Cho tình thương thêm sâu

(Phỏng vấn Marisela Gomez – tăng thân ARISE)

Marisela Gomez (Chân Biểu Tôn), giáo thọ cư sĩ của Làng Mai, là người đồng sáng lập tăng thân ARISE vào năm 2016. ARISE là từ viết tắt của “Awakening through Race, Intersectionality, and Social Equity”, tạm dịch là: “Tỉnh thức trong vấn đề chủng tộc, sự đan xen giữa nhiều hình thức phân biệt đối xử và các hoạt động vì công bằng xã hội”. Lấy gốc rễ từ truyền thống thiền tập Làng Mai, tăng thân ARISE cam kết thực tập chánh niệm trên tinh thần nhập thế để góp phần mang lại công bằng chủng tộc và xã hội. Bài phỏng vấn này được BBT thực hiện vào tháng 6 năm 2022 và được dịch từ tiếng Anh.

 

 

BBT: Chào chị Marisela, xin chị chia sẻ về hoàn cảnh ra đời của tăng thân ARISE và điều gì đã tạo cảm hứng cho chị trong việc xây dựng tăng thân này?

Marisela: Trong chuyến hoằng pháp của tăng thân Làng Mai tại Mỹ vào năm 2015, có một buổi chia sẻ chuyên đề về bình đẳng chủng tộc tại New York với chủ đề: Where Spirit Meets Action (tạm dịch: Nơi tình thương biến thành hành động). Tại tu viện Lộc Uyển cũng có một buổi chia sẻ về chủ đề này. Trong cả hai buổi chia sẻ đó đều có ý kiến cho rằng sự có mặt cũng như tiếng nói đại diện cho nhóm người da đen, bản địa và người da màu là chưa đủ. Ở Mỹ thường dùng từ BIPOC, viết tắt của “Black, Indigenous, and People of Color” để nói về người da đen, người bản địa và người da màu. Còn ở Anh thì dùng từ BAME (Black, Asian, and Minority Ethnic), nghĩa là: người da đen, người gốc Á châu, và người dân tộc thiểu số.

Trong tăng thân, cộng đồng BIPOC thường được đại diện bởi các xuất sĩ người Việt, nhưng vẫn còn rất hiếm người da đen, người Mỹ La Tinh cũng như người bản địa. Một số người trong cộng đồng BIPOC, trong đó có tôi, đã đặt câu hỏi: “Chúng tôi đang ở đâu và tại sao chúng tôi không có đại diện trong tăng thân?”. Khi đặt ra câu hỏi này, chúng tôi thường nhận được câu trả lời nôm na là: “Chuyện đó không quan trọng, vì thực ra chúng ta giống nhau, chúng ta tương tức và chúng ta là một. Nói như các bạn có thể gây chia rẽ trong tăng thân”. Nghe vậy chúng tôi rất đau lòng. Trong khi đó, những gì chúng tôi đối diện trong đời sống hàng ngày liên quan đến vấn đề chủng tộc vẫn không ngừng gây ra những vết thương cần được chữa lành. Lẽ ra tăng thân là nơi chúng tôi có thể làm được điều đó. Nhưng nếu chúng tôi mang những vấn đề này ra thì lại không dễ được đón nhận. Hầu hết các tăng thân ở Mỹ đều có người da trắng chiếm đa số.

Một ví dụ cụ thể là sau cái chết của Freddie Gray – một thanh niên da đen – tại Mỹ vào năm 2015, có rất nhiều các cuộc biểu tình với hàng ngàn người xuống đường phản đối hành vi tàn bạo của cảnh sát. Một người bạn da đen đã chia sẻ vấn đề này trong tăng thân, nơi người da trắng chiếm đa số, nhưng không hề có ai lên tiếng. Không chỉ những người da đen mà cả xã hội Mỹ lúc bấy giờ đang bị tổn thương. Người bạn ấy đã trực tiếp gặp tôi và nói rằng bạn ấy không thể tiếp tục sinh hoạt trong tăng thân vì cảm giác sự có mặt của mình không được thừa nhận và không được quan tâm.

Khi có khó khăn xảy ra trong cộng đồng BIPOC, liệu tăng thân chúng ta có thể ôm ấp được không? Nếu tăng thân không hiểu rõ về nỗi đau mà cộng đồng BIPOC đang chịu đựng thì làm sao có thể ôm ấp được? Nếu có một người trong cộng đồng BIPOC qua đời, đặc biệt là do bạo lực, chúng tôi mong muốn tăng thân có mặt và cùng chia sẻ với chúng tôi niềm đau đó. Nhưng nếu tăng thân không hay biết gì về chuyện xảy ra, chúng tôi sẽ cảm thấy bơ vơ và bị tổn thương.

Vì những chuyện như thế cứ tiếp tục xảy ra nên những người có kinh nghiệm dấn thân trong lĩnh vực công bằng chủng tộc và công bằng xã hội đã đến với nhau để thành lập nên tăng thân ARISE. Chúng tôi tập trung vào vấn đề về chủng tộc nhưng cũng quan tâm đến sự đan xen giữa nhiều hình thức phân biệt đối xử và các hoạt động vì công bằng xã hội. Mặc dù tập trung vào vấn đề phân biệt chủng tộc, chúng tôi cũng cố gắng lên tiếng về một số lĩnh vực khác bao gồm vấn đề về giới tính LGBTQIA+, người nhập cư cũng như tình trạng phân biệt giai cấp trong xã hội.

BBT: Thầy đã từng tổ chức các khóa tu cho người da màu. Nhưng hiện nay khi tăng thân tổ chức những khóa tu như thế, nhiều người đặt câu hỏi: những khóa tu này có đang tạo thêm sự chia rẽ?

Marisela: Trong những nhóm xen lẫn với người da trắng, khi tôi chia sẻ về niềm đau do kỳ thị chủng tộc gây ra, các bạn trong nhóm thường nói rằng tôi là người gây chia rẽ và tôi nên rời khỏi buổi sinh hoạt đó. Các bạn muốn tôi để lại niềm đau đó đằng sau cánh cửa trước khi bước vào buổi sinh hoạt, và làm như thể tất cả đều là một.

Nhưng trong không gian chỉ có những người thuộc nhóm BIPOC, chúng tôi có thể chia sẻ rất cởi mở về các sang chấn tâm lý (trauma) và những tổn thương của mình. Đồng thời chúng tôi không làm mất lòng những người bạn da trắng khi nói thẳng ra rằng sự phân biệt chủng tộc là có thật, và chúng tôi bị tổn thương trước những đặc quyền của người da trắng và sự thiếu ý thức của họ về điều này.

Người da trắng cũng cần có không gian riêng để có thể chia sẻ một cách thành thật mỗi khi họ nhận thấy mình có những hành vi kỳ thị chủng tộc. Khi không có không gian riêng đó, giống như tình trạng hiện giờ, mỗi khi người da trắng chia sẻ về những lời nói, hành động hoặc suy tư của mình về một người da đen hoặc da màu, chúng tôi lại bị tổn thương một lần nữa. Và như thế, những người bạn da trắng không dám chia sẻ nữa, bởi vì họ không muốn làm tổn thương những người bạn BIPOC. Cũng tương tự như vậy, những người bạn BIPOC không dám đề cập đến những vết thương mà người da trắng gây ra cho mình, vì sợ tổn thương những người bạn da trắng trong tăng thân.

Rốt cuộc, tất cả mọi người cùng ngồi đó và làm bộ như không có chuyện gì xảy ra và nghĩ là mọi chuyện đều ổn cả. Nhưng đó không phải là cách thực tập của chúng ta. Cách thực tập của chúng ta là chế tác, nuôi dưỡng hạnh phúc để có thể chữa lành và tạo không gian để chăm sóc những vết thương do phân biệt chủng tộc, những vết thương rất sâu trong lòng chúng ta, cũng như trong lòng tổ tiên chúng ta.

 

 

Ai trong chúng ta cũng có tổ tiên đã từng chịu khổ đau vì nạn phân biệt chủng tộc, xuất phát từ lòng tham và tâm phân biệt trong ta. Vì vậy, tất cả chúng ta cần ngồi cho yên để lòng mình mở ra. Và trong không gian đó, ta có thể mời khổ đau lên và nhìn vào nó, cảm nhận nỗi đau và chăm sóc nó. Một khi trong ta có nhiều tỉnh thức và bình an hơn, chúng ta có thể đến với nhau trong một tinh thần rất khác.

Nếu trong tôi còn đầy khổ đau, giận dữ vì sự phân biệt chủng tộc và xung quanh tôi toàn là người da trắng, có những lúc tôi sẽ vung vãi những khổ đau và giận dữ đó lên những người bạn da trắng của mình và làm cho họ tổn thương. Đó là lý do tại sao tôi cần có không gian để thở, để thiền hành. Tôi cần những người bạn cùng màu da, chủng tộc để cảm thấy an toàn hơn một chút. Để có thể nói ra, cảm nhận được nỗi đau, nhận diện những sang chấn đang biểu hiện ở điểm nào trên thân thể và chữa lành cho mình.

Hiện giờ, trong tăng thân ARISE vẫn có những người bạn da trắng, nhưng đa số là người da màu. Kinh nghiệm cho chúng tôi thấy rằng trong một nhóm mà đa số là những người bạn BIPOC, năng lượng của người da trắng không còn quá mạnh, và không gian được cân bằng hơn. Như thế, chúng tôi ít nhất cũng có thể nói ra được những gì trong lòng mình. Không gian riêng này rất quan trọng, cho đến khi cả người da trắng và người da màu đều tìm được sự trị liệu, cân bằng trong chính mình, và không gây thương tổn thêm cho nhau.

BBT: Theo chị, tăng thân Làng Mai có thể làm gì để giúp nâng cao nhận thức và hành động trong lĩnh vực bình đẳng chủng tộc và công bằng xã hội?

Marisela: Việc chúng tôi được mời để nói về tăng thân ARISE đã là một bước quan trọng. Ngoài ra, tăng thân cần tạo điều kiện thành lập các nhóm có cùng mối quan tâm (affinity groups) và chia sẻ thông tin này đến với đại chúng. Các bài pháp thoại về những khổ đau của nạn phân biệt chủng tộc cũng rất quan trọng. Chúng ta cần ý thức về những lĩnh vực mà bất công xã hội đang xảy ra.

Tăng thân ARISE vừa tổ chức một khóa học sáu tháng có tên là: “Chủng Tộc: Một pháp môn” (Race: A Dharma Door). Chúng tôi sử dụng giáo lý Tứ diệu đế làm cơ sở để trình bày sự phân biệt và bất công chủng tộc gây ra khổ đau như thế nào. ARISE cũng đã làm một bài quán nguyện dựa trên Năm Giới, chú trọng vào công bằng chủng tộc để làm rõ cách chúng ta có thể áp dụng tất cả các pháp môn để chấm dứt khổ đau này. Chúng ta đã có đầy đủ các phương tiện cần thiết.

Chúng ta cần chia sẻ giáo pháp như thế nào để mọi người đều thấy mình trong đó. Chánh pháp giúp cho tất cả mọi người tạo dựng không gian trong mình để trị liệu, nhìn rõ và hiểu được họ cần nuôi dưỡng điều gì, bên cạnh việc chăm sóc niềm đau, nỗi khổ của mình. Những người nghèo, những người đồng tính, hay những người bị khuyết tật, ta đều không thể bỏ sót bất cứ ai.

BBT: Điều gì là trở ngại lớn nhất trong việc xây dựng tăng thân ARISE?

Marisela: Ngay từ đầu chúng tôi nhận được rất ít sự yểm trợ. Chúng tôi phải thúc đẩy rất nhiều để thay đổi hiện trạng. Vì sao không có người da đen nào trong Hội đồng Giáo thọ khu vực Bắc Mỹ? Ít ai quan ngại về điều đó. Sau vụ George Floyd bị giết hại năm 2020, chúng tôi có nhiều cơ hội hơn để nói về những gì ARISE đang cống hiến và được công nhận là một phần chính thức của tăng thân Làng Mai.

Chúng ta đều là đệ tử của Thầy. Thầy luôn có ước nguyện làm mới đạo Bụt, và mong muốn một đạo Bụt vì con người. Ta cần làm mới đạo Bụt ra sao để mang lại lợi lạc cho tất cả mọi người? ARISE cũng là vì con người. Làm cách nào để chúng ta có thể đảm bảo rằng tất cả mọi người đều được tham dự vào tăng thân và được lợi lạc từ sự thực tập? Các nhóm như ARISE hình thành một cách tự phát, bởi vì tăng thân chưa nhìn ra được nhu yếu của chúng tôi. Nhưng chúng tôi phải đi tới, chúng tôi không thể chờ tới lúc tất cả mọi người trong tăng thân đều sẵn sàng được.

 

 

BBT: Khi đối diện với những khó khăn này, các anh chị đã nương tựa vào đâu?

Marisela: Chúng tôi nương tựa vào Thầy, vào hơi thở và bước chân của chính mình. Chúng tôi luôn tự nhắc mình giữ gìn sự tinh tấn và bền bỉ. Đa số chúng tôi đều chịu ảnh hưởng bởi nạn phân biệt chủng tộc. Vậy nên chúng tôi nương tựa vào chính trải nghiệm sống của mình, đồng thời nương tựa vào sự thực tập, bởi vì sự thực tập đã mang lại hiệu quả và sự chuyển hóa cho tất cả chúng tôi. Không phải chỉ có hiệu quả không, mà đó chính là tự do thực sự, tự do chân chính. Điều đó khiến chúng tôi ai cũng tận tâm, hết lòng với tăng thân này. Một điều rất rõ ràng là chúng tôi sẽ không dừng lại cho tới khi nào bất công chủng tộc không còn tồn tại.

BBT: Nhưng chúng ta biết là không bao giờ có thể chấm dứt hoàn toàn khổ đau trong cuộc đời này. Không có bùn thì cũng không có sen. Làm sao để ta vẫn đạt tới bình an thực sự trong khi khổ đau vẫn đang có đó?

Marisela: Đó là một câu hỏi khá hay, bởi vì bùn luôn luôn có ở đó. Vấn đề là: Làm sao ta có thể chuyển hóa được bùn? Nếu tôi vẫn tiếp tục khổ đau mỗi lần tôi gặp cảnh bất công, thì tôi vẫn còn chưa thực tập đủ. Chúng ta cần làm cho sự thực tập vững chãi trước, đánh thức sức mạnh tâm linh trong tự thân và gặp gỡ những người bạn lành. Đây là một trong những lý do vì sao chúng ta cần giúp mọi người tiếp xúc với sự thực tập để được chữa lành những khổ đau. Chúng tôi không muốn cứ sống trong tiêu cực, lúc nào cũng chỉ có toàn tin xấu. Chúng tôi muốn nuôi dưỡng niềm vui và sự nhẹ nhàng.

Cuộc sống luôn có những điều tươi đẹp. Ngay trong cái nóng oi bức vẫn có những cơn gió mát lành, hay một gốc cây râm mát để ta nương tựa. Sau một buổi pháp đàm của nhóm ARISE gần đây, một thành viên tham dự chia sẻ: “Tôi nhận ra rằng trong bất cứ giây phút nào tôi cũng có thể chế tác niềm vui để giúp mình chăm sóc những khổ đau”. Với năng lượng thương yêu và có mặt cho nhau, chúng ta không còn khổ đau khi cảm thấy: “Mình là người khổ đau duy nhất trên đời này”, hay “Chuyện này sẽ chẳng bao giờ kết thúc”, hay là “Chẳng ai quan tâm đến những khổ đau của mình”. Giờ thì ta đã có pháp môn thực tập và tăng thân. Sự chuyển hóa sẽ xảy ra và điều kỳ diệu sẽ đến khi ta thực tập.

Giờ đây cách tôi đối diện với sự phân biệt chủng tộc đã hoàn toàn thay đổi. Tôi không còn thấy ghét bỏ người da trắng nữa. Ngay cả khi có ai đó hành xử một cách kỳ thị với tôi, tôi cũng không nổi khùng như trước nữa. Đây là một sự chuyển hóa cực kỳ lớn đối với tôi. Tình trạng phân biệt chủng tộc vẫn chưa chấm dứt, nhưng bây giờ tôi cảm thấy mình có chủ quyền hơn trước. Tôi không còn bị lôi kéo, bị giật dây bởi con bò mà tôi đang cưỡi. Tôi đang đi thong thả bên cạnh con bò ấy.

BBT: Cảm ơn chị đã dành thời gian để chia sẻ và giúp mọi người hiểu sâu hơn về tăng thân ARISE.

Cánh cửa đã mở ra

(Lilian Cheung)

Lilian Cheung là giáo sư về dinh dưỡng tại đại học Harvard. Chị đã cùng Thầy viết nên cuốn sách “Savor: Mindful Eating, Mindful Life” (Ăn trong chánh niệm, Sống trong tỉnh thức). Dưới đây là chia sẻ của chị về những kỷ niệm và những điều chị học được từ Thầy. Bài viết được dịch từ tiếng Anh.

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống đạo Bụt tại Hồng Kông, con đường đến với chánh niệm của tôi bắt đầu khá sớm. Trong tôi vẫn còn lưu giữ hình ảnh các vị xuất sĩ, những bài pháp thoại, những buổi lễ với lời kinh và tiếng kệ trầm hùng. Đứa trẻ trong tôi sớm ghi nhận ý niệm rằng thế giới này tràn ngập khổ đau, và ta cần sống trong tình thương và lòng từ bi để giúp làm vơi bớt khổ đau cho nhau. Một thông điệp quan trọng đến vậy mà thời điểm đó tôi chưa cảm nhận sâu sắc gì mấy.

Mãi đến hàng chục năm sau, tôi mới biết đến thiền sư Thích Nhất Hạnh và được tiếp nhận giáo lý của Thầy. Kể từ đó, cuộc sống của tôi có nhiều bình an hơn. Tôi cũng tìm thấy được ý nghĩa của cuộc đời mình khi phụng sự trong lĩnh vực y tế cộng đồng. Điều đó làm tôi mãi mãi biết ơn Thầy.

Cốc cốc cốc, mẹ có ở đó không?

Tháng 8 năm 1993, tôi nhận được một khoản tài trợ vài triệu đô la từ Quỹ Sam & Helen Walton Family để thực hiện chương trình nghiên cứu bốn năm về chế độ dinh dưỡng và hoạt động thể chất tại mười bốn trường công lập ở thành phố Baltimore, Mỹ. Dự án này là một cơ hội tuyệt vời, nhưng đồng thời cũng là một trong những giai đoạn khó khăn nhất trên con đường sự nghiệp của tôi. Danh mục những việc phải làm mỗi ngày cứ dài ra thêm và những mối lo lắng càng thêm chồng chất. Mỗi ngày tôi phải dậy sớm hơn để có đủ thì giờ làm việc. Hai tuần một lần tôi lại đi từ Boston tới Baltimore, đã vậy còn phải vất vả chăm ba con nhỏ ở độ tuổi từ 4 tới 14 tuổi.

 

 

Không bao giờ tôi quên được buổi tối hôm ấy. Sau giờ cơm, con trai lớn kể với tôi về những khó khăn mà cháu đang gặp ở trường. Nhưng tâm trí tôi lúc đó hoàn toàn bị xâm chiếm bởi công việc. Đột nhiên, cháu nói: “Cốc cốc cốc, mẹ ơi, mẹ có ở đó không?”. Khoảnh khắc đó cứa sâu vào tim tôi. Tôi nhận ra đến con mình mà mình còn không thể có mặt hoàn toàn cho nó. Tôi biết mình phải thay đổi! Khổ sở vì thiếu ngủ và những khối lo âu, càng ngày tôi càng thu mình lại, lòng tràn ngập cảm giác trống rỗng và vô vọng. Tôi chẳng thiết tha gì đến những hoạt động mình từng rất yêu thích. Tôi cũng chẳng đủ năng lượng để hoàn tất cái danh sách dài vô tận những việc cần làm. Lúc nào tôi cũng cảm thấy mệt mỏi.

Tôi phải tạm nghỉ việc một năm vì không thể làm được gì, nhiều lúc còn không thể ngồi dậy khỏi giường. Bác sĩ cho tôi uống thuốc an thần nhưng cũng không giúp ích được gì. Trong buổi tiệc tốt nghiệp tiểu học của con trai giữa, một người bạn rất thân thì thầm hỏi tôi: “Chị đang dùng thuốc trầm cảm đó à?”. Tôi nghe mà sốc vô cùng. Cô nói: “Nhìn mắt chị là em biết chị đang phải dùng thuốc. Chị thử thực tập thiền với nhóm chúng em xem sao”. Tôi đồng ý và ngồi thiền 30 phút với các bạn. Đêm đó, lần đầu tiên sau một thời gian dài, tôi đã ngủ say như một đứa trẻ.

Mở ra cánh cửa chuyển hoá

Mùa thu năm 1997, tôi nhận được một tờ quảng cáo cho khóa tu bảy ngày về Tâm lý học Phật giáo, “Mở ra cánh cửa trị liệu và chuyển hóa”, do thiền sư Thích Nhất Hạnh hướng dẫn. Không biết thiền sư Thích Nhất Hạnh là ai, nhưng trong tôi vang lên tiếng con trai mình khẩn khoản: “cốc cốc cốc”. Tôi nghĩ đây chắc chắn là cánh cửa tôi phải mở ra. Thêm vào đó, khóa tu còn được tổ chức ở Key West, Floria, một nơi tôi đang muốn đến thăm. Vậy là tôi đăng ký liền lập tức.

Khóa tu diễn ra dưới một cái lều lớn trong sân gôn. Khi các vị xuất sĩ bước vào, tôi rất ngạc nhiên khi thấy họ không phải người gốc Á châu như những gì mình tưởng sau những trải nghiệm về đạo Bụt từ thuở nhỏ. Rồi từ từ, tôi nhận ra và thực sự trân quý tinh thần bao dung, không kì thị trong những lời Thầy dạy. Nhờ vậy, những lời dạy ấy đã đến được với tất cả các tín ngưỡng, tôn giáo, màu da và quốc tịch trên khắp thế giới.

Thầy xuất hiện trên khán đài, bình thản bước tới tọa cụ của mình. Chưa cần nghe tiếng Thầy nói, chỉ cần thấy sự hiện diện của Thầy, tôi đã có cảm giác đây là một vị thánh. Trong khi nghe Thầy dạy, tôi bắt đầu cảm thấy trong mình có một sự biến chuyển. Trong một bài pháp thoại, Thầy giảng rằng khổ đau luôn có mặt ở đó. “Ta cần phải nhìn sâu vào khổ đau để tìm thấy con đường thoát khổ. Ta không thể trốn chạy khổ đau. Hạnh phúc và an lạc chỉ có thể tìm thấy ngay trong lòng khổ đau”. Là một người suốt đời sống trong sự lo âu, thường xuyên không cảm nhận được hạnh phúc, tôi rất xúc động khi nghe lời dạy đó. Cũng trong buổi chiều hôm ấy, Thầy mời đại chúng quán chiếu về năm câu hỏi:

  1. Mình nghĩ là mình cần thêm những điều kiện nào thì mới có thể hạnh phúc?
  2. Nếu những điều kiện đó không thể nào có thể thực hiện được, mình sẽ đau khổ cả đời sao? Nếu vậy, mình cần làm gì?
  3. Điều gì mang lại hạnh phúc cho mình ngay thời điểm hiện tại? Viết xuống những yếu tố hạnh phúc đang có mặt cho mình trong hiện tại.
  4. Mình cần sắp xếp đời sống của mình như thế nào để có thể nhận diện và được nuôi dưỡng bởi những yếu tố này trong đời sống hàng ngày?
  5. Đối với những điều mà hiện giờ mình chưa thích, mình có thể làm gì để dễ dàng chấp nhận những điều ấy hơn?

Khóa tu đã đem lại sự chuyển hóa hoàn toàn cho tôi và có lẽ cũng trị liệu cho nhiều người khác nữa. Tôi chứng kiến một thiền sinh bật khóc trong buổi pháp đàm đầu tiên. Khi chúng tôi hỏi thăm, anh kể rằng vợ anh đã bỏ đi không một lời giải thích. Đến ngày thứ ba của khóa tu, anh thôi không khóc trong pháp đàm nữa và khi ngồi ăn trưa với nhau trước ngày chia tay, anh đã cười cùng chúng tôi. Chỉ trong bảy ngày mà đã có sự chuyển hóa không thể ngờ được như thế!

Giờ chia tay kết thúc khóa tu ở Key West, Thầy có một lời nhắn nhủ đặc biệt: “Có lẽ nhiều người trong chúng ta đã nếm được một chút an lạc trong khóa tu này, nhưng nếu về nhà ta không giữ sự thực tập thì những an lạc đó sẽ tan biến hết”. Thông điệp này đã ghi sâu vào lòng tôi và tôi quyết tâm sẽ áp dụng những lời Thầy dạy vào đời sống của mình. Tôi bắt đầu thực tập chánh niệm mỗi ngày, dù có lúc tôi chỉ làm được nhiều nhất là 3% thời gian mình có. Vậy mà dần dà thói quen mới đã được hình thành, và tôi thấy mức độ chánh niệm của mình tăng lên theo năm tháng.

Những nhân duyên đưa đến cuốn sách
“Ăn trong chánh niệm, sống trong tỉnh thức”

Trong tuần lễ ở Key West, Thầy đã dạy chúng tôi thực tập về hơi thở, bước chân và ăn trong chánh niệm.

 

 

Ăn trong chánh niệm? Suốt chặng đường nghiên cứu và học thuật trong ngành dinh dưỡng học, tôi chưa bao giờ gặp khái niệm này. Ta ăn trong chánh niệm không phải chỉ để có đủ sức khỏe mà còn để duy trì nguồn lương thực lâu dài cho các thế hệ tương lai. Đối với tôi, đó là một tuệ giác thật thâm sâu.

Về lại Boston, tôi hào hứng tìm hiểu xem khái niệm ăn trong chánh niệm đã từng được áp dụng ra sao trong vấn đề sức khỏe cá nhân và sức khỏe cộng đồng. Nghiên cứu các tài liệu khoa học, tôi thấy ăn trong chánh niệm đã được sử dụng trong cơ sở y tế để giúp chữa trị các chứng rối loạn ăn uống và xu hướng ăn uống vô độ. Dầu vậy, chưa từng có nghiên cứu nào tập trung đồng thời vào sức khoẻ của mỗi cá nhân và sức khoẻ của cả hành tinh. Vẫn tiếp tục thực tập chánh niệm và quán chiếu những lời dạy của Thầy về chủ đề này, năm 2008 tôi quyết định viết một cuốn sách về thực tập ăn trong chánh niệm, kết hợp các khía cạnh khoa học với triết lý đạo Bụt.

Trong quá trình tìm đọc tài liệu về chủ đề này, tôi nhận ra Thầy đã viết lời mở đầu cho nhiều cuốn sách của các tác giả khác viết về chánh niệm. Tôi quyết định thử thỉnh cầu Thầy viết lời tựa cho cuốn sách của mình. Buổi chiều hôm ấy, tôi gặp Thầy, sư cô Chân Không và sư cô Chân Đức tại tu viện Rừng Phong ở Vermont để trình bày dàn ý cuốn sách. Một câu hỏi chợt đi lên ngay lúc đó và không hề dự tính trước, tôi đột nhiên hỏi Thầy: “Đằng nào trong sách con cũng sẽ trích dẫn tên Thầy hết trang này qua trang khác… sao Thầy không làm đồng tác giả với con luôn ạ?”. Tôi thấy nét mặt ngạc nhiên của sư cô Chân Không và sư cô Chân Đức, còn chồng tôi thì thúc cùi chỏ vào tôi, ngầm nhắc là hỏi như vậy không đúng chút nào. Sau một hồi lâu im lặng, Thầy quay sang tôi và nói: “Sao lại không được?”. Tôi kinh ngạc trước câu trả lời của Thầy và thế là hành trình cùng viết sách với Thầy bắt đầu!

Quyển Savor – Mindful Eating, Mindful Life (Ăn trong chánh niệm, sống trong tỉnh thức) xuất bản năm 2010, được dịch ra 17 thứ tiếng và năm 2012 còn được đăng trên thời báo The New York Times trong một bài dài ba trang viết về ăn uống chánh niệm. Tôi quá ấn tượng khi thấy tác giả bài báo Jeff Gordinier thậm chí còn dành cả ngày ở tu viện Bích Nham để tự mình trải nghiệm thực tập chánh niệm nói chung và ăn trong chánh niệm nói riêng.

Điều rất đáng mừng là quyển sách ấy và những giáo lý của Thầy vẫn tiếp tục gây thêm tiếng vang. Gần đây, thông điệp Ăn trong chánh niệm để giữ gìn sức khoẻ cho ta và sức khỏe cho hành tinh này vừa được chọn cho một chiến dịch trong mười năm có tên là Our Planet Our Future (“Hành tinh của chúng ta, Tương lai của chúng ta”) hướng đến tiếp cận 1.5 tỷ người trên toàn thế giới. Các nhà tổ chức rất có cảm hứng với cuốn sách Ăn trong chánh niệm, sống trong tỉnh thức với cách tiếp cận rất cởi mở của Thầy – tín ngưỡng, tôn giáo nào cũng có thể đón nhận. Họ nói với tôi rằng ai cũng cần ăn. Vậy nên ăn chánh niệm chính là con đường lý tưởng có thể giúp mọi người trên thế giới thay đổi thói quen ăn uống vì sức khỏe của bản thân cũng như của cả hành tinh này. Hơn nữa, giải pháp ăn trong chánh niệm còn giúp đảm bảo đủ thực phẩm cho thế hệ tương lai. Đây là bài học Bụt đã tiên đoán và dạy ta trong kinh Tử Nhục.

Dạy nhân viên Google ăn trong chánh niệm

Trong nhiều năm, Tiến sĩ Walter Willett – Giáo sư và cựu Chủ nhiệm khoa Dinh dưỡng học tại trường Y tế Công cộng T.H. Chan thuộc đại học Harvard, đã tư vấn cho Google về chế độ dinh dưỡng cho nhân viên. Năm 2011, tôi nhận được một cú điện thoại của Olivia Wu, đầu bếp chính tại trụ sở Google ở Mountain View, tiểu bang California. Cô muốn tìm cách giúp các nhân viên Google giảm lượng đồ ăn tráng miệng trong bữa ăn. Tôi gợi ý cho cô nhiều cách để cải thiện chất lượng món tráng miệng và giảm khẩu phần nhưng Olivia báo cô từng áp dụng những cách đó mà tình hình không tiến triển gì mấy, bởi vì ở Google thức ăn được miễn phí cho nhân viên. Lúc đó tôi mới hỏi cô đã từng nghe tư vấn về phương pháp ăn có chánh niệm như đã giới thiệu trong quyển sách Ăn trong chánh niệm, sống trong tỉnh thứcchưa? Cô bảo chưa và hỏi liệu tôi có thể mời Thầy đến nói chuyện ở Google không. Tôi trả lời rằng tôi sẽ thử nhưng không chắc là mời được, vì Thầy chưa từng tổ chức khóa tu nào ở thung lũng Silicon. May mắn là đề nghị của Olivia đưa ra cùng với thời điểm Thầy đang hướng dẫn khóa tu ở tu viện Bích Nham. Thầy có vẻ thích thú với đề nghị đó. Thầy trả lời Thầy sẽ cho pháp thoại nếu như Google đồng ý để Thầy và tăng thân hướng dẫn nửa ngày thực tập chánh niệm ở đó.

Sự kiện này đã làm thay đổi hẳn văn hoá công sở ở Google. Nhân viên Google thực tập thiền, nghe pháp thoại của Thầy, hát thiền ca, rồi cùng thiền hành khắp khuôn viên của Google và ăn cơm im lặng trong chánh niệm. Những phép màu trong khóa tu tại Google được ghi lại qua đoạn video này: youtube.com/watch?v=Ijnt-eXukwk

Thầy vẫn tiếp tục biểu hiện

Tôi rất biết ơn vì đã có cơ duyên được tiếp nhận những lời dạy từ Thầy và tăng thân. Thầy là một vị thầy tuyệt vời, người đã hiện đại hóa những giáo lý đạo Bụt vốn tồn tại hơn 2500 năm qua. Nhờ những lời giảng của Người, chúng ta có thể thừa hưởng được lợi lạc từ sự thực tập chánh niệm và thấy được tầm quan trọng của bản chất tương quan, tương tức của vạn vật. Tuy sắc thân đã ẩn tàng nhưng Thầy vẫn còn sống mãi với chúng ta! Thế giới của chúng ta thực sự có phước lắm mới được tiếp nhận giáo lý và năng lượng của Thầy.

Ngôi chùa xưa trên đỉnh núi

(Sư cô Chân Trăng Mai Thôn)

Bạch Thầy kính thương,

Thấm thoát mà đã hơn một năm từ khi hai chị em con về tu viện Nhập Lưu để nương chúng tu học và phụng sự. Thời gian tuy không dài, nhưng cũng có thật nhiều chuyện để kể Thầy nghe, cũng như là một chút đóng góp vào ấn bản Lá thư Làng Mai mừng xuân Quý Mão.

Bây giờ, mỗi khi chắp tay lên thưa chuyện với đại chúng, ai cũng nói: “Kính bạch giác linh Thầy (Sư Ông)”, nhưng không hiểu sao, đối với con và một vài chị em, chúng con vẫn thường thưa: “Kính bạch Thầy (Sư Ông)”. Chúng con vẫn thấy Thầy luôn còn đó với chúng con, gần gũi và rất thật trong mỗi hành động, nói năng, tư duy và hành xử. Trong con, không hề có một sự gián đoạn nào trong mối liên hệ thầy trò. Vì vậy, viết thư cho Thầy là một điều gì đó thật tự nhiên, cần thiết và nuôi dưỡng cho con.

Buổi đầu mùa dịch Covid, khoảng ba năm trước, một sáng thức dậy con bỗng nảy ra ý tưởng viết cuốn “Nẻo về của chúng con”, như Thầy từng viết Nẻo về của ývậy. “Tại sao không nhỉ?”, con thì thầm, dù biết mình hơi tham vọng một tí. Dù lớn hay nhỏ, đó sẽ là những lời tâm tình với Thầy về những gì mà con đã và đang đi qua.

Sau đây là một vài điều nho nhỏ mà con đã ghi chép vào “Nẻo về của chúng con”, giống như mỗi dịp cuối năm người ta thường dâng lên Ngọc Hoàng sớ Táo Quân vậy. “Sớ” này con cũng chỉ xin tổng kết năm 2022 để dâng lên Thầy với hy vọng là Thầy sẽ mỉm cười thật vui.

Điệu nào cũng múa

Khi hai chị em con về Nhập Lưu, số lượng thường trú ở đây từ bốn đã lên sáu. Vì vậy, chúng con có được sáu đội luân phiên. Ai cũng thấy hạnh phúc và thảnh thơi hẳn ra.

Sau những ngày Tâm tang, chị em con bảo nhau rằng có lẽ Sư Ông muốn mình tiếp tục làm những công việc cần làm. Vì vậy, ban ngày chúng con vẫn có mặt với cư sĩ hết lòng nhưng khi trở về phòng, nằm trên đơn mà nước mắt cứ chảy dài khi nghĩ về Thầy.

Tuy ít người nhưng những chương trình sinh hoạt vẫn được duy trì đầy đủ. Chúng con đi tặng chả giò, tổ chức ngày Mở cửa để làm quen với hàng xóm xung quanh nơi ở mới, rồi lên thời khóa cho ngày Giáng sinh, Tết tây với những bài pháp thoại, đốt lời khấn nguyện đầu năm và cùng làm lễ đón năm mới vào nửa đêm. Vào dịp Tết Nguyên đán, chúng con vẫn gói bánh chưng, bánh tét, cúng đại thí thực, tổ chức tất niên, thơ nhạc thiền và có cả chuông trống Bát Nhã đón Giao thừa. Sáng mồng Một Tết, chúng con cùng có mặt để chúc Tết Thầy, bói Kiều và thăm phòng quý sư cô. Chúng con còn mở hội chợ Xuân đón khoảng 200 người đến tham dự. Gian hàng bói Kiều trong hội chợ Xuân làm ăn rất khấm khá. Hai sư cô thay phiên nhau giải Kiều cho đến ba giờ chiều mới xong đó, thưa Thầy.

 

 

Sau Tết, mấy chị em mệt nhoài nhìn nhau nói: “Mình ít người mà đúng là điệu nào cũng múa”. Thì quà Tết của chúng con dâng Thầy có gì ngoài mấy điệu múa đó đâu!

Mở ra một chương mới

Tháng Sáu năm ngoái, khi nhân duyên hội tụ đầy đủ, tu viện Nhập Lưu đã được dời về Porcupine Ridge. Chúng con nghe nói nhiều người buồn và tiếc, vì dù sao Nhập Lưu cũng đã có mặt tại vùng đất cũ Beaufort mười năm và đã làm chỗ nương tựa cho rất nhiều người.

Tuy nhiên, khi về địa điểm mới này, quý sư cô và các vị cư sĩ đỡ phải lo lắng hơn vào mùa cháy rừng. Ngoài ra, việc di chuyển tới tu viện đã thuận tiện hơn cho cư sĩ từ Melbourne và các vùng lân cận. Từ thị trấn Daylesford khoảng tám tới mười phút lái xe là có đầy đủ siêu thị, bệnh viện và các dịch vụ cần thiết. Nơi đây, có những ngôi nhà gỗ xinh xắn dùng làm cư xá cho quý sư cô và cư sĩ. Mỗi khi có khóa tu hay mùa lễ hội, mình có thể đón khoảng sáu mươi thiền sinh cùng tới tu tập với chỗ ở khá tươm tất, tuy có hơi lạnh vào mùa đông.

Đặc biệt vào mùa thu, những hàng cây thay lá đẹp như cảnh thần tiên. Thị trấn Daylesford cũng khoác lên mình một chiếc áo đẹp huy hoàng không kém gì cảnh mùa thu mà Thầy đã tả trong Nẻo về của ý. Con đã thưởng thức mùa thu ấy bằng đôi mắt của Thầy. Năm nay thầy trò mình lại cùng nhau thưởng thức tiếp, Thầy nhé!

Kính ngưỡng

Hôm đó, trong khi đi thiền hành, đôi mắt con bỗng dừng lại nơi một cây khuynh diệp. Tuy đã già cỗi, vỏ đã bị mọt ăn khá nhiều nhưng dáng cây rất vững chãi và cành lá vẫn còn đang xanh tốt. Con chợt nhớ đến Bồ tát Thường Bất Khinh, với hạnh nguyện của mình, chắc hẳn Ngài sẽ chắp tay xá cây và nói: “Tôi không dám coi thường bạn, bạn là một nhiệm mầu của vũ trụ. Bạn đã có mặt ở đây rất lâu rồi. Ai mà biết được bạn đã đi qua những khó khăn nào, mà vẫn đứng vững sau bao nhiêu cơn bão. Biết bao thế hệ chim muông, côn trùng đã xem bạn là nhà, là thức ăn, là nơi nương tựa? Rễ của bạn đã vươn đến đâu? Bao nhiêu cành lá của bạn đã rơi rụng trở về với đất và biến chuyển thành bao hình thái của sự sống? Bạn thật sự là một biểu hiện mầu nhiệm của vũ trụ, làm sao tôi dám coi thường bạn!”.

Sau khi ngắm nhìn cội cây khuynh diệp với đôi mắt của một vị bồ tát, con tiếp tục buổi thiền hành cùng đại chúng. Lạ thay, mọi thứ dưới mỗi bước chân con dường như đang đổi thay. Lòng con dâng lên niềm kính trọng khi tiếp xúc với từng hòn sỏi, chiếc lá hay một cọng cỏ non. Tất cả, dù chỉ là những hiện hữu nhỏ nhoi, nhưng ai mà biết được chúng đã đi qua những cung bậc nào, đã là chứng nhân cho những điều gì.

Và con liên tưởng đến các sư anh, sư chị, sư em của con, đến các bạn thiền sinh, đến tất cả mọi người. Ai mà biết mỗi người đã đi qua những gì, đã chứng kiến những gì, đã vượt qua những gì. Thi thoảng họ hé mở cho ta đi vào thế giới của họ một chút. Ta đâu thể thấy hết được phải không, thưa Thầy?

Mỗi người là một bài thơ
Say mê đọc hoài đọc mãi
Vẫn không hết những bất ngờ

Trích thơ Vui giấc đại đồng
Sư cô Uyển Nghiêm

Mỗi người không những chỉ là một bài thơ mà còn là những bí mật của vũ trụ, là nhiệm mầu của sự sống.

Con xin nghiêng mình kính ngưỡng.

 

Vướng dù

Đi thiền hành dưới mưa lâm râm với cây dù là thực tập mà con rất thích. Đi như thế con có cảm giác thích thú như một con ốc sên hay một căn nhà di động. Chắc là khi con ốc sên bò chậm rãi dưới mưa, nó cũng có cảm giác tương tự như vậy. Mưa rơi trên vỏ nó như đang rơi trên chiếc dù con cầm trên tay.

Buổi thiền hành hôm đó, con đi phía sau một sư cô. Con bỗng thấy dù của sư cô vướng vào một cành cây khuynh diệp trụi lá phía trên đầu. Sư cô phải nghiêng dù và né qua một bên. Thấy vậy, con bèn đi tránh qua bên khác để khỏi bị vướng dù. “Nếu sư cô không đi trước thì có lẽ dù của con cũng sẽ bị vướng. Đầu óc con vẫn còn đang quẩn quanh trong chiếc vỏ ốc, vậy nên không thể nào thấy cành cây đó được”, con thầm nghĩ.

Con luôn muốn cảm ơn những người đi trước. Cảm ơn những va vấp, vụng về của họ và của cả chính mình. Tập tha thứ, chấp nhận những vụng về của mình và tìm đường đi tới. Biết đâu cũng có ai đó đang ở sau lưng mình quan sát và họ không chìm đắm trong chiếc vỏ ốc. Nhờ vậy, họ cũng sẽ tránh được chuyện chiếc dù bị vướng, như con.

 

Chuyện con vịt

Một hôm đi thiền hành bên hồ nước, chúng con phát hiện ra một con vịt con đang bơi một mình giữa hồ. Thông thường vịt đi có đôi, có đàn. Lâu lâu bị lạc đàn, chúng kêu cạc cạc cạc rồi nghiêng đầu lắng nghe xem có tiếng đáp lại hay không. Rồi những con vịt khác theo hướng của tiếng gọi mà bay đến bên cạnh. Vịt mà hạ cánh thì không thanh tao lắm đâu. Nó làm một cái “đụi” nếu ở trên mặt đất, còn nếu trên nước thì sẽ làm nước văng tung tóe. Đứng ngắm con vịt, con đoán nó mới chỉ đang tuổi lỡ nhỡ, mới lớn nên chưa có đôi. Chắc rồi nó cũng sẽ tìm ra đàn của nó thôi.

Cứ ngỡ là như vậy cho đến hôm sau, khi đi thiền hành ngang qua bờ hồ con vẫn thấy nó, một mình đang rỉa cánh với vẻ cam chịu. “Hay bố mẹ nó để lại một cái trứng bên hồ này trong một chuyến du lịch ngang Nhập Lưu, rồi cất cánh bay đi, để lại em vịt tự nở, tự lo thân này? Có trời mới biết!”. Quý sư cô tự hỏi nhau và đưa ra rất nhiều giả định.

Ngày nào các sư cô cũng cố ý đi thiền hành ngang qua hồ, dừng lại ngắm nó một hồi rồi đi tiếp. Riết rồi thành thói quen. Đôi khi đại chúng chấp tác bên bờ hồ vài ba ngày liên tiếp đều thấy nó bơi thong dong, không sợ hãi mà cũng không thân thiện. Lâu lâu, con dừng tay ngắm nó, thấy lòng vui vui.

Bỗng một buổi sáng đi thiền hành, chúng con không thấy nó đâu nữa. Dường như không tin vào mắt mình, chúng con dừng lại, quan sát thật lâu. Vài ngày sau, con vịt cũng không xuất hiện. Có lẽ nó đã đi thật rồi hoặc gặp một điều không may nào đó. Chạnh lòng, con nhớ đến con thằn lằn của chú Tâm Quán trong cuốn sách Tình Người. Một kiếp sống hiện lên ngắn ngủi trên biển hiện tượng, rồi biến mất. Lòng con chợt thấy thương thương và man mác buồn.

Con tự hỏi: “Tại sao mình lại có cái tâm trạng buồn thương như vậy cho một con vịt trời, nay đi mai ở?”. Rồi chợt nhận ra hình ảnh con vịt lẻ loi đã chạm tới nỗi cô đơn, tủi thân nằm thật sâu trong lòng. Có lẽ nỗi cô đơn này đã được truyền từ đời này sang đời khác. Vậy nên mới có một quyển sách có tựa đề là Trăm năm cô đơn. Mình đến trong đời này một mình thì khi ra đi cũng sẽ là một chuyến độc hành. Mình tự thương cho sự cô đơn, lẻ loi của mình cho nên nỗi niềm đó cũng lan tỏa đến với con vịt. Nhưng thật ra, tự thân con vịt đâu có thấy vậy. Nó được sinh ra, lớn lên và sống cuộc đời của nó như một lẽ thường tình. Vậy nên, có gì đâu mà nó phải buồn, phải hờn hay phải trách.

Khi nhận diện và gọi tên được những cảm xúc tủi thân, cô đơn và lẻ loi, lòng con bỗng thấy nhẹ nhõm. Cái man mác buồn thương cũng tự dưng biến mất. Con mỉm một nụ cười, thấy thấm thía lời Thầy: “Gọi được tên thật của nó rồi thì mình sẽ tự do”. May mắn cho con, bây giờ đã có đường đi rồi, con không còn lo sợ nữa. Con có thể cô đơn nhưng không cô độc.

Chuông đại hồng

Thầy kính thương,

Hiện tại, những hàng xóm xung quanh đang ở khá gần trung tâm mới. Cho nên hy vọng trong vài năm nữa, khi họ đã quen biết và chấp nhận mình hơn, chúng con mới có thể thỉnh chuông đại hồng được.

Với con, mảnh đất này chính là ngôi chùa xưa trên đỉnh núi, nơi có chuông đại hồng là Thầy của chúng con. Thầy đã khua vang mở đầu cho một bình minh mới của đạo Bụt. Chẳng phải nhờ nghe được tiếng Thầy gọi, mà biết bao người đã có thể nở lại được nụ cười, đã biết đem mắt thương nhìn cuộc đời, đã biết thở vào tĩnh lặng, thở ra mỉm cười hay sao?

Khi trong lòng đã có tiếng chuông đại hồng sớm tối rồi, dù ở đâu đi chăng nữa thì theo thời gian, mình cũng sẽ thương được đất, thương được người. Để rồi, đất và người ở đó cũng sẽ thương lại ta. Khi đó, chắc hẳn con sẽ có nhiều điều để viết thư cho Thầy lắm. Con xin hẹn Thầy thư sau.

Kính thương,
Con của Thầy
Chân Trăng Mai Thôn.

 

Khúc nhạc buổi sáng

(Trích từ sách Thơ từng ôm và mặt trời từng hạt của Thiền sư Thích Nhất Hạnh)

Buổi sáng thức dậy, tôi thấy đây là một buổi sáng duy nhất không giống với buổi sáng nào. Người ta thường nghĩ rằng có nhiều buổi sáng có thể để dành, nhưng không ai để dành được bất cứ một buổi sáng nào, bởi vì mỗi buổi sáng là một buổi sáng đặc biệt. Em thấy buổi sáng hôm nay thế nào? Có phải nó tới lần đầu trong đời ta, có phải nó không lặp lại bất cứ một buổi sáng nào trong quá khứ? Chỉ khi nào ta không có mặt, thì mới có thể có sự lặp lại của mỗi buổi sáng. Còn nếu ta có mặt trong sự sống thì mỗi buổi sáng là một không gian mới, một thời gian mới. Mặt trời chiếu soi trên những cảnh tượng khác nhau vào những giờ giấc khác nhau. Ý thức em như mặt trăng tắm trong hàng trăm lòng sông: sông chảy, nước chảy, trăng đi ngang vòm thái hư xanh ngát. Em hãy nhìn mầu xanh da trời và mỉm cười, khiến cho ý thức em tuôn chảy như ánh sáng trong veo của mặt trời buổi sớm mơn man cành lá.

 

 

Buổi sáng không giống như một trang sách em ghi vào chữ nghĩa, có thể lật lại bất cứ lúc nào. Cuốn sách là con đường một chiều, hoặc cuốn sách là con đường hai chiều; buổi sáng không phải là một con đường, dù đó là con đường bay của chim không dấu tích. Buổi sáng là một nhạc khúc đánh lên, và nhạc khúc có mặt hay không là do em có mặt hay không.

Đại giới đàn Nước Tĩnh 23-28/03/2025

Trong tiết trời xuân ấm áp của năm Ất Tỵ, Đạo Tràng Mai Thôn Quốc Tế đã trang trọng tổ chức Đại Giới Đàn Nước Tĩnh từ ngày 23/03 đến ngày 28/03/2025 tại Làng Mai, Pháp Quốc và diễn ra cùng ngày tại Tu viện Vườn Ươm, Thái Lan.   

Lễ rước Giới bản khất sĩ

Sáng ngày 23/03, Chư Tôn Đức cùng Tứ chúng Làng Mai đã vân tập tại thiền đường Chuyển Hoá – xóm Thượng để thực hiện nghi lễ Rước Giới Bản về Giới Trường – thiền đường Nước Tĩnh. Trong không khí trang nghiêm và thanh tịnh, từng bước chân chậm rãi của các vị xuất sĩ trong y vàng rực rỡ hoà cùng tiếng chuông, tiếng trống bát nhã vang vọng khắp núi đồi xóm Thượng. Đất trời như rung động, hoan hỷ trước sự thành kính của các giới tử và đại chúng, những người một lòng cầu thỉnh giới pháp của Bụt –  là ánh sáng soi đường cho sự thực tập, chuyển hoá và phụng sự.

 

Lễ truyền Giới Lớn

Sáng ngày 23.03 Chư Tôn Đức và Tứ chúng Làng Mai đã vân tập tại thiền đường Chuyển Hoá – xóm Thượng để thực hiện nghi lễ Rước Giới Bản về Giới Trường – thiền đường Nước Tĩnh. Trong không khí trang nghiêm và thanh tịnh, hình ảnh của các vị xuất sĩ đắp y vàng rực từng bước chân chậm rãi giữa tiếng chuông trống bát nhã hùng lực vang khắp núi đồi xóm Thượng. Cả đất trời như rúng động, hoan hỷ với sự thành kính của các giới tử và đại chúng, một lòng xin cầu thỉnh giới pháp của Bụt; để soi sáng, đưa đường dẫn lối cho các vị xuất sĩ trên con đường thực tập, chuyển hoá và giúp người.

Trong Đại Giới Đàn này, Tăng Thân đã cung thỉnh Chư Tôn Đức vào Hội đồng Truyền Giới Khất sĩ nam:
  • Hòa thượng Thích Phước Tịnh – Tu viện Lộc Uyển (Hoa Kỳ) làm Thầy Truyền Giới
  • Hòa thượng Thích Minh Nghĩa – Viện chủ Tổ đình Giác Nguyên (Đồng Nai) làm Thầy Yết Ma
  • Thượng tọa Thích Chân Pháp Ấn – Viện trưởng Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu (EIAB) làm Thầy Giáo Thọ
  • Cùng với quý Thầy Giáo thọ Đạo tràng Mai Thôn làm Thầy Tôn Chứng
Hội đồng Truyền Giới Khất sĩ nữ:
  • Ni trưởng Thích nữ Lưu Phong – Chùa Kiều Đàm (TP.HCM) làm Thầy Chứng Minh Đạo Sư Nữ
  • Ni trưởng Thích nữ Như Ngọc – Trụ trì chùa Linh Bửu (TP.HCM) làm Thầy Tôn Đức Chứng Minh Nữ
  • Ni sư Thích nữ Trung Chính – Tu viện Lộc Uyển (Hoa Kỳ) làm Thầy Truyền Giới Nữ thứ nhất
  • Ni trưởng Thích nữ Chân Không làm Thầy Truyền Giới Nữ thứ hai
  • Cùng với quý Sư cô Giáo thọ Đạo tràng Mai Thôn làm Thầy Tôn Chứng Nữ

 

Chư Tôn Đức dâng hương làm lễ Khai mạc Đại Giới Đàn

Trong mỗi Đại giới đàn do Làng Mai tổ chức đều sẽ có Lễ truyền 14 giới Tiếp Hiện, Lễ truyền giới Khất sĩ nam, Lễ truyền giới Khất sĩ nữ và Lễ truyền đăng. Năm nay, Tăng thân Làng Mai may mắn được cung thỉnh chư Tôn đức về thăm Làng. Với tình thương lớn với Sư Ông chúng con và đàn hậu học ở nơi phương xa mà chư Tôn đức đã không ngại đường xá xa xôi, đã dành thì giờ đến dự Đại giới đàn. Đó thật là một phúc đức lớn cho chúng con và cho cả những thiền sinh phương Tây về dự Đại giới đàn được lắng nghe những lời sách tấn cũng như được chiêm ngưỡng đạo phong uy nghiêm của chư Tôn thiền đức. 

Ngày 24/03/2025, vào lúc 9h30 sáng tại thiền đường Nước Tĩnh, Xóm Thượng, đã khai mạc lễ truyền giới Khất sĩ nam; cùng ngày vào buổi chiều, lúc 15h00 lễ truyền giới Khất sĩ nữ cũng được diễn ra. Các buổi lễ này đều được truyền trực tuyến đến Thiền đường Voi Trắng, Tu viện Vườn Ươm cho các giới tử khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Với khoa học kỹ thuật hiện đại, các buổi lễ đã diễn ra rất suôn sẻ. Dù là ở thiền đường Nước Tĩnh hay thiền đường Voi Trắng thì Đại chúng vẫn cảm nhận được sự có mặt của nhau. Sự có mặt chứng minh và hộ niệm của hai Hội đồng truyền giới và hơn 300 chư Tôn đức khất sĩ nam và nữ của hai giới trường đã tạo nên một năng lượng hùng hậu, trợ niệm cho các giới tử trong giây phút tiếp nhận giới pháp.

Trong Giới trường thanh tịnh và trang nghiêm, các giới tử thành kính trình diện trước Tam Bảo để tiếp nhận giới pháp từ Chư tôn đức. Kể từ giây phút thiêng liêng này, các sư chú, sư cô chính thức trở thành người con trai, con gái của Bụt. Tiếp nhận bình bát và khoác lên mình chiếc y của Bụt là niềm vinh dự lớn lao trong đời người xuất gia. Chư tôn đức đã đưa các giới tử lên một vị trí cao quý: trở thành Khất sĩ nam (Tỳ kheo) – Khất sĩ nữ (Tỳ kheo ni), chính thức gia nhập vào Tăng đoàn của Bụt. Đây là một dấu mốc quan trọng, là hành trang vững chắc cho các vị Khất sĩ trên con đường tu học và độ đời.

 

Lễ truyền Giới khất sĩ nam

 

Lễ truyền Giới khất sĩ nữ

Trong kỳ Đại Giới Đàn này, Tăng thân hân hoan chào đón 19 vị Khất sĩ nam và 21 vị Khất sĩ nữ. Có thêm những vị xuất gia trẻ phát nguyện tiếp nhận giới pháp, tinh tấn tu tập, chuyển hóa thân tâm là niềm vui lớn của Tăng thân. Với sự tin tưởng, gửi gắm từ đại chúng, các vị Khất sĩ mới nguyện luôn thắp sáng ngọn lửa Bồ Đề Tâm, dành trọn tuổi trẻ cho con đường tu học, thúc liễm thân tâm, vun bồi gốc rễ tâm linh, gieo trồng hạt giống thiện lành cho tự thân và cho mọi người.

Lễ truyền đăng phó pháp

Một trong những niềm vui lớn lao của đại chúng trong Đại Giới Đàn chính là Lễ truyền đăng. Đó là giây phút hân hoan, khi đại chúng cùng nhau đón chào những vị tân giáo thọ – những cánh tay nối dài của chư Bụt, chư Bồ Tát, các vị Tổ sư và Thầy, mang ánh sáng chánh pháp đi vào cuộc đời.

 

 

Quý Thầy, quý Sư Cô lớn đã thay mặt chư Tổ và Thầy, trao truyền niềm tin và tình thương cho các vị tân giáo thọ qua những bài kệ truyền đăng thiêng liêng. Tăng thân hân hoan chào đón thêm 64 vị tân giáo thọ xuất sĩ và cư sĩ, đánh dấu một cột mốc quan trọng trên con đường tu học và hoằng pháp của quý thầy, quý sư cô và các vị cư sĩ.

Đại giới đàn Nước Tĩnh đã kết thúc trong niềm hạnh phúc và hoan hỷ của tất cả mọi người. Các vị khất sĩ mới cùng tăng thân đã bày tỏ lòng biết ơn, tri ân đến Chư Tôn Đức, quý Hoà thượng, quý Sư Bà trong hội đồng truyền Giới. Sự có mặt của tất cả mọi người trong đại chúng đã yểm trợ và góp phần cho đại Giới đàn được thành công viên mãn.

 

 


Xem thêm hình ảnh Đại Giới Đàn Nước Tĩnh

Buổi lễ đặt tên đường “Thích Nhất Hạnh way” tại thành phố New York, Mỹ

Vào ngày 11/04/2025 thành phố New York chính thức đồng đặt tên đoạn đường West 109th Street (từ Riverside đến Broadway) là “Thích Nhất Hạnh Way”. Đây là một sự kiện lịch sử và đầy ý nghĩa nhằm tôn vinh cuộc đời và sự nghiệp của Thiền sư Thích Nhất Hạnh—một nhà lãnh đạo tâm linh, nhà thơ, nhà hoạt động hòa bình, và là người khai sáng pháp môn Đạo Bụt Dấn Thân của Làng Mai.

Buổi lễ đã quy tụ các nhà lãnh đạo thành phố, quý thầy, quý sư cô thuộc tăng thân Làng Mai quốc tế, cũng như quý thân hữu tại New York để cùng tưởng niệm và tri ân vị Thầy kính yêu của chúng ta.

 

 

Vào đầu những năm 1960, Thiền sư đã sống tại số 306 West 109th Street khi đang giảng dạy và học tập tại Union Theological Seminary và Đại học Columbia—một giai đoạn quan trọng trong cuộc đời của Thầy với vai trò là một học giả, giáo thọ và nhà hoạt động xã hội. Việc đặt tên con đường này là sự ghi nhận những đóng góp sâu sắc của Thầy đối với sự thực tập chánh niệm, hòa bình, và chuyển hóa xã hội trên toàn thế giới.

Sau buổi lễ, quý thầy quý sư cô và đại chúng đã thiền hành đến Union Theological Seminary—nơi Thầy đã từng học và giảng dạy—để cùng chiêm ngưỡng thư pháp và sách của Thầy tại thư viện Burke.

Sự kiện trọng đại này không chỉ là một sự tôn vinh di sản của Thiền sư Thích Nhất Hạnh mà còn là cơ hội để mỗi chúng ta thực tập chánh niệm, lòng từ bi và hòa bình. Việc đồng đặt tên đường “Thích Nhất Hạnh Way” là một sự công nhận đối với những ảnh hưởng sâu sắc của Thầy trong phong trào chánh niệm toàn cầu, cũng như trong việc thúc đẩy sự hòa hợp liên tôn và chuyển hóa xã hội.

Chuyến hành hương “Theo dấu chân Thầy” tại Pháp 2025

 

Kính thưa quý vị thân hữu gần xa, quý sư cô xóm Mới rất vui được chia sẻ với quý vị về thông tin của chuyến hành hương “Theo Dấu Chân Thầy” được tổ chức từ ngày 17 đến ngày 21 tháng 5 năm 2025. Chuyến đi là một cơ hội cho mọi người đến thăm các địa điểm mà ngày xưa Thầy đã từng giảng dạy, hướng dẫn tu học và làm việc, mang phương pháp thực tập chánh niệm lan tỏa khắp mọi nơi.

Chương trình ca khoá tu theo d kiến:

                *  Thứ 7, 17/5: Di chuyển đến Paris                    

               *  Chủ Nhật, 18/5: Ngày quán niệm tại Tu viện Suối Tuệ, một trung tâm của Làng ở vùng lân cận Paris                          

                *  Thứ Hai, 19/5: Thăm văn phòng Hòa bình ngày xưa nơi Sư Ông làm việc trong những năm 70  và lớp học Sư Ông dạy ở Ecole des Hautes Etudes à la Sorbonne      

               *  Thứ Ba, 20/5:  Thăm Phương Vân Am và thiền đường Xương Rồng, tiền thân của Tu viện Suối Tuệ và Hơi Thở Nhẹ.                        

                *  Thứ Tư, 21/5:  Chia tay

Thông tin ghi danh:

  *  Để biết thêm chi tiết và ghi danh cho chuyến đi, mời quý vị vào link này

  *  Mọi thắc mắc xin liên lạc về văn phòng theo địa chỉ:                                                                    nh-office@plumvillage.org (Sư cô Sắc Nghiêm)

 



 

 

Kệ truyền đăng cho các vị giáo thọ mới trong Đại giới đàn “Nước Tĩnh” từ ngày 23-28/03/2025

Một trong những niềm vui của tăng thân trong đại giới đàn là Lễ truyền đăng. Đó là giây phút đại chúng hân hoan đón chào những vị giáo thọ mới – những cánh tay nối dài của chư Bụt, chư Bồ tát, các vị Tổ sư và Thầy để đem ánh sáng chánh pháp đi vào cuộc đời. Trong không khí trang nghiêm nhưng thân tình của đại gia đình tâm linh, đại chúng được chứng kiến những nụ cười, những giọt nước mắt hạnh phúc và cả công phu hành trì của quý thầy, quý sư cô giáo thọ mới và các vị giáo thọ cư sĩ qua bài kệ Kiến giải được dâng lên. Quý thầy, quý sư cô lớn đã đại diện chư Tổ và Thầy trao truyền, gửi gắm niềm tin và tình thương cho từng vị qua những bài kệ truyền đăng.

Dưới đây là những bài kệ truyền đăng đã được trao cho 64 giáo thọ xuất sĩ và cư sĩ mới của tăng thân trong Đại giới đàn Nước Tĩnh được tổ chức tại Đạo Tràng Mai Thôn nước Pháp và Tu viện Vườn Ươm, Làng Mai tại Thái Lan:

 

Thầy Thích Chân Minh Tâm
(Thế danh: Tống Văn Vòng
Pháp danh: Tâm Viên)

Thong dong qua cõi phàm trần
Minh châu vạt áo vớt người trầm luân
Một tâm ấy động mười phương
Dựng nên cõi Bụt nương thuyền tăng thân

Thầy Thích Chân Trời Hiện Pháp
(Thế danh: Romchat Sa-Ardchuchom)

The Dharma of a true vehicle is only one taste
The sky of liberation is equally embraces every species
Here and now reveals the nature of true emptiness
Responding to situations and mentalities,
the power of helping the world is immense
Thầy Thích Chân Trời Linh Thứu
(Thế danh: Tô Công Đạo
Pháp danh: Tâm Định Dung)
 
Chân trời Linh Thứu rạng ngời
Bụt thường lặng ngắm thảnh thơi xưa rày
Pháp thân trao nhận ở đây
Đất thiêng là chốn tháng ngày thong dong

 

Thầy Thích Chân Trời Xá Vệ
(Thế danh: Nguyễn Xuân Đức
Pháp danh: Tâm Khai Ngộ )
 

Đề huề một túi gió trăng
Cỏ xanh mây trắng chân trời thênh thang
Thanh xuân hoa nở cúng dàng
Thành xưa Xá Vệ mở đàn Long Hoa

Thầy Thích Chân Trời Nhất Tâm
(Thế danh: Nguyễn Công Long
Pháp danh: Tâm Nhuận )
 
Một lòng nương tựa tăng thân
Tình xưa nguyền cũ cao thâm ngút trời
Nhất tâm tức niệm chẳng lơi
Bản môn đã tới rong chơi tháng ngày

 

Thầy Thích Chân Trời Định Lực
(Thế danh: Huỳnh Minh Phụng
Pháp danh: Tâm Thiện Thuận)

Mở cửa an ban thấy đạo thiền
Trời xanh nắng gọi bước uy nghiêm
Giới định dựng nên tòa pháp bảo
Ngũ lực trong tay quét não phiền

Thầy Thích Chân Trời Tuệ Minh
(Thế danh: Thái Minh Trạng
Pháp danh: Tâm Thiện Nguyên)

Trời tây khởi sắc Pháp Luân
Uy nghi giới hạnh góp phần diễn xương
Hiến thân phụng sự muôn đường
Tuệ qua sự sống Minh thường kính nghiêm

 

Thầy Thích Chân Trời Định Hướng
(Thế danh: Ngô Văn Danh
Pháp danh: Tâm Nguyên Vinh)
 
Trời đất về một thề
Đại định sáng lầm mê
Mỗi khắc hướng Phật độ
Nối tiếp dòng tào khê

Thầy Thích Chân Trời Đại Nghĩa
(Thế danh: Trần Nguyên Đức)
Pháp danh: Tâm Phước

Một thân một bát thảnh thơi
Một hơi thở nhẹ đất trời chở che
Đại Ẩn sơn một lời thề
Nghĩa tình sau trước bồ đề vững yên

Thầy Thích Chân Trời Đại Đồng
(Thế danh: Võ Phúc Nguyên)
Pháp danh: Tâm An Bình)
 
Vườn xưa tổ phụ linh thiêng lắm
Chân nhân hào kiệt mãi tương phùng
Có nhau nhẹ bước phương trời rộng
Thỏa chí dựng xây giấc đại đồng  
 
Thầy Thích Chân Trời Phạm Trú
(Thế danh: Trần Văn Thuận
Pháp danh: Tâm Quảng Hạ)
 
Trời quang biển lặng tâm cao rộng
Phạm Hạnh nếp lành mỗi đắp xây
Lục độ tứ tâm an nhiên trú
Bản môn xuân dựng khắp Đông Tây
Thầy Thích Chân Trời Tây Sơn
(Thế danh: Lê Đình Nhân
Pháp danh: Tâm Nhuận Nhu)
 
Trời tây ở cõi trần
Sơn hà nơi bước chân
Hôn đất quê đích thực
Nuôi dưỡng dựng tăng thân

Thầy Thích Chân Trời Đạo Hành
(Thế danh: Rick van den Munckhof
Pháp danh: Rising Sun Of The Heart)

Trời đất tuôn dậy hoa lòng nở
Đạo mầu luân chuyển hành vô tranh
Tiếp nối trao truyền thiên đường tỏ
Thắp sáng thân mình giữ ấm no

Thầy Thích Chân Trời Đạo Bi
(Thế danh: Felix Surya Putra
Pháp danh: Loyal Refuge of the Heart)

With firm steps on this Path, compassion flows like a stream,
A gentle act of kindness reveals the clear light of truth,
The Dharma’s boundless rain quenches flames of doubt,
Fear dissolves as the Universal Door swings wide.

 

Sư cô Thích Nữ Chân Trăng Núi Na
(Thế danh: Ngô Thị Điểm
Pháp danh: Tâm Nguyên Tịnh)

Gối đầu lên Trăng sáng
Tỉnh giấc ở Núi Na
Tăng thân cùng nhịp thở
Bình an khắp mọi nhà

Sư cô Thích Nữ Chân Trăng Tản Viên
(Thế danh: Hồ Thị Yến Nhi
Pháp danh: Tâm Mây An Tịnh)
 
Trăng thu ngời sáng Tản Viên
Lắng nghe ái ngữ mọi miền đơm hoa
Sum vầy mây bạc ngàn xa
Thở đi địa xúc cao toà dựng tăng

 

Sư cô Thích Nữ Chân Trăng Diệu Viên
(Thế danh: Đàm Thị Thanh Hà
Pháp danh: Tâm Thông Đạt)
 
Trăng vẫn là Trăng từ muôn thuở
Diệu pháp rồi sống thong dong
Hoa xuân kết nụ lòng Viên mãn
Nở đóa từ bi khắp núi sông
Sư cô Thích Nữ Chân Trăng Tịnh Độ
(Thế danh: Carol Cenedese
Pháp danh: Joyau Humain du Coeur )
 
Le vrai chemin dans chaque pas
La Terre Pure dans chaque respiration
La douce pleine lune brille au dessus de la colline
Et révèle la réalité de l’Inter-être
Sư cô Thích Nữ Chân Trăng Phương Khê
(Thế danh: Đinh Thị Diệu Hà
Pháp danh: Tâm Từ Hoà)
 
Vầng trăng toả sáng trời Phương Khê
Thầy Tổ trao cho một hướng về
Đường đi nước bước thêm thận trọng
Đưa người cập bến chốn Tào Khê
Sư cô Thích Nữ Chân Trăng Uyên Nguyên
(Thế danh: Lê Thị Hồng
Pháp danh: Tâm Nhuận Thơ)
 
Uyên Nguyên lồng lộng trời mây
Vầng trăng tươi trẻ rải đầy tấm thương
Vui thay thấy lẽ vô thường
Trí từ rưới khắp mười phương ba đời.

Chân Hỷ Sơn
(Thế danh: Nguyễn Vinh Huy
Pháp danh: Tâm Chân Thành)

Vun trồng hỷ lạc mỗi phút giây
Sơn hà rộng lối bước sum vầy
Cùng Thầy Tổ ngay đây mở hội
Bụt Tăng thân nguyện mãi dựng xây

Chân Từ Nhẫn
(Thế danh: Trần Đình Phước
Pháp danh: Tâm Nguyên Lộc)

Lòng đất hạt lành gìn muôn thuở
Pháp âm sấm động mở từ tâm
Vun trồng đức nhẫn ngày thêm lớn
Cưỡi sóng sinh tử vượt mê lầm
Annamaria De Leonibus
True Ocean of Merit (Chân Hải Phúc)
 

The sangha river takes us to the great ocean,
as we offer up the merit of our practice.
My true name is also the names of all beings,
the insight which opens the door of compassion.

Leonardo Maraviglia
True Loving Smile (Chân Từ Tiếu)
 

The limitless mind of true love
is a smile of inclusiveness,
is the joy in the joy of others,
compassion through understanding.

Andrea Savardi
True Current of Peace (Chân An Lưu)
 
The Dharma stream flowing without end
reveals the true peace of nirvana,
where all concepts and names cease to divide
and compassion embraces all beings.
Martin Whelan
True life for the practice (Chân Tu Mạng)

 

The diligent practice goes very far
Since your life span like a leaf’s is endless.
Ancestors, descendants are the river
Which reaches the ocean of deathlessness.

Pochettino Miriam
True Root of Understanding (Chân Tuệ Căn)
 
Coming back home to my gentle breath
understanding the roots of our pain,
your happiness and mine interare,
the path of healing is wide open.

 

Maria Luisa Musola
True ocean of virtue (Chân Hải Đức)
 
All rivers return to the ocean,
where virtuous deeds are never lost.
You hear the sound of the rising tide
by listening deeply in silence.
 
 
Naomi Shiba
Vraie Rivière du Printemps / True Spring River (Chân Xuân Hà)
 

Après avoir franchi tant d’obstacles,
La goutte d’eau rejoint enfin la rivière
Au sein du vrai printemps de l’éternité.
Elle ressent pour la première fois puissance et chaleur.

Anne Woods
True Collective Spring(Chân Đồng Xuân)

The career of the Buddha continues
As together in the sangha we play.
The world calls for a spring of compassion
And we are there to respond without fear.

 
Cristina Cesa
Chân Vô Úy Lực(True Strenght of Non-Fear)
 
Like a lotus rising from the mud, True awakening blooms,
Rooted in the Strength of mindful breath,
Non-Fear cradles each step on the path,
Interbeing flows, serene and vast.
George Francis Hoguet
True Precious Smile(Chân Bảo Tiếu)
 
How precious the jewel of the Dharma
For it contains buddhas and the sangha.
You stand alone in the midst of a crowd
and welcome all with a wonderful smile.
Michel Turgeon
True Blue Spring(Chân Bích Xuân)
 
Derrière les nuages gris, le ciel bleu
Après l’hiver, le printemps
L’ami véritable sourit en toute saison
Et transforme la pluie en champs verdoyants.
Prajna Paramita Choudhury
True Garden of Outstanding Beauty(Chan Anh Uyển)
A supreme beauty is always found
in the garden of goodness and truth.
Our heart grows great in inclusiveness
And rescues the beings who suffer.
Sheila Mary Robertson
True Flower of Non-Fear(Chân Vô Úy Hoa)
 
The flower blooms in fields of care,
Its fragrance whispers of non-fear.
Through mindful steps, her courage grows,
A path of peace where joys expand.
Emanuela Sandini
True Current Of Virtue(Chân Đức Lưu)
 
The stream that brings life to all beings
will always be based in true virtue.
The powers of love, understanding
can put an end to all afflictions.
Zachiah Murray
True Lotus Ocean(Chân Liên Hải)
 
The mud does not fear the lotus.
The lotus does not fear the mud.
The ocean of interbeing
is where we and they are not two.
Deborah Brooks
True Realisation of the Essence(Chân Đắc Thệ)
 
The true nature shines out like the full moon.
Attainment indeed is non-attainment.
Although we may go to many places,
we abide peacefully in our true home.
Ted Kelly
True Vulture Peak Loving Kindness
 
The Vulture Peak is not far away.
It is in eyes of loving-kindness.
Understanding the nature of life
You are always interconnected.
Victoria Mausisa
True Eternal Garden(Chân Thường Uyển)
 
Compassion always lies deep in the heart;
the gentle rain that refreshes the garden.
Humanity’s cries do not go unheard.
The sangha body knows how to respond.
Orlaith O’Sullivan
True Garden of the Nectar of Immortality( Chân Cam Lộ Uyển)
 
All kinds of flowers bloom in the garden
Watered by the nectar of compassion
Patience and the wisdom of inclusiveness
Bring two disputing parties together.
Giovanni Malfa
True Ornament with Deep Understanding(Chân Tuệ Trang)
 
The light of true understanding
is enough to adorn the world.
The willow branch of compassion
offers the gift of fearlessness.
Martina Cassidy
True Path of Transformation(Chân Hoá Đạo)
 
Transformation comes from deep listening.
It is the path of great understanding.
To be at ease in the present moment
is all that we need in helping others.
Elli Weisbaum
True Blue Stream(Chân Bích Lưu)
 
From youthful roots, the True path unfolds with grace,
A radiant blue stream of hopes flows on, bright with Dharma’s glow,
The blade of understanding opens the path to peace,
A boundless current of love enters into the sea of suffering
Judy Yushin Nakatomi
True Moon Dwelling(Chân Nguyệt Trú)
 
The silent moonlight strengthens our aspiration
To dwell in peace with each gentle breath.
Out of gratitude we sow the seeds of love
and as a sangha we accomplish the path
Meena Srinivasan
True Seal of Peace/Ksemamudrasatya (Sanskrit)(Chân An Ấn)
 
Living in the world with peace in your heart
your ancestors transmit their seal to you.
Your everyday life becomes your message.
The fruit of wishlessness is realised.
Võ Lise Diệu-Trang
(Chân Trân Hải)
 
Chân pháp không xa rời vạn pháp
Nếp nhà trân trọng vẫn truyền thừa
Hải dương sóng vỗ không ngừng nghỉ
Từ bi cảm ứng tự ngàn xưa.
Susan Poulos
True Fragrant Magnolia(Chân Hương Lan)
 
The true fragrant song of Spring is heard
With the sangha’s joy in being together
every mindful breath and step
nourishes love in the Magnolia and lotuses
Mona Truong
(Chân Lưu Châu)
 
Chân nguyện vững bước lòng thong dong
Nhập lưu quả vị cùng dòng sông
Bảo châu tìm được trong gấu áo
Chia khắp mọi nơi thoả ước mong
Peter Kuhn
True Ocean of Joy(Chân Hỷ Hải)
 
There is true joy in finding that waves
are made of the deep ocean water.
You ride on the waves of deathlessness
and bring fearlessness to the fearful.
Denys Michael Candy
True Mountain of Loving Kidness
 
Eyes of loving-kindness light up the world.
The four mountains* are all illumined.
The practice of transforming afflictions
will take us to the shore of freedom.
(* birth, sickness, old age and death)
Nguyen Stephanie Ngọc Minh
 (Chân Nguyệt Uyển)
 
Bến giác nơi trần lao
Nguyệt chiếu khắp ba đào
Thiền uyển trong hơi thở
Từ tâm mỗi bước về.”
Bùi Thanh Vũ
(Chân Bi Lực)
 
Chân tâm gốc rễ vẫn tài bồi
Bi âm vang vọng chuyển luân hồi
Hùng lực xưa nay nung nấu mãi
Đúc thành gươm báu đoạn trần ai
Norma Ines Barreiro
True Virtue on Happiness(Chân Lạc Đức)
 
With virtue’s grace, her path unfolds
Leading with clarity, lifting others higher.
Through seeds of joy, true peace does shine
A life of happiness in all she’ll pursue.
Lê Mậu Tảo
(Chân Tịnh Ý)
 
Chân pháp là vạn pháp
Cõi Tịnh ở tại lòng
Không tìm cầu hợp Ý
Buông bỏ, sống thong dong
Laura Alvarado
True Land of Reality (Chân Thật Địa)
 
On this land of suffering, seeds of hope grow
Embracing reality, her heart can flow.
Through mindful acts, healing takes form,
A refuge of peace amidst life’s storm
Jan Mieszczanek
True Goodness of the Nectar of Immortality (Chân Cam Lộ Thiện)
 

The Dharma nectar is always there
In every cloud, flower and pebble.
Seeds of goodness are innate in all
and manifest thanks to the practice.

Gina Garlie
True Source of Path (Chân Đạo Nguyên)
 
The beauty of spring opens the Path of happiness.
Awakening from the past, the present moment
Is full of light,
Breathing and smiling
from the True Source of my being
I hear the forest singing
the joyful song of life
Shir Yamaguchi-Meller
True goodness of non-fear (Chân Vô Uý Thiên)
 
Practising non-fear in hard times
helps goodness arise in others.
The Three Jewels guide and protect
shining light on the way ahead.
Jun Donna Hamamoto
True Ocean of Light
 
The Dharma is transmitted from heart to heart
When teacher and student become one,
Compassionate action is the True Ocean of Light
Bringing immeasurable joy to everyone
Patricia L. Redshaw
True Peaceful Goodness (Chân An Thiên)
 
The peaceful moon crosses the sky,
reflected in the lake of goodness.
Listening deeply resolves conflicts.
The sangha has a firm foundation.
Brad Wiscons
True Ocean of Actions (Chân Hạnh Hải)
 
An eye is in the palm of our hand.
Wisdom and action go together.
The ocean of mindfulness trainings
supports us as we engage in life.
Karni Hillel Maya
True Healthy Spring (Chân Xuân Khỏe)
 
The flowers that bloom in the warmth of spring
are already there in the winter cold.
Harmony in ourselves and with others
is the root cause of health and well-being.
Maureen P. Lancaster
True Wonderful Purity (Chân Diệu Khiết)
 
Holding the sangha in my two hands
I too am wonderfully embraced.
Purity and defilement are not two.
The mud is needed for the lotus.

 

Tình chị em

                                                                                       

Vermont Green Mountain Dharma Center c.1999

 

Phương Khê, ngày 27 tháng 12 năm 2024

Sư chị Chân Không thương kính,

Em muốn bày tỏ niềm tri ân đối với sư chị nhưng không biết phải bắt đầu từ đâu vì có rất nhiều điều muốn nói. Nhưng em nghĩ mình sẽ bắt đầu theo thứ tự thời gian, từ lúc em mới gặp sư chị lần đầu tiên vào năm 1986. 

Trước đó hai năm, em và một người bạn đã viết thư cho sư chị để xin phép đến Làng Mai. Bọn em định đi phà từ Anh qua Pháp và sau khi xuống phà sẽ đạp xe từ bến Dieppe tới Làng. Nhưng thật đáng tiếc, chúng em được sư chị báo tin là Làng Mai đã hết chỗ cho mùa hè năm đó.

Năm 1986, em có duyên được tham gia tổ chức khóa tu và các buổi pháp thoại công cộng cho Thầy ở nước Anh. Em hoàn toàn không biết gì về sức khỏe của Thầy và của sư chị nên đã chọn một tòa lâu đài lạnh lẽo ở miền bắc nước Anh cho khóa tu. Thậm chí trong những ngày khóa tu còn có tuyết, mà tòa lâu đài lại không có sưởi. 

Lần đầu tiên gặp sư chị ở sân bay, em đã thấy thân thiết với sư chị liền. Thầy và sư chị rất dễ thương với em, không hề phàn nàn dù em có rất nhiều thiếu sót trong khi tổ chức khóa tu. Sư chị đã hát suốt trên đường khi mấy thầy trò lái xe từ Luân Đôn lên miền Bắc. Em nhớ đó là lần đầu tiên nghe sư chị hát bài Ý thức em mặt trời tỏa rạng và sư chị dạy em hát theo. Sư chị cũng giải thích cho em một vài điểm trong tiếng Việt. Em được sư chị cho biết tiếng Việt không có từ “I” và “you” như trong tiếng Anh, sư chị là “chị”, còn em là “em”. Đây là điều rất khó hiểu đối với một cái đầu đã quen với “I” và “you” như em, vì phải thay đổi cách xưng hô tùy thuộc vào người mình đang nói chuyện.

Nhờ lần gặp gỡ đó mà em đã có đủ duyên đến Làng Mai để dự khóa tu mùa Hè năm 1986. Hai tuần cuối của khóa tu, em được ở xóm Hạ nơi sư chị phụ trách chăm sóc. Sư chị là người hướng dẫn thực tập cho các thiền sinh người Việt ở xóm Hạ. Không khí ở đây như trong một đại gia đình. Đến lúc em phải ra về vì hết thời hạn, sư chị nói với em có lẽ Thầy sẽ hỏi em có muốn ở lại làm dân thường trú ở Làng hay không. Em tin chuyện em được thường trú ở Làng hẳn là nhờ có sư chị trợ duyên. Chuyện được mời ở lại thật sự rất bất ngờ đối với em. Khi thưa với Thầy là em không còn hạnh phúc nào hơn khi được ở lại Làng, em được sư chị báo tin là em sẽ làm chị của một số người nam tị nạn đang có mặt tại xóm Hạ. Sư chị đã tin cậy giao cho em một công việc mà em làm không được giỏi cho lắm trong thời gian hai, ba tháng sư chị đi thăm các trại tị nạn ở Đông Nam Á, nơi những thuyền nhân người Việt đang tạm trú. Thời gian đó là cơ hội để em học tiếng Việt, bởi vì ở nhà chẳng có ai nói được tiếng Anh hay tiếng Pháp. Khi trở về Làng, bất cứ khi nào sư chị đến thăm, sư chị cũng mang thức ăn cho em: Phô mai Pháp, yến mạch để ăn sáng và yaourt. Sư chị cũng dạy em cách làm yaourt.

Em đã trải qua mùa hè năm 1987 tại Làng như một người thường trú dưới sự hướng dẫn của sư chị chứ không phải là một thiền sinh. Sư chị làm tất cả mọi thứ, từ sắp xếp chương trình đến nấu ăn. Em đi theo sư chị và học cách nấu một số món canh Việt Nam như canh bầu, canh rau muống, canh khoai tây cho khoảng hơn 100 người. Em cũng làm được bánh ga tô chanh cho thiền trà và được sư chị khen ngon.

1988 là một năm đặc biệt vì năm đó hai chị em được thọ giới tỳ kheo ni. Em tri ân sư chị rất nhiều vì nhờ sư chị thọ giới mà em cũng được Thầy nhận lời cho em được thọ giới. Em nghĩ có lẽ Thầy không chắc là em có thể duy trì nếp sống xuất gia suốt đời hay không. Vì vậy sự yểm trợ của sư chị trong việc em thọ giới là một điều rất quan trọng. Sư chị luôn là một người có hảo tâm và không bao giờ để cho ai có cảm tưởng mình bị gạt ra ngoài. Sư chị thậm chí còn cho em áo tràng của sư chị vì trước khi đi Ấn Độ, em không biết là sẽ có lễ xuất gia cho nên em không hề chuẩn bị một chút gì. 

Từ đó trở đi, em đã có một sư chị, và chắc hẳn em không phải là một sư em dễ dàng gì. Dù hạt giống muốn xuất gia của em rất lớn nhưng em vẫn còn có rất nhiều tập khí không nên có nơi một sư cô, thí dụ như tâm ganh tị. Em cần được nhắc nhở rất nhiều. Và nhờ sư chị mà em có một người sẵn lòng nhắc nhở em. Khi em còn là một sư cô còn non trẻ, sư chị đã khuyến khích em làm việc trong nhà bếp và ở ngoài vườn. Em rất may mắn được cho phép đến và ở lại Sơn Cốc, nơi em luôn cảm thấy được đón chào và cũng là nơi mà em được học hỏi rất nhiều từ cách sống của Thầy.

Năm 1989, em được Thầy cho phép làm thị giả trong chuyến hoằng pháp Bắc Mỹ sau khi sư chị quay trở lại châu Âu. Sư chị đã dạy em cách nấu một số món ăn căn bản mà Thầy có thể dùng được. Nhưng em không có cơ hội được nấu vì có rất nhiều thiền sinh người Việt rất nhiệt tình nấu ăn cúng dường Thầy.

Thời gian trôi qua, sư chị thấy những khiếm khuyết của em trong công việc văn phòng và tổ chức nên đã cố gắng hết sức để em không phải đảm đương những công việc ấy trong thời gian em ở tu viện Thanh Sơn. Sư chị đã ủng hộ em thật hết lòng khi em ở Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu (EIAB), Đức. Sư chị cũng luôn cho phép em về lại Làng và sẵn lòng có mặt, lắng nghe những vấn đề của em với đôi tai rất từ bi và nhiều tuệ giác. Sư chị không bao giờ trách móc em mỗi khi em đi qua khó khăn và luôn chấp nhận những yếu kém của em.

Lần gặp gần đây, sư chị nói: “Em ráng giữ gìn sức khỏe! Giữ gìn cho em mà cũng là cho chị nữa!”. Vâng, thưa sư chị, em sẽ cố gắng hết sức mình. Từ khi sư chị bị ngã trong chuyến đi Séc, em lúc nào cũng ngưỡng mộ sự kiên nhẫn của sư chị. Sư chị chấp nhận điều kiện sức khỏe của mình với sự kiên trì và cả sự hài hước. Nơi sư chị, em được học hỏi rất nhiều từ cách sư chị thực tập buông bỏ và an trú trong giây phút hiện tại. Vì sư chị đã có duyên được thân cận Thầy qua nhiều năm tháng nên sự thực tập chánh niệm đã trở thành bản tính tự nhiên của sư chị. 

 

 

Em chắc rằng đôi khi sư chị cũng rất nhớ Thầy sau nhiều năm thân cận Người như vậy, nhưng sư chị luôn tự nhắc mình và người khác rằng Thầy vẫn luôn có đó, bên cạnh chúng ta, dù cho hoàn cảnh có thể khó khăn đến đâu đi nữa. Sư chị đích thực là một vị Bồ tát, như hình ảnh trong bài kệ truyền đăng mà Thầy đã trao cho sư chị: 

              Chân thân vượt thoát sắc cùng hình

              Không tánh từ xưa vẫn tịnh minh

              Ứng hiện trần gian trăm vạn lối

              Từ bi phương tiện độ quần sinh.

Cảm ơn sư chị đã trợ duyên để em được là một người tu và là một sư em của sư chị. 

Chân Đức. 

(Bài viết được dịch từ nguyên bản tiếng Anh.)