Hạt mầm chắp tay chào ánh sáng

Hình như trong nắng có mưa

Vẫn cái nắng gần bốn mươi độ của mùa hè Thái Lan. Nóng! Chắc là nóng rồi. Dễ làm cho con người ta thấy bứt rứt khó chịu chăng? Một phần. Cáu gắt, thiền định khó hơn vì trời như đổ lửa? Dĩ nhiên không rồi. Mà trái lại, nguồn năng lượng đầm ấm, tươi mát, hồn nhiên và những tiếng cười trong trẻo đã xóa tan đi cái nóng bức. Và long lanh đâu đó cố giấu những hạt mưa! Chắc mọi người nghĩ tới những cơn mưa mùa hè, nếu có thì tuyệt quá. Nhưng ở đây, con muốn nói tới những hạt mưa long lanh, chảy dài trên những khuôn mặt thân thương – các “Đức Bụt trẻ thơ” (baby Buddha) của đại chúng.

Hôm 19 tháng Tư, ngày các sư cô, sư chú sa di nhỏ về lại gia đình sau khóa xuất gia gieo duyên ba tuần lễ tại Làng Mai Thái Lan. Hình ảnh các sư cô, sư chú tí hon nước mắt ngắn, nước mắt dài, cánh tay bé nhỏ ôm chầm quý thầy rồi sang thiền ôm với quý sư cô như muốn đem cả tăng thân về nhà với mình. Thiền đường sau giờ cơm quá đường trưa nay bỗng mưa tầm, mưa tã trong khi ngoài trời vẫn nắng. Có một em trai nhỏ chắp tay lạy tạ từng thầy, từng sư cô dù không nói được lời chia tay nào vì tâm hồn em, trái tim em được lấp đầy bởi tình thương yêu, em không muốn xa một chút nào. Có em dõng dạc tuyên bố: năm sau chắc chắn con sẽ về lại, xin cho con được ở lâu hơn. Có em lại nói: mặc dù con không còn là sư cô, sư chú nữa nhưng chúng con cũng vẫn là con của đại chúng, chúng con xin được trở về như về lại ngôi nhà của mình mỗi lúc chúng con được nghỉ lễ. Con không muốn về đâu mà tại con phải đi học…

Các “baby Buddha” ra đời

Sau khi chương trình xuất gia Năm năm ra đời và được áp dụng khá thành công, vào khoảng đầu năm 2014, Sư Ông có ước muốn tổ chức các khóa xuất gia gieo duyên ngắn hạn cho các em thiếu nhi hoặc người trẻ. Theo Sư Ông, đây là cơ hội để các em có thể thực tập và trải nghiệm đời sống thực sự của người tu trong một khoảng thời gian ngắn. Ở lứa tuổi đó những hạt giống của giáo pháp, của hiểu biết và thương yêu được tưới tẩm sẽ rất dễ ươm mầm và lớn lên tươi tốt. Nơi thích hợp nhất để thực hiện chương trình này là trung tâm Làng Mai Thái Lan. Nơi đây, người Thái đã có sẵn truyền thống xuất gia gieo duyên trong một tuần, hai tuần… vào các dịp lễ Tết, mùa An cư kết Hạ, để được có thêm kinh nghiệm tu tập và là cơ hội cúng dường phước đức cho cha mẹ, ông bà, tổ tiên.

Ước mơ của Sư Ông đã thành hiện thực khi khóa tu gieo duyên đầu tiên được tổ chức tại Làng Mai Thái Lan trong ba tuần (30.03 – 19.04.2015), dành cho các em thiếu nhi từ tám đến mười hai tuổi. Tuần đầu tiên của khóa tu, các em được hướng dẫn và làm quen với nề nếp, cách sinh hoạt trong tu viện. Tuy cùng trang lứa nhưng trông các em gái lớn hơn và đã tự chăm sóc cho mình được tốt rồi, còn các em trai thì trông nhỏ hơn. Phần đông các em chưa từng xa nhà lâu, chưa rời mẹ bao giờ.

Ngày 28 tháng Ba phụ huynh đưa các em đến để dự ngày quán niệm cuối tuần và sau đó để các em ở lại tu viện. Ải thứ nhất phải trải qua là “tập xa mẹ”. Có em, khi mẹ về rồi, giờ cơm trưa bưng chén khóc tấm tức. Lại có em ngồi một mình ở bậc tam cấp dẫn lên thiền đường, đến khi có sư cô ra hỏi thăm: sao em ngồi đây một mình mà không vào thực tập thiền buông thư với các bạn? Em nói: con muốn chờ mẹ. Sư cô nghĩ thầm: lại một “ca” khó giải quyết đây. Rồi sư cô ngồi xuống làm bạn, lân la hỏi thăm và phát hiện ra là em không nhõng nhẽo đòi về với mẹ đâu mà chỉ muốn thấy mẹ, chào mẹ trước khi mẹ về. Muốn được ôm mẹ một cái thôi vì chưa xa mẹ lâu bao giờ. Vẫn còn có một “đấng anh hào” hai, ba ngày sau, chiều tối lại khóc thật nhiều. Nhớ mẹ lắm, xin phép sư cô cho con ở ngoài, không vào thời khóa. Muốn gọi điện cho ba mẹ nhưng nhất định không gọi vì sợ ở nhà mẹ lại lo lắng. Cậu bé đi dạo quanh tu viện ngắm trăng, trò chuyện với bác tình nguyện viên người Thái để phần nào đỡ nhớ mẹ. Rồi cậu bé cũng vượt qua được nỗi nhớ đó để tiếp tục ở lại tu viện.

Các em tới từ nhiều nơi, nhiều hoàn cảnh gia đình khác nhau, từ khá giả, điều kiện đầy đủ, được nâng niu nuông chiều hay tới từ các mái ấm tình thương, mồ côi, và có em đang ở với mẹ vì ba mẹ đã chia tay. Với truyền thống lâu đời tại Thái Lan, người nữ đi xuất gia rất hiếm, mà nếu có thì những vị ấy đã lớn tuổi, vô chùa cạo tóc và mặc đồ trắng, gọi là Maechi, các vị chỉ thọ Tám giới. Các câu hỏi gửi về rất nhiều từ các em gái là: con thích đến khóa tu này lắm nhưng con không cạo tóc được không? Con cạo đầu cũng được nhưng hết nghỉ hè con phải đi học lại, con sợ bạn bè trêu chọc. Tại sao lại phải cạo đầu? Và rất nhiều phân vân từ các em gái. Cuối cùng tổng cộng đơn ghi danh gồm hai mươi em trai và mười một em gái.

Thời gian đầu để các em có thể sống chung với nhau, chấp nhận và chăm sóc nhau thì thật quả là giai đoạn mà người ta gọi “vạn sự khởi đầu nan”. Vì điều kiện phòng ốc, tiện nghi không đầy đủ như ở nhà, các em phải ngủ giường tầng và một phòng gần mười người nên một số em cũng khó ngủ. Nhưng có em lại rất thích thú trèo lên, tuột xuống khi chọn ngủ giường tầng trên. Xa ba, xa mẹ tuy khó nhưng tới giai đoạn này các em đã làm được, còn xa gấu bông cưng lại là một vấn đề “nan giải”. Các thầy, các sư cô, sư chú trẻ (thường được gọi là “baby monks” và “baby nuns”) nay bất đắc dĩ trở thành Y chỉ sư hết, nhận trách nhiệm chăm em và nuôi em. Mỗi em đều có các Y chỉ sư đi theo chăm sóc, nhắc nhở và hướng dẫn trong mọi thời khóa.

Trong các buổi học Uy nghi mỗi ngày, quý thầy, quý sư cô giáo thọ hướng dẫn và dạy cho các em chi tiết các chương uy nghi căn bản của một vị sa di. Những buổi học của tuần đầu tiên thật là đau đầu. Các em vốn là con nít nên hiếu động, thích chạy nhảy, vui nhộn, nô đùa. Các khóa tu trước đây của tu viện dành cho con nít hoặc thanh thiếu niên chỉ kéo dài năm ngày là dài nhất. Lần này đến hai mươi mốt ngày mà nội dung là chuyển hóa, uốn nắn các cô bé, chú bé từ “nguyên chất” thành một vị “tu sĩ”, vì vậy mà quý thầy, quý sư cô phải vận dụng thêm nhiều “phương tiện quyền xảo” hơn.

Nuôi dưỡng sơ tâm

Những đôi mắt tròn to đen láy, nụ cười còn e dè, nhìn các em trong bộ đồ vạt hò nâu, không ai còn có thể phân biệt được đâu là trẻ em thành phố, đâu là trẻ em đến từ vùng quê. Các em đều giống nhau ở một điểm nữa là hồn nhiên và tinh nghịch. Chương trình cho các em được bắt đầu với những tiết học nhạc kinh, thiền ca và thực tập uy nghi.

Mỗi sáng các em có thời khóa ngồi thiền mười lăm phút thay vì ngồi ba mươi phút với đại chúng lớn, sáu giờ sáng đi thiền hành cùng các thầy, các sư cô. Giờ thiền hành vẫn còn trong giờ thực tập im lặng hùng tráng, nhưng các em thực tập rất tốt. Vốn dĩ con nít là phải ngọ nguậy không ít thì nhiều mà. Các em trông như những chú chim nhỏ hòa vào đường bay của cả đàn chim lớn. Từng bước chân thiền hành mỗi sáng quanh vườn chùa làm cho những mỏm đá to nhỏ cũng thấy vui.

Mặt trời vừa ló dạng là đã thấy các em thiền hành. Vừa thấp vừa bé bằng một nửa người lớn, nhưng chăm chỉ và hết lòng thực tập không thua gì đâu! Có em mải theo dõi bước chân và sự tiếp xúc của bàn chân với mặt đất hay sao ấy, bất thình lình khi người lớn phía trước đã dừng lại để thưởng thức ánh nắng, sương sớm mà em không nhận ra, vẫn bước tiếp và tông thụi vào cả người phía trước. Những buổi thiền hành có các em bỗng nhiên sinh động hẳn lên. Thỉnh thoảng có cả những tiếng cười khúc khích của ai đó khi thấy những chú bé đi trước cả người dẫn chúng. Đi một hồi rồi các em dừng lại chờ người hướng dẫn và đại chúng tới.

Các em biết tiếp xúc với thiên nhiên, cây cỏ và hoa lá. Ngắm núi, thiền trăng và đi picnic, leo núi, tha hồ chạy nhảy hít thở không khí trong lành miền núi Khao Yai. Buổi trưa hơi nóng, các em được thực tập thiền buông thư. Con nít mà, ai chịu ngủ trưa! Có buổi, các em chạy chơi quanh vườn, đuổi bắt. Mải nô đùa mà quên giữ im lặng, thế là quý thầy xuất hiện và gọi hết vào nhà. Hôm sau dù không ngủ cũng tập nằm yên, theo dõi hơi thở và nghe hướng dẫn thiền buông thư. Trò chơi heo mẹ chở heo con là trò các em thích nhất. Chùa có những chiếc xe kéo hai bánh dùng để chở đồ, di chuyển rau từ vườn lên nhà bếp hay đại loại như vậy. Còn các em thì người khỏe nhất kéo xe trong khi ba, bốn em khác ngồi trên xe. Hì hục mà cười vang trong nắng trưa, mồ hôi nhễ nhại. Các vị chăm sóc lúc nào cũng phải cố gắng có mặt để trông nom các em. Nếu cần qua phòng khác làm việc gì thì các giác quan vẫn phải để ý các em. Nếu bỗng nhiên không khí yên ắng lạ thường là biết trò gì đó đã được phát minh.

Ngủ dậy phải tập xếp mùng mền, phải treo hoặc xếp đồ lên móc là những việc mà ít em nào làm ở nhà. Lúc đến đây, các em cũng được tập làm, một hồi cũng thấy vui. Giờ chấp tác các em xuống vườn hoa nhổ cỏ, cuốc đất, phụ phân loại rác, giặt bao nylon tái chế. Sống chung, các em có cơ hội huân tập cho mình nếp sống biết thương yêu, chăm sóc và giúp đỡ nhau.

Hoa nở tự vườn tâm

Mỗi một nụ hoa tượng trưng cho những điều đẹp đẽ, tinh khôi và tươi sáng nhất mà các em dâng tặng Bụt, chư Tổ, Sư Ông và đại chúng. Trưa mồng 04 tháng Tư, sau buổi cơm quá đường, các em được hướng dẫn lên trước đại chúng để làm lễ dẫn thỉnh. Các em đi đứng oai nghiêm và trang trọng nhưng vẫn mang một sắc thái rất trẻ con. Buổi lễ làm cho Ôn Thủ tọa, quý thầy, quý sư cô và đại chúng ai cũng hoan hỷ vì mình sắp có thêm các sư em ngộ nghĩnh, dễ thương. Trước đó các em đã có thêm một cơ hội nữa để xác định lại tâm bồ đề của mình, dù xuất gia chỉ hai tuần thôi. Một tuần vừa qua là thời gian để các em thử xem mình có thể đi hết chặng đường hay không.

 

Hôm đó là một ngày cuối tuần đẹp trời, các phụ huynh, gia đình các em đến rất đông. Có em còn có cả dòng họ đến để được chứng kiến cảnh con em mình xuất gia. Từ thiền đường xuống nhà bếp đâu đâu cũng thấy niềm vui. Gia đình nào cũng đem đến cúng dường nào sữa, nào bánh, nào rau… Quý thầy, quý sư cô thay phiên nhau tiếp khách, hướng dẫn. Các thiền sinh được chăm sóc và tiếp đón rất chu đáo, mỗi lần đến chùa cũng là cơ hội được về nhà, được tu tập.

Buổi chiều ba giờ, lễ xuất gia được cử hành trong không khí nghiêm trang và ấm áp. Hôm ấy, khắp thiền đường rực rỡ và hùng hậu với bao nhiêu là hoa và khung cảnh đại chúng đắp y vàng. Các em được mặc đồ truyền thống của Thái Lan, hoặc đồ đẹp nhất của mình, có em đã chọn mặc đồ học sinh. Buổi lễ dài hơn một tiếng đồng hồ. Các em quỳ gối trang nghiêm, tắm mình trong năng lượng hào hùng, linh thiêng, như mưa pháp tưới mát tâm hồn. Đất tâm của các em vốn đang tươi tốt màu mỡ nay được tiếp nhận những hạt giống đẹp đẽ, chắc chắn hoa trái sẽ tươi tốt, làm hạnh phúc và lợi lạc cho rất nhiều người. Dòng nước cam lộ rưới lên những mái đầu xinh xắn.

Gia đình xuất gia cũng có thứ tự trên dưới, có sư anh, sư chị và sư em. Các em bắt đầu biết chăm sóc, thương yêu và giúp đỡ nhau. Biết đâu là anh chị, đâu là em rồi, các em cũng tự nhiên biết trách nhiệm và bổn phận của mình. Sau khi đã được cạo sạch mái tóc, mặc chiếc áo nhật bình vào, các em nữ thì chít khăn, tất cả trông thật sáng, thật tươi. Ai cũng chững chạc, tươi sáng và thánh thiện. Buổi tối thiền trà với đại chúng là một buổi tối đầy tiếng cười, ấm áp, hạnh phúc phản chiếu trong ánh mắt các bậc phụ huynh. Mẹ của sư em Núi Tỉnh Thức chia sẻ trong nỗi xúc động và niềm vui trào dâng khi thấy con mình nay là xuất sĩ. Vì mẹ em bị tai biến, em thật sự muốn xuất gia gieo duyên để cúng dường phước, để cầu nguyện cho mẹ sống lâu với em. Biết là khó khăn nhưng đó là điều duy nhất em làm được cho mẹ. Còn có rất nhiều chia sẻ cảm động từ các sư cô, sư chú sa di mới và gia đình, nhiều sự chuyển hóa đã xảy ra chỉ sau hơn một tuần.

Mầm non đạo pháp

Uốn nắn một cây tre còn non nớt là cả một nghệ thuật và bao nhiêu tình thương, bao nhiêu tâm huyết của đại chúng nơi đây. Mỗi em mỗi tính nết, mỗi tập khí, ngay cả khi nhõng nhẽo cũng không ai giống ai. Có em rất giỏi, ngoan và gương mẫu nhưng có em muốn được thương nhiều, được các thầy, các sư cô để ý tới mình nhiều nên làm đủ thứ “khác người”.

Mỗi ngày trôi qua là một tông màu tinh khôi, mới mẻ mà các em tô điểm cho đời sống trong tu viện. Những câu nói ngây ngô, những nụ cười lém lỉnh và tính cách của từng em âm thầm gắn kết các em thành những tế bào thực thụ trong đại chúng. Khi mọi thứ được sắp đặt và thích nghi đâu vào đấy thì bỗng chốc ai cũng thấy thời gian sao ngắn quá. Các em được tham dự khóa tu gia đình hằng năm tại một khu nghỉ dưỡng. Hớn hở với chuyến “phụng sự” đầu đời lắm nhưng các em bỗng chốc cũng chen lẫn chút se lạnh trong lòng, vì trở về sau khóa tu, là lúc khóa xuất gia gieo duyên kết thúc.

Hình ảnh các em xuất hiện trong khóa tu đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong lòng các bạn thiền sinh về một đạo Bụt mới, một ảnh hưởng mới, một cách tu tập mới. Vì các em không phải ai xa lạ, mà chính là con cháu của đất nước Thái Lan. Dù còn nhỏ nhưng các em là những “chiến sĩ” tí hon mang sứ mạng làm mới đạo Bụt. Có thể các em không ý thức về điều này nhưng các em đang góp phần vào công trình đó. Trong khóa tu, các em lon ton giúp các sư cô chăm sóc các bạn nhỏ. Buổi đi khất thực đầu năm, hàng áo nâu nón lá được nối dài ra thêm một đoạn bởi các sư cô, sư chú nhỏ. Các sư bé cũng nghiêm trang bình bát trong tay, bước đi thong thả và kính cẩn nghiêng mình mở nắp bình bát đón nhận phẩm vật từ các vị cư sĩ hai bên đường. Trước pháp thoại của một ngày trong khóa tu, đại chúng xuất sĩ tụng nhạc kinh với nhạc trưởng là sư cha Pháp Niệm. Sau đó, “sư cha tí hon” Trời Nắng Mai làm nhạc trưởng cho chúng xuất sĩ tí hon tụng bài Nguyện ngày an lành, đêm an lành bằng tiếng Thái. Hình ảnh những búp măng tươi xinh, được bao bọc và tận hưởng bóng mát của vườn tre tăng thân làm bao nhiêu người thấy hoan hỷ trong lòng.

Tăng thân về muôn lối, ngàn đời ta có nhau

Tiễn các em về rồi, hôm sau, ban chăm sóc các “baby Buddha” có buổi ngồi chơi “tổng kết” khóa xuất gia gieo duyên đầu tiên. Ai cũng có một tâm trạng như nhau, rằng các em về rồi mặc dù mình thở phào nhẹ nhõm thật, không khí yên ắng được trả lại thật, nhưng sao thấy là lạ. Công sức bỏ ra chăm cho mấy chục em một lần như vậy không quản ngày đêm, đủ chuyện phải lo, mệt thì có mệt thật nhưng rất hạnh phúc! Nghĩ lại giai đoạn đầu ai cũng ngán, không biết mình có đủ sức đi tiếp cho đến cuối khóa không. Đây cũng là một trải nghiệm đầu tiên cho các thầy, các sư cô.

Rồi mỗi em về lại nhà, về lại với nếp sống cũ, với những bộn bề của ba mẹ, những hối hả của xã hội và nhộn nhịp của trường lớp. Nghĩ cũng tiếc công mình uốn nắn các em, giờ trả lại với môi trường ngoài kia, dễ gì các em còn giữ được nếp sống mới được huân tập ở tu viện. Nhưng cái lớn hơn, cao đẹp hơn mà tăng thân đã gieo vào mảnh đất tươi non, chắc chắn không bao giờ mất, đó là tình thương. Dù các em có lớn bao nhiêu đi chăng nữa, có trôi theo dòng chảy của xã hội hiện đại nhưng những giây phút an bình của nếp sống tu tập sẽ đem các em về lại với tăng thân. Biết đâu lúc nào đó vấp ngã trên đường đời, tâm hồn mang nặng những vết thương, các em sẽ biết có một mái ấm cho mình trở về. Về bên đại chúng, bên tuổi thơ với những ngày mình là một “baby Buddha”.

 

Nhàn

Năm nay, mùa làm biếng đến với tôi thật bình an, nhẹ nhàng và sâu lắng. Thích cái thanh nhàn của tu viện, cái không khí trong lành và mát dịu của mùa thu, sự tỉnh táo của thân tâm khi bắt gặp một hình ảnh đẹp.

Mười ngày làm biếng bây giờ đối với tôi, nó không quá dài và không quá ngắn. Năm trước, tôi thấy thật chán khi chờ từng ngày làm biếng trôi qua, phải sống với cảm giác đi vòng quanh, ghé chỗ này chỗ nọ chơi cho hết ngày, hay thỉnh thoảng lại thở dài than: “Sao lâu hết ngày thế”. Dĩ nhiên là lúc đó tôi vẫn có tập khí “làm biếng”. Làm biếng thở, làm biếng đi hay làm biếng chấm dứt những suy nghĩ miên man. Nói như thế không có nghĩa là bây giờ tôi không “làm biếng”, vẫn còn như thường, nhưng ít hơn và biết cách thưởng thức hơn.

Mây trời cẩm tú

Buổi sáng được ngồi thở cho sâu, thở cho khỏe, thở cho an, giây phút đó thật tuyệt vời. Chỉ cần ngồi cho vững chãi thì hơi thở đến với tôi thật tự nhiên và thật bền. Có những sáng trời trở gió, trùm tấm chăn mỏng, đội cái mũ len, ngồi đón chào sự xoay vần của vũ trụ, sự chuyển biến của đất trời, bỗng thấy mình thật giàu có. Đất trời như nằm gọn trong lòng hạt sỏi sáng nay.

Mở mắt ra, nhìn sang phải, thấy sư anh đang ngồi bên cạnh, quay sang trái, thấy sư em đang “nhập định” với những cái gật gù. Hạnh phúc bây giờ chỉ bấy nhiêu thôi.

Hương thầm

Nhà thơ Hữu Thỉnh nhận ra thu qua mùi hương ổi chín:

“Bỗng nhận ra hương ổi
Phảng vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.”

Tôi nhận ra thu không phải qua hương ổi chín, tôi thấy thu về qua hương thơm nhẹ nhàng của cây bạch hạc đầu ngõ, qua hương thơm nhẹ nhàng của hàng nguyệt quế hay cái nồng nàn thân quen của hoa sữa. Có nhiều buổi tối, hương hoa sữa chạy thẳng vào phòng, làm tôi phải ngập ngừng dừng lại như một thoáng làm quen. Mỗi lần bắt gặp hương hoa ấy, là như một lần gặp lại đứa em ruột thịt từ muôn kiếp, lạ lẫm mà mừng vui khi nhận ra tri kỷ ở xứ người. Giây phút ấy, dù đang mơ màng buồn ngủ, tôi cũng dành một chút thời gian đi tìm đứa em thương. Quàng một cái khăn, khoác thêm chiếc áo mỏng, thế là đủ cho một cuộc tương phùng.

Ba ngàn thế giới không đầy tấc gang

Buổi sáng, con đường thiền hành thật dài và đẹp, mềm mại, yên bình và tinh khôi. Sương còn vương trên lá, hai bên xanh mướt màu cỏ non, từng bụi hoa dại li ti nở trắng cả vệ đường. Tôi được báo thức một ngày mới bởi tiếng gà rừng gáy le te từng hồi. Hình như nó phát ra phía sau cốc Thầy. Sáng sớm, tiếng gà gáy nghe thật thích, thanh bình quá trong khung cảnh đồng quê. Cốc Thầy đẹp lắm. Ngồi uống trà nơi này mỗi ban mai, ta sẽ thấy từng đàn sóc trắng chuyền cành, từng đàn chim cu gáy đậu trên mái tranh gọi nhau gù gù, hay từng đàn sáo kiếm ăn bên mé đồi, rồi lần lượt bay vút lên trời xanh.

Phía sau cốc là vườn Bụt. Ngày làm biếng, có nhiều thời gian đứng yên trước Bụt, nhìn thật sâu nụ cười hiền lành nơi khuôn mặt điềm nhiên, lòng người cũng lắng xuống. Ai đó đã đặt một bó hoa hồng dưới chân Bụt. Trong lòng thấy thương Bụt nhiều, tôi lại gần đặt bàn tay vào chân Bụt, bàn chân Bụt như mềm ra, thật mịn và thật ấm.

Mấy ngày làm biếng, trong vườn Bụt xuất hiện thêm một ông Bụt nữa, trước đó có bảy, giờ thêm một là tám. Bảy ông Bụt kia được đại chúng an vị cẩn thận, còn ông Bụt này là khách tự do đến đi. Ông Bụt này không thích bị dân chúng chú ý nên ngồi ẩn mình sau một phiến đá cao quá đầu người. Sở dĩ tôi phát hiện ra được vì trong khi tôi đang ngắm những ông Bụt tượng hình từ đá núi, thì ông Bụt này thỉnh thoảng quơ tay lên đuổi muỗi.

Lúc này câu thơ của Sư Ông xuất hiện trong đầu:

“Ngồi đây lắng tiếng chim bay
Ba ngàn thế giới không đầy tấc gang”

Ông Bụt bằng đá đang ngồi cạnh ông Bụt mềm mại, có mặt cho cả hiện tại và tương lai, khoảng cách chỉ vài tấc gang. Một cảnh tượng thật đẹp, nhiệm mầu và hy hữu. Không gian giờ đây hình như không còn cách biệt. Bụt dưới hình tướng nào, dường như chỉ còn là ý niệm. Tất cả là một, hòa quyện vào nhau, tôi chỉ có thể đo được bằng hơi thở mà thôi.

Tình bạn

Mùa làm biếng là thời gian chúng tôi đi tận hưởng vẻ đẹp và sự giàu có của đất trời nhiều nhất. Từng cuộc hẹn, lên lịch, thông báo cho nhau. Nào chơi theo cây xuất gia, chơi theo tri, theo nhóm, theo miền, theo lớp, theo tuổi, theo sở thích… đủ hết cả. Sáng sớm và chiều tối là nhộn nhịp nhất. Mới tờ mờ sáng, phòng nào phòng nấy bật đèn sáng choang. Chuẩn bị nào trà, nào bánh, nước sôi, mỳ gói, bánh mỳ, nấm kho, tương chao, đậu đỗ đủ hết, và hẳn nhiên là cả những câu chuyện tu học để chia sẻ cho nhau nghe. Đồ ăn thức uống đầy ắp cả ba lô để chuẩn bị cho một ngày chơi đầy tình huynh đệ, niềm vui và nuôi dưỡng nhau. Nơi chiếc ba lô đơn sơ ấy, có trái tim đầy lửa nguyện của những người tu trẻ.

Có những sáng thức dậy, tăng xá thật yên, nhìn quanh chỉ lác đác vài anh em ở nhà. Thấy vui trong lòng. Người đi chơi cũng vui mà người ở nhà cũng vui. Tu-chơi dung thông.

Chiều tối là lúc nhà bếp nhộn nhịp hơn ngày thường. Để chuẩn bị chiêu đãi cho ngày hôm sau, những anh chị em đi chơi tha hồ trổ tài nấu nướng. Tiếng cười nói rộn rã, người làm món này, người sửa soạn món kia, mùi xào nấu xèo xèo thơm phức. Bao nhiêu tình thương, đã để vào trong sự cẩn trọng từng công việc, từng động tác.

Về Làng

Mùa làm biếng năm nay, tôi thấy mình như được về Làng thật sự. Đây có lẽ là lần đầu tiên tôi tiếp xúc được với linh hồn của Làng. Trước đó có khi tôi chỉ được nghe, được kể, được nhìn về làm biếng. Nhưng giờ đây tôi cảm thấy tôi đã chạm được phần nào vào linh hồn của Làng, linh hồn của sự thực tập làm biếng đích thực.

Chưa bao giờ tôi thấy chữ Làng lại gần gũi, thân quen và lắng dịu như vậy. Có phải tôi đã được về Làng rồi chăng!

Nhật ký mùa Làm biếng, 2015
 

Con đã về

Áo nâu đón áo nâu

Quả cầu lửa màu cam đang lơ lửng trên bầu trời trong vắt. Đó là cảnh hoàng hôn tuyệt đẹp mà con chưa từng thấy ở Jakarta, thành phố nơi con được sinh ra. Sư cô Tân Nghiêm và con đang trên đường ra sân bay để đón gia đình Áo nâu tới Indonesia cho chuyến hoằng pháp 2015. Thật rủi ro vì đang giờ cao điểm. Có lẽ phân nửa dân số của Jakarta đang trên đường từ sở làm về. Rủi hơn nữa vì đó cũng là buổi tối trước kỳ nghỉ cuối tuần, rất nhiều người đang trên đường ra sân bay để kịp giờ bay. Tuy vậy trong cái rủi bao giờ cũng có cái may. Bác tài xế lái xe cho chúng con rất rành đường nên có thể tránh được dòng xe cộ đông đúc đó. Khi vào đến khu vực gần sân bay, chúng con có thể nhìn thấy một dòng xe cộ đủ màu, đủ loại đang nối đuôi nhau trên đường phố.

“Biết rõ đường đi lối về” là một kỹ năng quan trọng mà người ta cần phải có khi sống ở Jakarta nếu không muốn bị kẹt trong dòng xe cộ suốt 2-3 tiếng đồng hồ. Con nghĩ điều này cũng giống như trong sự tu tập. Chúng ta cũng phải “tỏ đường đi lối về” để không bị mắc kẹt trong khổ đau. Mà thôi, bây giờ mình quay về giây phút hiện tại. Chúng con cảm ơn người tài xế rất rành đường đã giúp chúng con tránh được nạn kẹt xe. Nhờ vậy mà chúng con đã đến sân bay đúng giờ để đón phái đoàn.

Máy bay đến trễ. Có vẻ như trên đó cũng có nạn kẹt… máy bay. Tính tiếu lâm của con lại nổi lên rồi. Con đang đứng chờ gần cửa ga, mặc chiếc áo nhật bình đẹp nhất, đầu chít khăn cẩn thận. Bất chợt con nhận ra đây là lần đầu tiên con được đón tăng đoàn trên quê hương mình trong chiếc áo người tu. Tâm trí con chợt đi về quá khứ. Từ năm 2008, con đã có cơ hội ít nhất là 5 lần ra sân bay để đón tăng đoàn Làng Mai đến Indonesia hướng dẫn khóa tu. Giờ đây, con cũng đang có mặt ở sân bay, nhưng là để đón… những huynh đệ xuất sĩ của mình. Trong con có một cảm giác thật khó tả, vừa hạnh phúc vừa thấy hơi là lạ, cứ như một giấc mơ. Trở về nước sau gần bốn năm xa cách, thăm viếng bạn bè, gia đình, đón tăng đoàn và gia nhập vào chuyến hoằng pháp tại Indonesia với tư cách một người xuất gia, mọi thứ quả thật mới mẻ đối với con. Chắc chắn những giây phút đầy ý nghĩa trong chuyến hoằng pháp này sẽ để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm thức con.

Thời gian đi tựa tên bay. Mũi tên thời gian bây giờ kéo con trở về với giây phút hiện tại, bởi vì ở cửa ga đã xuất hiện những bóng áo nâu. Sư cô Chân Không, sư cô Thoại Nghiêm và thầy Pháp Khâm là những người đi đầu, đang bước chậm rãi với nụ cười trên môi.

Đi như một dòng sông

Sau khi ăn chiều tại sân bay, mọi người lên xe về khách sạn Yasmin tại Puncak, nơi tổ chức khóa tu, cách sân bay ba giờ lái xe (nếu không đi trong giờ cao điểm). Ban tổ chức đã chu đáo thuê cảnh sát mở đường cho phái đoàn, bởi vì ngày hôm đó, bất cứ nơi đâu cũng bị kẹt xe. Nếu không có cảnh sát dẫn đường thì chẳng biết bao giờ chúng con mới đến nơi.

Đi như một dòng sông là chủ đề của khóa tu năm ngày, từ 14 đến 18 tháng 05 năm 2015. Có khoảng 600 người tham dự. Ban tổ chức ở Ekayana Buddhist Center đã làm việc cật lực cho khóa tu lần này. Chúng con đã lên chương trình cho chuyến hoằng pháp này một năm trước khi Thầy bị bệnh, nhưng sau đó mọi người không biết là có thể tiếp tục tổ chức chuyến hoằng pháp hay không. Vì vậy, khi được tin chuyến hoằng pháp vẫn diễn ra, thời gian dành cho chuẩn bị rất ngắn ngủi. Việc ghi danh chỉ bắt đầu khoảng hai tháng trước khi có khóa tu.Có rất nhiều điều mà con học hỏi được từ khóa tu. Có một lần con được nhờ thông dịch cho một phụ nữ đang cần tham vấn. Trong buổi tham vấn, con nhận ra rằng mình có thể tiếp xúc được với bộ mặt thật của thực tại, đó là khổ đau. Người ta có thể ăn mặc rất đẹp đẽ, nước hoa thơm ngát, nhìn bên ngoài có vẻ rất mãn nguyện và ổn định trong cuộc sống. Khó ai có thể biết được những khổ đau đằng sau bề ngoài sang trọng đó.

Cái đẹp của sự nhẫn nhục hay kham nhẫn là một trong những điều mà con học hỏi được từ khóa tu này và từ các buổi tham vấn. Một người mẹ có hai con đang phải nhẫn nhịn để giữ cho gia đình không bị đổ vỡ khi chồng không chung thủy; một người chị phải nhẫn nhịn để giữ gìn sự hòa hợp giữa các anh chị em trong gia đình khi có những tranh chấp xảy ra… Còn nhiều vấn đề muôn thuở khác nữa của cuộc sống gia đình, đồng thời cũng là những vấn đề lớn lao và phức tạp của cả nhân loại. Con thấy rất cảm động bởi vì con biết chỉ có tình thương mới có thể giúp cho người ta có thể nhẫn nhịn như vậy mà thôi.

Con quán chiếu về phẩm chất này trên con đường tu tập của mình. Nhẫn nhục hay kham nhẫn là một trong những hạnh quan trọng nhất, là một trong Sáu phép Ba la mật. Không có hạnh nhẫn nhục, chúng ta sẽ đi vòng quanh, không bao giờ có thể thoát ra khỏi khổ đau. Gần đây có một sư cô nói với con rằng nhẫn nhục là một nguồn phước đức. Con rất thích điều này dù con nghĩ thực hiện nó không dễ chút nào. Phải có nghị lực, sự hoan hỷ và tuệ giác thì mới mong làm được. Con nhớ lại câu thơ nổi tiếng của tổ Hoàng Bá ở Trung Hoa: “Chẳng phải một phen xương lạnh buốt, hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương!”.

Giờ đây con càng tâm đắc câu thơ ấy bởi con đang sống ở Làng Mai, đi qua mùa đông và thưởng thức hoa mai nở rộ trên đồi. Khi con thưởng thức hoa mai, con biết một trong những nhân duyên hội tụ để những đóa hoa được biểu hiện, đó là sự kham nhẫn.

Dòng sông vẫn đang tuôn chảy

Ngày 20 tháng 05, sau khi khóa tu chấm dứt, dòng sông tăng thân tiếp tục xuôi về Yogyakarta, cách Jakarta khoảng một giờ bay. Sáng hôm sau, tăng đoàn lên xe đi thăm khu đất được cúng dường bởi một thương nhân thành công ở Indonesia, một người rất thương kính Sư Ông và pháp môn Làng Mai. Ông cũng đồng thời là một người rất năng nổ trong giới Phật tử, đã áp dụng phương pháp thực tập của Làng Mai ở văn phòng làm việc. Ông cho đặt một cái chuông trong phòng họp tại nơi làm việc. Mỗi thứ Sáu, tất cả các nhân viên của ông mang theo thức ăn và cùng nhau thực tập ăn trong chánh niệm. Họ có rất nhiều cảm hứng khi nghe ông chia sẻ. Không phải tất cả nhân viên của ông đều là Phật tử, vậy mà họ đã mở lòng ra đón nhận sự thực tập này. Ông đã chia sẻ rằng một nhân viên của ông đã được khách hàng khen ngợi vì khả năng lắng nghe của người đó.

Khu đất được cúng dường cách sân bay khoảng 3-4 tiếng đồng hồ lái xe, nằm trong địa phận của đảo Java, nơi có khoảng 136 triệu dân – tức 60% dân số của Indonesia đang sinh sống. Rất nhiều sự kiện lịch sử đã diễn ra tại hòn đảo này. Vào thế kỷ thứ VII, đế chế thời bấy giờ đã cho phép đạo Hindu và đạo Bụt được du nhập và phát triển tại Java. Chỉ sau khi những người đạo Hồi chiếm đảo Java, các Phật tử đã chạy sang Bali hoặc lên vùng núi ở trung tâm đảo Java. Theo thống kê, hiện có khoảng 750 ngàn người theo đạo Bụt ở trung tâm Java. Đây là những người có gốc đạo Bụt, từ đời này sang đời khác.

Một nhóm quý thầy, quý sư cô đã có cơ hội đi thăm một số làng Phật tử ở những vùng sâu, vùng xa của đảo Java. Dân chúng các vùng này sống rất đơn sơ và thanh bạch. Phần lớn là nông dân. Sau một ngày làm việc đồng áng, họ về nhà dùng cơm chiều, sau đó đến chùa để tụng kinh. Đây là sinh hoạt thường nhật của họ mà không có sự hướng dẫn của người xuất gia. Các thầy thỉnh thoảng từ nơi khác đến cho pháp thoại mà thôi. Sự tinh tấn của người dân ở đây làm con rất cảm phục.

Khi chúng con đến khu đất được cúng dường, trời hãy còn sớm lắm. Cần phải leo lên một con dốc cao và thẳng đứng mới đến được vùng đất bằng phẳng. Ở nơi đó, một cái bục và một bàn thờ đã được chuẩn bị sẵn. Con leo lên dốc với Sư cô Chân Không và thị giả. Ngoài ra còn có thầy Pháp Tử và Rini, cô bạn từng qua Làng tu học gần một năm. Dọc đường, mọi người dừng lại nghỉ khá nhiều lần. Không khí thật trong lành, đâu đâu cũng thấy một màu xanh. Khi lên đến nơi, mọi người có thể thưởng thức cảnh đẹp của núi đồi. Được biết là vào sáng sớm, ngồi ở đây có thể thấy được năm ngọn núi bao bọc xung quanh. Quý sư cô đùa với con rằng không ai muốn qua trung tâm ở Indonesia vì sợ núi lửa phun. Biết làm sao được, thật sự là có tất cả 38 ngọn núi lửa trên toàn đảo Java từ Đông sang Tây. Và tất cả đều đã từng hoạt động một lần. Không có bùn thì không có sen. Nơi nào núi lửa đã từng phun, nơi ấy đất đai rất màu mỡ. Đó là lý do tại sao những miền đất ấy đã từng bị người châu Âu chiếm làm thuộc địa một thời gian rất lâu trong quá khứ.

Sáng hôm ấy, tăng đoàn đã làm lễ tẩy tịnh cho khu đất bằng một nghi thức ngắn gọn và đơn giản. Sau đó sư cô Chân Không, thầy Pháp Đăng, thầy Kai Li và thầy Dharma Vimala đặt viên đá đầu tiên. Tiếp theo quý thầy, quý sư cô ngồi chơi với những người dân địa phương. Họ trang trọng trong y phục cổ truyền Batik và nói bằng ngôn ngữ Java mà con hoàn toàn không hiểu.

Cho đến tận lúc này, tăng thân vẫn chưa được chính quyền địa phương cấp giấy phép xây dựng trung tâm tu học ở đây. Tuy vậy, tăng thân vẫn quyết định làm lễ tẩy tịnh cho mảnh đất này cũng như tổ chức chuyến hoằng pháp tại Indonesia như đã dự định trước khi Thầy bị bệnh. Không có gì thay đổi. Ít nhất là hạt giống xây dựng trung tâm Làng Mai tại Indonesia vẫn đang tiếp tục được gìn giữ và tưới tẩm.

Ngoài lễ tẩy tịnh, tăng đoàn còn đến thăm và thiền hành ở thánh tích Borobudur. Nơi đây là chứng tích một thời hoàng kim của đạo Bụt trên mảnh đất Nam Dương. Thầy rất thích Borobudur khi đến viếng thăm nơi này vào năm 2010. Thầy muốn đem đạo Bụt về lại cho người dân bản địa Indonesia. Với tinh thần của đạo Bụt Dấn thân, Thầy cũng muốn xây trường học cho trẻ em nghèo, đồng thời giúp cho người dân ở đây có thêm phương tiện sinh sống khá hơn. Khi Thầy chia sẻ những ý này, con thấy đây cũng là tinh thần của trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội mà Thầy đã sáng lập. Mỗi buổi sáng tăng đoàn đều leo lên núi ngồi thiền và ngắm mặt trời lên. Ai cũng ý thức từng bước chân, thưởng thức cái đẹp cho Thầy. Năng lượng của tăng thân làm cho sự có mặt của Thầy trở nên sống động, vượt cả ý niệm về không gian và thời gian. Tăng thân vẫn đang tiếp tục bước tới một cách hết lòng trên con đường thực hiện chí nguyện và công việc độ đời mà Thầy đã mở ra.

Ngày 22 tháng 05, tăng đoàn về lại Jakarta và ngày hôm sau, có một buổi pháp thoại công cộng. Ngày 24 tháng 05, các thầy, các sư cô chia thành nhiều nhóm để tổ chức một ngày quán niệm: nhóm thứ nhất dành cho các chuyên gia giáo dục, nhóm thứ hai dành cho các doanh nhân và nhóm thứ ba dành cho cộng đồng Phật tử tại chùa Boddhi Dharma, Kaloran.

Tăng thân là tấm gương soi

Vào tháng Hai, đoàn tiền trạm gồm các sư cô Tân Nghiêm, Doãn Nghiêm, Hoàn Nghiêm, Trăng Phương Nam và con đã đến Indonesia trước để chuẩn bị cho chuyến hoằng pháp của tăng đoàn. Năm chị em được sắp xếp ở tại trung tâm Bodhidharma. Sống, làm việc và thực tập chung với nhau trong ba tháng là một cơ hội để cho con học hỏi và khám phá nhiều điều về tự thân và về các huynh đệ của mình.

Khi chưa xuất gia, mỗi lần có khóa tu, con thường giúp lo về mặt tổ chức. Quý thầy, quý sư cô chỉ làm công việc giảng dạy, hướng dẫn và thưởng thức Indonesia mà thôi. Vì vậy, khi bắt đầu chuyến hoằng pháp này, con có khuynh hướng đóng vai trò một người tổ chức như trước đây. Rồi con nhận ra bây giờ con không phải là người đóng vai trò tổ chức nữa mà con là một giọt nước trong dòng sông tăng thân.

Một buổi tối, trong lúc đang làm việc, vì cần một số thông tin có liên quan nên con đã không ngần ngại gọi điện thoại để hỏi một anh bạn lâu năm trong tăng thân cư sĩ mà trước đây con thường sinh hoạt. Trong thời khóa sáng hôm sau, trong khi nghe đọc chương “Nói chuyện trên điện thoại” trong sách oai nghi cho người xuất gia, con mới nhận ra là mình đã không có chánh niệm, mình vẫn bị tập khí cũ lôi kéo.

Con bắt đầu thấy sự nguy hiểm khi mình không thực tập oai nghi, nó khiến mình không thể lớn lên và vững chãi trong Pháp và Luật Bụt dạy. Giờ đây con mới hiểu tại sao Thầy thường nhắc nhở chúng con là phải luôn nương tựa tăng thân. Nhìn lại những gì đã đi qua, con cảm thấy vô cùng tri ân sự có mặt của quý sư cô đi cùng con về Indonesia lần này, bởi đó cũng chính là sự có mặt của oai nghi và giới luật. Nhờ hành trì oai nghi giới luật rất miên mật mà sự hiện diện của quý sư cô đem lại rất nhiều lợi lạc cho những người sống thường trú ở trung tâm, kể cả ôn Trụ trì. Một người bạn của con chia sẻ là khi đến Bodhidharma, chị có thể cảm được nơi đây không khí của một tu viện thực sự.

Cho mẹ mượn cây lược chải tóc

Sau khi tăng đoàn rời khỏi Indonesia, con còn khoảng hai tuần để về thăm gia đình, bạn bè và chùa cũ. Đây là lần đầu tiên con về thăm gia đình trong hình tướng của người xuất gia. Trước khi về lại Indonesia, con khá lo lắng. Con không biết mẹ con sẽ phản ứng thế nào bởi vì mẹ đã rất thất vọng và giận dữ khi biết tin con đi xuất gia. Tuy nhiên, sâu thẳm trong lòng, con biết nếu mình có đủ bình an và niềm tin trên con đường mình đã chọn thì mọi việc sẽ ổn thôi.

Có những khoảnh khắc con hơi chạnh lòng khi tưởng tượng ra nhiều cách phản ứng của mẹ khi gặp lại con. Rồi con tự bảo mình đừng quá lo lắng. Con tin rằng dù giận dữ tới mức nào, mẹ cũng có đủ nghị lực để đối diện với thực tế. Và đó là sự thật. Sự lo lắng, sợ hãi của con chỉ là vô cớ.

 Khi con vừa bước chân vào nhà, mẹ con đã bỏ chạy lên lầu và khóc. Thế nhưng chỉ một hai phút sau, mẹ đã trở xuống và bắt đầu hỏi con tới tấp. Con rất cảm động, nhưng cố ghìm nước mắt và tỏ ra bình thường, cứ như con vừa mới trở về nhà sau một ngày làm việc để làm cho không khí nhẹ đi.

Một hôm nọ sau khi tắm xong, mẹ không tìm ra được chiếc lược chải tóc. Mẹ quay sang con: “Cho mẹ mượn cái lược chải tóc của con một chút!”. Đây là câu mà mẹ thường nói với con ngày con chưa xuất gia. Con nhìn mẹ rồi trả lời: “Mẹ, con làm gì còn tóc đâu mà có lược”. Mẹ giật mình nhìn lại con và nhận ra điều đó. Con chỉ dám thầm cười nhẹ, vì biết mẹ vẫn còn buồn, vẫn còn nhiều nỗi đau trong lòng.

Dù vậy, trong con có một niềm tri ân vô bờ bến đối với mẹ và cả gia đình huyết thống. Giờ đây gia đình đã có thể mở lòng để yểm trợ cho con đi trên con đường đẹp này. Sự yểm trợ này giúp con tu tập tinh tấn hơn để chuyển hóa khổ đau và chữa lành những thương tích trong con, để con có thể chia sẻ những hoa trái của sự thực tập này với gia đình. Con cũng vô cùng biết ơn gia đình tâm linh đã cho con sức mạnh và có mặt để yểm trợ bất cứ khi nào con cần đến.

Con như được tiếp thêm sức mạnh mỗi khi nhìn vào mắt của những người thân trong gia đình, thấy được nỗi đau, tình thương và niềm hy vọng của mọi người dành cho mình, cũng như khi tiếp xúc với hoài bão phụng sự cho quê hương, tiếp xúc với tình thương của Thầy. Tất cả những điều ấy đã trở thành một nguồn năng lượng giúp con vượt qua những khó khăn để đi tới và tiếp tục nuôi lớn tâm ban đầu của mình.

Đỉnh cao gió gọi

Thầy Pháp Biểu là người Ý, xuất gia năm 2008 trong gia đình Cây Sen Trắng lúc 19 tuổi. Ngoài tiếng mẹ đẻ, thầy còn sử dụng được tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Việt, và rất thích học hỏi chữ Hán để có thể hiểu được kinh điển từ Hán tạng. Dưới đây là bài viết thầy chia sẻ về một kỷ niệm học chữ Hán, BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh.

 

Một trong những niềm vui lớn trong đời tu của tôi là được học chữ Hán. Lúc còn nhỏ, vẻ đẹp của những nét chữ ấy đã khiến tôi thích thú. Tôi muốn học, nhưng tôi nghĩ ước mơ ấy khá xa vời, khó mà thực hiện được. Sau khi xuất gia, suốt bảy năm qua, tôi đã có rất nhiều hứng khởi, nhiều cái thấy sâu sắc khi có cơ hội học thêm chữ Hán. Gần đây, tôi để nhiều thời gian cho việc học chữ Hán. Tôi làm mới lại cảm hứng này qua một vài cách học khác nhau, cho đến khi tình cờ bắt gặp được một bài thơ.

Mặc dầu không có kinh nghiệm gì về thi ca Trung Hoa, tôi thấy mình rất may mắn khi tìm thấy bài thơ ngắn này. Bài thơ thật sự đã chạm tới một cảm giác sâu kín trong tôi. Chắc hẳn bạn cũng sẽ tìm thấy một cảm giác tương tự như vậy.

Bài thơ của Khâu Vi (khoảng 709-804), một thi sĩ đời Đường, đã được chọn đăng trong tập Ba trăm bài thơ Đường, một trong những tập thơ rất nổi tiếng.

   

絕頂寧챕늙   

殮힛枷쟁   

森關無墓僕   

窺杆顆갭幾   

흼렷쏀뀜車   

應角釣헬彊   

뀌넥꼇宮見   

黽춤왕嵐岺   

꿇劤黛櫓   

漑聲功눗裡   

섟茲폡聃絕   

菱璃盪懃랐   

雖無賓寮雷   

頗돤헌淨잿   

興盡렘苟   

부극덤裂綾   

 

Ẩn sĩ tìm không gặp

Trèo non vài mươi dặm

Đỉnh cao một liếp tranh

Gõ cửa người đâu vắng

Chỉ thấy chiếc bàn không

Người mùa thu câu cá

Hoặc dạo chơi non bồng

Chậm chân không gặp mặt

Mà chẳng chút chờ mong

Mưa thu sắc cỏ đổi

Tùng reo vọng bên song

Một mình bóng đêm phủ

Tâm cảnh bỗng dung thông

Không ý khách ý chủ

Sạch trong vẹn một lòng

Thấu đỉnh non, xuống núi

Đợi gì, chủ nhân ông!

(Thầy Nguyên Tịnh dịch)

 

Chính kinh nghiệm được diễn tả trong bài thơ là một trong những điều mà tôi luôn thấy qua Thầy của mình. Tôi đã từng nghĩ rằng, kinh nghiệm giống như trong bài thơ này diễn đạt chỉ là kinh nghiệm của riêng Thầy. Cho đến khi tôi đọc được vài dòng trong bài thơ trên, tôi bất chợt nhận ra rằng, đã có vô số ẩn sĩ và vô số người lên núi tìm các vị như vậy.

Tám câu đầu của bài thơ miêu tả khung cảnh và mục đích của tác giả. Khâu Vi mong ước được gặp vị ẩn sĩ, đã leo mười dặm đường núi mà không dừng để nghỉ ngơi. Có thể ông đã mất khoảng nửa ngày đường mới lên đến ẩn am. Bạn có thể tưởng tượng ra sự thất vọng của ông khi gõ cửa chòi lá nhỏ nơi ẩn sĩ ở và không ai trả lời. Nhìn qua khung cửa sổ, ông chỉ thấy căn phòng trống với một chiếc bàn đơn sơ. Có thể ông đã đứng gần khung cửa rất lâu, hy vọng vị ẩn sĩ sẽ trở về.

Người mùa thu câu cá
Hoặc dạo chơi non bồng
 

Ông tự hỏi vị ẩn sĩ lúc đó đang làm gì? Câu hỏi này bất chợt mở rộng tầm nhìn của ông. Sự việc vị ẩn sĩ không có đó đã mở ra nhiều giả thuyết, rằng vị ấy hiện có thể có mặt ở bất cứ nơi nào: phía sau một cội cây già, bên một vách núi, đang trên một cỗ xe gỗ nhàn du, hoặc đang thả câu bên một bờ hồ lặng lẽ đâu đó. Mong cầu duy nhất của tác giả khi lên đến đỉnh núi là gặp được vị ẩn sĩ đang ở trong am tranh của mình. Đến nơi, căn phòng vắng, vị ẩn sĩ không có mặt ở đó cho nên cơ hội để gặp được người có thể xảy ra ở bất cứ nơi nào trên đỉnh Tây Sơn.

Chậm chân không gặp mặt
Mà chẳng chút chờ mong
 

Ngay trong giây phút Khâu Vi chấm dứt sự tìm cầu, vị ẩn sĩ bắt đầu biểu hiện tất cả vẻ đẹp của mình. Và đây là nội dung tám câu cuối của bài thơ, miêu tả sự gặp gỡ trực tiếp giữa tác giả với đứa con của núi rừng.

Mưa thu sắc cỏ đổi
Tùng reo vọng bên song
Một mình bóng đêm phủ
Tâm cảnh bỗng dung thông
 

Khâu Vi không còn phải đợi chờ nữa. Ông đang có mặt một cách trọn vẹn và đang tiếp xúc sâu sắc với tất cả các giác quan của ông. Bóng đêm từ từ bao phủ, bao phủ ông và bao phủ khắp nơi. Đứng bên song cửa am lá, cảm nhận mỗi sự vật xung quanh, tác giả thấy tâm hồn mình cũng được bao phủ bởi vẻ đẹp và sự bình an toát ra từ núi rừng.

Không ý khách ý chủ
Sạch trong vẹn một lòng
Thấu đỉnh non, xuống núi
Đợi gì, chủ nhân ông!
 

Khi chủ nhà không có đó thì khái niệm khách thăm cũng biến mất. Hai ý niệm đã không tồn tại thì Khâu Vi cuối cùng, có cơ hội tiếp kiến với vị ẩn sĩ. Vì không còn kẹt vào các ý niệm hoặc kỳ vọng nào nữa, sự gặp gỡ đã xảy ra ngoài phạm vi thời gian và không gian. Khi tất cả ý niệm được buông bỏ, một cảm giác hạnh phúc, bình an và thỏa mãn được biểu hiện trong trái tim ông. Không còn sự ngăn cách giữa hai người, tác giả nói: Sạch trong vẹn một lòng.

Ông diễn tả tuệ giác này như là việc leo lên đỉnh núi. Khi không còn điểm nào cao hơn nữa thì việc còn lại phải làm là leo xuống mà không mong đợi, không hối hận bất cứ điều gì. Câu thơ cuối ướp đầy sức mạnh, năng lượng và sự quyết tâm của tuệ giác mới: Đợi gì, chủ nhân ông!

Câu thơ cuối cứ đọng lại mãi trong tôi từ lúc tôi đọc được bài thơ này. Một phần như gợi ý để tôi tự hỏi mình: “Tại sao tôi phải mong chờ để gặp vị ẩn sĩ của tôi?” Hoặc tôi có thể nói thẳng thắn hơn: “Tại sao tôi phải đợi Thầy trở về để tôi có cơ hội gặp mặt? Tại sao tôi phải mong chờ Thầy của tôi nói pháp thoại trở lại hoặc ngồi đó và đãi trà cho chúng tôi để tôi có dịp ngồi chơi với Thầy?”

Ở xóm Thượng, tôi đang có cơ hội sống trên đỉnh núi cao. Mỗi ngày, tôi được dạo chơi nơi con đường huyền thoại. Tiếng gió xuyên qua những hàng tùng xanh tạo nên một âm thanh khiến cho ta không thể không chú ý đến. Như thể có ai đó đang gọi tên tôi, tôi không thể nào cứ thản nhiên mà đi tiếp được. Tôi cần dừng lại một lát và lễ phép hỏi ai đó ít nhất một vài câu: “Xin chào, bạn là ai? Bạn từ đâu đến vậy?” Tôi đợi cho ai đó cười vang với những câu hỏi ngớ ngẩn của tôi rồi tôi lại tiếp tục bước đi. Một sự tiếp xúc thật đơn sơ, tuy thế đã làm cho trái tim tôi ngập tràn niềm vui và hạnh phúc. Những cuộc gặp gỡ như vậy có thể xảy ra bất cứ lúc nào, tôi còn mong đợi gì hơn nữa?

Sau khi đọc xong bài thơ này, tôi thấy biết ơn tác giả rất nhiều vì bài thơ đã gieo một hạt giống thật sâu vào tâm thức tôi. Tôi ý thức rằng, hiện giờ hạt giống đang nằm đó thì tôi còn gì phải lo sợ? Tôi nghĩ mình nên tiếp tục sống đời sống của mình cho trọn vẹn. Có lẽ chỉ nên ý thức thêm một chút rằng, mỗi ngày tôi đều được hiến tặng cơ hội để có thể gặp vị thầy của mình và, gặp được hay không, điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào tôi mà thôi.

Thiên thần quét lá

Thiên thần quét lá
Rừng vắng sáng nay
Tiếng cười trong vắt
Hòa với cỏ cây.
 
Chim rừng tỉnh giấc
Giọt nắng có hay
Nai vàng suối mát
Đùa với bóng mây.
 
Thiên thần ơi!
Có thấy chăng hoa cười?
Thiên thần ơi!
Kìa lá rơi ngập lối!
Xanh vàng nâu, đỏ thắm
Thu khoe màu
Tâm bình an,
Tay quét, em đưa đều.
 
Em ngồi bên đá
Làn gió thoáng qua
Ô kìa mưa lá
Lòng đất chớm hoa.
 
Em đùa trong nắng
Chờ bắt chiếc lá rơi
Rừng bao nhiêu lá
Em thương đời bấy nhiêu.

Ngày mới của năm mới

Cư xá Mây Tím, xóm Hạ,

Sáng nay trời mờ sương, đẹp và hiền quá. Trong căn phòng nhỏ, ngồi bên cửa sổ, con nhìn ra một không gian đầy yêu thương thanh khiết. Tất cả là sự biểu hiện đẹp của đất trời, trong nghĩa tình chan hòa của muôn loại.

Năm mới mọi thứ đều thay áo mới. Cái áo đầu ngày của trời Cha cũng đẹp hơn và dịu êm hơn. Cha mặc rất hiền. Có thể mọi thứ chung quanh cùng cảm nhận niềm vui nên đã may tấm áo của ngày hôm nay, để reo ca mừng sự sống. Không khí hân hoan này, như một dấu hiệu của điềm lành. Cảm ơn trời Cha đã thể hiện cái đẹp dịu hiền đầu năm để tiếp đón đất Mẹ và ôm ấp chúng con. Trời Cha và đất Mẹ, đã luôn sẵn sàng có mặt để chúng con nương tựa. Năm mới, chúng con nguyện chung tay bảo vệ hành tinh này, đem sự tươi mát rưới lên khắp toàn cầu, mang thông điệp đầy yêu thương đến cùng mọi loài trên trái đất.

Chúng con ý thức rằng, nhờ năng lượng che chở và nâng đỡ của trời Cha và đất Mẹ mà chúng con cùng nhau một lòng đầy nhiệt huyết tạo nên cõi Tịnh độ này. Chúng con biết tất cả những gì chúng con suy nghĩ, hành động, nói năng theo hướng tích cực, lành thiện, tươi mát, từ bi, hay theo hướng tiêu cực, sợ hãi, thèm khát, bạo động thì chính bản thân chúng con sẽ thừa tự trực tiếp kết quả. Chúng con xin nguyện hộ trì ba nghiệp hết lòng.

Tối nay, Cha đã rải xuống lòng đất những hạt minh châu, gọi mời nhiệm mầu hạt giống tốt cho đầu năm. Những hạt minh châu làm lòng con sung sướng trong thanh bình tuyệt đối. Một ngày đầu năm trọn vẹn như thế thì sự sống sẽ ý nghĩa biết bao!

Thưa Cha, đã có nhiều biến động, con biết, thân thể Mẹ càng ngày càng nóng lên do thiên nhiên đầy tật bệnh và tâm hồn con người nhiều hư hoại. Người đời càng ngày càng nóng vội, xử lý mọi tình trạng hấp tấp, vội vàng, không nắm vững nghệ thuật nhìn kỹ, nhìn sâu. May mắn được bảo vệ trong môi trường thánh thiện và luôn được nuôi dưỡng lòng biết ơn mọi loài chúng sanh, cây cỏ và đất đá, có cơ hội tưới tẩm hạt giống thương yêu, hiểu biết mỗi giây phút trong đời sống hàng ngày, chúng con, những người xuất sĩ, nguyện bảo vệ hành tinh xinh đẹp này. Tình thương được chăm chút mỗi ngày, nuôi dưỡng và nhắc nhở cho nhau mỗi ngày, việc giữ gìn và bảo vệ đất Mẹ là điều có thể thực hiện được.

Được ở trong cõi xanh này, ai ai cũng sung sướng. Tiếp xúc với đất Mẹ bằng những bước an lành vững chãi, thở trong không khí yên vui, cùng mọi loài dạo chơi, ngắm sự mầu nhiệm trăng sao, bầu trời xanh… chúng con thấy đời sống vẫn an toàn biết nhường nào. Sống đời sống như vậy trong sự luân chuyển bất tận là một công trình lớn. Nếu hôm nay chúng con thực tập có chánh niệm thì những trận địa chấn, lũ lụt, núi lửa, sóng thần… sẽ xảy ra ít hơn, mức độ tàn phá sẽ giảm thiểu tối đa. Mọi thứ được nâng lên nếp sống cao khiết, có thỉ có chung, muôn loài được tôn trọng và bảo vệ. Cõi tịnh không kiếm đâu xa. Cõi tịnh ở ngay nơi đây, trong giây phút ta đang thật sự sống.

Năm mới, trong hội chúng đông đảo, những lời khấn nguyện được viết xuống với một tâm niệm lành, và với tâm niệm như thế, có thể chấn động đến mọi loài hữu tình hay vô tình. Trong niềm giao cảm thâm sâu và tình thương thánh thiện, con biết đất Mẹ và trời Cha vui lòng biết bao.

Năng lượng yên bình và bảo vệ hành tinh này sẽ được tưới tẩm lớn mạnh hàng ngày nơi mỗi chúng con. Chúng con nguyện ý thức rõ sự an lạc của chính mình là sự an lạc của thế giới, sự hòa hợp và an ổn vững chãi trong tự thân là Tịnh độ hiện tiền.

Hôm nay, thưa Cha, thưa Mẹ, chúng con nguyện có mặt để làm đẹp cho cuộc đời.

Bích Nham và những hạnh phúc đơn sơ

Con đường nhựa từ tăng xá dẫn đến thiền đường sáng nay thật yên và trong lành. Trời đã vào thu, bắt đầu se lạnh. Những vì sao điểm tô cho dải ngân hà thêm diễm tuyệt. Thong thả an nhiên, tôi bước vào thiền đường, chắp tay xá Bụt, xá chiếc bồ đoàn và thầm đọc bài kệ: “Ngồi đây ngồi cội Bồ đề, vững thân chánh niệm không hề lãng xao”. Giọng hô canh của thầy Pháp Tịnh rất trong và ấm, năng lượng thiền đường thật trầm hùng. Sau khi xả thiền, tôi nhìn lên phía bàn thờ Bụt và thấy hai câu đối do chính Sư Ông viết: “Nước Bích lắng trong ngàn sông có nước ngàn sông trăng hiện. Non Nham tú lệ mỗi lần nhìn lại mỗi lần mới tinh”. Hai câu đối đã nói lên được những cảm nghĩ của tôi về tu viện Bích Nham và giúp tôi có nguồn cảm hứng viết xuống dòng sẻ chia như một lời tri ân.

Tu viện Bích Nham

Tu viện được thành lập vào năm 2007, tọa lạc trên triền núi Sam trong thung lũng Walker, New York. Tu viện rộng khoảng 90 mẫu đất (acres). Ở đây có nhiều vách núi màu xanh, nhân đó Sư Ông đặt tên là Bích Nham.

Tu viện có hai xóm: Tùng Xanh dành cho quý thầy và Hạc Trắng là chỗ quý sư cô. Tùng là một loại cây quý mọc trên núi cao hoặc đất đá khô cằn, chịu nhiều sương gió và bão tuyết, nhưng rất xanh tươi và vững chãi, tượng trưng cho khí tiết thanh cao, thịnh vượng và bền bỉ. Hạc là một loài chim quý, tượng trưng cho sự trường thọ, sắt son.

Xóm Tùng Xanh có rất nhiều cây tùng, có cốc Thạch Lang, tăng xá Tình Huynh Đệ, vườn Bụt, lều Mông Cổ và thiền đường Đại Đồng có khả năng chứa được 900 người, thiền đường được làm bằng gỗ thông nên rất thơm. Xóm Hạc Trắng được bao quanh bởi một khu rừng tự nhiên có nhiều cây thông, phong, sồi, bulô và nhiều động vật hoang dã. Những con suối chảy qua hiền hòa, có thể nghe âm thanh róc rách vọng đến từ cánh rừng phía sau vào những ngày mưa lớn. Con đường Pleasant Valley quanh co trên triền đồi là điểm chia ranh giới giữa hai xóm.

Uống trà, xây dựng tình huynh đệ

Ngày làm biếng, ngoài trời nắng đã lên cao, mọi thứ đều êm đềm vắng vẻ. Đây là mùa An cư đầu tiên của tôi tại tu viện Bích Nham. Không khí an cư rất nhẹ nhàng và trầm lặng. Bên xóm Tùng Xanh năm nay mỗi huynh đệ đều phát ba lời nguyện để thực tập. Phần tôi thì chọn ba nguồn cảm hứng để thực tập, đó là chăm sóc sức khỏe, ngồi thiền cho có phẩm chất và đi không nói chuyện. Tứ chúng tu học và làm việc với nhau rất hạnh phúc trong tinh thần lục hòa. Những buổi thực tập Làm mới giúp hai xóm có sự truyền thông và tình huynh đệ càng ngày càng gắn bó.

Hôm qua ngoài trời tuyết rơi trắng xóa. Huynh đệ ngồi quây quần bên lò sưởi, uống trà và đàm đạo, không khí rất ấm áp. Những giây phút như thế là cơ hội cho anh em chúng tôi xây đắp tình huynh đệ. Đây là kinh nghiệm sống, là pháp sống cần thiết cho cuộc đời. Chúng tôi thấy rất rõ, xây dựng tình huynh đệ là một sự thực tập căn bản về tình thương đích thực. Trên bàn học của tôi có treo một tấm thư pháp của Sư Ông: “Bài học quan trọng nhất trong cuộc đời là bài học thương yêu”.

Tính cao quý có được từ cách sống thanh cao

Sáng nay, một số quý thầy và quý sư cô trong nhóm tiền trạm vào thành phố New York để sắp xếp cho những buổi sinh hoạt vào cuối tuần. Số người còn lại ở nhà được nghỉ ngơi cho đến thứ Bảy sẽ vào thành phố yểm trợ cho những chương trình tu học.

Chuyến hoằng pháp ở Mỹ năm nay bắt đầu từ tu viện Bích Nham. Quý thầy, quý sư cô từ các trung tâm khắp nơi về đây sum họp một nhà, không khí rất vui tươi và đầm ấm. Nhìn những tà áo nâu nhẹ nhàng thoáng bước, tôi lại nhớ đến lời Sư Ông dạy ở Thái Lan vào năm 2013: “Quê hương là chốn tăng thân xum vầy, bàn chân địa xúc hãy về”.

Trong khóa tu này, chúng tôi có tổ chức một cuộc triển lãm thư pháp của Sư Ông ở cốc Thạch Lang. Những tấm thư pháp là di sản quý báu của Sư Ông mà chúng tôi đã sưu tầm và lưu trữ được hơn mười năm qua. Ngoài những tấm thư pháp, chúng tôi còn trình bày tiểu sử sơ lược về cuộc đời Sư Ông. Bài tiểu sử được đặt ngay trung tâm của phòng triển lãm. Bên trên, chúng tôi có treo một tấm thư pháp bằng tiếng Anh: “Nobility comes from noble living” (Tính cao quý có được từ nếp sống thanh cao). Thiền sinh rất xúc động, có người quỳ xuống lạy, có người ngồi tịnh tâm và có rất nhiều người không cầm được nước mắt.

Thiền hành trong mưa

Một trong những điều tôi thích nhất ở Bích Nham là được đi thiền hành vào rừng. Trời cuối thu thường có mưa rơi lác đác, con đường thiền hành xuyên qua khu rừng càng trở nên huyền thoại. Có một hôm trời mưa, đại chúng đã đổi buổi thiền hành ngoài trời thành buổi kinh hành trong thiền đường Đại Đồng. Thầy Pháp Khôi và tôi xin phép được đi thiền hành ngoài trời, mỗi người che một cây dù và chầm chậm thiền hành vào rừng. Đi đến nơi nào cảm thấy hứng thú thì anh em chúng tôi dừng lại ngắm nhìn, đặc biệt là bên dòng suối. Trời mưa nhỏ hạt dần và sương mù trở nên rõ rệt trong khu rừng. Đi một hồi tôi cảm thấy lạnh và ý thức rất rõ cái lạnh đang từ từ thấm vào thân thể. Thiền sư Quy Sơn có dạy: “Sống gần gũi với các bậc thiện tri thức thì cũng như đi trong sương, tuy áo không ướt nhưng cũng có nhuần thấm”. Tôi thấy thực tập chánh niệm cũng thế. Thực tập lâu ngày dần dần sẽ trở thành thói quen và giúp ta ý thức rõ ràng những gì đang xảy ra bên trong cũng như bên ngoài ta. Ví dụ, khi mới thực tập đi thiền hành thì mình cảm thấy không thoải mái cho lắm, bước chân của mình trở nên nặng nề, vì tập khí đi nhanh đã quen rồi. Thực tập lâu ngày mình sẽ cảm thấy dễ chịu, tự nhiên và hạnh phúc, mình sống được với những bước chân nhẹ nhàng và thảnh thơi.

Dọc theo con đường thiền hành có nhiều thảm rêu xanh, êm và đẹp. Tôi ý thức bàn chân tôi đang chạm vào thảm rêu và cảm thấy rất hạnh phúc. Từng bước chân bình an đưa anh em chúng tôi ra khỏi khu rừng đến bên bờ hồ. Trời vẫn còn mưa lất phất. Chúng tôi đến bên cây cầu và đứng nhìn mặt hồ tĩnh lặng. Trước mắt tôi là tượng Bụt được tạc bằng nham thạch núi lửa Indonesia, hình ảnh được phản chiếu trên mặt hồ cùng với những chiếc bong bóng đang phập phồng. Trong khoảnh khắc ấy, tôi nhớ lại những ngày còn thơ đi lùa vịt dưới trời mưa. Lúc đó tôi khoảng mười tuổi. Không hiểu vì sao tôi rất thích những chú vịt con. Mỗi lần đi chợ thấy người ta bán vịt con thì liền năn nỉ mẹ mua cho vài chú. Lúc đầu mẹ tôi không chịu, nhưng tôi năn nỉ riết rồi mẹ tôi cũng xiêu lòng. Cuối cùng mẹ đã mua cho tôi mười chú vịt con. Đó là một món quà lớn mà mẹ đã cho tôi. Sau nhà có một cái ao to, mỗi ngày tôi ra đó vớt bèo và vớt tép đem về cho các chú ăn. Cứ mỗi lần các chú đói bụng thì cả nhà đều biết, các chú kêu rất to. Hồi còn nhỏ, các chú suốt ngày cứ quấn quýt bên tôi. Đặc biệt có một chú vịt con, tôi đi đâu thì chú cũng chạy theo sau. Từ khi được thả xuống ao, các chú rất hạnh phúc được bơi lội đi chơi suốt ngày. Chiều nào tôi cũng phải đi kêu các chú về. Từ khi có mấy chú vịt con để chơi, tôi ít tới lui chơi với bọn trẻ trong xóm. Các chú là những người bạn và cũng là niềm vui của tôi mỗi ngày. Đó là thiên đường tuổi thơ chăn vịt của tôi. Tôi thấy khi mình có một tuổi thơ đẹp thì tuổi thơ đó sẽ tiếp tục nuôi dưỡng mình mãi mãi. Cảm ơn buổi thiền hành trong mưa trưa nay đã cho tôi sống lại những giây phút của tuổi thơ!

Mùa thu Bích Nham

Sau khóa tu ở Bích Nham, một số đông xuất sĩ đã lên đường qua tu viện Mộc Lan để tiếp tục chuyến hoằng pháp. Tôi cùng một số vị ở nhà để dọn dẹp tu viện và nghỉ ngơi. Mỗi ngày chúng tôi có thời khóa nhẹ, như ngồi thiền và làm việc. Tu viện Bích Nham mùa này thật tuyệt vời. Chúng tôi thường lên núi Sam ngồi uống trà và ngắm nhìn chiếc áo lụa mây trời diễm lệ. Từ đỉnh núi nhìn xuống có thể thấy được một biển sắc mênh mông. Những giây phút như thế đúng thật là thiên thu trong khoảnh khắc, cho ta một trạng thái vô sự, không cần đi đâu và cũng không cần làm gì.

Trong tăng xá của xóm Tùng Xanh có treo vài tấm thư pháp của Sư Ông. Tấm mà tôi thường lưu ý đến là “Chẳng biết rong chơi miền Tịnh độ, làm người một kiếp cũng như không”, như một thông điệp. Câu thư pháp đã nuôi dưỡng tôi rất nhiều. Tôi nhớ, lần đầu tiên tôi thấy bức thư pháp này là tại thiền đường Nến Ngọc. Mùa thu năm 2009, lúc đó tôi đang làm thị giả cho Sư Ông. Thầy trò dạo chơi trong khuôn viên của tu viện và Sư Ông dẫn tôi vào viếng thăm thiền đường Nến Ngọc. Đi một vòng, tôi chợt thấy tấm thư pháp, từng chữ từng chữ đánh động tâm trí tôi suốt ngày hôm ấy. Thầy trò tiếp tục dạo chơi trong khu rừng xóm Hạc Trắng, có một vài sư cô cũng xin được tháp tùng để đi thiền hành với Sư Ông vào rừng. Bước vào cửa rừng, cả khu rừng lấp lánh đủ màu thu. Dưới mặt đất lá vàng phủ kín. Thầy trò dừng lại. Một sư cô bước tới thưa: “Bạch Thầy, ngày xưa ông Cấp Cô Độc đã từng lót vàng lá cho Bụt trong tu viện Kỳ Viên. Ngày nay ông Cấp Cô Độc vẫn còn đó lót đường cho Thầy trò mình đi. Lần này không phải là vàng lá mà là lá vàng”. Thầy trò cùng cười.

Chiều ngày 11 tháng 10, anh em chúng tôi tranh thủ đi lên đỉnh núi Sam để tận hưởng một lần chót trước khi rời khỏi Bích Nham để qua Lộc Uyển vào hôm sau. Chúng tôi biết khi trở lại vào cuối tháng Mười một thì phong cảnh sẽ không còn tráng lệ như vậy nữa. Anh em tôi đùa: “Đẹp thế này, đành lòng nào mà bỏ đi!”.

Lộc Uyển hào hùng

Ngày 12 tháng 10, máy bay đưa anh chị em chúng tôi về Lộc Uyển đã đáp xuống phi trường San Diego vào lúc 5 giờ chiều. Đi máy bay cả ngày nên về tới Lộc Uyển thật hạnh phúc. Một hạnh phúc lớn nữa là gặp lại các huynh đệ từ những trung tâm khác. Sáng hôm sau tôi thức dậy sớm và đi vòng quanh ngắm phong cảnh Lộc Uyển. Lâu ngày trở lại Lộc Uyển, tôi thấy nơi đây đẹp hơn xưa. Sư Ông thường dạy về giáo lý Ly sinh hỷ lạc, nếu buông bỏ được thì niềm an lạc sẽ đến. Tuy phong cảnh ở Bích Nham mùa này rất tráng lệ, nhưng núi rừng của Lộc Uyển cũng rất hào hùng. Mỗi nơi có mỗi vẻ đẹp khác nhau. Đồi núi của Lộc Uyển hùng vĩ và tĩnh lặng, rất thích hợp cho người tu. Trong tác phẩm Làng Mai nhìn núi Thứu, Sư Ông có dạy: “Sống hạnh phúc quả thật là một nghệ thuật và nghệ thuật đó ta phải đào luyện mới có. Nó tùy thuộc ở tâm ta cho đến độ nếu ta đánh mất khung cảnh và phải đi sang một khung cảnh khác thì ta vẫn còn có thể giữ được hạnh phúc.”

Mỗi lần về lại Lộc Uyển tôi cảm thấy rất hạnh phúc. Đi tới đâu tôi cũng thấy dấu chân và hình bóng Sư Ông, đặc biệt là ni xá mới. Cốc Tùng Bút của Sư Ông đã từng tọa lạc tại nơi này, mỗi lần Thầy trò chúng tôi về Lộc Uyển đều ở cốc Tùng Bút. Vì cần không gian để xây ni xá nên cốc Tùng Bút đã được tháo dỡ đi. Quý sư cô rất dễ thương, đã xây cho Sư Ông một cái cốc mới đối diện với ni xá. Ngày tôi xuống thăm ni xá mới, bao nhiêu ký ức đã trở về trong tôi. Tôi ý thức rất rõ là tôi đang đi và đang ngắm nhìn cho Sư Ông.

Trong thời gian ở Lộc Uyển, chúng tôi có một khóa tu xuất sĩ, một khóa tu cho người Mỹ, một khóa tu cho người Việt, hai ngày quán niệm và một buổi pháp thoại công cộng tại thành phố Los Angeles. Tuy chuyến hoằng pháp kỳ này không có sự hiện diện của Sư Ông, nhưng số thiền sinh tham dự rất đông, ai cũng có mặt hết lòng. Ngoài những ngày có thời khóa, anh em chúng tôi thường đi leo núi. Có những ngọn núi như núi Voi, núi Lắc, cho đến bây giờ tôi mới có cơ hội để leo. Thật thú vị! Lên đến đỉnh núi, đứng trên một tảng đá lớn, bao nhiêu mệt mỏi và những suy tư đều tan biến. Nhìn lên, chiếc thảm da trời xanh biếc bao trùm cả không gian. Chúng tôi mỗi người chọn cho mình một tảng đá và nằm xuống để tận hưởng khí thiêng đất trời, nghe gió hú trong những khe đá khổng lồ, thật mầu nhiệm.

Hạnh phúc đơn sơ

Có những đêm trăng sáng, anh chị em chúng tôi kéo nhau lên Yên Tử uống trà, ngắm trăng và đàm đạo. Ngồi trên một phiến đá lớn, chúng tôi có thể thấy được vầng trăng treo lơ lửng trên ngọn đồi phía đông, trước mặt là một biển đèn muôn màu của đô thị. Tôi pha một bình trà nóng và mời các huynh đệ cùng nhau thưởng thức. Núi rừng Lộc Uyển thật yên bình, tâm tư chúng tôi thêm an tịnh.

Bên kia dãy núi, phía những ánh đèn đô thị, hiện giờ có bao nhiêu con người đang chạy tìm những thú vui dục lạc. Tôi nói chuyện với huynh đệ: “Tối nay là thứ Bảy. Giờ này ở ngoài phố có những người trẻ đang đi tìm những thú vui, như là đi liên hoan, câu lạc bộ khiêu vũ, quán rượu, sòng bạc hoặc khu vui chơi giải trí. Còn anh chị em mình thì ngồi đây uống trà, ngắm trăng và thưởng thức sự tĩnh lặng của núi rừng”. Tôi đùa: “Có những con tim tối nay sẽ không ngủ yên”. Mọi người nghe thế đều cười. Có một huynh đệ hỏi: “Làm sao thầy biết rõ như vậy?”. Tôi đáp: “Đó là kinh nghiệm cá nhân, là con đường mà tôi đã đi qua và tôi cũng biết đó là con đường mà rất nhiều người trẻ đã và đang đi qua”. Nói đến đây, tôi nhớ đến ngày xưa trước khi đi tu, tôi đã lầm lẫn giữa dục lạc và an lạc. Tôi nghĩ rằng, hạnh phúc tức là thỏa mãn những ham muốn. Nhưng làm sao mà thỏa mãn được? Vì lòng tham vốn không có đáy. Ham muốn này được thỏa mãn thì lại phát sinh những ham muốn khác to lớn hơn. Và chúng ta rốt cuộc chỉ là nô lệ cho những ham muốn của chính mình. Nếu quan sát cho kỹ ta sẽ thấy, từ khi theo đuổi một ham muốn cho tới khi đạt được ham muốn ấy, niềm vui ta nhận về thì ít mà phiền não phải mang thì nhiều biết bao. Và niềm vui lớn nhất mà ta có chính là giây phút không mong cầu, là niềm vui của sự tĩnh lặng nội tâm, là niềm vui từ trong phát khởi ra, niềm vui do chính mình tự tạo.

Được làm một người tu thật là hạnh phúc. Mỗi bước chân, mỗi hơi thở trong giây phút thực tập là cơ hội cho mình tỉnh thức và tiếp xúc với những mầu nhiệm của cuộc sống. Hạnh phúc của người tu rất bình dị và đơn sơ, nhìn những chiếc lá vàng đang rơi, ngắm những giọt mưa lác đác nghiêng nghiêng trên đường, xem những chiếc bong bóng đang phập phồng trên mặt nước hoặc ngắm nhìn vầng trăng đang treo lơ lửng trên không gian cũng đủ làm cho chúng tôi hạnh phúc. Khoảnh khắc đơn sơ chứa đựng cả thiên thu mầu nhiệm khi ta có sự yên tĩnh trong tâm hồn.

Tôi đã về tu viện Bích Nham và tu viện Lộc Uyển rất nhiều lần, nhưng hạnh phúc của tôi là cứ mỗi lần về là mỗi lần tôi cảm thấy mới, thấy đẹp. Tôi thường nhắc tôi: “Lúc nào vẫn còn thấy đẹp, vẫn còn thấy mới thì lúc đó mình vẫn còn biết ơn và vẫn còn hạnh phúc”.

 

Thất Nhìn Xa

(Thất Nhìn xa – Trung tâm Làng Mai Thái Lan)
 
Đồng lau nắng chiều thắp sáng
Sóng ngời nâng dậy bàn chân
Thợ trời tung màu vào lá
Thu về Lòng Ấy tuyệt trần.
   
Mái tranh tựa vào vách núi
Nhìn Xa thấu suốt thiên nhân
Sàn gỗ nương trên thềm đá
Chở che từ ái muôn phần.
 
Trăng về mênh mang hơi thở
Người về khoáng đạt hồ tâm
Chim rừng dâng kinh sớm tối
Lòng đất dũng xuất tăng thân
Ngồi Yên ngắm Sao Trên Biển
Có Nhau, xa mấy cũng gần.
 

Mối tình Việt Nam

Con xa đất nước thời thơ ấu
Giọng nói quê hương vẫn ngọt ngào
Nề nếp tổ tông cha nắm giữ
Hương sắc quê nhà mẹ chuyển trao.

Thầy thường nói rằng quê hương của Thầy không phải chỉ là Việt Nam, quê hương của Thầy là cả trái đất này, là bây giờ và ở đây, là vượt thoát thời gian và không gian. Tôi biết dù nói thế nhưng trong lòng Thầy vẫn có một mối tình đặc biệt đối với Việt Nam, đơn giản vì Thầy là người con Việt Nam. Trong cái nhìn của một vị thiền sư thì ở đâu cũng là quê hương, nhưng trong một con người thì nơi sinh ra và lớn lên là quê hương của mình, và Thầy vẫn luôn luôn tự hào vì điều đó. Dân tộc, tổ tiên của chúng ta là một dân tộc thuần từ, có một ngôn ngữ Việt rất ngọt ngào, đầy chất liệu thi ca. Nền đạo đức thuần từ thể hiện rõ nhất ở hai thời đại Lý-Trần. Những điều hay đẹp ấy được Thầy khai triển và cống hiến cho xã hội Tây phương – một tinh thần đạo Bụt Dấn thân (Engaged Buddhism) đã và đang được nơi này đón nhận nồng nhiệt.

Thầy và Tăng thân Làng Mai thiền hành tại Vĩnh Phúc trong chuyến về Việt Nam năm 2007

Sáu anh chị em chúng tôi trở về Việt Nam lần đầu tiên sau nhiều năm sinh sống và hành đạo tại Tây phương. Chuyến đi ấy gồm có sư cô Định Nghiêm, sư cô Thuần Nghiêm, sư cô Thiều Nghiêm, thầy Pháp Ứng, thầy Pháp Trú và tôi, tất cả đều đã rời đất nước từ khi còn nhỏ, đều đã lớn lên và tiếp thu văn hóa phương Tây. Thầy biết chúng tôi là những đứa trẻ Việt của thế hệ “trái chuối” – ngoài da thì vàng nhưng trong ruột thì trắng, nghĩa là đã bị Tây hóa. Tuy vậy, ở trong tu viện, Thầy đã dạy cho chúng tôi nhiều cái hay, cái đẹp về văn hóa Việt. Thầy cho chúng tôi tiếp xúc với một nền đạo đức tâm linh, văn hóa, văn minh Việt để chúng tôi không bị mất gốc và có thể tự hào mình là người Việt Nam. Nhiều người trẻ lớn lên ở Tây phương có mặc cảm cô độc vì tuy họ là người Việt mà không biết gì về con người và văn hóa Việt, trong khi đó lại có cảm giác không được chấp nhận như người Tây, do đó rất đau khổ. Khi được học cả hai nền văn hóa thì mình có thể tự hào hơn, hạnh phúc hơn vì mình mang trong mình cả hai nền văn hóa. Tuy đã được Thầy trao truyền những cái hay, cái đẹp về văn hóa Việt nhưng Thầy muốn các con của Thầy trở về Việt Nam để tiếp xúc trực tiếp và cảm nhận bằng xương bằng thịt, bằng cả trái tim của mình, và Thầy đã tặng cho sáu anh chị em chúng tôi bài thơ trên. Chúng tôi ai nấy đều hớn hở, hồi hộp lên đường về thăm quê cha đất tổ.

Đĩa trái cây chín thơm

Đứng về phương diện tâm linh, Thầy luôn luôn dạy chúng tôi nhớ về nguồn gốc của mình. Ở bàn thờ tổ tiên trong thiền đường xóm Hạ có hai câu đối do Thầy viết: “Gốc rễ tâm linh xin bồi đắp. Suối nguồn huyết thống nguyện khai thông”. Người hạnh phúc là người có khả năng nối kết được với gốc rễ tâm linh và huyết thống của mình. Mình có hai gốc rễ: tâm linh và huyết thống. Ngoài chuyện trở về tiếp xúc và bồi đắp gốc rễ huyết thống, mình cũng về để kết nối với gốc rễ tâm linh, mà gần nhất là chư Tổ ở Tổ đình Từ Hiếu, nơi Thầy đã xuất gia học đạo. Thầy bảo: “Các con là những cây thầy trồng nay đã kết trái, đã chín thơm, đẹp và thầy muốn dâng lên chư Tổ như một kết quả của sự tu học của mình. Thầy về chưa được nên các con về giùm thầy vậy. Các con về cũng là thầy về. Về chùa Tổ các con nhớ bước những bước chân chánh niệm trên đất Tổ cho thầy, nhớ thăm những nơi mà thầy đã sống, như phòng ngủ, những cái giếng, chuồng bò, đồi Dương Xuân, và nhất là phòng của Sư Cố. Các con đi đảnh lễ tháp Tổ Liễu Quán và nếu có cơ hội thì ra Hà Nội để chiêm bái núi Yên Tử và đảnh lễ các tháp của Tam Tổ Trúc Lâm”.

Tháng Hai năm 2000, sau khi đã được Thầy truyền đăng làm giáo thọ, chúng tôi được Thầy cho phép về thăm Việt Nam. Chuyến đi ấy dài hơn hai tháng và chúng tôi đã được tiếp xúc với ba miền của đất nước. Tại Huế, chúng tôi được ở lại chùa Tổ. Thời gian ở chùa Tổ có thể nói là thời gian hạnh phúc nhất vì được đảnh lễ tháp Tổ, được tiếp xúc với năng lượng của chư Tổ, được Sư Thúc và các thầy yêu thương, chăm sóc tận tình, được đi đảnh lễ tháp Tổ Liễu Quán, nhưng cũng nhiều phen “đau tim”… Ra Bắc, chúng tôi được Thầy dạy đi thăm và đảnh lễ các tháp Tổ ở miền Bắc, đặc biệt là đi thăm núi Yên Tử. Đây là nơi mà các vị vua đời Trần đã rũ bỏ “áo mão cân đai” để lui về tu tập, trong đó có vua Trần Nhân Tông, sau này là người đã khai sáng thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, một thiền phái đặc thù Việt Nam, một thiền phái của đạo Bụt Dấn thân mà bây giờ Thầy trò chúng tôi đang tiếp nối. Thầy bảo: “Chuyến đi này là chuyến đi thăm quê, ngoài việc tiếp xúc với tổ tiên, với quê hương đất nước, xã hội và trải nghiệm, các con sẽ có thể không được phép tổ chức những ngày tu chánh niệm như bên này, các con cũng sẽ tiếp xúc với những mặt trái của đất nước, xã hội và có những cái có thể làm cho các con bị sốc, nhưng các con đã được chuẩn bị kỹ, lại có sự thực tập nên sẽ không đau khổ và thất vọng như những người trẻ khác khi họ về Việt Nam lần đầu. Mỗi bước chân thảnh thơi, an lạc, mỗi nụ cười tươi sáng, hiền hòa, mỗi cử chỉ yêu thương đều là những bài pháp thoại không lời, sống động mà các con có thể cống hiến cho quê hương”.

Chuyến đi ấy đã khơi dậy trong lòng những người trẻ lớn lên ở hải ngoại như chúng tôi tình yêu thương đất nước vô bờ bến. Ai cũng sẵn sàng về lại nhiều lần để góp sức xây dựng quê hương của mình được đẹp đẽ như tổ tiên đã làm trong thời đại Lý-Trần. Mỗi lần được ngồi chơi với Thầy, Thầy luôn quan tâm đến Việt Nam. Thầy nói nếu Thầy về không được thì sau này các con sẽ về giùm cho Thầy. Đất nước của mình đã trải qua quá nhiều khổ đau, đổ vỡ và đang đối mặt với nhiều thách thức. Hơn một nửa dân số được sinh ra sau chiến tranh và có khi trải nghiệm những cái khổ mà không biết tại sao mình khổ. Thế hệ trước thì vẫn mang nhiều hiềm hận, thương tích, chia rẽ, còn thế hệ sau lại đang có cảm giác lạc hậu và choáng ngợp trước những phát triển của thế giới công nghệ, và nhiều người không định hướng được mình sẽ ứng phó như thế nào.

Chuyến đi khép lại với những niềm vui, sự hãnh diện và bao điều thao thức đối với anh chị em chúng tôi. Trước hết là cái đẹp về núi non, sông nước hữu tình. Chúng tôi khi còn ở Việt Nam, vì điều kiện không cho phép nên chưa bao giờ được vân du trên khắp các vùng đất nước, nhưng sau chuyến đi chúng tôi đã giật mình hãnh diện, không ngờ đất nước của mình lại đẹp như thế. Hèn chi Thầy đã viết bốn câu thơ ca tụng Việt Nam để tặng cho các bạn trẻ Việt Nam như chúng tôi khi tới Làng:

Lắng lòng nghe tiếng gọi quê hương

Sông núi trông ra đẹp lạ thường

Về tới quê xưa tìm gốc rễ

Qua rồi cầu hiểu tới cầu thương.

Tiếng gọi quê hương

Quả đúng như thế. Chúng tôi không ngớt đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Thật là một đất nước với núi non, sông hồ thơ mộng. Con người hình như thân thiện hơn, niềm nở hơn, tươi vui hơn. Điều này do một du khách Tây phương đã nói với tôi khi tôi gặp bà ở bãi biển Nha Trang. Có nhiều thứ để nói về đất nước và con người Việt Nam lắm. Những cái hay, cái đẹp ấy đang được ông bà, cha mẹ gìn giữ. Ông bà, cha mẹ là những chiếc cầu để con cháu được kết nối với tổ tiên.

Song, bên cạnh đó, nhiều trải nghiệm khác đã khiến chúng tôi nghĩ là sẽ tiếp tục trở về để góp sức xây dựng đất nước bằng chính nếp sống đạo đức tâm linh mà bao thế hệ tổ tiên đã dày công bồi đắp. Chúng tôi thấy đất nước còn quá nhiều khó khăn, khổ đau, nghèo đói, bức xúc, lo lắng, sợ hãi, tranh đua, nghi kỵ, bạo động; tuổi trẻ chán nản, tuyệt vọng, mất phương hướng; dư âm của những vết thương chiến tranh, hận thù và bất công còn đọng lại nơi từng tế bào của mình, không có gì mất đi cả. Tôi nhớ có lần ngồi trên xe lửa đi ra Hà Nội, tôi gặp một anh thanh niên với khuôn mặt thanh tú đang bán trứng vịt lộn. Tôi bắt chuyện hỏi thăm và được biết là anh đã tốt nghiệp đại học kinh tế nhưng không tìm được việc làm, cuối cùng phải đi bán trứng vịt lộn để kiếm sống. Tôi thật xót xa. Chúng tôi chợt hiểu được trái tim của Thầy, hiểu được tình yêu thương mà Thầy luôn dành cho Việt Nam, luôn khuyến khích các học trò sau này phải về Việt Nam để thay Thầy xây dựng đất nước bằng sự tu học của mình. Niềm thương cảm quê hương dâng tràn, trong lòng mỗi anh chị em chúng tôi, ngọn lửa yêu thương đã được nhen lên cùng với lời phát nguyện sẽ tiếp tục về Việt Nam. Chúng tôi nhận thấy, đất nước của mình còn có nhiều nghèo đói, còn lạc hậu nhiều khía cạnh, và điều quan trọng hơn cả chính là thiếu đi sự thống nhất lòng người, thiếu chất liệu hiểu và thương vốn là một chất liệu quan trọng mà tổ tiên của mình trong thời Lý-Trần đã sử dụng để xây dựng non sông. Chúng tôi luôn lạc quan về đất nước của mình vì hạt giống của đạo Bụt, của hiểu và thương đã được gieo bởi tổ tiên của mình qua nhiều thế hệ vẫn còn đó trong chiều sâu tâm thức người dân. Chỉ cần tưới tẩm là nó sẽ nảy mầm. Niềm tin về đạo Bụt trong lòng người Việt là không thể nghi ngờ.

Tới năm 2003, tôi lại có cơ duyên về Việt Nam để mở khóa tu cùng với các sư anh, sư chị và sư em của tôi. Chúng tôi đã về quê hương với một trái tim thuần khiết và tràn ngập yêu thương. Niềm ước mơ duy nhất là chung tay xây dựng và bồi đắp, làm đẹp quê hương với nếp sống đạo đức tâm linh của mình. Mọi việc không hề dễ dàng như chúng tôi nghĩ. Kể từ đó, chúng tôi đã có thêm nhiều chuyến về nữa kể cả những chuyến trở về cùng với Thầy. Sau ba chuyến trở về của Thầy và tăng thân, đã có nhiều người trẻ xuất gia. Chỉ trong vòng gần 4 năm, số lượng người trẻ xuất gia đã lên tới gần 400 người. Nhiều cơ hội đã mở ra và cũng không ít những khó khăn, thách thức mà chúng tôi phải đối mặt. Giấc mơ đồng hành với những người trẻ Việt Nam trên con đường hiểu và thương để xây dựng một đất nước Việt Nam, một dân tộc Việt Nam đẹp đẽ hơn, thuần từ hơn, hạnh phúc hơn và an vui hơn đã bị tổn thương trầm trọng. Dù vậy, chúng tôi không giữ một niềm thù hận nào, không chán nản và tuyệt vọng. Tình yêu của chúng tôi cho Việt Nam vẫn còn nguyên vẹn.

Giờ đây, những người xuất sĩ trẻ chúng tôi đang tu tập và cống hiến cho hàng trăm ngàn người ở ngoài nước, nhưng trong lòng vẫn ấp ủ một ngày nào đó, nếu nhân duyên đầy đủ cũng sẽ trở về để tiếp tục thực hiện giấc mơ Việt Nam. Những gì huynh đệ chúng tôi đang làm ở nước ngoài cũng là đang làm cho Việt Nam. Chúng tôi luôn có niềm tin và hy vọng đối với đất nước mình. Chúng tôi vẫn tự hào là mình đang cống hiến cho xã hôi Tây phương một đạo Bụt phát xuất từ Việt Nam, đạo Bụt Dấn thân, một đạo Bụt Ứng dụng đáp ứng được những đòi hỏi thực tiễn trong đời sống.

Tại Trung tâm Làng Mai quốc tế Thái Lan

(Hết phần 1)

Ngoại chạy theo nắng

Ngoại thương,

Sáng nay, một buổi sáng làm biếng, con có cơ hội chơi với mình nhiều thêm một chút nữa. Con thích dậy sớm lắm! Dậy sớm là cơ hội cho con được nhìn thấy mọi loài còn đang say giấc, được ngắm những thân cây gầy khúc khuỷu, những cành khô nằm trơ mình trong không trung, để được nghe hơi sương của đông lạnh, để cảm nhận được cái yên của đất trời và đặc biệt là để “chứng tỏ một miếng” với những bạn thiên nhiên ngoài kia là con cũng có thể dậy sớm được.

Khi vũ trụ còn chưa kịp choàng áo mới thì con đã ngồi yên ở góc nhỏ yêu thích của mình. Con có một chỗ học đẹp lắm ngoại ạ! Con thường quay về nơi đây sau những thời khóa của đại chúng hoặc nếu có trống vài phút nào đó được nghỉ ngơi, con cũng tận dụng cơ hội để ngồi yên với mình. Từ đây, con có thể nhìn ra bên ngoài một cách toàn diện và hoàn hảo. Không có gì có thể che khuất bất cứ một phần nào trong bức tranh được dệt bằng chất liệu thiên nhiên trước mặt con. Thênh thang và rộng mở.

Mùa này tuy nắng không xuất hiện nhiều và gay gắt như mùa hè nhưng mỗi lần nắng biểu hiện là nắng đem hết tất cả những cái đẹp của nắng hiến tặng cho đất trời và cho mọi người, trong đó có con. Những ngọn cỏ non còn đọng sương khuya thi nhau nô đùa cùng nắng. Còn nắng thì dễ thương chi lạ! Nắng lúc nào cũng nói với những ngọn cỏ là: để mình trang điểm cho bạn, để mình làm đẹp cho bạn. Thế là con chỉ việc thưởng thức và nhìn ngắm cả cánh đồng long lanh sắc màu kim cương trải dài bất tận. Nhìn và ngắm như thế không lúc nào con quên được cái nắng của quê mình ngoại ạ. Nắng ở đây gắt lắm cũng không bằng nắng ở quê ngoại, nắng ở đây có chút gì dịu hiền, nhẹ nhàng pha chút mỏng manh và có hơi sang trọng kiểu đủ đầy. Nắng quê mình thì thật thà, chất phác và tốt bụng. Nắng ở đây có tu tập nên nắng sẵn sàng cống hiến những năng lượng bình an đó cho con người trị liệu. Nắng quê mình thì nhờ có Thầy mà để cho những hạt giống lành trong kho được biểu hiện. Nắng hết lòng giúp đỡ những ai đang còn trong tình trạng khó khăn và cần nắng để canh tác và lao động. Con nhớ nắng thiệt nhiều!

Ngoại ơi, nắng là ngoại đó, ngoại có biết không? Con nhớ hồi ở nhà, mỗi khi hè về, xoài ra bông rồi cho trái là con có dịp được ăn bánh tráng xoài ngoại làm. Ngoại là người sống cần kiệm và thương người. Vì kính Bụt, thương Thầy nên ngoại thường để dành những trái xoài đẹp nhất, lành lặn nhất mà ngoại hái từ trên cây xuống, đem lên cúng Bụt chùa, cúng Thầy, sau đó mới cúng Bụt nhà rồi tới những người hàng xóm xung quanh – những nhà không có xoài ngon để ăn – mà quê mình hầu hết nhà nào cũng có xoài, rồi mới tới lượt ba mẹ con trong đó có con. Và những trái cuối mùa dành cho ngoại – người cuối cùng. Xoài nhà ngoại nhiều lắm, cả một vườn bao xung quanh. Vì nhiều nên ngoại dùng những quả còn sót lại cùng với những quả chín rụng từ trên cây xuống, đã bị chim ăn hay bị ruồi chích. Ngoại lượm lại, cắt bỏ những phần không xài được, rửa sạch dùng làm bánh tráng xoài. Ngoại thường hay bảo: đồ còn dùng được không nên vứt đi mà tội trời. Thế nên ngoại có nhiều thiệt nhiều rổ xoài để làm bánh.

Bánh xoài ngoại làm ngon, thơm và sạch nữa. Những công đoạn ngoại làm rất công phu và thật kiên nhẫn, kiên nhẫn nhiều lắm. Ngoại lột vỏ xoài trước, cắt nhỏ, lọc xác qua những cái rổ để lấy phần nước, rồi ngoại cho dung dịch ấy vào một cái xoong, thêm vào tí muối, tí ớt, nêm nếm rồi bắc lên bếp nấu, chờ cho đến khi sôi mới nhấc xuống và cho ra từng chiếc khay. Ngoại để dành nhiều bao ni lông to để làm lớp lót. Ngoại dùng hai ba cái thìa mỏng để tráng làm sao cho nó phẳng ra như những cái bánh tráng sữa sầu riêng miền Tây mà không để bị dày, càng mỏng thì càng ngon. Tay ngoại làm chuyên nghiệp lắm, như một người sản xuất làm trong nhà máy thứ thiệt vậy. Sau khi thành phẩm ra đời rồi, công đoạn cuối cùng để bánh có thể dùng được là việc khó nhất. Ngoại, từ ấy, chính thức chạy theo nắng. Nắng trở thành tâm điểm để ngoại chạy theo. Chỗ nào có nắng thì ngoại đem ra phơi, hết nắng thì ngoại lại phải dời đi chỗ khác. Một ngày không biết mấy lần.

Ngoại ơi, đi tu con có cơ hội để biết, để tiếp xúc sâu sắc với thiên nhiên. Hồi trước con không hề biết thiên nhiên là một điều kiện hạnh phúc sẵn có mà mình không cần phải tìm kiếm chi cả. Thiên nhiên cho mình nhiều thứ để trị liệu và cũng là một người bạn mang hạnh lắng nghe của đức Bồ tát Quan Thế Âm, luôn ở đó cho mình mỗi lần mình cần người để trút hết bao nỗi buồn và những khó khăn. Đã nhiều lần con tự hỏi sao mình lại có cảm giác gì đó quen thuộc và thân thương với thiên nhiên đến như vậy? Nhìn sâu, có khi con thấy thiên nhiên gần gũi với mình lắm, có gì đó lạ lạ ở đây. Con chỉ khởi lên suy nghĩ và cảm giác ấy thôi rồi dừng lại ngay sau đó chứ con không cố đi tìm cho ra nguyên nhân. Con để cho nó tự nhiên như nó. Bây giờ con đã hiểu ra rồi ngoại ạ. Thiên nhiên chính là ngoại, ngoại là thiên nhiên. Nắng đích thực là ngoại và ngoại là nắng.

Những ngày nhiều nắng, ngoại sang nhà con ăn cơm. Con nấu những bữa cơm cho ngoại, ngoại có mặt hoàn toàn để thưởng thức từng món ăn của con dù có ngon hay không. Lúc đó, ngoại cũng thong thả mà không cần phải lo lắng cho những cái khay bánh tráng xoài ngoại đang phơi ở nhà. Nhưng cũng có những ngày nắng không đủ khỏe để hiến tặng hết lòng. Những ngày ấy nắng quê mình giống nắng ở đây vậy, chỉ nhẹ nhàng và dịu dàng có mặt với vũ trụ thôi. Thế là bao lo lắng đến với ngoại trong những bữa ăn cơm ở nhà con. Ngoại không dùng trà, không xem tivi, không trò chuyện sau những bữa ăn ấy mà vội vàng trở về nhà để chạy theo nắng. Ngoại đã chạy theo nắng cùng những khay bánh tráng xoài, nắng tới đâu ngoại chạy theo tới đó. Cái ngon của nắng đi vào biểu hiện trong những chiếc bánh tráng xoài. Những khay bánh tráng xoài có bao nhiêu nắng trong đó là có đủ bấy nhiêu tình thương của ngoại hòa vào. Ngoại đem cúng dường lên Thầy, cúng dường cho những tu viện, rồi cho những người ngoại biết ơn, cho những người khách… Dĩ nhiên ngoại là người vừa tỉ mỉ mà cũng là người chuộng hình thức đẹp nữa nên những chiếc bánh ngoại muốn đem cho, ngoại đều cắt thành hình cho vuông vức và gói nó vào những chiếc bao ni lông thật ngay ngắn. Con thì thích ăn những cái rẻo còn lại, nghĩa là những phần dư mà ngoại cắt ra, nên có bao nhiêu ngoại đưa hết cho con, con với ba con là hai thí sinh tham dự hết lòng trong “chương trình tiêu thụ” những cái rẻo ấy. Con nhớ cái cách ngoại nhìn con ăn ngấu nghiến và ngon lành như thế. Ngoại vui lắm, gương mặt ngoại sáng ngời, nụ cười ngoại xinh tươi tỏa nắng và lúc nào ngoại cũng dừng lại ở câu: “Ai mà sướng dữ rứa không biết?”. Ngoại thật biết chọc con lắm!

Ngoại ơi, hình ảnh ngoại chạy theo nắng ấy làm con chẳng thể nào quên được. Con ở đây, được có cơ duyên làm một người tu, được ngắm nắng chạy dài trên những cánh đồng bao la bất tận, được làm một người tự do du hành và được đi trên con đường mà Bụt đã đi qua, là nhờ bao nhiêu phước đức của ngoại và của tổ tiên để lại cho con. Ngoại đã chạy để cho con được đi nhẹ nhàng thảnh thơi. Bây giờ thì ngoại không cần phải chạy nữa vì con đang đi cho ngoại đây rồi. Ngày nào con cũng thấy ngoại cả. Con hạnh phúc lắm. Con biết ngoại rất vui và hạnh phúc khi con “trọc đầu”. Con nói chơi vậy thôi, chứ hồi con xin đi tu ngoại cũng khóc, dù những giọt nước mắt ấy đã từng lăn dài, triền miên, không ngớt nhiều tháng ngày trong quá khứ vì con của ngoại cũng là một người mang hạt Bồ đề lớn trong tâm. Con đã đi theo con của ngoại rồi đó và con đang là sự tiếp nối đi về những điều đẹp lành của ngoại đây rồi.

Con đang học lại từ đầu, làm lại từ đầu, từ những bước chân đi, từ lời nói, hành động đến những thói quen, sinh hoạt hằng ngày. Con thấy mình may mắn lắm vì bên con có những người thầy dạy cho con giới luật và uy nghi, chỉ cho con những điều con làm chưa đúng chưa hay, làm gương cho con về lối sống của Bụt, của Sư Ông, Sư cô. Từ đó con tập cho con lớn lên, tự bước đi những bước chân chánh niệm, tự thở những hơi thở ý thức và học cách sống một mình mà không phải dựa dẫm vào ngoại, vào ba mẹ như hồi còn ở nhà. Con đã quen được ngoại cưng chiều, cái gì ngon ngoại cũng cho, cái gì đúng ngoại bênh vực, mà theo đó con nhõng nhẽo với ngoại, nhưng cũng không thiếu đi sự dạy dỗ ngoại dành cho con. Ấy vậy mà có khi ngoại la rầy con, con lại giận dỗi trách móc và đem so sánh: ngoại dữ hơn nội. Con làm ngoại buồn mà con đâu hề hay biết. Con theo thói con nít mà cư xử. Ngoại ơi, con xin lỗi ngoại vì những vụng về còn lắm hoang sơ ấy của con nhé. Giờ con thấy con đang lớn nhiều ngoại ạ. Con bớt nhõng nhẽo và cũng bớt con nít hơn. Nhiều lúc con cũng yên lặng như đang là ngoại vậy.

Năm nay con chính thức bước ra khỏi cái nôi để bắt đầu đi những bước chân có ý thức. Sự tu tập của con, con xin gói ghém lại để dành tặng ngoại, cho những niềm biết ơn sâu dày của con, cho những điều mà ngôn từ của con không thể diễn đạt hết được. Ngoại ơi, con đang tu cho ngoại, thở cho ngoại và cười nụ cười tỏa nắng của ngoại đây!

Sáng nay con có cơ hội đi bộ với sư chị của con, một thoáng dừng lại, nhìn sang hai bên đường, con thấy nắng đang nhảy múa, hát ca cùng những giọt sương trên đầu ngọn cỏ. Con mỉm miệng cười, nghe lòng rộn tiếng an vui. Rồi con thấy ngoại, bóng hình chạy theo nắng đã và đang đi vào từng tế bào trong con, lưu nhuận và nuôi dưỡng con.