Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt

Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt
(Pháp Quán Phạm Chí Kinh)

Nghĩa Túc Kinh, Kinh thứ 12, Đại Tạng Tân Tu 198
(tương đương với
Mahàviyùha Sutta,Sutta-Nipàta 895-914)

 

Bối cảnh

Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một: Trong pháp hội lớn tại thành Ca Tỳ La Vệ có 500 vị khất sĩ tham dự, có cả sự có mặt của các thiên thần, địa thần mười phương, và bốn vị thiên vương, vị Phạm Chí Pháp Quán có mặt đang nghi ngờ về đạo lý duyên khởi, cho nên nhân đó Bụt nói kinh này.

1.   Khi đã bị kẹt vào cái thấy của mình rồi thì người ta ưa tuyên bố: “đây mới thật là chân lý.” Cái xảy ra sau đó hoặc là bị mọi người chống đối, hoặc được mọi người khen ngợi.


2.  Ít ai biết hổ thẹn về cái thấy còn thiếu sót của mình. Ít ai thấy rằng tranh cãi thường đưa tới một trong hai hậu quả ấy (một là hơn, một là thua). Vậy ta nên nhổ tận gốc cái ý muốn tranh cãi để thực tập mà đạt cho tới cái bình an, nơi đó không còn (nhu yếu) tranh cãi nữa.


3.  Tất cả các pháp đều có thể tính bình đẳng, giống như mặt đất. Chưa nếm trải được điều đó thì phải tìm cách thực chứng cho được. Nếu không thấy được cái nền tảng bình đẳng ấy thì làm sao có thể sống chung an lạc với nhau? Và làm sao để những gì mình thấy, nghe và nói không đem lại tranh chấp?

4.  Ham được người ta khen ngợi là nguyên nhân khiến cho kẻ khác không ưa thích mình. Kẹt vào những gì mình thấy và nghe, vướng vào nhận thức và lề thói tranh chấp lưỡng nguyên, những kẻ này ai có thể giúp cho họ sáng mắt ra được? Ái dục chưa được đoạn trừ, những kẻ ấy sẽ phải còn tiếp tục trong vòng luân hồi sinh tử.


5.  Nghĩ rằng sử dụng những cấm giới và nghi lễ mà mình đang hành trì sẽ đem lại cho mình sự thanh tịnh, nghĩ rằng mình đã khám phá và nắm được chân lý, người kia chưa thực sự đạt tới tịnh hóa, người ấy chỉ có chủ tâm gặt hái tiếng ngợi khen của thế gian


6.  Không có tuệ giác mà đi tìm sự hành trì, đó là nguyên nhân đưa tới bao lầm lỡ, cũng như đi tìm sự thanh tịnh nơi sự học hỏi các chủ thuyết thì tự mình đánh mất giáo nghĩa chân thật và tiếp tục đi vào cái khổ của sinh tử.

7. Không nỗ lực trong công phu hành trì thật sự, khi mà cái hiểu và cái làm chỉ còn nằm trong phạm vi tư duy, thì người ta không thể chấm dứt được sinh tử luân hồi. Tuệ giác đối với người ấy chỉ là những lý thuyết.

8. Buông bỏ tất cả những lễ nghi và cấm giới, buông bỏ tất cả mọi ý niệm về tội và phúc, thanh tịnh và ô nhiễm, lúc đó vị hành giả mới không còn bị vướng vào những lo lắng u sầu về vấn đề thanh tịnh và nhiễm ô.

9.  Nói rằng tu theo phép này là tốt nhất, và ai không tu tập theo phép này đều là những người đang lầm đường, những người đã đi lạc quá xa, nói như thế thì sẽ gây tranh chấp biến loạn. Ai cũng chỉ nhân danh chân lý để đi tìm kiếm chút lợi danh trong cuộc đời.

10.  Cho giáo lý của mình là toàn hảo, và các giáo lý khác đều còn thô lậu và có nhiều khiếm khuyết, không có giáo lý nào so được với giáo lý của mình, đó là lý do sinh ra tranh chấp và thù oán. Ai cũng có khuynh hướng muốn nói rằng cái thấy và cái hành trì của mình là cách thức duy nhất giữ cho mình không bị sa đọa vào ô nhiễm.


11.  Ai cũng cho chủ thuyết của mình là hay nhất, không có giáo pháp nào có lợi lạc bằng, không có nguồn tuệ giác nào khác có thể đem tới sự tịnh hóa như nguồn tuệ giác của mình. Chính vì thế mà người ta bị kẹt cứng vào cái chủ thuyết của chính mình không thoát ra được.

12.  Mỗi người tự tôn sùng cái chủ thuyết của mình, cho đó là điểm cao nhất của sự học hỏi, đã từng được chính bậc đạo sư đích thân diễn giải. Sự thật là chủ thuyết kia chỉ là một lý thuyết suông, không phải là một pháp môn thực tập. Trong khi đó, sự tịnh hóa chỉ có thể xảy ra khi người ta hết lòng hành trì.


13.  Kẻ này nói sự thật là cái này, kẻ kia nói sự thật là cái kia, và cái thấy nào cũng có thể là đúng, cũng có thể là sai. Nhưng một khi đã bị kẹt vào cái thấy của mình rồi thì người ta dễ gây thù oán với kẻ khác. Lý do là khi mình đã cố chấp cho cái thấy của mình là cao nhất thì mình luôn luôn nói giọng tự cao tự đại.

14.Chấp nhận và vướng vào một chủ thuyết, cho rằng nhờ đó mà mình đã được giải thoát, tâm ý tuy có tin tưởng vào điều này nhưng trên thực tế chẳng có cái giải thoát thực sự nào xảy ra cả. Lý do là tại mình chỉ biết nói cho hay, và cái chủ thuyết kia chưa bao giờ đem lại sự giải thoát cho mình cả.


15.  Hãy quán sát người đời đang kẹt vào tâm (ý niệm) và vật, đang lấy trí năng của họ để tìm hiểu về hai cái ấy. Dù ta có tìm hiểu được bao nhiêu về hai cái ấy thì cũng không phải nhờ thế mà ta được thanh tịnh và chuyển hóa.

16.  Có được một pháp môn thực tập có công năng đưa tới tuệ giác thì mình không còn bị hệ lụy (vào bất cứ một chủ thuyết nào). Cái thấy và cái biết (của mình), mình cũng không bị vướng mắc vào đó. Không đi tìm cái khuyết điểm của người, chỉ lo hành trì cho đúng pháp, người hành giả vượt qua mọi tranh cãi, không chấp nhận tham dự vào bất cứ một cuộc tranh cãi nào.

17.  Thực tập quán chiếu cho đến nơi đến chốn, không đi theo một học thuyết nào, không chấp chặt một ý thức hệ nào, như đóng chặt tất cả các cánh cửa để phòng ngự mọi tham đắm, người hành giả chỉ thực tập quán chiếu mà không đi tìm những lý thuyết hấp dẫn kỳ lạ.  

18.  Bậc Mâu Ni đã buông bỏ được tất cả những gì mà người đời thường hay nắm bắt, không còn lận đận với sở thủ và sở sinh (đối tượng nắm bắt và đối tượng trở thành). Vị ấy không chọn lựa một quan điểm hay đi theo một phe phái nào trong những cuộc tranh chấp và cảm thấy thanh thản tự tại giữa đám quần chúng phàm tục đang buồn khổ và oán ghét nhau.

19.  Đã buông bỏ những ham muốn ngày xưa, và không đang xây dựng một ham muốn mới nào, vị ấy không còn cầu mong gì nữa, và do đó sẽ không còn vướng bận gì nữa. Vị ấy đã thoát ra khỏi mọi tín ngưỡng sai lạc, đã dũng mãnh bước qua, đã vượt thoát thời gian, đi vào kiếp ngoại.

20.  Vị ấy không còn nghi nan gì nữa đối với tất cả các chủ thuyết, không còn bị kẹt vào bất cứ một cái gì đã nghe, đã thấy và đã nghĩ. Sau khi buông bỏ được gánh nặng, vị Mâu Ni đã thực sự giải thoát, không còn mong mỏi một cái gì nữa cả, hoặc cho quá khứ hoặc cho tương lai.

Đại Ý

Kinh này nối tiếp đề tài kinh thứ mười một và cũng nói về những tai hại do sự nắm bắt chân lý gây ra. Nhưng kinh cũng đưa ta đi xa hơn.

Người xuất sĩ phải quyết tâm diệt trừ ái dục, đừng để vướng vào nhận thức lưỡng nguyên và tranh chấp lưỡng nguyên. Đừng để thì giờ đi tìm và gặt hái tiếng khen ngợi của thế gian. Đó là tinh yếu của các bài thi kệ thứ tư và thứ năm của kinh. Muốn vượt thoát cái thấy nhị nguyên, phải quán chiếu về tính bình đẳng của vạn pháp để thấy được ta trong người, người trong ta, cái này trong cái kia, cái kia trong cái này. Chứng nghiệm được thể tính bình đẳng của vạn pháp sẽ không còn nhu yếu tự hào và tranh cãi. Đừng vướng vào bất cứ một chủ thuyết nào, một tư kiến nào, vì tất cả đều là lý thuyết suông, không phải là pháp môn thực tập. Không có công năng giúp ta chuyển hóa và trị liệu. Đó là thông điệp của bài thi kệ thứ mười hai.

Vị mâu ni là người buông bỏ được mọi nắm bắt bởi vì vị ấy thấy được chân lý không phải là một đối tượng có thể nắm bắt. Vị mâu ni cũng không mong cầu trở thành, bởi vì thấy được rằng không có đối tượng trở thành. Cũng như sóng đã là nước, sóng không cần đi tìm để nắm bắt nước, để trở thành nước. Vị mâu ni buông bỏ mọi trông cầu, dù là trông cầu vượt thoát sinh tử. Bởi vì vị ấy đã thoát ra khỏi mọi tín ngưỡng sai lạc, trong đó có ý niệm kiếp này và kiếp sau. Bởi vì vị ấy đã thoát ra được ý niệm thời gian, đi vào kiếp ngoại. Đây là chất liệu của giáo lý buông bỏ bốn ý niệm ngã, nhân, chúng sinh và thọ giả của kinh Kim Cương và giáo lý thọ mạng vô lượng của kinh Pháp Hoa  sau này.

Vị mâu ni là người đã buông bỏ được mọi gánh nặng, nhất là gánh nặng trông cầu.

 

Bài kệ 1
Như nhân duyên kiến hữu ngôn    如  因  緣  見  有  言
Như dĩ thủ tất thuyết thiện    如  已  取  悉  說  善
Nhất thiết bỉ ngã diệc khinh    一 切 彼 我 亦 輕
Diệc hoặc trí tại thiện duyên    亦 或 致 在 善 緣

Bài kệ 2
Thiểu tự tri hữu tàm tu   少  自  知  有  慚  羞
Tranh biến bổn thuyết lưỡng quả   諍  變  本  說  兩  果
Kiến như thị xả  biến bổn   見 如 是 捨 變 本
Nguyện  quán an  vô biến    xứ 願 觀 安 無 變 處

Bài kệ 3
Nhất thiết bình diệc như địa    一 切 平 亦 如 地
Thị vị thường đương kiến đẳng    是 未 嘗 當 見 等
Bổn bất đẳng tùng hà đồng    本  不  等  從  何  同
Kiến văn thuyết mạc tác biến    見  聞  說  莫  作  變

Bài kệ 4
Ỷ trước thị chúng khả ác    猗 著 是 眾 可 惡
Khả kiến văn diệc sở niệm    可 見 聞 亦 所 念
Vũ xuất tịnh thùy vi minh    雨 出 淨 誰 為 明
Ái vị trừ thân phục thân    愛 未 除 身 復 身

Bài kệ 5
Dĩ giới nhiếp sở phạm tịnh    以 戒 攝 所 犯 淨
Hành đế tường dĩ cụ trú    行  諦  祥  已  具  住
Ư thị ninh kinh chí tịnh    於  是  寧  經  至  淨
Khả khủng thế tại thiện thuyết    可 恐 世 在 善 說

Bài kệ 6
Dĩ ly đế cánh cầu hành    已  離  諦  更  求  行
Tất tùng tội nhân duyên thọ    悉  從  罪  因  緣  受
Diệc như thuyết lực cầu tịnh    亦 如 說 力 求 淨
Tự nghĩa  thất sanh tử khổ    自 義 失 生 死 苦

Bài kệ 7
Hành lực cầu diệc bất thuyết    行 力 求 亦 不 說
Nhãn như hành diệc tư duy    眼 如 行 亦 思 惟
Tử sanh vô tận tùng thị    死 生 無 盡 從 是
Như thị tuệ  diệc như thuyết    如 是 慧 亦 如 說

Bài kệ 8
Giới bỉ hành nhất thiết xả    戒  彼  行  一  切  捨
Tội diệc phước xả viễn khứ    罪 亦 福 捨 遠 去
Tịnh diệc cấu bất niệm giác    淨  亦  垢  不  念  覺
Vô triêm ô tịnh ai  thọ    無 沾 污 淨 哀 受

Bài kệ 9
Tu thị pháp độ bỉ nhất    修  是  法  度  彼  一
Thuyết vô hành vi viễn khi    說  無  行  為  遠  欺
Thọ như thị tiện tăng biến    受  如  是  便  增  變
Các nhân đế thế tà lợi    各 因 諦 世 邪 利

Bài kệ 10
Tự sở Pháp tiện xưng cụ   自  所  法  便  稱  具
Kiến bỉ Pháp cật vi lậu    見  彼  法  詰  為  漏
Vô đẳng hành chuyển tướng oán    無  等 行  轉  相   怨
Tự kiến  hành bất tùy ô    自  見  行  不  隨  污

Bài kệ 11
Phàm sở thuyết hiệt đại khủng    凡 所 說 黠 代 恐
Vô ư pháp hữu sở ích    無 於 法 有 所 益
Vô tuệ chúng  dị thuyết  tịnh    無 慧 眾 異 說 淨
Sở  hệ  trước trú các kiên    所 繫 著 住 各 堅

Bài kệ 12
Các tôn Pháp như văn chỉ    各  尊  法  如  聞  止
Diễn như giải tự sư thuyết    演  如  解  自  師  說
Vô Pháp hành đãn hữu ngôn    無  法  行  但  有  言
Bỉ sở tịnh nhân nhất tâm    彼  所  淨  因  一  心

Bài kệ 13
Ngôn như thị bỉ diệc thuyết    言  如  是  彼  亦  說
Nhất sở kiến tùng tịnh đọa    一  所  見  從  淨  墮
Tiện tự kiến oán sở tác    便 自 見 怨 所 作
Tọa  thắng  tuệ  tự đại thuyết   坐 勝 慧 自 大 說

Bài kệ 14
Sở nhiếp trước cầu tiện thoát     所 攝 著 求 便 脫
Niệm sở tín vô sở trú    念 所 信 無 所 住
Bổn sở nhân  tại  hảo  thuyết    本 所 因 在 好 說
Tịnh hạnh tại  bỉ vị trừ    淨 行 在 彼 未 除

Bài kệ 15
Quán thế nhân kiến danh sắc    觀  世  人  見  名  色
Dĩ kỳ trí như thọ tri    以  其  智  如 受  知
Dục kiến đa thiểu ngã hữu    欲 見 多 少 我 有
Bất tùng thị  thiện tịnh  hữu    不 從 是 善 淨 有

Bài kệ 16
Hữu tuệ hành lụy vô hữu    有 慧 行 累 無 有
Tri diệc kiến chánh dĩ thủ    知  亦  見  正  以  取
Kiến vô quá thị pháp hành    見 無 過 是 法 行
Độ thị loạn bất cánh thọ    度 是 亂 不 更 受

Bài kệ 17
Tuệ ý đáo vô sở chí    慧 意 到 無 所 至
Bất kiến kiên thức sở giác    不 見 堅 識 所 覺
Như quan bế chế sở trước    如 關 閉 制 所 著
Đãn hành  quán vô thủ dị    但 行 觀 無 取 異

Bài kệ 18
Tôn đoạn thế sở thọ thủ    尊  斷  世  所  受  取
Thủ dữ sanh bất ưng kiên    取  與  生  不  應  堅
Tĩnh diệc loạn tại quán xả    靜 亦 亂 在 觀 捨
Tại thị ác ai phàm  nhân    在 是 惡 哀 凡 人

Bài kệ 19
Khí cố thành tân  bất tạo    棄  故  成  新  不  造
Vô sở dục  hà sở trước    無  所  欲  何  所  著
Thoát tà tín dũng mãnh độ    脫 邪 信 勇 猛 度
Tất dĩ thoát thế phi thế    悉 已 脫 世 非 世

Bài kệ 20
Nhất thiết pháp vô sở nghi    一  切  法  無  所 疑
Tất kiến văn diệc hà niệm    悉  見  聞  亦  何  念
Xả  trọng đảm tôn chánh thoát    捨 重 擔 尊 正 脫
Bất nguyện quá thường lai kiến    不 願 過 常 來 見

 

_________________________

Mục Lục

Lời tựa

Phần 1

  1. Kinh Nhiếp Phục Tham Dục (Kiệt Tham Vương Kinh)
  2. Kinh Hang Động Ái Dục (Ưu Điền Vương Kinh)
  3. Kinh Buông Bỏ Sở Tri Và Ngôn Từ (Tu Đà Lợi Kinh)
  4. Kinh Buông Bỏ Khổ Lạc Và Nhiễm Tịnh (Ma Kiệt Phạm Chí Kinh)
  5. Kinh Sự Thật Đích Thực (Kính Diện Vương Kinh)
  6. Kinh Buông Bỏ Ân Ái (Lão Thiểu Câu Tử Kinh)
  7. Kinh Xa Lìa Ái Dục (Di Lặc Nạn Kinh)
  8. Kinh Buông Bỏ Ý Muốn Hơn Thua (Dũng Từ Phạm Chí Kinh)
  9. Kinh Nhân Cách Của Một Vị Mâu Ni (Ma Nhân Đề Nữ Kinh)
  10. Kinh Đạo Lý Duyên Khởi (Dị Học Giác Phi Kinh)
  11. Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi (Mãnh Quán Phạm Chí Kinh)
  12. Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt (Pháp Quán Phạm Chí Kinh)
  13. Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản (Đâu Lặc Phạm Chí Kinh)
  14. Kinh Phòng Hộ (Liên Hoa Sắc Tỳ Khưu Ni Kinh)
  15. Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt (Phụ Tử Cọng Hội Kinh)
  16. Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi (Duy Lâu Lặc Vương Kinh)
Phần 2 (Giảng giải kinh)

Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt
Kinh Xa Lìa Ái Dục
Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi

 

Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi

Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi
(Mãnh Quán Phạm Chí Kinh)
Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ 11, Đại Tạng Tân Tu 198
tương đương với Cùlaviyùha Sutta, Sutta-Nipàta 878-894

 

Bối Cảnh

Đây là kinh Mãnh Quán Phạm Chí. Trong một pháp hội có tới năm trăm vị la hán và rất nhiều nhân vật quan trọng, trong đó có bốn vị thiên vương từ bốn phương về nghe pháp. Vị Phạm Chí tên là Mãnh Quán vẫn nghi ngờ rằng không chắc vị đạo sư này (Bụt) là người đã nắm được chân lý tuyệt đối. Do đó Bụt nói kinh này. Khung cảnh dựng lên từ kinh Tạp A Hàm số 11 92 và kinh Trường A Hàm thứ 19.

 

1. Ai cũng có quan điểm của mình về chân lý, và đối phương cũng thế. Ai cũng nghĩ là mình có cái thấy cao nhất và muốn diễn bày cái thấy ấy ra. Ai có được cái thấy ấy thì người ấy mới thấy được Pháp. Còn những kẻ khác (vì chưa thấy được sự thật này thì) dù đi khắp nơi cũng không thấy được một góc nhỏ nào của sự thật.

2. Vì thiên hạ chấp thủ như vậy nên mới sinh ra tranh cãi loạn xị. Ai cũng nói rằng kẻ kia si mê; ta mới thật sự là người có trí tuệ. Vậy thì trong tất cả các sự thật ấy, cái nào mới thực sự là sự thật? Bởi vì ai cũng nói chỉ có mình là đang nắm được chân lý?

3. Kẻ nào không biết rằng người khác cũng có quan điểm của họ về sự thật thì kẻ ấy vẫn còn mờ ám, vẫn còn thiếu trí tuệ và vẫn còn kẹt vào trong quan điểm của chính mình.

4. Có cái quan điểm rồi thì mới có cái nói và cái làm. Người ta nghĩ rằng nhờ cái thấy đó của họ mà thân họ đã được tịnh hóa và tâm họ được thánh hóa. Nếu ai cũng đúng thì còn có ai sai lầm nữa? Bởi vì ai cũng đang có và cũng đang kẹt vào cái ý của họ?

5. “Đây là sự thật cao nhất, là đỉnh cao trí tuệ.” Người ngu si có thể suy nghĩ và hành xử như thế, và tìm cách dìm kẻ khác xuống. Mình tự cho mình là người duy nhất đã thấy được sự thật. Tự mình còn là kẻ ngu si mà mình cứ nói là người ta ngu si.

6. Hỏi: Ai cũng nói pháp của họ là không ai bằng, rằng kẻ khác vốn chẳng có tuệ giác gì, chỉ biết vay mượn cái thấy của người khác rồi đi vào tranh chấp với người khác. Tại sao bậc đạo sư lại không đưa ra một chân lý duy nhất để tất cả mọi người có thể đi theo?

7. Trả lời: Chân lý chỉ là một, chứ không thể là hai. Nhưng chân lý chỉ có thể tự mình thực chứng. Một khi chứng thực được chân lý ấy rồi thì ta sẽ không còn bị một ai lung lạc được nữa. Nhưng vì đã có bao nhiêu ý tưởng cho nên đã có bấy nhiêu chân lý. Vì vậy bậc sa môn không cần phải nêu ra thêm một học thuyết về chân lý của riêng mình.

8. Có chân lý nào mà người khác chưa nói lên? Nên tin vào ai và vào chủ thuyết nào mà thiên hạ đang rao giảng? Những chủ thuyết được đưa ra là do đâu, hay cũng là chỉ do sự suy nghĩ riêng của từng người mà có?

9. Sự thực là một, nhưng cách diễn bày của tâm ý thì nhiều. Từ những góc độ tri giác khác nhau cho nên có những sự phân biệt lựa chọn khác nhau. Những gì mà con mắt nhận biết, nếu ta bị vướng mắc vào, sẽ làm nẩy sinh ra ý tưởng: cái này đúng và cái này sai.

10. Những gì ta nghe, ta thấy, và cả những giới điều cấm kỵ mà ta đang hành trì cũng đều bắt nguồn từ tâm ý ta. Nếu bị kẹt vào chúng thì ta sẽ dấn thân đi vào vòng tranh luận về những cái thấy khác nhau. Phải chấm dứt lại sự đối chiếu, so sánh, và quán sát xem có chỗ nào sai lầm (nơi tri giác ta) không, nếu không thì sự thực là chính mình sai lầm mà mình lại nói người khác sai lầm.

11. Mình sai lầm mà mình lại nói người khác sai lầm, kẻ kia cũng tự cho họ là đẹp là lành và muốn mình đi theo họ. Ai cũng tự khen mình là hay là giỏi, vì vậy cho nên mới sinh ra tranh cãi và oán thù.

12. Giữ chặt tà kiến, chỉ muốn làm thầy thiên hạ, người ta mãn ý tự cho là cái thấy của người ta là chí thiện, tin rằng cái thấy và cái hành của mình là ở ngôi cao nhất, tôi e rằng một người ba hoa như thế tự mình chưa đạt tới đâu cả.

13. Nếu mình cho cái hiểu biết của kẻ kia là sai lạc, là đáng hổ thẹn, thì kẻ kia cũng sẽ cho cái hiểu biết của mình là sai lạc, là đáng hổ thẹn. Nếu tất cả mọi người đều phân biệt và kỳ thị như thế thì trong đời còn ai không phải là kẻ si mê?

14. “Chỉ khi nào bạn chứng nghiệm được chân lý này thì bạn mới có thể nói rằng bạn được tịnh hóa.” Nói như thế thì dễ gây ra biến loạn; đó là nguyên nhân làm phát sinh ra độc đoán, cố chấp và oán hận.

15. Đi theo hành trì một cách khác người, có những kiến giải và những phương pháp thanh lọc khác người, đó không có nghĩa là mình đã đạt tới chân lý tối hậu. Đó là thái độ dẫm chân tại chỗ, làm cho người ta càng ngày càng bị kẹt cứng vào tư kiến của mình.

16. Nếu ai cũng khư khư nắm chặt tư kiến, cho mình là minh triết, thì còn có ai là si mê nữa? Còn có ai để mình chê trách nữa? Nói rằng pháp của kẻ kia không có khả năng tịnh hóa, mình đang sử dụng cái kế đạt của mình để tự cho mình là cao diệu bậc nhất.

17. Kẹt vào cái thấy của mình, tự cho mình là tự tại, kẻ kia dấn thân vào các cuộc tranh chấp loạn xị trong đời. Buông bỏ mọi ý niệm về sở tác, bậc hiền giả đạt tới sự mầu nhiệm của cái vô tác và cái vô sở tác.

Đại Ý

Kinh này nói về thái độ độc quyền về chân lý và những tai hại do thái độ ấy gây ra. Khi ta tin rằng cái thấy của ta là chân lý thì ta cũng tin rằng con đường ta đi là con đường duy nhất đưa tới chân lý. Đây là gốc rễ của độc tài, của bạo động.

Có người đi tìm chân lý bằng cách học hỏi, suy tư, hay đi vay mượn cái thấy của người khác. Cái chân lý ấy không phải là chân lý vì đó chỉ là sản phẩm của trí năng mà không phải là một kinh nghiệm tâm linh  mình đã trực tiếp thân chứng. Có bao nhiêu ý tưởng về chân lý là có bấy nhiêu chân lý. Thực ra chân lý chỉ có thể là một, và không thể có hai chân lý chống đối nhau. Kẹt vào cái thấy của mình, điều đó chứng tỏ mình chưa thực chứng được chân lý. Những chủ thuyết được đưa ra là do sự suy nghĩ riêng của từng người. Bài thi kệ thứ chín nói rõ: sự thật là một, những cái thấy về sự thật thì nhiều. Cái thấy là kiến, là tư kiến của từng người. Còn tư kiến là còn tà kiến. Chân lý vượt thoát mọi kiến, mọi tư kiến, mọi tà kiến. Chân lý vượt thoát mọi ý niệm. Ngôn ngữ và ý niệm không có khả năng chuyên chở chân lý. Cho nên người đạt đạo không đưa ra một chủ thuyết về chân lý. Cái quan trọng nhất không phải là một chủ trương về chân lý. Cho nên kẻ thành đạo không có nhu yếu thuyết giảng về chân lý, mà chỉ muốn cung cấp những phương pháp giúp người ta đi tới trên con đường chuyển hóa và tịnh hóa. Nghĩa là diệt trừ vô minh và phiền não. Chân lý không phải là một đối tượng có thể nắm bắt, cho nên người đạt đạo buông bỏ mọi sự nắm bắt và có tự do lớn. Không nắm bắt, bởi vì làm gì có đối tượng nắm bắt, đây là sự hình thành giáo lý vô nguyện, vô đắc, vô sở đắc sau này. Ta có thể thấy được sự khai thị này ở bài thi kệ thứ mười bảy.

 

Bài kệ 1
Nhân các niệm bỉ diệc tri      人  各  念  彼  亦  知    
Các dục thắng tuệ khả thuyết     各  欲  勝  慧  可  說
Hữu năng tri tận thị pháp     有  能  知  盡  是  法
Biến hành cầu mạc ngung giải      遍  行  求  莫  隅  解

Bài kệ 2
Thủ như thị tiện sanh biến   取  如  是  便  生  變
Si kế bỉ ngã thiện tuệ   癡  計  彼  我  善  慧
Chí thành ngôn vân vi đẳng    至  誠  言  云  為  等
Nhất thiết thị  thiện ngôn thuyết     一  切  是  善  言  說

Bài kệ 3
Bất tri bỉ hữu pháp vô   不  知  彼  有  法  無
Minh vô tuệ tùy bỉ hiệt     冥  無  慧  隨  彼  黠
Minh nhất thiết thống viễn hiệt       冥  一  切  痛  遠  黠
Sở niệm hành tất bỉ hữu       所  念  行  悉  彼  有

Bài kệ 4
Tiên kế niệm khước hành thuyết   先  計  念  却  行  說
Tuệ dĩ tịnh ý thiện niệm     慧  已  淨  意  善  念
Thị tất bất vọng hiệt giảm    是  悉  不  望  黠  減
Tất sở niệm trước ý chỉ        悉  所  念  著  意  止

Bài kệ 5
Ngã  bất cư thị tất thượng    我  不  据  是  悉  上
Ngu  khả hành chuyển tướng khiên   愚  可  行  轉  相  牽
Tự kiến cẩn vị khả đế   自  見  謹  謂  可  諦
Tự kỷ si phục thọ bỉ     自  己  癡  復  受  彼

Bài kệ 6
Tự thuyết pháp độ vô cập    自  說  法  度  無  及
Dĩ  tự không tham lai đạo      以  自  空  貪  來  盜
Dĩ bát minh chuyển tướng minh     已  八  冥  轉  相  冥
Học hà cố nhất bất đạo     學  何  故  一 不  道

Bài kệ 7
Nhất đế tận nhị hữu vô       一  諦  盡  二  有  無
Tri thị đế bất điên đảo     知  是  諦  不  顛  倒
Vị  bất tận đế tùy ý     謂  不  盡  諦  隨  意
Dĩ cố học nhất bất thuyết      以  故  學  一  不  說

Bài kệ 8
Hà đế thị dư bất thuyết     何  諦  是  餘  不  說
Đương tín thùy tận dư thuyết    當  信  誰  盡  餘  說
Nhiêu dư đế đương hà tùng       饒  餘  諦  當  何  從
Tùng hà hữu sanh ý thức        從  何  有  生  意  識

Bài kệ 9
Thức vô dư hà thuyết dư    識  無  餘  何  說  餘
Tùng dị tưởng phân biệt trạch      從  異  想  分  別  擇
Nhãn sở kiến vi trước  khả    眼  所  見  為  著  可
Thức nhược khi tận nhị Pháp     識  若  欺  盡  二  法

Bài kệ 10
Văn kiến giới tại ý hành     聞  見  戒  在  意  行
Trước dục hiệt biến tụng kiến     著  欲 黠  變  訟  見
Chỉ giáo kế quán hà tu     止  校 計  觀  何  羞
Thị dĩ si phục thọ bỉ      是  以  癡  復  授  彼

Bài kệ 11
Si hà tùng thụ dữ bỉ      癡  何  從  授  與  彼
Bỉ ỷ khả thiện hiệt ngã      彼  綺  可  善  黠  我
Tiện tự thự thiện thuyết dĩ       便  自  署  善  說  已
Hữu tụng bỉ tiện sanh oán   有  訟  彼  便  生  怨

Bài kệ 12
Kiên tà kiến vọng sư sự    堅  邪 見  望  師  事
Tà hiệt khốc mãn ỷ cụ      邪  黠  酷  滿  綺 具
Thường tự khủng ngữ bất đáo    常  自  恐  語  不  到
Ngã thường giới kiến thị tịch      我  常  戒  見  是  辟

Bài kệ 13
Kiến bỉ đế tà tàm tạng   見  彼  諦  邪  慚  藏
Bổn tự hữu tàm tạng hiệt       本  自  有  慚  藏  黠
Dĩ tất tri hiệt phân biệt      以  悉  知  黠  分  別
Si tất vô hợp hiệt hành       癡  悉  無  合  黠  行

Bài kệ 14
Thị vi đế trụ nãi thuyết    是  為  諦  住  乃  說
Tất khả  tịnh tự sở Pháp     悉  可  淨  自  所  法
Như thị thủ  tiện loạn biến      如  是  取  便  亂  變
Tự  nhân duyên thống trước ô     自  因  緣  痛  著  污

Bài kệ 15
Tùng dị hành đắc giải tịnh      從  異  行  得  解  淨
Bỉ tuy tịnh bất chí tận    彼  雖  淨  不  至  盡
Thị dị học văn tọa an        是  異  學  聞  坐  安
Tự tham câu ngã kiên thịnh     自  貪  俱  我  堅  盛

Bài kệ 16
Tự kỷ thịnh kiên phòng tham      自  己  盛  堅  防  貪
Hữu hà si vi bỉ thuyết      有  何  癡  為  彼  說
Tuy giáo bỉ Pháp vị tịnh      雖  教  彼  法  未  淨
Sanh kế độ tự cao diệu         生  計  度  自  高  妙

Bài kệ 17
Đế trú thích tự tại tác     諦  住  釋  自  在  作
Tuy thượng thế diệc hữu loạn      雖  上  世  亦  有  亂
Khí nhất thiết sở tác niệm       棄  一  切  所  作  念
Diệu bất tác hữu sở tác          妙  不  作  有  所  作

_________________________

Mục Lục

Lời tựa

Phần 1

  1. Kinh Nhiếp Phục Tham Dục (Kiệt Tham Vương Kinh)
  2. Kinh Hang Động Ái Dục (Ưu Điền Vương Kinh)
  3. Kinh Buông Bỏ Sở Tri Và Ngôn Từ (Tu Đà Lợi Kinh)
  4. Kinh Buông Bỏ Khổ Lạc Và Nhiễm Tịnh (Ma Kiệt Phạm Chí Kinh)
  5. Kinh Sự Thật Đích Thực (Kính Diện Vương Kinh)
  6. Kinh Buông Bỏ Ân Ái (Lão Thiểu Câu Tử Kinh)
  7. Kinh Xa Lìa Ái Dục (Di Lặc Nạn Kinh)
  8. Kinh Buông Bỏ Ý Muốn Hơn Thua (Dũng Từ Phạm Chí Kinh)
  9. Kinh Nhân Cách Của Một Vị Mâu Ni (Ma Nhân Đề Nữ Kinh)
  10. Kinh Đạo Lý Duyên Khởi (Dị Học Giác Phi Kinh)
  11. Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi (Mãnh Quán Phạm Chí Kinh)
  12. Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt (Pháp Quán Phạm Chí Kinh)
  13. Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản (Đâu Lặc Phạm Chí Kinh)
  14. Kinh Phòng Hộ (Liên Hoa Sắc Tỳ Khưu Ni Kinh)
  15. Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt (Phụ Tử Cọng Hội Kinh)
  16. Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi (Duy Lâu Lặc Vương Kinh)
Phần 2 (Giảng giải kinh)

Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt
Kinh Xa Lìa Ái Dục
Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi

 

Kinh Đạo Lý Duyên Khởi

Kinh Đạo Lý Duyên Khởi
(Dị Học Giác Phi Kinh)
Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ mười, Đại Tạng Tân Tu 198
tương đương với Kalahavivàda Sutta,

Sutta-Nipàta 862-877

 

Bối Cảnh

Đây là kinh Dị Học Giác Phi. Dị Học Giác Phi là các giáo phái ngoại đạo muốn thi đua về pháp thuật với Bụt. Khung cảnh dựng lên: Bụt còn trẻ mà được vua Tần Bà Xa La mến mộ, trong khi ấy các vị lãnh đạo trưởng thượng của sáu giáo phái nổi tiếng kia thì bị thất sủng. Họ đề nghị với Vua Tần Bà Xa La tổ chức thi đua pháp thuật xem bên nào đạo lực cao cường hơn. Vua không chấp nhận. Họ sang nước Xá Vệ đề nghị với vua Ba Tư Nặc. Vua Ba Tư Nặc tuy cũng rất sùng mến Bụt, nhưng chấp nhận cho tổ chức cuộc thi tài này. Cuối cùng pháp thuật của Bụt cao cường hơn. Và trong khung cảnh ấy Bụt nói kinh này. Khung cảnh này thật sự không ăn khớp gì nhiều với nội dung.

 

1. Vì đâu mà có tranh cãi đấu tụng? Vì đâu mà người ta làm khổ nhau, gây sầu thương cho nhau và ganh ghét nhau? Vì lý do gì mà người đời thường sử dụng ác ngữ để hủy báng nhau? Xin Bụt giảng cho chúng con về gốc rễ của vấn đề này.

2. Cái khả ái là nguồn gốc của mọi tranh tụng. Nó gây ra ganh tỵ, tật đố, ưu sầu, khổ não. Vì muốn hủy báng nhau cho nên người ta mới sử dụng vọng ngữ. Chính nó là gốc rễ đưa tới mọi hủy báng chống đối nhau.

3. Nhưng cái khả ái ấy ở đời do đâu mà có? Từ đâu mà ái phát sinh trong cuộc đời? Bỏ cái gì đi thì ái mới không còn và lúc ấy thì con người mới không đau khổ?

4. Chính ham muốn của mình làm cho mình vướng vào cái khả ái của thế gian. Và khi cái ham muốn lớn mạnh sẽ tạo ra nhiều khổ đau. Không buông bỏ được cái hữu cũng là do nó. Và vì có cái hữu này cho nên mới có những cái hữu tới sau.

5. Cái gì làm phát sinh ra cái ham muốn bắt ta chạy theo dục lạc trong cuộc đời? Do đâu mà phân biệt được cái lành, dữ, xấu, tốt? Do đâu mà có cái bắt đầu và cái chung cuộc? Xin bậc đại sa môn chỉ dạy: chúng con phải tuân thủ theo các pháp môn hành trì nào?

6. Cái ham muốn ấy phát sinh từ chuyện mình thích ý hay không thích ý. Dục cũng từ nhân duyên mà sinh khởi. Chỉ khi nào thấy được lý do sắc thân vì sao từ hưng thịnh lại đi đến tàn hoại thì người đời mới bắt đầu biết phân biệt quán chiếu.

7. Khi biết rằng mình đang bị dối gạt (bởi cái vỏ bên ngoài của các pháp) thì con người mới biết hoài nghi. Lúc bấy giờ ta mới nhận diện được hai mặt đối nghịch của các pháp. Thực tập quán niệm như thế nào để khám phá ra được con đường dẫn về tuệ giác. Phải có tâm mong cầu hiểu được giáo pháp ta mới thấy rõ được phép hành trì.

8. Cái có và cái không từ đâu tới? Tại sao người thân và người không thân một ngày kia cũng đều phải chết? Còn vấn đề cái thêm và cái bớt nữa. Xin đức Thế Tôn thuyết giảng cho chúng con về gốc rễ của hiện pháp?

9. Cái ái và cái không ái là do sự xúc chạm mà sinh khởi. Chúng tới rồi chúng đi, chúng sinh rồi chúng diệt, chúng không thể có mặt (nếu không có xúc chạm). Cái có và cái không, cái thịnh và cái suy cũng cùng trong một ý nghĩa đó. Bậc hiền giả giải thích về gốc rễ của hiện pháp một cách tường tận như thế.

10. Nhưng sự xúc chạm kia từ đâu mà đến? Vì nguyên do nào mà người ta lại bị vướng vào sắc dục của thế gian? Phải thực tập quán niệm như thế nào để không còn phân biệt chấp trước? Tại sao lại có sự vướng mắc vào sắc dục?

11. Do có tâm và vật (danh sắc) mà có xúc chạm. Vì có cái có nên danh và sắc mới khởi dậy. Phải vượt qua vô minh mới đạt được giải thoát. Phải thấy được rằng danh và sắc là nền tảng của xúc chạm.

12. Làm thế nào để buông bỏ được sự ham muốn về danh và sắc? Vì lý do gì mà phát sinh các loại tham ái? Làm sao cho tâm đắm trước tham ái được tiêu diệt tận cùng? Phải biết và hành trì theo giáo lý (bốn) sự thật như thế nào mới có thể đạt tới giải thoát?

13. Phải lìa bỏ ý niệm về tưởng, về sắc, về cái vô tưởng và về cái bất hành tưởng. Phải đoạn trừ tất cả và không vướng mắc vào ý niệm nào. Bởi tưởng là gốc rễ của mọi hý luận đem tới nhiều đau khổ.

14. Những điều con thưa hỏi đều đã được giải đáp. Nay xin đức Thế Tôn thuyết giải thêm cho chúng con: hành trì như thế nào để có thể trở nên một bậc toàn thiện? Còn có con đường nào khác hơn con đường mà bậc tôn đức đã chỉ bày hay không?

15. Đã biết là mình đang đi trên con đường (bát) chánh thì còn sợ gì bị sai lạc? Đó là con đường dẫn tới quả vị tuệ giác. Vị mâu ni thiền định dưới một gốc cây trong rừng. Không có con đường nào đẹp hơn thế.

16. Hiểu như thế rồi thì các vị phải một lòng hướng về (sự thực tập). Một bậc tôn đức được giải thoát thì không còn bị ràng buộc vào nghi lễ và giới cấm nữa. Một người như thế có thể vượt qua mọi phiền não một cách mau chóng trong cuộc đời. Vị ấy vượt thoát được thời gian và không còn trở về luân hồi nữa.

Đại Ý

Kinh này là dấu hiệu của sự bắt đầu hình thành giáo lý mười hai nhân duyên. Kinh nói tới tám nhân duyên: thức, danh sắc, xúc, thọ, dục, ái, thủ, hữu. Lúc này dục và ái còn là hai cái khác nhau. Chưa nói tới vô minh, thì đã bắt đầu đề cập tới hành. Khi nói về thức, chưa có sinh và lão tử, nhưng sinh và lão tử đã nằm sẵn trong hữu. “Vì có cái hữu này nên có những cái hữu tới sau.” Câu này nằm trong bài thi kệ thứ tư.

Trong bài thi kệ thứ nhất, thủ là nắm chặt ý kiến của mình. Trong bài kệ thứ ba, sở dĩ mình nắm chặt nó, tại vì nó là đối tượng của sự yêu thích của mình. Nó là cái khả ái. Trong bài thứ tư, dục (ham muốn) là nguyên do của ái, và ái cũng là nguồn gốc của cái hữu bây giờ và những cái hữu tới sau.

Bài thứ sáu đề cập tới thọ, cảm thọ dễ chịu (thích ý) hay khó chịu (không thích ý). Chưa nói đến xả thọ. Cái thích ý làm phát sinh cái dục. Bài thứ chín nói về xúc. Bài thứ mười một nói về danh sắc. Và bài thứ mười ba nói tới tưởng. Tưởng là tri giác, là thức, là chủ thể và đối tượng nhận thức. Vọng tưởng là tri giác sai lầm của thức. Vọng tưởng là vô minh, vọng tưởng làm cho thức là thức, nếu không thì nó đã là trí. Vọng tưởng là gốc rễ của mọi suy tư và ngôn ngữ có công năng đem tới khổ đau. Đây chính là bản chất của hành.

Kinh này không những trình bày được sự liên hệ giữa tâm vật và nguyên do của luân hồi sinh tử mà còn cung cấp được những chỉ dẫn thực tập.

Bài thi kệ thứ bảy và thứ tám đề nghị quán chiếu về hai mặt đối nghịch của các hiện tượng: có và không, tới và đi, thêm và bớt. Tư tưởng này đi tiên phong cho tư tưởng Trung Đạo và Bát Nhã Ba La Mật. Bài thứ 13 cho biết rằng nếu tinh cần quán chiếu về đối tượng tâm ý để đừng bị vướng mắc vào bất cứ ý niệm nào, dù là ý niệm vô tưởng và bất hành tưởng, thì ta có thể đạt tới giải thoát thật sự, chấm dứt mọi vọng tưởng. Bài thứ 15 khuyến khích ta nắm cho được con đường Bát Chánh Đạo mà đi.

Hình ảnh một người ngồi thiền định dưới một gốc cây trong rừng là hình ảnh đẹp nhất. Đó là hình ảnh của một vị mâu ni.

Kinh này là kinh thứ mười trong Nghĩa Túc Kinh, nhưng lại là kinh thứ mười một trong Atthaka Vagga, kinh tương đương trong tạng Pali.

 

Bài kệ 1
Đấu tụng biến hà tùng khởi                          鬪  訟  變  何  從  起
Trí ưu  thống chuyển tướng tật                    致  憂  痛  轉  相  疾
Khởi vọng ngữ chuyển tướng hủy               起  妄  語  轉  相  毀
Bổn tùng khởi nguyện thuyết Phật              本  從  起  願  說  佛


Bài kệ 2
Tọa ưu khả khởi biến tụng                           坐  憂  可  起  變  訟
Chuyển tướng tật trí ưu thống                     轉  相  嫉  致  憂  痛
Dục tướng hủy khởi vọng ngữ                     欲  相  毀  起  妄  語
Dĩ tướng hủy đấu tụng bổn                          以  相  毀  鬪  訟  本

Bài kệ 3
Thế khả ái hà tùng khởi                                 世  可  愛  何 從 起
Chuyển thế gian hà sở tham                         轉  世  間  何  所 貪
Tùng trí hữu bất phục dục                             從  置  有  不  復 欲
Tùng bất phục chuyển hành thọ                      從 不 復  轉 行 受

Bài kệ 4
Bổn sở dục trước thế ái                               本  所  欲  著  世  愛
Dĩ lợi thị chuyển hành khổ                            以  利  是  轉  行  苦
Bất xả hữu tùng thị khởi                               不  捨  有  從  是  起
Dĩ cố chuyển hậu phục hữu                          以  故  轉  後  復  有

Bài kệ 5
Tùy thế dục bổn hà khởi                                隨  世  欲  本  何  起
Tùng hà đắc biệt thiện ác                               從  何  得  別  善  惡
Tùng hà hữu khởi bản mạt                            從  何  有  起  本  末
Sở chế Pháp Sa Môn thuyết                         所  制  法  沙  門  說

Bài kệ 6
Diệc thị thế sở hữu vô                                    亦  是  世  所  有  無
Thị nhân duyên tiện dục sanh                          是  因  緣  便  欲  生
Kiến thịnh sắc tùng hà tận                              見  盛  色  從  何  盡
Thế nhân tất phân biệt tác                              世  人  悉  分  別  作

Bài kệ 7
Sở tùng khi hữu nghi ý                                  所  從  欺  有  疑  意
Diệc thị pháp vũ diện thọ                               亦  是  法  雨  面  受
Niệm tùng hà học tuệ tích                             念  從  何  學  慧  跡
Nguyện giải pháp minh học thuyết                  願  解  法  明  學  說


Bài kệ 8
Sở hữu vô bổn tùng hà                                   所  有  無  本  從  何
Vô sở thân tùng hà diệt                                  無  所  親  從  何  滅
Thịnh diệc giảm tất nhất nghĩa                         盛  亦  減  悉  一  義
Nguyện thuyết thị giải hiện bổn                       願  說  是  解  現  本

Bài kệ 9
Hữu diệc vô trước tế nhu                               有  亦  無  著  細  濡
Khứ lai diệt vô sở hữu                                   去  來  滅  無  所  有
Thịnh diệc diệt nghĩa tùng thị                          盛  亦  滅  義  從  是
Giải hiện hiền bổn tận thị                               解  現  賢  本  盡  是

Bài kệ 10
Thế tế nhu bổn tùng hà                                  世  細  濡  本  從 何
Trước thế sắc tùng hà  khởi                           著  世  色  從  何  起
Tùng hà niệm bất kế trước                            從  何  念  不  計  著
Hà nhân duyên trước khả sắc                        何  因  緣  著  可  色


Bài kệ 11
Danh sắc thọ trước tế nhu                            名  色  授  著  細  濡
Bản hữu hữu sắc tiện khởi                            本  有  有  色  便  起
Ninh độ si đắc giải thoát                                寧  度  癡  得  解  脫
Nhân duyên sắc trước tế nhu                        因  緣  色  著  細  濡

Bài kệ 12
Tùng hà đắc xả hảo sắc                                  從  何  得  捨  好  色
Tùng chúng ái tùng hà khởi                             從  眾  愛  從  何  起
Sở  trước tâm ninh tất tận                              所  著  心  寧  悉  盡
Đế hành tri như giải thoát                                諦  行  知  如  解  脫

Bài kệ 13
Bất tưởng tưởng bất sắc tưởng                     不  想  想  不  色  想
Phi vô tưởng bất hành tưởng                        非  無  想  不  行  想
Nhất thiết đoạn bất trước giả                        一  切  斷  不  著  者
Nhân tưởng bổn hí  tùy khổ                         因 想 本 戲 隨 苦


Bài kệ 14
Ngã sở vấn tất dĩ giải                                       我 所 問 悉 已 解
Kim cánh vấn nguyện phục thuyết                    今 更 問 願 復 說
Hành địch tất thành cụ túc                               行 糴 悉 成 具 足
Thiết vô bất thắng tôn  đức                               設 無 不 勝 尊 德

Bài kệ 15
Thị cực chánh hữu hà tà                             是  極  正  有  何  邪
Hướng kính thần đắc quả tuệ                       向  徑  神  得  果  慧
Tôn  hành định thụ lâm gian                         尊  行  定  樹  林  間
Vô hữu dư tối thiện thuyết                           無  有  餘  最  善  說

Bài k 16
Tri như thị nhất tâm hướng                            知  如  是  一  心  向
Tôn dĩ trước bất giới hạnh                             尊  已  著  不  戒  行
Tật hành vấn độ thế gian                               疾  行  問  度  世  間
Đoạn thế xả thị bỉ thân                                   斷  世 捨  是  彼  身

 

_________________________

Mục Lục

Lời tựa

Phần 1

  1. Kinh Nhiếp Phục Tham Dục (Kiệt Tham Vương Kinh)
  2. Kinh Hang Động Ái Dục (Ưu Điền Vương Kinh)
  3. Kinh Buông Bỏ Sở Tri Và Ngôn Từ (Tu Đà Lợi Kinh)
  4. Kinh Buông Bỏ Khổ Lạc Và Nhiễm Tịnh (Ma Kiệt Phạm Chí Kinh)
  5. Kinh Sự Thật Đích Thực (Kính Diện Vương Kinh)
  6. Kinh Buông Bỏ Ân Ái (Lão Thiểu Câu Tử Kinh)
  7. Kinh Xa Lìa Ái Dục (Di Lặc Nạn Kinh)
  8. Kinh Buông Bỏ Ý Muốn Hơn Thua (Dũng Từ Phạm Chí Kinh)
  9. Kinh Nhân Cách Của Một Vị Mâu Ni (Ma Nhân Đề Nữ Kinh)
  10. Kinh Đạo Lý Duyên Khởi (Dị Học Giác Phi Kinh)
  11. Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi (Mãnh Quán Phạm Chí Kinh)
  12. Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt (Pháp Quán Phạm Chí Kinh)
  13. Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản (Đâu Lặc Phạm Chí Kinh)
  14. Kinh Phòng Hộ (Liên Hoa Sắc Tỳ Khưu Ni Kinh)
  15. Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt (Phụ Tử Cọng Hội Kinh)
  16. Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi (Duy Lâu Lặc Vương Kinh)
Phần 2 (Giảng giải kinh)

Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt
Kinh Xa Lìa Ái Dục
Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi

 

Kinh Nhân Cách Của Một Vị Mâu Ni

 

 

Kinh Nhân Cách Của Một Vị Mâu Ni
(Ma Nhân Đề Nữ Kinh)
Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ chín, Đại Tạng Tân Tu 198
tương đương với Màgandiya Sutta, Sutta-Nipàta 835-847

Bối Cảnh

Đây là kinh Ma Nhân Đề Nữ. Ma Nhân Đề Nữ là cô con gái của một vị Phạm Chí tên là Nhân Đề (Màkandika). Khung cảnh dựng lên: Phạm Chí Ma Nhân Đề có một cô con gái đẹp tuyệt trần, nhiều vị vua chúa và hoàng tử cầu hôn mà ông bố vẫn không chịu, cho rằng chưa ai xứng đáng làm chồng của cô con gái. Câu chuyện xảy ra ở xứ Câu Lưu (Karu). Lần đầu tiên thấy Bụt, ông ta nghĩ rằng đây là người rể lý tưởng của mình, bởi vì dung quang của Bụt đẹp đẽ và uy nghi quá. Ông đem cô con gái đến gặp Bụt và đề nghị gả cô này cho Bụt. Bụt mỉm cười không nhận. Trong khi nói chuyện, hai cha con khám phá ra được nhân cách và giá trị của một bậc mâu ni, của một vị đạo sĩ tĩnh lặng.

 

1.   Ngày xưa có ba cô con gái (của Ma Vương Ba Tuần) đến cám dỗ nhưng tôi đã chẳng mảy may động lòng. Bây giờ nếu thấy được (đối tượng ái dục chỉ là) những cái túi đựng đầy máu, mỡ, phân và nước tiểu thì mình đâu còn muốn đụng tới, dù là với bàn chân của mình?

2.   Tôi đã từng nói rằng một khi đã bị vướng vào vòng ái dục thì mình không còn tâm ý để hành trì được pháp môn, và để thực tập được nội quán. Tuy có nghe và tuy có biết rằng chạy theo ái dục là chuyện không nên làm nhưng mình vẫn chưa nhàm chán được. Một khi bên trong tâm mình chưa dừng lại được thì bên ngoài mình vẫn đi tới để tiếp tục gây thêm khổ đau.

3.   Cái vẻ xinh tươi mượt mà ấy chỉ có ở ngoài da, bậc trí giả không bị nó lừa dối. Ta phải quán chiếu cả bên trong lẫn bên ngoài. Có một chút thông minh mình sẽ thấy rằng (đắm say như thế) đó là một lối hành xử u mê.

4.   Những gì mình học và mình thấy chưa hẳn đã là tuệ giác. Hành trì giới cấm và lễ nghi chưa hẳn đã làm cho mình thanh tịnh. Dù không học gì, không thấy gì, nhưng mà không khư khư giữ ý riêng của mình và không xao lãng công phu hành trì của mình, thì người ta mới có khả năng tự tịnh.

5.   Những kiến thức bây giờ đang có, nên buông bỏ đi, đừng ôm chặt lấy, mặc người ta có nói ra nói vào gì thì nói, mình cứ im lặng mà đi. Những gì mình nghe và thấy qua năm giác quan có tác dụng gây phiền não thì mình phải biết dẹp qua một bên. Tuy thực tập giới, định và tuệ nhưng đừng nghĩ lầm rằng nghi lễ và cấm giới đủ đem lại cho mình sự thanh tịnh.

6.   Những lý thuyết ngoài đời đừng tiếp thu một cách u mê. Nghi lễ và giới cấm không đem lại sự tịnh hóa như người ta tưởng. Khi còn kẹt vào sự có mặt của một cái ngã thì người ta vẫn còn bị rơi vào chỗ u tối. Những chủ thuyết mà mình được nghe đâu có khả năng làm cho mình thanh tịnh?

7.   Người ta có thể nói rằng những cái mà người ta nghe và thấy về chân lý, nếu nắm bắt được chúng bằng tâm ý thì có thể đạt Đạo. Đi qua tới được bờ chân lý bằng cách ấy, là chuyện khó tưởng tượng được. Và như thế thì làm sao mà khỏi phạm vào cái lỗi xem thường các bậc tôn đức chân chính?

8.  Bằng người, hơn người hoặc thua người, hễ còn có một trong các mặc cảm ấy thì người ta vẫn còn kẹt vào cái phân biệt (chấp ngã). Nếu vượt thoát được cả ba mặc cảm kia thì đâu còn có nhu yếu tranh luận hơn thua? Lúc ấy ta đã đoạn trừ được tất cả mọi tranh luận, thị phi và không còn bị vướng vào những lo toan vô ích.

9.   Người đã đạt được tuệ giác thì không có nhu yếu nói nhiều. Đã biết các pháp đều có bản tính không tịch, thì làm gì cần phải tranh cãi nữa? Đối với bậc ấy, hoàn toàn không còn có chuyện thị phi, tà chính. Làm sao có thể nói rằng một người như thế còn có thiếu sót sai lầm?

10. Rời bỏ cơn lũ ái dục, không còn nghĩ tới các đối tượng ham muốn, kẻ thức giả đi vững chãi và kiên trì trong cuộc đời. Ái dục không còn, tâm ý đã dừng lại, thì những gì tà độc của cuộc đời đều đã bị nhiếp phục, không bao giờ còn sinh khởi trở lại trong ta.

11. Nếu muốn xa lìa thế tục, muốn chiến thắng khổ đau thì ta phải nghe lời các bậc tôn đức, phải biết cách lánh xa đừng chung đụng (với những gì xấu ác). Như đóa sen kia trong sạch mọc lên ở dưới hồ, bùn đất và bụi bặm không làm nhiễm ô và hư hoại nó được.

12. Bậc tôn đức sống an ổn, không ham muốn gì, không còn vướng bận vào bất cứ một cái gì trong trần thế, cũng không bị lay chuyển bởi những đối tượng của ký ức và tri giác. Bậc ấy tuy đang hành động và độ đời nhưng không bị kẹt vào bất cứ một lý thuyết nào.

13. Giữ gìn ba nghiệp thanh tịnh, vị ấy bước đi không còn nhu yếu bàn luận gì về chuyện đời, kể cả chuyện quá khứ, vị lai và hiện tại, không còn bị vướng vào một tư kiến nào nữa. Đi theo tuệ giác vững chãi của mình, vị ấy đạt tới thảnh thơi, nhưng không bao giờ giải đãi. Điều phục được tâm ý, không bị vướng mắc vào các chủ thuyết, trong ba cõi, vị ấy đi từng bước thảnh thơi và không có nhu yếu nói năng gì.

 

Đại Ý

Kinh này nối tiếp kinh thứ bảy, kinh Xa Lìa Ái Dục, và đưa ta đi xa hơn. Dấu hiệu đầu tiên của một vị xuất gia chân chính là xa lìa ái dục, không bị cái vẻ xinh tươi mặn mà ở ngoài da đánh lừa, không bị cuốn theo ái dục, như thế mới có thể đi tới trên đường sự nghiệp giác ngộ. Dấu hiệu thứ hai là vị ấy không bị kẹt vào giới cấm, lễ nghi và những gì mình đã học hỏi, kể cả giáo thuyết. Những cái ấy có thể là một phần hành trì của mình nhưng chúng chưa phải là tuệ giác, là giải thoát, là sự tịnh hóa đích thực. Qua được bờ chân lý không phải bằng sự thực tập chuyển hóa mà chỉ bằng sự học hỏi lý thuyết, chuyện này không thể xảy ra. Đó là ý của bài thi kệ thứ bảy. Dấu hiệu thứ ba của một vị khất sĩ thành công là vị ấy không còn phân biệt chấp ngã, do đó không còn mặc cảm hơn người, thua người hay bằng người. Dấu hiệu thứ tư là vị ấy không có nhu yếu tranh cãi hơn thua. Dấu hiệu thứ năm là vị ấy tuy sống trong cuộc đời mà không bị những ô nhiễm của cuộc đời động tới, như hoa sen mọc dưới hồ không bị bùn lầy làm ô nhiễm và hư hoại. Hình ảnh này được trình bày trong thi kệ thứ mười một. Dấu hiệu thứ sáu là vị ấy rất thảnh thơi, không vướng bận quá khứ và tương lai ; ba nghiệp thanh tịnh, vị ấy bước đi từng bước thảnh thơi và im lặng tuyệt đối, không có nhu yếu khoe khoang và tranh cãi.

 

 

 

Bài kệ 1
Ngã bổn kiến tà tam  nữ                                我  本  見  邪  三  女
Thượng bất dục trước tà dâm                        尚  不  欲  著  邪  婬
Kim nại hà bão thỉ niệu                                 今  奈  何  抱  屎  尿
Dĩ túc xúc thượng bất khả                             以  足  觸  尚  不  可

Bài kệ 2
Ngã sở thuyết dâm bất dục                            我  所  說  婬  不  欲
Vô pháp hành bất nội quán                             無  法  行  不  內  觀
Tuy văn ác bất thọ yểm                                  雖  聞  惡  不  受  厭
Nội bất chỉ bất kế khổ                                    內  不  止  不  計  苦

Bài kệ 3
Kiến ngoại hảo cân bì khỏa                           見  外  好  筋  皮  裹
Tôn vân hà đương thọ thị                              尊  云  何  當  受  是
Nội ngoại hành giác quán thị                         內  外  行  覺  觀  是
Ư hiệt biên thuyết si hành                             於  黠  邊  說  癡  行

Bài kệ 4
Diệc kiến văn bất vi hiệt                                亦  見  聞  不  為  黠
Giới hành cụ vị vi tịnh                                   戒  行  具  未  為 淨
Bất kiến văn diệc bất si                                不  見  聞  亦  不  癡
Bất ly hành khả tự tịnh                                 不  離  行  可  自  淨

Bài kệ 5
Hữu thị tưởng khí mạc thọ                           有  是  想  棄  莫  受
Hữu mạc thuyết thủ khẩu hành                     有  莫  說  守  口  行
Bỉ ngũ não văn kiến khí                                彼  五  惱  聞  見  棄
Tuệ giới hành mạc dâm tịnh                         慧  戒  行  莫  婬  淨

Bài kệ 6
Thế sở kiến mạc hành si                              世  所  見  莫  行  癡
Vô giới hạnh bỉ tưởng hữu                           無  戒  行  彼  想  有
Khả ngã hữu đọa minh pháp                        可  我  有  墮  冥  法
Dĩ kiến khả thùy hữu tịnh                             以  見  可  誰  有  淨

Bài kệ 7
Đế kiến văn nhĩ khả vị                                   諦  見  聞  爾  可  謂
Đế ý thủ khả hướng đạo                                諦  意  取  可  向  道
Vãng đáo bỉ thiểu bất tưởng                         往  到  彼  少 不  想
Kim nại hà khẩu khi tôn                                今  奈  何  口  欺  尊

Bài kệ 8
Đẳng diệc quá diệc bất cập                           等  亦  過  亦  不  及
Dĩ trước tưởng tiện phân biệt                       已  著  想  便  分  別
Bất đẳng tam đương hà tránh                       不  等  三  當  何  諍
Tất dĩ đoạn bất không kế                               悉  已  斷  不  空  計

Bài kệ 9
Hữu đế nhân đương hà ngôn                       有  諦  人  當  何  言
Dĩ trước không thùy hữu tránh                    已  著  空  誰  有  諍
Tà  diệc chánh tất vô hữu                            邪  亦  正  悉  無  有
Tùng hà ngôn đắc kỳ đoản                          從  何  言  得  其  短

Bài kệ 10
Xả dục hải độ mạc niệm                              捨  欲  海  度 莫 念
Ư phụ huyền nhẫn hành hiệt                        於  婦 縣 忍 行  黠
Dục dĩ không chỉ niệm tưởng                       欲  已  空  止 念 想
Thế tà độc phục bất sanh                            世  邪  毒  伏 不 生

Bài kệ 11
Tất viễn thế cầu bại khổ                                 悉  遠  世  求  敗  苦
Tôn ngôn ly mạc dữ câu                                 尊  言  離  莫  與  俱
Như thủy hoa tịnh vô nê                               如  水  華  淨  無  泥
Trọng trần độ bất vi nuy                                重  塵  土  不  為  萎

Bài kệ 12
Tôn an nhĩ vô sở tham                                    尊  安  爾  無  所  貪
Ư thế tục vô sở trước                                      於  世  俗  無  所  著
Diệc bất chuyển sở niệm tưởng                    亦  不  轉  所  念  想
Hành như độ bất tùy thức                             行  如  度  不  隨  識

Bài kệ 13
Tam bất tác đọa hành khứ                             三  不  作  墮  行  去
Xả bất giáo tam thế sự                                    捨  不  教  三  世  事
Xả bất tưởng vô hữu phược                          捨  不  想  無  有  縛
Tùng hiệt giải chung bất giải                        從  黠  解  終  不  懈
Chế kiến tưởng dư bất thủ                            制  見  想  餘  不  取
Tiện yểm thanh bộ tam giới                          便  厭  聲  步  三  界

 

_________________________

Mục Lục

Lời tựa

Phần 1

  1. Kinh Nhiếp Phục Tham Dục (Kiệt Tham Vương Kinh)
  2. Kinh Hang Động Ái Dục (Ưu Điền Vương Kinh)
  3. Kinh Buông Bỏ Sở Tri Và Ngôn Từ (Tu Đà Lợi Kinh)
  4. Kinh Buông Bỏ Khổ Lạc Và Nhiễm Tịnh (Ma Kiệt Phạm Chí Kinh)
  5. Kinh Sự Thật Đích Thực (Kính Diện Vương Kinh)
  6. Kinh Buông Bỏ Ân Ái (Lão Thiểu Câu Tử Kinh)
  7. Kinh Xa Lìa Ái Dục (Di Lặc Nạn Kinh)
  8. Kinh Buông Bỏ Ý Muốn Hơn Thua (Dũng Từ Phạm Chí Kinh)
  9. Kinh Nhân Cách Của Một Vị Mâu Ni (Ma Nhân Đề Nữ Kinh)
  10. Kinh Đạo Lý Duyên Khởi (Dị Học Giác Phi Kinh)
  11. Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi (Mãnh Quán Phạm Chí Kinh)
  12. Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt (Pháp Quán Phạm Chí Kinh)
  13. Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản (Đâu Lặc Phạm Chí Kinh)
  14. Kinh Phòng Hộ (Liên Hoa Sắc Tỳ Khưu Ni Kinh)
  15. Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt (Phụ Tử Cọng Hội Kinh)
  16. Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi (Duy Lâu Lặc Vương Kinh)
Phần 2 (Giảng giải kinh)

Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt
Kinh Xa Lìa Ái Dục
Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi

 

Kinh Buông bỏ ý muốn hơn thua

 

Kinh Buông Bỏ Ý Muốn Hơn Thua

    (Dũng Từ Phạm Chí Kinh)
    Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ tám, Đại Tạng Tân Tu 198
    tương đương với Pasùra Sutta, Sutta-Nipàta 824-834

     

     

    Bối cảnh

    Đây là kinh Dũng Từ Phạm Chí. Phạm Chí là một đạo sĩ Bà La Môn. Khung cảnh dựng lên: Sau khi an cư ba tháng mùa mưa ở tu viện Cấp Cô Độc, Bụt đi sang nước Đọa Sa (Tỳ Xá Li, Vaisali) để hành đạo. Ở đây có những ông nhà giàu và con cháu của họ thuê một vị Phạm Chí tên là Dũng Từ đứng ra tranh luận với Bụt, đặt những câu hỏi để Bụt không thể trả lời được. Vị Phạm Chí đã chuẩn bị trong ba tháng. Năm trăm người đã tới Cao Quán Điện (Kutagarasala), một phòng hội nghị trên bờ hồ Vườn Khỉ (Markatahrada-tire) để dự cuộc tranh luận. Phạm Chí Dũng Từ thấy Bụt với dáng vẻ uy nghi thì sinh ra sợ hãi, không có can đảm chất vấn Bụt nữa dù đã nghĩ trước sẵn năm trăm câu hỏi hóc búa. Bụt thấy vậy liền nói kinh này.

     

    1.   Tự mình cho là mình đã có pháp thanh tịnh cao nhất, kẻ khác không ai có tuệ giác lớn bằng mình. Kẹt vào cái sở tri của mình và thích thú với cái ý nghĩ là mình đã nắm được chân lý, thái độ ấy đưa người ta đến sự hành trì sai lạc.

    2.   Trong những buổi hội họp thường muốn tỏ ra rằng mình hơn người. Ai cũng cứ nói rằng kẻ kia còn là những người u tối. Lòng cứ đinh ninh là mình có chân lý, nhưng mình không thực sự biết là mình đang nói gì. Cứ thế mọi người đặt cho nhau những câu hỏi về chân lý và hy vọng là phía bên kia người ta sẽ không thể trả lời những cật vấn của mình được.

    3.   Trong đám đông, họ cật vấn nhau, họ đặt lại những câu hỏi gây khó khăn trong các buổi tranh luận. Khi bị dồn vào thế không trả lời được, người ta nổi cơn giận dữ tại vì đối với những vấn đề gọi là nan giải, ai cũng cho là mình hay nhất.

    4.   Lúc bấy giờ, trong sự thực tập của mình, mình bắt đầu có sự nghi ngờ tự cho mình là đã đi sai lạc và bắt đầu có tâm hành hối hận. Trong giọng nói của mình, bắt đầu có sự mất tự tin và không còn tin tưởng vào cái biết của mình nữa. Cuối cùng, cái thao thức muốn đặt những câu vấn nạn kia chẳng giúp ích được gì cho chính mình.

    5.   Buồn rầu, lo lắng và khổ đau khi thấy mình thua cuộc. Mình ngồi không vui mà nằm xuống cũng còn ấm ức hoặc hối hận. Cái công phu học hỏi của mình xưa nay vốn là sai lạc cho nên mới đưa tới những lời nói và những ý định như thế. Một khi thấy mình bị lép vế trong cuộc tranh luận rồi thì mình lại rơi vào mặc cảm thua kém.

    6.   Thấy điều ấy rồi thì mình ngậm miệng lại, không dám nói nữa bởi vì mình biết nếu gấp gáp nói ra một điều gì nữa thì vấn nạn lại do đó mà phát sinh. Vì có chủ ý vấn nạn cho nên mới phát sinh ra những cuộc tranh chấp, nguyên do cũng chỉ vì mình muốn được khen ngợi, được nổi bật giữa đám đông.

    7.   Những lời ngợi khen đẹp đẽ kia làm phát sinh sự thích thú cho nên ai cũng bị kẹt vào. Chính thái độ tự cao tự đại của mình làm cho mình rơi xuống thấp. Không chịu lắng nghe học hỏi thì làm sao ta có thể đi lên?

    8.   Nếu quả thực có tâm tu học thì ta sẽ không có nhu yếu tranh luận như thế. Không đi theo con đường (tranh luận) kia thì ta sẽ có cơ hội đi tới giải thoát tốt đẹp. Nếu cứ ỷ vào (cái hay, cái giỏi của mình) thì sẽ có nhu yếu năng nổ đi tìm một đối tượng mà mình muốn nạn vấn hơn thua.

    9. Tới và đi với thái độ hùng hổ, kẻ ấy không cảm thấy hổ thẹn, kẻ này bảo rằng: “ai có đủ sức nghị luận được với anh, ngoài tôi? Ôm lấy cái khối si mê của mình, rất muốn la lên rằng: “Chủ trương của quý vị toàn là sai lạc”. Mình đang tự cố thủ lấy cái sai lầm của chính mình.

      10. Thật sự là mình chỉ mới đi loanh quanh với cái hoa mà chưa bao giờ đi tới được cái quả. Những lời do chính mình nói ra mình cũng chưa hiểu được cái ý nghĩa của chúng nữa là. Phải (có can đảm) vượt khỏi những sai lầm của mình để tìm cầu sự khai minh. Giáo và nghĩa phải đi đôi với nhau, đừng để chúng chống đối và làm tổn thương nhau.

      11. Người đại diện được cái Thiện không còn nhu yếu nói năng gì nữa. Kẻ kia dù đúng hay sai, (tốt hay xấu) ta cũng không cần quan tâm lo lắng. Chủ đích của sự hành trì là tìm được cánh cửa (đi vào giải thoát). Đối tượng nào của tâm ý cũng đều phải để tâm quán chiếu cho tường tận.

        12. Cùng với vị chỉ huy trưởng tập họp và đàm luận chiến thuật với ba quân của mình, từ đốm sáng mờ mờ của con đom đóm, ta phát hiện lên ánh hào quang tỏa chiếu khắp nơi rạng rỡ.

         

        Đại ý

        Con đường tu đạo là con đường tịnh hóa. Nếu mình cho con đường của mình là cao nhất, nếu cho rằng mình đang đứng trên đỉnh cao trí tuệ thì chính mình đang bị kẹt, và sự hành trì của mình có thể là đang sai lạc. Mình có khuynh hướng muốn tranh luận và chứng tỏ là mình đúng, tất cả những kẻ khác đều sai lầm. Tranh luận mà thắng thì cảm thấy hả hê, nhưng chính cái hả hê đó sẽ làm cho mình rơi xuống hố sâu của mặc cảm. Phần lớn người ta chỉ ham chuộng lời hay ý đẹp và họ nghĩ cái ấy là đã đủ với họ. Họ không biết đó chỉ là đồ trang sức. Đó chỉ là cái thứ hoa không bao giờ kết trái. Đây là hình ảnh rất thiết thực được đưa ra trong bài thi kệ thứ chín. Nếu mình có nhu yếu tu học, nếu mình có khả năng lắng nghe và học hỏi thì mình sẽ không có nhu yếu tranh luận hơn thua.

        Trong kinh này Bụt chỉ dẫn những điều ta cần làm. Thứ nhất là phải phát tâm tìm cầu cánh cửa giải thoát. Thứ hai là những gì mình nói ra phải đi theo với pháp môn mình thực tập. Thứ ba là phải tìm cầu ánh sáng: chỉ có ánh sáng mới xua đuổi được bóng tối u minh, xua đuổi được tri giác sai lầm. Mà cách thức tìm cầu ánh sáng hay nhất là quán chiếu tất cả những đối tượng của tâm ý. Điều này được nói tới trong bài thi kệ thứ mười hai. Ánh sáng của con đom đóm không phá tan được màn vô minh, phải có ánh sáng của trí tuệ Ba La Mật.

         

        Bài kệ 1

        Tự thuyết tịnh pháp vô thượng                 自  說  淨  法  無  上
        Dư vô pháp minh cập ngã                          餘  無  法  明  及  我
        Trước sở tri cực khoái lạc                       著  所  知  極  快  樂
        Nhân duyên đế trú tà học                          因  緣  諦  住  邪  學

        Bài kệ 2
        Thường tại chúng dục nguyện thắng            常  在  眾  欲  願  勝
        Ngu phóng ngôn chuyển tướng thiêu            愚  放  言  轉  相  燒
        Ý niệm nghĩa vong bổn ngữ                         意  念  義  忘  本  語
        Chuyển thuyết nan tuệ sở ngôn                   轉  說  難  慧  所  言

        Bài kệ 3
        Ư chúng trung nan hợp nghĩa                        於  眾  中  難  合  義
        Dục nan nghĩa đương cánh cú                       欲  難  義  當  竟  句
        Tại chúng cùng tiện sân nhuế                        在  眾  窮  便  瞋  恚
        Sở nan giải chúng tất thiện                            所  難  解  眾  悉  善

        Bài kệ 4
        Tự sở hành tiện sanh nghi                               自  所  行  便  生  疑
        Tự kế phi hậu ý hối                                         自  計  非  後  意  悔
        Ngữ sảo nghi vong ý tưởng                              語  稍  疑  忘  意  想
        Dục tà nạn chánh bất trợ                                  欲  邪  難  正  不  助

        Bài kệ 5
        Bi ưu thống sở ngôn đoản                             悲  憂  痛  所  言  短
        Tọa bất lạc ngọa âm trách                             坐  不  樂  臥  喑  咋
        Bổn tà học trí từ  ý                                        本  邪  學  致  辭  意
        Ngữ bất thắng chuyển hạ ý                            語  不  勝  轉  下  意

        Bài kệ 6
        Dĩ kiến thị thượng thủ khẩu                         已  見  是  尚  守  口
        Cấp khai bế nan tùng sanh                          急  開  閉  難  從 生
        Ý tại nạn kiến đối sanh                                意  在  難  見  對  生
        Xuất thiện thanh vi chúng quang                   出  善  聲  為  眾 光

        Bài kệ 7
        Từ duyệt hảo sanh ý hỉ                                   辭  悅  好  生  意  喜
        Trước hoan hỉ bỉ tự bỉ                                    著  歡  喜  彼  自  彼
        Tự đại khả đọa lậu hành                                自  大  可  墮  漏  行
        Bỉ bất học tùng hà tăng                                  彼  不  學  從  何  增

        Bài kệ 8
        Dĩ học thị mạc không tranh                        已  學  是  莫  空  諍
        Bất tùng thị thiện giải thoát                        不  從  是  善  解  脫
        Đa ỷ sanh thống hành ti                             多  倚  生  痛  行  司
        Hành cầu bối dục dữ nạn                           行  求 輩  欲  與  難

        Bài kệ 9
        Dũng tùng lai khứ mạc tàm                          勇  從  來  去  莫  慚
        Lệnh đương thùy dữ nhữ nghị                     令  當  誰  與  汝  議
        Bão minh trụ dục nan viết                             抱  冥  柱  欲  難  曰
        Nhữ tà đế tự thủ si                                      汝  邪  諦  自  守  癡

        Bài kệ 10
        Nhữ hành hoa bất kiến quả                           汝  行  花  不  見  果
        Sở xuất ngữ đương cầu nghĩa                       所  出  語  當  求  義
        Việt tà độ chuyển cầu minh                           越  邪  度  轉  求  明
        Pháp nghĩa đồng tùng tướng thương             法  義  同  從  相  傷

        Bài kệ 11
        Ư thiện pháp dũng hà ngôn                              於  善  法  勇  何  言
        Bỉ thiện ác thọ mạc ưu                                    彼  善  惡  受  莫  憂
        Hạnh ức đáo cầu đáo môn                               行  億 到  求  到  門
        Ý sở tưởng khứ đế tư                                     意  所  想  去  諦  思

        Bài kệ 12
        Dữ đại tướng câu nghị quân                         與  大  將  俱  議  軍
        Bỉ  huỳnh hỏa thượng biến minh                   比  螢  火  上  遍  明

         

        Kinh Xa Lìa Ái Dục

         

        Kinh Xa Lìa Ái Dục

        (Di Lặc Nạn Kinh)
        Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ bảy, Đại Tạng Tân Tu 198
        tương đương với Tissametteyya Sutta, Sutta-Nipàta 814-823

         

        Bối Cảnh

        Đây là kinh Di Lặc Nạn. Câu hỏi của thầy Di Lặc là về đề tài năng lượng tình dục. Đế Tu Di Lặc (Tissa Metteya) là một vị xuất gia trẻ, trước đó là đệ tử của một vị Phạm Chí tên là Bàvari, nhưng sau đó cả hai thầy trò đều trở thành đệ tử xuất gia của Bụt. Thầy Di Lặc đã từng đặt câu hỏi này với một vị cư sĩ trẻ tên là Xá Lợi Phất (không phải thầy Xá Lợi Phất) nhưng vị này đã không trả lời được dù đã từng nghe nhiều thầy lớn đàm luận với nhau. Cuối cùng thầy hỏi thẳng đức Thế Tôn: làm sao một người tu trẻ có thể xử lý được năng lượng tình dục để không bị thối thất trên bước đường tu học?

         

        1. Vướng mắc vào sắc dục là căn nguyên của bao nhiêu si mê lầm lỗi, những si mê lỗi lầm này ngăn không cho mình tiếp tục đi tới trên con đường Đạo rộng thênh thang. Xin đức Thế Tôn giáo giới cho chúng con, để chúng con có thể hành trì và lìa xa được mọi hệ lụy gây nên do sắc dục.

        2. Khi tâm ý đã bị ám ảnh bởi hình bóng một đối tượng ái dục thì chúng con thường quên mất lời truyền dạy của đức Thế Tôn. Chúng con đánh mất con đường chánh mà chúng con muốn đi, ngay cả những lúc chúng con ngủ nghỉ. Và chúng con cũng quên mất thứ tự trước sau trong công phu hành trì tu tập.

        3. Người xuất gia là người đi một mình với cái tâm ban đầu với chủ đích là khám phá cho ra được Chân Đế, nhưng sau đó một thời gian có thể đi ngược lại với lý tưởng của mình một khi bị vướng vào ái dục. Cũng như cỗ xe kia không còn chịu đi trên con đường thẳng mà bắt đầu lăn xuống hố, người xuất gia ấy không còn khả năng phân biệt được chánh tà.

        4. Ngày xưa vị ấy đã từng được tôn kính và yêu mến vì giá trị đạo đức của mình, nhưng bây giờ vị ấy đã đánh mất tất cả những cái tốt đẹp đó. Thấy được sự thật này, ta phải hết lòng tu tập, quyết tâm xa lìa con đường ái dục.

        5. Ta hãy nên quán chiếu về cái lợi và cái hại của sắc dục, phải thấy được một khi đã vướng vào sắc dục rồi thì ta sẽ đi về đâu. Phải lắng nghe những lời dạy tuệ giác liên hệ tới vấn đề này để đề cao cảnh giác. Phải thực tập chánh tư duy để thấy được những thống khổ và những hổ thẹn mà sắc dục có thể đem lại cho ta.

        6. Cái hành của ta phải đi theo với cái thấy của ta. Phải học phép độc cư, đừng bao giờ để xảy ra sự chung đụng trái phép. Vướng vào sắc dục sẽ sinh ra tà loạn, khiến cho kẻ hành giả đánh mất đi tất cả năng lượng dũng mãnh của chính mình.

        7. Kẻ phạm giới luôn luôn mang theo trong lòng sự sợ hãi. Giây phút giao hoan ngắn ngủi, nhưng cái sợ hãi này phải mang lấy lâu dài. Đã trót vướng vào cái lưới rồi, mình phải liên tiếp nói lên những lời gian dối không thật.

        8. Thấy được những hệ lụy gây nên do sự phạm giới, ta phải giữ mình và đừng bao giờ tự phụ là mình đã giỏi. Vị mâu ni kiên trì trên con đường sống độc cư của mình, khi đi cũng như khi về. Vị ấy hướng về nẻo sáng mà đi, không bị tập khí si mê lôi kéo.

        9. Sống một mình để đi trên con đường hướng thượng tìm cầu chân lý. Ta đã có con đường rồi nhưng ta không nên tự kiêu. Tuy chưa thực chứng được Niết Bàn, nhưng ta đã ở sát ngay bên cạnh Niết Bàn rồi.

        10. Nên phát khởi tâm nguyện vượt cao đi xa, không dừng lại ở cõi sắc và cõi vô sắc. Theo lời đức Thiện Thệ chỉ dạy, ta quyết tâm vượt ra ngoài cõi khổ. Được như thế thì bao nhiêu cám dỗ sắc dục của cuộc đời cũng sẽ không làm gì được ta.

        Đại Ý

        Kinh này gồm mười hai bài kệ. Kinh này cũng nối tiếp đề tài của kinh trước, nói về buông bỏ ân ái. Người xuất gia tuy không còn sống cuộc đời lứa đôi nữa, nhưng vẫn phải đương đầu với vấn đề ái dục, bởi vì năng lượng ái dục là năng lượng tự nhiên của con người, mình vẫn phải đối phó, dù mình đã là người xuất gia.

        Bụt dạy thầy Di Lặc phải thực tập vững chãi các giới điều và uy nghi, đừng để xảy ra sự chung đụng trái phép. Đừng tự phụ là mình đã giỏi, không cần tới những “chi tiết nhỏ nhặt” của giới luật và uy nghi. Phải phát đại nguyện vượt cao, đi xa, và tâm Bồ Đề ấy sẽ bảo hộ cho mình. Và phải luôn luôn quán chiếu để thấy những hệ lụy mà sắc dục đem lại. Vướng vào sắc dục rồi, mình sẽ như một cỗ xe không còn đi đường thẳng nữa mà bắt đầu lăn xuống hố, mình không tiếp tục được sự hành trì, mình phải chịu mất đi sự tin tưởng và quý chuộng của các bạn đồng tu, mình bắt buộc phải nói những lời gian dối, chịu đựng rất nhiều thống khổ và những hổ thẹn, tất cả đều là do sắc dục đem đến.

        Những người xuất sĩ già hay trẻ phải biết cám ơn thầy Di Lặc, vị xuất sĩ trẻ tuổi thời ấy, vì thầy đã can đảm hỏi những câu hỏi rất thật để Bụt có thể soi sáng cho tất cả những người xuất gia trẻ tuổi khác. Phép thực tập của Bụt gồm có hai điểm chính: Thứ nhất là phải thực tập giới luật và uy nghi cho vững chãi, thứ hai là phải tự nhắc nhở mình, nhắc nhở nhau và quán chiếu về những hệ lụy mà ái dục có thể mang tới.

         


        Bài kệ 1
        Dâm dục trước nữ hình                                  婬  欲  著  女  形
        Đại đạo giải si căn                                         大  道  解  癡  根
        Nguyện thọ tôn sở giới                                  願  受  尊  所  戒
        Đắc giáo hành viễn ác                                    得  教  行  遠  惡

         

        Bài kệ 2
        Ý trước dâm nữ hình                                   意  著  婬  女  形
        Vong tôn  sở giáo lệnh                                 亡  尊  所  教  令
        Vong chánh trí thùy ngọa                              亡  正  致  睡  臥
        Thị hành thất thứ đệ                                     是  行  失  次  第

        Bài kệ 3
        Bổn độc hành cầu đế                                      本  獨  行  求  諦
        Hậu phản trước sắc loạn                                後  反  著  色  亂
        Bôn xa vong chánh đạo                                  犇  車  亡  正  道
        Bất tồn xả chánh tà                                        不  存  捨  正  邪

        Bài kệ 4
        Tọa trị kiến tôn kính                                     坐  值  見  尊  敬
        Thất hành vong thiện danh                           失  行  亡  善  名
        Kiến thị đế kế học                                       見  是  諦  計  學
        Sở dâm viễn xả ly                                       所  婬  遠  捨  離

        Bài kệ 5
        Thả tư sắc thiện ác                                     且  思  色  善  惡
        Dĩ phạm đương hà trí                                   已  犯  當  何  致
        Văn tuệ sở tự giới                                       聞  慧  所  自  戒
        Thống tàm khước tự tư                               痛  慚  却  自  思

        Bài kệ 6
        Thường hành dữ tuệ hợp                               常  行  與  慧  合
        Ninh độc mạc loạn câu                                  寧  獨  莫  亂  俱
        Trước sắc sanh tà loạn                                  著  色  生  邪  亂
        Vô thế vong dũng mãnh                                   無  勢  亡  勇  猛

        Bài kệ 7
        Lậu giới hoài khủng bố                                  漏  戒  懷  恐  怖
        Thọ đoản vi bỉ phụ                                          受  短  為  彼  負
        Dĩ trước nhập la võng                                    已  著  入  羅  網
        Tiện khi xuất gian thanh                                便  欺  出  奸  聲

        Bài kệ 8
        Kiến phạm nhân duyên  ác                            見  犯  因  緣  惡
        Mạc thủ  thân tự  phụ                                   莫  取  身  自  負
        Kiên hành độc lai khứ                                   堅  行  獨  來  去
        Thủ minh mạc tập si                                      取  明  莫  習  癡

        Bài kệ 9
        Viễn khả độc tự xứ                                      遠  可  獨  自  處
        Đế kiến vi thượng hành                                 諦  見  為  上  行
        Hữu hành mạc tự kiêu                                  有  行  莫  自  憍
        Vô ỷ nê hoàn thứ                                          無  倚  泥  洹  次

        Bài kệ 10
        Viễn kế niệm trường hành                            遠  計  念  長  行
        Bất dục sắc bất sắc                                     不  欲  色  不  色
        Thiện thuyết đắc độ thống                             善  說  得  度  痛
        Tất thế dâm tự thực                                      悉  世  婬  自  食

         

        _________________________

        Mục Lục

        Lời tựa

        Phần 1

        1. Kinh Nhiếp Phục Tham Dục (Kiệt Tham Vương Kinh)
        2. Kinh Hang Động Ái Dục (Ưu Điền Vương Kinh)
        3. Kinh Buông Bỏ Sở Tri Và Ngôn Từ (Tu Đà Lợi Kinh)
        4. Kinh Buông Bỏ Khổ Lạc Và Nhiễm Tịnh (Ma Kiệt Phạm Chí Kinh)
        5. Kinh Sự Thật Đích Thực (Kính Diện Vương Kinh)
        6. Kinh Buông Bỏ Ân Ái (Lão Thiểu Câu Tử Kinh)
        7. Kinh Xa Lìa Ái Dục (Di Lặc Nạn Kinh)
        8. Kinh Buông Bỏ Ý Muốn Hơn Thua (Dũng Từ Phạm Chí Kinh)
        9. Kinh Nhân Cách Của Một Vị Mâu Ni (Ma Nhân Đề Nữ Kinh)
        10. Kinh Đạo Lý Duyên Khởi (Dị Học Giác Phi Kinh)
        11. Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi (Mãnh Quán Phạm Chí Kinh)
        12. Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt (Pháp Quán Phạm Chí Kinh)
        13. Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản (Đâu Lặc Phạm Chí Kinh)
        14. Kinh Phòng Hộ (Liên Hoa Sắc Tỳ Khưu Ni Kinh)
        15. Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt (Phụ Tử Cọng Hội Kinh)
        16. Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi (Duy Lâu Lặc Vương Kinh)
        Phần 2 (Giảng giải kinh)

        Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt
        Kinh Xa Lìa Ái Dục
        Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi

         

        Kinh Buông Bỏ Ân Ái

        Kinh Buông Bỏ Ân Ái
        (Lão Thiếu Câu Tử Kinh)
        Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ sáu, Đại Tạng Tân Tu 198
        tương đương với Jarà Sutta, Sutta-Nipàta 804-813

         

        Bối Cảnh

        Đây là kinh Lão Thiếu Câu Tử. Lão Thiếu Câu Tử nghĩa là già cũng chết trẻ cũng chết. Khung cảnh dựng lên: Bụt đang ở nước Vatsa (cũng là Kiều Thường Di, Kausambi). Một hôm cùng với thầy A Nan vào thành phố khất thực, Bụt thấy nhiều phụ nữ xõa tóc khóc than vì người thân của họ mới qua đời. Có người một trăm hai mươi tuổi mới chết. Nhưng có em lại mới lên bảy tuổi mà đã chết. Thấy sự xót thương ấy Bụt nói kinh này.

         

        1.    Kiếp người rất ngắn ngủi
        Chưa tới một trăm năm
        Dù có hơn trăm năm
        Cũng không sao khỏi chết.

        2.   Lạc thú sinh lo lắng
        Ân ái sợ vô thường
        Yêu nhau hay ghét nhau, rốt cuộc rồi cũng phải xa
        nhau.
        Thấy vậy cho nên có người không còn ưa thích sống đời lứa đôi.

        3.   Không có gì mà cơn lũ của cái chết không cuốn theo nó. Những gì ta ham muốn ngày xưa, những gì mà ta trân quý như một cái ta, nếu lấy trí tuệ quán chiếu để tìm ra sự thật ta sẽ thấy rằng cái này không phải là ta, và ta không phải là cái này.

        4.   Những lạc thú của cuộc đời cũng giống như những gì ta thấy trong một giấc mơ. Thức dậy rồi thì không còn thấy gì nữa. Những gì mà người đời đang tham cầu cũng thế. Một khi tâm thức hết biểu hiện thì còn có gì nữa đâu?

        5.   Tên tuổi người ấy ta còn nghe, nhưng người ấy đã đi rồi. Người ấy dễ thương hay không dễ thương, bây giờ ta cũng không trông thấy nữa. Người ấy đã rời bỏ cuộc đời, người ấy đã đi về đâu? Thần thức đã đi, chỉ có cái tên còn ở lại.

        6.   Buồn giận nhau, yêu thương nhau, rồi ghen ghét nhau. Người ta không buông bỏ được cái vướng mắc vào tham ái. Bậc trí giả biết vậy cho nên buông bỏ ân ái. Lìa xa được sự sợ hãi và đạt tới cõi an lành.

        7.   Vị khất sĩ phải sống với sự thực, đừng đánh mất chánh niệm. Phải xa lìa ái dục, biết rằng hình hài này thế nào cũng có ngày hủy diệt. Phải thực tập đừng đuổi theo những đối tượng sắc dục. Phải quán chiếu tâm ý trong tâm ý. Trên con đường tìm cầu chân lý, đừng dừng lại bất cứ ở đâu.

        8.   Không dừng lại cũng là pháp môn hành trì của các bậc tôn đức. Cái thương, cái ghét, cái tỵ hiềm, cái buồn và cái lo không động được tới mình. Như những giọt nước rơi xuống không giọt nào dính vào được đóa sen.

        9.   Không vướng mắc, cũng không trông cầu. Những gì thấy và nghe có tính cách bất chính ta không ái trước. Cả đến cái giải thoát mà ta cũng không tìm cầu thì ta còn tìm cầu gì những cái ô nhiễm?

        10. Không vướng vào tham ái, (trong sáng) như một đóa sen. Tuy mọc lên từ bùn nhưng bùn không động tới được. Bậc tôn quý trên đời cũng hành xử như thế. Những gì nghe và thấy cũng giống như những gì chưa bao giờ thấy, chưa bao giờ nghe.

        Đại Ý

        Kinh này nói tới cái lo và cái sợ. Dù mình đang hưởng thọ lạc thú, mình cũng nơm nớp lo sợ không biết ngày mai mình còn giữ được cái ngày hôm nay không. Dù mình đang có ân ái, mình cũng nơm nớp lo sợ không biết ngày mai người thương của mình có còn hay không. Nhìn cho kỹ thì đối tượng của lạc thú cũng như đối tượng của yêu thương đều là vô thường, còn đó rồi mất đó như một giấc mơ. Khi người mà ta thương yêu không còn đó nữa, thì dù ta có khóc thương cách mấy người ấy cũng không sống lại được.

        Các vị khất sĩ phải buông bỏ ân ái, đi như một con người tự do, đừng để bất cứ một hình ảnh hay một âm thanh làm vướng bận. Đừng đuổi theo một đối tượng ái dục. Trên con đường đi tới giải thoát không nên dừng lại vì một đối tượng ân ái, dù chỉ là trong khoảnh khắc. Đừng để cái thương, cái ghét, cái buồn, cái lo đụng tới mình. Chính cái giải thoát mà ta cũng không bị vướng mắc vào thì tại sao ta để cho ta vướng mắc vào những cái ô nhiễm?

         

        Bài kệ 1
        Thị thân mạng thậm đoản                             是  身  命  甚  短
        Giảm bách niên diệc tử                                減  百  年  亦  死
        Tuy hữu quá bách niên                                  雖  有  過  百  年
        Lão tùng hà ly tử                                          老  從  何  離  死

        Bài kệ 2
        Tọa khả ý sanh ưu                                        坐  可  意  生  憂
        Hữu ái  tùng đắc thường                                有  愛  從  得  常
        Ái tăng tất đương biệt                                    愛  憎  悉  當  別
        Kiến thị mạc lạc gia                                        見  是  莫 樂  家

        Bài kệ 3
        Tử hải vô sở bất phiêu                                死  海  無  所  不  漂
        Túc sở tham ái hữu ngã                              宿  所  貪  愛  有  我
        Tuệ nguyện quán đế kế thị                            慧  願  觀  諦  計  是
        Thị vô ngã ngã vô thị                                     是  無  我  我  無  是

        Bài kệ 4
        Thị thế lạc như kiến mộng                            是  世  樂  如  見  夢
        Hữu thức ngụ  diệc hà kiến                           有  識  寤  亦  何  見
        Hữu tham thế tất diệc nhĩ                              有  貪  世  悉  亦  爾
        Thức chuyển diệt diệc hà kiến                      識  轉  滅  亦  何  見

        Bài kệ 5
        Văn thị bỉ tất dĩ khứ                                       聞  是  彼  悉  已  去
        Thiện diệc ác kim bất kiến                             善  亦  惡  今  不  見
        Tất xả thế đáo hà sở                                    悉  捨  世  到  何  所
        Thức thần khứ đãn danh tại                          識  神  去   但  名 在

        Bài kệ 6
        Ký bi ưu chuyển tướng tật                            既  悲  憂  轉  相  嫉
        Phục bất xả tham trước ái                              復  不  捨  貪  著  愛
        Tôn cố đoạn ái khí khả                                   尊  故  斷  愛  棄  可
        Viễn khủng bố kiến an xứ                             遠  恐  怖  見  安 處

        Bài kệ 7
        Tỳ-kheo đế mạc vọng niệm                           比  丘  諦  莫  妄  念
        Dục khả viễn thân thả hoại                            欲  可  遠  身  且  壞
        Dục hành chỉ ý quán ý                                  欲  行  止  意  觀  意
        Dĩ thùy đế vô chỉ xứ                                      已  垂  諦  無  止  處

        Bài kệ 8
        Vô chỉ giả diệc tôn hành                              無  止  者  亦  尊  行
        Ái bất ái diệc tật hành                                  愛  不  愛  亦  嫉  行
        Tại bi ưu diệc tật hành                                 在  悲  憂  亦  嫉  行
        Vô nhu triêm như liên hoa                            無  濡  沾  如  蓮  華

        Bài kệ 9
        Dĩ bất trước diệc bất vọng                             已  不  著  亦  不  望
        Kiến văn tà ngô bất ái                                    見  聞  邪  吾  不  愛
        Diệc bất tùng cầu giải thoát                           亦  不  從  求  解  脫
        Bất ô dâm diệc hà tham                                  不  污  婬  亦  何  貪

        Bài kệ 10
        Bất tướng tham như liên hoa                        不  相  貪  如  蓮  華
        Sanh tại  thủy thủy bất ô                                生  在  水  水  不  汙
        Tôn cập thế diệc nhĩ hành                              尊  及  世  亦  爾  行
        Sở văn kiến như vị sanh                                 所  聞  見  如  未  生

         

        _________________________

        Mục Lục

        Lời tựa

        Phần 1

        1. Kinh Nhiếp Phục Tham Dục (Kiệt Tham Vương Kinh)
        2. Kinh Hang Động Ái Dục (Ưu Điền Vương Kinh)
        3. Kinh Buông Bỏ Sở Tri Và Ngôn Từ (Tu Đà Lợi Kinh)
        4. Kinh Buông Bỏ Khổ Lạc Và Nhiễm Tịnh (Ma Kiệt Phạm Chí Kinh)
        5. Kinh Sự Thật Đích Thực (Kính Diện Vương Kinh)
        6. Kinh Buông Bỏ Ân Ái (Lão Thiểu Câu Tử Kinh)
        7. Kinh Xa Lìa Ái Dục (Di Lặc Nạn Kinh)
        8. Kinh Buông Bỏ Ý Muốn Hơn Thua (Dũng Từ Phạm Chí Kinh)
        9. Kinh Nhân Cách Của Một Vị Mâu Ni (Ma Nhân Đề Nữ Kinh)
        10. Kinh Đạo Lý Duyên Khởi (Dị Học Giác Phi Kinh)
        11. Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi (Mãnh Quán Phạm Chí Kinh)
        12. Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt (Pháp Quán Phạm Chí Kinh)
        13. Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản (Đâu Lặc Phạm Chí Kinh)
        14. Kinh Phòng Hộ (Liên Hoa Sắc Tỳ Khưu Ni Kinh)
        15. Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt (Phụ Tử Cọng Hội Kinh)
        16. Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi (Duy Lâu Lặc Vương Kinh)
        Phần 2 (Giảng giải kinh)

        Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt
        Kinh Xa Lìa Ái Dục
        Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi

         

        Kinh Sự Thật Đích Thực

         

         

        Kinh Sự Thật Đích Thực
        (Kính Diện Vương Kinh)
        Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ năm, Đại Tạng Tân Tu 198
        tương đương với Paramatthaka Sutta,Sutta-Nipàta 796-803

         

        Bối Cảnh

        Các thầy khất sĩ của Bụt trước giờ khất thực có ghé qua thăm một hội trường nơi đó có nhiều giáo sĩ Bà La Môn đang tranh luận. Họ chê bai nhau, họ chỉ trích nhau, ai cũng cho cái thấy của mình là cao nhất, đúng nhất. Lời nói của họ không ái ngữ mà có tính cách độc hại và mũi nhọn. Các thầy chán quá, về thuật lại với Bụt. Bụt kể chuyện tiền thân. Kiếp đó Ngài là vua Kính Diện Vương. Một hôm vua cho mời những người mù từ khi mới lọt lòng mẹ trong vương quốc tới chơi. Trước sân điện, với sự có mặt của các nhà trí thức và đạo sĩ trong nước, vua cho dẫn ra một con voi rồi mời những người mù đến sờ voi và nói ra cái thấy của họ. Người sờ chân voi thì nói voi giống một cái cột nhà, người sờ đuôi voi thì nói voi giống một cái chổi, người sờ tai voi thì nói voi giống như một cái quạt v.v… Cố nhiên là họ không đồng ý với nhau về cái thấy của họ. Rồi Bụt dạy kinh này để khuyên các vị đệ tử buông bỏ những quan niệm của mình sẵn có về thực tại.

        1. Mình còn mờ mịt mà cứ nói rằng kẻ kia chẳng bằng mình. Vướng víu si mê, cứ để tháng ngày trôi qua, bao giờ mới có cơ hội thấy rõ chân lý? Chưa có pháp môn tu đạo mà cứ nói mình đã thực tập xong xuôi. Tâm còn loạn động, chưa biết hành trì, bao giờ mình mới có được kiến giải thực sự?

        2. Cứ nghĩ rằng người khác phải hành trì theo cái hành trì của mình. Tự cho rằng cái thấy, cái nghe và cái thực tập của mình là không ai bằng được. Chính mình đang bị sa đọa và ràng buộc vào trong năm cái hang động dục lạc của cuộc đời mà mình vẫn cứ ba hoa nói mình hơn người.

        3. Còn ôm chặt si mê và vọng tưởng mà cứ tưởng rằng mình đã đạt tới chỗ chí thiện. Cái học hỏi và sự thực tập của mình còn sai lạc mà mình lại cứ ham muốn độ đời. Những gì thấy, nghe, suy nghĩ, và cả những nghi lễ và cấm giới mà mình hành trì, mình vẫn còn bị kẹt vào đấy, chưa thoát ra khỏi.

        4. Bậc thức giả thấy người thế gian đi theo con đường ấy thì nhất quyết không chịu đi theo. Ta chỉ nên hành trì theo chánh niệm và trong khi hành trì phải hết sức thận trọng. Đừng cho rằng mình bằng người, hơn người hoặc thua người.

        5. Cái bây giờ mình không nắm bắt, cái sau này cũng tuyệt đối không làm mình vướng bận. Buông bỏ mọi chủ thuyết, mọi ý tưởng, một mình đi trong tự do. Tuy vẫn có cái biết và cái thấy, nhưng thường quán chiếu để không bị kẹt vào chúng.

        6. Không kẹt vào cái nhìn lưỡng nguyên, không kẹt vào ý niệm thọ mạng, ý niệm về đời này và đời sau, kẻ trí giả đi theo con đường trung đạo, quán chiếu các pháp để đạt tới thiền định chân chính.

        7. Phải quán chiếu về những gì thấy, nghe và cảm nhận để đừng khởi lên tà niệm và bị kẹt vào tri giác sai lầm. Dùng trí tuệ để quán chiếu tâm ý và đối tượng tâm ý để buông bỏ được tất cả, không còn bị vướng vào một pháp nào trong thế gian.

        8. Nếu các pháp đều không thực sự hiện hữu, thì còn pháp hành trì nào nữa để cho ta kẹt vào? Phải biết tìm trong pháp hành trì của mình cái đệ nhất nghĩa đế, cái sự thật đích thực. Không bị kẹt vào nghi lễ và giới cấm, không cho đó là chân lý, nhờ đó mà vượt qua được bờ bên kia, không bao giờ còn trở lại chốn sinh tử.


        Đại Ý

        Kinh này cũng chỉ có tám bài thi kệ, và cũng nối tiếp được giáo nghĩa của các kinh đi trước một cách liên tục. Khi mình ôm ấp một cái thấy, một chủ thuyết rồi cho đó là chân lý tuyệt đối thì mình sẽ có thái độ khinh mạn đối với những người khác và những cái thấy của họ. Mình không chịu tu tập mà chỉ muốn đi truyền bá cái lý thuyết của mình. Một vị khất sĩ chân chính, một vị phạm chí chân chính không thể đi theo con đường ấy. Phải buông bỏ sở tri, phải thực tập để thoát ra khỏi hang động của ham muốn, và phải đạt tới tuệ giác vô ngã để phá tan cả ba thứ mặc cảm là hơn người, thua người và bằng người.

        Còn chấp vào một cái ngã thì còn so sánh, còn so sánh thì còn mặc cảm. Những mặc cảm ấy gây khổ đau và bệnh hoạn. Theo đạo Bụt, không những mặc cảm thua người đưa tới bệnh tật và khổ đau, mà mặc cảm hơn người và bằng người cũng chứng tỏ rằng ta chưa thoát ra khỏi khổ đau và bệnh tật.

        Ta có những cái biết và cái thấy, nhưng ta không cần phải bị kẹt vào những cái ấy, thì ta mới có tự do và mới có cơ hội đi lên. Đó là giáo lý buông bỏ sở tri; sở tri là cái thấy, cái thấy ấy nếu ta bị kẹt vào là ta mất tự do, là ta không còn cơ hội đi lên.

        Bài kệ thứ sáu nói tới con đường trung đạo, vượt qua cái nhìn lưỡng nguyên (sinh diệt, có không v.v…), vượt qua ý niệm thọ mạng (kiếp này và kiếp sau) và mở cửa cho giáo lý của kinh Kim Cương Bát Nhã sau này. Bài kệ thứ tám nói về cái không của các pháp (các pháp không thực sự hiện hữu) và cái sự thật đích thực tức là đệ nhất nghĩa đế. Đây chính là hạt giống của giáo lý trí tuệ vượt qua bờ bên kia (cầu vi đế, độ vô cực chúng bất hoàn). Vị đạo sĩ đạt được cái thấy bất nhị rồi thì không còn nắm bắt cái bây giờ và vướng bận vào cái sau này, vị âý sẽ có thong dong thật sự.

        Vì kinh này có hơi hướng của Bát Nhã Ba La Mật cho nên thầy Tăng Hội đã đưa nó vào trong phần Minh Độ Vô Cực của kinh Lục Độ Tập do thầy biên dịch. Ta có thể đọc kinh này trong quyển thứ tám của Lục Độ Tập Kinh, kinh thứ 89.

        Kinh Kính Diện Vương ở Lục Độ Tập Kinh được sao chép kỹ lưỡng nên có ít sai sót hơn, và nhờ thế dễ dịch hơn. Xin mời các vị độc giả so sánh hai bản đã được giữ lại trong Hán tạng của kinh này.

         

        Bài kệ 1
        Tự minh ngôn thị bỉ bất cập                           自 冥 言 是 彼 不 及
        Trước si nhật lậu hà thời minh                       著 癡 日 漏 何 時 明
        Tự vô đạo vị học tất nhĩ                                 自 無 道 謂 學 悉 爾
        Đản loạn vô hành hà thời giải                        但 亂 無 行 何 時 解

        Trong Lục Độ Tập Kinh của thầy Tăng Hội:
        Tự minh ngôn thị bỉ bất cập                          自  冥  言  是  彼  不  及
        Trước si nhật lậu hà thời minh                      著  癡  日  漏  何  時  明
        Tự vô đạo vị học tất nhĩ                                自  無  道  謂  學  悉  爾
        Đảo loạn vô hành hà thời giải                       倒  亂  無  行  何  時  解


        Bài kệ 2
        Thường tự giác đắc tôn hành                        常  自  覺  得  尊  行
        Tự văn kiến hành vô tỉ                                   自  聞  見  行  無  比
        Dĩ đọa hệ thế ngũ trạch                                 已  墮  繫  世  五  宅
        Tự khả kỳ hành thắng bỉ                                自  可  奇  行  勝  彼

        Trong Lục Độ Tập Kinh của thầy Tăng Hội:
        Thường tự giác đắc tuân hành                      常  自  覺  得  恂  行
        Tự văn kiến hành vô tỉ                                   自  聞  見  行  無  比
        Bỉ đọa hệ thế ngũ trạch                                已  墮  繫  世  五  s宅
        Tự khả ỷ hành thắng bỉ                                 自  可  綺  行  勝  彼


        Bài kệ 3
        Bão si trú vọng trí thiện                                 抱  癡  住  妄  致  善
        Dĩ tà học mông đắc độ                                  以  邪  學  蒙  得  度
        Sở kiến văn đế thọ tư                                    所  見  聞  諦  受  思
        Tuy trì giới mạc vị khả                                    雖  持  戒  莫  謂 可

        Trong Lục Độ Tập Kinh của thầy Tăng Hội:
        Bão si trú vọng trí thiện                                   抱  癡  住  妄  致  善
        Dĩ tà học mông đắc độ                                    以  邪  學  蒙  得  度
        Sở kiến văn đế thọ tư                                      所  見  聞  諦  受  思
        Tuy trì giới mạc vị khả                                      雖  持  戒  莫  謂  可


        Bài kệ 4
        Kiến thế hành mạc tất tu                                 見  世  行  莫  悉  修
        Duy hiệt niệm diệc bỉ hành                              惟  黠  念  亦  彼  行
        Dữ hành đẳng diệc kính đãi                            與  行  等  亦  敬  待
        Mạc sanh tưởng bất cập quá                          莫  生  想  不  及  過

        Trong Lục Độ Tập Kinh c ủa thầy Tăng Hội:
        Kiến thế hành mạc tất tùy                               見  世  行  莫  悉  隨
        Duy hiệt niệm diệc bỉ hành                              惟  黠  念  亦  彼  行
        Dữ hành đẳng diệc kính trì                             與  行  等  亦  敬  持
        Mạc sanh tưởng bất cập quá                          莫  生  想  不  及  過


        Bài kệ 5
        Thị dĩ đoạn hậu diệc tận                                 是  已  斷  後  亦  盡
        Diệc khí tưởng độc hành đắc                         亦  棄  想  獨  行  得
        Mạc tự tri dĩ trí hiệt                                        莫  自  知  以  致  黠
        Tuy kiến văn đãn hành quán                         雖  見  聞  但  行  觀

        Trong Lục Độ Tập Kinh c ủa thầy Tăng Hội:
        Thị dĩ đoạn hậu diệc tận                                 是  已  斷  後  亦  盡
        Diệc khí tưởng độc hành đắc                          亦  棄  想  獨  行  得
        Mạc tự tri dĩ trí hiệt                                           莫  自  知  以  致  黠
        Tuy kiến văn đãn hành quán                           雖  見  聞  但  行  觀


        Bài kệ 6
        Tất vô nguyện ư lưỡng diện                           悉  無  願  於  兩  面
        Thai diệc thai xả viễn ly                                  胎  亦  胎  捨  遠  離
        Diệc lưỡng xứ vô sở trú                                  亦  兩  處 無  所  住
        Tất quán pháp đắc chánh chỉ                          悉  觀  法  得  正  止

        Trong Lục Độ Tập Kinh của thầy Tăng Hội:
        Tất vô nguyện ư lưỡng diện                              悉  無  願  於  兩  面
        Thai diệc thai hợp viễn ly                                   胎  亦  胎  合  遠  離
        Diệc lưỡng xứ vô sở trú                                     亦  兩  處  無  所  住
        Tất quán pháp đắc chánh chỉ                            悉  觀  法  得  正  止


        Bài kệ 7
        Ý thọ hành sở kiến văn                                  意  受  行  所  見  聞
        Sở tà niệm tiểu bất tưởng                               所  邪  念  小 不  想
        Tuệ quán pháp ý kiến ý                                  慧  觀  法  意  見  意
        Tùng thị đắc xả thế không                             從  是  得  捨  世  空

        Trong Lục Độ Tập Kinh của thầy Tăng Hội:
        Ý thọ hành sở kiến văn                                  意  受  行  所  見  聞
        Sở tà niệm tiểu bất tưởng                              所  邪  念  小  不  想
        Tuệ quán pháp ý kiến ý                                  慧  觀  法  意  見  意
        Tùng thị đắc xả thế không                              從  是  得  捨  世  空

        Bài kệ 8
        Tự vô hữu hà pháp hành                                自  無  有  何  法 行
        Bổn hành pháp cầu nghĩa đế                         本  行  法  求  義  諦
        Đãn thủ giới cầu vi đế                                    但  守  戒  求  為  諦
        Độ vô cực chúng bất hoàn                             度  無  極  眾 不  還

        Trong Lục Độ Tập Kinh của thầy Tăng Hội:
        Tự vô hữu hà sở đắc                                       自  無  有  何  所  得
        Bồn hành pháp cầu nghĩa đế                          本  行  法  求  義  諦
        Đãn thủ giới cầu vi tuệ                                    但  守  戒  求  為  慧
        Độ vô cực chung bất hoàn                              度  無  極  終  不  還

         

        _________________________

        Mục Lục

        Lời tựa

        Phần 1

        1. Kinh Nhiếp Phục Tham Dục (Kiệt Tham Vương Kinh)
        2. Kinh Hang Động Ái Dục (Ưu Điền Vương Kinh)
        3. Kinh Buông Bỏ Sở Tri Và Ngôn Từ (Tu Đà Lợi Kinh)
        4. Kinh Buông Bỏ Khổ Lạc Và Nhiễm Tịnh (Ma Kiệt Phạm Chí Kinh)
        5. Kinh Sự Thật Đích Thực (Kính Diện Vương Kinh)
        6. Kinh Buông Bỏ Ân Ái (Lão Thiểu Câu Tử Kinh)
        7. Kinh Xa Lìa Ái Dục (Di Lặc Nạn Kinh)
        8. Kinh Buông Bỏ Ý Muốn Hơn Thua (Dũng Từ Phạm Chí Kinh)
        9. Kinh Nhân Cách Của Một Vị Mâu Ni (Ma Nhân Đề Nữ Kinh)
        10. Kinh Đạo Lý Duyên Khởi (Dị Học Giác Phi Kinh)
        11. Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi (Mãnh Quán Phạm Chí Kinh)
        12. Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt (Pháp Quán Phạm Chí Kinh)
        13. Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản (Đâu Lặc Phạm Chí Kinh)
        14. Kinh Phòng Hộ (Liên Hoa Sắc Tỳ Khưu Ni Kinh)
        15. Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt (Phụ Tử Cọng Hội Kinh)
        16. Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi (Duy Lâu Lặc Vương Kinh)
        Phần 2 (Giảng giải kinh)

        Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt
        Kinh Xa Lìa Ái Dục
        Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi

         

        Kinh Buông Bỏ Khổ Lạc Và Nhiễm Tịnh

        Kinh Buông Bỏ Khổ Lạc Và Nhiễm Tịnh
        (Ma Kiệt Phạm Chí Kinh)
        Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ tư, Đại Tạng Tân Tu 198
        (tương đương với Suddhatthaka Sutta, Sutta-Nipàta 788-795)

         

        Bối Cảnh

        Kinh này là kinh Ma Kiệt Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên: Có một vị phạm chí tên là Ma Kiệt (Màgadha) qua đời trong khi giảng dạy. Đệ tử làm tang lễ cho vị ấy, rước thi hài vị phạm chí qua các ngả đường thành phố Xá Vệ. Người ta tin rằng ai thấy được hình hài vị phạm chí ấy thì được giải thoát, dù là chỉ thấy được hình hài ấy sau khi ông ta chết. Các thầy khất sĩ của Bụt về báo cáo lại chuyện này và Bụt đã dạy kinh Ma Kiệt Phạm Chí.

        1. “Tôi đã được chuyển hóa và trị liệu.” Có kẻ tin rằng hễ thấy được (bốn) sự thật thì mình tự nhiên được tịnh hóa. Những kẻ tin rằng cái kiến thức mình có chính là cái chuyển hóa và trị liệu, những kẻ ấy chưa thực sự chứng nhập được khổ đế và tập đế.

        2. Có kẻ mới gặp được một bậc hảo nhân mà nghĩ là mình đã được tịnh hóa, đã có tuệ giác, đã hành trì xong, đã lìa xa được khổ nạn, đã trừ bỏ được xấu ác, đã thấy được con đường thanh tịnh, những người như thế cần phải đoạn trừ cái sở kiến của mình thì mới có thể thực sự đi vào được sự tịnh hóa chân chính.

        3. Giải thoát không phải là do mình tiếp nhận được một cái gì từ người khác, hoặc từ những cái mình thấy, mình nghe hoặc những giới cấm và nghi lễ mà mình tiếp thọ. Vị sa môn chân chính không bị kẹt vào ý niệm tội và phước, vị ấy đã đoạn trừ được tất cả mọi ý niệm và không bao giờ tự khen mình.

        4. Buông bỏ cái đã qua, không tưởng nhớ đến cái sắp tới. Bước đi trong hiện tại, vượt qua bốn dòng lũ lụt: dục hải, hữu hải, kiến hải và vô minh hải. Vị sa môn cứ một đường thẳng mà đi tới, không bị kẹt vào ý niệm khổ. Bởi vì biết rằng còn có sở niệm thì tâm mình còn bị ràng buộc!

        5. Vị ấy luôn đề cao cảnh giác, nắm vững giới luật mà đi, và trong khi đi, nếu ý niệm về khổ kia phát sinh thì nên lập tức buông bỏ và từ từ đi vào công phu hành trì. Hành trì ở đây có nghĩa là thực sự quán chiếu và thẩm sát, và không có nhu yếu thuyết giảng bằng những lời kiểu cách.

        6. Vị ấy đối với tất cả các pháp, không còn có nghi ngờ gì nữa. Với những gì thấy và nghe, vị ấy thường làm phát khởi chánh niệm để nhận diện. Vị ấy là kẻ đã thực sự nghe và thấy được (bốn) sự thật, là kẻ có nền tảng và năng lượng của sự hành trì, là kẻ không còn tạo tác nghiệp thế gian và không còn bị kéo theo sáu đối tượng của giác quan nữa.

        7. Không thắc mắc về những tiện nghi cho riêng mình, không thắc mắc về việc nguời ta có tôn kính mình hay không, cũng không cần thắc mắc là mình đã có sự tịnh hóa hoàn toàn hay chưa, người đạt đạo cắt đứt được mọi ý niệm về ân và về oán, không còn vướng mắc vào một chủ thuyết nào và cũng không còn theo đuổi một dự án nào nữa trong thế gian.

        8. Một người như thế là một bậc chân tu, không còn nắm giữ gì cho mình nữa cả. Những gì người ấy thấy và nghe, người ấy đều không bị vướng mắc. Người ấy không còn thấy có gì là ô nhiễm hoặc không ô nhiễm, không còn thấy có gì là tịnh hay bất tịnh.

        Đại Ý

        Kinh này cũng chỉ có tám bài kệ. Bụt dạy ta phải buông bỏ không những mọi chủ thuyết, mọi ý thức hệ mà phải buông bỏ luôn các ý niệm về khổ vui, tội phúc, ân oán và nhiễm tịnh. Kinh này nối tiếp được kinh thứ ba trước đây một cách rất liên tục và nhất trí.

        Có người mới gặp được một bậc minh sư hay nghe được giáo lý mầu nhiệm của vị ấy thì đã có cảm giác là cuộc đời mình đã thay đổi, mình đã được trị liệu và chuyển hóa. Sự thực là mình chỉ mới đi tới giai đoạn thấy đạo (kiến đạo). Mình phải đi qua các giai đoạn tu đạo và chứng đạo nữa thì mình mới thực sự có chuyển hóa và trị liệu. Nếu không mình chỉ bám lấy cái ý tưởng là mình đã có thầy, đã có con đường, và cho như vậy là đủ.

        Có những người sau khi nghe về diệu đế thứ nhất là khổ thì bị vướng vào đấy và nghĩ rằng khổ là chân lý tuyệt đối, mình phải tự nhắc đi nhắc lại “đời là khổ”. Thái độ giáo điều ấy khiến cho họ không đi tới được. Diệu đế thứ ba là diệt, nghĩa là sự vắng mặt của khổ đau, đồng thời cũng có nghĩa là sự có mặt của hạnh phúc, người ấy không thấy được như thế. Theo đúng tinh thần của kinh, không những ta phải buông bỏ ý niệm về khổ mà cũng phải buông bỏ ý niệm về hết khổ. Cái hết khổ không còn ám ảnh ta được thì cái khổ cũng không thể nào ám ảnh ta.

        Giải thoát là cái tự do mình đạt được khi có khả năng buông bỏ. Không phải là cái mình tiếp nhận từ bên ngoài hay từ một vị đạo sư. Cái thấy cái hiểu của mình về giáo lý, cả những giới cấm và nghi lễ mình đang hành trì cũng không phải là giải thoát. Và vì vậy các ý niệm tội phúc, nhiễm tịnh, ân oán mình cũng buông bỏ được. Đây đã là sự hình thành của giáo lý Bát Nhã: không nhơ không sạch, không thêm không bớt, không khổ không lạc, không tội không phước.

        Bài kệ 1
        Ngã kiến tịnh vô hữu bệnh                           我  見  淨  無  有  病
        Tín  kiến đế  cập tự tịnh                              信  見  諦  及  自  淨
        Hữu tri thị tất  khả độ                                  有  知  是  悉  可  度
        khổ đoạn tập chứng tiền phục                      苦  斷  習  證  前  服


        Bài kệ 2
        Kiến hảo nhân dĩ vi tịnh                              見  好  人  以  為  淨
        Hữu tuệ hành cập ly khổ                            有  慧  行  及  離  苦
        Hiệt trừ hung kiến tịnh kính                         黠  除  凶  見  淨  徑
        Đoạn sở kiến chứng chí tịnh                       斷  所  見  證  至  淨

        Bài kệ 3
        Tùng dị đạo vô đắc thoát                              從  異  道  無  得  脫
        Kiến văn trì giới hạnh độ                              見  聞  持  戒  行  度
        Thân bất ô tội diệc phước                            身  不  污  罪  亦  福
        Tất dĩ đoạn bất tự dự                                   悉  已  斷  不  自  譽

        Bài kệ 4
        Tất khí thượng mạc niệm hậu                       悉  棄  上  莫  念  後
        Hữu thị hành độ tứ hải                                  有  是  行  度  四  海
        Trực hành khứ mạc niệm khổ                        直  行  去  莫  念  苦
        Hữu sở niệm ý tiện phược                            有  所  念  意  便  縛


        Bài kệ 5
        Thường giác ý thủ giới hạnh                         常  覺  意  守  戒  行
        Tại thượng hành tưởng bỉ khổ                      在  上  行  想  彼  苦
        Niệm bổn niệm sảo nhập hành                     念  本  念  稍  入  行
        Bất kiểu ngôn thẩm hữu hiệt                        不  矯  言  審  有  黠

        Bài kệ 6
        Nhất thiết pháp vô hữu nghi                        一  切  法  無  有  疑
        Chí kiến văn diệc sở niệm                           至  見  聞  亦  所  念
        Đế kiến văn hành lực căn                            諦  見  聞  行  力  根
        Thùy tác thế thị lục suy                               誰  作  世  是  六  衰


        Bài kệ 7
        Bất niệm thân bất niệm tôn                           不  念  身  不  念  尊
        Diệc bất nguyện hành chí tịnh                       亦  不  願  行  至  淨
        Ân oán đoạn vô sở trước                              恩  怨  斷  無  所  著
        Đoạn thế nguyện vô sở trước                        斷  世  願  無  所  著

        Bài kệ 8
        Vô sở hữu vi phạm chí                                無  所  有  為  梵  志
        Kiến văn pháp tiện trực thủ                          見  聞  法  便  直 取
        Dâm bất dâm trước ô dâm                           婬  不  婬  著  污  婬
        Dĩ vô thị đương trước tịnh                            已  無  是  當  著  淨

         

        _________________________

        Mục Lục

        Lời tựa

        Phần 1

        1. Kinh Nhiếp Phục Tham Dục (Kiệt Tham Vương Kinh)
        2. Kinh Hang Động Ái Dục (Ưu Điền Vương Kinh)
        3. Kinh Buông Bỏ Sở Tri Và Ngôn Từ (Tu Đà Lợi Kinh)
        4. Kinh Buông Bỏ Khổ Lạc Và Nhiễm Tịnh (Ma Kiệt Phạm Chí Kinh)
        5. Kinh Sự Thật Đích Thực (Kính Diện Vương Kinh)
        6. Kinh Buông Bỏ Ân Ái (Lão Thiểu Câu Tử Kinh)
        7. Kinh Xa Lìa Ái Dục (Di Lặc Nạn Kinh)
        8. Kinh Buông Bỏ Ý Muốn Hơn Thua (Dũng Từ Phạm Chí Kinh)
        9. Kinh Nhân Cách Của Một Vị Mâu Ni (Ma Nhân Đề Nữ Kinh)
        10. Kinh Đạo Lý Duyên Khởi (Dị Học Giác Phi Kinh)
        11. Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi (Mãnh Quán Phạm Chí Kinh)
        12. Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt (Pháp Quán Phạm Chí Kinh)
        13. Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản (Đâu Lặc Phạm Chí Kinh)
        14. Kinh Phòng Hộ (Liên Hoa Sắc Tỳ Khưu Ni Kinh)
        15. Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt (Phụ Tử Cọng Hội Kinh)
        16. Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi (Duy Lâu Lặc Vương Kinh)
        Phần 2 (Giảng giải kinh)

        Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt
        Kinh Xa Lìa Ái Dục
        Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi

        Kinh Buông Bỏ Sở Tri Và Ngôn Từ

        Kinh Buông Bỏ Sở Tri Và Ngôn Từ
        (Tu Đà Lợi Kinh)
        Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ ba, Đại Tạng Tân Tu 198
        tương đương với Dutthatthaka Sutta, Sutta-Nipàta 780-787

        Bối Cảnh

        Kinh này tên là kinh Tu Đà Lợi. Tu Đà Lợi (Sundari) là tên một cô gái trẻ đẹp, được một nhóm đạo sĩ Bà La Môn sai phái lui tới tu viện Kỳ Viên nơi Bụt và các thầy cư trú. Nhóm đạo sĩ này ganh tức với giáo đoàn của Bụt vì họ không còn được vua Ba Tư Nặc trọng đãi như trước. Sau đó, Tu Đà Lợi bị giết và thi thể được chôn giấu ở tu viện Kỳ Viên. Người ta vu oan là Bụt và các thầy đã giết cô gái và tạo dư luận là giáo đoàn của Bụt tu tập giả dối. Có nhiều thầy đi vào thành Xá Vệ khất thực bị tẩy chay. Bụt bảo trong bảy hôm sự thực sẽ bung ra và dân chúng sẽ thấy rõ là giáo đoàn của Bụt luôn luôn thanh tịnh. Quả nhiên bảy hôm sau thám tử của vua Ba Tư Nặc khám phá ra được âm mưu giết người và vu khống.

         

        1. Mình còn mang theo tà niệm mà cứ lo chỉ trích người khác (về những sai lầm thiếu sót của họ). Mình chỉ ham đề cao cái thấy của mình về sự thật. Khi gặp được một vị chân tu đích thực, thì mình thấy rằng vị ấy chẳng quan tâm gì tới chuyện thị phi và hơn thua cả.

        2. Làm sao sử dụng được công phu hành trì của mình để buông bỏ tham dục trong cuộc đời? Làm sao đạt tới được cái đức hạnh cao quý và vượt thoát mọi nhu yếu tranh cãi? Làm sao chế ngự được tham dục? Người ta sẽ đặt cho mình những câu hỏi (thực tế) như thế.

        3. Giả dụ có người, không ai hỏi mà tự khoe là mình giữ giới và thực tập giỏi, người ta sẽ nghi rằng người này không nói thật và không đi đúng vào con đường của đạo pháp. Vì vậy những ai muốn học hạnh sa môn phải biết lo tự tịnh hóa mình trước.

        4. Đã thực sự dừng lại rồi, và để không còn bị kẹt vào cuộc đời thế tục thì phải thường tự nhắc nhở là mình phải nắm giữ giới luật cho vững chắc. Phải có đức tin nơi đạo pháp, không nên chỉ ba hoa lo dạy đời.

        5. Giáo pháp nói lên không có gì bí hiểm mà cũng không bị hư nát. Khi giảng dạy đừng đưa cái ngã của mình lên, không nên vì vui mà dạy, vì giận mà không dạy. Phải thấy được trong sự hành trì của mình không có gì sai lạc và rơi rụng. Nếu mình không bị kẹt vào cái ý riêng của mình thì còn gì để mừng hoặc để giận?

        6. Những cái gì ta đã ngỡ là của ta, cần được buông bỏ. Những giáo pháp minh sát cần phải nắm lấy để hành trì. Nếu tha thiết muốn có lợi ích chân thực thì mình sẽ đạt được tuệ giác về không, bởi vì nhìn vào các pháp và thấy được tướng không của chúng cho nên mình biết tất cả vốn là không.

        7. Không nên vướng vào bất cứ một xứ nào (của bốn thiền về sắc giới), trong đó có vô sở hữu xứ. Hành trì mà không có ý định sinh về một trong ba cõi. Nếu tất cả những gì vô minh và điên đảo đã được đoạn trừ thì làm sao cái hành của mình lại còn mang tính cách xứ sở?

        8. Ý niệm về “có” được phá vỡ tan tành; ngôn ngữ để sử dụng giải bày cũng không còn bị vướng mắc. Đã không bị vướng mắc, đã có khả năng buông bỏ (mọi ý niệm) thì cái hành của mình sẽ có công năng đưa mình tới cái tuyệt đối không kỳ thị.


        Đại Ý

        Kinh này tuy cũng chỉ có tám bài kệ nhưng ý tứ rất sâu sắc. Câu nói: giáo pháp không có gì bí mật (che giấu) và không có gì hư nát là từ kinh này. Một vị mâu ni chân thực không quan tâm đến chuyện thị phi và đắc thất. Vị ấy không có nhu yếu tranh cãi và gặt hái tiếng khen. Vị ấy lo tự tu tự độ để có giải thoát trước, chứ không ba hoa lo dạy đời. Vị ấy có khả năng buông bỏ sở tri của mình, cho nên khi được khen không mừng mà khi bị chê cũng không giận.

        Kinh này đã nói tới tuệ giác không. Nhìn vào tướng trạng các pháp, thấy được tướng không của các pháp cho nên vị mâu ni vượt thoát được ý niệm về có và đồng thời cũng vượt được ý niệm về không như là ý niệm vô sở hữu xứ.

        Kinh này cũng đã nói tới sự phá vỡ các khái niệm trong đó có khái niệm có và khái niệm không, và nhất là đã đề cập tới ý niệm ngôn ngữ đạo đoạn, ta không nên bị kẹt vào ngôn từ.

        Cuối cùng kinh này cũng đã nói tới sự buông bỏ (xả) để đạt tới cái không còn kỳ thị.

         

        Bài kệ 1
        Tà  niệm thuyết bỉ đoản                  邪  念  說  彼  短
        Giải ý đế  thuyết thiện                    解  意  諦  說  善
        Khẩu trực thứ cập tôn                    口  直  次  及  尊
        Thiện ác xả bất ưu                         善  惡  捨  不  憂

        Bài kệ 2
        Dĩ hành đương na xả                       以  行  當  那  捨
        Khí thế dục tự tại                             棄  世  欲  自  在
        Bão chí đức bất loạn                        抱  至  德  不  亂
        Chế dục nhân sở cật                        制  欲  人  所  詰


        Bài kệ 3
        Như hữu thủ giới hành nhân              如  有  守  戒  行  人
        Vấn bất cập tiên cụ diễn                    問  不  及  先  具  演
        Hữu nghi chánh phi pháp đạo             有  疑  正  非  法  道
        Dục lai học thả tự tịnh                       欲  來  學  且  自  淨

        Bài kệ 4
        Dĩ chỉ bất câu thị thế                           以  止  不  拘  是  世
        Thường tự thuyết trước giới kiên         常  自  說  著  戒  堅
        Thị đạo pháp hiệt sở tín                       是  道  法  黠  所  信
        Bất trước ỷ hành giáo thế                    不  著  綺  行  教  世

        Bài kệ 5
        Pháp bất nặc bất hủ ngôn                   法  不  匿  不  朽  言
        Hủy tôn ngã bất hỉ khủng                    毀  尊  我  不  喜  恐
        Tự kiến hành vô tà lậu                        自  見  行  無  邪  漏
        Bất trước tưởng hà sân hí                  不  著  想  何  瞋  憙

        Bài kệ 6
        Sở ngã hữu dĩ chuyển xả                       所  我  有  以  轉  捨
        Tiên minh pháp chánh trước trì               鱻  明  法  正  著  持
        Cầu chánh lợi đắc tất không                   求  正  利  得  必  空
        Dĩ  tưởng không pháp bản không            以  想  空  法  本  空

        Bài kệ 7
        Bất trước dư vô sở hữu                        不  著  餘  無  所  有
        Hành bất nguyện tam giới sanh              行  不  願  三  界  生
        Khả minh minh tất dĩ đoạn                     可  瞑  冥  悉  已  斷
        Vân hà hành hữu xứ sở                         云  何  行  有  處 所

        Bài kệ 8
        Sở đương hữu tất liệt khứ                    所  當  有  悉  裂  去
        Sở đạo thuyết vô ái trước                     所  道  說  無  愛  著
        Dĩ  bất trước diệc khả ly                       已  不  著  亦  可  離
        Tùng hành bạt tất xả khứ                      從  行  拔  悉  捨  去

         

        _________________________

        Mục Lục

        Lời tựa

        Phần 1

        1. Kinh Nhiếp Phục Tham Dục (Kiệt Tham Vương Kinh)
        2. Kinh Hang Động Ái Dục (Ưu Điền Vương Kinh)
        3. Kinh Buông Bỏ Sở Tri Và Ngôn Từ (Tu Đà Lợi Kinh)
        4. Kinh Buông Bỏ Khổ Lạc Và Nhiễm Tịnh (Ma Kiệt Phạm Chí Kinh)
        5. Kinh Sự Thật Đích Thực (Kính Diện Vương Kinh)
        6. Kinh Buông Bỏ Ân Ái (Lão Thiểu Câu Tử Kinh)
        7. Kinh Xa Lìa Ái Dục (Di Lặc Nạn Kinh)
        8. Kinh Buông Bỏ Ý Muốn Hơn Thua (Dũng Từ Phạm Chí Kinh)
        9. Kinh Nhân Cách Của Một Vị Mâu Ni (Ma Nhân Đề Nữ Kinh)
        10. Kinh Đạo Lý Duyên Khởi (Dị Học Giác Phi Kinh)
        11. Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi (Mãnh Quán Phạm Chí Kinh)
        12. Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt (Pháp Quán Phạm Chí Kinh)
        13. Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản (Đâu Lặc Phạm Chí Kinh)
        14. Kinh Phòng Hộ (Liên Hoa Sắc Tỳ Khưu Ni Kinh)
        15. Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt (Phụ Tử Cọng Hội Kinh)
        16. Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi (Duy Lâu Lặc Vương Kinh)
        Phần 2 (Giảng giải kinh)

        Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt
        Kinh Xa Lìa Ái Dục
        Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi