi, chúng con nghe từ xa vọng lại tiếng nước càng lúc càng rõ hơn.

 

 

Rồi bất chợt, chúng con dừng lại sửng sốt trước một dãy núi thẳng đứng hình vòng cung bao quanh chúng con. Cả nhóm chúng con không ai nói gì với ai, chỉ đứng lặng người thật lâu để chiêm ngưỡng cảnh tượng trước mắt. Từ những sườn núi, có cả mấy trăm con thác đang đổ xuống ào ạt. Có những dòng thác to và dày, bắn nước tung tóe; nhưng cũng có những dòng rất mỏng và thanh tao như những chùm tơ thật dài, lơ lửng giữa không gian, nửa chừng bị gió thổi cong nhẹ sang một bên. Ô hay, lại có những con thác đang đổ xuống từ mây! Thì ra là phía trên, ngọn núi cao quá, đã bị che khuất bởi sương và mây. Nếu ai đó muốn đếm xem tổng cộng có bao nhiêu con thác trước mặt thì cũng không tài nào mà đếm được. Mấy trăm thác nước, mỗi thác mỗi vẻ, không thác nào giống thác nào. Tuy vậy, tất cả đều liên tục đổ về một hướng, hòa vào nhau để tạo nên một bản hòa tấu vang rền không bao giờ gián đoạn. Sau khi đứng yên lặng ngắm một hồi lâu, chúng con lên tiếng gọi nhau ra về. Nhưng dù đứng cách nhau một sải tay, và có lấy hết sức bình sinh để hét thật to thì cũng không ai nghe thấy, ngay cả mình cũng không nghe được tiếng hét của chính mình. Ôi, chưa bao giờ chúng con thấy mình nhỏ bé đến thế, trong không gian và trong thế giới của âm thanh.

Về đến Làng, vừa gặp lại Thầy, con kể liền cho Thầy nghe về cảnh đẹp hùng vĩ chưa từng thấy trên đời. Thầy phải thấy cảnh đẹp này! Con muốn đưa Thầy đến đó. Con suy nghĩ cách nào để có thể đưa Thầy đi. Chắc chắn Thầy sẽ không bao giờ muốn đi du lịch. Tịnh độ của Thầy là Sơn Cốc, là thất Ngồi Yên, là xóm Hạ, xóm Mới… Nếu có đi thì Thầy chỉ đi khóa tu mà thôi. Thầy thường nói Thầy không còn nhiều thì giờ nữa, vì thế Thầy chỉ nhận lời đi dạy những khóa tu lớn cho ngàn người. Tổ chức một khóa tu tại Gavarny, một ngôi làng nhỏ như vậy trong nước Pháp thì chỉ có đủ chỗ cho 100 người là cùng. Con chợt nảy ra một cao kiến: “Bạch Thầy, con sẽ đi hướng dẫn một khóa tu tại Gavarny. Con mời Thầy đi theo con. Thầy chỉ đi theo chơi thôi mà không cần phải làm gì hết, con sẽ làm hết cho Thầy, Thầy chỉ cần ghé xem những thác nước tuyệt vời đó thôi”.

Thầy mỉm cười thích thú.

Còn con thì cảm thấy mãn nguyện khi đã tìm ra phương cách để đưa Thầy đi xem cảnh đẹp.

Con hát cho Thầy thở

(Sư cô Chân Không)

Chia sẻ của sư cô Chân Không nhân ngày cúng thất thứ 2 của Sư Ông, tại chùa Tổ Từ Hiếu.

Thầy là cọp chúa, con là cọp con

Con mang tuổi cọp. Hồi nhỏ, con là một đứa cứng đầu lắm, ai nói gì cũng không nghe. Con thường nói: “Em là con cọp đó, đừng ép…” Vậy mà khi vào tăng thân, Thầy bảo gì con đều làm hết và con không cãi gì! Con vâng lời và làm hết sức mình, sống chết với những điều Thầy căn dặn. Con nhỏ hơn Thầy đúng 12 tuổi. Con thấy mình đúng là một con cọp con, bổ túc cho phần nào còn thiếu, dù rất nhỏ, của con cọp chúa là Thầy. Cọp chúa thiếu móng chân, con sẽ làm móng chân của cọp chúa. Thầy cần con làm chuyện gì thì con làm. Chuyện gì Thầy không làm được, con đều cố gắng giúp Thầy thực hiện.

Con hát cho Thầy thở

Có lần, một nhóm thượng nghị sĩ Pháp mời Thầy chia sẻ pháp thoại. Hôm ấy con lái xe đưa Thầy đi cùng một vài vị khác. Mới về ngày hôm trước, sau chuyến đi Thụy Sĩ, nên Thầy còn rất mệt, không nói được nhiều. Chia sẻ được khoảng một phần tư câu chuyện thì tự nhiên Thầy nói bằng tiếng Pháp: “Sư cô Chân Không sẽ lên hát cho quý vị nghe một bản nhạc”. Con hết sức ngạc nhiên vì Thầy chưa diễn thuyết gì hết mà lại dạy con lên hát. Con liền đi tới gần Thầy. Thầy nói với giọng rất nhỏ: “Này con, con hát giùm Thầy ba, bốn hay năm bản cũng được vì Thầy mệt quá, thở không ra hơi. Tự nhiên, Thầy mệt quá đó con”. Thế là con hát hết bài này tới bài khác, nhưng thỉnh thoảng con lại nhìn Thầy để xem đã đủ chưa. Thầy bảo con hát thêm nữa. Sau đó, Thầy cười và nhìn khỏe khoắn hơn hẳn. Bài pháp thoại hôm đó Thầy đã giảng rất hay! Những lúc Thầy mệt, Thầy giảng không được thì Thầy dạy con hát chen vào chỗ trống để có thời gian cho Thầy thở. Con thấy con không làm được gì nhiều đâu nhưng mà Thầy cũng mệt lắm nếu không có người hát cho Thầy thở!

 

Thầy cho con xuất gia đi Thầy

Vừa qua tới Pháp con xin Thầy: “Thầy cho con xuất gia đi Thầy”. Nhưng Thầy nhất định không chịu. Lí do là vì ở Pháp sau đệ nhị thế chiến, rất nhiều cô gái Pháp đã từng có liên hệ thân mật với lính Đức đều bị cạo đầu. Họ bị coi là những cô gái ăn sương, là người phản quốc. Thầy nói: “Nếu con cạo đầu thì người ta có thể hiểu nhầm. Con biết tại sao Thầy để tóc dài không? Tại vì trong thời gian này, ở Âu châu xuất hiện một nhóm gọi là Skin head. Họ cạo sạch tóc, chỉ còn thấy da đầu và họ đã làm nhiều chuyện xấu. Nếu Thầy cạo đầu, họ tưởng Thầy thuộc nhóm Skin headnên Thầy phải để tóc giống các ông Cha”. Thành ra Thầy để tóc dài. Thầy cũng nói con để tóc dài và con vẫn được mặc áo dài như thường.

Sau này, khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt, công việc cứu thuyền nhân cũng kết thúc. Với tư cách cư sĩ, con làm gì cũng không được nữa, con lại năn nỉ Thầy cho con xuất gia. Khi đó Thầy nói: “Thầy cần những vị tam sư thất chứng giỏi nhưng ở Pháp thì chỉ có một mình Thầy (lúc đó, mình chưa mời được quý Hòa thượng và quý Ni sư bên Việt Nam qua). Con chờ năm tới, Thầy sẽ tổ chức đi hành hương Ấn Độ và sẽ cho con xuất gia ở núi Linh Thứu. Thầy sẽ đảnh lễ và xin đức Bổn Sư làm thầy truyền giới cho con, Thầy chỉ là Giáo thọ A Xà Lê, chỉ thuyết giới giùm cho đức Bổn Sư thôi. Thầy biết con là một người con gái rất giỏi của Bụt. Con ráng chờ”. Quả đúng năm sau, con được đi Ấn Độ với một nhóm cư sĩ, trong đó có ca sĩ Hà Thanh. Lúc đó, không ai biết sau khi lên núi Linh Thứu, Thầy sẽ truyền giới cho con và Tam sư thất chứng là Bụt và các Ngài Ma Ha Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ưu Bà Ly, A Nan Đà, La Hầu La, Gotami… Lần đó, trên núi Linh Thứu, cùng với con, sư cô Chân Đức cũng được thọ giới Tỳ kheo ni, sư cô Chân Vị thọ giới Sa di ni.

Con nhớ đã từng chia sẻ với Thầy: “Con rất thương và rất kính phục đức Thế Tôn, con muốn đi theo con đường của đức Thế Tôn nhưng con có cảm tưởng con sẽ không hạnh phúc khi xuất gia ở một ngôi chùa Ni tại Việt Nam. Con có duyên được gần gũi một Ni sư ở Bến Tre. Ni sư cưng con lắm. Ni sư nói: con thế nào cũng sẽ thành Phật, nhưng trước hết con phải tu giỏi thì kiếp sau con sẽ sanh thành người nam, rồi người nam tu giỏi nữa thì kiếp sau con sẽ thành Phật. Nghe như vậy, con nói: “Con muốn lập chùa ni riêng, nếu chùa ni giống truyền thống thì con không thích lắm. Con đã bỏ mấy anh chàng để đi tu rồi, giờ lại trở thành người nam nữa thì chán lắm”. Khi nghe con chia sẻ như vậy, Thầy cười không nói gì. Con hỏi tiếp: “Dạ, trong tương lai con sẽ lập một chùa ni, không theo truyền thống, Thầy sẽ vẫn làm thầy cho chúng con phải không ạ?”

Từ đó, Thầy biểu gì con cũng làm theo ý của Thầy. Con hạnh phúc được làm phần bổ túc rất nhỏ của Thầy, góp phần vào sự nghiệp hoằng pháp của Thầy.

Con cũng trở về với gốc rễ như Thầy

Con từng nghĩ Thầy sẽ không về lại Việt Nam. Nhưng ở Thái Lan hôm đó, quý thầy Pháp Ấn, Pháp Niệm và Trung Hải đã lên gặp Thầy, vì Thầy đang muốn diễn tả một việc gì đó mà chúng con cảm được là quan trọng lắm. Khi các thầy tới, Thầy chụm một bàn tay trên ngực, tay kia vẽ một vòng tròn và dừng lại ở điểm bắt đầu của hình tròn ấy. Chúng con đã hiểu ý Thầy: dù đi Đông hay Tây, cuối cùng Thầy vẫn muốn trở về với gốc rễ của Thầy. Ngày hôm nay, con xin phát nguyện là con sẽ không quên gốc rễ của Thầy. Gốc rễ của Thầy cũng là gốc rễ của con. Giống như Thầy, con cũng sẽ quay về với gốc rễ của mình.

 

Cung Tán Nhất Hạnh Thiền Sư Niết Bàn Nhập Diệu

(Hoà Thượng Lệ Trang)

 

 

Nhất niệm oai hùng trang sử Việt
Hạnh tâm sáng tỏa đẹp ngàn phương
Thiền hòa Nam Bắc từng hơi thở
tượng Đông Tây ngát tuệ hương
Niết thủ vào ra trong chánh niệm
Bàn đàm tuôn chảy suối chơn thường
Nhập tam ma địa vô sanh khúc
Diệu sắc diệu quan diệu pháp vương.

Tri ân Thầy

Trong những ngày qua, những lời tri ân từ các cá nhân, các nhà lãnh đạo trong và ngoài nước, cũng như các tổ chức tôn giáo trên khắp thế giới được gửi về Đạo tràng Mai Thôn. BBT xin trích đăng dưới đây.

“Thiền sư đã sống một cuộc đời thực sự ý nghĩa. Ngài đã phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam bằng những phương tiện ôn hòa, ủng hộ nhà hoạt động dân quyền người Mỹ gốc Phi Martin Luther King, cũng như nỗ lực hết sức để giúp cho mọi người thấy nếp sống chánh niệm và từ bi không những góp phần đem lại sự bình an nội tại cho từng cá nhân, mà còn đóng góp vào nền hòa bình cho thế giới.”Đức Đạt Lai Lạt Ma

“Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ chia buồn, phân ưu đến Tăng thân Làng Mai. Nhà nước mong Phật giáo Làng Mai tiếp tục đường hướng, tinh thần của Thiền sư trên tinh thần nhập thế Phật giáo vì đất nước, xã hội; là tác nhân cùng với Phật giáo nước nhà, Phật giáo thế giới xiển dương giá trị hòa bình theo tinh thần của Sư Ông.”Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Phạm Minh Chính (được đại diện bởi Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng)

“Thiền sư là một trong những người đầu tiên đem pháp môn chánh niệm hiến tặng cho người dân Hoa Kỳ. Giờ đây, sự thực tập chánh niệm đã trở nên phổ cập trong các lĩnh vực y tế, tâm lý học, giáo dục, và trong cuộc sống hàng ngày của hàng nghìn người dân trên đất nước chúng tôi. Mặc dù tầm ảnh hưởng của Người không chỉ giới hạn trong lĩnh vực tôn giáo, Thiền sư đã để lại một di sản với tư cách một trong những nhà lãnh đạo tôn giáo có ảnh hưởng nhất trong lịch sử hiện đại.”Phái đoàn Hoa Kỳ tại Việt Nam

 

 

“Là một nhà hoạt động, Thiền sư luôn thể hiện tình thương yêu đối với nhân loại qua hành động của mình. Những lời dạy về nghệ thuật sống hạnh phúc của Ngài đã chạm đến trái tim và trở thành ánh sáng soi đường cho rất nhiều người. Bước chân chánh niệm và lời dạy của Thiền sư sẽ luôn được tiếp nối.”Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae In

“Di sản của Thiền sư Thích Nhất Hạnh là tuệ giác, lòng từ bi và sự tôn trọng đối với hành tinh của chúng ta và sự tôn trọng lẫn nhau. Những lời dạy của Người sẽ tiếp tục truyền cảm hứng cho các nhà hoạt động xã hội và môi trường trong cuộc đấu tranh bền bỉ để bảo vệ Trái đất và nhân loại.”Cựu Phó Tổng thống Hoa Kỳ Al Gore

“Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã ảnh hưởng đến cá nhân tôi cũng như rất nhiều người khác thông qua cách tiếp cận độc đáo đối với chánh niệm, hòa quyện với cam kết mạnh mẽ vì công bằng xã hội của Người. Khi tôi mời Thiền sư đến thăm Ngân hàng Thế giới, Người đã chạm đến trái tim của hàng trăm nhân viên nơi đây, thậm chí còn hướng dẫn mọi người thiền hành qua những con phố đông đúc của Washington DC. Sự ra đi của Thiền sư để lại một nỗi nhớ thương sâu sắc trong lòng mọi người, nhưng tôi tin di sản của Thiền sư sẽ được tiếp nối bởi các đệ tử của Người trên khắp thế giới.”Jim Yong Kim, Cựu Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (World Bank)

“Thiền sư Thích Nhất Hạnh dành cả cuộc đời để nói lên tiếng nói cho hòa bình. Người dạy chúng ta vượt lên trên sự chia rẽ bằng cách nuôi dưỡng lòng cảm thông, bao dung và cái thấy về sự gắn kết sâu sắc giữa con người với nhau.”Antonio Guterres, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc

“Thầy đã dạy tôi: là một nhà hoạt động xã hội không tách rời với việc là một người tu. Chính Thầy đã mở lối cho rất nhiều người trong chúng tôi đến với con đường của đạo Bụt dấn thân.”Joan Halifax, Viện trưởng của trung tâm thiền tập Upaya

“Có một huynh đệ, một bậc thiện tri thức như Thầy Nhất Hạnh là một trong những món quà lớn nhất trong cuộc đời tôi. Vào thời điểm buồn thương này, tôi muốn dang cánh tay mình tới vô số những người bạn đang cảm thấy mất mát trước sự ra đi của Người và nói với họ rằng: Chúng ta, từ khắp nơi trên thế giới, hãy cùng nhau tôn vinh di sản của Thầy – những lời Thầy trao truyền về Tương tức – bằng cách chung tay, sẵn sàng tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp xây dựng hòa bình của Thầy.”David Steindl-Rast, thầy tu Công giáo dòng Biển Đức, học giả và giảng viên

“Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã và sẽ tiếp tục là bậc thầy có tầm nhìn xa trông rộng và là người góp phần kiến tạo một nền đạo đức toàn cầu dựa trên sự tôn trọng và thấu hiểu lẫn nhau.”Ban Ki Moon, cựu Tổng thư kí Liên Hiệp Quốc (2007-2016)

“Tôi đã học được rất nhiều điều từ Thầy nhưng có lẽ quan trọng nhất là khả năng lắng nghe sâu trong việc giải quyết xung đột, giúp tháo gỡ vô số rào cản chính trị trong các cuộc đàm phán. Những tuệ giác và phương pháp thực tập của Người đã giúp mở ra một không gian hợp tác giàu có mới mẻ, mà qua đó các chính phủ có thể đi đến những thỏa thuận về môi trường mang tính lịch sử này. Những phương pháp thực tập chánh niệm đầy thực tiễn của Thầy sẽ là một kho tàng quý báu cho các thế hệ tương lai – những người muốn tạo nên những thay đổi cho xã hội trong tương lai.”Christiana Figueres, cựu Thư ký Điều hành Công ước Liên hợp quốc về Biến đổi Khí hậu và là đệ tử của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, ghi nhận những lời dạy của Thiền sư đã giúp cho bà có thể dẫn dắt vòng đàm phán Paris và đem lại bản thỏa thuận lịch sử về biến đổi khí hậu năm 2016.

“Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một trong những nhân vật được kính ngưỡng nhất của thời đại chúng ta cả về mặt tâm linh và đạo hạnh. Thiền sư không chỉ trao truyền những giáo lý và phương phức thực tập của đạo Bụt một cách rõ ràng và đầy cảm hứng mà còn là ngọn hải đăng soi chiếu chân lý trong cuộc tranh đấu bất bạo động vì nhân quyền.”Matthieu Ricard, vị tu sĩ Phật giáo Tây Tạng được mệnh danh là ‘Người hạnh phúc nhất thế giới’

“Thầy Nhất Hạnh có ảnh hưởng sâu sắc tới tôi. Thầy từng hỏi tôi: Điều gì quan trọng hơn với anh, thành công hay hạnh phúc? Tôi đã trả lời: Cả hai, thưa Thầy. Nhưng Thầy nói: Anh phải lựa chọn – anh có thể là nạn nhân của thành công của chính mình nhưng sẽ không bao giờ có thể là nạn nhân của hạnh phúc.”Marc Benioff, Giám đốc điều hành của tập đoàn Salesforce

“Những lời chỉ dạy và phương pháp thực hành của Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã làm thay đổi cuộc đời tôi. Tuệ giác của Người đã đánh thức trái tim của hàng triệu người. Đối với tôi, năng lượng chánh niệm có công năng còn mạnh hơn năng lượng hạt nhân.”Alejandro González Iñárritu, đạo diễn đã từng đoạt giải Oscar

“Thích Nhất Hạnh là vị thầy Phật giáo có ảnh hưởng nhất trong năm mươi năm qua. Ngoài việc thúc đẩy thực tập chánh niệm, khả năng trình bày những tuệ giác và thực tập đạo Bụt bằng ngôn ngữ rõ ràng, dễ tiếp cận và chân thành của Thiền sư đã làm tăng đáng kể số lượng người tìm đến với đạo Bụt. Di sản của Thiền sư Thích Nhất Hạnh sẽ tiếp tục tạo ảnh hưởng lớn cho nền Phật giáo hiện tại và tương lai.”Jeff Wilson, Giáo sư về Tôn giáo và Đông Á tại Đại học Renison (Ontario, Canada), tác giả của ‘Mindful America: The Mutual Transformation of Buddhist Zen and American Culture’ (tạm dịch: Nước Mỹ và pháp môn chánh niệm: Sự biến chuyển tương hỗ giữa Thiền Phật giáo và văn hóa Mỹ)

Thiên thu trong khoảnh khắc

(Các sư út Diệu Trạm)

Sư Ông kính thương của chúng con!

Sáng nay trời đẹp và mát lắm, nắng rất trong và không khí rất ngọt. Những bông hoa nứt nẻ tím nhạt nở kín cả thảm cỏ trên mé đồi từ ni xá Diệu Trạm dẫn qua chùa Tổ. Cứ mỗi lần bước chân trên con đường đất này, chúng con cảm thấy rất hạnh phúc, hạnh phúc trong từng hơi thở và trong từng bước chân. Đi mà không cần tới, biết rằng Sư Ông đang có đó và mình sắp được gặp Sư Ông rồi. Chúng con đi thật chậm, thật bình an và đang thực tập những gì Sư Ông đã từng dạy. Chúng con có cảm giác Sư Ông đang nắm tay chúng con cùng đi, mặc dù chúng con chưa bao giờ có được diễm phúc này như các sư anh, sư chị chúng con.

Chúng con là những sư bé của Sư Ông. Trước kia chúng con chỉ được biết Sư Ông qua sách vở, băng giảng. Chúng con biết Sư Ông ở xa lắm và chúng con chưa bao giờ dám mơ ước được gặp Sư Ông bằng xương bằng thịt. Nhưng chúng con vẫn phát nguyện đi theo Sư Ông trên con đường sáng đẹp này. Thế rồi ngoài sự tưởng tượng của mình, chị em chúng con lại có phước duyên được sống gần Sư Ông và phụ thị giả Sư Ông suốt hơn ba năm trời. Nhớ ngày nghe tin Sư Ông sắp về chùa Tổ, chúng con cứ hồi hộp, vừa vui mừng vừa thấp thỏm. Sung sướng biết bao khi được qua chùa Tổ chấp tác dọn dẹp để chuẩn bị mọi thứ đón Sư Ông.

Chúng con nhớ hoài không khí chùa chưa bao giờ đông vui như những ngày Sư Ông trở về. Đến lúc ấy chúng con mới biết rằng mình có nhiều sư anh, sư chị lớn như thế. Các sư anh, sư chị lớn về thăm Sư Ông từ khắp nơi. Có những ngày chúng con cứ nấu cơm miệt mài mà cũng không đủ vì số lượng những người thân quen đến thăm Sư Ông đông quá. Bận nhưng vui lắm, bạch Sư Ông.

Từ khi Sư Ông có mặt nơi đây, không khí ở Diệu Trạm trở nên ấm áp hơn. Sáng tối, chúng con được nghe tiếng hô canh, tụng kinh, niệm Bụt từ thiền đường Trăng Rằm. Có lần chúng con đang đi thiền hành, gần đến thất Lắng Nghe thì thấy Sư Ông xuất hiện. Chúng con đi theo Sư Ông với từng bước chân cẩn trọng, ý thức rằng mình đang đặt từng bàn chân trên đất thiêng, đi theo những dấu chân của chư Tổ, của Sư Cố và của Sư Ông. Nơi đâu mà lại không in dấu chân của quý Ngài và của Sư Ông, phải không thưa Sư Ông. Sư Ông dẫn chúng con đi thăm hồ bán nguyệt, nơi điệu Sung ngày xưa hay ngồi gọt mít cho dì Tư, hay là nơi điệu ngồi lắng nghe tiếng tụng kinh trầm hùng vang vọng từ chánh điện. Sư Ông đã từng viết trong Con nghé nhỏ đuổi chạy mặt trời rằng chừng nào chúng con về, Sư Ông sẽ dẫn chúng con đi thăm khắp những ngõ ngách, nơi Sư Ông đã từng sống khi còn là một chú điệu, và Sư Ông đã không quên lời hứa. Chúng con đi bên cạnh Sư Ông, và chúng con tin chắc rằng, dù hai mươi năm, ba mươi năm, một trăm năm, và hẳn là nhiều hơn thế nữa, Sư Ông cũng giữ lời hứa đưa các sư em của chúng con dạo chơi khắp mọi ngóc ngách chùa Tổ.

 

 

Lại có những ngày đẹp trời, chúng con được dạo chơi với Sư Ông quanh cốc, được đẩy xe cho Sư Ông, được hát cho Sư Ông nghe và ngồi quây quần quanh Sư Ông. Mỗi khi khỏe, Sư Ông đều đi thăm liêu Sư Cố, chúng con lại được tháp tùng theo Sư Ông. Trăm lần như một, với ánh mắt rất sáng và nét mặt rất tươi, Sư Ông luôn chắp tay đảnh lễ Sư Cố với tất cả sự cung kính. Trong thất Sư Cố, chúng con có cảm giác như Sư Ông nhỏ lại thành sư chú Phùng Xuân thuở nào. Sư Ông trở thành sư chú Phùng Xuân hầu cơm Sư Cố, hái những cụm hoa mộc pha trà dâng lên Sư Cố, thổi lửa nơi cái bếp nhỏ nấu nước cho Sư Cố, hay ra cây khế trăm tuổi hái một trái cho Sư Cố tặng thầy Trọng Ân mỗi khi thầy lên chùa hầu chuyện Sư Cố. Sư Ông thích thú ngắm nhìn bức chân dung đắp bằng lụa nổi mà Sư Ông đã đặt ở Sài Gòn năm xưa để cúng dường Sư Cố. Có phải hôm ấy cả chùa đã rất vui khi thấy món quà lạ này? Rồi Sư Ông quán sát từng đồ vật trong liêu với tất cả sự chăm chú và kính cẩn, không khác gì lần đầu tiên Sư Ông mới được trở về. Chúng con biết ơn Sư Ông về đây trao truyền trực tiếp đến chúng con, một cách lặng lẽ và tự nhiên, lòng thương kính của Sư Ông đối với Sư Cố và chư Tổ.

Thỉnh thoảng Sư Ông còn ghé thăm ni xá Diệu Trạm nữa. Sự có mặt của Sư Ông làm cho Diệu Trạm vui như hội. Các chị em con thay nhau đẩy xe Sư Ông, thay nhau đi gần để nắm tay Sư Ông, trải chiếu ngồi ăn gần Sư Ông. Sư Ông đi một vòng thong thả thăm chỗ ăn, chỗ ngủ của các sư con. Sự quan tâm của Sư Ông làm cho chúng con cảm thấy ấm áp và được nuôi dưỡng hoài mỗi khi nghĩ đến. Chúng con biết ơn Sư Ông về đây để cho chúng con được nếm sự ngọt ngào của tình thầy trò.

Có những vị xuất sĩ hay phật tử cư sĩ, lặn lội bay từ trong nước hay từ nước ngoài về thăm Sư Ông. Là người trẻ cũng như người lớn tuổi, họ về với mong ước được gặp Sư Ông dù chỉ một lần trong đời, dù chỉ đứng ngắm từ xa. Họ đi thiền hành chậm rãi quanh chùa và kính cẩn hướng về cốc Sư Ông mà lạy từ xa. Nhằm lúc Sư Ông đi chơi quanh chùa, họ may mắn một cách bất ngờ được gặp Sư Ông và thế là nước mắt cứ chảy hoài vì vui sướng. Trẻ em được Sư Ông nắm tay, xoa đầu, làm cho ba mẹ các em sung sướng và khóc suốt thôi. Sư Ông tiếp xử tất cả mọi người với tình thương và tâm không phân biệt.

Có lần chúng con được chứng kiến Sư Ông nắm tay một người học trò đến thăm Sư Ông. Người học trò 14 tuổi năm nào nay tóc đã bạc trắng. Có những người học trò từ Phật học đường Ấn Quang, từ trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, hay những người bạn học từ Phật học đường Báo Quốc năm xưa. Chúng con biết ơn Sư Ông đã về đây dạy chúng con biết trân quý và học cách bồi đắp tình huynh đệ, nghĩa thầy trò một cách bền bỉ.

Có Sư Ông ở đây, mỗi ngày chúng con trông đến lượt mình để được qua thất hầu Sư Ông làm những việc nhỏ nhất như quét tước, dọn dẹp. Chúng con không thể nào diễn tả hết niềm hạnh phúc khi được gọi vào ngồi ăn cơm cùng Sư Ông. Sư Ông ngồi trên ghế, trước bàn ăn, còn chúng con thì được ngồi dưới đất phía trước Sư Ông. Sư Ông luôn nhìn vào bát cơm chúng con để biết chắc rằng chúng con đã có thức ăn, rồi Sư Ông mới chắp tay quán niệm. Nếu chúng con chưa có gì trong tay, với ánh mắt và cử chỉ, Sư Ông sẽ hỏi: “Cơm tụi con đâu?” Thế là tụi con lại như cuống cuồng lên, kiếm đại một trái chuối hay một hộp sữa để vào ăn với Sư Ông kẻo Sư Ông đợi. Sư Ông không bao giờ chịu thời cơm trong khi các sư con không có gì ăn. Tay Sư Ông cầm muỗng rất chắc và gọn, từ tốn múc một muỗng cơm, đưa lên nhìn kỹ hai giây rồi đưa qua hướng chúng con như để nói: “Mời các sư con, bon appétit các con!” Rồi Sư Ông đưa muỗng thức ăn vào miệng nhai từ tốn trong chánh niệm, nhai thật lâu và thật đẹp. Mỗi động tác, mỗi muỗng cơm đều tràn đầy ý thức. Thỉnh thoảng Sư Ông nhìn ra cửa sổ ngắm lá xanh hay nhìn chúng con mỉm cười. Nhai và nuốt xong, Sư Ông nhìn xuống mâm cơm, nhìn từng dĩa thức ăn để chọn món rồi múc tiếp. Qua ánh mắt, chúng con có cảm giác rất rõ là Sư Ông đang nói chuyện với chúng con thật nhiều. Dùng cơm xong, Sư Ông uống sữa hạt macca. Thấy Sư Ông nhai sữa mười tám lần một hớp, con nhớ đến một pháp thoại mà con đã được nghe trước kia. Sư Ông có kể rằng Sư Ông thực tập nhai nước và nhai sữa mà chúng con không hiểu sao lại có thể làm được như vậy. Bây giờ chúng con hạnh phúc quá khi tận mắt được thấy Sư Ông nhai sữa một cách hết sức khoan thai và tự nhiên. Có lúc chúng con ăn hết cơm trước Sư Ông. Thế là Sư Ông sớt từng muỗng thức ăn qua bát chúng con. Sư chị thị giả nấu ăn cho Sư Ông ngồi đó, sốt ruột lên tiếng: “Bạch Thầy, các em con ăn nhiều lắm rồi, no rồi Thầy ạ. Chúng con thỉnh Thầy thời thêm.” Nhưng Sư Ông vẫn tiếp tục sớt thức ăn qua cho chúng con. Chúng con chưa bao giờ từng mơ ước được ngồi gần Sư Ông như thế, được ngắm nhìn Sư Ông gần và kỹ như thế, và lại còn được Sư Ông sớt cho thức ăn nữa. Thức ăn từ Sư Ông món nào cũng ngon và bổ dưỡng. Được ngồi bên Sư Ông, tất cả mọi phiền muộn đều tan theo mây khói khi nào không hay. Những gì còn lại chỉ là sự bình an và niềm vui thôi. Về lại ni xá, chúng con vừa no cơm, vừa no tình thương. Chúng con biết ơn Sư Ông đã về đây, dạy trực tiếp cho chúng con thế nào là thực tập thiền ăn.

Có những ngày Sư Ông mất khẩu vị, Sư Ông nhìn mâm cơm một hồi rồi đưa tay mời chị em chúng con ăn và chuyền hết mâm cơm cho chúng con. Hay có khi nhìn ra cửa sổ, thấy đông các sư con đang cổ vũ: “Sư Ông ơi, Sư Ông ráng lên Sư Ông!” Thế là Sư Ông lại ráng dùng một muỗng cơm hay một hớp sữa. Chúng con biết ơn Sư Ông đã ráng thời cơm và ráng uống sữa vì thương chúng con.

Có lúc chúng con rất cảm động khi nhìn qua cửa sổ, thấy một thầy thị giả ngồi bên trong tâm sự thật lâu với Sư Ông trong khi Sư Ông lắng nghe rất chăm chú với ánh mắt tràn đầy từ bi. Sau này, chúng con được nghe thầy ấy thổ lộ rằng Sư Ông đã đưa tay chỉ vào bụng thầy ấy nhiều lần. Thầy thị giả đã hiểu rằng Sư Ông nhắc thầy thực tập thở sâu xuống đến bụng, phải thực tập thở bụng để không bị tư duy kéo đi. Thầy đã làm theo và đã vượt qua được một giai đoạn khó khăn trong đời tu. Chúng con biết ơn Sư Ông về đây cho chúng con thấy thế nào là lắng nghe sâu.

Sư Ông kính thương của chúng con, từ khi đại dịch bùng phát, chúng con không còn được vào liêu hầu Sư Ông nữa. Nhưng chúng con vẫn còn được lên lau dọn bên ngoài thất Sư Ông, được ngắm nhìn Sư Ông qua cửa sổ. Sư Ông nằm nghỉ ngơi thật bình an, thật đẹp. Chúng con vẫn đứng ngoài cửa sổ hát cho Sư Ông nghe. Chúng con vẫn được ngồi ngoài cửa sổ ăn cơm với Sư Ông. Nhiều lần trong bữa ăn, bỗng nhiên Sư Ông ngưng nhai và nhìn thẳng từng đứa, rồi gật đầu với từng đứa một. Chúng con biết ơn Sư Ông về đây dạy trực tiếp chúng con thế nào là có mặt trọn vẹn 100% với người mình thương.

Sư Ông kính thương, có lần một cô bác sĩ bay từ xa về tập cho Sư Ông. Sư Ông đã nói được những chữ rất rõ ràng làm cho cô bác sĩ vô cùng phấn khởi. Nhưng sau đó Sư Ông mỉm cười với cô, vuốt đầu cảm ơn cô rồi từ chối tập tiếp. Cô bác sĩ và chúng con đã hiểu ngay là Sư Ông biết rõ sức của mình. Sư Ông biết rõ mình muốn đặt điều gì là ưu tiên. Sư Ông muốn bảo tồn năng lượng, muốn dành năng lượng để có mặt thêm với chúng con – các sư bé của Sư Ông, những đứa chưa có nhiều thời gian được gặp và tiếp nhận gia tài trực tiếp từ Sư Ông – cho đến khi chúng con sẵn sàng. Đôi khi chúng con không muốn lớn để Sư Ông đừng đi. Nhưng chúng con biết ba năm và ba tháng là nhiều lắm. Tất cả các bác sĩ của Sư Ông đều ngạc nhiên và vô cùng thán phục Sư Ông. Ba năm và ba tháng vừa qua là những tháng ngày huyền thoại, không những cho chị em chúng con mà còn cho không biết bao nhiêu người gần xa. Sư Ông đã dạy chúng con thế nào là thiên thu trong khoảnh khắc. Chúng con nguyện nuôi ánh nhìn, cái nắm tay, giây phút ngồi hầu Sư Ông, giây phút cùng Sư Ông thiền hành quanh chùa Tổ, hay giây phút được ngắm nhìn Sư Ông từ đằng xa, và bao nhiêu cơ hội khác chúng con đã tiếp nhận được từ Sư Ông, để những khoảnh khắc ấy trở thành thiên thu trong chúng con.

Chúng con biết chúng con sẽ nhớ Sư Ông lắm. Mỗi khi nhớ Sư Ông, chúng con hứa với Sư Ông sẽ theo dõi hơi thở và bước những bước chân chánh niệm để tức khắc Sư Ông có mặt ngay trong chúng con. Theo dõi hơi thở và đi trong chánh niệm, tức khắc chúng con cũng sẽ nhận ra được Sư Ông trong mỗi sư anh, sư chị, sư em và mỗi người bạn tu cư sĩ của chúng con. Chúng con xin hứa với Sư Ông rằng chúng con sẽ bồi đắp tình huynh đệ để không phụ lòng Sư Ông. Chúng con biết Sư Ông có niềm tin nơi các đệ tử của mình. Chúng con sẽ đưa Sư Ông đi về tương lai mãi mãi cùng với tất cả chúng con.

Chúng con xin đảnh lễ Sư Ông giữa lòng đất Tổ đình Từ Hiếu, với tất cả niềm biết ơn sâu xa của chúng con.

Các sư con bé nhỏ của Sư Ông.

Làng Mai năm qua

Khóa tu xuất sĩ

Trong tiết trời se lạnh và những cơn mưa nhẹ cuối đông, gần 160 xuất sĩ đã tập họp về chùa Pháp Vân, xóm Thượng để tham dự khóa tu xuất sĩ, từ ngày 13 – 20.2, với chủ đề “Đã có đường đi rồi, con không còn lo sợ”.

Thật ấm áp khi tăng thân xuất sĩ có cơ hội về bên nhau để tiếp xúc với Thầy trong từng hơi thở, từng bước chân cẩn trọng của mình, cũng như trong ánh mắt, nụ cười thân thương của huynh đệ. Nhìn đâu, chúng con cũng thấy Thầy!

Đón Thầy về

Thầy đã trở về chùa Pháp Vân, xóm Thượng vào một ngày rất đẹp trong tiết đầu xuân, ngày 5.03.2022. Đại chúng có mặt và đón Thầy ở cửa tùng, những cây tùng to lớn, vững chãi mà Thầy đã trồng bốn mươi năm về trước.

Dưới bóng những cây tùng là từng hàng dài các con của Thầy, cũng đã được Thầy trồng và chăm sóc không ngừng nghỉ qua bao nhiêu năm tháng, đang chắp tay đón Thầy. Giống như mỗi khi chúng con tập trung lại để đi đón Thầy trở về sau mỗi chuyến đi hoằng pháp dài ngày. Lần này Thầy đi đến tận sáu năm và đại chúng lại không được đón Thầy qua những hình ảnh quen thuộc như năm nào. Tất cả đều đã trở thành huyền thoại.

Tiếng chuông trống Bát Nhã trầm hùng đón từng bước chân Thầy vào thiền đường Nước Tĩnh. Chúng con cho phép mình sống với cái giây phút bất sinh bất diệt nhưng cũng cho phép mình sống với những cảm xúc nhớ thương. May mắn thay, từng tiếng chuông trống trầm hùng cũng như sự vững chãi của Thầy đã nâng từng bước chân chúng con và mở toang cánh cửa Bát Nhã cho chúng con đi vào. Chúng con đã cùng nhau hát bài “Đã về, đã tới” bằng tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp. Thầy đã về thật rồi! Nhưng sao chúng con, có lúc vẫn muốn đi tìm Thầy?

Khóa lễ 49 ngày được diễn ra trong một khóa tu ba ngày (11 – 13.3) với chủ đề “Đến đi thong dong”. Đại chúng có mặt tại mỗi xóm và hơn 500 thiền sinh tham dự trực tuyến đã cùng nhau thực tập và kể những câu chuyện về Thầy. Hoa trái của sự thực tập ấy đích thực là sự tiếp nối của cái hiểu, cái thương mà Thầy rất mong muốn hiến tặng cho xã hội trong thời đại này. Thầy đã cùng làm với chúng con trong khóa tu ấy.

Trong lễ 49 ngày tại chùa Pháp Vân, chúng con đã thực hiện theo di huấn của Thầy, thả tro cốt của Thầy trở về với đất Mẹ. Buổi chiều ấy thật đẹp, cả mây, trời và không gian đều đẹp. Các vị cư sĩ ở vùng lân cận đã có mặt với Thầy vào chiều hôm ấy và buổi lễ cũng được truyền trực tuyến cho 15.000 người trên khắp thế giới. Sau phần lễ trong thiền đường Nước Tĩnh, đại chúng mời Thầy đi thăm những con đường thiền hành mà Thầy rất thích. Trong suốt thời gian đi cho đến vườn Bụt, tro cốt được chuyền cho nhiều người để Thầy được nâng niu trong vòng tay trân quý của nhiều đệ tử.

Tại đồi Bụt, đại chúng dừng lại và mỗi người được nhận một ít tro, yên lặng đi tìm một gốc cây, một vị Bụt, quán chiếu và gửi niềm thương ấy xuống đất Mẹ. Không ai nói với ai lời nào. Ai cũng muốn giữ sự bình yên ấy thật lâu để được gần bên Thầy. Cuối cùng, đại chúng hợp xướng bài “Tìm nhau” như đó là một lời hẹn thề giữa Thầy và đệ tử.

Sau đó, trong khóa tu tháng Sáu và khóa tu mùa Hè vào tháng Bảy, các thiền sinh lại được có cơ hội tham dự hai buổi lễ rải tro tại xóm Hạ và xóm Mới.

 

 

Khóa tu mùa xuân

Từ đầu tháng Ba cho đến tháng Năm, Làng mở cửa trở lại để đón thiền sinh đến tu tập mỗi tuần, sau hai năm phải tạm đóng cửa vì đại dịch Covid. Khoảng 500 thiền sinh đã về Làng để cùng tu tập với tăng thân và làm mới chính mình trong không khí tươi mát của đất trời trong mùa tuôn dậy.

Gần sáu mươi nhà khoa học cũng về tu tập chung với nhau trong một tuần, với chủ đề “Spirituality, Science & Action” (Tâm linh, khoa học và hành động).

Phát hành bộ phim “Đám mây không bao giờ chết”

Trước tình hình chiến tranh và khủng hoảng nhân đạo đang gia tăng ở Ukraine, vào ngày 2 tháng 4 năm 2022, tăng thân Làng Mai đã phát hành bộ phim “Đám mây không bao giờ chết”, một bộ phim tài liệu cảm động về cuộc đời của Thầy, cũng như một bức tâm thư kêu gọi tất cả các bên lâm chiến ngừng giết chóc ở Ukraine.

Bộ phim là sự hợp tác giữa tăng thân Làng Mai với các nhà làm phim Max Pugh và Marc J. Francis. Với giọng đọc truyền cảm của diễn viên Peter Coyote, bộ phim mang đến cái nhìn sâu sắc về cuộc đời của Thầy – một nhà lãnh đạo tinh thần toàn cầu, nhà thơ và nhà hoạt động vì hòa bình được kính trọng trên toàn thế giới.

Có phụ đề với hai mươi hai ngôn ngữ khác nhau, bộ phim đã được năm mươi ngàn lượt người xem trong năm giờ công chiếu đầu tiên trên kênh Youtube của Làng Mai. Lá thư kêu gọi hòa bình cho Ukraine cũng đến được với hơn ba mươi ngàn người thông qua mạng xã hội.

Hành trình du hóa

Đây là mùa xuân đầu tiên kể từ sau đại dịch Covid, các xuất sĩ của Làng có cơ hội lên đường du hóa, đem pháp môn chánh niệm đến nhiều vùng khác nhau của Pháp, Ý, Hà Lan, Thụy Sĩ, Andorra cũng như của Ecuador, Colombia, theo lời mời của các tăng thân địa phương.

Tại Ý, từ ngày 8.3 đến ngày 20.4, tăng đoàn đã tổ chức các buổi pháp thoại công cộng, đi bộ cho hòa bình tại Pisa và Firenze, cũng như ngày quán niệm tại Florence, và khóa tu bốn ngày tại một tu viện Ki-tô giáo ở Lucca. Ngoài ra, một nhóm quý thầy, quý sư cô còn tổ chức một khóa tu hành hương từ Santuario della Verna đến Assisi.

 

Tại Ecuador (18 – 29.3) và Colombia (9-17.4), quý thầy, quý sư cô có cơ hội đem pháp môn chánh niệm đến với gần 900 người thông qua các khóa tu cũng như các buổi pháp thoại công cộng do tăng đoàn hướng dẫn.

Ngoài ra, trong mùa xuân quý thầy, quý sư cô còn hướng dẫn một khóa tu trượt băng (skiing retreat) tại Andorra; cũng như hướng dẫn khóa tu tại Wilderswil, Thụy Sĩ.

Trong tháng Tư, lần đầu tiên một nhóm gồm chín thầy và sư cô (phần lớn là người Pháp) đã tổ chức một chuyến hoằng pháp bằng xe van vòng quanh nước Pháp. Trong cả chuyến đi, tăng đoàn đã có cơ hội gặp gỡ và chia sẻ pháp môn chánh niệm với hơn một ngàn người.

Tại Hà Lan, từ ngày 28.4 đến ngày 8.5, tăng đoàn đã tổ chức khóa tu, ngày quán niệm, đi bộ cho hòa bình, cũng như lễ truyền 14 Giới cho bốn thành viên trong tăng thân địa phương.

Mừng 40 năm Làng Mai

Làng Mai ăn mừng 40 tuổi khi chính quyền Pháp vừa bỏ những quy định về giãn cách xã hội và tình trạng dịch bệnh cũng đã thuyên giảm ở châu Âu. Sau hai năm chờ đợi, mọi người lại được gặp nhau ở Làng, ai ai cũng nhìn nhau vui sướng vì vẫn còn có nhau.

Khóa tu tháng Sáu là khóa đầu tiên tăng thân tổ chức mừng Làng Mai 40 tuổi. Thay vì 21 ngày như trước đây, khóa tu rút ngắn lại thành 14 ngày (3 – 17.6), cũng vì lo ngại tăng thân xuất sĩ đuối sức và để có khoảng thời gian nghỉ ngơi trước khóa tu mùa Hè. May mắn thay đó lại là một quyết định rất sáng suốt của tăng thân, vì trong thời gian khóa tu diễn ra quý thầy, quý sư cô bị lây nhiễm Covid và phải cách ly. Dù thiếu người nhưng khóa tu vẫn diễn ra rất trôi chảy.

Ngoài sự tham dự của 500 thiền sinh, đại chúng còn được chào đón nhiều quý thầy lớn, quý sư cô lớn từ các trung tâm ở Mỹ và Việt Nam sang thăm Làng. Có nhiều vị xa Làng cũng khá lâu. Vì vậy chỉ cần gặp lại nhau thôi là đã thấy vui rồi!

Trong dịp này, đại chúng có cơ hội được xem những hình ảnh của Làng qua năm tháng, cũng như lắng nghe chia sẻ của quý thầy, quý sư cô và các thân hữu đã gắn bó với Làng từ những ngày đầu. Trong lòng ai cũng dâng lên niềm biết ơn đối với Thầy, đối với các bậc đi trước đã đem hết tình thương dựng xây nên cõi Tịnh Độ này.

Trong khóa tu có một ngày chính thức ăn mừng Làng Mai 40 tuổi với chương trình rất đặc sắc. Ngày hôm ấy, đại chúng được thiền hành trên con đường tùng huyền thoại dẫn xuống Sơn Hạ. Hai bên đường là những tấm thư pháp của Thầy được viết với nhiều ngôn ngữ. Vừa tới Sơn Hạ, đại chúng được chào đón bởi tiếng nhạc du dương của dàn hợp tấu cũng như thưởng thức điệu múa “Châu ngọc Pháp Hoa” do quý sư cô trình diễn. Thêm vào đó, đại chúng còn có cơ hội thưởng thức những tấm thư pháp của Thầy được ban tổ chức trưng bày rất đẹp và công phu.

 
 
 
 

Mùa hè ở Làng

Vì lần đầu tiên Làng mở cửa trở lại sau đại dịch nên tăng thân quyết định tổ chức khóa tu mùa hè trong hai tuần (15 – 29.7), thay vì bốn tuần như trước đây. Gần 1500 thiền sinh, trong đó có đông các em thiếu nhi, thanh thiếu niên và người trẻ, đã về lại Làng cùng tu tập trong hai tuần này. Trước đó, tăng thân cũng đã chào đón hơn 350 người trẻ về tu tập trong khóa tu Wake Up, từ ngày 1 – 8.7.

An cư kiết thu

Năm nay, tứ chúng Làng Mai tại Pháp gồm 255 vị (159 xuất sĩ, 2 tập sự và 94 cư sĩ) có cơ hội an cư ba tháng chung với nhau, từ ngày 15.09 đến ngày 13.12.

Trong suốt mùa an cư, đại chúng có cơ hội học hỏi và thực tập với chủ đề “Đạo Bụt dấn thân, Đạo Bụt nhập thế”. Sự có mặt của sư cô Chân Không cũng như nhiều quý thầy, quý sư cô lớn khác đã tiếp thêm năng lượng ấm áp, vững chãi cho đại chúng.

Ba lễ xuất gia

Dù sắc thân đã ẩn tàng, Thầy vẫn đang không ngừng được tiếp nối nơi vô vàn những hóa thân khác. Trong năm 2022, tăng thân đã chào đón thêm 25 thành viên mới, thế hệ đầu tiên mang pháp hiệu của Thầy – các sư chú với chữ “Nhất”, các sư cô với chữ “Hạnh”:

Cây Tùng Lọng – Stone Pine (ngày 12.06 tại tu viện Vườn Ươm, Thái Lan) gồm các sư chú: Chân Nhất Nguyện, Chân Nhất Niệm, Chân Nhất Lưu.

Cây Táo Nhỏ – Manzanita (ngày 25.09 tại tu viện Lộc Uyển, Mỹ) gồm các sư chú: Chân Nhất Hướng và Chân Nhất Ấn.

Cây Xích Tùng – Red Cedar (ngày 18.12 tại tu viện Vườn Ươm, Thái Lan) gồm các sư chú: Chân Nhất Thể, Chân Nhất Đạo, Chân Nhất Đăng, Chân Nhất Chiếu, Chân Nhất Thừa; và các sư cô: Chân Lạc Hạnh, Chân Pháp Hạnh, Chân Bi Hạnh, Chân Phước Hạnh, Chân Giới Hạnh, Chân Tuệ Hạnh, Chân Nhân Hạnh, Chân Xuân Hạnh, Chân Quang Hạnh, Chân Khiêm Hạnh, Chân Bảo Hạnh, Chân Bối Hạnh, Chân Dung Hạnh, Chân Phổ Hạnh, Chân Tường Hạnh.

 

Lễ truyền đăng

Trong năm 2022, tăng thân đã chào đón 31 vị giáo thọ mới, cả xuất sĩ và cư sĩ. Các buổi lễ truyền đăng được tổ chức tại Làng Mai Pháp trong khóa tu tháng Sáu với chủ đề “Đã có đường đi rồi, con không còn lo sợ” và khóa tu an cư kiết thu. Bên cạnh đó, Sư cô Chân Không đã trực tiếp truyền đăng cho hai vị giáo thọ mới tại tu viện Bích Nham vào ngày 3.9, nhân chuyến hoằng pháp của Sư cô tại Mỹ.

 

Dưới đây là tổng hợp những bài kệ truyền đăng được trao trong năm qua:

Thầy Thích Chân Trời Đại Giác (Andreas Lukas Ambühl;
Pháp danh: Great Determination of the Heart)

Trời tâm linh sáng bừng nét cọ
Thệ Nhật sơn đại giác nở hoa
Mười năm vườn tuệ siêng chăm sóc
Ân nghĩa bồi vun nếp lục hòa.

Thầy Thích Chân Trời Phạm Hạnh (Bart Johan Christiaan Bannink;
Pháp danh: Deep Understanding of the Heart)

The sacred holy life of both east and west
Illuminates the well trodden ancestral paths
Revealing their true treasures
As action and non-action go perfectly together.

Sư cô Thích Nữ Chân Tựu Nghiêm (Hồ Thị Bích Minh; Pháp danh: Tâm Thánh Quang)

Bước chân hơi thở là nhà
Thành tựu chỉ quán không xa Phật đài
Vạn pháp là một không hai
Nghiêm thân hộ ý ngày mai giúp đời.

Sư cô Thích Nữ Chân Nhất Nghiêm (Lê Thị Thanh Nhàn; Pháp danh: Tâm Phước Thiện)

Nhất tâm hướng Bụt
Hộ trì nghiêm thân
Báo ân phụ mẫu
Tạ nghĩa bốn chúng
Ngày ngày không quên.

Sư cô Thích Nữ Chân Trăng Lộc Uyển (Phạm Thị Thu Hằng; Pháp danh: Tâm Trung Kiên)

Đông tây nam bắc một ánh trăng
Lộc Uyển chuyển luân diệu pháp âm
Đất Mẹ thanh lương bừng hơi thở
Ngước mắt cười vang bặt cầu tầm.

Sư cô Thích Nữ Chân Trăng Xóm Mới (Nguyễn Thị Thu Hà; Pháp danh: Tâm Nguyên Hải)

Trăng tròn sáng giữa một trời sao
Lối cũ xóm xưa rõ nẻo đường
Cây khô xuân sang mọc lá mới
Khắp nơi gieo rắc hạt yêu thương.

 

 

Sư cô Thích Nữ Chân Trăng Thủy Tiên (Trần Dạ Thụy Vy; Pháp danh: Tâm Hạnh Khương)

Tâm sáng tỏ tựa trăng rằm
Thủy triều vang tiếng pháp âm Bi Từ
Tiên đang cứu giúp muôn người
Sá chi mệt mỏi đường đời quanh co.

Sư cô Thích Nữ Chân Trăng Tam Muội (Susan Rooke;
Pháp danh: Transformation of the Heart)

The samādhi moon shines in the eastern sky
For many years our ancestors have sought it
Carefully disciplined, we find our way home
Ancestors greet us and descendants rejoice.

Sư cô Thích Nữ Chân Trăng Tin Yêu (Bong Suryati;
Pháp danh: Deep Communication of the Heart)

Trăng quê hương vẫn sáng
Chí nguyện chưa từng quên
Niềm tin không phai nhạt
Đem yêu thương mọi miền

Sư cô Thích Nữ Chân Trăng Tịnh Thường (Hồ Vũ Anh Đài; Pháp danh: Tâm Quảng Bảo)

Trăng không tròn không khuyết
Khắp chốn là quê hương
Kiện hành trời phương ngoại
Đẹp nếp sống tịnh thường.

Sư cô Thích Nữ Chân Trăng Thường Trú (Nguyễn Thị Bích Vân; Pháp danh: Tâm Quảng Huy)

Trăng treo đỉnh Thứu ngàn năm sáng
Thần khí trượng phu giữa núi sông
Tùy duyên thường trú nuôi hơi thở
Mỗi bước chân về rạng tổ phong.

Chân Đại Hòa – True Great Harmony (Shelley Anderson)

The great work of no birth and no death
Can be realized at any moment
The true harmony of heart and mind
Takes us to the shore of peace and joy.

Chân Quang Độ – True Land of Light (Martha Caroline Soule)

Mindfulness is the light that shines near and far
Taking care of the land of the five skandhas
The sangha is the home where voices are heard
And people can sit together in freedom.

Chân Biểu Tôn – True Manifestation of Reverence (Marisela Gomez)

Reverence for the Buddha manifests
In our speech, actions and relationships
Right diligence completes the work begun
And our vow is already realized.

Chân Lạc An – True Happy Peace (Denise Sanematsu Kato)

True happiness is peace and freedom
Caring for others and for oneself
The way home is in every moment
Adorned with flowers of the Dharma.

Chân Thái Hòa – True Great Harmony (Dorit Alon Shippin)

The bird flies over the great hot forest
Putting out the flames with drops of water
Body, speech and mind held in harmony
Invite the bell that settles the tension.

Chân Liễu Nghĩa – True Deep Meaning (Uli Pfeifer Schaupp)

The deep still waters of the lake
Reflect perfectly the true meaning
Insight gives rises to compassion
Bringing relief to all places.

Chân Hỷ Định (Martine Robier)

Phụng sự ở trong bản môn
Niềm vui có được lắng yên nhẹ nhàng
Tâm Hỷ theo gió thênh thang
Còn lại thân định mênh mang lòng từ.

Chân Thoại Khởi – True Auspicious Arising (Jorieke Rijsenbilt)

The arising of a lotus of compassion
Marks an auspicious moment of change before us
It brings people together in peace and joy
And heals the wounds for future generations.

Chân Hòa Gia – True Harmonious Family (Marleen van der Bosch)

True harmony lies within oneself
The sangha becomes a family
Listening deeply reconciles us
The refreshing Dharma rain brings joy.

Chân Lạc An – True Joyful Peace (Margriet Messelink)

The joy of meditation is food
That nourishes right view and right action
Seeds of peace have already been sown
Their flowers and fruit adorn the world.

Chân Hỷ Vân – Vrai Joyeux Nuage (Jacqueline Thouvenot)

Le Joyeux Nuage lentement dans le ciel
Rafraîchit le généreux soleil du midi
Toucher la guérison avec le sourire de l’inter-être
Goûter la douceur et la paix de l’ultime: tout est déjà parfait!

 

 

Vraie Terre de Paix (Marie-Ange Amiel)

Dans la Terre de Paix se trouve la source joyeuse de l’instant
Où le souffle tranquille de la compassion guide l’action
Dans l’océan de sagesse, les bruits de l’injustice s’effacent
Le vivant dans toute sa beauté resplendit dans le silence.

Chân Thâm Nghĩa – Vraie Loyauté Profonde (Dominique Prodel)

La Loyauté Profonde de la terre donne aux arbres l’éclat joyeux de la Vie
Sur les pas des ancêtres spirituels chaque respiration devient libération
La présence lumineuse du cœur se suffit à elle-même
Comme le cyprès au milieu de la cour.

Chân Lạc Ân – Vrai Sceau du Bonheur (Christian Michel)

Dans chaque pas s’inscrit le Sceau du Bonheur
La profondeur du silence intérieur réveille la douceur de la joie
L’esprit du débutant s’amuse avec l’impermanence
Comme la feuille joue avec les saisons.

Chân Hòa Lâm – True Harmonious Forest (Claude Acker)

The forest has its ways of harmony
Each tree standing straight in its position.
The sangha body grows like a forest
Where all the roots and branches interare.

Chân Bích Trì – True Blue Lake (Annie Lake Mahon)

The jade waters of the deep lake
Refresh Mother Earth’s heat and pain.
We shall never give up our task
Watering the flowers of peace.

Chân Quang Trang (Bar Zecharya)

Understanding is the clear light
That dispels all hatred and fear
It adorns the untended garden
Where all beings can enjoy the fruit.

Chân Hạnh Toàn (Hélène Prost)

Tấm lòng hiếu hạnh vẹn toàn
Nguyện theo gương sáng theo dòng tổ tiên
Không bùn không đóa hoa sen
Trời xanh mây trắng thênh thang đường về.

True Source of Listening (Maya Brandl)

By listening to the cries of the world
Drops of compassion well up at the source
By transforming mud into lotuses
Faith in the three precious jewels deepens.

Chân An Đạo (Hélène Nardot)

An ban thủ ý phá tâm nghi
Lắng nghe, nhìn thấu đạo thâm sâu
Một tâm bước vững vào rừng tía
Vượt sóng ba đào như dạo chơi.

 

Sư cô Chân Không được trao bằng Tiến sĩ danh dự

Vào ngày 10 tháng 12 năm 2022, Viện trưởng trường Đại học Phật giáo Hoàng gia Thái Lan (Mahachulalongkornrajavidyalaya University – MCU) đã trao bằng Tiến sĩ danh dự trong lĩnh vực công tác xã hội cho Ni Trưởng Làng Mai – Sư cô Thích Nữ Chân Không để vinh danh những đóng góp của Sư cô vì hạnh phúc và lợi ích cộng đồng cho đất nước Việt Nam cũng như trên toàn thế giới.

Lễ Tiểu tường tại chùa Tổ

Đã một năm trôi qua kể từ ngày Thầy xả bỏ báo thân, rong chơi trời phương ngoại. Các trung tâm thuộc Làng Mai khắp nơi trên thế giới đều gửi đại diện về tham dự lễ Tiểu tường của Thầy tại Tổ đình Từ Hiếu.

Gần một ngàn Phật tử cư sĩ trên khắp đất nước cũng tề tựu về chốn Tổ trong dịp đặc biệt này. Sự có mặt của hai Thượng tọa đến từ Hàn Quốc càng làm cho buổi lễ thêm đặc biệt.

Dù trời đổ mưa to và lạnh, nhưng ai nấy đều lặng yên, trở về, có mặt với nhau để cùng ngồi thiền, tụng kinh, lạy sám pháp địa xúc, tụng Năm Giới để chế tác năng lượng bình an, thương yêu cúng dường lên vị Thầy kính thương.

Tối ngày mùng 9.1.2023, trước ngày diễn ra lễ Tiểu tường, tăng thân có cơ hội ngồi quây quần bên nhau trong buổi lễ tưởng niệm để kể cho nhau nghe những kỷ niệm về Thầy trong không khí sum vầy, ấm áp tình thầy trò, tình huynh đệ đồng môn.

 

 

Chiếc bánh trà phổ nhĩ in hình chú hổ được một vị cư sĩ dâng lên cúng dường Sư Ông