Dấu ấn của tình thương

Em à,

Em có biết không, thư này tôi viết cho em đến gần bốn năm mới hoàn tất đó.

Tôi đã bắt đầu viết từ năm 2013, rồi bỏ lửng đến hôm nay mới có dịp viết tiếp. Khi mới viết, tôi thấy nó sao sao ấy, nó hơi non non, như ổi còn chát, như chuối còn xanh, và tôi không có cảm hứng để viết tiếp. Thật là có lỗi với em lắm lắm! Cho đến ngày hôm nay tôi mới gửi những dòng này đến em.

Cuối năm 2012, trong dịp lễ Giáng sinh, tôi nhận được một món quà khi đại chúng chơi trò Ông già Noel bí mật (Secret Santa). Em có biết trò chơi này không? Năm nào chúng tôi cũng chơi trò này. Tên của tất cả mọi người, kể cả thiền sinh, được ghi trên từng mảnh giấy riêng rẽ, rồi được bỏ vào chuông hay vào một cái hộp. Mình bốc trúng tên của ai thì chỉ mình biết thôi và mình chuẩn bị một món quà cho người đó. Món quà sẽ được bỏ dưới gốc cây thông Noel, dán tên của người đó. Đến ngày 25 tháng 12, đại chúng dùng sáng chung rồi sẽ có một ông già Noel cười “Ho, hoh, hoh” ra phát quà cho đại chúng. Phát tượng trưng thôi vì đại chúng đông lắm. Sau đó ai cũng sẽ nhận được ít nhất là một món quà. Đó là món quà của ông già Noel bí mật.

Món quà tôi nhận được năm đó là một viên đá màu trắng, ở trên có ghi chữ “nhẫn” bằng mực tàu, viết theo kiểu thư pháp của Sư Ông. Làng Mai có nhiều người viết chữ rất giống Sư Ông, nên tôi chắc đó là nét chữ của một thầy hay một sư cô nào đó. Tuy vậy, tôi vẫn thầm nghĩ biết đâu đó là quà từ Sư Ông? Đó cũng là một cách thực tập đó em, để tưới tẩm cho hạnh phúc trong mình lớn hơn. Tôi thích món quà đó lắm dù đó là của ai. Thích cho đến nỗi tôi đã viết thư cho em để “thử” chia sẻ về chữ “nhẫn”. Tôi thấy thú vị lắm! Tuy biết rằng còn lâu tôi mới thực hiện được hạnh nhẫn nhục ba la mật nhưng tôi cũng thử bàn về chữ “nhẫn” trong cái thấy và cái làm còn hạn hẹp của tôi.

Trong tiếng Việt, chữ “nhẫn” thường đi đôi với chữ “nhịn”, hay chữ “nhục”. Ngoài ra còn nhẫn nại, kiên nhẫn, ẩn nhẫn nữa. Tóm lại, một người được nói đến kèm với một trong những từ có chữ nhẫn nói trên, đối với tôi, là một người “đáng nể”. Tại sao vậy? Tại vì muốn nhẫn nhịn, nhẫn nhục, nhẫn nại hay kiên nhẫn không phải dễ. Thí dụ, mình là một thầy giáo hay cô giáo dạy Toán. Mình giảng về một công thức toán học rồi cho bài tập. Và học trò mình không giải được bài tập đó. Mình “kiên nhẫn” giảng lại. Học trò vẫn không làm được. Rồi mình kiên nhẫn giảng một lần nữa. Vậy mà có em vẫn không làm được. Hồi tôi còn làm cô giáo, tôi mất hết kiên nhẫn. Tôi thấy sao học trò mình… “chậm tiêu” quá! Bây giờ biết nhìn lại, tôi thấy chính mình mới chậm tiêu. Chính tôi cần thay đổi cách giảng bài để học sinh có thể dễ tiếp thu hơn, và vì thế có thể nhẫn nại được lâu hơn. Sự nhẫn nại đó sẽ đem lại kết quả khá hơn.

Một người nhẫn nại là một người chịu khó. Còn một người kiên nhẫn là một người không bỏ cuộc. Toàn là những đức tính cần có để làm “chuyện lớn”, những đức tính mà tôi ao ước.

Lúc còn học trung học, có lần một người quen bói chữ cho tôi, nói tôi là một người làm gì cũng dở dang, làm gì cũng không đến nơi đến chốn. Tôi rất buồn và tự ái khi nghe nói như vậy. Người mà làm cái gì cũng không đến nơi đến chốn là một người không kiên nhẫn, không nhẫn nại. Sau này nhìn thật kỹ, tôi thấy cũng không xa với thực tại của tôi là mấy. Việc làm của tôi không có cái gì là lâu bền cả. Không lâu bền không phải vì bị đuổi việc, mà bởi vì tôi luôn luôn tự động xin thôi việc. Vì bất mãn với sếp, vì không đồng ý với hệ thống điều hành, vì đòi hỏi quá cao nơi chính mình nên tôi không đủ kiên nhẫn để ở lại một nơi nào lâu  cả.

Ông bà mình nói “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, nhưng tôi chưa bao giờ có được kinh nghiệm đó. Không nhẫn nại, không đủ kiên nhẫn và không muốn nhẫn nhịn nên chỉ làm việc tối đa năm năm là tôi bỏ việc để đi tìm một việc khác. Rồi sau vài năm lại bỏ việc đó để đi tìm một việc khác nữa. Sau này (lúc chưa xuất gia) nhìn lại, thỉnh thoảng tôi vẫn… chép miệng tiếc rẻ: “Phải chi hồi đó mình kiên nhẫn hơn một chút, chắc bây giờ mình đã là một cô giáo, một nhân viên xã hội, một… có kinh nghiệm rồi!”

Nói tới nói lui nãy giờ tôi chỉ muốn cho em biết tôi là một người thiếu kiên nhẫn, thiếu nhẫn nại thuộc loại… cao thủ. Đó chỉ là đơn cử một vài thí dụ thôi.

Trước đây, tôi không hề nhận ra tập khí thiếu kiên nhẫn và hay phản ứng của mình. Đằng sau những tập khí ấy có một cái gì đó âm thầm chi phối cách hành xử của tôi. Cũng giống như đôi khi mình mở máy vi tính lên, thấy sao mà nó chạy chậm rì. Một lát ở góc dưới bên phải màn hình hiện lên một khung chữ nhật nho nhỏ, báo cho mình biết là có chương trình gì đó đang chạy phía trong, nên mình không mở được chương trình gì khác. Biết nó như vậy, mình đâu có cách nào khác, mình phải chờ. Thật lòng mà nói, tôi còn kém hơn cái máy tính nữa! Chương trình chưa có tên, chưa được nhận diện đó của tôi âm thầm chạy, nhưng tôi lại không có cái khung vuông báo động nên tôi tự cho mình là người… dễ tính, vui vẻ, dễ thương, nhất là với bạn bè. Dù có khi ai nói chuyện với tôi mà hơi lòng vòng một chút, không vào vấn đề là tôi sốt ruột lắm, tôi… nhảy vô nói dùm và kết luận dùm luôn. Nhưng tôi vẫn “kiên cố”: “Hừm, tôi mà hay phản ứng hả? Tôi có lý do chính đáng mà, đâu phải tôi muốn như vậy, tại bạn tôi nói vậy, làm vậy nên tôi mới như vậy chứ…”.

Trong nhiều năm, tôi đã sống và hành xử như vậy cho đến lúc tôi gặp pháp môn thở và cười của Sư Ông. Khi thấy đệ tử làm cái gì mà hơi ngán một chút, Sư Ông thường động viên: “Làm một hồi rồi sẽ quen thôi con”. Tôi thích hai chữ “một hồi” lắm bởi vì nó có vẻ không là một thời gian dài, hợp với người thiếu kiên nhẫn như tôi. Sư Ông dạy quay trở về với bước chân, với hơi thở ý thức để có mặt trong giây phút hiện tại, vậy nên có chuyện không vừa ý, tôi tập thở và cười. Ban đầu có hơi gượng gạo một chút nhưng từ từ thì có vẻ tự nhiên hơn. Vì cứ quay về với giây phút hiện tại, với hơi thở nên tôi quên bẵng đi là tôi đang sốt ruột, hay đang mong đợi cái gì diễn ra kế tiếp.

Ngồi yên trong khi ngồi thiền, tụng kinh, ngồi trong các buổi pháp đàm; đi yên trong khi đi thiền hành, trong khi đi từ nơi này đến nơi kia trong tu viện… một hồi, dù chưa làm giỏi lắm, một lúc nào đó tự dưng cái chương trình chưa có tên vận hành phía sau tâm tôi từ từ lộ diện. Mà thực ra không phải chỉ là một chương trình thôi đâu mà nhiều cái lắm. Chúng nó cứ thay phiên nhau hoặc cùng nhau hoạt động bất chấp không gian, thời gian, hay… thời tiết. Em thấy có lợi hại không? Nhận diện ra chúng rồi, tôi tập gọi đúng tên của chúng, như Sư Ông thường dạy “Hãy gọi đúng tên tôi”. Em đã sẵn sàng để tôi giới thiệu chúng cho em chưa? Đây, tên của chúng đây: mặc cảm hơn, kém, bằng, tủi thân, lo lắng, sợ hãi, mệt mỏi, và nhiều nhiều nữa.

Dĩ nhiên đôi lúc cũng có mấy chương trình có tên là từ, bi, hỷ, xả, hiểu, thương, chánh niệm vận hành để tôi hành xử dễ thương, biết buông bỏ, biết thông cảm v.v. Nhưng hôm nay tôi chỉ muốn chia sẻ với em mấy cái chương trình đã làm tôi lao đao lận đận mà thôi.

Sống trong tăng thân, tôi được nhắc nhở và soi sáng thường xuyên. Em xem, làm sao mà tôi “làm lơ” với cái tập khí thiếu kiên nhẫn và hay phản ứng của tôi được nữa. Tôi biết, nếu tôi để cho những chương trình, bây giờ đã có tên, chạy âm thầm phía dưới, nó sẽ làm tôi không mở được các chương trình khác mà tôi cần dùng. Khi đó truyền thông với các sư chị, sư em sẽ bế tắc, những quan hệ tốt đẹp sẽ bị ảnh hưởng. Và tôi sẽ phải tốn rất nhiều thời gian để xây dựng lại. Thú thật với em, có khi cái khung hình báo động hiện lên khá lâu mà tôi vẫn chưa tắt được chương trình mình cần tắt. Nhưng ít ra, tôi đã có phương tiện báo động, điều đó làm tôi rất an lòng. Tôi thấy mình… còn có thuốc chữa, chưa đến nỗi bị bác sĩ chê.

Mùa hè, thiền sinh về Làng tu học rất đông. Đông quá nên cả xóm, cả Làng bận bịu. Nhiều thiền sinh cũng có nhu cầu tiếp xúc riêng với quý sư cô ngoài thời khóa. Đôi khi tôi có thể ngồi lắng nghe các bạn ấy hàng giờ đồng hồ. Khi khác mới nghe một chút, tôi đã thấy đầy và nôn nóng muốn cho lời khuyên để chấm dứt câu chuyện. Sau đó, bao giờ tôi cũng thấy áy náy trong lòng vì thấy mình không dễ thương. Tôi tập nhận diện những chương trình đang chạy phía sau cách hành xử đó: phán xét, sân si, lo lắng, sợ hãi,… Quá mệt mỏi, không chăm sóc cho mình đàng hoàng cả về thân lẫn về tâm nên không đủ rỗng rang trong lòng cũng làm cho tôi trở nên thiếu kiên nhẫn đó em.

Trong 60 năm đi khắp nơi để gieo trồng tưới tẩm hạt giống của hiểu và thương, Sư Ông quả thật là một tấm gương kiên nhẫn cho tôi ngưỡng mộ và noi theo. Sư Ông đã đem thông điệp chánh niệm giảng đi giảng lại một cách không mệt mỏi trong suốt ngần ấy năm. Có người nghe Sư Ông một hồi rồi nói: “He doesn’t say anything new – Thầy không có dạy cái gì mới hết!”. Đúng như vậy thật, thì có gì mới đâu ngoài việc đem thân về lại với tâm để có mặt thật sự trong phút giây hiện tại, rồi thì cứ thở vào thở ra, đã về đã tới trong từng bước chân, từng hơi thở,… Chỉ vậy thôi mà Sư Ông đã đi khắp gần xa để hướng dẫn, giảng dạy, dù cho đó là cảnh sát, công an, doanh nhân, thầy cô giáo, nhân viên xã hội, bác sĩ, kỹ sư hay người nội trợ gia đình. Tất cả đều có chung một “đơn thuốc”. Sư Ông đã kiên trì, nhẫn nại dạy đi dạy lại, vậy mà tôi vẫn thực tập rất lơ mơ. Nếu không có  từ bi lớn, một trái tim lớn thì có lẽ Sư Ông đã… bỏ cuộc từ lâu.

Bởi vậy, trước đây khi chưa biết câu thư pháp “Kiên nhẫn là dấu ấn của tình thương” của Sư Ông, tôi đã mang máng cảm nhận một điều là muốn kiên nhẫn mình phải có một ước nguyện, một tình thương, hay ít ra là một ý thích. Nếu không thì đó chỉ là một sự chịu đựng mang nhiều đau khổ. Kiên nhẫn trong tình thương thì mình mới có thể “thưởng thức” được cái mình đang làm và mình mới có thể tiếp tục… kiên nhẫn.

Sống trong tăng thân, tôi mới thấy đại chúng đã kiên nhẫn với tôi như thế nào. Đi xuất gia, tôi mang vào tu viện tất cả những tập khí đẹp cũng như chưa đẹp của mình và dĩ nhiên những cái chưa đẹp là đa số. Đại chúng đã cho tôi thời gian và không gian để từ từ nhận diện rồi chuyển hóa chúng. Đại chúng không hề sốt ruột. Tôi mới là người sốt ruột. Tôi muốn là người… hoàn hảo, chắc em biết rồi đó. Sống trong chùa, phần lớn tôi được nhắc nhở bởi cách sống của quý sư cô hơn là sự nhắc nhở trực tiếp. Tôi thấy những khi mình lầm lỗi, hay có những gì chưa đẹp, chưa hay, ít khi nào tôi bị rầy, thường thì quý sư cô chỉ cười. Khi soi sáng, quý sư cô chia sẻ rất nhẹ, rất khéo léo với nhiều tình thương. Tôi quan sát cách quý sư cô nói năng, hành xử và giải quyết những trường hợp khó xử; cách quý sư cô chăm lo và chơi với các sư em mới xuất gia; cách quý sư cô chăm sóc cho chính tự thân khi trải qua khó khăn. Tôi thấy không ai sốt ruột muốn sư em hay muốn mình chuyển hóa… sau một đêm. Ai cũng kiên nhẫn, cũng cho mình và cho sư em không gian, thời gian. Miễn thấy sư em có tâm muốn chuyển hóa là ai cũng hoan hỷ. Được sống trong một đại chúng như vậy, tôi lại được tham gia cùng Sư Ông và đại chúng trong những buổi thiền hành, các thời thiền tọa, pháp thoại, pháp đàm, xếp hàng để khất thực và rửa bát… (Tiết lộ cho em một bí mật: tất cả những thực tập tôi vừa liệt kê đều diễn ra với một tốc độ… chậm rì). Nhờ vậy mà tôi đi trong sương lâu ngày cũng ướt áo, tôi bỗng trở nên bớt sốt ruột hồi nào không hay. Tôi biết chấp nhận các tập khí của mình hơn. Hình như tôi đã biết thương mình hơn!

Dạo này tay tôi hay đau. Tôi thấy cái đau kéo dài hơi lâu. Đã mấy tháng rồi mà chưa khỏi. Tôi thở, ngồi thiền gửi tình thương cho nó, cho phép nó nghỉ ngơi, xoa bóp cho nó, vậy mà nó vẫn không khỏi. Rồi tự nhiên tôi nhận ra là mình không hề lo lắng, sợ hãi như hồi xưa. Tôi cứ chăm sóc nó như vậy, tôi chấp nhận nó.

Và, hình như… tôi đã có được một chút kiên nhẫn mà tôi ao ước.

Tôi biết em mừng lắm, bởi vì em đã ẩn nhẫn chờ tôi quá lâu rồi. Em chờ tôi chăm sóc cho em, nhưng tôi thì lại không có kiên nhẫn, cho nên ít khi tôi chăm sóc em cho đến nơi đến chốn. Giờ đây tôi đã biết chăm sóc cho cái tay của mình một cách kiên nhẫn, vì vậy em cứ yên lòng. Hai chị em mình đang có nhiều hy vọng.

Thương quý

Chị của em,

Trăng Mai Thôn

Đến tu viện để “rửa xe”

Rửa xe (car wash) là một dịch vụ rất phổ thông ở Mỹ.  Xe dơ một khi được đưa vào tiệm, khách hàng chỉ cần tốn chừng $20 là xe được rửa sạch từ ngoài vào trong. Sau khi rửa, xe trở nên sạch sẽ, sáng loáng và thơm tho. Chủ nhân cảm thấy dễ chịu và hạnh phúc hơn khi ngồi trong một chiếc xe như thế.

Paul là một thiền sinh người Mỹ. Chú đã đến tu tập tại tu viện Mộc Lan hai lần. Lần đầu tiên chú đi một mình và chỉ ở lại vào cuối tuần. Sau đó một tháng, chú trở lại với cô con gái 13 tuổi để tham dự khóa tu Thanksgiving (Lễ Tạ Ơn). Đi cùng chú còn có người bạn đồng nghiệp và cô con gái của ông.

Một bữa nọ sau giờ cơm trưa, tôi trò chuyện với Paul. Chú đã chia sẻ niềm hạnh phúc và bình an có được trong thời gian ở tu viện. Chú tiếc vì nhà ở tận Austin, Texas, phải lái xe 11 giờ đồng hồ, giá như ở gần đây thì chắc chắn chú sẽ đến thường xuyên. Sau vài phút chia sẻ, chú ngưng một lát rồi nói tiếp: “Với tôi, tu viện Mộc Lan giống như một tiệm rửa xe vậy.” (For me, Magnolia Grove Monastery is like a Buddhist Car Wash). Vừa nghe xong câu nói ấy, tôi nhìn chú, hai người cùng cười thích thú. Tôi hiểu ý của Paul.

Những bạn thiền sinh, trong đó có Paul, khi mới đến tu viện, họ mang theo rất nhiều sự căng thẳng, mệt nhọc, lo lắng và bất an trong thân thể cũng như tâm hồn.  Tu viện là nơi dành cho mọi người tu tập. Vì thế, vừa đến đây, cho dù chưa được hướng dẫn thực tập, các bạn cũng đã được ảnh hưởng bởi môi trường. Một không gian bao la thoáng đãng, trong đó có những hàng cây xanh mát, tiếng chim ca thánh thót, tiếng chuông chùa ngân vang, và đặc biệt, xa xa có bóng dáng của quý thầy và quý sư cô đang đi một cách nhẹ nhàng, vững chãi và thảnh thơi. Những yếu tố tốt lành ấy phần nào đã đánh động, làm thức tỉnh hạt giống chánh niệm, bình an và vui tươi đã bị lấp vùi dưới những lớp khổ đau, lo lắng và sợ hãi mà họ đối diện hàng ngày.

Chỉ sau vài hôm có cơ hội đặt thân tâm của mình trong nguồn năng lượng chánh niệm của tăng thân, các bạn thiền sinh có sự thay đổi rõ rệt.  Bước chân trở nên chậm rãi và nhẹ nhàng hơn. Các bạn biết thưởng thức sự yên lặng trong giờ ngồi thiền, ăn cơm, thiền hành,… Các bạn lại được thường xuyên nhắc nhở rằng hãy nương vào hơi thở chánh niệm để mang tâm trở về với thân và thực sự an trú hạnh phúc trong giây phút hiện tại. Nuôi dưỡng chính mình với những phép thực tập chánh niệm, cụ thể như nghe chuông, uống trà, thiền hành, hát thiền ca,… những hạt giống hạnh phúc và thương yêu được tưới tẩm và nuôi lớn. Không cần phải dụng công cực nhọc, nhưng các bạn thiền sinh đều gặt hái được nhiều hoa trái của sự chuyển hóa.

Tiệm rửa xe nhận những chiếc xe dơ để rửa, và xe được rửa bằng nước. Còn ở tu viện Mộc Lan – nơi mà Paul gọi đùa là một “Buddhist Car Wash”, chúng tôi không nhận rửa xe, nhưng chúng tôi hết lòng chào đón những con người đến từ mọi nơi, không phân biệt già trẻ, văn hóa, màu da,…. Một khi đến đây, thân tâm của mọi người đều được “rửa” một cách rốt ráo bằng nguồn năng lượng chánh niệm tập thể được chế tác qua các buổi công phu sớm trưa, bằng những nụ cười thân thiện và những tấm lòng cởi mở, bao dung.

Sáng nay gặp cô Sandy, một thiền sinh từ Memphis thường đến tu viện, tôi kể cho cô nghe về những lời chia sẻ của Paul. Nghe xong, cô mỉm cười và bảo: “Với tôi, tu viện Mộc Lan giống như một cái bồn tắm. Tôi đặt cả con người mình vào đó, buông thư và thưởng thức hết lòng”. (“For me, Magnolia Grove Monastery is like a bathtub. I just put myself in it, relax and enjoy it wholeheartedly”).

Nếu những ai chưa từng đến một nơi như thế thì nhân đây, chúng tôi xin trân trọng kính mời. Mong rằng quý vị có thể tạo cơ hội cho thân và tâm của mình được “rửa” và được “ngâm” bằng những chất liệu tâm linh tốt lành để sự dễ chịu, bình an và hạnh phúc trong tự thân lại được phục hồi. Từ đó, quý vị càng có thêm động lực và nguồn cảm hứng trở về chăm sóc và thưởng thức chính mình nhiều hơn.  Đó thực là một món quà xứng đáng để tặng chính mình, người thân và bạn bè.

Để tìm hiểu thêm thông tin về tu viện Mộc Lan, xin xem tại website: http://magnoliagrovemonastery.org/

Chuyến hoằng pháp có một không hai

Đại chúng ở Làng tiễn Sư Ông tại sân bay Bergerac

Máy bay cất cánh, hình bóng các thầy các sư cô đứng dưới vẫy tay chào xa dần, nhỏ dần, rồi mất hút.

Trên chiếc máy bay tư nhân (private jet), chỉ có mười thầy trò chúng tôi ngồi với nhau giống như đang ngồi ở phòng sinh hoạt tại Sơn Cốc. Cô chiêu đãi viên lịch sự mời nước, bánh trái và chiều theo sở thích của mỗi hành khách. Chiếc máy bay chỉ có mười sáu chỗ ngồi, thuộc hạng nhỏ nên bay thấp hơn những chiếc máy bay Boeing bình thường. Nhìn ra cửa sổ, thầy trò chúng tôi được thưởng thức cảnh thiên nhiên dưới đất liền gần hơn, rõ hơn, như dãy núi tuyết Alpes, dãy Hy Mã Lạp Sơn, v.v. Thỉnh thoảng, thị giả đưa Sư Ông đi lại một cách thoải mái trên máy bay. Đến phòng lái phía trước, Sư Ông ngạc nhiên nhìn vào mấy hàng nút bấm màu sáng trưng, và nhất là khoảng không gian vô tận trải dài ngay đằng trước mặt phía ngoài tấm kính. Hai chú phi công đang thay phiên nhau lái, nhoẻn miệng cười và mời chúng tôi vào xem một cách thân thiện. Đang ở trên máy bay mà chúng tôi có cảm giác thoải mái, tự do như đang ở nhà. Có lẽ vì vậy mà Sư Ông không muốn nằm nghỉ trên chiếc giường êm ấm đã chuẩn bị sẵn. Sư Ông chỉ muốn ngồi trên ghế dựa bình thường như những hành khách khác. Thấy Sư Ông vui, khỏe, nhóm thị giả chúng tôi lại càng tíu ta tíu tít, quán sát, khám phá, chụp hình, bàn tán đủ chuyện,…

Trong lúc thầy trò đang vui cười, bỗng dưng tôi cảm thấy xốn xang trong lòng: nếu như trước kia Sư Ông mà đi giảng dạy bằng máy bay như thế này thì Sư Ông đã bảo tồn được sức khỏe và tiết kiệm được bao nhiêu là thì giờ!

Từ Pháp đi Thái, với máy bay bình thường, chuyến bay nhanh nhất cũng phải mất hơn 15 tiếng rưỡi đồng hồ, cộng thêm 7 giờ đồng hồ để đi từ Sơn Cốc đến phi trường Bordeaux, kể cả thời gian xếp hàng cân hành lý, đi qua các trạm kiểm soát an ninh, và khi đến Thái, quá trình đó lại lặp lại. Nhưng với máy bay tư nhân, chỉ cần mất 11 giờ đồng hồ bay. Máy bay được phép hạ cánh tại các phi trường nhỏ gần tu viện hơn. Hành khách cũng không phải xếp hàng cân hành lý, xếp hàng đi qua các trạm kiểm soát hay hải quan để trình hộ chiếu và làm các thủ tục. Đó là chưa kể những lúc hành lý bị chặn lại để lục soát kỹ hơn trong những giai đoạn nóng bỏng với vấn đề khủng bố. Vì vậy với máy bay dân sự từ Pháp sang Thái thì đó là một chuyến đi dài, nhưng chuyến bay được rút ngắn lại gần một nửa khi sử dụng máy bay tư nhân.

Trước kia, mỗi khi Sư Ông đi giảng dạy, có những chuyến bay kéo dài cả một ngày hoặc lâu hơn nữa, ấy vậy mà Sư Ông cứ phải ngồi suốt, chân và lưng nhức mỏi, ê ẩm. Ngay cả muốn bay qua Phật học viện Ứng dụng châu Âu ở Đức – gần Pháp nhất – dù chỉ phải đổi máy bay có một lần tại phi trường Paris hay Amsterdam cũng phải mất cả một ngày đường! Chuyến bay cuối cùng Sư Ông đi từ Học viện về lại Làng năm 2014 đã làm cho Sư Ông đuối sức. Điều mà chúng tôi, những đệ tử được đi tháp tùng theo Sư Ông trong các chuyến hoằng pháp thường làm là tìm những chiếc ghế trống khác ngồi, để dành ba chiếc ghế sát liền nhau cho Sư Ông có thể nằm nghỉ ngơi trên chuyến bay nhiều giờ đó. Nhưng không phải lúc nào chuyến bay cũng có chỗ ngồi trống. Tôi còn nhớ trong chuyến bay tối từ Mỹ về lại Pháp, thầy Pháp Hữu đã để trống chỗ ngồi của mình cho Sư Ông có thể nằm nghỉ thoải mái hơn, còn thầy cứ đi qua đi lại trên máy bay trong lúc đèn đã tắt và mọi người thì đang chìm vào giấc ngủ.

Lại một lần khác, trong lúc chờ chuyển máy bay, do đuối sức, Sư Ông đã nằm dài dưới đất ở một góc phi trường nơi vắng người qua lại. Có khi về đến phi trường Charles de Gaulle lại gặp phải lúc các hãng máy bay đình công nên không có chuyến bay nào về Bordeaux, mười mấy thầy trò đành phải đón xe ra ga Montparnasse mà lấy xe lửa để về tu viện. Tại phi trường cũng như nhà ga, hành khách nằm ngồi la liệt, thử tưởng tượng Sư Ông sau một chuyến đi dài lại phải chen chúc trong đám đông người, cũng may mà mua được đủ vé cho cả đoàn cùng về Làng với Sư Ông hôm đó.

Giảng dạy hay hướng dẫn khóa tu không làm Sư Ông mệt. Trái lại, di chuyển đường dài làm Sư Ông kiệt sức, thay đổi khí hậu và bị trái giờ không ngủ được còn làm Sư Ông mất sức hơn nữa. Có những chuyến đi mà sau đó, Sư Ông đã phải mất nhiều tháng trời mới phục hồi lại được sức khỏe. Vì vậy đã nhiều lần, chúng tôi đã từng thỉnh cầu Sư Ông đừng đi đâu nữa mà chỉ ở Làng giảng dạy để hồi phục sức khỏe.

Từ nhiều năm qua, Sư Ông đã ngưng giảng dạy tại Ý và Hà Lan. Người Hà Lan phải về Học viện Ứng dụng châu Âu, người Ý phải về Làng để tham dự khóa tu. Và rất nhiều những lá thư thỉnh mời Sư Ông đi giảng dạy ở các nước khác đã bị từ chối. Tuy vậy, chương trình hoằng hóa của Người vẫn cứ dày đặc, và mỗi một năm trôi qua là Sư Ông già hơn, sức khỏe lại yếu đi. Ngay cả những người tuổi bằng một nửa Sư Ông hay còn ít hơn nữa, khỏe mạnh, mà khi đọc thấy chương trình giảng dạy của Sư Ông thì cũng phải “le lưỡi”.

***

Sư Ông đói bụng, cô chiêu đãi viên liền đi hâm nóng thức ăn riêng được mang theo cho Sư Ông. Sư Ông là người quyết định giờ giấc ăn uống ngủ nghỉ cho cả đoàn. Cô chiêu đãi viên nói chuyến bay này cô thấy rất dễ chịu vì hành khách rất dễ thương và không có sự đòi hỏi.

***

Trước kia, các đệ tử của Sư Ông sống ở các tu viện khắp nơi, ai cũng mong mỏi được gặp Sư Ông, được nghe Sư Ông dạy trực tiếp, được cùng đi thiền hành, được cùng ngồi thiền với Sư Ông. Và niềm vui lớn của Sư Ông cũng là được gặp lại các đệ tử. Có một lần, Sư em Tường Nghiêm nói với tôi: “Em đã từng gặp nhiều vị thầy, mà em phải công nhận rằng ít có ai mà ‘enjoy’ đệ tử (tận hưởng sự có mặt của các đệ tử) như Sư Ông. Sao Sư Ông ‘enjoy’ ngồi chơi, nói chuyện với các sư con ghê đi. Sư Ông luôn luôn để hết 100% tâm ý của mình khi ngồi với các đệ tử”. Và khi Thầy “enjoy” các đệ tử của mình thì các đệ tử cũng rất mong mỏi được ở bên Thầy. Đó là lẽ tự nhiên.

Những lần về lại Hoa Kỳ, các thầy các sư cô ở tu viện Thanh Sơn, tu viện Lộc Uyển, đều được luân phiên làm thị giả Sư Ông. Nói là làm thị giả chớ thật ra là để được gần Sư Ông, chơi với Sư Ông. Năm 1999, tất cả các sư cô đều được tuần tự làm thị giả cho Sư Ông một ngày, kể cả các sư cô lớn như sư cô Chân Đức và sư cô Hoa Nghiêm. Những lần Sư Ông về tu viện Bát Nhã hay Làng Mai Thái Lan cũng vậy, các sư con U20 (dưới 20 tuổi) rất nôn nóng trông đợi đến ngày mình được làm thị giả cho Sư Ông. Và Sư Ông cũng rất hạnh phúc có cơ hội “cưng” các sư con. Các nhóm “Cây” (các gia đình xuất gia) cũng được Sư Ông mời đến cốc để dùng cơm chung, để hát, để chia sẻ, rồi sau đó mỗi sư con còn được chụp hình riêng với Sư Ông trước khi ra về nữa. Sư Ông thường tạo cơ hội để thầy trò được chơi chung trong những chuyến đi núi, những ngày xuất sĩ, những buổi tiệc nướng ngoài trời (barbeque), Trung thu,…

Lần đầu tiên các đệ tử tổ chức sinh nhật bất ngờ cho Sư Ông tại thiền đường Hội Ngàn Sao ở xóm Hạ, Sư Ông không vui khi đệ tử tổ chức mà không xin phép trước, hơn nữa Sư Ông “mắc cỡ” nên xoay lưng bỏ đi về phòng. Nhưng những năm sau này, Sư Ông cũng hoan hỷ ra chơi với đại chúng vào ngày sinh nhật. Thấy lạ, có một lần thị giả hỏi vì sao Sư Ông hết mắc cỡ. Sư Ông trả lời rằng bởi vì Sư Ông rất thích khi thấy đại chúng có cơ hội tập họp ngồi chơi chung với nhau. Thỉnh thoảng lại có những sư con được gặp Sư Ông để chia sẻ về những khó khăn mình gặp phải để được Sư Ông an ủi vỗ về hoặc dạy dỗ. Những giây phút có hai ba thầy trò được ngồi riêng với nhau hay ngồi trong một nhóm nhỏ là những giây phút rất đặc biệt đã đành, mà ngay những lúc Sư Ông sinh hoạt chung với cả đại chúng đông cũng đều đặc biệt không kém: những buổi thiền đi dưới ánh trăng sao, những buổi thiền ngồi tại thiền đường Vách Núi với tiếng chim hót líu lo khi ánh ban mai đang từ từ ló dạng, những buổi vấn đáp với những câu hỏi “nóng” nhất trong các khóa tu xuất sĩ,…

Những chuyến đi hoằng hóa của Sư Ông thường được sắp xếp trong một khoảng thời gian nhất định để không bị trùng vào những khóa tu sắp xảy ra tại Làng trước và sau chuyến đi. Khoảng thời gian này được chia đều ra cho mỗi nước ở vùng Đông Nam Á. Ấy vậy mà có một năm, trong khi bàn thảo để lập chương trình cũng có một ban tổ chức tranh đấu xin Sư Ông ở lại nước mình lâu hơn một vài ngày. Sư Ông mà ở lại một nước thêm vài ngày có nghĩa là chương trình của một nước khác phải bị cắt ngắn đi vài ngày. Thế là ban tổ chức các nước khác lại phải lên tiếng tranh đấu quyền công bằng để không bị “thiệt thòi”. Họ tính từng ngày! Vậy mà giờ nói đến chuyện Sư Ông chỉ ở lại Pháp và không đi đâu nữa thì quả thật là một chuyện không thể tưởng tượng được!

Năm 2012, khi Sư Ông trở lại hướng dẫn các khóa tu và giảng dạy tại Quốc hội Bắc Ái Nhĩ Lan (North Ireland), sư cô Diệu Nghiêm đã khóc và nói rằng sư cô đã phải năn nỉ và đợi Sư Ông gần 20 năm nay. Đệ tử của Sư Ông đến từ nhiều quốc gia trên thế giới, và ai ai cũng mong muốn Sư Ông về tế độ đồng bào tại quê hương mình. Ai cũng đưa những lý do đặc biệt và chính đáng để xin Sư Ông đến hoằng pháp tại quốc gia mình: nào là những nhà chính trị, nào là các nhà doanh thương – những người trên thực tế, có tầm ảnh hưởng còn lớn hơn những chính trị gia, những người cần có một đời sống tâm linh để dân chúng bớt khổ; nào là những nhà kỹ thuật của Facebook, Google, những người có ảnh hưởng lớn trên toàn cầu trong thế kỷ “hi- tech” (công nghệ cao) hiện giờ, nếu họ biết tu tập và có ý muốn đưa con người đi lên thì thế giới sẽ có một tương lai tương sáng hơn; nào là giới giáo chức, những người sẽ mang sự thực tập chánh niệm vào trường lớp cho giới trẻ; nào là những khoa học gia, những bác sĩ y tá trong ngành sức khỏe; nào là các khóa tu xuất sĩ để làm mới đạo Bụt vùng Đông Nam Á; nào là giảng dạy và truyền Năm giới cho bộ tộc Thích Ca, v.v. Sức khỏe của Sư Ông yếu vậy đó, nhưng làm sao có thể ngăn cản Sư Ông đi độ đời được? Hơn nữa, từ khi còn là một chú sa di trẻ, Sư Ông đã từng viết với nét bút chì trên cái cột trước chánh điện của chùa Từ Hiếu dòng chữ Hán: “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ.”

Quả thật là như vậy. Sư Ông chưa bao giờ chùn bước trước những gian nguy hay cực khổ trên con đường hoằng pháp. Sư Ông đã từng đi qua nhiều cuộc chiến với bom đạn, với sự chết chóc. Sư Ông đã từng tìm đến những nơi nghèo khó, bệnh tật, hiểm nguy để giúp đỡ những nạn nhân của chiến tranh. Đã bao nhiêu lần, Sư Ông từng an nhiên trước những đe dọa cho sự an thân của mình để đi kêu gọi hòa bình, kêu gọi nhân quyền, hay cứu vớt thuyền nhân. Sư Ông đã từng dám nói lên những cái thấy không phù hợp với quan điểm chính trị của Việt Nam, của các cường quốc như Mỹ, Trung Quốc,… và đã từng bị lưu đày, đã từng được cấp giấy tờ của một người “apatride – một người không có quốc tịch, không có quốc gia nào công nhận đây là công dân của họ.

Chịu cực, chịu khó trong những chuyến hoằng pháp, đối với Sư Ông, đó chỉ là chuyện nhỏ. Những năm 1995, 1997, khi Sư Ông đã 70 tuổi rồi mà Sư Ông còn nghỉ trưa trong một chiếc lều nhỏ cắm ngoài trời, không có nhà vệ sinh, vào những ngày quán niệm dành cho gia đình Phật tử của chùa ở San Diego hoặc dành cho cư sĩ người Mỹ tại Oakland. Sư Ông cũng đã từng ở lều vào tuổi ấy trong suốt năm ngày khóa tu trên núi Shambala tại Mỹ.

Thấy không thể nào ngăn cản những chuyến đi xa của Sư Ông được, chúng tôi đã từng nhiều lần năn nỉ Sư Ông đi máy bay với vé hạng nhất để có thể nằm nghỉ ngơi trong chuyến bay nhưng không thành công. Vào năm 2004, khi Giám đốc Nhà xuất bản Seoul cho ra mắt tác phẩm Quyền lực đích thực đã mời Sư Ông qua Đại Hàn giảng dạy. Ông ta đã mua sẵn vé máy bay hạng nhất cho Sư Ông. Sư Ông đã rất mắc cỡ và đã đợi cho tất cả các hành khách lên máy bay hết rồi Sư Ông mới bước đến chỗ ngồi của mình.

Trước khi lên đường cho chuyến đi này, tôi đã chuẩn bị hành lý cho Sư Ông cẩn thận. Lý do cũng bởi vì cách đó gần 10 năm trong một khóa tu tại Đức, có một sư cô từ Việt Nam được đi theo tháp tùng và đã phụ thị giả xếp lại hành lý cho Sư Ông trước khi về lại Pháp. Sư cô đã xót xa khi nhìn thấy những y phục sờn cũ của Sư Ông. Kể từ đó, tôi đã luôn xin phép chuẩn bị hành lý cho Sư Ông mỗi khi đi xa. Thấy chiếc đãy nâu đã bắt đầu sút chỉ và bạc màu, tôi đã nhờ sư em Cung Nghiêm may một chiếc đãy mới để thay thế. Nhưng khi nhìn thấy chiếc đãy mới tinh, Sư Ông không chịu dùng vì “xách đãy mới mắc cỡ lắm!”. Mãi cho đến năm 2011, chiếc đãy này đã lủng lỗ và bạc màu hết, Sư Ông mới đồng ý thay thế nó với chiếc đãy do thầy Pháp Thạnh may. Ấy vậy mà trước khi lên đường, Sư Ông để lại chiếc đãy mới và giữ lại chiếc đãy cũ trong hành lý.

Tại phòng triển lãm ở xóm Mới, trong tủ kính có một chiếc cặp sờn rách với cái nút đóng bằng sắt bị hư và đã được nối lại bằng một cọng kẽm. Đó là chiếc cặp mà các đệ tử đã cúng dường khi Sư Ông đi Mỹ kêu gọi hòa bình năm 1966. Sư Ông đã dùng chiếc cặp này trong các chuyến đi từ châu Mỹ, qua châu u, châu Úc, rồi dùng mãi cho đến thời gian đi dạy ở đại học Sorbonne tại Paris. Vậy đó, bất cứ vật dụng gì dù có cũ bao nhiêu mà vẫn còn sửa lại được thì Sư Ông vẫn còn giữ lại để dùng tiếp. Tại Sơn Cốc, dù là một mẩu bánh mì nhỏ xíu, Sư Ông cũng cất lại trong lò nướng để dùng tiếp cho ngày hôm sau.

Sư Ông thường nhắc đến Đức Thế Tôn trong suốt 45 năm đã không ngừng đi du hành trong bao nhiêu quốc gia vùng lưu vực sông Hằng để độ đời. Cho đến năm 80 tuổi, ngài vẫn chỉ đi bộ. Vì vậy đối với Sư Ông, những chuyến đi hoằng pháp có mệt nhọc bao nhiêu thì cũng chỉ là chuyện bình thường. Sư Ông thường nói, hướng dẫn tu tập cho các vị cư sĩ ngay tại tu viện mình đang sống là quá tiện nghi, quá dễ dàng: “Đó là phước điền của mình. Mình không phải đi đâu xa mà ruộng phước đến tận nơi cho mình gieo hạt”. Sáng cho người thêm niềm vui, chiều giúp người bớt khổ là tư niệm thực của Người. Thiền sinh đến càng đông thì càng vui.

Những năm đầu khi mới thành lập Làng Mai, lúc đó Sư Ông cũng đã hơn 56 tuổi mà Sư Ông còn phải hướng dẫn tất cả mọi sinh hoạt từ sáng đến tối trong suốt một tháng hè: thiền ngồi, thiền đi, pháp thoại, pháp đàm, tham vấn, thiền trà, cơm quá đường, các buổi lễ giỗ Tổ, lễ Bông hồng cài áo, lễ Hòa bình,… Có khi Sư Ông dùng cơm trưa chung với thiền sinh rồi sau đó cũng xếp hàng rửa chén với họ. Chúng tôi tuy trẻ tuổi hơn, thỉnh thoảng với hai ba anh chị em, phải đi hướng dẫn một khóa tu nhỏ chỉ kéo dài năm ngày thôi mà sau đó đã thấy mệt rồi.

Trong nhiều năm, Sư Ông đã từng giảng mười bài pháp thoại và một buổi vấn đáp mỗi tuần vào khóa tu mùa Hè. Sáu ngày mỗi tuần, Sư Ông đều cho hai bài pháp bằng hai thứ tiếng khác nhau mỗi ngày. Ngoài ra còn các bữa ăn quá đường và các buổi lễ lớn mỗi tuần nữa. Vừa xong khóa Hè là Sư Ông lại lên đường đi hoằng pháp bên Mỹ hoặc các nước khác, trong khi đại chúng ở nhà làm biếng. Lại có những mùa đông lạnh cóng, Sư Ông cho pháp thoại lúc 6 giờ rưỡi sáng. Sau pháp thoại là buổi điểm tâm. Điểm tâm xong, Sư Ông lại cho bài pháp thứ hai. Đi hoằng pháp từ xa về nhưng nếu ngày hôm sau là ngày quán niệm, Sư Ông cũng cho pháp thoại như thường, không hề biết mỏi mệt.

Ngoài chuyện giảng dạy, Sư Ông còn nghiên cứu, dịch thuật, nhuận văn, viết sách. Mỗi năm đều có sách mới. Có những tác phẩm, Sư Ông viết ngay vào những buổi khuya trong các khóa tu với thời khóa dày đặc, ví dụ như “Bây giờ mới thấy” hoặc “Con gà đẻ trứng vàng”, những tác phẩm cuối cùng mà tự tay Sư Ông viết vào tháng 8 năm 2013 tại Học viện Ứng dụng châu Âu. Cho đến lúc Sư Ông đã bắt đầu ngã bệnh, Sư Ông vẫn tranh thủ dịch lại Tâm kinh tại Học viện vào tháng 8 năm 2014. Khi tay không còn viết được nữa thì Sư Ông lại nói vào máy thâu thanh vào những đêm khuya khi mọi người đang ngủ.

***

Bất chợt, Sư Ông chỉ tay ra cửa sổ máy bay. Tất cả chúng tôi đưa mắt nhìn qua cửa kính: trên nền trời bao la ửng đỏ, mặt trời thật to, thật tròn đang bắt đầu lặn. Tất cả thầy trò ngồi trong im lặng thưởng thức cảnh đẹp mầu nhiệm. Không ai nói ai nhưng ai cũng cảm nhận sâu sắc đây là giây phút huyền thoại.

Sự thực tập chánh niệm miên mật của Sư Ông trong từng giây phút của đời sống hằng ngày tạo cho chúng ta có cảm giác là lúc nào Sư Ông cũng thảnh thơi để thưởng thức thiên nhiên, như không có chi để làm. Những bước chân của Sư Ông lúc nào cũng chậm rãi như đi mà không cần đến. Nhưng kỳ thật, Sư Ông đi nhanh và đi xa hơn ai hết, và Sư Ông cũng làm việc nhanh và nhiều hơn ai hết.

***

Trên máy bay, Sư Ông lại đứng dậy đi dạo vài vòng với hai thầy thị giả. Khi nào không bị đau nhức, khỏe một chút là Sư Ông lại tập tay, tập chân ngay trên giường trong những đêm không ngủ được hay khi vừa thức giấc, hoặc tập ngồi, tập đứng, tập đi. Khóa tu mùa Hè năm ngoái tại xóm Thượng, Sư Ông đã cùng đi thiền hành với thiền sinh trên chiếc xe điện. Đến các bậc thang, xe điện không trèo lên nổi, và Sư Ông đã đứng phắt dậy để đi bộ tiếp với hai thị giả. Về tới cốc Ngồi Yên, Sư Ông xoay trở lại, dơ cao cánh tay ra dấu chiến thắng rồi xá chào thiền sinh. Rất đông các vị cư sĩ đã vừa khóc vừa nói: đây là bài pháp không lời sâu sắc nhất của Sư Ông dành cho họ trong khóa tu đó.

Suốt cuộc đời, Sư Ông không ngừng thuyết pháp, không ngừng ban tặng diệu pháp. Đây cũng là một chuyến hoằng pháp tại Thái Lan. Dưới một hình thức khác. Để tiếp nhận, chúng ta chỉ cần mở lòng ra và mở to đôi mắt quan sát.

Máy bay đang hạ cánh. Nhìn qua cửa sổ, Sư Ông thấy các sư con đang nôn nao đứng đợi.

Như gặp lại ngàn xưa – phần II

Tình thầy trò

Thầy về Thái Lan. Đó là một sự kiện chấn động tâm thức không biết bao nhiêu người. Những công trình đã hoàn tất nhanh chóng. Tôi cảm nghe nơi mỗi trái tim anh chị em xuất sĩ là mỗi niềm thương, mỗi sự chờ đợi sự có mặt của Thầy. Nghe tin Thầy về, Ôn Thủ tọa Giác Viên trong thời gian trị bệnh ở Việt Nam cũng đã sắp xếp qua thăm Thầy. Buổi gặp gỡ sáng hôm đó thật ấm áp tình thầy trò. Thầy và Ôn Thủ tọa gặp nhau trong thất Nhìn Xa. Thầy đã ôm Ôn Thủ tọa vào lòng nhiều lần, đã mời Ôn Thủ tọa ngồi bên cạnh và nắm tay như tiếp xử với một tri âm tri kỷ. Ánh mắt Thầy hôm đó thật vui. Niềm vui ấy, tôi nghe được cả tình thầy trò, cả niềm vui hội ngộ, cả niềm biết ơn của Thầy đối với Ôn Thủ tọa Vườn Ươm. Tôi mở lá thư Ôn Thủ tọa dâng lên Thầy. Trên bì thư có đề mấy chữ: “Kính dâng Thầy, lần viếng thăm hiếm có nuôi dưỡng tình thầy trò. Con, Thích Giác Viên“. Đó là một bài thơ lục bát có tên Ngọn lửa tâm linh, tôi còn nhớ vài câu:

Phương Khê nhóm lửa tâm linh
Thầy trò có mặt thỏa nghìn ước mong
Lửa lên ấm cả mùa đông
Nuôi nhau nuôi những nuôi dòng nuôi nhau…”

Thầy đã tự cầm tờ giấy và đọc thật chậm rãi cả bài thơ. Thầy đưa mắt nhìn Ôn Thủ tọa, rồi áp bài thơ lên má nhiều lần, gật đầu rất tâm đắc. Nắng hôm đó tỏa chiếu ánh sáng thật đẹp, xa xa thấp thoáng dãy núi ẩn hiện trong sương mai, khắp nơi ngập tràn hương đất mùa xuân hội ngộ. Tình thầy trò sưởi ấm hồn vũ trụ, sưởi ấm hồn anh em thị giả chúng tôi.

Thấy được hạt giống Bồ đề nơi con

Một buổi chiều, anh em thị giả chúng tôi nhận thấy có hai vợ chồng và một đứa bé trai ngồi cách thất Nhìn Xa khoảng trăm mét. Họ ngồi đó để mong được gặp và đảnh lễ Thầy trong lúc Thầy thiền hành. Hôm đó Thầy mệt nên không ra ngoài. Sáng sớm hôm sau, chúng tôi lại thấy bóng dáng của ba người ấy xa xa trước thất. Cảm tấm lòng của họ, tôi đã rủ thầy Đồng Trí ra thăm chơi. Chúng tôi ngồi uống trà trên những tảng đá. Qua câu chuyện, tôi biết họ lần đầu tiên đến với một trung tâm của Làng. Nghe Thầy về Thái Lan, họ lập tức mua vé máy bay qua thăm theo lời nguyện mà họ từng phát, rằng hễ chư tôn đức nào từng có thời gian sống ở Tổ đình Ấn Quang, Sài Gòn, thì họ sẽ tìm mọi cách để được đến đảnh lễ một lần.

Anh em chúng tôi ngồi chơi, có dịp chia sẻ với họ về sự thực tập ở Làng sau khi lắng nghe vài câu hỏi họ đặt ra. Họ đã lắng nghe hết lòng. Đúng là một buổi sáng đẹp. Bé Hoàng Long thật dễ thương và thông minh. Chính bé đã nói với ba mẹ về mục đích của lần đi Thái Lan này là mong được gặp Sư Ông. Sáng hôm đó họ đã phải lên Bangkok để về Việt Nam, vì thế mà họ ra đây thật sớm để mong được gặp Thầy. Biết Thầy sẽ không thiền hành sáng đó, và cảm kích trước tấm lòng của gia đình này, anh em tôi đã quyết định vào thất xin Thầy để bé Hoàng Long được lên thăm Thầy. Nghe chúng tôi thưa chuyện, Thầy gật đầu đồng ý cho bé vào thất liền. Thầy rất thương con nít. Thầy đã ôm bé vào lòng, xoa đầu và thấm những giọt mồ hôi trên trán bé sau khi nghe bé giới thiệu về mình. Có lẽ đây là bé trai đầu tiên được lên thất Nhìn Xa và được chụp ảnh cùng Thầy. Trong khi Thầy ôm bé vào lòng, phía dưới sân cỏ, tôi nhìn thấy ba mẹ bé Long đang năm vóc sát đất đảnh lễ Thầy. Bức tranh ấy in đậm vào tâm hồn tôi.

Cả gia đình đã rất hạnh phúc. Anh chị em thị giả chúng tôi cũng rất hạnh phúc. Chúng tôi biết ơn những tấm lòng đã luôn luôn hướng về Thầy bằng sự kính thương chân thật. Nắm tay bé Hoàng Long, tôi hỏi: “Cảm giác của con thế nào khi gặp Sư Ông?”. Bé trả lời: “Cảm giác của con là vui, run và hạnh phúc”. Ai cũng cười với câu trả lời dễ thương và rõ ràng của bé.

Bao la

Thầy đi quanh thăm thất thị giả được dựng lên bên cạnh thất Nhìn Xa. Thất nhỏ, không đủ chỗ, một nhóm anh em dựng thêm những chiếc lều gần đó để ở. Thầy đã đến thăm chỗ ở của anh em thị giả chúng tôi nhiều lần để xem chỗ ở có được thoải mái hay không.

Sáng nay, một nhóm quý sư cô ở Long Thành lên chào và gặp Thầy ở thất thị giả. Thầy ngồi chơi, uống trà, nghe các sư con hát, và chụp hình. Thế rồi Thầy có cảm hứng lên núi chơi. Anh em thị giả, quý thầy từ tăng xá và quý sư cô cùng leo núi với Thầy. Lần đầu tiên Thầy leo núi trong chuyến về thăm này. Con đường lên núi ngoằn ngoèo, khúc khuỷu, nhiều đá tảng gập ghềnh và thân cây chèn lối. Xe lăn của Thầy được nâng lên bằng những cánh tay của các con Thầy. Ngọn đồi thật khó để chinh phục. Chúng tôi phải nâng xe Thầy lách qua những thân cây, vượt qua những tảng đá lớn, dừng lại nghỉ vài lần cho đến lúc không gian mênh mông hiện ra nơi tầm mắt. Mồ hôi nhễ nhại, mà không ai là không nở nụ cười hạnh phúc. Không có gì quý hơn tình thầy trò. Không có gì quý hơn tình huynh đệ. Lên đến đỉnh đồi, ai cũng thấy đó là công trình mầu nhiệm mà thầy trò đã cùng nhau thực hiện. Khung cảnh hiện ra thật bao la khoáng đạt. Thầy chỉ tay cho chúng tôi tiếp xúc với sự sống mầu nhiệm. Thầy thưởng thức trà trong khi chúng tôi cùng hát với nhau những bài thiền ca. Nhìn lại ngọn đồi, chính bản thân tôi không hiểu nổi tại sao trong một buổi trưa như vậy, thầy trò lại có thể leo lên một cách khỏe vui như vậy. Tôi càng thấm thía hơn lời sư cô Chân Không nói sau đó, rằng “có tình thầy trò thì không việc gì chúng ta không làm được”.

Trưa hôm đó, sư anh Pháp Niệm và sư anh Trung Hải đã đãi tôi, thầy Đồng Trí, thầy Pháp Trực và sư chú Trời Trong Sáng một bữa cơm với bùi Huế thật ngon.

Cũng từ trưa hôm đó, không ai bảo ai, anh em chúng tôi thường gọi ngọn đồi đó là đồi Tình Thầy Trò.

Bạn hiền ơi, tôi kể cho bạn nghe vài chuyện trong rất nhiều chuyện như thế thôi, và tôi không cố ý lựa chọn kỷ niệm nào nơi sổ công phu để kể cho bạn cả. Tôi biết, chuyện Thầy cứ nắm tay sư em Pháp Chất trong buổi tối thầy trò cùng uống trà thưởng thức hai đóa hoa quỳnh nở giữa lòng Phương Khê, hay chuyện của anh em thị giả chúng tôi, nào sư anh Pháp Ứng, nào Pháp Đại, Pháp Nhiếp, Mãn Trung, Đại Đồng… mỗi người mỗi công việc chuẩn bị để Thầy ra với đại chúng trong ngày quán niệm, hoặc chuyện của những vị bác sĩ đến giúp Thầy phục hồi, chuyện những lá thư tôi viết thăm Thầy tôi ở Kim Sơn, chuyện các em thị giả mới từ Vườn Ươm, hay chuyện các sư cô chăm lo về thuốc men, về thức ăn cho Thầy, tất cả đều ý nghĩa như những gì tôi đã kể cho bạn nghe. Tôi biết, chuyện gì tôi kể tôi cũng thấy vui, và tôi tin rằng chuyện gì tôi kể bạn cũng thấy vui. Tôi cũng muốn nói với bạn, rằng tôi rất hạnh phúc vì chúng ta luôn có nhau và tôi rất hạnh phúc vì chúng ta luôn có Thầy.

“Ta nhớ đi tìm nhau
Ta nhớ đi tìm Thầy
Thầy không còn tuổi tác
Ta cũng thành mây bay
Năm uẩn này khoáng đạt
Năm uẩn này không hai
Tự do và kính ngưỡng
Bước chung trên đường dài”.

Như gặp lại ngàn xưa (phần I)

Bạn hiền thương,

Sự kiện gì trong năm nay có ý nghĩa nhất đối với tôi? Nếu bạn hỏi tôi như vậy, tôi sẽ không một chút nghĩ suy mà trả lời ngay rằng, đó là chuyện tôi được cơ hội thị giả Thầy, cũng có nghĩa là tôi tìm ra được tôi và tìm ra được bạn thật rõ ràng.

Vậy là đã mười tháng tôi được ở bên Thầy. Mỗi ngày là một kỷ niệm. Mỗi ngày là một bài thơ, một bài pháp thoại mà sự hiện hữu của Thầy đã trao truyền cho tâm linh tôi. Những dòng chữ này tôi lấy ra từ sổ công phu, là món quà đẹp nhất tôi muốn gởi đến bạn.

Mưa tuổi thơ

Đó là một buổi chiều có nắng vào mùa hè. Tôi cùng sư em Pháp Mạch đưa Thầy ra nằm chơi trên xích đu dưới ba cội tùng. Thầy thích không gian nơi này lắm. Ba cội tùng này được Thầy trồng đã gần bốn mươi năm, trước lúc Thầy nhận đệ tử xuất sĩ. Màu xanh quanh năm phủ kín một khoảng vườn, cội tùng bây giờ đã lớn hai người ôm không xuể. Những hôm trời nắng ấm, Thầy thường ra nằm chơi và ngắm những mảng trời xanh với vài cụm mây trắng xuyên qua tán tùng. Tôi thường ngồi dưới chân Thầy xoa bóp, rồi kể một chuyện gì đó của Thầy ngày xưa mà tôi biết, hoặc ngâm một vài bài thơ mà tôi thuộc, khi thì Thoát hình của Vũ Hoàng Chương, khi thì Tre Việt Nam của Nguyễn Duy, hay Mây trắng thong dong, Duy thị nhất tâm của Thầy. Có lúc tôi còn cảm hứng hát cho Thầy nghe vài đoạn nhạc của Phạm Duy như Quê nghèo, Tình ca, Tiếng hát to, hay Giọt mưa trên lá nữa. Thầy đặc biệt thích nghe bài thơ Bướm bay vườn cải hoa vàng, và tôi đã ngâm nhiều lần, lần nào Thầy cũng lắng nghe thật yên, và sau đó thường ôm tôi vào lòng. Tôi trân quý những phút giây ấy như là phút giây cuối cùng tôi được sống.

Chiều hôm đó Thầy nằm trên xích đu, một lúc sau thì mây đen kéo về nhưng trời vẫn còn sáng tỏ. Phương Khê yên ắng lắm. Tiếng gió thổi qua cội tùng, những chiếc lá bạch dương ve vẩy, tiếng chim hót vang ẩn sau cành lá đã không làm cho nơi đây bớt vẻ yên lành, trái lại còn khiến cho sự tĩnh lặng và thanh bình thêm rõ ràng. Thầy mở mắt nhìn quanh và thưởng thức sự sống. Tôi đã đọc Nẻo về của ý nhiều lần, và biết rằng Thầy rất thích những buổi trưa lặng gió, hay những trận mưa đầu mùa lúc còn bé thơ. Tôi ngồi yên nhìn Thầy, một lúc sau tôi thưa với Thầy: “Thầy ơi, con nhớ Thầy đã rất thích những buổi trưa lặng gió, Thầy đã rất thích những trận mưa đầu mùa lúc còn nhỏ”. Thầy nhìn tôi, gật đầu. Tôi kể lại những kỷ niệm đó cho Thầy nghe. Sau đó, Thầy gật đầu đồng ý để cho tôi mở sách Nẻo về của ý đọc cho Thầy nghe đoạn nói đến những cơn mưa tuổi thơ mà Thầy đã viết lại.

Từ hồi còn bé thơ, tôi đã bị những trận mưa đầu mùa quyến rũ rồi. Hồi đó tôi còn ở đồng quê. Tiếng sấm động. Trời sa sầm xuống thấp. Những giọt nước to nặng đầu tiên rơi lộp độp trên mái ngói. Vài ngọn gió thổi tới đập các cánh cửa sổ ầm ầm. Tôi đã bị kích động ngay sau những hiện tượng đó. Thật giống như prélude của một bản hùng ca vĩ đại. Thế rồi sau một tiếng sấm long trời lở đất, mưa trút xuống rào rào như thác đổ.

Những lúc như thế, đố mà tôi ngồi yên cho được. Tôi phải chạy ra, vén màn, dán mắt vào cửa kính. Những đọt cau xa oằn oại. Trong lúc trời đất thét gào. Vũ trụ rung chuyển. Những chiếc lá to bị gió hắt mạnh vào cửa sổ và vách tường. Nước trút xuống ào ào và chảy ồ ồ ngoài sân, trước rãnh. Trong màn mưa bạc, có những con chim quật cánh chống lại với gió với mưa. Trong bản hùng ca đó, tôi cảm nghe thấy rõ rệt tiếng gọi của hồn vũ trụ. Tôi muốn trở thành một đọt cau hay một cây nghiêng ngả oằn oại trong mưa. Tôi muốn trở thành một con chim bay quằn quại giữa trời để chịu đựng sức mưa sức gió. Tôi muốn chạy ra giữa mưa mà hét, mà múa mà quay cuồng, mà cười, mà khóc. Nhưng mà tôi không dám. Bởi vì tôi sợ mẹ tôi mắng.

Trong tiếng ào ạt rạt rào của mưa và gió, tôi ráng lấy tất cả gân cổ hát một bài. Dù tôi có hét to đến mấy người ta cũng không nghe được, bởi vì bản nhạc long trời lở đất đã lấn át hết. Trong khi tôi hát như thế, mắt tôi vẫn không rời cảnh tượng hùng vĩ của trời mưa, thần trí tôi như bị hút vào cảnh tượng hùng vĩ của trời mưa, và tôi cảm thấy tôi được hòa mình vào trong bản hòa tấu vĩ đại. Tôi thấy dễ chịu. Tôi hát bài hát này rồi bài khác. Sau đó, trời tạnh, hơi đột ngột. Tôi cũng dừng tiếng hát. Thần kinh tôi êm dịu lại và tôi nhận ra rằng trên mi tôi còn đọng một vài giọt nước mắt“.

Thầy lắng nghe với đôi mắt sáng, với những cái gật đầu nhẹ nhàng và với nụ cười đầy chất liệu hồn nhiên của một em bé. Thế rồi, tiếng sấm vang khắp Phương Khê. Thầy đưa mắt ra hiệu. Những giọt mưa đầu tiên rơi xuống. Tôi thưa: “Thầy ơi, mưa rồi, thầy trò mình vô nhà thôi”. Thầy cười và lắc đầu, đưa tay ra hứng những giọt mưa nhỏ. Những giọt mưa chạm vào lòng bàn tay khiến Thầy cười vui hơn. “Hay là Thầy muốn tắm mưa?”, tôi thưa với cái giọng cũng đầy phấn khích. Lần này Thầy cười thành tiếng, gật gật đầu ra vẻ đồng ý lắm. Nói vậy thôi chứ anh em thị giả chúng tôi làm sao lại để Thầy tắm mưa được, Thầy sẽ bị cảm liền. Chúng tôi đỡ Thầy ngồi dậy, đưa Thầy qua xe lăn và đẩy Thầy vào nhà. Hơi đất bắt đầu xông lên. Chúng tôi đẩy như chạy. Thầy đưa tay ra hứng mưa. Tiếng cười của thầy trò vang cả một khoảng trời Phương Khê…

Bàn chân Thầy

Chúng tôi có thật nhiều chuyện vui trong thời gian ở bên Thầy. Có lần đang đỡ Thầy đi, được vài bước, Thầy chỉ xuống chân. Hai anh em thị giả chúng tôi chưng hửng nhận ra đã mang nhầm chiếc giày phải qua chân trái và chiếc giày trái qua chân phải của Thầy. Bỗng nhiên hai anh em tôi cười lớn, Thầy cũng cười, rồi để chúng tôi đổi giày lại trước khi tiếp tục tập đi. Mà đó đâu phải là chuyện duy nhất liên quan đến giày dép.

Một hôm, Thầy ngồi trên giường, thầy Pháp Ngôn mang giày cho Thầy. Thầy Đồng Trí lúc đó đang đỡ phía trên. Mang một lúc, Pháp Ngôn mới nhận ra là chiếc giày đã ôm trọn bàn chân trái của sư anh mình. Thì ra là trong lúc mang giày, vì lúng túng thế nào đó, thay vì mang vào chân Thầy thì Pháp Ngôn lại nắm bàn chân sư anh mình lên mà mang giày. Đồng Trí cũng nghịch, im lặng không nói gì dù trong bụng đã buồn cười lắm rồi. Mang giày xong, Pháp Ngôn thấy bàn chân Thầy nhúc nhích nghịch nghịch một kiểu lạ lùng lắm, nhìn lại thì mới tá hỏa nhận ra mình mang nhầm. Bất chợt, cả hai anh em phá lên cười, cười không nhịn được, ôm bụng mà cười vang cả phòng Thầy. Thầy nhìn hai thị giả không biết chuyện gì xảy ra cho đến lúc hai anh em nhịn được cười và giải thích cho Thầy nghe. Thị giả Thầy, chúng tôi từ từ đã cảm nhận một cách rõ ràng sự có mặt của năm uẩn Thầy nơi năm uẩn chúng tôi. Chúng tôi đã đi, đã nói, đã uống trà, đã thưởng thức những chiếc lá vàng mùa thu, đã ngồi ngắm hoa quỳnh nở với sự hiện hữu của Thầy trong năm uẩn chúng tôi. Chúng tôi đã nhìn thấy sự tiếp nối.

Con sẽ tự khắc thấy Thầy ngay

Thầy ở lại chơi với các con của Thầy ở xóm Hạ. Đó mà một đêm có ánh trăng hạ tuần chiếu ngang qua cửa sổ phòng Hoa Cau. Quý sư cô ai cũng bất ngờ và rất hạnh phúc với quyết định của Thầy. Xóm Hạ cũng như xóm Mới, hay xóm Thượng, nơi nào không gian cũng mênh mông và đầy năng lượng tâm linh an lành.

Thầy ra hiệu cho anh em thị giả chúng tôi đẩy xe Thầy qua phòng sinh hoạt chung của xuất sĩ xóm Hạ. Không khí thật ấm áp. Thầy ngồi uống trà, và mời tất cả những đứa con Thầy ngồi xung quanh. Thấy chỗ ngồi có vẻ chật, Thầy dạy chúng tôi đẩy xe lăn lui lại một chút cho đủ chỗ. Cái cách Thầy đưa tay và đưa ánh mắt mời các con Thầy ngồi xung quanh quả đã biểu hiện được tất cả tình thương của một người thầy dành cho đệ tử. Anh chị em chúng tôi rất trân quý những giây phút mầu nhiệm ấy. Tôi đứng đó, chứng kiến những gì đang diễn ra đầy đủ tình thầy trò và chợt nhớ đến câu nói mà rất nhiều lần Thầy nhắc trong pháp thoại. Thầy nói Thầy còn trẻ lắm, Thầy còn chịu chơi lắm! Bây giờ, tôi thấy, chưa bao giờ Thầy đánh mất sự liên hệ với người trẻ.

Các sư con ngồi xung quanh và cùng hát với Thầy. Thầy vẫn còn trẻ lắm. Thầy vẫn còn chịu chơi lắm. Thầy đã hát thành tiếng, và trên khuôn mặt luôn giữ một nụ cười bình lặng. Thầy đã cùng chúng tôi hát đi hát lại nhiều lần bài Cẩn trọng:

“Qua ngõ vắng
Lá rụng đầy
Tôi theo con đường nhỏ
Đất hồng như môi son bé thơ
Bỗng nhiên
Tôi cẩn trọng
Từng bước chân đi”

Thầy hát cùng chúng tôi bằng cả trái tim. Thầy rất thích nghe các con của Thầy hát bài này. Bài thơ ấy cũng hàm chứa một sự thực tập rất sâu sắc mà Thầy muốn nhắn nhủ. Đêm nay, giữa khung cảnh ấm tình này, Thầy đã hát và phát âm rõ ràng nhiều từ. Các con của Thầy vui quá, xúc động quá, nhiều sư em đã vừa hát vừa đưa tay lên quẹt những giọt nước mắt không ngăn được. Mà thật sự không ai cần phải cố gắng ngăn cản những giọt nước mắt hạnh phúc ấy. Các anh chị em đã nói lên niềm vui khi nghe được những từ Thầy phát âm tròn chữ trong bài hát. Thầy có vẻ hơi ngại khi các sư con khen nhiều quá, nên đã vừa cười vừa nói: “Thôi, được rồi!”. Thầy còn nói thêm mấy câu nữa, nhưng do vừa nói vừa cười thành tiếng nên chúng tôi không nghe rõ. Tâm linh anh chị em chúng tôi ai cũng bị chấn động bởi những từ Thầy nói. Nhiều người trong số chúng tôi chưa từng nghe Thầy nói lại một từ nào kể từ ngày Thầy bệnh. Thầy đưa tay chỉ tới phía trước. Mọi người nhìn theo hướng ánh mắt Thầy. Sư em Trăng Non Cao đang vừa cười vừa đưa tay thấm những giọt nước mắt. Không phải một mình sư em xúc động. Nhiều người đã khóc. Thầy cũng xúc động và ánh mắt Thầy tràn đầy tình thương. Chúng tôi tìm thấy bóng dáng Thầy nơi thâm sâu năm uẩn của chúng tôi. Trở về và yên lại, chúng tôi tức khắc được thấy bóng dáng Thầy hiển hiện. Tôi mãi mãi tin lời Thầy:

“Chúng ta hãy cùng đi chơi
Nơi bản môn
Để thấy giữa trời tuyết Đông
Hoa anh đào nở rộ
Tại sao lại nói tới chia ly
Em thấy không?
Tôi không cần chết
Mà với em mỗi phút giây vẫn có thể trở về.”
(“Nhất như” – thơ Thầy)
(còn tiếp)

Những giọt trong

Khóc đi em,

giọt nước mắt ngắn dài lăn trên má em nóng hổi

Khóc đi em,

để muộn phiền theo nước cuốn trôi, để thương yêu về giăng lối

Khóc đi em,

để tình người thêm chan chứa,

để em biết thương người rồi em biết thương em

Khóc đi em,

mắt ướt sẽ trong hơn,

để em thấy nỗi đau niềm vui là một

Khóc đi em,

đừng giấu giọt lệ vào trong,

để tháng ngày tim em hóa thành đá sỏi

Khóc đi em,

giọt nước mắt cam lồ trị liệu,

thành trẻ thơ em về với Mẹ trong giấc ngủ say

Khóc đi em,

để nước mắt xuôi về biển rộng,

mai này em thấy giọt nước trong chén trà thơm…

Thầy về! Thật ngỡ như mơ

Chiều làm biếng sau những ngày có khóa tu, các chị em rủ nhau đi bộ trên những con đường lót sỏi trong tu viện. Nắng chiều đẹp, núi đồi nghe rộn tiếng nói cười của các chị em, đồng cỏ lau ve vẩy cùng gió, khung cảnh ráng chiều của tu viện thật đẹp. Đang đi bộ, bỗng sư chị hỏi:

          – Em biết tin Thầy về Thái chưa?

          – Cái chi? Thiệt không? Khi mô về?…

Một chuỗi cảm xúc đi lên, nào là vui mừng, ngạc nhiên, sung sướng, vừa mong Thầy về lại vừa lo cho Thầy…, nói chung là một tổng hợp các cảm thọ. Có lẽ con là người nghe tin gần sau cùng nhất. Đi bộ song song hay ngược lại với các nhóm khác, ai ai cũng bàn tán xôn xao tin tức Thầy về, vẻ hớn hở lộ rõ trên từng nét mặt. Mọi người tưởng tượng cho một tương lai sắp tới… Thầy sẽ ở đây! Đó là ngày đầu tiên con nghe tin Thầy về…

Tất cả tin tức đều đã có những vị lớn xử lý, nhưng trong đại chúng vẫn xôn xao với nhiều nguồn khác nhau. Con thong thả với niềm vui Thầy về vì ít nhiều cũng vài tháng nữa. Nhưng hôm sau nghe tin hai tuần nữa Thầy về thì trong lòng rối lên, sao mau vậy! Có phải chỉ là tin đồn? Trong tâm đi lên những lo lắng, đêm đó con không ngủ được… Đó là ngày thứ nhì con nghe tin Thầy về…

Các thông tin về đến thay đổi liên tục. Đại chúng thì lo chấp tác, bao nhiêu thứ cần chuẩn bị, chưa bao giờ thấy có quá nhiều việc cần giải quyết gấp rút như vậy. Các trung tâm khác gọi về hỏi thăm, lo lắng cho đại chúng nơi đây chắc làm việc mệt lắm! Quả thật, việc nhiều thiệt, mệt thiệt, nhưng không ai than vãn chi, ai cũng làm trong tinh thần nhiệt tình và vui vẻ, ai cũng nghĩ đến mục đích chung là: đón Thầy về. Năng lượng làm việc không còn ỷ lại vào tri sự nữa. Ai cũng ý thức rằng mình cần chủ động thấy việc là làm, thời gian có hạn, phải khẩn trương để hoàn tất, ai cũng mang trách nhiệm lên mình. Nhìn đại chúng làm việc với sự hòa điệu mà âm thầm như những con ong, con kiến siêng năng. Đẹp quá! Đó là lúc con nghe tin năm ngày nữa Thầy về…

Lần cuối Thầy về là năm 2013, thất của Thầy vẫn chưa xây xong, nhưng đại chúng vẫn có chỗ để ngồi quây quần bên Thầy. Thầy dạy đại chúng có gì thì chia sẻ ra, riêng Thầy thì đứng dậy đi vòng quanh vừa ôm từng cây cột nhà vừa nghe các con chia sẻ về hiện trạng của đại chúng Thái Lan. Rồi Thầy nói: “Ai biết thì thưa thốt, ai không biết thì dựa cột mà nghe”. Đại chúng được trận cười vang, thay đổi không khí tức thì. Cứ ngỡ đó là lần cuối Thầy có mặt ở thất Nhìn Xa. Hằng ngày, chúng con vẫn chăm sóc lau dọn thất như Thầy vẫn có mặt. Các buổi họp của những vị lớn hay thiền trà nghi lễ được tổ chức trong thất làm năng lượng nơi đó ấm hẳn lên. Trong thâm tâm chúng con, ai cũng mong một ngày nào đó Thầy sẽ về và thất Nhìn Xa sẽ lại được ấm cúng bởi năng lượng của Thầy.

Giờ đây, những cây trúc tím, trúc vàng, những cây tùng được trồng bao bọc quanh một bên thất. Con đường mới được ủi chạy một vòng tròn trước thất để có thể đẩy xe cho Thầy đi dạo. Tầng trên, nơi phòng nghỉ của Thầy được sửa sang bố trí  lại, tầng dưới được làm thành một phòng hẳn hoi không còn chỉ là bốn trụ cây trơ trọi. Nhà bếp nới rộng ra thêm, đèn điện thắp sáng quanh mấy con đường cùng sân cỏ. Ngoài ra, những con đường quanh tu viện cũng được ủi lại phẳng lì để xe Thầy đi cho êm. Nhà bếp, nhà ăn được dọn dẹp sạch sẽ, xếp thêm bàn ghế, dựng thêm lều cho khách,… Quý thầy, quý sư chú phụ một tay với thợ để xây dựng cho mau xong, làm ngày không kịp, làm thêm buổi tối. Giờ nghỉ ngơi, mọi người ngồi ăn cơm với nhau, có khi thiếu thì ăn thêm mì gói, lại bàn với nhau về chuyện Thầy sẽ về, nơi nào chưa xong, nơi nào cần làm thêm gì,… Đó là hôm chị em con mang thức ăn cho các huynh đệ làm trên cốc Thầy đến tối. Ba hôm nữa là Thầy về…

Bảy giờ tối, mọi người vẫn còn say sưa cuốc đất, trồng cỏ, hàn sắt, bắt điện nơi thất của Thầy, tiếng nói cười, tiếng làm việc nhộn nhịp – vẫn chưa có ai ăn chiều. Bên kia Thầy đã lên máy bay – mấy ngày qua con vẫn cứ nghĩ là mơ. Đó là buổi tối cuối cùng chúng con chờ Thầy…

Sáng sớm 5 giờ, một nhóm  các  anh  chị  em  tình nguyện ra dọn dẹp ngoài thất của Thầy lần cuối trong khi đại chúng vẫn duy trì thời khóa ngồi thiền, thiền hành. Không gian còn yên tĩnh, thất của Thầy nằm ẩn sâu giữa những quả đồi, nhìn từ xa chẳng khác nào khu vườn bí mật trong những câu chuyện cổ tích. Vào tới sân cỏ đã thấy rất đông các anh chị em đang dọn dẹp, mỗi người một việc chẳng khác nào một đàn kiến cần mẫn. Thoáng một cái mọi thứ đã sạch sẽ, ổn định. Mọi người dùng sáng chung trước sân cỏ, hạnh phúc, lẫn cả chờ đợi. Chỉ còn hai giờ đồng hồ nữa là Thầy về. Có thầy nói: “Hôm nay Thầy về đây, chúng con kính chào Thầy, trong giờ phút vui này, chúng con biết làm gì đây…”. Con nói thêm vào: “Chúng con không biết làm gì là vì chúng con đã làm xong hết rồi”. Chắc có lẽ ai cũng nhớ câu chuyện về bài hát này. Thầy đã từng dạy: “Tại sao lại hát là chúng con biết làm gì đây, phải  đổi lại là chúng con quyết lòng ngồi đây…”. Vẫn biết Thầy dạy như vậy nhưng niềm vui này lớn quá, có cảm tưởng mình ôm không hết, sung sướng không biết làm gì cho phải.

Đại chúng đang đi lên tập trung trước sân cỏ để đón Thầy, có điện thoại báo Thầy đã về đến ngoài cổng, chỉ mười phút nữa thôi. Rồi từng chiếc xe xuất hiện, xe chở Thầy vào tới, mọi người đứng gần lại cùng hát bài “Đã về – Đã tới”. Thầy bị trúng gió, nhìn Thầy có vẻ rất mệt nhưng Thầy vẫn cho quay xe lại, mở mũ ra để chào đại chúng. Hình ảnh đó, giây phút đó ai cũng cảm động, nhiều người đã khóc. Con vui sướng tìm nơi đứng gần nhất có thể để thấy rõ Thầy, với những gì  đã qua  bây  giờ Thầy còn  đây,  vậy  là đủ rồi.

Con không còn cảm giác mình đang mơ nữa, là sự thật, thật một cách toàn vẹn ngay trước mặt con. Thầy được đưa lên phòng, mọi người còn đứng tại chỗ với mỗi tâm trạng khác nhau trong lòng. Con quay sang nói với sư em bên cạnh: “Thôi đi về, làm chi mà mặt tỏ vẻ chiêm nghiệm cuộc đời rứa? Về phòng uống trà, ăn mừng Thầy về”. Mọi người quanh đó cùng cười, chia nhau các ngã rẽ ra về… Ở mọi lúc mọi nơi, chúng con đều ý thức Thầy đang ở đây, trên thất kia. Đó là ngày đầu tiên Thầy có mặt nơi này…

Mùa này là mùa mát nhất ở Thái, trưa có nắng ấm, Thầy thích đi dạo. Quý Tôn túc qua đảnh lễ Thầy cũng nhiều, mà các khóa tu vẫn diễn ra như dự định ban đầu. Các huynh đệ từ nhiều trung tâm tập trung về, khóa tu xuất sĩ được tổ chức, họp mặt với những huynh đệ đã nhiều năm không gặp. Vui chi lạ! Con lại nhớ đến giấc mơ mà Thầy từng kể: “Thầy mơ thấy Thầy đang ngủ thì nghe ngoài kia tiếng cười nói rất vui vẻ, thức dậy Thầy hỏi thị giả ngoài kia có chuyện gì mà vui vậy, thị giả mới thưa: Dạ bạch Thầy, các huynh đệ từ nhiều nơi về đây đang quây quần đốt một đống lửa và nấu một nồi cơm cùng ăn”. Chắc có lẽ giấc mơ khi ấy nay đã thành sự thật, chính khung cảnh này, niềm vui sum họp này, chỉ một nồi cơm nhỏ mà sao vui vậy!

Trời chiều sập tối, trăng bắt đầu lên, vẫn chưa phải là trăng tròn nhưng soi tỏ con đường. Hai chị em con đi bộ lên hướng thất của Thầy. Càng lên không gian càng tĩnh mặc, nghe rõ cả tiếng côn trùng kêu. Thất của Thầy sáng rực, thấy có người đi qua đi về trong phòng, đinh ninh là thị giả, chắc chắn Thầy đang ở trong đó. Hai chị em nhìn từ vườn bích đào lên, khoảng cách khá xa, nên cứ lờ mờ đoán vậy, thấy vui vui… Bỗng phía sau lưng một đoàn người đi chầm chậm, ánh sáng đèn pin chói mắt, hai chị em hồi hộp, quay phắt lại, đi thật nhanh rời khỏi nơi đó khi vừa kịp nhận ra trên cốc không có Thầy, Thầy đang đi về hướng mình. Thầy đi thiền trăng, xuống trước ni xá nhưng vì lạnh nên quay về lại, lấy lại bình tĩnh hai chị em tháp tùng theo đoàn trở về. Đó là ngày thứ nhì Thầy ở đây…

Sáng hôm sau, Thầy xuống thăm hai ni xá, cả nhà bếp và tăng xá. Thầy nhìn từng phòng các con ở, nhìn từng ngóc ngách, chậu hoa,… Nhìn sắc diện Thầy có vẻ khỏe hơn nhiều, chúng con thấy vui. Có ngày Thầy ra đi dạo, thăm các con, lên đồi chơi,… tới bốn lần. Chúng con biết đó là lúc Thầy khỏe. Ở đây có ba ngọn đồi, đồi Trăng Tỏ là thấp bé nhất nhưng lên tới nơi khung cảnh bên dưới lại đẹp và đầy đủ nhất. Chỉ tiếc con đường khó đi, Thầy chỉ lên tới một nửa đồi rồi xuống. Thầy đã lên đồi Sadi và đồi An Ban được mấy lần, lần nào Thầy cũng thích, ngồi yên nghe các con hát, nghe gió thổi qua những tán cây, nghe hương núi đồi vách đá. Nghe kể mỗi lần như vậy, Thầy không muốn xuống. Quý thầy hứa mỗi ngày sẽ đưa Thầy lên đồi chơi, Thầy gật đầu vẻ ưng ý. Thầy thương trò không quản đường xa về đây, trò thương Thầy thì quản chi chuyện đưa Thầy lên đỉnh đồi ngắm trời mây. Thầy có mặt ở đây đã được hai tuần…

Khai mạc khóa tu dành cho chúng Chủ trì (Core sangha), đại chúng đang niệm danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm bằng tiếng Phạn thì Thầy xuất hiện. Sự có mặt của Thầy làm đại chúng vui mừng lẫn xúc động. Thầy thường ra đi dạo mỗi lúc nắng ấm, hôm có trăng và trời ít gió. Chị em con vẫn hay nói với nhau: “Hôm nay nắng ấm, đi dạo lên một vòng thế nào cũng gặp Thầy” hoặc là “Hôm nay trăng đẹp, giả vờ đi ngắm trăng biết đâu sẽ gặp Thầy”. Thầy thích đi dạo chơi hơn là thích tập nói. Con nghĩ cũng phải thôi, đi ra thiên nhiên đẹp, được nuôi dưỡng và trị liệu, rồi gặp các con của Thầy đang chấp tác, đang chơi thể thao, đang nấu ăn,… có lẽ Thầy vui khi thấy những hình ảnh đó. Cũng như các con Thầy, mỗi sáng sau giờ ngồi thiền là cùng nhau đi thiền ra trước thất của Thầy tập mười động tác chánh niệm. Nhìn lên thất đôi khi chỉ thấy bóng dáng của Thầy hoặc không thấy Thầy đâu, nhưng biết chắc rằng Thầy đang có trong đó, vậy là đủ. Tối nay có lễ cầu nguyện cho hòa bình, đại chúng hơn 550 người rước đèn hoa đăng lên đặt trên sân cỏ trước thất của Thầy rồi niệm danh hiệu Bồ tát Quán Âm. Con lên trước xem mọi người trang trí, chuẩn bị. Đứng nhìn lên thất, dưới ánh đèn con thấy Thầy thật rõ, hình ảnh đó con sẽ nhớ mãi. Nó là thật… thật ngỡ như mơ! Đây là đêm thứ 20 Thầy có mặt nơi đây với chúng con…

 

Thầy đã về… Giấc mơ đã rất thật!!!

Con của Thầy,

Chân Đán Nghiêm

Tâm ban đầu

Con kính bạch Thầy,

Con kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng,

Con là sư chú Chân Trời Đức An, xuất gia trong gia đình cây Mai Vàng vào ngày 14 tháng 12 năm 2016 tại Làng Mai, Pháp. Con sinh năm 1988 và lớn lên ở miền ngoại ô phía bắc thành phố Paris. Hiện giờ, con đang được làm một sư chú sa di nhỏ ở xóm Thượng, Làng Mai.

 

 

Vài hôm trước ngày xuất gia, các sư chị trong ban biên tập Lá Thư Làng Mai hỏi con có muốn viết bài chia sẻ về thời gian sống ở Làng hay không? Con đã vui vẻ nhận lời. Tuy vậy, thật khó để bắt đầu và nghĩ xem mình muốn nói điều gì! Và rồi con quyết định chia sẻ với đại chúng những trải nghiệm trong cuộc sống của con – một người Pháp trẻ tuổi. Cũng chính từ những kinh nghiệm này, từ chất đất mùn màu mỡ này mà tâm bồ đề của con đã bắt rễ và lớn lên.

 

Năm 21 tuổi, con gia nhập Quân đội Pháp. Sau vài năm làm nghĩa vụ, lòng con đầy buồn chán, tuyệt vọng, giận dữ, bạo động và cả hận thù. Con đã phải chứng kiến nhiều cảnh bất công, phân biệt đối xử, bị điều khiển và vâng lời một cách mù quáng. Vào thời điểm ấy, trong con gần như không còn chút niềm tin  nào  vào  con  người. Dù con vẫn vâng lời, vẫn phục tùng mệnh lệnh nhưng trong con đã bắt đầu nhen nhóm sự nổi loạn. Bị tưới tẩm bởi những kinh nghiệm sống đầy tiêu cực nên cái nhìn của con về một cuộc ‘nổi dậy’ rất căng thẳng, đau thương bởi nó dựa trên một cái thấy lưỡng nguyên. Có lẽ vì thế con thấy mình rất gần với những bạn trẻ Pháp khác, những người đang giận dữ, đang đòi nổi dậy, đòi một sự thay đổi. Con cũng thấy mình có liên hệ sâu sắc với những người trẻ tuổi khác ở khắp nơi trên thế giới, những người sẵn sàng dùng khí giới, sẵn sàng chết cho một sự thay đổi mà họ nghĩ là chính đáng. Lòng quyết chí của các bạn ấy bị sử dụng để phục vụ cho một lợi ích nào đó. Nó khác xa với sự thay đổi có mục đích làm cho thế giới tốt đẹp hơn.

 

Rất nhiều thanh niên Pháp không mấy quan tâm tới các vấn đề kinh tế, chính trị, tình trạng của trái đất hoặc những gì về ngôn ngữ, lịch sử hình thành các dân tộc, tôn giáo… Nhiều người trong chúng con đã gần như đánh mất đi những giá trị của chính mình, đánh mất gốc rễ, không có lý tưởng, không có đời sống tâm linh và mất đi niềm vui sống. Chúng con tìm kiếm ý nghĩa của cuộc sống hay nói cách khác là chạy trốn khỏi cuộc sống không ý nghĩa của chính mình trong việc tìm kiếm tiền bạc, vinh quang, sở hữu, tiêu thụ,… Chúng con chạy theo tất cả những thứ này mà không có một chừng mực hay giới hạn nào cả. Lối sống ấy làm cho đầu óc chúng con luôn bận rộn. Chúng con không biết cách lắng nghe cơ thể mình, cũng không biết nhận ra những cảm thọ, tâm hành trong mình. Khi mệt mỏi, giận dữ, cô đơn, chúng con sẽ vội vã tìm cách để giải trí, tiêu thụ, để quên đi những vấn đề của chính mình. Chúng con đã không cho phép mình nghỉ ngơi và cũng không trung thực với chính tự thân mình. Nếu tâm từ chối không nghe những thông tin từ thân thể gửi tới thì thân thể sẽ chất chứa tất cả những điều đó cho tới khi nó không thể chịu nổi. Khi đó những căng thẳng và chấn động tinh thần mà mình không dành thời gian để lắng nghe, để hiểu và chăm sóc sẽ được biểu hiện dưới rất nhiều hình thức. Từ sự ngược đãi thân thể, tự cô lập cho tới những căn bệnh trầm cảm, eczema, ung thư … Con hiểu ra rằng giới trẻ chúng con cần học cách lắng nghe bản thân mình, cách thiết lập truyền thông giữa thân và tâm. Mong muốn chấm dứt khổ đau, có hạnh phúc, bình an là nhu yếu rất tự nhiên ở tất cả mọi loài. Liệu có ai thích khổ đau? Hay có ai không thích được hạnh phúc?

 

Con đang tập thiết lập mối liên hệ với tâm bồ đề trong con khi con nhận ra được những khổ đau mà con đã gây ra cho gia đình, người thân, qua hành động, lời nói còn thiếu suy nghĩ của con. Con đã không làm chủ được cảm xúc và lời nói của mình. Khi con hiểu ra rằng chỉ có con mới có thể chấm dứt những khổ đau, chuyển hóa được tập khí và đem lại ý nghĩa cho cuộc sống của chính mình, con đã đồng thời thắp lên ngọn lửa bồ đề tâm trong con.

Con cũng hiểu ra rằng con có thể giúp chữa lành những vết thương cho gia đình, và xã hội, bằng cách bắt đầu chữa trị cho chính mình. Không còn gì có thể có ý nghĩa và quan trọng hơn điều đó. Với cái thấy này, con đã quyết định xin được xuất gia.

 

Giờ đây con đã được đọc sách của Thầy, nghe Thầy giảng về đạo Bụt dấn thân, một đạo Bụt phù hợp với thời đại. Con như thấy lòng mình sáng rỡ lên, ấm áp và đầy dũng khí. Con bỗng thấy đạo Bụt mà Thầy đang trao truyền dường như là để dành cho con, cho chính tâm nguyện sâu xa đã luôn sẵn có trong con tự bao đời. Thầy đã chỉ ra cho con, với rất nhiều tình thương và lòng kiên nhẫn, rằng bạo lực, đàn áp, tâm phân biệt sẽ chỉ làm cho chính mình và những ai mình cho là kẻ thù khổ đau thêm: Kẻ thù ta không phải là con người. Kẻ thù ta là vô minh.

 

Trở thành người con Bụt hay một xuất sĩ không phải là điều thiết yếu, điều quan trọng là chính con đang thực sự có mặt, có mặt cho chính mình và cho những người xung quanh. Có mặt để thấy rất nhiều cơ hội chữa trị đang hiến tặng cho mình trong đời sống hàng ngày. Con tự hỏi, mình có đang sẵn sàng để nắm lấy những cơ hội ấy hay không?

 

Một buổi chiều mùa thu, lấy cảm hứng từ cuốn Trái tim của Bụt, con đã viết xuống vài dòng về cái thấy của con, con xin được chia sẻ:

Dòng chảy cuộc sống là cánh đồng màu mỡ. Cha ông ta đã khai phá, gieo trồng lên đó biết bao loại hạt giống, không phân biệt xấu tốt. Những hạt giống đủ loại ấy trở thành di sản của chúng ta. Và tới lượt mình, chúng ta tiếp tục sự trao truyền. Nhưng bởi vô minh nên từ thế hệ này sang thế hệ khác chúng ta nuôi dưỡng khổ đau và bỏ mặc những gì tốt đẹp đã nhận được.

Ngày hôm nay, đã gặp được chánh pháp, giúp chúng ta khai mở những cánh cửa đưa tới tự do. Hạnh phúc biết mấy! Ta có thể đi qua khổ đau và để cho sức mạnh thật sự trong chính ta biểu hiện. Khổ đau của chúng ta có gốc rễ từ vô minh và sự thiếu tỉnh thức của tự thân. Chúng ta cần chiếu soi ánh sáng của chánh niệm vào những vùng tăm tối trong ta, trao truyền lại những gì tốt đẹp cho thế hệ tương lai, đồng thời ôm ấp khổ đau của cha ông, của con cháu ta và của đất Mẹ.

Trong Nhật tụng Thiền môn có bài kệ quán chiếu về vô thường. Vào thời khắc cuối năm này, con kính mời huynh đệ khắp nơi cùng con đọc bài kệ ấy:

“Năm cũ đã qua (Ngày nay đã qua)

Đời sống ngắn lại

Hãy nhìn cho kỹ

Ta đã làm gì?

Đại chúng hãy cùng tinh tấn!

Thực tập hết lòng,

Sống cho sâu sắc và thảnh thơi,

Hãy nhớ vô thường!

Đừng để tháng ngày trôi qua oan uổng”.

Con của Thầy và tăng thân
    Chân Trời Đức An

* Để đọc bản tiếng Anh, xin xem tại đường link này: https://wkup.org/healing-past-transforming-future/

Mắt Bụt

 

Gió reo ngoài ngõ vắng

Mùa huynh đệ đến rồi,
Tiếng cười anh xanh thắm

Dắt em về tinh khôi.


Có một dòng sông trôi
Hồng hào trên mặt đất,
Chắp tay lòng thành thật

Nở muôn đóa từ bi…


Lời thơ anh cho đi

Ấm muôn lòng thế giới,
Lặng im trà thơm đợi

Hạnh phúc về thênh thang.

 Anh gieo một mùa vàng
Gọi vầng trăng về hiện,
Đi qua cồn cào biển

Anh hiểu lòng đại dương.

 Đời đẹp nhờ mắt thương,
Thanh thản lòng bước tới,
Trong tin yêu ngày mới
Mắt Bụt cười nơi anh.

Viết tiếp những ước mơ cho mẹ

Mẹ à, vậy là đã hơn 10 năm kể từ ngày con từ Sài Gòn về quê để xin phép ba mẹ cho con được đi tu, trở thành một người xuất gia, con gái của Bụt. Bây giờ ngồi nhớ lại, cảm giác khi xưa lại trở về, như mới hôm qua đây thôi. Bởi mẹ chẳng bao giờ tin được con lại có quyết định khác thường như thế. Những giây phút ấy thật khó khăn với con khi phải thuyết phục ba mẹ. Mẹ khóc, mẹ trách, mẹ nói con bất hiếu. Còn con, con chỉ biết… khóc, những gì con nói ra lúc đó chẳng thể nào ngăn nổi cảm giác khổ đau của mẹ khi nghĩ rằng mình sẽ mất đi đứa con đầu lòng mà mình thương yêu.

Dù mẹ khóc như mưa nhưng đôi chân con vẫn bước, cảm nghe lòng quặn thắt. Nhưng tận sâu thẳm trong tâm hồn con lại có một niềm tin mãnh liệt rằng chỉ có con đường xuất gia này con mới có thể trả lời được những câu hỏi, những khó khăn, bế tắc trong lòng và thực hiện được ước mơ từ nhỏ: làm sao cho gia đình mình có nhiều tiếng cười hơn.

Mẹ của con – người chị cả của tám đứa em leo nheo lóc nhóc – từ nhỏ đã sớm biết giúp ông bà ngoại làm đủ mọi việc trong nhà và chăm sóc các em. Mẹ của con siêng năng lắm, chu toàn mọi việc, nhiều lúc còn phải dậy thiệt sớm nấu cơm mang ra đồng cho thợ cấy lúa nữa. Ôi, cái tuổi ăn tuổi ngủ ấy mà phải dậy sớm thì thiệt là tội nghiệp, có lúc mẹ vừa ngồi bên bếp củi, vừa thổi cơm, vừa ngủ gục, bị ông ngoại phát hiện thế là… bị đòn. Con đã được nghe mẹ kể rất nhiều về tuổi thơ cơ cực ấy. Ông ngoại khó, lời nói yêu thương ít hơn những tiếng la mắng, có lẽ đó là nguyên nhân mà đôi mắt mẹ thường buồn, hay nhìn xa xăm. Mẹ đâu được học nhiều, chỉ tới lớp ba trường làng, đủ để đọc, viết và làm toán cộng trừ nên làm sao mà không mặc cảm với chúng bạn cho được, mẹ nhỉ? Quê ngoại lúc đó còn nghèo, ở tận cùng của bản đồ hình chữ S, quanh năm người dân chỉ gắn bó với ruộng đồng, với con cá, con cua, nhà thì đông con, mẹ là chị cả, hi sinh thật nhiều.

Rồi mẹ gặp ba, chàng trai vùng đất thần kinh, về quê mẹ làm kế toán. Sau đó mẹ quyết định theo ba về tận vùng đất đỏ Long Khánh trên này chỉ mong thoát cảnh “bị đỉa đeo chân” (mẹ sợ con đỉa mỗi khi lội xuống ruộng). Và rồi ba chị em con lần lượt ra đời. Một thân một mình không bà con thân thuộc, chỉ với hai bàn tay trắng, làm sao tránh khỏi những lúc mẹ phải tự đương đầu với những khó khăn, gian nan trong cuộc sống gia đình. Nhiều lần con thấy mẹ cô đơn, mẹ khóc. Những khó khăn cứ chất chồng mà ít có người để sẻ chia, rồi như một định luật tự nhiên, chúng trào ra và mấy chị em con cùng “hưởng”.

Là chị đầu, con ảnh hưởng nhiều nhất từ những nỗi đau của mẹ. Lúc đó con giận, con buồn, con phân vân tự hỏi có lẽ mình được mẹ lượm ở đâu đó về nuôi nên mẹ mới không thương, nên mới la, đánh mình mỗi ngày như thế chứ. Trái tim con cứ xa mẹ dần, xa dần… Lớn lên, con buồn vì thấy mình vô cảm, mẹ đó mà sao thấy lòng không thương mẹ như bao nhiêu bài hát, bao nhiêu câu chuyện ca ngợi tình mẹ con thật đẹp xung quanh. Mình mâu thuẫn với chính mình quá!

Con đã từng ước mơ rằng sau này khi con lớn lên, con sẽ tìm và xây dựng cho mình một gia đình nhỏ hạnh phúc, sẽ yêu thương các con mình và không la mắng chúng nó như con từng bị ngày xưa. Ấy vậy mà lạ lắm mẹ à, con vẫn lặp lại những điều con không muốn với các em, cũng la, cũng giận, rồi các em sợ, xa con. Tại sao lạ quá vậy mẹ, mình cứ lập lại y chang những gì mà ông bà, cha mẹ mình có, mặc dầu mình không muốn, và hình như cái em bé khổ đau trong mẹ lại đang có trong con. Con buồn, con tự hỏi là mình phải làm sao để thoát khỏi em bé đó đây, làm sao cho gia đình mình yêu thương nhau hơn, tiếng cười sẽ thay thế cho những trách móc giận hờn. Con muốn tâm hồn mình được bình an, hiểu thương nhiều hơn. Ngày xưa, trước những khó khăn trong truyền thông của gia đình ngoại, mẹ đã chọn con đường ra ngoài tự lập khi còn rất trẻ. Còn con, con lại muốn mình đi một con đường mới, muốn sống vui, sống hạnh phúc hơn cho mẹ. Đó là lý do con chọn con đường tâm linh này.

Mẹ ơi, thật may mắn phước đức khi con có duyên lành được gặp Thầy và tăng thân với những phương pháp cụ thể dạy con trở về chăm sóc lại tâm hồn mình. Con tập thở, tập đi, tập ngồi yên cho thân tâm lắng dịu, học lắng nghe sâu để hiểu những cảm xúc suy tư trong mình, học nói lời hòa ái, dễ thương. Rồi tập nhận ra bao nhiêu thói quen đẹp lành mà con thừa hưởng được từ ông bà, ba mẹ, để nuôi lớn. Còn những điều chưa hay thì tập thay đổi, làm cho nó đẹp hơn. Con tập nhìn lại cuộc sống của gia đình mình trước đây, cách con tiếp nhận, cách con nói năng. Cứ thế mà đi qua bao nhiêu năm… Cho đến một ngày, sau giờ ngồi thiền cùng đại chúng về, con tiếp tục ngồi yên bên góc học, quán chiếu tiếp đề tài lúc nãy hãy còn dở dang, bỗng nhiên… con nhìn thấy một cô bé khoảng 8 – 9 tuổi đang ngồi trong lòng con và… khóc. Nhìn kĩ, con nhận ra là mẹ của mình, hình ảnh cô bé nhỏ qua lời kể của mẹ khi xưa. Nhìn em bé khóc, con bỗng giật mình khi hai hàng nước mắt cũng đang lăn dài một cách tự nhiên trên gương mặt mình. Cô bé khóc vì những khổ đau bao lâu nay bây giờ đã có người thấu hiểu, và người ấy không ai xa lạ, chính là con. Một cuộc tương phùng bất ngờ xảy ra sau ngần ấy năm, con có cảm tưởng một sợi dây vô hình giữa mẹ và con vừa được nối lại. Hạnh phúc trong con vỡ òa!

Kể từ phút giây ấy, hình ảnh mẹ trong con đã khác, con thương mẹ nhiều hơn. Biết rằng vì mẹ khổ mà chưa có cơ hội chuyển hóa nên làm con khổ lây. Bao nhiêu điều chưa nói ra được bao năm, nay con có cơ hội chia sẻ hết bằng cách nói không một chút trách móc, giận hờn qua từng lá thư con gởi về. Mẹ đọc và tiếp tục khóc. Mẹ nói lúc xưa còn trẻ, lo cơm áo gạo tiền tất bật, chưa có nhiều kinh nghiệm dạy con, lại chồng chất bao nỗi đắng cay một mình nơi xứ lạ, mẹ vô tình trút giận lên con, bây giờ biết thương thì nó đã đi xa mình rồi… Nghe mà sống mũi con cay cay…

Con tự nhủ nếu không được đi tu, chắc gì con đã chuyển hóa được những nỗi đau của mẹ và hiểu mẹ như bây giờ, mẹ nhỉ? Nhờ được học trở về lắng nghe những niềm đau, những vụng về của mình mà trái tim con mở ra, tình thương cùng sự chấp nhận cứ thế tự nhiên đến mà con không cần cố gắng một chút nào cả. Càng thực tập, càng hiểu mình, con lại càng gần với mẹ hơn. Hai mẹ con mình chia sẻ được với nhau thật nhiều điều: từ chuyện gia đình, chuyện xã hội, chuyện cuộc sống xung quanh. Con thấy mẹ vui hơn, hay cười, suy nghĩ cũng tích cực ra. Mẹ lại hay quan tâm đến những người khốn khó hơn mình, giúp được tí gì là mẹ làm mặc dầu nhà mình cũng không khá giả hơn ai. Mẹ biết quay về nương tựa năng lượng thương yêu của Đức Bồ tát Quan Thế Âm, cứ sáng sáng chiều chiều, mẹ lại thành tâm thắp nhang. Con hay gọi vui nơi đặt tượng Đức Bồ tát trước nhà mình là “góc yên bình” của mẹ, nơi mẹ hay trở về nương tựa, chia sẻ mỗi khi muộn phiền hay lo lắng bất an. Có lần con hỏi: “Vậy mỗi lúc thắp nhang, mẹ nguyện cầu gì?” Mẹ nói: “Thì cầu cho gia đình mình an vui, khỏe mạnh, cho con tu tập giỏi”.

Vậy là bây giờ mẹ không còn muốn kêu con về với mẹ như những năm đầu nữa rồi, mẹ cũng ít khóc hơn xưa. Những khi nghĩ về mẹ với bao hy sinh cho ba và tụi con, chẳng bao giờ thảnh thơi mà đi đâu lâu, cũng đâu có cơ hội đi đây đó nhìn cuộc đời rộng lớn ra sao, con lại ý thức hơn mà sống cho thảnh thơi và đi cho mẹ. Mỗi khi có cơ hội đi khóa tu, tới một vùng đất mới, con lại cố gắng mở mắt thật to, cảm nhận cho hết lòng vì biết mình đang đi luôn cho ước mơ của mẹ. Em bé trong mẹ được tung tăng, vui vẻ hồn nhiên trở lại bởi em bé trong con đang từng ngày được chăm sóc, được sống một cuộc đời mới, ý thức hơn, bình an hơn. Hai mẹ con mình như hai em bé, đang nắm tay nhau đi về phía mặt trời, nơi mà hai bên đường thơm nức mùi cỏ dại, có bướm, có hoa, có nụ cười tươi sáng cùng những bước chân thật an bình. Biết ơn vô cùng tình thương của Bụt, của Thầy, của Tăng thân để giờ đây, con có thể tiếp tục viết tiếp những ước mơ của mẹ, ước mơ tưởng chừng thật nhỏ nhoi mà khó thực hiện vô cùng.

Và bỗng nhiên con thấy cô bé nhỏ ngày xưa đang nhìn con… mỉm cười!

Con gái nhỏ của mẹ.