Thân thể là đền thờ tâm linh

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai)

 

Ngày xưa, việc cưới vợ lấy chồng là vấn đề của đại gia đình. Nhưng bây giờ, người trẻ nghĩ đó là vấn đề của riêng họ. Đứng về phương diện tâm lý, gia đình nhỏ ngày nay không còn được vững chãi như ngày xưa nữa, nguy cơ tan vỡ của nó rất lớn. Nếu sống trong mạng lưới đại gia đình ngày xưa, mình sẽ được bảo vệ nhiều hơn. Bởi nếu mình có những quyết định bồng bột, sai đường thì sẽ được những thành viên trong gia đình kể cả những em nhỏ của mình giúp định hướng lại. Bây giờ thì ngược lại, mình muốn làm gì thì làm, muốn đi đâu thì đi, mình không muốn nghe theo ai hết.

Trong thập niên 60 đã xảy ra một cuộc cách mạng về tình dục với sự xuất hiện của thuốc ngừa thai. Nó đã làm thay đổi xã hội rất nhiều. Phong trào này bắt đầu từ các trường đại học tại Mỹ, tại Pháp. Những cô thiếu nữ cũng đòi có tự do về tình dục. Họ nghĩ rằng, đàn ông có tự do về tình dục, tại sao họ lại không được? Trước đây, người phụ nữ phải gánh chịu phần lớn hậu quả của chuyện phóng túng tình dục, còn đàn ông, sau khi xong chuyện thì phủi tay trốn chạy. Nhưng với sự xuất hiện của thuốc ngừa thai đã làm đảo lộn quan điểm của rất nhiều người về tình dục. Ban đầu, bác sĩ chỉ áp dụng thuốc ngừa thai đối với những cặp vợ chống không muốn có con. Nhưng sau đó thì được sử dụng tràn lan, không còn mục đích rõ ràng. Cuộc cách mạng tình dục đã tạo phản ứng rất mạnh từ giới bảo thủ. Nhưng đối với những người phụ nữ trẻ thì họ thấy đây là cơ hội cho họ được giải phóng. Trong truyền thống, nếu người phụ nữ không có chồng mà có mang thì chịu sự trừng phạt rất nặng, có thể bị ném đá cho tới chết, có thể bị bỏ bè trôi sông. Trong khi đó, người đàn ông không bị truy cứu hoặc có thể trốn chạy. Đây là một sự bất công lớn.

Năm 1962, Mỹ có 1.200.000 người dùng thuốc ngừa thai. Nhà chức trách ngăn cản phong trào này bằng cách, bác sĩ sẽ không cấp thuốc ngừa thai cho những phụ nữ không chồng. Nhưng làm vậy cũng không ngăn cản nổi phong trào này. Nhiều gia đình tan nát, vợ chồng thù hận nhau vì chuyện ngoại tình không chung thủy. Những đứa con trong những gia đình ấy rất khổ đau. Trong giới thứ 3 của năm giới giành cho các vị cư sĩ có nói rất rõ: “Ý thức được những khổ đau do thói tà dâm gây ra, con xin học theo tinh thần trách nhiệm để giúp bảo vệ tiết hạnh và sự an toàn của mọi người và mọi gia đình trong xã hội. Con nguyện không ăn nằm với những người không phải là vợ hay chồng của con” .

Theo tuệ giác của đạo Bụt, thân và tâm không tách biệt. Nếu thân bị ô nhiễm thì tâm cũng trở nên chán chường, ô nhiễm và thương tích. Nếu thân được nguyên vẹn thì tâm cũng được nguyên vẹn. Trong giới tiếp hiện, có đề cập đến thân như đền thờ tâm linh. Thân cũng linh thiêng như tâm vậy. Nếu thân không còn linh thiêng thì tâm cũng không còn linh thiêng nữa. Mình cần gìn giữ thân như việc gìn giữ tâm và ngược lại.  Có lẽ trong quá khứ, quan niệm về sự gìn giữ thân và tâm giữa Tây phương và Đông phương không khác biệt là bao nhiêu.

Thông thường, mình chỉ chia sẻ những gì sâu kín nhất trong tâm mình với người mà mình tin tưởng, với người tri kỷ. Đối với thân thể của mình cũng vậy. Nếu không có tình yêu sâu sắc với một người thì mình không bao giờ phó thác cái thân này cho người ấy. Do vậy, tình yêu trở thành rất thiêng liêng. Nó nuôi dưỡng được cả hai phía yêu nhau. Nếu coi xác thân người kia là dụng cụ phục vụ cho sự khoái lạc của mình thì tình yêu bị đánh mất đi yếu tố linh thiêng.

Người Đông phương rất coi trọng việc giữ gìn thân thể của mình. Khi bị lạm dụng trong chuyện tình dục, họ có cảm tưởng như bị đánh mất đi những gì rất quý giá của đời mình. Đối với những em bé gái, bé trai khi bị lạm dụng, các em đau khổ rất nhiều, và niềm đau ấy có thể đeo đuổi suốt cuộc đời của các em. Cơ thể của mình có những vùng linh thiêng mà không có ai được quyền chạm tới. Sự toàn vẹn của cơ thể có liên hệ tới sự toàn vẹn của tâm hồn.

 

 

Cái thấy thân tâm nhất như rất quan trọng. Thân nằm trong tâm và tâm nằm trong thân. Nếu không kính trọng thân thể thì không thể nào kính trọng được tâm hồn. Thân thể không thể là một món đồ chơi của chính mình và người khác. Điều này có liên hệ đến hạnh phúc của mình và con cháu của mình. Giữ gìn thân thể không phải chỉ để cho riêng mình mà còn cho con cháu của mình nữa.

Giới thứ ba có liên hệ đến tình yêu, và sự liên hệ giữa hai người đứng về phương diện tình dục. Đức Thế Tôn dạy về tình yêu rất sâu sắc và đầy đủ. Tình yêu chân thật có chứa những yếu tố: từ, bi, hỷ và xả. Phải thấy mình và người kia là một. Những khổ đau của người kia là những khổ đau của mình, và khổ đau của mình cũng là khổ đau của người kia. Mình không loại trừ người kia ra khỏi hạnh phúc và khổ đau của mình. Muốn xây dựng tình yêu chân thật thì phải thực tập giới thứ ba. Đi tìm thú vui trong tình dục mà phá đổ những yếu tố của tình thương đích thực, là phạm giới. Phải thấy rằng, sự an ninh và toàn vẹn của người kia là sự an ninh và toàn vẹn của chính mình. Phải thấy rằng, cái thân và cái tâm của người kia là nơi linh thiêng, và cần phải tôn trọng thì lúc đó tình thương chân thật mới thật sự có mặt. Sự toàn vẹn của cơ thể liên hệ tới sự toàn vẹn của tâm hồn. Với nền văn hóa xưa thì mình chỉ giao phó thân tâm cho người kia khi người ấy trở thành bạn tri kỷ của đời mình.

Tuy hai người đã cưới nhau, nhưng vẫn phải luôn luôn kính trọng lẫn nhau, không được có những cử chỉ, hành động thô lỗ với người bạn hôn phối. Phải thấy, thân thể của mình cũng linh thiêng như của người kia, và mình vẫn tiếp tục khám phá ra những cái hay cái đẹp ở nơi người kia thì lúc đó tình yêu mới kéo dài được. Tình yêu là một quá trình của sự khám phá, đi tìm khoái lạc trong tình dục sẽ chỉ làm phá vỡ hạnh phúc mà thôi. Tuổi trẻ bây giờ không được hướng dẫn về tình yêu, nhà trường chỉ dạy về sinh học thôi, nên các bạn trẻ biết tình dục mà chưa kịp biết tình yêu. Các nhà giáo dục cần xét lại điều này. Nếu chỉ dạy cho học trò về sinh học mà không dạy về tình thương thì e rằng, cái đẹp, cái linh thiêng nơi họ sẽ bị đánh mất.

Trong xã hội ngày nay, năng lượng tình dục quá nhiều, những hình ảnh, âm thanh độc hại trong sách báo, truyện trò tràn lan. Vì vậy chúng ta phải nguyện học hỏi những phương pháp thích ứng để chăm sóc năng lượng tình dục của mình. Người nào cũng có năng lượng tình dục, và chính Đức Thế Tôn cũng có năng lượng tình dục. Ngài thành đạo hồi 35 tuổi, và dĩ nhiên ngài vẫn còn những năng lượng tình dục, nhưng ngài biết cách chăm sóc năng lượng ấy nên nó không gây hại đến ngài. Ngài đã biết hướng toàn bộ năng lượng của ngài về phía độ đời, thương người.

Vậy chúng ta cần chăm sóc năng lượng tình dục ấy thế nào? Chuyện ăn uống cũng có liên quan đến năng lượng tình dục. Người xuất gia không còn làm chuyện dâm dục, nhưng làm thế nào để quản lý năng lượng ấy? Bụt có dạy, người xuất gia không ăn mặn, không uống rượu. Đây là một phương pháp rất hay để hỗ trợ cho việc quản lý năng lượng này. Bên đạo Bụt nguyên thủy, mỗi ngày các thầy, các sư cô chỉ ăn một bữa vào buổi trưa, đây cũng là phương pháp hay. Trước khi ăn, mình luôn nhớ, ăn như thế nào cho có chừng mực và điều độ. Mỗi thầy, mỗi sư cô đều có chiếc bình bát để làm ứng lượng khí. Khi lấy thức ăn phải chừng mực, phải nhận diện được tâm hành tham ăn của mình. Chuyện ăn uống có ảnh hưởng rất quan trọng đến năng lượng tình dục.

 

 

Trong đạo Bụt còn có phương pháp đệ nhị thân, tức là không được đi ra ngoài một mình, không chuyện trò với người khác phái một mình, mà phải luôn có một người cùng giới bên cạnh để bảo hộ. Đây cũng là một phương pháp hữu hiệu để quản lý năng lượng tình dục khi đi ra ngoài. Ngoài ra, thực tập sám pháp và thực tập khí công cũng là những cách chăm sóc những năng lượng tình dục. Không phải chỉ người xuất gia mới học hỏi phương pháp thích ứng để chăm sóc năng lượng tình dục của mình mà người tại gia cũng phải học. Bởi những người tại gia trong cuộc sống hằng ngày tiếp xúc quá nhiều với những yếu tố kích thích như phim ảnh, sách báo, âm thanh… Do vậy, người tại gia thực tập vấn đề chăm sóc năng lượng tình dục khó hơn nhiều so với người xuất gia. Giới tà dâm đôi khi lại khó thực hiện hơn giới bất dâm. Bất dâm là hoàn toàn không có dâm dục, còn giới tà dâm là chỉ có liên hệ với vợ hay chồng của mình thôi. Người cư sĩ cũng phải ăn uống như thế nào để không chế tác quá nhiều năng lượng tình dục…

Thực tập giới là giúp bảo hộ đem lại cho mình bình an và hạnh phúc. Trong giới bản năm giới mới chúng ta sẽ bổ xung thêm vào giới thứ ba như sau: “Con nguyện học hỏi những phương pháp thích ứng để chăm sóc năng lượng tình dục của con, để thấy được tính bất nhị của thân và của tâm” – thân và tâm là một. Nếu không kính trọng thân là cũng không kính trọng tâm. Những điều này phải học hỏi và thực tập mới thấy được, chứ không phải chỉ đọc là đã hiểu. Sau khi thọ giới, người hành trì giới phải pháp đàm và học hỏi một tháng hai lần. Tu tập để chế tác thêm các chất liệu từ bi hỷ xả. Bốn yếu tố căn bản của tình yêu chân thật có công năng làm lớn lên hạnh phúc của mình và của người khác. Xã hội ngày nay, tình yêu thì ít mà tình dục thì nhiều. Do vậy mà khổ đau trong gia đình, xã hội rất lớn. Mỗi người cần phải tập chế tác tình yêu chân thật, để làm giảm thiểu năng lượng tình dục nơi mình và nơi người kia.

 

Ngon và lành

(Pháp thoại của Sư ông Làng Mai ngày 13 tháng 01 năm 2011)
 

 

Trước khi ăn cơm, mình chúc người kia ăn ngon. Trước khi ngủ mình cũng chúc người kia ngủ ngon. Khi đi thiền hành mình cũng có thể chúc “chị đi thiền hành ngon”, ngồi thiền thì mình chúc “chị ngồi thiền ngon”.

Trong tiếng Việt chữ “ngon” thường đi đôi với chữ “lành”. Cái ngon phải đi với cái lành cho nên chúng ta phải làm thế nào để cái ngon có nghĩa là cái lành. “Ngon” có nghĩa là ăn như thế nào để có sức khỏe, để đừng tàn phá cơ thể và sinh môi.

Trong đời sống tu tập, mình phải làm thế nào để buổi ngồi thiền vừa ngon vừa lành tức mình tận hưởng mỗi giây phút của giờ ngồi thiền, làm cho buổi ngồi thiền có tính cách nuôi dưỡng và trị liệu. “Chúc chị có buổi ngồi thiền ngon lành!” Trong khi ngồi thiền, mình theo dõi hơi thở, buông thư và quán chiếu. Mình sử dụng hơi thở, thân và tâm ý để làm cho mỗi giây phút của buổi ngồi thiền được lành. Trong buổi ngồi thiền, nếu mình chưa hưởng được cái ngon lành đó là mình chưa biết ngồi thiền, mình phải học thêm tại vì ngồi thiền là một sự tiêu thụ giống như ăn cơm vậy. Nếu mình chưa thấy hạnh phúc lắm, chưa thấy nuôi dưỡng, chưa thấy ngon lành trong buổi ngồi thiền thì mình phải tham khảo với các sư anh, sư chị và các bạn đồng tu để có thể tận hưởng hạnh phúc của giây phút ngồi thiền.

Sống trong tu viện, mình có được quyền lợi tiêu thụ một bữa ngồi thiền sáng, một bữa ngồi thiền chiều. Đó là quyền lợi mà mình phải tận hưởng. Trong một bữa cơm, mình phải biết nghệ thuật tiêu thụ thì bữa cơm đó mới ngon lành và bổ dưỡng. Cũng như vậy, mình phải chuẩn bị buổi ngồi thiền để đừng bị uổng phí, mình phải sử dụng hơi thở, thân và tâm cho khéo để giây phút của buổi thiền tọa trở nên ngon lành, nuôi dưỡng và phát khởi được niềm vui, hạnh phúc, tình thương.

Ăn cơm không phải chỉ để có chất bổ dưỡng cho cơ thể mà thôi. Bữa ăn cơm, dù là ăn sáng hay ăn trưa, cũng phải ngon và lành. Mình phải có hạnh phúc trong khi ăn sáng, trong khi ăn trưa. Tại Làng Mai mình được dạy rất kỹ làm thế nào để có hạnh phúc, có nuôi dưỡng trong khi ăn, làm thế nào để bữa ăn vừa ngon vừa lành. Hôm chủ nhật đi khất thực tôi thấy trên bàn có hai chai tương ớt. Tương ớt có thể ngon nhưng không lành và mình muốn lấy hai chai tương ớt bỏ vào thùng rác. Ngon thì phải lành, nếu chưa lành thì chưa ngon.

Trước khi ăn mình thực tập “năm quán” ăn cơm là một sự thực tập để nuôi dưỡng thân và tâm của mình. Chất liệu nuôi dưỡng không phải chỉ là thức ăn mà còn là sự có mặt của mình, của tăng thân, sự có mặt của chánh niệm. Chúng ta quán niệm ăn cơm như thế nào để có thảnh thơi tức tự do, giải thoát. Trong khi ăn, nếu bị một trăm sợi dây ràng buộc (những lo lắng, buồn khổ, suy tư, dự tính) thì mình ăn không ngon. Khi ăn thì mình chỉ ăn thôi, mình buông bỏ những suy tư, lo lắng. Mình ăn cơm như thế nào để có sự thảnh thơi, có tình anh chị em và có hạnh phúc trong khi ăn. Thức ăn nuôi dưỡng mình nhưng sự thảnh thơi, tình anh chị em và niềm vui cũng nuôi dưỡng mình.

Trong cửa thiền chúng ta nói: Thiền tập có công năng nuôi dưỡng (thiền duyệt vi thực)tức niềm vui của sự thực tập thiền là thức ăn hàng ngày. Vì vậy ăn cơm là ăn mà ngồi thiền cũng là ăn. Bữa cơm nào mình cũng đọc “ngũ quán”, mình cũng được nhắc ăn cơm như thế nào để được thảnh thơi. Mình ngồi lưng có thẳng, có buông thư, có thảnh thơi không hay là mình co rúm lại, bị giam hãm trong thế giới của lo lắng, của buồn khổ riêng mình. Mình không thật sự có mặt với tăng thân, mình không đóng góp được cho tăng thân sự có mặt tươi mát của mình.

Ăn cơm là một phép thực tập ngồi cho thảnh thơi, ngồi cho có tươi mát, có niềm vui. Sự thảnh thơi, sự có mặt đích thực của mình, nụ cười của mình góp phần tạo ra tình anh chị em mà tình anh chị em có tính cách nuôi dưỡng rất lớn. Mình ăn cơm như thế nào để có thảnh thơi, có hạnh phúc và có tình anh chị em. Chúng ta người nào cũng phải cố gắng chế tác được ba chất liệu đó.

 

 
Khi đồng hồ điểm nhạc mỗi mười lăm phút thì tất cả mọi người ngừng ăn, lắng tai nghe, tự nhiên một năng lượng chánh niệm tập thể được chế tác ra trong giây phút đó. Chúng ta thấy rõ ràng là mình đang có mặt với tăng thân. Mình thấy mình đang có mặt đó, mình đang hiến tặng sự có mặt của mình cho tăng thân và tăng thân cũng đang có mặt đó cho mình. Đó là một sự thức tỉnh, sự thức tỉnh do đồng hồ gợi lên. Đồng hồ là một trợ duyên giúp tạo ra cái gọi là như lý tác ý. Như lý tác ý khiến mình phát khởi được tuệ giác: mình đang có mặt trong tăng thân và tăng thân đang có mặt cho mình, mình đang được ngồi ăn với tăng thân như một gia đình tâm linh. Chuyện này rất hiếm, rất ít có được. Chỉ có mấy nốt nhạc mà tạo ra được không khí đó.

Nếu trong khi ăn mà mình bị tư duy xâm chiếm, mình đánh mất ý thức là mình đang có mặt, tăng thân đang có mặt và đây là một giây phút hạnh phúc thì có tiếng đồng hồ nhắc mình. Xóm Hạ, xóm Mới, xóm Thượng đều có đồng hồ trong nhà ăn, rất hay. Tiếng nhạc đồng hồ có một ý nghĩa rất đặc biệt đối với mình. Nhà nào cũng có đồng hồ, nhưng khi đồng hồ điểm nhạc thì người ta không thực tập như mình vì mình trao cho âm thanh của đồng hồ một ý nghĩa. Cũng như mình trao cho tiếng chuông một ý nghĩa, khi nghe tiếng chuông nhấp thì mình ngưng nói năng, suy nghĩ và mình bắt đầu thở vào, thở ra rất ngon lành ba lần. Ba tiếng chuông cung cấp cho mình cơ hội thở vào, thở ra chín lần. Cái ngon không phải chỉ do mình tiếp xúc được với những điều kiện hạnh phúc trong giây phút hiện tại mà còn do mình tiếp xúc được với sự thật là mình đang có đó và tăng thân đang có đó với mình. Nghe chuông, mình chế tác được một năng lượng tập thể của chánh niệm để nuôi dưỡng. Năng lượng ấy rất quí giá, rất hiếm hoi, không thể mua được ngoài siêu thị.

Trong khóa tu cho thiền sinh nói tiếng Đức tổ chức tại Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu, ngồi ở hàng đầu có bốn, năm thiếu phụ và các em bé nhỏ xíu. Các bà mẹ cho các em bé vào pháp đường cùng nghe pháp, các bé rất ngoan không khóc nên không ảnh hưởng gì tới buổi pháp thoại. Trong đó tôi để ý thấy có hai ba bà mẹ đang cho em bé bú. Không biết trong nhà thờ người ta có được phép cho con bú trong giờ giảng đạo không, còn với tăng thân Làng Mai thì được phép làm như vậy. Tôi thấy rất rõ mỗi khi tiếng chuông vọng lên và gần một ngàn người chú tâm vào hơi thở thì năng lượng chánh niệm trong thiền đường rất hùng hậu, rất nhiệm mầu. Đó là một thức ăn rất tốt, mấy em bé chưa biết tiếng chuông, chưa biết chánh niệm là gì, chưa hiểu được tiếng người, nhưng cảm được năng lượng bình an đó. Trong giây phút đó các em bé vừa được nuôi bằng sữa mẹ vừa được nuôi bằng năng lượng hòa bình, an lạc, chánh niệm được chế tác một cách tập thể trong pháp đường. Đó là thức ăn rất quí không thể tìm được ngoài chợ.

Mình có rất nhiều cơ hội, trong khi ngồi thiền, trong khi ăn cơm mình có cả một tăng thân cho nên mình chế tác được năng lượng tập thể. Năng lượng đó quí hơn vàng, nó bảo hộ, trị liệu cho mình. Nếu những người bệnh tới mà biết mở lòng ra để năng lượng tập thể đó đi vào trong cơ thể, trong trái tim thì sẽ lành bệnh rất mau.

Trong bữa cơm mình phải sắp đặt, hành trì như thế nào để bữa cơm trở thành một buổi thực tập có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu. Đứng về phương diện vật chất mình làm cho bữa cơm được ngon lành. Đứng về phương diện tâm linh mình cũng ăn với tinh thần đó mới xứng đáng. Chúng ta có những người rất giỏi về phương diện tổ chức. Chúng ta cần những người như vậy để tổ chức những buổi ngồi thiền và những bữa ăn cơm rất ngon, rất lành và rất trị liệu.

Ôm Bé Bị Thương

 

Bước Chân Thượng Thừa
Trong khi nghe chuông, chúng ta nên mở lòng ra để cho thế hệ tổ tiên ở trong ta đồng thời được nghe chuông với chúng ta. Chúng ta đừng tự giam hãm vào trong một cái vỏ bản ngã. Chúng ta phải cho phép, phải mở rộng thân tâm ra, để cho tổ tiên chúng ta cũng được nghe tiếng chuông trong giờ phút đó với chúng ta. Đây là một sự thực tập. Tại vì tất cả những thế hệ tổ tiên của chúng ta trong đó có cha, mẹ của chúng ta đều đang có mặt trong chúng ta một cách rất cụ thể trong mỗi tế bào của thân thể ta.

Cái sắc (rupa) chứa đựng cái danh (nama), và chúng ta cũng có thể nói rằng cái danh chứa đựng cái sắc. Nama tức là tâm thức của mình, trong đó có cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức. Chúng ta cũng nên học để thấy được rằng tâm hành của chúng ta cũng được làm bằng những tế bào giống như những tế bào của cơ thể. Những tế bào của cơ thể chứa đựng những tế bào của tâm thức, và những tế bào của tâm thức nó chứa đựng những tế bào của cơ thể. Nama rupa là hai mặt của một thực tại, không có cái nào có trước, không có cái nào có sau. Cũng như sóng (onde) và hạt (particule) là hai mặt của một thực tại. Làn sóng đó chứa đựng cái hạt, cũng như cái hạt nó chứa đựng làn sóng. Thực tại của chúng ta là thực tại danh sắc, ta có thể gọi nó là danh, ta cũng có thể gọi nó là sắc, kỳ thực sắc và danh là hai mặt biểu hiện của cùng một thực thể. Khi nhìn vào một tế bào của cơ thể hay nhìn vào một tế bào của tâm thức, ta nhận diện được sự có mặt của tất cả các thế hệ tổ tiên ở trong ta. Đó là một sự thật.Tổ tiên chúng ta không phải chỉ là loài người. Trước khi loài người biểu hiện thì chúng ta đã là những loài khác. Chúng ta đã từng làm cây, làm cỏ, làm đá, làm sương. Chúng ta đã từng làm con sóc, con nai, con khỉ. Chúng ta đã từng làm những sinh vật đơn tế bào. Và tất cả các thế hệ tổ tiên đó đều đang có mặt trong từng tế bào của cơ thể cũng như của tâm thức, và ta là sự tiếp nối của dòng sinh mạng đó. Vì vậy cho nên khi nghe chuông ta nên biết là không phải một cái ta biệt lập đơn độc đang nghe chuông, mà là cả dòng sống thênh thang đang nghe chuông. Đây là sự thực tập vô ngã. Khi nghe một tiếng chuông nếu chúng ta cho phép tất cả các thế hệ tổ tiên của chúng ta và tất cả những con cháu đang tiềm tàng trong cơ thể chúng ta được nghe tiếng chuông đó thì lúc đó chúng ta đang chứng thực cái thực tại vô ngã mà Bụt nói tới. Thực tại vô ngã mà Bụt nói tới không phải là một lý thuyết mơ hồ mà là một cái gì ta đang mang trong cơ thể và tâm hồn của ta. Và chỉ cần nghe chuông thôi là ta đã có thể thoát ra khỏi cái vỏ của bản ngã mà ta đã tạo tác ra. Ta thoát khỏi được cái ngục tù khái niệm về bản ngã mà chúng ta đã tạo tác ra. Chúng ta phải để cho tiếng chuông thấm vào tất cả các thế hệ quá khứ và các thế hệ tương lai đã có rồi trong chúng ta.

Một trái ổi, dù là trái ổi còn rất non, cũng có những hạt ổi non ở trong trái ổi. Chúng ta cũng vậy. Chúng ta mới có mười bốn tuổi. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta chỉ có thể làm con thôi, làm em thôi, nhưng kỳ thực chúng ta đã làm mẹ rồi, đã bắt đầu làm mẹ rồi, đã bắt đầu làm bà rồi. Vậy thì một chú tiểu mười hai tuổi hay mười ba tuổi tuy đang đóng vai trò một đệ tử, nhưng chú tiểu đó đã có đệ tử ở trong con người của chú, và cũng đã có đệ tử của đệ tử rồi. Vì vậy cho nên khi nghe chuông, sư chú phải mở lòng ra để cho các thế hệ tổ sư cùng được nghe, để cho các thế hệ ông bà, cha mẹ huyết thống cùng được nghe, và chú cũng có thể mở lòng ra và để cho các thế hệ đệ tử con cháu của chú trong tương lai cũng được nghe. Nghe một tiếng chuông như vậy là chú đã thực tập vô ngã và chú chạm được vào cái mầu nhiệm của vô ngã. Nghe chuông như vậy mới là nghe chuông theo kiểu thượng thừa. Khi bước những bước chân thiền hành trên bãi cỏ xanh non của mùa xuân cũng vậy. Ta bước như thế nào để cho tất cả các thế hệ tổ tiên của chúng ta đều cùng bước theo ta. Và sự an lạc thảnh thơi mà ta đạt được trong khi bước thấm vào tất cả các thế hệ tổ tiên và đồng thời thấm vào tất cả các thế hệ tương lai. Một bước chân như vậy là một bước chân thượng thừa. Đưa một chân ra để bước, ta thấy hàng triệu cái chân đang cùng bước chung với ta ở trong ta. Khi thở một hơi thở vào nhẹ nhàng, thoải mái, tĩnh lặng, ta làm cho tất cả các thế hệ tổ tiên cũng được thở và tất cả các thế hệ con cháu tương lai của ta cũng được thở. Thở như vậy mới là hơi thở thượng thừa. Chúng ta có thể làm được. Chúng ta chỉ cần một ít niệm và một ít định là có thể quán chiếu, có thể thấy. Ban đầu chúng ta dùng phương pháp quán tưởng và thấy tất cả thế hệ tổ tiên cùng đưa chân phải ra đồng thời với ta để bước một bước. Từ từ không cần phải quán tưởng nữa mà tự nhiên mỗi khi bước chân đưa ra như vậy là ta thấy được bước chân của tất cả mọi người trong quá khứ. Trong khi nấu một món ăn, món ăn mà ta đã học được từ mẹ ta hay là cha ta, món ăn truyền thống của dân tộc, ta hãy nhìn bàn tay của ta mà mỉm cười. Tại vì bàn tay này là bàn tay của mẹ, bàn tay của bà ngoại, bàn tay của bà nội, đang làm món đó, đang xào nấu món đó. Ta nào có tài ba gì đâu. Ta đâu có phải là kẻ đã sáng tác ra thực phổ này. Ta tiếp nối các thế hệ tổ tiên. Ta thấy rằng bàn tay của mẹ đang làm món này, bàn tay của ngoại đang làm món này. Và ta thấy rằng tất cả những bàn tay của tổ tiên ta đang làm cái món này. Nấu cơm ở trong bếp, mình có thể thiền thượng thừa được rồi, không cần phải lên trên thiền đường ngồi xuống ta mới thực tập. Cơ hội của chúng ta có rất nhiều. Vấn đề là chúng ta có biết thừa hưởng cơ hội không? Đây không phải là lý thuyết, đây là sự sống thực tiễn của mỗi giây phút trong đời sống hàng ngày.

Trị Liệu Tận Gốc

Ngày xưa, bà ngoại ta đã từng chơi bóng chuyền hay không? Không, tại vì hồi đó ở xứ ta chưa có bóng chuyền. Ngày xưa, bà ngoại có chạy bộ mỗi buổi sáng như ta hay không? Ngày xưa, bà ngoại có cơ hội thực tập hiện pháp lạc trú trong khi đi, trong khi chạy hay không? Bây giờ, ta là một người trẻ, khi đang chạy từng bước thảnh thơi, ta hãy để cho bà ngoại cùng chạy với ta, mà thực sự là bà ngoại đang chạy với ta, trong từng tế bào của cơ thể ta. Ta mang hết tổ tiên của ta để cùng chạy, để cùng đi thiền hành, để thực hiện phép hiện pháp lạc trú. Các vị ngày xưa có thể đã không có cơ hội, đã không có cơ duyên gặp gỡ chánh pháp và tiếp nhận phương pháp thực tập. Bây giờ đây ta có cơ duyên gặp gỡ chánh pháp và được trao truyền pháp môn thực tập, tại sao ta không làm việc đó cho quý vị? Và tự nhiên ta đem lại niềm vui cho vô số những thế hệ tổ tiên và thế hệ con cháu của ta trong khi ta thực tập đi, chạy và thở. Chúng ta tạo ra khung cảnh của Làng Mai để có thể làm được việc đó, tại vì trong cái xã hội ngoài kia, ở dưới cái thành phố kia, chúng ta không có những điều kiện để có thể đi như vậy, để có thể thở như vậy, để có thể mỉm cười như vậy, để có thể nấu cơm như vậy, để có thể giặt áo như vậy… Một khung cảnh trong đó ta có thể thoải mái, ta có thể làm được những công việc kia một cách thoải mái, để thực tập hiện pháp lạc trú. Chúng ta phải biết ơn những người đã yểm trợ, đã đem tâm huyết và thì giờ của họ để tạo dựng cho chúng ta một môi trường trong đó ta có thể bước đi những bước như vậy, thở vào và thở ra những hơi thở như vậy, có thể xào nấu như vậy, ta có thể thực tập như vậy, và ta làm như vậy là ta làm cho cả thế gian, ta làm cho cả quá khứ và tương lai. Nhờ chúng ta bước đi như vậy, nhờ chúng ta thở như vậy, nhờ chúng ta mỉm cười như vậy, nhờ chúng ta ngồi xuống như vậy, nhờ chúng ta đứng lên như vậy mà chúng ta giải phóng được cho bao nhiêu thế hệ. Giải phóng bằng cách vượt thoát ra khỏi cái vỏ của bản ngã.

Tâm lý trị liệu Tây phương nhắm đem tới cho chúng ta một cái ngã gọi là vững chãi và lành mạnh. Khoa tâm lý trị liệu Tây phương có thể đem tới một ít sự chuyển hóa, sự trị liệu, nhưng khoa tâm lý trị liệu Tây phương chưa đi được xa, tại vì còn bị kẹt vào trong cái ý niệm về ngã. Khoa tâm lý trị liệu Tây phương giả định có một cái trạng thái mà con người ta thoải mái, lành mạnh, an lạc, mà vì những lý do gì đó, vì những tai nạn gì đó mà chúng ta đánh mất cái trạng thái thoải mái, an lạc đó, cho nên sự thực tập là làm thế nào để vượt khỏi những tai nạn đó để trở về cái trạng thái an lạc, thoải mái và vô bệnh ban đầu. Như vậy, khoa tâm lý trị liệu Tây phương căn cứ trên cái giả định là trước kia đã từng có lúc ta có cái bản ngã lành mạnh, thoải mái và an lạc. Mục đích của trị liệu là phục hồi lại trạng thái đó. Trong ánh sáng của sự thực tập đạo Bụt là chừng nào chúng ta còn bị kẹt vào ý niệm của một cái ngã riêng biệt thì chừng đó vô minh đang còn nằm trong danh và sắc của chúng ta. Thực tập vô ngã là phép chữa trị tuyệt vời. Thực tập vô ngã là thoát ra khỏi cái ý niệm hẹp hòi của bản ngã, thấy được liên hệ mật thiết giữa ta và không ta. Khi vô minh ấy được tiêu tán, thì tất cả những khổ đau, những giận hờn, những tủi hận, những ganh ghét, những sợ hãi sẽ tan biến. Kết quả đạt được nhờ sự thực tập ấy sẽ lớn bằng ngàn lần sự chữa trị căn cứ trên ý niệm của một bản ngã. Chúng ta hầu hết đều là những người đang có vấn đề tâm lý. Chúng ta tự hỏi những câu hỏi như: Tôi là ai? Ngày xưa khi cha tôi và mẹ tôi tới với nhau, họ có muốn tôi ra đời thiệt không hay là họ đã tới với nhau như vậy và tôi đã ra đời như là một tai nạn? Họ có muốn tôi ra đời hay không? Có thể họ chỉ tới với nhau một cách cạn cợt, vô tình vậy thôi, và do đó mà tôi ra đời. Nếu như vậy thì tôi tủi hổ lắm. Khi tôi chưa ra đời họ có muốn giữ tôi hay không, hay là họ muốn phá cái thai trong bụng họ? Những câu hỏi đó làm cho rất nhiều người đau khổ. Đời tôi có ý nghĩa gì không? Chúng ta ưa hỏi những câu hỏi như vậy. Và tất cả những câu hỏi đó đưa lại không biết bao nhiêu là khổ đau, tại vì chúng ta bị kẹt vào trong ý niệm về bản ngã. Một đứa nhỏ lớn lên nếu nghe nói rằng ba mẹ đã từng muốn phá thai hồi mình còn trứng nước thì sẽ đau khổ lắm. Nó biết là cha mẹ nó đâu có muốn có nó, tại vì tai nạn cho nên nó mới sinh ra như vậy thôi. Khi nghĩ như vậy thì nó đau khổ lắm, và từ cái đau khổ đó sinh ra không biết bao nhiêu là tâm bệnh. Tâm lý trị liệu có thể giải quyết như thế nào cho những kẻ ấy? Đời tôi nó có ý nghĩa gì không? Tôi từ đâu tới? Tôi là ai? Những câu hỏi đó có thể là nguyên nhân của những cái bất thường, những cái khổ đau ở trong một kiếp người. Nếu quán chiếu theo phương pháp Bụt dạy, thấy được thực tính vô ngã, ta sẽ không còn hỏi những câu hỏi như vậy. Đó là một trong những điểm chính yếu mà chúng ta đã học được trong kinh Trung Đạo Nhân Duyên. Trước hết, ta thấy ta là sự tiếp nối của một dòng sinh mạng. Chuyện bố mẹ ta có muốn ta ra đời hay không, chuyện đó không quan trọng mấy. Có thể bố mẹ ta không muốn ta ra đời, chưa muốn ta ra đời, nhưng mà ông bà tổ tiên ta luôn luôn muốn ta ra đời. Đó là một sự thật. Sự thật là bao giờ ông bà chúng ta cũng muốn có sự tiếp nối, nếu không phải thế hệ này thì thế hệ khác. Chắc chắn là có những thế hệ rất muốn ta ra đời để ta tiếp tục sự có mặt và sự nghiệp của liệt vị. Nội một câu trả lời đó đã có thể làm cho em bé bớt đau khổ, hoặc là hết đau khổ. Cha mẹ của ta cũng như bất cứ một cặp cha mẹ nào khác cũng có lúc lên lúc xuống. Có khi đầy thương yêu nhưng cũng có khi đầy giận hờn. Những thương yêu và những giận hờn đó không phải là chỉ của họ mà là đã được trao truyền từ những thế hệ khác. Thấy được như vậy, ta không trách cha, ta không trách mẹ nữa. Cha mẹ ta cũng như ta, có những lúc rất giỏi nhưng mà có những lúc rất dở. Ở Á Đông, có khi chúng ta được ép gả cho một người con trai mà chúng ta ghét. Chúng ta oán trách cha mẹ tại sao lại gả ta cho người con trai ta không thương. Nhưng có thể sau hai năm, ba năm ở với người con trai kia, ta khám phá ra được người con trai này là một người con trai rất ngọt ngào, rất dễ thương, và ta bắt đầu cám ơn cha mẹ. Cha mẹ đã có một tuệ giác nào đó, cha mẹ đã nhận xét như thế nào đó, và cha mẹ đã làm một cái nguyên do rất tốt đẹp để cho sự phối hợp này được thành hình. Ban đầu có thể ta rất ghét, nhưng sau đó thì ta rất thương. Trong chúng ta ai cũng có những người bạn mà lúc bắt đầu mới gặp chúng ta rất ghét. Mới thấy cái mặt đã thấy ghét quá đi, không muốn chơi, nhưng không biết tại sao chơi một hồi thì khám phá ra rằng đây là một người bạn rất tốt. Vì vậy cho nên, cái giây phút ghét đó không phải là vĩnh viễn, nó chỉ là một giây phút thôi. Sau giây phút đó thì có thể có những giây phút rất thương. Ghét, thương ở bề mặt, nằm sâu dưới đó có một cái gì quan trọng hơn mà ta phải thấy được điều đó, thì ta sẽ không buồn tủi hỏi rằng: cha mẹ tôi có muốn tôi ra đời hay không? Có thể là lúc đó cha mẹ tôi không muốn tôi, nhưng sau khi sinh tôi ra rồi thì cha mẹ tôi lại thương tôi quá chừng. Cái thương đó nó bù đắp lại. Rồi mình thấy mình là cha mẹ của chính mình, mình thấy mình là ông bà của chính mình, và vượt thoát khỏi cái ý niệm ngã, mình không còn đau khổ về câu hỏi kia nữa. Thành ra học Phật và thực tập theo pháp môn vô ngã của Bụt, chúng ta có thể giải phóng được cho chúng ta và đồng thời giải phóng được cho bao nhiêu thế hệ tổ tiên và con cháu tương lai đang có mặt trong chúng ta.

Trở Về Ôm Lấy Bé

Nhiều người trong chúng ta trong thời thơ ấu đã từng đi ngang qua những giai đoạn rất khó khăn và chúng ta đã bị tổn thương nặng. Ta thường thường không có ước muốn nhớ lại những giai đoạn khổ đau đó. Trong ta có cơ chế tự tồn, cơ chế tự vệ. Nó vùi chôn những kỷ niệm đau thương ấy ở trong những vùng rất xa thẳm của tâm thức. Mỗi lần chúng ta tiếp xúc với những kỷ niệm đau buồn thì ta chịu không nổi, vì vậy cho nên cái cơ chế tự tồn cứ tìm cách chôn vùi những kỷ niệm kia vào trong đáy sâu của tâm thức. Khi có một người nào tới khơi dậy mối thương tâm của ta thì ta khóc, ta đau, ta buồn, ta không ăn cơm được trong một ngày, hai ngày, ba ngày. Nhưng phương pháp chạy trốn không phải là phương pháp hay nhất, không phải là thượng sách. Trong đạo Bụt, chúng ta được dạy rằng chúng ta phải thực tập chánh niệm, chúng ta phải chế tác năng lượng của chánh niệm, phải trở về ôm lấy đứa trẻ đang bị thương trong ta. Đứa trẻ đó có thể đã bị thương tích rất nặng. Nhưng vì ta không có đủ sức mạnh, cho nên mấy chục năm vừa rồi ta chỉ muốn trốn tránh và không dám gặp mặt nó. Vì vậy đứa trẻ bị thương tích trong ta tiếp tục đau khổ, nó không được thừa nhận, nó đòi hỏi sự thừa nhận, nó đòi hỏi sự săn sóc. Nhưng chúng ta đã làm ngược lại chuyện đó. Chúng ta luôn luôn trốn tránh nó, tại vì chúng ta sợ khổ. Phương pháp đạo Bụt là thực tập như thế nào để chế tác được năng lượng chánh niệm. Với năng lượng chánh niệm đó, chúng ta không cần phải sợ hãi nữa, chúng ta có thể trở về gọi đích danh đứa bé ở trong ta ra, và chúng ta ôm ấp lấy nó. Chúng ta phải nói chuyện với nó. Có năng lượng chánh niệm rồi thì ta có khả năng ôm ấp được nó. Trước hết là nhận diện: Này em bé trong tôi đang bị thương tích, tôi biết em còn đó. Trong những năm vùa qua, tôi rất tệ bạc, tôi bỏ em một mình bơ vơ với những vết thương nặng nề của em. Bây giờ, tôi đã trở lại. Xin em cho phép tôi ôm em vào lòng. Tội nghiệp em quá! Phải nói chuyện với nó. Phải ôm ấp nó. Nếu cần thì cả hai chị em cùng khóc với nhau. Nếu cần thì cả hai anh em cùng khóc với nhau. Trong thiền tọa cũng được. Ngồi một mình ở trong rừng cũng được. Hãy nói chuyện với nó bằng ngôn ngữ vắng lặng. Trong rừng, mình có thể nói chuyện với nó, mình có thể gọi nó bằng em. Nó với mình không hai mà cũng không phải là một. Trong chúng ta có những người đã thực tập theo pháp môn đó và sau một thời gian thực tập thì đã có sự thuyên giảm, có sự chuyển hóa, có sự trị liệu. Sau đó thì liên hệ giữa mình và những người anh, người chị, người em, người bạn của mình tự nhiên trở thành ra dễ dàng. Khi đã trở về chữa trị cho đứa trẻ bị thương trong ta rồi, thì ta có đủ sức mạnh có khả năng hiểu và thương nhiều hơn, tại vì những người chung quanh ta, người chị kia, người em kia, người anh kia, có thể cũng đang có một đứa bé bị thương tích nặng nề trong họ, và ta có thể giúp người đó được. Cho nên, sau khi đã chữa trị cho mình rồi, ta thấy liên hệ giữa ta và những người khác trở thành tốt đẹp hơn, dễ dàng hơn, bởi vì ta đã có nhiều hiểu biết, thương yêu và bình an hơn.

Chúng ta thấy đứa bé bị thương trong ta không phải chỉ là ta, có thể đó là mẹ ta. Tại vì mẹ ta, trong suốt đời của bà, cũng đã từng khổ đau. Mẹ ta có thể chưa được gặp chánh pháp, chưa biết được phương pháp trở về để ôm lấy đứa trẻ bị thương trong mẹ. Vì vậy cho nên, đứa bé bị thương trong ta cũng chính là mẹ ta đang bị thương, hay là cha ta đang bị thương, ta phải ôm lấy nó. Trong khi ôm lấy đứa bé trong ta, ta ôm lấy hết tất những đứa bé trong quá khứ của nhiều thế hệ, ta vỗ về và trị liệu cho chúng. Sự thực tập này không phải là sự thực tập cho cái ngã của riêng ta, mà là sự thực tập cho không biết bao nhiêu thế hệ của tổ tiên và của tương lai. Cho nên khi đã ôm ấp được đứa bé bị thương trong ta, ta cũng ôm ấp được mẹ ta, ta cũng ôm ấp được cha ta, tại vì có thể cha ta đã từng khổ đau, mẹ ta đã từng khổ đau, và những đứa trẻ trong họ chưa bao giờ được thừa nhận, ôm ấp, được trị liệu cả. Ta làm chuyện này cho cha, làm chuyện này cho mẹ, làm chuyện này cho ngoại, cho nội. Nếu ta không làm bây giờ, thì bao giờ ta mới làm? Làng Mai không phải là một trường học, nơi chúng ta tới tiếp nhận một mớ kiến thức để sau này đi dạy hay đi làm. Tại Làng Mai chúng ta có thể thực tập được sự ôm ấp và chuyển hóa đứa trẻ bị thương tích trong ta. Trong ta, đứa trẻ bị thương tích luôn luôn có mặt, đang luôn luôn trông chờ, và ta đã bỏ bê nó từ lâu. Bây giờ ta phải trở về, phải nhận diện, phải công nhận sự có mặt của nó, phải ôm ấp lấy nó, phải cùng khóc với nó và phải dùng năng lượng chánh niệm để mà trị thương cho nó. Trong ánh sáng của kinh Trung Đạo Nhân Duyên, ta biết rằng em bé đó, em bé bị thương trong ta, không phải chỉ là ta mà cũng là em bé của những thế hệ khác. Nó là em bé bị thương của mẹ, nó là em bé bị thương của cha, nó là em bé bị thương của bà ngoại, của ông ngoại. Ta tu là ta tu một lần cho tất cả các tổ tiên của ta. Em bé đó ở đâu? Em bé đó đang nằm trong tất cả các tế bào của cơ thể. Không có tế bào nào của ta mà không có em bé đang nằm trong đó, những tế bào của danh và những tế bào của sắc. Tâm thức của chúng ta được làm bằng những tế bào, thì trong mỗi tế bào của tâm thức, trong mỗi tâm hành, đều có em bé đó đang nằm co, bơ vơ, bị thương tích nặng. Ta phải trở về. Ta không cần đi tìm đâu xa. Ta không cần đi tìm về quá khứ, ba trăm triệu năm về trước. Ta không cần đi tìm về những thời đại thạch khí. Ta không cần đi tìm về thời ấu thơ, hoặc là thời ông cố, ông ngoại. Tại vì tất cả những dữ liệu đó, tất cả những sự thật đó, tất cả những đau thương đó, tất cả những em bé bị thương đó hiện bây giờ đang nằm trong giây phút hiện tại, trong từng tế bào của danh và của sắc. Ta chỉ cần đi về và tiếp xúc là ta thấy được. Cũng như tuệ giác của tổ tiên, tuệ giác của Bụt, hạnh phúc của Bụt cũng có mặt trong từng tế bào của cơ thể ta. Ta phải biết trở về. Ta lợi dụng những yếu tố đó, những hạnh phúc đó, những tuệ giác đó, để chế tác năng lượng chánh niệm, năng lượng thương yêu, mà ôm ấp lấy đứa trẻ bị thương. Đau thương nằm ở trong từng tế bào, và hạnh phúc, tuệ giác cũng đang nằm trong từng tế bào của ta. Bụt đã trao truyền, Tổ đã trao truyền, Thầy đã trao truyền cho ta tuệ giác đó. Ta trở về. Với hơi thở, với bước chân, ta chế tác năng lượng của chánh niệm, của tuệ giác. Và với năng lượng đó, ta ôm ấp và thừa nhận đứa trẻ bị thương trong ta.

Phát Ra Ánh Sáng

Chúng ta là những người có chất liệu u mê trong từng tế bào của cơ thể và của tâm thức. Chất liệu u mê đó gọi là vô minh. Vô minh tức là không trông thấy. Những cái ấy nằm sờ sờ ra đó mà chúng ta không biết rằng chúng có mặt. Vô minh tức là không có ánh sáng, không có cái thấy. Em bé bị thương nằm đó rất hiện thực mà ta đâu biết. Em bé bị thương trong ta là một thực tại sờ sờ, rất đồ sộ, rất cấn cái, vậy mà ta không thấy. Không thấy được thì gọi là vô minh. Nó đang bị thương. Nó rất cần ta trở về để công nhận nó, để ôm ấp nó, vậy mà ta vẫn không biết là nó có đó. Ta luôn luôn chạy đi. Thử hỏi thái độ đó không gọi là vô minh thì gọi là gì? Ta lo đi tìm danh, tìm lợi. Trong khi đó thì ta không nhận thức được cái gì đang xảy ra ở trong ta. Chính sự u mê tạo ra những nguồn năng lượng làm ta bệnh. Trong mỗi tế bào của cơ thể và của tâm thức đều có chất vô minh đó.

Như giọt mực đen hòa vào trong ly nước. Chất liệu của vô minh hòa vào trong tất cả các tế bào của tâm thức, làm cho ta không thấy được sự thật và đẩy ta đi về những phương hướng tối tăm, để ta làm ra những điều dại dột, để ta làm khổ ta, gây thương tích thêm cho đứa trẻ trong ta và gây thương tích cho những người khác. Những năng lượng u tối đó gọi là hành. Mỗi ngày ta bị hành thúc đẩy. Ta đã nói cái đó, làm cái đó, rất u mê, vì bản chất của hành là vô minh. Ta buồn, ta giận, ta trách, ta ganh, tất cả những cái ấy đều là năng lượng của hành. Những cái hành đó ta đâu có thấy rõ ràng. Nó nằm ở trong tâm thức của ta. Tâm thức của ta là vọng thức, chứa chất những chất liệu của vô minh và của hành. Tâm thức là đối tượng của tâm lý học. Nó có những phần bề mặt và những phần thâm sâu. Phần bề mặt ta gọi là ý thức, phần thâm sâu ta gọi là tàng thức. Tây phương gọi là vô thức (inconscience). Tây phương lại có tiềm thức (subconscience). Đó đều là những vùng của a-lại-gia. Chúng ta chôn những nỗi khổ niềm đau, chúng ta cố dìm em bé bị thương xuống dưới chiều sâu của vô thức. Nó ngạt thở dưới đó, nó kêu cứu dưới đó, trong chúng ta vẫn nhởn nhơ đi lo những chuyện không thực sự cần thiết. Vô minh tạo ra tâm thức hiện thời của chúng ta. Thức được biểu hiện thành danh sắc. Trong mỗi tế bào của cơ thể (sắc) và trong mỗi tế bào của tâm hồn (danh), đều có chứa đựng thức a-lại-gia này, tiềm thức này, vô thức này, những năng lượng của vô minh này, và chúng thúc đẩy ta sống đời sống hàng ngày một cách cạn cợt, một cách dại dột, để tiếp tục gây đau khổ cho chính ta và cho những người xung quanh ta. Pháp môn mà chúng ta học hỏi và tu tập ở đây là làm thế nào để bên cạnh vô minh phát sinh ra được cái minh, bên cạnh bóng tối làm sao phát được ánh sáng? Chúng ta đi trong đêm, nên chúng ta mới sờ soạng, chúng ta mới làm những điều trái ngược mà đáng lý chúng ta không làm. Chúng ta thấy rằng chúng ta cần ánh sáng. Ánh sáng đây là thắp lên cây đèn. Cây đèn lấy ở đâu ra? Cây đèn cũng lấy ở trong danh sắc của chúng ta ra. Trong danh sắc có chất liệu của thức, của hành, của vô minh, nhưng trong danh sắc cũng có hạt giống của minh. Chúng ta cũng đã được tổ tiên tâm linh và tổ tiên huyết thống trao truyền những hạt giống của thương yêu và hiểu biết, nhưng chúng ta ít đem ra sử dụng. Bụt đã trao truyền, Tổ đã trao truyền, Thầy đã trao truyền. Chúng ta tiếp nhận, chúng ta cất giữ, nhưng không đem ra sử dụng. Chúng ta có cây đèn, nhưng chúng ta không chịu thắp lên. Cây đèn đó tức là cây đèn chánh niệm. Dầu của cây đèn là hơi thở, là bước chân, là nụ cười, là sự chấp tác trong chánh niệm. Thắp lên cây đèn chánh niệm, tự nhiên ánh sáng tỏa chiếu, và bóng tối giảm thiểu. Những giây phút minh biểu hiện thì vô minh rút lui. Khi vô minh rút lui thì những năng lượng ma quái không còn được chế tác. Trong khi đó, minh chế tác ra năng lượng bồ đề tâm, đại nguyện và tâm thương yêu. Tâm thương yêu cũng là năng lượng. Nó cũng là năng lượng như hành, nhưng đây là thứ năng lượng được soi sáng.  Khi có ánh sáng, thay vì có những năng lượng mù quáng thúc đẩy ta lại có những năng lượng khác như năng lượng của hiểu biết, của thương yêu và của bồ đề tâm. Khi có năng lượng của bồ đề tâm rồi, tâm thức của chúng ta bắt đầu chiếu sáng, đó là trí (prajna). Trí và thức cùng một bản chất. Ta gọi nó là thức khi nào ta bị vô minh và hành chi phối. Khi được minh với bồ đề tâm soi sáng và nuôi dưỡng thì cái mà ta gọi là thức ngày xưa bây giờ được gọi là trí. Trí tuệ, thương yêu và bồ đề tâm là chất liệu của hạnh phúc. Chúng ta có thân thị hiện thay vì có thân danh sắc. Ta cũng có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, nhưng trong những tế bào của sáu giác quan đó, tế bào nào cũng có sự thương yêu, tế bào nào cũng có bồ đề tâm, tế bào nào cũng có minh và sự hiểu biết. Vì vậy cho nên chìa khóa của sự thực tập là thắp lên một ngọn đèn. Chúng ta có một bài kệ rất hay để thắp đèn:

Thắp lên một ngọn đèn
Cúng dường vô lượng Bụt
Một tâm niệm an lành
Làm rạng ngời trái đất

Trước khi thắp đèn hay bật đèn, ta thở và mỉm cười khi ta đọc lên bài kệ đó. Một mặt ta thấy có ánh sáng chiếu ra trong phòng của chúng ta, một mặt thì vô minh ở trong tâm nhường chỗ cho minh. Ánh sáng phát sinh một lần trong hai lĩnh vực: trong phòng ta ở là ánh sáng của điện, trong tâm ta là ánh sáng của minh, của chánh niệm. Thực tập bài kệ này là để có hai thứ ánh sáng cùng một lúc. Còn nếu chỉ bật đèn trong thất niệm thôi thì ta chỉ có một thứ ánh sáng, đó là ánh sáng của điện, hay ánh sáng của đèn cầy.

Cho nên mới đi tu là đã được học tập thi kệ chánh niệm liền lập tức. Thi kệ chánh niệm là nghệ thuật thắp đèn trong tâm. Nếu anh không thắp đèn thì làm sao anh có ánh sáng trong tâm được, và vô minh không bao giờ trở thành minh được cả. Khi ngọn đèn của ánh sáng đã thắp lên rồi thì ta bắt đầu thấy. Ta thấy được rằng ta đã bỏ quên em bé bị thương trong ta. Rất tội nghiệp. Ta thấy rằng ta phải thực tập bước chân và hơi thở cho vững chãi để chế tác năng lượng chánh niệm, và để có thể trở về để ôm lấy em bé, an ủi và chữa trị cho nó. Nếu ánh sáng đó đầy đủ thì ta có thể thấy em bé đó không phải chỉ là ta mà cũng là mẹ ta, cha ta. Mẹ ta đã từng khổ đau. Cha ta đã từng khổ đau. Và họ chưa có cơ hội ôm lấy em bé trong họ. Thì bây giờ đây ta làm chuyện đó cho họ, tại vì em bé trong ta cũng là cha ta, cũng là mẹ ta. Thử hỏi có cái Hiếu nào lớn hơn cái Hiếu này không? Đạo Nho nói rất nhiều tới Hiếu, nhưng còn có cái Hiếu nào siêu tuyệt và cao vời bằng cái Hiếu này? Khi mỉm cười, mình cũng mỉm cười cho cha; khi mỉm cười, mình cũng mỉm cười cho mẹ. Mình thực tập để giải phóng cho cha, cho mẹ và cho tổ tiên mình. Và nếu ta thực tập được như vậy rồi, thì những câu hỏi làm cho người ta đau khổ da diết như: Tôi là ai? Ba má tôi có thực sự muốn tôi ra đời hay không? Đời tôi có nghĩa lý gì? Tất cả những câu hỏi đó đều trở thành vô nghĩa. Trong kinh Duyên Sinh cũng như kinh Đại Không hay kinh Trung Đạo Nhân Duyên chúng ta thấy rằng với sự thực tập này ta có thể vượt thoát khỏi những câu hỏi đó, những khổ đau đó. Mình không cần phải về Ái Nhĩ Lan, mình không cần phải đi Trung Quốc mới tìm ra được gốc rễ của mình. Về tới quê xưa tìm gốc rễ. Không, mình chỉ cần ngồi đây thôi và nếu tiếp xúc được với các tế bào trong cơ thể mình là mình đã tìm được gốc rễ mình. Cha mẹ mình, tổ tiên mình, ông bà mình đang có mặt một cách một cách rất đích thực trong từng tế bào của cơ thể. Nói cho cùng, các loài vi khuẩn (bactérie) cũng là tổ tiên của mình, và tuệ giác của các loài truyền tới cho mình là bắt đầu từ lúc đó. Không những các loài hữu tình có tuệ giác, có thương yêu, mà những loài mà ta gọi là vô tình cũng vậy.

Con Người Chánh Niệm

Khoa học bây giờ hay nói tới sự sống như là một vật chất (la matière). Ban đầu thì chỉ là vật chất vô tri (la matierè inerte). Ở Đông phương, trước khi thế giới thành lập, thì có cái gọi là khối càn khôn hỗn độn, Tây phương hay dùng từ la soupe primitve, một thứ cháo lỏng nguyên thỉ, trong đó có những giới tử, điện tử… đủ thứ hết. La matière inerte tức là vật chất bất động, không có sự sống; từ đó mà trở thành la matière vivante, nghĩa là chất sống linh động. Lúc ban đầu thì có những loài nấm, có những con a míp, có những loài rêu, rong, đơn tế bào, đa tế bào, rồi sau mới có con người, tất cả đều được gọi là la matière vivante. Nhưng người ta vẫn ưa dùng chữ matière, tại vì người ta nghĩ ban đầu chỉ có vật chất thôi, nghĩa là chỉ có sắc. Họ không biết rằng sắc luôn luôn ôm danh, và sắc chẳng qua chỉ là đối tượng của danh. Thật ra đối tượng của tưởng cũng là tưởng. Cái mà họ gọi là la matière (matter), trước hết phải là đối tượng của tri giác, nó là tri giác, tức là danh, là tâm. Và vì vậy cho nên tâm ôm lấy vật, mà vật cũng ôm lấy tâm. Tâm và vật, theo đạo Phật, là hai khía cạnh của thực tại. Có khi thực tại ấy hiện ra là tâm, có khi nó hiện ra là vật, nhưng kỳ thực nó không phải là vật, nó không phải là tâm. Cũng như chất điểm (particule élémentaire), mình gọi nó là sóng cũng không được, mà gọi nó là điểm cũng không xong, tại vì có khi nó biểu hiện ra như một dạng sóng, có khi nó biểu hiện ra như một dạng hạt. Kỳ thực nó là cả hai. Nó là sóng. Nó là hạt. Đứng về phương diện hình thức thì hạt không thể là sóng, sóng không có thể nào là hạt được. Một cái particule (hạt) và một cái onde (sóng), hai cái đó nó làm sao là một, nhưng kỳ thực hai cái là một. Cũng như mình vừa là cha vừa là con. Con làm sao là cha được? Nhưng kỳ thực có khi mình biểu hiện ra như cha, có khi mình biểu hiện ra như con. Mình là con, mình cũng đồng thời là cha hay là mẹ. Trái ổi khi mới bắt đầu sinh ra là đã có những hạt ổi ở trong đó rồi. Trái ổi đó nó vừa là con mà nó cũng vừa là cha. Lý luận hình thức nói: nếu đã là cha thì làm sao là con được? Nhưng sự thật thì thực tại tự biểu hiện khi thì là cha, khi thì là con, khi thì là sóng, khi thì là hạt, khi thì là danh, khi thì là sắc. Vậy thì la matière inerte là một với la matière vivante, và từ la matière vivante mình có la matière pensante.

Khoa học nói con người là la matière pensante, tức là cái sắc có suy tư, hoặc là sự suy tư biểu hiện ra sắc. Khoa khảo cổ học gọi tên con người vào giai đoạn đứng thẳng trên hai chân được với cái tên là homo-erectus. Erectus là đứng thẳng trên hai chân. Rồi sau con người lại có tên là homo-sapiens. Homo-sapiens là con người có trí tuệ. Bây giờ có danh từ homo-conscius, con người có ý thức, con người có chánh niệm. Con người có chánh niệm, con người có ý thức, con người bắt đầu biết rằng mình có sanh thì có tử. Thở vào, tôi biết rằng thế nào tôi cũng phải bệnh. Thở vào, tôi biết rằng thế nào tôi cũng phải già. Thở ra, tôi biết rằng thế nào tôi cũng phải chết. Cái đó là con người có ý thức. Chính vì có ý thức, cho nên con người phải đau khổ hơn các loài khác. Từ ý thức đó mà con người có sự lo lắng, ưu tư, sầu khổ, gọi là angoisse, và tâm hành này làm ra bệnh khá nhiều. Con người biết đặt vấn đề đau khổ, vấn đề chết. Các loài khác có nhận thức và trí tuệ nằm ở dưới mức độ thấp hơn, vì vậy không ý thức được là mình đang đau khổ, mình sẽ già, mình sẽ chết, hay mình có thể biến thành hư vô. Con người đau khổ nhiều hơn vì có cái angoisse, cái ưu tư ấy. Chính cái angoisse này đã tạo ra triết học. Tôi là ai? Tôi từ đâu tới? Ngày mai sẽ có còn tôi hay không? Trong quá khứ có tôi hay không? Nếu có tôi thì tôi là gì? Trong quá khứ, tôi có thể là một con cóc hay không? Rồi trong tương lai sẽ có tôi hay là không? Nếu có tôi thì tôi sẽ là con gì? Cái mặt tôi có đẹp hay không? Cái đuôi của tôi có dài hay không? Những câu hỏi như vậy. Tất cả những câu hỏi đó cũng đều có tính triết học. Triết học angoisse. Loài người bị bệnh tâm thần một phần cũng vì cái angoisse đó. Cha mẹ tôi có muốn có tôi hay không? Tôi ra đời có phải do một tai nạn hay không? Có ai thương tôi hay không? Tất cả những câu hỏi đó có thể làm cho ta đau khổ. Trong khi đó, chính cái khả năng có thể ý thức được, gọi là con người chánh niệm, lại cũng là yếu tố cứu tinh cho con người và cho muôn loại. Chính cái ý thức đó giúp cho ta biết rằng tình trạng đi xuống của sinh môi trên trái đất đang là mối hăm dọa cho tất cả các chủng loại. Chính nhờ ý thức đó mà chúng ta biết rằng tình trạng của trái đất đang lâm nguy, tại vì con người đã tàn phá trái đất và làm ô nhiễm sinh môi rất nhiều. Con người đang ý thức được đau khổ đang tràn lan về phương diện áp bức, bất công xã hội, khai thác và điên loạn. Cũng nhờ ý thức này mà con người thấy được và thấy được rồi thì có khả năng tự ngưng lại và giúp người khác ngưng lại để đừng đi tới sự đổ vỡ và tự hủy của cả trái đất. Thành ra, một mặt ý thức ấy đưa ra những lo lắng, ưu tư, buồn khổ, sợ hãi, bệnh tật, nhưng một mặt khác, nếu biết sử dụng ý thức và chánh niệm đó, thì ta thấy được cái tình trạng, và biết mình phải làm gì và không nên làm gì để có thể chuyển hóa, đem lại an lạc, tươi vui và sự sống còn cho nhân loại.

Đức Thế Tôn là mẫu người tốt đẹp nhất của chủng loại homo-conscius, con người chánh niệm, con người đi thẳng, con người khéo léo (homo-habilis), con người biết suy tư (homo-sapiens). Danh từ homo-conscius này đã được bắt đầu sử dụng. Trong khi ăn cơm, ta phải ăn như thế nào để có sự thoải mái, để có hạnh phúc. Chúng ta ngồi quây quần lại để ăn cơm với nhau, đó cũng là một sự thực tập rất sâu sắc, như chúng ta thở, chúng ta đi, chúng ta làm việc trong bếp. Ăn như thế nào mà tổ tiên cùng được ăn với ta, mẹ được ăn với ta, cha được ăn với ta, ông nội được ăn với ta, ông ngoại được ăn với ta. Ta ngồi thoải mái như là một người bình an vô sự, không lo lắng, không buồn phiền, an trú trong hiện tại, tiếp xúc sâu sắc với thức ăn và với tăng thân. Ăn như thế nào mà giải phóng được cho tất cả các thế hệ tổ tiên và con cháu.

Ngày xưa, hồi tôi còn bốn năm tuổi, mỗi lần mẹ đi chợ về thì được một cái bánh ít, hay là bánh in gì đó. Trước khi mẹ về thì mình đã vui rồi. Thành ra mình có thể đi thảnh thơi ở trong vườn, chơi với con ốc sên, chơi với hòn sỏi. Đến khi mẹ về thì mình mừng quá. Cầm lấy cái bánh mẹ cho, đi ra phía sau để ăn một mình. Và mình biết rất rõ là không nên ăn mau, phải ăn chậm chậm, càng chậm chừng nào càng tốt chừng đó. Cắn một miếng nhỏ để cho chất liệu của miếng bánh thấm vào trong lưỡi, rồi nhìn lên trời xanh, rồi cúi xuống, đưa chân phải hất con chó nhè nhẹ, lấy tay trái vuốt con mèo, rồi cắn thêm một miếng thứ hai. Cứ như vậy mà ăn hết cái bánh. Có khi ta để ra cả nửa giờ đồng hồ mới ăn hết cái bánh. Tại vì trong lúc đó ta đâu phải lo lắng về danh, về lợi, về quá khứ, tương lai? Ta hoàn toàn có khả năng sống trong hiện tại. Cái bánh in thời thơ ấu ấy là một cái kỷ niệm. Chúng ta ai cũng đã từng được sống như vậy. Lúc ấy, ta không tham danh, tham lợi, không thao thức về quá khứ, không thao thức về tương lai, không đặt những câu hỏi triết học: Ta là ai? Đời sống ta có nghĩa gì? Nhưng bây giờ ta còn khả năng ăn được một cái bánh hay uống một chén trà như vậy hay không? Chúng ta tới đây là để ta học làm trở lại những gì mà chúng ta đã không có thể làm được nữa. Chúng ta tới đây để học đi trở lại cho vững chãi, cho thảnh thơi, đừng đi như bị ma đuổi. Chúng ta tới đây để học ngồi trở lại cho thoải mái như ngồi trên một đóa sen mà không phải ngồi trên một đống lửa hồng. Chúng ta học thở, học nói, học cười. Chúng ta phải học làm lại tất cả. Ngày xưa, mẹ chúng ta đã từng dạy chúng ta ăn, uống, lật, đứng dậy, đi, nói…, chúng ta đã làm được. Bây giờ, chúng ta lại phải học lại tất cả. Tại vì chúng ta sinh ra một lần thứ hai ở trong ánh sáng của chánh pháp.

_____________________
(Pháp thoại ngày 26.3.1998, xóm Mới trong khóa tu mùa Xuân).

Lượng Cả Bao Dung (nhẫn ba la mật)

Chịu và Đựng

Paramita dịch tiếng hán việt là Độ, có nghĩa là đi sang bờ bên kia, vượt bờ. Ta biết rằng ta có thể thực tập được chuyện vượt bờ bất cứ lúc nào trong ngày. Khi giận hờn thì ta đang ở bờ bên này, bờ của sự giận hờn, và ta muốn vượt qua bờ bên kia, bờ của sự thương yêu và tha thứ. Muốn qua bờ bên kia, ta phải sử dụng một chiếc bè nào đó mà ta đã tiếp nhận được từ Bụt, từ thầy, từ tăng thân. Đứng ở bờ bên kia nỗi buồn và cơn giận sẽ không còn nữa. Chúng ta biết rằng bờ bên kia không phải là chuyện xa vời. Bờ bên kia là cái có thể xẩy ra ngay trong giờ phút hiện tại.

Chữ nhẫn có nghĩa là chịu đựng. Danh từ “chịu đựng” là một danh từ rất hay. Nó dịch được chữ ksanti. Nó hay hơn chữ nhẫn nhục. Chữ nhẫn viết theo tiếng Hán có chữ tâm nằm dưới tức là tâm thức của ta, và trên chữ tâm có chữ nhận. Chữ nhận có nghĩa là mũi nhọn, giống như có một cây dao hay cái dùi có mũi nhọn đang làm chúng ta đau nhức. Tâm chúng ta phải làm thế nào để có thể ôm được, chấp nhận được sự nhức nhối đó. Đó là nghĩa của chữ nhẫn theo cảm nghĩ của người Trung Quốc. Trong khi đó tiếng Việt là chịu đựng. Chịu tức là chấp nhận. Chịu không, anh chịu không?” “Tôi chịu.” Cho dù có khó khăn, vất vả, cho dù có lao nhọc, dai dẳng, tôi vẫn gánh chịu được. Chữ chịu nầy là có nghĩa là sự chấp nhận (acceptance). Chúng ta biết rằng chấp nhận là một sự thực tập rất lớn. Khi chưa chấp nhận được chúng ta mới đau khổ nhiều. Giờ phút mà ta chấp nhận được thì ta đã có sự an bình trong lòng rồi. Một người bị ung thư, lần đầu tiên được tin mình đang có bệnh ung thư, không thể tin được rằng mình có thể có ung thư. “Oh, no!”, người ấy nói như vậy. Người đó đau khổ và chống đối. Trách trời, trách đất, giận mình, giận người, giận tất cả. Và người đó phải vật lộn rất lâu với sự thật. Sự đau khổ lên tới cùng cực, kéo dài một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, mười ngày, hai mươi ngày. Thời gian đó là thời gian người ấy học tập để chấp nhận sự thật. Khi chấp nhận rằng tôi có ung thư, đây là một sự thật không thể nào chối cãi được, thì lúc đó ở trong tâm sẽ phát sinh một sự bình an. Chúng ta phần lớn chưa có, hoặc không có ung thư, nhưng chúng ta cũng có thể đã có cái kinh nghiệm tương tự. Khi có một sự kiện bất như ý xảy ra trong đời sống, chúng ta thấy rằng chúng ta không thể chấp nhận được. Chúng ta nghĩ: làm sao sống được với tình trạng này, với cái gì đang xảy ra? Tại sao ta như thế này mà lại phải gặp một hoàn cảnh như thế kia? Tại sao ta như thế mà người ta lại đối xử với ta như thế? Ta phản kháng, ta chống đối, ta không chấp nhận. Nhưng sự thật là như vậy. Cuối cùng ta cũng phải học chấp nhận. Đó là nghĩa chữ chịu của tiếng Việt. Chữ thứ hai là đựng. “Đựng” có nghĩa là chứa đựng. Chúng ta có những cái chén có thể đựng nước. Chén nhỏ thì đựng được ít nước. Chén lớn thì đựng được nhiều nước. Nếu niềm đau nỗi khổ của ta lớn thì ta phải có một cái tâm khá lớn thì mới đựng được nó. Nếu không nó sẽ tràn ngập và làm ta khổ vô cùng. Tâm càng lớn thì nỗi khổ đau càng nhỏ, khi mà tâm đạt tới cái mức rất lớn (cực quảng, thậm đại) thì cái đau khổ đó tuy có mặt nhưng không đủ sức làm cho ta đau khổ. Đây là một điều rất lạ lùng, nhưng rất dễ hiểu. Trong kinh Tăng Chi Bộ, Anguttara-Nikaya, Bụt có dùng một ví dụ rất hay. Bụt nói nếu trong một bát nước mà người ta thả vào một nắm muối thì nước ở trong bát đó uống không được. Nhưng nếu có một người đứng trên thuyền mà đổ một bát muối xuống dưới sông thì người ta vẫn có thể uống nước sông được như thường. Người ta uống nước sông được, không phải tại vì trong ấy không có muối, nhưng tại vì lòng sông quá lớn. Cho nên so với sông thì chút muối ấy không có nghĩa lý gì cả. Cũng vậy, khi ta có một nỗi khổ niềm đau, mà ta có một cái tâm quảng đại, thì nỗi khổ niềm đau đó không đủ sức làm cho ta đau khổ. Nó có đó chứ không phải là không có, nhưng vì ta có một sức chịu đựng rất lớn cho nên nỗi khổ niềm đau đó không có tác dụng gì trên cái tâm của chúng ta. Đó là nghĩa của chữ đựng.

Vì vậy cho nên Nhẫn Nhục Ba La Mật không phải là đè nén xuống, đè nén niềm đau, nỗi giận của mình xuống. Rất đông người học Phật không hiểu được chữ nhẫn, và nghĩ rằng nhẫn tức là ráng cắn răng đè niềm đau nỗi khổ xuống. Khi một dòng sông vĩ đại nhận một nắm muối nhỏ, nó đâu cần phải nghiến răng để đè niềm đau đó xuống đâu. Nó vẫn cười như thường, tại vì niềm đau nỗi khổ đó, nắm muối đó không có nghĩa lý gì hết. Vì vậy nhẫn nhục không có nghĩa là đè nén hay ức chế. Phương pháp cắn răng chịu đựng và cố nuốt đó rất nguy hiểm. Chúng ta đã từng thấy có nhiều người khi bị la mắng hay dày vò thì cố không có phản ứng, cố làm ra vẻ tươi cười. Chúng ta thấy được thiện chí của người đó. Nhưng mà sức người có hạn. Một tuần, hai tuần, ba tuần, bốn tuần…, cho đến một ngày nào đó, những cái mà chúng ta đè nén áp bức đó sẽ vùng dậy và giống như một dòng sông vỡ bờ, chúng sẽ làm ngập lụt cả vùng. Rất nguy hiểm. Chúng ta đã từng thấy, chúng ta đã từng chứng kiến cảnh đó. Vì vậy cho nên nhẫn nhục quyết không phải là sự đè nén, không phải là sự ức chế. Nhẫn nhục tức là mở lòng ra cho tâm càng ngày càng lớn. Nếu chúng ta đè nén chúng xuống, tiếng Pháp gọi là refouler hay là supprimer, thì đến một mức nào đó chúng sẽ trở thành quá nặng như một vùng năng lượng đen tối bị cất giữ lâu ngày, đến một lúc nào đó sẽ bùng dậy. Chúng ta thấy có một cái gì giống như một cơn bão và chúng ta không hiểu tại sao người đó hôm nay lại hành xử bạo động như vậy. Chúng ta không ngờ rằng người đó có thể nói những điều như vậy và làm những điều như vậy. Một người thường thường mình thấy là không có gì bạo động, không có gì hung hãn mà ngày hôm ấy trở thành một người rất bạo động, rất hung hãn. Ta không thể nào nhận ra được người đó. Đó là kết quả của sự ức chế. Bụt không dạy như vậy. Bụt không dạy chúng ta ức chế và đè nén. Bụt dạy ôm ấp niềm đau nỗi khổ đó và làm cho tâm của chúng ta lớn lên bằng phương pháp quán chiếu.

Đựng nghĩa là chứa đựng. Muốn chứa đựng thì chúng ta phải có một dụng cụ, một đồ đựng. Đồ đựng đó nhỏ thì mình đựng được ít. Đồ đựng đó lớn thì mình đựng được nhiều. Dung tích của đồ đựng đó, chúng ta gọi là lượng. Lượng này là lượng của cái gì? Không phải là lượng của một cái chén, cái ly hay một cái lu, cái chậu, mà là lượng của tâm, tại vì chúng ta đang nói tới nhẫn nhục. Vì vậy cho nên lượng của tâm gọi là tâm lượng. Chúng ta khổ đau nhiều hay ít là do cái tâm lượng của chúng ta lớn hay nhỏ. Và tu tập có nghĩa là làm cho cái lượng của tâm càng ngày càng lớn. Lượng tâm càng lớn thì càng ít đau khổ, càng nhiều hạnh phúc.

Lượng Cả Bao Dung

Khi nói chuyện với Từ Hải lần đầu, Thúy Kiều đã thấy được nơi Từ Hải một con người rất tốt, một lòng dạ khá lớn. Thúy Kiều nói: “Anh là người có lượng lớn!”

“Nàng rằng: lượng cả bao dung
Tấn dương được thấy mây rồng có phen.”

Lượng cả bao dung. Quí vị trẻ có thể không biết chữ cả là gì. Cả có nghĩa là lớn. Chữ cả tương đương với chữ đại. Lượng cả tức là đại lượng. Cả cười tức là cười lớn. Anh cả tức là anh lớn. Lượng cả bao dung tức là lượng của Ngài lớn quá cho nên nó bao dung được hết tất cả, dù người kia có lỗi lầm, dù người kia có hư hỏng, dù người kia có khó khăn, dù người kia có ác độc, Ngài vẫn có thể bao dung được, Ngài vẫn có thể thương được. Ngài thấy người đó cần được cứu giúp hơn là cần bị trừng phạt. Khi mình muốn trừng phạt là mình đang có đau khổ. Mình có đau khổ trong lòng cho nên mình mới muốn trừng phạt người kia, để cho người kia khổ, để cho đã cái khổ của mình, cái giận của mình. Khi tâm lượng của mình lớn rồi thì dù người kia không dễ thương với mình, ác độc với mình, tệ lậu với mình thì mình cũng không giận, trái lại mình biết thương xót. Do đó cho nên thay vì có ý định muốn báo thù hay muốn trừng phạt, mình lại có những biện pháp giúp người kia để người kia đừng làm như vậy nữa, tại vì làm như vậy thì chính người đó khổ và người đó làm cho những người khác tiếp tục khổ. Cái đó gọi là lượng cả, đại lượng. Những người lớn như là cha, mẹ, thầy, anh, chị, tỉnh trưởng, quận trưởng, bộ trưởng, thủ tướng, tổng thống, hay vua… đều là những người cần có cái lượng lớn. Tại vì nếu không có cái lượng lớn thì mình không xứng đáng làm anh của người kia, không xứng đáng làm chị của người kia, không xứng đáng làm thầy của người kia, không xứng đáng làm cha, làm mẹ của người kia. Cha mẹ mà giận con, mà từ con, mà oán hờn con cũng tại vì cha mẹ chưa có lượng lớn.

Trong truyện Kiều có một câu khác của Nguyễn Du nói về lượng: “Có dung kẻ dưới mới là lượng trên”. Dung tức là dung chứa, là đựng. Nếu mình muốn là người trên thì mình phải có lượng. Người trên là ai? Người trên là anh, là chị, là thầy, là cha, là mẹ, là vua. Người trên thì phải có lượng, lượng lớn, cái đó gọi là lượng trên. Có lượng lớn thì mình mới có thể dung được kẻ dưới. Dung tức là ôm trùm được mà không có nhu yếu loại trừ, đá ra khỏi, đạp ra khỏi. Nhưng mà lượng lớn hay không là do ta thực tập chứ không phải mình muốn cái lượng của mình lớn mà tự nhiên nó lớn ra được. Ví dụ ở Làng Mai có một thiền sinh mới tới. Thiền sinh đó cần tu học lắm, nhưng thiền sinh đó không dễ chịu. Vậy thì cái lượng của tăng thân như thế nào? Người đó ở được hay không ở được một phần là tùy cái lượng của tăng thân. Cái sự khó chịu đó của người kia chúng ta đo được ví dụ một gang hoặc một gang rưỡi. Nếu cái lượng của tăng thân nhỏ hơn một gang thì tăng thân không bao dung được người đó. Tăng thân chỉ bao dung được một phần sự khó chịu của người đó thôi và người này sẽ không được ở trong chúng. Hội đồng sẽ nói: “Không!”. Hội đồng đại diện cho tất cả tăng thân. Nếu tăng thân giỏi, có hạnh phúc nhiều thì tăng thân dễ chấp nhận được những người khó chịu; nếu tăng thân không được hạnh phúc lắm, tăng thân vẫn còn những khó khăn trong nội bộ thì rất khó cho tăng thân khi nhận thêm một người khó chịu, nhất là người đó khó chịu quá. Cho nên khi hội đồng quyết định nói: “Không!”, đó không có nghĩa là hội đồng không có sự hiểu biết, không có sự thương yêu. Hội đồng không ác độc, hội đồng có hiểu biết, có thương yêu, nhưng tại tăng thân biết rằng cái lượng của mình chưa đủ lớn để chấp nhận người này. Tại vì chấp nhận người này thì tăng thân sẽ rối loạn. Tăng thân cũng cần thực tập như cá nhân, nghĩa là làm thế nào để cho cái lượng của mình càng ngày càng lớn. Nếu cái lượng của tăng thân lớn hơn, hai gang, ba gang mà người kia vẫn không được ở, thì trong trường hợp này chúng ta phải hiểu như thế nào? Chúng ta phải nhìn nhận rằng nếu muốn đi tới một giải pháp êm đẹp cho cả hai bên thì phải có sự cố gắng của cả hai bên. Tăng thân phải cố gắng làm cho cái lượng của tăng thân lớn lên một chút, tăng thân phải hoan hỷ hơn, phải hiểu biết hơn, phải thấy được nỗi khổ của người kia hơn. Nghĩa là cái lượng của tăng thân phải lớn ra thêm. Người kia cũng phải cố gắng thực tập để làm giảm bớt sự khó chịu đi. Nếu người đó thực tập được, làm cho cái mức khó chịu của mình xuống dưới cái mức chịu đựng của tăng thân thì người đó sẽ được chấp nhận. Vấn đề là như vậy. Thành ra cần phải có sự cố gắng của cả hai bên. Điều này có thể được áp dụng ở tất cả trường hợp: cha với con, chủ hãng với người làm công, chị với em, anh với em. Vấn đề là vấn đề cái lượng của mình. Trong câu “Có dung kẻ dưới mới là lượng trên” của cụ Nguyễn Du, ta thấy cụ Nguyễn Du đang nói về những người có lòng lớn, những người lớn, tức là những người anh, người chị. Mình là người lớn thì cái tâm của mình phải lớn. Nếu mình là anh mà cái tâm của mình không lớn hơn cái tâm của em mình thì mình chưa phải đích thực là anh. Nếu mình là chị mà cái tâm của mình chưa lớn bằng tâm em của mình thì mình chưa đích thực là chị. Nội dung câu này là như thế. Còn nếu ta nói: “Tao không chịu đựng được mầy nữa, tao hết chịu đựng được mầy rồi, mầy không phải là em tao. Đi đâu thì đi!” Cái đó là cái lượng của mình đang còn nhỏ. Mà nếu nó còn nhỏ là tại vì mình không chịu thực tập, không chịu quán chiếu để hiểu biết, để thương yêu. Tại vì thương yêu chỉ có mặt khi mà mình đựng được, khi mình chịu đựng được. Trong truyền thống thiền môn ta hay nói rằng một ông thầy giỏi, một ông thầy tốt, là một ông thầy vừa có ân vừa có uy. Cố nhiên làm thầy thì phải có uy quyền. Uy quyền này là uy quyền tinh thần. Nếu không có uy quyền tinh thần thì học trò không thể theo học được. Mà uy quyền đó là do sự thực tập mà có chứ không phải tự nhiên mà có. Nếu vị ấy không thực tập, nếu vị ấy ba nghiệp không được chăm sóc, nếu vị ấy không hành xử theo giới luật và uy nghi thì vị ấy không thể nào làm thầy người ta được, tại vì vị ấy không có uy. Không phải là do nạt nộ người ta mà mình có uy. Uy không có nghĩa là lấy tư cách chủ chùa để dọa nạt người ta, làm người ta sợ và phải vâng theo mình. Sử dụng uy quyền theo kiểu ấy thì đó là chỗ thấp nhất của sự thực tập. Người ta không cãi lại mình, người ta chịu nhịn mình là tại vì người ta sợ mình đuổi. Cái đó không phải là cái uy. Cái uy của một ông thầy có được là do ngôn ngữ, hành động và tư tưởng đều đúng theo chánh pháp. Được đặt trong giới luật và uy nghi thì tự nhiên vị thầy đó có uy và có uy thì học trò sẽ kính nể. Và uy đi đôi với ân. Ân tức là tình thương, ân là lượng cả bao dung. Vị thầy giỏi là vị thầy có lượng cả bao dung. Cái lượng cả bao dung đó đi đôi với cái uy của một vị đạo sư. Vì vậy cho nên chúng ta phải thực tập cả hai cái. Hai cái có dính líu tới nhau.

Trong đời sống chúng ta có thể gặp nhiều điều bất như ý. Ta có thể đau khổ cùng cực. Có lúc ta có thể nghĩ rằng thà chết mà khỏe hơn là sống. Nhẫn Nhục Ba La Mật là phương pháp thực tập để chúng ta có thể đối diện với tất cả những khó khăn, những khổ đau, những trắc trở, những tai nạn có thể xảy ra trong đời chúng ta, dù tai nạn đó là tai nạn lớn nhất. Phương pháp thực tập đó không có gì khác ngoài việc học tháo gỡ để làm cho tâm ta càng ngày càng lớn, để cho cái tâm lượng của chúng ta càng ngày càng lớn. Mà cái lượng của tâm thì chỉ có thể được làm bằng chất liệu của hiểu biết và của thương yêu. Trước hết chúng ta hãy nói về bệnh. Bệnh là một cái mà tất cả chúng ta đều phải chấp nhận. Chúng ta người nào cũng có một chút bệnh, ít hay nhiều. Chúng ta phải có cái lượng khá lớn để có thể chấp nhận được cái bệnh của chúng ta. Cố nhiên bệnh lớn thì phải thực tập nhiều. Và bốn cái bệnh lớn nhất là bệnh chết, bệnh già, bệnh sinh và bệnh bệnh.

Bệnh Chết

Trước hết chúng ta hãy quán chiếu về bệnh chết. Chết là một cái bệnh. Tất cả chúng ta đều đang mang cái bệnh đó ở trong người, tại vì chúng ta ai mà không phải chết. Người thì chết sớm, người thì chết trễ. Anh nói rằng anh có ung thư, anh sẽ chết trong vòng sáu tháng. Anh nói rằng tôi không có ung thư, tôi không chết. Cái đó không đúng. Tôi cũng đang chết như anh. Tôi chỉ chết trễ hơn anh thôi. Anh và tôi cùng mang chung một thứ bệnh, đó là bệnh chết. Có nhiều người tìm cách để quên rằng mình có cái bệnh chết đó. Các nhà triết học và đạo học đều đặt vấn đề: Tại sao ta sinh ra? Để rồi ta phải chết?

Có người đi tìm phép trường sinh bất tử, đi tu đạo Lão, tịch cốc, luyện đơn. Có người đi tu đạo Bụt. Có người đi uống rượu, tại vì uống rượu thì có thể quên được trong chốc lát sự thật là anh thế nào cũng phải chết. Cho đến những nhà nông dân nghèo khổ, đầu tắt mặt tối, cả ngày lo chuyện cơm áo nhà cửa, mà thỉnh thoảng cũng có một vài phút rỗi rảnh nghĩ đến thân phận của con người: tại sao mình phải chết. Ông láng giềng của tôi, ông Gerlin, ngày xưa nhà ở gần am Phương Khê, là người gốc Ý. Ông nói tiếng Pháp rất ít và ưa pha vào tiếng Ý. Ông không có học thức. Ông trồng nho. Ông phát cỏ. Chính ông đã tới dạy cho tôi cái phương pháp phát cỏ. Ông cũng biết điều hợp những cử động của hai tay với hơi thở, tại vì kinh nghiệm cho ông biết rằng làm như vậy thì không mệt. Một hôm ông ngưng phát cỏ và than thở với tôi là ông rất phẫn uất đối với sự thật đó của cuộc đời: tại sao một mai này mình phải chết.

Thiền sư Tiên Nhai của Nhật Bổn một hôm viết xuống một chữ Tử rất lớn. Rồi thầy viết thêm một hàng nhỏ: “Nếu người nào thấy được bản chất của cái này thì mới là bậc đại trượng phu”. Tất cả chúng ta ai cũng đều có cái bệnh chết. Đạo Lão, đạo Tiên cũng đi tìm cách chữa bịnh này, đạo Bụt cũng đi tìm cách chữa bệnh này. Chúng ta phải chịu đựng nó bởi vì nỗi sợ chết là cái ung nhọt do bệnh làm ra, nó luôn luôn nằm dưới đáy tâm thức. Sở dĩ chúng ta cười được, nói được, chạy chơi được là tại vì ta tạm quên nó thôi, chứ sự thật nó sờ sờ ra đó, và một ngày nào đó thì mình phải chết. Muốn để cho cái sợ chết không làm mình khổ thì mình phải thực tập. Mình phải có cái lượng. Đạo Bụt dạy mình nhiều phương pháp. Đạo Bụt không dạy mình phải tịch cốc luyện đơn như đạo Lão. Đạo Bụt dạy mình trong đời sống hằng ngày, trong những giây phút của đời sống hằng ngày, sống làm sao cho sâu sắc để đồng thời tiếp xúc được với bản môn. Chỉ có tiếp xúc được với bản môn thì ta mới có thể chữa được bịnh chết. Muốn tiếp xúc được với bản môn thì ta phải quán chiếu. Khi tiếp xúc được với bản môn rồi thì ta thấy sống và chết chỉ là sóng, trong khi ta là nước. Lúc đó cái lượng của mình rất lớn. Sống thì sống chết thì chết. Sống một triệu lần cũng được. Chết một triệu lần cũng được. Không sợ nữa. Cỡi trên sóng sinh tử mà đi. Đó là người đã đạt được tới sự siêu thoát sinh tử. Đó là cái công phu làm cho lượng mình lớn. Không những ta gọi nó là đại lượng mà còn gọi nó là vô lượng. Vô lượng thọ, tức là tên của Bụt A Di Đà. Vô lượng thọ là gì? Là sống hoài sống mãi. Làm sao có thể có được chuyện này? Có ai sống hoài đâu? Ai có thể tự xưng mình là vô lượng thọ? Không ai tự mình xưng mình là vô lượng thọ cả. Nhưng đối với người đã tiếp xúc được với bản môn thì người đó có vô lượng thọ. Chúng ta cũng vậy. Sư chú, sư cô tuy còn trẻ, nhưng nếu tiếp xúc được với bản môn thì sư chú và sư cô đã là một bậc vô lượng thọ.

Bệnh Sinh

Sinh là một cái bệnh. Điều này mới nghe thì thấy lạ lùng. Tại vì sinh, la naissance, thường được người ta cho là một hiện tượng rất vui, rất hy hữu. Khi sinh con, người ta làm tiệc ăn mừng và tới ngày sinh nhật người ta thường làm một cái bánh và đốt lên bao nhiêu ngọn nến. Người ta ăn mừng sự sống. Không ai ăn mừng sự chết cả. Mình muốn thoát ly khỏi sự chết, chứ mình đâu có muốn thoát ly khỏi sự sống. Vì vậy cho nên giữa hai cái sinh và tử, mình chỉ muốn chọn một cái. Chọn sinh thôi, còn tử thì bỏ ra ngoài. Nhưng quán sát lại ta sẽ thấy có những người đã từng trải qua rất nhiều khổ đau. Niềm vui rất ít, mà nỗi khổ thì vô lượng. Có những người sống ngay trong thế kỷ này mà mỗi ngày đã tìm cách tự tử ba, bốn lần, tại vì họ chịu đựng không nổi sự sống, họ không có Nhẫn Nhục Ba La Mật. Chúng ta đã từng đọc hồi ký của những người trong tù, của những người gian nan, vào sinh ra tử. Chúng ta hiểu được tại sao có những người cảm thấy rất mệt mỏi với sự sống. Ngay trong giới những người còn trẻ cũng có người muốn chết, muốn tìm giải thoát trong cái chết. Nhưng đức Thế Tôn dạy rằng chết không phải là giải pháp. Tại vì sau khi chết rồi, anh lại phải sinh ra trở lại. Con đường tự tử là con đường dại dột. Anh nghĩ rằng chết là để chấm dứt, nhưng theo tuệ giác của tôi thì chết không phải là chấm dứt mà là một khúc quanh để chuyển sang một giai đoạn mới. Chết là để sinh ra trở lại. Điều này không phải chỉ đúng trong giờ phút lâm chung mà đúng ở trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. Trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày, anh luôn luôn chết để sinh trở lại. Nếu thực tập thì anh sẽ sinh vào một cõi nhẹ nhàng hơn, nếu anh không thực tập thì anh sẽ sinh vào địa ngục, ngay trong giờ phút hiện tại. Trong một ngày mình có thể sinh ra và chết đi rất nhiều lần, và cõi mình sinh ra tùy thuộc ở cách mình chết. Vì vậy cho nên ngày xưa, và cả bây giờ cũng vậy, có rất nhiều người sợ sinh, tại vì sinh ra là phải chịu đựng những cái mà mình đã chịu đựng trong suốt cuộc đời mình. Giải thoát tử rồi lại còn muốn giải thoát sinh nữa. Nếu không giải thoát sinh thì ta còn phải chết hoài, chết trăm lần, ngàn lần, vạn lần. Ở địa ngục, người ta nói rằng mỗi ngày người ta phải chết cả triệu lần. Đúng như vậy. Trong địa ngục, giây phút nào ta cũng đau khổ, vì vậy cho nên giây phút nào ta cũng muốn chết. Nhưng chết đâu có phải là yên, là hết. Chết là để sinh ra lại. Cho nên giải thoát không phải là giải thoát tử, mà là giải thoát sinh tử. Mục tiêu đó trong đạo Bụt gọi là vô sinh. Cửa vô sinh mở rồi. Vì vậy tìm cách giải thoát ra khỏi cái chết, mà không tìm cách giải thoát ra khỏi cái sinh thì đó là một điều mơ ước viển vông. Làm sao có cái sinh mà không có cái chết. Sự thật rất đơn giản là có sinh thì phải có tử, có ngày thì phải có đêm, có trái thì phải có phải, có trên thì phải có dưới. Tại sao anh muốn có một cái mà không muốn có cái kia? Anh muốn có phải mà không muốn có trái thì làm được, làm sao có thể có trái mà không có phải? Nếu anh chấp nhận sinh thì anh phải chấp nhận tử. Chúng ta đã hiểu rằng tại sao ở trong kinh điển có câu giải thoát sinh tử. Nếu thấy được điều đó, quí vị mới bắt đầu hiểu được mười hai nhân duyên trong đạo Bụt. Người ta tu đạo Lão để trốn thoát cái tử. Người ta tu đạo Bụt để giải thoát cả sinh lẫn tử. Cái khác là ở chỗ đó. Giả dụ có người đau khổ tới mức cùng cực, trong đời không có điều gì vui hết, đời không đáng sống. Như Thúy Kiều có lúc nói: “Đã không biết sống là vui, tấm thân nào biết thiệt thòi là thương”. “Sống mà đã không vui thì tại sao không chết đi?”. Có rất nhiều người nghĩ như vậy. Nhưng may mắn là ta còn có thể chết được. Giả dụ có người tuyên án rằng: anh phải sống mãi mãi, hoài hoài, không bao giờ được chết. Đó là một cái án ghê gớm. Cái án đó nặng bằng muôn ngàn án tử hình. Lâu nay anh có tự do muốn chết thì chết, nhưng bấy giờ vì có bản án đó rồi nên anh bắt buộc phải sống hoài. Có những lúc anh mệt quá chừng, mệt tới mức nghĩ rằng chỉ có cái chết mới giúp anh được nghỉ ngơi. Thành ra trường sinh bất tử có thể không phải là cái mà chúng ta đi tìm. Cái chúng ta đi tìm không phải là trường sinh bất tử. Cái chúng ta đi tìm là giải thoát sinh tử. Tức là ta có khả năng coi sinh và tử nhẹ như một sợi tóc, một chiếc lông hồng, một sợi tơ. Chỉ có thực tập đạo Bụt và tiếp xúc với bản môn ta mới giải thoát được sinh và tử. Cho nên người ngộ đạo thì sinh ra cũng được, chết đi cũng không sao. Gọi là ra vào sinh tử. Nhưng ra vào với cái lượng của một vị bồ tát. Cỡi trên sóng sinh tử mà đi. Sinh hả, cũng được! Tử hả, cũng được! Tại vì mình có một cái thấy lớn, một tình thương bao la, một tâm lượng bao la, cho nên sinh và tử không thực sự đụng chạm tới mình. Vì vậy cho nên thiền sư Tuệ Trung đời Trần, trong bài Phóng Cuồng Ca đã thốt lên: “Cái sống và cái chết tới ép uổng ta, vây hãm ta, nhưng làm sao động tới ta được?” (Sinh tử tương bức hề, ư ngã hà thương). Đó là câu thơ của một người ngộ đạo có thể xem sinh tử nhẹ như chiếc lông hồng.

 

Bệnh Già

Già là một cái bệnh, và tất cả chúng ta đều có mang hạt giống của bệnh già. Có ai mà sẽ không già? Thế nào ta cũng sẽ phải già. Ta có chịu đựng được không? Giờ này đây sư em Tuệ Nghiêm đâu có chấp nhận được sự kiện sau này mình sẽ trở thành một sư bà móm. Nhưng thế nào một ngày mai sư bà cũng móm, không thể nào tránh thoát được. Sư cô có thể là không tin rằng chuyện đó sẽ xảy ra cho mình. Sự thật là tất cả chúng ta đều sẽ phải trở thành những ông già móm, những bà già móm. Chúng ta đều sẽ phải chống gậy để đi. Chúng ta đều sẽ không còn có hai chân khỏe để chạy. Quí vị hãy nhớ đi thiền hành mỗi ngày, nếu không thì uổng lắm đó. Đến khi hai chân run rồi thì dù ta có muốn đi thiền hành nữa cũng không đi được. Tôi cũng đang mang bệnh già và tôi đang thực tập quán chiếu rất nhiều về cái bệnh già của tôi. Ngày xưa ký ức tôi rất tốt. Đến khi về già rồi, tự nhiên có những cái tiếng, có những cái chữ mình muốn nhớ lại mà chúng không chịu nhảy lên, và dù có đi tìm tòi lục lạo trong tàng thức mình cũng khó nhớ lại. Ban đầu tôi không chấp nhận được điều đó. Tôi không chấp nhận được cái chuyện là mình đang già. Có một lúc, vào hai ba giờ khuya, tôi quên một chữ. Quên một chữ mà không ngủ được nữa. Mà chữ ấy đâu có quan trọng gì lắm, đến nỗi mình phải bỏ giấc ngủ. Mình bỏ giấc ngủ đi tìm là tại vì mình giận. Mình giận vì không chấp nhận được sự kiện là mình đã già. Chữ đó là chữ salpêtre. Salpêtre là một thứ muối mọc ra ở những chân tường đá ẩm thấp. Tôi tự bảo: “A lại gia thức ơi, chữ đó là chữ gì, giúp tôi với!” Tàng thức không giúp tôi được. Tất cả mọi người đều ngủ hết rồi. Điện thoại cho ai được. Mà mở tự điển ra thì mình đâu có biết rằng chữ ấy phải bắt đầu bằng chữ “S”? Có một lần cả cái tên của thành phố Darwin tôi cũng quên mất. Đi trên xe buýt tôi nghĩ tới cái thành phố mang tên nhà bác học đó mà không nhớ được cái tên ấy. Nhà bác học đã sáng tạo ra thuyết tiến hóa. Sự thật là tôi đã già. Mỗi ngày có nhiều tế bào óc chết. Những phản kháng và bực mình của ta chỉ là do vô minh tạo ra thôi. Chúng ta nhiều người có trí tuệ, nhưng không chịu đem trí tuệ của mình ra để sử dụng. Mình biết chứ không phải không biết đâu, nhưng mình vẫn không chịu đem trí tuệ ấy ra sử dụng. Vì vậy trong khi còn trẻ, ta hãy làm những gì mà người trẻ có thể làm được. Điều này rất quan trọng. Thiền sư Huyền Quang, tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm, ngày xưa ưa ở Côn Sơn. Có mấy sư chú ở chung với Ngài. Mùa đông này chúng ta sẽ được học về thầy Huyền Quang trong khóa tu về chủ đề Truyền Thống Sinh Động Của Thiền Tập. Thầy Huyền Quang lúc đó đã già và vì vậy rất ưa sống với các sư chú. Tại vì thầy nghĩ rằng sống với các sư chú thì mình có cảm tưởng là mình ít già hơn. Thầy Huyền Quang rất ưa hoa cúc. Thầy để rất nhiều thì giờ chăm bón hoa cúc. Thỉnh thoảng đến mùa hoa mai nở, thầy cũng đi vào núi cắt một vài cành mai về cắm. Thầy nói rằng sở dĩ thầy cắt cành mai về là để cho cái bệnh già của Thầy được thuyên giảm chút đỉnh đó mà thôi.

Ngửa mặt trời cao hỏi lý do
Hiên ngang trong núi mọc thành hoa
Hái về không để chưng vui mắt
Chỉ mượn màu xuân đỡ bệnh già.

Tôi có cái bệnh già, vì vậy cho nên tôi cắt một cành mai về cắm ở trong phòng để ngắm nhìn và cảm thấy bớt già. Khi đọc thơ thầy Huyền Quang, tôi mới hiểu tại sao tôi ưa ngồi chơi với các sư cô và các sư chú trẻ. Tại khi ngồi với các người trẻ, ta thấy là ta không già. Nếu quán chiếu, mình có thể làm hay hơn. Mình có thể vượt được cái bệnh già chứ tại sao không. Nếu quán chiếu vào bản thân, nếu quán chiếu vào bông hoa, vào cành mai, nếu quán chiếu vào các sư chú và các sư cô ta sẽ thấy rằng ta đâu có già. Ta là một với họ. Ta đang trẻ mà, ta sẽ trẻ mãi mãi. Tất cả đều do sự quán chiếu. Quán chiếu như vậy, cái thấy lớn lên và cái bệnh già sẽ tiêu mất. Vì vậy cho nên bốn câu thơ mới đọc kia cũng chưa có gì gọi là siêu việt lắm.

Ngửa mặt trời cao hỏi lý do
Hiên ngang trong núi mọc thành hoa
Hái về không để chưng vui mắt
Chỉ mượn màu xuân đỡ bệnh già.

Đó chỉ mới là thoa kem cho bớt đau nhức thôi, chứ chưa phải là sự trị liệu.

Bệnh Bệnh

Cái bệnh thứ tư gọi là bệnh bệnh. Bệnh sinh, bệnh chết, bệnh già và bệnh bệnh. Bệnh bệnh có nghĩa là chúng ta không ai tránh khỏi cái bệnh. Nous sommes tous sujets à la maladie. Anh nói anh không có bệnh gì hả, nhưng mà anh cũng có bệnh bệnh. Nghĩa là anh có thể bị bệnh bất cứ lúc nào. Sự kiện chúng ta có thể bị bệnh, cái đó gọi là bệnh bệnh. Chúng ta phải quán chiếu. Bụt không muốn chúng ta trốn chạy. Cho nên Ngài mới nói rằng mỗi ngày ta đều phải thực tập: “Tôi thế nào cũng phải bệnh, tôi không thể nào chạy thoát khỏi cái bệnh.” Luận Bảo Vương Tam Muội có nói: ”Tu học đừng có cầu cho không có bệnh. Không có bệnh thì tham dục dễ sanh.” Mình phải học làm thế nào để chấp nhận được cái bệnh của mình. Mình phải làm quen với nó. Mình phải cười với nó. Mình phải ôm lấy nó. Mình phải đồng nhất với nó. Cuối cùng mình và nó cùng siêu việt. Mà con đường thực tập cũng là một con đường làm cho cái lượng của ta lớn lên. Có những người bệnh ít thôi, nhưng cũng chịu đựng không nổi. Bệnh chưa ghê gớm gì mấy, nhưng đã hốt hoảng và xuống tinh thần. Đôi khi mới tưởng tượng là mình có cái bệnh đó thôi, chứ chưa thực sự có bệnh mà đã hoảng lên, và đã bị trầm cảm (depression). Những người ấy có cái lượng rất nhỏ. Có một vị nữ thiền sư ở Boston biết bà ta có ung thư. Trong những năm chót của đời bà, bà thực tập rất sâu sắc. Có thể cái bệnh đó là một trong những nguyên do khiến cho vị nữ đạo sư đó thực tập rất vững chãi, rất êm ả. Đến ngày lâm chung, thị tịch, người nữ đạo sư đó có rất nhiều an bình. Ai cũng công nhận như vậy. Ngày xưa tôi đã từng giảng dạy ở trong thiền viện của vị nữ đạo sư đó. Từ khi được nghe tin rằng mình có ung thư, vị nữ đạo sư đó đã đi qua một cơn sóng gió. Nhờ sự thực tập cho nên sau một thời gian ngắn bà chấp nhận được. Biết rằng mình còn có bao nhiêu tháng, bao nhiêu năm để thực tập, nên bà đã đem hết tất cả con người của mình để thực tập. Do đó bà không còn chạy theo những cái danh, những cái lợi tầm thường nữa. Sự có mặt của một người như vậy rất có ích lợi cho những người xung quanh. Đâu có cần phải sống một trăm năm. Chỉ cần sống một năm thôi, hay là sáu tháng thôi, mà sống đúng với cái phong thái của một bậc thầy, còn hơn là sống năm mươi năm, bảy mươi năm mà phong thái của mình và đời sống của mình không phản ảnh được những ngôn từ mà mình nói ra. Những người như thế, như vị nữ đạo sư kia, đã có thể vượt ra khỏi cái bệnh gọi là bệnh bệnh. Thấy được rằng bệnh là một chuyện tất nhiên. Nếu mình không bệnh thì người khác bệnh. Mà người khác cũng là mình thôi. Cho nên, nếu mình thấy người khác bệnh mà mình mừng: “May quá, không phải mình!” tức là cái lượng của mình còn rất nhỏ. Trong sự thực tập hàng ngày, mình phải thấy cái bệnh của người kia là cái bệnh của mình. Do đó mình có thể lân mẫn, giúp đỡ và chăm sóc người đó như là chính mình bệnh. Những người như vậy có tâm lượng lớn. Nếu có rủi ro mà người như vậy mắc bệnh, thì người đó không đau khổ nhiều như những người khác. Cùng gặp những biến cố như nhau mà một người thì đau khổ cực kỳ, một người có thể mỉm cười được. Cái gì làm ra sự sai khác đó? Đó là Ksantiparamita, Nhẫn Nhục Ba La Mật. Chúng ta phải học hỏi. Chúng ta phải thực tập trong đời sống hằng ngày.

Trái Tim Ôm Trọn Thái Hư

Chúng ta đã nói tới danh từ chịu đựng. Chịu có nghĩa là chấp nhận và đựng có nghĩa là ôm lấy. Ôm lấy có nghĩa là không phải vứt bỏ ra ngoài, không liệng ra ngoài. Nếu chúng ta có thể ôm lấy được, thì đó là vì dung tích của trái tim chúng ta lớn. Còn nếu trái tim chúng ta nhỏ thì chúng ta sẽ không ôm lấy được. Nếu chúng ta ôm được và ôm hết lòng thì đối tượng ấy sẽ được chuyển hóa. Ở Việt Nam, ta có truyền thống quý khách; mỗi khi có khách, nhà tuy chật nhưng ta vẫn mời khách ở lại, dù khách và ta phải nằm dưới đất, dù phải trải chiếu nằm bên nhau như cá hộp. Vì có lòng thương mến những người khách cho nên chúng ta chấp nhận. Chúng ta nói “chật là chật bụng chứ không phải là chật nhà.” Khi trái tim của chúng ta không chật, thì dù cái nhà có chật cũng không sao. Đó là tại vì cái lượng của chúng ta lớn. Bài chúc tán có câu: “Bậc đại giác viên mãn xuất hiện nơi cõi Ta bà, tấm lòng ôm trọn cả thái hư.” Tấm lòng ôm trọn cả thái hư là được dịch từ câu: “Tâm bảo thái hư”. Mấy chữ đó cho chúng ta thấy trái tim của đức Thế Tôn rất lớn. “Lượng châu sa giới”: lượng Từ Bi của Ngài ôm được cả vũ trụ. Thái hư là vũ trụ, the great cosmos, the immense space. Thái là lớn. Hư là không gian. Bốn chữ này là bốn chữ ca ngợi đức từ bi và nhẫn nhục của Bụt. Trái tim của Bụt, tình thương của Bụt có thể bao trọn và ôm hết được tất cả các loài chúng sanh với tất cả những gai góc khó khăn; ôm lấy được hết, ôm mà không đau khổ. Khi trái tim mình còn nhỏ, mà mình phải ôm thì mình đau khổ, nhưng khi trái tim đã lớn, có nghĩa là khi tình thương đã mở rộng, thì mình không còn đau khổ nữa. Cho nên sự thực tập của chúng ta là phải làm cho tim ta lớn lên hơn mỗi ngày.

“Lượng”, chữ này chúng ta đã học rồi. Lượng tức là sức dung chứa, là sự bao dung của ta. Trong thơ Kiều có câu: “Có dung kẻ dưới mới là lượng trên”. Châu là bao trùm, là đi giáp một vòng xung quanh. Sa giới tức là những thế giới nhiều như cát ở sông Hằng. Trái đất của chúng ta chẳng qua chỉ là một phần rất nhỏ của thái dương hệ, của một tiểu thế giới thôi, và ngoài kia còn có biết bao nhiêu tinh hà, còn có biết bao nhiêu thế giới trong vũ trụ nhiều như số cát sông Hằng. Vì vậy thế giới được gọi là sa giới. Cái lượng của đức Thế Tôn bao trùm hết tất cả mọi cõi. “Tâm bảo thái hư, lượng châu sa giới”, tám chữ rất hay. Tám chữ nói lên được cái từ bi vô lượng, lòng thương và sức dung chứa vô lượng của một trái tim. Người ấy là ai mà có một trái tim rộng lớn như vậy? Chúng ta là học trò của người, chúng ta phải thực tập thế nào để trái tim của chúng ta cũng càng ngày càng lớn để có thể nhìn những người khác bằng một cặp mắt ít khắt khe hơn, ít hẹp hòi hơn. Chúng ta phải nhìn bằng con mắt rộng rãi. Chúng ta phải có không gian bên trong thật nhiều thì tự nhiên con mắt chúng ta sẽ sáng ra. Con mắt đó có thể nhìn mọi loài với tình thương. Nhìn mọi loài với tình thương là năm chữ ở trong kinh Pháp Hoa, “từ nhãn thị chúng sinh.” Không phải là hễ chúng ta muốn nhìn bằng tình thương mà nhìn được đâu. Ai lại không muốn nhìn bằng tình thương, nhưng nếu trái tim ta đang còn nhỏ thì ta nhìn cách ấy không được. Do đó sự thực tập của chúng ta là phải nuôi cho trái tim lớn lên. Mà muốn nuôi cho trái tim lớn lên thì ta phải thực tập quán chiếu để thấy. Khi có thấy thì mới có hiểu, và có hiểu rồi thì mới có thương.

Bậc Đại Giác Viên Mãn
Xuất hiện nơi cõi Ta bà
Tấm lòng ôm trọn cả thái hư
Trí giác soi cùng đại thiên thế giới

Ngay đối với cái bệnh của chúng ta, dù là một chứng bệnh ngặt nghèo, nan y hay là một chứng bệnh tầm thường mỗi ngày của chúng ta, mà nếu chúng ta có một trái tim lớn, có một cái nhìn lớn thì những chứng bệnh đó không còn làm khổ chúng ta nữa.

Kỳ trước chúng ta đã học tới bốn cái bệnh lớn mà người nào cũng đang mang ở trong con người, là bệnh sinh, bệnh già, bệnh bệnh và bệnh chết. Bốn cái đó làm cho chúng ta đau nhức. Mỗi khi nghĩ tới bốn cái đó, chúng ta thấy nhức nhối tại vì thân của chúng ta đã bị điều kiện hóa bởi chúng. Ta thế nào cũng phải già, ta thế nào cũng phải bệnh, ta thế nào cũng phải chết, và tệ hơn nữa là chết rồi ta lại phải sanh ra trở lại để mà tiếp tục chịu khổ. Đó là chứng bệnh trầm kha mà đức Thế Tôn đã đi tìm những phương thuốc để trị liệu.

Thế và Xuất Thế

Trong giới Phật học, người ta có ý niệm về hai loại nhẫn, tức là hai loại chịu đựng. Thứ nhất là nhẫn thế gian và thứ hai là nhẫn xuất thế gian. Nhẫn thế gian nghĩa là cái nhẫn trong cuộc sống hàng ngày của người phàm, còn nhẫn xuất thế gian là một loại nhẫn được làm bằng chất liệu của tuệ giác. Có những người có một khả năng nhẫn nhịn nào đó, nhưng trong khi nhẫn nhịn họ cảm thấy đau khổ và thấy rằng mình phải nghiến răng chịu khổ. Khi thực tập nhẫn xuất thế gian, chúng ta vượt tới một bờ bến rất xa lạ: trong khi nhẫn, chúng ta không còn thấy chúng ta nhẫn nữa, chúng ta không cần chịu đựng nữa, tại vì chúng ta đã có tuệ giác, đã tiếp xúc được với bản môn. Học Bụt, chúng ta phải học cho được nhẫn xuất thế gian. Chính cái nhẫn của xuất thế gian mới đem lại cho ta an lạc thực sự. Nhẫn của thế gian chẳng qua chỉ có thể giúp ta tránh khỏi một ít những đổ vỡ và lầm lỗi. Nhẫn tới một mức nào đó thì người đời hết nhẫn được nữa và họ sẽ nổ tung. Ngày xưa có một đại gia đình, cả trăm người, suốt trong chín thế hệ, nổi tiếng là ăn ở với nhau vô cùng hòa thuận. Đó là gia đình Trương Công Nghệ. Vua nghe đồn là gia đình đó ăn ở với nhau rất hòa thuận nên mới ngự giá tới thăm. Tất cả mọi người trong gia đình đều ra quỳ xuống để đón tiếp vua. Vua hỏi: “Bí quyết của các vị là gì mà có thể sống với nhau có hạnh phúc, không có sự xáo trộn, không có sự mâu thuẫn và không chia rẽ?” Ông tộc trưởng mới dâng lên một tờ biểu để trả lời. Trong tờ biểu đó chỉ có viết một trăm chữ “nhẫn”. Vua gật đầu khen phải và thưởng cho gia đình kia mấy tấm lụa. Đó là bài học thuộc lòng trong sách Luân Lý Giáo Khoa Thư mà tôi được học hồi còn nhỏ. Và đây là cái nhẫn gọi là nhẫn thế gian.

Mũi Tên Thứ Hai

Khi một người bị trúng tên thì người đó cảm thấy đau nhức. Nhưng giá dụ có một mũi tên thứ hai được bắn tới và trúng ngay chỗ mũi tên đầu, thì nạn nhân của hai mũi tên không phải cảm thấy đau nhức gấp hai lần mà có thể đau nhức gấp trăm lần. Bụt nói: “Khi có một sự đau nhức trong cơ thể, chúng ta phải thực tập như thế nào để thấy rằng đó chỉ là một đau nhức của cơ thể mà thôi, và ta thấy được tầm vóc chính xác của sự đau nhức đó. Đừng đánh giá nó một cách sai lầm”. Nói như vậy có nghĩa là khi có một đau nhức ở trong cơ thể, ta phải quán sát cho kỹ để thấy đó chỉ là một sự đau nhức trong cơ thể có giới hạn của nó thôi, và đừng tưởng tượng rằng sự đau nhức đó quá trầm trọng. Tưởng tượng như vậy thì ta sẽ lo lắng. Ta không nên nghĩ: “có thể là ta đang bị ung thư”. Và khi chúng ta hoảng sợ tức là mũi tên thứ hai đã lao tới, đã cắm vào chỗ của mũi tên thứ nhất, và sự đau nhức đó sẽ tăng lên gấp trăm lần. Một lần trước, chúng ta có nói tới chuyện một người chỉ bị một chứng bệnh thường thôi nơi cuống trái tim, có thể chữa được dễ dàng. Nếu sống cho đàng hoàng, ăn uống ngủ nghỉ cho đàng hoàng, thì người ấy sẽ không sao cả. Nhưng nếu người ấy quá sợ hãi thì những cơn chấn động tâm thần sẽ làm cho ông ta đau khổ gấp cả trăm lần. Chính người đó đã dại dột để cho mũi tên thứ hai bay tới. Bụt dạy đừng để cho mũi tên thứ hai bay tới. Khi có một khổ đau nào đó, ta phải biết nhận diện tầm quan trọng của nó và đừng cường điệu, đừng tưởng tượng. Mũi tên thứ hai có thể là sự giận dữ hay sự oán hờn. Ta có thể oán trách những người khác, ta có thể oán trời trách đất là tại sao ta là người phải gánh chịu cái bệnh đó mà không phải là một người khác? Thường thường chúng ta hay nghĩ là ung thư hoặc AIDS thì người khác bị chứ tại sao mình lại bị. Người khác bị thì ta chấp nhận được còn ta bị thì đó là vô lý, là không đúng, là bất công, là không thể chấp nhận được. Cái khuynh hướng suy nghĩ như vậy có mặt trong tất cả mọi người. Các chứng bệnh, những tai nạn xe hơi, nước, lửa, bão tố, v.v.., những cái đó chỉ có thể xảy ra cho ai khác thôi. Điều đó chứng tỏ ta không thấy được rằng ta đang mang trong ta đủ bốn thứ bệnh, cũng như tất cả mọi người khác. Ai cũng có thể bị bệnh và có thể bệnh ấy sẽ bộc phát ra bất cứ lúc nào. Đó là một sự thật đơn giản. Người nào, trẻ hay già, cũng có thể bị bệnh và có thể bị bệnh bất cứ lúc nào. Chúng ta phải học chấp nhận chuyện đó. Đó gọi là chịu. Vì không chấp nhận được nên khi bị bệnh ta mới phản kháng, mới nổi giận, mới oán trời trách đất. Vì không có trí tuệ cho nên ta mới không chấp nhận được cái chuyện là có thân thì có bệnh. Người có trí tuệ và có quán chiếu chấp nhận được sự thật một cách dễ dàng. Người không có trí tuệ và không có quán chiếu thì tiếp tục lồng lộn phản kháng. Và sự đau khổ đó, sự bực bội đó, hoặc sự thất chí đó chính là mũi tên thứ hai.

Hố Thẳm Và Đất Liền

Khi có một nỗi đau nhức hay một chứng bệnh trong cơ thể, ta phải nhận diện nó và học phương cách để chấp nhận nó. Chấp nhận được thì chúng ta bắt đầu khỏe. Đó là điều kiện nền tảng để chúng ta có thể đi tới, ôm lấy nó và chuyển hóa nó. Có nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng cái mà họ cần nhất là sức khỏe, sức khỏe toàn hảo. Khi ta cầu nguyện Bụt hay cầu nguyện Chúa, chúng ta muốn Chúa hoặc Bụt sẽ cho ta một sức khỏe toàn hảo. Nhưng đó không phải là một lời cầu nguyện được soi sáng bởi trí tuệ, tại vì cái gọi là sức khỏe toàn hảo ấy không bao giờ có mặt, đó là cái không thể có. Perfect health là một cái gì không có thật. Chúng ta phải học sống với cái bệnh của chúng ta, phải làm hòa với cái bệnh của chúng ta và phải ôm lấy cái bệnh của chúng ta, đó gọi là nhẫn. Nhẫn là ôm lấy một cách vui vẻ, chấp nhận và chịu đựng. Sở dĩ chúng ta còn sống đây là vì hồi còn bé chúng ta đã bệnh lên bệnh xuống liên miên, hết cơn bệnh này tới cơn bệnh kia. Chính nhờ em bé bệnh lên bệnh xuống như vậy, cơ thể em mới phát sinh ra khả năng chống cự được với những con virus, với những con vi khuẩn, với những loại nấm độc. Nếu em bé không trải qua những cơn bệnh như vậy, thì em bé không khỏe mạnh được như bây giờ chúng ta thấy. Thành ra chúng ta phải học để chấp nhận cái bệnh và phải ôm lấy cái bệnh chúng ta, phải sống an lạc và hòa bình với nó. Bệnh của quý vị, nếu là bệnh ruột, bệnh tim, bệnh nhức mỏi, bệnh thận hay bệnh tiểu đường cũng vậy, quý vị phải chấp nhận nó và phải ôm lấy nó.

Trong kinh Tương Ưng Bộ S.IV, 207, Bụt dạy: “Người phàm phu chưa được học Phật pháp không có khả năng đối phó với cái đau khổ của họ. Trong đại dương có một hố sâu thăm thẳm không có đáy. Hố sâu thăm thẳm không đáy đó tượng trưng cho cái khổ. Cái khổ có thể là không có đáy.” Trong kinh, Bụt có dạy là cơ thể của chúng ta giống như bầu hư không. Và trong bầu hư không đó có nhiều loại gió thổi tới: gió Đông, Nam, Tây và Bắc… Có những ngọn gió mang theo cát bụi rất nóng, có những ngọn gió mang theo hơi lạnh căm căm, có những ngọn gió làm cho mình nóng điên lên và có những ngọn gió làm cho mình mát mẻ. Cơ thể của mình là không gian và những cảm thọ khác nhau là những luồng gió thổi trong bầu không gian cơ thể ấy của chúng ta. Bụt cũng dạy rằng cơ thể chúng ta giống một quán trọ có đủ thứ người: người dễ thương, người dễ ghét, người da đen, người da trắng, người giàu, người nghèo… từ phương đông tới hoặc từ phương tây, phương nam và phương bắc tới, lưu trú một thời gian rồi đi. Cơ thể của chúng ta cũng là nơi mà mọi loại cảm thọ có thể xảy ra. Trong đại dương mênh mông có một cái hố thẳm không đáy. Đại dương đó là cơ thể chúng ta, là con người chúng ta. Cái hố sâu thăm thẳm đó được tượng trưng cho cái khổ của chúng ta. Kẻ phàm phu, người không biết chánh pháp và không biết tu tập thì rất sợ hãi khổ đau. Đối với họ, khổ đau là hố sâu thăm thẳm, họ không nghĩ rằng họ có thể chịu đựng được. Nhưng người có trí, biết tu tập, biết quán chiếu và biết thực tập nhẫn Ba La Mật, thì sẽ cảm thấy mình đang đứng trên đất liền mà không phải là đang đứng trong đại dương hay đứng trên bờ vực của hố thẳm khổ đau. Vì vậy khi thực tập nhẫn Ba La Mật, chúng ta sẽ có cảm tưởng an toàn là chúng ta đứng trên đất liền chứ không phải đứng trong hố thẳm của đại dương khổ đau. Khi ta thực tập thì trái tim của ta rộng mở, trí giác của ta rộng mở và ta có thể mỉm cười với tất cả mọi nỗi khổ đau. Ta bao trùm được hết. Nếu ta khổ đau quá, nếu ta không chịu đựng được thì ta sẽ phải tự tử. Vì ta chưa có cái lượng của các bậc Thánh Nhân, của các vị Bồ Tát và của các vị Bụt, vì trái tim của ta chưa có dung tích lớn như vậy, cho nên ta phải tu tập để cho cái thấy cũng như là trái tim của ta lớn lên. Ta phải làm như Bụt, trái tim ta phải ôm được thái hư và trí giác ta phải bao trùm đại thiên thế giới. Nếu chúng ta liệng vào dòng sông mênh mông đó một chậu nước dơ, thì nước của dòng sông đó vẫn có thể trong và ta vẫn có thể lấy nước sông uống được như thường, tại vì dòng sông mênh mông quá, nó dung chứa được chậu nước dơ đó và chuyển hóa được nó một cách rất là dễ dàng. Còn nếu chúng ta đổ chậu nước dơ đó vào trong một thùng nước, hay trong lu nước trước nhà chúng ta thì chắc chắn là lu nước đó ta không thể uống được nữa, tại vì lu nước đó nhỏ quá và nước trong lu ít quá. Dòng sông mênh mông đã ôm lấy chậu nước dơ và chỉ trong vòng một, hai giờ đồng hồ đã làm cho nước dơ đó chuyển hóa, tất cả những cái dơ lặn xuống dưới đất, dưới đáy sông, trộn lẫn với đất, với cát và nước của nó trở thành ra trong trở lại. Dòng sông đâu có làm gì nhiều đâu, ấy vậy mà chậu nước dơ chúng ta đổ vào dòng sông tự nhiên biến thành nước trong là tại vì đất ở dưới dòng sông rất lớn và nước trong dòng sông rất nhiều. Bụt và Bồ Tát cũng vậy, nên quý vị không cần “cắn răng chịu đựng”. Chỉ có những người trong phạm vi thế gian mới phải cắn răng chịu đựng, đó gọi là nhẫn thế gian. Khi trái tim mình đã lớn, khi tâm lượng mình đã trở nên vĩ đại thì mình đâu cần phải cắn răng chịu đựng nữa, đó gọi là nhẫn xuất thế gian. chúng ta biết rằng đè nén và chịu đựng một hồi thì chúng ta cũng sẽ bùng nổ, cho nên phương pháp nhẫn thế gian không đáng để chúng ta học theo. Chúng ta phải học theo nhẫn xuất thế gian.

Trái tim chúng ta lớn chừng nào thì ta dung nạp càng dễ chừng đó, mà dung nạp được một hồi thì sẽ có chuyển hóa. Chúng ta hãy bắt chước dòng sông, tập nhìn bằng con mắt không hẹp hòi, không khắt khe, tập nhìn bằng con mắt độ lượng và bao dung thì chúng ta sẽ không còn khổ nữa. Nhẫn Nhục, ở đây, không đòi hỏi một sự cắn răng chịu đựng, vì nhẫn xuất thế gian rất khác với nhẫn thế gian. Khi nói: “Tôi không muốn thấy mặt anh nữa, tôi không muốn nghe đến tên anh nữa, tôi muốn anh ra khỏi cuộc đời tôi…” là chúng ta đang làm ngược lại với tinh thần đựng. Chúng ta chỉ muốn đổ ra ngoài. Ta nghĩ rằng người đó đã làm cho ta đau khổ, ta không chịu đựng nổi và ta quyết tâm đẩy người đó ra ngoài trái tim của ta. Ngay cái ý định đẩy người đó ra ngoài trái tim của mình đã là một nguyên do của khổ đau rồi. Trái tim của Bụt là trái tim có dung lượng rất lớn. Bụt không muốn đẩy ai, bỏ ai ra ngoài dung lượng của trái tim ấy cả. Nếu ta không có khả năng đựng, không có khả năng ôm lấy một người em, một người anh, một người chị, đó là tại vì sao? Tại vì trái tim ta chưa lớn. Trái tim ta chưa lớn là tại vì sao? Tại vì ta đang còn ngu si, tại vì ta không thực tập quán chiếu, ta không biết rằng người đó chính là ta và người đó cần ta. Ta vẫn coi người đó là kẻ thù, và đó là nguyên do của đau khổ trong ta. Khi ta nhìn người bằng con mắt khắt khe, khi ta nói với người bằng những lời trách cứ, khi ta làm khổ họ bằng những cử chỉ, những lời nói và những ánh mắt của ta, tức là ta không có khả năng ôm, ta không có khả năng đựng. Sự thực tập của ta là phải quán chiếu để có thể ôm, có thể chịu, đó là Nhẫn Nhục Ba La Mật.

Khi một tai nạn hay một khổ đau xảy đến cho ta, ta thường hay có khuynh hướng nghĩ rằng: “Ta đang là nạn nhân của sự bất công. Tại sao người kia không bị như vậy mà ta lại bị như vậy? Tại sao người đó được thương mà ta lại không được thương? Tại sao người đó không có bệnh mà ta lại bị bệnh?” Ta thấy ta là nạn nhân của một sự bất công, sự bất công đó có thể từ xã hội hay Thượng đế đưa tới. Đó cũng là vô minh. Chính vô minh đã làm cho chúng ta khổ.

Đầu Xanh Đã Tội Tình Gì

Chuyện Quan Âm Thị Kính là một chuyện nói về sự oan ức của một thiếu phụ có nhan sắc và có khả năng nhẫn nhục lớn là Thị Kính. Thị Kính lấy chồng tên là Thiện Sĩ và rất thương mến chồng. Có một bữa đó, chồng học bài buồn ngủ. Đang may vá, thấy chồng có mấy sợi râu mọc ngược, Thị Kính nghĩ thầm: “Bây giờ sẵn tay cầm dao, mình cắt mấy sợi râu cho chàng”. Nàng vừa đưa dao lên cắt thì anh chàng thức dậy. Thấy vợ cầm dao đưa vào mặt mình, Thiện Sĩ hoảng hồn và trong trạng thái hoảng hốt đã nghĩ rằng vợ có ý định muốn ám sát mình, chàng la lối lên. Hai ông bà, cha mẹ chồng, vốn sẵn không thích Thị Kính, đã làm lớn chuyện này. Họ đuổi Thị Kính về nhà, Thị Kính rất đau khổ. Đó là nỗi oan. Về nhà rồi, Thị Kính nói: “Cuộc đời là như thế, ta phải đi tu mới được. Chỉ có đi tu ta mới vượt ra khỏi những thói thường cạn cợt của người đời”. Nhưng vào thời đại đó chưa có chùa sư nữ, Thị Kính phải giả làm con trai và đi vào một ngôi chùa gọi là Vân Tự. Cô giả trang khéo lắm. Thầy trụ trì thấy người thanh niên ăn mặc rất gọn ghẽ, mặt mày sáng sủa mà muốn đi tu nên hỏi: “Tại sao cậu lại muốn đi tu?” Thị Kính nói: “Bạch thầy, con thấy cuộc đời vô thường quá, không có cái gì đáng cho con theo đuổi, cho nên con muốn được giải thoát mà không còn muốn chạy theo những hình ảnh hư vọng”. Thầy trụ trì bèn nói: “Được, như vậy là con đã thấy được đạo, thầy bằng lòng cho tu”. Và sư chú được thầy đặt tên là Kính Tâm, tức là người có trái tim đầy sự cung kính.

Trong thời gian Thị Kính tu học, có một cô con gái nhà giàu trong làng, mỗi ngày rằm và mồng một đều lên chùa với cha mẹ để dâng hương. Thấy sư chú đẹp quá, cô cảm động và đã đem lòng yêu sư chú. Cô tìm cách để nói chuyện với sư chú nhưng sư chú rất đoan nghiêm, chỉ trả lời những câu hỏi về Phật Pháp thôi, còn những câu ngoài đời sư chú nhất định không nói. Vì vậy cô lại càng mê say sư chú hơn nữa. Cô về tương tư sư chú, ban đêm cứ nằm mơ tới sư chú. Có một bữa bị sinh lý thúc đẩy, cô nằm ngủ với người đầy tớ trai. Và trong khi nằm ngủ, cô tưởng tượng người kia là sư chú. Ta thấy chuyện này rất kỳ cục nhưng chuyện này thật ra rất có tính người.

Thị Mầu có mang. Thị cố tình giấu, nhưng giấu làm sao được. Từ từ bụng cô lớn ra, và người trong làng bắt đầu bàn tán. Hôm đó có tiếng mõ của làng triệu tập một buổi họp để xét về vụ cô gái chưa lấy chồng mà đã có thai. Trong buổi họp ở đình làng, bị chất vấn thì Thị Mầu nói: “Con đã ngủ với sư chú Kính Tâm.” Lúc tin được đồn ra, người nào cũng bàn tán và nhà chùa mang tiếng rất nhiều: thầy không biết dạy đệ tử để đệ tử phạm giới. Vì danh dự, Thị Mầu nhất định không tiết lộ sự thật là mình đã ngủ với một người đầy tớ trai, nàng chỉ đổ riết cho sư chú Kính Tâm. Khi cô khai cho sư chú Kính Tâm là tác giả của cái thai trong bụng mình thì thầy trụ trì bị mời tới. Tội nghiệp thầy, tội nghiệp cả thầy cả trò. Có nhiều chùa bổn đạo tới chỉ để dâng hương, họ đâu có thực tập tu học. Thấy các sư chú và các sư cô an lạc và thảnh thơi, mặt mày sáng rỡ thì họ đem lòng thương, cái đó rất người. Cho nên người xuất gia phải tạo cơ hội cho người tới chùa được có cơ hội tu học. Tới chùa là để thực tập nữa chứ không phải chỉ để lễ bái. Đó là điều ta phải học từ chuyện Quan Âm Thị Kính.

Kính Tâm bị tra khảo, đánh đập, nhưng đã chịu đựng được và không khai rằng mình là gái. Thầy trú trì bảo lãnh cho Kính Tâm về. Kính Tâm đã thực tập nhẫn, đã thấy rằng đời quá nhiều khổ đau và có những khổ đau đã tự nhiên xảy tới như vậy thôi, mình không có phần trách nhiệm gì cả, mình đã làm nên tội tình gì để phải gánh chịu những khổ đau ấy? Tuy nhiên sư chú tu hành rất đàng hoàng, ngày nào cũng ngồi thiền, ngày nào cũng tụng niệm và nghĩ rằng sự thành công của mình là ở chỗ mình có thể vượt thắng được niềm đau nỗi khổ này hay không, có thể vượt thắng được nỗi oan này hay không. Nhưng đã hết đâu. Khi Thị Mầu sinh em bé thì bị cha mẹ nhiếc mắng: “Con của đứa nào thì mầy phải trao trả cho đứa đó!” Thay vì đem trả đứa bé cho tên đầy tớ trai, thì cô lại đem tới chùa và nói một cách tỉnh bơ: “Đây, con của sư chú đây, sư chú nhận đi!” Và cô để em bé ở lầu chuông mà chạy về. Vì sợ mất mặt mà người ta đã đành lòng dầy vò và gây khổ đau oan ức cho một người khác. Sư chú đã thấy được điều đó. Nhưng sự thật rõ ràng trước mắt là có một em bé bị bỏ rơi. Nếu ta không ẵm lấy để nuôi thì nó sẽ chết. Vì vậy sư chú đã nói: “Đưa đây, đưa nó đây!” và sư chú đưa hai tay ẵm lấy đứa bé. Từ đó về sau sự nuôi con trở thành ra phép thực tập của sư chú. Mỗi ngày sư chú đi vào trong làng để xin sữa cho đứa bé, xin những miếng vải may những cái tả và những chiếc áo cho đứa
bé. Trong làng có người cảm động giúp cho sư chú, nhưng cũng có người cười: “Tu như vậy mà cũng tu. Tu như vậy làm sao mà thành được.” Nhờ có trái tim lớn, nhờ có hiểu biết lớn cho nên sư chú chấp nhận được và sư chú không khổ, hoặc nếu sư chú có khổ thì sư chú cũng khổ ít thôi. Nói tới niềm oan ức to lớn của Kính Tâm, tác giả Quan Âm Thị Kính đã viết:

Mười phương Phật chín phương Trời
Chưa nghe đến sự dưới đời oan ru ?

Năng Lượng

Chúng ta hãy tự hỏi là trong lúc bị tra khảo tơi bời, sư chú có căm hận người hay không? Sư chú có lòng từ bi, biết rằng có những người họ rất u mê, ích kỷ và hẹp hòi, họ làm khổ chính họ, rồi họ làm vung vãi nỗi khổ ấy lên những người khác. Họ đã làm lầm lỗi và họ không có can đảm chấp nhận lầm lỗi của họ. Những cái oan đó có thật trong cuộc đời. Trong khi bị đánh đập và hành hạ như vậy, sư chú chỉ niệm Bụt thôi. Bởi vì mỗi khi niệm Bụt thì sư chú có được cái năng lượng để chịu đựng. Và nếu sư chú hận thù thì sư chú sẽ đau khổ hơn nhiều. Nhờ niệm Bụt để được tiếp xúc với năng lượng của từ bi, cho nên sư chú đã chịu đựng được và đã đi qua được những cơn khó khăn như vậy. Từ khó khăn này tới khó khăn khác, sư chú đã vượt thắng được. Trong khi thỉnh đại hồng chung, sư chú đọc những bài thi kệ:

Nguyện tiếng chuông này vang pháp giới
Khắp nơi u tối mọi loài nghe
Siêu nhiên vượt thoát vòng sinh tử
Giác ngộ tâm tư nguyện hướng về.

Sư chú biến thi kệ đó thành bài ru con và thêm vào những tiếng à ơi. Thành ra dân làng mỗi khi nghe tiếng kệ thì thỉnh thoảng cũng lại nghe tiếng à ơi và ù ơ trong gió. Đó là một phép thực tập của sư chú. Sư chú có thể là không tụng Hoa Nghiêm và Pháp Hoa, không thực tập tứ thiền và tứ vô sắc định, mà chỉ thực tập nuôi con, ru con, đi xin sữa cho con và làm những công việc mà sư chú cần phải làm thôi. Nhưng sư chú đã thành công.

Khi đứa bé đã lớn, sư chú lâm bệnh. Nghĩ rằng mình không tiếp tục sống được, sư chú mới ngồi xuống viết một lá thơ để kể hết sự thật cho thầy. Trước đây, nếu ta nói ra sự thật thì thầy sẽ không cho ta tiếp tục ở trong chùa. Bây giờ ta có thể nói ra sự thật được rồi. Sư chú cũng viết một lá thơ cho cha mẹ, và dặn con sau tang lễ thì đi tìm về quê mà đưa lá thơ này cho ông bà. Sau khi sư chú thị tịch, đứa bé đem lá thơ lên trình thầy. Thầy lập tức cho một sư chú đi báo tin cho làng. Mọi người đều xôn xao. Những nhà chức trách tới khám nhận tử thi và đã chứng xác sự thật: đây là một cô gái. Vậy mà lâu nay làng đã đọa đày, đã làm tội làm tình người ta. Làng lập tức đòi cha con của Thị Mầu ra để trị tội. Gia đình đó ngoài việc nạp khoán cho làng, còn phải xuất tiền ra để làm tang lễ cho sư chú. Khi mà em bé cùng với một vài người khác đi tìm được về quê quán của Thị Kính thì ông bà lập tức lên đường về dự tang lễ. Sau tang lễ, mọi người nhìn lên thấy ở trên trời có mây năm sắc, đức Như Lai hiện ra và báo tin rằng Thị Kính đã thành đạo. Đó là đức Quan Âm của Việt Nam, đức Quan Âm Thị Kính, người đã thực hành hạnh Nhẫn Nhục Ba La Mật.

Tại sao Thị Kính chịu đựng được? Ta sẽ hỏi, đứng về phương diện tâm lý, tại sao Thị Kính không nói ra sự thật và đi chỗ khác cho rồi? Tại sao cứ bám lấy cái ý muốn làm sư chú? Tại sao Thị Kính lại có khả năng chịu đựng được những nỗi khổ lớn như vậy? Cái gì đã giúp cho Thị Kính chịu đựng được? Chỉ có một câu trả lời mà thôi: tại vì Thị Kính muốn được tu quá. Nếu muốn người ta không còn làm tình làm tội mình thì chỉ cần nói ra: tôi là con gái. Nhưng mà Thị Kính đã không nói tại vì ý chí muốn tu hành lớn quá đi. Chỉ vì muốn được tu cho nên sư chú có thể chịu đựng được bất cứ một cái gì. Năng lượng giúp sư chú chịu đựng được, đó là bồ đề tâm. Nếu Thị Kính không có bồ đề tâm thì Thị Kính đâu đã làm được chuyện đó. Đời nay vừa mới bị gánh chịu một vài khó khăn và oan ức là người ta đã muốn bỏ tăng thân mà đi rồi. So với Thị Kính, ta sẽ thấy cái sức nhẫn và bồ đề tâm của ta lớn tới mức nào.

Cỗ Đầu Người

Những người đi làm cách mạng khi bị bắt và bị tra khảo cũng cắn răng chịu đựng và không chịu khai báo. Họ biết nếu họ khai báo thì những người đồng chí của họ cũng bị bắt, cũng bị tra khảo và mục tiêu cách mạng sẽ không đạt tới được. Họ cũng phải thực tập nhẫn. Tại sao họ nhẫn được? Vì họ có tình thương, họ có chí hướng lớn. Những người đi làm cách mạng sống độc thân không có gia đình thì có khác gì người tu đâu! Sống độc thân không có gia đình là để có thể làm được cái chuyện mà người thường không làm được. Người tu, cũng vậy, sống độc thân không có gia đình là để làm cái chuyện mà người khác không có thể làm được. Người đi làm cách mạng bị tra khảo mà không nói, không hé răng tiết lộ những bí mật của tổ chức mình là vì thương lý tưởng và thương những người bạn đồng chí. Là người tu, ta có làm được như vậy không? Sức nhẫn của ta đã tới mức nào? Trong thời ông Diệm có một sư chú bị bắt và bị tra vấn. Người tra vấn mời sư chú ngồi, pha trà mời sư chú uống, rồi mở ra một cái hộp nhỏ trong đó có hai con gián đã chết khô. Ông ta mời sư chú ăn nếu sư chú không nói ai là những người chủ chốt trong đoàn sinh viên Phật tử và trong đoàn thanh niên Tăng Ni. “Nếu thầy không chịu nói thì tôi sẽ mời thầy ăn con gián này để uống trà.” Quí vị có thể ăn được một con gián để uống trà không? Vậy mà sư chú đã ăn con gián, đã uống trà và nhất định không nói ai là những người chủ chốt vì sư chú có tình thương đối với đạo pháp, đối với dân tộc và đối với các bạn đồng tu. Đây là chuyện có thật! Ngày xưa, ta có một vị anh hùng tên là Nguyễn Biểu bị quân giặc bắt. Để thử đảm khí của người con trai này, khi dọn cơm ra, quân giặc chỉ dọn trong mâm cơm một cái đầu người vừa mới bị chặt. Nguyễn Biểu đã móc con mắt của người đó để vào miệng nuốt và cười ha hả, để chứng tỏ rằng dân Việt có những con người hào hùng không thể nào dùng bạo lực mà khuất phục được. Quân giặc rất kính phục, đã thả ông ra, nhưng khi ông đi nửa đường thì họ cho người chạy theo bắt lại và giết đi.

Ngọn Đèn Dù Tắt Đừng Nghe Trẻ

Thiếu phụ Nam Xương cũng là đối tượng và nạn nhân của một sự oan ức lớn. Mình rất trinh liệt và đoan chính, vậy mà chồng mình nghĩ rằng mình đã ăn ngủ với một người khác. Chàng Trương đi lính và trong thời gian xa vắng đó thiếu phụ Nam Xương đã sinh ra một đứa con trai. Khi chàng Trương trở về thì đứa con trai đã được hai tuổi mấy. Trong khi thiếu phụ Nam Xương đi chợ để mua thức ăn về làm một mâm cơm cúng thì chàng Trương chơi với đứa bé và bảo đứa bé tập kêu chàng là “Bố”. Đứa bé nói: ” Ông đâu phải bố tôi nào!” “Tại sao không phải?” “Bố tôi khác, bố tôi đêm nào cũng tới và nói chuyện với mẹ tôi. Nhiều khi mẹ tôi còn khóc với bố tôi nữa. Rồi mỗi khi mẹ tôi ngồi xuống thì bố tôi ngồi xuống, và khi mẹ tôi nằm xuống thì bố tôi cũng nằm xuống.” Nghe những lời nói của em bé, chàng Trương có tri giác sai lầm, nghĩ là vợ mình đã ngoại tình. Khi vợ trở về, anh không thèm nhìn mặt vợ, không thèm nói chuyện với vợ nữa. Anh lạnh lùng như một tảng băng. Người vợ không hiểu tại sao mình lại bị đối xử như thế, cho nên đau khổ một mình. Khi mâm cơm cúng đã được đặt lên rồi, chàng Trương thắp nhang khấn vái. Lạy bốn lạy xong anh cuốn chiếu lại không cho vợ lạy, nghĩ rằng người đàn bà này không có tư cách để trình diện trước tổ tiên. Thiếu phụ Nam Xương cảm thấy nhục nhã và khổ đau nhưng không nói ra được. Chàng Trương sau khi cúng xong không ở lại ăn cơm mà bỏ đi vào trong làng, la cà suốt ngày trong quán rượu. Anh cũng đau khổ lắm. Tất cả hạnh phúc đều đã tan biến đối với anh. Anh đi tìm sự khuây khỏa bằng rượu, rượu là phương pháp duy nhất, uống say rồi thì không còn nhớ tới niềm đau đó nữa. Và ba bốn giờ khuya anh mới về nhà để rồi sáng mai dậy lại đi vào trong xóm. Sau ba bốn ngày như vậy thì thiếu phụ Nam Xương chịu không nổi nữa. Và khi chịu đựng không nổi nữa, người đàn bà ấy đã đâm đầu xuống sông tự tử. Chúng ta chỉ biết nhẫn thế gian mà chưa biết đến nhẫn xuất thế gian, cho nên sức chịu đựng của chúng ta rất có giới hạn. Thiếu phụ Nam Xương đã đâm đầu xuống sông tự tử sau ba ngày khổ đau. Sau khi biết tin vợ chết rồi, anh Trương mới về nhà để chăm sóc đứa con. Đêm ấy, sau khi anh thắp đèn lên thì đứa bé reo: “Bố tôi đây này, ông! Bố tôi đây này, ông!” và nó chỉ vào cái bóng của bố nó ở trên vách tường. Bây giờ tri giác sai lầm của anh không còn nữa nhưng đã quá trễ, vợ anh đã chết rồi!

Nếu không thực tập quán chiếu và truyền thông để giúp nhau thấy được sự thật thì chúng ta sẽ tạo ra cho nhau những nỗi oan. Chị làm oan cho em, em làm oan cho anh, em làm oan cho chị, chuyện đó đang xảy ra hàng ngày. Và do đó bản chất của Nhẫn Nhục Ba La Mật được làm bằng sự quán chiếu chứ không phải là sự đè nén. Quán chiếu thì phải có chánh niệm. Có niệm mới có định và có định mới có tuệ. Nếu không thực tập hơi thở ý thức mỗi ngày, không thực tập thiền đi, thiền ngồi và ăn cơm im lặng mỗi ngày để nuôi dưỡng năng lượng chánh niệm thì ta sẽ lấy gì mà quán chiếu, vốn liếng đâu mà quán chiếu. Cho nên tôi cứ nhắc đi nhắc lại hoài: “Con nên đi từng bước cho chánh niệm, con nên ngồi cho chánh niệm, con nên làm việc trong chánh niệm.” Để làm gì? Để mình có cái vốn liếng và năng lượng mà thiền quán, mà quán chiếu. Cái hiểu của ta sẽ làm cho trái tim ta lớn lên và bao trùm được những khổ đau và khó khăn. Còn nếu không thì ta sẽ tiếp tục giận hờn, trách móc, la mắng, làm tình làm tội bản thân ta và làm tình làm tội những người sống xung quanh ta.

Tu nghĩa là đừng để cho cái lầm lỗi của thiếu phụ Nam Xương được lặp lại. Chàng Trương trong khi làm khổ vợ thì có sung sướng gì đâu. Anh ta cũng đau đớn lắm. Cả hai người đều khổ. Đừng tưởng rằng người làm khổ mình đang vui sướng nhởn nhơ. Người làm khổ mình cũng đang rất khổ. Thấy được điều đó tự nhiên ta ôm được người ấy, ta ôm được người đang làm khổ ta. Mà thấy tức là tuệ. Tuệ tức là hoa trái của quán chiếu.

Vạch Trời Kêu Lên

Chúng ta thường quen oán trời và trách đất mỗi khi bị oan ức. Thúy Kiều là nạn nhân của những nỗi oan rất lớn. Bố của Thúy Kiều đi thăm gia đình bên ngoại về, thì bị lính tới bao vây. Người ta vu oan cho ông buôn lậu và chứa chấp hàng hóa bất hợp pháp. Người ta đã treo ngược ông lên để tra khảo ngay trong nhà của ông và cuối cùng bỏ tù ông. Thúy Kiều phải bán mình để có bốn trăm lạng vàng chuộc cha, mua cha ra khỏi tù tội. Người đến mua Thúy Kiều nói rằng mua nàng về để làm vợ cho một người đàn ông có địa vị trong xã hội, nhưng kỳ thật Tú Bà với Mã Giám Sinh mua Kiều về để làm gái giang hồ mà kiếm lời. Sau khi người ta làm lễ rước Kiều ra ở riêng, Mã Giám Sinh đã tới để phá trinh của Thúy Kiều. Mã đóng vai chàng rể nhưng kỳ thật đó là một anh bợm già. Trong cuộc chung đụng đầu tiên, Thúy Kiều biết ngay rằng anh chàng này không phải là một anh chàng đàng hoàng mà là một tay bợm già. Một người đàn ông đàng hoàng không bao giờ cư xử phũ phàng như vậy. Thúy Kiều nghi Mã không phải là một chàng rể. Lắng nghe xung quanh Kiều biết là mình đã lọt vào một ổ nhền nhện. Khi vào chào mẹ để đi, Thúy Kiều đã nói sự thật và Vương bà ngã ngửa: nỗi oan thứ nhất là chồng bị vu oan giá họa, bị bắt và bị đánh, nỗi oan thứ hai là con gái phải bán mình và bây giờ nỗi oan thứ ba là con gái bị trở thành một cô điếm. Cụ Nguyễn Du viết:

Vương bà nghe bấy nhiêu lời
Tiếng oan đã muốn vạch trời kêu lên!

“Tiếng oan đã muốn vạch trời kêu lên”, tại vì những đau khổ và oan ức của mình lớn quá, mình không nói được với ai hết, chỉ có một cách là ngửa mặt lên trên trời để kêu than; nhưng vạch trời kêu lên cũng không biết trời có nghe được cái nỗi oan của mình hay không. Sao ông trời cứ nín thinh như thể là ông không biết là mình đang đau khổ và oan ức. Tác giả Quan Âm Thị Kính cũng nói:

Mười phương Phật chín phương trời
Chưa nghe đến sự dưới đời oan ru ?

Khi đau khổ quá chúng ta thường hay ngửa mặt lên trời, chúng ta cần một vị trọng tài, chúng ta cần Thượng Đế, chúng ta cần Trời, tại vì chúng ta hết chỗ cầu cứu rồi, tất cả các ngõ ngách đều đã bị đóng kín mít lại, nỗi khổ của chúng ta không ai biết được. Mà chúng ta có thể vạch trời ra được hay không, hay là cửa trời lại cũng đóng im ỉm?

Vương ông, Vương bà, Thúy Kiều, Thúy Vân và Kim Trọng, năm người đó đã có cơ hội đến chùa không, đã được học Phật Pháp không và đã được trao truyền phương pháp thở, phương pháp đi, phương pháp ngồi, phương pháp mỉm cười và phương pháp quán chiếu không? Hình như là không. Vì vậy những khổ đau của họ rất lớn. Có lúc bố của Thúy Kiều đã lao đầu vào bức tường vôi để tự tử, tại vì ông khổ quá không chịu đựng được nổi sự oan ức. Tất cả gia đình đều ngăn lại và nói: “Nếu bố làm như vậy thì khổ thêm các con. Xin bố thương các con mà giữ gìn mạng sống.” Vương ông dừng lại không tự tử nữa. Đó cũng là nhờ tình thương. Ông thấy được rằng mình chết thì mình hết khổ nhưng mà bốn người kia lại khổ thêm. Đó là một thứ tuệ giác, nhưng tuệ giác đó chưa đủ lớn để giúp cho ông hết khổ. Thúy Kiều còn đi qua những oan ức khác nữa. Có lần Thúy Kiều đã rút cây dao dấu trong người ra để tự tử. Lát dao đâm rất sâu đến nỗi tính mạng của Thúy Kiều bị đe dọa trầm trọng. Nhờ một phước đức nào đó của Kiều thành ra Tú Bà chạy chữa được và Thúy Kiều sẽ phải sống mười lăm năm trong cuộc đời lênh đênh đau khổ.

Khổ đau ở ngoài đời đầy dẫy; nếu chúng ta không được trang bị bằng những pháp môn tu học và bằng cái thấy của tuệ giác thì chúng ta không thể nào đương đầu nổi với những khổ đau lớn lao như vậy. Bụt dạy: “Trong đại dương mênh mông có một cái hố thẳm. Cái hố thẳm không đáy đó là tượng trưng cho khổ đau của cuộc đời. Kẻ phàm phu không biết, không học, không có phương pháp thì chết chìm trong cái hố thẳm đó. Người có trí, người có tu, người có học sẽ thấy mình đang đứng ở trên đất liền và cảm thấy có an ninh.” Đó là phương pháp của Nhẫn Nhục Ba La Mật.

Thượng Đế Ơi! Đừng Thử Con Tội Nghiệp

Có khi chúng ta tự hỏi: “Tại sao mình phải gánh chịu cái tai nạn này, tại sao mình lại bị bệnh sida, tại sao mình bị khuyết tật từ ngay khi cha mẹ sanh ra, tại sao con mình mới sanh ra có hai tuổi thôi mà đã bị bệnh nan y?” Có nhiều trường hợp ta không thể nào hiểu được. Không hiểu tại sao những người ăn hiền ở lành mà lại gặp phải những tai nạn ghê gớm như vậy.

Nhìn vào xã hội, vào loài người, vào hoàn cảnh xung quanh để tìm ra một lý do và một nẻo thoát, người ta không tìm ra được và vì vậy người ta phải ngửa mặt lên trời để hỏi.

Vương bà nghe bấy nhiêu lời,
tiếng oan đã muốn vạch trời kêu lên.

Trời là cái hướng duy nhất còn lại để mình có thể vạch ra mà kêu oan. Ở trong Cựu Ước có một thi phẩm rất hay, đó là “The book of Job”. Job là một con người hạnh phúc, một ông nhà giàu có hàng ngàn con bò, con cừu và những đứa con xinh đẹp, lại có một địa vị lớn trong xã hội. Người ta nói rằng Job rất kính trọng Thượng đế, nghe lời Thượng đế, sợ hãi Thượng đế và có niềm tin nơi Thượng đế một cách vững chãi. Một hôm đó, Sa Tăng xuất hiện nơi thượng giới và Thượng đế hỏi: “Ngươi là ai? Ngươi đi đâu?” Thì Sa Tăng nói: “Tôi là người hay lui tới trái đất, đi ra đi vào.” Thượng đế hỏi tiếp: “Sa Tăng, ngươi có thấy Job là một người tín cẩn, một người có đức tin mãnh liệt đang sống trên thế gian không? Người này sẽ không bao giờ mất đức tin nơi ta cả, dầu có gì xảy ra cho người này thì người này cũng sẽ không mất đức tin nơi ta.” Sa Tăng nói: “Đó là Thượng đế chưa biết, Thượng đế cho phép tôi thử đi, tôi mà tạo ra một vài tai nạn, một vài khổ đau cho Job thì có thể Job sẽ trách móc Thượng đế, sẽ lên án đấng Tạo hóa.” Thượng đế trả lời: “Anh cứ thử đi, nhưng anh đừng động tới sinh mạng của người đó.”

Hôm ấy, trong khi Job đang ngồi trong phòng khách ấm cúng của mình thì có một người đầy tớ về báo cáo rằng tất cả những con trâu, bò, lạc đà, cừu của ông ta đều chết hết. Mấy đứa con gái yêu quý của ông ta đi ăn đám giỗ ở nhà đứa em út cũng bị tai nạn chết hết không còn một mống. Lúc đó Job chắp tay lại, nói: “Nếu những cái này xảy ra đó là tại vì có lý do sâu sắc nào đó mà mình chưa hiểu”. Và Job từ chối không trách móc Thượng đế, không lên án Thượng đế. Sa Tăng thất bại. Sa Tăng lên trên Thiên Đình một lần nữa và nói với Thượng đế là tại vì mình chưa chạm vào con người anh ta, nếu chạm vào người anh ta thì có lẽ là anh ta sẽ trách móc Thượng đế, sẽ oán hờn Thượng đế. “Thượng đế cho phép tôi làm vậy đi, cho tôi thử đi. Ngài nói Job là người trung kiên với Chúa một cách tuyệt đối mà, nếu tôi không thử thì làm sao ta biết được sự trung kiên ấy có hay là không có?” Thượng đế chịu thua. Ngài bảo Sa Tăng: “Như vậy thì ta cho phép anh thử nhưng đừng làm cho người đó chết.” Lần này Sa Tăng bắt Job phải đau những chứng bệnh rất ngặt nghèo, cả người đều bị lở lói, không di chuyển được, nằm một đống, đau khổ vô cùng. Sự sản tan nát, các con đều chết, bây giờ thân hình mình bị tật bệnh rất nặng. Lúc đó, Job mới mở miệng ra nguyền rủa, nhưng không phải là nguyền rủa Thượng đế mà là nguyền rủa cái ngày sanh của mình, nguyền rủa cái huyền ước của mình. “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để cho tôi phải khổ như ngày hôm nay? Tại sao tôi phải sinh ra để gánh chịu tất cả những đau khổ này?” Tuy Job không nguyền rủa Thượng đế, nhưng ông đã nguyền rủa cái ngày sanh của ông. Lúc đó có bốn người bạn của Job tới. Thấy Job đau khổ như vậy họ không biết làm gì cả. Khổ đau lớn quá khiến cho họ không thể mở lời ra được, chỉ biết ngồi đó mà chịu trận thôi. Sau đó, họ bắt đầu nói chuyện với Job: “Có lẽ là trong quá khứ mình cũng đã có gây tạo những tội lỗi nào đó mà không biết cho nên bây giờ mình mới phải gánh chịu những khổ đau cùng cực như vậy.” Nhưng Job nhất định không chấp nhận. Job nói: “Tôi chưa từng gây tạo một nỗi khổ đau, một tội lỗi nào hết. Tôi đã sống theo đường lối của Thượng đế đã dạy. Tôi chưa làm điều gì thất đức thì tại sao tôi phải gánh chịu những tai ương như thế này? Tôi không nguyền rủa Thượng đế, nhưng tôi không thể nào không nguyền rủa cái ngày sanh của tôi”. Người bạn thứ tư an ủi không được mới nói: “Đau khổ cần thiết cho con người. Có lẽ đau khổ giúp cho ta học một bài học của sự sống và ta sẽ lớn lên từ sự đau khổ đó.” Nhưng Job cũng không vừa ý. Cuối cùng thì Thượng đế xuất hiện trong tiếng gió và Thượng đế nói những câu như thế này: “Cái ngày mà ta tạo thiên lập địa có mặt ngươi đó hay không? Ai thắp mặt trời lên buổi sáng, ai thắp mặt trăng lên buổi chiều, có mặt ngươi đó không? Có nhiều cái ngươi chưa biết.” Và Job nhận ra rằng quả thật có nhiều cái mình không biết. Chính sự chấp nhận có những cái mình chưa biết làm cho Job bớt đau khổ và Job quỳ xuống để hối lỗi. Lúc đó, Thượng đế hoàn trả lại cho Job tất cả những gì mà Job đã mất, nào lạc đà, nào ngựa, nào trâu, nào bò, nào con. Tác phẩm này là một tác phẩm thi ca rất nổi tiếng trong Thánh kinh.

Trời Đất Bất Công

Đứng trước những bất công xã hội, khi nhận chịu những khổ đau cùng cực, cảm thấy có sự bất công, người ta thường ngửng mặt lên để hỏi: “Có một đấng thiêng liêng nào ngự trị ở trên đó để giữ quyền thưởng phạt hay không? Nếu có một đấng thiêng liêng tại sao để cho sự bất công đó xảy ra? Tại sao một em bé hai tuổi lại bị bệnh nan y? Tại sao một em bé vừa sanh ra đã mang khuyết tật? Tại sao những người ăn hiền ở lành suốt đời mà phải chịu những đau khổ cùng cực?” Tất cả những câu hỏi đó con người không trả lời được và người ta phải đặt ra cho Thượng đế. Có khi người ta trách móc Thượng đế. Trong ngôn ngữ Việt Nam, đôi khi người ta ngửng mặt lên người ta trách rằng: “Trời già độc địa”. Đó là câu nói của những người đã đau khổ quá nhiều. Người ta không hiểu tại sao ông trời lại cho phép những chuyện đau khổ bất công như vậy xảy ra. Có nhiều người uất ức, có nhiều người đặt câu hỏi tại sao đấng Tạo hóa, tại sao Thượng đế, tại sao Phật trời lại để cho chuyện đó xảy ra được? Nếu chúng ta quán sát sự sống trong đời sống hàng ngày thì chúng ta thấy đau khổ đầy dẫy: những đau khổ về thiên tai, về bão lụt, về bệnh tật, về chiến tranh đã đành, nhưng cũng có những đau khổ thật sự trình bày ra tính cách bất công. Tại sao những người ăn ở hiền lành, những người không làm nên tội tình gì lại khổ đau như vậy? Tại sao những người ác độc vẫn sống phây phây, tiếp tục thừa hưởng sự giàu sang phú quý? Khi nhìn thấy sự đau khổ đó người ta nói rằng Thượng đế bất công, Thượng đế không có trái tim. Tác phẩm Đạo Đức Kinh của Lão Tử có câu này: “Thiên địa bất công, thị vạn vật như sô cẩu”, nghĩa là “trời đất bất công coi vạn vật như con chó rơm”.

Sô cẩu là một con chó làm bằng rơm. Thân phận con người, thân phận muôn loại, không hơn gì thân phận một con chó làm bằng rơm, muốn làm gì thì làm, muốn đày đọa như thế nào thì đày đọa. Đó là lời từ Đạo Đức Kinh. Sau đó, Đạo Đức Kinh còn có thêm một câu nữa là “Thánh nhân bất nhân”. Bất nhân là inhuman. “Thánh nhân bất nhân, thị vạn vật như sô cẩu”. Tại sao thiên địa bất nhân rồi mà thánh nhân cũng bất nhân? Thánh nhân là các bậc thánh. Mình đã có trí tuệ, đã có từ bi, mình là bậc thánh, tại sao mình cũng bất nhân? Thánh nhân đây có thể là để chỉ cho những ông vua. Bởi vì thông điệp của vua gọi là thánh chỉ, đạo dụ của vua gọi là thánh dụ và thân thể của vua gọi là thánh thể. Tại vì thánh nhân là ông vua, dù là vua Nghiêu, vua Thuấn hay vua Trụ thì cũng là một thứ Thượng đế trong phạm vi loài người. Và trong chương trình của ông vua cũng có những mục như xây Vạn Lý Trường Thành hay xây Kim Tự Tháp, hoặc quyết định đem quân đi xâm phạm một nước láng giềng. Tất cả những quyết định đó làm rơi rụng xương máu của biết bao nhiêu là thần dân, trong khi đó thánh nhân đã nhân danh tổ quốc, nhân danh hạnh phúc cho muôn loại.

Một em bé lớn lên không biết cha mình là ai, mẹ mình là ai, không biết được gốc gác mình thì em bé cảm thấy lạc lõng. Em bé không thấy mình thuộc về nguồn gốc nào cả. Em bé cũng có thể phẫn uất nói tại sao những em bé khác có cha, có mẹ, có gốc gác văn hóa mà mình không có? Và ai là người chịu trách nhiệm? Nói Thượng đế chịu trách nhiệm về tất cả những cái đó thì tại sao một người, một nhân vật, một vị thần linh như Thượng đế lại có thể để cho những cái bất công ghê gớm như vậy xảy ra? Có những nước sống thanh bình trăm năm này qua trăm năm khác. Có những nước luôn luôn bị xâm chiếm, bị đô hộ cả ngàn năm. Tại sao có thân phận nhược tiểu? Đó là những câu hỏi mà người ta có thể hỏi Thượng đế. Có những cô gái sinh ra không có nhan sắc, nhìn chị em, thấy chị em có nhan sắc, nhìn vào gương lấy làm tủi, trách móc cha mẹ không được, trách móc xã hội cũng không được thì chỉ biết trách móc ông trời mà thôi. Ngày xưa, vào khoảng những năm 1960 có một tập thơ xuất hiện ở thị trường Sài Gòn với nhan đề “Em là gái trời bắt xấu.” Thi sĩ Victor Hugo của Pháp trong một bài thơ viết về cái chết của đứa con gái yêu là Léopoldine cũng có nói rằng loài người chỉ có thể trông thấy được một phần nhỏ của sự việc và loài người không thể nào hiểu được, tại vì phần kia nó chìm trong bí mật, chỉ có Thượng đế mới hiểu mà thôi. Cho nên mình phải bằng lòng với sự ngu dốt của mình và mình phải chấp nhận rằng tất cả những gì xảy ra nằm trong chương trình của Thượng đế. Nếu ta phải đau khổ là tại vì Thượng đế muốn ta đau khổ, để chúng ta có thể lớn lên trong quá trình đau khổ đó. Ông viết như thế này: “Lạy Thượng đế, con tới với Ngài là một đấng mà tất cả mọi người đều phải tin tưởng. Con đến đây đặt trái tim đã tan nát của con trước mặt Thượng đế. Và chính Thượng đế đã đập nát trái tim của con. Con đến đây, trước mặt Thượng đế, công nhận rằng Thượng đế là nhân từ, Thượng đế là rộng lượng. Con phải tỏ lộ với tâm con là chỉ có Thượng đế mới biết rõ được những cái Thượng đế đang làm, con người chẳng qua chỉ là một cọng lau sậy phất phơ bay trong gió. Con người chỉ có thể thấy được một đầu của sự vật thôi và đầu kia lại chìm trong đêm tối hãi hùng không ai có thể thấy được. Con người phải gánh chịu những tai ương ách nạn mà không biết tại sao mình phải gánh chịu những tai ương ách nạn đó. Tất cả những gì mà con người nhận thức đều vô thường và đều mong manh”. Đó là những lời than thở của thi sĩ Pháp khi phải gánh chịu cái chết của cô con gái đang còn trẻ.

Cha Ăn Mặn Con Khát Nước

Ở trong đạo Bụt, khi được hỏi tại sao những người ác độc vẫn sống phây phây và những người nhân từ lại khổ đau thì có nhiều vị pháp sư trả lời: “Đó là tại vì những người đang đau khổ ấy tuy bây giờ hiền lành nhưng trong kiếp trước đã làm những điều dữ. Nếu có những người dữ đang sống phây phây bây giờ là vì trong kiếp trước họ đã biết làm điều lành.” Nói như vậy để chúng ta có thể chấp nhận được khổ đau của chúng ta. “Dục tri tiền thế nhân, kim sinh thọ giả thị. Dục tri lai thế quả, kim sinh tác giả thị”. Muốn biết những cái nhân của kiếp trước mình gây tốt hay không, thì mình chỉ cần nhìn những kết quả mà mình thu nhận trong đời sống ngày hôm nay. Nếu mình bây giờ có hạnh phúc, được đoàn tụ gia đình, có công ăn việc làm đàng hoàng, thiên hạ đối xử với mình tử tế, mình không bị bệnh tật là tại vì sao? Nhìn vào những cái mà mình thọ hưởng ngày hôm nay, mình biết ngày xưa mình đã gây ra những nhân tốt. Còn nếu nhìn vào những cái khổ đau trong đời sống bây giờ, mình biết rằng tại vì trong quá khứ, trong đời trước, mình đã làm những việc ác đức.

Dục tri tiền thế nhân
Kim sinh thọ giả thị

Đó là câu trả lời cho câu hỏi tại sao người ác độc vẫn sống phây phây, còn người hiền lành thì tiếp tục chịu đau khổ.

Dục tri lai thế quả
Kim sinh tác giả thị

Nếu muốn biết rằng đời sau mình có được hạnh phúc hay không, nếu muốn biết cái quả của đời vị lai thì mình chỉ cần nhìn vào những hành động của ngày hôm nay. Kim sinh tác giả thị là những cái gì mình tạo tác ra trong đời sống hiện tại. Nếu trong đời này mình làm những chuyện thất đức thì kiếp sau mình sẽ khổ đau, mình sẽ lãnh đủ. Đó là cách giải thích cho những người quá đau khổ để họ có thể chấp nhận được số phận của họ: “Tại vì trong quá khứ ta đã làm những chuyện thất đức, vì vậy hôm nay ta phải ráng chịu, và tìm cách làm ra những nhân tốt để cho đời sau ta sẽ có hạnh phúc hơn”. Lối giải thích đó tuy cũng đúng với luật nhân quả nhưng chỉ đúng có một phần nào thôi. Tại sao? Cố nhiên theo luật nhân quả: trồng ngô thì hái ngô, trồng đậu thì hái đậu, gieo gió thì gặt bão. Nếu quá khứ làm nhân ác độc thì bây giờ phải chịu quả khổ đau. Nếu bây giờ làm nhân lành thì kiếp sau sẽ được hưởng quả tốt đẹp. Vậy tại sao không nói là đúng hết mà chỉ nói đúng một phần ? Đúng một phần là tại vì lối giải thích về nhân quả này còn vướng vào ý niệm ngã. Vì vậy lối giải thích ấy chưa phải là nhân quả đích thực của đạo Bụt. Đạo lý nhân quả đích thực của đạo Bụt phải đi đôi với giáo lý vô ngã. Khi ta hiểu được giáo lý vô ngã theo nguyên lý vô ngã, khi ta hiểu được giáo lý nhân quả trong ánh sáng của vô ngã, thì lúc đó ta mới bắt đầu hiểu được thực sự tại sao cha ăn mặn mà con lại khát nước. Tại vì cha ăn mặn mà con khát nước cũng là một sự thật. Người này làm mà người kia chịu, như vậy nó có phải là một điều trái chống với lý nhân quả không? Không, nó không trái chống với lý nhân quả, nó đúng là lý nhân quả trong đạo lý vô ngã, tại vì cha với con không phải là hai thực thể riêng biệt. Cha với con cùng chung một dòng sinh mạng, vì vậy cho nên những điều gì mà cha ông ta làm ngày xưa, bây giờ ta sẽ tiếp tục thừa hưởng hoặc lãnh đủ. Có thể ta không biết nhưng mỗi khi ta hút một điếu thuốc hay uống một ly rượu, thì hành động này chắc chắn là có tác động tới cháu chắt của ta trong nhiều đời về sau. Khi được thừa hưởng một cơ thể lành mạnh không bệnh tật, chúng ta đừng nói rằng cái đó là chỉ do kiếp trước ta đã trồng những nhân tốt cho nên trong kiếp này ta được thừa hưởng một thân thể lành mạnh không có tật bệnh. Có những em bé mới sinh ra đã có một cái cơ thể bèo nhèo rất tội nghiệp. Nếu nói rằng vì kiếp trước em đã làm ác nên kiếp này em mới khổ như vậy thì chúng ta tàn nhẫn quá. Trong sự thật “cha ăn mặn, con khát nước”  vừa có lý nhân quả vừa có lý vô ngã. Nếu ngày hôm nay ta được thừa hưởng một cơ thể lành mạnh không bệnh tật thì ta biết rằng đó là nhờ cha, nhờ mẹ, nhờ ông nội, nhờ bà nội, ông ngoại, bà ngoại và những thế hệ khác đã sống như thế nào, đã giữ gìn cơ thể họ như thế nào nên hôm nay ta mới có được cơ thể này. Vì vậy không phải chỉ có ta gieo hạt trong quá khứ mà ông cha chúng ta cũng đã gieo hạt trong quá khứ. Như vậy cũng có nghĩa ông cha ta tức là ta, ta là sự tiếp nối của ông cha. Đây là đạo lý vô ngã.

Thi sĩ Nguyễn Du chẳng hạn, đã viết nhiều tác phẩm trong đó có truyện Kiều. Hồi đó người Việt chưa có đức tin mãnh liệt nơi ngôn ngữ Việt. Người ta nghĩ rằng chỉ có chữ Hán mới có thể diễn tả được những cái sâu sắc nhất của tâm tư và nhiều học giả chỉ làm thơ chữ Hán. Nhưng có những người như thi sĩ Nguyễn Du lại có đức tin rất vững nơi tiếng Việt. Vì vậy họ đã sáng tác bằng tiếng Việt và gởi tất cả tâm hồn mình vào tác phẩm. Thi sĩ Nguyễn Du sáng tác cho ai? Cái nhân đó, cái hạt giống đó gieo xuống cho ai, để cho kiếp sau thi sĩ được hạnh phúc hay là để cho cả dân tộc được thừa hưởng? Trong ánh sáng của đạo lý vô ngã, Nguyễn Du không có một cái ngã riêng biệt. Cái ngã của Nguyễn Du là cái ngã của con cháu Nguyễn Du ngày hôm nay. Vì vậy, nếu ngày hôm nay những người trẻ có đức tin nơi tiếng Việt, cái đó không phải chỉ vì những người trẻ đó đã trồng nhân lành quá khứ, mà tại vì họ đã có những bậc cha ông biết gieo những nhân lành. Cho nên khi gánh chịu một khổ đau, ta phải thấy rằng khổ đau này là ta đang gánh chịu cho cả dòng họ, cho cả dân tộc ta. Khi thấy như vậy thì ta sẽ đỡ đau khổ nhiều lắm, và trong khi gánh chịu ta có thể có rất nhiều nghị lực và nhiều niềm vui vì ta đang gánh chịu với tình thương và trách nhiệm của một thành phần trong dòng sinh mạng. Trong khi chùi cầu tiêu, sư chú biết rằng sư em mình đang nói pháp thoại trên thiền đường. Tuy vậy, sư chú vẫn chùi cầu tiêu một cách rất hạnh phúc, và thấy rằng việc chùi cầu tiêu là một việc rất cao cả, quan trọng không thua gì việc nói pháp thoại. Sư chú biết rằng nhờ sư chú đang chùi cầu tiêu nên sư em mới có cơ hội để nói pháp thoại. Như vậy chùi cầu tiêu là một hình thức nói pháp thoại. Trong khi sư em mình nói pháp thoại có lợi lạc cho sư em và cho những người khác, thì sư chú chùi cầu tiêu cũng có rất nhiều lợi lạc và cũng đem lợi lạc này lại cho rất nhiều người. Vì vậy không có sự kỳ thị giữa việc chùi cầu tiêu và việc nói pháp thoại. Đó là vô ngã. Ta biết rằng đức Quan Thế Âm Bồ Tát đã thành Bụt từ vô lượng kiếp rồi, nhưng trong pháp hội của Bụt Thích Ca, đức Quan Âm vẫn đóng vai trò của một người đệ tử. Chúng ta biết rằng Bụt Thích Ca cũng có thể làm chuyện đó. Có thể trong một hoàn cảnh khác, đức Quan Thế Âm Bồ Tát đóng vai trò của một bậc Chúng Trung Tôn và Bụt Thích Ca Mâu Ni lại đóng vai trò của một người đệ tử. Tất cả đều là thị hiện. Thị hiện trong tuệ giác tôi với anh không phải là hai thực thể: anh làm chuyện này, tôi làm chuyện khác; anh vo gạo, tôi rửa bát, tất cả đều mầu nhiệm như nhau. Vì vậy cho nên dù ngồi trên pháp tọa hay đang làm vua thì mình cũng không thấy mình bị tách rời ra khỏi những thực thể khác ở chung quanh mình.

Vì vậy mình có khả năng hạnh phúc và nếu cần đau khổ mình cũng có thể chấp nhận được, tại vì mình đang gánh chịu cho anh mình, cho chị mình, cho em mình, cho dân tộc, cho dòng họ của mình. Đó là nhẫn. Nhẫn tức là có một trái tim rất lớn có thể chứa đựng được những cái mà những trái tim khác không thể chứa đựng. “Nhẫn điều khó nhẫn mới là chân tu”, đó là một câu ở trong truyện Quan Âm Thị Kính. Chứa đựng những cái không thể chứa đựng được, đó mới gọi là chân tu. Mà tại sao trái tim mình đã lớn lên được tới cái mức đó, có thể chứa đựng được tất cả những đau khổ, những bất công như thế? Đó là tại vì mình đã có dụng cụ của sự quán chiếu. Dụng cụ của sự quán chiếu ấy tháo tung được trái tim mình ra và làm cho trái tim mình có thể ôm trọn cả được thái hư. Còn nếu không thì mình vẫn còn trách trời, trách đất, nguyền rủa thiên địa, nguyền rủa chính quyền, nguyền rủa xã hội, nguyền rủa cha mẹ, nguyền rủa đủ thứ và mình tiếp tục đau khổ.

Hãy Gọi Đúng Tên Tôi

Khi em bé thuyền nhân bị hãm hiếp trên Vịnh Thái Lan nhảy xuống biển tự tử, người cha của em bé đau khổ vô cùng. Người cha đó tới can thiệp nhưng đã bị những tên cướp biển đánh cho bị thương tích, quỵ xuống không làm gì được và cuối cùng phải tận mắt chứng kiến cảnh con gái mình bị hãm hiếp. Đó là một oan ức lớn và hận thù cao ngút. Hận thù là một khối đau rất lớn. Đó là địa ngục, đó là lửa cháy. Càng đau khổ thì càng hận thù và càng bị oan ức thì hận thù càng lớn. Chữ oan biến thành chữ oán, chỉ cần thêm một dấu sắc. Khi ta cảm thấy bị oan ức thì ta dễ sinh tâm oán hận. Và khi có oán hận trong lòng thì trái tim bốc cháy và ta càng đau khổ hơn. Vì vậy cho nên ta phải thực tập Nhẫn Ba La Mật. Nhẫn Ba La Mật không phải là sự đè nén mà là sự quán chiếu. Buổi chiều hôm đó, sau khi được tin em bé nhảy xuống biển, tôi đã không ăn cơm được. Tôi đi thơ thẩn vào rừng, trái tim đầy khổ đau, đầy phẫn uất. Đêm đó, trong giờ thiền quán, tôi thấy tôi là người hải tặc được sinh ra ở miền duyên hải Vịnh Thái Lan. Tôi thấy tôi là một em bé trai được sinh ra trong một gia đình ngư dân nghèo. Cha tôi là một ngư phủ, dốt nát không biết chữ, đêm nào cũng say rượu và về đánh đập vợ. Mẹ tôi là một người đàn bà không có học thức, không biết cách nuôi con, cứ để tôi lêu lổng chơi bời với những đứa trẻ hàng xóm không có giáo dục. Từ mười lăm, mười sáu tuổi, tôi đã phải theo cha ra biển để đánh cá. Cuộc sống rất khó khăn, nghèo khổ. Dòng họ của tôi, bao nhiêu đời rồi, đã từng sống một cuộc sống nghèo khó như vậy. Thành ra sau khi cha tôi mất, tôi phải đi ra làm nghề biển. Rồi một hôm đó, một vài người đồng nghiệp nói với tôi: “Có những người thuyền nhân vượt biển mang theo vàng, mình chỉ cần đi ăn cướp một chuyến thôi là mình có thể tự giải phóng mình ra khỏi thân phận nghèo đói và khổ đau đã kéo dài trong bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp.” Nghe lời mấy kẻ đó, tôi tự nói: “Một lần thôi nhé”, và tôi đã đi theo những tên hải tặc khác. Khi ra tới biển khơi đón đường một chiếc thuyền, chúng tôi đã không cướp bóc được gì. Không ai có vàng. Người ta phải lấy áo, lấy quần, lấy dây chuyền của những người thuyền nhân. Rốt cuộc tôi thấy một đứa bạn, cũng làm nghề đánh cá, hãm hiếp một cô bé. Nhìn quanh tôi thấy không có ai, không có cảnh sát, tôi nghĩ rằng ở đây không có ai thấy ai biết và tôi đã bắt chước bạn tôi hãm hiếp cô bé. Tôi nói: “Chỉ một lần thôi.” Bấy giờ, nếu anh có súng, anh sẽ bắn tôi chết và anh hất tôi xuống biển sâu. Tôi chết thì cũng vậy thôi. Từ khi tôi sanh ra tới giờ, đâu có ai dạy cho tôi biết thương, biết yêu và biết quán chiếu. Chưa ai dạy tôi làm thế nào để thoát ra khỏi thân phận nghèo đói và áp bức của một kiếp người. Chưa ai tìm cách mở trái tim của tôi ra để cho tôi biết thương và biết cảm. Vì vậy, nếu anh giết tôi thì tôi chết thôi. Anh cũng không giúp được tôi. Trong giờ thiền quán, tôi đã thấy như vậy và tự nhiên bao nhiêu giận hờn, bao nhiêu trách móc đối với người hải tặc đó tan biến hết. Cũng trong buổi thiền quán đó, tôi thấy được hàng trăm em bé đang sinh ra rải rác trên miền duyên hải Thái Lan. Tôi biết rằng những em bé này nếu không có ai dạy, không có ai thương, không có ai chăm sóc; nếu các nhà văn hóa, các nhà giáo dục, các nhà kinh tế và các nhà chính trị tiếp tục bỏ bê các em thì hai mươi năm sau, có nhiều đứa trong số đó sẽ trở nên hải tặc. Chúng ta đã cùng với nhau tạo nên những tên hải tặc. Chúng ta chịu trách nhiệm về cái chết của em bé gái, không phải chỉ riêng người hải tặc kia. Đó là quán chiếu theo lý vô ngã. Nếu không quán chiếu theo lý vô ngã thì ta sẽ đổ tội một trăm phần trăm cho tên hải tặc. Nhưng nếu chúng ta đã được sanh ra trong gia đình tên hải tặc đó, đã được nuôi nấng, được giáo dục theo cách đó thì lớn lên chúng ta sẽ trở thành một tên hải tặc như nó. Vì vậy cho nên nó không phải là người duy nhất chịu trách nhiệm mà chúng ta cũng liên đới chịu trách nhiệm. Chúng ta, ở gần hay ở xa, khi thấy bi kịch đó, hãy nói lên được và kêu gọi dư luận thế giới làm thế nào để ngăn ngừa không cho những em bé sanh ra tối hôm nay, hai mươi năm sau trở thành một tên hải tặc. Đó là bổn phận của tất cả chúng ta. Chỉ khi nào chúng ta quán chiếu và thấy được nguyên do tại sao những người tàn bạo kia đã làm như vậy thì lửa hận thù, lửa hờn oán trong ta mới bắt đầu lắng xuống và tiêu diệt. Chỉ lúc đó, giọt nước thanh lương trong trái tim mới có thể ứa ra và ta cảm thấy êm dịu, dễ chịu. Trong Thánh Kinh có lời cầu nguyện: “Lạy Cha, xin Cha tha cho người đó, bởi vì người đó không biết họ đang làm gì”. Đúng như vậy. Nếu người ta nói điều ác, nếu người ta làm điều ác, đó là vì người ta vô minh và không có chánh niệm. Người ta không biết rằng lời nói đó hay hành động đó đang gây ra đau khổ cho người khác và cho chính mình. Một em bé bắt một con bướm cầm trong hai tay và xé con bướm ra làm hai mảnh. “Này bé, có phải em ác độc không?” Đó là câu hỏi. Trẻ em có thể chơi ác như vậy. Có một hôm, tôi nói với một em bé: “Con có biết rằng con bướm này nó có anh, có chị, có mẹ, có cha hay không? Con hãy tưởng tượng tối nay con bướm nó không về nhà thì anh chị nó sẽ lo lắng như thế nào? Mẹ nó sẽ lo lắng như thế nào? Cha nó sẽ lo lắng như thế nào?” Em bé hiểu. Từ đó, em bé không còn bắt bướm xé ra thành hai mảnh nữa và mỗi khi đi chơi với Sư Ông gặp một con sên, thay vì đạp lên thì bé cúi xuống nâng con sên lên để vào trong bụi cây và nói: “Nếu không thì nó sẽ bị người ta đạp và tối nay nó về nhà với ba má nó không được.” Đó là cái thấy. Cái thấy đó làm cho trái tim ta lớn lên, làm cho tình yêu trở nên một cái gì có thật.

Vì vậy cho nên tu là quán chiếu. Quán chiếu nghĩa là thiền tập. Nếu anh lo tu tạo công đức mà không thực tập quán chiếu thì công đức đó sẽ không phải là công đức đích thực. Năng lượng dùng để quán chiếu là chánh niệm, tại vì không có niệm thì không có định, mà không có định thì không thể nào quán chiếu. Cho nên trong khi ăn, uống, đi, ngồi, ta phải chế tác chánh niệm. Cố nhiên phải nấu cơm ta mới có cơm ăn. Người đời nấu cơm là để có cơm ăn thôi. Còn chúng ta, người tu, nấu cơm không phải chỉ là để có cơm. Hành động nấu cơm của chúng ta phải là hành động quán chiếu, cho nên ta phải nấu cơm trong chánh niệm. Đó là chìa khóa của tất cả mọi thành công.

Giải Oan

Đọc truyện Thúy Kiều, chúng ta rất thương cô nàng long đong mười lăm năm lưu lạc. Thúy Kiều đã đau khổ vô cùng. Và Thúy Kiều, có khi cũng làm như mẹ, cô ngửng mặt lên trời để hỏi: “Tại sao thân phận của con như vậy, hai lần làm đầy tớ, hai lần làm gái giang hồ, bị dày xéo, đánh đập và hành hạ đủ cách?” Ai gây ra những khổ đau đó cho Thúy Kiều? Thúy Kiều chịu khổ vì ai? Cố nhiên có thể là vì xã hội bất công và có thể là vì cha ông đã từng gieo những hạt giống không lành trong quá khứ, nhưng chính Thúy Kiều cũng chứa chấp trong lòng những vô minh, những hận thù và những dại dột. Chúng ta biết rằng sau khi Từ Hải trở nên một vị tiểu vương hùng cứ một địa phương, Thúy Kiều đã được Từ Hải rước về và hạnh phúc gần như được coi là hoàn toàn. Một gái thanh lâu, một con thanh y bị người khác hành hạ bây giờ đã trở nên một bà mệnh phụ có quyền uy rất lớn. Nhưng trong địa vị đó, Thúy Kiều vẫn không có hạnh phúc, vẫn tiếp tục đau khổ, vì Thúy Kiều vẫn còn cảm thấy nỗi oan ức canh cánh trong lòng. Ngày xưa đã là nạn nhân của Tú Bà và Mã Giám Sinh, sau này nàng còn là nạn nhân của Bạc Hạnh, Bạc Bà, Ưng, Khuyển và Sở Khanh. Bao nhiêu người đã làm tình làm tội, đã dày xéo lên trên cuộc đời của nàng. Cho nên một hôm Thúy Kiều năn nỉ với Từ Hải: “Làm sao Tướng công cho người đi bắt hết tất cả những người đã làm khổ em trong quá khứ đem về đây cho em trừng trị.” Từ Hải vì thương Kiều quá nên đã chiều theo. Ông ta cho một đạo quân đi bắt hết tất cả những người đã làm khổ Kiều, từ Tú Bà, Mã Giám Sinh cho đến Bạc Hạnh, Bạc Bà, Khuyển và Ưng. Thúy Kiều cũng đã nói: “Có những người đã làm ơn cho em ngày xưa thì cũng xin Tướng công mời về để em có thể trả ơn.” Trong số những người mà Thúy Kiều mời về để trả ơn, có ni sư Giác Duyên là người đã cho Thúy Kiều tỵ nạn một thời gian dưới hình thức sư cô ở chùa Chiêu Ẩn và một bà quản gia. Bà quản gia này đã săn sóc những vết thương của Thúy Kiều sau khi Thúy Kiều bị đánh đập, đã từng sắc thuốc cho Thúy Kiều uống để lấy lại sức khỏe. Vì vậy Thúy Kiều đã mời hai người ấy về, và sẵn có vàng có ngọc, có lụa là trong cung, Thúy Kiều đã đem ra tặng hai người. Trong khi đó, một dãy tội phạm kia được dẫn tới. Thúy Kiều nói: “Nhìn lên đây. Quý vị có thấy ai đây không? Quý vị có thấy đây là cái người mà quý vị đã từng làm tình làm tội, là người mà quý vị đã từng đánh từng đập và hành hạ trong quá khứ?” Mọi người đều hoảng hốt và sợ hãi tại vì “không ngờ con nhỏ đó bây giờ làm lớn quá và giờ đây bị nó bắt về thì thôi, chắc là mình chết.” Thúy Kiều đã ra lệnh là người nào ngày xưa thề bồi như thế nào thì bây giờ bị trừng phạt như thế đó. Đó là sự trả thù của Thúy Kiều. Trong con người của Thúy Kiều còn nhiều hạt giống của vô minh và ác độc có thể là đã được thừa hưởng từ ông bà, cha mẹ hay là từ quan điểm về công bình xã hội của giai cấp như trong xã hội của Thúy Kiều.

Trước là Bạc Hạnh, Bạc Bà
Bên là Ưng Khuyển, bên là Sở Khanh
Tú Bà với Mã Giám Sinh
Các tên tội ấy đáng tình còn sao?
Lệnh trên truyền xuống khai đao
Thề sao thì lại cứ sao gia hình
Máu rơi thịt nát tan tành
Ai trông thấy cũng hồn kinh phách rời.

Thúy Kiều chịu được cảnh trả thù. Quý vị khi bắt được những người đã làm khổ mình trong quá khứ, quý vị có khả năng ngồi nhìn những người đó bị hành hình như vậy hay không? Nàng Thúy Kiều của chúng ta đã ngồi để chứng kiến sự đau khổ của những kẻ thù mình. Hèn gì con người đó đã phải gánh chịu biết bao nhiêu là đau khổ trong vòng mười lăm năm. Thời gian mà Kiều tu với sư chị Giác Duyên tại chùa Chiêu Ẩn chẳng qua chỉ là thời gian tỵ nạn thôi, chứ chưa phải là tu hành đàng hoàng. Mười lăm năm sau, sau khi đã nếm đau khổ đến chỗ cùng cực, rồi nhảy xuống sông Tiền Đường tự tử và được sư chị vớt lên, Kiều mới thực sự tu hành nghiêm chỉnh. Và tu hành chỉ một thời gian ngắn thôi, Trạc Tuyền đã có thể chuyển hóa. Đó là vì bây giờ sư cô tu thiệt, còn trước đó sư cô tu là để tỵ nạn thôi. Oan, tiếng Anh là injustice. Oan là một sợi dây trói mình, xiết chặt mình lại; mình đau khổ và rên siết trong sợi dây oan nghiệt đó. Chừng nào mình còn cảm thấy oan thì chừng đó mình còn cảm thấy đau khổ. Mình cảm thấy mình có nhu yếu cần phải giải oan. Giải oan tức là mở nỗi oan ra. Giải oan là một danh từ được sử dụng rất nhiều ở Việt Nam. Ở dưới chân núi Yên Tử có dòng Giải Oan. Ở trên chùa Hương cũng có chùa Giải Oan. Chúng ta đi chùa cầu Bụt và các vị Bồ Tát để giải oan. Chúng ta thiết lập những đàn tràng để giải oan, gọi là Đàn Giải Oan. Chúng ta ra biển làm lễ vớt những vong hồn của các thuyền nhân bị đắm trên biển cả, chúng ta tụng kinh siêu độ, chúng ta thí thực và chúng ta giải oan là tại vì chỉ khi nào cái oan của mình được giải thì mình mới có hạnh phúc. Nhưng ai là người giải oan được cho mình bây giờ? Thúy Kiều đã nhờ Từ Hải giải oan cho nàng. Thúy Kiều đã trông cậy vào một thế lực chính trị, một thế lực quân sự để mà giải oan. Chúng ta có thể đi tìm những phương tiện quân sự và chính trị để giải oan. Nhưng trong trường hợp của Thúy Kiều, oan kia không biết đã giải được hay không mà lúc ấy Thúy Kiều đã tạo thêm ra những tội trạng. Thúy Kiều không thấy rằng nếu Tú Bà và Mã Giám Sinh làm như vậy là vì xã hội đã dung dưỡng những thành phần như vậy. Tú Bà và Mã Giám Sinh làm nghề chứa gái điếm là một trong những nghề làm được rất nhiều tiền. Có thể là Tú Bà và Mã Giám Sinh không có nghề nào khác hơn, và không ai giúp cho họ có một nghề lương thiện hơn. Vì vậy Tú Bà và Mã Giám Sinh cũng là nạn nhân của xã hội như Thúy Kiều. Không những Thúy Kiều cần phải giải oan, mà Tú Bà và Mã Giám Sinh cũng cần được giải oan. Tại sao phải đi làm nghề đó? Ai đặt Tú Bà và Mã Giám Sinh vào hoàn cảnh đó nếu không phải là xã hội, nếu không phải là hạt giống của cha ông? Cho nên Tú Bà với Mã Giám Sinh cũng là nạn nhân như Thúy Kiều. Nếu chúng ta thương Thúy Kiều thì tại sao trái tim của chúng ta không mở rộng hơn lên để có thể thương được Mã Giám Sinh và Tú Bà? Tất cả những người đang ngồi trong tù vì đã làm những hành động bạo động trong xã hội, những người đó cần bị trừng phạt hay là cần được giúp đỡ? Quán chiếu theo đạo lý duyên sinh và vô ngã của đạo Bụt, chúng ta thấy rằng tất cả những người đang bị giam giữ trong tù đều là những người cần được giúp đỡ, cần được thương yêu. Họ là những người cần được thương yêu hơn là những người khác. Họ đã thiếu thương yêu và thiếu hiểu biết, cho nên họ đã làm giống như em bé cầm một con bướm xé ra làm hai mà không thấy trái tim rung động gì hết. “Lạy Chúa, xin Chúa tha tội cho kẻ kia tại vì kẻ kia không biết họ đang làm gì.”  Cái gì đã xui khiến kẻ kia làm ra điều ác đó? Cái đó là vô minh. Vì ngu dốt và vì không có tình thương cho nên kẻ kia đã làm như vậy. Vì thế, cái mà kẻ kia cần là một ít tình thương và một ít trí tuệ. Nếu họ có một ít tình thương và một ít trí tuệ thì họ sẽ không làm như vậy. Tình thương và trí tuệ là hai tặng phẩm lớn nhất và quý giá nhất mà chúng ta có thể trao tặng cho đời, nhất là những người cần được tiếp nhận hai chất liệu đó. Nhốt một người bạo động lại là chuyện bất đắc dĩ để người ấy đừng tiếp tục giết người, đánh người và đốt nhà. Chúng ta phải có lòng thương. Tuy nhốt người ấy lại nhưng ta phải làm thế nào để cho người ấy đừng phát điên và có cơ hội để có thể học, có thể thực tập, có thể mở được trái tim và có thể thấy được một hướng đi trong cuộc đời. Chúng ta phải có một chương trình thương yêu những người bị giam giữ. Cũng vì vậy cho nên sự có mặt của các sư cô, sư chú đến thăm viếng các trại giam là chuyện rất quan trọng. Chúng ta không thể chỉ giao phó số mạng của những người bị giam giữ cho những ông cai tù, tại vì những ông đó có thể chưa biết thương, chưa biết hiểu. Những thiếu niên phạm pháp, chúng ta đâu có muốn nhốt các em lại. Nhốt các em lại là chuyện bất đắc dĩ để các em đừng tiếp tục phạm pháp. Nhưng chúng ta phải có chương trình để giúp các em thoát ra khỏi tình trạng trái tim trở thành một thoi sắt và trí tuệ trở thành một tảng đá. Ai là người có thể giúp được các em để các em có chất liệu của hiểu biết và thương yêu nếu không phải là những người đã thực tập hiểu biết và thương yêu? Cho nên chúng ta phải có mặt. Chúng ta thương ai? Chúng ta thương thầy, thương bạn, thương cha và thương mẹ. Điều đó rất đúng, nhưng có thể những người đó ít cần tình thương của chúng ta hơn là những người ác độc kia. Thúy Kiều đã không có cái nhìn như vậy. Thúy Kiều đã không thấy được Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh và Bạc Bà cũng đều là nạn nhân như là Thúy Kiều vậy. Chính những người đó cần được giúp đỡ. Nếu Thúy Kiều có được từ bi, có được trí tuệ thì sau khi mời những người đó về, Thúy Kiều sẽ cho họ gia nhập một khóa tu mười ngày hay là hai mươi ngày.

Quý vị đừng tưởng Thúy Kiều đã chết. Thúy Kiều đang còn sống, đang còn ngồi đó giữa chúng ta ngay trong ngày hôm nay. Không trễ đâu. Khi Thúy Kiều đã có chương trình giúp cho người thù trong quá khứ, để những người này có thể tu học được một khóa mười ngày hay là hai mươi ngày thì trái tim của Thúy Kiều đã mở ra rồi. Từ Hải không thể nào giải oan được cho Thúy Kiều. Giải pháp quân sự, giải pháp bạo động và giải pháp chính trị không đủ để giải oan cho chúng ta với tư cách một cá nhân, một dòng họ, một gia đình và một dân tộc. Chúng ta phải tự giải oan lấy cho mình bằng phương pháp thực tập. Chỉ khi nào trí tuệ bừng nở và cam lộ của từ bi ứa ra trong trái tim, thì lúc đó oan ức của chúng ta mới bắt đầu dịu lại và chúng ta mới được chuyển hóa thật sự. Đừng mong ước giải oan bằng những phương tiện quân sự hay chính trị. Đừng mong ước giải oan bằng một thế lực ngoài ta, dù đó là Thượng đế, là Bụt hay là Bồ tát. Nếu quán chiếu sâu sắc thì chúng ta thấy rằng Thượng đế chính là ta, Bụt chính là ta, Bồ tát chính là ta và cái năng lượng kia chúng ta phải sử dụng trong tâm ta để ta có thể thực sự giải oan cho ta. Tất cả mọi người hôm nay ngồi đây ít nhiều cũng đã bị oan ức trong quá khứ, đã bị dèm pha, đã bị ganh ghét và đã bị vu oan giá họa. Nếu nỗi oan trong lòng ta chưa tiêu thì ta biết rằng ta phải thực tập. Một tờ báo, một bài báo hay là một lời xin lỗi không đủ để giải tỏa những nỗi oan cừu đó. Muốn thực sự giải tỏa những nỗi oan cừu đó và những nỗi khổ đau đó thì chúng ta phải thực tập Nhẫn Ba La Mật. Nghĩa là chúng ta phải làm thế nào cho trái tim ta lớn lên và trí tuệ ta lớn lên để trái tim chúng ta có thể đi về hướng trái tim Đức Thế Tôn. Chúng ta có khả năng ôm được, chứa đựng được những niềm đau nỗi khổ đó và chứa đựng luôn được cái người, ngày xưa hoặc bây giờ, đang làm cho ta đau khổ. Và nếu trái tim ta đã lớn thì những cái kia không còn đủ sức làm cho chúng ta đau khổ nữa. Một đêm quán chiếu làm cho trái tim mình mở ra, làm cho người hải tặc kia không còn là kẻ thù của mình mà trở thành một người thương của mình. Người hải tặc phải là một người cần được giúp đỡ. Và những người hải tặc trong tương lai mình phải thấy ngay từ bây giờ, để mình có thể giúp đỡ và để cho ngày mai em bé trai sinh ra đêm nay sẽ không trở nên hải tặc. Đó là cái thấy của sự quán chiếu và đó là lòng từ bi. Tình thương là một cái gì không thể có nếu không có sự quán chiếu. Vì vậy cho nên nói bi tức là nói trí và nói trí tức là nói bi, hai cái không thể tách rời nhau.

Sinh Nhẫn Và Pháp Nhẫn

Hôm trước chúng ta đã học về hai loại nhẫn tức là nhẫn thế gian và nhẫn xuất thế gian. Hôm nay chúng ta học về hai cái nhẫn khác là sinh nhẫn và pháp nhẫn. Sinh tức là chúng sinh. Trước hết là loài người, tức là loài làm ta khổ đau nhiều nhất. Các loài khác như loài vi trùng hay là loài cọp beo cũng làm ta khổ, nhưng không làm cho ta cay đắng quằn quại như loài người. Sinh nhẫn tức là nhẫn chúng sinh. Nếu cha mẹ mình làm khổ mình thì cha mẹ mình cũng là chúng sinh, mình phải làm thế nào để có thể ôm được cha mẹ, hiểu được cha mẹ và thương được cha mẹ, đó gọi là sinh nhẫn. Nếu con mình làm khổ mình thì mình phải thực tập như thế nào để con mình hiểu được mình, để trái tim mình lớn lên và ôm được con mình, mình không còn giữ ý muốn từ con mình nữa tại vì con mình cũng là một chúng sinh, đó gọi là sinh nhẫn. Nếu giai cấp kia đàn áp, bóc lột mình và mình đau khổ cùng cực, thì mình phải làm thế nào để trái tim mình lớn lên và ôm được trọn những người đó, thương được những người đó tại vì những người đó cũng là chúng sinh, đó gọi là sinh nhẫn. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta cứ để cho sự đàn áp và bóc lột tiếp tục. Chúng ta cũng phải làm như là đối với em bé phạm pháp. Hễ em bé phạm pháp thì chúng ta phải bắt nhốt lại và xét xử. Nếu em bé bạo động, bắn người, giết người thì chúng ta phải bắt em bé lại và ngăn không cho em tiếp tục bạo động. Đối với một giai cấp bóc lột và đàn áp chúng ta cũng phải làm như vậy. Chúng ta phải tìm tất cả các biện pháp để có thể ngăn ngừa không cho họ bóc lột và đàn áp. Ta hành động không phải vì hận thù mà vì tình thương, tại vì những người kia cũng đang đau khổ. Họ tuy đứng về một giai cấp phú quí, tư bản và bóc lột nhưng họ cũng đau khổ. Họ không thấy được cái đau khổ của đồng loại và của những giai cấp khác. Vì vậy cho nên trái tim của họ rất cần tình thương và đầu óc của họ rất cần trí tuệ. Và khi ta chấp nhận được họ và ôm được họ rồi, ta sẽ có thể giúp đỡ cho họ có một cái thấy và có một trái tim. Trong khi đó, ta vẫn làm hết sức tất cả những gì ta có thể làm để ngăn chặn không cho họ tiếp tục chuyện bóc lột và đàn áp. Ta hành động nhưng không hành động trên cơ bản căm thù. Ta hành động trên cơ bản tình thương và từ bi. Đó là phương châm của đạo Bụt. Chúng ta có thể tranh đấu trong lãnh vực xã hội, chúng ta có thể tranh đấu trong lĩnh vực kinh tế và chúng ta phải tranh đấu, vì tự do dân chủ không thể nào có được nếu không có sự tranh đấu. Chúng ta quả quyết là điều này nằm trên đường hướng thực tập của chúng ta. Nếu chúng ta tới nước Pháp mà được hưởng quyền tự do và dân chủ ở nước Pháp là tại vì trong quá khứ người Pháp đã đau khổ, đã tranh đấu cho nền dân chủ và tự do của họ. Vì vậy cho nên chúng ta quả quyết rằng muốn có dân chủ, muốn có tự do là phải tranh đấu. Nhưng phương tiện của đạo Bụt để tranh đấu không phải là hận thù, tại vì tranh đấu với một trái tim hận thù thì chúng ta sẽ tạo ra rất nhiều đau khổ, không phải cho những người kia thôi mà còn cho chính chúng ta. Một người có hận thù và đau khổ trong lòng thì có thể mù quáng, có thể gây ra những đau khổ không cần thiết. Trong khi đó thì năng lượng cần thiết cho những người tranh đấu là cái thấy, cái hiểu và cái thương. Cái hiểu và cái thương là hai nguồn năng lượng vô cùng tận, gọi là đại bi và đại trí. Mà đại bi và đại trí đi với đại dũng cho nên các em trong gia đình Phật tử đã học bi, trí và dũng (đại hùng, đại lực, đại từ bi). Chúng ta biết rằng mỗi khi chúng ta có căm thù trong trái tim thì chúng ta nhìn không rõ, chúng ta bị mù quáng. Vì mù quáng, chúng ta hành động sai lầm và gây đau khổ rất nhiều. Cho nên thay vì sử dụng chất liệu hận thù làm năng lượng thì chúng ta dùng một năng lượng khác, đó là năng lượng của tình thương, năng lượng của hiểu biết. Năng lượng hiểu và thương rất mạnh. Năng lượng đó có thể thay đổi được thế giới, có thể thay đổi được trái tim ta.

Chúng ta đã nói tới sinh nhẫn, bây giờ chúng ta nói tới pháp nhẫn. Pháp tức là các pháp. Đại Trí Độ Luận có nói tới hai loại pháp. Trước hết là tâm pháp và hai là sắc pháp. Tâm pháp tức là những trạng thái tâm lý của ta như là: buồn, giận, thất vọng, ganh tị, lo lắng, sợ hãi… tất cả đều thuộc về phạm vi tâm pháp. Làm thế nào để chúng ta có thể ôm được và chuyển hóa những cái đó. Rồi tới những sắc pháp như là: bệnh tật, thiên tai, nước lụt, lửa cháy, nóng, lạnh, tai nạn xe hơi… Tất cả những cái đó chúng ta cũng phải làm thế nào để ôm lấy và chịu đựng được chúng. Chúng ta đã biết rất rõ, chúng ta đã nghe nhiều lần rằng chúng ta chỉ có thể ôm chúng khi nào chúng ta có một trái tim lớn và một nhận thức lớn. Mà muốn có một trái tim lớn và một nhận thức lớn, chúng ta phải thực tập quán chiếu theo tinh thần vô ngã. Vì vậy cho nên vô ngã là chiếc chìa khóa độc nhất vô nhị mà Đức Thế Tôn đã trao truyền cho chúng ta. Nó có thể mở toang ra tất cả những nhà tù chật hẹp, nhà tù của thành kiến, của nghi kỵ và của hận thù. Vô thường và vô ngã là chìa khóa để mở cửa thương yêu. Tuy nhiên cũng trong tác phẩm đó, Đại Trí Độ Luận, có chỗ lại giải thích sinh nhẫn và pháp nhẫn hơi khác. Sinh nhẫn ở đây là tất cả những bức hại, những bức bách và những ác độc của các loại chúng sanh. Nó cũng giống như cách giải thích trước, nhưng đến khi nói tới pháp nhẫn thì pháp ở đây là tất cả các pháp. Tất cả các pháp không những là tâm pháp và sắc pháp, mà trong đó còn có chứa đựng chúng sinh nữa. Nghĩa là cái nhẫn này bao trùm cái nhẫn đầu là sinh nhẫn. Và theo tinh thần đạo Bụt đại thừa thì pháp nhẫn là phép thực tập quán chiếu. Quán chiếu để thấy được tự tính vô ngã và không của mọi pháp. Chỉ khi nào chúng ta quán chiếu được tự tánh vô ngã, tương tức và không của vạn pháp thì chúng ta mới giải oan cho chúng ta được.

Tại sao tuệ giác về vô ngã, và tương tức lại giải oan cho ta được? Quý vị đã biết nguyên tắc “cha ăn mặn, con khát nước”. Người hải tặc kia sở dĩ làm như vậy là vì những nguyên do nào, chúng ta phải quán chiếu. Chúng ta không qui tội vào cho một người, mà chúng ta thấy được tất cả những nguyên do gần xa chằng chịt đã đưa tới cái hiện tượng bức bách, hãm hại và giày xéo kia. Và khi thấy được chúng sanh cũng như thấy được các pháp trong sự liên hệ tương tức của chúng thì tự nhiên trái tim chúng ta mở ra. Chúng ta có thể chứa đựng và ôm lấy được tất cả những gì đang xảy ra cho chúng ta và chúng ta không còn đau khổ. Cũng như là người sư anh trong khi chùi cầu tiêu có cảm giác rất hoan lạc là tại vì biết rằng mình đang làm việc này cho tất cả tăng thân. Nhờ mình đang làm chuyện này cho nên tăng thân mới có thể đang làm chuyện kia và chuyện nọ. Đó là cái nhìn tương tức, đó là cái nhìn vô ngã. Nếu chúng ta không thực tập quán chiếu vô ngã và tương tức thì cái nhẫn của chúng ta chưa phải là Nhẫn Ba La Mật. Trong kinh luận, chúng ta thường nghe lặp đi lặp lại ý “chỉ có quán chiếu tự tánh vô sinh của các pháp mới thực sự là Nhẫn Nhục Ba La Mật”. Vô sinh có nghĩa là không sanh không diệt, cũng có nghĩa là tương tức. Mà bất sinh bất diệt, cũng như tương tức, là những đóa hoa nở trên sự quán chiếu vô ngã. Nắm được vô ngã tức là thấy được vô sinh. Vì vậy cho nên kinh luận nói rằng chỉ có quán chiếu vô sinh mới là Nhẫn Nhục Ba La Mật. Chúng ta lại có một danh từ rất nổi tiếng là “vô sinh pháp nhẫn”. Vô sinh pháp nhẫn tức là cái nhẫn đạt được do quán chiếu tự tánh vô sinh của các pháp.

Sinh nhẫn tiếng Anh gọi là patience, nghĩa là chịu đựng được. Nếu sức mình không lớn, nếu trái tim mình không lớn thì làm sao mình chịu đựng. Nếu cha mà không chịu đựng được con là tại vì trái tim cha và sự hiểu biết của cha còn nhỏ. Nếu con mà không chịu đựng được mẹ là tại vì trái tim cũng như cái thấy của con chưa đủ lớn để có thể ôm được mẹ. Khi mình đủ sức để ôm rồi thì mình không còn khổ nữa, mình có thể chịu đựng được. Nếu mình chịu đựng mà thấy không được thoải mái lắm là tại vì mức chịu đựng của mình còn nhỏ, và mình phải thực tập để có thể chịu được mà không khổ thì mới hay. Thí dụ như mình có một đứa học trò cứng đầu, làm và nói những điều không cho mình hạnh phúc thì mình cũng có thể chịu đựng được. Mình nói là phải cho nó thời gian để nó thực tập. Tùy theo chiều sâu của sự quán chiếu mà mình chịu đựng đứa học trò đó dễ hay khó. Hoặc hơi cồng kềnh nếu mình có một sư anh, một sư em hay là một sư chị hơi khó ôm thì mình đừng nói: “anh ơi, chị ơi, nhỏ lại một chút đi để tôi ôm cho dễ.” Thay vì nói như vậy thì mình phải làm sao để trái tim mình lớn lên, lớn lên thêm nữa để mình có thể ôm được anh mình, chị mình hoặc em mình. Và tự nhiên tuy không đòi hỏi ở người kia một sự thay đổi nào cả mà mình vẫn có hạnh phúc như thường. Cái đó là Nhẫn Ba La Mật. Đây không phải là chuyện xa vời trên trời dưới đất, mà là chuyện hàng ngày của chúng ta. Chúng ta phải nên tự hỏi và mỗi ngày phải trở về trái tim để hỏi thăm: “Trái tim của ta ơi, hôm nay em có lớn lên chút nào không? Sự quán chiếu của ta có giúp em trưởng thành không?” Vô sinh pháp nhẫn rất mầu nhiệm. Ôm giữ được mà không bị nứt rạn, bao trùm được mà không thấy chật vật. Chữ Nhẫn có thể diễn dịch một phần nào chữ chịu đựng trong tiếng Việt. Và tôi đề nghị dùng tiếng inclusiveness để dịch chữ nhẫn, thay vì dùng các tiếng patience và forbearance.

________
Pháp thoại các ngày ngày 7, 11, 14 tháng 7năm 1996

Thông Điệp Của Tình Huynh Đệ

 

Mục đích khóa tu

Khóa tu của chúng ta có bốn mục đích, và chúng ta sẽ nỗ lực đạt cho được sự thực hiện bốn mục đích đó.

Mục đích thứ nhất là làm sao thấy được rõ con đường tương lai của cá nhân mình, như một người xuất gia, và của Phật giáo Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Điều này chúng ta có thể đạt được nếu chúng ta ngồi xuống cùng quán chiếu và chia sẻ với nhau.

Mục đích thứ hai là làm sao nhận ra được chân diện mục của nhau như những người huynh đệ để có thể chấp nhận, thương yêu nhau và xây dựng lại tình huynh đệ đã bị sứt mẻ vì những nguyên do nội tại và ngoại tại. Sự sứt mẻ này, tuy chúng ta không muốn, nhưng đã có. Tuy khóa tu của chúng ta chỉ có năm ngày, nhưng chúng ta tin tưởng có thể đạt tới mục tiêu này, nếu chúng ta tu học cho tinh chuyên.

Mục đích thứ ba là làm sao tiếp nhận và áp dụng được một số pháp môn tu học hữu hiệu có khả năng chuyển hóa thân tâm, tái lập được truyền thông giữa ta với thầy, giữa ta với huynh đệ, giữa ta với cộng đồng để chúng ta có đủ tư lương đi trọn con đường lý tưởng của một người xuất gia.

Mục tiêu thứ tư là làm sao tìm ra được những biện pháp hữu hiệu để đối phó lại với tệ nạn hư hỏng của những người tăng ni trẻ trong nước. Nếu chúng ta ngồi với nhau với trái tim huynh đệ thành thật, thì chúng ta có thể tìm ra được những biện pháp để đối phó với những tệ trạng đang xảy ra trong những người xuất gia trẻ, bên nam cũng như bên nữ ở khắp nơi trên đất nước.

Chúng ta không tham vọng quá đâu. Bốn mục tiêu này, nếu hết lòng thì chúng ta có thể đạt được.

Tất cả những sinh hoạt của khóa tu như thiền ngồi, thiền đi, thiền ăn cơm, pháp đàm, thiền trà đều được sử dụng để đạt tới bốn mục tiêu đó. Xin Quý vị Tôn Đức, các anh chị em trong đại gia đình những người xuất gia ghi nhớ bốn mục tiêu này để cho sự thực tập của chúng ta không dừng lại ở ngoài hình thức mà đi vào nội dung. Nghĩa là chúng ta làm gì cũng cốt để quán chiếu, tìm ra giải pháp cho bốn vấn đề, tôi xin nhắc lại ở đây:

Thứ nhất: thấy được con đường tương lai của mình và của cộng đồng Phật giáo mình.
Thứ hai: nhận ra được mặt mũi chân thật của nhau để có thể chấp nhận nhau như huynh đệ và xây dựng lại tình huynh đệ đã bị sứt mẻ vì thời cuộc, vì sự chia rẽ do những lý do nội tại và ngoại tại. Thứ ba: tiếp thu và áp dụng được một số các pháp môn tu học hữu hiệu để có thể sử dụng hằng ngày mà chuyển hóa thân tâm, thiết lập được liên hệ tốt trở lại với thầy, với huynh đệ, để có đủ tư lương đi trọn cuộc đời xuất gia của mình. Thứ tư: tìm ra những biện pháp tập thể hữu hiệu để đối phó với những tệ nạn hư hỏng của người xuất gia trẻ trong thời đại chúng ta.

Vượt qua nhãn hiệu

Trong buổi hướng dẫn hôm nay, tôi đặc biệt chú trọng đến điểm thứ hai: “Nhận ra được mặt mũi chân thật của nhau để có thể chấp nhận nhau như huynh đệ và xây dựng lại tình huynh đệ đã bị sứt mẻ vì thời cuộc, vì sự chia rẽ do những lý do nội tại và ngoại tại”. Sau này chúng ta sẽ có thì giờ đi sâu hơn để tìm đến những lý do gần và xa, cội nguồn của vấn đề.

Theo uy nghi của người xuất gia thì mình đâu được đọc tiểu thuyết kiếm hiệp, nhưng nếu Quý vị đã có đọc bộ Tiếu Ngạo Giang Hồ. Ai đọc rồi giơ tay?  Quý Vị sẽ thấy Tiếu Ngạo Giang Hồ cũng có bài học cho chúng ta tiếp thu. Tiếu Ngạo Giang Hồ là tên của một bản nhạc tuyệt diệu của hai người nhạc sĩ rất có tài và có lòng. Họ không được quyền chơi với nhau, không được quyền tới với nhau để hòa nhạc, vì hai người thuộc về hai môn phái khác nhau. Một bên là chánh phái, một bên bị coi là bàng môn tả đạo. Hai người thương nhau lắm, như là anh em ruột. Chính nghệ thuật âm nhạc đã đưa hai người tới với nhau. Thương nhau như anh em ruột, nhưng trên hình thức thì không được tới với nhau, không được chơi với nhau và hòa nhạc với nhau. Và vì vậy mỗi năm họ phải hẹn với nhau đến một chỗ thâm sơn cùng cốc nào đó, nơi không ai bước chân tới được, để đốt hương lên, hòa tấu bản nhạc đó với nhau. Lệnh Hồ Xung, nhân vật chính của tiểu thuyết Tiếu Ngạo Giang Hồ, là một người được coi như thuộc chính phái, đệ tử của một kiếm khách nổi tiếng quân tử là Nhạc Bất Quần. Nhạc Bất Quần được mệnh danh là Quân Tử Kiếm, nghĩa là võ thuật của ông rất quân tử, không bao giờ dùng những biện pháp tiểu nhân để thắng người. Nhạc Bất Quần là người đại diện tiêu biểu cho chính phái. Theo nguyên tắc, nếu mình là chính phái thì mình phải hoàn toàn quân tử. Nhưng rốt cuộc Lệnh Hồ Xung, một người trẻ trong chính phái, đã khám phá một sự thật là trong chính phái có rất nhiều người tà. Chính sư phụ mình, Nhạc Bất Quần, Quân Tử Kiếm, rốt cuộc đã lòi ra bộ mặt tiểu nhân của mình. Và vì vậy trong chánh có tà. Trong khi chơi với những người thuộc môn phái bên kia, Lệnh Hồ Xung lại nhận ra có rất nhiều quân tử bên đó. Doanh Doanh, tuy thuộc về phái gọi là bàng môn tả đạo nhưng lại là một con người rất tốt. Rốt cuộc, người thương và sống chết cho Lệnh Hồ Xung nhất không phải là Nhạc Linh Sơn, con gái của thầy học, mà là Nhậm Doanh Doanh, cô con gái của tà phái. Bộ tiểu thuyết Tiếu Ngạo Giang Hồ lột trần cho chúng ta sự thật là: Nếu chúng ta không nhìn nhau cho thật kỹ để thấy được con người của nhau, nếu chúng ta để cho mình bị những danh từ và nhãn hiệu che lấp, thì chúng ta không thấy được người anh em của mình. Chúng ta sẽ có những thái độ không dễ thương, chúng ta sẽ có những thái độ từ khước. Và như vậy chúng ta đánh mất chúng ta, đánh mất người huynh đệ. Rất nguy hiểm. Do đó, những danh từ, những tổ chức có thể là những chướng ngại.

Nhận ra người anh em

Khi chúng ta gặp người anh em ngoài đường, thì trước hết đó là người anh em mặc chiếc áo tu. Mỗi khi tôi thấy một người mặc áo tràng hay áo nhật bình thì tự nhiên trong trái tim tôi có một niềm thương dâng lên. Tôi không biết người này thuộc chùa nào, theo tổ chức nào, chỉ thấy mặc áo nhật bình hay áo tràng thì thấy rõ ràng đó là người anh em của mình. Có thể người đó giới hạnh rất vững chãi, có thể người đó giới hạnh không đàng hoàng, nhưng người đó vẫn là anh em của mình, là người trong đại gia đình xuất gia của mình. Nếu người đó giới hạnh đàng hoàng thì mình mừng cho người đó. Nếu người đó giới hạnh không đàng hoàng thì mình sẽ tìm cách giúp người đó tu cho đàng hoàng. Mình không nói người này đàng hoàng thì tôi chấp nhận, người kia không đàng hoàng thì tôi không chấp nhận. Tình anh em, tình huynh đệ là như vậy.

Không phải chỉ khi người kia toàn hảo thì mình mới chấp nhận là người anh em. Khi người kia có những khuyết điểm, mình cũng chấp nhận là người anh em và mình phải để tâm tư, thì giờ, công sức ra để giúp cho người đó. Đối với người anh em, đừng bao giờ có thái độ khinh thường, chối bỏ, hay phủ nhận. Người anh em mặc áo nâu, áo vàng hay áo lam thì cũng vẫn là người anh em. Điều này là một sự thực tập của chúng ta.

Nhất thiết vô ngại

Cố nhiên, đôi khi chúng ta gặp những người đứng ở những địa vị quan trọng trong đoàn thể tu học của mình. Nếu người đó có giới hạnh nghiêm minh, có tài năng, có trái tim phục vụ thì chúng ta mừng rỡ. Người đó mà đứng ở địa vị đó thì gây được rất nhiều niềm tin cho tất cả cộng đồng Phật giáo chúng ta. Và chúng ta tìm cách làm cho người đó đứng ở địa vị đó lâu dài. Bởi vì niềm tin rất là quan trọng. Chúng ta yểm trợ người đó, dù người đó thuộc về môn phái nào, tổ chức nào hay giáo hội nào. Chúng ta trở nên giàu có, bởi vì tất cả đều là huynh đệ, đều là các bậc đàn anh, đàn chị của chúng ta. Khi chúng ta có một người có giới hạnh nghiêm minh, có đạo đức cao viễn, có trái tim đầy ắp chí hướng của Bồ Đề thì tất cả chúng ta đều được hưởng và chúng ta mong muốn vị ấy đứng ở một địa vị mà mọi người đều có thể thấy để có thể noi theo. Không phải vì chúng ta muốn riêng gì cho người đó, mà bởi vì chúng ta thấy rằng: Nếu người đó đứng và ngồi ở vị trí đó thì lợi lạc cho tất cả mọi người, nhất là cho các thế hệ tương lai.

Nhưng giả sử có một người đứng ở vị trí quan trọng mà giới hạnh còn rất khiếm khuyết, khả năng không đầy đủ để hướng dẫn, thì chúng ta phải làm như thế nào? Chúng ta hãy tìm đủ mọi cách để giúp cho người đó. Trực tiếp và gián tiếp giúp cho người đó chỉnh đốn lại, có giới hạnh nghiêm minh trở lại và ý thức được nhiệm vụ của mình trong địa vị kia. Và nếu cần thì chúng ta đem tài năng ra phụ tá cho người đó làm việc, nếu không thì người đó sẽ gây ra sự đổ nát trong niềm tin của quần chúng. Nhưng nếu người kia không chuyển hóa, không chịu học hỏi mà lại ham củng cố và bám víu địa vị thì chúng ta phải làm thế nào? Chúng ta phải bằng mọi cách xin với người kia đừng ngồi ở chỗ đó nữa. Không phải vì ta ghét bỏ, mà vì người này ngồi ở chỗ đó thì không đúng. Chúng ta phải cùng nhau ngồi lại, tìm một vị huynh trưởng, một vị cao đức và lạy để mời vị này lên ngồi ở địa vị kia. Bởi vì, có người này ngồi ở địa vị kia thì an lòng tất cả đại chúng. Thay thế một vị không xứng đáng không có nghĩa là chúng ta ruồng bỏ, loại trừ người đó. Chúng ta thực tập cái mà trong đạo Bụt gọi là hành xả, nghĩa là không kỳ thị, không phân biệt, không loại trừ bất cứ một ai ra khỏi cộng đồng của chúng ta. Chúng ta không muốn người kia ngồi đó là vì chúng ta thấy người kia ngồi ở chỗ đó thì mất niềm tin của đa số. Và vì vậy, chúng ta xin người kia đừng ngồi ở chỗ đó nữa, để người khác lên ngồi. Chúng ta sẽ tìm đủ mọi cách để giúp cho người này có cơ hội chỉnh đốn lại và không bao giờ có tâm loại trừ. Đó là hành xử theo tình huynh đệ.

Chấn chỉnh đạo đức

Trong buổi diễn thuyết tại Học Viện Quốc Gia Hành Chánh ở Sài Gòn, tôi có nói rằng có sự khác nhau giữa tôn giáo và đạo đức. Nhưng tôn giáo và đạo đức cũng có thể đi đôi với nhau.  Tôn giáo có đạo đức thì tôn giáo mới không phá sản. Cũng như thế, chính trị có đạo đức thì chính trị mới không phá sản. Và vì vậy, trong tôn giáo phải có đạo đức.

Tuy có thể hàm chứa đạo đức nhưng tôn giáo chưa hẳn là đạo đức. Có những tổ chức tôn giáo dùng những biện pháp ma giáo để phát triển, để củng cố địa vị, quyền hành. Họ dùng những biện pháp không vương đạo để đạt tới danh lợi và địa vị. Đó rõ ràng là tôn giáo, nhưng không có đạo đức. Vắng bóng đạo đức thì tôn giáo có thể phá sản. Sự thực tập là làm sao đem đạo đức trở về với tôn giáo, cũng như với chính trị.

Cố nhiên, nói đến chuyện cứu vớt chúng sanh, phụng sự xã hội, phụng sự đất nước, phụng sự dân tộc thì đòi hỏi chúng ta phải có đạo đức. Nếu không có đạo đức thì chính trị không thể phụng sự được xã hội và đất nước. Tôn giáo cũng vậy. Nếu chúng ta không thực tập để phục hồi những giá trị đạo đức truyền thống trong nội bộ chúng ta, nếu những lời ta nói, những tư duy và hành động chúng ta phát ra không chuyên tải những giá trị đạo đức, thì chúng ta không thể đóng góp được gì trong việc chuyển hóa những tệ nạn xã hội và xây đắp một xã hội lành mạnh cho các thế hệ tương lai.

Ra ngoài cách ngăn

Và vì vậy, sự tu tập của chúng ta trong nội bộ đại gia đình Phật giáo rất quan trọng. Sự tu tập đó, trước hết là sự xây dựng tình huynh đệ. Nếu chúng ta không chấp nhận nhau như người anh em, nếu chúng ta vì những danh từ, những nhãn hiệu mà để bị chia rẽ và trở nên những người thù hận nhau, nhìn nhau bằng con mắt khinh thường, không biết quý mến nhau thì đó là sự thất bại. Trong bốn mục đích của khóa tu này, xây dựng lại tình huynh đệ là mục đích thứ hai. Làm sao để chúng ta có cơ hội ngồi lại với nhau và nhìn ra người kia là người anh em của mình. Người kia có thể thuộc về một môn phái khác, tổ chức khác, nhưng người kia vẫn là anh em của mình. Những danh từ kia, nhãn hiệu kia sẽ không đủ khả năng để chia rẽ mình, tạo ra những hiềm khích, hiểu lầm. Cố nhiên có những điều kiện ngoại tại gây ra sự hiểu lầm và chia rẽ. Nhưng cũng có những điều kiện nội tại: Chúng ta còn yếu kém trong nhận thức, chúng ta dễ bị lừa gạt cho nên mới lâm vào tình trạng không nhìn được mặt nhau, không nhận ra nhau như anh em một nhà.

Trong khóa tu này, chúng ta sẽ ăn cơm chung, chúng ta sẽ đi thiền hành chung, chúng ta sẽ pháp đàm chung. Mỗi giây phút là một cơ hội để chúng ta nhận ra chân diện mục của nhau, để chấp nhận nhau, coi nhau là người huynh đệ. Đó là sự thành công lớn. Nếu không có sự thành công đó thì không có gì đáng gọi là thành công cả.

Thông điệp tình huynh đệ

Về nước chuyến này tôi chỉ có một thông điệp thôi. Thông điệp đó là: Không có gì cao hơn tình huynh đệ. Chúng ta không thể nhân danh bất cứ một cái gì, bất cứ một tổ chức nào, một lý tưởng nào mà chà đạp lên tình huynh đệ. Bởi vì chà đạp lên tình huynh đệ tức là không còn gì nữa cả. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rằng “Không có gì quí hơn độc lập, tự do”. Tôi thì tôi nói: “Không có gì quí hơn tình huynh đệ”. Đó là đại từ và đại bi.

Mục đích thứ hai của khóa tu là xây dựng tình huynh đệ. Tình huynh đệ xây dựng được là do chúng ta nhận ra nhau như người anh em chứ không phải là kẻ thù, là những trở ngại cho nhau. Nhận ra nhau là người anh em rồi thì mình sẽ nhìn người kia được bằng con mắt yêu mến, bằng con mắt thương kính. Nếu khóa tu làm được nội một chuyện này thôi thì đã là một thành công rực rỡ rồi, chứ đừng nói là  thành công được trong các điểm kia.Chúng ta nhất định không lý thuyết suông. Chúng ta nói là chúng ta làm. Khi mãn khóa tu, ra đường gặp bất cứ một người xuất gia nào chúng ta cũng chắp tay vái chào. Chúng ta nhìn người đó bằng con mắt của người huynh đệ. Chúng ta mỉm nụ cười của người huynh đệ. Đó là điều chúng ta làm được chứ tại sao không?! Mỗi khi tôi gặp một em bé chắp tay thì tôi cũng chắp tay lại, huống hồ là khi gặp một sư cô hay một sư chú, huống hồ là khi gặp một vị trưởng thượng. Đối với một em bé tôi đã không có thái độ khinh khỉnh nó là con nít, biết gì! Tôi không có thái độ đó, bởi vì em bé đó có Phật tính. Em bé chắp tay với lòng cung kính đối với mình, nếu mình chắp tay lại với lòng cung kính đối với em bé, thì em bé sẽ lớn lên rất mau trên đời sống tâm linh của em. Ước mơ của tôi là sau khóa tu này, khi chúng ta gặp nhau giữa đường, ánh mắt, nụ cười và hai bàn tay chắp thành búp sen của chúng ta sẽ chứng tỏ được rằng chúng ta có khả năng công nhận nhau là người huynh đệ, dù người đó thuộc về môn phái nào, tổ chức nào, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Tăng Đoàn, thì cũng đều như vậy. Tất cả những danh xưng đó không có khả năng chia rẽ và làm mờ mắt chúng ta.

Học và thực hành trong khóa tu

Trong khóa tu này, chúng ta sẽ tập thiền đi. Mỗi khi bước chân đi thì chúng ta đi những bước chân có ý thức. Chúng ta đi thong dong, không gấp gáp. Đi như đi trong cõi Tịnh Độ. Chúng ta phối hợp hơi thở với bước chân. Khi thở vào, chúng ta có thể bước một hay hai bước. Khi thở ra, chúng ta bước một hay hai bước. Chúng ta nói: “Con đã về, con đã về” (thở vào), “Con đã tới, con đã tới” (thở ra). Nếu trong khi đi chúng ta không nghĩ tới quá khứ, tương lai và bàn chân chúng ta giẫm lên trên miếng đất của thực tại thì chúng ta trở thành một con người tự do. Mình bước trên Tịnh Độ trong giờ phút hiện tại. Ở đây cũng có những mầu nhiệm của sự sống như ở bên Cực Lạc Thế Giới. Ở đây cũng có thông reo, chim hót, mây bay, dòng sông, ngọn núi,… Tất cả những cái đó đều là mầu nhiệm. Nếu lắng nghe thì chúng ta cũng có thể nghe tiếng thuyết pháp từ cây thông, từ tiếng gió. Trở về với giây phút hiện tại, bước những bước vững chãi, thảnh thơi, chúng ta có thể tiếp xúc đuợc với những mầu nhiệm của sự sống đang có mặt bây giờ và ở đây. Chúng ta sẽ nghe giảng bày kỹ lưỡng hơn về thiền đi.

Chúng ta sẽ tập thiền ngồi. Ngồi như thế nào để có được bình an, hạnh phúc. Ngồi mà không cần phải gồng, phải cố gắng hay đấu tranh gì hết. Ngồi thảnh thơi, an lạc như ngồi trên tòa sen. Điều đó chúng ta có thể làm được. Chúng ta sẽ tiếp nhận những chỉ dẫn làm sao để ngồi trong an lạc, trong thảnh thơi. Mười lăm phút ngồi là mười lăm phút hạnh phúc. Hai mươi phút ngồi là hai mươi phút hạnh phúc. Không có sự bỏ phí thì giờ. Ngồi không phải để cho tương lai, ngồi là có hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại.

Chúng ta sẽ tập ăn cơm. Ngồi ăn cơm như thế nào mà trong hai mươi, ba mươi phút ăn cơm, chúng ta có hai mươi, ba mươi phút hạnh phúc. Trong khi ăn có thảnh thơi, an lạc. Ăn cơm để nuôi dưỡng thân, nhưng đồng thời cũng nuôi dưỡng tâm. Được ngồi ăn với các thầy, các sư cô, các anh, các chị trong đạo, được ngồi ăn như một gia đình tâm linh cùng lý tưởng, đó là một hạnh phúc. Ngày xưa đức Thế Tôn và các đệ tử cũng đã từng ngồi ăn cơm với nhau như vậy. Từ đầu bữa ăn cho đến cuối bữa ăn, chúng ta tiếp xúc với thức ăn, tiếp xúc với tình huynh đệ. Một buổi ăn như vậy có tính chất nuôi dưỡng rất nhiều. Nuôi dưỡng thân thể, nuôi dưỡng trái tim và hạnh phúc của mình. Chúng ta sẽ tiếp nhận những chỉ dẫn để có thể ngồi ăn cơm như vậy. Trong khóa tu chúng ta sẽ chia ra thành từng gia đình, ngồi vòng tròn cùng ăn cơm với nhau. Sẽ có khoảng hai bữa cơm, trong đó mọi người cùng ngồi ăn chung với nhau trong thiền đường như cách ngày xưa đức Thế Tôn và các thầy đã từng ngồi ăn cơm với nhau. Không cần đắp y, chỉ cần ngồi cho thoải mái và ý thức rằng mình đang có may mắn được ngồi với các sư huynh, sư đệ, sư em của mình trong một khóa tu. Ăn cơm như thế nào để có hạnh phúc và thảnh thơi thì bữa ăn đó có tính chất rất nuôi dưỡng.

Chúng ta sẽ được thực tập sám hối với nhau. Chúng ta có một Sám Pháp mới rất hiệu nghiệm, gọi là Sám Pháp Địa Xúc. Mỗi ngày chúng ta sẽ thực tập Sám Pháp này. Sám Pháp này trả lời tất cả những thắc mắc, những khó khăn chúng ta gặp trong cuộc đời của một người xuất gia. Chúng ta không lạy nhiều. Mỗi lần chỉ lạy ba lạy, nhưng lạy rất sâu và rất lâu. Mỗi lạy như vậy giúp chúng ta đổi thành một con người mới. Chúng ta sẽ được tiếp nhận những chỉ dẫn để thành công trong sự thực tập bái sám.

Chúng ta sẽ thực tập thiền trà. Học ngồi uống trà như thế nào mà trong ba mươi phút uống trà chúng ta có hạnh phúc và xây dựng được tình huynh đệ. Chúng ta sẽ học thực tập pháp đàm. Pháp đàm như thế nào để có thể chia sẻ được những kinh nghiệm tu tập, những tuệ giác, cũng như xây dựng được tình huynh đệ, thấy rõ được con đường tương lai của mình và của cộng đồng Phật giáo mình.

Chúng ta sẽ học phương pháp soi sáng. Soi sáng để có thể thấy được rõ hơn người huynh đệ mình, với những điểm còn yếu kém và những điểm tích cực của người đó. Chúng ta có thể giúp cho người đó những pháp môn tu tập để người đó có thể phát triển thêm những điểm tích cực và làm vững chãi lại những điểm còn yếu kém. Trong quá trình soi sáng như vậy, tất cả chúng ta đều được học hỏi để thấy rõ mình hơn, thấy rõ được người huynh đệ của mình hơn. Chúng ta sẽ biết mình nên làm gì và không nên làm gì để giúp được cho người huynh đệ đó, cũng như những người huynh đệ khác trong vòng tròn của chúng ta.

Chúng ta sẽ được cơ hội học hỏi phương pháp Làm Mới. Khi có sự hiểu lầm, sự buồn giận lẫn nhau, chúng ta sẽ ngồi xuống thực tập như thế nào để tháo gỡ những hiểu lầm, những buồn giận đó? Đó là một phương pháp hết sức cụ thể chúng ta phải nắm cho được. Nếu không biết những phương pháp đó thì chúng ta không thể tạo dựng một chúng tu học có hạnh phúc. Khi giữa thầy với trò, giữa huynh với đệ mà không có sự truyền thông, không có sự hiểu nhau. Không có tình thầy trò, huynh đệ thì chúng ta sẽ không có chất liệu nuôi dưỡng, chúng ta không muốn trở về chùa, chúng ta muốn đi ra thành lập một cơ sở riêng. Đó là đầu mối cho tất cả những tệ hại khi mình xa lìa tăng thân. Tất cả những điều đó chúng ta đều có cơ hội đề cập, học hỏi và thực tập trong khóa tu này.

Chúng tôi đã từng tổ chức khóa tu cho người xuất gia rất nhiều lần. Có những khóa tu dài ba tháng, có khi hai mươi mốt ngày. Khóa tu nào cũng thành công tới một mức độ nào đó. Khóa tu của chúng ta chỉ có năm ngày hay ít hơn năm ngày một chút, nhưng nếu đặt hết trái tim của mình vào trong khóa tu, thì chúng ta cũng có thể đạt tới những thành quả rất đáng kể. Khóa tu của chúng ta hơi ngắn, nếu Quý Vị không phải là thường trú ở đây phải về ăn cơm chiều lúc sáu giờ thì rất uổng. Xin Đại Chúng sắp đặt như thế nào để tất cả có thể ăn cơm chiều ở đây, sơ sơ cũng được, để mình có thể tu từ sáng cho đến chín giờ thì rất hay.

Xin chúc Đại Chúng có một khóa tu thật hạnh phúc, thật thành công, nuôi dưỡng và làm lớn được tình huynh đệ.

____________
(Pháp thoại đầu tiên của thiền sư Nhất Hạnh trong khóa tu dành cho tăng ni vào ngày 07-11.03.2005 tại Tổ đình Từ Hiếu, Huế)

Tôn giáo và sự lành mạnh hóa xã hội

Xin kính mời Đại Chúng thở theo tiếng chuông. Thở vào tôi biết đây là pháp thoại cuối mà thầy Nhất Hạnh nói ở Huế. Thở ra tôi muốn được tận hưởng sự có mặt của tăng thân trong giờ phút này.

Kính thưa Đại Chúng.

Hôm nay là ngày 13 tháng 03 năm 2005, tức là ngày 04 tháng 02 năm Ất Dậu. Chúng ta đang ở chùa Từ Hiếu, thiền đường Trăng Rằm. Đề tài của bài pháp thoại hôm nay là “Tôn giáo có thể đóng góp được vai trò gì trong sự làm lành mạnh hóa trong xã hội, đem lại an lạc, hòa bình và hạnh phúc cho xã hội”. Bài pháp này không những chỉ được nói riêng cho các Phật tử ở Thừa Thiên mà còn được nói cho cả nước. Không chỉ nói cho cả nước mà còn nói cho quốc tế, vì đây là một đề tài rất là thực tế. Đây không phải là đề tài có tính cách ước mơ, vì đây là những điều chúng ta có thể làm được.

Ngày hôm nay cũng là ngày giỗ của Hòa Thượng Thanh Quý. Và đại chúng được mời ở lại để làm lễ giỗ Tổ. Hôm nay lễ giỗ Tổ sẽ được tổ chức theo nghi thức Làng Mai. Sẽ có nhiều nội dung, nhiều kỷ niệm để tưới tẩm hạt giống hạnh phúc của mình, những kỷ niệm của mình có với tổ Thanh Quý.  Phần nghi lễ sẽ rất ngắn gọn, sau đó chúng ta sẽ ngồi ăn cỗ với nhau. Nếu có thể được chúng ta sẽ ngồi ở dưới đất thành những vòng tròn như là ăn giỗ ở tại thôn quê. Và sư ông Thanh Quý sẽ ngồi ăn giỗ với chúng ta.

Tôi nói rằng đây là pháp thoại cuối, nhưng quý vị có thể vẫn tiếp tục đi theo thầy Nhất Hạnh trong những pháp thoại nói ở Hà Nội, ở Bình Định, rồi sau đó ở Ý, ở Đức, rồi ở Mỹ,… Nếu quý vị vào thăm trang nhà của Làng Mai thì sẽ vẫn tiếp tục được nghe pháp thoại của thầy Nhất Hạnh dài dài, hoặc bằng tiếng Việt, hoặc bằng tiếng Anh, hoặc bằng tiếng Pháp. Tháng bảy và tháng tám ở Làng Mai là khóa Mùa Hè. Mỗi tuần có sáu bài pháp thoại, hai bài bằng tiếng Pháp, hai bài bằng tiếng Anh và hai bài bằng tiếng Việt. Quý thầy, quý sư cô Làng Mai không những chỉ đưa lên mạng những bài nguyên văn bằng tiếng Pháp, bằng tiếng Anh mà còn đưa lên cả bản dịch bằng tiếng Việt. Thành ra tuy xa cách mà không có sự xa cách, nếu mình có thì giờ ngồi lại và thực tập.

Nhìn nhận thực trạng

Trong xã hội chúng ta hiện thời có những tệ trạng gây ra rất nhiều khổ đau. Xã hội Tây phương cũng vậy mà xã hội Á Đông cũng vậy. Số người trẻ đi tự tử hàng ngày rất đông. Số người trẻ bỏ gia đình, trốn gia đình, đi tìm quên lãng ở ngoài, sa vào hầm hố của băng đảng, tội phạm, xì ke ma túy, sắc dục và mãi dâm càng ngày càng đông. Những tệ trạng xã hội này đã bắt đầu thấm vào trong chùa và trong chùa đã có dấu hiệu của những tệ nạn đó trong hàng ngũ của những người xuất gia. Đây là một tiếng chuông báo hiệu rất lớn. Nếu chúng ta không thanh lọc, không lành mạnh hóa được nội bộ của tôn giáo, thì tôn giáo sẽ không đóng được vài trò nào cả trong việc giúp cho xã hội được thanh lọc, được lành mạnh và có được hạnh phúc, an vui. Cho nên vấn đề là mình phải trở về với đoàn thể của mình, tu tập như thế nào để mỗi ngày thực hiện được sự thanh lọc. Thanh lọc trong tâm ý, trong lời nói và trong tư tưởng của chúng ta.

Những tệ nạn trong xã hội đang gia tăng với đà phát triển của kinh tế và công nghiệp hóa. Nhiều người trong xã hội chúng ta đang đi tìm hạnh phúc về hướng tiêu thụ, sống hối hả, theo lối sống gọi là hiện đại. Đây là một tai nạn rất lớn cho đất nước và cho xã hội chúng ta.

Vấn đề bạo động và vấn đề tội phạm là một vấn đề quốc tế. Các xã hội Tây phương hiện giờ có rất nhiều bạo động. Bạo động trong gia đình, bạo động trong trường học, bạo động trong thành phố. Trong gia đình người ta phải gọi cảnh sát đến để can thiệp giữa chồng với vợ, giữa cha với con. Trong trường học cũng vậy, học sinh đem súng vào để bắn thầy giáo, để bắn các bạn. Ở ngoài đường phố, bạo động và căm thù cũng xảy ra rất nhiều. Hiện tượng đó không phải chỉ là hiện tượng riêng của các nước Tây phương mà đang bắt đầu là hiện tượng chung của cả thế giới, kể cả của các nước Á châu. Sự sụp đổ, sự tan rã của cấu trúc gia đình là một tai nạn lớn vì trong gia đình ít có truyền thông, không có hạnh phúc, người trẻ không cảm thấy phấn khởi khi nghĩ tới gia đình và vì vậy họ có khuynh hướng đi tìm sự quên lãng bên ngoài và do đó sa vào hầm hố của sự hư hỏng. Cuối cùng, không bít lấp được những khổ đau, họ đi tự tử.

Tham nhũng là một quốc nạn. Người ta hay nói tới tham nhũng trong xã hội, trong bộ máy chính quyền, trong đảng, nhưng chúng ta cũng có thể nói đến tệ trạng tham nhũng đó trong các giáo hội và ngay trong đoàn thể Phật giáo. Ngay khi mình là một người học tăng, muốn đi vào trường Phật học, ngoài việc phải đóng học phí, muốn được chấp nhận, đôi khi mình cũng phải lo lót với những người trong văn phòng. Khi đi thọ giới cũng vậy hoặc khi cần xin giấy chứng nhận để có thể có hộ khẩu thì cũng phải có sự lo lót. Khi có chức vụ trong giáo hội thì mình có một chút quyền hành. Và dựa trên chút quyền hành đó mình muốn có thêm đồng ra đồng vào. Đó là tình trạng tham nhũng trong giáo hội. Khi mình là một đảng viên, viên chức hay cán bộ thì mình dựa vào vị thế đảng viên, viên chức hay cán bộ của mình để có thể làm cho nếp sống kinh tế của mình dễ thở hơn, thoải mái hơn. Đó là trình trạng chung. Trong đảng không ai muốn có sự tham nhũng, trong chính quyền không ai muốn có sự tham nhũng, trong giáo hội không ai muốn có sự tham nhũng, nhưng nạn tham nhũng vẫn có và vẫn càng ngày càng lớn. Trong giáo hội có những bậc trưởng thượng giới luật nghiêm minh không vướng vào những tham nhũng đó, nhưng có những vị khác đã, đang vướng vào và sẽ vướng vào. Và vì vậy khi bầu ban thường vụ, ban thường trực, ban tri sự thì có hiện tượng tranh giành, loại trừ, giống hệt như ở ngoài đời, trong một đảng chính trị hay trong một chính quyền. Người ta loại trừ nhau, tranh giành lẫn nhau. Hiện tượng đó đang có trong đảng và trong chính quyền. Và vì vậy đây là quốc nạn, không phải là nạn riêng của đảng hay của chính quyền. Đây là vấn đề của tất cả chúng ta trong xã hội và ngay cả trong tôn giáo. Tôn giáo muốn phục vụ được thì trước hết phải thanh lọc hàng ngũ của mình, thanh lọc thân, khẩu, ý của mình thì mới có thể đóng được một vai trò nào đó để giúp xã hội thanh lọc hóa.

Vốn liếng của chúng ta

Hôm nay tôi muốn nói chuyện một cách rất cụ thể! Chúng ta có thể làm gì với tư cách một người tu xuất gia hay một người tu tại gia để có thể góp phần thực hiện được sự thanh lọc hóa đó trong đời sống cá nhân, đời sống cộng đồng, đời sống tăng thân, trong giáo hội và trong đại gia đình những người xuất gia, những người tại gia của mình?

Như ta đã biết, những tệ nạn ở ngoài xã hội đã bắt đầu đi vào trong giáo hội, trong nội bộ tổ chức của Phật giáo. Nếu chúng ta không có biện pháp ngăn ngừa bảo hộ thì chúng ta cũng sẽ trở thành nạn nhân. Nếu ở ngoài đời, trong đảng và trong chính quyền có hiện tượng tranh giành, loại trừ, lợi dụng để có thể nắm được những vai trò then chốt của quyền uy, thì trong giáo hội, trong cộng đồng Phật giáo cũng đã bắt đầu có những hiện tượng này. Nếu trong giáo hội còn có những thành phần trong sạch và nghiêm minh thì trong đảng hay trong chính quyền cũng có những người như vậy, đáng làm gương cho mọi người. Nhưng than ôi, đó không phải là đa số. Vấn đề ở đây không phải là trách móc hay lên án mà là vấn đề tìm ra biện pháp cụ thể để có thể giúp được bản thân, giúp được đoàn thể của mình và giúp được xã hội, trong đó có chính quyền, có đảng.

Nói đến tôn giáo thì chúng ta nói đến đức tin, hy vọng và sự cầu nguyện. Nhưng đạo Phật không phải chỉ là một tôn giáo. Đạo Phật không phải chỉ có đức tin, niềm hy vọng vào tương lai và sự cầu nguyện. Đạo Phật là một kho tàng tuệ giác với những phương pháp rất cụ thể có thể giúp chúng ta tháo gỡ, chuyển hóa những khó khăn, những khổ đau trong bản thân, thiết lập lại được truyền thông với thầy, với đệ tử, với huynh đệ và giúp cho những người ngoài đời thiết lập lại được truyền thông trong gia đình, trong cộng đồng, khôi phục được hạnh phúc, ngăn được sự sa đọa của giới thanh niên cũng như những người lớn tuổi. Và vì vậy đề tài này đối với Phật giáo rất đặc biệt. Bởi vì truyền thống chúng ta không phải chỉ có hy vọng và cầu nguyện mà chúng ta lại có những biện pháp thực tập trong đời sống hằng ngày của chúng ta.

Tôn giáo và đạo đức

Trước hết chúng ta phải phân biệt giữa tôn giáo và đạo đức. Hai cái có thể đi đôi với nhau, nhưng tôn giáo chưa hẳn là đạo đức. Có thể có trường hợp tôn giáo không có đạo đức. Mà không có đạo đức thì tôn giáo sẽ phá sản, có hại cho xã hội, ví dụ như cuồng tín. Khi theo một tôn giáo mà trong bản thân mình lại có chất cuồng tín thì mình sẽ gây rất nhiều khổ đau cho chính mình và cho những người chung quanh. Mình nói rằng mình giữ độc quyền chân lý và những người nào không theo mình tức là đi lạc vào đường ma quái, cần phải loại trừ hay tiêu diệt. Khi có sự cuồng tín như vậy thì ngôn ngữ, hành động, cũng như tư tưởng của mình không còn là đạo đức. Suy nghĩ, nói năng và hành động như vậy tạo ra sự chia rẽ, kỳ thị. Và đó là một nguyên do đưa đến chiến tranh, tranh chấp. Và vì vậy một tôn giáo mà chủ trương cuồng tín thì tôn giáo đó không có đạo đức. Một tổ chức tôn giáo chuyên sử dụng quyền hành và tiền bạc để đạt tới những mục tiêu phát triển, xây dựng, sử dụng những phương tiện tham nhũng để xây chùa hay xây nhà thờ, mua chuộc tín đồ, mua chuộc con chiên là áp dụng những biện pháp bá đạo chứ không phải là vương đạo. Phát triển nền tảng tôn giáo của mình như vậy là không có đạo đức. Và vì vậy chúng ta không nên lẫn lộn giữa hai danh từ tôn giáo và đạo đức. Tôn giáo mà không có đạo đức tức là sự phá sản, gây khổ đau rất nhiều cho xã hội. Và nếu trong nội bộ tôn giáo mà có sự tranh giành quyền bính để có địa vị, lợi lộc trong những chức vụ hội trưởng, trưởng ban trị sự, cha xứ,… thì tất cả những sự tranh giành địa vị, quyền bính đó chứng tỏ rằng người ta đang lợi dụng tôn giáo của chính họ để phục vụ cho tham vọng, quyền lợi, uy quyền của mình. Như vậy đạo đức vắng mặt và tôn giáo phá sản. Mà một khi đã phá sản thì tôn giáo có thể đóng góp được gì cho sự lành mạnh hóa xã hội? Cho nên bài pháp này không phải chỉ được nói cho những người Phật tử mà được nói cho tất cả các tôn giáo. Và trước hết chúng ta nên nhớ phân biệt giữa tôn giáo và đạo đức.

Đạo đức là nền tảng

Tôn giáo có khả năng chuyên chở đạo đức. Thương mại cũng vậy. Thương mại là một ngành hoạt động rất quan trọng trong kinh tế. Nếu thương mại không có đạo đức thì sẽ có sự phá sản. Phát triển kinh tế mà không có đạo đức thì sẽ tiêu diệt sinh môi, sẽ tiêu diệt các chủng loại có mặt trên trái đất, sẽ làm ô nhiễm không những chỉ thiên nhiên mà còn cả tâm người, sẽ đem độc tố vào trong thân và trong tâm của những người sản xuất và tiêu thụ. Và vì vậy doanh nghiệp, thương mại, phát triển kinh tế phải có đạo đức, nếu không có đạo đức thì sẽ có sự phá sản. Chúng tôi đã từng mở những khóa tu học hướng dẫn cho những giới kinh doanh, các nhà kinh tế và chúng tôi biết rất rõ những khổ đau, những thao thức của họ. Chúng tôi thấy rất rõ là trong đời sống của kinh doanh, người ta rất cần một chiều hướng đạo đức và tâm linh. Trong giới chính trị cũng vậy. Nếu chính trị mà không có đạo đức thì chính trị cũng phá sản. Người làm chính trị mà không có đạo đức thì không thể thiết lập được liên hệ tốt giữa những người trong gia đình của họ và gây khổ đau cho chính những người trong gia đình của mình. Cha có thể không nói chuyện được với con, chồng có thể không nói chuyện được với vợ. Và những người lâm vào tình trạng đó thì khổ đau đè nặng trên trái tim họ, họ làm sao để giúp nước giúp dân? Và vì vậy nhà chính trị phải có đời sống tâm linh và đạo đức để trước hết có thể lành mạnh hóa, hạnh phúc hóa bản thân và gia đình của mình rồi đem sự thực tập đó áp dụng vào trong đoàn thể chính trị của mình, để thiết lập sự truyền thông giữa những người cùng một khuynh hướng chính trị, cùng một tổ chức chính trị, để có sự tin nhau, hiểu nhau, để cùng đi trên con đường lý tưởng phục vụ dân, phục vụ nước. Vì vậy nhà chính trị dứt khoát phải có một nếp sống đạo đức và tâm linh.

Ôn cố tri tân

Ngày xưa vua Trần Thái Tông lúc hai mươi tuổi đã phải chịu đựng rất nhiều khổ đau rồi. Thái sư Trần Thủ Độ là một nhà chính trị gần như không có trái tim. Năm đó Trần Thái Tông mới có hai mươi tuổi, hoàng hậu là Lý Chiêu Hoàng mới có mười chín tuổi mà Trần Thủ Độ nói rằng nếu không có con gấp thì thế nào cũng bị loại ra, không được làm hoàng hậu nữa. Phải có con gấp để nhà Trần có thể bảo đảm được sự tiếp nối. Trần Thủ Độ đã ép vua Trần Thái Tông phế Chiêu Thánh, giáng Chiêu Thánh xuống chức công chúa để gả cho một người khác và phải cưới liền vợ của anh ruột mình là Trần Liễu. Người chị dâu đó là công chúa Thuận Thiên, chị ruột của Chiêu Thánh. Lý do là Thuận Thiên đã có mang, nếu cưới thì trong bảy, tám tháng sẽ có con nối dõi. Một nhà chính trị không có đạo đức thì có thể hành động một cách dã man như vậy. Chàng thanh niên hai mươi tuổi đó vì có quá nhiều đau khổ, không muốn làm vua nữa và đã bỏ cung điện tìm lên núi Yên Tử để đi xuất gia. Ngày hôm sau, Trần Thủ Độ lên núi buộc vua phải về làm vua. Vua khóc và đem tâm sự ra nói với quốc sư Viên Chứng, trú trì trên núi. Thầy Viên Chứng nói: “Bây giờ đã là vua rồi thì mình đâu thể làm theo ý riêng của mình được? Mình phải theo ý dân. Dân muốn mình về làm vua thì mình phải về để làm vua thôi. Nhưng tôi có vài lời muốn nhắc với hoàng thượng: “Dù làm vua mình vẫn có thể tu học được! Vậy xin bệ hạ đừng có ngày nào mà không học hỏi và thực tập đạo lý giải thoát”. Vì nghe lời an ủi đó của quốc sư, vua Trần Thái Tông đã chấp nhận về lại kinh đô để làm vua. Đêm nào vua cũng thức khuya để học thêm. Học thêm đạo Nho để giỏi thêm về chính trị, học thêm đạo Phật để có một chiều hướng tâm linh đạo đức đủ để ôm ấp và chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau của mình – một người trai trẻ mới có hai mươi tuổi. Nếu vua đã thành công như một nhà chính trị giỏi, một nhà cầm quyền giỏi đó là nhờ có chiều hướng tâm linh và tu học. Lịch sử ghi lại nhà vua đã hành trì theo một nghi thức bái sám gọi là Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi. Mỗi ngày vua thực tập bái sám và ngồi thiền sáu lần mà vẫn còn thì giờ để làm chính trị và làm quân sự. Trong khi đó người anh ruột của vua là Trần Liễu phẫn uất vì đã bị cướp vợ đã triệu tập binh sĩ, tổ chức hải quân để chống lại triều đình. Nhưng vì vua Trần Thái Tông đã biết tu học rồi nên vua đã tìm những phương pháp bất bạo động để giúp cho anh mình đầu hàng mà không bị trị tội. Cuối cùng thì Trần Liễu được ân xá, được cấp ruộng đất để về sống một cách yên lành và được ban cho tước hiệu An Sinh Vương. An Sinh Vuơng Trần Liễu có ba người con. Trước khi qua đời An Sinh Vương gọi ba con tới bên giường và dặn các con phải trả thù cho cha, mối thù không thể nào quên được. Nhưng cả ba người con đó vì đã tu theo đạo Phật nên tất cả không nghe lời cha mà trái lại đã dùng đạo đức để hóa giải với gia đình của người chú. Người con lớn là Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung đã từng tham dự vào việc cầm quân chống lại cuộc xâm lăng của quân Nguyên và cũng đã từng tu học thành công để trở thành một vị thiền sư cư sĩ gọi là Tuệ Trung Thượng Sĩ. Ông không những đã đóng góp cho chế độ bằng chiến công cứu nước, dựng nước của mình mà còn đóng góp cho đất nước bằng chiều hướng tâm linh của mình. Tuệ Trung Thượng Sĩ đã trở thành một vị thiền sư giảng dạy trong triều đình và làm thầy dạy kèm cho vua Trần Nhân Tông sau này. Trần Nhân Tông sau này sẽ đi xuất gia, trở thành Trúc Lâm Đại Sĩ. An Sinh Vương Trần Liễu có một người con gái sau này trở thành hoàng hậu của Trần Thánh Tông, đó là hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm. Một người anh đóng góp về phương diện quốc sự và đạo đức, một người em gái đóng góp về phương diện bồi đắp gia đình, sinh con cho chế độ. Có một người em trai nữa sau này là một vị đại tướng có công đánh quân Nguyên, đó là tướng quân Trần Hưng Đạo Đại Vương. Trần Hưng Đạo Đại Vương là em trai của thiền sư Tuệ Trung Thượng Sĩ. Sở dĩ cả ba anh em đã không báo thù mà còn đem hết tất cả sức mình để yểm trợ cho nhà nước vì họ đã được đạo đức của vua Trần Thái Tông cảm hóa và chinh phục. Nếu không tu học thì vua Trần Thái Tông làm sao cảm hóa được ba anh em? Ba anh em con của An Sinh Vương Trần Liễu cũng đã được hướng dẫn tu học rất sâu sắc. Cho nên yếu tố đạo đức, yếu tố tâm linh đã làm cho vững mạnh triều đại nhà Trần cũng như đã từng làm vững mạnh triều đại nhà Lý. Những nhà chính trị trong đời Lý, đời Trần đều có nếp sống tâm linh rất sâu sắc. Chúng ta mong rằng những vị lãnh đạo chính trị ngày nay của chúng ta trong đảng hay trong chính quyền cũng sớm có một nếp sống đạo đức tâm linh để cho mọi người thấy và có thêm niềm tin.

Ngày xưa vua A Dục, ba trăm năm trước Thiên Chúa giáng sinh, đã thống nhất được toàn cõi Ấn Độ và tiếp theo đó đã thống nhất được nhân tâm của toàn cõi Ấn Độ nhờ sự tu tập của ngài. Ngài đã quy y, thọ năm giới và phát tâm yểm trợ tất cả các truyền thống tôn giáo và đạo học có mặt thời ấy trong toàn cõi Ấn Độ không hề kỳ thị phân biệt. Dầu bản thân vua là người Phật tử, vua không phải chỉ yểm trợ cho Phật giáo mà còn yểm trợ cho tất cả các truyền thống đạo đức và đạo học khác. Vua A Dục – Asoka đã thành công một cách rực rỡ trong việc thống nhất nhân tâm. Chính vua đã thực tập giới không sát sinh và đã ra lệnh không được giết hại các loài sinh vật, cầm thú, cỏ cây và đất đá. Những lời khuyến nhủ của vua được khắc trên những trụ đá. Hiện bây giờ người ta khám phá ra hàng năm mươi trụ đá như vậy trong toàn cõi Ấn Độ. Có một trụ đá hiện vẫn đứng rất vững là trụ đá ở vườn Lâm Tỳ Ni, chứng minh rằng Đức Thích Ca là một nhân vật lịch sử chứ không phải là một huyền thoại.

Chúng ta biết rằng tướng Võ Nguyên Giáp hiện bây giờ đang ngồi thiền mỗi ngày và cựu thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã từng tới quy y ở chùa Đậu, nhưng các vị đã phải chờ đợi đến tuổi già mới được tu tập. Chúng ta ước ao rằng các nhà chính trị trong đảng và trong nhà nước có thể có một nếp sống đạo đức và tâm linh sớm hơn. Vua Trần Thái Tông năm hai mươi tuổi đã biết tu và nhờ đó mới hóa giải được những khó khăn trong bản thân, trong gia đình và trong nội các của chính mình, và như vậy đã có thể đối phó với những sự hận thù, chia rẽ và tham nhũng. Chúng ta làm gì để có thể yểm trợ cho đảng và cho nhà nước có được một nếp sống đạo đức và tâm linh? Đó là một câu hỏi! Nếu chúng ta không tự thanh lọc, nếu chúng ta không thiết lập được truyền thông và hạnh phúc trong chính ngôi chùa của chúng ta, trong giáo hội của chúng ta, nếu chúng ta không có khả năng đem lại hạnh phúc, an lạc và tình huynh đệ cho nhau thì chúng ta có gì để chia sẻ với xã hội bên ngoài

Con đường đã tỏ

Trong khóa tu dành cho người xuất gia vừa rồi, chúng ta đã thấy rõ rằng ngôi chùa phải đóng vai trò hướng dẫn tinh thần và đạo đức trong thôn xóm. Trong ngôi chùa đó phải có tình huynh đệ, hạnh phúc, hòa điệu và những pháp môn tu học có công năng xây dựng tình thầy trò, tình huynh đệ. Biến ngôi chùa và tăng thân thành một nơi nương tựa cho tứ chúng thì lúc đó ngôi chùa mới có công năng giúp cho xã hội và thôn xóm trở nên lành mạnh và có hạnh phúc. Điều quan trọng nhất mà một tôn giáo phải làm là phục hồi được phẩm chất đạo đức trong nội bộ của chính mình. Có đạo đức rồi thì có sự hòa điệu, có sự truyền thông, có hạnh phúc và sẽ không còn những tệ nạn của sự loại trừ và tranh giành. Do đó niềm tin của chúng ta nơi truyền thống lớn lên rất nhanh và rất mạnh. Khi chúng ta có hòa điệu, truyền thông, hạnh phúc và tình huynh đệ thì chúng ta bắt đầu có tư cách để can thiệp vào xã hội. Can thiệp không phải bằng đường lối pháp trị mà bằng đường lối đức trị. Với những giảng dạy thích ứng và những pháp thực tập hữu hiệu chúng ta giúp cho chồng truyền thông lại được với vợ, cha truyền thông lại được với con, đem hạnh phúc và sự hòa điệu trở về với gia đình. Và lúc đó người trẻ sẽ không bỏ nhà ra đi nữa. Ngôi chùa phải biết rõ khu vực của mình có bao nhiêu gia đình và tình trạng của từng gia đình, như một vị y sĩ có hồ sơ của tất cả các bệnh nhân. Gia đình nào có những hạnh phúc nào, những ưu điểm nào, gia đình nào có những khó khăn, những bức xúc nào, ngôi chùa phải biết. Nếu không biết thì làm sao mình phụng sự được? Và vì vậy trách nhiệm và công việc của các thầy, các sư cô rất lớn. Các thầy, các sư cô không phải chỉ trú trì ở đó để cung cấp các nhu yếu về nghi lễ, tuy nghi lễ là một trong những công tác quan trọng. Nhờ nghi lễ mà chúng ta có thể đưa nhiều người vào trong nếp sống đạo đức và tâm linh, giúp cho họ có cơ hội quy y và thực tập năm giới. Nghi lễ không phải là những phương tiện làm kinh tế cho chùa mà có thể là những phương tiện độ đời và hành đạo rất mầu nhiệm. Nhưng ngoài ra chùa phải cung cấp những ngày tu chánh niệm, những ngày tu Bát Quan Trai, những khóa tu cuối tuần, những khóa tu năm ngày hoặc bảy ngày để cho người cư sĩ có cơ hội tới tiếp thu sự học hỏi giáo lý và những pháp môn thực tập nhắm tới sự chuyển hóa những khổ đau, khó khăn trong tự thân, thiết lập lại truyền thông và hạnh phúc trong gia đình. Những giảng dạy và những pháp môn của chúng ta phải phù hợp với căn cơ, phải có tính hữu hiệu, phải có công năng tháo gỡ được những khó khăn và giúp tái lập được truyền thông. Càng cung cấp giáo lý và những pháp môn như vậy chúng ta càng ngày càng học thêm kinh nghiệm. Và đó là đóng góp thật sự của chúng ta cho xã hội.

Vi trùng tham nhũng

Nói về những tệ nạn trong xã hội chúng ta phải kể trước hết nạn tham nhũng. Như một căn bệnh kinh niên, một cái gì thâm căn cố đế, sự tham nhũng đi vào máu huyết, đi vào đời sống hàng ngày. Chúng ta phải nhận diện nó. Chúng ta tự hỏi là mình có đang có lợi dụng địa vị của chúng ta trong chùa, trong giáo hội để đi tìm một đời sống thoải mái hơn về kinh tế, về danh vọng hay không? Nếu có thì chúng ta đang là một nạn nhân của vi trùng TN. Vi trùng TN tức là vi trùng tham nhũng. Con vi khuẩn đó đang tàn phá đất nước. Con vi khuẩn đó đang nằm ở trong, chứ không phải ở ngoài. Con sư tử có sức mạnh đối chọi với tất cả những con thú khác, có thể chiến thắng được mọi loài. Nhưng nếu con sư tử đó có những con vi khuẩn ở trong thân thể của nó, thì chính những con vi khuẩn đó sẽ làm cho con sư tử chết. Giáo hội cũng vậy. Nếu cơ thể giáo hội có con vi khuẩn tham nhũng trong tự thân thì giáo hội sẽ chết. Đảng có con vi khuẩn tham nhũng trong tự thân thì đảng cũng sẽ chết. Và chính quyền nếu có con vi khuẩn tham nhũng trong tự thân thì chính quyền cũng sẽ chết. Chúng ta phải công nhận sự thật là trong giáo hội có con vi khuẩn đó, trong đảng có con vi khuẩn đó và trong chính quyền cũng có con vi khuẩn đó. Vấn đề là vấn đề chung. Vấn đề không phải là lên án buộc tội, mà vấn đề là phải tìm cách giải cứu. Trước hết mình phải giải cứu cho mình rồi mới có thể giúp giải cứu cho người. Tham nhũng như ta biết đang là một quốc nạn. Đảng cũng đang muốn đánh phá, giải trừ tham nhũng. Chính quyền cũng muốn đánh phá, giải trừ tham nhũng. Nhưng không phải muốn là làm được. Trong nội bộ giáo hội, trong nội bộ Phật giáo chúng ta có thể làm được chuyện ấy hay không? Với tất cả những giáo lý và sự thực tập đang có, chúng ta có thể tiêu diệt được con vi trùng tham nhũng ở trong nội bộ của chúng ta hay không?

Dứt khoát với phong bì

Nhìn vào cấu trúc của giáo hội, chúng ta thấy tham nhũng là một chuyện đang có thật. Tuy chứng bệnh chưa thâm căn cố đế lắm, nhưng con vi trùng đang thật sự có mặt. Và nếu chúng ta cứ muốn cho được việc mà xoè tiền ra, đưa ra những cái bao thơ để cho công việc chóng thành thì chúng ta đang trực tiếp và gián tiếp nuôi những con vi trùng đó. Mình phải tự hỏi: mình là thầy, là sư cô, là Phật tử, mình có đang nuôi dưỡng con vi trùng đó bằng cách sử dụng những phương tiện tham nhũng để muốn cho việc được mau thành hay không? Tham nhũng nằm ở trong tự thân mình chứ không phải chỉ nằm ở ngoài mình mà thôi đâu.

Trước khi phái đoàn Làng Mai về Việt Nam, chúng tôi đã lập nguyện là chúng tôi sẽ không đi tìm sự dễ dãi, suôn sẻ bằng cách sử dụng bì thơ. Chúng tôi biết rằng điều này rất khó. Chúng tôi phát nguyện rằng nếu gặp khó khăn thì chúng tôi cũng phải ráng chịu chứ chúng tôi không thể theo con đường tham nhũng để cho chuyến đi được dễ dàng hơn. Tại vì nếu làm như vậy chúng tôi đã không đóng góp được gì cho đất nước mà còn làm hại cho đất nước nữa. Chúng tôi biết nếu sử dụng bì thơ thì chuyến đi có thể thành công trên phương diện hình thức, nhưng thất bại ngay ở trong nội dung từ lúc ban đầu. Chúng tôi cũng đã bày tỏ những ưu tư này với các vị ở sứ quán Việt Nam tại Pháp. Một viên chức ở đây đã nói: “Khi nào có dấu hiệu của tham nhũng, xin quý vị báo cáo liền cho chúng tôi biết”. Chúng tôi trong chuyến đi đã gặp những khó khăn, trì trệ, nhưng chúng tôi đã cắn răng chịu đựng. Chúng tôi không sử dụng những cái bao thơ. Đó là phần đóng góp của chúng tôi. Chúng tôi muốn sự giảng dạy và những pháp môn của chúng tôi cống hiến cho đồng bào Phật tử phải đi theo với sự thực hành của chúng tôi. Nếu chúng tôi sử dụng những phương pháp tham nhũng thì chúng tôi phản lại chính chúng tôi.

Chúng tôi nghe nói cũng có những nhà chính trị liêm khiết. Chúng ta phải tìm cách yểm trợ cho những người như vậy để họ có thêm sức mạnh, tại vì họ cũng đang gặp những khó khăn. Xung quanh các vị ấy có những người không được liêm khiết như thế và các vị cũng đang tìm đủ mọi cách để đừng bị những con vi trùng đó hoành hành trong nội bộ. Vấn đề, tôi xin nhắc lại lần nữa, không phải là vấn đề lên án hay buộc tội mà vấn đề là làm sao để giúp giải cứu cho được. Trong giáo hội cũng vậy. Có những nước bạn thấy được tệ nạn tham nhũng, đã và đang giúp Việt Nam những ngân khoản để bài trừ tham nhũng. Nhưng làm sao có thể bài trừ tham nhũng bằng những ngân sách? Chúng ta có thể đóng góp được bằng gì? Bằng đạo đức! Chúng ta phải thực tập cái mà trong truyền thống gọi là “an bần thủ đạo”. Thà rằng tiêu thụ ít, thà rằng nghèo, thiếu đồng ra đồng vào, nhưng mình giữ được cái đạo liêm khiết. Trong đảng cũng có những người thực tập được “an bần thủ đạo”, trong chính quyền cũng có những người thực tập được “an bần thủ đạo” và trong giáo hội cũng có những người thực tập được “an bần thủ đạo”. Nhưng không phải ai cũng thực tập được hết. Chúng ta, những người có khả năng an bần thủ đạo, phải tới với nhau, yểm trợ cho nhau để chúng ta có sức mạnh. Chúng ta không xen vào nội bộ của nhau, nhưng có thể yểm trợ cho nhau. Nhà chính trị không nên xen vào nội bộ của nhà tôn giáo. Nhà tôn giáo không nên xen vào nội bộ của nhà chính trị. Nhưng hai bên có thể giúp nhau. Nhà tôn giáo phải tuân phục theo pháp luật của nhà nước, nhà chính trị cũng phải tuân phục theo pháp luật của nhà nước. Những con hạm tham nhũng lớn, vì có nhiều tiền, nhiều uy lực nên không vướng vào lưới của pháp luật. Trong khi những người tham nhũng nhỏ bị bắt, bị trừng phạt thì những con hạm lớn, vì uy lực quá lớn, nên phá rách lưới pháp luật mà không bị hề hấn gì. Đó là một trong những khó khăn lớn nhất mà đảng, chính quyền và quốc dân đang phải đối phó.

Đối trị từ gốc

Chúng ta tu để làm gì? Chúng ta tu không phải là để trốn tránh cái thực tại của xã hội, của đất nước như một con đà điểu chúi đầu xuống cát để tưởng tượng rằng không có con sư tử đang đứng trước mặt mình. Tu là để đối diện với thực tại. Thực tại ở đây là thực tại của những tệ nạn xã hội rất lớn mà chúng ta có thể gọi là quốc nạn. Sự hư hỏng của người thanh niên, sự hư hỏng của giới thanh niên tăng ni là một pháp nạn, là một quốc nạn. Sự sụp đổ của cơ cấu gia đình, gia đình không có hạnh phúc, không có hòa điệu, sự vắng mặt của tình huynh đệ trong tăng chúng là một pháp nạn, một quốc nạn. Tình trạng người thanh niên đi tìm quên lãng trong xì ke ma túy, sắc dục, tự tử, băng đảng là quốc nạn. Có lần tôi nghe nói có một số các thầy, các sư cô trẻ ở thành phố Hồ Chí Minh vương vào một vụ buôn bán ma túy bị đưa ra tòa. Đó là một sự xấu hổ rất lớn cho cộng đồng Phật giáo. Ngày xưa đâu có những hiện tượng như vậy. Đâu có hiện tượng một sư cô phải đi nạo thai, đâu có hiện tượng một số các thầy, các sư cô trẻ vương vào vụ buôn bán xì ke ma túy để có thể có tiền đi học – tội nghiệp quá! Đó là những vấn đề có thật. Đó là những vấn đề chúng ta phải can đảm đối diện và phải tìm ra những giải pháp. Mà nếu chúng ta, mỗi người bị mắc kẹt trong đời sống bận rộn của mình với tư cách một vị trụ trì, với tư cách một người tác viên xã hội thì mình có thì giờ đâu để lo cho đại sự, để đối diện và đối phó với những quốc nạn, những pháp nạn đang thật sự có mặt. Chúng ta thường nghĩ tới pháp nạn như một sự đàn áp của chính quyền đối với Phật giáo. Nhưng chúng ta không nghĩ tới pháp nạn dưới dạng sự hư hỏng của người tăng ni, của những người đang đi tìm quyền bính, địa vị ở ngay trong nội bộ tổ chức Phật giáo của mình. Chúng ta không nghĩ đến những sự vi phạm giới luật và uy nghi của người xuất gia. Đó là những pháp nạn rất lớn. So với pháp nạn gây ra từ giới chính trị thì những pháp nạn này nguy hiểm hơn, vì đó là những con vi trùng đang có ở ngay trong chính cơ thể của mình.

Tôi thấy ở trong đảng và trong nhà nước đã có những người giác ngộ, thấy được những tệ nạn xã hội đó. Chính sách thiết lập những khu phố văn hóa, thôn văn hóa, tổ văn hóa chứng tỏ rằng trong đảng, trong nhà nước có ý hướng muốn bài trừ những tệ nạn đó của xã hội. Trước hết là tham nhũng, rồi đến tội phạm, bạo động, rồi đến tệ nạn ma túy, xì ke, băng đảng và mãi dâm.

Chúng ta đã nhận diện ra được sự thật thứ nhất trong Bốn Sự Thật của Tứ Diệu Đế là Khổ Đế. Bây giờ chúng ta phải nhìn cho kỹ để nhận diện sự thật thứ hai là Tập Đế. Tại sao những tệ nạn xã hội đó đang có mặt và đang phát triển? Chúng ta đã bắt đầu tìm thấy những nguyên do xa và gần. Trước hết là cái hố ngăn cách giữa thế hệ cha mẹ và con cái. Cha mẹ có thể đang sống một thế giới hoàn toàn khác với cái thế giới mà con cái đang sống. Tuy rằng sống chung dưới một mái gia đình nhưng kỳ thực có hai thế giới riêng biệt. Cha mẹ không biết cái gì đang xảy ra ở trong đời sống của con mình và con cái không cần biết cha mẹ đang sống trong thế giới nào. Không có sự truyền thông giữa cha mẹ và con cái. Con cái trách móc cha mẹ và cha mẹ trách móc con cái. Hố chia rẽ tuổi tác, hố chia cách văn hóa. Không có sự truyền thông. Bên này trách cứ bên kia. Rốt cuộc không khí gia đình trở thành địa ngục khó thở và người ta không có cảm hứng muốn trở về với gia đình nữa. Đó là một sự thất bại rất lớn. Gia đình là cấu trúc căn bản của xã hội. Nếu gia đình tan vỡ thì xã hội cũng sẽ tan vỡ mà thôi. Trong đạo pháp thì chùa là một gia đình và vị sư trưởng là cha, là mẹ, là chú, là bác, những người đệ tử là huynh đệ với nhau. Mà nếu không có sự cảm thông, sự truyền thông, tình thầy trò, tình huynh đệ, nếu không có hạnh phúc thì đó là một sự thất bại của giáo hội. Tại vì cấu trúc cơ bản là chúng xuất gia của từng chùa. Nếu chúng của từng chùa thất bại, không có hạnh phúc, không có tình huynh đệ thì làm sao? Chúng ta phải thấy được diện mục của sự thật thứ hai là Tập Đế. Chúng ta đã không được trao truyền những giáo lý và những phương pháp hành trì có khả năng tháo gỡ những khó khăn giữa thầy trò, giữa huynh đệ. Chúng ta phải lập tức học hỏi và thiết lập những giáo lý và thực tập đó.

Nếu người thanh niên học tăng hư hỏng, thì lý do cũng giống như những thanh niên ngoài đời không tìm thấy hạnh phúc trong gia đình. Họ không tìm thấy hạnh phúc trong mái gia đình tâm linh của mình ở chùa, với thầy, với huynh đệ. Họ đi tìm hạnh phúc bên ngoài. Nếu có hạnh phúc trong chùa rồi thì đâu cần đến một chiếc mô-tô, một chiếc xe Dream để mỗi ngày lái đi tìm những khuây khỏa bên ngoài. Đâu cần đi vào tiệm Internet, đâu cần phải đi làm kinh tế riêng để có trương mục ngân hàng riêng, có tivi riêng, có nhạc vàng riêng, có bạn gái riêng, có bạn trai riêng. Tất cả những hư hỏng đó bắt nguồn từ một nguyên do sâu xa là không có tình thầy trò, tình huynh đệ, không có sự truyền thông với thầy và huynh đệ. Sự học hỏi của mình rất lý thuyết, sự thực tập của mình không có nội dung, không có tính hữu hiệu. Vậy mà mình cứ hãnh diện nói đó là “truyền thống”, trong khi sự thực tập hoàn toàn chỉ có tính hình thức, không có nội dung. Mỗi bước chân, mỗi hơi thở, mỗi lời nói, mỗi cái nhìn không đem lại hạnh phúc và tình huynh đệ. Hai buổi công phu được hành trì một cách máy móc. Mỗi ngày ta không tưới tẩm được hạt giống của hạnh phúc, của ân tình. Mỗi ngày ta lại tưới tẩm hạt giống của thèm khát, của sự cô đơn, của sự thiếu niềm tin. Đó không phải là sự thực tập có nội dung. Và vì vậy, những khóa tu, những buổi pháp đàm, những ngày chánh niệm tới với nhau phải là những cơ hội để mình ngồi xuống tìm ra sự thật thứ hai. Tìm ra sự thật thứ hai thì sự thật thứ tư là Con Đường mới hiển lộ. Điều này đúng trong phạm vi của giáo hội và cũng đúng trong phạm vi của chính quyền.

Những người giác ngộ ở trong đảng, trong chính quyền thấy rằng phải thành công trong sự xây dựng những tổ văn hóa, những khu phố văn hóa trong ấy không có những tệ nạn xã hội. Nhưng trên thực tế thì pháp luật và sự kiểm soát chỉ có thể đóng được vai trò nào trong việc xây dựng những tổ văn hoá như vậy? Những biện pháp pháp trị, kiểm soát và trừng phạt, những thứ ấy chỉ có thể đối trị với cái ngọn mà chưa đối trị được với cái gốc. Cái gốc nằm ở chỗ sự sụp đổ của cơ cấu gia đình, của sự thiếu truyền thông giữa cha mẹ và con cái. Chúng ta mời các thầy, các sư cô và các đạo hữu cư sĩ ngồi xuống để cùng tìm ra những biện pháp giúp cho các gia đình thiết lập lại được truyền thông giữa cha con, vợ chồng, phục hồi được tình thâm, đem lại được hạnh phúc. Đó mới đích thật là giáo lý của Đức Như Lai, đó mới là những pháp môn thực tập của Đức Như Lai. Thực tập tổ chức những khóa tu một ngày, những khóa tu cuối tuần, những khóa tu bảy ngày, những ngày Bát Quan Trai, trong đó chúng ta có can đảm đối diện với sự thật của những khó khăn trong từng gia đình một, trong từng ngôi chùa một. Đó là điều tôi tha thiết nhắn nhủ với Quý Vị, những người thao thức muốn đóng góp để lành mạnh hóa xã hội, mang lại hạnh phúc và an lạc cho xã hội.

Trở lại mạch nguồn

Các thầy ở chùa Từ Hiếu hiện đang họp với nhau để cải tổ cấu trúc của Tổ đình, để biến sự thực tập thành một sự thực tập có nội dung, không bị kẹt vào cái bẫy thực tập hình thức. Các thầy đang nghiên cứu về chuyện thành lập một chúng chủ trì, một chúng nòng cốt cho Tổ đình Từ Hiếu, trong đó có tình huynh đệ, có sự truyền thông giữa thầy trò và huynh đệ. Những người thuộc về chúng chủ trì sẽ là những người phát nguyện cùng đi với tăng thân như một dòng sông: sống chung với nhau, tu học chung với nhau, làm việc, độ đời chung với nhau, không có ý định ra lập cơ sở riêng, chỉ sử dụng những tiện nghi của tu viện, buông bỏ những tiện nghi cá nhân, không ai có trương mục ngân hàng riêng, không ai cất giữ tiền bạc riêng, không ai có xe hơi, xe mô-tô, máy vi tính, điện thoại, địa chỉ điện thư riêng, khi đi ra ngoài phải ít nhất có hai thầy cùng đi, đi đâu thì phải cho chúng biết đi từ mấy giờ tới mấy giờ với mục đích gì. Tất cả những phương tiện như xe cộ, điện thoại, máy vi tính là đều do tăng thân cung cấp, nếu xét thấy trong khi phục vụ tăng thân mình cần tới những thứ đó. Mục đích của mình là xây dựng, là đào tạo những vị giáo thọ xuất gia và tại gia có khả năng thực tập, có khả năng tháo gỡ, giúp cho xã hội bên ngoài, trước hết là giúp các gia đình tháo gỡ những khó khăn, thiết lập được truyền thông. Tất cả những công việc đó đều được làm chung với nhau như một tăng thân, như một bầy ong. Khi có được một chúng chủ trì cốt lõi như vậy rồi và ngày nào cũng tu tập xây dựng tình huynh đệ, tình thầy trò để làm lớn lên hạnh phúc trong chúng thì mình sẽ có thể buông bỏ rất dễ dàng những tiện nghi mà lâu nay mình đi tìm. Vì không có hạnh phúc trong chúng cho nên mình mới đi tìm những tiện nghi, những giải trí đó bên ngoài. Nếu có hạnh phúc của tình thầy trò, tình huynh đệ, của lý tưởng (ngày nào cũng được làm công tác giúp cho đàn hậu thế và độ đời) thì hạnh phúc sẽ rất lớn. Hạnh phúc đó giúp cho mình buông bỏ những thú vui, những tiện nghi tầm thường mà lâu nay mình đã vướng vào. Có một số các thầy ở ngoài Bắc, trong Trung và trong Nam đã thấy được điều đó. Và cũng giống như những người trong chính quyền muốn xây dựng những khu phố văn hóa, ở đây mình muốn xây dựng những cộng đồng tu học, trong đó không có những con vi trùng của sự tham nhũng, của sự hư hỏng, của danh lợi, của sự tranh giành. Tôi đã từng ngồi với các thầy và các sư cô để bàn tính chuyện này. Đây là những phương thức, những câu giải đáp đích thực cho tình trạng của chúng ta để đối phó với những tệ nạn ở trong đạo và ở ngoài đời.

Những nhành lá mới

Đạo lý của Đức Thế Tôn đã phục vụ cho thế gian trên hai mươi lăm thế kỷ. Trong suốt lịch sử đó của đạo Phật, chư Tổ thỉnh thoảng đã đổi mới cách giảng dạy và hành trì. Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân, Đề Bà, Lâm Tế, Liễu Quán,… các vị Tổ sư đó đều đã có khả năng làm mới truyền thống, thổi vào những luồng sinh khí mới, đưa ra những giáo lý và những phương pháp thực tập có tính cách hữu hiệu, có khả năng chuyển hóa được xã hội đương thời. Chúng ta phải tiếp nối sự nghiệp của chư Tổ. Chúng ta phải thường xuyên làm mới, đổi mới sự giảng dạy và những phương pháp thực tập của chúng ta để đáp ứng được với những nhu yếu hiện thời của xã hội, nhất là của giới trẻ và giới trí thức.

Tôi muốn nói lời kêu gọi những người trẻ có mặt hôm nay. Chúng ta cần rất nhiều vị xuất gia để có khả năng cống hiến những pháp môn và những giáo lý hiện đại, phù hợp với xã hội bây giờ, có tính hữu hiệu, có công năng tháo gỡ được những khó khăn, những bức xúc nội tâm của cá nhân, có khả năng giúp cho sự thiết lập truyền thông giữa cha con, vợ chồng, đem lại hạnh phúc, sự hòa điệu trong gia đình. Chúng tôi cần những người trẻ như vậy để được đào tạo thành những vị giáo thọ xuất gia và những giáo thọ tại gia. Trong truyền thống ở Huế, rất nhiều người tu đã bắt đầu từ tuổi rất nhỏ, làm những chú điệu. Nhưng hiện bây giờ chúng ta đã có phương pháp, có một nền giáo dục mới, đã có thể tiếp nhận được thanh niên sinh viên, đã có thể tiếp nhận được những người đã tốt nghiệp đại học, có học vị tiến sĩ. Và ngay trong những tháng đầu của sự tu tập, những người trẻ này đã có thể cảm thấy mình có ích lợi cho đoàn thể xuất gia và những người tại gia qua cách đi, đứng, nói, cười trong chánh niệm. Không phải đợi đến bốn năm hay tám năm, tốt nghiệp rồi mới có thể phục vụ được cho xã hội, cho đồng bào, đất nước, mà ngay trong những tháng đầu đã có thể tiếp thu được những pháp môn rất thực tế, đầy tính nội dung và hữu hiệu và mình đã có hạnh phúc ngay trong những tháng đầu của sự thực tập. Hiện bây giờ chúng ta có những trung tâm tu học như vậy đang được thành lập. Từ Hiếu là một, Bát Nhã là hai, Pháp Vân là ba và các thầy ở ngoài Bắc cũng đang có ý xây dựng những tu viện như vậy. Những tu viện này có khả năng tiếp nhận được những người trẻ trí thức đã tốt nghiệp đại học hay gần tốt nghiệp đại học. Những vị đã có bằng cấp, có học vị tiến sĩ đều có thể dấn thân, phát nguyện đi vào con đường này để có thể phục vụ cho nội bộ của truyền thống và đem giáo lý và thực tập này áp dụng vào trong cuộc đời. Không những họ giúp được cho những người Phật tử mà giúp luôn cho cả những người không thuộc truyền thống Phật giáo. Đó là những điều đã thực hiện được ở Tây phương trong bốn mươi năm hành đạo.

Đi như một dòng sông

Đây là lời phát nguyện gia nhập vào chúng chủ trì của Tổ đình Từ Hiếu hay bất cứ chùa nào theo mô thức này.

“Tôi xin phát tâm gia nhập vào chúng chủ trì của Tổ đình Từ Hiếu, làm nền tảng xây dựng Tổ đình thành một đạo tràng đào tạo những vị giáo thọ xuất gia và tại gia có khả năng sống với nhau, tu tập và độ đời trong tinh thần đi như một dòng sông. Tôi nguyện không đi tìm một tương lai riêng, một sự nghiệp riêng và xem tương lai và sự nghiệp của tăng thân là tương lai và sự nghiệp của chính mình. Tôi ý thức rằng lý tưởng giải thoát và độ đời của tôi được dựa trên nền tảng xây dựng tăng thân và xây đắp tình huynh đệ. Biết rằng không có tình thầy trò và tình huynh đệ thì không có đủ chất liệu để được nuôi dưỡng, trị liệu và không đủ hạnh phúc để đi xa, đi trọn và thành công lâu dài trong đời sống lý tưởng xuất gia của mình, tôi nguyện hoàn toàn nương tựa vào tăng thân, chỉ sử dụng những tiện nghi của tăng thân cung cấp và buông bỏ mọi tiện nghi cá nhân để có được điều kiện tự bảo hộ, bảo hộ cho tăng thân và làm gương cho đàn hậu tấn. Tôi nguyện không cất giữ tiền bạc riêng, không có trương mục ngân hàng riêng, tivi riêng, xe cộ riêng, điện thoại riêng, máy vi tính riêng, địa chỉ điện thư riêng, ăn uống riêng,… Và nguyện có mặt với tăng thân trong mọi sinh hoạt tu tập, tổ chức và độ đời. Tôi nguyện chấp hành theo mọi quyết định của chúng chủ trì, trong đó tôi là một thành viên”.

Tại Mai Thôn Đạo Tràng có các thầy và các sư cô đủ các quốc tịch, có vị đã từng tốt nghiệp đại học, đã từng làm kỹ sư, luật sư, y khoa bác sĩ,… đã từng có lương lớn, nhà lớn, đã từng tiêu thụ nhiều, nhưng đã phát tâm xuất gia và đã có khả năng buông bỏ tất cả. Và bây giờ họ thực tập những điều này rất dễ: không có tivi riêng, điện thoại riêng, địa chỉ điện thư riêng, máy vi tính riêng, trương mục ngân hàng riêng, xe riêng,… Đối với họ, đây là một sự nhẹ nhàng, một sự bảo hộ. Nếu mình làm được như vậy thì mình mới làm gương cho đàn em của mình. Nếu mỗi thầy có một cái tivi riêng và xem những chương trình mình thích bất cứ lúc nào thì làm sao mà dạy được đệ tử của mình? Nếu tất cả các thầy, các sư chú đều có quyền có tivi riêng (do bổn đạo cúng dường) thì còn ra cái gì nữa! Cho nên buông bỏ những tiện nghi cá nhân như vậy không phải chỉ để bảo hộ cho mình, cho tăng thân mà còn để làm gương cho các đàn hậu tấn. Nếu các vị thấy mình có ý chí, có khả năng, muốn gia nhập vào một chúng chủ trì như vậy, muốn đem cuộc đời của mình đi con đường lý tưởng này thì quý vị có thể phát nguyện trở thành một người xuất gia hay trở thành một vị giáo thọ cư sĩ yểm trợ cho các thầy, các sư cô, những người xuất gia, để làm công việc này. Và chúng ta không cần phải trải qua một thời gian năm năm hay mười năm mới bắt đầu có hạnh phúc, mới bắt đầu làm việc độ đời. Ngay trong tuần đầu của sự học hỏi, thực tập mình đã có pháp lạc, đã được nuôi dưỡng bằng tình huynh đệ và tình thầy trò và mình đã có thể đóng góp vào sự tổ chức tu học của các thầy, các sư cô lớn. Mình học cách hướng dẫn, chuyển hóa và tháo gỡ từ cách giảng dạy, thực tập, hướng dẫn của các thầy, các sư cô lớn.

Riêng về Huế thì có những điểm đặc biệt. Lề lối sinh hoạt trong chùa đã bị ảnh hưởng của vua chúa, phong kiến. Và vì vậy đưa vào tinh thần dân chủ, lề lối dân chủ sẽ cần thời gian nhiều hơn ở những nơi khác. Các vị sư trưởng, các vị trụ trì có khó khăn nhiều hơn trong những sự buông bỏ quyền hành của mình để cho chúng chủ trì nắm lấy vận mệnh của chùa, của tu viện. Phải buông bỏ đứng về phương diện kinh tế cũng như phương diện quyền hành để chúng chủ trì có thể nắm lấy quyền điều hành theo lối dân chủ. Đó là yếu tố dân chủ được đưa vào trong sinh hoạt của thiền viện mà chúng tôi đã thực tập thành công ở Tây phương. Hiện bây giờ ở các tu viện Thiên Chúa giáo, các vị tu viện trưởng cũng được bầu lên chứ không phải là được chỉ định từ đời này sang đời khác.

Đậm đà, giản dị

Hôm nay trong lễ giỗ Tổ Thanh Quý, chúng ta sẽ được ngồi vòng tròn ở trong thiền đường như một gia đình. Chúng ta sẽ được nghe các thầy, các sư cô, những người có kinh nghiệm trực tiếp với sư tổ, mỗi người sẽ nói những kỷ niệm, những hạnh phúc của mình với Tổ trong năm phút hay bảy phút. Sẽ có năm, bảy vị chia sẻ như vậy để chúng ta thấy được hình ảnh của Tổ Thanh Quý hiện ra rất rõ trong đại chúng và để cho các cháu có dịp biết Tổ là ai, hạnh nguyện của Tổ và đức độ của Tổ như thế nào. Trong khi chúng ta chia sẻ như vậy, chúng ta sẽ nhận diện được những hạt giống của từ bi, của khiêm cung, của trí tuệ, của đức hạnh mà Tổ đã trao truyền cho chúng ta, những người đệ tử trực tiếp và gián tiếp của Tổ. Đó là phần quan trọng nhất của buổi lễ, có tính cách gia đình, chia sẻ rất thân mật. Xong chúng ta sẽ xướng lên bài tri ân chư Tổ, phát nguyện sống với nhau như anh chị em ruột thịt trong gia đình để xứng đáng với ân đức của chư Tổ. Sau đó chúng ta sẽ xướng bài cúng dường. Tất cả chúng ta, từ đầu tới cuối đều ngồi yên tại chỗ. Sau khi nghi thức cúng dường đã hoàn tất rồi, chúng ta đều đứng dậy, tất cả đồng thời lạy Tổ ba lạy trước khi chúng ta đi ăn cỗ. Và hy vọng kỳ này chúng ta được ăn cỗ theo kiểu truyền thống, không ngồi bàn mà ngồi xệp xuống đất thành vòng tròn như là con cháu của Tổ. Mình ăn cơm im lặng vào khoảng mười lăm phút, đến giờ chót thì có thể trao đổi với nhau một vài câu nói, một vài kỷ niệm, trong tình huynh đệ. Chư Tổ sẽ rất lấy làm hạnh phúc thấy con cháu ngồi với nhau, ăn cơm với nhau và xây dựng tình huynh đệ.

Mô thức làm lễ giỗ Tổ như thế này rất nhẹ về nghi lễ nhưng sẽ có rất nhiều nội dung. Chúng ta có cơ hội tiếp xúc được với Tổ một cách rất hiện thực và chúng ta có cơ hội nhìn nhau như những huynh đệ, con cháu của Tổ một cách trực tiếp hay gián tiếp.

Xin chúc Quý Thầy, Quý Sư Cô và Quý Vị Phật tử có một ngày giỗ Tổ rất hạnh phúc, cơ hội để chúng ta thấy rằng tất cả đều là con cháu của Tổ, đều là anh chị em trong một nhà.

_____________________
( Pháp thoại của thiền sư Nhất Hạnh vào ngày 13.03.2005 tại Tổ đình Từ Hiếu, Huế)

Đêm cuối năm ngồi yên nhìn rõ

Sư Ông và đại chúng trong đêm giao thừa Tết Bính Tuất 2013

Tập Ngồi Thật Yên

Chúng ta, những người trong thiền viện này đều có cơ hội ngồi yên mỗi ngày nhiều lần. Đó là phước của những người tu. Trong xã hội hôm nay, những người có cơ hội và thì giờ để ngồi yên rất hiếm. Hôm nay là ngày cuối năm âm lịch, chúng ta cũng vẫn có cơ hội để ngồi yên với nhau. Cố nhiên là nhiều người trong chúng ta phải bận rộn lo Tết, nhưng điều đặc biệt là ở thiền viện chúng ta cũng vẫn có thì giờ để ngồi yên. Đó là một điều rất quý. Hơn nữa, thì giờ ngồi yên đêm ba mươi Tết có ý nghĩa hết sức đặc biệt. Chúng ta ý thức rằng một năm cũ sắp qua và một năm mới sẽ đến, trong giờ phút ngồi yên đó, chúng ta có thể nhìn thấy được nhiều điều. Chúng ta nên ý thức được rằng trong buổi pháp thoại cuối năm này, các thầy, các sư chú, các Phật tử ở chùa Từ Hiếu – Huế cũng đang được nghe chung với các thầy, các sư cô, các Phật tử ở Làng Mai – Pháp quốc. Đồng thời các thầy, các sư cô và các Phật tử ở tại tu viện Bát Nhã – Bảo Lộc và chùa Pháp Vân – Sài Gòn cũng đang ngồi nghe với chúng ta.

Tôi vừa thỉnh ba tiếng chuông và tôi sẽ thỉnh thêm một tiếng nữa. Xin mời tất cả quý vị ngồi cho an. Chúng ta ngồi cho cha, cho mẹ. Chúng ta ngồi cho tổ tiên, chúng ta ngồi cho con cháu của chúng ta. Chúng ta biết rằng khi chúng ta ngồi yên được thì cha mẹ trong ta cũng ngồi yên được, và tổ tiên của chúng ta trong ta cũng ngồi yên được. Đó là một món quà rất lớn mà chúng ta có thể hiến tặng cho cha, cho mẹ, cho tổ tiên và cho cả thế giới. Ngồi yên là một cái gì rất đặc biệt, rất quý. Trong chúng ta, người nào có khả năng ngồi yên thì người đó có khả năng có hạnh phúc và có khả năng giúp cho cuộc đời bớt khổ.

Ngồi yên ta sẽ thấy ta, sẽ thấy cha ta ở trong ta và cha ta đang ngồi với ta. Có thể là trong suốt cuộc đời, cha ta chưa bao giờ từng được ngồi yên như chúng ta đang ngồi yên hôm nay. Ta đang nối tiếp cha ta một cách đích thực, và khi ta ngồi yên thì cha ta cũng được ngồi yên. Hai cha con đang cùng ngồi trong một hình hài. Và khi ta ngồi yên, có sự thanh tịnh, có sự vững chãi, thì cha ta cũng có sự thanh tịnh, có sự vững chãi trong khi ngồi yên với ta. Đó là một điều hết sức mầu nhiệm, một điều hết sức đẹp mà chúng ta có thể làm được, có thể hiến tặng được.

Chúng ta có một người anh hay một người chị, một người em trai hay một người em gái. Chúng ta hãy nhìn vào người anh, người chị, người em trai hay người em gái đó, ta sẽ thấy cha ta trong người ấy. Cách nhìn đó, cách mỉm cười đó đích thực là cách của cha. Mình thấy rằng cha mình đang được tiếp nối rất rõ nơi con người của anh, của chị, của em. Khi nhìn vào người chị hay người em gái của ta thì chúng ta cũng thấy được mẹ. Cách chị cười đó là của mẹ, không khác gì cả. Sự tiếp nối rất rõ ràng. Và chúng ta cũng biết rằng mẹ ta đang được tiếp nối nơi ta. Mẹ ta đang cười, đang nhìn với con mắt của ta. Khi chúng ta ngồi yên như thế này thì mẹ cũng được ngồi yên. Có thể là suốt đời mẹ tất tả xuôi ngược làm ăn, lo cho chồng, lo cho con, nên chưa bao giờ có cơ hội được ngồi yên, vậy thì bây giờ, mình ngồi yên cho mẹ, nhất là mình ngồi yên được trong những giờ cuối năm này.

Tổ tiên chúng ta từng trải qua những cơn đói và người nào trong chúng ta cũng tiếp nhận được hạt giống lo lắng của tổ tiên. Lo rằng không biết có bị đói nữa hay không. Sợ không có cơm ăn, sợ chết đói. Đó là một nỗi lo, nỗi sợ rất lớn. Năm 1944, có hai triệu người chết vì bị đói ở miền Bắc Việt Nam. Buổi sáng nào thức dậy cũng có hàng ngàn thây chết ngoài đường. Và những hình ảnh ấy bám vào trong trí óc của mình. Có thể là ông bà, cha mẹ chúng ta cũng đã từng trải qua những trận đói như vậy nên hễ khi nào có được một chút thì giờ thì lại nghĩ tới chuyện phải làm cái gì đó để tăng gia sản xuất, để dự trữ thức ăn. Vì vậy, chuyện ngồi yên không làm gì hết đã trở thành ra một món quà xa xỉ. Ngày xưa vì sợ đói mà cha ông chúng ta đã bận rộn suốt đời.

Bây giờ đây kinh tế phát triển, người ta có nhiều thực phẩm, có nhiều cơ hội để tiêu thụ, vậy mà người ta cũng vẫn bận rộn không khác gì ngày xưa, và có thể còn bận rộn hơn ngày xưa. Ở những thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Huế người ta bận rộn vô cùng, cơ hội để ngồi yên không có. Khi đói thì bận rộn đã đành rồi, nhưng khi có nhiều thực phẩm, có nhiều hàng hóa, ta cũng vẫn tiếp tục bận rộn. Hàng hóa bây giờ chất lên như núi ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn và ở các thành phố lớn, vậy mà chúng ta có thanh thản ngồi yên được đâu! Chúng ta có thể bận rộn gấp trăm lần ngày xưa. Chúng ta không có khả năng ngồi yên! Vì vậy, trong giờ phút cuối năm này mà chúng ta ngồi yên được, đó là một điều rất lạ. Chúng ta ngồi yên cho cha mẹ, cho tổ tiên, chúng ta ngồi yên cho con cháu, cho thế giới. Và chỉ khi nào chúng ta ngồi yên được, chúng ta mới biết được mình đang đi về đâu với tư cách một con người, một dân tộc, một quốc gia, và cả thế giới.

(xin mọi người nghe chuông)

Xin quý thầy, quý sư cô, quý phật tử ngồi cho thật yên và tập trung tâm ý vào chuyện ngồi yên. Mình làm thế nào để hưởng được cái hạnh phúc của sự ngồi yên. Ngồi yên là một cơ hội rất lớn, một hạnh phúc rất lớn. Phần lớn chúng ta rất giỏi, chúng ta làm cái gì cũng được: chúng ta xây chùa, lập hội, giảng dạy, tổ chức, kinh doanh… Nhưng có một cái chúng ta không giỏi: đó là chúng ta không ngồi yên được. Khi chúng ta đi thì chúng ta đi như bị ma đuổi. Chúng ta không có thì giờ để sống đời sống hằng ngày của chúng ta một cách sâu sắc. Điều này có liên hệ tới nền văn minh của con người.

Nhìn Rõ Quê Hương

Trong chuyến về thăm quê hương đầu năm ngoái, cũng giờ này, mình đang ngồi ở tại chùa Pháp Vân. Tôi có nhìn thấy được một số điều.

Điều thứ nhất, một điều rất hay là giá trị của đạo đức đích thực: Khi có giới hạnh và tình thương đích thực, mình có thể chuyển hóa được con người và chuyển hóa được xã hội. Điều này làm tôi rất phấn khởi. Có những người rất khó chịu, những người rất ngang bướng, những người rất bạo động, những người không có tình nghĩa, những người đa nghi, những người đầy hận thù, vậy mà khi mình có giới hạnh, có tình thương, thì mình có thể chuyển hóa được họ. Chuyển hóa một cách từ từ hoặc một cách mau chóng. Đó là điều thứ nhất tôi nhận xét trong chuyến về Việt Nam đầu năm ngoái.

Điều thứ hai mà tôi nhận xét trong chuyến về là những người làm việc trong chính quyền và cả những người làm việc trong giáo hội, người nào hình như cũng có hai khuôn mặt. Khi “đi với Bụt thì mặc áo cà sa” mà khi “đi với ma thì mặc áo giấy”. Hình như bất cứ người nào làm việc ở trong đảng, trong chính quyền hay trong giáo hội đều có hai khuôn mặt như vậy hết. Rất lạ! Và tôi hỏi nếu mình ở Việt Nam thì mình có phải làm như vậy không? Mình phải có hai bộ mặt như thế hay không? Có mặt nạ để mang lên. Điều này tôi thấy rất rõ trong chuyến vừa qua, khi tiếp xúc với những người trong chính quyền, trong giáo hội: Người nào cũng có ít nhất là hai mặt, khi thì dùng cái mặt này, khi thì dùng cái mặt khác. Nếu không có hai cái mặt đó thì không sống được. Tôi không trách móc, nhưng tôi đặt câu hỏi: Nếu sống như vậy thì đó có đích thực là một nền văn minh hay không? Tại sao mình không có khả năng, không có cơ hội cho người kia thấy được con người thật của mình? Tại sao mình phải sống với một con người giả nếu mình muốn thành công, dù là thành công trong Phật sự?

Điều này làm tôi lo lắng rất nhiều. Chúng ta cần phải bao nhiêu năm mới vượt thoát tình trạng này? Chúng ta cần phải đeo mặt nạ tới bao giờ? Chính ngay trong khi làm việc Đạo, ta cũng phải đeo mặt nạ như vậy mới làm được hay sao?  Điều này là điều làm cho mình rất đau xót. Không phải đứng về phương diện tôn giáo mà nói, mà là đứng về phương diện văn hóa. Phát triển kinh tế để làm gì, phát triển công nghiệp để làm gì, trong khi chúng ta không sống được với nhau như những con người chân thực? Vì vậy cho nên chỉ có một câu trả lời duy nhất thôi, đó là phải tu, phải có đạo đức chân thực. Có đạo đức chân thực, có tình thương chân thực thì mình và con cháu mình sẽ có khả năng sống thật, không cần phải đeo mặt nạ. Trong tình trạng hiện tại, không đeo mặt nạ thì không thể sống được.

Trong chuyến về Việt Nam đầu năm ngoái, tôi nhận thấy rằng tâm đạo của người Phật tử Việt Nam vẫn còn nguyên vẹn, từ Bắc cho tới Nam. Tâm đạo đó là một nguồn năng lượng rất lớn và nếu chúng ta khai thác được thì chúng ta có thể xây dựng một nếp sống rất đẹp vì có tình người, có văn hóa và đạo đức. Nhưng trong cách thức hành đạo tôi nhận thấy ở Việt Nam, thì chúng ta chưa khai thác được nguồn năng lượng tâm đạo vĩ đại đó. Chúng ta chỉ khai thác được một phần nhỏ để xây dựng cơ sở, để tạo ra những hình thức sinh hoạt có tính cách bề ngoài. Chúng ta chưa sử dụng được năng lượng hùng hậu đó để xây dựng lại cơ cấu gia đình, để làm mới con người, hay để chữa lành những thương tích của chiến tranh, của nghi ngờ, của sợ hãi. Chúng ta đang bị cuốn theo một cơn lốc. Chúng ta quá bận rộn, không có thì giờ ngồi lại như những cá nhân, như những tập thể, để tìm ra những phương pháp giải cứu tình trạng khó khăn hiện nay. Tôi nhận thấy cách tổ chức tu tập, cách học, cách tu của chúng ta còn rất hình thức. Những sinh hoạt của chúng ta có thể xoa dịu một ít khổ đau trên bề mặt nhưng sự học và thực tập của chúng ta chưa có khả năng đào sâu để đi tới sự trị liệu và chuyển hóa.

Tôi xin thỉnh một tiếng chuông để quý vị cùng thở và cùng có ý thức rằng chúng ta đang có cơ hội ngồi yên với nhau. Chỉ còn một giờ đồng hồ nữa là hết năm cũ, sang năm mới.

(Chuông)

Trở về sau gần bốn mươi năm xa quê hương, tôi thấy tất cả đều thay đổi. Ngay cả chùa Tổ cũng thay đổi. Chùa Tổ bây giờ không còn là chùa Tổ ngày xưa. Tôi không còn cảm thấy thoải mái như ngày xưa. Sự thật là như vậy. Chùa Pháp Vân cũng vậy, hoàn toàn không giống ngày xưa. Thành phố đã xích tới quá gần. Nhưng có một cái gì đó khác nữa chứ không chỉ là chuyện bao quanh của thành phố. Các vị đã sinh ra và đã lớn lên trong thời gian tôi vắng mặt có thể đã không thấy được, tại vì quý vị chưa có kinh nghiệm của không khí chùa Tổ cách đây bốn mươi năm. Có một tin, mà tôi cho là tin mừng, đó là loa phát thanh ngoài xã bây giờ đã ngưng lại. Trong thời gian tôi ở chùa Tổ, một ngày ra rả hai, ba lần phát thanh nên chùa không có được sự thanh tịnh.

Chùa Pháp Vân ngày xưa rất thanh tịnh. Bây giờ chợ búa bao quanh, lại có trường trung học Trần Phú sát một bên nữa. Cố nhiên là sự vật vốn vô thường. Mình đòi hỏi quá đâu được. Cái gì cũng thay đổi, tâm người cũng thay đổi, sự vật cũng thay đổi. Nhưng có một cái hình như không thay đổi, đó là tâm đạo của người Phật tử Việt Nam. Tâm Đạo ấy vẫn còn y nguyên như xưa, vẫn có sự tha thiết thương yêu nền đạo đức tâm linh truyền thống.

Ngày xưa, vào khoảng những năm một ngàn chín trăm ba mươi – bốn mươi (1930-1940), có nhiều thanh niên Việt Nam lìa bỏ gia đình để đi làm cách mạng. Trái tim của người thanh niên bỏ nhà ra đi vì cách mạng đó rất trong sáng. Bỏ cha bỏ mẹ, bỏ người yêu lên đường cứu nước. Bản chất của cuộc cách mạng là giành độc lập cho đất nước, cho dân tộc, rất đẹp. Có biết bao nhiêu người trẻ đã ngã quỵ trên chiến trường. Nhưng tinh thần đó, trái tim đó, những cái đẹp đó năm ngoái về, tôi không còn thấy nữa. Không thấy trái tim thơm ngát và trong sáng đó nữa. Người thanh niên có thể hy sinh cuộc đời của mình cho một lý tưởng, không tiếc thân mạng của mình, với điều kiện họ có được một niềm tin vào tương lai của đất nước, của nhân loại, của dân tộc. Niềm tin đó đi đôi với văn hóa và đạo đức. Khi đã sinh ra chuyện nghi ngờ, tranh giành, loại trừ và tham nhũng thì niềm tin mất. Nên cái đẹp của cách mạng, cái đẹp của đạo đức không còn.

Người thanh niên, thiếu nữ mà bỏ nhà, bỏ cha mẹ, bỏ người yêu để đi xuất gia cũng có một trái tim đẹp như vậy. Tôi đã từng mang một trái tim đẹp như vậy đi vào cuộc đời. Khi xuất gia, mình đi theo con đường lý tưởng của Đức Thế Tôn ngày xưa. Đức Thế Tôn cũng có một gia đình, cũng có một địa vị lớn, cũng có người thân yêu. Thấy đất nước, nhân loại không có nẻo thoát nên Người đã bỏ hết tất cả để đi tìm. Trái tim đó là Bồ Đề Tâm. Khi về năm ngoái, tôi thấy biết bao nhiêu là thanh niên tăng ni đã đánh mất Bồ Đề Tâm của mình, do những hư hỏng xảy ra trong xã hội, trong chính quyền, trong giáo hội của mình. Rất tội nghiệp.

Chúng ta đã tổ chức một khóa tu tại chùa Hoằng Pháp, một khóa tu tại chùa Từ Hiếu, một khóa tu tại chùa Bồ Đề, rồi một khóa tu tại chùa Nguyên Thiều cho những người xuất gia. May mắn là chúng ta đã có được những khóa tu tổ chức cho người xuất gia trẻ. Nhờ những khóa tu như vậy mà rất nhiều thanh niên nam nữ xuất gia trẻ tìm ra được trái tim ngày xưa, thấy được con đường, thấy được lý tưởng mình trở lại. Nhưng mà liệu các vị đó có giữ được lâu bền cái mình vừa mới tìm lại được hay không? Nếu cứ tiếp tục sống trong môi trường đầy dẫy những sự tranh giành, loại trừ, hư hỏng và tham nhũng thì làm sao mà giữ được trái tim đó, niềm tin đó? Ước vọng, chí hướng của người thanh niên xuất gia cần được nuôi dưỡng. Những bậc trưởng thượng có lòng, muốn đứng ra để bảo hộ, nuôi dưỡng, đùm bọc rất ít. Hiện tượng cạnh tranh, ganh tỵ, đi tìm địa vị, quyền thế ở trong giáo hội rất nhiều. Phần lớn người ta đi tìm những chỗ đứng, những địa vị, những tiện nghi vật chất, những tiện nghi tình cảm. Người trẻ thấy được những cái đó, họ rất chán nản.

Vạch Một Con Đường

Cũng như Tết bên nhà, chúng ta họp nhau, ngồi chung với nhau, bày phẩm vật cúng dường lên bàn thờ tổ tiên huyết thống và tổ tiên tâm linh. Chúng ta tỏ bày niềm hiếu thảo của chúng ta đối với tổ tiên huyết thống và tổ tiên tâm linh. Chúng ta lạy, tiếp xúc với tổ tiên. Chúng ta ăn cơm với nhau, cười nói với nhau, trình diễn văn nghệ, đọc sớ táo quân… Nhưng không lý chúng ta chỉ làm những việc đó thôi sao? Chúng ta phải làm sao để có thì giờ ngồi xuống vạch cho nhau một con đường. Có một sự bế tắc rất lớn trong xã hội của chúng ta, trong truyền thống tâm linh của chúng ta. Chúng ta không thể nói rằng ta không có một sự bế tắc. Chúng ta không có được nẻo thoát cho chúng ta thì làm sao chúng ta có nẻo thoát cho xã hội, cho thế giới?

Cho nên điều quan trọng nhất của chúng ta là ngồi cho yên và tìm ra được một nẻo thoát cho tâm ta. Dù chúng ta là một người mới thọ giới Sa di, Sa di ni hay mới thọ Năm giới thì chúng ta cũng phải có bổn phận làm chuyện đó. Tìm được nẻo thoát cho mình rồi thì lúc đó mình mới có thể nắm tay nhau mở đường thoát cho cộng đồng, cho gia đình và cho xã hội của mình. Tôi thấy rằng nhiều bậc trưởng thượng cao cấp đang rất bí, các bậc hòa thượng cũng đang lúng túng. Tôi có niềm tin nơi người thanh niên. Ngày xưa đi tu lúc mười sáu tuổi, mình đã biết gì đâu. Con đường tu học lúc ấy không rõ ràng, nhưng mình biết rằng đất nước ngày xưa đã đi qua những giai đoạn khó khăn, điêu linh, mà con đường tâm linh của đạo Phật mở lối được cho đất nước đã mấy lần rồi. Lúc ấy, tuy còn nhỏ, nhưng tôi có niềm tin hết sức vững chãi nơi con đường của Bụt. Cho nên lớn lên đi học, tìm đường, dù có gặp những khó khăn, những trở ngại, những ganh tỵ, những chống phá, tôi đã không nản lòng bỏ cuộc. Tôi mong rằng các thầy trẻ, các sư chú trẻ, các sư cô trẻ, những Phật tử trẻ ngày hôm nay nối tiếp được niềm tin đó, thao thức đó: thế nào mình cũng tìm ra được con đường thoát, tìm ra được một nền đạo đức như trước đây, mở lối thoát cho đất nước, cho dân tộc.

Không Gian Trước Mặt

Bây giờ, tu học được coi như một sinh hoạt mê tín. Những người xuất gia, đại diện cho nền văn minh đạo đức ngày xưa đó, được coi như là những người đang làm ăn, như đang có một “cái nghề”, nên cái tối đa họ làm được chỉ là những ngôi chùa lớn, hay một chức vụ nào đó trong giáo hội.

Trong Đại giới đàn Cổ Pháp vừa rồi tại đạo tràng Mai Thôn, có nhiều vị xuất gia trẻ được tiếp nhận truyền đăng. Tôi rất hạnh phúc được trao đèn cho các vị giáo thọ trẻ đó. Có những thầy, những sư cô trẻ từ Việt Nam qua thực tập ở Làng Mai có nhiều hạnh phúc, và họ nói với tôi rằng pháp môn đã “cứu con ra khỏi tình trạng tuyệt vọng”. Các vị thấy được con đường xuất gia không uổng phí tuổi trẻ, vì các vị biết có thể làm được cái gì cho đất nước, cho nhân loại, cho tương lai. Thầy Trung Hải nói rằng “người thanh niên xuất gia sở dĩ hư hỏng là vì họ không thấy được không gian lớn ở trước mặt mình, không thấy được lý tưởng. Nên khi mình cho người thanh niên một không gian lớn, một lý tưởng ở trước mặt họ, thì tự nhiên những hư hỏng, những khó khăn ấy không còn nữa”. Sư cô Tín Nghiêm, người gốc Đại Hàn, trong khi tiếp nhận truyền đăng có nói rằng “nếu sau này sinh ra trở lại, con sẽ đi con đường này nữa, con sẽ xuất gia nữa”. Khi mà người thanh niên nói được như vậy, tức là người thanh niên ấy có một niềm tin ở nơi con đường của mình đang đi, thấy rằng con đường của mình đang đi có thể mở ra lối thoát cho nhân loại, cho con người ngay trong hiện tại. Và những lời nói đó có khả năng nuôi dưỡng mình và tăng thân mình rất nhiều.

Ở Làng Mai, như hòa thượng Giác Quang nói, cơ sở đâu có gì. Ngồi trên xe từ phi trường Bordeaux về tới Làng Mai, cứ tưởng tượng rằng Làng Mai đồ sộ thế này, đồ sộ thế kia. Rốt cuộc tới nơi không có một cái gì hết, chỉ có một số cây thông, cây sồi mà thôi. Những điều kiện sinh sống ở Làng Mai hết sức đơn giản. Tuy vậy, các thiền sinh trên thế giới về Làng rất đông. Mùa Hè năm ngoái có tới trên 4000 người từ gần 50 nước trên thế giới về tu học. Trong số đó, phần đông là người trẻ tuổi và người trí thức. Các thiền sinh về Làng Mai không giống như là các Phật tử ở Việt Nam đi lễ chùa, họ không mang theo nhang đèn, lễ vật để cúng kiếng, họ chỉ tới với hai tay không thôi. Tới Làng Mai không phải là để cầu nguyện, để cúng dường, mà là để tiếp xúc với tăng thân, để tiếp nhận những pháp môn tu tập cho bản thân, cho gia đình và cho cộng đồng mình.
Hạnh Phúc Không Xa

Kinh nghiệm của tôi cho thấy rằng con đường mà Đức Thế Tôn khơi mở cho chúng ta là một con đường tuyệt vời, rất đẹp. Khi nói những câu này, tôi nhìn ra ngoài cửa sổ của thiền đường Trăng Rằm thấy tuyết vẫn còn tiếp tục rơi. Tôi thấy rõ ràng rằng giáo lý của Đức Thế Tôn không rắc rối như người ta tưởng. Giáo lý của Đức Thế Tôn đã bị người ta làm thành rắc rối, càng học càng rắc rối. Học năm năm thì rắc rối vừa, học mười năm thì rắc rối thêm, học hai mươi năm lại càng rắc rối thêm nữa. Tôi tìm ra rằng giáo lý của Đức Thế Tôn rất đơn giản. Nếu biết cách áp dụng sẽ mang lại kết quả liền, đem lại hạnh phúc cho mình lập tức.

Nếu mình muốn nói một câu gì để lại cho đời, để đời nhớ mình, thì tôi sẽ nói rằng: Thực tập đạo Phật có hạnh phúc lắm. Không có gì hạnh phúc bằng khi biết áp dụng những lời Bụt dạy vào đời sống hàng ngày của mình. Khi đi, khi đứng, khi nói, khi cười, khi ăn cơm, khi rửa tay, khi làm việc. Áp dụng được thì rất hạnh phúc. Những hạnh phúc đó có thật. Nó có thể có được ngay trong giây phút hiện tại. Bài thuyết pháp quan trọng nhất của mình là đã về đã tới. Thông điệp hết sức đơn sơ. Đã về đã tới thì ai không hiểu? Ai mà không hiểu đã về đã tới là an trú trong hiện tại. Nhưng những người đã từng học Phật hai chục năm, hay bốn chục năm, vẫn không hiểu được điều đó. Hoặc nếu hiểu thì chỉ hiểu được cái ý của nó thôi, chứ mình không “nắm” được. Nhưng có điều rất lạ lùng là có những người chưa bao giờ học Phật, họ tới nghe, và trong vòng năm phút hoặc mười phút, họ làm được liền. Rất hay. Trong khi có những vị đã học ba bốn chục năm rồi, cũng vẫn không nắm được. Đây là điều hết sức là lạ lùng. Có lẽ tại họ nghĩ đạo Phật rất sâu, rất thâm diệu, mà nếu nó không thâm diệu, không khó khăn thì nó không phải đạo Phật. Có lẽ vì nghĩ như vậy, cho nên mới không tiếp nhận được đạo Phật.

Vượt thoát hệ lụy

Cái Học người tu

Kính thưa đại chúng,

Hôm trước chúng ta có nói đến chánh niệm như một năng lượng mà mỗi người trong chúng ta đều có khả năng chế tác. Công dụng của chánh niệm là nhận diện, trước hết là nhận diện một cách đơn thuần. Ví dụ như khi ngồi, chúng ta biết rằng chúng ta đang ngồi; năng lượng cho mình biết mình đang ngồi đó là chánh niệm. Khi đang đi, mình biết là mình đang đi; năng lượng cho mình biết mình đang đi đó là chánh niệm. Trong khi bực bội, gắt gỏng mà mình biết là mình đang bực bội, gắt gỏng, thì năng lượng cho mình biết là mình đang bực bội, gắt gỏng đó là chánh niệm. Mình đang còn sống mà biết rằng mình đang còn sống, đó là chánh niệm. Có nhiều người đang sống nhưng không biết là mình đang sống; đến khi sắp chết rồi, họ mới biết là họ chưa bao giờ từng sống hết. Niệm là một trong ba nguồn năng lượng mà người tu phải chế tác. Người nào không biết chế tác ba nguồn năng lượng đó thì không phải là người tu, dầu là người tu trong truyền thống Đạo Bụt hay trong truyền thống Cơ Đốc giáo. Ba nguồn năng lượng này trong Đạo Bụt gọi là “Tam Vô Lậu Học”. Đó là Niệm, Định, Tuệ. Có khi chúng ta nói: Giới, Định, Tuệ. Nhưng tại Làng Mai chúng ta biết rằng Giới chẳng qua là Niệm mà thôi.

Chữ Học trong “Tam Vô Lậu Học” có nghĩa là rèn luyện, là công phu tu tập; nó không có nghĩa là chất chứa kiến thức như ngoài đời. Chúng ta phải phân biệt chữ Học trong đạo Bụt với chữ Học ở ngoài đời. Học ngoài đời tức là dùng trí năng để thu thập kiến thức, còn chữ Học trong đạo Phật có nghĩa là thực tập, công phu, rèn luyện. Chữ Học này được dịch từ chữ “siksa” (như trong siksamana) nghĩa là thực tập. Những người Sa di ni, sau một thời gian thực tập, được trao cho sáu giới Siksamana (Thức Xoa Ma Na), tức là sáu Học Pháp để thực tập, rèn luyện. Tiếng Anh gọi “siksa” là “training”, chứ không phải “learning”. Khi chưa thành công, vẫn còn thực tập thì gọi là “Hữu Học”. Khi thực tập thành công rồi, thì gọi là “Vô Học” – “Vô học” không có nghĩa là không biết gì hết. Ngoài đời, “vô học” có nghĩa là “không có educated, không có học vấn”. Trong khi đó, chữ “Vô Học” trong đạo Phật lại có một giá trị rất lớn, nghĩa là người đã thực tập xong rồi, đã rèn luyện xong rồi, khỏi phải thực tập nữa, gọi là “Vô Học”.

Ý nghĩa của chữ Học là như vậy. Cho nên, đi học Kinh điển trong trường Trung cấp Phật học hay trong Học viện Phật giáo, cái học đó không phải là chữ Học này. Cái học đó là thâu thập kiến thức còn cái học này là áp dụng điều mình hiểu trong đời sống hằng ngày. Học đây là thực tập. “Tam Học” được gọi là “Three Trainings” chứ không phải là “Three kinds of learning”.

“Vô Lậu” có nghĩa là thoát ra khỏi vòng hệ lụy. Mình đi vòng vòng trong thế giới của hệ lụy, sầu thương, giận hờn, tuyệt vọng, tham đắm. Đôi khi mình gắng leo lên, được một chút thì rớt trở lui lại trong cái vòng đó. Mình thoát ra không được, xa lìa không được. Thế giới của hệ lụy, của khổ đau, của phiền giận, của hận thù… gọi là thế giới “Hữu Lậu”. Thoát ra được rồi thì mình có tự do lớn, không bao giờ còn muốn rơi trở lại trong thế giới hữu lậu nữa. Đó gọi là “Vô Lậu”. Vô lậu là không bị rơi vào trở lại, không bị lọt vào trở lại.

Năng lượng nào vớt mình ra khỏi thế giới hệ lụy? Đó là ba loại năng lượng: Niệm, Định và Tuệ. Tinh ba của đạo Bụt là ba nguồn năng lượng này. Nếu mình không có đủ ba nguồn năng lượng này, thì đừng nói đến chuyện vượt thoát ra khỏi thế giới hệ lụy. Đời sống hằng ngày của mình là để chế tác ba nguồn năng lượng đó.

Ba Nguồn Năng Lượng

Nguồn năng lượng đầu tiên là Niệm. Niệm tức là năng lượng giúp cho mình biết cái gì đang xảy ra: Đang đi, biết mình đang đi; đang ngồi, biết mình đang ngồi; đang ăn, biết mình đang ăn; đang thở, biết mình đang thở. Riêng về chuyện thở thôi, Đức Thế Tôn đã dạy rất nhiều. Một Kinh nói về hơi thở có tên là “Quán Niệm Hơi Thở”. Khi mình thở vào, thì biết là mình đang thở vào. Khi mình thở ra, thì biết là mình đang thở ra. Khi mình thở vào có hạnh phúc, thì biết là mình đang thở vào có hạnh phúc. Chữ “An Ban Thủ Ý” (Anapanasati) có nghĩa là như vậy. Sati có nghĩa là Niệm. Còn “anapana” là “hơi thở vào, hơi thở ra”. Ý thức được hơi thở vào hơi thở ra, gọi là “anapanasati”. Ngày xưa Tổ Tăng Hội dịch “Anapanasati” là “An Ban Thủ Ý”. “Thủ ý” tức là ý thức được, lấy tâm ý, lấy chánh niệm mà nhận diện rằng: “À, mình đang thở vào. À, mình đang thở ra”.

Vì vậy, người tu là phải biết nhận diện. Nhận diện những gì đang xảy ra trong cơ thể của mình gọi là Niệm Thân. Nhận diện những cảm thọ của mình: vui, buồn, hay không vui không buồn; dễ chịu, khó chịu, hay không dễ chịu – không khó chịu, thì đó gọi là Niệm Thọ. Chúng ta có 51 tâm hành: buồn, giận, hy vọng, sầu, khổ… những tâm hành bất thiện, những tâm hành thiện, và những tâm hành trung tính; mỗi khi tâm hành nào phát hiện thì mình nhận diện nó. Khi giận thì mình biết là mình giận, khi buồn thì mình biết là mình buồn, khi tham đắm thì mình biết là mình tham đắm, khi thảnh thơi thì mình biết là đang thảnh thơi. Đó là nhận diện tâm hành hay Niệm Tâm.

Kinh dạy về niệm thân, gọi là “Kinh Niệm Thân” (Kayagatasati). Hơi thở thuộc về thân, cho nên niệm hơi thở thuộc về niệm thân. Trở về nhận diện những gì xảy ra trong cơ thể gọi là niệm thân. Khi có khả năng niệm thân rồi, thì mình sẽ có khả năng niệm thọ. Những cảm thọ: dễ chịu, khó chịu, vui, buồn xảy ra trong người mình, mình đều nhận diện được hết. Năng lượng giúp cho mình nhận diện đó là chánh niệm, mindfullness, tiếng Pali là sati, tiếng Phạn là smrti. Khi 51 tâm hành tuần tự phát hiện mà mình nhận diện ra được, thì đó gọi là niệm tâm. Niệm tâm có nghĩa là niệm tâm hành. “Citta samskara” là tâm hành. Trong truyền thống của mình, có ít nhất là 51 tâm hành: tham, sân, si, mạn, nghi, kiến, phẫn, hận, phú, đố, tật, san, cuống, siểm, hại, kiêu, v.v… (tâm sở bất thiện); tín, tàm, quý, vô tham, vô sân, vô si, cần, khinh an, bất phóng dật, bất hại, v.v… (tâm sở thiện). Mỗi khi một tâm hành xuất hiện thì mình phải có khả năng nhận diện: “Ah, Good morning!”, “Hello, I know you!”, “Ta biết anh là ai!” Đó gọi là nhận diện đơn thuần; và người tu phải làm được chuyện đó.

Đối tượng thứ tư của sự nhận diện là Pháp. Pháp này không có nghĩa là giáo pháp. Pháp này có nghĩa là những đối tượng của nhận thức, những đối tượng của tri giác. Tri giác là một danh từ tâm lý học, tiếng Anh gọi là perception, danh từ Phật học là tưởng. Tưởng tức là “samjna”, tri giác. Thí dụ mình nhìn lên cái bảng trắng, thì cái bảng trắng này là một pháp, đối tượng của tri giác. Khi mình nhìn trời xanh, thì trời xanh là đối tượng của tri giác. Khi mình nhìn một sư em của mình, biết đó là sư em của mình, thì đó là đối tượng của tri giác, của tưởng. Khi tri giác đó đúng thì không sao, nhưng khi nó sai, thì đó là vọng tưởng. Vọng tưởng tức là không nhận diện được thực tại: trắng mà cho là đen, đúng mà cho là sai, khổ mà tưởng là vui, vui mà tưởng là khổ. Nhận thức đảo ngược với thực tại gọi là vọng tưởng điên đảo. Điên đảo nghĩa là lộn ngược lại, tiếng Anh là upsidedown.

Đối tượng của chánh niệm gồm bốn lĩnh vực, tiếng Pali là “Patthana”, dịch là Xứ. Bốn lĩnh vực của chánh niệm gọi là “Tứ Niệm Xứ”(The Four Foundations of Mindfulness).

Niệm, Định, Tuệ là tinh ba của sự thực tập. Hễ có Niệm là bắt đầu có Định. Ví dụ như khi nhìn bông hoa này, mình ý thức “À, đây là một bông hồng. Bông hồng màu vàng”. Mình nhận diện được cái bông hồng màu vàng này, thì tự nhiên mình chú tâm vào nó. Vì vậy, trong Niệm có mầm mống của Định. Và nếu mình liên tục chú tâm tới đối tượng đó, thì Định sẽ càng lúc càng mạnh. Niệm chuyên chở Định. Khi Định có mặt rồi, thì trong lòng Định có Tuệ. Định chuyên chở Tuệ. Trong Kinh Pháp Bảo Đàn có một câu có ý rất hay; Tổ nói rằng: “Định và Tuệ, đừng tưởng đó là hai cái. Định tức là Tuệ”. Ví dụ như Định về vô thường, Định về vô ngã, Định về tương tức đều chính là Tuệ. Câu trong Kinh Pháp Bảo Đàn đó cho chúng ta thấy rằng trong Định đã có sẵn Tuệ rồi. Thành ra đừng có dùng Định để đi tìm Tuệ. Cứ an trú trong Định và làm cho Định hùng hậu, thì Tuệ sẽ tự nhiên hiển lộ và phát triển.

Cố nhiên, nếu trong Niệm có Định, thì trong Niệm cũng có Tuệ. Nếu trong Định có Niệm, thì trong Định cũng có Tuệ. Một cái chứa đựng được cả ba cái, gọi là “tương dung”. Nhìn vào trong một cái mình thấy có cả ba cái. Hễ có chánh Niệm là bắt đầu có Định và có Tuệ. Thí dụ khi mình thở vào và có ý thức: “À mình đang thở vào”, thì ngay trong hơi thở vào đó, mình có luôn cả Niệm, Định, và Tuệ. Đó đã là Giác Ngộ rồi. Tuệ tức là Giác Ngộ. Cho nên, giác ngộ không phải là cái gì phải đi kiếm xa lắm. Hễ thở vào một hơi mà biết là mình đang thở vào hơi đó, an trú được trong hơi thở vào đó, thì hơi thở vào đó có đủ Niệm, Định, và Tuệ. Và, cứ như vậy mà đi tới thì Niệm, Định, Tuệ sẽ lớn lên. Hạnh phúc càng ngày càng lớn, tự do càng ngày càng lớn. Khi mình đi thiền hành mà mình ý thức được tròn đầy bước chân, tâm không suy nghĩ gì hết, những bước chân của mình hoàn toàn nằm trong chánh niệm, thì mỗi bước chân như vậy có mang theo cả Niệm, Định, và Tuệ. Điều đó có nghĩa là Tam Vô Lậu Học có ngay trong từng hơi thở, từng bước chân. Công phu là chỗ đó. Cứ làm cho miên mật thì sẽ thoát khỏi cái vòng hệ lụy mà mấy ngàn năm, mấy ngàn kiếp nay mình chưa thoát ra được.

Khả Năng Buông Bỏ

Ba nguồn năng lượng Niệm, Định, Tuệ có khả năng vớt mình ra khỏi thế giới của hệ lụy. Nhưng cái gì đã ngăn không có cho mình sử dụng ba nguồn năng lượng đó? Đó là sự bận rộn. Sự bận rộn là trở ngại lớn nhất của người tu.

Khi đọc lại tiểu sử của Tổ Nhất Định, người khai sinh ra chùa Từ Hiếu, mình thấy có một điểm son. Điểm son của Tổ Nhất Định không phải là Ngài được làm Tăng Cang nhiều chùa Vua. Điểm son của Ngài không Phải là Giới Đao Độ Điệp, được Vua và các quan sùng kính, rồi được làm trụ trì hết chùa này đến chùa kia. Điểm son của Tổ Nhất Định là tới cái tuổi suýt soát sáu mươi thì Ngài cương quyết thoát ra. Ngài đã tìm cách xin với Vua để trả hết tất cả những ngôi chùa kia để về núi Dương Xuân, dựng một cái am ở một mình, với bà mẹ. Một người được trọng vọng, được cung kính, có nhiều lợi lộc, quyền danh như vậy, mà chỉ trong vòng một niệm là buông bỏ được, thoát ra được. Đó là điểm son của Tổ Nhất Định.

Cố nhiên là lên đồi Dương Xuân, Ngài chỉ cất một cái am tranh thôi. Ngài đi với hai người đệ tử, hai thầy trẻ mới thọ đại giới. Ba thầy trò cuốc đất trồng khoai. Hồi đó, ở xung quanh chùa Từ Hiếu hoang vu lắm, không phải như bây giờ. Có nhiều vị quan trong triều đình nhớ Ngài và tìm lên. Thấy Ngài sống cực khổ quá, họ tội nghiệp. Trong khi đó, Ngài hạnh phúc quá chừng. Chưa bao giờ Ngài hạnh phúc như vậy. Tại vì Ngài đã buông bỏ tất cả. Ngài được sống một mình với hai người đệ tử, cuốc đất trồng khoai, và được sống với bà mẹ “chuối ba hương, xôi nếp một, đường mía lau”. Các quan xin với Ngài để lập chùa cho “có tiện nghi”. Ngài nói: “Thôi thôi, tiện nghi tôi có quá nhiều rồi. Chính tôi đi kiếm cái này”. Và Ngài cương quyết không cho các quan lên lập chùa. Cúng dường cái gì Ngài cũng trả lại hết. Điểm son của Tổ Nhất Định là chuyện đó. Và mình, con cháu Từ Hiếu, phải hãnh diện là mình có một vị thầy như vậy: Vất công danh, phú quý, địa vị dễ dàng như vất một đôi dép cùn. Cái đó là điểm son của Ngài, chứ không phải là cái làu thông tam tạng Kinh điển, hay những chức vị và sự sùng kính của Vua và các quan. Đến ngày giỗ Tổ, để xưng tán công hạnh của Tổ thì phải nói điểm đó.

Đi trở lui trong lịch sử, mình thấy có nhiều chuyện tương tự, và mình rất lấy làm hãnh diện vì chư Tổ đã làm được những chuyện đó.

Thực Tập Thả Bò

Có một mùa xuân, Bụt đi khất thực với bốn năm mươi thầy. Đó là một buổi sáng rất đẹp. Ông trưởng giả kia ra lệnh cho tất cả các công nhân của ông đem bò ra cày ruộng. Ông ta có đến ba ngàn con bò và bao nhiêu là công nhân để cày ruộng. Trưởng giả có nghĩa là ông nhà giàu, có rất nhiều đất ruộng, và nhất là có nhiều bò. Ngày xưa, tài sản của một người được đo bằng bò hơn là bằng đất ruộng.

Ở Texas, hay các miền đồng rộng mênh mông ở bên Mỹ, ngày xưa, ai sở hữu những đàn bò lớn nhất thì chứng tỏ người ấy là người giàu nhất. Những chủ nông trại giàu nhất có rất nhiều cowboys (tức là người chăn bò). Họ chăn bò bằng ngựa. Vì bò nhiều quá, làm sao mà chăn bằng một chú bé với một cây roi được! Năm bảy con bò hay vài chục con bò thì còn chăn bằng cây roi được, chứ cả bảy ngàn hay hai mươi ngàn con bò thì làm sao mà chăn bằng một cây roi được! Phải có nhiều cowboys cưỡi ngựa thì mới có thể chăn bò được.

Buổi sáng đó, Bụt đi khất thực, ôm bình bát đi với các thầy, thì thấy ông nhà giàu, đại trưởng giả kia đem ba ngàn con bò ra để cày ruộng. Ruộng nhiều lắm. Thấy Đức Thế Tôn với các thầy đi chậm rãi, ung dung, ông hơi tức, nói: “Mình làm việc như vậy mà mấy cái ông thầy chùa này không làm ăn gì hết, mà cũng không có ích lợi cho xã hội”. Khi mới bắt đầu học chủ thuyết cộng sản, người ta cũng ưa nghĩ như ông đó lắm. Người ta nói: “Mấy ông thầy tu là cái thứ ăn không ngồi rồi, chỉ tiêu thụ mà không có sản xuất. Các giới trí thức chẳng có ích lợi gì cả. Chỉ có lao động mới là quan trọng thôi. Lao động là vinh quang!”

Chúng ta đã đi qua cái giai đoạn say mê chủ nghĩa Mác-xít này và chúng ta đã biết điều đó. Những người trí thức “tiểu tư sản” đã được mỉa mai như thế này: “Ôi, cái trí thức của anh hả? Không bằng một cục phân. Cục phân kia người ta bón ruộng được, làm thành lúa được. Còn cái trí thức của anh? Không có nghĩa gì cả”. Đã có lúc những đảng viên Đảng Cộng Sản, những người chủ trương chủ thuyết cộng sản, đã nói như vậy, đã quan niệm như vậy. Nhưng Việt Nam bây giờ đã thay đổi, và thay đổi vượt mức rồi. Việt Nam bây giờ thấy rằng cái làm cho người ta giàu là chất xám. Trong công nghệ thông tin, mình thấy rất rõ ràng rằng chất xám nhiều thì giàu nhiều, không phải phân nhiều mà giàu nhiều, hay bò nhiều mà giàu nhiều.

Cái ông trưởng giả đó, ông khinh khỉnh. Ông là nhà tư bản mà ông cũng khinh khỉnh như là nhà vô sản. “Chúng tôi đem bò, đem ách, đem cày chúng tôi cày ruộng. Chúng tôi gieo hạt, chúng tôi bỏ phân, chúng tôi tưới tẩm, và chúng tôi có ăn. Mấy thầy không làm gì hết mà mấy thầy cũng đòi ăn bình bát bự như vậy!” Chê trách Đức Thế Tôn. Ngài cười và nói: “Nè ông trưởng giả, ông không biết đó, chúng tôi cũng có cày, cũng có bừa, cũng có gieo giống, cũng có gặt hái như các ông vậy”. Ông trưởng giả hỏi: “Đâu? Quý vị cày bừa cái gì đâu? Đất đâu? Hạt giống đâu? Bò đâu?”

Đức Thế Tôn đáp: “Tâm chúng tôi là ruộng, hạt giống là những thiện căn mà chúng tôi gieo hằng ngày. Xã hội nếu không có những hoa trái của sự tu học thì sẽ đau khổ vô cùng, tệ nạn xã hội sẽ tràn lan. Vì vậy, chúng tôi cũng có ruộng, cũng có cày. Chánh niệm, định, tuệ là những cái cày của chúng tôi. Và chúng tôi chỉ gieo những hạt giống tốt, gặt hái hiểu biết, thương yêu, tha thứ v.v… Xã hội rất cần đến sự gieo trồng của chúng tôi”. Cũng may là nhà triệu phú này có một chút thông minh nên đã hiểu và phục Ngài. Khi đó đã gần trưa, sắp đến giờ ăn trưa. Ông ta mới đem phần cơm rất sang của mình ra cúng dường Bụt. Ông nói: “Xin các thầy ngồi lại, tôi xin cúng dường”. Bụt nói: “Chúng tôi thuyết pháp đâu phải là để đổi thức ăn này. Xin cám ơn ông”. Rồi Ngài xá chào và đi. Đó là câu chuyện ghi lại trong Kinh.

Trong một câu chuyện khác, cũng có dính líu đến bò: Hôm đó Đức Thế Tôn đang ngồi trong rừng Đại Lâm ở thành phố Vasali. Thầy trò vừa mới thọ trai xong, sắp pháp đàm, thì có một bác nông dân đi ngang qua, hớt hơ hớt hải. Bác này không giàu bằng ông trưởng giả ở trên kia. Bác chỉ có ba con bò thôi, nhưng mà bác khổ lắm. Bác hớt hơ hớt hải hỏi Đức Thế Tôn: “Này thầy, thầy có thấy mấy con bò của tôi chạy ngang qua đây không?” Đức Thế Tôn hỏi: “Bò nào?” “Thầy ơi, quý thầy ơi, chắc tôi chết quá đi! Tôi chỉ có ba con bò mà không hiểu tại sao sáng nay chúng bỏ chạy đi đâu mất hết”. Tại sao bò bỏ chạy? Nguyên do gì mà bò bỏ chạy?

Ngày xưa làm chú tiểu ở chùa Từ Hiếu, tôi đã bị bò bỏ chạy một lần rồi. Ngày xưa tôi đã đi chăn bò. Chùa nuôi bò không phải là để lấy sữa hay ăn thịt đâu! Chùa nuôi bò với mục đích duy nhất, các bạn Tây phương nghe đừng cười, đó là để lấy phân thôi. Chúng tôi cần phân bò để trồng rau. Mỗi buổi sáng tôi gánh hai cái giỏ rất lớn và đem cuốn “Tì Ni Nhật Dụng Thiết Yếu” đi lên núi. Sau khi tìm chỗ cho bò ăn cỏ rồi thì phải lấy liềm cắt lá. Cắt lá gọi là lá bổi. Cắt bổi nhận cho đầy hai cái giỏ rồi mới ngồi dưới gốc thông đem Kinh ra học. Lá bổi cắt là để thay rơm, vì đồng ruộng xa lắm (chùa thì ở trên núi). Chúng tôi phải lấy lá đó trải chuồng cho bò nằm. Mỗi ngày phải trải thêm lá mới để cho bò nằm. Phân bò sẽ được trộn chung với lá bổi. Cứ một tuần hay mười ngày chúng tôi vô dọn, cào hết các thứ vừa phân vừa lá đó gom thành đống để ủ thành phân bón. Từ đó chúng tôi trồng sắn, trồng khoai, trồng rau, trồng đủ thứ hết. Mục đích của nuôi bò là để có phân thôi. Dù con bò có sinh ra con bê, có sữa đi nữa thì cũng không được lấy sữa của bò. Ngày xưa có quan niệm: sữa là để dành cho con bò con; nếu mình tranh ăn với con bò con thì mình không phải là người lớn. Đó là quan niệm của chùa ngày xưa: Không có lý mình như vậy mà giành ăn với con bò con sao?

Có một bữa, hai con bò của tôi, không biết tại sao không chịu ăn cỏ. Hình như trời mưa làm cho nó nhột. Hình như là đến mùa ái tình của nó cho nên có một năng lượng gì trong người thúc đẩy nó chạy đi; chạy đi để tìm người yêu. Là chú điệu 16-17 tuổi, tôi đâu có hiểu được cái chuyện đó, đâu hiểu được tâm lý, sinh lý của bò. Cho nên, tôi không biết tại sao nó chạy. Nó chạy xuống An Cựu luôn. Và tôi sợ mất bò, về thế nào cũng bị thầy rầy nên nó chạy, tôi chạy theo. Hai chân bị sướt gai, chảy máu mà phải chạy theo hai con bò. Sau này lớn lên tôi mới biết nó chạy là vì năng lượng tình dục của nó. Bị mưa rơi làm nhột, rồi bị tiếng gọi của ái tình vọng lên, thành thử nó bỏ chạy.

Không biết mấy con bò của ông nông dân này chạy vì lý do đó hay vì lý do khác, nhưng ông tìm không được. Và ông than thở với Đức Thế Tôn: “Bạch Thầy, chắc tôi chết quá! Chỉ có ba con bò thôi mà nó bỏ đi hết. Và tôi có hai sào hạt mè, vậy mà năm nay sâu ăn hết một trăm phần trăm. Chắc tôi chết quá! Chắc tôi tự tử quá!” Đó là cái giọng của những người thất vọng. Đức Thế Tôn thấy thương hại. Ngài nói: “Bác nè, chúng tôi ngồi đây lâu rồi, mấy giờ đồng hồ rồi nhưng không có thấy con bò nào đi ngang qua đây hết. Bác đi tìm về phía bên kia coi thử. Chúc bác may mắn!” Bác nông dân cảm ơn Đức Thế Tôn rồi đi về hướng Đức Thế Tôn chỉ. Sau khi bác nông dân đi rồi, Bụt quay lại nhìn các thầy, mỉm cười nói: “Mấy thầy! Mấy thầy có biết rằng mấy thầy may lắm không? Mấy thầy đâu có bò đâu mà sợ mất!” Khi đọc ngang Kinh này tôi rất thích. Vì vậy, ở Làng Mai, mình xây dựng một phương pháp thực tập gọi là “thả bò”.

Tổ Nhất Định có bao nhiêu con bò rất mập, rất quý. Đến lúc muốn thả thì Ngài thả. Danh lợi, quyền hành… tất cả những cái đó thả một cái, và trở thành con người tự do. Mình hãy trở về coi thử mình còn có bao nhiêu con bò. Từ lâu nay mình nghĩ rằng: Nếu không có mấy con bò này chắc tôi chết quá! Nếu không có mấy con bò này đời tôi sẽ không còn gì nữa! Ai dè, sự thật là: chính vì những con bò đó mà mình lận đận, lao đao, quanh quẩn trong cái vòng hệ lụy này. Mình không thoát ra được chính là vì bò. Nhưng những con bò ở bên ngoài đó tương đối dễ thả, bò ở bên trong mới khó thả. Có những cái làm cho mình lận đận, lao đao, hệ lụy suốt đời. Vậy mà mình không có can đảm buông bỏ. Vì mình có cảm tưởng rằng buông bỏ rồi thì mình không còn gì hết, và mình sẽ không có hạnh phúc. Ai dè, sự thật là nếu buông bỏ được thì mình mới bắt đầu có hạnh phúc.

Tặng phẩm dâng đời

Ngày xưa, khi còn trẻ, khi xướng câu “Bồ Tát thanh lương nguyệt. Du ư tất cảnh không”, tôi có rất nhiều sự biết ơn. Có bốn câu:

Bồ Tát thanh lương nguyệt.
Du ư tất cảnh không,
Chúng sanh tâm cố tịnh
Bồ đề ảnh hiện trung.

“Thanh lương” tức là trong và tươi mát. “Bồ Tát thanh lương nguyệt”. Vị Bồ Tát như là mặt trăng trong và mát. Nếu anh muốn làm Bồ Tát thì anh phải có hai chất liệu đó: trong và mát (thanh lương). Không trong và không mát thì sức mấy làm Bồ Tát được, dầu là Bồ Tát xuất gia hay Bồ Tát tại gia. Hình ảnh một vị Bồ Tát có đầy đủ sự trong sáng và tươi mát là hình ảnh tuyệt vời. Hai chất liệu đó là tặng phẩm rất đẹp cho cuộc đời. Tu là mình muốn tặng cho đời những cái gì đẹp nhất, phải không? Cái gì đẹp nhất để mình tặng cho đời? Con người mình, nếu trở thành vị Bồ Tát, có đầy đủ sự trong sáng và tươi mát, thì đó là tặng phẩm lớn nhất cho cuộc đời. Mình tự hỏi mỗi ngày mình có chế tác được sự trong sáng và tươi mát đó hay không?

“Bồ Tát thanh lương nguyệt. Du ư tất cảnh không”. “Du” tức là đi chơi, du hành. Mình đi đâu cũng là đi chơi. Đi Hà Nội cũng là đi chơi, đi qua Làng Mai cũng là đi chơi, đi Thái Lan cũng là đi chơi, đi Singapore cũng là đi chơi, đi Xóm Hạ cũng là đi chơi, đi Xóm Thượng cũng là đi chơi, đi vô thiền đường cũng là đi chơi, đi vô nhà bếp cũng là đi chơi. Không vội vã, relax, “từng bước chân thảnh thơi”[1]. Đó là sự tự do. Đó là dấu hiệu của một vị Bồ Tát đích thực: Có sự trong sáng, có sự tươi mát, và có rất nhiều tự do. “Du” là đi chơi, rong chơi. Rong chơi ở đâu? “Ư ” là ở đâu. “Tức cảnh không” là không gian không có lằn mé, không có biên giới, nghĩa là tự do tuyệt đối. Mình có thể gọi tên nó là giải thoát, là thảnh thơi. Hình ảnh của nó là không gian bát ngát.

Thơ, nếu đúng thật là thơ, thì phải làm bằng hình ảnh. Nếu muốn làm thơ, thì đừng nói thẳng, mà phải dùng hình ảnh. Ví dụ muốn diễn tả mình buồn, thì đừng nói: “Tôi buồn quá!” Nói vậy không phải là thơ. Mình nói: “Chiều hôm nay mây xám giăng trong hồn tôi”, dùng hình ảnh, thì đó là thơ. Ở đây nói về tự do, nhưng không dùng danh từ tự do, mà nói: Mặt trăng đi chơi trong không gian không có lằn mé. Đó là bức họa đẹp nhất mình có thể vẽ về một vị Bồ Tát hay một vị Bụt. Phật Thích Ca cũng là một vị Bồ Tát. “Bồ Tát thanh lương nguyệt. Du ư tức cảnh không”. Thơ mà làm đến mức đó thì gọi là thơ thần, thơ thánh. Hãy tưởng tượng, hay không cần tưởng tượng, một bữa khuya, trên con đường từ cư xá của mình đi ra thiền đường, mình dừng lại nhìn lên trời, thấy một vầng trăng rất trong sáng, rất tươi mát, xung quanh có không biết bao nhiêu là không gian. Không gian đó tượng trưng cho sự tự do.

Người tu mà không có không gian, không có tự do, không có sự thảnh thơi, thì đâu có khác với người đời. Người đời họ hệ lụy, họ ràng buộc, họ không có thì giờ để thở, không có thì giờ để ăn, không có thì giờ để đi những bước chân thảnh thơi. Mình vô chùa mà mình cũng như vậy, thì mình đâu khác gì người thế gian!

Ba yếu tố của người tu là: Trước hết, phải trong sáng, không có những cái u ám của sự lo sợ, buồn phiền, hận thù, dục vọng. Thứ hai là phải có sự tươi mát của người có nhiều từ bi, hỷ xả. Yếu tố thứ ba là tự do, là không gian. Quý vị tu để làm gì? Quý vị tu không phải là để sanh về Thiên Quốc, hay sanh về tịnh độ. Quý vị tu là để có thêm sự trong sáng, có thêm sự tươi mát, và nhất là để có tự do. Tự do đó không phải là ở ngoài đi vào. Tự do đó là từ trong đi ra. Bụt và các vị Bồ Tát có rất nhiều tự do. Tự do càng nhiều thì hạnh phúc càng lớn. Hình ảnh của vị Bồ Tát là mặt trăng tròn đang đi ngang qua khung trời bao la rộng lớn. Tự do quá nhiều. Tự do nhiều như vậy thì hạnh phúc làm sao mà đo lường cho được?

Một bước thảnh thơi

Vì vậy, mỗi bước chân, mỗi hơi thở của mình phải đem lại cho mình tự do. Chuyện này không phải là chuyện nói chơi, hay lý thuyết. Tự do thì tôi muốn đó, nhưng mà làm sao để có tự do? Hay là mình chỉ nói tự do thôi? Sự thật là khi mình bước một bước chân, tùy theo cách mình bước mà mình có tự do hay không có tự do. Một bước chân có thể buông bỏ tất cả, một ngàn con bò, hai ngàn con bò, ba ngàn con bò… Một bước chân thôi, buông bỏ hết. Cái đó là thiền hành. Đâu cần phải tu tám năm, hay mười năm mới làm được, chỉ cần đi một bước chân thôi, đi trong ý thức sáng tỏ. Mình muốn vượt thẳng ra khỏi cái thế giới hệ lụy mà lâu nay mình bị chìm đắm, trói buộc. Một hơi thở, một bước chân thôi có thể đưa mình ra khỏi liền. Bởi vì hơi thở đó có Niệm, Định, và Tuệ. Bước chân đó cũng có Niệm, Định, và Tuệ.

Chớ đợi ngày mai

Có ông thầy nọ có một người đệ tử. Hai người ở trong cái chùa rất là bận rộn. Chùa thành phố, thành ra bận rộn lắm. Không biết đó là thành phố nào? San Francisco hay là San Jose? Paris hay là Melbourne? Chùa chỉ có một ông thầy và một người đệ tử. Hôm đó, người đệ tử mới nảy ra một ý kiến, tôi gọi là “crazy idea”: “Bạch thầy, bữa nào thầy trò mình tổ chức đi picnic một bữa đi”. Tây phương họ thích đi picnic lắm. Picnic là chuẩn bị thức ăn, chuẩn bị đồ rồi đi chơi một ngày, khỏi làm gì hết. Ông thầy nói: “Hay lắm, hay lắm! Good idea!” Ông thầy chịu chơi. Ông thầy thấy rằng đệ tử của mình nó cần đi picnic, mà chính bản thân mình cũng cần đi picnic nữa. Không phải là ông thầy không thấy được sự thật đó. Đi chơi một ngày và buông bỏ hết, để chơi thôi. Hai thầy trò cùng đồng ý với nhau rồi thì còn gì hạnh phúc hơn nữa!

Nhưng mà ngày mai đi picnic không được. Ngày mốt đi picnic cũng không được. Ngày kia đi picnic cũng không được. Tuần này đi picnic không được, tuần tới đi picnic cũng không được. Cuối cùng, mấy năm trôi qua mà hai thầy trò chưa bao giờ có cơ hội để đi picnic hết. Đó là chuyện của ai vậy? Chuyện của hai thầy trò đó hay là chuyện của mình? Cho đến một ngày kia, hai thầy trò đi ngang thành phố thấy người ta đông ơi là đông, cờ xí, kèn trống rất nhiều. Thầy mới hỏi: “Nè con, họ làm cái gì vậy? Con ra coi họ đang làm cái gì vậy”. Đó là một cái đám ma. Người đệ tử đi ra một hồi, về báo cáo: “Bạch thầy, họ đang đi picnic!” Nếu mình không đi picnic hôm nay, thì đám ma của mình là cái picnic duy nhất của đời mình. Đó là câu chuyện thật xảy ra giữa một ông thầy và một đệ tử ở Tây phương, nhưng Đông phương cũng có thể xảy ra như vậy. Câu chuyện đó cũng không phải là câu chuyện của người khác; nó có thể là câu chuyện của mình.

Vì vậy, mình phải có cơ hội nhìn lại xem thử mình có đang đi trên con đường ngày xưa mình đã phát nguyện đi hay không, hay là mình đã, đang rẽ qua một con đường khác. Khi chúng ta đọc lại hành trạng của chư Tổ, chúng ta thấy mình có thể tự hào đã có những bậc thầy có khả năng buông bỏ, có khả năng đạt đến tự do.

Tập lìa thói cũ

Ở Làng Mai có truyền thống mỗi tuần có một ngày làm biếng. Có người hỏi: Tại sao dùng chữ làm biếng? Không hay gì hết! Phải nói đó là ngày nghỉ ngơi, day-off! Không biết day-off là off cái gì? Rất khó. Cái ngày đó gọi là ngày gì? Và trong hai chục năm nay đã có rất nhiều bạn bè đến làm áp lực để mình bỏ cái danh từ “làm biếng” đi. Họ nói mình dùng: “ngày nghỉ ngơi”, “ngày thực tập cá nhân” (personal practice), hay là “ngày không làm gì hết” (day-off) chứ dùng chữ “làm biếng” thấy không có vẻ đạo đức gì hết! Nhưng mà thầy trò ở đây đã ráng phấn đấu để giữ lại được cái chữ “làm biếng”, “lazy day”. Tại vì làm biếng khó lắm! Làm biếng, không làm gì hết là rất khó, vì mình đã có tập khí luôn luôn làm cái gì rồi.

Ở Tây phương, nghiện rượu gọi là “alcoholic”; có chương trình gọi là “12 steps program” để giúp người ta thoát khỏi tập khí gọi là uống rượu đó. Hiện giờ có một chữ mới gọi là “workaholic”. “Workaholic” là nghiện làm việc, tức là không làm việc chịu không nổi, ngã lăn ra chết liền. Lâu nay mình coi chuyện nhàn hạ là bất thiện, không làm gì hết là tội lỗi. Vì vậy, phải luôn luôn làm cái gì. Ông bà tổ tiên mình đã trao truyền cho mình tư tưởng đó: “Nhàn cư vi bất thiện”. Con đừng nên bao giờ nhàn cư. Nhàn cư là bất thiện. Con phải luôn luôn làm cái gì để cho ngày mai. Vì vậy cho nên bận bịu suốt ngày trở thành tập khí. Hai tay mà ở không, không làm gì thì khó chịu vô cùng; phải đi tìm cái gì để làm mới được. Nhất là chuyện mình nghĩ rằng phải làm, phải sản xuất để có đồng ra đồng vào.

Chuyện này đã trở thành tập khí không phải chỉ nơi một người, một gia đình, mà ở cả làng, cả xóm, cả tỉnh, cả nước. Tất cả mọi người đều bận rộn, và trở thành một đặc tính của nền văn hóa bây giờ. Tất cả đều bận rộn. Người nghèo bận rộn đã đành, mà người giàu “nứt đố đổ vách” cũng bận rộn không kém, có khi còn bận rộn hơn nữa. Người nghèo nói rằng: “À chừng nào mình có được từng này lợi nhuận thì đủ, có thể ngưng được”. Nhưng khi tới đây thì thấy: Tại sao không tăng thêm mức lợi nhuận? Tới đây rồi vẫn thấy không đủ, vẫn tiếp tục đi như vậy hoài.

Tại Làng Mai mình có tổ chức một khóa tu cho các nhà doanh thương. Mình thấy rằng những nhà doanh thương khó có bao giờ ngừng lại được. Trong đầu của họ cứ nghĩ làm sao để thành công hơn, để giàu hơn…, và họ không bao giờ ngừng lại được. Họ không có thì giờ cho họ. Họ không có thì giờ cho vợ, cho con, cho người thương. Những nhà doanh thương giàu có rất tội nghiệp! Đầu óc ngày đêm chỉ nghĩ đến chuyện: Không biết trong thị trường chứng khoán hôm nay cổ phần của mình tăng giá trị lên hay là sụt xuống? Trong khi vị Bồ Tát có biết bao nhiêu là không gian thì người này không có chút không gian nào hết. Tất cả thân, khẩu, ý của ông ta đều xoay về hướng thị trường chứng khoán, xem nó lên hay là nó xuống. Rất tội nghiệp! Giàu mà khổ vô cùng: Không có tình thương, không có sự nhàn hạ.

Vì vậy, ngày làm biếng của Làng Mai mình phải thực tập cho nghiêm chỉnh. Khi gặp nhau tại Làng Mai, thay vì hỏi “Sư anh có mạnh không? Có vui không?”, thì mình hỏi: “Sư anh hôm nay làm biếng có khá không?”. “Làm biếng khá” nghĩa là biết tận hưởng những giây phút của mình. Thật sự, ngày làm biếng nếu mình thực tập thành công thì có ảnh hưởng rất tốt cho các ngày không gọi là ngày làm biếng. Trong ngày làm biếng mình thực tập như thế nào để an trú sâu sắc trong từng giây phút.

Ngày làm biếng, mình cũng phải tắm giặt, cũng phải viết thư, cũng phải ăn cơm, cũng phải đi cầu, cũng phải chải răng; nhưng mà mình tắm giặt, viết thư, đi cầu, chải răng như thế nào để có hạnh phúc ngay trong khi làm những việc đó. Thành công trong ngày làm biếng thì những ngày theo thời khóa mình cũng có thể làm được như vậy: Ngồi thiền cũng hạnh phúc, đi thiền hành cũng hạnh phúc, chấp tác ngoài vườn cũng hạnh phúc, làm việc trong bếp cũng hạnh phúc… Luôn luôn có sự tươi mát, có sự trong sáng và có rất nhiều không gian thảnh thơi. Giá trị của người tu nằm ở chỗ đó. Nếu không có ba phẩm chất đó thì tu làm gì?

Nền văn minh của chúng ta có thể gọi là nền văn minh của sự bận rộn. Sự bận rộn đã trở thành một nhà tù giam hãm tất cả chúng ta. Nếu muốn thoát khỏi nhà tù đó, thì nhất thiết phải có ba loại năng lượng: Niệm, Định và Tuệ. Mình cầu chúc cho mọi người có thể nương vào Niệm, Định, Tuệ để thoát khỏi cái nhà tù bận rộn đó. Được như vậy thì mới có hạnh phúc chân thật. Hãy nhìn vào một vài người mà người ta thường ao ước, mong cầu, ví dụ như Tổng thống Bush, là người có quyền hành rất lớn. Trở thành tổng thống Mỹ là giấc mơ của rất nhiều người trai trẻ bên Mỹ. Chưa nếm mùi đó thành ra họ không biết. Ăn không ngon, ngủ không yên, lo lắng suốt ngày suốt đêm, ác mộng suốt đêm về tình trạng Iraq: Khạc không ra, nuốt cũng không vô, ngày nào cũng có những thanh niên chết bên đó.

Mình có đánh đổi đời sống của một ông thầy tu để lấy đời sống của một ông tổng thống hay không? Nếu mình làm giám đốc của một hãng xưởng lớn, thì suốt ngày mình phải lo lắng, bận rộn, không có một giây phút nào để nghỉ ngơi, không có hạnh phúc, không có thì giờ để thở, để đi những bước chân thảnh thơi… Khi mình làm một ông thầy tu, khi mình làm một người thực tập, thì mình có rất nhiều cơ hội, và mình phải có hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại.

Chẳng ở đâu xa

Tổ Lâm Tế đã thỉnh một tiếng chuông rất lớn. Nếu quý vị từng học Lâm Tế Lục, quý vị sẽ thấy rằng đời sống của Tổ Lâm Tế cũng như giáo lý của Ngài là một nhân bản luận rất hào hùng. Tổ không muốn mình ngồi đó để ăn những cái bánh vẽ, Tổ muốn mình có hạnh phúc, có tự do, có giác ngộ lập tức trong giây phút hiện tại. Pháp môn thiền đi của Làng Mai là trực tiếp lấy nguồn cảm hứng từ Tổ. Tổ nói: “Thần thông là khi mình đi trên mặt đất” (Địa hành thần thông). Đi như thế nào để mỗi bước chân đem lại giác ngộ, giải thoát và hạnh phúc. Đi như vậy giúp mình đi vào Phật địa, tịnh độ. Tịnh độ hay Phật địa nằm trong từng bước chân.

Tổ Lâm Tế còn nói: “Quý vị đi tìm Bụt hả? Quý vị đi tìm Tổ hả? Bụt là cái gì? Tổ là cái gì?” Hồi đó người ta đang mê cái gọi là “Tổ sư thiền”. Gặp được Tổ, Tổ nói một câu là mình giác ngộ liền, vì vậy mình đi tìm Tổ. Gặp được Bụt, ngồi bên Bụt thì giác ngộ liền. Vì vậy, có nhiều người chuyên môn đi bán Bụt, bán Tổ: “Tôi có Bụt thật. Tôi có Tổ thật. Anh tới đây, tôi bán cho”. Nhưng đó chỉ là bánh vẽ, không phải thật. Tưởng tượng vẽ một cái bánh chưng, rồi nói: “Anh ăn cái này đi!” Làm sao no được?

Trong Kinh Bách Dụ, Đức Thế Tôn có nói chuyện này: Có một anh đó bị bệnh. Ông thầy thuốc nói: “Bệnh của anh, nếu ăn chim trĩ thì hết”. Ông thầy thuốc bận quá, nói xong câu đó ông phải đi ngoại quốc. Anh này hiểu lầm, nghĩ rằng lập lại chữ “chim trĩ” như thần chú thì sẽ lành bệnh. Và anh cứ ngồi đó nói “Chim trĩ, chim trĩ, chim trĩ” suốt ngày. Không hết bệnh mà còn bệnh thêm nữa. Sau đó có một thiện tri thức nói: “Cả ngày anh lẩm bẩm cái gì vậy? Tại sao anh cứ ngồi nói “chim trĩ, chim trĩ, chim trĩ” hoài vậy?” Người bệnh nói: “Tại ông thầy thuốc nói chim trĩ trị hết bệnh”. “Anh ngốc quá đi, ông thầy thuốc nói rằng anh phải đi tìm con chim trĩ anh ăn. Anh biết con chim trĩ là như thế nào không? Đưa tôi tờ giấy tôi vẽ cho để anh biết con chim trĩ là gì”. Và người bạn ngồi đó vẽ ra con chim trĩ: “Con chim trĩ là con này nè! Anh phải đi tìm con này, ăn cho nhiều thì anh sẽ hết bệnh”. Anh chàng này vốn không có trí tuệ (hầu hết chúng ta đều như vậy hết), khi bạn đi khỏi rồi, anh lấy cái kéo cắt hình con chim trĩ đó ra nhai. Không hết bệnh, anh mới thuê thêm họa sĩ đến vẽ thêm những con chim trĩ khác để ăn thêm. Suốt mấy tháng cũng không hết bệnh.

Một hôm một người bạn khác đến: “Anh làm cái gì vậy? Anh vẽ cái gì mà nhiều vậy?” “Tôi vẽ chim trĩ. Tôi phải ăn nhiều mới hết bệnh”. “Anh dại quá đi. Làm sao ăn chim trĩ vẽ mà lành bệnh được? Anh đi với tôi ra ngoài chợ”. Người này nhất định giúp cho anh thành công. Hai người ra ngoài chợ, thấy bán con chim trĩ người bạn nói: “Anh phải mua về nấu cháo”. Và người đó cương quyết giúp anh cho tới nơi tới chốn: Mua về, làm thịt, nấu cháo, bắt anh ăn ngay trước mặt. Và anh lành bệnh.

Chuyện bánh vẽ Đức Thế Tôn cũng đã có nói tới, không nói bánh mà nói chim trĩ vẽ. Chúng ta suốt ngày nói Bụt, nói Tổ, nói giải thoát, nói giác ngộ, nói xã hội chủ nghĩa. Tổ Lâm Tế nói: “Quý vị đi tìm Tổ hả? Bụt là ai? Tổ là ai? Bụt với Tổ chính là quý vị đó! Đang ngồi trước mặt tôi, đang nghe Pháp đó”. Nếu trong giây phút hiện tại mà quý vị trở về với quý vị được và làm phát sinh ra Niệm, Định, Tuệ, thì quý vị đang chính là Bụt, là Tổ, đang sống trong tịnh độ, trong Phật địa. Đừng đi tìm xa. Ngài nói là mình phải nếm liền cái đó. Ở Làng Mai mình cũng làm như vậy. Mỗi bước chân nếu có Niệm, Định, Tuệ, thì bước chân đó đưa mình vào ngay trong tịnh độ, niết bàn, giải thoát. Vấn đề là vấn đề của giây phút hiện tại chứ không phải là vấn đề ao ước trong tương lai. Phật độ, giải thoát, giác ngộ không phải là vấn đề tương lai. Đó là vấn đề hiện tại.

Một cụm từ ở trong giáo điển mà phần lớn chúng ta đều không nhớ là “hiện pháp lạc trú”. “Hiện pháp lạc trú” là phải có hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Chữ “Hiện pháp” có nghĩa là những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại, mình dịch là “the present moment”. “Lạc” tức là hạnh phúc. Mình sống, an trú với hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại gọi là “hiện pháp lạc trú” (drstadharmasukhavihara). Vihara có nghĩa là trú, sukha có nghĩa là lạc, và drstadharma có nghĩa là hiện pháp. Cái mình đi tìm là tự do, hạnh phúc, giải thoát. Đi tìm ở đâu nếu không ở trong từng bước chân, trong từng hơi thở, trong từng bữa ăn sáng? Ăn sáng như thế nào mà trong thời gian ăn sáng đó mình an trú trong tịnh độ, trong giải thoát, trong tự do, không phóng tâm về tương lai, không phóng tâm về chỗ nào khác, hoàn toàn thiết lập trong giây phút hiện tại. Làng Mai là chỗ quý vị tập sống như vậy.

Sống được như vậy vài ba ngày rồi thì về trú xứ của mình, quý vị cũng thấy tịnh độ, cũng thấy an lạc, cũng thấy giải thoát. Đó là tại vì quý vị đã biết chế tác ba nguồn năng lượng Niệm, Định, và Tuệ. Chính ba nguồn năng lượng đó vớt mình ra khỏi thế giới của hệ lụy, và mình không phải đợi tới giờ phút đám ma thì mới bắt đầu cuộc picnic của mình. Mình phải picnic ngay trong giây phút hiện tại.

_________________

Ghi chú:[1] Tên một bài hát của Tịnh Thủy.
(Pháp Thoại của Sư ông Làng Mai, ngày 14.12.2006 tại Xóm Thượng, chùa Pháp Vân, Làng Mai, khóa an cư kết đông)

 

Tình nghĩa

 

Sư Tử Tìm Con

Đức Thế Tôn kể chuyện: Có một con sư tử đang mang thai một em bé sư tử. Đã gần đến ngày sinh, nhưng sư tử mẹ vẫn phải đi kiếm mồi. Sư tử cha phải làm công việc che chở bảo vệ, không cho những gia đình sư tử khác xâm chiếm vùng gia đình nó đang sinh sống. Sư tử cha xây dựng hàng rào lãnh địa của mình bằng cách đi tiểu xung quanh. Cái hàng rào được làm bằng mùi nước tiểu. Và bất kỳ con sư tử nào, dù lớn hay nhỏ, nếu bước vào lãnh địa này, sư tử cha liền tìm cách cản lại.

Hôm đó, trong khi săn mồi, sư tử mẹ đuổi theo một con nai. Bụng sư tử mẹ đã lớn nên nó rất mệt, lại vì đang đói nên không thể nào chạy nhanh được. Đến gần một thung lũng, con nai nhẹ nhàng nhún mình nhảy qua. Sư tử mẹ phải dùng hết sức lực rướn mình nhảy theo. Trong khi nhảy từ bên này qua bên kia sườn núi thì sư tử mẹ sảy thai. Sư tử con rơi từ trong lòng sư tử mẹ, rớt xuống thung lũng. Mất con, sư tử mẹ đau buồn, tuyệt vọng, không muốn đuổi theo con nai nữa. Nó nghĩ rằng: “Con ta rớt xuống thung lũng chắc chắn đã tan xương nát thịt rồi”.

Hơn một năm sau, đang đi trong rừng, sư tử mẹ thoáng thấy một con sư tử con. Con sư tử con này có điệu bộ của một con khỉ. Nó cũng leo cây, cũng kêu chét chét, cũng ăn trái cây. Thường thì sư tử không ăn trái cây, nó không ăn chay. Nhưng con sư tử con này không những leo cây và nói tiếng khỉ giỏi mà ăn trái cây cũng rất giỏi. Sư tử mẹ nhận ra ngay đứa con của mình. Biết con mình còn sống, nó mừng lắm. Nhưng sư tử con không có cảm giác gì hết khi nhìn thấy sư tử mẹ. Nó không thấy sư tử mẹ có dính líu gì tới nó và nó còn muốn lẩn trốn sư tử mẹ nữa. Nó nghĩ: “Bà này buổi sáng đi ngang qua đây không biết tại sao cứ nhìn mình quá trời! Mình không thích!” Sư tử con chơi với bầy khỉ, leo lên cây, nói chuyện chét chét bằng ngôn ngữ khỉ, và làm đủ mọi trò giống hệt như khỉ. Cách nó nhìn, cách nó chơi, cách nó nói, cách nó hái và nhai trái cây đều giống hệt như khỉ.

Sư tử mẹ nghĩ rằng mình nên kiên nhẫn một chút, nên đi lại vùng này thường xuyên, chọn những lúc sư tử con không bị bao bọc bởi những con khỉ khác để tới làm quen. Một hôm, sư tử mẹ thấy sư tử con một mình đi tới, nó nói: “Con của mẹ ơi, đi chơi với mẹ đi!” Sư tử con nghĩ: “Cái bà này vô duyên thiệt, mình là con của bà hồi nào! Mẹ mình là khỉ. Mẹ rất dễ thương. Mẹ kể rằng: Hơn một năm cách đây, mẹ đang hái trái cây trong một cái thung lũng thì tự nhiên có một cục gì từ trên trời rơi xuống. Sẵn tay mẹ hứng lấy thì thấy đó là một sinh vật rất mềm, dễ bị thương tích. Mẹ mình đem mình về nuôi và cho mình bú, cho học nói tiếng khỉ, cho ăn trái cây và tập cho leo cây. Mẹ mình dễ thương chứ cái bà này vô duyên quá! Bà có dính líu gì tới mình mà dám gọi mình bằng con, xưng là mẹ và còn rủ mình đi theo nữa. Thật là vô duyên”.

Sư tử con có vẻ giận. Nó nói: “Thôi đi bà! Bà đi ngay đi, đừng nói nữa. Tôi ghét bà lắm!” Sư tử mẹ học được một bài học. Nó biết rằng nó phải kiên nhẫn nhiều. Đứa con của mình không biết nó là sư tử, cứ tưởng nó là khỉ. Nó đã tưởng như vậy bao nhiêu ngày, bao nhiêu tháng. Bây giờ, mình nói nó không phải là khỉ, nó là sư tử, nó sẽ không chấp nhận, và như vậy mình không bao giờ khôi phục lại được đứa con này.

Một lần khác sư tử mẹ gặp lại sư tử con. Nó nói: “Cô ơi, tôi xin lỗi cô nhé! Hôm trước tôi khờ dại quá! Tôi lầm, tôi tưởng cô là con của tôi, tôi tưởng cô là sư tử, ai dè tôi nhìn lại, tôi thấy cô là khỉ. Tại sao mà tôi lại nói cô là con của tôi được! Cho tôi xin lỗi nghe, từ rày về sau tôi sẽ không làm như vậy nữa” Sư tử con đáp: “Đúng! Tôi là khỉ mà bà kêu tôi là sư tử, là con của bà, như thế là sai. Nhưng bà đã biết lỗi thì tôi tha lỗi cho bà”. Sư tử mẹ hỏi: “Vậy thì mình đi chơi với nhau được không?” Sư tử con đáp “Ừa”. Hai mẹ con đi chơi.

Tới một bờ suối, chỗ đó nước trong và lắng, có thể soi bóng được, sư tử mẹ cúi xuống soi mình vào. Sư tử con thấy bạn mình soi bóng ở trong nước cũng lại gần và soi, nó rất ngạc nhiên thấy ở dưới nước có bóng một con sư tử lớn bên cạnh một con sư tử con. Sư tử mẹ le cái lưỡi ra, ở trong nước con sư tử lớn cũng le cái lưỡi. Sư tử mẹ đưa chân trước ra, sư tử lớn trong nước cũng đưa chân trước ra. Người bạn mới cũng bắt chước làm theo và con sư tử nhỏ trong nước cũng le lưỡi, cũng đưa chân ra.

Nó bắt đầu nghi ngờ rằng, có thể sư tử mẹ đã nói đúng. Sư tử con còn đang trong tâm trạng như vậy, thì sư tử mẹ gầm lên một tiếng vang dội. Tự nhiên sư tử con cũng ngứa cổ và cũng bắt chước gầm lên. Lạ thay miệng nó không phát ra âm thanh chét chét của khỉ nữa mà phát ra tiếng gầm của loài sư tử, mãnh liệt vô cùng. Sư tử mẹ nhìn sư tử con mỉm cười. Nó nhảy một cái qua bên suối, đi vào rừng. Sư tử con cũng mỉm cười lại, rồi nhảy một cái vượt qua suối, theo sư tử mẹ vào rừng. Nó giác ngộ rằng, nó không phải là loài khỉ mà là loài sư tử. Từ đó, hai mẹ con được đoàn tụ, hạnh phúc lâu dài.

Sau khi kể câu chuyện này, Đức Thế Tôn nói rằng con người chúng ta cũng như vậy. Mình có Phật tính, mình là con của Bụt mà mình không biết. Mình tưởng rằng mình là con của ma. Mình có mặc cảm mình thấp kém, xấu xa, tội lỗi, hư hỏng, yếu đuối. Mình không đáng giá một đồng xu. Mình đã đánh mất niềm tin nơi chính bản thân. Trong khi đó mình có Phật tánh. Nếu nhìn cho kỹ thì thấy rằng trong mình có những hạt giống của từ, bi, hỷ, xả, hạnh phúc, niềm tin, hiểu biết và tuệ giác. Vì vậy ta đừng nghĩ rằng Phật là một cái gì ở ngoài mình, còn ở trong ta không có gì hết, chỉ có khổ đau thôi. Giống như sư tử con nghĩ nó không phải là sư tử. Do đó, nó đã từ chối khi mẹ nó tới kêu nó, gọi nó là con.

Trong những ngày đầu của mùa hè năm nay, chúng ta đã được học: chúng ta thuộc về truyền thống thiền của Tổ Lâm Tế. Tổ Lâm Tế đã dạy chúng ta nhiều lần: đừng có đi tìm Phật ở bên ngoài, Phật đang nằm ở ngay trong tâm của mình, mình chính là Phật, mình chính là con Phật. Mình có thể là Phật được nếu mình muốn. Phật là gì, Bụt là gì? Bụt là khả năng tha thứ, khả năng thương yêu, khả năng hiểu biết, khả năng từ bi, khả năng trí tuệ. Con người có những hạt giống đó. Con người có khả năng làm được chuyện đó. Ngày xưa Đức Thế Tôn cũng là một con người, nhờ có niềm tin rằng con người có thể giác ngộ được mà Đức Thế Tôn đã thực tập phát triển được Phật tánh trong người của Ngài, phá tan tất cả mọi mặc cảm. Đức Thế Tôn không đi tìm cái Chân, Thiện, Mỹ ở ngoài, mà tìm ngay trong lòng mình. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh:“Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”.

Nếu mỗi ngày chúng ta tưới tẩm được những hạt giống tha thứ, bao dung, thương yêu và hiểu biết thì càng ngày chúng ta càng thấy rõ rằng chúng ta thuộc về dòng giống Phật, chúng ta không còn mặc cảm tội lỗi nữa. Chúng ta sẽ không đi kiếm Phật ở ngoài nữa, chúng ta có thể tiếp xúc với Phật ngay ở trong lòng của chúng ta.

Bụt thở cho con

Ngày xưa khi mới đi xuất gia, lúc mười sáu tuổi, tôi có học bài kệ thỉnh chuông:

“Văn chung thanh, phiền não khinh.
Trí tuệ trưởng, bồ đề sanh.
Ly địa ngục, xuất hỏa khanh.
Nguyện thành Phật, độ chúng sanh”.

Nghĩa là: Nghe tiếng chuông thì cảm thấy những phiền não trong lòng mình trở nên vơi nhẹ, trí tuệ trong mình phát triển, lìa khỏi những khổ đau của địa ngục, tức là những ngọn lửa thiêu đốt của tham dục, sợ hãi và hận thù. Con nguyện sẽ trở thành một vị Phật để độ cho chúng sanh. Và sau mỗi thời công phu, tôi cũng được đọc câu:

“Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ.
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”.

Nghĩa là: Tất cả chúng sanh đang đau khổ số lượng đông đảo không thể đếm được, con muốn cứu độ tất cả, không bỏ sót một ai. Phiền não nhiều vô tận, con nguyện chuyển hóa hết. Những lời dạy thâm sâu của đức Phật và những pháp môn Ngài đưa ra nhiều không thể đo lường hết được, con nguyện tu tập hết. Con đường thành Phật cao viễn tột cùng, con nguyện đi tới tận cùng để thành Phật. Những bài kệ đó cho thấy rõ ràng mục đích của người tu là được thành Phật. Thành Phật là chuyện có thể làm được. Lý tưởng của người tu là để thành Phật, chứ không phải để làm những chuyện khác như là làm chùa lớn, hay lập hội để làm chủ tịch, làm hòa thượng pháp chủ, hay làm trụ trì.

Mục đích tu là để trở thành Phật thôi, đâu có thể nào khác được. Hồi mười sáu tuổi mình đã được học rất rõ ràng như vậy rồi. Nhưng lúc đó, mình còn nghĩ rằng thành Phật chắc lâu lắm mới được, phải từ kiếp này sang kiếp khác, đời này qua đời khác. Nếu có người tự xưng tôi là Phật Di Lặc giáng sinh, tôi là Phật Thích Ca, hay tôi là Bồ tát Quán Thế Âm đây, thì mình nghĩ: Ông này chắc là điên rồi. Mình còn là chúng sanh sờ sờ, tham, sân, si còn nhiều, tự ái còn nhiều, xưng là Phật thì ai mà tin được.

Nhưng có một hôm, đang đi thiền hành, đi rất hay, sự nhất tâm rất cao, có niệm, có định, và có tuệ, hạnh phúc rất lớn, tự nhiên tôi có cảm tưởng rằng đây đâu phải là một chúng sanh đang đi, đây là một đức Phật đang đi. Trong con người mình lúc đó có một người đang đi thiền hành và một người đang quán sát. Người quán sát đó nói rằng: “Đây đâu phải là một chúng sanh đang đi, đây là một vị Phật đang đi”, tại vì mình thấy rõ ràng mỗi bước đều có niệm, có định, có tuệ, có hạnh phúc và có giải thoát, không luyến tiếc quá khứ, không mơ ước tương lai. Trong con người của mình có một quán sát viên và một diễn viên. Diễn viên này không có ý muốn trình diễn để cho người ta coi, mà thực sự đang đi với tất cả hạnh phúc. Đi không với mục đích để dạy người ta, để làm mẫu cho người ta đi theo, mà đi giống như một đức Phật đang đi vậy.

Nhớ lại năm đó, tôi và một số các vị xuất gia ở Làng Mai qua hoằng pháp ở Đại Hàn. Hôm đó, cảnh sát đã chặn đường một đại lộ lớn tại Hán Thành để cho mấy ngàn người đi thiền hành. Khởi đầu buổi thiền hành, tôi đứng trên cái bục cao để hướng dẫn mọi người thiền hành làm sao cho có an lạc trong từng bước chân. Sau khi hướng dẫn xong, bước xuống bục để bắt đầu đi thì tôi không có lối để đi. Thiên hạ bao quanh rất đông. Hàng trăm ống kính của máy chụp hình, máy quay phim bao quanh tôi. Không chỉ có những nhà báo mà thôi, người thường cũng có máy ảnh và máy quay phim rất nhiều.

Lúc đó, tôi thấy khó quá! Đi thiền hành như vậy làm sao đi được! Tôi tự nhủ rằng mình chịu thua thôi, mình để Bụt đi giùm mình. “Bụt ơi, con chịu thua rồi! Xin Ngài đi giùm con!” Tự nhiên trong tôi Bụt hiện ra, Bụt bước xuống, Bụt đi một bước, hai bước rất chánh niệm, rất vững chãi. Rừng người từ từ rẽ ra, nhường lối cho Bụt đi. Thật hay. Mình không yêu cầu quý đạo hữu rẽ ra để có đường cho mình đi, mình không phải nói với ai như vậy hết. Bụt ở trong mình lãnh trách nhiệm này. Ngài chỉ cần bước một bước, hai bước là tự nhiên hoàn cảnh trở nên rất thuận lợi. Nhìn cho kỹ thì đức Bụt đó không phải ở ngoài mình, đức Bụt đó ở trong mình. Mình đã tập luyện lâu ngày rồi. Khi Bụt đi thiền hành thì ngài không có cố gắng gì hết, Bụt đi thật tự nhiên, thảnh thơi, thật giải thoát.

Trong mỗi người của chúng ta có Bụt và có ma. Ma nói rằng: “Đi thiền hành mệt quá! Bây giờ mình muốn về nằm trên cái giường của mình cho khỏe”. Mình trốn đi thiền hành, đó là do ma ở trong con người mình xúi. Nhưng trong con người mình cũng có Bụt. Tại vì khi đi thiền hành, Bụt đi rất hay, rất hạnh phúc, đầy năng lượng. Mỗi bước chân đem tới an lạc, thảnh thơi, chuyển hóa, trị liệu, nuôi dưỡng. Trong con người mình có hai yếu tố: một là yếu tố Bụt, hai là yếu tố ma. Ma này cũng hiền thôi. Đó là ma làm biếng, ma nghi ngờ, ma mặc cảm cho rằng mình không giỏi, ma trốn đi công phu, ngủ nướng thêm mười lăm phút nữa… Ma đó cũng dễ thương thôi. Bụt đối với ma không hề có khiển trách, không đánh đập, không trừng phạt. Bụt rất dễ thương, Bụt luôn luôn nói: “Thôi mà! Dậy đi cho rồi, ma!” Bụt cư xử với ma như một người anh với người em của mình. Trong những tuần của khóa hè này, các thiền sinh của chúng ta đã được học rằng trong con người mình, Bụt luôn ôm lấy ma như một người anh ôm lấy đứa em vậy.

Làng Mai có nhiều thầy giỏi về máy tính, trong đó có thầy Pháp Ấn, hễ thấy sư em nào có khó khăn về máy vi tính thì sư anh Pháp Ấn tới giúp và giải quyết rất nhanh. Mình loay hoay với cái máy vi tính hơn một giờ đồng hồ rồi mà không làm gì được. Thấy sư anh đi ngang qua, mình mừng quá! Sư anh nói xích qua bên kia một chút. Sư anh ngồi vô mới có một hai phút đã xong. Rất hay. Sư anh đó tức là Bụt trong người của mình. Mỗi khi mình làm biếng, mình mệt nhọc, mình nghi ngờ, mình thấy khó khăn, thì mình nói: “Sư anh ơi, làm giùm em đi!” Sư anh giúp đỡ đó tức là Bụt ở trong mình.

Nếu mình thực tập khôn khéo thì mình để cho Bụt làm hết mấy chuyện mà mình làm biếng làm. Và tôi đã thực tập như vậy. Cho nên trong khóa này quí vị có một bài kệ mới để sử dụng trong khi đi thiền hành: “Để Bụt thở, để Bụt đi, mình khỏi thở, mình khỏi đi”. Mà Bụt luôn luôn thở rất hay và đi rất hay. Trong khi Bụt thở, trong khi Bụt đi thì mình có thể làm biếng được. Bụt như một người anh luôn luôn ôm lấy em mình, thở và đi cho em mình. Trong khi Bụt thở, Bụt đi thì mình được hưởng cái thở và cái đi. Câu đầu là: “Để Bụt thở, để Bụt đi, mình khỏi thở, mình khỏi đi”. Mầu nhiệm quá!

Sau khi thực tập được chừng vài ba phút, mình thực tập đoạn kệ thứ hai: “Bụt đang thở, Bụt đang đi, mình được thở, mình được đi”. Trong mình có phần làm biếng và có phần siêng năng. Phần siêng năng ôm lấy phần làm biếng để đi giùm, và phần làm biếng được thừa hưởng. Quý vị cứ thực tập đi rồi biết. Khi nào thấy khó khăn, chán nản, làm biếng thì mình nói: “Thôi Bụt ơi, Bụt làm giùm con đi!” Bụt sẽ chấp nhận làm liền. Bụt làm rất hay.

“Để Bụt thở, để Bụt đi, mình khỏi thở, mình khỏi đi”. Sướng lắm, mình đâu có cần làm gì đâu, Bụt làm hết. Công nhận là Ngài đi thiền hành rất là hay! Và Ngài ở trong mình chứ không phải ngoài mình. Hạnh phúc lắm, được đi với Bụt và được Bụt làm cho hết, mình chỉ hưởng thụ thôi. “Để Bụt thở, để Bụt đi, mình khỏi thở, mình khỏi đi”. Kế tới là: “Bụt đang thở, Bụt đang đi, mình được thở, mình được đi”. Sau một ngày học hỏi hoặc làm việc mệt nhọc, mình được tắt đèn đi ngủ, nằm trên giường có nệm êm, chăn ấm, mình phải hưởng cái đó. Mình có thể nói: “Bụt nằm thở, Bụt nghỉ ngơi, mình được nằm thở, mình được nghỉ ngơi”. Nằm xuống, đừng suy nghĩ vớ vẩn, ý thức là mình đang có dịp được nghỉ ngơi, được nằm trên giường của mình, khỏi phải làm gì hết, chỉ thở cho nhẹ để hơi thở đưa mình vào giấc ngủ. Mình cũng mời Bụt thở, mời Bụt nghỉ ngơi, và mình cũng thở theo, nghỉ ngơi theo. Mình sẽ đi vào giấc ngủ rất dễ dàng.

Hôm ấy đi thiền hành, tôi đã đi thật hay, tại vì tôi đã mời Bụt đi và Bụt đã đi quá hay. Mình nhờ Bụt làm cái gì Bụt cũng làm hay cả. Có nhiều lúc tôi đánh răng, tôi mời Bụt đánh răng, thì Bụt đánh răng rất hay, đánh răng rất chánh niệm, rất hạnh phúc. Có một bữa, tôi viết thư pháp, vẽ vòng tròn, vẽ vòng tròn thì mình muốn vẽ cho thật tròn và cho tự nhiên. Bữa đó tôi nói:“Thôi để Bụt vẽ, mình vẽ làm chi cho mệt”. Bụt vẽ rất hay. Mình vẽ thì mình còn sợ đẹp hay không đẹp, còn Bụt vẽ, Bụt chẳng sợ gì hết. Và vì không sợ cho nên rất đẹp. Mình cứ thử đi. Mầu nhiệm lắm.

Bụt luôn luôn có mặt hai mươi bốn giờ đồng hồ một ngày cho mình. Vậy mà mình cứ đi kiếm Bụt ở đâu đâu. Kiếm ở trên trời, kiếm ở bên Tây phương, kiếm ở trên bàn thờ, kiếm ở trong chùa. Không phải. Bụt ở trong chùa là Bụt bằng đồng, Bụt bằng xi măng, còn Bụt ở trong mình là thật, là trí tuệ, từ bi, giải thoát, tha thứ, bao dung. Khi gặp một người khó chịu, mình thấy mệt quá, mình chịu thua. “Bụt nói chuyện gì với người này đi cho con khỏi nói”. Thì Bụt sẽ nói và sẽ nói rất hay, rất từ bi. Quý vị nên nương tựa vào Bụt ở trong mình. Bụt ở trong mình hay lắm. Mỗi lần mình nương tựa như vậy, mình giao phó cho Bụt làm thì Bụt càng ngày càng sáng, càng rõ trong mình. Đó là thực tập quy y Phật một cách rất thực tế. Nói con về nương tựa Phật, đó chỉ là nói thôi, chưa phải là quy y thật. Quy y thật là phải để cho Bụt có mặt trong mỗi giờ phút của đời sống hàng ngày.

Tôi đã quyết định rồi, đến giờ tôi chết thì tôi sẽ nói: “Bụt ơi chết giùm con”. Và Bụt sẽ chết một cách rất an nhiên, hạnh phúc. Mình được chết theo cái kiểu đó thì rất khỏe. Vấn đề thành Phật không phải là vấn đề xa xôi, kiếp sau hay là ngàn muôn kiếp sau. Vấn đề thành Phật là vấn đề bây giờ, ở đây. Mình thành Phật trong mỗi giây phút. Khi mình nương tựa Phật là mình để cho Bụt làm, để cho Bụt thở, để cho Bụt đi. Mình đang từ từ thành Phật đó. Và khi mình nói rằng mình là Phật, thì không phải là mình điên đâu. Trước đây, mình thấy ai tự xưng là Phật thì mình nghĩ người đó điên rồi. Nhưng theo đúng pháp môn này thì thành Phật là vấn đề mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút.

Phật sanh bất nhị

Mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút, mình đều phải thành Phật. Tổ Lâm Tế nói Phật và chúng sanh không phải hai thực thể riêng biệt: “Phật sanh bất nhị”. Căn bản của giáo lý Lâm Tế là “Phật sanh bất nhị”. Phật và chúng sanh không phải là hai thực thể tách rời nhau. Ở trong chúng sanh có Phật. Nếu chúng sanh thông minh thì chúng sanh biết rằng trong mình có Bụt. Cho nên dầu mình có lo lắng, buồn khổ, mặc cảm, làm biếng cũng đừng lo. Để Bụt lo thì tự nhiên những phần Bụt trong mình phát hiện và những phần chúng sanh ở trong mình sẽ được hưởng. Nếu mình lười đi thiền hành thì: “Để Bụt thở, để Bụt đi, mình khỏi thở, mình khỏi đi”. Trong khi Bụt đi thì mình hưởng: “Bụt đang thở, Bụt đang đi, mình được thở, mình được đi. Bụt là thở, Bụt là đi, mình là thở, mình là đi. Chỉ có thở, chỉ có đi, không người thở, không người đi. An khi thở, lạc khi đi, an là thở, lạc là đi”. Mình phải học thuộc các bài đó. Đó là bài kệ đặc biệt của khóa tu mùa hè năm nay mà quí vị có thể sử dụng trong khi đi thiền và ngồi thiền.

Ban đầu thì thấy giống như có hai người: một là Bụt, hai là mình. Nhìn từ từ một hồi thì hai người là một. Mình với Bụt là một. Chúng sanh là Phật, Phật là chúng sanh. Có một nhà văn nọ viết cuốn sách với đề tài “Tìm Phật ở đâu?” Dễ ợt, đâu cần phải viết tới một cuốn sách, chỉ một bài kệ là đủ rồi. Rất nhiều người Phật tử nghĩ rằng mình là con số không, mình chỉ là khổ đau, thất bại, ganh tỵ, giận hờn, tội lỗi. Mình tới chùa để kiếm xin chút xíu từ Bụt: “Bụt ơi, ngài là toàn vẹn, ngài là tuyệt hảo, còn con là con số không”, và mình lạy xuống để ăn mày một chút công đức. Phần lớn chúng ta đều hành trì như vậy cả. Nhưng Tổ Lâm Tế hét một cái: “Đồ ngu! Con là Phật đó!” Đừng có làm kiếp ăn xin, đừng có tưởng mình là dòng giống khỉ. Mình là dòng giống sư tử.

Và vì vậy, Đức Thế Tôn với câu chuyện sư tử con và câu mắng “đồ ngu” của Tổ Lâm Tế, hai cái đó đi đôi với nhau. Mình là đồ ngu tại vì mình tưởng mình chỉ là khổ đau, là con số không, là chúng sanh tội lỗi, còn Phật là cái gì ở ngoài mình, rất xa vời. Trong truyền thống Cơ Đốc giáo có ý niệm lưỡng nguyên: tạo hóa và tạo vật (creator & creature). Thượng đế là tạo hóa, làm ra cái thế giới loài người. Mình chỉ là tạo vật, mình không phải là tạo hóa. Trong lịch sử hai ngàn năm của Thiên chúa giáo, các tín hữu Thiên Chúa giáo bị kẹt vào ý niệm lưỡng nguyên đó rất nhiều. Nhưng không có nghĩa là tất cả các tín hữu Thiên Chúa giáo đều bị kẹt. Có nhiều người vượt thoát được, họ tự do.

Trong truyền thống Thần bí (Mystic) của Thiên Chúa giáo, cũng như trong giáo hội Chính thống (Orthodox), người ta cũng thấy được rằng mình là thiêng liêng, và Thiên chúa chính là mình. Cũng có người thấy được như vậy, nhưng họ chỉ là số ít thôi. Cũng như sóng và nước, chúng ta hãy tưởng tượng một đợt sóng đi tìm nước. Đợt sóng nghe nói rằng nước không bị lên xuống, nước là không sinh, không diệt, không tới, không đi. Còn sóng cứ lên xuống, tới đi, thành ra sóng phải đi tìm nước. Tìm hoài chẳng thấy nước. Ai dè sóng chính là nước. Chúng sanh cũng vậy, chúng sanh đi tìm Phật giống như một đợt sóng đang đi tìm nước. Buồn cười đến như vậy. Cho nên Đức Thế Tôn mới kể câu chuyện sư tử con. Và sư tử mẹ phải dùng nhiều phương tiện khéo léo mới giúp được cho sư tử con biết rằng mình chính là sư tử, thuộc về dòng giống sư tử.

Chuyện người cùng tử

Trong kinh Pháp Hoa cũng có câu chuyện người cùng tử. Có một ông nhà giàu mất đứa con trai. Một ngày nọ, ông gặp lại đứa con trai trong tình trạng tha phương cầu thực, làm đủ mọi nghề để kiếm ăn. Đứa con trai về tới quê mà không biết được gốc tích của nó, tới xin công ăn việc làm tại gia đình ông nhà giàu đó. Nó xin làm những công việc như đi đổ thùng phân, hay đi đổ rác. Ông phú hộ nhìn thấy đứa con, biết đây là con của mình, nhưng bảo nó tới gần thì nó sợ. Và nếu ông nhận nó là con thì nhất định nó không tin. Vì vậy ông mới ra lệnh cho những người phụ tá ra gặp đứa con. Họ đã giao cho nó một việc rất tầm thường và ít lương và nó đã bằng lòng. Ít lâu sau, người con đó được cất nhắc từ từ lên những chức vụ cao hơn. Dần dần nó được làm hầu cận, rồi làm phụ tá ông. Đến khi thân cận rồi thì ông mới tiết lộ rằng nó là con của ông. Lúc ấy nó mới chấp nhận. Nếu như hai cha con mới gặp nhau lúc đầu mà nói: “Này con, con là con của ba. Con tới đây”, nó sẽ không bao giờ tin và sẽ bỏ chạy. Đó là câu chuyện người cùng tử ở trong kinh Pháp Hoa. “Hỡi người giàu sang bậc nhất, tha phương cầu thực xưa nay. Hãy thôi làm thân cùng tử, về đây tiếp nhận gia tài”. Gia tài đó là bản tánh.

Tình Nghĩa

Trái tim màu xanh

Trong tiếng Việt có chữ tình lại có chữ nghĩa. Chữ Nghĩa là chữ rất khó dịch ra tiếng Pháp, tiếng Anh. Chữ tình (amour, love) viết ra chữ Hán (情), bên trái có bộ tâm (心) tức là trái tim, bên phải có chữ thanh (青) là màu xanh lục. Trái tim màu xanh. Trái tim ban đầu thì màu xanh, sau có thể biến màu thành màu khác, nhưng làm sao để nó đừng thành màu đen. Cái tình lúc ban đầu thì rất bồng bột, nóng bỏng, có tính chất đam mê. Đó là bản chất của tình. Khi đang bị năng lượng tình chiếm cứ thì mình không được an ổn lắm. Ăn không an, mà ngủ cũng không an, giống như bị đốt cháy vậy. Đó là ngọn lửa. Người nào có đi qua rồi thì biết. Khó an trú trong hiện tại lắm, cứ nghĩ tới cái giây phút mình sẽ được gặp người đó, được ngắm nhìn người đó, chỉ ngồi ngắm không là đủ no rồi, khỏi cần ăn. Càng nhiều trở ngại chừng nào thì đam mê càng lớn chừng nấy. Sự trở ngại là một chất liệu làm cho tình yêu càng lớn mạnh (lễ giáo, công ước xã hội, v.v…). Hoàn cảnh dễ dàng quá thì nó không lớn mạnh.

Ngày xưa chưa có điện thư, điện thoại, đôi khi đợi một lá thư tình phải chờ từ tuần này sang tuần khác. Và mỗi ngày bồn chồn tự hỏi: Đáng lý ngày hôm qua lá thư đó phải tới rồi, nhưng sao nó chưa tới? Mình đợi cả hai mươi bốn giờ đồng hồ, cho tới cái giờ mà ông phát thư đi ngang qua trước ngõ. Ông phát thư thường đi qua lúc mười giờ sáng, lúc chín giờ mình đã bắt đầu đợi. Ông phát thư sáng nay sao mà đi trễ quá, đi chậm quá! Mình đếm từng bước của ông ta. Và nếu ông đi ngang qua mà không dừng lại thì mình buồn lắm. Phải đợi hai mươi bốn giờ đồng hồ nữa. Khi bị tình yêu chiếm cứ, mình không có khả năng an trú trong hiện tại.

Ai có qua cầu mới hay. Nó có sự bồng bột, sự đốt cháy. Nó không có được sự an ổn. Cho nên ở Tây phương, người ta nói khi yêu tức là mình bị té, bị ngã (tomber amoureux, falling in love). Đang đi bình thường tự nhiên té xuống. Người Việt Nam thay vì nói té thì nói ốm, nói cảm. Tây phương cũng nói ốm (love sick). Nguyễn Bính có viết hai câu thơ: “Gió mưa là bệnh của trời, tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”. Trời tốt đẹp thì không bị bệnh, mà hễ có gió, có mưa là bị bệnh. Tương tư tức là cứ ngồi đó mà nhớ nhau, không làm ăn được gì hết. Và càng nhiều trở ngại chừng nào, thì cái tình càng mạnh chừng đó. Nó rất bồng bột, nó làm cho mình bất an. Nếu không được thỏa mãn, nó sẽ làm cho mình sầu, mình ốm tương tư. Ốm tương tư là nhớ quá thành bệnh, như nàng Mỵ Nương với chàng Trương Chi. Thành ra, tình yêu là một cơn bệnh (C’est une maladie). Tình yêu bùng lên rất mạnh nhưng nếu được dễ dàng thỏa mãn thì nó chết cũng rất mau. Đam mê như một ngọn lửa lên rất cao, khi tàn lụi cũng rất là mau.

Keo sơn ơn nghĩa

Một cặp vợ chồng ở được với nhau lâu dài, đó không phải là nhờ tình yêu mà nhờ cái thứ hai là nghĩa (義) Nếu mình biết yêu cho đàng hoàng, thì tự nhiên từ cái tình đưa tới cái nghĩa. Và chính cái nghĩa đó là keo sơn gắn chặt hai người, để hai người có thể sống được lâu dài với nhau. Cho nên phải nuôi cái nghĩa. Người ta không thể sống trăm năm với nhau bằng tình được. Tình là một đam mê (passion), tàn lụi rất mau. Nghĩa là một cái gì bền chặt hơn nhiều. Nghĩa đi đôi với chữ ơn – ơn nghĩa. Ơn đầu tiên mình cảm nhận được của người kia là khi ý thức rằng: Có biết bao nhiêu người, tại sao anh ấy không chọn, mà lại chọn mình? Có biết bao nhiêu người con trai có bằng cấp, có địa vị, tại sao nàng không chọn, mà nàng chọn ta? Đó là cái ơn mà mình ý thức được. Ý thức đó làm mình có thể biết ơn suốt đời.

Và tình nghĩa này không phải chỉ giới hạn trong vấn đề nam nữ thôi. Cái nghĩa giữa bạn bè, cha mẹ, thầy trò cũng vậy. Mình sinh ra một đứa con, đứa con đã chọn mình làm mẹ, chọn mình làm cha. Tại sao nó không sinh ra ở nhà khác mà chọn nhà mình để sinh ra? Thành ra cha mẹ có thể biết ơn đứa con. Sự ra đời của đứa con nó có thể đem lại ánh sáng và hạnh phúc cho cặp vợ chồng đó. Vì vậy, cha mẹ có thể biết ơn đứa con. Tại sao có nhiều  người đến quy y với vị thầy này mà không tới quy y thầy khác? Thầy cũng phải biết ơn người đệ tử. Sự biết ơn là một yếu tố của hạnh phúc.

Chọn người tri kỷ

Tại sao anh đã không chọn người khác mà chọn mình? Sự lựa chọn đó do đâu mà có? Sự ham muốn bóng sắc tự nó không đủ. Phải có cái gì đó. Ở bên Mỹ, có anh chàng kia rất đẹp trai, tài ba, tốt nghiệp đại học thuộc hàng ưu tú, có việc làm lương rất lớn, và có rất nhiều cô bạn gái thật xinh đẹp. Bà mẹ rất ngạc nhiên khi thấy anh rất thân với một cô gái không phải là đẹp nhất. Cô này hơi thấp, nước da hơi đen, mà sao con trai mình có vẻ thích cô này hơn các cô khác? Bà cũng tò mò. Bữa đó hai mẹ con ngồi riêng với nhau, bà nói: “Má thấy mấy đứa kia ngó được quá mà sao con không chọn, con lại đi chọn con nhỏ này hơi đen mà lại thấp nữa?”Anh chàng không biết trả lời làm sao hết. Anh chàng chưa suy nghĩ thành ra bị hỏi bất ngờ quá không trả lời mẹ được.

Nhưng sau ba bốn ngày quán chiếu, anh ta tìm ra câu trả lời. Cái cô này mỗi khi anh nói chuyện, cô biết lắng nghe. Anh là nhà khoa học nhưng anh cũng ưa làm thơ. Mỗi khi anh đọc thơ, cô lắng nghe, và cô hỏi những câu hỏi chứng tỏ cô hiểu được thơ của anh. Còn những cô khác cũng nghe, nhưng nghe do lễ phép, bắt buộc phải nghe thơ nhưng không thích. Thành ra cái đặc biệt của cô này là cô thích thơ, cô hiểu thơ, cô lắng nghe thơ. Và cô trở thành tri kỷ của anh.

Tri kỷ là người hiểu được mình. Trên cuộc đời này mà tìm được một người có thể hiểu được mình thì mình là người có hạnh phúc. Món quà quý nhất mà người kia có thể tặng cho mình là khả năng hiểu được mình. Có những người sống trong cuộc đời này mà chưa bao giờ tìm được một người có thể gọi là hiểu mình cả. Dù là con trai hay con gái, trong cuộc sống này nếu mình có thể tìm được một người có khả năng lắng nghe mình, có thể hiểu được những khó khăn, những khổ đau, những ước vọng của mình thì tức là mình tìm thấy nơi người đó một tâm hồn tri kỷ. Tri kỷ là biết nhau, là hiểu nhau.

Con người đi tìm trong đời này một tri kỷ, một người biết được mình. Tìm ra được người đó thì hạnh phúc. Ngày xưa có một vị quan lớn chơi đàn thập lục huyền cầm rất tuyệt diệu. Trong giới quan quyền, bạn hữu không có ai hiểu được nghệ thuật, tài năng của ông cả. Vì vậy mỗi lần đánh đàn ông thường đem theo một vài người hầu cận lên trên núi, tìm một chỗ đẹp. Ông trải chiếu, pha trà rồi đốt trầm lên. Trong không khí trang nghiêm ông chơi đàn. Rất hạnh phúc. Và ông có cảm tưởng là chỉ có suối, cây, núi, mây mới hiểu được tiếng đàn của ông. Bữa đó, đang đàn thì tự nhiên một dây đàn bị đứt. Ông ta tháo dây đàn đứt đó ra, thay một dây mới. Vừa đàn thêm một câu nữa thì dây đàn bị đứt nữa, và cứ đứt như vậy ba lần. Ông ta nghĩ: “Chắc có người đang nghe trộm mình”. Ông đứng lên, nói lớn: “Có vị tri kỷ nào đang nghe trộm tiếng đàn của tôi xin cho gặp mặt”.

Tự nhiên có một anh tiều phu xuất hiện. Anh tiều phu này đã nghe lén, đã cảm được tất cả những cái hay, cái đẹp, cái tài ba của người đàn. Và vì vậy cho nên dây đàn đứt. Ông quan đánh đàn tên là Vương Bá Nha, người tiều phu tên là Chung Tử Kỳ. Hai người nói chuyện rất tâm đầu ý hợp. Bá Nha lần đầu tiên tìm ra được một tri kỷ, một người hiểu được nghệ thuật của mình. Tử Kỳ chấp nhận làm bạn tri kỷ của Bá Nha, nhưng không muốn về kinh đô nhận những cái chức như là thư ký văn phòng. Tử Kỳ chỉ muốn làm tiều phu thôi. Lâu lâu, Bá Nha nhớ tới bạn, sắp đặt công việc trong triều rồi hẹn với bạn, hai người cùng uống trà. Bá Nha hạnh phúc vô cùng vì Bá Nha đã tìm ra được một người tri kỷ, tri âm. Tình bạn đó lưu truyền cho tới ngày hôm nay.

Hồi mới mười tám tuổi, tôi đã làm một bài thơ ca tụng tình bạn của Bá Nha và Tử Kỳ. Trong cuộc đời mà có một người nghe được mình, hiểu được mình thì mình là một trong những người may mắn nhất ở trên đời rồi. Cho nên anh chàng ở Cali, ba ngày sau gặp lại mẹ, mới trả lời câu hỏi của mẹ: “Hôm trước má hỏi tại sao con thương cô đó. Tại sao má biết không? Tại vì người đó hiểu con. Thành ra dầu có hơi đen một chút, hơi thấp một chút, con thương cô đó hơn tất cả những cô xinh đẹp, cao ráo, sang trọng kia”.

Đời người mà tìm ra được một người hiểu mình đó là hạnh phúc vô cùng. Con mà hiểu cha, đệ tử mà hiểu thầy thì cũng làm cho cha, cho thầy rất hạnh phúc. Đó là nói ra từ kinh nghiệm. Thành ra mình biết ơn người đã hiểu được mình. Cảm ơn em đã hiểu được anh, cảm ơn con đã hiểu được cha, cảm ơn cha đã hiểu được con. Tu tập là làm thế nào để có thể có được cái hiểu. Muốn hiểu thì phải lắng nghe, phải quan sát mới hiểu được. Khi mình sống với một người có khả năng hiểu mình thì mình có hạnh phúc lắm. Vì cái hiểu là nền tảng của cái thương. Không hiểu thì không thể nào thương. Trong tình yêu đôi lứa người ta phải cẩn thận. Mình chỉ cần thử nghiệm vài cái là biết người đó có hiểu mình hay không. Mà nếu người đó không hiểu mình thì dù người đó có bằng cấp cao, lương nhiều, xe đẹp, nhà cửa sang trọng, bảnh trai, hay sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành đi nữa, khi cưới người đó thì mình cũng sẽ khổ suốt đời, như là khổ sai chung thân. Và tình yêu đó là một cái nhà tù.

Cái người mà khi mình nói cứ cắt lời mình, không để cho mình nói, cứ khoe cái của họ, không có khả năng hiểu được những khó khăn, những khổ đau của mình, không biết lắng nghe mình… muốn nhận ra người đó rất dễ, chỉ cần vài ba phút là được. Đừng để cho mình bị hấp dẫn bởi những cái bên ngoài: Sắc đẹp, địa vị, danh lợi, xe hơi, nhà cửa, lương tiền, bằng cấp… Đừng để cho những cái đó làm cho mình mờ mắt. Hai con mắt mình hãy tỉnh táo để có thể nhận rằng người con gái đó, hay người con trai đó là một người có thể hiểu được mình, và hiểu được mình thì có thể có khả năng thương mình. Rất rõ ràng như vậy. Đó là tiêu chuẩn của đạo Phật về hạnh phúc, về tình yêu. Những người yếu đuối thường bị hấp dẫn bởi những cái phù phiếm bên ngoài.

Trong xã hội Việt Nam mới phát triển, một cô gái có thể đánh mất tiết trinh của mình để đánh đổi lấy một chiếc xe gắn máy. Thật dễ sợ! Đạo đức đã suy đồi tới mức đó. Mình muốn thoát ra khỏi cái thân phận nghèo khổ, mình muốn có một chiếc xe giống như người ta, và mình đánh mất cái quý giá nhất của đời mình. Chuyện đó đã và đang xảy ra. Thành ra những cái hấp dẫn của vật chất, của bề ngoài phù phiếm mình không thể coi thường được. Mình sẽ dấn thân vào những nẻo đời khổ đau nếu mình không cẩn thận.

Có hiểu mới thương

Ở trong đạo Phật chúng ta thấy rất rõ cái thương đích thực được làm bằng cái hiểu, không có hiểu thì không có thương. Không hiểu con thì cha càng thương, con càng khổ. Vợ không hiểu chồng thì càng thương chồng, chồng càng khổ. Hiểu là nền tảng của tình thương. Sống với nhau như thế nào để càng ngày mình càng hiểu được nhau nhiều hơn và để cho người kia càng ngày càng hiểu được mình nhiều hơn. Nếu cái hiểu không lớn lên, thì cái thương cũng không lớn lên mà dậm chân tại chỗ. Nếu quý vị thấy tình thương của mình đang dậm chân tại chỗ thì quý vị biết rằng quý vị thiếu tu.

Cái hiểu không lớn thêm và cái thương không lớn thêm thì chúng có thể từ từ co rút. Tình yêu có thể co rút lại cho đến khi thành ra một cục cứng ngắc không còn sinh khí. Tình yêu có thể chết nếu mình không biết nuôi dưỡng nó bằng cái hiểu và cái thương. Và khi người kia hiểu mình thì mình biết ơn người đó, biết ơn suốt đời. Chính sự biết ơn đó là chất liệu nuôi dưỡng liên hệ giữa mình và người đó cho đến suốt đời. Đó là nghĩa, không phải là cái bồng bột lúc ban đầu nữa, không phải là ngọn lửa nhất thời nữa.

Kinh nghiệm nuôi lửa

Ở Việt Nam ngày xưa người ta không nấu cơm bằng gas hay bằng điện mà nấu bằng rơm. Ngày xưa tôi cũng đã từng nấu cơm bằng rơm. Rơm cháy rất mau. Có cách để làm cho rơm cháy chậm lại: mình đặt một nắm rơm vào và lấy cái đũa bếp đè xuống thì nắm rơm sẽ cháy từ từ, được lâu hơn. Ở nhà quê Việt Nam ngày xưa còn nấu bằng trấu. Trấu tức là vỏ lúa. Không có hộp quẹt vì vậy người ta phải nuôi lửa. Nuôi lửa hay nhất là nuôi bằng lửa trấu: mình đổ vào một vài bát trấu, thì trấu cháy ngún rất lâu. Lửa trấu không cháy phừng phừng như lửa rơm mà cháy chầm chậm. Chầm chậm thôi mà cháy cả đêm. Sáng dậy mình khơi ra thì còn lửa trong bếp.

Tình là ngọn lửa rơm mau tàn. Còn Nghĩa là lửa trấu, cháy suốt đêm. Ngày xưa Việt Nam có truyền thống đi xin lửa, vì không có hộp quẹt, cũng không có đèn dầu. Mỗi khi nấu cơm, nếu nhà mình không có trấu để giữ lửa thì mình phải qua hàng xóm xin lửa. Các cháu có thể là chưa bao giờ thấy Con Cúi. Con Cúi không phải là một sinh vật mà mình vẫn gọi là con. Mình lấy rơm bện lại thành một con rắn bằng rơm thật chặt, đốt một đầu và nó cứ cháy ngún từ từ, được năm bảy giờ đồng hồ. Mỗi khi cần lửa nấu cơm thì mình tới Con Cúi lấy lửa. Nếu mình không có Con Cúi và cũng không có lửa trấu thì mình phải đi xin thôi. Thế hệ của quý vị bây giờ không biết đi xin lửa là gì. Ngày xưa tôi có làm một bài thơ về chuyện đi xin lửa:

Xóm Mới

Sáng hôm nay hộp diêm của tôi hết rồi
Bếp lạnh như trời cuối thu ướt lạnh
Tác phẩm dở dang còn đó
Tôi qua nhà láng giềng xin lửa
(hồi bé chúng tôi thường hai đứa chạy xin)
Em hỏi tôi sẽ làm sao nếu nhà láng giềng không còn lửa
Chúng tôi sẽ họp hai người hát ca
Nhớ lời em dặn “là những bông hoa”.
Chúng tôi sẽ cầm đuốc đi bên nhau hướng về Xóm Mới
Em cũng cứ hát ca đi, trong khi chờ đợi,
Thế nào trong xóm ta cũng có nhà còn lửa
Thôi tôi xin mọi người đưa tay nói thực:
Có phải tất cả chúng ta
Đang tin ở điều đó như đang tin hôm nay
Ở hiện hữu nhiệm mầu?
Tôi biết có những nhà nghèo,
nhưng trấu hồng ngún cháy
ngày đêm trong bếp hồng âm ỉ
Tôi sẽ nhớ lời em không khuấy động bếp lành
Một nắm rơm đặt vào
Đợi khói tỏa mầu xanh,
Em nhìn xem:
chỉ một hơi thở nhẹ của hồn tôi thôi
Cũng đủ gọi về lửa đỏ.

Đi xin lửa mình phải cầm một nắm rơm dài. Tới bếp của người ta thì mình đừng nên quấy động cái bếp, vì người ta đang nuôi lửa trong đó. Mình lấy nắm rơm của mình, dúi vào chỗ lửa trấu đang còn cháy, và mình đợi độ chừng hai, ba chục giây. Trong khi đó mình thở. Từ từ khi thấy khói lên thì mình biết nắm rơm của mình đã được lửa bén vào rồi. Khi đó mình chỉ cần thổi một hơi thở nhẹ là lửa cháy lên. Mình lấy một nắm rơm khác, nắm nó lại, đem về thì nó tiếp tục cháy. Ngày xưa đi xin lửa là chuyện mỗi ngày.

Lửa rơm cháy mau được ví dụ cho tình yêu. Lửa trấu ngún cháy cả ngày đêm được tượng trưng cho Nghĩa. Ân Nghĩa là cái phải tiếp nối cái Tình. Tình phải được bắt đầu cho khéo để từ từ đưa tới cái Nghĩa. Ân Nghĩa là cái nuôi dưỡng một cặp vợ chồng cho tới khi đầu bạc răng long. Răng long thì đi làm răng giả, còn đầu bạc thì đi mua thuốc nhuộm. Và nuôi dưỡng Nghĩa là nuôi dưỡng thương yêu. Mỗi ngày mình phải làm cho cái tình của mình lớn lên và biến thành nghĩa. Mình phải biết lợi dụng cái ngọn lửa đầu tiên. Ban đầu mình dúi nắm rơm vô lửa trấu là để cho ngún cháy, khói đi lên, mình thổi phù nhè nhẹ thì lửa bốc lên. Nhưng mình đem lửa đó về nhà không được, nửa đường sẽ tắt. Và vì vậy khi lửa rơm cháy lớn rồi thì mình phải ủ nó vào trong nắm rơm khác cho lửa cháy ngún từ từ mà đem về.

Mỗi ngày mình phải xây dựng cái ơn và cái nghĩa. Mỗi lời nói, mỗi cử chỉ săn sóc đều là tạo ra ơn và nghĩa. Chính cái đó nó là keo sơn giúp cho một cặp vợ chồng sống với nhau suốt đời. Tình bạn cũng vậy. Tình bạn thì không có sự cháy bùng, đam mê như là tình yêu, cho nên tình bạn dễ hơn nhiều. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói rất rõ là tình bạn thì lâu dài, bền chắc, và nuôi dưỡng mình nhiều hơn tình yêu. Cho nên bí quyết là mình phải biến tình yêu lúc ban đầu trở thành tình bạn. Hai người ban đầu là hai người yêu, nhưng từ từ sẽ trở thành hai người bạn.

Khi trở thành hai người bạn thì đó là tình yêu đang còn. Còn nếu tình yêu không trở thành được tình bạn thì nó sẽ chết, nó không thành công. Mà sở dĩ tình yêu trở thành tình bạn được là vì mình phát khởi được cái ơn và cái nghĩa. Cái ơn nghĩa đó bắt đầu từ chỗ ý thức được rằng tại sao giữa bao nhiêu người mà người đó lại chọn mình. Và mình biết ơn người đó đã chọn mình. Cái chọn của mình không phải là nhất thời. Sự chọn này phải xảy ra trong một quá trình nào đó, với trí tuệ chứ không phải chỉ với đam mê mà thôi. Nếu chỉ có đam mê thì mình sẽ hối hận. Phải có trí tuệ và phải biết lắng nghe, Lắng nghe bạn bè của mình, lắng nghe cha mẹ của mình, lắng nghe các em của mình. Vì họ cũng có cái thấy, mà cái thấy của họ đôi khi khách quan hơn, chắc chắn là khách quan hơn mình, tại vì mình chủ quan quá. Mình đam mê rồi thì mình không thấy được sự thật rõ ràng bằng những người khác.

___________________
(pháp thoại trong khóa tu mùa hè 31.7.2007 tại Làng Mai)

 

Xây Dựng Quá Khứ

Khi nói xây dựng tương lai ta thường có cảm tưởng tương lai là một không gian thênh thang phía trước. Ta cũng đã được học, được nghe rằng muốn xây dựng tương lai thì phải sử dụng hiện tại, bởi vì hiện tại là chất liệu làm nên tương lai.

Người ta thường nói xây dựng tương lai chứ không ai nói xây dựng quá khứ, tại vì quá khứ đã đi qua. Nhưng kỳ thực quá khứ có thể xây dựng được và quá khứ là cái rất cần thiết để làm chỗ nương tựa cho tương lai. Có những người trong chúng ta có quá khứ rất đẹp, chúng ta có một tuổi thơ hạnh phúc với những kỷ niệm êm đềm cùng gia đình và bè bạn. Đó là những người rất may mắn. Nhờ có quá khứ đẹp mà chúng ta có được niềm vui trong hiện tại và niềm tin trong tương lai. Nhưng cũng có những người trong chúng ta kém may mắn hơn, không có được một quá khứ như vậy. Có thể trong gia đình, chúng ta đã phải chứng kiến cảnh ba mẹ, anh chị em làm khổ nhau. Có khi phải chứng kiến gia đình mình tan nát, chia rẽ. Bạn bè thì thù oán hoặc chơi xấu nhau. Những nỗi đau đó chúng ta đã mang trong mình, và những vết thương của quá khứ ấy cứ ám ảnh chúng ta, nó như một bóng ma làm cho ta không có khả năng an trú trong giây phút hiện tại và không cho ta xây dựng tương lai một cách dễ dàng. Trong một bài hát của Tịnh Thủy có câu: “Ta vẫn có ngày mai, ta vẫn còn quá khứ, nên hôm nay ta vẫn sống nhẹ nhàng”. Câu đó có nghĩa là ngày mai rất có triển vọng nhưng ngày hôm qua của mình cũng đẹp lắm và mình muốn giữ lấy ngày hôm qua để nuôi dưỡng hôm nay và ngày mai. Nếu ta không có một quá khứ đủ đẹp, đủ hạnh phúc thì ta phải biết sử dụng hiện tại để xây dựng cho mình một quá khứ đẹp.

Sống trong tăng thân, trong gia đình, hay trong cộng đồng chúng ta có thể xây dựng tình thầy trò, tình gia đình, tình anh chị em. Xây dựng được thâm tình với những người xung quanh thì ta sẽ có hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Sống mỗi ngày được như vậy là chúng ta đang xây dựng cho mình một quá khứ đẹp rồi. Sống được một trăm ngày như vậy thì chúng ta sẽ có một trăm ngày quá khứ rất đẹp. Điều này chúng ta có thể làm được ngay bây giờ.

Tôi nhớ những năm sống ở nước ngoài, không được về quê hương, xa cách thầy tổ, xa cách bạn bè và tăng thân, một mình một bóng đi trên con đường vận động hòa bình, nhiều đêm tôi nằm mơ được trở về chùa sống với thầy, với huynh đệ. Tôi nằm mơ về Phật học viện, được gặp lại những học tăng, học ni mà tôi đã dạy dỗ, thương yêu. Những hình ảnh đó rất đẹp. Thời thơ ấu của tôi rất hạnh phúc, khi lớn lên được sống với Thầy cũng có hạnh phúc, và thời gian ở Phật học viện dạy dỗ cho các thầy, các sư cô có tình huynh đệ tôi cũng hạnh phúc. Đó chính là vốn liếng. Trên quãng đường lưu lạc nơi xứ người, thường thì mình dựa vào quá khứ ấy để đi tới, cho nên có một quá khứ là rất quan trọng. Nhưng nếu mình không có một quá khứ đẹp thì mình có thể bắt đầu xây dựng cho mình một quá khứ đẹp, và mỗi ngày là một cơ hội để mình làm điều đó. Bảy ngày tu học là có thể có một quá khứ rồi, bảy tháng tu học sẽ có một quá khứ lớn, và bảy năm tu học cho đàng hoàng, có tình huynh đệ thì mình có một vốn liếng quá khứ khá vững vàng. Mỗi ngày tu tập với tăng thân, nếu nắm được giây phút hiện tại, thấy được mình đang có may mắn tức là mình có thể xây dựng được quá khứ. Quá khứ như một trương mục tiết kiệm mà mình đang nuôi. Khi quá khứ đã hùng mạnh rồi thì lúc đó hiện tại và tương lai sẽ sáng ngời.

Nếu nhìn cho sâu ta sẽ thấy quá khứ, hiện tại và tương lai chỉ là một, nó tương tức với nhau. Nhìn hiện tại chúng ta sẽ biết được cả quá khứ và tương lai. Cho nên xây dựng hiện tại cũng là xây dựng quá khứ và tương lai. Giây phút hiện tại chính là đầu dây mối nhợ mà mình cần phải nắm lấy để chuyển hóa cả tương lai và quá khứ.

Nhờ có phước đức của ông bà, tổ tiên để lại nên hôm nay mình gặp được giáo pháp, được học hỏi và hành trì những pháp môn chuyển hóa khổ đau. Dù là người xuất gia hay tại gia, nếu mình đã có thầy, có tăng thân cùng tu học nâng đỡ nhau thì điều này đã chứng tỏ rằng tình trạng của mình không đến nỗi nào. Nếu bản thân và tổ tiên, cha mẹ của các thầy, các sư cô không tạo phước đức trong quá khứ thì hôm nay làm sao các thầy, các sư cô được ngồi đây dưới hình tướng một người xuất gia có đủ điều kiện để tu học, để chuyển hóa? Đối với các vị cư sĩ cũng vậy, nếu hôm nay mình có niềm tin với Tam Bảo, có cơ hội hành trì theo con đường tâm linh, biết thực tập năm giới để gìn giữ hạnh phúc gia đình, thực tập mười bốn giới để làm đẹp cho xã hội tức là trong quá khứ cha mẹ, tổ tiên của mình đã từng gieo trồng rất nhiều căn lành nên mình mới có ngày hôm nay.

Tại Làng Mai, có những vị thiền sinh phải dành dụm tới hai ba năm mới có thể tới tham dự một khóa tu năm ngày hay bảy ngày. Trong mấy ngày ngắn ngủi ấy họ có rất nhiều hạnh phúc.

Nếu như mình đã có phước lớn được làm người xuất gia, có đầy đủ điều kiện để tu học, muốn tu bao lâu cũng được, không bị giới hạn về thời gian, thì mình phải biết trân quý sự may mắn đó, phải thấy rằng bên ngoài có biết bao nhiêu người đang mơ ước có được những điều kiện mà mình đang có, cho nên phải tu cho hết lòng, đừng để tháng ngày trôi qua oan uổng.

Khi ngồi chơi, ngồi pháp đàm chúng ta có thể chia sẻ để biết về quá khứ của nhau, để hiểu và nâng đỡ cho nhau. Và nhất là chúng ta biết được trong hiện tại chúng ta phải sống như thế nào để tất cả mọi người đều sẽ có một quá khứ vững vàng, một tương lai tươi đẹp. Quá khứ của ta sẽ là quá khứ của tăng thân, và quá khứ của ta cũng sẽ là quá khứ của gia đình. Để một ngày nào đó khi tới tuổi năm mươi, sáu mươi hay bảy mươi, nhớ về những tháng ngày mình đang ở bên nhau, bên những người thương thì chúng ta sẽ thấy đó là những ngày tháng tuyệt vời, những ngày tháng bằng vàng, bằng ngọc mà ngày xưa chúng ta không biết trân quý lắm. Bấy giờ tóc đã bạc, răng đã long. Nhưng nếu ngày xưa chúng ta đã sống với nhau sâu sắc, đầy tình nghĩa thì chúng ta không có gì để phải tiếc nuối cả, tại vì quá khứ ấy không bao giờ mất đi. Khi giảng pháp chúng ta thường nói “quá khứ đã qua rồi không còn nữa”, đó chỉ là một cách nói thôi. Nếu ta xây dựng được một quá khứ đẹp đẽ thì quá khứ đó vẫn còn mãi để mỗi khi nghĩ tới ta sẽ mỉm cười: “à, trong quá khứ ta đã có nhiều hạnh phúc như vậy, ta đã được sống trong tình thương như vậy, ta đã được làm việc chung hòa hợp như vậy và ta rất bằng lòng”. Điều đó có được hay không là do trong giây phút hiện tại ta biết trân quý những điều kiện mà ta đang có hay không.

Ngoài đời, người ta thường hay đứng núi này trông núi nọ, đứng một chỗ nhưng ao ước có thêm một chỗ khác, tốt đẹp hơn. Còn với những người xuất gia thì phải có cách nhìn khác, phải thấy rằng ở đâu mà có những điều kiện xây dựng quá khứ, xây dựng tương lai thì chúng ta mãn ý. Sống ở Làng Mai, Bát Nhã… hay ở trung tâm nào cũng được, miễn là chúng ta biết sống hết lòng, sống sâu sắc trong giây phút hiện tại, trân quý những điều kiện mình đang có, đó là tăng thân, là tình anh chị em. Có thể chúng ta không trân quý những gì mình đang có bằng những người đứng bên ngoài. Có nhiều người đang đứng ngoài và họ thấy ta rất đẹp, họ cũng mơ ước trở thành một phần tử của tăng thân, nhưng có khi chúng ta đang đứng ở trong mà chúng ta không biết trân quý bằng họ, đó là một điều đáng tiếc.

Đẹp hay không đẹp, đẹp nhiều hay đẹp ít, hạnh phúc nhiều hay hạnh phúc ít hoàn toàn do sự tu học của chúng ta, chứ không tùy thuộc vào một đấng tối cao nào hết, không tùy thuộc vào một đảng phái chính trị nào bên ngoài hết. Ai cấm chúng ta nhìn những người xung quanh mình bằng một cặp mắt tha thứ bao dung? Khi nhìn như thế chúng ta thấy khỏe, ta không trách móc, giận hờn. Mà người nhận được ánh mắt đó cũng cảm thấy thoải mái. Vậy tại sao ta không học để có thể nhìn những người xung quanh bằng con mắt từ ái? Nếu chúng ta không có con mắt tha thứ bao dung thì chính chúng ta sẽ khổ trước và người bị nhìn sẽ khổ theo. Bụt, Tổ đâu có cấm mình nhìn với con mắt thương yêu, chính Bụt đã dạy từ nhãn thị chúng sinh (mắt thương nhìn cuộc đời).

Khi trái tim mở ra, phiền não sẽ rơi rụng và cách mình nói, mình nhìn sẽ biểu lộ tâm trạng an lành đó, lúc ấy sự có mặt của mình sẽ giúp người khác vơi đi khổ đau liền lập tức. Cho nên mỗi hơi thở, mỗi nụ cười, mỗi bước chân của mình mà đem lại được hạnh phúc, thảnh thơi cho tự thân, thì đều ảnh hưởng tốt tới những người xung quanh. Mình tu không chỉ có lợi lạc riêng mình mà cho tất cả thế giới. Mình có chủ quyền, thầy không cấm mình bước những bước chân như vậy, xã hội không cấm mình bước những bước chân như vậy, tại sao mình không bước mỗi bước chân an lành để đầu tư cho tương lai. Mỗi bước chân là một sự xây dựng quá khứ, mỗi nụ cười, mỗi hơi thở cũng vậy. Chúng ta đã được học và học rất nhiều lần là làm thế nào để thở cho có hạnh phúc trong khi thở và đem lại sự lắng dịu trong thân và tâm. Làm thế nào để thở mà thấy được mình đang có mặt thật sự trong cuộc đời mầu nhiệm này. Làm thế nào để trong khi đi mình có sự thảnh thơi, an lạc, thoải mái. Làm thế nào để trong khi đi mình tiếp xúc được với những mầu nhiệm nơi mình và nơi người khác. Làm thế nào để trong khi đi mình có thể đi cho cha, cho mẹ, cho tổ tiên, cho thầy cho bạn và cho Đức Thế Tôn. Làm thế nào để bước chân của mình nối tiếp được bước chân của Bụt. Những cái đó mình đều làm được cả dù mình mới xuất gia hay mình là cư sĩ.

Mỗi buổi sáng thức dậy ai cũng có hai mươi bốn giờ đồng hồ để làm những việc đó. Đó là chuyện quan trọng nhất của một người tu. Mình làm điều đó không chỉ cho mình, mà làm cho thế giới, làm cho cha mẹ dù cha mẹ vẫn còn hay đã tạ thế, mình làm cho ông bà, vì ông bà vẫn còn trong từng tế bào cơ thể của mình. Khi thấy một sư em của mình, hay người con, người cháu của mình sáng dậy biết chạy bộ, tập thể dục, biết tự chăm sóc sức khỏe thì mình rất vui, vì nếu tất cả mọi người đều biết tự chăm sóc sức khỏe thì rất đỡ cho tăng thân, cho gia đình. Nếu trong tăng thân hay trong gia đình có một người đau ốm đi bệnh viện thì tất cả những thành viên khác đều lo lắng, buồn khổ. Giả sử có một tai nạn bất ngờ xảy ra với một thành viên trong tăng thân hay trong gia đình mình thì tất cả mọi người đều gánh chịu chung, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”. Cho nên khi một người biết chăm sóc tự thân, biết tập thể dục, biết thở, biết cười thì ta phải phát khởi tâm niệm biết ơn người ấy, nhờ người ấy biết tự chăm sóc mà ta không phải lo lắng. Để đáp lại, ta cũng tự chăm sóc mình, buổi sáng ta cũng biết tập khí công, biết đi bộ, biết thở, biết điều phục tâm hành, cảm xúc của mình. Ta làm điều đó không phải chỉ cho riêng ta mà cho tất cả mọi người xung quanh, cho cả tổ tiên và con cháu. Nếu biết tự chăm sóc thân tâm mình thì thầy và tăng thân sẽ biết ơn ta, cha mẹ cũng biết ơn ta vì thân tâm của ta cũng là thân tâm của tăng thân, cũng là thân tâm của cha mẹ. Đừng tưởng rằng phải làm việc cật lực giúp tăng thân mới là hay. Đừng nghĩ rằng mang thật nhiều tiền về cho bố mẹ mới là giỏi. Chăm sóc tự thân cho tốt chính là chăm sóc những người thương.

Chúng ta biết rằng sự an vui, niềm hạnh phúc của mình một phần nào tùy thuộc vào hạnh phúc của những người chung sống. Ví dụ ở Bát Nhã, các thầy các sư cô và các sư em biết thương yêu nhau, biết sống bên nhau hòa hợp, có hạnh phúc. Nên dù gặp khó khăn vẫn không thốt lên những lời oán thán, trách móc, lên án, điều đó làm cho tăng thân Bát Nhã không những không khổ đau mà còn gây niềm tin, niềm hạnh phúc cho Làng Mai, Lộc Uyển, Bích Nham, Viện Phật Học Ứng Dụng và Phật tử xa gần. Những gì xảy ra cho Bát Nhã cũng đang xảy ra cho Làng Mai, cho Lộc Uyển… Chúng ta cùng vui với những niềm vui của nhau và cũng buồn chung với nỗi buồn của nhau. Cho nên nếu tăng thân Bát Nhã vượt qua được những sóng gió như vậy và tới gần với nhau hơn, chấp nhận nhau hơn, thương nhau hơn, tin cậy nhau hơn thì đó là một thành công lớn. Thành công lớn đó không chỉ của riêng Bát Nhã mà đó cũng là sự thành công của Làng Mai, của Bích Nham, Lộc Uyển… Chúng ta đã thấy rõ rằng niềm an vui qua sự thực tập của các sư em tại Bát Nhã có liên hệ tới hạnh phúc của chúng ta đến nhường nào. Ở bên này cũng vậy, nếu Xóm Thượng, Xóm Hạ, Xóm Mới, Sơn Hạ sống có hạnh phúc, có tình huynh đệ, biết thương yêu, nâng đỡ nhau, năng lượng tu học trẻ, vui, hùng hậu thì các sư em bên Bát Nhã nghe thấy như thế họ rất phấn khởi, hạnh phúc, và có niềm tin vào tăng thân bên này. Bích Nham, Lộc Uyển hay Viện Phật Học Ứng Dụng tại Đức cũng vậy, nếu các thầy các sư cô sống với nhau hạnh phúc, vững chãi, hòa điệu thì Làng Mai, Bát Nhã cũng hạnh phúc lây. Chúng ta muốn biết tin tức của nhau, muốn biết bên đó làm ăn ra sao, mỗi ngày có cười nhiều không, có nắm tay nhau đi thiền hành không, có tạo dựng được hạnh phúc cho mình và cho các thiền sinh tới không? Chúng ta rất quan tâm tới điều đó. Mỗi khi chúng ta nghe được một tin mừng, thì ai cũng phấn khởi cả, cho nên chúng ta liên hệ với nhau rất mật thiết. Chúng ta tương tức với nhau.

Nếu sống trong gia đình thì gia đình chính là tăng thân của mình. Hạnh phúc hay khổ đau của một thành viên trong gia đình đều ảnh hưởng trực tiếp tới hạnh phúc hay khổ đau của những thành viên khác. Nếu bất ngờ ta nhận được tin em mình bị tai nạn giao thông, thì dù đang ở đâu ta cũng cảm thấy khổ đau liền lập tức. Không chỉ ta khổ đau mà cha mẹ, ông bà ta cũng khổ đau, các anh chị em khác cũng lo lắng buồn phiền. Ngược lại, nếu chúng ta sống một đời sống lành mạnh, các anh chị em trong nhà biết thương yêu nhau, thì bố mẹ ta rất yên tâm và hạnh phúc an hưởng tuổi già. Đó là cách báo hiếu thiết thực nhất. Nếu mình là bậc làm cha, làm mẹ thì mình phải ghi nhớ điều này: “Hạnh phúc của cha mẹ là gia tài của con cháu”. Gia tài để lại cho con cháu không phải là cho mỗi đứa một căn nhà hay một số vốn nào đó khi chúng đi ở riêng. Gia tài để lại cho các con chính là trao cho các con một quá khứ đẹp mà trong đó, bố mẹ biết nhường nhịn, thương yêu nhau, biết lắng nghe để có thể hiểu được những khổ đau của nhau và của các con để mọi thành viên trong gia đình đều có khả năng cảm thông, tha thứ cho nhau. Để làm được điều đó chúng ta phải sắp xếp thời gian trong ngày sao cho mọi thành viên trong gia đình đều có cơ hội được ăn sáng chung với nhau, dù bận tới mấy chúng ta cũng phải trở về nhà sum họp bên nhau trong bữa cơm tối. Đó là cơ hội để chúng ta hiểu và chia sẻ được những niềm vui, nỗi buồn của mỗi thành viên trong gia đình. Ngày nay, xã hội ngày càng bận rộn, người thì tối ngày lo đi làm, người thì tối ngày lo đi học cho nên vợ chồng con cái không có thời gian trò chuyện với nhau. Nếu chúng ta không dừng lại mà cứ để cho guồng máy xã hội cuốn đi thì sẽ có ngày ngôi nhà của chúng ta trở thành một quán trọ, và mỗi thành viên là một vị khách trong ngôi nhà ấy. Chúng ta có thể tìm một công việc tuy thu nhập ít một chút, chi tiêu tiết kiệm lại một chút nhưng có thời gian dành cho nhau nhiều hơn. Hình ảnh cha mẹ thương yêu nhau, hình ảnh cha mẹ đối xử dịu dàng, bao dung với con cái chính là vốn liếng trao truyền cho các con khi chúng bước vào đời.

Nếu như ta có sự buồn bã, trống vắng trong lòng, thì ta đã có những pháp môn thực tập cho chính mình, cho tăng thân, hay cho gia đình rồi. Tại sao lại phải đi kiếm những thú vui trần tục để khỏa lấp? Tại sao phải tải xuống một bộ phim trên mạng để xem, tại sao phải tìm tới những quán bar… Đối với một vị xuất gia, nếu mình lên mạng tải xuống một bộ phim xem cho đỡ buồn, dù bộ phim ấy không độc hại thì cũng làm mất thời gian tu học của mình và khiến cho tăng thân địa phương và tăng thân khắp chốn không vui. Nếu mình là cư sĩ, mỗi khi buồn mình tìm sự khỏa lấp trong những quán bar, trong chốn bài bạc, hoặc xem những bộ phim thiếu lành mạnh thì nó không giúp mình vơi bớt khổ đau mà còn khiến cho những độc tố từ những sản phẩm ấy có cơ hội ngấm sâu hơn vào tâm hồn mình.

Khi còn là một Sadi trẻ, tôi mơ ước có một tăng thân đẹp, biết thương nhau. Trong những bài tụng của Làng Mai có những câu nói lên ước mơ đó: “Pháp là con đường sáng, dẫn người thoát cõi mê, đưa con trở về, sống cuộc đời tỉnh thức. Tăng là đoàn thể đẹp, cùng đi trên đường vui, tu tập giải thoát, làm an lạc cuộc đời”. Tăng là một đoàn thểđẹp, mà cái đẹp này làm bằng uy nghi, làm bằng tình huynh đệ. Đẹp không phải bởi mình mua vải sang may những cái áo đẹp để mặc. Cái đẹp đơn giản thì rất tinh khiết và thanh cao. Tăng là đoàn thể đẹp, nếu không đẹp thì không phải là Tăng. Cùng đi trên đường vui, nếu con đường không vui thì cũng không phải là con đường của Tăng. Con đường đó phải là con đường tu tập giải thoát và đem lại an lạc cho cuộc đời. Đây là ý niệm và cũng là ý hướng xây dựng tăng thân của tôi. Trong bài tụng chúng ta thấy được sống trong tăng đoàn, được tu tập hằng ngày để xây dựng hạnh phúc cho mình và cho người khác là một sự may mắn. “Hạnh phúc thay được sống, trong tăng đoàn Thế Tôn, được hành trì giới luật, sống vững chãi thảnh thơi, trong từng giây từng phút của cuộc sống hằng ngày, và trực tiếp tham gia vào sự nghiệp độ sinh của Bụt và Bồ Tát.”

Nếu chúng ta muốn tiếp tục sự nghiệp của đức Thế Tôn thì mỗi người trong chúng ta phải là một người dựng Tăng. Phải tổ chức đời sống của tăng thân sao cho có tình huynh đệ, biết thương yêu nhau, có khả năng độ đời. Người xuất gia xây dựng tăng thân đã đành mà người cư sĩ cũng phải học cách xây dựng tăng thân. Tăng thân của người cư sĩ trước hết là gia đình mình, sau đó là đạo tràng mà mình đang sinh hoạt, kế đến là những người cùng làm việc chung với mình và những người sống quanh mình.

Mục sư Martin Luther King là một nhà tranh đấu nhân quyền nổi tiếng ở Hoa Kỳ, ông cũng rất muốn xây dựng tăng thân và ông đã dùng hết năng lượng của mình để làm việc ấy. Mục sư đã gọi tăng thân mà mình muốn xây dựng là “Tăng Thân Mến Yêu” (The Beloved Community). Rất tiếc ông đã bị ám sát trước khi thực hiện được ước mơ của mình. Thầy muốn tất cả các vị phải biến giấc mơ của Martin Luther King thành giấc mơ của mình. Mỗi chúng ta phải là một người dựng Tăng, như vậy mới xứng đáng với sự trông chờ của Bụt. Bụt cũng đã xây dựng một tăng thân rất đẹp, Ngài có những người phụ tá giữ vai trò là người dựng tăng rất xuất sắc như ngài Xá Lợi Phất, ngài Ca Diếp, ngài Mục Kiền Liên… Dù là người xuất gia hay tại gia mình cũng phải mang hoài bão đó, phải là sự tiếp nối của đức Thế Tôn, phải xây dựng tăng thân cho có sự thương yêu, hiểu biết, tha thứ, bao dung để làm đẹp cho xã hội. Và chính tăng thân đó thúc đẩy xã hội đi lên, giúp lấy đi những bất công và tệ nạn trong xã hội và trong cuộc sống hằng ngày. Tôi đã đem hết thì giờ, tâm huyết và năng lực ra để xây dựng tăng thân, và tôi muốn trao truyền lại cho quý vị ước mơ đó,ước mơ mà mục sư Martin Luther King cũng đã muốn trao truyền.

Một ngày có tới hai mươi bốn giờ, theo nguyên tắc, khi thức dậy mình đọc bài kệ “Thức dậy miệng mỉm cười”. Tại sao lại mỉm cười? Tại vì mình có hai mươi bốn giờ để sống, để thực tập. “Hăm bốn giờ tinh khôi, xin nguyện sống trọn vẹn, mắt thương nhìn cuộc đời”.

Thực tập trọn vẹn hai mươi bốn giờ đồng hồ và sử dụng con mắt thương yêu để nhìn cuộc đời, không trách móc, không lên án, chấp nhận người ấy như là người ấy vốn có, để rồi cùng nhau đi lên. Mình đọc bài kệ đó để lạc quan và thấy được rằng hai mươi bốn giờ là một tặng phẩm, đừng để tháng ngày đi qua một cách oan uổng. Phải để hai mươi bốn giờ đó để xây dựng tăng thân, giữ gìn từng bước chân, từng hơi thở, từng nụ cười đều để xây dựng tăng thân hết. Phải khéo léo sử dụng những giây phút trong đời sống hằng ngày của mình, phải luôn phát khởi những tư tưởng tha thứ, chấp nhận và thương yêu, làm những điều có thể để xây dựng hạnh phúc cho mình và cho tăng thân. Mỗi khi được làm việc cho tăng thân, mình phải làm bằng tình thương chứ không phải làm vì bổn phận. Nếu làm với tinh thần ấy thì mình sẽ có hạnh phúc rất lớn. Hạnh phúc hay không là do ngay lúc đó, và do làm với niềm vui cho nên chúng ta không cần làm một cách vội vàng mong cho mau xong. Nếu không biết tu thì chùi cầu tiêu là một công việc rất cực khổ, nhất là chùi cầu tiêu công cộng. Nhưng chùi cầu tiêu là một công hạnh rất cao, chùi cầu tiêu cũng quan trọng như lạy Bụt. Nếu muốn gạn lọc tâm ý thì hãy đi chùi cầu tiêu mỗi ngày một lần, dù cho cầu tiêu vẫn còn sạch bong. Tình thương phát khởi trong lúc chùi sẽ giải phóng cho mình những nghiệp chướng mà mình đã mang từ nhiều đời trước. Nấu cơm, rửa rau, quét nhà cũng vậy, cũng nên làm bằng tình thương. Có những người phụ nữ đi lấy chồng, làm quần quật suốt ngày, làm không thấy mệt, bởi vì họ thương chồng, thương con. Tình thương tạo nên một nguồn sức mạnh để mình có thể phụng sự mà không biết mệt mỏi. An trú trong hiện tại, mình biết rõ những gì mình đang làm là vì tình thương, khi ấy mình vừa có niệm, có định, có tuệ, giây phút ấy mình sẽ có hạnh phúc. Nếu mình có hạnh phúc thì tăng thân có hạnh phúc. Điều này nằm trong tầm tay của mỗi người nên chúng ta phải trân quý hai mươi bốn giờ. Chúng ta xây dựng cho chúng ta một tương lai và một quá khứ. Chỉ cần bảy ngày mình đã có thể xây dựng được một quá khứ đẹp và đó sẽ là chỗ nương tựa của mình cho tương lai.

_________