“Nếu gọi tên Thầy, con sẽ tự khắc thấy Thầy ngay”

 

Thầy thương kính,

Một mùa xuân nữa lại đến thật gần, những ngày cuối cùng của năm đang tới. Không khí Hà Nội se lại, và con bắt đầu đếm: một, hai, ba, bốn; vậy là đã bốn mùa xuân kể từ lúc Thầy thành mây trắng thong dong. Dù cho con biết “đám mây không bao giờ chết”, nhưng chỉ nghĩ đến thôi, cơn xúc động lại trào lên, và nước mắt con lại chảy. Có lẽ con là một học trò còn bé dại, nên vẫn còn muốn được nương tựa nơi Thầy thêm chút nữa; thành ra nỗi nhớ thương vẫn vơi đầy, Thầy ơi.

 

 

Các bài viết về Thầy đã gọi tên thầy là “ancestor”, là “tổ tiên” mà con vẫn chưa thấy mình chấp nhận được chữ ấy. Mỗi khi về chùa, mỗi khi đến thăm một ngôi đền, được đọc, được nghe kể về một vị “tổ” nào đó, con vừa sinh lòng kính ngưỡng nhưng cũng thấy thật xa xôi. Con cũng không biết “vị tổ ấy” đã sống như thế nào và đã dạy những bài pháp nào, con cứ miên man với dòng suy nghĩ đó. Nhưng Thầy là Thầy của con, Thầy vẫn rất gần gũi ở đó, sao Thầy đã thành “tổ tiên”, mà con vẫn còn chưa lớn? Con chợt thấy con đường học đạo của mình còn xa xôi quá; và Thầy ơi, Thầy vẫn kiên nhẫn đợi con phải không, thưa Thầy? Mỗi dòng thơ Thầy viết khi xưa, con đã thuộc làu làu, mà bây giờ lần giở lại, mới thấy Thầy đã thật từ bi để con thấy mình được che chở:

“Thầy đã hoá thân làm đám bạch vân đem cho con bóng mát

Ðến giữa khuya đám mây đọng lại thành sương, cam lộ rơi từng hạt để con uống lấy trong cơn mê

Có khi con ngồi dưới vực sâu tăm tối, hoàn toàn cách biệt trời quê

Thầy đã hoá thân thành chiếc thang dài và nhẹ nhàng bắc xuống

Cho con leo lên vùng chan hòa ánh sáng

Ðể tìm lại được màu trời xanh và tiếng suối tiếng chim…”

(Bên mé rừng đã nở rộ hoa mai – Thơ Thầy)

 

Thầy ơi,

Sớm hôm làm người vất vả, giữa những trùng điệp phải – trái, đúng – sai, giữa những “bài thi” lớn nhỏ mà cuộc đời mang tới, không phải lúc nào con cũng có thể thở một hơi thở chánh niệm, nở một nụ cười tươi mát và bước đi thảnh thơi. Những khi ấy, con cũng tập sống một mình, để mà “đứng yên trên sóng” như lời bài kệ: 

“Quay về nương tựa

Hải đảo tự thân

Chánh niệm là Bụt

Soi sáng xa gần”. 

Những lúc “trầm luân bão nổi”, con luôn thấy có Thầy bảo hộ, trong tâm và cả trong thân, vì lời Thầy dặn, không khi nào con quên:

“Hãy rót cái nhìn dịu hiền

Từ đôi mắt

Hãy can đảm

Dù không ai hay biết

Và nụ cười em

Hãy để nở

Trong cô đơn

Trong đau thương thống thiết

Những người yêu em

Dù lênh đênh

Qua ngàn trùng sinh diệt

Vẫn sẽ nhìn thấy em.”

(Dặn dò)

Lòng từ của Thầy, trái tim rộng lớn của Thầy đã ôm ấp con, và ơn Thầy con làm sao tả hết. Thầy dặn “can đảm” – “dù không ai hay biết”, mà nghìn trùng sinh diệt những người yêu em “vẫn sẽ nhìn thấy em”. Không có một lời an ủi nào chấn động thân tâm hơn một lời giản dị như vậy, và cũng không có một tình thương nào có thể “bảo hộ” con tốt hơn một vần thơ của Thầy. Thành ra con tập biết “nghìn trùng sinh diệt” cũng là tình thương bởi con có “tay Thầy trong tay con”.

Thầy thương kính,

Ðể tưởng nhớ Thầy, con gieo một nắm hạt cải để chờ “bướm bay vườn cải hoa vàng”. Con cũng gieo một ước nguyện được làm học trò Thầy ở muôn vạn kiếp. Con vẫn mong được xem sách Thầy viết và vẫn muốn được nghe Thầy giảng Pháp, Thầy ơi!

Con của Thầy,

Nguyên Đức