Đức tin là hành trình khám phá

 

Hà Nội, ngày 15 tháng 1 năm 2026

Thầy kính thương,

Con là tiếp hiện Chân Hương Tĩnh, 50 tuổi, hiện sống tại Hà Nội. Năm nào con cũng viết một lá thư kính dâng lên Thầy, rồi mang vào chùa Tổ, đọc cho Thầy nghe trên đồi Dương Xuân, giữa lòng tăng thân khắp nơi đang tụ họp về trong dịp lễ Kỵ của Thầy. Mỗi lá thư, con đều nâng niu lưu giữ. Mỗi khi đọc lại, con đều thấy những nét trong sáng và thành thực của tâm ban đầu, của những thời khắc con lạy xuống trước kim quan Thầy, nắn nót viết xuống những dòng chữ “Con đã có đường đi” với trọn lòng tin vào Thầy và tha thiết mong được gặp Thầy nơi tăng thân.

Thưa Thầy, con đã thực tập cùng với tăng thân Tương Tức và các tăng thân bạn ở Hà Nội từ năm 2023. Niềm tha thiết thực tập của con mỗi ngày càng sâu thêm, và luôn luôn gắn liền với tăng thân, chưa một phút giây con xa rời. Hôm nọ, có bạn hỏi con là có phải vì đang học khoa Tâm lý mà  thực tập “trôi chảy” như vậy không. Con thoáng mỉm cười và câu trả lời đi lên ngay lập tức: “Em à, không những chỉ vì việc chị đang học, mà là chị thực tập với toàn bộ con người chị, bằng cả cuộc đời ấy”. Bạn con có vẻ chấp nhận câu trả lời ấy mà không thắc mắc gì thêm. Năm 2023, con gặp tăng thân, gặp các học trò xuất sĩ của Thầy, và hòa nhập rất nhanh, vì con chưa gặp ở đâu một môi trường nuôi dưỡng và an lành như vậy. Năm 2024, con tha thiết xin được thọ nhận Năm giới quý báu và bày tỏ ước nguyện được gia nhập vào dòng tu Tiếp Hiện. Nguyện vọng của con đã được toại nguyện. Mỗi lần thọ Giới, con đều ở trong hành trình tha thiết muốn được Giới, đúng kiểu như Thầy hay chia sẻ: nếu không thọ Giới được thì con không thể chịu được.

Thư này, con xin thưa với Thầy cách con đã khám phá thực tập pháp môn theo hướng cụ thể và thực nghiệm. Video mà Thầy chia sẻ về “Đức tin là hành trình khám phá” là nền móng cho con xây dựng đường hướng thực tập. Thầy nêu ra ba điểm mà một Đức Tin cần có: Có Thật (reality), có Đức – Có giá trị (quality)có Nghiệp – Có công năng (capacity, function). Con đã bám theo đó mà soi vào sự thực tập của mình, để nuôi dưỡng năm nguồn sức mạnh là Tín –  Tấn – Niệm – Định – Tuệ. Con cũng thấy như Thầy nói: càng tu, càng thực tập mình càng thấy Bụt mầu nhiệm, Pháp mầu nhiệm và Tăng mầu nhiệm.

Đức tin là Có Thật, thưa thầy. Con tin vào Bụt, vào chư Tổ, Thầy và vào Pháp môn như là một dòng chảy sinh động, có lịch sử, có nền tảng lý thuyết và thực hành cụ thể. Vì là sinh động, nên con nhìn vào Tăng thân, đặc biệt là biểu hiện nơi các học trò xuất sĩ của Thầy để con tìm ra cái Thật của Đức Tin nơi con. Qua thân giáo của quý thầy, quý sư cô, con có thể biết rõ thế nào là biểu hiện của bước chân thảnh thơi, là nụ cười hạnh phúc dịu dàng, là lời nói ái ngữ và sự lắng nghe từ bi, là ánh mắt chan chứa niềm thương mà vẫn đong đầy sự kính trọng  trước những nỗi đau và mặc cảm của con, khi con chia sẻ. Các học trò của Thầy gần gũi với chúng con, qua các khóa tu rất thường xuyên, qua các lớp học đều đặn hàng tuần. Cứ thế, những lời kinh tiếng kệ và các pháp môn thực tập căn bản của Làng được truyền tải cụ thể, tỉ mỉ mà lại rất từ từ, không áp lực. 

Đức tin nơi con là có Đức, tức là có chất lượng, đưa con đi về những nẻo đường thiện lành, hạnh phúc, chân thật. Năm Giới quý báu là các cột mốc hai bên đường, cho biết lối đi và giúp con tránh được những nẻo xấu ác. Năm Giới mênh mông mà cũng rất cụ thể, thưa Thầy. Tăng thân con thường xuyên học hỏi giới và pháp đàm hàng tháng, cứ tuần tự từng giới một. Con đã tự ứng cử vào nhóm dẫn chúng học giới của tăng thân ngay từ năm đầu tiên con tu học (năm 2023). Đến nay, con vẫn tràn đầy tha thiết mỗi khi tự mình tìm hiểu để chia sẻ về thực tập Giới hay cùng học Giới với tăng thân. Nhiều vấn đề tưởng như bế tắc trong quá khứ của con, đã được hóa giải trong những thời khóa như vậy. 

Con xin thưa với Thầy một ví dụ. Khi chồng con có bạn gái, người bạn ấy gặp con và nói với con rằng bạn ấy rất yêu chồng con. Chồng con cũng nói là rất yêu con, và cũng yêu bạn kia. Con hoang mang lắm, vì con thấy là rõ ràng con cũng yêu chồng con mà. Kiểu yêu thương đó dày vò cả ba người chúng con và lây lan đau khổ sang cả các cháu và bố mẹ các bên. Con bế tắc trong nhiều năm vì thấy cái ý “tình yêu không có lỗi” ấy, kể ra cũng có lý. Đến khi học Giới, con được Thầy khai thị, đại ý là “có một phép thử cho tình thương đích thực là tất cả các bên trong mối quan hệ đó đều thấy an lành và thanh thản. Nếu chỉ cần một trong các bên thấy đau khổ, ngột ngạt thì đó là dấu hiệu của tình thương không đích thực, hay nói cách khác, là trá hình của tình thương vướng mắc, gây đau khổ”. 

Con bừng tỉnh, nếu tất cả các bên trong mối quan hệ nói trên đều khổ đau, thì chắc chắn tình thương kiểu đó cần dừng lại để xem xét ngay. Vậy là con quyết định Dừng lại. Với sự nương tựa vào Năm Giới, con đã dần dần gỡ được những khó khăn trong mối quan hệ gia đình, chuyển hóa đau khổ, chia ly thành sự chân thành và hỗ trợ. Con mừng lắm, thưa Thầy. Vì việc đó rất kịp thời, khi các con của chúng con đã nhìn thấy bố mẹ chúng vượt qua khủng hoảng ra sao, và nếp sống đạo đức về tình yêu nam nữ đã được con thực hành thế nào. Quan trọng nhất, các cháu đã thấy được sự ngọt ngào hạnh phúc của cách sống theo Năm Giới của con, có công năng thế nào với bố các cháu. Thầy ạ, cháu nhỏ của con luôn biết ơn Thầy vì đã “làm cho mẹ con hạnh phúc” đó ạ.

Đức Tin nơi Pháp môn còn phải có công năng cụ thể. Pháp môn tu học đã được các học trò của Thầy chuyển đến chúng con bằng các hướng dẫn thực tập Hơi Thở, Bước Chân, và Nụ Cười. Con yêu thích nhất điều mà các học trò của Thầy hay chia sẻ là “chỉ bán hàng thật, không bán hàng giả”. Những gì quý thầy quý sư cô chưa thực tập được bằng chính cuộc đời các vị, thì không tự nhận mà sẽ lấy kinh nghiệm của Bụt, của Tổ, của Thầy ra chia sẻ. Vì thế, các pháp môn đều được truyền tải cho chúng con bằng cả sự sống của quý thầy, quý sư cô. 

Sinh hoạt của tăng thân xuất sĩ của Làng rất công khai với cư sĩ chúng con. Quý thầy, quý sư cô vừa làm việc chung, hướng dẫn khóa tu, cũng vừa làm việc chung với cư sĩ. Cách mọi người cư xử  với nhau làm con trân trọng lắm, kể cả những trục trặc phát sinh và cách đi qua những vấn đề ấy. Chính nhờ được các học trò của Thầy hướng dẫn chi tiết, tỉ mỉ và rất truyền cảm hứng, con đã tìm ra được chìa khóa thực tập cho chính mình. Đó chính là Kinh quán niệm hơi thở. 

Cuối năm 2023, con bắt đầu được học Kinh ở lớp Hương Hoa Chiều với hơn 10 buổi hướng dẫn hàng tháng. Hay lắm thưa thầy, con thích thú lắm với việc theo dõi hơi thở đơn thuần mà không áp lực điều chỉnh gì. Con không hợp lắm với sổ tức, mà con lại hợp với tùy tức. Con thực tập theo dõi hơi thở với một niềm tin sâu sắc vào Bụt, Thầy và các học trò của Thầy. Rồi con tiến tới theo dõi thân thể. Mầu nhiệm lắm thưa Thầy! Con đã có cuộc hội ngộ ngọt ngào và nhiều nước mắt với cơ thể con, như người lãng quên lâu ngày mới nhìn được mặt. Từng bộ phận một, con không bỏ qua bất kỳ bộ phận nào, được con gặp gỡ trở lại. Những ký ức đau khổ quá khứ ùa về theo từng lần quán chiếu đó. Con òa khóc thương mình. Con thương con trong cái ngày mà con đã đưa cả nắm thuốc ngủ vào miệng và tỉnh giấc ở khoa cấp cứu bệnh viện năm nào. Con thương con xót xa những lần ra vào bệnh viện. Con ôm ấp con những thời con bị cơn ghen tuông làm co quắp. Con thương lắm những lần con bị cơn đau khổ tràn lấp, nói năng lảm nhảm. Cứ thế, con không lùi bước, vì biết con có tăng thân và có quý thầy, quý sư cô bên cạnh, chỉ bảo, nâng đỡ. Đến giữa năm 2025, con đã hoàn toàn trở lại, tôn kính cơ thể con trọn vẹn, cả thân và tâm. Cuộc đoàn tụ ấy đã tái sinh con. Con đã là một dòng liên tục, từ quá khứ đến hiện tại và cùng nhau đi vào tương lai như một thể thống nhất. Từ đó, cảm giác vững chãi nơi tự thân con tốt hẳn lên, thưa Thầy.

Mấy hôm trước, con nhận được từ Youtube video “Con đường Thầy đi”. Trong bài pháp thoại, Thầy chia sẻ về hành trình từ lúc xuất gia đến khi Thầy tìm được pháp môn tu học cụ thể. Con nghe không biết bao nhiêu lần mà luôn xúc động với tấm lòng của Thầy, và biết ơn biết bao con đường mà Thầy đã khai phá. Thầm niệm lại trong lòng, con tự thấy con cũng đã đi theo đúng con đường mầu nhiệm đó. 

Kết lại lá thư này, con xin chia sẻ với thầy câu chuyện nhỏ dưới đây:

Đêm Giao thừa 31/12/2025, tại chùa Đình Quán, con đi Hội Xuân cùng bạn. Sửa soạn trang phục cho thời khóa Giao Thừa, con khoác lên mình chiếc áo Tiếp Hiện và khoe với bạn con: “Em là Tiếp hiện đấy, chị ạ”. Bạn con hỏi “Tiếp Hiện là gì hả Thảo?”. Ô, con hơi đứng hình, rồi mỉm cười và hẹn sẽ giải thích sau. Trong thời khóa Bình thơ đêm Giao thừa, sư cô Chơn Tâm chia sẻ một ý mà con nhớ mãi, đại ý là sư cô nói Bình thơ là nét văn hóa tâm linh của dân tộc Việt Nam, được Sư Ông làm sống dậy. Và sư cô xúc động nói: “Chắc Sư Ông cũng vui lắm khi cô học trò nhỏ của Thầy năm nào, đã ngồi nơi Thầy đã ngồi, để Bình thơ đêm Giao thừa như Thầy năm xưa”. Ý này cứ ngân nga trong con. Con mỉm cười vì con thấy mình  đang thật sự hòa vào dòng chảy tâm linh của Sư Ông và các học trò cư sĩ cũng như xuất sĩ của Người.

Sáng ngày 01/01/2026, khi ăn sáng cùng bạn,  tự nhiên con thấy mình có thể chia sẻ với bạn được câu hỏi đêm hôm trước một cách sống động, vì bạn con cũng có mặt ở buổi bình thơ đó. Con nói: “Chị ạ, khi em cảm thấy mình thương kính Thầy đủ nhiều, hiểu được phần nào tâm nguyện của Thầy, thì lúc đó mình sẽ xin thọ giới Tiếp Hiện, để nguyện cùng tăng thân tiếp nối con đường của Thầy”. Câu trả lời đó đi ra rất tự nhiên từ tâm thức con. Miệng con nói ra mà lòng con thấy an lạc lạ thường – cảm giác mãn nguyện và đủ đầy của một kiếp người đã có đường đi.

Thưa Thầy, con xin kính đảnh lễ Thầy với tất cả lòng biết ơn.

Học trò của Thầy, 

Chân Hương Tĩnh

 



“Nếu gọi tên Thầy, con sẽ tự khắc thấy Thầy ngay”

 

Thầy thương kính,

Một mùa xuân nữa lại đến thật gần, những ngày cuối cùng của năm đang tới. Không khí Hà Nội se lại, và con bắt đầu đếm: một, hai, ba, bốn; vậy là đã bốn mùa xuân kể từ lúc Thầy thành mây trắng thong dong. Dù cho con biết “đám mây không bao giờ chết”, nhưng chỉ nghĩ đến thôi, cơn xúc động lại trào lên, và nước mắt con lại chảy. Có lẽ con là một học trò còn bé dại, nên vẫn còn muốn được nương tựa nơi Thầy thêm chút nữa; thành ra nỗi nhớ thương vẫn vơi đầy, Thầy ơi.

 

 

Các bài viết về Thầy đã gọi tên thầy là “ancestor”, là “tổ tiên” mà con vẫn chưa thấy mình chấp nhận được chữ ấy. Mỗi khi về chùa, mỗi khi đến thăm một ngôi đền, được đọc, được nghe kể về một vị “tổ” nào đó, con vừa sinh lòng kính ngưỡng nhưng cũng thấy thật xa xôi. Con cũng không biết “vị tổ ấy” đã sống như thế nào và đã dạy những bài pháp nào, con cứ miên man với dòng suy nghĩ đó. Nhưng Thầy là Thầy của con, Thầy vẫn rất gần gũi ở đó, sao Thầy đã thành “tổ tiên”, mà con vẫn còn chưa lớn? Con chợt thấy con đường học đạo của mình còn xa xôi quá; và Thầy ơi, Thầy vẫn kiên nhẫn đợi con phải không, thưa Thầy? Mỗi dòng thơ Thầy viết khi xưa, con đã thuộc làu làu, mà bây giờ lần giở lại, mới thấy Thầy đã thật từ bi để con thấy mình được che chở:

“Thầy đã hoá thân làm đám bạch vân đem cho con bóng mát

Ðến giữa khuya đám mây đọng lại thành sương, cam lộ rơi từng hạt để con uống lấy trong cơn mê

Có khi con ngồi dưới vực sâu tăm tối, hoàn toàn cách biệt trời quê

Thầy đã hoá thân thành chiếc thang dài và nhẹ nhàng bắc xuống

Cho con leo lên vùng chan hòa ánh sáng

Ðể tìm lại được màu trời xanh và tiếng suối tiếng chim…”

(Bên mé rừng đã nở rộ hoa mai – Thơ Thầy)

 

Thầy ơi,

Sớm hôm làm người vất vả, giữa những trùng điệp phải – trái, đúng – sai, giữa những “bài thi” lớn nhỏ mà cuộc đời mang tới, không phải lúc nào con cũng có thể thở một hơi thở chánh niệm, nở một nụ cười tươi mát và bước đi thảnh thơi. Những khi ấy, con cũng tập sống một mình, để mà “đứng yên trên sóng” như lời bài kệ: 

“Quay về nương tựa

Hải đảo tự thân

Chánh niệm là Bụt

Soi sáng xa gần”. 

Những lúc “trầm luân bão nổi”, con luôn thấy có Thầy bảo hộ, trong tâm và cả trong thân, vì lời Thầy dặn, không khi nào con quên:

“Hãy rót cái nhìn dịu hiền

Từ đôi mắt

Hãy can đảm

Dù không ai hay biết

Và nụ cười em

Hãy để nở

Trong cô đơn

Trong đau thương thống thiết

Những người yêu em

Dù lênh đênh

Qua ngàn trùng sinh diệt

Vẫn sẽ nhìn thấy em.”

(Dặn dò)

Lòng từ của Thầy, trái tim rộng lớn của Thầy đã ôm ấp con, và ơn Thầy con làm sao tả hết. Thầy dặn “can đảm” – “dù không ai hay biết”, mà nghìn trùng sinh diệt những người yêu em “vẫn sẽ nhìn thấy em”. Không có một lời an ủi nào chấn động thân tâm hơn một lời giản dị như vậy, và cũng không có một tình thương nào có thể “bảo hộ” con tốt hơn một vần thơ của Thầy. Thành ra con tập biết “nghìn trùng sinh diệt” cũng là tình thương bởi con có “tay Thầy trong tay con”.

Thầy thương kính,

Ðể tưởng nhớ Thầy, con gieo một nắm hạt cải để chờ “bướm bay vườn cải hoa vàng”. Con cũng gieo một ước nguyện được làm học trò Thầy ở muôn vạn kiếp. Con vẫn mong được xem sách Thầy viết và vẫn muốn được nghe Thầy giảng Pháp, Thầy ơi!

Con của Thầy,

Nguyên Đức

 

Thư gửi Thầy!

 

Huế, 10.10.2025 

Thầy kính thương,

Hôm nay, anh chị em trong Tăng thân trẻ chúng con có cơ hội trở về chùa, sinh hoạt ở phòng thở Thầy đây. Bước vào phòng, con cảm thấy rất ấm áp. Khi thấy quý sư cô đang chuẩn bị những thước phim về Thầy để chiếu cho đại chúng xem trong buổi sinh hoạt tối nay, từng chiếc bồ đoàn được chiếu ngay ngắn, từng ly trà nóng thơm thơm bởi tình Tăng Thân – uống vào, chúng con cảm thấy ngon và biết ơn thiệt nhiều.

       “Chén trà này, khung cảnh này, ngàn năm đâu dễ có ngày hôm nay”.

Biết ơn Thầy đã thắp sáng con đường cho con đi. Để mỗi ngày trôi qua, con sống chân thật và hết lòng hơn với sức khoẻ, tuổi trẻ, gia đình; và con thương yêu Ba Mạ, anh chị em con thiệt nhiều.

Nhìn lại chặng đường mười năm qua, từ khi con bị bệnh đến bây giờ, khi có đủ nhân duyên, phước đức gặp Thầy, gặp Tăng Thân và được thực tập đều đặn, con đã học hỏi và thực tập được rất nhiều điều mà Thầy trao truyền. Con đã biết chấp nhận những mặc cảm yếu kém, căn bệnh của mình, để sống vui và trân quý hơn những điều kiện hạnh phúc mà con đang có. Đó chính là lòng biết ơn. 

Hồi trước, khi chưa gặp Thầy,  con chưa biết sống như thế nào mới gọi là biết ơn. Lòng biết ơn trong con lúc đó còn rất hời hợt và có đôi khi vô tâm lắm. Nhưng từ khi được Thầy mở đôi mắt của con ra, như được tái sinh thêm một lần nữa, con đã biết sống trọn vẹn hơn mỗi ngày. Biết ơn vì con có một gia đình, Ba Mạ và anh chị em luôn yêu thương, đùm bọc, nâng đỡ lẫn nhau. Con biết ơn đôi mắt còn sáng, để mỗi sáng nhìn thấy Ba Mạ vẫn còn đó cho con, thật lòng và ấm áp. Con biết ơn anh Lớn luôn là người bạn đồng hành, kiên nhẫn, thương yêu, dìu dắt con qua nhiều gian khó. Con biết ơn quý Thầy, quý Sư cô và Tăng thân, những người vẫn luôn là sự tiếp nối đẹp của Thầy, để chúng con được tắm mát trong dòng sông tâm linh đầy nuôi dưỡng.

Tình thương và sự có mặt chân thành luôn chữa lành tất cả mọi vết thương. Chính bản thân con đã được trải nghiệm và con có niềm tin rất sâu sắc. Mỗi lúc nhìn Thầy, dù chỉ qua những bài pháp thoại hay những trang sách, nhưng lúc mô con cũng thấy ấm áp, gần gũi và đồng điệu. Càng thực tập, con càng trân quý “sự có mặt“ của những người thương yêu đang ở bên cạnh một cách trọn vẹn và hết lòng.

Con biết ơn Thầy đã làm tái sinh cuộc sống của con thêm một lần nữa. Dù là ở trong hoàn cảnh nào, con cũng đang sống, đang thở, đang cười, đang cầm gậy bước đi thiệt vui. 

      “Con nguyện xin đem Thầy đi về tương lai thiệt đẹp”.

Con biết ơn Thầy nhiều lắm…

Con, Khoẻ

 



Đi gặp những mùa hoa – Phần III

 

                  HẠNH THIÊNG NGUYỀN TIẾP NỐI

                                                                Từ Hiếu – Diệu Trạm, ngày 24 tháng 4 năm 2025

Sư Ông thương kính của chúng con,

Trở về từ Đại Giới đàn Nước Tĩnh và khóa tu xuất sĩ Gìn Giữ Nếp Nhà tại tu viện Vườn Ươm – Làng Mai Thái Lan, chúng con có nhiều niềm hạnh phúc muốn chia sẻ cùng Sư Ông và Tăng thân.

Tu viện Vườn Ươm đã đón chào hơn 300 người con về với không gian thênh thang của núi rừng Khao Yai. Từ trên xóm Trời Quang xuống đến xóm Trăng Tỏ, niềm vui hội ngộ nở rộ nơi từng góc nhỏ. Dù đã nhiều lần hay chưa từng đặt chân đến, chúng con đều dâng lên trong lòng những niềm thương mến với mảnh đất này, với những con người đang dựng xây một nơi cằn khô sỏi đá trở nên thánh địa. Vì “Đã trót thương tàng cây đung đưa, bầu trời đung đưa, ghế treo đung đưa trên bãi cỏ một sớm nắng xiên tựa hàng me gió hiền nhè nhẹ thổi nơi Vườn Ươm hôm ấy đàn con trai con gái áo nâu của Bụt vui đùa, ấu thơ về lại; gia tài vẫn giàu Chánh Pháp, giúp nghèo Khổ Đau, tiếng cười theo gió, vang vào thiên thâu.” (Trót thương – Chân Trời Hải Thượng) 

Những ngày được tham dự các buổi lễ Rước Giới Bổn, Truyền Giới và Truyền Đăng đã thắp lên ngọn lửa bồ đề trong chúng con thật sáng tỏ và rõ ràng. Chúng con thấy được sự vĩ đại, trang nghiêm và hùng tráng của Tăng đoàn – nơi dòng chảy chánh pháp tiếp tục được trao truyền qua các thế hệ. Giữa khung cảnh đó, khó có ai mà không cảm thấy chấn động trong lòng. Nhất là khi chứng kiến các sư anh, sư chị thế hệ Trời và Trăng tiếp nhận ngọn đèn chánh pháp. Chúng con cảm thấy vô cùng khâm phục và biết ơn trước hành trình nỗ lực không ngừng nghỉ của quý thầy, quý sư cô – để ngày hôm nay, có thể nhận lấy ngọn đèn như một sự tiếp nối thiêng liêng đầy trách nhiệm. 

Ngọn đèn đó còn là sự chở che, là niềm tin cậy và sự gửi gắm mà Bụt, chư vị Tổ sư và Sư Ông muốn truyền trao cho các thế hệ con cháu. Là tình thương thầm lặng, đậm đà của Sư Cố đã nuôi dưỡng và yểm trợ Sư Ông trong suốt những tháng năm khó khăn ở nước ngoài. Là đức tin vào tương lai và niềm hạnh phúc lớn của Sư Ông khi thấy các con sống và làm việc yên lặng, hòa thuận như một đàn ong, và trong tình huynh đệ. Cho dù có khó khăn đến mấy, chúng con biết rằng mình đang được Sư Ông ôm vào lòng. Để những niềm thương và tin cậy nơi Người trở thành những ánh lửa ấm áp giữ cho bền bỉ, cho tươi mới trái tim ban đầu của chúng con.

Trong những giờ phút linh thiêng và xúc động ấy, chúng con phát khởi trong mình một lời ước nguyện mạnh mẽ: được lớn lên trong dòng chảy tâm linh này để góp phần làm lớn rộng thêm sự nghiệp của Bụt Tổ. Ước nguyện đó đi cùng chúng con – vượt qua những nghi ngờ và chán nản, cùng các sư anh, sư chị xây dựng tương lai ngay chính bây giờ để có thể đền đáp ân tình cao thâm nghìn trùng của Thầy Tổ. 

Cúi mình lạy xuống nơi thiền đường Voi Trắng, chúng con mong ước cho tất cả các anh chị em chúng con dù ở bất cứ nơi đâu cũng đều chế tác được bình an, hạnh phúc cũng như có thể chấp nhận, bao dung cho những lỡ lầm, vụng dại của nhau để cùng đi trọn con đường.

Sư Ông kính thương, trên hành trình đó chúng con không hề đơn độc vì phía trước luôn có quý sư cha, sư mẹ, sư anh và sư chị của chúng con. Như những dây leo được lên cao nhờ thân cây tùng, cây bách, chúng con phải nương vào lý tưởng cao đẹp và các bậc đại nhân thì mới có thể trở nên người hữu dụng mà làm lợi ích cho thế gian. Vì vậy, mỗi khi có cơ hội được thân cận quý sư cha nơi chùa Tổ, chúng con luôn khởi lên ước muốn được lắng nghe những chí nguyện, thao thức lớn về công trình tiếp nối sự nghiệp chư Tổ mà các sư cha đang gầy dựng.

 

 

Tăng thân muôn dặm một nhà 

Sư Ông từng dạy “càng cắm rễ sâu vào tăng thân chừng nào thì nền tảng của sự thực tập của mình càng vững chắc chừng ấy”. Vì vậy “làm thế nào để xem Tăng thân là nhà, xem đây là tình gia đình?” là một câu hỏi lớn trong cuộc đời tu của chúng con. Sư cha Mãn Thành đã luôn phát nguyện đi theo tăng thân với tinh thần của một dòng sông, không bao giờ chịu làm hạt nước nhỏ, chúng con được học hỏi cách hòa vào dòng sông ấy để thảnh thơi về tới đại dương mênh mông:

“Đối với Mãn Thành, chùa Tổ là nhà của mình. Và từ lâu rồi khi Mãn Thành có ý thức hơn, từ ngày thọ giới lớn, đặc biệt là khi cúi xuống nhận ngọn đèn truyền đăng, nhận lấy sự nhắn nhủ, Mãn Thành thấy nơi này là nơi nuôi cả cuộc đời của mình. Và mình phát nguyện, dù ở góc nào, nếu còn rác, cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, từ trong lòng mình ra đến bên ngoài, mình sẽ luôn cố gắng dọn dẹp, làm cho góc đó sạch đẹp hơn. Những người anh em nào ở chùa Tổ cũng đều có chung suy nghĩ như vậy. Mỗi buổi sáng, những ngôi chùa đều có một nếp sinh hoạt rất ấm áp và dễ thương. Mục đích chính của nếp sinh hoạt này không những để chăm sóc không gian của chùa mà còn là một thông điệp sâu sắc. Mỗi công việc được chia ra cho quý thầy và luân phiên với nhau: chăm sóc chánh điện, làm ở thiền đường, lo ở nhà bếp, dọn nhà vệ sinh, quét lá ở hồ Bán Nguyệt và những con đường,… Ai cũng cố gắng làm cho ngôi chùa đẹp nhất có thể với tất cả khả năng của mình. Và quý thầy đều cảm nhận rằng đây là ngôi nhà chung của mình chứ không phải là một nơi mình đến rồi đi. Chùa Tổ là nhà, là gốc gác của mình rồi.

“Đã là nhà của mình thì phải ở thôi và làm cho nó tốt lên mỗi ngày, dù như thế nào cũng không có thái độ từ bỏ. Quý thầy đi xa rồi trở về cũng đều thấy, ai được ở chùa Tổ nơi núi rừng này là những người có diễm phúc nhất, phước đức nhất vì không phải rong ruổi. Mình đang ở trong một kho gia tài rất lớn, và ở đây chỉ có làm cho mình giàu có lên thôi. Ở chùa Tổ mình có hết rồi – mình có không gian, có thời gian, có những bậc thầy – thì không bao giờ mình phải đi tìm, phải làm thân cùng tử nữa. Vì vậy mình phải chấm dứt cuộc đời lãng tử để tiếp nhận được gia tài ở đây, không đâu khác nữa. Có cái thấy rằng đây là nhà, là nơi có đủ để phát triển bản thân mình từ chiều sâu đến chiều rộng nên mình ở lại, làm sáng lên con người của mình. Và khi đã hoàn thiện được tự thân thì sẽ thắp sáng lên không gian này.

“Thỉnh thoảng vào buổi khuya Mãn Thành thích đi dạo quanh vườn tháp chùa Tổ. Ngồi bên cạnh tháp của Ngài Đệ Nhị đọc những dòng tự bạch cùng 15 lời đại nguyện của Ngài làm mình chấn động. Ở bên tháp ngài Huệ Minh, thầy thấy được cuộc đời Ngài hiện ra. Lâu lâu thầy về tháp Sư Cố hay đi quanh thất Sư Ông,… Ở đâu mình cũng chạm đến, tiếp xúc được với những nguồn xúc thực, tư niệm thực và thức thực của quý Ngài. Các sư em sẽ cảm được rằng quý Ngài đã dọn sẵn những “món ăn” rất ngon lành để mình tự nhiên đón nhận vào lòng. Ở đây không thiếu gì của một con người để mà tìm cầu nữa. Có thiếu thì thiếu một điều duy nhất, là thiếu sự tinh tấn, mình chưa hết lòng, chưa chuyên tâm đủ, để rồi những lang thang, ham muốn dẫn mình đi xa.”

Nối nghiệp Tổ lưu truyền

Được lớn lên từ sự nâng đỡ, chở che của những bậc thầy đi trước, lý tưởng tu học của sư cha Từ Hải được hun đúc nên từ hoa trái đẹp đẽ mà các thế hệ tiền nhân đã dày công vun trồng. Sư cha đã luôn thao thức, âm thầm gìn giữ gia tài quý giá của Thầy Tổ. Ngày hôm nay, khi được lắng nghe sư cha Từ Hải, chúng con nhận ra bao hoa trái của Sư Thúc đang tiếp tục biểu hiện nơi sư cha:

“Thầy phát nguyện rằng dù đi đến đâu, ở trung tâm nào, thầy cũng sẽ học cách để hòa vào với nơi đó. Thầy nghĩ, dù có khác biệt ngôn ngữ, văn hóa hay thế nào đi nữa, mình cũng đang cùng đi trên một con đường, cùng hướng tới sự tỉnh thức và thương yêu. Phải làm sao để có thể sống chung được. Quan trọng là mình đừng để cái ngã dẫn dắt mình đi. Phải chăm sóc và chuyển hóa cho được những mặc cảm hơn, kém, bằng. Tập buông xuống cái tôi cá nhân, để hòa đồng, học hỏi với huynh đệ. Nên hoan hỷ và buông bỏ là những thực tập thầy học hỏi mỗi ngày trong đời sống của mình. Có những lúc thầy không vui với anh em, tập khí nóng nảy nổi lên, có nói những lời không dễ thương với nhau. Nhưng chỉ trong lúc đó thôi, nhiều lắm thì một, hai tiếng sau là xả, không để trong lòng. Điều đó tuy không dễ, nhưng vấn đề là mình muốn thực tập buông bỏ cho được để cùng nhau chung sống và xây dựng.”

Bên cạnh đó, sư cha còn cần mẫn vun trồng những đóa hoa thơm ngát của Sư Cố, Sư Ông và của những vị Bồ tát thầm lặng đi vào cuộc đời:

“Thầy luôn cảm thấy mang ơn dòng truyền chưa từng đứt đoạn của chùa Tổ. Thầy ao ước mình có thể tiếp nối được một phần nào công hạnh của chư vị Tổ sư để dòng truyền thừa sẽ còn được tiếp tục. Sư Cố là một vị thầy đức độ, hiền dịu và khiêm cung. Mỗi khi nhắc đến Sư Cố, là các ôn, các mệ – những người từng nhận được ân tình của Sư Cố, đều cung kính gọi Sư cố là Ôn Mậu Thân. Mậu Thân (1968) là năm Sư Cố viên tịch. Thời xưa rất nghèo, mà cứ vào mỗi dịp Xuân về,  Sư Cố thường hay mua một thẻ hương, một chai xì dầu. Thêm mấy trái bùi chùa Tổ, Ngài chống gậy đi tặng cho những gia đình ở quanh chùa. Xóm giềng là thành trì bao quanh một ngôi chùa. Hành động kết nối đó cho họ cảm nhận được tình thương của nhà chùa đối với người dân. Là đệ tử của Sư Cố, Sư Ông đã tiếp nối hành động này, không chỉ ở Việt Nam mà sang tận miền Nam nước Pháp. Thầy rất muốn giữ gìn được tinh thần đồng sự, tiếp xúc gần gũi với quần chúng như Sư Cố ngày xưa đã từng làm và Sư Ông đã tiếp nối, truyền trao. 

Những năm thập niên 60, Sư Ông đã đưa ra khái niệm “Đạo Bụt dấn thân” (Engaged Buddhism) trong thời cuộc chiến tranh để làm mới lại sức sống đạo Bụt, để đưa đạo Bụt đi vào cuộc đời, phụng sự cuộc đời. Bây giờ là thời bình, nhưng những niềm đau, nỗi khổ vẫn còn đó. Nếu con đường phụng sự xã hội bằng thái độ cởi mở, phá chấp của Sư Ông không được thế hệ sau tiếp cận, học hỏi và tiếp nối để phụng sự thời cuộc, thì đạo Bụt làm sao còn có thể dấn thân? Thầy không làm được những công việc to lớn như chư vị. Làm được chừng nào thì thầy làm chừng đó. Gần đây nhất là khi đi Lào Cai, thầy được cùng với đoàn cứu trợ tiếp tế lương thực và vật dụng cho bà con sau trận bão Yagi. Khi nhìn cho sâu sắc những nỗi khổ của họ, thầy nhận thấy rõ là mình đang có rất nhiều may mắn khi được tu học. Điều đó làm phát khởi trong thầy mong muốn thực tập cho tinh chuyên hơn nữa, để góp đôi bàn tay của mình vào ước nguyện chung “sáng cho người thêm niềm vui, chiều giúp người bớt khổ” của Tăng thân. Đó là hướng đi mà thầy lựa chọn, xuất sĩ và cư sĩ cùng đồng hành với nhau. Trong đó, thực tập chánh niệm là yếu tố đầu tiên và đặt nền tảng cho những sự phát triển khác.”

 

 

 Vì biết tình thương hôm nay còn đủ sưởi ấm ngày mai 

Trong khi đó, một trong những hạnh nguyện mà sư cha Từ Tế và sư cha Mãn Thành đang tiếp nối là mong muốn nuôi dưỡng thế hệ tương lai.

Sư cha Mãn Thành đã lớn lên từ những năm tháng niên thiếu đầy nghịch ngợm, hoang dại, hiếu kỳ và khao khát. Đi qua những trải nghiệm ấy, sư cha hiểu được một phần tâm tư của các sư em nhỏ. Và từ đó, ước nguyện “nâng đỡ và trao truyền cho các sư em” luôn dẫn dắt sư cha trên con đường tiếp nối và phụng sự. Có lẽ Sư Thúc của chúng con đang mỉm cười tin tưởng và khích lệ với những thao thức chân thành ấy. 

“Mãn Thành rất “tham lam” khi nhận thấy mình mong muốn cho các em sau này sẽ tốt hơn thế hệ của mình, sẽ vững chãi hơn và tránh được những chuyện lòng vòng mà mình đã trải qua. Khi vào chùa, điều đầu tiên là để hạnh phúc, xa lìa những thứ khổ đau của cuộc đời đã làm mình chìm xuống và trôi lăn trong vòng tranh chấp. Vì vậy Mãn Thành luôn mong các sư em có được đức tin và đạt được thành tựu của một người tu. Mình là những người đệ tử may mắn vì Sư Ông dạy rất kỹ những pháp hành, những giáo lý và mình có rất nhiều những chỉ bày và cảm hứng từ cuộc đời Sư Ông. Thế nên, các sư em phải nắm cho được pháp của Sư Ông, học cho thấu đáo và làm những gì Sư Ông dạy thật cẩn trọng. Vì chính sự học hiểu và hành trì đó sẽ giúp các sư em trau dồi nội lực để đi tới. Còn nếu vào chùa chỉ để có môi trường thuận lợi, nhàn rỗi mà thỏa mãn với những tiện nghi cá nhân bình thường thì sẽ không bao giờ đi xa được. 

“Rồi đến lúc có sự va chạm, tự thân mỗi người tu phải phát sáng lên, phải đốt cháy những thứ còn tồn đọng trong năng lượng của mình và hướng về sự tỉnh thức. Năng lượng của sự kiên trì, miên mật khi được đốt lên sẽ tạo ra sức nóng giúp quả khinh khí cầu bay lên cao. Còn khi không đủ sức nóng nữa, như lúc Bồ đề tâm bị xói mòn, thì khinh khí cầu sẽ hạ xuống và không còn trông thấy được những khung trời cao rộng. Thành ra Mãn Thành luôn luôn thao thức. Bây giờ mình có con đường, có pháp môn, có cách điều hợp chúng rồi đó, nhưng phải luôn luôn uyển chuyển, phải làm sao cho nhịp nhàng, tương ứng, và tạo ra sức khỏe thân thể và tâm hồn. Trên cả những trăn trở đó, Mãn Thành luôn đặt niềm tin vào các sư em và tạo ra những cơ hội, thử thách để các em vươn tới, chủ động hơn và tiến xa hơn nữa.

“Đối với Mãn Thành, chỉ khi nào mình rơi xuống tận cùng, khi mà khó quá rồi, khổ cùng cực không chịu nổi nữa thì mình mới dùng những từ “khó khăn”, “khổ đau”. Còn những vấn đề nhỏ hơn, ngày xưa thầy nhìn khác, vì mình thường hay đổ lỗi. Các sư em chưa dễ thương, đại chúng có chuyện này chuyện kia khiến mình lùi bước hoặc đứng qua một bên. Nhưng bây giờ Mãn Thành nhìn rõ đó là tính hữu cơ của một dòng chảy. Dòng chảy luôn gặp trắc trở; quan trọng là khi gặp trở ngại mà dòng mạch vẫn tiếp tục, vẫn hướng tới nơi cần đến, sống cùng nhau trong một Tăng thân như những gì Sư Ông và Sư Thúc đã tạo ra, thì tự nhiên tính sáng trong mình tự đi tới thôi. Và khi những chuyện đó xảy ra thì biết mình đang như vậy vì nguyên do của nội tại, không phải vì ngoại tại. 

“Nhận thức ở chùa giúp mình hiểu rõ: mình là một sự tồn tại đẹp đẽ trong trú xứ  này, mình là nhịp nối của những thế hệ trước mình và sau mình. Thành ra làm sao huynh đệ mình có thể tạo ra sự liên kết hài hòa của một cỗ máy, chứ không phải mình xem mình là ai. Làm sao để đi qua những khúc cua cho mượt mà, nhịp nhàng, đừng có để lật. Mà nếu có lật, thì cũng phải lồm cồm ngồi dậy. Hư là phải sửa chữa, nổ máy đi tới và tìm ra nơi chốn mình muốn đến. Cỗ máy vốn có đường về, nhiều khi vì một chút sơ sẩy mình bước trật ra khỏi con đường đó. (Lạc đường cũng vui vì mình có cơ hội khám phá ra con đường mới). Cái quan trọng là cuối cùng mình đến được đích.”

Với chúng con, “ngọn đèn tiếp nối” của tuổi trẻ thật đẹp đẽ với lý tưởng cao cả, kiên định. Dù có lúc le lói, ánh lửa vẫn âm ỉ cháy và được tiếp thêm sức mạnh bởi niềm tin vào chính mình và vào sự thực tập. Còn ngọn đèn của sư cha Từ Tế – đã đi qua biết bao mùa nắng mưa, sương gió – vẫn đang tỏa sáng ấm áp cùng chí nguyện độ đời, giúp người. Đó là cách sư cha báo đáp công ơn sâu dày của Thầy Tổ.

 

 

“Các con biết không. Niềm vui của người tu không phải của riêng mình, mình có được là nhờ phước báu của Bụt Tổ, của người đi trước, của những thiện tri thức. Thiện tri thức là những người nâng đỡ, hướng dẫn mình trên con đường thực tập. Nhưng ngay cả những người gây khó khăn, thử thách cũng là những thiện tri thức của mình. Các con đừng thấy chướng ngại mà cho đó là cái không tốt. Vì chướng ngại cho mình lớn lên trên đường tu. Nếu thầy không bị bệnh nặng thì chưa chắc thầy đã thực tập ngồi thiền, chưa chắc thầy đã thực tập Thái cực quyền, đã nghiên cứu trị liệu sức khỏe bệnh tật như bây giờ. Vì cơ thể có bệnh nên mình mới bắt đầu nghiên cứu, và nó có dáng dấp nên mình đi vào thiền tập rất dễ.

Và thầy thấy mình được hun đúc bởi nhiều phước đức của tổ tông, cùng tình thương yêu và sự yểm trợ của Thầy và huynh đệ xung quanh. Vì vậy, thầy tự nhắc mình phải tu học sao cho không phụ lòng các bậc tiền bối và Tăng thân. Do đó, mỗi khi đủ sức khỏe và thời gian, thầy luôn nuôi dưỡng tinh thần có mặt cùng đại chúng trong các lớp học và các khóa tu.

“Khóa tu nào đi được thì thầy đi, chỗ nào có khó khăn thì thầy giúp. Mặc dù đi khóa tu không đơn giản. Vì khi sức khỏe không đủ, đi máy bay thầy dễ bị say, và thời khóa liên tục thì mệt hơn nhiều so với việc ở nhà. Thế nhưng khi gặp các vị Phật tử thân quen thì thầy vẫn muốn tiếp xúc, hỏi han nhiều. Người ta có niềm vui thì thầy thấy không uổng phí đời mình sinh ra, không uổng phí cuộc đời thực tập. Giúp người ta thoát được chút nào khó khăn là hạnh phúc rất lớn của thầy. 

Trong các lớp học của các sư em hay của các bạn thiền sinh, thầy không quan tâm ai vắng, ai đi học. Không phải thầy không biết ai vắng nhưng thầy không phán xét. Các vị đề nghị thầy phải ra bài tập hay kiểm tra để mọi người chia sẻ sự thực tập. Nhưng thầy thấy điều đó không thật sự cần thiết. Bởi người tu cần thời gian thì mới lớn lên được. Còn các vị cư sĩ vừa lo chuyện vợ chồng, con cái, thời gian đâu mà thực tập. Chỉ cần thực tập được một chút thôi cũng đã rất lợi lạc rồi. Không cần phải thực tập để đạt cho được một thành tựu gì cả. Chỉ cần khi gặp khó khăn, mình biết trở về với hơi thở, thực tập để nuôi dưỡng thân tâm và giữ được sự cân bằng trong đời sống.

“Thầy chỉ dạy dỗ, trao truyền, khích lệ làm sao cho tốt lên. Chứ mình đừng phán xét, trách móc, đòi hỏi cái này, cái kia mà mình tháo gỡ ra đó mới là người tu. Cái đó mới chính là mình đang trả ơn Bụt Tổ, nhớ đến ơn người đi trước, Sư Ông, Sư Thúc. Cho nên trách nhiệm của người tu là phải có chánh niệm, có cái trí. Cái trí là không giải quyết vấn đề với tâm phán xét, đúng sai, dễ thương hay dễ ghét, mà tìm cách tháo gỡ ra. Vì sao vị đó không thích cái này là biết có vấn đề. Mình làm cho vị đó thích hoặc tìm cái khác khiến họ thích hơn. Giúp cho người ấy có khả năng an trú được trong Tăng thân mới chính là người trí. Đừng đặt nặng vấn đề giữa mình và người, đúng và sai, mà luôn tìm cách nâng nhau lên. Khi thầy thấy vấn đề này nọ, thầy không đặt quan niệm đúng sai, phải trái, cái này cái kia mà cứ để tự nhiên nhờ vậy mọi người thấy dễ chịu hơn.

Sư Ông từng dạy: “Không ai là không có tài năng, nếu không có tài này thì có tài khác. Một tài năng căn bản là sống không có vấn đề ở trong chúng”. Là khả năng thực tập ổn định của mình. Chỉ cần thực tập vững là vị đó đã đóng góp được tính vững chãi, bình an và hạnh phúc cho Tăng thân. Còn thành đạt cái gì chưa biết nhưng đời sống mình đừng làm người khác buồn là được. Đôi khi mình đưa ra các tiêu chuẩn, tiêu chí rất lớn. Nhưng trồng cây thì cần có năm tháng, mình ép cho cây phát triển thân lá nhanh quá nhưng bộ rễ chưa vững chắc thì chỉ cần một cơn bão thôi là bật gốc liền. Đời tu cũng vậy, không thể nóng vội mà phải cần thời gian bồi đắp, trau dồi. Tuổi tập sự, sa di các con còn nhỏ cứ vừa tu vừa chơi, tu là rèn luyện thêm vi chất và chơi là va chạm để mình đụng chạm gió sương mà cứng cáp thêm. Khi đã có gốc rễ vững vàng thì đi đâu mình cũng không mất gốc.”

Thưa Sư Ông, chúng con ý thức rằng, giây phút nào chúng con nuôi lớn được năng lượng của lý tưởng và Bồ đề tâm thì giây phút đó chúng con đang thực sự sống xứng đáng với tư cách của người tu. Lý tưởng chính là nhịp đập trong trái tim của mỗi người xuất sĩ, và lý tưởng âm thầm nuôi dưỡng đời sống tu học của chúng con. Bên cạnh đó, chính những sự thực tập rất đơn giản mà vô cùng đẹp mỗi ngày cũng đang từng bước tưới tẩm và làm lớn mạnh chí nguyện của những người con Bụt. Mỗi khi cài từng nút áo nhật bình, chúng con có mặt với  trọn vẹn ý thức rằng, màu nâu sồng của tấm áo vách núi là một lời nhắc nhở cho chúng con về nếp sống thanh bần, giản dị, và về nguồn năng lượng Bồ đề tâm hùng tráng của một người tu.

Thầy trò mình vẫn tiếp tục leo đồi thế kỷ, hiến tặng yêu thương, hiểu biết, thảnh thơi và vững chãi cho cuộc đời hôm nay và mai sau. Con đường xuất gia không phải là một xa lộ êm ái mà là một con đường cheo leo. Thế nhưng, chúng con chỉ cần đi từng bước nhỏ, biết tự khích lệ mình, mỉm cười chào nhau và kiên trì đi tiếp, thì nhất định chúng con sẽ có thể leo đến đỉnh đồi, với rất nhiều niềm vui và hạnh phúc.

Đường Xưa Hoa Nở – Để tạm kết “Đi Gặp Những Mùa Hoa” 

Sư Ông kính thương, những bức thư “Đi gặp những mùa hoa” là chùm niềm vui nho nhỏ các sư bé chúng con kính dâng lên Sư Ông. Những dòng chữ đã được viết nên từ niềm hạnh phúc và biết ơn đối với dòng chảy chánh pháp đang lưu nhuận nơi trái tim tinh khôi và niềm tin vững chãi của chúng con. Sư Ông có hạnh phúc không ạ? 

Chúng con biết sự có mặt của quý sư cha, sư mẹ, sư anh, sư chị của chúng con qua năm tháng là những đoá hoa nở ra từ nụ thơm trong của nguyện ước thuở ban đầu mà chư vị Tổ sư đã truyền đạt lại. Sự có mặt đó cũng chính là gia tài tâm linh quý báu mà thế hệ chúng con đang được tiếp nhận. 

Chúng con sẽ cùng nhau viết tiếp câu chuyện nơi suối nguồn tâm linh này bằng chính sự thực tập của tự thân. Để những đóa hoa đức hạnh tiếp tục nở rộ, dâng hiến cho đời hương thơm của tình thương, tự do và hạnh phúc.

Hướng về Sư Ông với tấm lòng hiếu thảo và kính thương.

Chúng con, các sư bé Diệu Trạm của Sư Ông.

 

 

ĐI GẶP NHỮNG MÙA HOA – PHẦN I

ĐI GẶP NHỮNG MÙA HOA – PHẦN II 



Đi tìm lá tía tô và bông cải vàng trong thơ Thầy

                                                                               

Lá thơm còn đó, hoa vẫn còn đây

Thầy đã hóa thành mây trắng thong dong, nhưng di sản của Thầy vẫn là một nguồn sống vô tận nuôi dưỡng con người, để con người được thật sự sống. Có những học trò  nghe một bài pháp thoại của Thầy mà “chạm” được những điều sâu sắc trong lòng;  có người thì chỉ nhờ một câu thư pháp Thầy viết mà biết bao khổ đau dần lắng dịu tựa như sóng gió thôi xôn xao trên mặt nước hồ thu; cũng có người đọc sách của Thầy mà tìm thấy một lối đi cho cuộc đời mình. Với con, con “gặp” được Thầy, nhận được tình thương và lòng từ của Thầy qua những vần thơ Thầy viết. Có lẽ, con được Thầy “nuôi lớn” trước hết chính bởi những vần thơ dung dị, nơi mùi lá tía tô thơm hương vị quê nhà và sắc hoa cải vàng đẹp như màu nắng mai lên.

 

 

Lá tía tô – Hương quê nhà và bàn tay mẹ

Lá tía tô trong thơ Thầy chính là lá tía tô quê mùa bình dị, chính là chiếc lá rau màu tím, là chiếc lá cỏ thơm mọc nơi góc vườn, bên bậu cửa, trong rổ rau mẹ hái để chuẩn bị cơm chiều. Mỗi khi làm bếp, ngắt chiếc lá tía tô còn vương mùi đất, con lại thầm đọc:

“Một bữa cơm trời mưa
hương tía tô
thu tóm quê nhà sắc, hương, hơi thở.”
(Tôi về lật lại trang xưa, 1971)

Thành ra hương tía tô còn ướp hương của một buổi chiều mưa và dậy mùi canh nóng giữa mùa đông; hương tía tô còn mang theo  hơi thở của mẹ, tiếng ru ầu ơ thuở bé, và bỗng chốc quê nhà xa xôi hóa thành quê nhà trong lòng bàn tay. “Breathe, you are alive” -“Thở vào, bạn đang còn sống”, vậy là chỉ một hơi thở vào Thầy giúp con thấy ngay sự sống, thấy ngay được “quê hương nơi này”.

“Lá tía tô thơm
hương mùa thu mới chín.”

(Tôi về lật lại trang xưa, 1971)

Những câu thơ của Thầy luôn nhắc nhớ một miền ký ức êm đềm, nơi quê nhà yên ấm, nơi tình thương có mặt, nơi mỗi bữa cơm là sự đoàn tụ, sum vầy. Thầy viết những câu thơ có màu Việt Nam nhất khi Thầy xa quê trùng trùng cách trở. 

Có phải Thầy đang dạy con tinh thần “hiện pháp lạc trú”, biết an trú trong từng phút giây hiện tại không, thưa Thầy?

Ở một bài thơ khác, một lần nữa lá tía tô biết gọi mùa thu về. Chỉ mấy chữ đơn sơ,  Thầy nhắc con “trở về”. Lá tía tô trong thơ Thầy gợi lên trọn vẹn một mùa thu chín, không vì lời, mà vì con có thể chạm vào được hương vị của sự sống thật chân thật trong đó. Một khung cảnh an vui, mấy lời thơ tưởng như như tả cảnh ngày mùa, nhưng thực ra đó là lá tía tô trong bài thơ có tựa là “Bướm lạc quê hương” (1973). Lúc này, Thầy đã xa quê 10 năm có lẻ. 

“Lá tía tô

Hương mùa thu mới chín

Chim hót lá xanh

Trời mây bình lặng.”

Lá tía tô còn xuất hiện trong bài “Ý thức em mặt trời tỏ rạng” (1972); lúc này lá tía tô không chỉ là một điều bình dị mà như một phép mầu của đất Mẹ:

“Đất mẹ cho em hương quế tần ô
Tía tô rau húng rau ngò mầu nhiệm.”

Từ “mầu nhiệm” của Thầy thật là mầu nhiệm, gây cho người đọc một nỗi tò mò bởi mấy cây rau thơm sao mà mầu nhiệm cho được.  Mà rồi con cũng gắng thực tập miên mật làm sao để thấy “tía tô rau húng rau ngò mầu nhiệm” cho đặng. Thầy có dặn sự sống mỗi ngày đều mầu nhiệm nếu ta có mặt thật sự để chạm vào nó. Thế là tía tô không chỉ là một cây rau thơm, mà còn là bài học về “phép lạ của sự tỉnh thức”. Tới bài “Cúc cu đúng hẹn” (1973), lá tía tô hiện ra như một tín hiệu thân thương, báo hiệu sự có mặt cho nhau:

“Người đã tới thăm, trăng một túi
Lá tía tô gọi hạt mồng tơi…”

Câu thơ như một cánh cửa mở vào thực tại. “Trăng một túi”  là một hình ảnh rất giàu thiền vị; “lá tía tô gọi hạt mồng tơi” như một chỉ dấu của sự sống đang thầm thì từ đất. Chỉ bằng một chiếc lá nhỏ, một hạt mồng tơi, Thầy nhắc nhở con rằng con đang sống, và Thầy đang “mời” con về với xứ sở hiện tại nhiệm mầu. 

 

 

Bông cải vàng – Sự sống trong veo

Lá tía tô dẫn con về với “hương thơm quê mẹ” trong từng hơi thở an trú; vạt cải vàng  trong nắng lại gieo những bình an và hy vọng. Hoa cải trong thơ Thầy hiện lên rất đỗi thật thà, có thể là vườn cải ngoài sân, có thể là ký ức tuổi thơ, nhưng cũng có thể là chính sự sống đang thì thầm trong lòng mình. Trong bài “Bướm bay vườn cải hoa vàng” (1974), Thầy viết:

“Mới hôm qua đây tôi thấy bướm bay từng đàn rộn rã trong khu vườn cải hoa vàng
Mẹ và em còn đó
Gió chiều như hơi thở…”

Mấy câu thơ như một bức tranh thủy mặc. Ở đó, có “bướm bay từng đàn”, tự do và nhẹ nhõm; có khu vườn cải hoa vàng, rực rỡ mà lặng lẽ, yên vui. Có mẹ, có em, có tình thương và sự tiếp nối. Và có cả gió chiều chỉ nhẹ “như hơi thở” mà hiện hữu nhiệm mầu. Khi tâm an trú, thì mọi thứ đều trở nên rất đỗi chân thực phải không Thầy? “Mẹ và em còn đó”, đây không phải là một phát hiện lý trí, mà là một phát hiện bằng trái tim, mẹ chưa bao giờ rời đi và em chưa từng vắng mặt. Và rồi, như một lời khẳng định vững chãi, Thầy viết:

“Vườn cải hoa vàng chính mắt tôi vừa thấy sáng qua
Tôi không ngủ mơ đâu…”

Không phải mơ. Vườn cải đó là thật. Bướm bay đó là thật. Thầy đã thật từ bi chỉ cho con rằng khi con thật sự có mặt, tất cả những điều quý giá vẫn còn đó. Đối với con, những dòng thơ này là những dòng thơ đẹp nhất được viết bằng chất liệu của nắng, của hương cải, của nhịp cánh bướm bay và tình thương của mẹ. 

Trong bài “Bé đã sinh ra rồi” (1973), hoa cải đón nhận một điều kỳ diệu:

“Trên cánh bướm mong manh
Hoa cải rực vàng
Trên lối cũ.”

Chỉ ba dòng thơ như một hơi thở nhẹ đã nhắc nhớ con về nhiệm mầu của sự sống. Một sự sống vừa mới bắt đầu; “bé đã sinh ra rồi”  bên hoa cải, cánh bướm trên con đường cũ. Cái mới sinh không hề riêng biệt với những điều đã cũ. Và rồi, trong bài “Tôi về lật lại trang xưa”, hoa cải lại hiện lên như một phép lạ của thiền quán, một trời vàng trong một hạt cải nhỏ bé. Vậy là chỉ cần nhìn sâu vào cái rất nhỏ, Thầy dạy con  có thể thấy cả một vũ trụ bao la:

“Một trời hoa vàng trong hạt cải
Chắp tay tôi để hoa nở trên búp tuyệt vời.”

Khi con chắp tay búp sen, con tập dừng lại để nhìn sâu thì con thấy được hoa nở. Hoa nở ngay trên “búp tuyệt vời” của hiện tại. Lời thơ sâu sắc, ý thơ đậm màu thiền, một hạt cải Thầy gieo, biết bao nhiêu thương yêu nảy mầm trên khắp thế gian này. 

Và đến “Trời bên ấy sáng chưa” (1975), hoa cải không chỉ còn là biểu tượng của sự sống, mà còn là quê nhà của những người xa xứ. 

“Sau vườn hoa cải rực vàng
Bướm lạc quê hương.”

Thầy chỉ cho dăm chữ, con dường như nghe được sự xao xác trong lòng. Con cũng nhiều lần làm con “bướm lạc”, mịt mù lối về nơi thân và tâm của mình, để bao nhiêu hạt sầu vương. Nhưng mà hoa cải vẫn rực vàng, vẫn lặng yên nở, vẫn lặng yên có mặt, như quê hương, như hơi thở, như Thầy, kiên nhẫn  đợi con trở về.

Nuôi dưỡng và trị liệu

Trong những trang thơ Thầy viết, hình ảnh xứ sở nhiệt đới quê nhà hiện ra thật sinh động: một khu vườn nhỏ với đủ loại lá rau thơm, những bông hoa dân dã, ánh trăng thanh mát và hình bóng những người thương. Lá tía tô và bông cải, những hình ảnh thật gần gũi, đơn sơ đi vào thơ Thầy một cách tự nhiên như hơi thở, nhưng lại mở ra cả một bầu trời thương nhớ. Những nhớ thương ấy có khi là xa xôi, vơi đầy, nhưng cũng có khi chỉ là một rung động thật thà rất khẽ trong lòng. Thơ của Thầy mộc mạc, nhưng mỗi dòng chữ lại có khả năng nuôi dưỡng. Đó là những dòng thơ thấm đượm từ bi, dẫn đường cho con trở về với chính mình. Có những buổi sớm mai, chỉ cần con dừng lại, có mặt với một hơi thở vào, một hơi thở ra, rồi đọc lại vài dòng thơ cũ, con như thấy Thầy đang mỉm cười thật hiền trong nắng sớm, dưới mái hiên nhà, nơi có vườn rau, có bông cải, có một nếp nhà. Dù bao nhiêu năm đã trôi qua, những trang thơ ấy vẫn sống động, vẫn còn nguyên vẹn năng lượng trị liệu. Mỗi khi con đi lạc giữa cuộc đời nhiều biến động, con lại tìm được đường về và được ôm ấp, vỗ về trong chữ nghĩa và trong tình thương sâu nặng của Thầy.

“Nếu gọi tên Thầy, con sẽ tự khắc thấy Thầy ngay

Con đi đâu? 

Cây mộc già đã nở hoa, thơm nức sáng nay

Thầy trò ta thật chưa bao giờ từng cách biệt

Xuân đã về, các cội thông đã ra chồi óng biếc và bên mé rừng đã nở rộ hoa mai.”
(Bên mé rừng đã nở rộ hoa mai)

                                                                          Huyền Dương

 



Lễ Tự Tứ An cư kiết đông 2025-2026

 
Sáng 20.01.2026, chúng xuất gia và tại gia Làng Mai đã vân tập về thiền đường Nước Tĩnh, chùa Pháp Vân, xóm Thượng để làm lễ Tự tứ.
Sau đây là một vài hình ảnh:
 

Lễ Tự tứ khoá An cư kiết Đông năm 2025-2026

Cách đây ba tháng, vào ngày 23.10.2025 đại chúng Làng Mai đã làm lễ Đối thú để bắt đầu mùa An cư ba tháng. Thời gian trôi nhanh như một cái chớp mắt. Mới đó mà đã đến ngày Tự tứ kết thúc khóa tu.

Sáng 20.01.2026, chúng xuất gia và tại gia Làng Mai đã vân tập về thiền đường Nước Tĩnh, chùa Pháp Vân, xóm Thượng để làm lễ Tự tứ (pravarana), là thỉnh cầu tăng thân chỉ ra những khuyết điểm của mình do được thấy, được nghe và được nghi trong thời gian cùng sống, cùng tu trong ba tháng. 

Trong truyền thống Làng Mai, suốt 90 ngày an cư, tuần nào đại chúng cũng đều ngồi lại để thực tập soi sáng cho nhau, lần lượt mỗi tuần vài người. Đến cuối an cư, ai cũng đều được soi sáng cả. Vì vậy trong ngày Tự tứ, tất cả các vị xuất gia đều được nhận một bức thư soi sáng của tăng thân. Bức thư này gói ghém tình thương của đại chúng đối với từng người với những bông hoa và những đề nghị thực tập cụ thể cho đương sự.

Trong ba tháng vừa qua, cả ba xóm Thượng (cùng với các vị ưu bà tắc), xóm Hạ và xóm Mới (cùng với các vị ưu bà di) đã cùng nhau tu tập và phụng sự rất miên mật. Phụng sự là bởi vì trong an cư, hầu như mỗi tuần đều có thiền sinh tới tham gia. Đặc biệt, trong hai tuần Noel cùng Tết Tây cũng có vài trăm người tới tu tập mỗi tuần. Ngoài thời khóa riêng mỗi ngày trong từng xóm, hàng tuần, các vị xuất sĩ có một ngày tu quán niệm dành cho xuất sĩ ba xóm vào ngày thứ Năm tại một xóm nào đó. Cùng lúc đó, các vị cư sĩ lại có ngày tu dành riêng cho họ tại một xóm khác. Trong ngày này, các thầy các sư cô được tham dự các lớp chuyên đề, các lớp học giới, nghe pháp thoại, thực tập thiền hành, ăn cơm im lặng và pháp đàm. Các vị cư sĩ cũng có thời khóa gần như thế. Trong mùa an cư năm nay, đặc biệt ở các xóm còn thực tập một ngày hoàn toàn không sử dụng các thiết bị điện tử, im lặng hùng tráng và không sử dụng xe.

Tuệ giác của Sư Ông Làng Mai là khi các vị xuất gia cùng tu tập với cư sĩ trong ba tháng an cư thì sự thực tập của cả hai phía sẽ trở nên miên mật hơn và thật hơn rất là nhiều. Cả xuất sĩ lẫn cư sĩ đều thực tập năm trong sáu phép lục hòa là Thân hòa đồng trú, Giới hòa đồng tu, Khẩu hòa vô tránh, Ý hòa đồng duyệt và Kiến hòa đồng duyệt. Các vị xuất sĩ thì thực tập thêm phép thứ sáu là Lợi hòa đồng quân. Hai giới cư sĩ và xuất sĩ cùng yểm trợ nhau về mọi mặt và gần gũi trong ba tháng là cơ hội để mỗi người có thể hiểu và chấp nhận mình và người khác nhiều hơn. 

Ba tháng an cư kết thúc, đại chúng đã gặt hái được nhiều hoa trái của sự bình an, niềm vui, thư giãn, chuyển hóa nội tâm và xây dựng tình huynh đệ. Có thể thấy rất rõ là cuối khóa tu, gương mặt ai cũng rạng rỡ, vui tươi. Các thầy các sư cô lớn thêm một tuổi tu, công phu có dày dặn hơn một chút. Các bạn thiền sinh cư sĩ có nhiều chuyển hóa, gần gũi, thân thương, gắn bó với nhau như một gia đình. Ra về quyến luyến, thấy Làng Mai đã trở thành một mái ấm tâm linh để trở về.

Xin bấm vào đây để xem bộ ảnh Lễ Tự Tứ

 

Xin bấm vào đây để xem bộ ảnh Lễ Tự Tứ

Giọt nước thành dòng sông

Lễ tưởng niệm Sư Ông tại Làng Mai, Pháp

Ngày nào chúng ta còn được đến với nhau, cùng tu tập và xây dựng tình huynh đệ, thì ngày đó là một ngày đặc biệt. Chủ nhật, 18.01. 2026, đại chúng xuất sĩ và cư sĩ Làng Mai, Pháp đã có một ngày đặc biệt như thế. Hôm ấy “đặc biệt đặc biệt” vì chúng ta đã cùng ngồi thiền, tụng kinh, thiền hành, nghe pháp thoại và ăn cơm im lặng trong tinh thần tưởng niệm ngày Sư Ông, người thầy kính thương của chúng ta, “thanh thản về chơi nơi biển lớn.”

Trong bài pháp thoại buổi sáng, thầy Pháp Hữu có nhắc đến lời Sư Ông trong bức thư để lại cho đệ tử: “Con đường của mình là con đường của từ bi, của hòa giải”. Thật vậy, thông điệp cuộc đời của Sư Ông là thông điệp của từ bi và hòa giải. Điều này có thể thấy không những trong những việc lớn đã được nhắc tới trong nhiều bài báo hay diễn đàn quốc tế mà còn trong những điều nho nhỏ trong cuộc sống hàng ngày của Sư Ông.

Trong thính chúng, có những người chưa bao giờ được gặp Sư Ông qua hình tướng mà  chỉ được thấy trong những bức hình hay những bài pháp thoại được thâu lại. Họ chỉ được tiếp xúc Sư Ông qua giáo lý của Người và qua tăng thân, kiệt tác mà Người để lại cho cuộc đời. Thầy Pháp Hữu đã giúp họ tiếp xúc với con người sống động đầy từ bi và công hạnh của Sư Ông qua những câu chuyện nhỏ. Tuy nhỏ nhưng cũng làm cho nhiều người trong thính chúng không thể ngăn được niềm xúc động.

Lúc mới xuất gia không lâu, còn là một sư chú nhỏ, thị giả Pháp Hữu pha trà cho Sư Ông, Sư Ông dạy: “Con để cho trà ngồi thiền để những lá trà được nước nóng ôm ấp, bao bọc, cho trà có cơ hội tỏa hương và vị trà mới tiết ra đầy đủ. Tuệ giác của mình cũng cần có đủ điều kiện và sự yên lắng để nở hoa. Khi nào con thấy lo lắng, thiếu bình an, trước khi con làm một quyết định, con hãy nhớ lại giờ phút này. Ngồi yên như trà, cho những lo lắng lao xao lắng lại để tư duy của con có căn cứ vững chãi. Khi đó, Thầy tin rằng hành động của con sẽ hay hơn nhiều so với khi con lo lắng, sợ hãi.”

Một lần khác, sau khi Sư Ông cho pháp thoại, mọi người chen nhau rời khỏi thiền đường. Thấy đông quá, thị giả Pháp Hữu tìm cách mở đường cho Sư Ông bằng cách đi lấn tới trước, định bảo mọi người tránh đường. Bỗng thị giả cảm thấy mình bị ai kéo lại, thì ra đó là Sư Ông. Người ra dấu “Không nên, con”. Hai thầy trò cứ theo dòng người đi tới thì thiền sinh tự động nhường đường cho Sư Ông. Ra khỏi thiền đường, hai thầy trò yên lặng trở về thất Ngồi Yên. Trước khi mở cửa bước vào thất, Sư Ông quay lại nói với thị giả: “Thầy chỉ là một giọt nước trong dòng sông tăng thân, là một thành viên bình thường trong chúng, con không cần phải làm cái gì đặc biệt cho thầy hết.”

Sư Ông, Thầy kính thương của chúng con, kể sao cho hết những kỷ niệm đẹp và quý báu mà Thầy đã để lại trong lòng chúng con. Những kỷ niệm ấy quý bởi vì mỗi kỷ niệm là một phần của pháp thân tuệ mạng Thầy trao truyền lại cho chúng con để làm hành trang cho chúng con đi tới trên con đường mà Thầy đã khai mở, con đường hiểu thương, hòa giải và đi với nhau như một dòng sông trong ánh sáng của tuệ giác tập thể.

Giọt nước thành dòng sông, thanh thản Người về chơi biển lớn

Bước chân nên cõi Tịnh, thảnh thơi ta lên dạo đồi cao.

(câu đối do Sư Ông Làng Mai viết, treo trong thiền đường Chuyển Hóa, xóm Thượng)

Chương trình lễ tưởng niệm:
Buổi sáng: Pháp thoại – Thiền hành – Ăn cơm im lặng
Buổi chiều: Lễ tưởng niệm

Hình ảnh buổi lễ tưởng niệm Sư Ông