Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt

Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt

(Phụ Tử Cọng Hội Kinh)
Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ 15, Đại Tạng Tân Tu 198
tương đương với Puràbheda Sutta, Sutta-Nipàta 848-861

 

 

Bối Cảnh

Đây là kinh Phụ Tử Cọng Hội. Phụ Tử Cọng Hội nghĩa là cha con gặp nhau. Khung cảnh dựng lên: Thái tử Tất Đạt Đa thuộc bộ tộc Thích Ca sau khi thành đạo, dựng lên Tăng đoàn, đã về thăm gia đình và có dịp giáo hóa cho hoàng gia cũng như cho dân chúng trong nước Ca Tỳ La. Bụt độ được cho vua Tịnh Phạn. Vua Tịnh Phạn tỏ thái độ rất cung kính đối với Bụt. Dân chúng lấy làm ngạc nhiên tại sao vua cha lại phải cung kính đứa con mình đến mức ấy. Vua mới nói cho mọi người biết nhân cách vĩ đại của con mình, ngay từ khi còn bé. Giới phụ nữ thuộc dòng họ Thích Ca tới quy y học đạo rất đông. Sau khi mọi người tiếp nhận giới pháp, Bụt dạy kinh này.

1. Đã tiếp nhận đầy đủ giới pháp, chúng con phải nhận diện như thế nào và phải nói như thế nào cho đúng về bậc có chánh kiến, bậc đã được sinh ra như một vị anh hùng trên thế gian, bậc đã vượt thoát mọi ràng buộc khổ nạn? Xin đức Gotam chỉ dạy.

    2. Đó là người đã buông bỏ được mọi hiềm hận về quá khứ, mọi thắc mắc lo âu về tương lai. Trong giây phút hiện tại, người ấy cũng không bị hệ lụy vào bất cứ gì, cũng không bị kẹt vào hư danh và sự tôn kính của kẻ khác.

      3. Không tham đắm vào tương lai, không ưu sầu về quá khứ, người ấy trên đường mình đi đã buông bỏ mọi tham cầu, mọi tà kiến, không giữ lại một tư kiến nào.

        4. Đã buông bỏ mọi sợ hãi, đã trở nên vững chãi, nuôi dưỡng được chánh tín, người ấy diệt trừ được mọi nghi nan, không tật đố, lòng hoan hỷ với những gì đang có và yêu nếp sống thảnh thơi.

          5. Có khả năng tiết chế, không tham vọng, có nhiều tuệ giác, không ganh ghét ai, không nói xấu ai, không trau chuốt bên ngoài, không nói lưỡi hai chiều, người ấy buông bỏ mọi hý luận và nghi ngờ.

            6. Tâm ý giải thoát, không đắm trước, lìa tư kiến, không thêu dệt hư vọng, bước đi an tường, người ấy có khả năng giải tỏa được mọi tranh chấp, không bị dục kéo đi, và đoạn trừ được mọi dục tưởng.

              7. Không mưu toan để đạt tới một cái gì mình muốn, cũng không lo lắng khi mình không có cái kia, người ấy không oán giận, không bị vị ngọt của ái dục sai sử.

                8. Không tự cao, thấy được tự tánh bình đẳng và vô ngã, không có mặc cảm thua người hay bằng người, biết quán chiếu, biết đình chỉ tâm ý, người ấy thấy được cái gì là thiện cái gì là ác và buông bỏ được những vọng cầu về tương lai.

                  9. Không kẹt vào cái đang xảy ra, không bị cột chân lại bất cứ ở đâu, người ấy biết quán chiếu, nhìn thẳng vào các pháp và không còn bị vướng mắc vào gì nữa. Dù trong cõi dục, cõi sắc hay cõi vô sắc cũng thế, người ấy luôn luôn sử dụng thông tuệ của mình, do đó không có gì mà không vượt thoát được.

                    10. Ái đã diệt, tâm đã tĩnh, người ấy đã vượt qua những cơn lũ lụt sầu khổ để tới bến bờ vô ưu, không còn theo đuổi tìm cầu lạc thú gì nữa trong ba cõi. Đã cởi trói, đã buông bỏ tất cả, người ấy không còn có gì để gọi là sở đắc.

                      11. Không cần con trai, không cần ruộng đất, không cần trâu bò, không cần của cải, người ấy không còn gì để nắm bắt hoặc để đuổi xua.

                        12. Dù bị đám đông công kích, phỉ báng, xúc phạm, dù có bị các vị phạm chí và sa môn chê bai, người ấy vẫn ngồi yên bất động, vẫn cứ đường mình mình đi.

                          13. Không tật đố, không xan tham, dù có được thế gian tôn kính người ấy cũng không bị vướng mắc. Người ấy không tự tôn, không tự ti, không đòi bằng người, cái gì đúng pháp thì làm, phi pháp thì bỏ.

                            14. Thấy được tự tính không, đạt tới vô cầu, vô đắc, không còn vui cái vui phàm tục của thế gian, tâm ý đã thực sự dừng lại, vị mâu ni vượt thoát thời gian, đạt tới bản môn, đi vào kiếp ngoại.

                               

                               

                              Đại Ý

                              Kinh này nói về một con người xuất gia lý tưởng. Đây là một vị mâu ni, một người thành đạt trên con đường tâm linh và trở thành một bậc thầy, một người gương mẫu cho tất cả những ai muốn sống một cuộc đời xuất trần thượng sĩ. Mâu Ni có nghĩa là người tĩnh lặng (tịch mịch), người đã đạt tới bình an, không còn nắm bắt, không còn trông ngóng, hoàn toàn thảnh thơi, không có nhu yếu phô trương.

                               

                              • Bài kệ đầu là câu hỏi về hạnh đức của một vị mâu ni.
                              • Bài kệ thứ hai: Người ấy không bị kẹt vào hư danh.
                              • Bài kệ thứ ba: Người ấy đã buông bỏ được mọi tham cầu.
                              • Bài kệ thứ tư: Người ấy biết sống tri túc, hạnh phúc, không còn sợ hãi, không còn tật đố; có khả năng sống thảnh thơi.
                              • Bài kệ thứ năm: Người ấy đã hết nghi ngờ, không còn nhu yếu lý luận.
                              • Bài kệ thứ sáu: Người ấy tâm ý giải thoát, không còn kẹt vào tư kiến, không bị ái dục lôi kéo.
                              • Bài kệ thứ bảy: Không còn trông cầu mong ước.
                              • Bài kệ thứ tám: Nắm vững được chỉ và quán, thấy được bình đẳng và vô ngã. Không còn mặc cảm.
                              • Bài kệ thứ chín: Không bị vướng vào hiện tại, không bị kẹt vào trong tam giới.
                              • Bài kệ thứ mười: Đạt tới chỗ vô ưu, giải thoát, viễn ly.
                              • Bài kệ thứ mười một: Không có nhu yếu làm sở hữu chủ của bất cứ một cơ sở nào, dù là chùa hay tu viện.
                              • Bài kệ thứ mười hai: Bất động trước mọi công kích và phỉ báng.
                              • Bài kệ thứ mười ba: Không bị sự cung kính của thế gian làm lay chuyển tâm ý.
                              • Bài kệ thứ mười bốn: Thấy được tự tính không, đã thực sự dừng lại, đã đạt tới vô đắc, đã vượt thoát thời gian, đi vào kiếp ngoại.

                               

                               

                              Bài kệ 1
                              Hữu giới cụ đương hà kiến                         有  戒  具  當  何  見
                              Vân thuyết ngôn tùng ấm khổ                      云  說  言  從  陰  苦
                              Nguyện Cồ Đàm giải thuyết thử                 願  瞿  曇  解  說  此
                              Vấn chánh ý thế hùng sanh                           問  正  意  世  雄  生

                              Bài kệ 2
                              Tiên dĩ hành khí trọng nhuế                         先  已  行  棄  重  恚
                              Diệc bất trước hậu lai nguyện                       亦  不  著  後  來  願
                              Lai hiện tại diệc bất thủ                                  來  現  在  亦  不  取
                              Diệc bất thọ tôn kính không                            亦  不  受  尊  敬  空

                              Bài kệ 3
                              Vị lai tưởng bất trước ái                                    未  來  想  不  著  愛
                              Cửu viễn tưởng diệc bất ưu                              久  遠  想  亦  不  憂
                              Hành viễn khả xả tế nhuyễn                             行  遠  可  捨  細  軟
                              Tà kiến tận thiểu vô hữu                                    邪  見  盡  少  無  有

                              Bài kệ 4
                              Dĩ khứ khủng vô úy bố                                      已  去  恐  無  畏  怖
                              Bất khả động tín vô nghi                                   不  可  動  信  無  疑
                              Vô tật tâm lạc bỉ dữ                                            無  嫉  心  樂  彼  與
                              Hành như thị ái tôn mạng                                 行  如  是  愛  尊  命

                              Bài kệ 5
                              Năng tự thủ bất đa vọng                                    能  自  守  不  多  望
                              Tự đa đắc tuệ vô tật                                          自  多  得  慧  無  嫉
                              Bất ác xú bất mô dã                                           不  惡   醜  不 嫫  冶
                              Bất lưỡng thiệt xả hí nghi                              不  兩  舌  捨  戲   疑

                              Bài kệ 6
                              Ý tất thoát vô sở trước                                    意  悉  脫  無  所  著
                              Khí tự kiến vô ỷ vọng                                    棄  自  見  無  綺  妄
                              An tường hành năng giải đối                        安  庠  行  能  解  對
                              Diệc bất dục đoạn dục tưởng                         亦  不 欲  斷  欲  想

                              Bài kệ 7
                              Bất học cầu sở lạc dục                                      不  學   求  所  樂  欲
                              Tất vô hữu diệc bất ưu                                   悉  無  有  亦  不  憂
                              Vô oán nhuế xả ái dục                                    無  怨  恚  捨  愛  欲
                              Bất vi vị sở khả sử                                           不  為  味  所  可  使

                              Bài kệ 8
                              Bất tự cao ngã vô đẳng                                   不 自  高  我  無  等
                              Đắc đối hủy hoành thủ kính                          得  對 毀  橫  取  敬
                              Đương hành quán chỉ ý niệm                           當  行  觀  止  意  念
                              Kiến thiện ác phi thứ vọng                                見  善  惡  非  次  望

                              Bài kệ 9
                              Khứ sở tại vô sở chỉ                                            去  所  在  無  所  止
                              Quán hướng pháp đương hà trước                  觀  向  法  當  何  著
                              Dục sắc không diệc vô sắc                                  欲  色  空  亦  無  色
                              Tùng hiệt kế bất dục thoát                                 從  黠  計  不  欲  脫


                              Bài kệ 10
                              Ái dĩ diệt nãi dĩ tức                                             愛  已  滅  乃  已  息
                              Tam giới không vô lạc ý                                    三  界  空  無  樂  意
                              Tất giải ly hà tùng đắc                                        悉  解  離  何  從  得
                              Đa tùng hải độ vô ưu                                          多  從  海  度  無  憂

                              Bài kệ 11
                              Bất nguyện sinh kiến hữu tử                             不  願  生  見  有  子
                              Liệt địa hành nguyện bảo tăng                         列  地  行  願  寶  增
                              Lai bất sinh khứ bất đáo                                    來  不  生  去  不  到
                              Dục hà sách tùng hà đắc                                     欲  何  索  從  何  得

                              Bài kệ 12
                              Tất vô năng thuyết đáo xứ                             悉  無  能  說  到  處
                              Chúng học sa môn du tâm                             眾  學  沙  門  遊  心
                              Tất lệnh cầu sở tại xứ                                      悉  令  求  所  在  處
                              Như xúc mạo tri như khứ                              如  觸  冒  知  如  去

                              Bài kệ 13
                              Diệc bất tật diệc vô tham                               亦  不  嫉  亦  無  貪
                              Tuy tại cao tôn bất lạc                                     雖  在  高  尊  不  樂
                              Bất lạc trung hạ bất lạc                                   不  樂  中  下  不  樂
                              Tùng pháp sinh phi pháp xả                          從  法  生  非  法  捨

                              Bài kệ 14
                              Thị tất không diệc vô hữu                             是  悉  空  亦  無  有
                              Tùng bất đắc diệc bất cầu                               從  不  得  亦  不  求
                              Mạc dục thế tà lạc nhân                                  莫  欲  世  邪  樂  人
                              Ý dĩ chỉ tiện đáo tận                                        意  已  止  便  到  盡

                              _________________________

                              Mục Lục

                              Lời tựa

                              Phần 1

                              1. Kinh Nhiếp Phục Tham Dục (Kiệt Tham Vương Kinh)
                              2. Kinh Hang Động Ái Dục (Ưu Điền Vương Kinh)
                              3. Kinh Buông Bỏ Sở Tri Và Ngôn Từ (Tu Đà Lợi Kinh)
                              4. Kinh Buông Bỏ Khổ Lạc Và Nhiễm Tịnh (Ma Kiệt Phạm Chí Kinh)
                              5. Kinh Sự Thật Đích Thực (Kính Diện Vương Kinh)
                              6. Kinh Buông Bỏ Ân Ái (Lão Thiểu Câu Tử Kinh)
                              7. Kinh Xa Lìa Ái Dục (Di Lặc Nạn Kinh)
                              8. Kinh Buông Bỏ Ý Muốn Hơn Thua (Dũng Từ Phạm Chí Kinh)
                              9. Kinh Nhân Cách Của Một Vị Mâu Ni (Ma Nhân Đề Nữ Kinh)
                              10. Kinh Đạo Lý Duyên Khởi (Dị Học Giác Phi Kinh)
                              11. Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi (Mãnh Quán Phạm Chí Kinh)
                              12. Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt (Pháp Quán Phạm Chí Kinh)
                              13. Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản (Đâu Lặc Phạm Chí Kinh)
                              14. Kinh Phòng Hộ (Liên Hoa Sắc Tỳ Khưu Ni Kinh)
                              15. Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt (Phụ Tử Cọng Hội Kinh)
                              16. Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi (Duy Lâu Lặc Vương Kinh)
                              Phần 2 (Giảng giải kinh)

                              Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt
                              Kinh Xa Lìa Ái Dục
                              Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi

                               

                              Kinh Phòng Hộ

                              Kinh Phòng Hộ
                              (Tỳ Khưu Ni Liên Hoa Sắc Kinh)
                              Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ 14, Đại Tạng Tân Tu 198
                              tương đương với Sàriputta Sutta, Sutta-Nipàta 955-975

                              Bối Cảnh

                              Đây là kinh Liên Hoa Sắc Tỳ Khưu Ni. Tỳ Khưu Ni Liên Hoa Sắc là một sư cô đã tu chứng, đã đắc quả a la hán và đã có thần thông. Khung cảnh dựng lên: Bụt lên cung trời Đao Lợi để thăm mẹ là phu nhân Mahamaya và dạy đạo cho Ngài. Chư thiên nhân dịp này được thừa hưởng sự giáo hóa của Bụt đầy đủ. Bụt ở trên ấy ba tháng. Dưới này thầy Mục Kiền Liên hướng dẫn tứ chúng tu tập. Sau ba tháng, thầy Mục Kiền Liên được tứ chúng khẩn cầu đi mời Bụt về. Bụt về đại chúng đi đón tiếp rất đông đảo. Hai giới trời và người quy tụ lại để được nghe Bụt giảng dạy và hướng dẫn thực tập. Sư cô Liên Hoa Sắc cũng có mặt tại đây. Cùng các vị hiền giả khác, sư cô đọc lên những lời tán thán đức Thế Tôn. Thầy Xá Lợi Phất cũng có dịp tán dương Bụt và sau đó đặt những câu hỏi về những khó khăn và hiểm nguy mà một vị xuất gia có thể gặp phải trên bước đường tu học. Và Bụt đã trả lời bằng kinh này.

                               

                              1.   Chưa từng thấy ai (sáng rỡ) như Bụt. Chưa từng nghe ai nói lời (tuyệt diệu) như Ngài. Từ cung trời Đao Lợi đi xuống, Đức Thế Tôn là bậc có uy lực tuyệt vời.

                              2.   Được cả hai cõi thiên và nhân ngưỡng mộ, Ngài là hiện thân của một cái thấy có khả năng soi sáng cho cõi đời đầy tục lụy và tham đắm này. Cái bình an vĩ đại của Ngài không có gì có thể lay chuyển được. Mang niềm vui, một mình Ngài đi giữa cõi thế gian.

                              3.   Con đã may mắn tìm tới được với Ngài, bậc giác ngộ, bậc vô ưu. Bậc đã lên tới đỉnh cao của sự giác ngộ và đã trở về cõi trần thế để giáo hóa. Ngài là người đã để ra bao nhiêu công phu tâm ý để đạt tới giải thoát. Đã đánh tan được dục vọng, đã thoát ra khỏi được cuộc đời ác trược. Xin Ngài ban cho chúng con một ít những giáo nghĩa tốt đẹp của Ngài.

                              4, 5.   Nếu một vị khất sĩ quyết tâm từ bỏ cuộc sống trần lụy, can đảm đi tìm tới một chỗ vắng người, dưới một gốc cây, một vùng khoáng dã, nơi rừng sâu, hoặc trong một am thất. Hoặc ở trên núi cao, tìm một chỗ để ngồi và để nghỉ lưng thì vị ấy sẽ có thể gặp những tai nạn hiểm nguy nào? Làm sao để vị ấy đừng có sợ hãi? Làm sao để vị ấy có thể thực tập mà đạt tới chỗ thoát ly sinh tử?

                              6.   Có bao nhiêu loại tai nạn và hiểm nguy của cuộc đời đang chờ đợi vị ấy? Có những dấu hiệu và âm thanh nào báo cho vị ấy biết những tai nạn và hiểm nguy kia?
                              Làm sao khi qua lại, khi nghỉ ngơi vị khất sĩ được vắng yên, không bị xáo động bởi những âm thanh vọng tới?

                              7.   Vị khất sĩ muốn đạt tới an lành cần phải nói gì? Phải làm gì cho đúng?
                              Phải trì giới như thế nào? Phải thực tập làm sao để đừng nửa chừng đánh mất sự hành trì của mình?

                              8.   Tu tập như thế nào để giới thân không bị sứt mẻ? Làm sao để khi đi thì đi một mình, không đàn đúm với ai? Làm sao để có ý chí gột sạch được u mê, để tìm cầu tuệ nhãn, giống như một người thợ rèn luyện thép, loại ra được những chất quặng dơ bên trong?

                              9.   Bụt dạy có năm cái hiểm nguy: ác thú bốn chân, sâu, muỗi, rắn rết và những con người có ý đồ không tốt. Nhưng nếu biết sống có chánh niệm và tinh cần thì vị khất sĩ sẽ không bị những thứ ấy làm hại. Vị ấy phải hết lòng tu tập, quyết tâm đừng chạy theo những cái khả ái.

                              10. Thấy những người ngoại đạo đừng để tâm tới họ. Đừng xuất hiện, đừng nói nhiều, đừng phô trương hình thức. Nếu biết quán chiếu lý vô ngã một cách sâu sắc thì có thể nhẫn xả được tất cả. Đừng ham tới lui chốn phố xá đông người.

                              11.  Đau nhức, bệnh tật, đói lạnh, những cái ấy hãy học cách chịu đựng cho quen, đừng sợ hãi chúng. Hãy sử dụng chánh tinh tiến để chống cự lại và để tự bảo hộ mình.

                              12.  Đừng chạy theo những cái vỏ quyến rũ bên ngoài. Diệt tận gốc những mầm mống của cái ác, đừng cho chúng tiếp tục. Đừng nắm bắt những cái không thể nắm bắt và cả những cái có thể nắm bắt. Đừng vướng mắc vào quá khứ, đừng trông ngóng về tương lai.

                              13.  Duy trì tâm bồ đề, nuôi lớn thiện tâm. Vượt qua hàng rào thị phi, không bao giờ nói lời thô ác. Nhẫn nhịn được những điều bất như ý. Khi đi cũng như khi ngồi thực tập bốn phép nhẫn nhục để vượt qua nhu yếu than trách.

                              14.  “Đêm nay ta sẽ ngủ ở đâu? Sáng nay ta sẽ đi khất thực ở xóm nào? Khi trong người có bệnh, làm sao cho hết bệnh, hết đau nhức?” Nếu cả ngày chỉ cứ suy nghĩ về những chuyện như thế thì thật là đáng thương. Phải biết học hỏi cách thức buông bỏ, phải biết hành trì để có thể đạt tới viễn ly.

                              15.  (Khi được cúng dường thức ăn và y dược), đừng nghĩ tới chuyện ngon hay dở, nhiều hay ít. Phải biết tiếp nhận có điều độ. Phải biết dừng lại khi nên dừng lại. Trong khi bước đi giữa thôn làng nếu nghe tiếng người chửi bới thì hãy giữ im lặng, đừng nói lời thô ác để đáp lại.

                              16.  Vị khất sĩ bước đi, hai mắt nhìn xuống, không láo liêng. Dùng thì giờ mà thực tập thiền quán, đừng ham ngủ. Quán duyên khởi, làm cho tâm ý an lành. Đình chỉ vọng niệm, đoạn trừ mọi mối nghi ngờ.

                              17.  Đừng nhận những gì không đáng nhận. Không cho những gì không đáng cho. Phải biết nhìn kẻ khác bằng con mắt từ bi, đừng nạt nộ ai. Nếu có xảy ra chuyện tranh chấp, thì biết đối xử với tâm bình đẳng. Đừng quan trọng hóa chuyện ai đúng ai sai.

                              18.  Mỗi khi bị chửi mắng, đừng nổi cơn thịnh nộ. Đừng nói nặng lời với các bạn đồng tu. Lời nói dịu dàng sẽ thấm dần vào được như nước. Đừng có ý tìm cách dìm người khác xuống.

                              19.  Nếu có ai muốn tỏ bày sự cung kính phải thực tập để đừng bị sự tôn kính ấy chạm đến mình. Sắc đẹp, tiếng hay, vị ngọt, hương thơm, cảm xúc dễ chịu, đừng để cho những cái ấy làm tổn hại đến tự thân.

                              20.  Đối với những cám dỗ, đừng để bị đắm trước. Phải biết điều phục tâm ý mới không bị vướng vào chúng. Vị khất sĩ biết sử dụng giới pháp và thiền quán để đạt tới minh tuệ. Đưa tâm chuyên về một mối để phá cho vỡ được khối vô minh đã được chứa chất từ lâu đời.

                              Đại Ý

                              Kinh này bổ túc cho kinh đi trước, nói thêm về Công Phu Thực Tập Căn Bản của người xuất sĩ. Ta thấy rất rõ ràng là thầy Xá Lợi Phất đang đặt những câu hỏi để Bụt trả lời không phải là cho thầy mà cho tất cả các vị khất sĩ đang có mặt trong lúc ấy. Ngay chính những câu hỏi này đã là những lời dạy dỗ của một vị huynh trưởng cho đàn em rồi. Ví dụ những câu hỏi trong các bài thi kệ thứ bảy và thứ tám: vị khất sĩ muốn được an ổn, cần phải nói gì? Không nên nói gì? Phải làm gì cho đúng? Phải trì giới thế nào? Làm sao để đừng bỏ cuộc nửa chừng? Làm thế nào cho giới thân không bị sứt mẻ? Làm sao để mỗi khi bước đi thì đi một mình, đừng đàn đúm với ai? Làm thế nào để loại trừ các chất độc phiền não nội tâm?

                              Những câu trả lời của Bụt rất thiết thực. Cố nhiên các loài dã thú bốn chân, rắn, rết, sâu, muỗi v.v… có thể làm hại mình, nhưng nếu có chánh niệm thì mình sẽ không bị những thứ ấy làm hại. Nhưng còn một hiểm nguy khác: đó là loài người hai chân. Có những người có ý đồ không tốt, họ không muốn cho mình tu học. Lại có những người cũng ở trong giới tu tập nhưng vì ganh tỵ, vì sợ hãi cũng muốn loại trừ mình. Đối với những tai nạn do giới “hai chân” này gây ra, thì cách thức hay nhất là đừng tranh dành với họ, “Đừng xuất hiện, đừng nói nhiều, đừng phô trương hình thức. Đừng ham tới lui chốn phố xá đông người.” Đó là lời dặn dò của Bụt trong bài thi kệ thứ mười.

                              Đã đi xuất gia thì đừng lo lắng về chuyện tối nay ngủ ở đâu, sáng mai ăn ở đâu, khi có bệnh thì ai săn sóc cho mình, khi đói lạnh thì ai lo lắng cho mình. Nếu nương vào Tăng thân và hết lòng tu tập thì mọi việc sẽ được sắp xếp, mình không cần lo lắng về những thứ ấy.

                              Đừng nắm bắt những cái không thể nắm bắt và ngay cả những thứ có thể nắm bắt. Đừng tiếc thương quá khứ, đừng trông ngóng tương lai. Đừng chạy theo cái vỏ hào nhoáng bên ngoài. Nội lời nhắn nhủ này trong bài thi kệ thứ mười hai cũng đã làm kim chỉ nam cho sự thực tập suốt đời của một vị khất sĩ.

                              Bài kệ thứ mười lăm dặn ta tiêu thụ cho có chừng mực. Phải biết dừng lại khi cần dừng lại. Gặp người chửi bới thì giữ im lặng đừng đáp lại. Như vậy sẽ có an ninh.

                              Bài kệ thứ mười sáu dặn vị khất sĩ khi bước đi hai mắt phải nhìn xuống, đừng láo liêng.

                              Bài kệ thứ bảy dạy về cách cho và cách nhận. Chỉ nhận những gì đáng nhận, cho những gì đáng cho. Phải đối xử bình đẳng, không thiên vị. Phải tập nhìn bằng mắt từ bi. Từ nhãn thị chúng sanh.

                              Bài kệ thứ mười chín dạy ta thực tập khiêm cung đừng để sự cung kính của người khác làm hại đến pháp thân của mình. Phải phòng hộ sáu căn, đừng để sắc đẹp, tiếng hay, vị ngọt, hương thơm, lạc xúc và tiếng khen kéo mình đi về nẻo hưởng thụ.

                              Cuối cùng bài kệ thứ hai mươi nhắc ta phải thực tập thiền quán để đạt tới minh tuệ, phá vỡ vô minh.

                               

                              Bài kệ 1
                              Vị thường kiến hữu thị giả        未 嘗 見 有 是 者
                              Vị thường văn hữu thuyết giả     未 嘗 聞 有 說 者
                              Tôn như thị uy thần Thiên          尊 如 是 威 神 天
                              Tùng đâu thuật lai chí thị         從 兜 術 來 至 是

                              Bài kệ 2
                              Thiên Nhân thế tất ủng hộ        天 人 世 悉 擁 護
                              Trọng ái tục như thân nhãn     重 愛 俗 如 身 眼
                              Nhất thiết an bất vi chuyển        一 切 安 不 為 轉
                              Lạc độc hành trước trung ương    樂 獨 行 著 中 央

                              Bài kệ 3
                              Vô ưu giác ngã thiện hành       無憂 覺 我 善 行
                              Đáo thượng giáo phục hoàn thế    到 上 教 復 還 世
                              Nhiêu tâm giải hoại dục thân      饒 心 解 壞 欲 身
                              Ác hành xuất hữu thiện nghĩa       惡 行 出 有 善 義

                              Bài kệ 4
                              Nhược Tỳ-kheo hữu yểm tâm     若 比 丘 有 厭 心
                              Hành hữu bại  hữu không sanh      行 有 敗 有 空  生
                              Tại thụ hạ nhược khoáng dã      在 樹 下 若 曠 野
                              Tại thâm sơn vu thất trung        在 深 山 于 室 中

                              Bài kệ 5
                              Nhược cao xứ hạ sàng ngọa     若 高 處 下 床 臥
                              Lai  khủng bố phàm kỷ bối     來 恐 怖 凡 幾 輩
                              Hành hà tùng chí  bất úy     行 何 從 志 不 畏
                              Hoặc cửu hậu sở hành xứ     或 久 後 所 行 處

                              Bài kệ 6
                              Thế kỷ bối bỉ lai thanh    世 幾 輩 彼 來 聲
                              Nhược vãng lai tại phương diện      若 往 來 在 方 面
                              Tỳ-kheo xứ bất trước ý      比 丘 處 不 著 意
                              Sở chỉ xứ  tịch vô hướng      所 止 處 寂 無 嚮

                              Bài kệ 7
                              Khẩu dĩ xuất thiện ác hưởng     口 已 出 善 惡 響
                              Tại  hành xứ đương hà tác   在 行 處 當 何 作
                              Trì giới trú hành bất xả       持 戒 住 行 不 捨
                              Tỳ-kheo học cầu an tường      比 丘 學 求 安 祥

                              Bài kệ 8
                              Vân hà học giới bất lậu     云 何 學 戒 不 漏
                              Độc tại hành thường vô bạn     獨 在 行 常 無 伴
                              Dục tẩy minh  cầu  minh  mục    欲 洗 冥 求 明  目
                              Dục  cổ  mân xuy nội cấu      欲 鼓 岷 吹 內 垢

                              Bài kệ 9
                              Ngũ khủng bố tuệ bất úy     五 恐 怖 慧 不 畏
                              Chí tâm  học viễn khả dục    至 心 學 遠 可 欲
                              Cần trách mãnh diệc thuế trùng    勤 蚱 蜢 亦 蛻 蟲
                              Nhân ác thanh tứ túc thú   人 惡 聲 四 足 獸

                              Bài kệ 10
                              Phi thân Pháp ý mạc thức    非 身 法 意 莫 識
                              Vô sắc thanh  quang vô hình    無 色 聲 光 無 形
                              Tất phi ngã tất nhẫn xả   悉 非 我 悉 忍 捨
                              Mạc văn thiện tham phụ huyền   莫  聞 善 貪 婦 縣

                              Bài kệ 11
                              Sở bị thống bất khả thân    所 被 痛 不 可 身
                              Khủng nhược các tất thọ hành     恐 若 各 悉 受 行
                              Thị  tào khổ thống nan nhẫn     是 曹 苦 痛 難 忍
                              Dĩ tinh tấn tác cự  hãn    以 精 進 作 拒 扞


                              Bài kệ 12
                              Nguyện ỷ tưởng niệm mạc tùy    願 綺 想 念 莫 隨
                              Quật ác tài căn bạt chỉ    掘 惡 栽 根 拔 止
                              Trước ái khả nhược bất khả     著 愛 可 若 不 可
                              Hữu dĩ quá hậu mạc vọng     有 已 過 後 莫 望

                              Bài kệ 13
                              Tồn hiệt tưởng thục thành thiện     存  黠  想  熟  成  善
                              Việt thị khứ tị thô thanh    越  是  去  避  麤  聲
                              Nhẫn bất lạc tọa tại hành   忍  不  樂  坐  在  行
                              Tứ khả nhẫn ai bi pháp   四  可  忍  哀  悲  法

                              Bài kệ 14
                              Thường hà chỉ  tại hà thực    常 何 止 在 何 食
                              Khủng hữu thống vân hà chỉ      恐 有 痛 云 何 止
                              Hữu thị tưởng thậm khả bi      有 是 想 甚 可 悲
                              Học tạo khí hành viễn khả      學 造 棄 行 遠 可

                              Bài kệ 15
                              Hữu vị hữu khổ lạc khổ   有 未 有 苦 樂 苦
                              Tri kỳ độ thủ  khả chỉ        知 其 度 取 可 止
                              Văn quan bế huyền quốc hành   聞 關 閉 縣 國 行
                              Thô ác thanh ưng mạc nguyện     麤 惡 聲 應 莫 願

                              Bài kệ 16
                              Cử  nhãn nhân mạc vọng chiêm      舉 眼 人 莫 妄 瞻
                              Dữ thiền hội đa mạc ngọa      與 禪 會 多 莫 臥
                              Quán nhân duyên ý an tường    觀 因 緣 意 安 祥
                              Chỉ an niệm nghi tưởng đoạn     止 安 念 疑 想 斷

                              Bài kệ 17
                              Thủ  mạc tà dữ vô khi   取 莫 邪 與 無 欺
                              Từ ai thị  mạc khủng khí       慈 哀 視 莫 恐 氣
                              Như đối kiến đẳng tâm hành      如 對 見 等 心 行
                              Minh vô minh tùng cầu  tiên    冥 無 明 從 求 鮮

                              Bài kệ 18
                              Bị ác ngữ mạc tăng ý   被 惡 語 莫 增 意
                              Cố oán ngữ ư đồng học     故 怨 語 於 同  學
                              Phóng thanh ngôn nhu nhược thủy     放 聲 言 濡 若 水
                              Quý tàm pháp thức mạc tưởng      媿 慚 法 識 莫 想

                              Bài kệ 19
                              Nhược vi bỉ kiến tôn  kính     若 為 彼 見 尊 敬
                              Hữu  hành ý ly mạc thọ      有 行 意 離 莫 受
                              Nhược sắc thanh nhược hảo vị   若 色 聲 若 好 味
                              Hương tế hoạt thị dục quyên    香 細 滑 是 欲 捐

                              Bài kệ 20
                              Ư thị pháp mạc tiết trước    於 是 法 莫 媟 著
                              Học chế ý thiện khả thoát    學 制 意 善 可 脫
                              Giới biến quán đẳng minh pháp  戒 遍 觀 等 明 法
                              Hành hữu nhất cựu khí minh      行 有 一 舊 棄 冥

                              _________________________

                              Mục Lục

                              Lời tựa

                              Phần 1

                              1. Kinh Nhiếp Phục Tham Dục (Kiệt Tham Vương Kinh)
                              2. Kinh Hang Động Ái Dục (Ưu Điền Vương Kinh)
                              3. Kinh Buông Bỏ Sở Tri Và Ngôn Từ (Tu Đà Lợi Kinh)
                              4. Kinh Buông Bỏ Khổ Lạc Và Nhiễm Tịnh (Ma Kiệt Phạm Chí Kinh)
                              5. Kinh Sự Thật Đích Thực (Kính Diện Vương Kinh)
                              6. Kinh Buông Bỏ Ân Ái (Lão Thiểu Câu Tử Kinh)
                              7. Kinh Xa Lìa Ái Dục (Di Lặc Nạn Kinh)
                              8. Kinh Buông Bỏ Ý Muốn Hơn Thua (Dũng Từ Phạm Chí Kinh)
                              9. Kinh Nhân Cách Của Một Vị Mâu Ni (Ma Nhân Đề Nữ Kinh)
                              10. Kinh Đạo Lý Duyên Khởi (Dị Học Giác Phi Kinh)
                              11. Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi (Mãnh Quán Phạm Chí Kinh)
                              12. Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt (Pháp Quán Phạm Chí Kinh)
                              13. Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản (Đâu Lặc Phạm Chí Kinh)
                              14. Kinh Phòng Hộ (Liên Hoa Sắc Tỳ Khưu Ni Kinh)
                              15. Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt (Phụ Tử Cọng Hội Kinh)
                              16. Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi (Duy Lâu Lặc Vương Kinh)
                              Phần 2 (Giảng giải kinh)

                              Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt
                              Kinh Xa Lìa Ái Dục
                              Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi

                               

                              Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản

                              Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản
                              (Đâu Lặc Phạm Chí Kinh)
                              Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ 13, Đại Tạng Tân Tu 198
                              tương đương với Tuvatake Sutta, Sutta-Nipàta 915-934

                              Bối Cảnh

                              Đây là kinh Đâu Lặc Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên: Tại thành Xá Vệ, trên đỉnh núi Lê Sơn, có hai vị quỷ vương tên là Thất Đầu Tướng Quân và Ô Ma Việt Tướng Quân, mỗi vị thống lãnh một phần đất đai. Hai vị cam kết với nhau rằng nếu vị nào khám phá ra được một cái gì có thể gọi là trân quý thì phải báo cho vị kia. Ô Ma Việt phát hiện một bông sen ngàn cánh lớn như bánh xe màu hoàng kim. Cùng với năm trăm thuộc hạ, vị này tới báo tin cho Thất Đầu. Trong khi đó Thất Đầu đã phát hiện ra được sự có mặt của Bụt. Ông ta đọc một bài kệ dài trên sáu mươi câu để ca tụng Bụt rồi mời Ô Ma Việt với thuộc hạ cùng đi với mình tới thăm Bụt. Trong khi gặp gỡ, có một vị Phạm Chí tên là Đâu Lặc còn chưa rõ về giáo lý và sự thực tập của Bụt. Bụt liền nói kinh này.

                               

                              1. Con xin hỏi bậc thiền giả, bậc thầy tâm linh: Một vị khất sĩ làm sao đạt tới sự lặng lẽ? Làm sao để có được sự mãn nguyện và niềm vui lớn?  Vị ấy học hỏi, tu tập như thế nào để chứng nhập được niết bàn và hoàn toàn không còn nắm bắt gì nữa trong cuộc đời?

                              2.   Người ấy trước hết phải thấy rằng gốc rễ của mọi ham muốn là tin tưởng vào sự hiện hữu của một cái bản ngã. Từ tri giác sai lầm về bản ngã ấy mà biết bao nhiêu loạn động phát sinh. Nếu trong tâm ái dục đang còn thì bên ngoài còn có nhiều đổ vỡ. Phải luôn luôn thực tập cảnh giác chánh niệm về điều này.


                              3.   Đừng thấy mình hơn người, thua người hoặc bằng người. Mỗi khi được thiên hạ xưng tụng và khen ngợi, đừng để cho tâm ngạo mạn cống cao phát sinh.

                              4.   Đừng kẹt vào cái sở tri và cái mình đã học hỏi. Phải quán chiếu cả bên trong lẫn bên ngoài. Cần nỗ lực tinh tiến hành trì. Không nắm bắt gì, và không thấy có gì cần nắm bắt.

                              5.  Phải làm chủ được mình, phải thực hiện cho được sự bình an nội tâm. Cái bình an ấy không thể tiếp nhận được từ kẻ khác. Do sự thực tập quán chiếu bên trong mà tâm ý yên tĩnh lại được. Cái yên tĩnh ấy không tới từ bên ngoài.

                              6.   Nên an trú trong hiện tại như an trú trong chiều sâu của biển cả. Ở đó có sự bình an, không hề có sóng gió. Sống tĩnh lặng, tất cả năm uẩn đều được làm cho lắng dịu. Đừng để cho tâm ý và các giác quan bị kích động.

                              7.   Phải phát tâm cầu mong chứng đạt cho được con mắt của trí tuệ lớn. Tự mình chứng đạt và giúp cho kẻ khác chứng đạt. Phải nuôi dưỡng, chế tác đức từ bi và bao dung. Phải thực tập, quán chiếu và tập trung cho tới mức vững chãi.

                              8.  Con mắt đừng nhìn láo liêng bên này bên kia. Không ham nói nhiều, không mất thì giờ nghe những câu chuyện đàm tiếu. Không chạy theo vị ngọt của tham dục. Không có nhu yếu làm sở hữu chủ của bất cứ một cái gì trong cuộc đời.

                              9.  Phải có chánh niệm về những xúc tiếp của cảm quan. Đừng để nẩy sinh ra tâm ý đau buồn. Đừng để nẩy sinh ra tâm ý ham muốn. Đừng để nẩy sinh tâm giận hờn và tâm sợ hãi.

                              10. Khi được cúng dường thức ăn, thức uống và những vật dụng khác như quần áo, thuốc men… phải tiếp nhận vừa đủ nhu cầu của mình, đừng có tâm chất chứa để dành cho mai sau. Phải biết dừng lại, đừng để cho lòng tham kéo đi.

                              11. Phải siêng năng thực tập thiền định, ưa ngồi trong rừng cây. Đừng đi vào những nơi đám đông tụ họp, vào chốn hý trường tiêu khiển. Khi ngồi cũng như khi nằm, chọn nơi yên tĩnh và đem hết tâm lực mà hành trì.

                              12. Đừng ngủ nhiều, phải học hỏi và tu tập cho nghiêm túc. Đừng lơ là, cũng không nên bi quan. Không đánh mất thì giờ trong các cuộc vui rộn ràng. Những gì mà kẻ thế gian ưa chuộng và chạy theo, mình đều buông bỏ.

                              13. Không thực tập phù phép, bùa chú, đoán mộng. Không bói toán, chấm số tử vi, đoán vận mạng, đoán điềm tốt xấu. Không cầu tự, không làm thầy địa lý, không kết nghĩa với người thế gian.

                              14. Không mua bán, không tạo lãi. Không hùn vốn để kiếm lợi tức. Gặp gỡ người trong xóm làng, đừng đi theo họ với mục đích mưu cầu lợi dưỡng.

                              15. Đừng vừa đi vừa nói chuyện. Không được nói lưỡi hai chiều. Suốt một đời tu chỉ nhắm tới sự nghiệp tuệ giác. Hành trì giới luật đừng để sơ suất, kể cả những giới điều nhỏ nhặt.

                              16. Có ai cật vấn, đừng ngại ngùng. Có ai tôn kính, đừng nói lời đại ngôn. Đừng tham lam, đừng tật đố. Đừng nói lưỡi hai chiều, đừng giận dữ hoặc buồn phiền.

                              17. Không nói những lời thô, lậu, tà vọng. Đừng làm điều gì có thể gây ra thù oán. Những điều sai quấy đừng bắt chước làm theo. Phải biết hổ thẹn, phải đừng tự hào.

                              18. Khi nghe những lời thô ác, không dễ thương của những bạn đồng tu hoặc của người thế tục nên giữ im lặng. Đừng tham dự vào. Cũng đừng phản ứng bằng những lời nói tương tự.

                              19. Đã có cơ duyên gặp được chánh pháp của bậc Như Lai thì phải để hết tâm ý hành trì, đừng ham vui nữa. Nên thực tập hết lòng theo lời Gotama chỉ dạy để đạt tới cái yên tĩnh của niết bàn.

                              20. Nuôi lớn tuệ giác, chánh pháp không bao giờ lãng quên. Phải tập thấy được chân lý bằng con mắt của chính mình. Vị khất sĩ luôn luôn thực tập theo tuệ giác của đức Như Lai mà không chạy theo những cái hào nhoáng bên ngoài của thế gian nữa.

                              Đại Ý

                              Kinh này là một kinh rất quý đối với người xuất gia vì trong kinh Bụt chỉ dạy rất cặn kẽ và rất thiết thực về công phu thực tập hằng ngày của một vị xuất gia chân chính. Mỗi bài thi kệ là một viên ngọc bích. Có cả thảy là hai mươi bài thi kệ. Kinh này đáng để cho tất cả mọi người xuất gia học thuộc lòng. Kinh này đích thực là cẩm nang của người xuất gia.

                              • Bài thi kệ thứ nhất là câu hỏi. Tu tập như thế nào để buông bỏ được mọi nắm bắt và thực chứng được niết bàn?
                              • Bài thứ hai: Phải thực tập chánh niệm để thực chứng được vô ngã, và do đó mới nhổ được gốc rễ của ái dục.
                              • Bài thứ ba: Đã thấy được vô ngã thì ba loại mặc cảm hơn người thua người và bằng người sẽ được tiêu tán.
                              • Bài thứ tư: Vượt sở tri chướng, đừng ôm chặt kiến thức mình có.
                              • Bài thứ năm: Phải có an mới có lạc. Bình an thật sự đến từ bên trong.
                              • Bài thứ sáu: Phải an trú trong hiện tại mới thật sự có bình an. Phải biết cách thực tập chỉ và quán để làm lắng dịu thân và tâm.
                              • Bài thứ bảy: Trái tim của sự thực tập là giới, định và tuệ. Tam học chế tác và nuôi dưỡng tình thương.
                              • Bài thứ tám: Mắt đừng nhìn láo liêng, miệng đừng ham nói nhiều, không chạy theo vị ngọt của tham dục, đừng tìm cách làm sở hữu chủ của bất cứ một cái gì (như một cái hội hay một cái chùa).
                              • Bài thứ chín: Hộ trì sáu căn, đừng để phát sinh tâm hành đau buồn, đam mê và sợ hãi.
                              • Bài thứ mười: Tiêu thụ vừa đủ, có chừng mực.
                              • Bài thứ mười một: Đừng tìm tới những đám đông, những nơi náo nhiệt.
                              • Bài thứ mười hai: Đừng ngủ nhiều, để thì giờ mà học hỏi tu tập. Đừng đánh mất thì giờ trong những cuộc vui rộn ràng.
                              • Bài thứ mười ba và mười bốn: Không sống bằng tà mạng.
                              • Bài thứ mười lăm: Phải thực tập chánh ngữ, ái ngữ.
                              • Bài thứ mười sáu, mười bảy và mười tám: Phải thực tập khiêm cung, tàm quý.
                              • Bài thứ mười chín và hai mươi: Phải tiếp cận chân lý bằng kinh nghiệm của mình chứ không nên vay mượn kiến thức của kẻ khác.

                               

                               

                              Bài k 1
                              Nguyện vấn hiền Thần du viết   願 問 賢  神  俞 曰
                              Viễn khả tĩnh đại  hỉ túc    遠 可 靖 大 喜 足
                              Tùng hà kiến học đắc diệt   從 何 見 學 得 滅
                              Tất bất thọ thế sở hữu   悉 不 受 世 所 有

                              Bài kệ 2
                              Bổn thị dục đa hiện ngã     本  是  欲  多  現  我
                              Tùng nhất ỷ tiện tất loạn     從  一  綺  便  悉  亂
                              Sở khả hữu nội ái dục        所  可  有  內  愛  欲
                              Tùng hóa  hoại  thường giác thức    從  化  壞  常  覺  識

                              Bài kệ 3
                              Mạc dụng thị tiện tự kiến     莫 用 是 便 自 見
                              Bất cập giảm nhược dữ đẳng   不 及 減 若 與 等
                              Tuy kiến dự chúng sở xưng      雖 見 譽 眾 所 稱
                              Mạc cống cao quyết bỉ trú      莫 貢 高 蹶 彼 住

                              Bài kệ 4
                              Như sở Pháp vi dĩ tri      如 所 法 為 已 知
                              Nhược tại nội nhược tại ngoại      若 在 內 若 在 外
                              Cường lực tiến sở tại tác     強 力 進 所 在 作
                              Vô sở đắc thủ vô hữu    無 所 得 取 無 有

                              Bài kệ 5
                              Thả tự thủ hành cầu diệt   且  自  守  行  求  滅
                              Học mạc tùng bỉ cầu diệt    學  莫  從  彼  求  滅
                              Dĩ nội hành ý trước diệt      以  內  行  意  著  滅
                              Diệc bất nhập tùng hà hữu   亦  不  入  從  何  有

                              Bài kệ 6
                              Tại xứ như hải trung ương   在  處  如  海  中  央
                              Vô triều ba an bình chánh      無  潮  波  安 平  正
                              Nhất thiết chỉ trụ diệc nhĩ    一  切  止  住  亦  爾
                              Giác mạc tăng thức dữ  ý      覺  莫  增  識  與  意

                              Bài kệ 7
                              Nguyện tác Đại Tuệ nhãn thị    願 作 大 慧 眼 視
                              Dĩ chứng Pháp phục hiện bỉ     已 證 法 復 現 彼
                              Nguyện tác quang nhân thiện  thứ   願 作 光 仁 善 恕
                              Chư kiểm thức tùng trí định    諸 撿 式 從 致 定

                              Bài kệ 8
                              Thả  nhiếp nhãn tả hữu trước    且 攝 眼 左 右 著
                              Bất thọ ngôn quan bế thính   不 受 言 關 閉 聽
                              Giới sở vị  mạc tham trước    戒 所 味 莫 貪 著
                              Ngã vô sở thế sở hữu     我 無 所 世 所 有

                              Bài kệ 9
                              Thân sở hữu nhược thô tế    身 所 有 若 麤 細
                              Mạc hoàn niệm tác bi tư      莫 還 念 作 悲 思
                              Sở khả niệm tiện sanh nguyện     所 可 念 便 生 願
                              Hữu lai khủng tuệ mạc úy      有 來 恐 慧 莫 畏


                              Bài kệ 10
                              Sở đắc lương cập ẩm  tương    所 得 糧 及 飲 漿
                              Sở đương dụng nhược y bị     所 當 用 若 衣 被
                              Thủ túc chỉ mạc lự hậu       取 足 止 莫 慮 後
                              Tùng thị chỉ dư mạc tham     從 是 止 餘 莫 貪

                              Bài kệ 11
                              Thường hành định lạc thọ gian   常 行 定 樂 樹 間
                              Xả thị lý vô hí phạm    捨 是 理 無 戲 犯
                              Nhược tại tọa nhược tại ngọa     若 在 坐 若 在 臥
                              Nhàn tĩnh xứ học lực hành     閑 靜 處 學 力 行

                              Bài kệ 12
                              Mạc tự oán quyên thùy ngọa    莫 自 怨 捐 睡 臥
                              Tại  học hành thường nghiêm sự   在 學 行 常 嚴 事
                              Khí ám hốt cập hí hư   棄 晻 忽 及 戲 譃
                              Dục thế hảo tất viễn ly     欲 世 好 悉 遠 離

                              Bài kệ 13
                              Xả binh tạc hiểu giải mộng    捨  兵  鑿  曉  解  夢
                              Mạc quán túc thiện ác hiện   莫  觀  宿  善  惡  現
                              Mạc hiện tuệ ư bào thai      莫  現  慧  於  胞  胎
                              Tất mạc tạc khả thiên thân   悉  莫  鑿  可  天  親

                              Bài kệ 14
                              Mạc tạo tác ư mại  mãi    莫 造 作 於 賣 買
                              Mạc ư bỉ hành khi lợi    莫 於 彼 行 欺 利
                              Mạc tác tham chỉ huyền quốc  莫 作 貪 止 縣 國
                              Mạc tùng bỉ cầu dục lợi   莫 從 彼 求 欲 利

                              Bài kệ 15
                              Mạc lạc hành bất thành thuyết   莫 樂 行 不 誠 說
                              Tất mạc hành lưỡng diện từ    悉 莫 行 兩 面 辭
                              Tận thọ cầu tuệ sở hành   盡 壽 求 慧 所 行
                              Cụ trì giới mạc khinh lậu    具 持 戒 莫 輕 漏

                              Bài kệ 16
                              Hoành lai cật mạc khởi khủng   橫 來 詰 莫 起 恐
                              Kiến tôn kính mạc đại  ngữ   見 尊 敬 莫 大 語
                              Sở tham khí bất khả tật       所 貪 棄 不 可 嫉
                              Xả lưỡng thiệt nhuế bi Pháp    捨 兩 舌 恚 悲 法

                              Bài kệ 17
                              Sở dục ngôn học tham trước   所 欲 言 學 貪 著
                              Mạc xuất thanh thô tà lậu     莫 出 聲 麤 邪 漏
                              Vô tu tàm mạc tùng học     無 羞 慚 莫 從 學
                              Sở thí hành mạc thủ oán    所 施 行 莫 取 怨

                              Bài kệ 18
                              Văn thô ác bất thiện thanh     聞 麤 惡 不 善 聲
                              Tùng đồng học nhược phàm nhân     從 同 學 若 凡 人
                              Thiện quan bế mạc dữ đồng     善 關 閉 莫 與 同
                              Tuệ phản ưng bất quá thân         慧 反 應 不 過 身

                              Bài kệ 19
                              Tri Như Lai đế dĩ chánh   知 如 來 諦 已 正
                              Bất hí tác trước ý tác     不 戲 作 著 意 作
                              Tùng yến tịnh kiến dĩ diệt    從 宴 淨 見 已 滅
                              Bất hí nghi Cồ Đàm giáo      不 戲 疑 瞿 曇 教

                              Bài kệ 20
                              Tự trí tuệ bất vong Pháp  自 致 慧 不 忘 法
                              Chứng Pháp vô số dĩ kiến  證 法 無 數 已 見
                              Thường tùng tuệ Như Lai học 常 從 慧 如 來 學
                              Hảo bất trước tùng thị tuệ   好 不 著 從 是 慧

                              _________________________

                              Mục Lục

                              Lời tựa

                              Phần 1

                              1. Kinh Nhiếp Phục Tham Dục (Kiệt Tham Vương Kinh)
                              2. Kinh Hang Động Ái Dục (Ưu Điền Vương Kinh)
                              3. Kinh Buông Bỏ Sở Tri Và Ngôn Từ (Tu Đà Lợi Kinh)
                              4. Kinh Buông Bỏ Khổ Lạc Và Nhiễm Tịnh (Ma Kiệt Phạm Chí Kinh)
                              5. Kinh Sự Thật Đích Thực (Kính Diện Vương Kinh)
                              6. Kinh Buông Bỏ Ân Ái (Lão Thiểu Câu Tử Kinh)
                              7. Kinh Xa Lìa Ái Dục (Di Lặc Nạn Kinh)
                              8. Kinh Buông Bỏ Ý Muốn Hơn Thua (Dũng Từ Phạm Chí Kinh)
                              9. Kinh Nhân Cách Của Một Vị Mâu Ni (Ma Nhân Đề Nữ Kinh)
                              10. Kinh Đạo Lý Duyên Khởi (Dị Học Giác Phi Kinh)
                              11. Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi (Mãnh Quán Phạm Chí Kinh)
                              12. Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt (Pháp Quán Phạm Chí Kinh)
                              13. Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản (Đâu Lặc Phạm Chí Kinh)
                              14. Kinh Phòng Hộ (Liên Hoa Sắc Tỳ Khưu Ni Kinh)
                              15. Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt (Phụ Tử Cọng Hội Kinh)
                              16. Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi (Duy Lâu Lặc Vương Kinh)
                              Phần 2 (Giảng giải kinh)

                              Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt
                              Kinh Xa Lìa Ái Dục
                              Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi

                               

                              Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt

                              Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt
                              (Pháp Quán Phạm Chí Kinh)

                              Nghĩa Túc Kinh, Kinh thứ 12, Đại Tạng Tân Tu 198
                              (tương đương với
                              Mahàviyùha Sutta,Sutta-Nipàta 895-914)

                               

                              Bối cảnh

                              Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một: Trong pháp hội lớn tại thành Ca Tỳ La Vệ có 500 vị khất sĩ tham dự, có cả sự có mặt của các thiên thần, địa thần mười phương, và bốn vị thiên vương, vị Phạm Chí Pháp Quán có mặt đang nghi ngờ về đạo lý duyên khởi, cho nên nhân đó Bụt nói kinh này.

                              1.   Khi đã bị kẹt vào cái thấy của mình rồi thì người ta ưa tuyên bố: “đây mới thật là chân lý.” Cái xảy ra sau đó hoặc là bị mọi người chống đối, hoặc được mọi người khen ngợi.


                              2.  Ít ai biết hổ thẹn về cái thấy còn thiếu sót của mình. Ít ai thấy rằng tranh cãi thường đưa tới một trong hai hậu quả ấy (một là hơn, một là thua). Vậy ta nên nhổ tận gốc cái ý muốn tranh cãi để thực tập mà đạt cho tới cái bình an, nơi đó không còn (nhu yếu) tranh cãi nữa.


                              3.  Tất cả các pháp đều có thể tính bình đẳng, giống như mặt đất. Chưa nếm trải được điều đó thì phải tìm cách thực chứng cho được. Nếu không thấy được cái nền tảng bình đẳng ấy thì làm sao có thể sống chung an lạc với nhau? Và làm sao để những gì mình thấy, nghe và nói không đem lại tranh chấp?

                              4.  Ham được người ta khen ngợi là nguyên nhân khiến cho kẻ khác không ưa thích mình. Kẹt vào những gì mình thấy và nghe, vướng vào nhận thức và lề thói tranh chấp lưỡng nguyên, những kẻ này ai có thể giúp cho họ sáng mắt ra được? Ái dục chưa được đoạn trừ, những kẻ ấy sẽ phải còn tiếp tục trong vòng luân hồi sinh tử.


                              5.  Nghĩ rằng sử dụng những cấm giới và nghi lễ mà mình đang hành trì sẽ đem lại cho mình sự thanh tịnh, nghĩ rằng mình đã khám phá và nắm được chân lý, người kia chưa thực sự đạt tới tịnh hóa, người ấy chỉ có chủ tâm gặt hái tiếng ngợi khen của thế gian


                              6.  Không có tuệ giác mà đi tìm sự hành trì, đó là nguyên nhân đưa tới bao lầm lỡ, cũng như đi tìm sự thanh tịnh nơi sự học hỏi các chủ thuyết thì tự mình đánh mất giáo nghĩa chân thật và tiếp tục đi vào cái khổ của sinh tử.

                              7. Không nỗ lực trong công phu hành trì thật sự, khi mà cái hiểu và cái làm chỉ còn nằm trong phạm vi tư duy, thì người ta không thể chấm dứt được sinh tử luân hồi. Tuệ giác đối với người ấy chỉ là những lý thuyết.

                              8. Buông bỏ tất cả những lễ nghi và cấm giới, buông bỏ tất cả mọi ý niệm về tội và phúc, thanh tịnh và ô nhiễm, lúc đó vị hành giả mới không còn bị vướng vào những lo lắng u sầu về vấn đề thanh tịnh và nhiễm ô.

                              9.  Nói rằng tu theo phép này là tốt nhất, và ai không tu tập theo phép này đều là những người đang lầm đường, những người đã đi lạc quá xa, nói như thế thì sẽ gây tranh chấp biến loạn. Ai cũng chỉ nhân danh chân lý để đi tìm kiếm chút lợi danh trong cuộc đời.

                              10.  Cho giáo lý của mình là toàn hảo, và các giáo lý khác đều còn thô lậu và có nhiều khiếm khuyết, không có giáo lý nào so được với giáo lý của mình, đó là lý do sinh ra tranh chấp và thù oán. Ai cũng có khuynh hướng muốn nói rằng cái thấy và cái hành trì của mình là cách thức duy nhất giữ cho mình không bị sa đọa vào ô nhiễm.


                              11.  Ai cũng cho chủ thuyết của mình là hay nhất, không có giáo pháp nào có lợi lạc bằng, không có nguồn tuệ giác nào khác có thể đem tới sự tịnh hóa như nguồn tuệ giác của mình. Chính vì thế mà người ta bị kẹt cứng vào cái chủ thuyết của chính mình không thoát ra được.

                              12.  Mỗi người tự tôn sùng cái chủ thuyết của mình, cho đó là điểm cao nhất của sự học hỏi, đã từng được chính bậc đạo sư đích thân diễn giải. Sự thật là chủ thuyết kia chỉ là một lý thuyết suông, không phải là một pháp môn thực tập. Trong khi đó, sự tịnh hóa chỉ có thể xảy ra khi người ta hết lòng hành trì.


                              13.  Kẻ này nói sự thật là cái này, kẻ kia nói sự thật là cái kia, và cái thấy nào cũng có thể là đúng, cũng có thể là sai. Nhưng một khi đã bị kẹt vào cái thấy của mình rồi thì người ta dễ gây thù oán với kẻ khác. Lý do là khi mình đã cố chấp cho cái thấy của mình là cao nhất thì mình luôn luôn nói giọng tự cao tự đại.

                              14.Chấp nhận và vướng vào một chủ thuyết, cho rằng nhờ đó mà mình đã được giải thoát, tâm ý tuy có tin tưởng vào điều này nhưng trên thực tế chẳng có cái giải thoát thực sự nào xảy ra cả. Lý do là tại mình chỉ biết nói cho hay, và cái chủ thuyết kia chưa bao giờ đem lại sự giải thoát cho mình cả.


                              15.  Hãy quán sát người đời đang kẹt vào tâm (ý niệm) và vật, đang lấy trí năng của họ để tìm hiểu về hai cái ấy. Dù ta có tìm hiểu được bao nhiêu về hai cái ấy thì cũng không phải nhờ thế mà ta được thanh tịnh và chuyển hóa.

                              16.  Có được một pháp môn thực tập có công năng đưa tới tuệ giác thì mình không còn bị hệ lụy (vào bất cứ một chủ thuyết nào). Cái thấy và cái biết (của mình), mình cũng không bị vướng mắc vào đó. Không đi tìm cái khuyết điểm của người, chỉ lo hành trì cho đúng pháp, người hành giả vượt qua mọi tranh cãi, không chấp nhận tham dự vào bất cứ một cuộc tranh cãi nào.

                              17.  Thực tập quán chiếu cho đến nơi đến chốn, không đi theo một học thuyết nào, không chấp chặt một ý thức hệ nào, như đóng chặt tất cả các cánh cửa để phòng ngự mọi tham đắm, người hành giả chỉ thực tập quán chiếu mà không đi tìm những lý thuyết hấp dẫn kỳ lạ.  

                              18.  Bậc Mâu Ni đã buông bỏ được tất cả những gì mà người đời thường hay nắm bắt, không còn lận đận với sở thủ và sở sinh (đối tượng nắm bắt và đối tượng trở thành). Vị ấy không chọn lựa một quan điểm hay đi theo một phe phái nào trong những cuộc tranh chấp và cảm thấy thanh thản tự tại giữa đám quần chúng phàm tục đang buồn khổ và oán ghét nhau.

                              19.  Đã buông bỏ những ham muốn ngày xưa, và không đang xây dựng một ham muốn mới nào, vị ấy không còn cầu mong gì nữa, và do đó sẽ không còn vướng bận gì nữa. Vị ấy đã thoát ra khỏi mọi tín ngưỡng sai lạc, đã dũng mãnh bước qua, đã vượt thoát thời gian, đi vào kiếp ngoại.

                              20.  Vị ấy không còn nghi nan gì nữa đối với tất cả các chủ thuyết, không còn bị kẹt vào bất cứ một cái gì đã nghe, đã thấy và đã nghĩ. Sau khi buông bỏ được gánh nặng, vị Mâu Ni đã thực sự giải thoát, không còn mong mỏi một cái gì nữa cả, hoặc cho quá khứ hoặc cho tương lai.

                              Đại Ý

                              Kinh này nối tiếp đề tài kinh thứ mười một và cũng nói về những tai hại do sự nắm bắt chân lý gây ra. Nhưng kinh cũng đưa ta đi xa hơn.

                              Người xuất sĩ phải quyết tâm diệt trừ ái dục, đừng để vướng vào nhận thức lưỡng nguyên và tranh chấp lưỡng nguyên. Đừng để thì giờ đi tìm và gặt hái tiếng khen ngợi của thế gian. Đó là tinh yếu của các bài thi kệ thứ tư và thứ năm của kinh. Muốn vượt thoát cái thấy nhị nguyên, phải quán chiếu về tính bình đẳng của vạn pháp để thấy được ta trong người, người trong ta, cái này trong cái kia, cái kia trong cái này. Chứng nghiệm được thể tính bình đẳng của vạn pháp sẽ không còn nhu yếu tự hào và tranh cãi. Đừng vướng vào bất cứ một chủ thuyết nào, một tư kiến nào, vì tất cả đều là lý thuyết suông, không phải là pháp môn thực tập. Không có công năng giúp ta chuyển hóa và trị liệu. Đó là thông điệp của bài thi kệ thứ mười hai.

                              Vị mâu ni là người buông bỏ được mọi nắm bắt bởi vì vị ấy thấy được chân lý không phải là một đối tượng có thể nắm bắt. Vị mâu ni cũng không mong cầu trở thành, bởi vì thấy được rằng không có đối tượng trở thành. Cũng như sóng đã là nước, sóng không cần đi tìm để nắm bắt nước, để trở thành nước. Vị mâu ni buông bỏ mọi trông cầu, dù là trông cầu vượt thoát sinh tử. Bởi vì vị ấy đã thoát ra khỏi mọi tín ngưỡng sai lạc, trong đó có ý niệm kiếp này và kiếp sau. Bởi vì vị ấy đã thoát ra được ý niệm thời gian, đi vào kiếp ngoại. Đây là chất liệu của giáo lý buông bỏ bốn ý niệm ngã, nhân, chúng sinh và thọ giả của kinh Kim Cương và giáo lý thọ mạng vô lượng của kinh Pháp Hoa  sau này.

                              Vị mâu ni là người đã buông bỏ được mọi gánh nặng, nhất là gánh nặng trông cầu.

                               

                              Bài kệ 1
                              Như nhân duyên kiến hữu ngôn    如  因  緣  見  有  言
                              Như dĩ thủ tất thuyết thiện    如  已  取  悉  說  善
                              Nhất thiết bỉ ngã diệc khinh    一 切 彼 我 亦 輕
                              Diệc hoặc trí tại thiện duyên    亦 或 致 在 善 緣

                              Bài kệ 2
                              Thiểu tự tri hữu tàm tu   少  自  知  有  慚  羞
                              Tranh biến bổn thuyết lưỡng quả   諍  變  本  說  兩  果
                              Kiến như thị xả  biến bổn   見 如 是 捨 變 本
                              Nguyện  quán an  vô biến    xứ 願 觀 安 無 變 處

                              Bài kệ 3
                              Nhất thiết bình diệc như địa    一 切 平 亦 如 地
                              Thị vị thường đương kiến đẳng    是 未 嘗 當 見 等
                              Bổn bất đẳng tùng hà đồng    本  不  等  從  何  同
                              Kiến văn thuyết mạc tác biến    見  聞  說  莫  作  變

                              Bài kệ 4
                              Ỷ trước thị chúng khả ác    猗 著 是 眾 可 惡
                              Khả kiến văn diệc sở niệm    可 見 聞 亦 所 念
                              Vũ xuất tịnh thùy vi minh    雨 出 淨 誰 為 明
                              Ái vị trừ thân phục thân    愛 未 除 身 復 身

                              Bài kệ 5
                              Dĩ giới nhiếp sở phạm tịnh    以 戒 攝 所 犯 淨
                              Hành đế tường dĩ cụ trú    行  諦  祥  已  具  住
                              Ư thị ninh kinh chí tịnh    於  是  寧  經  至  淨
                              Khả khủng thế tại thiện thuyết    可 恐 世 在 善 說

                              Bài kệ 6
                              Dĩ ly đế cánh cầu hành    已  離  諦  更  求  行
                              Tất tùng tội nhân duyên thọ    悉  從  罪  因  緣  受
                              Diệc như thuyết lực cầu tịnh    亦 如 說 力 求 淨
                              Tự nghĩa  thất sanh tử khổ    自 義 失 生 死 苦

                              Bài kệ 7
                              Hành lực cầu diệc bất thuyết    行 力 求 亦 不 說
                              Nhãn như hành diệc tư duy    眼 如 行 亦 思 惟
                              Tử sanh vô tận tùng thị    死 生 無 盡 從 是
                              Như thị tuệ  diệc như thuyết    如 是 慧 亦 如 說

                              Bài kệ 8
                              Giới bỉ hành nhất thiết xả    戒  彼  行  一  切  捨
                              Tội diệc phước xả viễn khứ    罪 亦 福 捨 遠 去
                              Tịnh diệc cấu bất niệm giác    淨  亦  垢  不  念  覺
                              Vô triêm ô tịnh ai  thọ    無 沾 污 淨 哀 受

                              Bài kệ 9
                              Tu thị pháp độ bỉ nhất    修  是  法  度  彼  一
                              Thuyết vô hành vi viễn khi    說  無  行  為  遠  欺
                              Thọ như thị tiện tăng biến    受  如  是  便  增  變
                              Các nhân đế thế tà lợi    各 因 諦 世 邪 利

                              Bài kệ 10
                              Tự sở Pháp tiện xưng cụ   自  所  法  便  稱  具
                              Kiến bỉ Pháp cật vi lậu    見  彼  法  詰  為  漏
                              Vô đẳng hành chuyển tướng oán    無  等 行  轉  相   怨
                              Tự kiến  hành bất tùy ô    自  見  行  不  隨  污

                              Bài kệ 11
                              Phàm sở thuyết hiệt đại khủng    凡 所 說 黠 代 恐
                              Vô ư pháp hữu sở ích    無 於 法 有 所 益
                              Vô tuệ chúng  dị thuyết  tịnh    無 慧 眾 異 說 淨
                              Sở  hệ  trước trú các kiên    所 繫 著 住 各 堅

                              Bài kệ 12
                              Các tôn Pháp như văn chỉ    各  尊  法  如  聞  止
                              Diễn như giải tự sư thuyết    演  如  解  自  師  說
                              Vô Pháp hành đãn hữu ngôn    無  法  行  但  有  言
                              Bỉ sở tịnh nhân nhất tâm    彼  所  淨  因  一  心

                              Bài kệ 13
                              Ngôn như thị bỉ diệc thuyết    言  如  是  彼  亦  說
                              Nhất sở kiến tùng tịnh đọa    一  所  見  從  淨  墮
                              Tiện tự kiến oán sở tác    便 自 見 怨 所 作
                              Tọa  thắng  tuệ  tự đại thuyết   坐 勝 慧 自 大 說

                              Bài kệ 14
                              Sở nhiếp trước cầu tiện thoát     所 攝 著 求 便 脫
                              Niệm sở tín vô sở trú    念 所 信 無 所 住
                              Bổn sở nhân  tại  hảo  thuyết    本 所 因 在 好 說
                              Tịnh hạnh tại  bỉ vị trừ    淨 行 在 彼 未 除

                              Bài kệ 15
                              Quán thế nhân kiến danh sắc    觀  世  人  見  名  色
                              Dĩ kỳ trí như thọ tri    以  其  智  如 受  知
                              Dục kiến đa thiểu ngã hữu    欲 見 多 少 我 有
                              Bất tùng thị  thiện tịnh  hữu    不 從 是 善 淨 有

                              Bài kệ 16
                              Hữu tuệ hành lụy vô hữu    有 慧 行 累 無 有
                              Tri diệc kiến chánh dĩ thủ    知  亦  見  正  以  取
                              Kiến vô quá thị pháp hành    見 無 過 是 法 行
                              Độ thị loạn bất cánh thọ    度 是 亂 不 更 受

                              Bài kệ 17
                              Tuệ ý đáo vô sở chí    慧 意 到 無 所 至
                              Bất kiến kiên thức sở giác    不 見 堅 識 所 覺
                              Như quan bế chế sở trước    如 關 閉 制 所 著
                              Đãn hành  quán vô thủ dị    但 行 觀 無 取 異

                              Bài kệ 18
                              Tôn đoạn thế sở thọ thủ    尊  斷  世  所  受  取
                              Thủ dữ sanh bất ưng kiên    取  與  生  不  應  堅
                              Tĩnh diệc loạn tại quán xả    靜 亦 亂 在 觀 捨
                              Tại thị ác ai phàm  nhân    在 是 惡 哀 凡 人

                              Bài kệ 19
                              Khí cố thành tân  bất tạo    棄  故  成  新  不  造
                              Vô sở dục  hà sở trước    無  所  欲  何  所  著
                              Thoát tà tín dũng mãnh độ    脫 邪 信 勇 猛 度
                              Tất dĩ thoát thế phi thế    悉 已 脫 世 非 世

                              Bài kệ 20
                              Nhất thiết pháp vô sở nghi    一  切  法  無  所 疑
                              Tất kiến văn diệc hà niệm    悉  見  聞  亦  何  念
                              Xả  trọng đảm tôn chánh thoát    捨 重 擔 尊 正 脫
                              Bất nguyện quá thường lai kiến    不 願 過 常 來 見

                               

                              _________________________

                              Mục Lục

                              Lời tựa

                              Phần 1

                              1. Kinh Nhiếp Phục Tham Dục (Kiệt Tham Vương Kinh)
                              2. Kinh Hang Động Ái Dục (Ưu Điền Vương Kinh)
                              3. Kinh Buông Bỏ Sở Tri Và Ngôn Từ (Tu Đà Lợi Kinh)
                              4. Kinh Buông Bỏ Khổ Lạc Và Nhiễm Tịnh (Ma Kiệt Phạm Chí Kinh)
                              5. Kinh Sự Thật Đích Thực (Kính Diện Vương Kinh)
                              6. Kinh Buông Bỏ Ân Ái (Lão Thiểu Câu Tử Kinh)
                              7. Kinh Xa Lìa Ái Dục (Di Lặc Nạn Kinh)
                              8. Kinh Buông Bỏ Ý Muốn Hơn Thua (Dũng Từ Phạm Chí Kinh)
                              9. Kinh Nhân Cách Của Một Vị Mâu Ni (Ma Nhân Đề Nữ Kinh)
                              10. Kinh Đạo Lý Duyên Khởi (Dị Học Giác Phi Kinh)
                              11. Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi (Mãnh Quán Phạm Chí Kinh)
                              12. Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt (Pháp Quán Phạm Chí Kinh)
                              13. Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản (Đâu Lặc Phạm Chí Kinh)
                              14. Kinh Phòng Hộ (Liên Hoa Sắc Tỳ Khưu Ni Kinh)
                              15. Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt (Phụ Tử Cọng Hội Kinh)
                              16. Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi (Duy Lâu Lặc Vương Kinh)
                              Phần 2 (Giảng giải kinh)

                              Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt
                              Kinh Xa Lìa Ái Dục
                              Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi

                               

                              Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi

                              Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi
                              (Mãnh Quán Phạm Chí Kinh)
                              Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ 11, Đại Tạng Tân Tu 198
                              tương đương với Cùlaviyùha Sutta, Sutta-Nipàta 878-894

                               

                              Bối Cảnh

                              Đây là kinh Mãnh Quán Phạm Chí. Trong một pháp hội có tới năm trăm vị la hán và rất nhiều nhân vật quan trọng, trong đó có bốn vị thiên vương từ bốn phương về nghe pháp. Vị Phạm Chí tên là Mãnh Quán vẫn nghi ngờ rằng không chắc vị đạo sư này (Bụt) là người đã nắm được chân lý tuyệt đối. Do đó Bụt nói kinh này. Khung cảnh dựng lên từ kinh Tạp A Hàm số 11 92 và kinh Trường A Hàm thứ 19.

                               

                              1. Ai cũng có quan điểm của mình về chân lý, và đối phương cũng thế. Ai cũng nghĩ là mình có cái thấy cao nhất và muốn diễn bày cái thấy ấy ra. Ai có được cái thấy ấy thì người ấy mới thấy được Pháp. Còn những kẻ khác (vì chưa thấy được sự thật này thì) dù đi khắp nơi cũng không thấy được một góc nhỏ nào của sự thật.

                              2. Vì thiên hạ chấp thủ như vậy nên mới sinh ra tranh cãi loạn xị. Ai cũng nói rằng kẻ kia si mê; ta mới thật sự là người có trí tuệ. Vậy thì trong tất cả các sự thật ấy, cái nào mới thực sự là sự thật? Bởi vì ai cũng nói chỉ có mình là đang nắm được chân lý?

                              3. Kẻ nào không biết rằng người khác cũng có quan điểm của họ về sự thật thì kẻ ấy vẫn còn mờ ám, vẫn còn thiếu trí tuệ và vẫn còn kẹt vào trong quan điểm của chính mình.

                              4. Có cái quan điểm rồi thì mới có cái nói và cái làm. Người ta nghĩ rằng nhờ cái thấy đó của họ mà thân họ đã được tịnh hóa và tâm họ được thánh hóa. Nếu ai cũng đúng thì còn có ai sai lầm nữa? Bởi vì ai cũng đang có và cũng đang kẹt vào cái ý của họ?

                              5. “Đây là sự thật cao nhất, là đỉnh cao trí tuệ.” Người ngu si có thể suy nghĩ và hành xử như thế, và tìm cách dìm kẻ khác xuống. Mình tự cho mình là người duy nhất đã thấy được sự thật. Tự mình còn là kẻ ngu si mà mình cứ nói là người ta ngu si.

                              6. Hỏi: Ai cũng nói pháp của họ là không ai bằng, rằng kẻ khác vốn chẳng có tuệ giác gì, chỉ biết vay mượn cái thấy của người khác rồi đi vào tranh chấp với người khác. Tại sao bậc đạo sư lại không đưa ra một chân lý duy nhất để tất cả mọi người có thể đi theo?

                              7. Trả lời: Chân lý chỉ là một, chứ không thể là hai. Nhưng chân lý chỉ có thể tự mình thực chứng. Một khi chứng thực được chân lý ấy rồi thì ta sẽ không còn bị một ai lung lạc được nữa. Nhưng vì đã có bao nhiêu ý tưởng cho nên đã có bấy nhiêu chân lý. Vì vậy bậc sa môn không cần phải nêu ra thêm một học thuyết về chân lý của riêng mình.

                              8. Có chân lý nào mà người khác chưa nói lên? Nên tin vào ai và vào chủ thuyết nào mà thiên hạ đang rao giảng? Những chủ thuyết được đưa ra là do đâu, hay cũng là chỉ do sự suy nghĩ riêng của từng người mà có?

                              9. Sự thực là một, nhưng cách diễn bày của tâm ý thì nhiều. Từ những góc độ tri giác khác nhau cho nên có những sự phân biệt lựa chọn khác nhau. Những gì mà con mắt nhận biết, nếu ta bị vướng mắc vào, sẽ làm nẩy sinh ra ý tưởng: cái này đúng và cái này sai.

                              10. Những gì ta nghe, ta thấy, và cả những giới điều cấm kỵ mà ta đang hành trì cũng đều bắt nguồn từ tâm ý ta. Nếu bị kẹt vào chúng thì ta sẽ dấn thân đi vào vòng tranh luận về những cái thấy khác nhau. Phải chấm dứt lại sự đối chiếu, so sánh, và quán sát xem có chỗ nào sai lầm (nơi tri giác ta) không, nếu không thì sự thực là chính mình sai lầm mà mình lại nói người khác sai lầm.

                              11. Mình sai lầm mà mình lại nói người khác sai lầm, kẻ kia cũng tự cho họ là đẹp là lành và muốn mình đi theo họ. Ai cũng tự khen mình là hay là giỏi, vì vậy cho nên mới sinh ra tranh cãi và oán thù.

                              12. Giữ chặt tà kiến, chỉ muốn làm thầy thiên hạ, người ta mãn ý tự cho là cái thấy của người ta là chí thiện, tin rằng cái thấy và cái hành của mình là ở ngôi cao nhất, tôi e rằng một người ba hoa như thế tự mình chưa đạt tới đâu cả.

                              13. Nếu mình cho cái hiểu biết của kẻ kia là sai lạc, là đáng hổ thẹn, thì kẻ kia cũng sẽ cho cái hiểu biết của mình là sai lạc, là đáng hổ thẹn. Nếu tất cả mọi người đều phân biệt và kỳ thị như thế thì trong đời còn ai không phải là kẻ si mê?

                              14. “Chỉ khi nào bạn chứng nghiệm được chân lý này thì bạn mới có thể nói rằng bạn được tịnh hóa.” Nói như thế thì dễ gây ra biến loạn; đó là nguyên nhân làm phát sinh ra độc đoán, cố chấp và oán hận.

                              15. Đi theo hành trì một cách khác người, có những kiến giải và những phương pháp thanh lọc khác người, đó không có nghĩa là mình đã đạt tới chân lý tối hậu. Đó là thái độ dẫm chân tại chỗ, làm cho người ta càng ngày càng bị kẹt cứng vào tư kiến của mình.

                              16. Nếu ai cũng khư khư nắm chặt tư kiến, cho mình là minh triết, thì còn có ai là si mê nữa? Còn có ai để mình chê trách nữa? Nói rằng pháp của kẻ kia không có khả năng tịnh hóa, mình đang sử dụng cái kế đạt của mình để tự cho mình là cao diệu bậc nhất.

                              17. Kẹt vào cái thấy của mình, tự cho mình là tự tại, kẻ kia dấn thân vào các cuộc tranh chấp loạn xị trong đời. Buông bỏ mọi ý niệm về sở tác, bậc hiền giả đạt tới sự mầu nhiệm của cái vô tác và cái vô sở tác.

                              Đại Ý

                              Kinh này nói về thái độ độc quyền về chân lý và những tai hại do thái độ ấy gây ra. Khi ta tin rằng cái thấy của ta là chân lý thì ta cũng tin rằng con đường ta đi là con đường duy nhất đưa tới chân lý. Đây là gốc rễ của độc tài, của bạo động.

                              Có người đi tìm chân lý bằng cách học hỏi, suy tư, hay đi vay mượn cái thấy của người khác. Cái chân lý ấy không phải là chân lý vì đó chỉ là sản phẩm của trí năng mà không phải là một kinh nghiệm tâm linh  mình đã trực tiếp thân chứng. Có bao nhiêu ý tưởng về chân lý là có bấy nhiêu chân lý. Thực ra chân lý chỉ có thể là một, và không thể có hai chân lý chống đối nhau. Kẹt vào cái thấy của mình, điều đó chứng tỏ mình chưa thực chứng được chân lý. Những chủ thuyết được đưa ra là do sự suy nghĩ riêng của từng người. Bài thi kệ thứ chín nói rõ: sự thật là một, những cái thấy về sự thật thì nhiều. Cái thấy là kiến, là tư kiến của từng người. Còn tư kiến là còn tà kiến. Chân lý vượt thoát mọi kiến, mọi tư kiến, mọi tà kiến. Chân lý vượt thoát mọi ý niệm. Ngôn ngữ và ý niệm không có khả năng chuyên chở chân lý. Cho nên người đạt đạo không đưa ra một chủ thuyết về chân lý. Cái quan trọng nhất không phải là một chủ trương về chân lý. Cho nên kẻ thành đạo không có nhu yếu thuyết giảng về chân lý, mà chỉ muốn cung cấp những phương pháp giúp người ta đi tới trên con đường chuyển hóa và tịnh hóa. Nghĩa là diệt trừ vô minh và phiền não. Chân lý không phải là một đối tượng có thể nắm bắt, cho nên người đạt đạo buông bỏ mọi sự nắm bắt và có tự do lớn. Không nắm bắt, bởi vì làm gì có đối tượng nắm bắt, đây là sự hình thành giáo lý vô nguyện, vô đắc, vô sở đắc sau này. Ta có thể thấy được sự khai thị này ở bài thi kệ thứ mười bảy.

                               

                              Bài kệ 1
                              Nhân các niệm bỉ diệc tri      人  各  念  彼  亦  知    
                              Các dục thắng tuệ khả thuyết     各  欲  勝  慧  可  說
                              Hữu năng tri tận thị pháp     有  能  知  盡  是  法
                              Biến hành cầu mạc ngung giải      遍  行  求  莫  隅  解

                              Bài kệ 2
                              Thủ như thị tiện sanh biến   取  如  是  便  生  變
                              Si kế bỉ ngã thiện tuệ   癡  計  彼  我  善  慧
                              Chí thành ngôn vân vi đẳng    至  誠  言  云  為  等
                              Nhất thiết thị  thiện ngôn thuyết     一  切  是  善  言  說

                              Bài kệ 3
                              Bất tri bỉ hữu pháp vô   不  知  彼  有  法  無
                              Minh vô tuệ tùy bỉ hiệt     冥  無  慧  隨  彼  黠
                              Minh nhất thiết thống viễn hiệt       冥  一  切  痛  遠  黠
                              Sở niệm hành tất bỉ hữu       所  念  行  悉  彼  有

                              Bài kệ 4
                              Tiên kế niệm khước hành thuyết   先  計  念  却  行  說
                              Tuệ dĩ tịnh ý thiện niệm     慧  已  淨  意  善  念
                              Thị tất bất vọng hiệt giảm    是  悉  不  望  黠  減
                              Tất sở niệm trước ý chỉ        悉  所  念  著  意  止

                              Bài kệ 5
                              Ngã  bất cư thị tất thượng    我  不  据  是  悉  上
                              Ngu  khả hành chuyển tướng khiên   愚  可  行  轉  相  牽
                              Tự kiến cẩn vị khả đế   自  見  謹  謂  可  諦
                              Tự kỷ si phục thọ bỉ     自  己  癡  復  受  彼

                              Bài kệ 6
                              Tự thuyết pháp độ vô cập    自  說  法  度  無  及
                              Dĩ  tự không tham lai đạo      以  自  空  貪  來  盜
                              Dĩ bát minh chuyển tướng minh     已  八  冥  轉  相  冥
                              Học hà cố nhất bất đạo     學  何  故  一 不  道

                              Bài kệ 7
                              Nhất đế tận nhị hữu vô       一  諦  盡  二  有  無
                              Tri thị đế bất điên đảo     知  是  諦  不  顛  倒
                              Vị  bất tận đế tùy ý     謂  不  盡  諦  隨  意
                              Dĩ cố học nhất bất thuyết      以  故  學  一  不  說

                              Bài kệ 8
                              Hà đế thị dư bất thuyết     何  諦  是  餘  不  說
                              Đương tín thùy tận dư thuyết    當  信  誰  盡  餘  說
                              Nhiêu dư đế đương hà tùng       饒  餘  諦  當  何  從
                              Tùng hà hữu sanh ý thức        從  何  有  生  意  識

                              Bài kệ 9
                              Thức vô dư hà thuyết dư    識  無  餘  何  說  餘
                              Tùng dị tưởng phân biệt trạch      從  異  想  分  別  擇
                              Nhãn sở kiến vi trước  khả    眼  所  見  為  著  可
                              Thức nhược khi tận nhị Pháp     識  若  欺  盡  二  法

                              Bài kệ 10
                              Văn kiến giới tại ý hành     聞  見  戒  在  意  行
                              Trước dục hiệt biến tụng kiến     著  欲 黠  變  訟  見
                              Chỉ giáo kế quán hà tu     止  校 計  觀  何  羞
                              Thị dĩ si phục thọ bỉ      是  以  癡  復  授  彼

                              Bài kệ 11
                              Si hà tùng thụ dữ bỉ      癡  何  從  授  與  彼
                              Bỉ ỷ khả thiện hiệt ngã      彼  綺  可  善  黠  我
                              Tiện tự thự thiện thuyết dĩ       便  自  署  善  說  已
                              Hữu tụng bỉ tiện sanh oán   有  訟  彼  便  生  怨

                              Bài kệ 12
                              Kiên tà kiến vọng sư sự    堅  邪 見  望  師  事
                              Tà hiệt khốc mãn ỷ cụ      邪  黠  酷  滿  綺 具
                              Thường tự khủng ngữ bất đáo    常  自  恐  語  不  到
                              Ngã thường giới kiến thị tịch      我  常  戒  見  是  辟

                              Bài kệ 13
                              Kiến bỉ đế tà tàm tạng   見  彼  諦  邪  慚  藏
                              Bổn tự hữu tàm tạng hiệt       本  自  有  慚  藏  黠
                              Dĩ tất tri hiệt phân biệt      以  悉  知  黠  分  別
                              Si tất vô hợp hiệt hành       癡  悉  無  合  黠  行

                              Bài kệ 14
                              Thị vi đế trụ nãi thuyết    是  為  諦  住  乃  說
                              Tất khả  tịnh tự sở Pháp     悉  可  淨  自  所  法
                              Như thị thủ  tiện loạn biến      如  是  取  便  亂  變
                              Tự  nhân duyên thống trước ô     自  因  緣  痛  著  污

                              Bài kệ 15
                              Tùng dị hành đắc giải tịnh      從  異  行  得  解  淨
                              Bỉ tuy tịnh bất chí tận    彼  雖  淨  不  至  盡
                              Thị dị học văn tọa an        是  異  學  聞  坐  安
                              Tự tham câu ngã kiên thịnh     自  貪  俱  我  堅  盛

                              Bài kệ 16
                              Tự kỷ thịnh kiên phòng tham      自  己  盛  堅  防  貪
                              Hữu hà si vi bỉ thuyết      有  何  癡  為  彼  說
                              Tuy giáo bỉ Pháp vị tịnh      雖  教  彼  法  未  淨
                              Sanh kế độ tự cao diệu         生  計  度  自  高  妙

                              Bài kệ 17
                              Đế trú thích tự tại tác     諦  住  釋  自  在  作
                              Tuy thượng thế diệc hữu loạn      雖  上  世  亦  有  亂
                              Khí nhất thiết sở tác niệm       棄  一  切  所  作  念
                              Diệu bất tác hữu sở tác          妙  不  作  有  所  作

                              _________________________

                              Mục Lục

                              Lời tựa

                              Phần 1

                              1. Kinh Nhiếp Phục Tham Dục (Kiệt Tham Vương Kinh)
                              2. Kinh Hang Động Ái Dục (Ưu Điền Vương Kinh)
                              3. Kinh Buông Bỏ Sở Tri Và Ngôn Từ (Tu Đà Lợi Kinh)
                              4. Kinh Buông Bỏ Khổ Lạc Và Nhiễm Tịnh (Ma Kiệt Phạm Chí Kinh)
                              5. Kinh Sự Thật Đích Thực (Kính Diện Vương Kinh)
                              6. Kinh Buông Bỏ Ân Ái (Lão Thiểu Câu Tử Kinh)
                              7. Kinh Xa Lìa Ái Dục (Di Lặc Nạn Kinh)
                              8. Kinh Buông Bỏ Ý Muốn Hơn Thua (Dũng Từ Phạm Chí Kinh)
                              9. Kinh Nhân Cách Của Một Vị Mâu Ni (Ma Nhân Đề Nữ Kinh)
                              10. Kinh Đạo Lý Duyên Khởi (Dị Học Giác Phi Kinh)
                              11. Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi (Mãnh Quán Phạm Chí Kinh)
                              12. Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt (Pháp Quán Phạm Chí Kinh)
                              13. Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản (Đâu Lặc Phạm Chí Kinh)
                              14. Kinh Phòng Hộ (Liên Hoa Sắc Tỳ Khưu Ni Kinh)
                              15. Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt (Phụ Tử Cọng Hội Kinh)
                              16. Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi (Duy Lâu Lặc Vương Kinh)
                              Phần 2 (Giảng giải kinh)

                              Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt
                              Kinh Xa Lìa Ái Dục
                              Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi

                               

                              Kinh Đạo Lý Duyên Khởi

                              Kinh Đạo Lý Duyên Khởi
                              (Dị Học Giác Phi Kinh)
                              Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ mười, Đại Tạng Tân Tu 198
                              tương đương với Kalahavivàda Sutta,

                              Sutta-Nipàta 862-877

                               

                              Bối Cảnh

                              Đây là kinh Dị Học Giác Phi. Dị Học Giác Phi là các giáo phái ngoại đạo muốn thi đua về pháp thuật với Bụt. Khung cảnh dựng lên: Bụt còn trẻ mà được vua Tần Bà Xa La mến mộ, trong khi ấy các vị lãnh đạo trưởng thượng của sáu giáo phái nổi tiếng kia thì bị thất sủng. Họ đề nghị với Vua Tần Bà Xa La tổ chức thi đua pháp thuật xem bên nào đạo lực cao cường hơn. Vua không chấp nhận. Họ sang nước Xá Vệ đề nghị với vua Ba Tư Nặc. Vua Ba Tư Nặc tuy cũng rất sùng mến Bụt, nhưng chấp nhận cho tổ chức cuộc thi tài này. Cuối cùng pháp thuật của Bụt cao cường hơn. Và trong khung cảnh ấy Bụt nói kinh này. Khung cảnh này thật sự không ăn khớp gì nhiều với nội dung.

                               

                              1. Vì đâu mà có tranh cãi đấu tụng? Vì đâu mà người ta làm khổ nhau, gây sầu thương cho nhau và ganh ghét nhau? Vì lý do gì mà người đời thường sử dụng ác ngữ để hủy báng nhau? Xin Bụt giảng cho chúng con về gốc rễ của vấn đề này.

                              2. Cái khả ái là nguồn gốc của mọi tranh tụng. Nó gây ra ganh tỵ, tật đố, ưu sầu, khổ não. Vì muốn hủy báng nhau cho nên người ta mới sử dụng vọng ngữ. Chính nó là gốc rễ đưa tới mọi hủy báng chống đối nhau.

                              3. Nhưng cái khả ái ấy ở đời do đâu mà có? Từ đâu mà ái phát sinh trong cuộc đời? Bỏ cái gì đi thì ái mới không còn và lúc ấy thì con người mới không đau khổ?

                              4. Chính ham muốn của mình làm cho mình vướng vào cái khả ái của thế gian. Và khi cái ham muốn lớn mạnh sẽ tạo ra nhiều khổ đau. Không buông bỏ được cái hữu cũng là do nó. Và vì có cái hữu này cho nên mới có những cái hữu tới sau.

                              5. Cái gì làm phát sinh ra cái ham muốn bắt ta chạy theo dục lạc trong cuộc đời? Do đâu mà phân biệt được cái lành, dữ, xấu, tốt? Do đâu mà có cái bắt đầu và cái chung cuộc? Xin bậc đại sa môn chỉ dạy: chúng con phải tuân thủ theo các pháp môn hành trì nào?

                              6. Cái ham muốn ấy phát sinh từ chuyện mình thích ý hay không thích ý. Dục cũng từ nhân duyên mà sinh khởi. Chỉ khi nào thấy được lý do sắc thân vì sao từ hưng thịnh lại đi đến tàn hoại thì người đời mới bắt đầu biết phân biệt quán chiếu.

                              7. Khi biết rằng mình đang bị dối gạt (bởi cái vỏ bên ngoài của các pháp) thì con người mới biết hoài nghi. Lúc bấy giờ ta mới nhận diện được hai mặt đối nghịch của các pháp. Thực tập quán niệm như thế nào để khám phá ra được con đường dẫn về tuệ giác. Phải có tâm mong cầu hiểu được giáo pháp ta mới thấy rõ được phép hành trì.

                              8. Cái có và cái không từ đâu tới? Tại sao người thân và người không thân một ngày kia cũng đều phải chết? Còn vấn đề cái thêm và cái bớt nữa. Xin đức Thế Tôn thuyết giảng cho chúng con về gốc rễ của hiện pháp?

                              9. Cái ái và cái không ái là do sự xúc chạm mà sinh khởi. Chúng tới rồi chúng đi, chúng sinh rồi chúng diệt, chúng không thể có mặt (nếu không có xúc chạm). Cái có và cái không, cái thịnh và cái suy cũng cùng trong một ý nghĩa đó. Bậc hiền giả giải thích về gốc rễ của hiện pháp một cách tường tận như thế.

                              10. Nhưng sự xúc chạm kia từ đâu mà đến? Vì nguyên do nào mà người ta lại bị vướng vào sắc dục của thế gian? Phải thực tập quán niệm như thế nào để không còn phân biệt chấp trước? Tại sao lại có sự vướng mắc vào sắc dục?

                              11. Do có tâm và vật (danh sắc) mà có xúc chạm. Vì có cái có nên danh và sắc mới khởi dậy. Phải vượt qua vô minh mới đạt được giải thoát. Phải thấy được rằng danh và sắc là nền tảng của xúc chạm.

                              12. Làm thế nào để buông bỏ được sự ham muốn về danh và sắc? Vì lý do gì mà phát sinh các loại tham ái? Làm sao cho tâm đắm trước tham ái được tiêu diệt tận cùng? Phải biết và hành trì theo giáo lý (bốn) sự thật như thế nào mới có thể đạt tới giải thoát?

                              13. Phải lìa bỏ ý niệm về tưởng, về sắc, về cái vô tưởng và về cái bất hành tưởng. Phải đoạn trừ tất cả và không vướng mắc vào ý niệm nào. Bởi tưởng là gốc rễ của mọi hý luận đem tới nhiều đau khổ.

                              14. Những điều con thưa hỏi đều đã được giải đáp. Nay xin đức Thế Tôn thuyết giải thêm cho chúng con: hành trì như thế nào để có thể trở nên một bậc toàn thiện? Còn có con đường nào khác hơn con đường mà bậc tôn đức đã chỉ bày hay không?

                              15. Đã biết là mình đang đi trên con đường (bát) chánh thì còn sợ gì bị sai lạc? Đó là con đường dẫn tới quả vị tuệ giác. Vị mâu ni thiền định dưới một gốc cây trong rừng. Không có con đường nào đẹp hơn thế.

                              16. Hiểu như thế rồi thì các vị phải một lòng hướng về (sự thực tập). Một bậc tôn đức được giải thoát thì không còn bị ràng buộc vào nghi lễ và giới cấm nữa. Một người như thế có thể vượt qua mọi phiền não một cách mau chóng trong cuộc đời. Vị ấy vượt thoát được thời gian và không còn trở về luân hồi nữa.

                              Đại Ý

                              Kinh này là dấu hiệu của sự bắt đầu hình thành giáo lý mười hai nhân duyên. Kinh nói tới tám nhân duyên: thức, danh sắc, xúc, thọ, dục, ái, thủ, hữu. Lúc này dục và ái còn là hai cái khác nhau. Chưa nói tới vô minh, thì đã bắt đầu đề cập tới hành. Khi nói về thức, chưa có sinh và lão tử, nhưng sinh và lão tử đã nằm sẵn trong hữu. “Vì có cái hữu này nên có những cái hữu tới sau.” Câu này nằm trong bài thi kệ thứ tư.

                              Trong bài thi kệ thứ nhất, thủ là nắm chặt ý kiến của mình. Trong bài kệ thứ ba, sở dĩ mình nắm chặt nó, tại vì nó là đối tượng của sự yêu thích của mình. Nó là cái khả ái. Trong bài thứ tư, dục (ham muốn) là nguyên do của ái, và ái cũng là nguồn gốc của cái hữu bây giờ và những cái hữu tới sau.

                              Bài thứ sáu đề cập tới thọ, cảm thọ dễ chịu (thích ý) hay khó chịu (không thích ý). Chưa nói đến xả thọ. Cái thích ý làm phát sinh cái dục. Bài thứ chín nói về xúc. Bài thứ mười một nói về danh sắc. Và bài thứ mười ba nói tới tưởng. Tưởng là tri giác, là thức, là chủ thể và đối tượng nhận thức. Vọng tưởng là tri giác sai lầm của thức. Vọng tưởng là vô minh, vọng tưởng làm cho thức là thức, nếu không thì nó đã là trí. Vọng tưởng là gốc rễ của mọi suy tư và ngôn ngữ có công năng đem tới khổ đau. Đây chính là bản chất của hành.

                              Kinh này không những trình bày được sự liên hệ giữa tâm vật và nguyên do của luân hồi sinh tử mà còn cung cấp được những chỉ dẫn thực tập.

                              Bài thi kệ thứ bảy và thứ tám đề nghị quán chiếu về hai mặt đối nghịch của các hiện tượng: có và không, tới và đi, thêm và bớt. Tư tưởng này đi tiên phong cho tư tưởng Trung Đạo và Bát Nhã Ba La Mật. Bài thứ 13 cho biết rằng nếu tinh cần quán chiếu về đối tượng tâm ý để đừng bị vướng mắc vào bất cứ ý niệm nào, dù là ý niệm vô tưởng và bất hành tưởng, thì ta có thể đạt tới giải thoát thật sự, chấm dứt mọi vọng tưởng. Bài thứ 15 khuyến khích ta nắm cho được con đường Bát Chánh Đạo mà đi.

                              Hình ảnh một người ngồi thiền định dưới một gốc cây trong rừng là hình ảnh đẹp nhất. Đó là hình ảnh của một vị mâu ni.

                              Kinh này là kinh thứ mười trong Nghĩa Túc Kinh, nhưng lại là kinh thứ mười một trong Atthaka Vagga, kinh tương đương trong tạng Pali.

                               

                              Bài kệ 1
                              Đấu tụng biến hà tùng khởi                          鬪  訟  變  何  從  起
                              Trí ưu  thống chuyển tướng tật                    致  憂  痛  轉  相  疾
                              Khởi vọng ngữ chuyển tướng hủy               起  妄  語  轉  相  毀
                              Bổn tùng khởi nguyện thuyết Phật              本  從  起  願  說  佛


                              Bài kệ 2
                              Tọa ưu khả khởi biến tụng                           坐  憂  可  起  變  訟
                              Chuyển tướng tật trí ưu thống                     轉  相  嫉  致  憂  痛
                              Dục tướng hủy khởi vọng ngữ                     欲  相  毀  起  妄  語
                              Dĩ tướng hủy đấu tụng bổn                          以  相  毀  鬪  訟  本

                              Bài kệ 3
                              Thế khả ái hà tùng khởi                                 世  可  愛  何 從 起
                              Chuyển thế gian hà sở tham                         轉  世  間  何  所 貪
                              Tùng trí hữu bất phục dục                             從  置  有  不  復 欲
                              Tùng bất phục chuyển hành thọ                      從 不 復  轉 行 受

                              Bài kệ 4
                              Bổn sở dục trước thế ái                               本  所  欲  著  世  愛
                              Dĩ lợi thị chuyển hành khổ                            以  利  是  轉  行  苦
                              Bất xả hữu tùng thị khởi                               不  捨  有  從  是  起
                              Dĩ cố chuyển hậu phục hữu                          以  故  轉  後  復  有

                              Bài kệ 5
                              Tùy thế dục bổn hà khởi                                隨  世  欲  本  何  起
                              Tùng hà đắc biệt thiện ác                               從  何  得  別  善  惡
                              Tùng hà hữu khởi bản mạt                            從  何  有  起  本  末
                              Sở chế Pháp Sa Môn thuyết                         所  制  法  沙  門  說

                              Bài kệ 6
                              Diệc thị thế sở hữu vô                                    亦  是  世  所  有  無
                              Thị nhân duyên tiện dục sanh                          是  因  緣  便  欲  生
                              Kiến thịnh sắc tùng hà tận                              見  盛  色  從  何  盡
                              Thế nhân tất phân biệt tác                              世  人  悉  分  別  作

                              Bài kệ 7
                              Sở tùng khi hữu nghi ý                                  所  從  欺  有  疑  意
                              Diệc thị pháp vũ diện thọ                               亦  是  法  雨  面  受
                              Niệm tùng hà học tuệ tích                             念  從  何  學  慧  跡
                              Nguyện giải pháp minh học thuyết                  願  解  法  明  學  說


                              Bài kệ 8
                              Sở hữu vô bổn tùng hà                                   所  有  無  本  從  何
                              Vô sở thân tùng hà diệt                                  無  所  親  從  何  滅
                              Thịnh diệc giảm tất nhất nghĩa                         盛  亦  減  悉  一  義
                              Nguyện thuyết thị giải hiện bổn                       願  說  是  解  現  本

                              Bài kệ 9
                              Hữu diệc vô trước tế nhu                               有  亦  無  著  細  濡
                              Khứ lai diệt vô sở hữu                                   去  來  滅  無  所  有
                              Thịnh diệc diệt nghĩa tùng thị                          盛  亦  滅  義  從  是
                              Giải hiện hiền bổn tận thị                               解  現  賢  本  盡  是

                              Bài kệ 10
                              Thế tế nhu bổn tùng hà                                  世  細  濡  本  從 何
                              Trước thế sắc tùng hà  khởi                           著  世  色  從  何  起
                              Tùng hà niệm bất kế trước                            從  何  念  不  計  著
                              Hà nhân duyên trước khả sắc                        何  因  緣  著  可  色


                              Bài kệ 11
                              Danh sắc thọ trước tế nhu                            名  色  授  著  細  濡
                              Bản hữu hữu sắc tiện khởi                            本  有  有  色  便  起
                              Ninh độ si đắc giải thoát                                寧  度  癡  得  解  脫
                              Nhân duyên sắc trước tế nhu                        因  緣  色  著  細  濡

                              Bài kệ 12
                              Tùng hà đắc xả hảo sắc                                  從  何  得  捨  好  色
                              Tùng chúng ái tùng hà khởi                             從  眾  愛  從  何  起
                              Sở  trước tâm ninh tất tận                              所  著  心  寧  悉  盡
                              Đế hành tri như giải thoát                                諦  行  知  如  解  脫

                              Bài kệ 13
                              Bất tưởng tưởng bất sắc tưởng                     不  想  想  不  色  想
                              Phi vô tưởng bất hành tưởng                        非  無  想  不  行  想
                              Nhất thiết đoạn bất trước giả                        一  切  斷  不  著  者
                              Nhân tưởng bổn hí  tùy khổ                         因 想 本 戲 隨 苦


                              Bài kệ 14
                              Ngã sở vấn tất dĩ giải                                       我 所 問 悉 已 解
                              Kim cánh vấn nguyện phục thuyết                    今 更 問 願 復 說
                              Hành địch tất thành cụ túc                               行 糴 悉 成 具 足
                              Thiết vô bất thắng tôn  đức                               設 無 不 勝 尊 德

                              Bài kệ 15
                              Thị cực chánh hữu hà tà                             是  極  正  有  何  邪
                              Hướng kính thần đắc quả tuệ                       向  徑  神  得  果  慧
                              Tôn  hành định thụ lâm gian                         尊  行  定  樹  林  間
                              Vô hữu dư tối thiện thuyết                           無  有  餘  最  善  說

                              Bài k 16
                              Tri như thị nhất tâm hướng                            知  如  是  一  心  向
                              Tôn dĩ trước bất giới hạnh                             尊  已  著  不  戒  行
                              Tật hành vấn độ thế gian                               疾  行  問  度  世  間
                              Đoạn thế xả thị bỉ thân                                   斷  世 捨  是  彼  身

                               

                              _________________________

                              Mục Lục

                              Lời tựa

                              Phần 1

                              1. Kinh Nhiếp Phục Tham Dục (Kiệt Tham Vương Kinh)
                              2. Kinh Hang Động Ái Dục (Ưu Điền Vương Kinh)
                              3. Kinh Buông Bỏ Sở Tri Và Ngôn Từ (Tu Đà Lợi Kinh)
                              4. Kinh Buông Bỏ Khổ Lạc Và Nhiễm Tịnh (Ma Kiệt Phạm Chí Kinh)
                              5. Kinh Sự Thật Đích Thực (Kính Diện Vương Kinh)
                              6. Kinh Buông Bỏ Ân Ái (Lão Thiểu Câu Tử Kinh)
                              7. Kinh Xa Lìa Ái Dục (Di Lặc Nạn Kinh)
                              8. Kinh Buông Bỏ Ý Muốn Hơn Thua (Dũng Từ Phạm Chí Kinh)
                              9. Kinh Nhân Cách Của Một Vị Mâu Ni (Ma Nhân Đề Nữ Kinh)
                              10. Kinh Đạo Lý Duyên Khởi (Dị Học Giác Phi Kinh)
                              11. Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi (Mãnh Quán Phạm Chí Kinh)
                              12. Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt (Pháp Quán Phạm Chí Kinh)
                              13. Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản (Đâu Lặc Phạm Chí Kinh)
                              14. Kinh Phòng Hộ (Liên Hoa Sắc Tỳ Khưu Ni Kinh)
                              15. Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt (Phụ Tử Cọng Hội Kinh)
                              16. Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi (Duy Lâu Lặc Vương Kinh)
                              Phần 2 (Giảng giải kinh)

                              Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt
                              Kinh Xa Lìa Ái Dục
                              Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi

                               

                              Kinh Nhân Cách Của Một Vị Mâu Ni

                               

                               

                              Kinh Nhân Cách Của Một Vị Mâu Ni
                              (Ma Nhân Đề Nữ Kinh)
                              Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ chín, Đại Tạng Tân Tu 198
                              tương đương với Màgandiya Sutta, Sutta-Nipàta 835-847

                              Bối Cảnh

                              Đây là kinh Ma Nhân Đề Nữ. Ma Nhân Đề Nữ là cô con gái của một vị Phạm Chí tên là Nhân Đề (Màkandika). Khung cảnh dựng lên: Phạm Chí Ma Nhân Đề có một cô con gái đẹp tuyệt trần, nhiều vị vua chúa và hoàng tử cầu hôn mà ông bố vẫn không chịu, cho rằng chưa ai xứng đáng làm chồng của cô con gái. Câu chuyện xảy ra ở xứ Câu Lưu (Karu). Lần đầu tiên thấy Bụt, ông ta nghĩ rằng đây là người rể lý tưởng của mình, bởi vì dung quang của Bụt đẹp đẽ và uy nghi quá. Ông đem cô con gái đến gặp Bụt và đề nghị gả cô này cho Bụt. Bụt mỉm cười không nhận. Trong khi nói chuyện, hai cha con khám phá ra được nhân cách và giá trị của một bậc mâu ni, của một vị đạo sĩ tĩnh lặng.

                               

                              1.   Ngày xưa có ba cô con gái (của Ma Vương Ba Tuần) đến cám dỗ nhưng tôi đã chẳng mảy may động lòng. Bây giờ nếu thấy được (đối tượng ái dục chỉ là) những cái túi đựng đầy máu, mỡ, phân và nước tiểu thì mình đâu còn muốn đụng tới, dù là với bàn chân của mình?

                              2.   Tôi đã từng nói rằng một khi đã bị vướng vào vòng ái dục thì mình không còn tâm ý để hành trì được pháp môn, và để thực tập được nội quán. Tuy có nghe và tuy có biết rằng chạy theo ái dục là chuyện không nên làm nhưng mình vẫn chưa nhàm chán được. Một khi bên trong tâm mình chưa dừng lại được thì bên ngoài mình vẫn đi tới để tiếp tục gây thêm khổ đau.

                              3.   Cái vẻ xinh tươi mượt mà ấy chỉ có ở ngoài da, bậc trí giả không bị nó lừa dối. Ta phải quán chiếu cả bên trong lẫn bên ngoài. Có một chút thông minh mình sẽ thấy rằng (đắm say như thế) đó là một lối hành xử u mê.

                              4.   Những gì mình học và mình thấy chưa hẳn đã là tuệ giác. Hành trì giới cấm và lễ nghi chưa hẳn đã làm cho mình thanh tịnh. Dù không học gì, không thấy gì, nhưng mà không khư khư giữ ý riêng của mình và không xao lãng công phu hành trì của mình, thì người ta mới có khả năng tự tịnh.

                              5.   Những kiến thức bây giờ đang có, nên buông bỏ đi, đừng ôm chặt lấy, mặc người ta có nói ra nói vào gì thì nói, mình cứ im lặng mà đi. Những gì mình nghe và thấy qua năm giác quan có tác dụng gây phiền não thì mình phải biết dẹp qua một bên. Tuy thực tập giới, định và tuệ nhưng đừng nghĩ lầm rằng nghi lễ và cấm giới đủ đem lại cho mình sự thanh tịnh.

                              6.   Những lý thuyết ngoài đời đừng tiếp thu một cách u mê. Nghi lễ và giới cấm không đem lại sự tịnh hóa như người ta tưởng. Khi còn kẹt vào sự có mặt của một cái ngã thì người ta vẫn còn bị rơi vào chỗ u tối. Những chủ thuyết mà mình được nghe đâu có khả năng làm cho mình thanh tịnh?

                              7.   Người ta có thể nói rằng những cái mà người ta nghe và thấy về chân lý, nếu nắm bắt được chúng bằng tâm ý thì có thể đạt Đạo. Đi qua tới được bờ chân lý bằng cách ấy, là chuyện khó tưởng tượng được. Và như thế thì làm sao mà khỏi phạm vào cái lỗi xem thường các bậc tôn đức chân chính?

                              8.  Bằng người, hơn người hoặc thua người, hễ còn có một trong các mặc cảm ấy thì người ta vẫn còn kẹt vào cái phân biệt (chấp ngã). Nếu vượt thoát được cả ba mặc cảm kia thì đâu còn có nhu yếu tranh luận hơn thua? Lúc ấy ta đã đoạn trừ được tất cả mọi tranh luận, thị phi và không còn bị vướng vào những lo toan vô ích.

                              9.   Người đã đạt được tuệ giác thì không có nhu yếu nói nhiều. Đã biết các pháp đều có bản tính không tịch, thì làm gì cần phải tranh cãi nữa? Đối với bậc ấy, hoàn toàn không còn có chuyện thị phi, tà chính. Làm sao có thể nói rằng một người như thế còn có thiếu sót sai lầm?

                              10. Rời bỏ cơn lũ ái dục, không còn nghĩ tới các đối tượng ham muốn, kẻ thức giả đi vững chãi và kiên trì trong cuộc đời. Ái dục không còn, tâm ý đã dừng lại, thì những gì tà độc của cuộc đời đều đã bị nhiếp phục, không bao giờ còn sinh khởi trở lại trong ta.

                              11. Nếu muốn xa lìa thế tục, muốn chiến thắng khổ đau thì ta phải nghe lời các bậc tôn đức, phải biết cách lánh xa đừng chung đụng (với những gì xấu ác). Như đóa sen kia trong sạch mọc lên ở dưới hồ, bùn đất và bụi bặm không làm nhiễm ô và hư hoại nó được.

                              12. Bậc tôn đức sống an ổn, không ham muốn gì, không còn vướng bận vào bất cứ một cái gì trong trần thế, cũng không bị lay chuyển bởi những đối tượng của ký ức và tri giác. Bậc ấy tuy đang hành động và độ đời nhưng không bị kẹt vào bất cứ một lý thuyết nào.

                              13. Giữ gìn ba nghiệp thanh tịnh, vị ấy bước đi không còn nhu yếu bàn luận gì về chuyện đời, kể cả chuyện quá khứ, vị lai và hiện tại, không còn bị vướng vào một tư kiến nào nữa. Đi theo tuệ giác vững chãi của mình, vị ấy đạt tới thảnh thơi, nhưng không bao giờ giải đãi. Điều phục được tâm ý, không bị vướng mắc vào các chủ thuyết, trong ba cõi, vị ấy đi từng bước thảnh thơi và không có nhu yếu nói năng gì.

                               

                              Đại Ý

                              Kinh này nối tiếp kinh thứ bảy, kinh Xa Lìa Ái Dục, và đưa ta đi xa hơn. Dấu hiệu đầu tiên của một vị xuất gia chân chính là xa lìa ái dục, không bị cái vẻ xinh tươi mặn mà ở ngoài da đánh lừa, không bị cuốn theo ái dục, như thế mới có thể đi tới trên đường sự nghiệp giác ngộ. Dấu hiệu thứ hai là vị ấy không bị kẹt vào giới cấm, lễ nghi và những gì mình đã học hỏi, kể cả giáo thuyết. Những cái ấy có thể là một phần hành trì của mình nhưng chúng chưa phải là tuệ giác, là giải thoát, là sự tịnh hóa đích thực. Qua được bờ chân lý không phải bằng sự thực tập chuyển hóa mà chỉ bằng sự học hỏi lý thuyết, chuyện này không thể xảy ra. Đó là ý của bài thi kệ thứ bảy. Dấu hiệu thứ ba của một vị khất sĩ thành công là vị ấy không còn phân biệt chấp ngã, do đó không còn mặc cảm hơn người, thua người hay bằng người. Dấu hiệu thứ tư là vị ấy không có nhu yếu tranh cãi hơn thua. Dấu hiệu thứ năm là vị ấy tuy sống trong cuộc đời mà không bị những ô nhiễm của cuộc đời động tới, như hoa sen mọc dưới hồ không bị bùn lầy làm ô nhiễm và hư hoại. Hình ảnh này được trình bày trong thi kệ thứ mười một. Dấu hiệu thứ sáu là vị ấy rất thảnh thơi, không vướng bận quá khứ và tương lai ; ba nghiệp thanh tịnh, vị ấy bước đi từng bước thảnh thơi và im lặng tuyệt đối, không có nhu yếu khoe khoang và tranh cãi.

                               

                               

                               

                              Bài kệ 1
                              Ngã bổn kiến tà tam  nữ                                我  本  見  邪  三  女
                              Thượng bất dục trước tà dâm                        尚  不  欲  著  邪  婬
                              Kim nại hà bão thỉ niệu                                 今  奈  何  抱  屎  尿
                              Dĩ túc xúc thượng bất khả                             以  足  觸  尚  不  可

                              Bài kệ 2
                              Ngã sở thuyết dâm bất dục                            我  所  說  婬  不  欲
                              Vô pháp hành bất nội quán                             無  法  行  不  內  觀
                              Tuy văn ác bất thọ yểm                                  雖  聞  惡  不  受  厭
                              Nội bất chỉ bất kế khổ                                    內  不  止  不  計  苦

                              Bài kệ 3
                              Kiến ngoại hảo cân bì khỏa                           見  外  好  筋  皮  裹
                              Tôn vân hà đương thọ thị                              尊  云  何  當  受  是
                              Nội ngoại hành giác quán thị                         內  外  行  覺  觀  是
                              Ư hiệt biên thuyết si hành                             於  黠  邊  說  癡  行

                              Bài kệ 4
                              Diệc kiến văn bất vi hiệt                                亦  見  聞  不  為  黠
                              Giới hành cụ vị vi tịnh                                   戒  行  具  未  為 淨
                              Bất kiến văn diệc bất si                                不  見  聞  亦  不  癡
                              Bất ly hành khả tự tịnh                                 不  離  行  可  自  淨

                              Bài kệ 5
                              Hữu thị tưởng khí mạc thọ                           有  是  想  棄  莫  受
                              Hữu mạc thuyết thủ khẩu hành                     有  莫  說  守  口  行
                              Bỉ ngũ não văn kiến khí                                彼  五  惱  聞  見  棄
                              Tuệ giới hành mạc dâm tịnh                         慧  戒  行  莫  婬  淨

                              Bài kệ 6
                              Thế sở kiến mạc hành si                              世  所  見  莫  行  癡
                              Vô giới hạnh bỉ tưởng hữu                           無  戒  行  彼  想  有
                              Khả ngã hữu đọa minh pháp                        可  我  有  墮  冥  法
                              Dĩ kiến khả thùy hữu tịnh                             以  見  可  誰  有  淨

                              Bài kệ 7
                              Đế kiến văn nhĩ khả vị                                   諦  見  聞  爾  可  謂
                              Đế ý thủ khả hướng đạo                                諦  意  取  可  向  道
                              Vãng đáo bỉ thiểu bất tưởng                         往  到  彼  少 不  想
                              Kim nại hà khẩu khi tôn                                今  奈  何  口  欺  尊

                              Bài kệ 8
                              Đẳng diệc quá diệc bất cập                           等  亦  過  亦  不  及
                              Dĩ trước tưởng tiện phân biệt                       已  著  想  便  分  別
                              Bất đẳng tam đương hà tránh                       不  等  三  當  何  諍
                              Tất dĩ đoạn bất không kế                               悉  已  斷  不  空  計

                              Bài kệ 9
                              Hữu đế nhân đương hà ngôn                       有  諦  人  當  何  言
                              Dĩ trước không thùy hữu tránh                    已  著  空  誰  有  諍
                              Tà  diệc chánh tất vô hữu                            邪  亦  正  悉  無  有
                              Tùng hà ngôn đắc kỳ đoản                          從  何  言  得  其  短

                              Bài kệ 10
                              Xả dục hải độ mạc niệm                              捨  欲  海  度 莫 念
                              Ư phụ huyền nhẫn hành hiệt                        於  婦 縣 忍 行  黠
                              Dục dĩ không chỉ niệm tưởng                       欲  已  空  止 念 想
                              Thế tà độc phục bất sanh                            世  邪  毒  伏 不 生

                              Bài kệ 11
                              Tất viễn thế cầu bại khổ                                 悉  遠  世  求  敗  苦
                              Tôn ngôn ly mạc dữ câu                                 尊  言  離  莫  與  俱
                              Như thủy hoa tịnh vô nê                               如  水  華  淨  無  泥
                              Trọng trần độ bất vi nuy                                重  塵  土  不  為  萎

                              Bài kệ 12
                              Tôn an nhĩ vô sở tham                                    尊  安  爾  無  所  貪
                              Ư thế tục vô sở trước                                      於  世  俗  無  所  著
                              Diệc bất chuyển sở niệm tưởng                    亦  不  轉  所  念  想
                              Hành như độ bất tùy thức                             行  如  度  不  隨  識

                              Bài kệ 13
                              Tam bất tác đọa hành khứ                             三  不  作  墮  行  去
                              Xả bất giáo tam thế sự                                    捨  不  教  三  世  事
                              Xả bất tưởng vô hữu phược                          捨  不  想  無  有  縛
                              Tùng hiệt giải chung bất giải                        從  黠  解  終  不  懈
                              Chế kiến tưởng dư bất thủ                            制  見  想  餘  不  取
                              Tiện yểm thanh bộ tam giới                          便  厭  聲  步  三  界

                               

                              _________________________

                              Mục Lục

                              Lời tựa

                              Phần 1

                              1. Kinh Nhiếp Phục Tham Dục (Kiệt Tham Vương Kinh)
                              2. Kinh Hang Động Ái Dục (Ưu Điền Vương Kinh)
                              3. Kinh Buông Bỏ Sở Tri Và Ngôn Từ (Tu Đà Lợi Kinh)
                              4. Kinh Buông Bỏ Khổ Lạc Và Nhiễm Tịnh (Ma Kiệt Phạm Chí Kinh)
                              5. Kinh Sự Thật Đích Thực (Kính Diện Vương Kinh)
                              6. Kinh Buông Bỏ Ân Ái (Lão Thiểu Câu Tử Kinh)
                              7. Kinh Xa Lìa Ái Dục (Di Lặc Nạn Kinh)
                              8. Kinh Buông Bỏ Ý Muốn Hơn Thua (Dũng Từ Phạm Chí Kinh)
                              9. Kinh Nhân Cách Của Một Vị Mâu Ni (Ma Nhân Đề Nữ Kinh)
                              10. Kinh Đạo Lý Duyên Khởi (Dị Học Giác Phi Kinh)
                              11. Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi (Mãnh Quán Phạm Chí Kinh)
                              12. Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt (Pháp Quán Phạm Chí Kinh)
                              13. Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản (Đâu Lặc Phạm Chí Kinh)
                              14. Kinh Phòng Hộ (Liên Hoa Sắc Tỳ Khưu Ni Kinh)
                              15. Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt (Phụ Tử Cọng Hội Kinh)
                              16. Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi (Duy Lâu Lặc Vương Kinh)
                              Phần 2 (Giảng giải kinh)

                              Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt
                              Kinh Xa Lìa Ái Dục
                              Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi

                               

                              Kinh Buông bỏ ý muốn hơn thua

                               

                              Kinh Buông Bỏ Ý Muốn Hơn Thua

                                (Dũng Từ Phạm Chí Kinh)
                                Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ tám, Đại Tạng Tân Tu 198
                                tương đương với Pasùra Sutta, Sutta-Nipàta 824-834

                                 

                                 

                                Bối cảnh

                                Đây là kinh Dũng Từ Phạm Chí. Phạm Chí là một đạo sĩ Bà La Môn. Khung cảnh dựng lên: Sau khi an cư ba tháng mùa mưa ở tu viện Cấp Cô Độc, Bụt đi sang nước Đọa Sa (Tỳ Xá Li, Vaisali) để hành đạo. Ở đây có những ông nhà giàu và con cháu của họ thuê một vị Phạm Chí tên là Dũng Từ đứng ra tranh luận với Bụt, đặt những câu hỏi để Bụt không thể trả lời được. Vị Phạm Chí đã chuẩn bị trong ba tháng. Năm trăm người đã tới Cao Quán Điện (Kutagarasala), một phòng hội nghị trên bờ hồ Vườn Khỉ (Markatahrada-tire) để dự cuộc tranh luận. Phạm Chí Dũng Từ thấy Bụt với dáng vẻ uy nghi thì sinh ra sợ hãi, không có can đảm chất vấn Bụt nữa dù đã nghĩ trước sẵn năm trăm câu hỏi hóc búa. Bụt thấy vậy liền nói kinh này.

                                 

                                1.   Tự mình cho là mình đã có pháp thanh tịnh cao nhất, kẻ khác không ai có tuệ giác lớn bằng mình. Kẹt vào cái sở tri của mình và thích thú với cái ý nghĩ là mình đã nắm được chân lý, thái độ ấy đưa người ta đến sự hành trì sai lạc.

                                2.   Trong những buổi hội họp thường muốn tỏ ra rằng mình hơn người. Ai cũng cứ nói rằng kẻ kia còn là những người u tối. Lòng cứ đinh ninh là mình có chân lý, nhưng mình không thực sự biết là mình đang nói gì. Cứ thế mọi người đặt cho nhau những câu hỏi về chân lý và hy vọng là phía bên kia người ta sẽ không thể trả lời những cật vấn của mình được.

                                3.   Trong đám đông, họ cật vấn nhau, họ đặt lại những câu hỏi gây khó khăn trong các buổi tranh luận. Khi bị dồn vào thế không trả lời được, người ta nổi cơn giận dữ tại vì đối với những vấn đề gọi là nan giải, ai cũng cho là mình hay nhất.

                                4.   Lúc bấy giờ, trong sự thực tập của mình, mình bắt đầu có sự nghi ngờ tự cho mình là đã đi sai lạc và bắt đầu có tâm hành hối hận. Trong giọng nói của mình, bắt đầu có sự mất tự tin và không còn tin tưởng vào cái biết của mình nữa. Cuối cùng, cái thao thức muốn đặt những câu vấn nạn kia chẳng giúp ích được gì cho chính mình.

                                5.   Buồn rầu, lo lắng và khổ đau khi thấy mình thua cuộc. Mình ngồi không vui mà nằm xuống cũng còn ấm ức hoặc hối hận. Cái công phu học hỏi của mình xưa nay vốn là sai lạc cho nên mới đưa tới những lời nói và những ý định như thế. Một khi thấy mình bị lép vế trong cuộc tranh luận rồi thì mình lại rơi vào mặc cảm thua kém.

                                6.   Thấy điều ấy rồi thì mình ngậm miệng lại, không dám nói nữa bởi vì mình biết nếu gấp gáp nói ra một điều gì nữa thì vấn nạn lại do đó mà phát sinh. Vì có chủ ý vấn nạn cho nên mới phát sinh ra những cuộc tranh chấp, nguyên do cũng chỉ vì mình muốn được khen ngợi, được nổi bật giữa đám đông.

                                7.   Những lời ngợi khen đẹp đẽ kia làm phát sinh sự thích thú cho nên ai cũng bị kẹt vào. Chính thái độ tự cao tự đại của mình làm cho mình rơi xuống thấp. Không chịu lắng nghe học hỏi thì làm sao ta có thể đi lên?

                                8.   Nếu quả thực có tâm tu học thì ta sẽ không có nhu yếu tranh luận như thế. Không đi theo con đường (tranh luận) kia thì ta sẽ có cơ hội đi tới giải thoát tốt đẹp. Nếu cứ ỷ vào (cái hay, cái giỏi của mình) thì sẽ có nhu yếu năng nổ đi tìm một đối tượng mà mình muốn nạn vấn hơn thua.

                                9. Tới và đi với thái độ hùng hổ, kẻ ấy không cảm thấy hổ thẹn, kẻ này bảo rằng: “ai có đủ sức nghị luận được với anh, ngoài tôi? Ôm lấy cái khối si mê của mình, rất muốn la lên rằng: “Chủ trương của quý vị toàn là sai lạc”. Mình đang tự cố thủ lấy cái sai lầm của chính mình.

                                  10. Thật sự là mình chỉ mới đi loanh quanh với cái hoa mà chưa bao giờ đi tới được cái quả. Những lời do chính mình nói ra mình cũng chưa hiểu được cái ý nghĩa của chúng nữa là. Phải (có can đảm) vượt khỏi những sai lầm của mình để tìm cầu sự khai minh. Giáo và nghĩa phải đi đôi với nhau, đừng để chúng chống đối và làm tổn thương nhau.

                                  11. Người đại diện được cái Thiện không còn nhu yếu nói năng gì nữa. Kẻ kia dù đúng hay sai, (tốt hay xấu) ta cũng không cần quan tâm lo lắng. Chủ đích của sự hành trì là tìm được cánh cửa (đi vào giải thoát). Đối tượng nào của tâm ý cũng đều phải để tâm quán chiếu cho tường tận.

                                    12. Cùng với vị chỉ huy trưởng tập họp và đàm luận chiến thuật với ba quân của mình, từ đốm sáng mờ mờ của con đom đóm, ta phát hiện lên ánh hào quang tỏa chiếu khắp nơi rạng rỡ.

                                     

                                    Đại ý

                                    Con đường tu đạo là con đường tịnh hóa. Nếu mình cho con đường của mình là cao nhất, nếu cho rằng mình đang đứng trên đỉnh cao trí tuệ thì chính mình đang bị kẹt, và sự hành trì của mình có thể là đang sai lạc. Mình có khuynh hướng muốn tranh luận và chứng tỏ là mình đúng, tất cả những kẻ khác đều sai lầm. Tranh luận mà thắng thì cảm thấy hả hê, nhưng chính cái hả hê đó sẽ làm cho mình rơi xuống hố sâu của mặc cảm. Phần lớn người ta chỉ ham chuộng lời hay ý đẹp và họ nghĩ cái ấy là đã đủ với họ. Họ không biết đó chỉ là đồ trang sức. Đó chỉ là cái thứ hoa không bao giờ kết trái. Đây là hình ảnh rất thiết thực được đưa ra trong bài thi kệ thứ chín. Nếu mình có nhu yếu tu học, nếu mình có khả năng lắng nghe và học hỏi thì mình sẽ không có nhu yếu tranh luận hơn thua.

                                    Trong kinh này Bụt chỉ dẫn những điều ta cần làm. Thứ nhất là phải phát tâm tìm cầu cánh cửa giải thoát. Thứ hai là những gì mình nói ra phải đi theo với pháp môn mình thực tập. Thứ ba là phải tìm cầu ánh sáng: chỉ có ánh sáng mới xua đuổi được bóng tối u minh, xua đuổi được tri giác sai lầm. Mà cách thức tìm cầu ánh sáng hay nhất là quán chiếu tất cả những đối tượng của tâm ý. Điều này được nói tới trong bài thi kệ thứ mười hai. Ánh sáng của con đom đóm không phá tan được màn vô minh, phải có ánh sáng của trí tuệ Ba La Mật.

                                     

                                    Bài kệ 1

                                    Tự thuyết tịnh pháp vô thượng                 自  說  淨  法  無  上
                                    Dư vô pháp minh cập ngã                          餘  無  法  明  及  我
                                    Trước sở tri cực khoái lạc                       著  所  知  極  快  樂
                                    Nhân duyên đế trú tà học                          因  緣  諦  住  邪  學

                                    Bài kệ 2
                                    Thường tại chúng dục nguyện thắng            常  在  眾  欲  願  勝
                                    Ngu phóng ngôn chuyển tướng thiêu            愚  放  言  轉  相  燒
                                    Ý niệm nghĩa vong bổn ngữ                         意  念  義  忘  本  語
                                    Chuyển thuyết nan tuệ sở ngôn                   轉  說  難  慧  所  言

                                    Bài kệ 3
                                    Ư chúng trung nan hợp nghĩa                        於  眾  中  難  合  義
                                    Dục nan nghĩa đương cánh cú                       欲  難  義  當  竟  句
                                    Tại chúng cùng tiện sân nhuế                        在  眾  窮  便  瞋  恚
                                    Sở nan giải chúng tất thiện                            所  難  解  眾  悉  善

                                    Bài kệ 4
                                    Tự sở hành tiện sanh nghi                               自  所  行  便  生  疑
                                    Tự kế phi hậu ý hối                                         自  計  非  後  意  悔
                                    Ngữ sảo nghi vong ý tưởng                              語  稍  疑  忘  意  想
                                    Dục tà nạn chánh bất trợ                                  欲  邪  難  正  不  助

                                    Bài kệ 5
                                    Bi ưu thống sở ngôn đoản                             悲  憂  痛  所  言  短
                                    Tọa bất lạc ngọa âm trách                             坐  不  樂  臥  喑  咋
                                    Bổn tà học trí từ  ý                                        本  邪  學  致  辭  意
                                    Ngữ bất thắng chuyển hạ ý                            語  不  勝  轉  下  意

                                    Bài kệ 6
                                    Dĩ kiến thị thượng thủ khẩu                         已  見  是  尚  守  口
                                    Cấp khai bế nan tùng sanh                          急  開  閉  難  從 生
                                    Ý tại nạn kiến đối sanh                                意  在  難  見  對  生
                                    Xuất thiện thanh vi chúng quang                   出  善  聲  為  眾 光

                                    Bài kệ 7
                                    Từ duyệt hảo sanh ý hỉ                                   辭  悅  好  生  意  喜
                                    Trước hoan hỉ bỉ tự bỉ                                    著  歡  喜  彼  自  彼
                                    Tự đại khả đọa lậu hành                                自  大  可  墮  漏  行
                                    Bỉ bất học tùng hà tăng                                  彼  不  學  從  何  增

                                    Bài kệ 8
                                    Dĩ học thị mạc không tranh                        已  學  是  莫  空  諍
                                    Bất tùng thị thiện giải thoát                        不  從  是  善  解  脫
                                    Đa ỷ sanh thống hành ti                             多  倚  生  痛  行  司
                                    Hành cầu bối dục dữ nạn                           行  求 輩  欲  與  難

                                    Bài kệ 9
                                    Dũng tùng lai khứ mạc tàm                          勇  從  來  去  莫  慚
                                    Lệnh đương thùy dữ nhữ nghị                     令  當  誰  與  汝  議
                                    Bão minh trụ dục nan viết                             抱  冥  柱  欲  難  曰
                                    Nhữ tà đế tự thủ si                                      汝  邪  諦  自  守  癡

                                    Bài kệ 10
                                    Nhữ hành hoa bất kiến quả                           汝  行  花  不  見  果
                                    Sở xuất ngữ đương cầu nghĩa                       所  出  語  當  求  義
                                    Việt tà độ chuyển cầu minh                           越  邪  度  轉  求  明
                                    Pháp nghĩa đồng tùng tướng thương             法  義  同  從  相  傷

                                    Bài kệ 11
                                    Ư thiện pháp dũng hà ngôn                              於  善  法  勇  何  言
                                    Bỉ thiện ác thọ mạc ưu                                    彼  善  惡  受  莫  憂
                                    Hạnh ức đáo cầu đáo môn                               行  億 到  求  到  門
                                    Ý sở tưởng khứ đế tư                                     意  所  想  去  諦  思

                                    Bài kệ 12
                                    Dữ đại tướng câu nghị quân                         與  大  將  俱  議  軍
                                    Bỉ  huỳnh hỏa thượng biến minh                   比  螢  火  上  遍  明

                                     

                                    Kinh Xa Lìa Ái Dục

                                     

                                    Kinh Xa Lìa Ái Dục

                                    (Di Lặc Nạn Kinh)
                                    Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ bảy, Đại Tạng Tân Tu 198
                                    tương đương với Tissametteyya Sutta, Sutta-Nipàta 814-823

                                     

                                    Bối Cảnh

                                    Đây là kinh Di Lặc Nạn. Câu hỏi của thầy Di Lặc là về đề tài năng lượng tình dục. Đế Tu Di Lặc (Tissa Metteya) là một vị xuất gia trẻ, trước đó là đệ tử của một vị Phạm Chí tên là Bàvari, nhưng sau đó cả hai thầy trò đều trở thành đệ tử xuất gia của Bụt. Thầy Di Lặc đã từng đặt câu hỏi này với một vị cư sĩ trẻ tên là Xá Lợi Phất (không phải thầy Xá Lợi Phất) nhưng vị này đã không trả lời được dù đã từng nghe nhiều thầy lớn đàm luận với nhau. Cuối cùng thầy hỏi thẳng đức Thế Tôn: làm sao một người tu trẻ có thể xử lý được năng lượng tình dục để không bị thối thất trên bước đường tu học?

                                     

                                    1. Vướng mắc vào sắc dục là căn nguyên của bao nhiêu si mê lầm lỗi, những si mê lỗi lầm này ngăn không cho mình tiếp tục đi tới trên con đường Đạo rộng thênh thang. Xin đức Thế Tôn giáo giới cho chúng con, để chúng con có thể hành trì và lìa xa được mọi hệ lụy gây nên do sắc dục.

                                    2. Khi tâm ý đã bị ám ảnh bởi hình bóng một đối tượng ái dục thì chúng con thường quên mất lời truyền dạy của đức Thế Tôn. Chúng con đánh mất con đường chánh mà chúng con muốn đi, ngay cả những lúc chúng con ngủ nghỉ. Và chúng con cũng quên mất thứ tự trước sau trong công phu hành trì tu tập.

                                    3. Người xuất gia là người đi một mình với cái tâm ban đầu với chủ đích là khám phá cho ra được Chân Đế, nhưng sau đó một thời gian có thể đi ngược lại với lý tưởng của mình một khi bị vướng vào ái dục. Cũng như cỗ xe kia không còn chịu đi trên con đường thẳng mà bắt đầu lăn xuống hố, người xuất gia ấy không còn khả năng phân biệt được chánh tà.

                                    4. Ngày xưa vị ấy đã từng được tôn kính và yêu mến vì giá trị đạo đức của mình, nhưng bây giờ vị ấy đã đánh mất tất cả những cái tốt đẹp đó. Thấy được sự thật này, ta phải hết lòng tu tập, quyết tâm xa lìa con đường ái dục.

                                    5. Ta hãy nên quán chiếu về cái lợi và cái hại của sắc dục, phải thấy được một khi đã vướng vào sắc dục rồi thì ta sẽ đi về đâu. Phải lắng nghe những lời dạy tuệ giác liên hệ tới vấn đề này để đề cao cảnh giác. Phải thực tập chánh tư duy để thấy được những thống khổ và những hổ thẹn mà sắc dục có thể đem lại cho ta.

                                    6. Cái hành của ta phải đi theo với cái thấy của ta. Phải học phép độc cư, đừng bao giờ để xảy ra sự chung đụng trái phép. Vướng vào sắc dục sẽ sinh ra tà loạn, khiến cho kẻ hành giả đánh mất đi tất cả năng lượng dũng mãnh của chính mình.

                                    7. Kẻ phạm giới luôn luôn mang theo trong lòng sự sợ hãi. Giây phút giao hoan ngắn ngủi, nhưng cái sợ hãi này phải mang lấy lâu dài. Đã trót vướng vào cái lưới rồi, mình phải liên tiếp nói lên những lời gian dối không thật.

                                    8. Thấy được những hệ lụy gây nên do sự phạm giới, ta phải giữ mình và đừng bao giờ tự phụ là mình đã giỏi. Vị mâu ni kiên trì trên con đường sống độc cư của mình, khi đi cũng như khi về. Vị ấy hướng về nẻo sáng mà đi, không bị tập khí si mê lôi kéo.

                                    9. Sống một mình để đi trên con đường hướng thượng tìm cầu chân lý. Ta đã có con đường rồi nhưng ta không nên tự kiêu. Tuy chưa thực chứng được Niết Bàn, nhưng ta đã ở sát ngay bên cạnh Niết Bàn rồi.

                                    10. Nên phát khởi tâm nguyện vượt cao đi xa, không dừng lại ở cõi sắc và cõi vô sắc. Theo lời đức Thiện Thệ chỉ dạy, ta quyết tâm vượt ra ngoài cõi khổ. Được như thế thì bao nhiêu cám dỗ sắc dục của cuộc đời cũng sẽ không làm gì được ta.

                                    Đại Ý

                                    Kinh này gồm mười hai bài kệ. Kinh này cũng nối tiếp đề tài của kinh trước, nói về buông bỏ ân ái. Người xuất gia tuy không còn sống cuộc đời lứa đôi nữa, nhưng vẫn phải đương đầu với vấn đề ái dục, bởi vì năng lượng ái dục là năng lượng tự nhiên của con người, mình vẫn phải đối phó, dù mình đã là người xuất gia.

                                    Bụt dạy thầy Di Lặc phải thực tập vững chãi các giới điều và uy nghi, đừng để xảy ra sự chung đụng trái phép. Đừng tự phụ là mình đã giỏi, không cần tới những “chi tiết nhỏ nhặt” của giới luật và uy nghi. Phải phát đại nguyện vượt cao, đi xa, và tâm Bồ Đề ấy sẽ bảo hộ cho mình. Và phải luôn luôn quán chiếu để thấy những hệ lụy mà sắc dục đem lại. Vướng vào sắc dục rồi, mình sẽ như một cỗ xe không còn đi đường thẳng nữa mà bắt đầu lăn xuống hố, mình không tiếp tục được sự hành trì, mình phải chịu mất đi sự tin tưởng và quý chuộng của các bạn đồng tu, mình bắt buộc phải nói những lời gian dối, chịu đựng rất nhiều thống khổ và những hổ thẹn, tất cả đều là do sắc dục đem đến.

                                    Những người xuất sĩ già hay trẻ phải biết cám ơn thầy Di Lặc, vị xuất sĩ trẻ tuổi thời ấy, vì thầy đã can đảm hỏi những câu hỏi rất thật để Bụt có thể soi sáng cho tất cả những người xuất gia trẻ tuổi khác. Phép thực tập của Bụt gồm có hai điểm chính: Thứ nhất là phải thực tập giới luật và uy nghi cho vững chãi, thứ hai là phải tự nhắc nhở mình, nhắc nhở nhau và quán chiếu về những hệ lụy mà ái dục có thể mang tới.

                                     


                                    Bài kệ 1
                                    Dâm dục trước nữ hình                                  婬  欲  著  女  形
                                    Đại đạo giải si căn                                         大  道  解  癡  根
                                    Nguyện thọ tôn sở giới                                  願  受  尊  所  戒
                                    Đắc giáo hành viễn ác                                    得  教  行  遠  惡

                                     

                                    Bài kệ 2
                                    Ý trước dâm nữ hình                                   意  著  婬  女  形
                                    Vong tôn  sở giáo lệnh                                 亡  尊  所  教  令
                                    Vong chánh trí thùy ngọa                              亡  正  致  睡  臥
                                    Thị hành thất thứ đệ                                     是  行  失  次  第

                                    Bài kệ 3
                                    Bổn độc hành cầu đế                                      本  獨  行  求  諦
                                    Hậu phản trước sắc loạn                                後  反  著  色  亂
                                    Bôn xa vong chánh đạo                                  犇  車  亡  正  道
                                    Bất tồn xả chánh tà                                        不  存  捨  正  邪

                                    Bài kệ 4
                                    Tọa trị kiến tôn kính                                     坐  值  見  尊  敬
                                    Thất hành vong thiện danh                           失  行  亡  善  名
                                    Kiến thị đế kế học                                       見  是  諦  計  學
                                    Sở dâm viễn xả ly                                       所  婬  遠  捨  離

                                    Bài kệ 5
                                    Thả tư sắc thiện ác                                     且  思  色  善  惡
                                    Dĩ phạm đương hà trí                                   已  犯  當  何  致
                                    Văn tuệ sở tự giới                                       聞  慧  所  自  戒
                                    Thống tàm khước tự tư                               痛  慚  却  自  思

                                    Bài kệ 6
                                    Thường hành dữ tuệ hợp                               常  行  與  慧  合
                                    Ninh độc mạc loạn câu                                  寧  獨  莫  亂  俱
                                    Trước sắc sanh tà loạn                                  著  色  生  邪  亂
                                    Vô thế vong dũng mãnh                                   無  勢  亡  勇  猛

                                    Bài kệ 7
                                    Lậu giới hoài khủng bố                                  漏  戒  懷  恐  怖
                                    Thọ đoản vi bỉ phụ                                          受  短  為  彼  負
                                    Dĩ trước nhập la võng                                    已  著  入  羅  網
                                    Tiện khi xuất gian thanh                                便  欺  出  奸  聲

                                    Bài kệ 8
                                    Kiến phạm nhân duyên  ác                            見  犯  因  緣  惡
                                    Mạc thủ  thân tự  phụ                                   莫  取  身  自  負
                                    Kiên hành độc lai khứ                                   堅  行  獨  來  去
                                    Thủ minh mạc tập si                                      取  明  莫  習  癡

                                    Bài kệ 9
                                    Viễn khả độc tự xứ                                      遠  可  獨  自  處
                                    Đế kiến vi thượng hành                                 諦  見  為  上  行
                                    Hữu hành mạc tự kiêu                                  有  行  莫  自  憍
                                    Vô ỷ nê hoàn thứ                                          無  倚  泥  洹  次

                                    Bài kệ 10
                                    Viễn kế niệm trường hành                            遠  計  念  長  行
                                    Bất dục sắc bất sắc                                     不  欲  色  不  色
                                    Thiện thuyết đắc độ thống                             善  說  得  度  痛
                                    Tất thế dâm tự thực                                      悉  世  婬  自  食

                                     

                                    _________________________

                                    Mục Lục

                                    Lời tựa

                                    Phần 1

                                    1. Kinh Nhiếp Phục Tham Dục (Kiệt Tham Vương Kinh)
                                    2. Kinh Hang Động Ái Dục (Ưu Điền Vương Kinh)
                                    3. Kinh Buông Bỏ Sở Tri Và Ngôn Từ (Tu Đà Lợi Kinh)
                                    4. Kinh Buông Bỏ Khổ Lạc Và Nhiễm Tịnh (Ma Kiệt Phạm Chí Kinh)
                                    5. Kinh Sự Thật Đích Thực (Kính Diện Vương Kinh)
                                    6. Kinh Buông Bỏ Ân Ái (Lão Thiểu Câu Tử Kinh)
                                    7. Kinh Xa Lìa Ái Dục (Di Lặc Nạn Kinh)
                                    8. Kinh Buông Bỏ Ý Muốn Hơn Thua (Dũng Từ Phạm Chí Kinh)
                                    9. Kinh Nhân Cách Của Một Vị Mâu Ni (Ma Nhân Đề Nữ Kinh)
                                    10. Kinh Đạo Lý Duyên Khởi (Dị Học Giác Phi Kinh)
                                    11. Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi (Mãnh Quán Phạm Chí Kinh)
                                    12. Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt (Pháp Quán Phạm Chí Kinh)
                                    13. Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản (Đâu Lặc Phạm Chí Kinh)
                                    14. Kinh Phòng Hộ (Liên Hoa Sắc Tỳ Khưu Ni Kinh)
                                    15. Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt (Phụ Tử Cọng Hội Kinh)
                                    16. Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi (Duy Lâu Lặc Vương Kinh)
                                    Phần 2 (Giảng giải kinh)

                                    Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt
                                    Kinh Xa Lìa Ái Dục
                                    Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi

                                     

                                    Kinh Buông Bỏ Ân Ái

                                    Kinh Buông Bỏ Ân Ái
                                    (Lão Thiếu Câu Tử Kinh)
                                    Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ sáu, Đại Tạng Tân Tu 198
                                    tương đương với Jarà Sutta, Sutta-Nipàta 804-813

                                     

                                    Bối Cảnh

                                    Đây là kinh Lão Thiếu Câu Tử. Lão Thiếu Câu Tử nghĩa là già cũng chết trẻ cũng chết. Khung cảnh dựng lên: Bụt đang ở nước Vatsa (cũng là Kiều Thường Di, Kausambi). Một hôm cùng với thầy A Nan vào thành phố khất thực, Bụt thấy nhiều phụ nữ xõa tóc khóc than vì người thân của họ mới qua đời. Có người một trăm hai mươi tuổi mới chết. Nhưng có em lại mới lên bảy tuổi mà đã chết. Thấy sự xót thương ấy Bụt nói kinh này.

                                     

                                    1.    Kiếp người rất ngắn ngủi
                                    Chưa tới một trăm năm
                                    Dù có hơn trăm năm
                                    Cũng không sao khỏi chết.

                                    2.   Lạc thú sinh lo lắng
                                    Ân ái sợ vô thường
                                    Yêu nhau hay ghét nhau, rốt cuộc rồi cũng phải xa
                                    nhau.
                                    Thấy vậy cho nên có người không còn ưa thích sống đời lứa đôi.

                                    3.   Không có gì mà cơn lũ của cái chết không cuốn theo nó. Những gì ta ham muốn ngày xưa, những gì mà ta trân quý như một cái ta, nếu lấy trí tuệ quán chiếu để tìm ra sự thật ta sẽ thấy rằng cái này không phải là ta, và ta không phải là cái này.

                                    4.   Những lạc thú của cuộc đời cũng giống như những gì ta thấy trong một giấc mơ. Thức dậy rồi thì không còn thấy gì nữa. Những gì mà người đời đang tham cầu cũng thế. Một khi tâm thức hết biểu hiện thì còn có gì nữa đâu?

                                    5.   Tên tuổi người ấy ta còn nghe, nhưng người ấy đã đi rồi. Người ấy dễ thương hay không dễ thương, bây giờ ta cũng không trông thấy nữa. Người ấy đã rời bỏ cuộc đời, người ấy đã đi về đâu? Thần thức đã đi, chỉ có cái tên còn ở lại.

                                    6.   Buồn giận nhau, yêu thương nhau, rồi ghen ghét nhau. Người ta không buông bỏ được cái vướng mắc vào tham ái. Bậc trí giả biết vậy cho nên buông bỏ ân ái. Lìa xa được sự sợ hãi và đạt tới cõi an lành.

                                    7.   Vị khất sĩ phải sống với sự thực, đừng đánh mất chánh niệm. Phải xa lìa ái dục, biết rằng hình hài này thế nào cũng có ngày hủy diệt. Phải thực tập đừng đuổi theo những đối tượng sắc dục. Phải quán chiếu tâm ý trong tâm ý. Trên con đường tìm cầu chân lý, đừng dừng lại bất cứ ở đâu.

                                    8.   Không dừng lại cũng là pháp môn hành trì của các bậc tôn đức. Cái thương, cái ghét, cái tỵ hiềm, cái buồn và cái lo không động được tới mình. Như những giọt nước rơi xuống không giọt nào dính vào được đóa sen.

                                    9.   Không vướng mắc, cũng không trông cầu. Những gì thấy và nghe có tính cách bất chính ta không ái trước. Cả đến cái giải thoát mà ta cũng không tìm cầu thì ta còn tìm cầu gì những cái ô nhiễm?

                                    10. Không vướng vào tham ái, (trong sáng) như một đóa sen. Tuy mọc lên từ bùn nhưng bùn không động tới được. Bậc tôn quý trên đời cũng hành xử như thế. Những gì nghe và thấy cũng giống như những gì chưa bao giờ thấy, chưa bao giờ nghe.

                                    Đại Ý

                                    Kinh này nói tới cái lo và cái sợ. Dù mình đang hưởng thọ lạc thú, mình cũng nơm nớp lo sợ không biết ngày mai mình còn giữ được cái ngày hôm nay không. Dù mình đang có ân ái, mình cũng nơm nớp lo sợ không biết ngày mai người thương của mình có còn hay không. Nhìn cho kỹ thì đối tượng của lạc thú cũng như đối tượng của yêu thương đều là vô thường, còn đó rồi mất đó như một giấc mơ. Khi người mà ta thương yêu không còn đó nữa, thì dù ta có khóc thương cách mấy người ấy cũng không sống lại được.

                                    Các vị khất sĩ phải buông bỏ ân ái, đi như một con người tự do, đừng để bất cứ một hình ảnh hay một âm thanh làm vướng bận. Đừng đuổi theo một đối tượng ái dục. Trên con đường đi tới giải thoát không nên dừng lại vì một đối tượng ân ái, dù chỉ là trong khoảnh khắc. Đừng để cái thương, cái ghét, cái buồn, cái lo đụng tới mình. Chính cái giải thoát mà ta cũng không bị vướng mắc vào thì tại sao ta để cho ta vướng mắc vào những cái ô nhiễm?

                                     

                                    Bài kệ 1
                                    Thị thân mạng thậm đoản                             是  身  命  甚  短
                                    Giảm bách niên diệc tử                                減  百  年  亦  死
                                    Tuy hữu quá bách niên                                  雖  有  過  百  年
                                    Lão tùng hà ly tử                                          老  從  何  離  死

                                    Bài kệ 2
                                    Tọa khả ý sanh ưu                                        坐  可  意  生  憂
                                    Hữu ái  tùng đắc thường                                有  愛  從  得  常
                                    Ái tăng tất đương biệt                                    愛  憎  悉  當  別
                                    Kiến thị mạc lạc gia                                        見  是  莫 樂  家

                                    Bài kệ 3
                                    Tử hải vô sở bất phiêu                                死  海  無  所  不  漂
                                    Túc sở tham ái hữu ngã                              宿  所  貪  愛  有  我
                                    Tuệ nguyện quán đế kế thị                            慧  願  觀  諦  計  是
                                    Thị vô ngã ngã vô thị                                     是  無  我  我  無  是

                                    Bài kệ 4
                                    Thị thế lạc như kiến mộng                            是  世  樂  如  見  夢
                                    Hữu thức ngụ  diệc hà kiến                           有  識  寤  亦  何  見
                                    Hữu tham thế tất diệc nhĩ                              有  貪  世  悉  亦  爾
                                    Thức chuyển diệt diệc hà kiến                      識  轉  滅  亦  何  見

                                    Bài kệ 5
                                    Văn thị bỉ tất dĩ khứ                                       聞  是  彼  悉  已  去
                                    Thiện diệc ác kim bất kiến                             善  亦  惡  今  不  見
                                    Tất xả thế đáo hà sở                                    悉  捨  世  到  何  所
                                    Thức thần khứ đãn danh tại                          識  神  去   但  名 在

                                    Bài kệ 6
                                    Ký bi ưu chuyển tướng tật                            既  悲  憂  轉  相  嫉
                                    Phục bất xả tham trước ái                              復  不  捨  貪  著  愛
                                    Tôn cố đoạn ái khí khả                                   尊  故  斷  愛  棄  可
                                    Viễn khủng bố kiến an xứ                             遠  恐  怖  見  安 處

                                    Bài kệ 7
                                    Tỳ-kheo đế mạc vọng niệm                           比  丘  諦  莫  妄  念
                                    Dục khả viễn thân thả hoại                            欲  可  遠  身  且  壞
                                    Dục hành chỉ ý quán ý                                  欲  行  止  意  觀  意
                                    Dĩ thùy đế vô chỉ xứ                                      已  垂  諦  無  止  處

                                    Bài kệ 8
                                    Vô chỉ giả diệc tôn hành                              無  止  者  亦  尊  行
                                    Ái bất ái diệc tật hành                                  愛  不  愛  亦  嫉  行
                                    Tại bi ưu diệc tật hành                                 在  悲  憂  亦  嫉  行
                                    Vô nhu triêm như liên hoa                            無  濡  沾  如  蓮  華

                                    Bài kệ 9
                                    Dĩ bất trước diệc bất vọng                             已  不  著  亦  不  望
                                    Kiến văn tà ngô bất ái                                    見  聞  邪  吾  不  愛
                                    Diệc bất tùng cầu giải thoát                           亦  不  從  求  解  脫
                                    Bất ô dâm diệc hà tham                                  不  污  婬  亦  何  貪

                                    Bài kệ 10
                                    Bất tướng tham như liên hoa                        不  相  貪  如  蓮  華
                                    Sanh tại  thủy thủy bất ô                                生  在  水  水  不  汙
                                    Tôn cập thế diệc nhĩ hành                              尊  及  世  亦  爾  行
                                    Sở văn kiến như vị sanh                                 所  聞  見  如  未  生

                                     

                                    _________________________

                                    Mục Lục

                                    Lời tựa

                                    Phần 1

                                    1. Kinh Nhiếp Phục Tham Dục (Kiệt Tham Vương Kinh)
                                    2. Kinh Hang Động Ái Dục (Ưu Điền Vương Kinh)
                                    3. Kinh Buông Bỏ Sở Tri Và Ngôn Từ (Tu Đà Lợi Kinh)
                                    4. Kinh Buông Bỏ Khổ Lạc Và Nhiễm Tịnh (Ma Kiệt Phạm Chí Kinh)
                                    5. Kinh Sự Thật Đích Thực (Kính Diện Vương Kinh)
                                    6. Kinh Buông Bỏ Ân Ái (Lão Thiểu Câu Tử Kinh)
                                    7. Kinh Xa Lìa Ái Dục (Di Lặc Nạn Kinh)
                                    8. Kinh Buông Bỏ Ý Muốn Hơn Thua (Dũng Từ Phạm Chí Kinh)
                                    9. Kinh Nhân Cách Của Một Vị Mâu Ni (Ma Nhân Đề Nữ Kinh)
                                    10. Kinh Đạo Lý Duyên Khởi (Dị Học Giác Phi Kinh)
                                    11. Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi (Mãnh Quán Phạm Chí Kinh)
                                    12. Kinh Buông Bỏ Nắm Bắt (Pháp Quán Phạm Chí Kinh)
                                    13. Kinh Công Phu Thực Tập Căn Bản (Đâu Lặc Phạm Chí Kinh)
                                    14. Kinh Phòng Hộ (Liên Hoa Sắc Tỳ Khưu Ni Kinh)
                                    15. Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt (Phụ Tử Cọng Hội Kinh)
                                    16. Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi (Duy Lâu Lặc Vương Kinh)
                                    Phần 2 (Giảng giải kinh)

                                    Kinh Vị Mâu Ni Thành Đạt
                                    Kinh Xa Lìa Ái Dục
                                    Kinh Chuyển Hóa Bạo Động Và Sợ Hãi