Tâm bình thế giới bình

Câu hỏi của trẻ em: Làm thế nào để con không đau khổ khi thấy những người không dễ thương đối với thế giới này?

Thầy trả lời: Trong cuộc sống, có những người tốt, nhưng cũng có những người chưa tốt. Có những người dễ thương và có những  người  chưa dễ thương. Có những cái tích cực và cũng có những cái tiêu cực. Đời sống là như vậy: có bùn và có sen. Không có bùn thì sen không mọc lên được. Vì vậy sự có mặt của khổ đau là một chuyện rất bình thường. Vấn đề không phải là khổ đau nên có mặt hay không nên có mặt, mà là làm thế nào để không bị đắm chìm trong khổ đau, biết khéo léo sử dụng khổ đau để làm nên hạnh phúc.

Nếu nhìn sâu vào những người đang tàn hại thế giới, đang giết chóc hay đang tàn phá thì mình thấy có thể là những người đó không muốn giết chóc hay tàn phá. Nhưng vì họ có quá nhiều đau khổ, quá nhiều giận dữ trong tâm mà không biết cách xử lý, nên họ bị thúc đẩy làm những chuyện mà có thể họ không muốn làm. Ai trong chúng ta cũng đều có lúc hành xử như vậy: mình biết đó  là chuyện xấu nhưng mình vẫn làm như thường để rồi sau đó cảm thấy ân hận. Chúng ta hiểu là những người kia cũng rơi vào trong hoàn cảnh đó. Họ không muốn làm như vậy, nhưng vì trong lòng họ có quá nhiều bạo động và hận thù nên họ không cưỡng lại được.

Vấn đề không phải là trừng phạt mà là làm thế nào để giúp cho người kia chuyển hóa khổ đau và sự giận dữ trong họ. Thế nào cũng có những phương thức khác nhau để giúp. Nếu dùng súng bắn hay bắt bỏ tù người kia thì mình không giúp gì được cho họ, tại vì đó là những cách thức để trừng phạt.

Nếu những người lãnh đạo trong các trại giam biết thực tập thì họ sẽ không sử dụng phương pháp giam cầm để trừng phạt, mà sẽ sử dụng những phương tiện của trại cải huấn để giúp cho tù nhân thực tập và chuyển hóa. Nếu những người cai tù biết tập thở có chánh niệm để chuyển hóa sự giận dữ trong lòng thì họ có thể giúp cho tù nhân cũng làm được như vậy. Nhiều lúc mình phải bắt giam người kia để họ không tiếp tục sát hại và tàn phá. Nhưng mình bắt giam vì từ bi, chứ không phải   vì giận dữ. Khi bắt giam người kia mình nói với họ là mình bị bắt buộc phải làm như vậy, nhưng mình muốn họ hợp tác với mình để thực tập thở có chánh niệm, làm êm dịu sự giận dữ, nhìn sự việc một cách bình tĩnh hơn và làm phát khởi lòng từ bi. Nếu làm được như vậy, họ có thể sớm được trả tự do. Nếu ban quản lý trại giam biết thực tập thì họ sẽ giúp cho tù nhân chuyển hóa và được trả tự do sớm hơn.

Có rất nhiều người đang làm những việc gây ra nhiều đau khổ cho thế giới. Nhưng thay vì giận ghét họ thì mình có thể phát khởi lòng từ bi, để cho tình thương lớn lên trong tâm mình, và mình lập lời nguyện là mình sẽ tìm ra con đường để giúp cho những người đó chuyển hóa được giận dữ và bạo động để họ đừng tiếp tục làm khổ những người khác nữa.

Nếu trong lòng mình có ước muốn giúp đỡ người khác thì mình đích thực là một vị Bồ tát, là một vị Bụt, dù là tuổi mình còn rất nhỏ. Chúng ta hiện có rất nhiều vị Bồ tát trẻ trên thế giới.

Câu hỏi: Chúng ta phải làm thế nào để giúp đem lại hòa bình cho thế giới?

Thầy trả lời: Chúng ta phải bắt đầu từ chính tự thân. Chúng ta phải học làm thế nào để chính ta là sự bình an. Ta phải làm cho thân, cảm thọ, tri giác và cách ta suy nghĩ, nói năng cũng có bình an. Nếu ta biết cách làm thì ta sẽ tạo cảm hứng cho người khác cũng làm được như vậy. Và thế giới sẽ được bình an.

Nếu có nhiều căng thẳng, đau nhức trong thân thì ta sẽ không có bình an. Vì vậy ta phải thực tập để làm thư giãn sự căng thẳng và làm dịu đi sự đau nhức trong thân thì ta sẽ có nhiều bình an hơn.

Nếu trong ta có những cảm thọ không bình an như giận dữ, sợ hãi hay bạo động mà ta biết cách thực tập như sử dụng hơi thở hay bước chân để làm lắng dịu những cảm xúc đó thì ta sẽ có bình an. Chúng ta phải ăn uống như thế nào để thân ta không bị xáo trộn. Chúng ta chỉ nên đọc sách, tạp chí hay xem những phim ảnh không tưới tẩm hạt giống của bạo động, sợ hãi, giận dữ và tuyệt vọng trong ta. Đó là sự thực tập hòa bình. Chúng ta phải rất cẩn thận trong khi tiêu thụ! Ta không nên tiêu thụ những gì có yếu tố bạo động; những trò chơi điện tử, sách báo hay phim ảnh có thể chứa nhiều bạo động, giận dữ, căm thù trong đó. Nếu mình tiêu thụ những cái đó mỗi ngày thì mình sẽ không có bình an trong lòng. Và như vậy thì thế giới sẽ không còn hy vọng. Trước tiên chúng ta phải thực tập có bình an để thế giới có được bình an. Vì vậy chúng ta có câu: “Tâm bình, thế giới bình”.

 

Câu hỏi: Thưa thầy, chúng ta có nên dùng thân mình làm lá chắn (human shield) để thức tỉnh, để ngăn chặn chiến tranh và bạo động trên thế giới?

Thầy trả lời: Tốt hơn cả là mình nên trở thành những tấm gương để người khác noi theo. Mình xây dựng một đoàn thể trong đó có bình an, có tình huynh đệ. Đoàn thể của mình thể hiện được hòa bình và tình huynh đệ thật sự. Mình tiêu thụ như thế nào để có thể bảo vệ được môi trường.

Mình nói và nghe như thế nào để không có sự chia rẽ và giận dữ trong đoàn thể. Mình sống một cách đơn giản mà hạnh phúc. Tôi nghĩ đó    là phương pháp xây dựng hòa bình có tác dụng nhất, tại vì mình cho người khác thấy rằng hạnh phúc có thể có được mà không cần phải có nhiều tiền hay nhiều vũ khí, những thứ mà người ta cho là cần thiết để sống còn. Đoàn thể của mình lành mạnh, lành mạnh cho mình và lành mạnh cho thế giới. Chúng ta sống như thế nào để có một tương lai.

Chúng ta tạo cảm hứng cho những người khác tới quan sát và học hỏi nơi đoàn thể của chúng ta. Họ đang chạy theo danh vọng, quyền hành, tiền bạc và sắc dục nhưng họ không có hạnh phúc. Những thứ đó tàn hại thân và tâm của họ, tàn hại môi trường, tạo nên nhiều giận dữ và bạo động trong xã hội. Khi thấy lối sống của chúng ta, họ sẽ thức tỉnh và thay đổi. Lối sống của mình, đoàn thể của mình là một bài pháp thoại cho họ. Với một đoàn thể như vậy chúng ta có thể thực tập giáo dục hòa bình. Chúng ta có thể tới nhiều nơi để chia sẻ với những người khác một cách cụ thể rằng: đây là lối sống để có được hạnh phúc mà không cần phải tạo ra bạo động, giận dữ và thèm khát trên thế giới. Mình có thể giúp để xây dựng nên những đoàn thể như thế.

Chúng ta phải xây dựng hàng chục đoàn thể như vậy. Thật ra ở Làng Mai chúng tôi  đang làm công việc đó. Bắt đầu từ một đoàn thể thực tập chánh niệm, chúng tôi thành lập thêm một cái, rồi một cái nữa… Chúng tôi tổ  chức những khóa tu ở những trung tâm tu tập. Người ta tới với chúng tôi để thực tập con đường hòa bình, thực tập sống đời sống giản dị và có chánh niệm. Sau đó họ trở về nhà và lập tăng thân. Hàng ngàn tăng thân đã được thành lập bởi những thiền sinh, và công việc đó đang tiếp tục lan rộng. Đó là con đường hoàn toàn bất bạo động. Chúng ta không cần dùng cái chết để có thể gởi thông điệp đến với mọi người. Trái lại chúng ta cần phải sống để tiếp tục công việc. Mình có thể vào tù và tiếp tục chống đối. Nhưng chống đối không phải là cách hay nhất. Dù có chống đối mạnh mẽ đi nữa thì mình cũng không giúp được cho người khác chuyển hóa được sự sợ hãi, sự giận dữ, sự thèm khát của họ. Chỉ cho họ một con đường bằng một cách thức thật dễ thương cùng với sử dụng ái ngữ và lắng nghe thì mình mới có thể giúp cho họ thức tỉnh để họ chọn con đường khác thay vì đi theo con đường cũ của bạo động, chia rẽ và kỳ thị. Đó là hành động thật sự chứ không hề thụ động như nhiều người nghĩ.

Vì vậy xây dựng tăng thân, sống theo Năm giới, thực tập tiêu thụ có ý thức, thành lập những gia đình, những đoàn thể có hạnh phúc và giúp cho những người khác cũng làm được như vậy là phương pháp đem lại hòa bình cho thế giới.

Mình tập viết một lá “thư tình” thay vì viết một lá thư chống đối. Ví dụ như mình muốn viết thư cho ông dân biểu hay cho ông Tổng thống của mình, nếu mình viết một lá thư chống đối thì ông ta sẽ không thay đổi gì đâu. Nhưng nếu mình viết một lá thư tình nói rằng: “Kính thưa Tổng thống, kính thưa ông dân biểu, chúng tôi biết ông có rất nhiều khó khăn và đau khổ. Ông muốn thực hiện giấc mơ của mình để giúp cho dân, cho nước. Nhưng ông không thể làm được, chúng tôi hiểu, nên chúng tôi xin đề nghị vài điều…”. Trong bức thư, mình giúp cho ông ta nhận diện được sự sợ hãi, sự giận dữ, sự thèm khát trong ông. Những cái đó đã ngăn không cho ông thực hiện được giấc mơ của ông. Khi đọc lá thư, ông ta có thể nhờ vào tuệ giác trong đó mà chuyển hóa. Nếu mình chỉ biết viết một lá thư chống đối thì nó sẽ không có được tác dụng như vậy. Mình phải học cách viết một lá thư tình để giúp cho người kia hiểu được chính họ và thay đổi. Đó là vận động hòa bình.

Câu hỏi: Bạch Thầy, có trường hợp ngoại lệ nào mà chúng ta có thể sử dụng bạo lực để đối phó lại bạo lực hay không? Chẳng hạn khi đứng trước bạo lực thái quá như là nạn diệt chủng?

Thầy trả lời: Bất bạo động không phải là một kỹ thuật mà là một con đường (Non-violence action is not a technique, it is a way). Nền tảng của bất bạo động là sự hiểu biết và lòng từ bi. Có hiểu biết và từ bi trong tâm thì tất cả những gì mình làm đều là bất bạo động.

Ví dụ như có một người đang có hành vi giết hại hay phạm tội, mình bắt giam người đó. Hành động bắt giam người đó được coi là hành động bạo lực hay không bạo lực, điều đó còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Nếu mình bắt giam người đó với sự hiểu biết và thương yêu thì đó là một hành động không có bạo lực. Nếu mình không làm gì cả nhưng lại để người khác giết hại và tàn phá thì đó cũng là bạo lực. Bạo lực có thể là khi mình hành động hoặc ngay cả khi mình không làm gì cả.

Có những hành động, nếu nhìn bên ngoài thì nó có vẻ là bạo lực, nhưng nếu mình làm với sự hiểu biết và từ bi thì nó không phải là bạo lực thật sự. Ví dụ như có một con ngựa đang rất đau đớn, nó sắp chết mà không chết được. Mình cho nó một phát ân huệ để nó được chết. Việc làm này có vẻ như là bạo lực, nhưng mình làm vì lòng từ bi, mình không muốn con ngựa tiếp tục chịu đau đớn lâu hơn nữa.

Một hành động có bạo lực hay không là tùy ở trái tim của mình. Nếu mình có ý muốn làm giảm bớt khổ đau, nếu mình hiểu tại sao người kia bạo động như vậy thì ngay cả khi mình bắt giam người kia hay mình không cho người đó thức ăn trong một vài ngày thì đó cũng chưa phải là bạo lực. Không cho người kia thức ăn trong vài ngày có thể giúp người kia nhận ra rằng có được thức ăn là một cái gì thật tuyệt vời. Mình không có ý muốn trừng phạt mà chỉ giúp người kia đi đến một cái thấy và trân quí những gì mình thọ nhận. Đó không phải là bạo lực.

Mình đừng chờ tới khi xảy ra tình huống rồi mới quyết định là nên sử dụng bạo lực hay không nên sử dụng bạo lực. Mình phải chuẩn bị ngay từ bây giờ, và khi sự việc xảy ra thì mình có khả năng hành động với lòng từ bi, tức là hành động trong tinh thần bất bạo động.

Tinh thần bất bạo động phải được xây dựng một cách lâu dài. Các bậc phụ huynh khi giáo dục con cái, chỉ cho con cách thức suy nghĩ và hành động thì mình phải làm trong tinh thần bất bạo động. Mình không chờ tới khi đứa con lớn lên đi giết hại và tàn phá rồi mới bắt đầu dạy dỗ nó. Mình phải có những biện pháp ngăn ngừa trước. Mình có thể đưa lối suy nghĩ bất bạo động và cách hành xử bất bạo động vào trong lĩnh vực giáo dục, văn hóa hay nghệ thuật. Chỉ cho người ta cách thức lấy đi sự kỳ thị là căn bản của bất bạo động, tại vì bạo lực bắt nguồn từ sự kỳ thị, chia rẽ, hận thù, giận dữ và sợ hãi. Mình giúp cho người ta chuyển hóa những thứ tiêu cực đó trước khi chúng được biến thành hành động, đó là bất bạo động thật sự. Mình phải bắt đầu ngay từ bây giờ mà không đợi đến khi sự việc xảy ra mới bắt đầu suy nghĩ là nên dùng bạo lực hay không nên dùng bạo lực.

Tôi nghĩ rằng chúng ta không thể nào có được bất bạo động tuyệt đối. Mình chỉ có thể nói là mình cố gắng để càng ít bạo động càng tốt. Ví dụ như trong quân đội, mình nghĩ quân đội chỉ toàn sử dụng bạo động, nhưng quân đội phải được điều động để bảo vệ thành trì hoặc để ngăn chặn sự xâm lấn của nước khác. Có nhiều cách để hành động, có cách dùng nhiều bạo lực và có cách dùng ít bạo lực hơn. Mình luôn luôn có sự chọn lựa. Có thể là mình không sử dụng được bất bạo động 100 %, nhưng làm được 80% vẫn là tốt hơn 10%. Mình đừng đòi hỏi cái tuyệt đối. Đó cũng là cách thức chúng ta thực tập Năm giới. Mình không thể nào thực tập một cách hoàn hảo. Đừng lo là mình không giữ được Mười bốn giới hay Năm giới một cách hoàn hảo. Điều quan trọng là mình quyết tâm đi theo con đường đó. Cái cần thiết là mình phải cố gắng hết sức. Cũng giống như khi đi lạc trong rừng ban đêm và không tìm được lối ra thì mình phải đi theo hướng sao Bắc Đẩu để tìm đường  ra. Đi theo hướng Bắc không có nghĩa là mình   đi tới sao Bắc Đẩu. Mình không cần tới đó, mình chỉ cần đi theo hướng Bắc. Thực tập Năm giới cũng vậy, mình chỉ cần đi theo hướng của hiểu và thương. Mình không cần phải trở nên hoàn hảo. Mình cố gắng hết sức mình, như vậy đã là đủ tốt cho tăng thân, đủ tốt cho Bụt rồi. Bất bạo động cũng vậy, mình phải cố gắng hết sức mình thôi.

 

Câu hỏi: Bạch Thầy, con rất muốn cập nhật những sự kiện xảy ra trên thế giới. Nhưng khi theo dõi tin tức hàng ngày, những hạt giống tuyệt vọng và bất lực trong con bị tưới tẩm rất mạnh. Con nên thực tập như thế nào để xem tin tức nhưng vẫn bảo hộ được mình?

Thầy trả lời: Đừng nghe tin tức nhiều quá! Tại sao phải nghe tin tức nhiều lần trong ngày? Khi có một tin gì thực sự quan trọng, chắc chắn sẽ có người báo cho mình biết.

Có thể vì trong tâm mình có sự cô đơn, trống trải nên mình cần biết những gì đang diễn ra trên thế giới với hy vọng là có một việc tốt xảy ra. Nhưng sự thật thì tin tức hầu hết đều nói về những điều không tốt. Hàng ngày chúng ta nghe tin tức nói về giết chóc, chiến tranh, bạo động. Không riêng những nhà báo thôi, mà có rất nhiều người chỉ toàn loan tin xấu. Vì vậy chúng ta đừng nên nghe tin tức nhiều quá mà nên dành nhiều thì giờ hơn để chế tác bình an và từ bi trong ta.

Sự sống trong tôi

Tôi nuôi mình bằng sông
                 bằng núi
bằng những cánh đồng
                           thẳng cánh cò bay
bằng biển cả bao la
              in dấu chân dài
                               trên bãi vắng
bằng những đêm thanh lắng
                          vằng vặc những
                                                sao trăng.
 
Tôi nuôi mình bằng những ngọn đồi
                         với mỗi sớm
                                      sương giăng
       bằng ánh lửa hồng mỗi sớm mai
                     xuất hiện
bằng những cánh đồng hoa đến mùa
                                       biểu hiện
                       bằng những con đường làng
                                                 in dấu ấn
                                                             tuổi thơ.
 
Tôi nuôi mình bằng những giấc mơ
Của ngàn đời giờ đây tiếp nối
Tiếng chim đầu ngày gọi nhau í ới
Truyền tin vui khắp các nẻo về.
 
    Lời thơ tiếng hát
    Nụ cười hồn nhiên
    Tấm lòng trung kiên
    Tình thương bè bạn.
 
Tôi nuôi mình bằng những điều
                       không giới hạn
Bằng bước chân của Thầy,
    Bằng hơi thở mẹ cha
        Bằng mạch sống của tổ tiên…
Có hiện hữu nào không làm nên   
            sự sống trong tôi?

Buổi sáng màu xanh

 
Màu xanh gõ cửa buổi sáng
Những cụm khói đã bay đi, các ngôi sao đã về trời,
để một mùa xuân hiển hiện rõ ràng, tinh sạch…
Tôi ngồi nghe im lặng gõ vào tim,
những ngày tháng trôi xa,
những tháng ngày chưa tới,
chỉ còn là phập phồng trong nhịp thở sáng nay
 
Một buổi sáng nhiều mây
Màu xanh là nắng,
để chim chóc vẫn lừng vang tiếng cười tiếng nói,
nghe một người ngồi yên…
 
Một buổi sáng thiên thu,
buổi sáng như thế, như thế đã ngàn lần.
Ta vẫn còn đi hoài, đi hoài trong chiều sâu hơi thở,
Ta vẫn còn nghe hoài, nghe hoài trong chiều sâu im lặng.
Đến tận ngọn nguồn nào…
Chợt nhớ mình là cây, là lá, là chim,…
 
Một buổi sáng bình yên
Một buổi sáng thật hiền
Buổi sáng ngồi một mình
Mà ngồi với nhau
Nghe nhau là tri kỷ
 
Ơi, buổi sáng màu xanh mở cửa khu rừng
Vẫn còn một góc trời để sóc nai hồn nhiên tung tăng, chạy nhảy,
để nghe suối nguồn vẫn ầm ào chảy về từ nguyên thủy,
từng tảng đá, cội cây… không nơi nào không là chốn linh thiêng.
 
Tạ ơn buổi sáng,
Xin về ngồi yên, ngồi yên trên đất Mẹ một miền,
tạ ơn màu xanh, những hồn cây, phách lá,…
đã nghiêng xuống đời, những buổi ngày cháy lòng cháy dạ,
tỏa mát cho đời, bầu không khí lành thơm.
Tạ ơn bao la, vẽ tiếp giấc thiên đường
Tạ ơn Người đã chảy dòng suối ngọt lành về,
cho muôn loài tắm mát
 
Để sớm mai trên suối đồi kia, Người có nghe,
rộn vang tiếng cười, tiếng hát.
Ấy là cuộc đời đã đáp lời, nguôi tiếng bi ai…      

Tái sinh

 Anh Chân Linh Từ, người Pháp, thọ giới Tiếp Hiện từ năm 1986 và được Sư Ông Làng Mai truyền đăng năm 2014. Dưới đây là bài chia sẻ của anh về con đường đến với Làng Mai và những chuyển hóa, trị liệu trên chặng đường tu tập hơn ba mươi năm qua.
 
Lúc đến Làng Mai lần đầu tiên, tôi chỉ mới 26 tuổi. Đó là vào tháng bảy năm 1983. Hồi đó Làng Mai có tên là Làng Hồng. Tôi còn nhớ tôi tới xóm Hạ ở Meyrac và người ra đón tôi sư cô Chân Không, hồi đó còn là cô Phượng. Sau khi tôi tự giới thiệu mình là ai, do đâu mà tôi biết được Làng để tới một cách bất ngờ như vậy thì cô Phượng kêu lên: “A, thì ra là anh, anh là Jean Pierre! Anh Jean Pierre đã từng giúp cho những người Việt đến tị nạn ở Pháp phải không?”. Tôi hơi ngạc nhiên không hiểu sao ở một nơi tôi chưa hề đặt chân tới mà người ta lại biết tôi.
 
Tôi đến Làng Hồng theo sự chỉ dẫn của một anh bạn người Việt tên là Bá Thư, người đã tặng tôi quyển sách của Thầy – cuốn “Phép lạ của sự tỉnh thức” do Nhà xuất bản Lá Bối ấn  hành. Và tôi đã bắt đầu thực tập thiền với cuốn sách quý báu đó trong thời gian sắp xếp để đến Làng, mà không cần phải hiểu gì nhiều. Tôi tập rửa bát, tập ngồi, tập đi. Tôi nhận ra rằng thời gian làm việc luôn luôn là “thời gian của tôi” mà không phải là thời gian “mất đi”, nhất là khi mình làm một việc không thú vị gì mấy.

Ngày thứ nhất của tôi ở Làng và cuộc gặp gỡ đầu tiên của tôi với Thầy như thế này: chúng tôi (khoảng một chục người) tập họp trong một cái vựa cũ, bây giờ là nhà ăn của xóm Hạ, ngồi trên những chiếc băng dài sắp theo hình vòng cung trước một tấm bảng. Một người đang dùng hình vẽ để nói cái gì như một loại báo cáo vậy. Ông ta mặc một bộ đồ thật giản dị gồm có một cái áo gọi là áo vạt hò và một cái quần dài. Tuy tôi không hiểu những gì ông ta nói nhưng tôi cảm thấy rất thú vị. Tôi nghĩ ông ấy chắc là thiền sư của Làng. Nhưng bỗng nhiên có một người cũng ăn mặc giản dị, đứng lên ngắt lời ông kia và điều chỉnh lại những hình vẽ trên bảng một cách thẳng thắn. Thật rõ ràng đây là ông thiền sư mà Bá Thư đã nói với tôi. Đó là lần đầu tiên mà tôi gặp Thầy, một người tươi mát, dịu dàng đồng thời cũng thẳng thắn, với một uy lực thật tự nhiên và đầy từ bi.

Thiền đường Nến hồng tại xóm Hạ trong những năm đầu của Làng

 
Ngày thứ hai của tôi ở Làng cũng đầy ấn tượng: các trẻ em tụ họp lại dưới hai cây sồi lớn ở xóm Hạ để tập hát những bài hát tiếng Việt. Những chiếc băng ghế dài được sắp theo vòng tròn. Tôi giữ khoảng cách và hơi nhút nhát vì tôi không quen ai ở đó cả, không có một người nào của Hội Ái Hữu Sinh Viên có mặt. Trong khi các em đang hát thì bỗng nhiên tôi cảm thấy có hai bàn tay đặt lên vai tôi rồi đẩy nhẹ tôi về phía các em. Tôi nghe một giọng nói mời tôi tới cùng hát với các em: “Jean Pierre, anh ngồi xuống với các em và tập hát bằng tiếng Việt đi!”. Đó chính là Thầy, Thầy đã đến sau lưng tôi hồi nào mà tôi không hay.
 
Một lần khác, Thầy gọi tôi tới ngồi gần bên, nhìn ra vườn mận. Thầy giới thiệu Làng với tôi, nói cho tôi biết cách sống ở Làng, kể cho tôi nghe những ý tưởng Thầy có trong đầu về tương lai của Làng, làm sao để vừa trồng cây mận vừa bảo vệ được sự sống… Sau cùng Thầy hỏi tôi: “Anh nghĩ gì về Làng Hồng?”. Tôi trả lời Thầy một cách rất tự nhiên: “Tôi nghĩ là sẽ có rất nhiều người đến đây vì người ta rất cần một nơi như thế này!”. Tôi ngạc nhiên khi một người nhút nhát như tôi có thể nói được như thế, có thể vì tôi cảm thấy thoải mái an tâm khi ở bên Thầy.
 
Tôi tới Làng không có chủ đích thực tập chánh niệm nhưng rồi nó từ từ trở thành một nhu cầu quan trọng trong cuộc sống của tôi. Tôi thích đi dạo trên những cánh đồng, đi trong rừng hay qua những vườn nho. Một hôm thấy những giáo lý quá nặng nề đối với tôi, Thầy nói: “Jean Pierre, anh không cần phải biết kinh điển hay học thuộc những từ ngữ Phật giáo khó khăn. Anh chỉ cần sống trong Làng với chúng tôi là được rồi”. Những lời nói đó làm cho tôi rất xúc động.
 
Nhiều người hỏi tôi: “Tại sao lúc nào anh Jean Pierre cũng có mặt trong nhóm những người Việt vậy?”. Lúc đầu thì tôi cười, trả lời: “Tại sao không?”. Tôi tiếp xúc với người Việt Nam từ thời chiến tranh trước năm 1975 qua những tin tức trên truyền hình, lúc còn là một thiếu niên. Trong một bản tin thời sự buổi chiều, tôi thấy gương mặt của một phụ nữ Việt Nam khắc khoải bởi nỗi đau mất con trong bom đạn và một bé gái trần truồng, thân hình cháy xém, chạy trên con đường đất. Trái tim tôi vỡ vụn và nước mắt tôi trào ra. Tôi vừa hiểu ra rằng, dù thời thơ ấu của tôi có nhiều khó khăn, nhưng không chỉ riêng mình tôi có khổ đau mà bất kỳ ai trên đời này đều có niềm đau nỗi khổ. Tôi cảm thấy gần gũi với những người mà tôi chưa hề quen biết.
 
Sau này, nhờ Hoàng (một người anh em rất thân của tôi trong Hội Ái Hữu Sinh Viên), tôi biết đất nước tôi phải gánh chịu phần nào trách nhiệm trong việc tạo ra những bi kịch đó và tôi cảm thấy chính mình cũng có trách nhiệm một phần nào. Sâu trong lòng, tôi nghĩ tôi phải có mặt cho những người Việt, và cần phải làm điều gì đó để bù đắp lại lỗi lầm do đất nước mình gây ra.
 
1983 – Thầy và Làng đi vào cuộc đời tôi
 
Trong mười hai năm đầu tiên sau khi biết Thầy, tôi vẫn tiếp tục sống một cách đơn độc, khép kín và tránh đối diện với những nỗi khổ niềm đau của chính mình. Tôi thường tìm cách lẩn tránh những người khác. Hồi đó cộng đồng tu học người Việt đã chăm sóc tôi. Mỗi cuối tuần, chúng tôi tổ chức một ngày quán niệm. Dù được đánh động bởi cuốn sách “Phép lạ của sự tỉnh thức” tôi vẫn không thoát ra khỏi sự cô đơn.
 
Tuy nhiên, đến Làng cùng với những người bạn Việt Nam, tôi có được những giờ phút vui vẻ, cởi mở, cùng hát, cùng đùa chơi hay cùng đi nhặt hạt dẻ trong rừng Fontainebleau, cùng rong chơi,… sống không lo nghĩ! Những giây phút đó giúp tôi quên đi nỗi lo sợ mà tôi không chia sẻ được với ai, kể cả Thầy, người mà tôi rất kính mến, người mà tôi biết là sẽ lắng nghe tôi. Tôi không muốn mình có vẻ đáng thương. Hơn nữa tôi nhút nhát, tôi nghĩ Thầy là một người “lớn”, còn tôi chỉ là một người “nhỏ bé”, tôi không thể làm phiền Thầy vì những vấn đề riêng tư của mình.
 
Những buổi chia sẻ, những buổi thực tập chánh niệm, những buổi sinh hoạt quanh cái bàn đầy thức ăn chay ngon lành, hay quanh một bình trà nóng làm cho tôi cảm thấy ấm áp trong không khí gia đình. Từ từ một gia đình được dựng lên chung quanh tôi. Gia đình đó nhận nuôi tôi như một người con. Điều này rất mới lạ đối với tôi, bởi vì lúc sáu tuổi tôi bị tách ra khỏi gia đình huyết thống và được một gia đình xa lạ nhận nuôi. Tôi đã biết được thế nào là bạo động, sợ hãi và lao nhọc của công việc trong một nông trại, chưa kể tới niềm đau của sự chia cắt.
 
Một sự thay đổi lớn đã ảnh hưởng tới cuộc đời tôi: tôi gia nhập vào một gia đình tâm linh đã nuôi dưỡng và chở che tôi bằng tình bạn và lòng ưu ái. Đồng thời tôi cũng được nhận vào một gia đình mới, gia đình Việt Nam. Tôi bị rúng động, tôi không biết phải làm gì và hành xử như thế nào. Tôi nói đùa rất nhiều và cười vui một cách dễ dàng để che giấu cảm xúc và nước mắt của mình. Trái tim đầy sẹo của tôi không cho phép tôi nói đến điều đó. Nhưng chắc chắn điều quan trọng nhất là tôi giữ liên lạc với hai gia đình mới đó, tôi biết như vậy.
 
Sự thực tập chánh niệm đi vào tôi thật nhẹ nhàng
 
Về phương diện tu tập, mặc dù đã trải qua vài năm, nhưng khoảng cách giữa đời sống cô độc và khoảng thời gian ở chung với cộng đồng của tôi tại Fontvannes (Phương Vân Am) hay Thiền đường Hoa Quỳnh vẫn còn rất lớn. Sau khi thọ 14 giới Tiếp Hiện vào năm 1986 thì sự thực tập chánh niệm và quán chiếu nhìn sâu mới từ từ đi vào đời sống hàng ngày của tôi, giúp cho tôi có được một vài chuyển hóa mà tôi cũng không nhận ra được. Sự chuyn hóa đó biểu hiện khi mẹ tôi mất vào tháng bảy năm 1990. Khi đó, tôi trông nom mấy đứa cháu trai và cháu gái giúp cho chị tôi vì chị hầu như hoàn toàn mất hết lý trí. Tôi đã hướng dẫn một buổi thiền hành và tôi đã làm một cách thật tự nhiên, không cố gắng. Buổi thiền hành diễn ra rất tốt đẹp. Trong lúc dừng lại, tôi có chia sẻ với mọi người rằng mẹ của chúng tôi thật sự không bao giờ mất đi đâu hết. Nếu nhớ mẹ thì chúng tôi có thể gặp lại mẹ một cách dễ dàng khi nhìn sâu vào bàn tay của mình, khi đi thật bình an, lắng nghe thiên nhiên, cây cỏ, chim chóc hay chỉ cần có mặt thật sự cho mình trong giây phút đó.
 
Nhiều lần tôi hướng dẫn những buổi thiền tập, những buổi lễ tụng 14 giới Tiếp Hiện, những lúc tụng Bát Nhã Tâm Kinh,… tất cả đều bằng tiếng Việt. Người ta có lòng tin ở tôi hơn cả chính tôi. Cũng có khi những người không hề thực tập thiền Phật giáo nhận xét về tôi như thế này: “Jean Pierre, cái nhìn của anh đã khác hơn trước, nó dịu dàng hơn”, hoặc lúc tôi làm việc ở nông trại trong mùa hè: “Anh đã thay đổi, anh làm việc chậm hơn, chăm chú hơn mà không bị mệt!(tôi nhớ lúc đó mình đã làm việc trong chánh niệm). Có một lần tôi đi theo lối thiền hành tới tiệm bán bánh mì trong làng – nơi tôi lớn lên – thì ông bán bánh mì nói với tôi: “Anh có vẻ thật bình an!”. Có những điều như vậy đã xảy ra, có những bất ngờ nho nhỏ thú vị, những bông hoa nở thật đẹp trên con đường đầy đá sỏi. Điều này không làm cho tôi hãnh diện, mà chỉ là động lực khuyến khích tôi thêm trong sự thực tập.
 
Tiếp xúc với em bé trong tôi
 
Lúc mới bắt đầu thực tập ở Xóm Hạ, tôi không biết là trong tôi có niềm đau nỗi khổ. Hơn nữa tôi không đến Làng vì có khổ đau. Tôi chưa biết nhận diện sự mặt của khổ đau trong tôi. Tôi không biết trong tôi có một em bé đang đau khổ, em bé còn mang tất cả những vết thương sâu của quá khứ.
 
Trong cuốn sách “Phép lạ là đi trên mặt đất” (Le miracle c'est de marcher sur terre) có một chương với tựa đề: Thiền đem lại sự sáng tỏ và trị liệu. Tôi đã để rất nhiều thì giờ để tìm hiểu tựa đề đó. Vì qua nhiều năm thực tập, khổ đau của tôi ngày càng hiện rõ nhưng nó vẫn không được chữa trị. Thầy của chúng tôi dạy rằng thiền tập không làm cho mình khổ, mà trái lại làm cho mình có bình an. Tôi còn nhớ một lần đến Làng tôi ho nhiều lắm. Lồng ngực của tôi đau nhức từ hơn một tháng. Qua hình chụp quang tuyến, tôi biết là mình không có bệnh gì cả nhưng tôi rất đau. Cô Phượng đưa Thầy đến gặp tôi. Thầy nói với tôi chỉ giản dị như thế này: Jean Pierre, thiền không làm mình đau, thở không làm mình đau. Anh đừng quá cứng ngắc trong sự thực tập…”. Sáng hôm sau, tôi hết ho và ngực tôi không còn đau nữa. Đây là nói về sự đau nhức của thân. Về phương diện tâm, thì khổ đau của tôi chỉ dường như có được một chút chuyển hóa mặc dù tôi đã biết học nhận diện và ôm ấp em bé năm tuổi của ngày xưa trong tôi.
 
 
Sau khi kết hôn thì tôi bắt đầu xa Làng trong một thời gian khá lâu ngoại trừ tôi có đến thăm Thiền đường Hoa Quỳnh vài lần và một lần tôi đưa gia đình nhỏ của mình về xóm Mới. Vợ tôi không có cùng ý muốn thực tập hay thích về Làng như tôi. Có lẽ vì tôi không biết cách làm cho vợ mình có ý thích đó, tại vì chính tôi cũng có nhiều do dự và không dứt khoát. Cách thức hành xử của một người chồng và một người cha không được dạy trong trường học và tôi đã phạm rất nhiều lầm lỗi. Từ từ tôi thấy sự giận dữ mà tôi đã tiếp nhận từ thời thơ ấu biểu hiện ra. Nó mạnh như núi lửa… chúng tôi đi tới tình trạng rất khó khăn và chia tay. Một lần nữa tôi lại trốn chạy trước thực tế của một đời sống gia đình. Tôi không thấy được là tôi đã có quá đủ những gì cần thiết để sống hạnh phúc.
 
Tôi bị kẹt vào nỗi khổ niềm đau của thời thơ ấu, của cái cảm giác mình là một nạn nhân… Nhiều lần tôi đã trở về miền quê nơi tôi đã lớn lên. Tôi cảm thấy mình thật vô phước, tôi muốn hiểu được và làm dịu đi niềm đau đó. Tôi đi bộ rất nhiều trong rừng, trên những cánh đồng, những bãi cỏ, những nơi mà tôi đã từng sống và làm việc. Tôi không ý thức là mình đang thực tập thiền hành. Vào một buổi sáng sớm, tôi nghe tiếng chuông nhà thờ văng vẳng trong sương mù. Tự nhiên tôi dừng lại, trở về với hơi thở, với hình hài của mình. Thật là một sự tái sinh. Sự thực tập của tôi không “mất” đi đâu hết. Tôi thấy được khổ đau tôi đã gây ra cho chính mình và cho gia đình. Tôi không thể nào làm như vậy được, đem bạo động trong mình đổ lên người khác. Tôi gánh phần lớn trách nhiệm tạo ra tình trạng đó cho gia đình mình, cho sự kiệt quệ và sự phóng thể của mình. Tôi đã đánh mất gia đình của tôi. Nhưng một mình cô đơn không có gia đình thì mình sẽ ra sao?
 
Chỉ cần đi, đi một cách bất bạo động thì sẽ có bình an! Đó là thiền! Chăm sóc hình hài của mình, hơi thở của mình. Chú ý, chỉ chú ý tới cái gì đang xảy ra…Ngày hôm đó tôi tìm lại được tăng thân, gia đình tâm linh của tôi trong cỏ cây, đất đá và những con thú nhỏ như là chú sóc thường hay đến cười với tôi quanh cây sồi lớn.
Tôi tiếp tục thực tập thiền hành trên những con đường trong rừng. Tôi hái nấm dại về tự nấu ăn lấy. Tôi lượm hạt dẻ và hạt hồ đào. Và chủ yếu là tôi được nuôi dưỡng bằng tất cả những gì đẹp đẽ và tươi mát. Tôi thấy rất rõ mình đã có hạnh phúc ngay cả trong khổ đau của thời thơ ấu. Tôi thấy rất rõ khổ đau và yếu kém của người đã gây ra khổ đau cho tôi. Và tôi bắt đầu thương người đó thật sự.
 
Tôi thấy tôi là đứa bé sáu tuổi của thời đó. Trên một con đường rừng đầy ánh sáng, nó đã đến nắm tay tôi, nét mặt tươi cười và bước đi cùng với tôi. Thân tôi trở nên nhẹ bỗng, chân tôi như đặt trên mây, tôi cảm thấy gương mặt mình hoàn toàn thư giãn và êm dịu, một cảm giác thật bình an. Và tôi thấy cây cỏ, đất đá, cầm thú, đất với trời trở thành một, trong một khoảnh khắc không còn sự cách biệt nào cả. Chỉ còn lại một làn gió nhẹ giống như cái cảm giác được giải thoát hoàn toàn khỏi sự khổ đau. Khổ đau chuyển hóa hoàn toàn, nhường chỗ cho tình thương vô tận. Vài bước chân, vài hơi thở và tôi trở về nhà, lòng đầy bình an. Tâm tôi trống rỗng và tôi gởi sự bình an tới cho người đó. Tôi không có lời nào để diễn tả được trạng thái đó, tôi chỉ có những bài thơ và đặc biệt là bài thơ tôi làm lúc nhận truyền đăng:
 
“Tôi đặt tay trên chiếc ngực trơ xương, người đó nằm trên giường hấp hối,
Tôi ôm người đó trong tay, rồi chúng tôi cùng khóc
Tôi thương người đó, người đã in dấu sắt nung đỏ trên thân tâm tôi
Tình thương bất tận thấm vào trái tim, tháo tung xiềng xích của vô minh
Những hạt giống tốt đẹp đã nẩy mầm trên tro tàn tham dục
Không có gì cần chuyển động, vài bước chân đã giẫm vào cửa Tự Do”.
 
Năm 1999, người mà tôi cùng sống chung lúc nhỏ qua đời. Tôi đã đến thăm lúc ông hấp hối. Ông chỉ còn da bọc xương và thở những hơi thở cuối cùng. Ông nhận ra tôi, không hận thù không giận dữ. Trong ba ngày, mỗi ngày hai lần tôi đến đặt tay lên ngực ông và cùng thở với ông. Sau đó tôi đi thiền hành ngoài đồng và khi trở về, tôi lặng lẽ đến bên ông và nói: “Tôi đã đi cho ông…”. Chiều chủ nhật tôi trở về Paris. Ông ra đi một cách bình an trong đêm ngày thứ ba. Ông đã chờ tôi.
 

 

Dẫn về kho Bảo Tích (*)

  
Được truyền đăng năm 1992, anh Chân Trí là một trong những vị giáo thọ cư sĩ có nhiều kinh nghiệm và nhiệt huyết xây dựng tăng thân. Anh cùng với chị Chân Ý (Anh Hương) hiện đang hướng dẫn tu học cho tăng thân Thuyền Từ tại Washington, Mỹ. Ngoài ra, hàng năm anh chị  còn hướng dẫn rất nhiều khóa tu học về nếp sống tỉnh thức cho cả người Việt lẫn người ngoại quốc. BBT đã có dịp ngồi chơi với anh Chân Trí nhân dịp anh về tham dự khóa tu 21 ngày tại Làng Mai  vào tháng 6 năm 2016.
 
BBT: Xin anh chia sẻ về những nhân duyên nào mà anh biết đến Làng Mai?
 
Chân Trí: Năm 1973, sau khi học xong trung học, Chân Trí được học bổng quốc gia đi Pháp du học tại trường đại học Lyon. Khoảng một năm rưỡi sau, vào cuối tháng 4 năm 1975 thì quân đội miền Bắc thắng trận và kiểm soát trọn đất nước Việt Nam. Các sinh viên du học lúc ấy rất hoang mang và lo lắng vì mất hết tin tức về gia đình ở Việt Nam, lo không biết gia đình mình có được bình an không, và nếu phải di tản thì có bị tai nạn gì không. Học bổng quốc gia của mình cũng bị mất sau biến cố đó, nên Chân Trí cũng như các sinh viên du học khác đều phải lo tự kiếm sống.
 
Khoảng một năm sau, Chân Trí may mắn được chính phủ Pháp cho học bổng để tiếp tục việc học. Đến giờ phút này, Chân Trí vẫn còn biết ơn chính phủ Pháp đã nâng đỡ cho mình trong hoàn cảnh khó khăn đó. Tuy không còn lo lắng v tài chánh, nhưng lòng vẫn không yên vì Chân Trí mất liên lạc với gia đình ở Việt Nam. Mình thấy tương lai mờ mịt, không biết có còn trở lại quê hương được không. Sau đó Chân Trí rơi vào tình trạng trầm cảm mà không hay. Bài vở ở trường cho về mình để một góc không muốn học. Ngày xưa, ở Việt Nam chưa có chữ trầm cảm. Khi thấy ai không muốn làm gì nữa thì mình bảo người đó chán đời. Chữ trầm cảm là chữ chuyên môn sau này. Mấy chục năm sau nhìn lại mới biết mình đã bị trầm cảm, nhưng may là không nặng đến nỗi phải bỏ học.
 
Sau khi xong đại học, Chân Trí đi thăm gia đình một người chú đã di tản sang Mỹ hồi năm 1975. Trước khi đi, Chân Trí lên Paris tìm mua sách Việt Nam để đọc trên máy bay, và không nhớ cơ duyên gì mà mình có địa chỉ của nhà xuất bản Lá Bối. Đến đó mua sách, Chân Trí thỉnh được cuốn Phép lạ của sự tỉnh thứcNẻo vào thiền học. Ngồi đọc các quyển sách trên máy bay mà thấy mình như bắt được vàng, được ngọc. Sách hay và quý quá, chưa bao giờ mình được đọc những quyển sách hay như vậy. Chân Trí nhận ra rằng hóa ra suốt cuộc đời đi học của mình, từ trung học cho đến đại học, mình chỉ học về văn chương và khoa học. Ngay cả khi còn bé, các môn Đức Dục và Công Dân Giáo Dục dạy mình ra đường phải kính già, nhường trẻ… chỉ nuôi dưỡng chất liệu đạo đức nhưng chưa khai mở được chiều sâu tâm linh trong con người. Những gì Chân Trí đọc được trong hai quyển sách ấy đã đánh động đến đời sống tâm linh ẩn sâu trong lòng mình. Đọc tới đâu, lòng mình ấm lại tới đó. Nhất là khi bắt đầu áp dụng các bài thực tập Sư Ông viết trong phần cuối của quyển Phép lạ của sự tỉnh thức.
 
Duyên may kế là khoảng một, hai năm sau, anh Chân Thuyên, một anh bạn thân của Chân Trí ở Lyon, rủ Chân Trí về Làng Mai vào dịp Làng mở cửa năm đầu tiên. Anh Chân Thuyên rất yêu đạo và quý Sư Ông. Sau khi sang Pháp, anh đã tìm cách liên lạc với nhà xuất bản Lá Bối và gia đình anh đã có dịp đến tu học với Sư Ông khi Sư Ông còn ở Phương Vân Am ở miền nam Paris. Mùa hè đầu tiên Chân Trí về Làng đánh dấu một khúc quanh lớn nhất của cuộc đời Chân Trí. Trong không gian khoảng khoát của đồng quê nước Pháp, Chân Trí đã được tắm mình vào dòng sông tâm linh của Làng. Sư Ông ở đâu là có hương vị tâm linh ở đó. Tất cả những gì Chân Trí tiếp xúc ở Làng: từ những cây mận mới trồng, những bông hoa cỏ đơn sơ, cho đến những bức tường đá cổ chấm phá bởi những lớp hồ nửa mới nửa cũ, đều đẹp một cách kỳ diệu, thoang thoảng hương thiền trong từng hơi thở của mình. Chân Trí lúc bấy giờ như người khát nước, tiếp nhận mọi thứ một cách dễ dàng. Cái gì cũng thích: thiền đi, thiền ngồi, thiền trà, quán cóc, chè xôi… Một hạnh phúc nữa là Chân Trí được chơi với các em bé Việt Nam. Các em hồn nhiên ca hát, rất dễ thương. Ở đây có hương vị thiền tập rất quê hương. Những năm đầu tiên Làng có rất ít người. Sau giờ pháp thoại Sư Ông ra ăn chè, ngồi chơi chung với mọi người, không khí thân mật như một gia đình.  Đó là nét đặc biệt của Làng, rất Việt Nam. Không gian với nét đẹp Việt Nam làm cho mình thêm hạnh phúc. Sinh khí trong lòng mình sống dậy, làm dịu đi những khổ đau trong lòng và mở ra một hướng đi mới cho mình về tương lai. Trở về nhà trọ của mình ở thành phố, Chân Trí đã trang trí một cái bàn thờ nhỏ, có hình Bụt, có hoa, có bát nhang và tập ngồi thiền mỗi ngày. Từ đó trở đi, mỗi mùa hè Chân Trí lại về Làng và rủ thêm một số bạn học cùng về tu để kết duyên với Làng.
 
BBT: Xin anh chia sẻ làm sao anh có thể duy trì được tâm bồ đề của mình khi sống giữa thế giới bên ngoài?
 
Chân Trí: Thế giới bên ngoài tu viện rất căng thẳng và có nhiều cám dỗ. Ít ai có thể cưỡng lại được áp lực và sự quyến rũ của đời sống mới bây giờ. Sự cạnh tranh thị trường làm cho các hãng xưởng phải thúc đẩy sau lưng các nhân viên và công việc ở sở ngày càng căng thẳng. Hình ảnh, âm thanh quảng cáo bủa vây mình. Sản phẩm điện tử đầy dẫy. Mạng lưới Internet tuy tiện dụng nhưng cũng trở thành một loại thức ăn có nhiều chất độc. Quý thầy cô không có điện thoại di động mà được thảnh thơi. Chỉ cần có một cái điện thoại thông minh là mình bị “kẹt” vào đó dễ như chơi. Mình sẽ bị “lạc” vào nhiều thế giới quyến rũ, say mê trong đó, đánh mất ý thức về khổ đau và hiểm họa của đời sống thiếu chánh niệm.
 
Nếu mình muốn “sống còn”, chứ chưa nói đến chyện duy trì tâm bồ đề, thì mình phải thường xuyên có ý thức về khổ đau, khổ đau trong chính bản thân, trong những người mình thương và những người xung quanh mình. Tiếp xúc với khổ đau làm nảy sinh lòng xót thương. Có lòng xót thương mới có khả năng buông bỏ những thứ không cần làm và chú tâm vào những sinh hoạt tu tập giúp vơi bớt khổ đau trong mình và quanh mình. Nhờ đó mà tâm bồ đề của mình được nuôi dưỡng.
 
Thường trực tiếp xúc với khổ đau là một nghệ thuật, và phương tiện là một tăng thân tu tập mà mình phải xây dựng. Mình phải xây dựng như thế nào để tăng thân trở thành một không gian an toàn cho các thành viên có thể chia sẻ những khổ đau của mình một cách dễ dàng. Lắng nghe khổ đau của người, mình cảm thấy nhỏ bé lại, khiêm tốn hơn. Cùng với các phép thực tập chánh niệm khác: thiền ngồi, thiền đi, ăn cơm im lặng, các buổi pháp đàm chia sẻ niềm vui nỗi khổ như vậy sẽ làm tăng trưởng năng lượng từ bi của cả tăng thân. Tất cả mọi người sẽ được hưởng chung năng lượng ấy, sẽ nhẹ nhõm và tươi mát ra. Mình bớt khổ thì mình sẽ có cơ hội giúp người khác bớt khổ. Đó là con đường để sống còn và nuôi dưỡng tâm bồ đề. Chạy trốn hoặc khỏa lấp khổ đau thì mình sẽ tán thân thất mạng trong cuộc sống ngoài đời. Chúng ta phải nương tựa tăng thân để gìn giữ tâm bồ đề. Sư Ông thường nói rằng tăng thân là một “community of resistance” – một đoàn thể có khả năng cưỡng lại dòng lôi cuốn của xã hội.
 
BBT: Với vai trò của những người “đầu tàu” trong việc hướng dẫn và xây dựng tăng thân, anh và chị Anh Hương đã thực tập rất vững chãi. Vậy xin anh chia sẻ kinh nghiệm của mình để cho những người đang thực tập xây dựng tăng thân được học hỏi.
 
Chân Trí: Tăng thân phải chuyên chở được Bụt, tức là năng lượng của chánh niệm, và Pháp, tức là những phép thực tập chánh niệm. Nếu không có những chất liệu này thì tất cả các thành viên của tăng thân, kể cả những người “đầu tàu” cũng sẽ héo mòn. Người hướng dẫn tăng thân mà chỉ có lòng phụng sự không thì không đủ, mà phải chân thành thực tập để có thể hiến tặng tăng thân niệm, định, tuệ với đúng nghĩa của nó, không chỉ soạn bài để giảng, hay dùng trí năng, biện tài của mình để trình bày pháp Bụt.
 
Các cư sĩ không được thực tập toàn thời như các thầy, các sư cô ở tu viện nên năng lượng chánh niệm thường yếu kém. Thời gian các cư sĩ gặp nhau tu tập rất ít ỏi, khá lắm là một tuần một lần và gặp nhau trong tình trạng mệt mỏi, thiếu tươi mát. Nếu mình thật sự muốn tu và nâng đỡ các bạn đồng tu thì mình phải phát nguyện thực tập chánh niệm tinh chuyên, để có sự vững chãi và thảnh thơi mà hiến tặng cho tăng thân khi họp mặt. Sự an lạc và vững chãi của mình là năng lượng đưa tăng thân đi tới. Con tàu đã đi đúng hướng rồi thì cứ thế mà lăn bánh. Người “đầu tàu” của tăng thân thấy mình là cánh tay của Bụt, của Sư Ông và nhất là cánh tay của tăng thân thì xây dựng tăng thân mới thành công. Danh xưng “giáo thọ”, “chủ trì” có thể là một chướng ngại lớn cho việc xây dựng tăng thân.
 
Tu tập trong một tăng thân là cùng nhau chuyển hóa khổ đau. Không có khổ đau nào lớn hơn khổ đau nào. Mình giúp bạn mình nhận diện những gốc rễ khổ đau trong lòng, và ngược lại, bạn mình giúp mình thấy những gốc rễ khổ đau trong lòng mình. Đây là sự thực tập đặc trưng của truyền thống Làng Mai: cùng nương vào sức mạnh của tăng thân để chế tác hạnh phúc và chuyển hóa khổ đau cho nhau. Vì vậy, Tăng chuyên chở được Bụt và Pháp.
 
Trong xã hội tây phương ngày nay, các phong trào tu học, tập thiền, tập chánh niệm phát triển rất mạnh, đi vào cả trường học và nhà thương. Số lượng các vị thầy dạy thiền, các vị dẫn đầu tăng thân tăng lên gấp bội so với 5, 10 năm trước. Chùa chiền, tu viện cũng vậy. Nhu yếu tập thiền là một nhu yếu có thật vì người ta rất khổ và đi tìm những phương pháp giảm thiểu khổ đau. Tuy nhiên rất nhiều người dạy thiền và đứng đầu các tăng thân chỉ giúp cho người đời bớt căng thẳng trong đời sống nhưng chưa giúp chuyển hóa được khổ đau trong chiều sâu tâm thức. Một tăng thân đúng nghĩa sẽ chế tác ra một sức mạnh tâm linh hùng hậu. Nếu chỉ đi dạy đạo mà không thực tập với tăng thân địa phương thì mình không có đủ sức mạnh để chuyển hóa khổ đau. Chỉ có một số người đặc biệt như Bụt và các bậc đạo sư lớn mới có thể tự tu tập một mình và thành công mà thôi.
 
BBT: Thưa anh, có khi nào anh cảm thấy mình bị nản chí không? Nếu có thì anh đã thực tập như thế nào để vượt qua?
 
Chân Trí: Mình có thể nản chí vì tự thân tu tập không tiến bộ hoặc vì trong tăng thân không có hòa khí và hạnh phúc, giậm chân tại chỗ hoặc thụt lùi trong sự tu tập. Trong tình trạng ấy, mình tập khiêm tốn về cái thấy của mình về chính mình và về các bạn đồng tu cũng như phương pháp tu của mình. Đây là lúc cần thực tập soi sáng – ngồi nghe huynh đệ chia sẻ những cái thấy của họ về mình. Khiêm tốn là điều kiện thiết yếu cho thực tập soi sáng thành công. Một khó khăn trong tự thân hoặc trong tăng thân là cơ hội quí báu giúp mình nhìn sâu để có thêm tuệ giác. Khó khăn càng lớn, tuệ giác sẽ càng sâu. Có tuệ giác là mình có giải thoát.
 
Nếu giải thoát là mục tiêu tối hậu của cuộc đời mình thì mình đâu ngại khó. Vì ngã ái, ngã mạn, mặc cảm nên chỉ cần một vài khó khăn với bạn đồng tu, mình có thể bỏ tăng thân ra đi. Rồi mình sẽ loay hoay tu tập một mình, hoặc mình sẽ lập một tăng thân mới, đóng vai chủ trì, giáo thọ, sẽ tha hồ tổ chức, dạy đạo mà không bị huynh đệ nào soi sáng cả. Mình có thể đi vào đường tà mà không hay, ngũ dục – tài, sắc, danh, thực, thụy – sẽ từ từ soi mòn tâm bồ đề của mình. Đồng lao cộng khổ với tăng thân, mình sẽ có hạnh phúc lớn khi mình cùng với tăng thân thoát ra khỏi những khó khăn. Nhờ đó mà tâm bồ đề mình càng ngày càng kiên cố.
 
BBT:Thưa anh, anh có điều gì muốn nhắn nhủ với những người trẻ đang trên đường thực tập và xây dựng tăng thân?
 
Chân Trí: Xã hội bây giờ rất mất quân bình. Đời sống vật chất thì quá cao mà đời sống tâm linh thì quá thấp. Ở ngoài đời, mình không may mắn được sống và tu tập như ở trong tu viện. Ngoài việc đi làm để kiếm sống, mình cần hết lòng nuôi dưỡng đời sống tâm linh. Có quân bình giữa đời sống vật chất và đời sống tâm linh, mình sẽ có hạnh phúc. Nuôi dưỡng đời sống tâm linh đi đôi với việc xây dựng tăng thân. Mình luôn tâm niệm là không có tăng thân thì sự tu tập của mình sẽ không thành công.
Tăng thân là ngôi nhà tâm linh của mình nên mình cần để nhiều công sức và thời giờ để xây dựng. Là người trẻ mình có thể giúp những anh chị đi trước làm chuyện này. Làm sao cho sinh hoạt tăng thân được đều đặn và có sự đầm ấm của một gia đình. Mình chăm lo cho các thành viên trong tăng thân như ông, bà, cô, chú, bác, anh, chị, em trong một nhà. Làm sao để thực tập các pháp môn một cách linh động chứ không máy móc. Có càng nhiều buổi họp mặt, ngày quán niệm, khóa tu càng tốt. Mình phải dành ưu tiên cho các ngày quán niệm và các khóa tu, bỏ bớt những sinh hoạt có tính cách xã hội và giải trí. Nhờ vậy mà năng lượng chánh niệm trong mình mới có mặt thường xuyên, giúp mình cưỡng lại dòng lôi cuốn của xã hội.
 
Những phong trào mới phát khởi từ Làng Mai như Wake Up rất phù hợp cho tuổi trẻ. Phong trào này có những sinh hoạt rất vui, được lồng trong những thực tập chánh niệm như thiền thở, thiền đi, thiền ngồi, ăn cơm chánh niệm. Chánh niệm là cốt tủy của sự thực tập. Bất cứ một sinh hoạt nào, nếu không có chánh niệm và không có sự đều đặn thì bản chất của sự thực tập không thấm vào da thịt được.
 
Chân Trí thấy theo với thời gian mình càng có nhiều hạnh phúc trong việc tu học. Mỗi khi đi ngày quán niệm và khóa tu, lòng mình rất hân hoan, nhẹ nhõm vì bỏ lại hết tất cả sau lưng. Mình và các bạn đồng tu khỏe ra, vui ra rất nhanh. Tuy rằng khổ đau còn đó, nhưng hạnh phúc vẫn có thể nở hoa được. Đó là nghệ thuật tiếp xử khổ đau – The Art of Suffering – như Sư Ông thường dạy.
 
BBT: Xin cám ơn anh đã có mặt và chia sẻ. Kính chúc anh cùng gia đình thực tập vui, bình an và có nhiều hoa trái trong sự tu học.
 
(*) Trích từ bài thơ của Sư Ông:
Tìm ra được lối cũ,
Trong rừng thiêng vắng người
Dẫn về kho Bảo Tích
Thỏa tình ta rong chơi. 

Chiếc áo giáp chánh niệm

Chị Chân Bảo Niệm (Cheri Maples), người Mỹ, từng là một cảnh sát và có trên hai mươi năm kinh nghiệm làm việc trong ngành tư pháp Mỹ. Chị được Sư Ông Làng Mai truyền đăng năm 2008. Dưới đây là chia sẻ của chị trong khóa tu 21 ngày “Đường về Núi Thứu” tại Làng Mai, ngày 15.06.2016; được chuyển ngữ từ tiếng Anh.

 

Tiếp xúc với Thầy và pháp môn

Vào năm thứ bảy trong nghề cảnh sát, lần đầu tiên tôi đã tham gia một khóa tu với Thầy. Bạn có thể cho đó là một sự ngẫu nhiên, mà cũng có thể là vì nhân duyên hội tụ đầy đủ.

Trước đó tôi nhận thấy có ba tác động nghề nghiệp xảy ra với nhiều nhân viên cảnh sát trong suốt thời gian làm việc của họ và điều đó cũng đã xảy ra cho chính tôi.

Về mặt sinh lý, có những ảnh hưởng rất phức tạp. Các nghiên cứu cho thấy trong chúng ta, những người bình thường, ai cũng có một lượng adrenaline vừa phải. Nhưng đối với nhân viên cảnh sát, lượng adrenaline thường tăng vọt lên khi họ ở trong trạng thái cảnh giác cao độ, lo lắng cho an ninh của chính mình và của mọi người – điều này cũng xảy ra với những người phải làm nhiều việc cùng một lúc (multitasking). Họ lúc nào cũng được huấn luyện phải cảnh giác về những tình huống xấu có thể xảy ra mà không được huấn luyện để nhận diện những điều tốt đẹp đang diễn ra. Trong khi đó trên thực tế, những tình huống tốt luôn chiếm đa số.

Khi adrenaline lên cao, phải cần hai mươi bốn tiếng đồng hồ mới trở lại bình thường, nhưng các nhân viên cảnh sát phải trở lại làm việc trước hai mươi bốn tiếng. Trong môi trường công việc, họ làm những quyết định quan trọng, luôn bận rộn và có vẻ vui tươi, hài hước. Adrenaline giúp họ năng động. Nhưng khi về với gia đình, họ không còn năng lượng, bơ phờ, trầm cảm. Tại Mỹ, số lượng nhân viên cảnh sát tự tử cao gấp bốn lần số lượng bị tử vong trong khi thi hành nhiệm vụ.

Về mặt tinh thần, sự ảnh hưởng được biểu hiện qua sự bực dọc, thiếu kiên nhẫn, giận dữ, hoặc trầm cảm. Nhiều người trở nên cay đắng, chua chát. Vì phải tiếp xúc với những điều tiêu cực lặp đi lặp lại của một thành phần nào đó, họ sẽ có thành kiến sâu sắc với thành phần đó. Và dần dần, trái tim của họ bị đóng băng, vô cảm với những gì đang diễn ra.

Còn một hiện tượng nữa mà tôi tạm gọi là hội chứng “Tôi đã từng…” (“I used to” syndrome). “Tôi đã từng biết tưới tẩm hạt giống của niềm vui. Tôi đã từng có thời gian đạp xe đạp, chơi  thể thao. Tôi đã từng có thời gian làm vườn, làm thơ, hoặc làm những việc tôi thích,…”. Tất cả những nguồn cảm hứng ấy giờ đây đều đã mất đi. Thế giới của bạn ngày càng bị thu nhỏ vì những giờ làm việc bất thường. Vì nghĩ rằng mọi người không thể hiểu mình, bạn chỉ giao tiếp với những đồng nghiệp của mình mà thôi. Cứ như thế các cảm xúc, các cách hành xử tiêu cực của chúng tôi càng được củng cố. Và đó là tất cả lý do vì sao tôi có mặt lần đầu tiên trong khóa tu với Thầy năm 1991.

Trước đó, tôi bị chấn thương trong khi làm việc và đã tìm tới bác sĩ nắn chỉnh thần kinh cột sống (chiropractor). Trong phòng đợi của bác sĩ có quyển sách ‘Being Peace’ của Thầy. Tôi cầm lên lật vài trang và thầm nghĩ: “À, những điều này thú vị quá!”. Một hôm, trong thời gian nghỉ bệnh, tôi thấy trên bản tin trong phòng đợi ở phòng bác sĩ tờ quảng cáo về khóa tu do Thầy hướng dẫn  tại thành phố Munda Line, tiểu bang Illinois, vào năm 1991. Tôi nghĩ mình sẽ tham dự cho biết. Tôi đến khóa tu với một tâm trạng tự vệ nặng nề như mang giáp sắt. Tôi sẵn sàng tiếp nhận sự căm ghét từ mọi người vì tôi là một cảnh sát. Điều này thường xảy ra đối với chúng tôi. Thấy bộ đồng phục cảnh sát thì người ta sẽ có một cái nhìn thiếu thiện cảm về chúng tôi ngay lập tức.

Sư Cô Chân Không và Cheri Maples chia sẻ trong khóa tu 21 ngày năm 2016

Tại khóa tu, tôi đã tiếp xúc được với sự bình an một cách thật mầu nhiệm. Nhiều việc bất thường đã xảy đến với tôi sau khóa tu ấy. Tôi trở lại với công việc trong vai trò một hạ sĩ quan và thường làm việc vào buổi tối. Tôi không hiểu sao mọi người xung quanh tôi thay đổi. Họ dường như trở nên hiền hậu hơn trong thời gian tôi nghỉ bệnh. Ngay cả những người bị tôi bắt. Phải một thời gian sau tôi mới nhận ra rằng chính năng lượng của tôi đã thay đổi và mọi người đã đáp ứng lại năng lượng đó. Điều này là một bài học không thể tưởng tượng nổi cho tôi. Trong khóa tu, tôi được dạy về Năm giới (Năm phép thực tập chánh niệm) và giới đầu tiên là Bảo vệ sự sống. Tôi nghĩ tôi không thể nào tiếp nhận được những thực tập này vì nghề của tôi là nghề cầm súng và tôi không bao giờ có thể biết trước cái gì có thể xảy ra. Cho đến bây giờ, tôi không nhớ rõ rằng Thầy hay sư cô Chân Không đã nói với tôi rằng: “Chúng tôi còn trông chờ vào ai khác để mang súng hơn là một người biết sử dụng nó trong chánh niệm?” (“Who else would we want to carry a gun except somebody who will do it mindfully?”)

Con đường chuyển hóa

Sự chuyển hóa đến với tôi như một sự chuyển tiếp chậm rãi, một sự thay đổi có tính cách từng bước. Tôi đã không còn làm việc một cách máy móc nữa. Nhờ vậy, tôi đã bắt đầu nhìn những gì xảy ra trước mắt mình bằng một con mắt mới: tôi thấy được người đang đứng trước mặt tôi đây là một con người đang đau khổ và đang cần sự giúp đỡ của tôi và thường là họ không còn nơi nào khác để tìm về.

Có một lần, tôi được gọi đến để giải quyết một vụ bạo hành trong gia đình. Vào thời đó, chính sách của chúng tôi là nếu một người hăm dọa một người khác, bằng hành động hoặc bằng bất cứ hình thức nào thì bạn phải bắt giam họ. Lúc đó tôi chỉ có một mình. Một người phụ nữ chạy về phía tôi kêu cứu: “Chồng tôi đang giữ đứa con gái của tôi. Tôi đang rất lo sợ. Hai chúng tôi đã chia tay và anh ấy không chịu để cháu ra về với tôi. Chúng tôi đã thỏa thuận về việc chia thời gian để giữ cháu và lần này là đến lượt tôi”. Tôi bảo cô ấy ra ngồi đợi ngoài xe ở phía cuối đường rồi đến gõ cửa. Một người đàn ông cao khoảng 1,9 mét (tôi cao chỉ 1,6 mét) ra mở cửa. Ông trông rất giận dữ. Nhìn vào ông, tôi có thể thấy được rõ nỗi khổ đau của ông ấy. Với một giọng bình tĩnh, tôi nói: “Tôi có thể vào nhà được không? Tôi đến đây chỉ để lắng nghe và giúp cho gia đình ông thôi”. Tôi bước vào. Thấy bé gái ở một góc phòng, tôi cất tiếng: “Ông biết không, tôi thấy cô con gái nhỏ của ông ở đằng kia. Tôi biết ông rất thương và lo cho cháu. Tôi thấy cháu đang sợ hãi và tôi biết ông không muốn tình trạng này xảy ra. Thôi ông hãy để cháu ra ngoài gặp mẹ cháu rồi ông và tôi sẽ nói chuyện một chút”. Và ông đã đồng ý.

Tôi nhận ra rằng thay vì phải làm cho tình thế trở nên nghiêm trọng hơn để rồi phải bắt người đó, bạn chỉ cần ứng xử với lòng từ bi và năng lượng chánh niệm. Dù trên người đang mang súng và áo chống đạn, tôi đã ngồi xuống bên cạnh người đàn ông ấy. Tôi đã vi phạm tất cả các qui định và luật lệ. Chúng tôi ngồi trên ghế sofa và ông ấy bắt đầu khóc trong vòng tay của tôi. Tôi không thể tưởng tượng được là một chút từ bi có thể thay đổi được hoàn cảnh như thế. Tôi thấy có nhiều cách mà tôi có thể dùng để ứng xử với mọi người. Đương nhiên nếu bạn đang trong tâm trạng giận dữ, bực bội hay cay đắng thì sẽ rất khó cho bạn nhận ra được những phương cách ấy. Ba ngày sau tôi gặp lại ông ấy. Tôi đang đi bộ trên con đường gần nhà thì ông ấy tiến đến sau lưng tôi. Tiếp cận một nhân viên cảnh sát từ phía sau là một điều tối kỵ! Ông ta nhấc tôi lên khỏi mặt đất và nói: “Cô, chính cô đã cứu cuộc đời tôi tối hôm ấy”.

Xây dựng cộng đồng và pháp môn dấn thân

Trong những lời Thầy dạy, tôi nhận thấy Thầy nhấn mạnh không chỉ về sự thực tập chánh niệm và sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại, mà còn về xây dựng tăng thân và sự thực tập dấn thân. Hai điều này ít được nhấn mạnh trong nhiều truyền thống khác của đạo Bụt. Tôi bắt đầu nghĩ đến một tăng thân, một cộng đồng. Tôi tham gia thực tập cùng một tăng thân ngay sau khi tham dự khóa tu về, nhưng đồng thời tôi cũng bắt đầu coi những đồng nghiệp và gia đình là tăng thân của mình.

Năm 2002, tôi tìm về Làng Mai để tham dự ba tháng an cư và cảm được một năng lượng vững chãi lạ kỳ. Thầy truyền 14 giới Tiếp Hiện cho tôi và 32 người khác. Tôi viết một lá thư cho Thầy và bỏ vào chuông. Trong thư tôi thưa rằng tôi vẫn còn có sự giằng co giữa hai cảm giác vừa là nạn nhân, vừa là kẻ đàn áp trong tâm mình khi làm nghề cảnh sát. Ngày hôm sau, trong bài pháp thoại, Thầy đã dạy về sự biểu hiện của tình thương với nhiều hình thức, nhiều khuôn mặt khác nhau. Tôi ngồi ở cuối thiền đường và khi nghe Thầy đề cập đến các nhân viên cảnh sát, nước mắt tôi đã tuôn trào. Một sự chuyển hóa lớn lao đã đến với tôi, tôi thấy mình mềm ra. Thầy giúp cho tôi hiểu ra rằng “trong tất cả chúng ta, ai cũng có thể vừa là một nạn nhân vừa là một kẻ áp bức”. (“we’re all victims and oppressors.”)

Cũng trong mùa An cư đó, trong một buổi chấp tác cắt gọt rau củ, tôi nói với các bạn trong nhóm: “Tôi có một hình ảnh điên rồ trong đầu, hình ảnh một nhóm nhân viên cảnh sát cùng nắm tay nhau đi thiền hành, chế tác ra những bước chân an lành trên mặt đất”. Một cô thiền sinh nhìn tôi nói: “Cheri, chị có thể thực hiện được điều đó, chị có thể làm được mà”. Tôi không còn nhớ người bạn đó là ai và cô ấy có thể sẽ không bao giờ biết được những tác động của lời khuyên lúc ấy.

Trong thời vấn đáp vào ngày thứ Năm tuần đó, tôi hỏi Thầy có thể sang Mỹ hướng dẫn một khóa tu cho các nhân viên cảnh sát hay không. Tôi lo là Thầy sẽ từ chối, nhưng tôi đã rất hạnh phúc khi Thầy nói: “Được, thầy nghĩ là sang năm chúng ta sẽ làm”. Điều này có nghĩa là tôi sẽ có một năm để chuẩn bị và kêu gọi các nhân viên cảnh sát tham dự một khóa tu chánh niệm với một vị thầy Phật giáo.

Công việc tổ chức không tránh khỏi sự phản ứng và nhiều trở ngại. Nhưng cuối cùng, Thầy đã đến Mỹ và khóa tu đã diễn ra. Trong số thiền sinh tham dự khóa tu năm đó, có khoảng 16 cảnh sát đến từ sở cảnh sát nơi tôi làm việc. Sau buổi pháp thoại đầu với chủ đề “Violence begets violence” (Bạo động chỉ làm phát sinh thêm bạo động mà thôi), họ đã đến gặp tôi và hỏi: “Cheri, vậy thì chúng ta phải làm như thế nào? Thầy ấy nói bạo động chỉ làm phát sinh thêm bạo động là như thế nào? Chúng tôi muốn nói chuyện với Thầy”. Sau đó Thầy đã gặp riêng và nói chuyện với họ. Rất là tuyệt vời, bởi vì từ đó cho đến cuối tuần không có ai có vấn đề hay phản đối gì nữa cả. Vào cuối khóa, Thầy hỏi tôi: “Chúng ta có được nghe các vị cảnh sát chia sẻ không?”. Vì vậy vào đêm cuối của khóa tu, các nhân viên cảnh sát đã lên chia sẻ. Tôi chưa bao giờ được nghe họ chia sẻ như thế về cuộc sống của họ khi làm một nhân viên cảnh sát. Và cũng chưa bao giờ tôi được chứng kiến một cộng đồng sẵn sàng lắng nghe họ như vậy. Cuối khóa tu, 16 nhân viên cảnh sát và tôi đã nắm tay nhau thực tập thiền đi.

Năm 2007, tôi được tham gia chuyến về Việt Nam của Thầy. Năm 2008, tôi được nhận truyền đăng từ Thầy với bài kệ kiến giải:

Thở vào, tôi biết chánh niệm là con đường đưa đến bình an

Thở ra, tôi biết bình an là con đường đưa đến chánh niệm

Thở vào, tôi biết bình an là con đường đưa đến sự công bằng

Thở ra, tôi biết sự công bằng là con đường đưa đến bình an

Thở vào, tôi biết trách nhiệm của tôi là đem đến sự an toàn và phòng hộ cho tất cả mọi loài

Thở ra, tôi cảm thấy khiêm cung và trân quý trách nhiệm của mình – một nhân viên hoạt động cho hòa bình.

Thở vào, tôi chọn chánh niệm làm áo giáp và từ bi làm vũ khí

Thở ra, tôi nguyện đem tình thương và sự hiểu biết đến với tất cả những ai tôi phục vụ.

Ba khía cạnh tương tức

Nội lực

Đã có rất nhiều người đến nói với tôi rằng: “Cheri, chị đã mềm ra rất nhiều”. Tôi nghĩ đó là sự thật. Những lớp áo giáp bảo vệ của tôi đã từng lớp, từng lớp được tháo ra. Tôi ý thức được hai tâm hành tham đắm, ghét bỏ và học cách chuyển hóa chúng. Tôi cũng nhận diện và làm lắng dịu được cả những tâm thật vi tế như tâm tham. Tuy nhiên, tôi nhận ra rằng khi có được sự trị liệu và sự bình an thì mình lại bị kẹt vào đó để tạo nên một cái ngã. Tôi học cách để nhận diện và chuyển hóa ngã chấp đó. Trong xã hội của chúng ta, mọi người được đánh giá qua việc người ấy làm. Trong khi đó, Thầy dạy rằng phẩm chất của việc làm luôn tùy thuộc vào phẩm chất của chính người làm việc đó. Tôi được học cách sống hạnh phúc ngay bây giờ, mà không bị cuốn vào công việc và bắt hạnh phúc phải chờ đến tương lai.

Một điều rất quan trọng là chúng ta cần phải biết cách phân biệt giữa lòng tự trọng (self-esteem) và lòng từ bi cho chính bản thân (self-compassion). Vấn đề của sự tự tôn (high self-esteem) là chúng ta vẫn còn so sánh giữa mình và người khác và đôi lúc còn tranh hơn thua với họ và âm thầm mong rằng người khác sẽ thua kém mình. Có từ bi với chính mình thì chúng ta sẽ biết thông cảm và có thiện chí với bản thân. Tôi nhận thấy khi có thể áp dụng các pháp môn thực tập để làm được như thế thì cái ngã của tôi thu nhỏ lại. Hạnh phúc lớn nhất là khi cái ngã của mình nhỏ nhất. Còn khi cái ngã to lên thì đó cũng là lúc tất cả những tập khí của tôi biểu hiện.

Công việc dấn thân

Chúng tôi có một số chương trình tu học trong các nhà giam ở tiểu bang Wisconsin. Chương trình đã bắt đầu từ một nhà giam và sau đó nhân rộng ra cho cả một hệ thống. Chúng tôi sẽ bắt đầu dạy phương pháp tu tập chánh niệm cho những người quản lý trại giam.

Nhờ tính thuyết phục của những nghiên cứu khoa học về phương pháp chánh niệm, chúng tôi cũng được mời hướng dẫn sự thực tập này không những cho nhân viên trong các trại cải huấn mà còn cho các nhân viên giáo dục phạm nhân và nhân viên quản lý những người được tạm tha.

Trong sự dấn thân, tôi nhận thấy điều quan trọng nhất là chúng ta phải giữ cho năng lượng thực tập của mình vững vàng và sống động, nếu không thì chúng ta sẽ lâm vào tình trạng “hết xí quách” trong khi phụng sự (compassion fatigue). Tình trạng “hết xí quách” (tình trạng kiệt sức và không còn năng lượng để làm gì nữa hết) xảy ra là vì chúng ta cho ra quá nhiều trong khi nội lực chúng ta lại không có đủ. Khi sự hiến tặng đến từ chính năng lượng thực tập căn bản của chúng ta thì năng lượng ấy sẽ được làm mới lại và trở nên vô lượng, không giới hạn. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải duy trì sự thực tập cho vững vàng và sống động. Vì lý do này mà những thành viên của dòng tu Tiếp Hiện phải có 60 ngày tu chánh niệm mỗi năm.

Sự liên hệ giữa mình và người

Đối với tôi, sự liên hệ giữa mình và người khác là một sự thử thách cao nhất trong đời sống tâm linh. Nếu sự thực tập không có mặt trong những mối liên hệ như vậy thì quả là có điều gì đó không ổn. Là một nhân viên cảnh sát, tôi đã bắt đầu kinh nghiệm được năng lực trị liệu của sự không gây hấn (non-aggression).

Điều mà tôi học được khi tiếp xử với mọi người là tránh gây thêm tác hại. Ngay cả khi phải dùng vũ lực, tinh thần bất hại vẫn phải luôn có mặt. Một trong những điều quý giá mà Thầy đã dạy tôi là lòng từ bi có khi biểu hiện một cách nhẹ nhàng và có khi biểu hiện một cách mạnh mẽ. Tuệ giác là biết khi nào cần áp dụng lòng từ bi một cách nhẹ nhàng để hiểu thêm về đối tượng và khi nào cần áp dụng lòng từ bi một cách mạnh mẽ để duy trì luật lệ và khuôn phép. Điều này rất quan trọng. Và tôi nghĩ rằng cách chúng ta giao tiếp và liên hệ với người khác hàng ngày chính là công tác hòa bình quan trọng nhất mà chúng ta dấn thân vào.

Tôi nhớ khi tôi còn làm đội trưởng trong phân ngành huấn luyện nhân viên, một hôm ngồi ở bàn làm việc, một cảnh sát trẻ bước vào và nói: “Thưa Đại úy,  tôi xin được thưa chuyện với bà”. Lúc ấy tôi thật sự không muốn bỏ dở công việc đang làm. Tôi nhận diện được ngay tâm hành này và quyết định thay đổi cách hành xử của mình. Sự liên hệ với người phải quan trọng hơn công việc. Có thể một số người khác sẽ không bằng lòng vì như thế công việc sẽ bị đình trệ, có thể tôi sẽ không làm được nhiều việc như ý muốn. Nhưng có điều gì quan trọng hơn việc hiến tặng sự có mặt của tôi cho một con người khác? Bởi vì hiệu ứng gợn sóng của sự có mặt ấy, bạn sẽ không bao giờ, không bao giờ lường trước được.

Thong dong nẻo về

Thầy Pháp Đệ xuất gia tại Làng Mai năm 2003. Trước đó, thầy đã từng là một linh mục Công giáo. Mười ba năm gắn bó với tăng thân, thầy đã sống thật trọn vẹn, thật đẹp, luôn hiến tặng sự có mặt tươi mát và nụ cười hồn hậu của mình. Sau một thời gian lâm trọng bệnh, thầy đã ra đi trong vòng tay thương yêu của huynh đệ và người thân vào ngày mùng 4 tháng 8 năm 2016, ở tuổi 81.

 

Nhớ về thầy Pháp Đệ – Adrian Aloysius Stier

(Ngày 25 tháng 9 năm 2016, đại chúng tại tu viện Lộc Uyển, California, đã tổ chức lễ tưởng niệm thầy Pháp Đệ. BBT xin trích đăng lời tưởng niệm mà đại chúng Lộc Uyển đã dành cho thầy)

Thầy Pháp Đệ sinh ra trong một gia đình nông dân đông con ở Minnesota. Thầy được đặt tên là Adrian, gọi theo tên em ruột của mẹ, là một vị nữ tu Công giáo. Từ hồi nhỏ thầy đã là một đứa trẻ lanh lợi thông minh và hiếu động, đồng thời cũng rất tự tin và độc lập. Từ lúc còn trẻ tuổi, thầy đã quan tâm đến đời sống tâm linh. Năm 16 tuổi, thầy gia nhập chủng viện và mười năm sau thụ phong linh mục.

Năm 35 tuổi, vì những bất đồng ý kiến với giáo hội Công giáo, thầy đã trở về đời sống thế tục   và lập gia đình. Thầy có một người con gái tên  là Jessica. Thầy đã từng lập nên một “half-way house” – nơi tạm trú, và trợ giúp những người đang trong giai đoạn tái hòa nhập cộng đồng (như người mãn hạn tù hoặc sau cai nghiện…).   Thầy cũng từng làm việc trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản và chứng khoán.

Thầy Pháp Đệ là một người có nghị lực rất lớn. Năm 1993, thầy bị ung thư hạch bạch huyết (lymphoma) đến giai đoạn bốn nhưng thầy đã hồi phục. Thiền tập chính là một trong những yếu tố góp phần trị liệu cho thầy.

Ngày 7 tháng 7 năm 2003, thầy xuất gia tại Làng Mai trong gia đình cây Vô Ưu và trở thành sư chú Chân Pháp Đệ. Đôi khi thầy tự xưng là “Happy Đệ” (Sư em Hạnh phúc).

Thầy thọ giới lớn vào tháng 12 năm 2006 và được Sư Ông Làng Mai truyền đăng phú pháp năm 2011 với bài kệ:

Pháp thiêng nuôi dưỡng tình huynh đệ

Kết hợp Đông Tây một giải đồng

Thế giới đi về phương hướng ấy

Suối nguồn tuệ giác đã khai thông.

Thầy là một người vui vẻ, bình dị. Năm 2016, quý thầy quý sư cô chuẩn bị trà, bánh mừng sinh nhật thầy ở nhà trà của     tu viện Lộc Uyển. Khi được yêu cầu chia sẻ về lễ sinh nhật hạnh phúc nhất trong đời, thầy yên lặng một lát, rồi nói: “Đây là sinh nhật hạnh phúc nhất mà con từng có!”. Tuổi càng cao, thầy càng đằm lại và càng có nhiều niềm vui.

Nếu đi dạo vòng quanh tu viện Lộc Uyển, ta vẫn thấy như thầy Pháp Đệ đang trượt patin xung quanh thiền đường lớn, hoặc đang cho tham vấn hết người này đến người kia, hay đang pha cà phê và làm sinh tố cho đại chúng, tưới cây, nấu món khoai tây nổi tiếng của thầy hoặc đang thỉnh chuông đại hồng.

Thầy Pháp Đệ đã sống một cuộc đời thật ý nghĩa, trọn vẹn và nhiều màu sắc. Gốc rễ tâm linh Công giáo có một ý nghĩa rất quan trọng đối với thầy và luôn nuôi dưỡng thầy. Có vẻ như không có một kỹ thuật hay triết lý nào mà thầy không quan tâm tới. Bên giường thầy bao giờ cũng có một bài thơ của Rumi hay Hafiz. Tuy nhiên càng lớn tuổi, thầy lại càng quay về với gốc rễ tâm linh Công giáo và sự thực tập chánh niệm.

Thầy đã để lại rất nhiều kỷ niệm đẹp và thân thương trong lòng đại chúng. Vào ngày tiễn thiền sinh hàng tuần, thầy luôn yêu cầu đại chúng hát bài Chúc lành của người Ái Nhĩ Lan (Ireland):

Mong sao con đường nâng bước chân bạn

Mong sao cho gió luôn thuận chiều

Mong sao cho ánh nắng mặt trời luôn sưởi ấm sau lưng bạn

Mong sao cho mưa rơi nhẹ hạt thấm ướt cánh đồng của bạn

Và cho đến khi chúng ta gặp lại,

Mong rằng bạn luôn được ôm ấp trong tình thương.

Tiếng cười của thầy vẫn còn  vang vọng khắp núi rừng Lộc Uyển. Lời khích lệ nồng nhiệt của thầy với câu “go get ‘em” (“Cố lên, bạn có thể làm được mà!”) vẫn còn rất sống động trong đại chúng. Thầy luôn nhắc nhở mọi người có mặt đầy đủ trong các thời khóa và đề cao tinh thần đồng đội. Đó là một trong những món quà mà thầy đã hiến tặng cho đại chúng. Cảm ơn thầy đã chọn tăng thân này để cùng chung sống và tu tập.

Sau đây là một đoạn trích từ bài phỏng vấn thầy Pháp Đệ (năm 2015):

Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình người Đức, gốc Ái Nhĩ Lan có truyền thống Cơ đốc giáo. Khi lên 13 tuổi, tôi trở thành một cậu bé phụ lễ (altar boy) trong nhà thờ, và “cha xứ” trở thành một người mà tôi vô cùng ngưỡng mộ. Thường thường, mỗi ngày tôi giúp cha làm thánh lễ và đến thăm những người bệnh tại nhà của họ. Tôi đã là một con chiên ngoan đạo nhiệt thành đến nỗi vào năm 16 tuổi, tôi vào học trường dòng, và trở thành linh mục vào năm 26 tuổi.

Trong những năm làm linh mục, tôi bắt đầu đối diện với những khó khăn: bất đồng ý kiến với tòa thánh tại Rome và Vatican, không trải nghiệm được tình huynh đệ mà tôi đang tìm kiếm. Năm 1970, tôi trở về đời sống thế tục. Một trong những lý do khiến tôi hoàn tục là cuộc gặp gỡ với cha Dan Berrigan. Cha đã giúp tôi nhận ra bản chất của cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Tôi từ bỏ đời sống của một linh mục để ra đời giúp những tội phạm hình sự, tiếp tục công trình mà tôi tin là Chúa đang làm.

Năm 1993, tôi phát hiện ra mình bị ung thư hạch bạch huyết giai đoạn bốn và phải chịu hóa trị. Khi đó, tôi đang làm việc trong thị trường mua bán chứng khoán. Tình cờ, tôi thấy trên đầu giường của cô bạn sống chung có quyển “Phép lạ của  sự tỉnh thức”. Đó là lần đầu tiên tôi tiếp xúc với giáo pháp của Thầy và việc đó đã ảnh hưởng  một cách đáng kể đến tôi. Cụ thể là tôi đã không còn vừa xem ti-vi vừa ăn tối hoặc vừa lái xe vừa nghe đài. Tôi không còn đem theo máy nghe nhạc Walkman trong những lần chạy thể dục dọc bờ sông Mississippi, mà chỉ lắng nghe thiên nhiên. Đó là những ảnh hưởng đầu tiên của Thầy đối với cuộc đời tôi. Rồi vào năm 1997, tôi cùng cô bạn gái mà sau này trở thành hôn thê của tôi sang Làng Mai. Chúng tôi đã thật sự bị đánh động. Trở về lại Minnesota, chúng tôi bắt đầu xây dựng tăng thân. Năm 2000, chúng tôi chuyển về Santa Barbara và góp phần tạo dựng một trung tâm thực tập cho thiền sinh thường trú ở đó.

Trong thời gian này, có lần tôi may mắn được ngồi cùng Thầy trong vườn cây ăn trái tại Thanh Sơn (Vermont) và thưa chuyện với Thầy về nhiều vấn đề, thí dụ như về cha Dan Berrigan và trải nghiệm của tôi về phong trào tranh đấu cho hòa bình. Tôi cũng đã có cơ hội được đi Trung Quốc với Thầy năm 1999. Trong chuyến đi đó, tôi vừa mới đọc xong quyển “Going Home: Jesus and Buddha as Brothers” (Chúng ta hãy về nhà đi: Bụt và Chúa là hai anh em). Tôi thưa với Thầy: “Bạch Thầy, con nghĩ là Thầy còn hiểu  Chúa hơn tất cả những nhà thần học tên tuổi mà con từng biết đến trong những năm 1950 – 1960 nữa”. Thầy nói một cách giản dị: “Tại vì thầy có Chúa ở trong tim”. Từ đó đến nay, đối với tôi, Thầy là một tấm gương tuyệt vời nhất của một đức Ki-tô bằng xương bằng thịt và Thầy chính là lý do vì sao tôi có mặt nơi đây trong chiếc áo người tu.

Tháng 10 năm 2002, vừa mới bắt đầu hồi phục lại sau khi chia tay với vị hôn thê, khi đọc quyển sách nói về cuộc đời của Thánh Francis tại Assisi, tôi nghĩ: “Ngài thật giống Thầy”. Khi ấy tôi cảm thấy mình không muốn có thêm một mối quan hệ tình cảm nào nữa, cũng không cần có thêm   tiền

bạc (tôi vừa mới về hưu). Tôi tự nhủ: “Có những cái có ý nghĩa hơn, và Thầy chính là người đang có những cái đó”. Rồi tôi nghĩ: “Tại sao mình không là một người như thế được?”. Mong muốn đó của tôi có thể gọi là sự tham lam tâm linh.

Vào ngày 3 tháng 7 năm 2003, tôi xuất gia và Thầy cho tôi pháp danh là Chân Pháp Đệ. Nghe đọc tên tôi, mọi người cười rộ lên. Sau đó tôi được biết tên tôi có nghĩa là “Sư em”. Khi ấy tôi đã 68 tuổi. Nhiều năm về sau, Thầy bảo tôi: “Thầy đặt tên con là Pháp Đệ bởi vì trước đây ai cũng gọi con là Cha”. Thầy thật là một người hóm hỉnh. Tôi cảm thấy mình được Thầy hiểu và thương hết lòng. Tôi thật may mắn.

Tăng thân là một môi trường rèn luyện rất cần thiết đối với tôi. Khi sống ở ngoài đời tôi có khuynh hướng làm gì cũng làm cho xong và làm theo ý của mình. Nếu người khác không hợp tác hoặc làm theo ý tôi, tôi phớt lờ họ đi, tiếp tục làm và hoàn thành công việc theo ý mình. Ở trong tăng thân, tôi thực tập nhận diện tập khí lúc nào cũng thích bận rộn và muốn đạt kết quả theo ý mình. Là người xuất gia, tôi học hạnh buông bỏ cái thấy riêng của mình. Tôi có nhiều bình an, nhiều niềm vui hơn và sức khoẻ cũng tăng tiến. Tuy vậy, đối với tôi, thật sự sống trong tinh thần tương tức, thật sự có mặt cho các huynh đệ đồng tu mà không phán xét vẫn còn là một thử thách.

Ba hoặc bốn năm gần đây, tôi đối diện với một thử thách lớn nhất trong đời: Thầy khuyên tôi tìm cách giúp người Tây phương tiếp xúc với gốc rễ tâm linh của chính họ. Tôi nói: “Bạch Thầy, tất cả những người mà con quen biết, ai cũng đều rất hạnh phúc khi tu tập pháp môn chánh niệm. Không ai vương vấn với gốc rễ tâm linh của họ hết”. Thầy nói: “Thầy không nghĩ vậy, bởi vì nó đã nằm sâu trong huyết quản của họ rồi”. Càng lúc tôi càng nhận ra là phần lớn chúng ta không ai thật sự ý thức về điều đó.

Vì Thầy nhất định muốn tôi phải thực hiện điều đó, tôi buộc phải quay về tiếp xúc với gốc rễ Công giáo của mình. Nhờ đó tôi nhận diện được nguyên nhân nào đã làm tuổi trẻ của tôi tàn hoại và làm cho tôi cởi áo linh mục trở ra đời. Đó chính là lối tư duy lưỡng nguyên. Tôi đã là một người bán chứng khoán giỏi, là một thầy giáo rất nổi tiếng trong những thập niên 60. Thế nhưng tôi đã bị kẹt vào danh từ, khái niệm hơn là tuệ giác chân thực. Tôi đã bị kẹt vào những lý luận thần học hay ho và những tư duy hiện đại nhất, trong khi đó tôi đã không có một sự liên hệ mật thiết đích thực với Chúa, với Thượng Đế.

Nhờ thực tập và nhờ giáo pháp của Thầy, tôi đã khám phá ra được cái gì đã thực sự xảy ra cho mình trong quá khứ, bởi vì khi ấy tôi hoàn toàn không có chút hiểu biết nào. Bây giờ, nhờ đào sâu vào những thử thách ấy mà tôi có thể giúp người khác quay trở lại để nhìn sâu vào vấn đề và thiết lập lại mối quan hệ với gốc rễ tâm linh của mình.

Có lần ở Hồng Kông, tôi thưa với Thầy: “Bạch Thầy, con không nghĩ là con đã sẵn sàng để giúp người Tây phương trở về thiết lập lại quan hệ với nhà thờ”. Thầy chỉ nhìn tôi, rồi nói: “Con cần phải là một nhà cách mạng. Chúng ta cần một đạo Ki- tô hiện đại”. Tôi vẫn đang còn trong quá trình đi tới sự sẵn sàng cho việc đó.

Một giáo pháp quan trọng khác mà tôi học được ở Thầy có liên quan đến việc bảo hộ cho đất Mẹ. Thầy dạy chúng ta làm thế nào để hiểu và thương yêu đất Mẹ. Đối với một tín đồ Công giáo thế   hệ cũ, tôi được dạy rằng trái đất chính là nơi lưu đày bởi vì tổ tiên chúng ta đã gây nên tội lỗi. Trái đất chính là nơi mà chúng ta đang bị thử thách.

Quả thật đó là một lý thuyết rất tiêu cực bởi vì nó không làm người ta thấy rằng sự có mặt của mình trên trái đất chính là một hồng ân. Và Thượng Đế không chỉ là một đấng nào đó đang nhìn xuống chúng ta và nói rằng tốt nhất là chúng ta nên rửa tội, nếu không … – rằng Ngài đang không bằng lòng với chúng ta vì một lý do nào đó. Trái đất chính là Mẹ của chúng ta, Thầy đã có một cách nói thật hay như vậy. Chính đất Mẹ đã cho ra đời Chúa, Bụt và tất cả chúng ta. Sự thực tập của chúng ta là thật sự học hỏi để làm sao trong cuộc sống hằng ngày chúng ta biết cách để thưởng thức đất Mẹ nhiệm mầu trong từng bông hoa và trong tự thân mỗi chúng ta.

 

Thánh địa Lộc Uyển

Tôi khẽ bước trên đất thánh xứ Bụt cùng với phái đoàn hành hương của tu viện Lộc Uyển, do chú Shantum hướng dẫn. Dù đã thấm mệt sau bao nhiêu di chuyển, đường sá giăng kín bụi với nhiệt độ nóng ẩm và rít người, mọi người vẫn cười tươi khi một cô trầm trồ: Đại chúng tu viện Lộc Uyển đến thăm thánh tích Lộc Uyển, tức Lộc Uyển “thứ thiệt” đây!

Tôi đứng lặng yên và nhìn quanh mảnh đất mà xưa kia đức Bụt đã từng in dấu chân. Những thánh tích xứ Bụt không tráng lệ lộng lẫy, cũng không đồ sộ nguy nga mà lại rất đơn sơ. Xa xa có một tháp lớn xây bằng gạch đỏ và xa hơn chút nữa là những nền gạch còn sót lại từ một thời đạo Bụt hưng thịnh, đang phơi mình dưới cái nắng nóng nung người của Ấn Độ.

Tôi đang bước theo dấu chân Bụt, như tôi đã in bước chân của mình vào từng dấu chân Thầy lúc còn là thị giả hầu Thầy trong giờ thiền hành tại xóm Mới. Tôi đang tìm kiếm chi nơi đây? Đi tìm Thế Tôn? Phải chăng tôi cũng đang đi tìm chính tôi?

Tôi nhớ về tu viện Lộc Uyển tại Cali (California), nơi tôi cư ngụ với những nét đặc trưng của tu viện, từ những bụi sage, chó rừng coyote, thỏ, sóc, cho đến lá sồi độc và cả rắn rung chuông nữa. (Thoạt đầu tôi còn mếu máo khi nghe nhắc đến rắn rung chuông nhưng dần dà tôi lại thấy rắn rung chuông rất dễ thương, đã không “đớp” ngay mà còn báo động với tiếng chuông chánh niệm, thật phù hợp với pháp môn nghe chuông!). Tôi nhớ đến con đường nhựa xuống cổng mà đại chúng vẫn thường đi tản bộ mỗi buổi chiều và những buổi sáng tinh mơ sương dày đặc phủ kín dãy núi, những con đường mòn khi bước qua áo sẽ chạm vào những bụi sage đen và được thơm lây hương núi rừng. Tôi thương làm sao thiền đường Thái Bình Dương, nơi mà mỗi sáng hai xóm cùng thiền tọa trong không khí nghiêm trang. Và rồi đi đến đâu tôi vẫn không quên miếng dưa cải mằn mặn chua chua của sư ngoại Hiền Hải, những bài pháp nhũ của Hòa thượng Phước Tịnh mỗi tối thứ tư, với tình huynh đệ nghĩa tỷ muội của từng thầy, từng sư cô tại tu viện Lộc Uyển, cùng luân phiên giảng pháp, nấu ăn, rửa dọn, trong những ngày quán niệm và các khóa tu.

Xét cho cùng, dường như Lộc Uyển tại Ấn Độ và Lộc Uyển tại Cali, Mỹ quốc có điểm gì tương tợ mà phải đợi đến cuối chuyến hành hương tôi mới thật sự thấy ngấm. Các địa danh được gọi là thánh tích vì đã có những thánh nhân đi qua các vùng ấy. Bụt Thích Ca đã từng giảng pháp cho đại tăng tại đó nên nơi đó đã trở thành thánh tích Lộc Uyển Ấn Độ. Riêng tôi cảm nhận Lộc Uyển Cali cũng là đất thánh vì Thầy đã giảng pháp tại Lộc Uyển Cali và đã dựng xây đại chúng nơi đây. Nếu như chữ “Bụt” được định nghĩa là một vị tỉnh thức vì nhờ hành trì niệm, định và tuệ thì xem ra có nơi nào chẳng phải là đất thánh khi nơi đó có những người cũng noi theo Bụt, Tổ và Thầy, nuôi lớn niệm, định, tuệ để chuyển hóa tự thân và làm đẹp cho đời?

Đi tìm Bụt quả thật là chỉ tìm thấy được khi tôi trở về nội tâm và hành trì các pháp môn hết lòng. Tôi vô cùng trân quý sự hiện diện của đức Bụt và Thầy qua phái đoàn hành hương Lộc Uyển. Khi đã về tới tu viện Lộc Uyển, tôi vẫn tiếp tục chiêm nghiệm, tôi phải làm thế nào để không chỉ đi theo gót chân đức Bụt ở Ấn Độ thôi mà vẫn nối gót đức Bụt và Thầy nơi tôi đang sống và tu tập mỗi ngày? Để rồi một mai khi đứng trước tượng đài của Thầy với mục sư Martin Luther King Jr. ở tu viện Mộc Lan, tôi sẽ không còn để mặc cho dòng lệ tuôn rơi và tự trách mình sao chẳng làm nên được thành tích gì để dâng hiến cho đời như một sự tiếp nối đúng nghĩa.

Xưa kia đức Bụt cũng đã là một nhà cách mạng và nhận vào Tăng đoàn những người thuộc giai cấp cùng đinh, phụ nữ, trẻ em và kể cả Angulimala, một thời đã từng là một sát thủ. Thầy đã làm mới lại đạo Bụt và đã kêu gọi hòa bình thời binh lửa tại quê nhà. Mục sư Martin Luther King Jr. đã phản kháng sự phân biệt chủng tộc với những phương pháp bất bạo động và kêu gọi quyền bình đẳng cho người da màu. Còn tôi…? Với phận mọn thuộc đàn hậu sinh, dù vẫn biết tôi “nghèo mà ham”, trước thềm năm mới, tôi quyết tâm noi theo tấm lòng đại Xả của liệt vị tiền nhân. Xả, yếu tố thứ tư trong Tứ vô lượng tâm, còn được gọi là tâm không kỳ thị, tâm bình đẳng. Thông thường tôi chỉ gật gù khen ngợi Từ và Bi mà chẳng đoái hoài đến hai yếu tố còn lại là Hỷ và Xả. Hơn nữa, Xả có vẻ dễ hiểu nhưng lại khó hành trì miên mật. Tôi còn phải đào sâu hơn nữa vào pháp môn Xả trong nhiều lãnh vực như thời khóa, tri, công việc, phòng ốc, thức ăn,… để bỏ dần và chuyển hóa rốt ráo thói quen nhìn mọi việc với con mắt nhị nguyên và ôm lòng cố chấp trong nhiều phạm vi như việc bất như ý và việc như ý, văn hoá của ta và của người, thương – ghét, đúng – sai, tốt – xấu, khen – chê, hơn – thua, cư sĩ – xuất sĩ, giỏi – dở, dễ – khó,… cùng với trăm ngàn cặp đối lập khác.

Nhiều người thường bảo, trong chùa tu thì dễ chứ sống ở ngoài xã hội làm sao mà thực tập Xả được. Riêng tôi cảm nhận câu này tương tự như câu nói “học bơi trong hồ bơi thì dễ, ra ngoài biển bơi mới khó, sóng mạnh vật mình mấy hồi rồi mới hay”. Nhưng thực tế thì bơi giỏi trong hồ bơi rồi thì khi ra biển ta vẫn bơi được dễ dàng, ta chỉ cần dùng sức nhiều hơn thôi. Cũng vậy, tôi cần tập quán chiếu Xả với các tâm hành và tập khí của bản thân tôi trước, sau đó tôi mới có thể thực tập được Xả với những việc bất như ý đối với những người xung quanh tôi hay với công việc. Khi tôi xóa dần ảo tưởng ranh giới giữa tôi và người, tôi đúng, còn người kia sai, thì tôi quẳng đi gánh nặng trong lòng và trở nên bao dung hơn.

Có những lúc tôi nắm chặt một tri giác sai lầm và nghĩ oan cho sư em tôi, lại cũng có lúc sư em tôi có những thiếu sót thật, nhưng không vì vậy mà tôi phải phản ứng với sự trách móc và ghét bỏ sư em tôi. Khi tôi không còn kẹt vào những đối lập, tôi khác – em khác, khi tôi nhớ rằng sư em tôi và tôi đều là con của Thầy, của Bụt, của đất Mẹ, thì tôi chỉ cần đơn giản hoặc xin lỗi sư em tôi, nếu tôi đã lỡ suy bụng ta ra bụng người, hoặc tìm cách nhắc nhở nhẹ nhàng cho sư em tôi như Thầy đã từng kiên nhẫn dạy dỗ từng học trò của Thầy. Vâng, dù cho trời yên biển lặng hay tám gió thét gào, tôi nhất định phải duy trì chất liệu Xả bền bỉ như liệt vị tiền nhân.

Và rồi dù là Lộc Uyển bên kia đại dương hay là Lộc Uyển bên này phương trời, tôi xin chắp tay thành kính tri ân chư Bụt mười phương và tổ tiên đất đai đã phù hộ cho chúng tôi có một chuyến đi hành hương tại đất thánh và được tu học trên đất thánh trong Tăng thân bao năm qua.

Cuối cùng tôi mạn phép xin trình bài thơ (đã phổ nhạc) như chút quà mọn kính tặng mọi người nhân dịp Tết Đinh Dậu.

Nối Gót Thầy Ta

Bước đi trên con đường mòn ta nghe có tiếng mưa rơi trong lòng
Ấp ôm bao nhiêu muộn phiền ta xoa dịu niềm đau, chuyển hóa tủi hờn
Cùng nhau ta vươn tới
Cùng nhau nuôi chí lớn
Nối gót Thầy ta
Tấm lòng vị tha
Bước đi trên đường thân thương ta nguyện quán từ bi, quét sạch sân si
Biết bao nhiêu anh chị em gần xa trông chờ ta chăm rác thành hoa
Cùng nhau ta vươn tới
Cùng nhau nuôi chí lớn
Nối gót Thầy ta
Tấm lòng vị tha
Bước đi trên đường thiền hành ta nghe bình an dâng lên trong lòng
Quyết tâm tu học tinh chuyên đền đáp thâm ân Tam Bảo chở che
Cùng nhau ta vươn tới
Cùng nhau nuôi chí lớn
Nối gót Thầy ta
Tấm lòng vị tha
Cùng nhau ta vươn tới
Cùng nhau nuôi chí lớn
Nối gót Thầy ta
Tấm lòng vị tha
Tấm lòng bao la.

Những người con của tôi

Tôi chưa bao giờ muốn có con. Có lẽ vì tôi đã có trách nhiệm làm mẹ đối với em trai từ năm tám tuổi. Mẹ tôi ra chợ buôn bán trước khi chị em tôi thức dậy. Tôi tự đi chợ nấu ăn, tắm rửa cho em và dẫn em đến trường trước khi tôi vào lớp của mình. Mỗi ngày trên đường đi học về tôi dạy em đếm từ 1 đến 40. Có những đêm mẹ tôi về rất khuya nên chị em tôi ôm nhau ngủ cho đỡ sợ.

Mẹ mất tích năm tôi mười hai tuổi. Khi đó bà ngoại từ ngoài quê vào giúp nhưng tôi vẫn là người chịu trách nhiệm chính cho em tôi. Tôi đi họp phụ huynh cho em. Có lần cô giáo báo cho biết là em tôi thường hay đánh nhau với các bạn trong lớp. Khi về nhà, tôi bắt em nằm xuống và đánh em ba roi. Nó khóc thét lên. Bà ngoại xin tôi tha cho em tôi, nhưng tôi nói: “Nó hư lắm. Ngoại để cho con dạy nó”.

Rồi hai chị em tôi được chính phủ Mỹ bảo lãnh theo diện con lai. Sang đến Mỹ, họ tìm cha mẹ nuôi để giúp chăm sóc cho đến khi chúng tôi mười tám tuổi và trở nên tự lập. Vì vài lý do đáng tiếc, chúng tôi đã phải thay đổi năm nhà bảo trợ khác nhau và nhiều khi phải sống xa nhau. Cặp vợ chồng cuối cùng rất thương chúng tôi nhưng họ thấy em tôi thường bị kỷ luật trong trường nên xin cho em tôi được gặp bác sĩ tâm lý trị liệu. Bác sĩ chẩn đoán em tôi “không kiểm soát được cái giận” của mình. Họ quyết định cho em tôi nhập viện điều trị cùng với những người trẻ khác có vấn đề tâm lý và bị nghiện ngập hoặc tham gia băng đảng v.v. Họ đã không hiểu rằng em tôi “không kiểm soát được cái giận” là vì bao nhiêu năm ở Việt Nam, em tôi đã bị nhiều đứa trẻ khác gọi là “Mỹ lai”, đùa giễu và đánh đập hầu như mỗi ngày. Vậy nên khi vào trường học Mỹ và bị các bạn Mỹ gọi là “V.C.” thì em tôi “không kiểm soát được cái giận” và đánh trả lại. Ba má nuôi đã không báo cho tôi biết rằng họ sẽ gởi em tôi đi xa.

Ngày nhập viện em tôi để lại tờ giấy cho tôi: “Em đi nha chị. Em thương chị nhiều!” với hình vẽ miệng mếu với những giọt nước mắt chấm chấm dài. Tôi ngồi bệt xuống trong căn nhà trống trơn, tay cầm tờ giấy mà nước mắt đầm đìa. Sự phẫn uất đã tràn ngập lòng tôi.

Tôi lên đại học trong khi em tôi vẫn còn ở trong trại với những người trẻ khác. Rồi tôi theo học ngành y. Suốt 5 năm, tôi và vài người bạn sinh viên y khoa xung phong vào tù dạy cho các em từ mười ba đến mười bảy tuổi. Hầu hết các em là người Mỹ đen hoặc người Mễ (Mê-hi-cô), thỉnh thoảng cũng có vài em người Cam-pu-chia và Việt Nam phạm tội cướp giật hoặc buôn bán ma túy hoặc tham gia băng đảng gây rối loạn trật tự xã hội. Địa vị và học vấn của chúng tôi chẳng có nghĩa lý gì đối với các em cả. Nhưng dần dần các em cảm nhận được tình thương chân thành của chúng tôi nên đã chú tâm học hỏi và chia sẻ với chúng tôi về cuộc đời của các em. Những em “ma mới” gặp chúng tôi lần đầu tiên thường hay nhìn chúng tôi từ trên xuống dưới với cặp mắt  đe dọa và nói lời cợt nhã. Các em “ma cũ” liền bảo chúng: “Họ là đàn anh đàn chị. Hãy đối xử đúng phép với họ!” (They are O.Gs. [original gangsters]. Show them some respect!).

Khi vào tu, tôi cố ý tránh không tham dự các nhóm người trẻ vì họ làm tôi nhớ lại những thương tích của cuộc đời mình. Một hôm Thầy bảo tôi: “Con tu học cho có hạnh phúc và con sẽ giúp được rất nhiều người trẻ”. Lời nhắn nhủ của Thầy đã trở thành như một lời thọ ký. Càng tu tập, càng có nhiều niềm vui và sự nhẹ nhàng, tôi càng thấy gần gũi với người trẻ. Họ đến với tôi một cách tự nhiên, thân thiện. Ngay cả cái tên “Sister Đ” thông dụng của tôi cũng đã được một em trai bảy tuổi cho. Lần đầu tiên gặp tôi, em hỏi: “What’s your name?” (Tên sư cô là gì?). Tôi trả lời: “Sư cô Đẳng Nghiêm.” Em nhìn tôi trân trân một hồi rồi nói: “Sister Đ. Tên của sư cô là Sister Đ”.

Hơn mười sáu năm qua, nhiều em thiếu nhi và thiếu niên tôi chăm sóc nay đã trở thành thanh niên và chúng tôi đã có biết bao kỷ niệm đẹp với nhau. Mỗi lần gặp lại, các em dang rộng cánh tay để thiền ôm với tôi. Nhiều em bây giờ đã to cao hơn tôi làm tôi cảm thấy mình trở nên bé nhỏ. Em Sarah tóc đỏ hoe, da mặt trắng bóc lốm đốm tàn nhang và rất gầy khi em sinh hoạt trong các nhóm Teens do tôi hướng dẫn ở tu viện Lộc Uyển. Sau vài năm không gặp, em đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp. Em sà vào lòng tôi rồi kể cho tôi nghe những gì em đã đi qua. Em thỏ thẻ nói: “Sư cô là người mẹ tâm linh của con”.

Ngay cả các em trai bây giờ lớn tồng ngồng rồi cũng dang tay đợi được thiền ôm. Tôi do dự nhưng tôi biết các em sẽ buồn hoặc cảm thấy hụt hẫng nếu tôi chỉ xá chào. Có lần tôi đang đi vào nhà bếp của tu viện Bích Nham thì thấy Frank đang lau nhà một cách từ tốn, khoan thai. Khi thấy tôi, em dừng lại với cây lau nhà dựng đứng trong tay. Rồi em nói: “Con có thể gọi sư cô là Mẹ được không?”. Trời đất, một anh chàng đẹp trai tự nhiên muốn gọi tôi là “Mẹ”! Tôi thật sự không biết đó là tin vui hay tin buồn nữa. Trước khi Frank rời tu viện, em để lại một bức thư cho quý sư cô. Em nói rằng từ lâu em chỉ nhìn phụ nữ như những đối tượng tình dục. Trong thời gian sống ở tu viện, em cảm thấy rất kính phục và ngưỡng mộ quý sư cô. Từ đó em học nhìn phụ nữ như những người chị, người em, người mẹ của mình và em rất biết ơn quý sư cô đã giúp cho em có được cái thấy này.

Rồi cách đây không lâu, một người phụ nữ xin đại chúng cho cô và đứa con mười hai tuổi bị mù của cô được ở lại tu học ba tháng. Trong một buổi thiền trà cô nói lên lời biết ơn chân tình đối với đại chúng xuất sĩ. Sau đó, cô gặp tôi trong nhà ăn và nói: “Tôi muốn cảm ơn riêng sư cô. Tôi biết sư cô nhỏ tuổi hơn tôi rất nhiều nhưng…” Tôi  được biết cô ta 39 tuổi nên tôi cắt ngang: “Tôi lớn tuổi hơn cô chứ”. Cô mừng rỡ hớn hở nói tiếp: “Vậy tôi có thể gọi sư cô là Mẹ được không?” Tôi liền đáp: “Không, không, tôi chưa sẵn sàng làm bà ngoại của cháu Levi!”. Cô nói: “Cả hai chúng tôi đều có thể gọi sư cô là Mẹ”!!!

Trong một khóa tu vào dịp lễ Giáng Sinh tại tu viện Mộc Lan, một em trai mười bốn tuổi đến xin tham vấn với tôi. Nét mặt của em khôi ngô nhưng nhìn em bơ phờ như mất hồn. Tôi phải hỏi em từng câu từng câu một và em cũng chỉ có thể trả lời vài chữ, vài chữ một. Em đã bị người cha ruột nghiện ngập ma túy của mình lạm dụng tình dục từ khi em năm tuổi. Kian hỏi tôi: “Có phải việc này làm cho con không chú tâm được vào việc học của con?”. Tôi khuyên mẹ của em nên cho em về tu viện trong thời gian nghỉ hè. Mẹ của em đơn thân nuôi em và mới dọn qua tiểu bang khác để tìm một môi trường lành mạnh hơn cho em, nên đại chúng đã từ bi cho phép một mình em về tu viện và không phải đóng lệ phí.

Em thường làm thinh, cúi đầu không dám nhìn vào mắt ai. Khi đi, em nhón nhón trên các ngón chân thay vì đi trên bàn chân làm tôi liên tưởng tới một cái bong bóng bay lơ lửng gần mặt đất  và thỉnh thoảng chỉ chấm đất với sợi dây buộc bong bóng. Một đêm khi tôi sắp sửa ngủ thì bất thình lình nghe tiếng la hét kinh hoàng. Tôi chỉ kịp khoác thêm áo lạnh, ra đến cửa thì thấy Kian đang rú lên, tay chân quờ quạng trong màn đêm và các sư cô trẻ thì đứng nhìn một cách lo sợ, không biết phải làm gì. Tôi lập tức đến ôm em chặt vào lòng. “Không sao đâu con, có Sister Đ. đây”. Chỉ vậy thôi là em đã dừng la hét và nhìn xung quanh như không biết mình đang ở đâu. Tôi dìu em ngồi xuống. Chân em cứng đơ không nhúc nhích hay co duỗi được. “Thở đi con, trở về với hơi thở vào và hơi thở ra của mình. Con đang được bảo vệ an toàn, không có gì phải sợ hãi….”. Cứ như thế tôi làm thiền hướng dẫn cho em ngay trước cửa ni xá. Một lúc sau hai thầy đến và em ngoan ngoãn theo quý thầy về lại khu cư xá của mình.

Một lần khác tôi làm thiền hướng dẫn cho em trong thiền đường Hải Triều Lên. Sau khi em qua được cơn khủng hoảng, tôi bảo em đi mang dép và gặp tôi trước thiền đường. Chờ hoài không thấy em nên tôi đi vô phía để giày của quý thầy. Em đang nằm trên sàn nhà, hai chân quơ trên trời và hai tay đang cố gắng xỏ giày vào. Tôi nhìn  em và em nhìn tôi thật thảm hại. Bất chợt tôi cười phá lên: “Trời ơi, con biết không, con nhìn giống như con ve đang chổng chân lên trời!”. Em cười gượng gạo nhưng thấy bớt căng thẳng. Tôi cúi xuống giúp em ngồi dậy và mang giày vào. Nương vào tôi em đi như một ông già run rẩy, lòm khòm và một lúc sau thì bước chân của em vững vàng hơn để em có thể tự đi.

Có lần trong chuyến đi Việt Wake Up, tôi cảm nhận một em trong ban tổ chức có vẻ im lặng và rút lại so với năm trước. Tôi sắp xếp một chút giờ để ngồi riêng với em. Tôi nói: “Sư cô thấy mắt của con có vẻ buồn buồn. Con có muốn chia sẻ với sư cô không?”. Thế là nước mắt em chảy giàn giụa và em kể hết cho tôi nghe những lo âu trong lòng em. Sau đó em trở nên hoạt bát hẳn lên. Ngày cuối cùng của khóa tu, em xin tôi tìm cách cho người em bạn dì của em tham vấn. Em bày cách cho tôi: “Sư cô cứ nói với cousin của con là: ‘Sư cô thấy mắt của con có vẻ buồn buồn’ để em ấy mở lòng ra chia sẻ với sư cô”. Tôi phì cười vì em đã dùng cái chiêu của tôi để cố vấn cho tôi!

Cũng trong một chuyến đi Việt Wake Up khác, tôi để ý thấy em gái đến đón chúng tôi tại phi trường rất xinh đẹp nhưng mang nhiều son phấn. Chúng tôi trở nên thân quen với nhau trong những ngày chuẩn bị khóa tu cho thanh niên người Canada gốc Việt. Trên đường đi ra lại phi trường, tôi khen em rất đẹp và nhẹ nhàng khuyên bảo em nên trân quý hình hài của mình như nó đang là. Em có thể dùng phấn son vì em thích làm chảnh một chút, không nên vì em không chấp nhận được khuôn mặt của mình. Đó là từ bỏ chính mình và những gì cha mẹ tổ tiên đã trao truyền cho mình. Em có vẻ bối rối và mắc cỡ khi lắng nghe tôi. Nhưng sau đó em đã xin về tu viện để tu học suốt một năm. Trong một buổi thuyết trình Năm giới cho các bạn trẻ Mỹ, em kể lại những lời tôi đã chia sẻ với em trong xe hơi năm trước. Rồi em nói: “Từ hôm đó tôi không dùng phấn son nữa. Lúc đầu thì tôi thấy da mặt của mình trắng bạch, đầy mụn và lỗ chỗ thật xấu xí. Nhưng từ từ da của tôi trở nên hồng hào hơn và mịn màng hơn vì nó có thể thở dễ dàng mà không bị lớp kem phấn phủ lên. Một hôm khi nhìn mình trong gương, bất giác tôi thấy mình quá ư xinh đẹp! Tôi lấy tay chạm vào mắt và nói: “Mắt của tôi rất đẹp. Rồi tôi nói: Mũi của tôi rất đẹp. Miệng của tôi cũng rất đẹp…”. Nước mắt em chảy dài trong khi em sống lại những giây phút thiêng liêng đó và nhiều bạn trẻ trong thính chúng cũng đã khóc theo.

Những năm qua tôi cũng đã học thương quý hình hài và cuộc đời của mình như đứa con của chính mình. Khi cơn đau nhức ập đến, tôi học dừng lại mọi tư duy và hành động để có mặt thật sự cho hình hài và cho nỗi đau: “Có tôi đây. Tôi thương em thật nhiều”. Tôi có thói quen thường mộng mơ và nắm bắt những đối tượng bên ngoài. Nhìn trăng tôi thấy bóng dáng người tôi thương. Nhìn hoa tôi thấy bóng dáng người tôi thương. Nhìn tô bún tôi thấy bóng dáng người tôi thương…  Tôi nghĩ rằng nếu tôi mất đi đối tượng ấy, tôi sẽ mất hết tất cả. Sự tu học giúp tôi dần dần có  khả năng an trú trong hiện tại với những cái đang có mặt để tôi có thể nhìn trăng thấy trăng, nhìn hoa thấy hoa, nhìn tô bún thì… ăn ngon lành! Khi tôi buông bỏ được những tri giác sai lầm và vướng mắc, tôi còn lại tất cả.

Tôi chưa bao giờ hối tiếc mình đã đi tu dù tôi gặp phải nhiều khó khăn chướng ngại trên đường tu. Tôi thấy tôi là một người tu có hạnh phúc vì tôi chuyển hóa trị liệu được khổ đau của tôi và của tổ tiên trong tôi. Tôi là một người tu hạnh phúc vì tôi phát huy được khả năng thương yêu và khả năng tiếp nhận tình thương. Tôi thường nhớ nghĩ về người Thầy khả kính của chúng tôi với niềm biết ơn sâu đậm. Mỗi khi lạy xuống tôi thấy hàng vạn người tu trong tấm y vàng cũng đang lạy xuống, bao quanh tôi là những sư chị, sư em và cũng là những Ni trưởng Kiều Đàm Di, những người Mẹ của tôi. Đầu tôi chạm đất với tâm niệm: trong con có Bụt, có Thầy. Tay phải tôi mở ra với tâm niệm: con có cha. Tay trái tôi mở ra: con có mẹ. Rồi tôi buông xuống cả hình hài vào lòng đất Mẹ. “Thấy được trong con luôn có Mẹ Thấy con trong Mẹ cả muôn đời.” (Bài kinh Ca tụng Đất Mẹ của Sư Ông Làng Mai)

                                                             Tu viện Mộc Lan Ngày 09 tháng 12 năm 2016

Nguyện ước tuổi hai mươi

Trở về tắm mát dòng sông

Có một cậu bé được sinh ra trên vùng đất của những dòng sông chở nặng phù sa, những cánh đồng thơm mùi lúa chín, những con thuyền chở về đầy cá. Ở nơi đó, mỗi chiều, cậu sẽ được thả mình trên dòng sông êm ả cùng lũ bạn hàng xóm, sẽ được phóng mình từ đỉnh “gió” xuống tận lòng sông, để phù sa thấm vào từng mạch máu, để nụ cười kéo mãi đến buổi cơm chiều đầy tiếng dế kêu, để tiếng hò vang lên khi trăng về đêm sáng. Vùng đất đã ôm ấp cậu bằng một tình thương ngọt ngào chất phác: “Ví dầu cầu ván đóng đinh…

Giấc mơ y vàng

Mười tuổi, mang trong mình một tâm hồn trong sáng và nhạy cảm, cậu bé đã phải lòng một người. Cậu không biết người đó là ai, không biết người đó có tự bao giờ nhưng những câu hỏi ấy không quan trọng. Thứ làm cậu chú ý nhất là trang phục màu vàng kia, một thứ gì giản dị. Dáng điệu ấy, cách hành xử ấy, sao mà chú thích đến thế! Chú vòi mẹ may cho mình loại trang phục ấy, mẹ xoa đầu và bảo: “Thầy tu mới được mặc, ông cụ non à!”. Đúng rồi! Ông cụ non sẽ được mặc khi ông cụ non là thầy tu. Từ dạo ấy, trong những giấc mơ bé bỏng, lắm lúc ước muốn làm một người tu lại xuất hiện.

Về đi tiếp nhận gia tài

Đêm 11.05.2016, sau những lần im lặng trả lời đồng ý, mười lăm nhánh hoa hồng được đặt vào chiếc bình mang tên Hoàng Yến, một dấu ấn cho cuộc đời cậu. Cậu đã được tiếp nhận là thành viên của gia đình “y vàng”. Giờ phút thiêng liêng ấy là kết quả cho mười chín năm trời ôm ấp, một chặng đường có bao nhiêu là thử thách. Những lần phản đối của người thương, những cám dỗ của cuộc đời đã lắm lúc khiến cậu muốn gạt bỏ đi giấc mơ ngày trước. Bao nhiêu tủi hờn, bao nhiêu đổ vỡ được xây dựng lại, giấc mơ thành hiện thực. Ngày 12.05.2016, mái tóc xanh trả về cho mẹ, cho quê hương, cánh cửa được mở và con đường được rộng lớn thêm.

Thư tình

“Bạch Đức Thế Tôn, hôm nay là ngày 03.11.2016, ngày con chính thức biểu hiện hai mươi năm trên hành tinh xinh đẹp này, là ngày mà con đường  lý tưởng được thấy rõ. Con đường mà ở đó tình thương của con được mở rộng bằng nền tảng của hiểu biết. Con nhận diện rằng, trong quá khứ vì những vụng về, vì kém hiểu biết mà con đã gây ra nhiều đổ vỡ, nhiều vết thương cho thân tâm con cũng như cho những người con thương.

Con đã từng tư duy, hành xử và nói năng một cách vô thức, con đã không trân quý được sự có mặt của những người thương, của những điều kiện hạnh phúc quanh con. Con đã sống một lối sống hời hợt và tưới tẩm cho mình cũng như những người thương những hạt giống không tốt. Hai mươi năm biểu hiện nhưng đã có bao nhiêu cơ hội tuột khỏi tầm tay rồi?

Kính bạch Thế Tôn, giờ phút này con xin trở về  ý thức, trở về thật sự để nhận diện rằng con đã có đường đi, con đường của hạnh phúc chân thật, của tình thương lớn. Ở đó con có tình huynh đệ, có cả gia tài mà Bụt, Tổ cũng như Thầy đã truyền trao. Con có lý tưởng để phụng sự, để đem cả trái tim thương yêu có mặt nơi mọi người cần. Con biết rằng, để có thể vững chãi trên con đường đẹp này, con cần trở về chăm sóc bản thân mình nhiều hơn, ôm ấp những tập khí mà ngày trước do vụng về con đã tạo ra. Con nguyền thực tập làm mới lại bản thân, nguyền thiết lập những thói quen  mới, nguyện nắm lấy cơ hội mà mỗi phút giây Đức Thế Tôn đã trao tặng. Con đã và đang là dòng tiếp nối của Bụt, của Tổ, của Thầy. Giờ phút này xin Người chứng minh, gia hộ và yểm trợ cho con!”

Khúc hát tuổi hai mươi

Yên Tử thương! Lá thư vừa được viết xong, chỉ còn vài phút nữa thôi, lời hứa hẹn sẽ được đọc lên và ngọn lửa sẽ gửi nó đến Người. Từ giây phút ấy em sẽ mới và mỗi phút giây đều là cơ hội, đều là phần thưởng mà cả vũ trụ un đúc dành cho em. Hôm nay em sẽ hát bài hát của tuổi hai mươi, cái tuổi đầy mây trắng, gió xuân, cái tuổi hai mươi xanh lạ thường. Cái tuổi tràn đầy nhựa sống và nhiệt huyết, cái tuổi của mơ ước, của hy vọng, của khát khao khám phá. Tuổi hai mươi, “em tung tăng cho vui đời”, em có cần phải lo nghĩ gì nhiều đâu nào, em đã có đường đi, đã có lý tưởng trong tay, em có tình huynh đệ, em có cả một bầu trời thênh thang. “Hai mươi em cho đời một giấc mơ”, giấc mơ của tuổi hai mươi là một giấc mơ tinh khôi và trong sáng. Em đem cả một trái tim đi vào đời, một trái tim còn nguyên vẹn, phải chăng những thứ vừa đi qua chỉ là một cơ hội để em hiểu rằng “có em là thế gian thêm một ngày nắng”. Kinh nghiệm là thứ mà con người có được qua thử thách của thời gian, và đó là cơ hội để em có thể tiếp xúc sâu sắc với thứ được cho là khổ đau. “Trời còn để có hôm nay” cơ mà, ngày hôm nay là một ngày rất đẹp, ngày mà cả vũ trụ trao cho em biết bao điều mầu nhiệm. Yên Tử ơi! Giờ phút này em còn trông đợi gì nữa, cánh cửa để ngỏ rồi, cùng tôi bước vào em nhé!