Đỉnh cao gió gọi

Thầy Pháp Biểu là người Ý, xuất gia năm 2008 trong gia đình Cây Sen Trắng lúc 19 tuổi. Ngoài tiếng mẹ đẻ, thầy còn sử dụng được tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Việt, và rất thích học hỏi chữ Hán để có thể hiểu được kinh điển từ Hán tạng. Dưới đây là bài viết thầy chia sẻ về một kỷ niệm học chữ Hán, BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh.

 

Một trong những niềm vui lớn trong đời tu của tôi là được học chữ Hán. Lúc còn nhỏ, vẻ đẹp của những nét chữ ấy đã khiến tôi thích thú. Tôi muốn học, nhưng tôi nghĩ ước mơ ấy khá xa vời, khó mà thực hiện được. Sau khi xuất gia, suốt bảy năm qua, tôi đã có rất nhiều hứng khởi, nhiều cái thấy sâu sắc khi có cơ hội học thêm chữ Hán. Gần đây, tôi để nhiều thời gian cho việc học chữ Hán. Tôi làm mới lại cảm hứng này qua một vài cách học khác nhau, cho đến khi tình cờ bắt gặp được một bài thơ.

Mặc dầu không có kinh nghiệm gì về thi ca Trung Hoa, tôi thấy mình rất may mắn khi tìm thấy bài thơ ngắn này. Bài thơ thật sự đã chạm tới một cảm giác sâu kín trong tôi. Chắc hẳn bạn cũng sẽ tìm thấy một cảm giác tương tự như vậy.

Bài thơ của Khâu Vi (khoảng 709-804), một thi sĩ đời Đường, đã được chọn đăng trong tập Ba trăm bài thơ Đường, một trong những tập thơ rất nổi tiếng.

   

絕頂寧챕늙   

殮힛枷쟁   

森關無墓僕   

窺杆顆갭幾   

흼렷쏀뀜車   

應角釣헬彊   

뀌넥꼇宮見   

黽춤왕嵐岺   

꿇劤黛櫓   

漑聲功눗裡   

섟茲폡聃絕   

菱璃盪懃랐   

雖無賓寮雷   

頗돤헌淨잿   

興盡렘苟   

부극덤裂綾   

 

Ẩn sĩ tìm không gặp

Trèo non vài mươi dặm

Đỉnh cao một liếp tranh

Gõ cửa người đâu vắng

Chỉ thấy chiếc bàn không

Người mùa thu câu cá

Hoặc dạo chơi non bồng

Chậm chân không gặp mặt

Mà chẳng chút chờ mong

Mưa thu sắc cỏ đổi

Tùng reo vọng bên song

Một mình bóng đêm phủ

Tâm cảnh bỗng dung thông

Không ý khách ý chủ

Sạch trong vẹn một lòng

Thấu đỉnh non, xuống núi

Đợi gì, chủ nhân ông!

(Thầy Nguyên Tịnh dịch)

 

Chính kinh nghiệm được diễn tả trong bài thơ là một trong những điều mà tôi luôn thấy qua Thầy của mình. Tôi đã từng nghĩ rằng, kinh nghiệm giống như trong bài thơ này diễn đạt chỉ là kinh nghiệm của riêng Thầy. Cho đến khi tôi đọc được vài dòng trong bài thơ trên, tôi bất chợt nhận ra rằng, đã có vô số ẩn sĩ và vô số người lên núi tìm các vị như vậy.

Tám câu đầu của bài thơ miêu tả khung cảnh và mục đích của tác giả. Khâu Vi mong ước được gặp vị ẩn sĩ, đã leo mười dặm đường núi mà không dừng để nghỉ ngơi. Có thể ông đã mất khoảng nửa ngày đường mới lên đến ẩn am. Bạn có thể tưởng tượng ra sự thất vọng của ông khi gõ cửa chòi lá nhỏ nơi ẩn sĩ ở và không ai trả lời. Nhìn qua khung cửa sổ, ông chỉ thấy căn phòng trống với một chiếc bàn đơn sơ. Có thể ông đã đứng gần khung cửa rất lâu, hy vọng vị ẩn sĩ sẽ trở về.

Người mùa thu câu cá
Hoặc dạo chơi non bồng
 

Ông tự hỏi vị ẩn sĩ lúc đó đang làm gì? Câu hỏi này bất chợt mở rộng tầm nhìn của ông. Sự việc vị ẩn sĩ không có đó đã mở ra nhiều giả thuyết, rằng vị ấy hiện có thể có mặt ở bất cứ nơi nào: phía sau một cội cây già, bên một vách núi, đang trên một cỗ xe gỗ nhàn du, hoặc đang thả câu bên một bờ hồ lặng lẽ đâu đó. Mong cầu duy nhất của tác giả khi lên đến đỉnh núi là gặp được vị ẩn sĩ đang ở trong am tranh của mình. Đến nơi, căn phòng vắng, vị ẩn sĩ không có mặt ở đó cho nên cơ hội để gặp được người có thể xảy ra ở bất cứ nơi nào trên đỉnh Tây Sơn.

Chậm chân không gặp mặt
Mà chẳng chút chờ mong
 

Ngay trong giây phút Khâu Vi chấm dứt sự tìm cầu, vị ẩn sĩ bắt đầu biểu hiện tất cả vẻ đẹp của mình. Và đây là nội dung tám câu cuối của bài thơ, miêu tả sự gặp gỡ trực tiếp giữa tác giả với đứa con của núi rừng.

Mưa thu sắc cỏ đổi
Tùng reo vọng bên song
Một mình bóng đêm phủ
Tâm cảnh bỗng dung thông
 

Khâu Vi không còn phải đợi chờ nữa. Ông đang có mặt một cách trọn vẹn và đang tiếp xúc sâu sắc với tất cả các giác quan của ông. Bóng đêm từ từ bao phủ, bao phủ ông và bao phủ khắp nơi. Đứng bên song cửa am lá, cảm nhận mỗi sự vật xung quanh, tác giả thấy tâm hồn mình cũng được bao phủ bởi vẻ đẹp và sự bình an toát ra từ núi rừng.

Không ý khách ý chủ
Sạch trong vẹn một lòng
Thấu đỉnh non, xuống núi
Đợi gì, chủ nhân ông!
 

Khi chủ nhà không có đó thì khái niệm khách thăm cũng biến mất. Hai ý niệm đã không tồn tại thì Khâu Vi cuối cùng, có cơ hội tiếp kiến với vị ẩn sĩ. Vì không còn kẹt vào các ý niệm hoặc kỳ vọng nào nữa, sự gặp gỡ đã xảy ra ngoài phạm vi thời gian và không gian. Khi tất cả ý niệm được buông bỏ, một cảm giác hạnh phúc, bình an và thỏa mãn được biểu hiện trong trái tim ông. Không còn sự ngăn cách giữa hai người, tác giả nói: Sạch trong vẹn một lòng.

Ông diễn tả tuệ giác này như là việc leo lên đỉnh núi. Khi không còn điểm nào cao hơn nữa thì việc còn lại phải làm là leo xuống mà không mong đợi, không hối hận bất cứ điều gì. Câu thơ cuối ướp đầy sức mạnh, năng lượng và sự quyết tâm của tuệ giác mới: Đợi gì, chủ nhân ông!

Câu thơ cuối cứ đọng lại mãi trong tôi từ lúc tôi đọc được bài thơ này. Một phần như gợi ý để tôi tự hỏi mình: “Tại sao tôi phải mong chờ để gặp vị ẩn sĩ của tôi?” Hoặc tôi có thể nói thẳng thắn hơn: “Tại sao tôi phải đợi Thầy trở về để tôi có cơ hội gặp mặt? Tại sao tôi phải mong chờ Thầy của tôi nói pháp thoại trở lại hoặc ngồi đó và đãi trà cho chúng tôi để tôi có dịp ngồi chơi với Thầy?”

Ở xóm Thượng, tôi đang có cơ hội sống trên đỉnh núi cao. Mỗi ngày, tôi được dạo chơi nơi con đường huyền thoại. Tiếng gió xuyên qua những hàng tùng xanh tạo nên một âm thanh khiến cho ta không thể không chú ý đến. Như thể có ai đó đang gọi tên tôi, tôi không thể nào cứ thản nhiên mà đi tiếp được. Tôi cần dừng lại một lát và lễ phép hỏi ai đó ít nhất một vài câu: “Xin chào, bạn là ai? Bạn từ đâu đến vậy?” Tôi đợi cho ai đó cười vang với những câu hỏi ngớ ngẩn của tôi rồi tôi lại tiếp tục bước đi. Một sự tiếp xúc thật đơn sơ, tuy thế đã làm cho trái tim tôi ngập tràn niềm vui và hạnh phúc. Những cuộc gặp gỡ như vậy có thể xảy ra bất cứ lúc nào, tôi còn mong đợi gì hơn nữa?

Sau khi đọc xong bài thơ này, tôi thấy biết ơn tác giả rất nhiều vì bài thơ đã gieo một hạt giống thật sâu vào tâm thức tôi. Tôi ý thức rằng, hiện giờ hạt giống đang nằm đó thì tôi còn gì phải lo sợ? Tôi nghĩ mình nên tiếp tục sống đời sống của mình cho trọn vẹn. Có lẽ chỉ nên ý thức thêm một chút rằng, mỗi ngày tôi đều được hiến tặng cơ hội để có thể gặp vị thầy của mình và, gặp được hay không, điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào tôi mà thôi.

Thiên thần quét lá

Thiên thần quét lá
Rừng vắng sáng nay
Tiếng cười trong vắt
Hòa với cỏ cây.
 
Chim rừng tỉnh giấc
Giọt nắng có hay
Nai vàng suối mát
Đùa với bóng mây.
 
Thiên thần ơi!
Có thấy chăng hoa cười?
Thiên thần ơi!
Kìa lá rơi ngập lối!
Xanh vàng nâu, đỏ thắm
Thu khoe màu
Tâm bình an,
Tay quét, em đưa đều.
 
Em ngồi bên đá
Làn gió thoáng qua
Ô kìa mưa lá
Lòng đất chớm hoa.
 
Em đùa trong nắng
Chờ bắt chiếc lá rơi
Rừng bao nhiêu lá
Em thương đời bấy nhiêu.

Ngày mới của năm mới

Cư xá Mây Tím, xóm Hạ,

Sáng nay trời mờ sương, đẹp và hiền quá. Trong căn phòng nhỏ, ngồi bên cửa sổ, con nhìn ra một không gian đầy yêu thương thanh khiết. Tất cả là sự biểu hiện đẹp của đất trời, trong nghĩa tình chan hòa của muôn loại.

Năm mới mọi thứ đều thay áo mới. Cái áo đầu ngày của trời Cha cũng đẹp hơn và dịu êm hơn. Cha mặc rất hiền. Có thể mọi thứ chung quanh cùng cảm nhận niềm vui nên đã may tấm áo của ngày hôm nay, để reo ca mừng sự sống. Không khí hân hoan này, như một dấu hiệu của điềm lành. Cảm ơn trời Cha đã thể hiện cái đẹp dịu hiền đầu năm để tiếp đón đất Mẹ và ôm ấp chúng con. Trời Cha và đất Mẹ, đã luôn sẵn sàng có mặt để chúng con nương tựa. Năm mới, chúng con nguyện chung tay bảo vệ hành tinh này, đem sự tươi mát rưới lên khắp toàn cầu, mang thông điệp đầy yêu thương đến cùng mọi loài trên trái đất.

Chúng con ý thức rằng, nhờ năng lượng che chở và nâng đỡ của trời Cha và đất Mẹ mà chúng con cùng nhau một lòng đầy nhiệt huyết tạo nên cõi Tịnh độ này. Chúng con biết tất cả những gì chúng con suy nghĩ, hành động, nói năng theo hướng tích cực, lành thiện, tươi mát, từ bi, hay theo hướng tiêu cực, sợ hãi, thèm khát, bạo động thì chính bản thân chúng con sẽ thừa tự trực tiếp kết quả. Chúng con xin nguyện hộ trì ba nghiệp hết lòng.

Tối nay, Cha đã rải xuống lòng đất những hạt minh châu, gọi mời nhiệm mầu hạt giống tốt cho đầu năm. Những hạt minh châu làm lòng con sung sướng trong thanh bình tuyệt đối. Một ngày đầu năm trọn vẹn như thế thì sự sống sẽ ý nghĩa biết bao!

Thưa Cha, đã có nhiều biến động, con biết, thân thể Mẹ càng ngày càng nóng lên do thiên nhiên đầy tật bệnh và tâm hồn con người nhiều hư hoại. Người đời càng ngày càng nóng vội, xử lý mọi tình trạng hấp tấp, vội vàng, không nắm vững nghệ thuật nhìn kỹ, nhìn sâu. May mắn được bảo vệ trong môi trường thánh thiện và luôn được nuôi dưỡng lòng biết ơn mọi loài chúng sanh, cây cỏ và đất đá, có cơ hội tưới tẩm hạt giống thương yêu, hiểu biết mỗi giây phút trong đời sống hàng ngày, chúng con, những người xuất sĩ, nguyện bảo vệ hành tinh xinh đẹp này. Tình thương được chăm chút mỗi ngày, nuôi dưỡng và nhắc nhở cho nhau mỗi ngày, việc giữ gìn và bảo vệ đất Mẹ là điều có thể thực hiện được.

Được ở trong cõi xanh này, ai ai cũng sung sướng. Tiếp xúc với đất Mẹ bằng những bước an lành vững chãi, thở trong không khí yên vui, cùng mọi loài dạo chơi, ngắm sự mầu nhiệm trăng sao, bầu trời xanh… chúng con thấy đời sống vẫn an toàn biết nhường nào. Sống đời sống như vậy trong sự luân chuyển bất tận là một công trình lớn. Nếu hôm nay chúng con thực tập có chánh niệm thì những trận địa chấn, lũ lụt, núi lửa, sóng thần… sẽ xảy ra ít hơn, mức độ tàn phá sẽ giảm thiểu tối đa. Mọi thứ được nâng lên nếp sống cao khiết, có thỉ có chung, muôn loài được tôn trọng và bảo vệ. Cõi tịnh không kiếm đâu xa. Cõi tịnh ở ngay nơi đây, trong giây phút ta đang thật sự sống.

Năm mới, trong hội chúng đông đảo, những lời khấn nguyện được viết xuống với một tâm niệm lành, và với tâm niệm như thế, có thể chấn động đến mọi loài hữu tình hay vô tình. Trong niềm giao cảm thâm sâu và tình thương thánh thiện, con biết đất Mẹ và trời Cha vui lòng biết bao.

Năng lượng yên bình và bảo vệ hành tinh này sẽ được tưới tẩm lớn mạnh hàng ngày nơi mỗi chúng con. Chúng con nguyện ý thức rõ sự an lạc của chính mình là sự an lạc của thế giới, sự hòa hợp và an ổn vững chãi trong tự thân là Tịnh độ hiện tiền.

Hôm nay, thưa Cha, thưa Mẹ, chúng con nguyện có mặt để làm đẹp cho cuộc đời.

Bích Nham và những hạnh phúc đơn sơ

Con đường nhựa từ tăng xá dẫn đến thiền đường sáng nay thật yên và trong lành. Trời đã vào thu, bắt đầu se lạnh. Những vì sao điểm tô cho dải ngân hà thêm diễm tuyệt. Thong thả an nhiên, tôi bước vào thiền đường, chắp tay xá Bụt, xá chiếc bồ đoàn và thầm đọc bài kệ: “Ngồi đây ngồi cội Bồ đề, vững thân chánh niệm không hề lãng xao”. Giọng hô canh của thầy Pháp Tịnh rất trong và ấm, năng lượng thiền đường thật trầm hùng. Sau khi xả thiền, tôi nhìn lên phía bàn thờ Bụt và thấy hai câu đối do chính Sư Ông viết: “Nước Bích lắng trong ngàn sông có nước ngàn sông trăng hiện. Non Nham tú lệ mỗi lần nhìn lại mỗi lần mới tinh”. Hai câu đối đã nói lên được những cảm nghĩ của tôi về tu viện Bích Nham và giúp tôi có nguồn cảm hứng viết xuống dòng sẻ chia như một lời tri ân.

Tu viện Bích Nham

Tu viện được thành lập vào năm 2007, tọa lạc trên triền núi Sam trong thung lũng Walker, New York. Tu viện rộng khoảng 90 mẫu đất (acres). Ở đây có nhiều vách núi màu xanh, nhân đó Sư Ông đặt tên là Bích Nham.

Tu viện có hai xóm: Tùng Xanh dành cho quý thầy và Hạc Trắng là chỗ quý sư cô. Tùng là một loại cây quý mọc trên núi cao hoặc đất đá khô cằn, chịu nhiều sương gió và bão tuyết, nhưng rất xanh tươi và vững chãi, tượng trưng cho khí tiết thanh cao, thịnh vượng và bền bỉ. Hạc là một loài chim quý, tượng trưng cho sự trường thọ, sắt son.

Xóm Tùng Xanh có rất nhiều cây tùng, có cốc Thạch Lang, tăng xá Tình Huynh Đệ, vườn Bụt, lều Mông Cổ và thiền đường Đại Đồng có khả năng chứa được 900 người, thiền đường được làm bằng gỗ thông nên rất thơm. Xóm Hạc Trắng được bao quanh bởi một khu rừng tự nhiên có nhiều cây thông, phong, sồi, bulô và nhiều động vật hoang dã. Những con suối chảy qua hiền hòa, có thể nghe âm thanh róc rách vọng đến từ cánh rừng phía sau vào những ngày mưa lớn. Con đường Pleasant Valley quanh co trên triền đồi là điểm chia ranh giới giữa hai xóm.

Uống trà, xây dựng tình huynh đệ

Ngày làm biếng, ngoài trời nắng đã lên cao, mọi thứ đều êm đềm vắng vẻ. Đây là mùa An cư đầu tiên của tôi tại tu viện Bích Nham. Không khí an cư rất nhẹ nhàng và trầm lặng. Bên xóm Tùng Xanh năm nay mỗi huynh đệ đều phát ba lời nguyện để thực tập. Phần tôi thì chọn ba nguồn cảm hứng để thực tập, đó là chăm sóc sức khỏe, ngồi thiền cho có phẩm chất và đi không nói chuyện. Tứ chúng tu học và làm việc với nhau rất hạnh phúc trong tinh thần lục hòa. Những buổi thực tập Làm mới giúp hai xóm có sự truyền thông và tình huynh đệ càng ngày càng gắn bó.

Hôm qua ngoài trời tuyết rơi trắng xóa. Huynh đệ ngồi quây quần bên lò sưởi, uống trà và đàm đạo, không khí rất ấm áp. Những giây phút như thế là cơ hội cho anh em chúng tôi xây đắp tình huynh đệ. Đây là kinh nghiệm sống, là pháp sống cần thiết cho cuộc đời. Chúng tôi thấy rất rõ, xây dựng tình huynh đệ là một sự thực tập căn bản về tình thương đích thực. Trên bàn học của tôi có treo một tấm thư pháp của Sư Ông: “Bài học quan trọng nhất trong cuộc đời là bài học thương yêu”.

Tính cao quý có được từ cách sống thanh cao

Sáng nay, một số quý thầy và quý sư cô trong nhóm tiền trạm vào thành phố New York để sắp xếp cho những buổi sinh hoạt vào cuối tuần. Số người còn lại ở nhà được nghỉ ngơi cho đến thứ Bảy sẽ vào thành phố yểm trợ cho những chương trình tu học.

Chuyến hoằng pháp ở Mỹ năm nay bắt đầu từ tu viện Bích Nham. Quý thầy, quý sư cô từ các trung tâm khắp nơi về đây sum họp một nhà, không khí rất vui tươi và đầm ấm. Nhìn những tà áo nâu nhẹ nhàng thoáng bước, tôi lại nhớ đến lời Sư Ông dạy ở Thái Lan vào năm 2013: “Quê hương là chốn tăng thân xum vầy, bàn chân địa xúc hãy về”.

Trong khóa tu này, chúng tôi có tổ chức một cuộc triển lãm thư pháp của Sư Ông ở cốc Thạch Lang. Những tấm thư pháp là di sản quý báu của Sư Ông mà chúng tôi đã sưu tầm và lưu trữ được hơn mười năm qua. Ngoài những tấm thư pháp, chúng tôi còn trình bày tiểu sử sơ lược về cuộc đời Sư Ông. Bài tiểu sử được đặt ngay trung tâm của phòng triển lãm. Bên trên, chúng tôi có treo một tấm thư pháp bằng tiếng Anh: “Nobility comes from noble living” (Tính cao quý có được từ nếp sống thanh cao). Thiền sinh rất xúc động, có người quỳ xuống lạy, có người ngồi tịnh tâm và có rất nhiều người không cầm được nước mắt.

Thiền hành trong mưa

Một trong những điều tôi thích nhất ở Bích Nham là được đi thiền hành vào rừng. Trời cuối thu thường có mưa rơi lác đác, con đường thiền hành xuyên qua khu rừng càng trở nên huyền thoại. Có một hôm trời mưa, đại chúng đã đổi buổi thiền hành ngoài trời thành buổi kinh hành trong thiền đường Đại Đồng. Thầy Pháp Khôi và tôi xin phép được đi thiền hành ngoài trời, mỗi người che một cây dù và chầm chậm thiền hành vào rừng. Đi đến nơi nào cảm thấy hứng thú thì anh em chúng tôi dừng lại ngắm nhìn, đặc biệt là bên dòng suối. Trời mưa nhỏ hạt dần và sương mù trở nên rõ rệt trong khu rừng. Đi một hồi tôi cảm thấy lạnh và ý thức rất rõ cái lạnh đang từ từ thấm vào thân thể. Thiền sư Quy Sơn có dạy: “Sống gần gũi với các bậc thiện tri thức thì cũng như đi trong sương, tuy áo không ướt nhưng cũng có nhuần thấm”. Tôi thấy thực tập chánh niệm cũng thế. Thực tập lâu ngày dần dần sẽ trở thành thói quen và giúp ta ý thức rõ ràng những gì đang xảy ra bên trong cũng như bên ngoài ta. Ví dụ, khi mới thực tập đi thiền hành thì mình cảm thấy không thoải mái cho lắm, bước chân của mình trở nên nặng nề, vì tập khí đi nhanh đã quen rồi. Thực tập lâu ngày mình sẽ cảm thấy dễ chịu, tự nhiên và hạnh phúc, mình sống được với những bước chân nhẹ nhàng và thảnh thơi.

Dọc theo con đường thiền hành có nhiều thảm rêu xanh, êm và đẹp. Tôi ý thức bàn chân tôi đang chạm vào thảm rêu và cảm thấy rất hạnh phúc. Từng bước chân bình an đưa anh em chúng tôi ra khỏi khu rừng đến bên bờ hồ. Trời vẫn còn mưa lất phất. Chúng tôi đến bên cây cầu và đứng nhìn mặt hồ tĩnh lặng. Trước mắt tôi là tượng Bụt được tạc bằng nham thạch núi lửa Indonesia, hình ảnh được phản chiếu trên mặt hồ cùng với những chiếc bong bóng đang phập phồng. Trong khoảnh khắc ấy, tôi nhớ lại những ngày còn thơ đi lùa vịt dưới trời mưa. Lúc đó tôi khoảng mười tuổi. Không hiểu vì sao tôi rất thích những chú vịt con. Mỗi lần đi chợ thấy người ta bán vịt con thì liền năn nỉ mẹ mua cho vài chú. Lúc đầu mẹ tôi không chịu, nhưng tôi năn nỉ riết rồi mẹ tôi cũng xiêu lòng. Cuối cùng mẹ đã mua cho tôi mười chú vịt con. Đó là một món quà lớn mà mẹ đã cho tôi. Sau nhà có một cái ao to, mỗi ngày tôi ra đó vớt bèo và vớt tép đem về cho các chú ăn. Cứ mỗi lần các chú đói bụng thì cả nhà đều biết, các chú kêu rất to. Hồi còn nhỏ, các chú suốt ngày cứ quấn quýt bên tôi. Đặc biệt có một chú vịt con, tôi đi đâu thì chú cũng chạy theo sau. Từ khi được thả xuống ao, các chú rất hạnh phúc được bơi lội đi chơi suốt ngày. Chiều nào tôi cũng phải đi kêu các chú về. Từ khi có mấy chú vịt con để chơi, tôi ít tới lui chơi với bọn trẻ trong xóm. Các chú là những người bạn và cũng là niềm vui của tôi mỗi ngày. Đó là thiên đường tuổi thơ chăn vịt của tôi. Tôi thấy khi mình có một tuổi thơ đẹp thì tuổi thơ đó sẽ tiếp tục nuôi dưỡng mình mãi mãi. Cảm ơn buổi thiền hành trong mưa trưa nay đã cho tôi sống lại những giây phút của tuổi thơ!

Mùa thu Bích Nham

Sau khóa tu ở Bích Nham, một số đông xuất sĩ đã lên đường qua tu viện Mộc Lan để tiếp tục chuyến hoằng pháp. Tôi cùng một số vị ở nhà để dọn dẹp tu viện và nghỉ ngơi. Mỗi ngày chúng tôi có thời khóa nhẹ, như ngồi thiền và làm việc. Tu viện Bích Nham mùa này thật tuyệt vời. Chúng tôi thường lên núi Sam ngồi uống trà và ngắm nhìn chiếc áo lụa mây trời diễm lệ. Từ đỉnh núi nhìn xuống có thể thấy được một biển sắc mênh mông. Những giây phút như thế đúng thật là thiên thu trong khoảnh khắc, cho ta một trạng thái vô sự, không cần đi đâu và cũng không cần làm gì.

Trong tăng xá của xóm Tùng Xanh có treo vài tấm thư pháp của Sư Ông. Tấm mà tôi thường lưu ý đến là “Chẳng biết rong chơi miền Tịnh độ, làm người một kiếp cũng như không”, như một thông điệp. Câu thư pháp đã nuôi dưỡng tôi rất nhiều. Tôi nhớ, lần đầu tiên tôi thấy bức thư pháp này là tại thiền đường Nến Ngọc. Mùa thu năm 2009, lúc đó tôi đang làm thị giả cho Sư Ông. Thầy trò dạo chơi trong khuôn viên của tu viện và Sư Ông dẫn tôi vào viếng thăm thiền đường Nến Ngọc. Đi một vòng, tôi chợt thấy tấm thư pháp, từng chữ từng chữ đánh động tâm trí tôi suốt ngày hôm ấy. Thầy trò tiếp tục dạo chơi trong khu rừng xóm Hạc Trắng, có một vài sư cô cũng xin được tháp tùng để đi thiền hành với Sư Ông vào rừng. Bước vào cửa rừng, cả khu rừng lấp lánh đủ màu thu. Dưới mặt đất lá vàng phủ kín. Thầy trò dừng lại. Một sư cô bước tới thưa: “Bạch Thầy, ngày xưa ông Cấp Cô Độc đã từng lót vàng lá cho Bụt trong tu viện Kỳ Viên. Ngày nay ông Cấp Cô Độc vẫn còn đó lót đường cho Thầy trò mình đi. Lần này không phải là vàng lá mà là lá vàng”. Thầy trò cùng cười.

Chiều ngày 11 tháng 10, anh em chúng tôi tranh thủ đi lên đỉnh núi Sam để tận hưởng một lần chót trước khi rời khỏi Bích Nham để qua Lộc Uyển vào hôm sau. Chúng tôi biết khi trở lại vào cuối tháng Mười một thì phong cảnh sẽ không còn tráng lệ như vậy nữa. Anh em tôi đùa: “Đẹp thế này, đành lòng nào mà bỏ đi!”.

Lộc Uyển hào hùng

Ngày 12 tháng 10, máy bay đưa anh chị em chúng tôi về Lộc Uyển đã đáp xuống phi trường San Diego vào lúc 5 giờ chiều. Đi máy bay cả ngày nên về tới Lộc Uyển thật hạnh phúc. Một hạnh phúc lớn nữa là gặp lại các huynh đệ từ những trung tâm khác. Sáng hôm sau tôi thức dậy sớm và đi vòng quanh ngắm phong cảnh Lộc Uyển. Lâu ngày trở lại Lộc Uyển, tôi thấy nơi đây đẹp hơn xưa. Sư Ông thường dạy về giáo lý Ly sinh hỷ lạc, nếu buông bỏ được thì niềm an lạc sẽ đến. Tuy phong cảnh ở Bích Nham mùa này rất tráng lệ, nhưng núi rừng của Lộc Uyển cũng rất hào hùng. Mỗi nơi có mỗi vẻ đẹp khác nhau. Đồi núi của Lộc Uyển hùng vĩ và tĩnh lặng, rất thích hợp cho người tu. Trong tác phẩm Làng Mai nhìn núi Thứu, Sư Ông có dạy: “Sống hạnh phúc quả thật là một nghệ thuật và nghệ thuật đó ta phải đào luyện mới có. Nó tùy thuộc ở tâm ta cho đến độ nếu ta đánh mất khung cảnh và phải đi sang một khung cảnh khác thì ta vẫn còn có thể giữ được hạnh phúc.”

Mỗi lần về lại Lộc Uyển tôi cảm thấy rất hạnh phúc. Đi tới đâu tôi cũng thấy dấu chân và hình bóng Sư Ông, đặc biệt là ni xá mới. Cốc Tùng Bút của Sư Ông đã từng tọa lạc tại nơi này, mỗi lần Thầy trò chúng tôi về Lộc Uyển đều ở cốc Tùng Bút. Vì cần không gian để xây ni xá nên cốc Tùng Bút đã được tháo dỡ đi. Quý sư cô rất dễ thương, đã xây cho Sư Ông một cái cốc mới đối diện với ni xá. Ngày tôi xuống thăm ni xá mới, bao nhiêu ký ức đã trở về trong tôi. Tôi ý thức rất rõ là tôi đang đi và đang ngắm nhìn cho Sư Ông.

Trong thời gian ở Lộc Uyển, chúng tôi có một khóa tu xuất sĩ, một khóa tu cho người Mỹ, một khóa tu cho người Việt, hai ngày quán niệm và một buổi pháp thoại công cộng tại thành phố Los Angeles. Tuy chuyến hoằng pháp kỳ này không có sự hiện diện của Sư Ông, nhưng số thiền sinh tham dự rất đông, ai cũng có mặt hết lòng. Ngoài những ngày có thời khóa, anh em chúng tôi thường đi leo núi. Có những ngọn núi như núi Voi, núi Lắc, cho đến bây giờ tôi mới có cơ hội để leo. Thật thú vị! Lên đến đỉnh núi, đứng trên một tảng đá lớn, bao nhiêu mệt mỏi và những suy tư đều tan biến. Nhìn lên, chiếc thảm da trời xanh biếc bao trùm cả không gian. Chúng tôi mỗi người chọn cho mình một tảng đá và nằm xuống để tận hưởng khí thiêng đất trời, nghe gió hú trong những khe đá khổng lồ, thật mầu nhiệm.

Hạnh phúc đơn sơ

Có những đêm trăng sáng, anh chị em chúng tôi kéo nhau lên Yên Tử uống trà, ngắm trăng và đàm đạo. Ngồi trên một phiến đá lớn, chúng tôi có thể thấy được vầng trăng treo lơ lửng trên ngọn đồi phía đông, trước mặt là một biển đèn muôn màu của đô thị. Tôi pha một bình trà nóng và mời các huynh đệ cùng nhau thưởng thức. Núi rừng Lộc Uyển thật yên bình, tâm tư chúng tôi thêm an tịnh.

Bên kia dãy núi, phía những ánh đèn đô thị, hiện giờ có bao nhiêu con người đang chạy tìm những thú vui dục lạc. Tôi nói chuyện với huynh đệ: “Tối nay là thứ Bảy. Giờ này ở ngoài phố có những người trẻ đang đi tìm những thú vui, như là đi liên hoan, câu lạc bộ khiêu vũ, quán rượu, sòng bạc hoặc khu vui chơi giải trí. Còn anh chị em mình thì ngồi đây uống trà, ngắm trăng và thưởng thức sự tĩnh lặng của núi rừng”. Tôi đùa: “Có những con tim tối nay sẽ không ngủ yên”. Mọi người nghe thế đều cười. Có một huynh đệ hỏi: “Làm sao thầy biết rõ như vậy?”. Tôi đáp: “Đó là kinh nghiệm cá nhân, là con đường mà tôi đã đi qua và tôi cũng biết đó là con đường mà rất nhiều người trẻ đã và đang đi qua”. Nói đến đây, tôi nhớ đến ngày xưa trước khi đi tu, tôi đã lầm lẫn giữa dục lạc và an lạc. Tôi nghĩ rằng, hạnh phúc tức là thỏa mãn những ham muốn. Nhưng làm sao mà thỏa mãn được? Vì lòng tham vốn không có đáy. Ham muốn này được thỏa mãn thì lại phát sinh những ham muốn khác to lớn hơn. Và chúng ta rốt cuộc chỉ là nô lệ cho những ham muốn của chính mình. Nếu quan sát cho kỹ ta sẽ thấy, từ khi theo đuổi một ham muốn cho tới khi đạt được ham muốn ấy, niềm vui ta nhận về thì ít mà phiền não phải mang thì nhiều biết bao. Và niềm vui lớn nhất mà ta có chính là giây phút không mong cầu, là niềm vui của sự tĩnh lặng nội tâm, là niềm vui từ trong phát khởi ra, niềm vui do chính mình tự tạo.

Được làm một người tu thật là hạnh phúc. Mỗi bước chân, mỗi hơi thở trong giây phút thực tập là cơ hội cho mình tỉnh thức và tiếp xúc với những mầu nhiệm của cuộc sống. Hạnh phúc của người tu rất bình dị và đơn sơ, nhìn những chiếc lá vàng đang rơi, ngắm những giọt mưa lác đác nghiêng nghiêng trên đường, xem những chiếc bong bóng đang phập phồng trên mặt nước hoặc ngắm nhìn vầng trăng đang treo lơ lửng trên không gian cũng đủ làm cho chúng tôi hạnh phúc. Khoảnh khắc đơn sơ chứa đựng cả thiên thu mầu nhiệm khi ta có sự yên tĩnh trong tâm hồn.

Tôi đã về tu viện Bích Nham và tu viện Lộc Uyển rất nhiều lần, nhưng hạnh phúc của tôi là cứ mỗi lần về là mỗi lần tôi cảm thấy mới, thấy đẹp. Tôi thường nhắc tôi: “Lúc nào vẫn còn thấy đẹp, vẫn còn thấy mới thì lúc đó mình vẫn còn biết ơn và vẫn còn hạnh phúc”.

 

Thất Nhìn Xa

(Thất Nhìn xa – Trung tâm Làng Mai Thái Lan)
 
Đồng lau nắng chiều thắp sáng
Sóng ngời nâng dậy bàn chân
Thợ trời tung màu vào lá
Thu về Lòng Ấy tuyệt trần.
   
Mái tranh tựa vào vách núi
Nhìn Xa thấu suốt thiên nhân
Sàn gỗ nương trên thềm đá
Chở che từ ái muôn phần.
 
Trăng về mênh mang hơi thở
Người về khoáng đạt hồ tâm
Chim rừng dâng kinh sớm tối
Lòng đất dũng xuất tăng thân
Ngồi Yên ngắm Sao Trên Biển
Có Nhau, xa mấy cũng gần.
 

Mối tình Việt Nam

Con xa đất nước thời thơ ấu
Giọng nói quê hương vẫn ngọt ngào
Nề nếp tổ tông cha nắm giữ
Hương sắc quê nhà mẹ chuyển trao.

Thầy thường nói rằng quê hương của Thầy không phải chỉ là Việt Nam, quê hương của Thầy là cả trái đất này, là bây giờ và ở đây, là vượt thoát thời gian và không gian. Tôi biết dù nói thế nhưng trong lòng Thầy vẫn có một mối tình đặc biệt đối với Việt Nam, đơn giản vì Thầy là người con Việt Nam. Trong cái nhìn của một vị thiền sư thì ở đâu cũng là quê hương, nhưng trong một con người thì nơi sinh ra và lớn lên là quê hương của mình, và Thầy vẫn luôn luôn tự hào vì điều đó. Dân tộc, tổ tiên của chúng ta là một dân tộc thuần từ, có một ngôn ngữ Việt rất ngọt ngào, đầy chất liệu thi ca. Nền đạo đức thuần từ thể hiện rõ nhất ở hai thời đại Lý-Trần. Những điều hay đẹp ấy được Thầy khai triển và cống hiến cho xã hội Tây phương – một tinh thần đạo Bụt Dấn thân (Engaged Buddhism) đã và đang được nơi này đón nhận nồng nhiệt.

Thầy và Tăng thân Làng Mai thiền hành tại Vĩnh Phúc trong chuyến về Việt Nam năm 2007

Sáu anh chị em chúng tôi trở về Việt Nam lần đầu tiên sau nhiều năm sinh sống và hành đạo tại Tây phương. Chuyến đi ấy gồm có sư cô Định Nghiêm, sư cô Thuần Nghiêm, sư cô Thiều Nghiêm, thầy Pháp Ứng, thầy Pháp Trú và tôi, tất cả đều đã rời đất nước từ khi còn nhỏ, đều đã lớn lên và tiếp thu văn hóa phương Tây. Thầy biết chúng tôi là những đứa trẻ Việt của thế hệ “trái chuối” – ngoài da thì vàng nhưng trong ruột thì trắng, nghĩa là đã bị Tây hóa. Tuy vậy, ở trong tu viện, Thầy đã dạy cho chúng tôi nhiều cái hay, cái đẹp về văn hóa Việt. Thầy cho chúng tôi tiếp xúc với một nền đạo đức tâm linh, văn hóa, văn minh Việt để chúng tôi không bị mất gốc và có thể tự hào mình là người Việt Nam. Nhiều người trẻ lớn lên ở Tây phương có mặc cảm cô độc vì tuy họ là người Việt mà không biết gì về con người và văn hóa Việt, trong khi đó lại có cảm giác không được chấp nhận như người Tây, do đó rất đau khổ. Khi được học cả hai nền văn hóa thì mình có thể tự hào hơn, hạnh phúc hơn vì mình mang trong mình cả hai nền văn hóa. Tuy đã được Thầy trao truyền những cái hay, cái đẹp về văn hóa Việt nhưng Thầy muốn các con của Thầy trở về Việt Nam để tiếp xúc trực tiếp và cảm nhận bằng xương bằng thịt, bằng cả trái tim của mình, và Thầy đã tặng cho sáu anh chị em chúng tôi bài thơ trên. Chúng tôi ai nấy đều hớn hở, hồi hộp lên đường về thăm quê cha đất tổ.

Đĩa trái cây chín thơm

Đứng về phương diện tâm linh, Thầy luôn luôn dạy chúng tôi nhớ về nguồn gốc của mình. Ở bàn thờ tổ tiên trong thiền đường xóm Hạ có hai câu đối do Thầy viết: “Gốc rễ tâm linh xin bồi đắp. Suối nguồn huyết thống nguyện khai thông”. Người hạnh phúc là người có khả năng nối kết được với gốc rễ tâm linh và huyết thống của mình. Mình có hai gốc rễ: tâm linh và huyết thống. Ngoài chuyện trở về tiếp xúc và bồi đắp gốc rễ huyết thống, mình cũng về để kết nối với gốc rễ tâm linh, mà gần nhất là chư Tổ ở Tổ đình Từ Hiếu, nơi Thầy đã xuất gia học đạo. Thầy bảo: “Các con là những cây thầy trồng nay đã kết trái, đã chín thơm, đẹp và thầy muốn dâng lên chư Tổ như một kết quả của sự tu học của mình. Thầy về chưa được nên các con về giùm thầy vậy. Các con về cũng là thầy về. Về chùa Tổ các con nhớ bước những bước chân chánh niệm trên đất Tổ cho thầy, nhớ thăm những nơi mà thầy đã sống, như phòng ngủ, những cái giếng, chuồng bò, đồi Dương Xuân, và nhất là phòng của Sư Cố. Các con đi đảnh lễ tháp Tổ Liễu Quán và nếu có cơ hội thì ra Hà Nội để chiêm bái núi Yên Tử và đảnh lễ các tháp của Tam Tổ Trúc Lâm”.

Tháng Hai năm 2000, sau khi đã được Thầy truyền đăng làm giáo thọ, chúng tôi được Thầy cho phép về thăm Việt Nam. Chuyến đi ấy dài hơn hai tháng và chúng tôi đã được tiếp xúc với ba miền của đất nước. Tại Huế, chúng tôi được ở lại chùa Tổ. Thời gian ở chùa Tổ có thể nói là thời gian hạnh phúc nhất vì được đảnh lễ tháp Tổ, được tiếp xúc với năng lượng của chư Tổ, được Sư Thúc và các thầy yêu thương, chăm sóc tận tình, được đi đảnh lễ tháp Tổ Liễu Quán, nhưng cũng nhiều phen “đau tim”… Ra Bắc, chúng tôi được Thầy dạy đi thăm và đảnh lễ các tháp Tổ ở miền Bắc, đặc biệt là đi thăm núi Yên Tử. Đây là nơi mà các vị vua đời Trần đã rũ bỏ “áo mão cân đai” để lui về tu tập, trong đó có vua Trần Nhân Tông, sau này là người đã khai sáng thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, một thiền phái đặc thù Việt Nam, một thiền phái của đạo Bụt Dấn thân mà bây giờ Thầy trò chúng tôi đang tiếp nối. Thầy bảo: “Chuyến đi này là chuyến đi thăm quê, ngoài việc tiếp xúc với tổ tiên, với quê hương đất nước, xã hội và trải nghiệm, các con sẽ có thể không được phép tổ chức những ngày tu chánh niệm như bên này, các con cũng sẽ tiếp xúc với những mặt trái của đất nước, xã hội và có những cái có thể làm cho các con bị sốc, nhưng các con đã được chuẩn bị kỹ, lại có sự thực tập nên sẽ không đau khổ và thất vọng như những người trẻ khác khi họ về Việt Nam lần đầu. Mỗi bước chân thảnh thơi, an lạc, mỗi nụ cười tươi sáng, hiền hòa, mỗi cử chỉ yêu thương đều là những bài pháp thoại không lời, sống động mà các con có thể cống hiến cho quê hương”.

Chuyến đi ấy đã khơi dậy trong lòng những người trẻ lớn lên ở hải ngoại như chúng tôi tình yêu thương đất nước vô bờ bến. Ai cũng sẵn sàng về lại nhiều lần để góp sức xây dựng quê hương của mình được đẹp đẽ như tổ tiên đã làm trong thời đại Lý-Trần. Mỗi lần được ngồi chơi với Thầy, Thầy luôn quan tâm đến Việt Nam. Thầy nói nếu Thầy về không được thì sau này các con sẽ về giùm cho Thầy. Đất nước của mình đã trải qua quá nhiều khổ đau, đổ vỡ và đang đối mặt với nhiều thách thức. Hơn một nửa dân số được sinh ra sau chiến tranh và có khi trải nghiệm những cái khổ mà không biết tại sao mình khổ. Thế hệ trước thì vẫn mang nhiều hiềm hận, thương tích, chia rẽ, còn thế hệ sau lại đang có cảm giác lạc hậu và choáng ngợp trước những phát triển của thế giới công nghệ, và nhiều người không định hướng được mình sẽ ứng phó như thế nào.

Chuyến đi khép lại với những niềm vui, sự hãnh diện và bao điều thao thức đối với anh chị em chúng tôi. Trước hết là cái đẹp về núi non, sông nước hữu tình. Chúng tôi khi còn ở Việt Nam, vì điều kiện không cho phép nên chưa bao giờ được vân du trên khắp các vùng đất nước, nhưng sau chuyến đi chúng tôi đã giật mình hãnh diện, không ngờ đất nước của mình lại đẹp như thế. Hèn chi Thầy đã viết bốn câu thơ ca tụng Việt Nam để tặng cho các bạn trẻ Việt Nam như chúng tôi khi tới Làng:

Lắng lòng nghe tiếng gọi quê hương

Sông núi trông ra đẹp lạ thường

Về tới quê xưa tìm gốc rễ

Qua rồi cầu hiểu tới cầu thương.

Tiếng gọi quê hương

Quả đúng như thế. Chúng tôi không ngớt đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Thật là một đất nước với núi non, sông hồ thơ mộng. Con người hình như thân thiện hơn, niềm nở hơn, tươi vui hơn. Điều này do một du khách Tây phương đã nói với tôi khi tôi gặp bà ở bãi biển Nha Trang. Có nhiều thứ để nói về đất nước và con người Việt Nam lắm. Những cái hay, cái đẹp ấy đang được ông bà, cha mẹ gìn giữ. Ông bà, cha mẹ là những chiếc cầu để con cháu được kết nối với tổ tiên.

Song, bên cạnh đó, nhiều trải nghiệm khác đã khiến chúng tôi nghĩ là sẽ tiếp tục trở về để góp sức xây dựng đất nước bằng chính nếp sống đạo đức tâm linh mà bao thế hệ tổ tiên đã dày công bồi đắp. Chúng tôi thấy đất nước còn quá nhiều khó khăn, khổ đau, nghèo đói, bức xúc, lo lắng, sợ hãi, tranh đua, nghi kỵ, bạo động; tuổi trẻ chán nản, tuyệt vọng, mất phương hướng; dư âm của những vết thương chiến tranh, hận thù và bất công còn đọng lại nơi từng tế bào của mình, không có gì mất đi cả. Tôi nhớ có lần ngồi trên xe lửa đi ra Hà Nội, tôi gặp một anh thanh niên với khuôn mặt thanh tú đang bán trứng vịt lộn. Tôi bắt chuyện hỏi thăm và được biết là anh đã tốt nghiệp đại học kinh tế nhưng không tìm được việc làm, cuối cùng phải đi bán trứng vịt lộn để kiếm sống. Tôi thật xót xa. Chúng tôi chợt hiểu được trái tim của Thầy, hiểu được tình yêu thương mà Thầy luôn dành cho Việt Nam, luôn khuyến khích các học trò sau này phải về Việt Nam để thay Thầy xây dựng đất nước bằng sự tu học của mình. Niềm thương cảm quê hương dâng tràn, trong lòng mỗi anh chị em chúng tôi, ngọn lửa yêu thương đã được nhen lên cùng với lời phát nguyện sẽ tiếp tục về Việt Nam. Chúng tôi nhận thấy, đất nước của mình còn có nhiều nghèo đói, còn lạc hậu nhiều khía cạnh, và điều quan trọng hơn cả chính là thiếu đi sự thống nhất lòng người, thiếu chất liệu hiểu và thương vốn là một chất liệu quan trọng mà tổ tiên của mình trong thời Lý-Trần đã sử dụng để xây dựng non sông. Chúng tôi luôn lạc quan về đất nước của mình vì hạt giống của đạo Bụt, của hiểu và thương đã được gieo bởi tổ tiên của mình qua nhiều thế hệ vẫn còn đó trong chiều sâu tâm thức người dân. Chỉ cần tưới tẩm là nó sẽ nảy mầm. Niềm tin về đạo Bụt trong lòng người Việt là không thể nghi ngờ.

Tới năm 2003, tôi lại có cơ duyên về Việt Nam để mở khóa tu cùng với các sư anh, sư chị và sư em của tôi. Chúng tôi đã về quê hương với một trái tim thuần khiết và tràn ngập yêu thương. Niềm ước mơ duy nhất là chung tay xây dựng và bồi đắp, làm đẹp quê hương với nếp sống đạo đức tâm linh của mình. Mọi việc không hề dễ dàng như chúng tôi nghĩ. Kể từ đó, chúng tôi đã có thêm nhiều chuyến về nữa kể cả những chuyến trở về cùng với Thầy. Sau ba chuyến trở về của Thầy và tăng thân, đã có nhiều người trẻ xuất gia. Chỉ trong vòng gần 4 năm, số lượng người trẻ xuất gia đã lên tới gần 400 người. Nhiều cơ hội đã mở ra và cũng không ít những khó khăn, thách thức mà chúng tôi phải đối mặt. Giấc mơ đồng hành với những người trẻ Việt Nam trên con đường hiểu và thương để xây dựng một đất nước Việt Nam, một dân tộc Việt Nam đẹp đẽ hơn, thuần từ hơn, hạnh phúc hơn và an vui hơn đã bị tổn thương trầm trọng. Dù vậy, chúng tôi không giữ một niềm thù hận nào, không chán nản và tuyệt vọng. Tình yêu của chúng tôi cho Việt Nam vẫn còn nguyên vẹn.

Giờ đây, những người xuất sĩ trẻ chúng tôi đang tu tập và cống hiến cho hàng trăm ngàn người ở ngoài nước, nhưng trong lòng vẫn ấp ủ một ngày nào đó, nếu nhân duyên đầy đủ cũng sẽ trở về để tiếp tục thực hiện giấc mơ Việt Nam. Những gì huynh đệ chúng tôi đang làm ở nước ngoài cũng là đang làm cho Việt Nam. Chúng tôi luôn có niềm tin và hy vọng đối với đất nước mình. Chúng tôi vẫn tự hào là mình đang cống hiến cho xã hôi Tây phương một đạo Bụt phát xuất từ Việt Nam, đạo Bụt Dấn thân, một đạo Bụt Ứng dụng đáp ứng được những đòi hỏi thực tiễn trong đời sống.

Tại Trung tâm Làng Mai quốc tế Thái Lan

(Hết phần 1)

Ngoại chạy theo nắng

Ngoại thương,

Sáng nay, một buổi sáng làm biếng, con có cơ hội chơi với mình nhiều thêm một chút nữa. Con thích dậy sớm lắm! Dậy sớm là cơ hội cho con được nhìn thấy mọi loài còn đang say giấc, được ngắm những thân cây gầy khúc khuỷu, những cành khô nằm trơ mình trong không trung, để được nghe hơi sương của đông lạnh, để cảm nhận được cái yên của đất trời và đặc biệt là để “chứng tỏ một miếng” với những bạn thiên nhiên ngoài kia là con cũng có thể dậy sớm được.

Khi vũ trụ còn chưa kịp choàng áo mới thì con đã ngồi yên ở góc nhỏ yêu thích của mình. Con có một chỗ học đẹp lắm ngoại ạ! Con thường quay về nơi đây sau những thời khóa của đại chúng hoặc nếu có trống vài phút nào đó được nghỉ ngơi, con cũng tận dụng cơ hội để ngồi yên với mình. Từ đây, con có thể nhìn ra bên ngoài một cách toàn diện và hoàn hảo. Không có gì có thể che khuất bất cứ một phần nào trong bức tranh được dệt bằng chất liệu thiên nhiên trước mặt con. Thênh thang và rộng mở.

Mùa này tuy nắng không xuất hiện nhiều và gay gắt như mùa hè nhưng mỗi lần nắng biểu hiện là nắng đem hết tất cả những cái đẹp của nắng hiến tặng cho đất trời và cho mọi người, trong đó có con. Những ngọn cỏ non còn đọng sương khuya thi nhau nô đùa cùng nắng. Còn nắng thì dễ thương chi lạ! Nắng lúc nào cũng nói với những ngọn cỏ là: để mình trang điểm cho bạn, để mình làm đẹp cho bạn. Thế là con chỉ việc thưởng thức và nhìn ngắm cả cánh đồng long lanh sắc màu kim cương trải dài bất tận. Nhìn và ngắm như thế không lúc nào con quên được cái nắng của quê mình ngoại ạ. Nắng ở đây gắt lắm cũng không bằng nắng ở quê ngoại, nắng ở đây có chút gì dịu hiền, nhẹ nhàng pha chút mỏng manh và có hơi sang trọng kiểu đủ đầy. Nắng quê mình thì thật thà, chất phác và tốt bụng. Nắng ở đây có tu tập nên nắng sẵn sàng cống hiến những năng lượng bình an đó cho con người trị liệu. Nắng quê mình thì nhờ có Thầy mà để cho những hạt giống lành trong kho được biểu hiện. Nắng hết lòng giúp đỡ những ai đang còn trong tình trạng khó khăn và cần nắng để canh tác và lao động. Con nhớ nắng thiệt nhiều!

Ngoại ơi, nắng là ngoại đó, ngoại có biết không? Con nhớ hồi ở nhà, mỗi khi hè về, xoài ra bông rồi cho trái là con có dịp được ăn bánh tráng xoài ngoại làm. Ngoại là người sống cần kiệm và thương người. Vì kính Bụt, thương Thầy nên ngoại thường để dành những trái xoài đẹp nhất, lành lặn nhất mà ngoại hái từ trên cây xuống, đem lên cúng Bụt chùa, cúng Thầy, sau đó mới cúng Bụt nhà rồi tới những người hàng xóm xung quanh – những nhà không có xoài ngon để ăn – mà quê mình hầu hết nhà nào cũng có xoài, rồi mới tới lượt ba mẹ con trong đó có con. Và những trái cuối mùa dành cho ngoại – người cuối cùng. Xoài nhà ngoại nhiều lắm, cả một vườn bao xung quanh. Vì nhiều nên ngoại dùng những quả còn sót lại cùng với những quả chín rụng từ trên cây xuống, đã bị chim ăn hay bị ruồi chích. Ngoại lượm lại, cắt bỏ những phần không xài được, rửa sạch dùng làm bánh tráng xoài. Ngoại thường hay bảo: đồ còn dùng được không nên vứt đi mà tội trời. Thế nên ngoại có nhiều thiệt nhiều rổ xoài để làm bánh.

Bánh xoài ngoại làm ngon, thơm và sạch nữa. Những công đoạn ngoại làm rất công phu và thật kiên nhẫn, kiên nhẫn nhiều lắm. Ngoại lột vỏ xoài trước, cắt nhỏ, lọc xác qua những cái rổ để lấy phần nước, rồi ngoại cho dung dịch ấy vào một cái xoong, thêm vào tí muối, tí ớt, nêm nếm rồi bắc lên bếp nấu, chờ cho đến khi sôi mới nhấc xuống và cho ra từng chiếc khay. Ngoại để dành nhiều bao ni lông to để làm lớp lót. Ngoại dùng hai ba cái thìa mỏng để tráng làm sao cho nó phẳng ra như những cái bánh tráng sữa sầu riêng miền Tây mà không để bị dày, càng mỏng thì càng ngon. Tay ngoại làm chuyên nghiệp lắm, như một người sản xuất làm trong nhà máy thứ thiệt vậy. Sau khi thành phẩm ra đời rồi, công đoạn cuối cùng để bánh có thể dùng được là việc khó nhất. Ngoại, từ ấy, chính thức chạy theo nắng. Nắng trở thành tâm điểm để ngoại chạy theo. Chỗ nào có nắng thì ngoại đem ra phơi, hết nắng thì ngoại lại phải dời đi chỗ khác. Một ngày không biết mấy lần.

Ngoại ơi, đi tu con có cơ hội để biết, để tiếp xúc sâu sắc với thiên nhiên. Hồi trước con không hề biết thiên nhiên là một điều kiện hạnh phúc sẵn có mà mình không cần phải tìm kiếm chi cả. Thiên nhiên cho mình nhiều thứ để trị liệu và cũng là một người bạn mang hạnh lắng nghe của đức Bồ tát Quan Thế Âm, luôn ở đó cho mình mỗi lần mình cần người để trút hết bao nỗi buồn và những khó khăn. Đã nhiều lần con tự hỏi sao mình lại có cảm giác gì đó quen thuộc và thân thương với thiên nhiên đến như vậy? Nhìn sâu, có khi con thấy thiên nhiên gần gũi với mình lắm, có gì đó lạ lạ ở đây. Con chỉ khởi lên suy nghĩ và cảm giác ấy thôi rồi dừng lại ngay sau đó chứ con không cố đi tìm cho ra nguyên nhân. Con để cho nó tự nhiên như nó. Bây giờ con đã hiểu ra rồi ngoại ạ. Thiên nhiên chính là ngoại, ngoại là thiên nhiên. Nắng đích thực là ngoại và ngoại là nắng.

Những ngày nhiều nắng, ngoại sang nhà con ăn cơm. Con nấu những bữa cơm cho ngoại, ngoại có mặt hoàn toàn để thưởng thức từng món ăn của con dù có ngon hay không. Lúc đó, ngoại cũng thong thả mà không cần phải lo lắng cho những cái khay bánh tráng xoài ngoại đang phơi ở nhà. Nhưng cũng có những ngày nắng không đủ khỏe để hiến tặng hết lòng. Những ngày ấy nắng quê mình giống nắng ở đây vậy, chỉ nhẹ nhàng và dịu dàng có mặt với vũ trụ thôi. Thế là bao lo lắng đến với ngoại trong những bữa ăn cơm ở nhà con. Ngoại không dùng trà, không xem tivi, không trò chuyện sau những bữa ăn ấy mà vội vàng trở về nhà để chạy theo nắng. Ngoại đã chạy theo nắng cùng những khay bánh tráng xoài, nắng tới đâu ngoại chạy theo tới đó. Cái ngon của nắng đi vào biểu hiện trong những chiếc bánh tráng xoài. Những khay bánh tráng xoài có bao nhiêu nắng trong đó là có đủ bấy nhiêu tình thương của ngoại hòa vào. Ngoại đem cúng dường lên Thầy, cúng dường cho những tu viện, rồi cho những người ngoại biết ơn, cho những người khách… Dĩ nhiên ngoại là người vừa tỉ mỉ mà cũng là người chuộng hình thức đẹp nữa nên những chiếc bánh ngoại muốn đem cho, ngoại đều cắt thành hình cho vuông vức và gói nó vào những chiếc bao ni lông thật ngay ngắn. Con thì thích ăn những cái rẻo còn lại, nghĩa là những phần dư mà ngoại cắt ra, nên có bao nhiêu ngoại đưa hết cho con, con với ba con là hai thí sinh tham dự hết lòng trong “chương trình tiêu thụ” những cái rẻo ấy. Con nhớ cái cách ngoại nhìn con ăn ngấu nghiến và ngon lành như thế. Ngoại vui lắm, gương mặt ngoại sáng ngời, nụ cười ngoại xinh tươi tỏa nắng và lúc nào ngoại cũng dừng lại ở câu: “Ai mà sướng dữ rứa không biết?”. Ngoại thật biết chọc con lắm!

Ngoại ơi, hình ảnh ngoại chạy theo nắng ấy làm con chẳng thể nào quên được. Con ở đây, được có cơ duyên làm một người tu, được ngắm nắng chạy dài trên những cánh đồng bao la bất tận, được làm một người tự do du hành và được đi trên con đường mà Bụt đã đi qua, là nhờ bao nhiêu phước đức của ngoại và của tổ tiên để lại cho con. Ngoại đã chạy để cho con được đi nhẹ nhàng thảnh thơi. Bây giờ thì ngoại không cần phải chạy nữa vì con đang đi cho ngoại đây rồi. Ngày nào con cũng thấy ngoại cả. Con hạnh phúc lắm. Con biết ngoại rất vui và hạnh phúc khi con “trọc đầu”. Con nói chơi vậy thôi, chứ hồi con xin đi tu ngoại cũng khóc, dù những giọt nước mắt ấy đã từng lăn dài, triền miên, không ngớt nhiều tháng ngày trong quá khứ vì con của ngoại cũng là một người mang hạt Bồ đề lớn trong tâm. Con đã đi theo con của ngoại rồi đó và con đang là sự tiếp nối đi về những điều đẹp lành của ngoại đây rồi.

Con đang học lại từ đầu, làm lại từ đầu, từ những bước chân đi, từ lời nói, hành động đến những thói quen, sinh hoạt hằng ngày. Con thấy mình may mắn lắm vì bên con có những người thầy dạy cho con giới luật và uy nghi, chỉ cho con những điều con làm chưa đúng chưa hay, làm gương cho con về lối sống của Bụt, của Sư Ông, Sư cô. Từ đó con tập cho con lớn lên, tự bước đi những bước chân chánh niệm, tự thở những hơi thở ý thức và học cách sống một mình mà không phải dựa dẫm vào ngoại, vào ba mẹ như hồi còn ở nhà. Con đã quen được ngoại cưng chiều, cái gì ngon ngoại cũng cho, cái gì đúng ngoại bênh vực, mà theo đó con nhõng nhẽo với ngoại, nhưng cũng không thiếu đi sự dạy dỗ ngoại dành cho con. Ấy vậy mà có khi ngoại la rầy con, con lại giận dỗi trách móc và đem so sánh: ngoại dữ hơn nội. Con làm ngoại buồn mà con đâu hề hay biết. Con theo thói con nít mà cư xử. Ngoại ơi, con xin lỗi ngoại vì những vụng về còn lắm hoang sơ ấy của con nhé. Giờ con thấy con đang lớn nhiều ngoại ạ. Con bớt nhõng nhẽo và cũng bớt con nít hơn. Nhiều lúc con cũng yên lặng như đang là ngoại vậy.

Năm nay con chính thức bước ra khỏi cái nôi để bắt đầu đi những bước chân có ý thức. Sự tu tập của con, con xin gói ghém lại để dành tặng ngoại, cho những niềm biết ơn sâu dày của con, cho những điều mà ngôn từ của con không thể diễn đạt hết được. Ngoại ơi, con đang tu cho ngoại, thở cho ngoại và cười nụ cười tỏa nắng của ngoại đây!

Sáng nay con có cơ hội đi bộ với sư chị của con, một thoáng dừng lại, nhìn sang hai bên đường, con thấy nắng đang nhảy múa, hát ca cùng những giọt sương trên đầu ngọn cỏ. Con mỉm miệng cười, nghe lòng rộn tiếng an vui. Rồi con thấy ngoại, bóng hình chạy theo nắng đã và đang đi vào từng tế bào trong con, lưu nhuận và nuôi dưỡng con.

 

Núi Phú Sĩ đẹp lạ lùng

Nếu đã từng có cơ hội nghe quý thầy, quý sư cô trì tụng danh hiệu Bồ tát Quan Thế Âm trước giờ pháp thoại của Sư Ông, hẳn quý vị sẽ nhận ra sư cô Trai Nghiêm trong vai người nghệ sĩ vĩ cầm, đóng góp những âm thanh du dương, trầm bổng vào bản đại hòa tấu của tăng thân. Sinh ra ở Nhật Bản và lớn lên trong môi trường Tây phương, sư cô Trai Nghiêm mang trong mình nét chân thành và nhiệt tình của người con xứ sở hoa anh đào, cùng với tính năng động và cởi mở của văn hóa Tây phương. Sư cô xuất gia trong gia đình Cây Sen Hồng năm 2009, hiện đang tu tập rất hạnh phúc tại xóm Mới, Làng Mai. Dưới đây là bài chia sẻ của sư cô về “những kỷ niệm ngọt ngào” trong chuyến hoằng pháp cùng tăng thân tại Nhật Bản năm 2015.

Vào ngày 15.4.2015, Thầy Pháp Thắng và con đáp máy bay từ Bordeaux đi Tokyo để chuẩn bị cho chuyến hoằng pháp ở Nhật của tăng đoàn Làng Mai năm 2015. Mỗi chúng con được phép tăng thân ghé thăm gia đình của mình ở Yokohama, một thành phố nằm cạnh Tokyo, rồi sau đó mới bắt tay vào việc.

Trên máy bay, con mở một phim sử thi ra xem, và không lâu sau con đã bắt đầu gà gật. Trong cơn mơ màng, con nghe Pharaoh Ramses của Ai Cập nói với đứa con trai đang ngủ của ông: “Con ngủ say như thế là bởi vì con biết con đang tắm giữa tình thương.” Câu nói này làm lòng con dâng lên một niềm biết ơn mà trước đây con chưa biết đến. Con biết ơn tất cả những thiện duyên đã giúp con có khả năng ngủ một cách thoải mái bất cứ nơi nào, giờ nào. Với niềm biết ơn đó, con đã đi vào một giấc ngủ thật sâu mấy tiếng đồng hồ, và chỉ bị đánh thức sau một cú dội nhẹ khi máy bay chạm đất.

Hủy bỏ hay không hủy bỏ, đó không phải là vấn đề

Vào năm 2011, chuyến hoằng pháp ở Nhật của Thầy đã bị hủy bỏ vì thảm họa sóng thần và vụ nổ nhà máy điện hạt nhân. Những năm vừa qua, một nhóm thiền sinh người Nhật đã làm việc không mệt mỏi để tổ chức một chuyến đi khác. Cuối cùng thì nhân duyên đã hội tụ đầy đủ để Thầy sang hoằng pháp ở Nhật vào mùa xuân 2015. Chúng con đã nghĩ như thế.

Mùa hè 2014, sức khỏe của Thầy yếu đi, các bạn Nhật bắt đầu lo ngại, không biết Thầy có thể sang Nhật được hay không. Người Nhật có thói quen lên kế hoạch trước, vì thế mọi việc đã được sắp xếp sẵn sàng cho chuyến hoằng pháp. Họ đã thuê địa điểm cho các khóa tu và các pháp thoại công cộng. Ngay vào lúc chuẩn bị bắt đầu cho mọi người ghi danh đăng ký, họ nhận được tin Thầy bị tai biến.

Chúng con biết Thầy sẽ không bao giờ muốn hủy bỏ chuyến hoằng pháp ấy. Thầy muốn đại chúng tiếp tục công việc của Thầy. “Thầy có trong tăng thân. Thực tập của chúng ta là không kính ngưỡng một cá nhân, mà là nhận diện và nuôi lớn Bụt – Pháp trong Tăng thân.” Thầy đã nhắc đi nhắc lại câu ấy rất nhiều lần. Vì thế quý thầy, quý sư cô cùng các bạn thiền sinh đều biết mình phải làm gì. Nói như thế không có nghĩa là việc quyết định tiếp tục chuyến hoằng pháp không có Thầy đã diễn ra một cách suôn sẻ, hoàn toàn không có một chút lo lắng, sợ hãi nào, nhất là đối với các bạn thiền sinh đang phải chịu trách nhiệm về mặt tài chánh của chuyến đi. Nhờ vào sự khuyến khích của thầy Pháp Khâm, sư cô Thoại Nghiêm và nhiều người khác mà các bạn ấy đã có đủ can đảm tiếp tục. Việc tổ chức khóa tu là sự thực tập tin vào tuệ giác của Thầy, tin rằng điều quan trọng vẫn là sự duy trì chánh niệm miên mật của mỗi chúng ta, rồi mọi việc khác theo đó sẽ được tốt đẹp.

Mỗi khi có khó khăn hay trở ngại trong việc đem giáo pháp chia sẻ với người dân Nhật Bản, con lại nhớ đến Đại Hòa Thượng Giám Chân. Sau khoảng mười hai lần cố gắng, Ngài mới có thể đem giáo pháp từ Trung Hoa sang truyền bá tại Nhật Bản. So với những gì Ngài đã đi qua, những trở ngại của chúng con quả là không đáng kể. Trên một bình diện sâu hơn, con thấy những gì mình cho là trở ngại chỉ là những ảo tưởng mà mình tự tạo ra do cái tâm bận rộn và hạn hẹp của mình mà thôi. Con có niềm tin là nếu chuyện gì cần xảy ra thì Bụt Tổ sẽ yểm trợ thiện duyên để chuyện đó được biểu hiện, còn nếu nó không xảy ra là vì chưa phải lúc. Vậy thôi.

Nhìn lại những gì diễn ra liên quan đến chuyến đi, con thấy như thế đã là quá tốt. Ban đầu lượng người đăng ký cho khóa tu rất ít. Địa điểm tổ chức khóa tu nằm dưới chân núi Phú Sĩ. Thật may mắn, trước khóa tu một tháng, loạt phóng sự về Thầy và Làng Mai đã được chiếu trên đài NHK – đài phát thanh và truyền hình lớn nhất Nhật Bản. Nhờ đó, lượng người đăng ký đến khóa tu đã tăng vọt lên đến mức tối đa là 450. Thậm chí có người còn phải ghi tên vào danh sách chờ.

Nếu Thầy có mặt ở khóa tu, chắc sẽ có đông người tham dự hơn, nhưng có thể trong đó cũng không ít người đến chỉ để được gặp Thầy. Có thể thấy những thiền sinh đến với khóa tu này, dù biết rằng Thầy không có mặt, là những người thực sự có tâm tu học. Vì thế, năng lượng thực tập được chế tác trong khóa tu rất hùng mạnh.

Có một số người chia sẻ rằng khi nghe pháp thoại của các vị giáo thọ Làng Mai, họ cảm thấy rất gần gũi và dễ tiếp nhận. Trước đây, có lẽ vì quá thần tượng hóa Thầy nên những người này có mặc cảm là sẽ không bao giờ có thể thực tập được như Thầy. Điều đó đã trở thành một chướng ngại khiến cho họ khó có thể tiếp nhận hoàn toàn những lời dạy của Thầy. Con nhớ lời Thầy dạy là mình phải luôn cẩn trọng với xu hướng tuyệt đối hóa, thần thánh hóa vị thầy của mình, dù đó là Bụt. Có thể thấy thông điệp này rất rõ trong tác phẩm Đường Xưa Mây Trắng. Trong khóa An cư 2012-2013, Thầy cũng đã mời đại chúng cùng quán chiếu và thực tập điều này để xem mình có phải là “tri kỷ của Bụt” hay không.

Pháp Bụt cao siêu mầu nhiệm”… Với 1000 cánh tay của Bồ tát Quán Thế Âm, pháp Bụt đã có mặt rất khế cơ khế lý, đáp ứng kịp thời cho mọi hoàn cảnh. Các bạn thiền sinh Nhật thật là may mắn khi được hưởng những bài pháp thoại do quý thầy, quý sư cô giáo thọ từ các trung tâm Làng Mai ở khắp nơi về giảng dạy. Con chắc Thầy sẽ rất hạnh phúc khi thấy quý thầy, quý sư cô chung tay làm việc trong tình huynh đệ và tiếp tục đem giáo pháp của Bụt đến cho mọi người theo cách thức rất riêng của từng vị.

Cuối khóa tu, rất nhiều tăng thân đã được thành lập trên toàn nước Nhật. Cho đến nay các tăng thân này vẫn tiếp tục duy trì sự tu tập một cách thường xuyên. Họ thường được cô Anh Hương và chú Thư, hai vị giáo thọ cư sĩ thuộc tăng thân Thuyền Từ ở Washington cho pháp thoại qua mạng bằng Skype.

Tiếp xúc với tổ tiên đất đai và làm mới chính mình

Mỗi khi trở về Nhật, con thường ở lại nhà một người cô tại Yokohama. Cô của con là giáo thọ trong một truyền thống khác của đạo Bụt. Một tuần bảy ngày, cô dậy sớm đi ngồi thiền lúc 5 giờ sáng ở một trung tâm sinh hoạt cộng đồng trong vùng. Sau đó, cô trở về nhà ngồi trước bàn thờ Bụt tụng một thời kinh ngắn và bày tỏ lòng biết ơn đối với tổ tiên đã hiến tặng cho mình một ngày mới. Bất cứ khi nào nhận được một món quà, điều đầu tiên cô làm là dâng món quà đó lên tổ tiên của mình. Khi nhận được những gói mận khô và những lọ mứt mận con mang sang từ Làng, cô cũng đã làm như thế. Sáng hôm sau, dượng con (chồng của cô) đã được thưởng thức mận khô, mứt mận với yaourt tự làm, bánh mì nướng và cà phê, những thức ăn quen thuộc mà sáng nào dượng cũng dùng.

Người Nhật không có thói quen chào bằng cách ôm nhau. Nhưng lần trước khi con đến thăm, cô dượng đã thấy con và con gái của cô dượng – chỉ nhỏ tuổi hơn con một chút – chào nhau bằng một cái ôm thật chặt. Thế là lần này khi con vừa mới đến, họ đã lập tức ôm con ngay (dù vẫn còn hơi ngượng ngùng) với một nụ cười rạng rỡ. Cô và dượng con đã trên 70 tuổi và khá là truyền thống, do đó con đã rất xúc động khi thấy hai người có tinh thần “chịu chơi” như vậy. Họ đã rất mở lòng và lắng nghe với một sự hiếu kỳ khi con kể về cuộc sống tu tập của mình ở Làng Mai.

Một trong những thực tập mà con rất thích là thực tập trong nhà vệ sinh. Con càng đặc biệt thích sự thực tập này mỗi buổi sáng trong thời gian ở tại nhà cô. Phòng tắm của cô lúc nào cũng được trang hoàng bằng một lọ hoa tươi, trên tường có treo một câu thư pháp nhật dụng. Trong một không khí như vậy, con thấy mình sử dụng phòng vệ sinh rất thong thả, buông thư, không quên thưởng thức câu thư pháp trên tường trước khi bước ra khỏi cái “thiền đường” nho nhỏ ấy.

Xe của cô cũng là một “thiền đường”. Mỗi khi cô ngồi vào sau tay lái, cô đều chắp tay lại rất nghiêm trang và nói: “Cám ơn xe đã giúp tôi đi đường một cách an toàn.” Nhờ cô mà con biết chắp tay lại đọc bài kệ lái xe mỗi khi con ngồi vào sau tay lái.

Đây là chuyến trở về Nhật Bản lần thứ ba trong cuộc đời xuất gia của con. Con thấy mình rất may mắn đã có thời gian để có mặt với gia đình và bạn bè, những người đã biết con từ lúc con chưa xuống tóc sáu năm về trước. Sau mỗi lần trở về, con đều thấy mình đã học thêm nhiều từ nếp sống của những người thân và bạn bè. Con nhận ra rằng dù phần lớn người dân Nhật không nghĩ là mình đang thực tập đạo Bụt một cách tích cực mà chủ yếu là chỉ đến chùa để làm đám tang hoặc cầu siêu, nhưng tinh thần chánh niệm vẫn đang có mặt trong nếp sống hàng ngày.

Từ khi còn nhỏ, trẻ con đã được dạy sau khi cởi giày ra phải xếp giày ngay ngắn và quay mũi ra ngoài trước khi bước vào phòng, giữ một cái khăn tay đã được ủi và xếp thẳng thớm trong túi để không phí phạm khăn giấy, khi trao vật gì cho ai thì phải đưa bằng hai tay… Người Nhật có đến 35 oai nghi trong cách sử dụng đũa mà phần lớn con không còn giữ nữa. Trong một lần đến chùa, một người bạn cũ đã nhắc con nên để ý hơn đến bước chân khi đi trong phòng có trải chiếu tatami. Chiếu tatami có các mép viền bằng vải màu, bước lên các mép này là không tôn trọng. Người bạn đó đã nhắc con phải luôn nhớ mang theo một đôi vớ sạch để mang trước khi bước chân vào chùa hoặc vào nhà của ai đó trong mùa hè để không để lại dấu chân có mồ hôi.

Thầy thường nhắc nhở con rằng đạo Bụt đã có sẵn trong huyết quản của người dân đất nước con, dù là Phật tử hay không Phật tử. Vì vậy điều quan trọng là cần giúp cho người dân Nhật trở về để tiếp xúc với gia tài tâm linh của mình.

Còn mãi trong nhau những nụ cười

Khi nhóm tiền trạm từ Viện Phật học Ứng dụng châu Á (AIAB) và từ trung tâm Thái Lan đến, quý thầy, quý sư cô được sắp xếp nghỉ lại tại chùa Nhật Tân (Nissinkutsu), ở ngay trung tâm Tokyo. Chùa này do sư cô Tâm Trí – người Việt điều hành. Nhờ sự tận tâm của sư cô đối với cộng đồng người Việt ở đây nên có rất nhiều Phật tử Việt Nam đến chùa yểm trợ. Từ ngày phái đoàn Làng Mai đến Nhật, các cô bác người Việt đã chăm sóc quý thầy, quý sư cô rất hết lòng, cúng dường phái đoàn ba bữa ăn mỗi ngày. Tuy nhiên sau một vài hôm, quý sư cô nhận ra rằng từ khi đến Nhật chưa được ăn thức ăn Nhật lần nào. Thế là con gọi điện thoại cho cô của con và sắp xếp để các sư cô đến dùng cơm tối tại nhà cô. Dù là sắp xếp vào giờ chót, cô vẫn vui vẻ chuẩn bị một bữa ăn Nhật theo kiểu gia đình để đãi chúng con. Sau khi ăn xong, cả sáu sư cô cùng vào bếp để giúp cô rửa chén bát và dọn dẹp. Sau đó, chúng con hát tặng cô bài “In gratitude” (Lòng biết ơn) trước khi trở lại chùa.

Sau này cô của con có chia sẻ là cô đã rất cảm động trước sự thực tập của quý sư cô vào buổi tối hôm đó. Phần lớn các sư cô đi cùng hôm ấy đều còn trẻ trong tuổi đạo, và sư cô Linh Nghiêm là sư cô lớn nhất. Chỉ nhìn cách sư cô Linh Nghiêm nói chuyện trong bữa ăn, cô của con đã nhận ra sư cô là một giáo thọ lớn. Vì vậy sau bữa ăn, khi thấy sư cô Linh Nghiêm cùng các sư cô khác giúp dọn dẹp, lau chùi dầu mỡ đã văng ra trên bếp, cô của con đã rất cảm phục trước sự thực tập hạnh khiêm cung của sư cô. Từ đó, cô con cảm thấy có niềm tin nơi pháp môn thực tập của Làng Mai. Cô nhắc cho con nhớ là mình rất may mắn được tu tập trong một môi trường tốt, có những người đi trước như sư cô Linh Nghiêm để noi theo, ngoài ra lại còn có rất nhiều các sư cô lúc nào cũng tươi vui, dễ thương và vững chãi cùng đi trên một con đường.

Một lần khác, sau ngày quán niệm dành cho y bác sĩ và nhân viên y tế tại bệnh viện St Lukes, một vài vị trong chúng con được mời đi dùng cơm tối tại nhà hàng với giám đốc bệnh viện. Trên đường về, vì đã khá muộn nên chúng con quyết định đón taxi. Gió thổi mạnh báo hiệu một cơn mưa sẽ đến. Không đủ chỗ trong xe cho tất cả mọi người nên con cùng một người bạn, vì quen đường hơn những người khác, đã tình nguyện đi tàu điện ngầm thay vì đón thêm một chiếc taxi khác. Sau khi vẫy tay chào chiếc taxi chở đầy quý thầy và quý sư cô, chúng con rảo bước về trạm tàu điện ngầm gần nhất. Một lúc sau, chúng con thấy thầy Pháp Ấn đuổi theo phía sau. Chúng con ngạc nhiên vì chúng con nhớ là thầy đã lên xe taxi lúc nãy rồi. Trên tay thầy đang cầm một cây dù và thầy muốn đưa cây dù cho chúng con để phòng lúc trời mưa. Bạn của con đã vô cùng cảm động trước cử chỉ quá sức dễ thương của thầy. Cô ấy nói rằng có thể cô ấy sẽ quên những gì thầy đã giảng trong những bài pháp thoại, nhưng cô ấy sẽ không bao giờ quên được sự khiêm cung và lòng tốt của thầy.

Tại sao núi Phú Sĩ đẹp lạ lùng?

Một điều may mắn là năm nay, khóa tu năm ngày được tổ chức tại một địa điểm rất gần núi Phú Sĩ. Nếu nhân duyên thuận lợi thì đây sẽ là một khóa tu được tổ chức định kỳ hàng năm.

Trong suốt khóa tu, thời tiết rất đẹp, vì vậy mọi người có cơ hội thưởng thức thiền hành và tận hưởng quang cảnh tuyệt đẹp của núi Phú Sĩ với không khí trong lành bao quanh. Một thiền sinh hỏi con: “Sư cô có biết tại sao núi Phú Sĩ đẹp lạ lùng như thế không?” Con hỏi tại sao, chú ấy đáp: “Bởi vì mọi người trên thế giới luôn nói cho núi biết, rằng núi rất đẹp và vững chãi.” Con muốn sụp lạy trước mặt vị Bồ tát đã nói cho con một điều rất hiển nhiên, mà chính con không thấy được. Có thể nói đó chính là Duy biểu học ứng dụng. Đây là điều mà con cần ghi nhớ, đặc biệt là trong mùa soi sáng.

Từ đầu cho đến cuối chuyến hoằng pháp, con hoàn toàn được đắm mình trong sự giàu có của giáo pháp. Con biết ơn Tam Bảo đã cho con cơ hội được trải nghiệm một chuyến đi tuyệt vời như thế trên chính quê hương con.

Bàn tay chạm tới trăng sao

Những ngày cuối đông…

Nhập Lưu đón con về vào một ngày cuối đông mưa rơi nhè nhẹ. Đôi mắt vẫn còn mệt mỏi sau một chuyến bay dài ngước lên nhìn khung cảnh xung quanh nơi mình sẽ sống. Tai con nghe loáng thoáng đã tới nơi rồi mà sao chỉ thấy toàn là những hàng cây khuynh diệp khẳng khiu, sần sùi hai bên đường. Đi thêm một đoạn nữa mới thấy thấp thoáng hai mái nhà nho nhỏ là nhà bếp và cốc Nến Ngọc. Một chút cảm giác lo lắng, bồi hồi len lỏi trong con nhưng rồi cũng qua đi nhanh chóng. Con mỉm cười với những gì đang hiện diện trước mắt và thầm nghĩ: Chào Nhập Lưu. Con đã tới rồi đây!

Nhập Lưu ẩn mình trong khu rừng tràm bạt ngàn rộng tới 55 mẫu. Có những ngày đôi chân con mải mê men theo những con đường nhỏ trong rừng mà sau này con mới biết đó là đường của các bạn kangaroo. Chạm tay vào những thân cây tràm con cảm nhận ẩn trong lớp vỏ sần sùi kia là một sức sống mãnh liệt, tuy khẳng khiu mà can trường đứng vững giữa đất trời. Từ khi đặt chân lên mảnh đất này, trong con không có sự xa lạ gì cả, cứ như là mình đã tới thật sự. Con nhớ ngày còn nhỏ, khi coi ti-vi, nhìn thấy những hình ảnh giống như những gì đang hiện diện trước mắt con đây, con thầm nghĩ: có bao giờ mình sẽ được sống trong khung cảnh giống vậy không, sao mà bình an, êm đềm quá đỗi! Bây giờ con đang được sống như ước mơ ngày còn nhỏ rồi.

Cái lạnh của những ngày cuối đông vẫn kéo dài dù trời đang chuẩn bị bước sang xuân, nhưng cảm giác lạnh cóng ấy đã được sưởi ấm bởi tình thương của quý sư cô dành cho chị em chúng con. Từng đôi tất, từ tất mang giày đến tất đi ngủ, rồi đến đồ ấm được trao tận tay hay đặt tại giường của từng chị em. Có những ngày ngoài trời mưa rỉ rả, cả nhà cùng quây quần bên bếp lửa hồng sau bữa ăn tối, uống trà rồi kể cho nhau nghe những mẩu chuyện từ ngày xưa cho tới ngày nay. Chị em chúng con như bầy chim non ríu rít kể đủ thứ chuyện, tiếng cười giòn tan vang vọng khắp nhà hòa lẫn với tiếng mưa rơi ngoài cửa. Ấm áp chi lạ!

Xuân về…

Màu trắng tinh khiết của hoa chiết không bi (chi không biết) phủ trên những con đường nhỏ, từng cánh hoa lấm tấm những hạt sương buổi sớm còn đọng lại. Mỗi khi đi thiền hành, gặp những cánh hoa đang e ấp kia thì những bước chân càng thêm nhẹ nhàng, chầm chậm, cứ sợ rằng mình sẽ giẫm lên hoa mất. Hoa của những ngày giao mùa. Bỗng một ngày, thấy có chút gì là lạ khi thức dậy. À, thì ra là đổi giờ rồi, mùa xuân thực sự tới rồi đó. Mùa xuân về mang theo không khí tươi mới. Trời đất bừng thức dậy sau một giấc ngủ đông dài nên tràn đầy sức sống. Muôn hoa đua nở khoe thêm nhiều màu sắc hiến tặng cho đất trời. Ngôi nhà nhỏ mà chị em con đang sống ngập tràn trong sắc hồng, sắc trắng, sắc vàng của hoa mười giờ, bồ công anh… Nắng về đậu trên từng cánh hoa, tán lá. Hoa gặp nắng mừng như mở hội, mọi thứ dường như sáng bừng thêm, không gian thênh thang, lòng người cũng thênh thang.

Ở Nhập Lưu, muốn trồng hoa gì hay cây gì cũng phải rào lưới thật kĩ, không thì mấy bạn kangaroo, wallaby, thỏ… buổi tối lại tới thăm. Có những ngày đi thời khóa về, sư cô Tịnh Quang ra thăm vườn, rồi bước vào nhà, miệng mếu máo: “Em ơi, chị buồn quá… tại vì… tại vì… mấy con thỏ, wallaby ăn hết mấy ngọn cây trà mi và hoa hồng rồi, ăn luôn cả hoa nữa.” Rứa mà, hoa hồng đó, trà mi đó vẫn bừng sức sống, ngày qua ngày vẫn âm thầm nảy những mầm non mới dù chiều cao không tăng thêm được chút nào, để rồi tới một ngày, một đóa hoa tươi tắn lại xuất hiện. Những cây lê cũng vậy, dù nhỏ bé nhưng vẫn kiên cường chống chọi với cái lạnh giá của mùa đông, để đến khi mùa xuân tới, những trái lê nhỏ xíu, xinh xinh được biểu hiện trong niềm vui thích của chị em chúng con. Rứa mà đến một ngày khi con đi ngang qua, nó đã hoàn toàn trụi lủi, mấy bạn wallaby lại ghé thăm tối hôm qua rồi. Hơi buồn một chút nhưng mỗi ngày, đôi mắt con vẫn nhìn thấy lá xanh, vẫn còn thấy sự sống đang tiếp diễn trong những cành cây nhỏ bé đó. Kỳ diệu thay!

Từng ngày trôi…

Con đường từ nhà ở đi lên nhà ăn quanh co uốn lượn. Con có nghe kể về Con đường huyền thoại ở Làng. Dù chưa được nhìn thấy trực tiếp, chỉ có một chút tưởng tượng trong đầu thôi, nhưng con cũng thầm đặt cái tên đó cho con đường mỗi ngày nâng bước con đi. Con đường huyền thoại ngang qua hồ Trăng Rằm, nơi đó có Mẹ Quan Âm ngồi thật lặng yên, dõi ánh mắt hiền hậu nhìn những đứa con của mình. Xung quanh Mẹ là những bông hoa súng đủ sắc màu đang nở rộ. Cảnh tượng thật thanh bình!

Hạnh phúc biết bao mỗi khuya thức dậy, con nhìn thấy ánh trăng sáng chiếu vào nhà, chiếu luôn cả con đường nhỏ đi lên thiền đường để công phu buổi sớm, cũng có khi bầu trời giăng đầy những vì sao. Đứng lại ngước mắt nhìn lên trời cao, trăng sáng quá, bầu trời đẹp quá mà cũng thật gần nữa. Con có cảm tưởng rằng chỉ cần đưa bàn tay với lên cao một chút là có thể chạm được tới bầu trời, chơi đùa được cả với trăng sao. Con hít thở những hơi thở thật sâu, thật bình an, nhẹ nhàng, cảm nhận mình thật may mắn và tự do. Mảnh đất này lành quá, êm đềm quá, tự bao giờ nó đã đi vào tâm hồn con và ngự trị ở đó mất rồi. Con trân quý từng phút giây của cuộc sống hiện tại và tận hưởng nó thật hết lòng. Con sợ con bỏ lỡ sự sống đang có trong con và xung quanh con.

Đổi từ một chúng lớn ở Việt Nam sang một chúng nhỏ chỉ có vài chị em sống với nhau, với môi trường mới giữa mảnh đất thênh thang này là một thử thách đối với con, nhưng càng ngày con càng thấy đây là một cơ hội. Cơ hội để làm mới chính mình, từ thân tới tâm. Mới qua bốn tháng mà sư cô Thuần Tiến đã nói với mấy chị em con: “Ở đây, ai không biết lái xe là một thiếu thốn lớn”, rồi sư cô hỏi: “Các em có muốn học lái xe không?” Chúng con trả lời một cách nhanh chóng “Dạ muốn” trong sự vui thích như sắp được khám phá một điều mới lạ. Thế là ngày hôm sau, bài học đầu tiên là tập lái xe trên những con đường quanh co, lên đồi xuống dốc chung quanh thiền viện. Chạy ngang qua hồ Trăng Rằm, sư cô dặn: “Đừng chạy xuống hồ tắm nghe mấy em, chị không biết bơi đâu nhé.” Con thường gọi những giây phút đó là những giây phút mà sư cô đang cùng chúng con chơi trò “cảm giác mạnh” và câu “thần chú” của sư cô là “Thắngggggg!”. Tay chân của chúng con còn cứng quá, chưa điều khiển được chân ga chân thắng nên cứ xém chút là lủi vô bụi. May nhờ có câu “thần chú” ấy của sư cô nên chưa xảy ra chuyện gì, cũng chưa xuống tắm hồ lần nào.

Cuối cùng ngày thi bằng L cũng tới sau một thời gian dùi mài kinh sử vào mỗi thứ Hai làm biếng trong thư viện của thành phố Ballarat, cách Nhập Lưu khoảng một giờ đồng hồ lái xe. Chúng con phải ra thư viện vì cần làm những bài kiểm tra thử trên Internet, mà mạng ở Nhập Lưu lại rất giới hạn về dung lượng. Mấy chị em con được sư mẹ chở đi bằng xe van, trên xe ai cũng cắm đầu vô máy để tranh thủ ôn lại, có khi quay qua thảo luận, giải thích rồi đố nhau cách xử lý tình huống này, tình huống kia trong khi lái xe. Sư mẹ ngồi trên lâu lâu ngó xuống nhìn các sư con cười tủm tỉm, rồi lại dõi mắt theo từng sư con bước vào phòng thi và cười hạnh phúc khi ai cũng đậu hết.

Từ khi đã dán được bảng L đằng trước và sau xe, những giây phút ngồi trên xe đều là những giây phút ngồi thiền thay vì ngồi ở thiền đường. Nhưng thiền lái xe này căng thẳng quá, đòi hỏi định nhiều lắm, nhất là với mấy chị em chúng con. Vì chúng con có năm người nên cần hai xe: sư cô Trí Duyên và sư cô Thuần Tiến chia ra ngồi trên hai xe ấy, và chúng con cũng chia ra làm hai nhóm. Con được tập cùng sư cô Tịnh Quang và sư em Trăng Cơ Duyên dưới sự hướng dẫn của sư cô Thuần Tiến. Từ những con đường quanh co của thiền viện, chúng con bắt đầu tiến ra những con đường lớn có hai chiều rồi vào đường cao tốc, cảm giác vừa sợ vừa thích thú, nó đòi hỏi sự chú ý và nhạy bén trong khi lái rất nhiều. Có lần con nói với sư cô: “Răng lái xe mà như đi ăn trộm ri sư cô hè, tại vì đôi mắt cứ đảo liên tục, lúc thì liếc qua bên phải, bên trái để canh làn xe, rồi đảo lên kính chiếu hậu nhìn đằng sau, rồi đảo xuống nhìn đồng hồ tốc độ không thôi thì lúc chạy ào ào, lúc thì chậm rì.” Những ngày đầu, sư cô cứ hỏi: “Sao bỗng dưng em thắng lại vậy? Đang ở đường cao tốc mà?”, rứa là tụi con trả lời rất ngây thơ mà bây giờ trở thành những câu nói bất hủ, mỗi khi nhắc lại cũng còn cười với nhau. Bởi vì khi đang chạy, con thấy có xe đang chạy ngược chiều tới là la làng lên: “Ố là la, sư cô ơi xe tới kìa, con sợ”; “Ố là la sư cô ơi, xe tải tề, làm răng đây?”, còn sư cô Tịnh Quang thì: “Họ teeeeeeeeeeeeề…!” “Họ là ai?” Sư cô Thuần Tiến thắc mắc. “Xe đoooooó sư cô!” Câu trả lời vụt đến.

Sư em Trăng Cơ Duyên, lúc ngồi chờ đợi phía sau thì cười nói ríu rít, rứa mà đến khi lên lái thì ngồi im thin thít, không nói tiếng nào. Khả năng tập trung cao khủng khiếp đến nỗi dù mặt tái mét nhưng sư em vẫn tự tin lái dưới sự hỗ trợ rất đắc lực của hai chiếc gối (vì chân ngắn!).

Cái không khí rộn rã đó vẫn còn giữ cho đến ngày thi vòng hai (thi xử lý tình huống trên máy). Có điều thêm một chuyện nữa là con bị chọc quệ luôn. Vì lần trước giấy hẹn thi của con là 1giờ 30 chiều nên con tung tăng đi chơi khắp chốn mà đâu hay người ta cho thi liên tiếp vì các chị em đi chung một nhóm. Rứa là đến khi về lại nơi thi, quý sư chị đã thi xong hết rồi và ai cũng đậu hết. Đến khi con vào phòng thi với nụ cười tươi và tinh thần rất hào hứng thì bỗng dưng, bỗng dưng… máy hư. Con ngồi chờ người ta liên lạc để sửa máy, trong thời gian đó sư cô và các sư chị rủ con ăn trưa, với rong biển và trái cây. Trong lòng con lúc đó có một chút lo lắng, một chút ái ngại nghĩ rằng do cái tội ham chơi cho nên bây giờ con còn ngồi đây, làm ảnh hưởng tới mọi người. Rứa là con chọc mọi người, con nói rằng con không ăn rong biển mô, rong biển màu đen, xui lắm! Đưa chuối thì con nói chút nữa thi xong con ăn, chừ ăn trượt vỏ chuối răng. Cả xe cười ồ lên, quên đi cái nắng, cái mệt giữa ban trưa. Chúng con giống như những sĩ tử ngày xưa vác lều chõng đi thi, nhưng thời nay hiện đại hơn: chúng con xách theo thức ăn trưa, một cái máy tính, một cuốn vở, một cây viết đi cùng nhau trên một chiếc xe và rồi từ từ vượt qua từng chặng thi, từ thi Hương, thi Hội và sắp tới còn cuộc thi Đình (thi thực hành) nữa để lấy bằng P xanh. Và con thấy mỗi người đều đã là một vị Trạng nguyên trong giây phút này rồi.

Hạ đến…   

Chớp mắt một cái, mùa hạ đã đến. Hạ về mang theo cái nắng, cái nóng kinh khủng. Có những ngày nóng đến gần 40 độ. Rừng tràm đã khô nay còn khô hơn nữa, nguy cơ cháy rừng luôn luôn ở mức báo động và chúng con luôn trong tư thế sẵn sàng chạy. Nắng nóng là rứa nhưng buổi sáng thì sương mù giăng khắp lối và buổi tối trời se lạnh giúp cho giấc ngủ chúng con càng sâu hơn. Thiên nhiên cũng ưu đãi cho con người ở đây lắm chứ: sau những ngày nắng nóng kinh khủng là một trận mưa, dù nhỏ, khoảng chừng… ba mươi hạt hay mưa ào ào. Những hạt mưa rơi xuống như dòng cam lộ mát mẻ và gột sạch đi những mệt mỏi, những khô cằn, những dư âm của cái nắng kinh khủng còn sót lại.

Có nhiều vị lên Nhập Lưu luôn nói sao chúng con lại có thể sống được trong chốn heo hút, thăm thẳm này? Con thấy con đang được ôm trọn trong vòng tay đầy thương yêu, lân mẫn của tăng thân, của nhiều tấm lòng. Con thấy mình được tự do, được tung tăng bay nhảy giữa không gian thênh thang, được vùng vẫy trong biển ngàn sao, được có nhiều thời gian để trở về với chính mình. Tâm hồn con thấy ấm áp mỗi khi nghĩ về những tấm lòng luôn thương tưởng, những bàn tay luôn sẵn sàng đưa ra mỗi khi Nhập Lưu cần đến. Lớp học tiếng Anh vẫn đều đặn bốn buổi chiều trong tuần với sự hướng dẫn của cô chú Ron-Daya. Sự có mặt tươi mát và tấm lòng phụng sự không biết mệt mỏi của chú Vinh, chị Diễm… và nhiều gia đình khác nữa. Cô chú Kerry-Chris luôn tươi cười và có mặt đó, giúp đỡ quý sư cô dù chuyện lớn hay nhỏ. Mỗi khi xuống phố để đi hoằng pháp ở những tiểu bang khác hoặc có công việc cần, chúng con được chào đón bằng bàn tay, ánh mắt đầy thương yêu của “bà ngoại” Chi và ngôi nhà ấy đã trở thành nhà trọ của Nhập Lưu từ khi nào không biết. Bây giờ “bà ngoại” Chi cũng là người thường xuyên ngồi bên cạnh, trên xe cho chúng con tập lái, dù lúc ban đầu, khi được hỏi thì câu trả lời của bà luôn là: “No, thank you, sợ lắm!”.

Đôi mắt con sáng lên tia hạnh phúc, tin cậy mỗi khi nhìn thấy quý sư cô, sư chị, sư em đang có mặt bên con. Ở Diệu Trạm mấy năm trời có khi nào con lên dâng hương, hô canh đâu. Vậy mà khi qua đây quý sư cô lại luyện cho chúng con làm mọi thứ đều bằng tiếng Anh. Sư cô dạy chúng con rằng mình phải ráng tưới tẩm hạt giống tiếng Anh trong lòng, mình đang ở xứ Úc mà. Con chợt mỉm cười mỗi khi nhớ tới hình ảnh sư cô dạy chị em con hô canh, đảnh lễ chư Bụt và Bồ tát. Giọng của sư cô thì hay quá chừng, cao vút tận trời mây, còn giọng của con thì thấp lè tè dưới mặt đất, rứa mà có thì giờ rảnh là lại tập với nhau, sư cô ngồi “chịu khó” nghe con cất giọng ê a.

Lòng con thấy vui khi nhìn thấy sự có mặt tươi mát, hết lòng nhưng cũng có khi rất thầm lặng của sư cô Trí Duyên. Quý sư cô làm việc nhiều quá, vậy mà vẫn có mặt đó, và rất hết lòng cho đại chúng. Quý sư chị, sư em của con cũng vậy, mỗi ngày đang góp những bàn tay vì Nhập Lưu. Có đôi khi con ước gì có thêm chị, thêm em để giúp đỡ thêm cho chúng, vì ở đây cần lắm những tấm lòng, những bàn tay nhưng có lẽ nhân duyên chưa hội đủ. Con an trú trong phút giây hiện tại để thấy mình đang có quá đủ những điều kiện hạnh phúc, trong con và xung quanh con. Sự sống quanh con mỗi ngày vẫn tiếp diễn với đầy những nhiệm mầu. Kangaroo hình như đã quen hơn với hình ảnh áo nâu, cho nên có khi nhìn thấy chị em con đi qua vẫn đứng lặng yên miệng nhai nhóp nhép, gương mặt có khi nghệt ra, nhìn quá đỗi dễ thương. Tâm hồn con vẫn luôn tràn đầy những làn gió mát với không gian có đủ để quay về, để nuôi dưỡng chính mình và những người xung quanh con.

Công trình xây dựng tăng thân là công trình xây dựng ngàn đời. Mỗi giây phút là một viên gạch để tự bồi đắp cho chính mình. Cuộc hẹn của con với sự sống vẫn còn đang tiếp diễn. Con không muốn mình phá hủy bất cứ một khoảnh khắc nào cả. Con nhớ sư cô có kể câu chuyện về những cú nhảy ngược dòng của đàn cá hồi, phía trước là hàm răng nhọn của những con gấu đang chờ sẵn. Đời sống của người tu cũng vậy, cũng ngược dòng và cũng gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, con luôn ý thức mình đang sống trong một chúng nhỏ và tự nhắc mình làm sao để đời sống của mình thật ý nghĩa và trọn vẹn.

Con thấy mình không đơn độc một chút nào cả. Con có Bụt, có Tổ, con có Thầy, có tăng thân. Con còn có cả một tăng thân rừng khuynh diệp thật lớn xung quanh con, thật vững chãi, kiên cường đứng đó mặc cho gió bão tràn về. Trong mắt con, mỗi ngày dường như những cây tràm trở nên có hồn hơn, dù không nói gì hết, nhưng sự biểu hiện thật mạnh mẽ mà cũng thật bình yên làm cho con cảm thấy được nuôi dưỡng và vững tin thêm. Mỗi ngày con lạy xuống trước chư Bụt, chư Tổ xin cho con thêm vững tay chèo lái, thêm mạnh mẽ để đi trọn con đường mà con đã chọn với tất cả tấm lòng và niềm tin. Con cám ơn Thầy đã cho con thấy con đường sáng, đã sinh con ra trong đời sống tâm linh và tiếp tục nuôi dưỡng con mỗi ngày thêm trưởng thành. Con cám ơn tất cả những gì con đã và đang được nhận, đã đi qua và những gì trong giây phút hiện tại.

 

Vào dòng rong chơi

(Phần 2 – viết về thiền viện Nhập Lưu, tiếp theo LTLM số 37)

Sáng nay ngồi trước hành lang của cốc Nến Ngọc với tách trà nhỏ trong tay, trước mặt tôi là bức tranh vĩ đại tuyệt vời mà thiên nhiên đã trao tặng cho chị em chúng tôi để ngắm mỗi ngày. Giây phút mầu nhiệm của hiện tại cho tôi tiếp xúc được với rừng tràm dáng thon cao, vươn dài hàng vạn nhánh lá xanh mướt óng ánh khi nắng tràn về. Rừng cây đang đứng thật yên và hạnh phúc tiếp nhận nắng ấm ban mai từ mặt trời êm nhẹ lan tỏa vào từng chiếc lá, lớp vỏ rồi sâu dần vào thân cây. Những làn sương mỏng đầu ngày cũng từ từ bay nhẹ lên cao. Hơi thở tôi hòa quyện vào làn sương, hạt nắng tan vào không gian thênh thang.

Tiếp nối con đường

“Bánh xe mầu nhiệm chuyển hoài…” Nhập Lưu cũng đang chầm chậm chuyển mình từng bước vững chãi thảnh thơi mà đi tới trong từng phút giây để mỗi ngày thêm mới, thêm nhiều sức sống hơn trên con đường thực hiện sứ mạng mà Thầy và tăng thân đã giao phó tại xứ Úc châu này. Đầu năm 2012, sáu sư cô từ Thái Lan được bảo lãnh sang Úc, nhưng vì không gia hạn được visa nên cuối năm 2014, các sư cô đã trở về lại Thái, Việt Nam hay qua Pháp. Rút kinh nghiệm từ đợt bảo lãnh đầu tiên, chúng tôi bắt đầu bảo lãnh sáu sư cô đợt hai thẳng từ Việt Nam, như vậy cơ hội có thể gia hạn visa dễ dàng hơn. Đó là hai sư cô Tịnh Quang và Tựu Nghiêm đến từ Tuệ Uyển vào tháng 4 năm 2015. Đến tháng 8 năm 2015 thì có thêm bốn sư cô từ Diệu Trạm (Huế) đặt chân đến Nhập Lưu, đó là các sư cô Phát Nghiêm, Trăng Sông Hồng, Trăng Thường Trú và Trăng Cơ Duyên. Năng lượng trẻ, khỏe và tràn đầy nhiệt tâm thực tập cũng như phụng sự của các sư cô trẻ đã đóng góp sự năng động, tươi mát cho Nhập Lưu thật nhiều.

Những ngày quán niệm thứ Năm và Chủ nhật mỗi tuần vẫn đều đặn, tùy vào số lượng các vị cư sĩ tham dự mà chúng tôi chia ra hướng dẫn cho thích hợp với ngôn ngữ mà họ mong muốn trong khi nghe pháp thoại hoặc những buổi tụng Năm giới và Mười bốn giới Tiếp Hiện. Những ngày lễ lớn như Tắm Bụt, Bông hồng cài áo, Giáng sinh và Năm mới thì số lượng tham dự trung bình khoảng từ 60 cho tới 100 người. Thỉnh thoảng có những nhóm mướn nguyên một chiếc xe buýt lên tham dự một ngày quán niệm để biết về phương pháp thực tập của Làng Mai ở Nhập Lưu như thế nào. Cuối ngày mọi người đều chia sẻ là họ thích lắm, hạnh phúc lắm và mong có một Nhập Lưu thứ hai ở dưới phố để được gần gũi và sinh hoạt chung với quý sư cô mỗi cuối tuần.

Đầu tháng 4 năm 2015, chúng tôi có hướng dẫn hai ngày quán niệm, một ngày cho người Úc và một ngày cho người Việt lần đầu tiên ở Perth, có khoảng 40 đến 50 người tham dự trong ngày. Tiểu bang này cách Melbourne 4 giờ bay và khác nhau 4 tiếng đồng hồ. Sau hai ngày quán niệm thì có 20 người đồng ý thành lập tăng thân đầu tiên ở Perth. Bên cạnh đó, những khóa tu chính vào tháng 4 ở các tiểu bang của nước Úc vẫn được duy trì hằng năm. Còn khóa tu vào tháng 9 thì có sự thay đổi: lúc trước, các tăng thân tổ chức tại tiểu bang địa phương mình ở và chúng xuất sĩ bay đến đó để hướng dẫn, nhưng bây giờ thì trở thành khóa tu gia đình do thiền viện Nhập Lưu tổ chức, cùng với sự yểm trợ của quý thầy bên Hồng Kông và các tăng thân cư sĩ ở các tiểu bang. Trong hai năm qua, khóa tu này được tổ chức tại khu nghỉ dưỡng Cave Hill Creek ở Beaufort thuộc thành phố Melbourne. Đây là một nơi có khung cảnh rất đẹp, thiền vị và lý tưởng để mở khóa tu, cách Nhập Lưu chừng 20 phút lái xe. Ai đến cũng đều trầm trồ khen ngợi và thích thú. Đó cũng là cơ hội đoàn tụ cho các tăng thân trong nước Úc gặp gỡ, chia sẻ và hiểu nhau nhiều hơn, vì vậy khóa tu này đã mang lại cho mọi người rất nhiều lợi lạc trên con đường chuyển hóa và hạnh phúc như ngày hội vậy. Tuy nhiên đó chỉ là phương tiện tạm thời thôi.

Công trình xây dựng ngàn đời

Giữa năm 2014, chúng tôi nộp giấy tờ xin phép làm một toilet gần thiền đường, dành cho các vị thiền sinh lớn tuổi sử dụng khi tham dự thời khóa. Khi hội đồng hành chính của địa phương (Council) đến để xem xét thì biết được nhà bếp, nhà ăn (chung) và cốc Nến Ngọc của chúng tôi đang sử dụng không đủ tiêu chuẩn sinh hoạt cho cộng đồng và bắt buộc chúng tôi không được nhận khách tới ở cũng như tổ chức khóa tu. May thay nhờ chú Tuấn và chú Tim (người Úc) giải thích, đưa ra bản vẽ mới của nhà khách cũng như nhà bếp, phòng ăn sẽ xây trong tương lai, kèm theo bản báo cáo bảo đảm an toàn của chú Tuấn, cuối cùng họ đồng ý cho phép chúng tôi được sử dụng cốc Nến Ngọc và nhà bếp tạm thời trong hai năm nữa. Chú Tuấn nói với tôi: “Sư cô ơi, hội đồng hành chính ở vùng quê còn hiền lắm đó, còn giúp mình nữa nên mới cho mình thêm hai năm, chứ hội đồng thành phố là bắt gỡ xuống hết rồi.” Tôi thở phào nhẹ nhõm, lòng thầm cám ơn Bụt, Tổ và năng lượng của Thầy đã che chở cho Nhập Lưu chúng tôi. Tôi cũng cám ơn hội đồng hành chính địa phương – những người đã làm việc hết lòng, thông cảm và lo lắng cho sự an toàn của mọi người.

Không bùn làm sao có sen”, nương vào những điều kiện bắt buộc của hội đồng địa phương, giữa tháng 7 năm 2015, chúng tôi đã xây xong hành lang bằng xi măng bao quanh thiền đường Thanh Lương Địa với con đường nhỏ an toàn cho người khuyết tật sử dụng. Gần thiền đường phía bên phải, chúng tôi dựng được một cái cốc nhỏ bằng gỗ dùng làm quán sách và một nhà vệ sinh mới nhưng còn dang dở cho tất cả mọi người đều có thể dùng được. Hiện tại chúng tôi đang chờ giấy phép của hội đồng địa phương để bắt đầu công trình xây dựng cư xá cho thiền sinh đến tu học, thay thế cho cốc Nến Ngọc. Hy vọng công trình này sẽ khởi công vào đầu năm 2016. Tất cả các bản vẽ cũng như việc liên hệ với hội đồng địa phương về giấy tờ hành chánh cho Nhập Lưu đều do chú Tim và chú Tuấn yểm trợ và cúng dường về tài chính. Xin cám ơn những vị Bồ tát bổ xứ đã đến đúng lúc, đúng thời để cho hoa sen nở nụ trong rừng thiền Nhập Lưu. Sau khi công trình xây dựng cư xá hoàn tất thì chương trình xây nhà bếp, nhà ăn mới cũng sẽ bắt đầu.

Tăng thân khắp chốn

Hạnh phúc thay được sống trong tăng đoàn, được hành trì cùng pháp môn, chúng tôi đã và đang tiếp nhận rất nhiều tấm lòng thương yêu, chăm sóc và yểm trợ của các vị cư sĩ khắp các tiểu bang trong và ngoài nước Úc. Khi hay tin Nhập Lưu gặp khó khăn, tăng thân đầu tiên ở Melbourne do cô Susan hướng dẫn đã đứng lên thành lập một nhóm gây quỹ xây dựng cho Nhập Lưu. Bên cạnh đó, với sự chia sẻ, viết thư kêu gọi, góp ý kiến của chú John (Sydney) cùng sự hợp tác của thầy Pháp Khâm, lá thư ấy đã đến từng địa chỉ điện thư của mọi người. Nhờ vậy trong thời gian gần đây, Nhập Lưu đã nhận được sự yểm trợ tài chính cho công trình xây dựng theo định kỳ hằng tháng hoặc mỗi tuần.

Về phần thực phẩm rau đậu thì có nhóm của cô Diễm (chị sư chú Long Hoa) chăm sóc, gởi lên hàng tuần. Cô Diễm, người mà chúng tôi thường dí dỏm gọi đùa là bộ ngoại giao của Nhập Lưu, cũng đã khéo léo mời được chú Tuyển, mang những chiếc xe cẩu, cán đường và cho thêm thợ làm lại những con đường trong thiền viện thêm bằng phẳng, rộng rãi hơn và mang lại thật nhiều niềm vui cho mọi người.

Giờ đây, khi chạy xe vào Nhập Lưu, ai cũng cảm thấy êm nhẹ và an toàn trong thích thú. Thêm vào đó, cô Lài cũng góp phần cúng dường một xe van 12 chỗ, khi thấy các sư cô từ Việt Nam qua mà chỉ có mình tôi lái xe đi xa được thôi. Cô tủm tỉm cười nhẹ nhàng nói: “Sư cô! Con mong có một chiếc xe van để quý sư cô đi chung với nhau cho vui, đỡ tốn xăng và không cần nhiều tài xế đó mà”, khi tôi từ chối Nhập Lưu đã đủ xe nhỏ rồi. Còn phải kể đến chú Vinh, tuy đã ngoài 75 tuổi nhưng chú rất năng động. Chú đã tự mình mua một xe van 12 chỗ để tìm cách giúp đỡ, đón đưa những ai muốn đến Nhập Lưu tu học, cũng như chú Ron, cô Daya đến dạy tiếng Anh cho các sư cô bốn buổi chiều mỗi tuần với nhiều tình thương và kiên nhẫn. À còn ngoại Chi nữa chứ – các sư cô trẻ gọi là “ngoại” vì tuổi cô đã hơn 76 rồi. Chúng tôi gọi ngoại Chi là bộ trưởng bộ chuyên chở và tiếp tế lương thực, bởi vì những ai ở dưới phố muốn cúng dường thực phẩm cho Nhập Lưu đều mang đến nhà bác Chi. Hoặc từ tiểu bang khác gởi tới thì cũng báo cho bác Chi đi nhận. Đến thứ Bảy cuối tuần thì bác chở lên Nhập Lưu. Căn nhà của ngoại Chi thường được chúng tôi gọi một cách thân thương là “Motel Nhập Lưu” – nơi chuyển tiếp, trạm dừng chân nghỉ ngơi cho quý sư cô trước và sau những chuyến hoằng pháp xuyên tiểu bang, ra nước ngoài và trở về lại Úc. Lúc nào đến nhà ngoại Chi, chúng tôi cũng được tiếp nhận tình thương che chở, bảo bọc, lo lắng về sức khỏe cho chúng tôi như về nhà ngoại ruột của mình.

Ôi! Thật cảm động biết bao trước những tấm lòng bền bỉ, kín đáo và thầm lặng yểm trợ, thương yêu chúng tôi qua nhiều hình thức khác nhau. Tất cả đều có chung ước mơ là Nhập Lưu nhanh chóng có đủ điều kiện, khả năng để tiếp nhận mọi người đang hướng về và cần nương tựa. Chúng tôi không thể kể hết được trọn vẹn những tình thương ấy, những tấm lòng thật gần gũi biết bao ấy, vì trang giấy thì có giới hạn…

Tôi không ngủ mơ đâu, ngày hôm nay đẹp lắm thật mà!

Chúng tôi có tám chị em sống với nhau trong tình gia đình nho nhỏ, với những nụ cười rộn ràng hồn nhiên líu lo như tiếng chim sau những bữa ăn. Các sư em tôi chia tri, chia đội và mỗi người là một đội, một tri. Thời khóa cũng đầy trong ngày nhưng ai cũng tham dự đầy đủ. Sáng thứ Bảy mỗi tuần là cơ hội cho chị em chúng tôi cùng làm việc chung. Các sư em tôi chịu học tiếng Anh, hô canh, đọc kinh bằng tiếng Anh, lái xe, ghi danh khách đến, chịu làm những việc như cắt cây, cắt cỏ, sửa xe, sửa máy bơm nước, ống nước… và chịu chơi, luôn hồ hởi trả lời thích và thêm rằng “xe say con chứ con không say xe” khi tổ chức đi hồ, đi biển, ngắm nhìn từng đàn chim cánh cụt ủn ỉn lội lên bờ dưới những đợt sóng cuồn cuộn phủ tràn lên bãi biển. Nhưng cũng có khi chỉ cần hỏi: “Em khỏe không?” là đôi mắt liền đổi màu đo đỏ và nước mắt cũng đã rươm rướm ở mi rồi, bởi vì hôm qua thiền sinh đến hơi đông và hôm nay thì em hơi mệt. Các sư em tôi vẫn còn ngây thơ và dễ thương như vậy đó! Vì thế ai bảo đi tu là khổ? Xin cám ơn quý sư cô Diệu Trạm đã từng ngày mớm sữa pháp của Thầy cho các sư em vừa đủ lớn, để rồi lại đưa các em vào dòng chảy của tăng thân qua tới bến Nhập Lưu.

Nhập Lưu đang vào những ngày hạ, thời tiết năm nay nóng hơn và kéo dài hơn những năm trước. Tuy nhiên về đêm thì rất mát có khi trở lạnh như đã vào đông. Nhìn xuyên qua rừng tràm đang mềm mại lung lay theo chiều gió nhẹ, những cành lá xanh non như dang tay vẫy chào trao tặng tôi niềm hạnh phúc hiện thực của sự sống mầu nhiệm bây giờ và ở đây. Đôi bàn tay chắp lại trong niềm kính cẩn và biết ơn, tôi cám ơn Bụt, ơn Tổ, ơn Thầy, ơn tăng thân và tất cả mọi người, mọi loài trong vũ trụ đã nuôi dưỡng, chấp nhận tôi và hàng vạn cây tràm kia là những bạn đồng hành nguyện cùng chúng tôi vững bước trên con đường chuyển hóa và làm lớn rộng nguồn suối yêu thương đích thực trong mọi người và trên khắp muôn nơi.