Thảnh thơi tu học – An vui giúp đời

Sau khóa An cư kết Hạ tại AIAB, chúng tôi gồm các thầy Pháp Khâm, Pháp Chứng, Pháp Giao, sư chú Trời Lĩnh Nam và sư cô Lương Nghiêm đi Úc để tham dự chuyến hoằng pháp hàng năm tại Nhập Lưu từ ngày 12.9 đến 27.9.2015. Tu viện Nhập Lưu chưa có quý thầy, đầu năm 2015 chỉ có hai sư cô Thuần Tiến và Trí Duyên ở đó, khoảng giữa tháng Tư mới có hai sư cô Tịnh Quang và Tựu Nghiêm qua, đến tháng 8 thì mới có các sư cô Phát Nghiêm, Trăng Sông Hồng, Trăng Thường Trú và Trăng Cơ Duyên qua. Tôi cũng hơi lo, vì không biết các sư cô đã quen với môi trường ở Úc chưa, mới đến mà phải lo về việc tổ chức khóa tu rồi. Hai năm trước cũng có sáu sư cô, nhưng vì không gia hạn visa được nên phải về để quý sư cô mới qua thay.

Té ra là mối lo của tôi không cần thiết. Sư cô Thuần Tiến cho biết là các sư em mới qua rất năng động. Việc làm khá nhiều và Nhập Lưu thì rộng đến 55 hectares, nên các sư em được tập lái xe trong khuôn viên tu viện để làm việc cho dễ. Chỉ học hai ba lần là biết lái. Cũng chẳng đi đâu xa, qua lại chỉ mấy quãng đường từ nhà bếp lên thiền đường, từ nhà ở ra nhà bếp, nên cũng yên tâm. Biết lái xe một chút như vậy, nhưng các sư em vui lắm, vì tin vào khả năng mình có thể học và làm những điều mình chưa bao giờ làm trước đây. Trước khi qua, tuy cũng có nghe tình trạng còn khó khăn tại Nhập Lưu, nhưng nghĩ là nếu mình không giúp thì ai giúp, cho nên các sư em thấy vui khi được tăng thân ở Việt Nam đề cử đi Úc. Tinh thần phụng sự theo tiếng gọi của tăng thân đã được các sư em đáp ứng nhiệt tình.

Chuyến đi chỉ có hai tuần. Sau các khóa tu, hai ngày sau là chúng tôi về lại Hồng Kông liền. Vì phải giúp các sư cô học một ít kỹ năng như kế toán, ghi danh trên mạng, làm video, mà ở Nhập Lưu lại không có internet nhanh, chúng tôi phải đem hai máy tính văn phòng lên Melbourne, ở tại nhà một cư sĩ để hướng dẫn cấp tốc. Tôi dạy về kế toán, thầy Pháp Giao dạy về ghi danh, thầy Pháp Chứng dạy về làm video. Cũng may là các sư cô tiếp thu nhanh, nên có thể làm những điều cần thiết tối thiểu cho những công việc đó. Tôi xin chia sẻ dưới đây một vài suy nghĩ và kinh nghiệm xây dựng tăng thân tại châu Á trong lĩnh vực ngôn ngữ và khả năng chuyên môn trong những năm qua.

Việc sinh hoạt, tổ chức tu học và hoằng pháp thì dù ở trung tâm nào, ở nước nào, tăng thân đều có những chương trình đào tạo và thời khóa căn bản chung, cho nên chỉ một thời gian ngắn sau khi đổi xóm là đại chúng thích ứng với môi trường mới liền. Trung tâm nào cũng ngồi thiền, ăn cơm im lặng, thiền hành, chấp tác, học nội điển, ngoại điển, có hai ngày quán niệm mỗi tuần, đi hoằng pháp… Theo thời khóa đầy đủ là đủ cho mình có một nội lực tu tập tốt rồi. Quan tâm của tôi là đào tạo về ngôn ngữ và những kỹ năng cần thiết để thực hiện những công phu và công việc hàng ngày một cách tự tin, để được thảnh thơi và an lạc hơn.

Từ chuyến về Việt Nam lần đầu tiên năm 2005 của Sư Ông, các tăng thân và trung tâm tu học ở châu Á-Thái Bình Dương đã phát triển khá nhiều, bao gồm các nước và vùng lãnh thổ: Việt Nam, Thái Lan, Hồng Kông, Malaysia, Singapore, Indonesia, Philippines, Đài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc Lục Địa (Mainland China), Hàn Quốc, Tân Tây Lan, Úc và Ấn Độ. Ngoại trừ ở Việt Nam, các trung tâm khác đều dùng tiếng Anh là ngôn ngữ chính để hoằng pháp. Qua Trung Quốc cũng nói tiếng Anh để tăng thân địa phương dịch qua tiếng Hoa. Ngoài vấn đề ngôn ngữ, còn có các việc khác như thủ quỹ, ghi danh văn phòng, xây dựng, làm visa… tăng thân cũng cần phải làm. Cần có một chương trình tổ chức và huấn luyện như thế nào để các thành phần trong tăng thân, ai cũng có khả năng và cơ hội đóng góp. Chia sẻ đồng đều khả năng và cơ hội đóng góp cũng là “lợi hòa đồng quân” về tinh thần, cũng quan trọng không kém việc chia đều những quyền lợi vật chất.

Sau khi chuyển lên trung tâm mới vào tháng 5 năm 2013, quý thầy, quý sư cô giáo thọ Làng Mai Thái Lan đã xem lại cách tổ chức và đào tạo trong tăng thân. Việc làm đầu tiên là dành hoàn toàn buổi sáng trong thời khóa cho việc học. Ngoại trừ phải đi làm visa, đi khám bệnh, hay những công việc quan trọng không làm vào giờ khác được, tất cả đều nhắm vào việc học hết. Sáng học chiều làm việc, thời khóa cả năm cứ như vậy thôi. Quý thầy, quý sư cô lớn ủng hộ theo thời khóa này hết lòng để làm gương. Chỉ cần điều chỉnh một ít thời khóa và nhấn mạnh tinh thần học, thế là chỉ trong vòng một tuần, Làng Mai Thái Lan đã sinh hoạt theo mô thức của một tu học viện. Đi bộ đổi lớp gặp nhau là cười chào rồi vào lớp khác, như là một trường học. Các lớp học khá xa nhau, nên cũng là cơ hội đi bộ để tập thể dục.

Vấn đề kế tiếp là học những gì và ai đứng lớp? Tinh thần đào tạo của tăng thân là “nghé đi theo trâu”, người đi sau học từ người đi trước, người chưa biết học từ người đã biết, người biết ít học từ người biết nhiều hơn… Nói theo kiểu truyền thống gia đình Việt Nam là anh chị năm tuổi đã biết lo cho em bốn tuổi rồi. Quý thầy, quý sư cô giáo thọ, kể cả quý vị mới được truyền đăng, đều được yêu cầu đứng lớp. Dựa theo chương trình học bốn năm và những chương trình Sư Ông làm thêm sau này, ban giáo thọ đã làm ra chương trình bảy năm, đào tạo từ lúc mới vào tu cho đến lúc làm giáo thọ và sau giáo thọ. Tầm nhìn lớn và dài, nhưng để thực hiện nó trong một tăng thân luôn có sự thay đổi người và có nhiều trình độ khác nhau là một thách thức lớn.

Quan trọng là ngôn ngữ. Ở đất khách quê người, thì việc hội nhập vào môi trường địa phương rất cần thiết. Các sa di, sa di ni mới xuất gia đều được yêu cầu học tiếng Thái trong năm đầu tiên, vì trong thời gian đó, ít khi đi ra ngoài. Cũng may tiếng Thái là ngôn ngữ châu Á nên dễ học hơn cho người Việt so với tiếng Anh, cũng như tiếng Anh thì dễ học hơn cho người châu Âu. Các sư chú và sư cô nhỏ tuổi (baby monk và baby nun) học tiếng Thái rất nhanh. Người đứng lớp là cư sĩ Thái hay quý thầy, quý sư cô đã biết nói tiếng Thái. Ngoài các sư em nhỏ, một số đông cũng được đề nghị học tiếng Thái, để cho việc vận hành tu viện được trôi chảy. Lớp tiếng Anh thì theo nhu cầu và khả năng, nên số lượng ít hơn số lượng học tiếng Thái. Một ngày học một giờ, bốn ngày một tuần, cứ thế mà vào lớp tiếng Thái hoặc tiếng Anh.

Chỉ trong vòng vài tháng, số lượng người nói tiếng Thái tăng lên rõ rệt. Tăng thân có thể liên hệ với người Thái trực tiếp, mối liên hệ với tăng thân và dân chúng địa phương tốt hơn. Các sư em nhỏ có tự tin và vui hơn nhiều, vì có thể đóng góp cho tăng thân chỉ sau vài tháng. Có thể thường thấy các sư cô, sư chú nhỏ thông dịch từ tiếng Thái qua tiếng Việt cho quý thầy, quý sư cô giáo thọ.

Bên lớp tiếng Anh thì có khó khăn hơn. Vì là người Việt dạy cho nhau, không phải là người có chuyên môn giảng dạy, kẹt nhất là không có môi trường để luyện tập, nên nói chung là chưa có nhiều tiến bộ như mong muốn. Năm 2016, Làng Mai Thái Lan có dự định mời hai thầy cô giáo dạy Anh văn từ Philippines qua giúp, sẽ đào tạo một nhóm chuyên nói tiếng Anh và tạo một môi trường nói tiếng Anh cho nhóm này sinh hoạt. Một thành viên tăng thân người Mỹ ở Philippines sẽ giúp Làng Mai Thái Lan điều hợp chương trình này. Số lượng khách quốc tế về Làng Mai Thái Lan ngày càng nhiều. Khóa tu cho chúng chủ trì năm 2015 vừa qua có đến 16 quốc tịch, nên cần có một số quý thầy, quý sư cô giỏi tiếng Anh giúp. Làng Mai Thái Lan phải tự đào tạo nhân sự thôi, vì trung tâm nào cũng cần người nói tiếng Anh. Chương trình này cũng sẽ giúp cho việc đổi xóm, giúp quý thầy, quý sư cô đến các trung tâm nói tiếng Anh dễ dàng hội nhập hơn. Ngay cả khi qua EIAB, biết tiếng Anh thì cũng giúp dễ dàng học tiếng Đức, vì người dân Đức đa số đều nói tiếng Anh. Tôi nghĩ là quý thầy, quý sư cô Làng Mai ai cũng cần biết tiếng Anh hết, chỉ cần tập trung một năm học là biết rồi.

Tôi có dịp xem một video về sinh hoạt và tổ chức của một cộng đồng kiến. Chúng chia ra nhiều nhóm làm việc chuyên môn: nhóm đi kiếm thức ăn về báo lại thì có nhóm đi lấy thức ăn, rồi lại tiếp tục đi kiếm thức ăn, nhóm lấy thức ăn về giao lại cho nhóm cất vào kho, nhóm canh giữ an ninh… Cả đời kiến chúa chỉ được lên mặt đất có một lần, sau đó ở luôn dưới hang làm nhiệm vụ duy nhất là sinh đẻ. Cơ thể của mình cũng vậy, các tế bào gốc trở thành các tế bào chuyên biệt như tế bào da, tim, bắp thịt, thần kinh… để làm các nhiệm vụ chuyên ngành. Khác với con kiến chỉ biết làm một việc, con người có khả năng làm được nhiều thứ, nhưng biết chia ra những bộ phận để làm những việc chuyên môn. Tăng thân cũng có những ban phụ trách những chuyên ngành như vậy.

Việc đào tạo chuyên môn được thể hiện qua các ban như ban đậu hũ, ban âm thanh, ban ghi danh, ban thủ quỹ… Tùy theo ban mà nhu cầu chuyên môn cần đi sâu hay tàm tạm là đủ. Muốn nấu ăn ngon, chuyển hóa rác cho đàng hoàng thì cũng phải học. Làm mấy việc chuyên môn, nhất là về mặt kỹ thuật, thường thì mất nhiều thì giờ hơn và mất nhiều năng lượng hơn, nên đa số không thích. Cái khó là làm sao tạo niềm hứng thú cho những lĩnh vực này?

Theo kinh nghiệm của tôi, làm những việc này cũng vui lắm. Học những việc này cũng không khó, làm hoài cũng quen. Những vị trí này thường làm ít nhất là hai năm, để năm đầu học và năm sau có thể đào tạo người khác, không nên thay đổi hoài mỗi sáu tháng. Cần có hai người làm với nhau trong một vị trí, để khi người này bận thì người kia có thể làm được. Tôi không nghĩ là làm lâu trong một lĩnh vực chuyên môn sẽ làm người đó trở nên quan trọng và kiêu hãnh. Câu “Một người giỏi trong lĩnh vực này là một người khờ trong lĩnh vực khác” (An expert in one field is a fool in another field) nói lên một sự thật là không ai có thể giỏi trong tất cả mọi ngành được. Giỏi 10 trong 100 ngành thì cũng là người khờ trong 90 ngành.

Việc tổ chức các khóa tu ở Thái Lan cũng trở nên dễ dàng hơn khi lập ra các nhóm chuyên môn để tổ chức cho Wake Up, thanh thiếu niên, trẻ em, cho thầy cô giáo trong chương trình Đạo đức học Ứng dụng (applied ethics) hay cho chuyên viên về sức khỏe cộng đồng (health care professionals). Hàng tuần, hay mỗi hai tuần, các nhóm này gặp nhau để thảo luận những đề tài cần làm cho những khóa tu đó. Cho nên, khi khóa tu đến thì không cần phải kiếm người tổ chức. Đóng góp cho khóa tu không nhất thiết phải cho pháp thoại. Nhiều thiền sinh chia sẻ là họ được lợi lạc nhiều qua sự tiếp xúc với quý thầy, quý sư cô từ những buổi thiền buông thư, tập thể dục, hay từ những buổi chấp tác như sắp xếp thiền đường, chuyển hóa rác. Có việc nào quan trọng hơn việc nào không? Năm 1986, phi thuyền con thoi Challenger bị nổ khi vừa được phóng lên, lý do là một vòng cao su (O-Ring) nối liền hai ống nhiên liệu không co giãn đúng như dự định do thời tiết lúc đó rất lạnh. Vòng cao su đó có giá trị khoảng 800 dollars, trong lúc đó phi thuyền con thoi giá trị cả tỷ dollars. Cái gì cũng có tầm quan trọng riêng của nó.

Năm 2003, trong chuyến đi hoằng pháp tại Ý với Sư Ông và tăng thân, tôi gặp một người là nông dân chuyên trồng và sản xuất dầu olive. Gia đình anh làm nghề này đã mấy trăm năm. Chỉ cần nếm vài giọt dầu là anh ta biết nó được làm từ những loại olive nào, và những trái olive đó được trồng trên vùng đất nào, nhận được bao nhiêu nước và ánh sáng mặt trời… có nghĩa là anh ta biết hết những gì về dầu và trái olive. Để được như vậy, anh ta phải đích thân làm những công việc của một nông dân olive, ngày này qua ngày khác, tháng này qua năm nọ. Chúng ta được huân tập, được học và sống toàn thời gian trong môi trường chánh niệm như thời đạo Bụt nguyên thủy, cho nên cũng giống như một “nông dân chánh niệm”. Sống chánh niệm sâu sắc trong từng giây phút là điều tôi muốn huân tập.

Những giáo lý căn bản và pháp môn thực tập của Làng Mai có thể được học trong một chương trình khoảng một năm. Nhưng để hiểu và thực chứng, phải mất cả đời để thực tập. Cần ôn lại và cập nhật những điều căn bản đó trong suốt đời tu của mình. Chương trình học và thực tập đó gồm có: kinh Quán niệm hơi thở, kinh Tứ niệm xứ, Duy biểu học; các giáo lý căn bản: Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Tam pháp ấn, Ba cánh cửa giải thoát, Tương tức tương nhập, Giáo lý duyên khởi; các giới luật: Năm giới, Mười bốn giới Tiếp Hiện (giới Bồ tát), Mười giới Sa di và Sa di ni, Giới bản tân tu Tỳ kheo và Tỳ kheo ni; và Bốn pháp ấn của Làng Mai. Về mặt thiền tập thì cần nắm rõ các pháp môn: hơi thở chánh niệm, nghe chuông (tập dừng lại), thiền ngồi, và thiền đi. Các pháp môn thiền ăn, thiền làm việc, thiền buông thư… được khai triển từ những giáo lý và pháp môn căn bản này.

Chánh niệm bây giờ đang là một đề tài rất được quan tâm trên thế giới. Nhiều người nói về nó và ai cũng muốn biết về nó. Với một số người, nếu không biết về chánh niệm thì có vẻ hơi quê. Ở ngoài đời trong mấy chục năm qua, nhiều trường phái chánh niệm được xiển dương với chủ trương là không tôn giáo và không môn phái (non-religious và non-sectarian). Trong đó ít nhiều tinh túy của chánh niệm nguyên chất bị lấy đi, và không còn là chánh niệm như lúc Bụt dạy nữa. Thời gian gần đây, khuynh hướng muốn được học và thực tập chánh niệm nguyên chất đang trở lại. Làng Mai Hồng Kông đã thành lập Học viện Chánh niệm Làng Mai để mở chương trình đào tạo thầy cô giáo chánh niệm theo hình thức không tôn giáo. Điều này cũng không khó gì, vì Phật giáo được dạy và thực tập tại Làng Mai là một lối sống chớ không phải là một tôn giáo.

Từ năm 2012 đến nay, tôi có dịp làm việc với các chuyên gia y khoa, các nhà tâm lý học và các nhân viên xã hội chuyên về trị bệnh tâm thần. Họ muốn đem chánh niệm vào lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Nhờ có căn bản về chánh niệm và Duy biểu học nên tôi có thể cho ý kiến để bổ túc cho những điều mà phương pháp hiện tại chưa có. Tháng 11 năm 2015, Làng Mai Hồng Kông thành lập Trung tâm Thân Tâm Kiện An Thở và Cười (Breathe and Smile Mindbody Wellbeing Center) để đem pháp môn Làng Mai vào lĩnh vực sức khỏe thân tâm. Hai thành viên tăng thân, một người là nhà tâm lý học lâm sàng (clinical psychologist) và một là nhà chuyên gia xã hội (social worker), làm toàn thời gian cho trung tâm này. Họ đã tham dự chương trình đào tạo “Mindfulness Teachers” trong thời gian dài một năm AIAB tổ chức, và sẽ kết hợp pháp môn Làng Mai trong lĩnh vực chuyên môn cho các bệnh nhân và khách hàng của họ.

Đã sáu năm rồi, Nhập Lưu chưa có chúng xuất sĩ nam, nên năm 2017, có dự định là tám thầy và sư chú sẽ qua. Làng Mai Indonesia đang chờ giấy phép xây dựng, xong cũng xin người qua. Trong khi đó thì Làng Mai Malaysia đang rục rịch xây dựng trung tâm, lúc ổn định cũng xin người qua. Tôi thở và mỉm cười, cùng đi với tăng thân trong những chương trình hoằng pháp này. Sống trong giây phút hiện tại, thu thập những kinh nghiệm đã có và thấy được những điều cần làm trong tương lai, tôi biết tôi phải làm những gì trong lúc này, tôi không có gì phải lo hết. Có thảnh thơi tu học thì mới an vui giúp đời được.

AIAB, ngày 04 tháng 01 năm 2016

 

Cảm nhận của Gió

Sư cô Chân Trăng Thiên Hà xuất gia trong gia đình Cây Đan Mộc, hiện đang tu học tại xóm Trăng Tỏ, tu viện Vườn Ươm, Thái Lan. Đây là những chia sẻ của sư cô về cảm nhận trong ngày xuất gia.

 

Cuối năm, ngày mới bắt đầu thật bình thường tại Làng Mai Thái Lan. Hôm ấy trời trở lạnh, Gió thức dậy, mỉm cười với tình yêu ngày mới tràn đầy. Có gì đó hân hoan tràn ngập trong lòng không gian. Gió len lỏi vào khung cửa, đánh rơi hương hoa bốn phương lại nơi căn phòng nhỏ, hương trà đã thức từ bao giờ, se thoảng trên đôi tay hiền. Vũ trụ loan tin hôm nay: “Điều kỳ diệu đang đến” khiến Gió thấp thỏm chờ, cứ quấn quýt bên tà áo nâu thong thả thiền hành để hỏi: “Bao giờ mới có?”.

Không ai trả lời. Khí trời ấm dần, Gió ngước nhìn lên bên kia đỉnh núi cùng đại chúng, nghiêng nghiêng theo chóp núi, cạnh đám mây trắng bồng bềnh trôi. Ánh dương huy hoàng như quả cầu lửa khổng lồ hiện rõ trên nền trời xanh biếc. Ban mai rực rỡ qua từng kẽ lá, len lỏi vào thiền đường. Những tia nắng chậm rãi in lên nền gạch. Gió cảm thấy ở đây thật ấm, vì có tình thương, có năng lượng sống chan hòa. Gió lặng nhìn tượng Bụt trong giây lát: “Thế Tôn là tình yêu đầu.

Tiếng chuông báo giờ thời khóa, từng bước chân lành đem dấu ấn chánh niệm vào trái đất, hiền hòa như một dòng sông. Bước chân thật đẹp trên đất Mẹ bao dung. Những bước chân phẳng lặng giống như mặt nước hồ thu tươi mát. Chỉ cần nhìn những bước chân ấy thôi, Gió đã được nuôi lớn rất nhiều. Đi để đem an lạc vào cuộc sống, tưới tẩm và giữ gìn bước chân thuở ban đầu nguyên vẹn. Họ đến những nơi cần đến. Bàn chân kia là hoa của thật địa. Tiếng sỏi đá reo vui.

Gió cứ chờ tin mừng. Kim đồng hồ chỉ hai giờ bốn mươi phút. Thiền đường trở nên trang nghiêm. Gió hân hoan, Gió thở trong niềm vui sướng, bỗng thấy lòng rộng ra như đại dương bao la. Trải ra bất tận, khung trời tình thương không giới hạn của tăng thân, khung trời “Thái Bình” trong Gió hòa vào một. Tương tức.

Chuông báo chúng vang lên. Ba giờ. Giờ đến rồi! Vũ trụ ngừng thở nghe đất Mẹ rung chuyển. Gió im bặt, hồi hộp. Những mái tóc xanh cuốn theo hương thiền là lúc một chồi non tròn trịa, xanh nõn nhô khỏi mặt đất, mang lộc tươi chào muôn loài. Mầm non hé hai mắt sáng vui như hai ngôi sao giữa ngân hà rộng lớn, mỉm cười. Vũ trụ reo vang đón Đan Mộc biểu hiện, Gió rào rạt mang tin mừng lan vào không gian.

“Ấy sẽ là cây gỗ lớn, vững chãi, xanh mát trong tương lai”. Muôn loài thì thầm truyền tin. Vươn lên làm bạn với gió trời, hát ca chung sống cuộc đời an nhiên.

Em mang tình thương lớn
Tình Thầy với Tăng thân”.

(Đan Mộc ca)

Thầy kính thương!

Con cứ tưởng tượng vào giờ đó, phút đó, giây đó, ở một nơi nào đó, cây Đan Mộc cựa mình nứt mầm, Thầy cho chúng con biểu hiện trong hình tướng và tâm hồn người xuất sĩ.

Con hạnh phúc, đến nỗi, chẳng có ngôn ngữ diễn tả được con đã hạnh phúc như thế nào. Quỳ trước Bụt, trước tăng thân, con thở để không run, không bật khóc, hòa mình thật sự vào dòng tâm linh. Sư mẹ đặt tay lên đầu con chú nguyện, dòng suối từ mát dịu chảy vào con. Ôn Thủ tọa xướng bài kệ cạo tóc, khoảnh khắc tiếng kéo vang lên, bao nhiêu cảm xúc con vỡ òa. Con ý thức được đây là dấu mốc cho lý tưởng của con. Hình tướng là phương tiện cao quý nên con cần thực tập từ trái tim. Con là người xuất gia. Nhiều lắm: sung sướng, tươi mát, quyết tâm, tin tưởng, vững chắc.

Con nhớ những buổi tối ngồi trên thiền đường ở Diệu Trạm một mình, con ngắm sao cho Thầy, nghe gió reo cùng Thầy trong con, và mời Thầy thở bằng hai lá phổi của con. Mỗi lần thực tập điều gì đó chưa hết lòng, con dặn mình hãy thực tập cho Thầy, con hết lòng hơn. Giờ con có thêm thật nhiều sư cha, sư mẹ, sư anh, sư chị nữa. Con trân quý!

Con lắng lòng lại nghe giới thể đi vào con mạnh mẽ, rõ ràng, bao nhiêu sự thực tập, bao nhiêu hạt giống con được trao truyền, giờ phút đó con nhận diện thật kỹ. Bước chân, hơi thở và nụ cười, cúi đầu xin giữ cho con và cho cả mọi loài.

Thầy kính thương,

Con là một sư cô rồi đó, con chính thức biểu hiện. Mười lăm tuổi, con là một sư cô nhỏ, còn ham chơi, vụng về. Con tin từ từ con sẽ lớn mà! Cúi đầu nâng pháp y vàng, lòng con tràn ngập niềm biết ơn gia đình tâm linh và huyết thống. Biết ơn tất cả sự sống, và không sống, đã, đang và sẽ có mặt, cho con tâm hồn này. Kính tri ơn Bụt, Tổ, Thầy, Tăng thân đã nuôi lớn tâm hồn con. Đặc biệt là sự có mặt, những bàn tay của quý thầy, quý sư cô, cả cảnh vật, từng con đường, từng cơn mưa ở Từ Hiếu, Diệu Trạm đã nâng niu, chăm sóc, sách tấn, chấp nhận, giúp chị em chúng con có cơ hội biểu hiện. Tối lại con nâng chiếc áo nhật bình mới trên tay, hình ảnh quý sư mẹ ngồi kết từng nút áo hiện lên, tình thương đó gửi biết bao nhiêu trên mảnh áo này. Chít khăn lên, con nhìn con mỉm cười: Tự do là người tu.

Con mơ thấy con gặp Thầy cạnh một cây nhỏ, Thầy cười hỏi: “Con tưới cây gì đó?”. Con trả lời Thầy bằng một cái nhìn gửi cho cây, là Đan Mộc hay cây từ hạt Bồ đề tâm? Con cũng không biết nữa, chỉ biết mai này lòng con sẽ lớn hơn cây nữa, nhờ có Thầy và tăng thân nuôi dưỡng. Bước chân con bình yên hơn. “Lòng hôm ấy sẽ là lòng muôn thuở…

Mới qua Thái Lan, con còn chưa quen, chưa vui hết lòng, chưa an trú giỏi, vẫn còn nhớ Diệu Trạm nhiều lắm. Nhưng con sẽ thực tập coi mọi nơi là nhà.

Kính bạch Thầy, là một sư bé mới biểu hiện, con chỉ tập thở và cười thôi. Con tập đi cho vững, chơi cho giỏi và thực tập hiện pháp lạc trú cho hết lòng.

Bước tới thong dong
Tay con trong tay Thầy
Bàn tay bé, lửa thiêng nguyện tiếp nối
Lửa đó, lửa muôn đời Thầy trao con”.

(Con đã về)

Sáng nay con ngồi yên bên góc phòng nhỏ. Nhìn hình Thầy nâng ly trà, Thầy đang mỉm cười, con thấy con trong Thầy. Sư bé kính cầu chúc Thầy chóng khỏe để con được gặp Thầy. Và Thầy ơi, con ngồi viết lại tất cả những hơi thở, nụ cười của con gửi đến Thầy.

Gió ghé vào cửa sổ, thì thầm kể cho con nghe cảm nhận của Gió ngày con xuất gia. Gió và con đã hứa sẽ cùng nhau thực tập hết lòng. Thầy yên tâm và đón năm mới thật vui. “Con là sự tiếp nối của Thầy.

                                                Gia đình xuất gia cây Đan Mộc tại Làng Mai Thái Lan

Người anh cả của rừng cây

Kính tặng những người anh, người chị của đạo tràng với lòng biết ơn.

Cuối đường thiền hành, có khi đại chúng dừng ở tượng Bụt trắng. Ở đó có cái sân cỏ rộng, là pháp đường chính của pháp hội 2013, khi Sư Ông về Thái Lan lần gần đây nhất. Người hướng dẫn đi tới gần tượng Bụt, chắp tay xá rồi quay lại nhìn đại chúng đang từ từ bước tới. Đại chúng sẽ hiểu ý, cùng hướng về tượng Bụt và chờ cho đến khi mọi người tới nơi thì mới đồng loạt chắp tay xá nhau, rồi xá Bụt để kết thúc buổi thực tập thiền đi. Đó là tượng Bụt đầu tiên, và cũng là tượng Bụt lớn nhất của trung tâm. Tượng được đặt trên một khối đá lớn, vững chãi, uy nghiêm mà không mất đi sự hòa điệu với thiên nhiên hùng vĩ chung quanh.

Nhưng chỉ có cái sân cỏ rộng và một tảng đá lớn thôi thì chắc chắn vị trí ấy đã không được chọn để tôn trí tượng Bụt uy nghiêm ấy. Cái làm cho chỗ ngồi của Bụt uy nghiêm và hùng tráng, cái làm điểm tựa cho tảng đá lớn vững chãi và yên ổn, cái làm cho bãi cỏ mênh mông trở nên ấm cúng và gần gũi ấy chính là một cội cổ thụ cao rộng, to lớn và hùng vĩ, đó là người anh cả của đạo tràng.

Đó là một cây cóc rừng, là cây cổ thụ già nhất, lớn nhất, cao nhất và có tán lá rộng nhất ở đây. Thân cây tới mấy người ôm mới xuể, những cành cây như những cánh tay khổng lồ vươn ra bốn phía, tán lá xanh tươi phủ khắp một vùng rộng lớn. Ngồi dưới tán cây, bốn mùa một năm, tượng Bụt được che mát bởi một cái lọng trời màu xanh to lớn. Cội cây ấy cũng là chỗ nương tựa cho không biết bao nhiêu chim rừng. Trong pháp hội 2013, cội cây ấy cũng là pháp đường cho cả ngàn thính chúng.

Uy hùng là thế, mạnh mẽ là thế, độ lượng là thế. Nhưng người nào nhìn vào thân cây ấy cũng thấy thường trực ở đó những vết thương. Không phải là vài vết xước, thực sự là những vết thương lớn, sâu, chiếm cả một phần ba bề mặt thân cây và kéo dài lên đến nửa ngọn cây. Không những thế, vết thương ấy lây lan từ góc này sang góc kia của gốc cây và từ cành này sang cành khác của thân cây. Nhìn những vết thương lớn đang đục khoét và gặm nhấm thân cây, không ai là không dâng lên một nỗi xót thương. Nhìn qua, người ta sẽ tưởng rằng cội cây này chẳng thể nào sống lâu thêm được, sẽ đổ xuống trong một cơn bão nào đó mà thôi. Vậy mà nó đã ở đó không biết bao nhiêu năm, không khi nào là không xanh tươi và không khi nào rời vết thương của nó.

Một lần, ngồi yên bên tượng Bụt, tựa vào một mảng thân cây cạnh một vết thương lớn, dưới bóng mát của cội cóc rừng ấy, tôi bỗng hiểu ra rằng vết thương ấy, sự sống chung với vết thương ấy, sự chữa trị vết thương ấy, sự sinh ra của các vết thương khác, sự sống chung và chữa trị các vết thương mới ấy chính là sự trưởng thành và sức mạnh đích thực của cội cây. Tôi cúi đầu.

Thân cây tiết ra một thứ nhựa màu nâu đen, cố gắng bọc vết thương lại. Lớp nhựa ấy chính là thân cây lành lặn màu nâu tươi phản chiếu nắng chiều mà ai nhìn vào cũng ngưỡng mộ. Khi vết thương này chưa lành hẳn thì tại một góc khác của thân cây đã xuất hiện vết thương mới. Sức sống của cội cây lại chiết xuất thứ nhựa nâu kia để bọc lại vết thương, bọc kín, thân cây lại lớn hơn. Ba năm rồi, liên tục, không khi nào thân cây không có vết thương và cũng vì thế, chưa bao giờ thân cây ngừng lớn.

Sức sống mãnh liệt nào trong thân cây đã làm cái việc trị liệu và nuôi dưỡng trường kỳ ấy? Tuệ giác nào dưới cội cây đã làm nơi nương tựa cho sự kiên định, tận tụy và một lòng ấy? Niềm vui nào trong lòng đất đã hàm dưỡng cho những cành lá luôn mơn mởn xanh tươi ấy? Sức sống ấy mới dồi dào và bền bỉ làm sao! Tuệ giác ấy mới hồn hậu và sáng ngời làm sao! Niềm vui sống ấy mới mãnh liệt và tươi nhuận làm sao!

Những tán lá rộng mát, những cành cây hùng vĩ và thân cây uy nghiêm. Nhìn vào ai cũng có thể thấy được. Nhưng nhờ đâu mà thân cây ấy đứng vững? Nhờ đâu mà những cành cây to lớn ấy cứng cáp mạnh mẽ? Nhờ đâu mà muôn triệu chiếc lá trên chiếc lọng trời mênh mông kia luôn xanh tươi? Chẳng phải là nhờ sự chở che đùm bọc của đất trời sao? Cành cây muốn vươn rộng thì phải có không gian. Cội cây này có không gian. Đó là ân che của trời. Cội cây muốn đứng vững thì rễ phải cắm rộng sâu vào lòng đất. Đất mẹ ôm hết không biết bao nhiêu chiếc rễ của nó. Đó là ân chở của đất. Cội cây sở dĩ hùng vĩ và uy nghiêm, sở dĩ vững chãi và kiên định chính là nhờ nhận được đức che hùng vĩ uy nghiêm của trời và ân chở vững chãi kiên định của đất vậy.

Cội cổ thụ kia không ngưng yêu thương và trân quý sự sống, chưa từng chạy trốn và coi thường những vết thương, cứ thế mà sống, tận tụy, hết lòng, có mặt và hiến tặng. Làm được như thế chính là nhờ ân đức chở che của đất trời vậy.

Ngày mai, đi thiền về, bạn tới ngồi bên gốc cóc rừng kia đi, bạn sẽ tiếp nhận được suối nguồn yêu thương bất tuyệt, bạn sẽ tiếp xúc được với sức sống bền bỉ kiên định bất diệt, và bạn sẽ thấy suối nguồn sức sống ấy đang tuôn chảy trong huyết quản mình. Và xin bạn nhớ, rằng không phải hễ là đại thụ thì thôi không còn cần che chở, rằng hễ là đại thụ thì thôi không còn nữa đau thương. Bởi lẽ thường, cội cây càng lớn thì càng cần phải được đức che lớn và ân chở lớn. Bởi chỉ có thể với ân đức ấy, cội cây cả kia mới có thể đón ngọn gió đầu, mới có thể hứng cơn mưa lớn, mới có thể chịu trận bão to cho ngàn cây chung quanh, cho bãi cỏ, cho tượng Bụt trắng bên dưới và cho pháp hội của đạo tràng. Xin đức che ân chở của trời đất tiếp tục và luôn luôn đùm bọc người anh cả ấy của đạo tràng.

Xin cúi đầu bên người anh cả ấy.

 

Tình thầy trò

Còn nguyên sơ, còn trọn vẹn

Có những con đường mình tự trả

Mình thấy thích, mình làm thôi

Mình đâu có tính toán gì đâu.

 

 

Thiết kế Tăng Thân

Tự nuôi dưỡng mình là nuôi dưỡng tăng thân

Sáng nay, khi ngồi thiền, thầy đã quán tưởng về hình ảnh một tế bào trong tăng thân. Thầy thấy mình là một phần của tăng thân, mình chịu trách nhiệm về sự an toàn, sự hài hòa, hay sự bất an của tăng thân. Thầy thấy rất rõ rằng tự nuôi dưỡng mình cũng là đang nuôi dưỡng tăng thân. Giờ phút nào mà mình tự nuôi dưỡng được mình bằng bước chân, bằng hơi thở, bằng nụ cười, bằng sự vững chãi, bằng sự thảnh thơi thì giờ phút đó mình đang nuôi dưỡng tăng thân. Và chừng nào mình không tự nuôi dưỡng mình được thì tăng thân cũng không được nuôi dưỡng, tăng thân bị bỏ đói.

Thầy cũng thấy rằng khi nào mình có tình thương, mình chăm sóc, mình nuôi dưỡng tăng thân thì tuy là mình không có ý muốn nuôi dưỡng mình mà kỳ thực lúc đó mình cũng đang được nuôi dưỡng. Chẳng hạn khi thấy một sư anh, sư chị hay sư em đang có vấn đề mà mình khởi lòng lân mẫn để tìm tới, và bằng thân hoặc bằng lời, mình chăm sóc cho người đó, thì tuy rằng mình đang nuôi dưỡng tăng thân mà kỳ thực mình cũng đang nuôi dưỡng mình. Tự nuôi dưỡng mình tức là nuôi dưỡng tăng thân, và nếu mình đang nuôi dưỡng tăng thân thì đồng thời mình cũng đang nuôi dưỡng chính mình. Giữa hai cái đó không có sự phân biệt, vì vậy mình có thể thấy được tính vô ngã một cách rất rõ ràng.

Thầy cũng thấy rằng khi mình không thật sự ở trong tăng thân, khi lòng mình không phải là lòng của tăng thân thì mình không phải là dòng sông mà chỉ là một giọt nước, và mình sẽ thấy bơ vơ, lạc lõng trong tăng thân. Tuy mình đang ở trong tăng thân nhưng kỳ thực mình không ở trong tăng thân. Mình đang nghĩ tới một tương lai riêng, một sự nghiệp riêng, không dính líu tới tương lai và sự nghiệp chung của tăng thân, vì vậy mình không nuôi dưỡng được mình và mình cũng không nuôi dưỡng được tăng thân. Trong trường hợp đó, sự có mặt của mình trong tăng thân chỉ có tính hình thức và không thể nào kéo dài được, thế nào mình cũng sẽ bị văng ra. Mình không nhận được chất dinh dưỡng từ tăng thân và mình cũng không có khả năng nuôi dưỡng tăng thân. Sự có mặt của mình chỉ là một sự có mặt hình thức.

Tuệ giác tập thể – phép lạ của tăng thân

Khi nhìn vào một cơ thể, chúng ta thấy trong cơ thể có nhiều tế bào, và mỗi tế bào có thể là một cái ngã riêng. Tế bào này không phải là tế bào khác, tế bào não không phải là tế bào phổi, tế bào ruột không phải là tế bào gan, tế bào gan không phải là tế bào tim, tế bào tim không phải là tế bào não.Thoạt nhìn, các tế bào có sự khác nhau, có sự phân biệt, có tên gọi riêng. Nhưng nhìn kỹ thì tất cả tế bào trong cơ thể có chung một trí tuệ: Chúng làm việc hài hòa với nhau, nuôi dưỡng nhau và nuôi dưỡng cơ thể. Khi có vi khuẩn đột nhập vào cơ thể thì không phải là bộ óc hay tư tưởng ra lệnh chống cự, mà trong cơ thể có một phản ứng rất tự nhiên. Khi đó, cơ thể tự động tạo ra những kháng thể (anti-body) và kéo tới bao quanh con vi khuẩn mới xâm nhập, không để cho nó sinh sôi nảy nở và đi vào cơ thể, cho đến khi con vi khuẩn đó không hoạt động gì được và biến thành chất protein nuôi cơ thể. Không ai ra lệnh cho cơ thể làm điều đó. Cơ thể tự động biết phải làm gì, rất là mầu nhiệm.

Trong cơ thể không có một tế bào nào đóng vai trò chỉ huy để ra lệnh các tế bào khác. Không có một ông vua, một bà hoàng hay một tổng thống trong cơ thể. Ngay trong bộ não của mình cũng vậy, không có tế bào não nào làm lãnh đạo, và sự hài hòa, thông thương giữa những tế bào tạo ra một loại trí tuệ. Nhờ trí tuệ đó mà cơ thể biết cần phải làm gì để đối phó với những bất trắc xảy ra.

Trong một tổ ong, chúng ta nói tới con ong chúa, và chúng ta có thể nghĩ một cách sai lầm rằng con ong chúa điều động hết tất cả mọi việc trong tổ ong. Điều đó không đúng. Ong chúa không làm gì hết, ong chúa chỉ đẻ mà thôi. Tất cả các con ong trong tổ ong sống một cách rất hòa hợp, giống như những tế bào trong cùng một cơ thể. Chúng nâng đỡ nhau, đưa đường chỉ lối cho nhau tìm tới những chỗ nào có nhiều hoa để lấy mật. Sự thật là trong thiên nhiên, mình cũng không thấy một vị chúa tể, một vị lãnh đạo.

Ngày xưa đức Thế Tôn đã thấy được điều đó. Ngài đã không đóng vai trò của một người lãnh đạo mà chỉ đóng vai trò một thành phần của tăng thân, một thành phần có tuệ giác, có thương yêu. Khi Ngài lớn tuổi, có nhiều thầy hỏi rằng sau khi đức Thế Tôn nhập diệt thì ai là người thay thế đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã trả lời rằng Ngài chẳng cần ai thay thế, và Ngài chưa bao giờ chỉ định một người thay thế. Điều đó có nghĩa là tất cả chúng ta đều có nhiệm vụ như nhau, và chúng ta phải vận hành như một cơ thể.

Những phương pháp sinh hoạt theo giới luật đã phản chiếu được tinh thần đó. Tất cả các quyết định đều do pháp Tăng già yết ma tạo ra, và tất cả thành viên của tăng thân đều phải nương theo quyết định của pháp yết ma ấy mà hành trì. Khi các thành phần của tăng thân ngồi lại, tăng thân có cơ hội truyền thông với nhau, và trong sự thực tập truyền thông đó, tuệ giác tập thể được phát sinh. Tuệ giác tập thể đó chính là yếu tố chỉ đạo chứ không phải là sự chỉ đạo của một người. Có thể trong tăng thân có những người thông minh hơn, có nhiều kinh nghiệm hơn những người khác, nhưng không phải vì vậy mà những người đó lãnh đạo những thành phần khác. Những người thông minh, có nhiều kinh nghiệm đó cũng là những thành phần của tăng thân và họ đóng góp trí thông minh cũng như kinh nghiệm của họ cho tăng thân. Những thành phần khác của tăng thân cũng có người thông minh và có kinh nghiệm. Sự góp lại của những thông minh và kinh nghiệm đó trở thành tuệ giác chung. Chính tuệ giác chung đóng vai trò lãnh đạo tăng thân, chứ không phải là cá nhân.

Khi tăng thân ngồi chung để cùng quán chiếu và khám phá ra tuệ giác cần thiết, đó không phải là sự cộng lại của những kinh nghiệm hay những cái thấy của từng người. Tuệ giác tập thể không phải là một phép tính cộng. Anh có hai phần tuệ giác, tôi có một phần tuệ giác, hai cái đó cộng lại thành ba, không phải như vậy. Mỗi người trong khi làm vườn, tưới rau… đều có những cái thấy mà tăng thân cần đến để xây dựng tăng thân. Nhưng khi chúng ta họp lại, không phải là chúng ta góp nhặt những cái thấy riêng để làm thành một cái thấy chung. Không phải như vậy! Không phải đem cộng cái này với cái khác để thành cái thấy chung. Tại vì nhiều khi có những cái thấy rất khác nhau, đứng về phương diện hình thức thì nó chống trái nhau, nếu cộng chung lại thì thành một mớ hổ lốn rất lộn xộn.

Khi tăng thân họp lại, với niệm và định, sẽ xảy ra rất nhiều điều bất ngờ. Tuệ giác tập thể sẽ sinh ra những cái thấy mà không cá nhân nào có được. Đó là tài ba của tăng thân. Khi một cá nhân đưa ra cái thấy của mình thì phải ý thức rằng những người khác trong tăng thân đều có cái thấy riêng của họ, cái thấy của mình sẽ tới với cái thấy của họ, và sự va chạm đó làm nứt rạn cái thấy của mọi người. Cái thấy của mọi người đi qua một quá trình gọi là hóa thân (métamorphose), được thoát xác và đi lên. Chính mình cũng vậy, sau khi đã nói ra cái thấy của mình, đã tạo ra sự rúng động, nứt rạn trong cái thấy của người khác thì khi mình nghe một người khác nói ra cái thấy của họ, chính cái thấy của mình cũng bị va chạm, cũng bị nứt rạn. Khi ấy mình thoát ra được cái thấy của mình và đi tới một cái thấy cao hơn. Vì vậy trong buổi họp của tăng thân, điều mầu nhiệm có thể xảy ra, nhưng đó không phải là sự góp nhặt của tất cả những cái thấy, mà đó là làm cho một cái thấy siêu việt được thoát hình. Cái thấy đó thực sự là cái thấy của tăng thân, chứ không phải là cái thấy của từng người, hoặc gom góp tất cả cái thấy của mọi người. Cũng như trong vật lý nguyên tử, khi một chất điểm va chạm với một chất điểm khác sẽ tạo ra một chất điểm mới, cái đó gọi là sự va chạm giữa các chất điểm (collision between particles). Chỉ có trong những buổi gặp gỡ của tăng thân, với tinh thần mà trong truyền thống gọi là kiến hòa đồng giải, thì mới có thể xảy ra phép lạ đó mà thôi.

Tăng thân – một sáng tạo phẩm của tâm thức cộng đồng

Tăng thân là gì? Tăng thân là một sáng tạo phẩm của tâm ta, một sáng tạo phẩm chung của tất cả chúng ta. Tăng thân đó hùng tráng hay không, hạnh phúc hay không là do chúng ta. Vì vậy chúng ta phải có bổn phận sáng tạo và thiết kế một tăng thân cho thập đẹp, thật hùng, thật sáng. Bổn phận thiết kế, sáng tạo đó là bổn phận của mỗi người trong tăng thân, dù người ấy đang còn rất trẻ. Thiết kế tăng thân là công việc của chúng ta! Đức Thế Tôn dạy: “Tâm là họa sư”, họa sư có thể họa ra được tất cả mọi cái mà người ấy muốn. Tăng thân là một tác phẩm mà tâm ta sáng tạo, thiết kế. Chúng ta đã có những phương pháp thiết kế được trao truyền từ truyền thống và chúng ta phải tiếp tục sáng tạo thêm.

Thầy đã tham dự những buổi họp của tăng thân để thiết kế các khóa tu. Thầy đã ngồi như vậy ở xóm Thượng, xóm Hạ, xóm Mới, xóm Vững Chãi… và thầy thấy tăng thân làm việc rất đẹp. Có một cái bảng rất lớn và một người phụ trách viết bảng, trong buổi họp, từng người trong tăng thân đưa ra cái thấy của mình. Những cái thấy đó được ghi lên bảng, rồi những cái thấy khác tới và làm thay đổi cái thấy ấy. Khi ấy, những cái đã được viết trên bảng được xóa đi và được thay bằng những cái thấy mới. Nhưng không có nghĩa là cái thấy mới ấy sẽ đứng yên hoài cho tới cuối buổi họp, tại vì sau đó còn có thể có những cái thấy khác cao hơn, tốt hơn, sáng hơn. Rồi thì vị ghi bảng phải lấy khăn lau đi những cái đã viết lên bảng lần thứ ba, thứ tư ấy và từ từ như vậy, buổi họp đi tới một cái thấy chung của tăng thân và cái thấy đó giúp cho tăng thân thiết kế được khóa tu như là tăng thân thấy. Chúng ta đã làm như vậy, chúng ta đang làm như vậy và chúng ta sẽ tiếp tục làm như vậy. Càng ngày chúng ta sẽ càng làm hay hơn. Cho dù là một người thông minh, một người có kinh nghiệm, ta không thể nào tự mình thiết kế một khóa tu. Muốn thiết kế một khóa tu, ta phải nương vào tuệ giác của tăng thân.

Sống và thực tập như một cơ thể

Là những tế bào của cơ thể tăng thân, mỗi người trong chúng ta đều có một phận sự, đều có một niềm vui để đóng góp vào hạnh phúc, vào sự vững chãi của tăng thân, cũng như vào sự thành tựu ý nguyện của tăng thân. Sự thật là nếu chúng ta không sống được như một cơ thể tăng thân đích thực thì chúng ta không đi xa được trong sự nghiệp chuyển hóa tự thân, xây dựng tăng thân và phụng sự xã hội.

Tăng thân của chúng ta không phải là một trường đại học, nơi mà người ta tới ở một thời gian bốn năm, năm năm, sáu năm để được đào tạo, rồi sau đó mỗi người đi một phương để làm sự nghiệp riêng, để lo một tương lai riêng. Nếu chúng ta thiết kế một tăng thân như vậy thì chúng ta không đi xa được.

Chúng ta phải làm như thế nào để tăng thân trở thành một cơ thể, để chúng ta tiếp tục được nuôi dưỡng và ta cũng nuôi dưỡng được những người anh, người chị, người em của chúng ta. Nếu chúng ta có thể làm nên lịch sử, có thể nối tiếp được sự nghiệp cao quý của đức Như Lai là do chúng ta có thể sống, có thể thực tập được như một cơ thể tăng thân. Sống và thực tập như vậy, chúng ta thực hiện được những điều mà đức Thế Tôn mong ước, đó là vượt thoát cái vỏ bản ngã. Thực chứng được vô ngã là đạt tới tuệ giác, là hạnh phúc lớn nhất của người tu.

Tập thấy, tập hiểu những khổ đau của sư anh, sư chị, sư em của mình và giúp chữa trị những vết thương ấy, giúp cho người đó cười lên được, vui lên được, đó không phải là chuyện độ đời, giúp người, mà là chuyện đem lại hạnh phúc cho chính mình, chuyển hóa chính mình. Mình làm được như vậy là vì mình đã thấy được tính vô ngã của mình và những thành phần khác của tăng thân. Chính nhờ xây dựng tăng thân mà ta diệt trừ được ngã chấp. Đứng trên cái ngã riêng để diệt trừ ngã chấp thì không bao giờ chúng ta diệt trừ được ngã chấp.

Nếu chúng ta có những buổi pháp đàm trong khóa tu, chúng ta nên đề cập tới đề tài: “Thiết kế, nuôi dưỡng và làm mới tăng thân”, nghĩa là làm thế nào để sống cuộc sống hàng ngày, để tu tập và xây dựng tăng thân, để làm thỏa mãn nhu cầu hiểu biết và thương yêu trong ta với tư cách một cơ thể và bằng tuệ giác của một cơ thể, của một dòng sông.

 

Tình quê

Sống tình quê Bụt đản sinh
Việt Nam thương hiểu quê mình xưa nay
Con đường Bát chánh này đây
Là sống giáo dục gia tài tổ tiên
Từng giây tỉnh thức tinh chuyên
Mỗi giây rồi mỗi nối liền mọi nơi
Thường nhiên vật đổi sao dời
Người người rạng rỡ nụ cười tuổi xuân
Tình quê bát ngát xa trông
Buồn vui miên mật đơn thuần nhận ra
Đêm trường trăng sáng gần xa
Mang hương lúa mới nhà nhà nâng niu
Cơm thơm quyện khói lam chiều
Đêm ngày để ngõ dập dìu gió mây
Thở cười lên xuống nơi đây
Thảnh thơi dạo bước đong đầy hiểu thương
Nghe sâu bao nỗi đoạn trường
Tình am mây ngủ tỏ tường nhiêu khê
Tầm tay thanh thảnh tới về
Hoa thơm trái ngọt đề huề rong chơi
Xin cho chín chục triệu người
An nhiên giáo dục ca lời tình quê
Tình quê mầu nhiệm tình quê
Tình quê chim hót vọng về triều dâng
Tình quê đâu lại tìm đâu?
Tình quê nếp sống là nhau khắp cùng
Tình quê vô thỉ vô chung
Mà luôn biểu hiện trong dòng sát na
Rõ ràng hơi thở vào ra
Sạch làu ta với không ta hiện tiền
Việt Nam tâm địa vô biên
Sống giáo dục, Bụt mọi miền đản sinh
Sen sen biểu hiện đầm sen
Bùn ở đó sen mãn nguyền trao hương.
 
(Cúng dường Phật Đản 2558)
Pakchong 25.02.2014
 

Con đường tự do

Bạn trẻ thân mến,

Cuộc đời có nhiều nẻo, nhiều đường, nó thật phức tạp, khó chọn lựa, khó hiểu hết mỗi ngõ ngách, cho nên bạn có sự băn khoăn, lưỡng lự, nghi vấn, có lúc ngờ vực khi phải lựa chọn cho mình một con đường. Tuổi mới lớn, trong lòng tràn đầy năng lượng, ước mơ, hy vọng, bạn nào cũng muốn chọn cho mình một con đường đẹp, lý tưởng, có ý nghĩa, đem lại hạnh phúc cho mình, cho người thân và cho cuộc đời. Nhưng khi đối mặt, tiếp xúc và va chạm với thực trạng, bạn lưỡng lự không biết nên chọn con đường nào đây.

Con đường nào đẹp nhất, lý tưởng nhất cho bạn? Khó mà trả lời dứt khoát, bởi mỗi người có một ước mơ, một lý tưởng, một con tim rung cảm, một trình độ kiến thức khác nhau ảnh hưởng bởi sự giáo dục, tuổi thơ, môi trường, sự trao truyền, cách tiếp cận và học hỏi của bạn. Con đường ấy cũng tùy cách sống, cách tư duy, cách nhìn của từng người, và một điều đặc biệt quan trọng nữa là nền tảng động lực từ chiều sâu tâm thức, tiếng nói phát ra từ chính con tim bạn.

Trước khi chọn một con đường, bạn thong thả tự mình học hỏi, nghiên cứu, tìm đến với một con đường để trải nghiệm, thử đi trên con đường ấy mà đừng chỉ nghe ngóng lời đồn đãi, ca ngợi, mời gọi, bắt chước, hoặc bị người ta thuyết phục hay tuyên truyền. Con đường nào đây? Bạn tập ngồi cho lắng yên, thấy rõ động lực từ chiều sâu tâm thức, hay nghe tiếng nói sâu lắng từ tâm hồn. Con đường nào đây? Nghệ thuật, văn chương, hội họa, cách mạng, giáo dục, kinh tế, chính trị, gia đình, xuất gia…?

Con đường nào cũng có ý nghĩa riêng của nó, và cái lý tưởng, cái đẹp, cái lành không phải là đường này hay đường kia, mà là đích đến. Và nghệ thuật đi trên con đường ấy, nói rõ hơn là mục đích thẩm thấu của đời người và nếp sống của bạn mới quan trọng. Cho dù bạn chọn con đường nào đi nữa, thì điều kiện căn bản để thành công là bạn hãy lập chí, kiên trì, hiên ngang đi tới, bởi nẻo đi nào cũng có những chông gai, thử thách, hầm hố của nó.

Có nhiều bạn đã chọn cho mình một con đường, nhưng sau khi bước đi một thời gian, bạn nhận ra là mình đã chọn lầm đường. Đã lỡ đi rồi, đời đã dính nhiều cát bụi rồi, bạn tiếp tục cúi đầu lầm lũi bước tiếp dù biết con đường ấy không đưa bạn về với lý tưởng, về với cái đẹp mà bạn hằng mơ ước.

Có bạn học hỏi, truy tầm, nghiên cứu và khám phá ra một con đường thật đẹp về mặt triết lý, lý thuyết, mục đích, nguyên tắc, nhưng tới khi đi vào hành động cụ thể, nó hoàn toàn không thực tế, không thể áp dụng được. Kết quả thực nghiệm về con đường ấy, nó không đẹp như triết lý, lý thuyết được ca ngợi, nó đi ngược lại hoàn toàn với lý tưởng đẹp đẽ, cao thượng. Nói cách khác, nó là một con đường sai lầm, có thể gọi là con đường tồi tệ được tô điểm bởi màu sắc đẹp đẽ, cao thượng, tuyệt đỉnh bằng lý thuyết.

Có bạn sau khi tìm hiểu thật kỹ con đường vẫn còn lưỡng lự nên đi hay không. Con đường thì đẹp đấy, không có gì gọi là mơ hồ, nhưng nhiều người đi trên đường ấy lại không có hạnh phúc, đời sống của họ không tỏa ra hương sắc của cái đẹp. Bạn lưỡng lự là phải lắm.

Tôi chọn con đường xuất gia, và tôi đã đi trên đường này hơn một phần tư thế kỷ. Có thể nói với niềm tự tin là tôi chọn đúng con đường lý tưởng. So với chặng đường trước khi xuất gia, đời tôi có nhiều hạnh phúc, an vui, thảnh thơi hơn, dù có lúc đã đi ngang qua nhiều thử thách, lên xuống, tuyệt vọng, mặc cảm… Mỗi ngày, tôi vẫn thấy rõ đời sống này, con đường này có ý nghĩa, có lợi ích, có sự chuyển hóa, thăng hoa cho tự thân, gia đình, tăng thân và cuộc đời. Nói như thế, tôi không có ý muốn khoe khoang sự thành công của tôi, hoặc muốn ca ngợi con đường này. Đây chỉ là sự chia sẻ với các bạn trẻ đang còn băn khoăn trên đại lộ trăm lối của cuộc đời.

Không giống như nhiều tôn giáo khác, Bụt dạy đệ tử Bụt, xuất gia hay tại gia không nên tôn thờ một cái gì cả dù đó là giáo pháp của Bụt, không tôn thờ một ai cả dù người ấy là Bụt. Giáo pháp không phải chân lý mà là những con đường thực tập và Bụt không phải là đấng thần linh mà là bậc đạo sư, nghĩa là bậc thầy. Bạn thương quý Bụt bằng cách tiếp nhận, học hỏi và tập sống theo giáo lý, nghĩa là con đường mà Bụt đã chỉ dạy. Bụt không thể giúp bạn có được thảnh thơi, an ổn và hạnh phúc. Bụt cũng không thể giúp bạn chuyển hóa khổ đau trong khi bạn không nỗ lực gì cả. Điều này bạn có thể kiểm chứng được.

Lúc Bụt còn tại thế, vua Lưu Ly đã đem quân giết hại, tàn sát gần hết bộ tộc Thích Ca, là dòng họ, bà con của Bụt. Bụt có cố gắng ngăn cản nhiều lần, nhưng mối thù giữa họ quá lớn. Vậy, là đệ tử của Bụt mà bạn chỉ biết cầu xin Bụt như một đấng tối cao có thể ban phúc giáng họa cho bạn là bạn không hiểu được Bụt. Bụt là bậc thầy tìm ra con đường tự do, đi hay không đi là tùy mỗi người đệ tử. Cầu nguyện, tôn thờ chỉ là để nhắc nhở bạn sống theo lời Bụt dạy mà thôi. Nếu có tôn thờ thì bạn nên tôn thờ tự do.

Lý tưởng cao đẹp nhất của đời sống xuất sĩ là tự do. Giới luật chính yếu của người xuất sĩ là Pratimoksha. Chữ “Moksha” nghĩa là tự do. Chữ “Prati” nghĩa là từng bước, riêng biệt, tức là giữ giới nào thì có tự do giới đó. Không sát sanh thì không bị tù tội. Không trộm cắp thì không bị bắt bớ, đánh đập… Tự do là cắt đứt các sợi dây ràng buộc như hiểu lầm, vô minh, giận hờn, tham dục, lo sợ, nghi ngờ. Tự do là đập tan những ngục tù trói buộc, cố chấp, bế tắc, phiền não, giống như nhà tù được xây dựng lên từ ngàn kiếp, nay bạn phá vỡ tất cả kèo cột để thoát ra ngoài.

Giới luật là những giới điều, các nguyên tắc để bạn giữ gìn, bảo hộ, để cho các lậu hoặc đừng phát hiện thường xuyên làm tan nát đời bạn và gây khổ đau cho người chung quanh. Phiền não, lậu hoặc này có nguồn gốc từ các chủng tử đã huân tập từ vô lượng kiếp như giận dữ, ham muốn, nghi ngờ, thù ghét, ganh tỵ… Giới luật là những hàng rào bảo hộ thân tâm để bạn tiếp tục đi mãi trên con đường tự do. Tự do được diễn tả là cung thành thanh tịnh, giải thoát, và giới luật là những hàng rào bao bọc. Ai phá hàng rào giới luật thì người ấy đánh mất chân trời tự do.

Tự do này chỉ có thể làm bằng sức mạnh tâm linh của chánh niệm, thiền định và trí tuệ. Chánh niệm, chánh định và trí tuệ là ánh sáng nội tâm (clarity) chiếu vào tâm tư, tình cảm, nhận thức, nhờ đó bạn thấy rõ bạn đang bị kẹt ở đâu, bạn đang vướng bận gì, đang lo lắng gì, đang sợ hãi chuyện gì.

Chánh niệm là con đường tự do. Chỉ cần chú ý tới hơi thở hay bước chân, tâm bạn trở về với thân, thiết lập thân tâm trong hiện tại, và bạn tiếp xúc với sự sống mầu nhiệm. Đó là tự do. Bạn cảm được gió mát trên da thịt, nghe được tiếng chim hót vào buổi ban mai, ý thức rằng trái tim đang đập bình thường, bạn cảm thấy hạnh phúc đang còn đôi mắt sáng để nhìn người thương và thế giới màu sắc… Nếu chánh niệm kéo dài thì bạn thường sống trong chánh định và trí tuệ, nghĩa là tâm bạn bừng sáng, an trú vào những gì đang xảy ra nơi sự sống bên trong cũng như chung quanh. Đó là bao la, là tự do.

Bạn hãy thực tập thắp sáng ngọn đèn chánh niệm để giữ gìn ba nghiệp. Mỗi lời nói, mỗi hành động, mỗi suy nghĩ đều là dấu ấn in sâu vào mảnh hồn của bạn. Tuy tất cả các pháp đều thay đổi không ngừng, nhưng mỗi suy nghĩ, mỗi lời nói, mỗi hành động có ảnh hưởng sâu đậm tới phẩm chất đời sống của bạn và tác động tới những người chung quanh. Vui buồn đều do cách sống, suy nghĩ, nói năng của bạn, vì thế, đệ tử Bụt phải soi chiếu vào ba nghiệp. Lời nói nào, việc làm nào, suy nghĩ nào gây ra đổ vỡ, đem đến đau khổ, hiểu lầm, thì bạn phải ý thức rõ hành động ấy để dừng lại. Tự do có mặt từ năng lực thúc đẩy của ba nghiệp là thân, khẩu, ý.

Thời đại kỹ thuật tối tân này, con người tạo ra một hệ thống mạng lưới cực kỳ tinh vi mà vĩ đại. Ngoài những khám phá khoa học, kỹ thuật, công nghệ truyền thông tuyệt hảo đăng tải trên mạng lưới, con người còn đăng tải các chương trình, phim ảnh, sách vở không lành mạnh xuất phát từ sự thèm khát, dục vọng hoặc nhu yếu làm giàu của giới doanh nhân. Bởi thế đệ tử Bụt nếu không cẩn thận, không cầm lấy giới luật mà lạc vào các chương trình này thì coi như công trình tu học bấy lâu nay bị phá vỡ, giống như xây nhà trên cát, chỉ cần một đợt sóng biển thôi cũng đủ phá tan hết nhà cửa.

Các loại máy móc điện tử này cũng tạo ra nhiều khó khăn cho bạn. Ai cũng tìm mọi cách để có tiền mua sắm máy móc tối tân như iPod, iTouch, iPhone… Tới khi có máy tối tân và thuê bao mạng lưới rồi, bạn trở nên bận rộn. Máy móc, mạng lưới là các con nghiện không khác gì một thứ ma túy, chi phối hết thời gian, không gian, tâm tư của bạn. Càng đi vào cái ổ nhền nhện của mạng lưới, bạn càng khao khát nó, do thế càng ngày chất nghiền của bạn càng tăng. Nói như thế không phải chúng ta lên án khoa học kỹ thuật hay mạng lưới toàn cầu, nhưng vì thiếu kiến thức, thiếu bản lãnh, thiếu sự hướng dẫn, đa số tuổi trẻ vào mạng lưới đều bị lạc vào các chương trình giải trí không lành mạnh hoặc đọc tin tức không cần thiết cho đời sống tâm linh, đưa tới tâm trạng chán nản, u trệ, tối tăm, vì thế bạn không còn thích thú nơi sự thực tập hàng ngày như ngồi thiền, thiền hành, tụng kinh, bái sám, pháp đàm.

Người tu mà không tu tập chánh niệm, thiền định thì không phải là đệ tử Bụt, giống như ca sĩ mà không ca hát thì không phải là ca sĩ, họa sĩ mà không hội họa thì không phải là họa sĩ, bác sĩ mà không khám bệnh thì không phải là bác sĩ… Công phu thực tập hàng ngày là các món ăn tinh thần đã được Bụt, Tổ, Thầy chế biến, dọn ra thật ngon lành, và bạn có thể tùy ý chọn món nào thích hợp với khẩu vị của bạn. Nếu đệ tử Bụt mà không thực tập công phu tức là bạn tự bỏ đói nếp sống tâm linh, giống như thân thể không có thức ăn thì từ từ nó sẽ héo mòn, ốm yếu, bệnh tật.

Bạn trẻ thân mến! Chúng ta phải phát khởi phong trào thanh lọc thân tâm, cách mạng đời sống tâm linh của người đệ tử Bụt. Hãy tránh xa chúng bạn xấu ác, chỉ suốt ngày đam mê các trò chơi tiêu khiển, ăn uống, mê ngủ, chơi bời, bon chen, kiếm tiền… Không nên đem các dụng cụ điện tử về chùa hay phòng, không nên đem mạng lưới vào phòng, xóa bỏ và tẩy chay các sản phẩm không lành mạnh. Trong lịch sử chưa có một thế lực nào tàn phá tâm hồn người xuất sĩ bằng các trò chơi, phim ảnh, thông tin không lành mạnh từ mạng lưới và ti vi. Chúng là các cảnh giới của địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, a-tu-la chứa đầy dục vọng, thèm khát, bạo động, hận thù. Nếu cần liên hệ, truyền thông với quần chúng, chùa có thể có một máy tính nối mạng lưới chung, và đại chúng phải có nội quy dùng mạng lưới và máy tính để tránh tình trạng nghiện ngập hay tiêu khiển chương trình không lành mạnh.

Hãy trở về lắng nghe tiếng chuông linh thiêng mời gọi tâm hồn bạn đang phiêu bạt ở chốn u minh, thất niệm, khát vọng, bơ vơ, lạc loài. Bạn là đệ tử Bụt chứ đâu phải là cô hồn, ma quỷ sống vất vơ vất vưởng nào đâu! Bạn hãy trở về với mình, trở về với tỉnh thức, hãy bước ngay vào con đường tự do để thấy Bụt, Tổ và Thầy đang mỉm cười chào đón đứa con thất lạc bấy lâu nơi cõi u minh đen tối, nơi chốn trần gian đọa đày:

Nghe tiếng chuông
Lòng nhẹ buông
Tâm tĩnh lặng
Hết sầu thương
Tập buông thả
Thôi vấn vương
Lắng nghe thấu
Tận nguồn cơn
Học nhìn lại
Hiểu và thương.”

Đường đẹp là con đường của trái tim biết hiểu, biết yêu thương, biết tha thứ, biết cởi mở để bạn bước vào vùng trời bao la của tự do tâm hồn. Đẹp cách mấy mà không có tự do, thì con đường ấy chỉ là con đường cụt, con đường chết, chỉ đưa tới ngục tù giam hãm. Con đường tự do là sự thực tập với tất cả tấm lòng thiết tha. Bạn phải trở thành chú tiểu tập sự ngày xưa mới bước vào chùa được đi công phu tụng kinh, bái sám, chấp tác. Thời hành điệu là thời vàng son, thiêng liêng, trong sáng, là đỉnh cao tâm linh, bởi tâm hồn các điệu chỉ chứa đựng duy nhất một vị là vị cam lộ an lạc, thanh lương của giáo pháp.

Con đường đẹp là con đường tự do, tự do mỗi hơi thở, tự do từng bước chân, tự do trong mỗi tâm niệm cho đến tự do cuối cùng, tức là thân tâm hoàn toàn lặng lẽ, an nhiên, thanh thoát mà kinh gọi là Niết bàn, và tôi gọi là bao la, lặng lẽ.

 

 

Vườn ươm

Đơm bông kết trái

“Tới nơi rồi sư cô ơi!”. Anh Châu Thương cười vui vẻ, ánh mắt sáng trưng niềm hân hoan. Tôi có cảm giác anh còn mừng hơn tôi. Đây là nhà anh hay nhà tôi nhỉ, có gì mà vui quá vậy? Lạy Bụt, dù sao cũng cám ơn anh lắm lắm! Nhờ sự nhiệt tình của anh, nỗi mệt nhọc ê ẩm vì đi xa của tôi không ai hái mà cũng tự động rơi rụng đâu mất. Đầu óc còn choáng váng một chút, tôi bước xuống xe như người mộng du.

“Đây là đâu vậy?”, tôi hỏi.

“Dạ, tăng xá đó sư cô”. Anh Châu Thương nhanh nhảu.

Hơn sáu giờ rưỡi tối, cảnh vật nhá nhem, tăng xá đã lên đèn. Tôi tựa lưng vào một tảng đá, thở cho no căng phổi không khí của núi rừng, “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”. Tôi thầm thì một mình: “Về nhà thật rồi đó, sướng không?”.

“Ui chao, chào hai O. Trời ơi, răng mà ốm dữ ri?”. Giọng thầy Trung Hải giòn tan như bắp nổ. Chưa kịp chắp tay chào thầy cho đúng lễ thì đã bị thầy tịch thu hai cái ba lô to như núi, chỉ chờ lỡ tay rơi xuống là bung ra cho nhẹ một kiếp gánh mang. Sau khi “tài sản” đã được tình huynh đệ “ga lăng” đúng lúc, tôi lấy lại thăng bằng. Đến lúc này tôi mới thấy anh Hai tôi nói có lý: “Sư cô đi tu mà sao nhiều giỏ, nhiều thùng như đi buôn vậy?”. Ngoài tấm thân ba mươi tám ký lô, đồ đạc lỉnh kỉnh gần cả trăm ký. Phần thì người này gởi, người kia nhờ… mang giùm. Toàn là ân tình cả không nỡ để sót cái nào. Cộng thêm tôi nghe “đồn” tu viện bên này thảm lắm, toàn đá với cỏ, nắng cháy da luôn, là “trung tâm tàn phai nhan sắc số một thế giới”, thêm nữa tiền túi không đủ gọi điện cho thân mẫu vấn an sức khỏe mỗi tháng. Rồi nào là rắn, rít, bò cạp, bù mắt… Đổi trung tâm tu học mà tôi cứ cảm tưởng như mình đi kinh tế mới. Đùm đề bình nấu nước, túi ngủ, võng, dù, đèn pin, đèn học, bao tay, giày dép, bánh kẹo, trà, sữa các loại, tất tần tật, không sót thứ gì.

Tới nơi tôi mới thấy mình thật khờ, ai nói gì cũng tin. Nhưng dù sao trong cái rủi cũng có cái may. Khờ khờ vậy lại hay. Nhờ khờ khờ mà bây giờ niềm vui của tôi không thể nào diễn tả được. Tu viện Thái Lan đẹp quá. Và điều quan trọng là tôi đã về nhà. Nhà tôi thật đẹp, thật giản dị.

Tôi và sư em Hạ Nghiêm thưởng cho mình một ngày ngủ khì thật thảnh thơi. Chiều hôm sau, sư chị Khải Nghiêm dẫn hai chị em đi thăm một vòng quanh tu viện. Thả bộ chậm rãi trên con đường đất đỏ hiền lành, lòng tôi bỗng thấy bình yên lạ. Lặng lẽ bước đi cho Thầy, trên mỗi bước chân tôi vẫn như nghe đâu đây lời Thầy dặn dò mình thật khẽ, thật nhẹ nhàng: “Mỗi bước chân con đi, con hãy đi cho thầy. Thầy không về được thì con về cho thầy. Nơi nào con đến là nơi đó thầy đến”. Tôi biết Thầy đã đến, đã đặt dấu ấn tin yêu và hạnh phúc trên mảnh đất này. Các anh chị em đi trước tôi cũng đã một lòng chung tay xây dựng tịnh độ nơi đây. Bao nhiêu bàn tay chai sạn, bao nhiêu mồ hôi lao tác, và cũng bao phen khóc cười lên xuống cùng nhau. Để giờ đây tình thương đã trở thành bóng mát xanh tươi vẫy gọi chim chóc quay về. Trong chúng tôi, nào có ai biết ai đã hẹn ai để cùng về đây chung cuộc vui này. Tôi thấy ai cũng lạ, cũng quen, cũng ngăm ngăm và… cũng đẹp. Anh chị em tôi cả, vậy mà vẫn thấy ngỡ ngàng khi gặp nhau. Ôi, có phép lạ nào đã đưa chúng ta về bên nhau. Phép lạ nào?!

“Uyển Nghiêm và Hạ Nghiêm biết đây là đâu không? Chỗ này gọi là thiền đường Vách Núi. Vì vách nó là núi nên gọi là thiền đường Vách Núi, đơn giản chỉ có vậy”. Sư chị Khải Nghiêm nheo mắt cười cười.

Sư em Hạ Nghiêm cùng tôi đến lạy “ra mắt” Bụt và tiện thể xin phép Ngài cho “ăn nhờ ở đậu” lâu dài ở đây luôn. Bụt không nói gì, chỉ mỉm cười, vậy là được rồi. Mừng quá!

Lúc ở Làng tôi thường nghe các anh chị em Thái Lan kể về bác Pu-lư, vị thí chủ đã về hưu sau bao nhiêu năm phục vụ cho hoàng gia trong cương vị cảnh sát trưởng một quận của Bangkok, chuyên ngành chống tham nhũng, đã cưu mang mấy chục sư cô trong suốt ba năm tại khu đất vườn của bác sau sự cố Bát Nhã gần cuối năm 2009. Chắp nối từ chuyện này qua chuyện nọ xoay quanh bác Pu-lư, trong đầu tôi tự động vẽ vời ra hình ảnh về bác, một người dễ thương như… “trái sầu riêng”, bề ngoài có vẻ xù xì gai góc, nhưng bên trong thì rất tươi mát ngọt ngào. Khi tôi đến Thái, đại chúng đã dọn sang đất mới. Thấy tôi cứ mơ mộng mong về thăm bác Pu-lư và khu vườn cổ tích của bác, sư em tri khố động lòng cho tôi một vé đi ké xe tri khố về vườn bác Pu-lư hái nhãn. Leo lên xe “xỏn thẻo”, tôi mới thấy mình thật sự nhập quốc tịch Thái. Ngồi trên xe mà cứ ngỡ đang ngồi trên lưng ngựa, xe phi như bay bất chấp ổ gà ổ vịt trên đường. Bụi bay mù mịt, dù đã đeo hai lớp khẩu trang vẫn không thấm thía vào đâu.

Đúng là “trăm nghe không bằng một thấy”, vừa tới nơi, bác Pu-lư đã tươi cười ra đón chúng tôi. Dáng người đen đen nhỏ nhắn, nhưng rắn rỏi, cương nghị, và nụ cười ấm áp của bác đã làm cho “trái sầu riêng” của tôi rớt cái độp. Thần tượng của tôi đây rồi. Vị Bồ tát Cấp Cô Độc đã dang tay ôm ấp anh chị em tôi trong gian đoạn cực kỳ khó khăn và cần sự giúp đỡ nhất. Sau pháp nạn Bát Nhã, các anh chị em phải phân tán đi nhiều nơi. Cho dù bồ đề tâm mạnh mẽ nhưng không an cư thì cũng khó mà lạc nghiệp được. Trên đất khách quê người, bác đã “nhường cơm sẻ áo”, nhường luôn cả nhà cửa, phòng ốc, vườn tược cho các anh chị em tôi từng bước xây dựng lại “cơ đồ”. Tuy thuở ban đầu hàn vi như thế nhưng không ai ca thán gì. Nhà tranh vách nứa được dựng lên, gieo hạt tưới tẩm rồi lại có vườn rau xanh mát. Lâu lâu thấy đói lại rủ nhau ra vườn hái me, chặt dừa khô ăn lót lòng vẫn vui. Rồi Sư Ông sinh thêm con, nhà đông hơn, vui hơn. Các sư anh, sư chị vừa “tị nạn” vừa “bồng em” vậy mà vẫn vui, vẫn hạnh phúc, vẫn muốn có thêm em. Nghĩ cũng lạ!

Thấy cay cay nơi sống mũi, biết triệu chứng khóc nhè sắp xuất hiện, tôi quay đi chỗ khác thôi không nhìn bác. Tôi đang đứng trên đất Thái như một giấc mơ. Có lẽ nhờ ngày xưa Thầy đã có cái nhìn độ lượng với những người hải tặc Thái Lan khi họ cướp bóc và hãm hiếp thuyền nhân Việt Nam. Cái nhìn bao dung đó của Thầy đã được thể hiện qua bài thơ Hãy gọi đúng tên tôi. Thầy đã gieo một hành động tha thứ, bao dung, không kỳ thị và bây giờ, đàn con của Thầy được hưởng. Hơn nữa, Thái Lan là đất nước lấy Phật giáo làm quốc giáo cho nên khi họ thấy giúp đỡ, cưu mang các thầy, các sư cô là chuyện không thể không làm, họ đã làm với tất cả lòng kính mến độ lượng. Tất cả đều là huynh đệ một nhà, đều là con của Bụt. Họ thương quý Thầy, thương quý công hạnh của Thầy. Họ thấy Thầy là nhân vật nổi tiếng, đã có công lớn trong việc truyền bá và phát triển đạo Bụt vào thế giới phương Tây. Vì vậy trong lúc gian nguy nhất, chúng tôi đã được cưu mang ngay trên đất nước này. Tình huynh đệ là điều đang có thật. Rất thật.

Bác Pu-lư là một biểu tượng trong vô vàn những tấm lòng quảng đại trên khắp năm châu đang hướng về ủng hộ chúng tôi. Không phải người cư sĩ nào cũng may mắn có một đời sống thoải mái, dư dả. Chúng tôi biết có những người cư sĩ tuy cơm phải chạy lo từng bữa, nhưng vẫn chắt chiu dành dụm để góp phần vào công trình xây dựng tu viện. Những ân tình đó làm sao có thể quên, làm sao mà nói cho hết được.

Ổn định nề nếp

Lòng biết ơn nuôi lớn tình thương, mà tình thương thì không thể tách rời hành động. Sang đất mới, có môi trường thoáng đãng, tăng xá, ni xá đàng hoàng. Mỗi đêm ngủ không còn lo mưa dột, không còn lo phải bị đánh thức để kê khai hộ khẩu, lý lịch như lúc ở Bát Nhã, cơm canh đầy đủ, tươm tất. Các sư anh, sư chị lớn đã ngồi lại cùng nhau tổ chức mô hình sinh hoạt tu tập một cách hệ thống và có hiệu quả hơn. Các lớp học nội điển được sắp xếp phù hợp theo từng độ tuổi tu. Các lớp ngoại ngữ như tiếng Anh, tiếng Thái cũng đạt được nhiều tiến bộ thấy rõ. Các sư chú, sư cô phần lớn đều là người trẻ, độ tuổi từ mười lăm đến hai mươi lăm nên việc học có phần dễ dàng, tiếp thu nhanh. Số lượng xuất sĩ ở Thái Lan đã tăng nhanh, gần 200 vị.

Chỉ trong vòng hai năm song song với các công trình xây dựng nhà bếp, lớp học, nhà ở cho cư sĩ, trồng cây, san bằng và rải sỏi các con đường thiền hành… các vị giáo thọ vẫn luân phiên đi giảng dạy các khóa tu ở nước ngoài theo nhu cầu tu tập của các tăng thân như Hồng Kông, Malaysia, Indonesia, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc, Bhutan, Ấn Độ… Người dân Thái Lan cũng đã dần quen với hình ảnh áo nâu nón lá của đạo Bụt dấn thân Làng Mai. Trung bình mỗi năm đều có hai khóa tu lớn cho người Thái được tổ chức tại các khu nghỉ dưỡng. Hai khóa tu này dành cho gia đình và số lượng thiền sinh tham dự rất đông, khoảng 600 đến 700 người. Ai cũng tiếc bởi chưa thể tổ chức khóa tu trong tu viện vì điều kiện cơ sở còn hạn chế, không có đủ chỗ ở và nhà vệ sinh đàng hoàng. Hy vọng trong tương lai gần, khi điều kiện tương đối hơn, người dân Thái sẽ có cơ hội tận hưởng một khóa tu tròn đầy trong khung cảnh tu viện trang nghiêm.

Khóa tu người Việt

Khóa tu vui nhất mà cũng “đau đầu chóng mặt” nhất là khóa tu cho người Việt. Bà con mình ham tu thấy mà thương. Biết tu viện còn nghèo nên phải “liệu cơm mà gắp mắm”. Dự định số lượng thiền sinh tối đa không quá 350 vị, để việc ăn uống, ngủ nghỉ, tu tập được thong thả, chu đáo và ổn định. Ấy vậy mà bà con cứ kéo nhau qua. Có người tới sân bay Thái Lan rồi mới năn nỉ: “Khó khăn lắm con mới sắp xếp được tới đây, quý thầy, quý sư cô cho con tu với. Con ngủ dưới gốc cây cũng được”. Người khác kéo áo quý sư cô: “Con mới vừa đọc thông tin trên mạng, biết là trễ rồi nhưng con vẫn quyết định nghỉ việc để đi “tu”. Con cần tìm lại chính mình”. Đến lúc này thì hai bên chỉ còn biết nhìn nhau cảm cảm thông thông rồi dắt nhau về tu viện tính sau. Khóa tu ban đầu dự tính cho 350 người, cuối cùng số lượng thiền sinh tăng lên gần 700. Tội nghiệp ban tổ chức, chạy đông chạy tây thuê chỗ cắm trại, cắm lều, thuê nhà vệ sinh di động, thuê bàn, thuê ghế… Thái Lan thời tiết nóng gắt, thức ăn lạ, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn. Quý thầy, quý sư cô cứ lo mọi người đổ bệnh thì nguy. Bà con thu xếp khó khăn lắm mới có được vài ngày qua đây tu tập, bệnh rồi thì biết làm sao. Ôi, lo cũng chẳng giải quyết được gì, thôi thì nhờ chư Bụt, chư Tổ lo giùm chúng con. Vậy mà không ngờ khóa tu thành công ngoài mong đợi, bà con ai cũng đạt được nhiều chuyển hóa và hạnh phúc. Kết thúc khóa tu không ai muốn về, cứ bịn rịn hứa hẹn năm sau chúng con sẽ sang tu tiếp, chúng con sẽ nhớ quý thầy, quý sư cô lắm lắm.

Khóa tu Wake Up quốc tế châu Á

Tạm biệt khóa tu người Việt, lại bắt tay chuẩn bị cho khóa tu Wake Up, khóa tu dành riêng cho những người trẻ. Tuổi trẻ năng lượng trẻ, khóa tu thật là “trẻ”, vui và sáng tạo. Cảnh tượng hơn cả trăm bạn trẻ quỳ xuống tiếp nhận Năm giới thật xúc động và nuôi dưỡng. Tôi còn nhớ trong gia đình pháp đàm của tôi, không hẹn mà có đến bốn bạn trẻ cùng quyết định xin nghỉ việc một lần qua tham dự khóa tu. Ngạc nhiên tôi hỏi: “Các bạn không sợ đi khóa tu về lỡ chẳng xin được việc làm tốt như trước thì sao, có tiếc không?”. Các bạn cười: “Lúc đầu tụi con cũng hơi run vì quyết định liều lĩnh này, nhưng sau vài ngày tu học thì thấy mình đã quyết định đúng lúc. Cuộc sống có quá nhiều áp lực, lúc nào tụi con cũng phải tiến lên, lao tới như một mũi tên, đôi khi không còn biết mình là ai, mình đang đi tìm cái gì nữa. Tụi con cần một tiếng chuông để dừng lại, để hiểu mình rõ hơn”.

Sau khóa tu, có một bạn trước khi về đã gởi tặng tôi một đôi giày, kèm theo một vài câu viết vội trên giấy: “Cám ơn sư cô đã chăm sóc và hướng dẫn cho chúng con tu tập. Con thấy mình thật may mắn vì đã có Năm giới làm kim chỉ nam trong cuộc sống. Con xin thực tập giới thứ hai “chia sẻ tài vật”, xin được tặng sư cô đôi giày”. Nhìn đôi giày tím ngắt có đế màu cam sáng choang, tôi bật cười vì biết thế nào rồi cũng sẽ bị chọc te tua. Sư cô ai lại mang giày màu tím. Mỗi chiều vào giờ thể dục, tôi xỏ đôi giày tình tang đi bộ mà thấy ấm áp một niềm vui khó tả. Tôi vui không phải vì “của cho không”. Tôi vui vì trên mỗi bước chân, tôi không đi một mình. Bạn bè tôi ở khắp nơi. Chúng tôi có thể khác nhau về ngôn ngữ, màu da, văn hóa, nhưng chúng tôi đang đi chung trên một con đường. Con đường chân thiện. Ai cũng muốn sống tốt hơn, đẹp hơn mỗi ngày.

Khóa tu tăng thân quốc tế châu Á

Hàng năm vào dịp Giáng sinh và tết Tây, Làng Mai Thái Lan lại tổ chức khóa tu dành cho các nhóm tăng thân châu Á gồm các nước Thái Lan, Malaysia, Hồng Kông, Singapore, Nhật Bản, Philipine, Indonesia, Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc. Năm nay khóa tu được tổ chức trong thời điểm mát mẻ nhất của năm, và thiền sinh ai cũng hạnh phúc. Có khoảng 270 người tham dự khóa tu trong đó có khoảng 60 người đến từ Trung Quốc. Khóa tu năm nay có chủ đề là Bốn Pháp Ấn của Giáo lý Làng Mai. Thiền sinh đã chuyển hóa rất nhiều. Ngoài ra còn có các khóa tu nhỏ khác như khóa tu Chánh niệm trong lãnh vực Y khoa (Health Care Retreat) dành cho bác sĩ và y tá, khóa tu dành cho giới giáo chức, cho giới doanh nhân, cho học sinh, cho các em thiếu niên, thiếu nhi, chương trình xuất gia gieo duyên ba tuần dành cho các cháu thiếu niên, chương trình xuất gia ba tháng dành cho giới thanh niên Thái… Người lớn tu, con nít cũng được tu. Thầy cô giáo, bác sĩ, y tá cũng được tu. Thiền sinh Tây phương về tu cũng mỗi ngày mỗi đông. Tu có gì vui mà sao ai cũng thích? Cái này thì khó chia sẻ lắm, chỉ có tự mình đến để thấy, tự cảm nhận thôi. Không nói được đâu. Về đây, tôi không ngờ Làng Mai Thái Lan lại phát triển nhanh đến thế.

Ở xứ Tây tôi thích nhất là thiên nhiên, bốn mùa rõ rệt. Mùa xuân trăm hoa đua nở làm người ta khó mà buồn lâu được. Mùa hạ trái cây lúc lỉu trên cành, nhìn thôi cũng đã no mắt rồi. Mùa thu lá chín vàng rực núi đồi. Người không biết chữ bỗng dưng cũng thích làm thơ. Mùa đông tuyết rơi êm đềm, Lọ Lem chốc lát đã trở thành Bạch Tuyết. Thái Lan thì chỉ có hai mùa nắng mưa, mưa ít quá, có khi mùa đông mà trời vẫn nắng chang chang. Tôi đâm ra quên bẵng ngày tháng.

Tết đến hết năm hồi nào tôi cũng không hay. Tháng Mười hai này, chúng tôi lại có thêm các sư em mới. Các sư em cây Đan Mộc. Nhìn các sư em tuổi mười lăm, mười sáu lụng thụng, lúng túng trong bộ áo nhật bình ngày mới xuất gia, tôi lại thấy tôi của những ngày xưa, cũng ngô nghê hồn nhiên như thế mà lớn lên. Ăn hết bao nhiêu cơm gạo của tăng thân rồi, tôi vẫn không cao, không mập thêm được tẹo nào. Chỉ có bồ đề tâm là lớn lên, vững vàng theo năm tháng. Là sư chị thương các sư em đã đành, nhưng mỗi khi nhìn các sư anh, sư chị tôi thấy mình thật may mắn. Thầy chúng tôi đã và đang biểu hiện trên đời một cách mầu nhiệm. Nhưng tôi ý thức rõ Thầy cũng vô thường như bao hiện tượng khác trên đời. Các sư anh, sư chị là một trong những gia tài lớn nhất mà Thầy trao gởi cho chúng tôi. Những người đi trước đã gánh vác những công việc nặng nhọc, đã thay Thầy chăm sóc và dạy dỗ chúng tôi.

Ngày cuối năm, được ngồi quây quần trong thất Nhìn Xa của Thầy, ấm áp bên chén trà thơm, huynh đệ thật sự có mặt cho nhau. Sư em Tuyết Nghiêm và tôi, hai đứa nhỏ được theo phụ sư mẹ Quy Nghiêm tổ chức thiền trà, nên cũng được tham dự vào không khí chung. Các anh chị mỗi người một phương tụ hội về, người thì ở Đức, người thì từ Hồng Kông, Việt Nam, Thái Lan. Có người gần cả chục năm trời mới gặp lại. Niềm vui thắp sáng trong từng ánh mắt, nụ cười. Sư em Tuyết Nghiêm hát tặng các sư anh, sư chị, giọng đơn giản mộc mạc:

“Chiều hôm nay đến đây

Chén trà ấm tình đệ huynh

Thầy ngồi đó, thất Nhìn Xa mở ngõ

Trong phút giây tình đong đầy…”

Thương chúc các anh chị em tôi dù đang ở đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng đều tìm được những niềm vui để sống, dù nhỏ nhoi khiêm tốn. Hãy vui, để rồi mình lại cùng nhau leo đồi thế kỷ. Trời hôm nay rất xanh và nắng vẫn còn đẹp lắm. Đẹp lắm!

 

Vững cánh chở niềm tin

Ngày 01.12.2015, tại Làng Mai đã diễn ra lễ xuất gia của gia đình Cây Đan Mộc (Red Wood), 10 em được xuất gia tại Làng và 9 em được xuất gia tại Thái Lan. Sau lễ xuất gia, BBT đã có một buổi ngồi chơi với 8 cây Đan Mộc tại Làng (hôm ấy có hai cây Đan Mộc bận… nấu ăn). Đến từ nhiều quốc gia khác nhau: Ái Nhĩ Lan, Ý, Hòa Lan, Pháp, Úc, Đức, Indonesia và Việt Nam, không hẹn mà gặp, những người trẻ chung lý tưởng này đã tìm về dưới mái nhà tâm linh để cùng đi trên con đường của hiểu biết và thương yêu. BBT xin được chia sẻ nội dung buổi trò chuyện.

 

BBT: Các sư em cảm thấy như thế nào khi Thầy không được khỏe và không có mặt ở Làng gần như trong suốt thời gian các sư em tập sự xuất gia? Sự vắng mặt của Thầy có ảnh hưởng gì đến sự thực tập hay chí nguyện của các sư em không?

Sư chú Trời Đạo Lực (người Việt): Ngày con lên máy bay để sang Pháp, các bạn trong Gia đình Phật tử đã hỏi con một câu tương tự. Khi đó con trả lời vui là Bụt đã tịch hơn 2600 năm rồi mà người ta vẫn phát tâm thực tập những lời Bụt dạy. Tại vì giáo nghĩa Bụt dạy rất cụ thể và phù hợp với mọi người. Trong lòng con thầm nghĩ: Thầy đã trao truyền rất nhiều pháp môn để tu học, vì vậy khi xuất gia, mình nương tựa vào pháp môn và vào pháp thân của Thầy để thực tập. Những lời Thầy dạy rất thực tế và phù hợp với xã hội hiện nay. Con đến Làng đúng vào lễ Tự tứ kết thúc mùa An cư kết Đông năm 2014 – 2015. Đó là lần đầu tiên con nghe nói đến “Tăng thân là sự tiếp nối của Thầy”. Con thấy đó là sự thật, bởi vì trong một năm con ở đây, con không chỉ học hỏi rất nhiều từ Thầy mà còn từ đại chúng. Vì vậy con không lo lắng lắm khi Thầy không có mặt trực tiếp để chỉ dạy cho chúng con.

Sư cô Trăng Tĩnh Mặc (người Indonesia): Thực sự, khi đến Làng, con chưa biết nhiều về Thầy, cũng chưa đọc nhiều sách của Thầy. Con thấy Làng Mai qua quý thầy, quý sư cô từ trung tâm Làng Mai Thái Lan đến Indonesia để hướng dẫn khóa tu. Lần đầu tiên tiếp xúc với quý thầy, quý sư cô, con đã có nhiều cảm mến. Tuy con không biết Thầy là ai, nhưng nhìn quý thầy, quý sư cô, con thấy rất muốn được tham dự vào tăng đoàn. Khi quyết định đến Làng, con nghe nói Thầy bị bệnh. Ở Indonesia, người ta còn đồn là Thầy đã viên tịch. Nghe tin đó, con buồn lắm. Tuy thế con không lấy đó làm trở ngại, bởi vì con muốn gặp tăng thân. Ở Indonesia, có được một tăng đoàn đông đảo như tăng đoàn Làng Mai là rất hiếm. Vì vậy con đến đây không phải vì Thầy mà vì sự tiếp nối của Thầy. Quý thầy, quý sư cô trong chuyến hoằng pháp tại Indonesia là những người rất đẹp, rất vui tươi và đã tạo cho con rất nhiều cảm hứng.

Sư chú Trời Đạo Sơn (người Pháp): Khi con tới Làng Mai lần đầu vào tháng 10 năm 2014, Thầy không có mặt ở Làng. Lúc đó con ở Sơn Hạ và hoàn toàn chưa biết gì về Làng Mai. Lần đầu tiên tiếp xúc với tăng thân, con đã bị tăng thân chinh phục. Vì thế con không bị ảnh hưởng nhiều khi nghe tin Thầy bệnh nặng, thậm chí có thể viên tịch. Khi đó đang là mùa An cư kết Đông, có khoảng 60 vị cư sĩ nam đến an cư suốt ba tháng tại xóm Thượng. Đại chúng không có chọn lựa nào khác là phải tiếp tục đi tới dù cho bất cứ chuyện gì có thể sẽ xảy ra với Thầy, khi ấy ai cũng nương vào nội lực của mình để đóng góp cho đại chúng. Mỗi tuần đều có tin về Thầy nhưng vẫn không thể biết là chuyện gì sẽ đến. Đại chúng chỉ có thể lên kế hoạch cho từng tuần một. Quý thầy, quý sư cô và tất cả thiền sinh ai cũng thực tập hết lòng để yểm trợ tăng thân và để tiếp nối Thầy, để tăng thân vẫn tiếp tục đi tới. Con rất cảm động khi thấy điều này. Mỗi lần nhớ lại, con đều thấy có nhiều cảm hứng. Chúng ta cứ tiếp tục đi tới thôi. Thầy đã lớn tuổi. Dù sau này Thầy có bình phục, chúng ta vẫn phải tiếp tục thôi. Giờ đây con là một sư chú trẻ, con đã trở thành một thành phần của sức mạnh đi tới đó.

BBT: Chấp nhận là chìa khóa của sự thành công khi sống trong tăng thân. Các sư em thực tập như thế nào để chấp nhận những gì chưa hoàn hảo, những khác biệt và đa dạng về văn hóa trong tăng thân?

Sư chú Trời Đạo Quy (người Úc gốc Việt): Trước khi đến Làng Mai con có xem pháp thoại của Thầy trên Youtube và một số video clip giới thiệu về Làng. Khi nhìn thấy Thầy và hình ảnh rất đẹp của mùa xuân, con nghĩ là người làm phim đã chọn những hình ảnh đẹp nhất để trình bày. Khi con mới tới Làng và chạm với thực tại, con nhận ra rằng những tri giác mà con có về Làng chỉ là qua các video clip. Con chưa thực sự hiểu về tăng thân. Cách mà con đối trị với những gì chưa hay trong tăng thân là đi vào phòng và… đấm vào bao cát (cười). Con nói đùa vậy thôi chứ thật sự càng sống và thực tập lâu trong đại chúng, con càng thấy vui hơn, thấy những điểm hay, điểm đẹp của đại chúng nhiều hơn. Con vẫn còn thấy những khiếm khuyết, tuy nhiên những cái đó không làm con kém vui hay đánh mất mình. Những lúc con thực tập không giỏi, không đối trị được với những khó khăn từ trong lòng mình là những lúc con nhìn ra ngoài và chỉ thấy những điều tiêu cực rồi khởi tâm bực bội. Khi đó con quay trở lại chính mình, đi theo thời khóa, không tách mình ra khỏi sinh hoạt của đại chúng để nuôi dưỡng chính con. Ba sự thực tập căn bản giúp con là hơi thở, bước chân và ăn trong chánh niệm.

Sư chú Trời Đạo Phương (người Ý): Con nghĩ khi mình có một tâm bồ đề thật sự mạnh mẽ thì nó sẽ giúp mình vượt thắng những khó khăn. Thầy Kai Li có nói rằng khi mình đang đau khổ, mình hay có khuynh hướng nhìn thấy những điểm tiêu cực của tăng thân và của huynh đệ. Khi ấy, mình nên ý thức đến những cái đẹp đã có sẵn trong đại chúng. Ở Làng Mai, chúng ta đang thật sự có tình huynh đệ. Nếu so sánh tăng thân với những gì đang xảy ra ở ngoài đời, mình sẽ thấy tăng thân thật sự đã quá đẹp. Đây là điều mà con luôn ghi nhớ khi có khó khăn.

Sư chú Trời Đạo Hành (người Hà Lan): Thực tập chấp nhận những gì chưa hay nơi người khác cũng vui lắm. Bởi vì nếu tất cả mọi thứ đều hoàn hảo thì một ngày như mọi ngày, dù mình đang ở thiên đường thì cũng chán lắm. Vì vậy những khác biệt giữa mọi người đem lại nhiều lý thú. Con nghĩ ai cũng có những cái đẹp riêng, cho nên mình cần để tâm đến những cái đẹp hơn là cái chưa đẹp. Nếu con quá để ý tới những gì chưa hay của người khác thì có lẽ chính con mới có quá nhiều những cái chưa hay.

Sư chú Trời Đạo Sinh (người Pháp): Con nghĩ vấn đề của con là làm thế nào để nhận diện sự đòi hỏi của mình đối với người khác. Đây là thực tập chủ yếu của con trong mùa An cư năm nay. Con nhớ có một lần trong gia đình tập sự của chúng con đang có khó khăn, khi ấy, con chỉ thấy những điểm tiêu cực của mọi người mà thôi. Con chia sẻ với Y chỉ sư, cố gắng không nói về các huynh đệ của mình một cách tiêu cực mà chỉ chia sẻ cái thấy của mình. Y chỉ sư của con lập tức nói: “Em biết không, em có một gia đình tập sự rất tuyệt vời, rất hòa điệu và yểm trợ nhau. Chúng ta có thể tin tưởng lẫn nhau.” Ngay khi đó con không thấy mình được lắng nghe và được hiểu. Vài ngày sau, khi sự căng thẳng đã lắng xuống, con thấy hình như Y chỉ sư của mình đã nói đúng, thầy đã cho con một câu trả lời rất hay. Chúng con là một gia đình nói chung khá hòa hợp, tuy lúc xảy ra chuyện thì con khó mà thấy được điều đó. Chỉ khi con bình tĩnh lại, con mới thấy cái hòa hợp, cái đẹp ở đó. Thỉnh thoảng mới có một chút chuyện và điều đó là rất bình thường. Thực tế thì không có gì là như con nghĩ. Tri giác của con và thực tại là hai cái hoàn toàn khác nhau. Sống trong tăng xá, con rất cảm động trước cách sống của quý thầy. Ở đây tình huynh đệ rất mạnh mẽ, rất rõ ràng và rất thật. Dù thực tại không hoàn hảo, nhưng đó là sự liên hệ thật sự giữa con người với con người, từ trái tim đến trái tim. Điều ấy làm cho con dễ đến và chấp nhận mọi người hơn bởi vì chính con cũng có những điểm chưa toàn hảo. Con cần phải luôn luôn ghi nhớ điều này.

BBT: Từ khi đến với tăng thân, có những hình ảnh, những kỷ niệm đẹp nào mà mỗi khi nghĩ đến, các sư em cảm thấy được nuôi dưỡng và được tiếp thêm sức mạnh để đi qua những giai đoạn khó khăn trong đời sống tu học?

Sư chú Trời Đạo Quy: Đó là khi con gọi điện về nhà qua Skype để chia sẻ những niềm vui trong sự tu học của mình với ba mẹ. Con cảm thấy sự có mặt của con ở Làng Mai đã có một ảnh hưởng tích cực đến ba mẹ, dù đó chỉ là những thay đổi nhỏ. Con chưa bao giờ thấy ba mẹ vui như vậy khi nói chuyện và thấy mặt con qua Skype. Con thương ba mẹ con rất nhiều. Tình thương ấy dù vẫn còn có sự vướng mắc và phân biệt, nhưng nó mang lại cho con một nguồn năng lượng lớn trên con đường chuyển hóa. Con ý thức rằng con đang tu cho chính mình và cũng đang tu cho ba mẹ. Ba mẹ và con không phải là những thực thể riêng biệt. Vì ba mẹ, con có thể làm bất cứ việc gì, đây là niềm vui lớn nhất của con khi ở Làng.

Sư chú Trời Đạo Sơn: Một kỷ niệm mà con nghĩ sẽ giúp con đi qua khó khăn là hình ảnh ba mẹ của con trong ngày con được xuất gia. Cho đến tận lúc ấy, con vẫn không thể giải thích để cho ba mẹ, nhất là ba, hiểu được vì sao con lại chọn đời sống xuất gia ở Làng Mai. Trong ngày xuất gia, con nghĩ ba mẹ của con bắt đầu cảm nhận được phần nào cái đẹp của tăng thân như con đã cảm nhận. Con sẽ nhớ mãi hình ảnh ba con ngồi sau lưng con và khóc khi nghe con bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với hai đấng sanh thành trước cả một đại chúng lớn. Con biết khi ấy sự cảm thông đã được thiết lập giữa hai cha con. Ngày hôm ấy đã mở ra một cơ hội tuyệt vời để gia đình con được hàn gắn và trị liệu. Con cảm thấy thật sự bây giờ con đã trở thành một người có thể giúp đỡ được cho ba mẹ, chỉ đơn giản là nhờ lễ xuất gia hôm đó. Hình ảnh ấy và cảm giác ấy sẽ là điều mà con nhớ mãi trong suốt cuộc đời xuất gia của mình.

BBT: Mỗi năm vào dịp Tết, trong ngày mồng Một, đại chúng Làng Mai thường dâng hoa, trà, quả làm phẩm vật cúng dường lên Thầy như là một biểu tượng để bày tỏ lòng biết ơn và hiếu kính của mình đối với Người. Đây là lẵng quả của sự thực tập do gia đình Cây Đan Mộc ở Làng Mai chọn và dâng lên Thầy nhân dịp Tết Nguyên Đán năm nay.

Quả chuối: Đây là loại quả mà sư cô Trăng Tĩnh Mặc đã chọn. Sư cô chia sẻ:

Con thấy mình giống như một con khỉ, cứ chuyền hết cành này sang cành khác để chọn trái chuối nào to và ngọt nhất. Trước khi con biết đến pháp môn thực tập chánh niệm, con luôn tìm kiếm hết cách giải trí này đến cách giải trí khác để thỏa mãn khao khát của mình nhưng con chưa bao giờ thấy thỏa mãn. Khi tham gia một khóa tu do quý thầy, quý sư cô Làng Mai hướng dẫn và tìm ra phương pháp thực tập chánh niệm, con đã thật sự bị đánh động. Trong khóa tu ấy con đã được biết đến quyển sách Ước hẹn với sự sống. Bây giờ thì chú khỉ ấy đã tìm ra được quả chuối lớn nhất và ngọt ngào nhất rồi. Chú khỉ đã dừng lại để thưởng thức nó. Tận đáy lòng con rất biết ơn Thầy vì Thầy đã bỏ nhiều tâm huyết tạo nên những điều kiện thuận lợi để chúng con thực tập và chia sẻ sự thực tập cho người khác. Thầy cũng đã dạy dỗ quý thầy, quý sư cô rất thành công vì con thấy phần lớn quý thầy, quý sư cô thật sự đang làm công việc tiếp nối Thầy rất giỏi.

Quả xoài: Sư chú Trời Đạo Lực đã chọn quả này để dâng lên Thầy.

Con xin dâng lên Thầy trái xoài quê hương. Xoài ngon lắm Thầy ạ. Mình cũng có thể làm bánh tráng xoài nữa, rất tuyệt. Ngày nào con cũng thực tập thiền hành để được đi những bước chân thảnh thơi. Con luôn tác ý là con đi cho những người đang không đi được, trong đó có Thầy, ông Nội con và những người khác nữa. Mỗi lần tác ý như vậy, con thấy trân quý hơn những bước chân của mình. Con nuôi dưỡng bước chân của con như thể là giây tiếp theo con sẽ không đi được. Vì vậy từ lúc đến Làng tới bây giờ, con thích nhất là thời khóa thiền hành. Đi từ xóm Thượng xuống xóm Hạ trong ngày quán niệm cũng vậy, mỗi bước chân, mỗi cái nhìn con thường tác ý đến Thầy. Thỉnh thoảng đi ngang qua Đàn voi của Thầy, con mỉm cười rất hạnh phúc. Con cảm ơn Thầy đã tạo ra một môi trường thực tập tuyệt vời. Qua Làng, con được dạy rằng tăng thân là sự tiếp nối của Thầy nên con tập nhìn thấy Thầy trong mỗi thầy, mỗi sư cô. Con rất hạnh phúc khi có rất nhiều thầy đang ở bên con, có mặt cho con, nuôi dưỡng con. Nhìn thấy sự thực tập vững chãi và thảnh thơi của quý thầy, quý sư cô, con rất được nuôi dưỡng. Con xin cảm ơn nhiều nhiều.

Quả Sầu Riêng: Chúng ta hãy tìm hiểu vì sao sư chú Trời Đạo Quy đã chọn quả sầu riêng dù sư chú biết Thầy không thích loại quả này.

Trái cây con ưa nhất là sầu riêng. Con biết Thầy không thích sầu riêng, nhưng sầu riêng đã được ông bà tổ tiên của con yêu chuộng từ vô lượng kiếp. Cho nên con xin dâng Thầy trái sầu riêng. Thầy có nói: “Ta có là ta, ta mới đẹp”, vậy nên con đang thực tập là chính con. Con nghĩ Thầy sẽ hạnh phúc khi con ưa thích sầu riêng.

Mấy ngày đầu tiên khi mới đến Làng, con nghĩ là mình phải ngồi thiền 12 tiếng đồng hồ mỗi ngày. Khi có giờ rảnh, mình phải đi thiền hành. Như thế mình sẽ có hạnh phúc. Thế nhưng càng ngày con càng cảm thấy bực bội và không được thảnh thơi. Con hiểu rằng sự cố gắng quá sức chỉ đem lại bực bội cho tâm con, làm con càng ngày càng trạo cử, càng không toại nguyện hơn. Vì vậy con không cảm thấy e ngại khi dâng Thầy trái sầu riêng dù biết là Thầy không thích. Con thấy thoải mái khi mình có sự tự do đó. Cũng như con không cần phải ngồi thiền mỗi ngày 12 tiếng đồng hồ, hoặc cố gắng quá sức. Con chỉ cần có niềm vui và sự thảnh thơi trong khi tu tập, không cần có sự cưỡng ép. Bởi khi con cố ép buộc thì tâm con chạy trốn, nó không muốn ở với con. Khi con thư giãn, không cố gắng một cách mê muội nữa thì sự thực tập lại có tiến bộ, tâm con thích trở lại với thân hơn. Con ý thức là trong khi tu học, mình không nên quá gồng ép, nhưng cũng không nên để buông lung.

Quả cà chua: Sư chú Trời Đạo Hành đã chọn để dâng Thầy.

Con muốn chọn trái chấp nhận. Cuộc sống ở Làng rất khác biệt so với cuộc sống của con ở gia đình, nhưng đây là một sự khác biệt tích cực. Cuộc sống ở Làng Mai rất đa dạng bởi vì mọi người đến đây từ nhiều lứa tuổi, quốc gia và lai lịch khác nhau. Tất cả đều đẹp theo cách riêng của mình. Năm nay con tập chấp nhận mọi người nhiều hơn một chút. Người quan trọng nhất mà con đang tập chấp nhận là chính bản thân con. Những suy nghĩ, cảm thọ, và nhiều cái nữa trong con đang cần sự chấp nhận của con. Con cũng cần học hỏi để chấp nhận những hoàn cảnh, kinh nghiệm mà mình đã trải qua. Con sẽ cố gắng hết sức mình để chăm sóc cho “cây chấp nhận” càng ngày càng lớn và cho nhiều hoa trái. Con biết, trái của cây chấp nhận sẽ rất ngon ngọt và bổ ích trong suốt cuộc đời tu còn lại của con. Chính vì vậy, để chọn một loại quả dâng Thầy, con xin chọn quả cà chua. Vâng, cà chua cũng là một loại quả và nó không cần phải trở thành bất cứ một loại quả nào khác để được chọn dâng Thầy. Xin Thầy từ bi nhận nó.

Quả hồng: Loại quả mà sư chú Trời Đạo Phương dâng lên Thầy.

Trái cây ưa thích của con là hồng. Con rất thích nhìn trái hồng khi còn ở trên cây, nó tô điểm thêm cho sắc màu của mùa thu. Nó nhắc con phải thực tập kiên nhẫn, chờ đợi cho đến khi sẵn sàng cho con thưởng thức. Đôi khi con muốn chạy ra cây hồng, hái một trái ăn liền nhưng rồi con nhớ lại là con phải kiên nhẫn chờ thêm cho đến khi nó thật chín thì trái mới ngon và ngọt.

Trong quá trình tu tập, đôi khi điều duy nhất mà con nghĩ mình nên làm là tưới tẩm hạt giống tốt trong con và chờ đợi. Giống như trái hồng trên cây cần phải hấp thu thêm nước và ánh nắng mặt trời thì mới có thể trở thành một quả hồng chín thơm ngon. Con cũng cần phải làm như thế. Đối với con, sự kiên nhẫn còn có nghĩa là mình không bỏ cuộc giữa chừng, kiên định tiếp bước trên con đường sáng đẹp mà Thầy đã mở lối cho chúng con. Vì vậy con muốn dâng lên Thầy sự kiên nhẫn của con để trong tương lai con có thể trở thành một nhánh khỏe mạnh trên cây tăng thân của Thầy và của đại chúng.

Quả đào: Sư chú Trời Đạo Sơn đã chọn loại quả này để dâng lên Thầy.

Nếu chọn một hoa trái thực tập của mình để dâng Thầy, con xin chọn trái đào của tình huynh đệ. Đây là lợi lạc con được hưởng từ khi bước chân đến Làng. Khi ấy con rất cô đơn, đang quẩn quanh tìm kiếm cho mình một hướng đi. Con đến Làng trong khóa tu mùa Thu, khi Thầy không có mặt ở nhà. Tuy thế, tình huynh đệ mà con cảm nhận được ở Sơn Hạ đã cho con thấy rõ ràng tăng thân và sự thực tập ở đây chính là con đường mà con đang tìm kiếm.

Đến tận bây giờ con vẫn đang tiếp tục thực tập như thế, tiếp tục mở rộng trái tim mình để làm một người anh em, thưởng thức sự có mặt của những người anh, người em khác. Đây là thực tập chủ yếu của con trong suốt thời gian tập sự xuất gia, cũng là nguồn hạnh phúc chính của con, làm cho con càng ngày càng tin tưởng và nương tựa vào huynh đệ, càng cảm thấy đây chính là gia đình mình. Sau khi xuất gia, con chuyển vào sống trong tăng xá với quý thầy. Điều làm con xúc động nhất lại là tình huynh đệ. Trong đại gia đình tâm linh của chúng ta, ai cũng có mặt cho nhau và chấp nhận nhau không điều kiện.

Tình huynh đệ cũng rất ngon ngọt như quả đào, chỉ nhìn thôi cũng đủ thích rồi. Cũng giống như khi nhấm nháp một quả đào, khi nếm được tình huynh đệ con thấy rất ngon lành, mát mẻ và những vết thương trong lòng con được chữa lành. Và, cũng giống như quả đào, sự nhu nhuyến, ngọt ngào của tình huynh đệ giúp ta có thể làm chủ tâm mình để ta có đủ tĩnh lặng, bình ổn và vững chãi. Khi ấy mọi người có thể yểm trợ lẫn nhau và thực sự mở lòng ra với nhau. Tình huynh đệ là động lực giúp con tu học. Tình huynh đệ là hoa trái thực tập quý báu nhất của con. Tình huynh đệ chính là sự thực tập của con.

BBT: Xin cảm ơn các sư em.

                                                              Lễ dẫn thỉnh Cây Đan Mộc tại Làng Mai, Pháp

 

Trở về trong tình huynh đệ

Sư cô Mai Nghiêm, người Pháp, là một vị giáo thọ Làng Mai, hiện đang tu tập tại tu viện Lộc Uyển, California, Mỹ. Sư cô đã viết bức thư này gửi đến Tổng thống Pháp sau vụ khủng bố tại Paris (lá thư được chuyển ngữ từ tiếng Pháp). Sư Ông Làng Mai thường dạy các đệ tử xuất gia cũng như tại gia về sự thực tập viết “thư tình” cho các nhà lãnh đạo chính trị trong những lúc đất nước đang trải qua những ngày căng thẳng, sợ hãi và hoang mang. Lá thư Sư Ông viết cho Tổng thống Mỹ năm 2006 vẫn luôn mang thông điệp của yêu thương, của tình huynh đệ và cũng là những điều mà chúng ta có thể thực tập được từ trái tim mình.

 

San Diego, thứ Ba, ngày 17 tháng 11 năm 2015

Kính thưa ngài Tổng thống,

Sáng nay, bốn chiếc máy bay quân sự lượn ngang dọc trên bầu trời Đại Ẩn Sơn (nơi tu viện Lộc Uyển tọa lạc) khiến tôi nghĩ về nước Pháp. Đã hơn một năm nay tôi sống ở California nhưng những ngày qua lòng tôi không ngừng hướng về quê hương.

Những suy tư của tôi cũng hướng về ngài, thưa Tổng thống. Lãnh đạo một đất nước còn đang rất bàng hoàng sau những gì xảy ra, phải đối mặt vớimột tình trạng đau thương và phức tạp, chịu nhiều sức ép lớn về chính trị và truyền thông chắc hẳn đã gây cho ngài nhiều căng thẳng và những đêm làm việc không nghỉ.

Cảm ơn Tổng thống đã chấp nhận giữ vai trò khó khăn này. Vai trò của một người thuyền trưởng, lèo lái con tàu với tất cả tinh thần trách nhiệm và nghĩa vụ cao cả.

Trong đêm 13 tháng 11, biết bao người con của nước Pháp đã phải bỏ mạng. Một phần trong tôi cũng chết cùng với họ. Từ thẳm sâu trong tim tôi một tiếng nói cất lên, muốn được tôi biết đến. Cùng lúc tôi đã nghe trong tiếng khóc của mình vang vọng tiếng nức nở của những người anh em ở Syria. Tôi đã thấy trong sự tuyệt vọng của mình tiếng kêu cứu của biết bao người ở khắp mọi nơi, đang khổ đau vì mất người thân, vì bạo động, vì chiến tranh và những nỗi lo sợ hãi hùng.

Hôm nay đây, tôi thấy rõ trong tận sâu thẳm lòng mình, tôi không muốn bất cứ một gia đình nào phải rơi những giọt nước mắt đau thương nữa.

Như lời đức Giáo hoàng Francis trong bài diễn văn đọc tại Quốc hội Mỹ: “Chúng ta phải luôn nhớ đến nguyên tắc vàng này: Hãy đối xử với người khác theo cách mà bạn muốn họ đối xử với bạn”.

Thưa ngài Tổng thống, qua những trang sử, chúng ta đã thấy rằng hành động làm ô nhục danh dự của người Đức bằng Hòa ước Versailles năm 1919 đã mở đường cho Hitler lên nắm chính quyền. Cũng tương tự như vậy, những trận bom trừng phạt dội xuống Campuchia năm 1973 đã khiến cho số người gia nhập lực lượng Khmer Đỏ càng tăng lên; cuộc chiến ở Iraq đã đổ thêm dầu vào ngọn lửa của chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan.Trong tình trạng khủng hoảng toàn cầu như hiện nay, chúng ta thật dễ dàng đánh mất mình và bị những đòi hỏi khẩn cấp, sự hỗn loạn và không khí sôi sục kéo đi.

Thưa Tổng thống, liệu chúng ta có thể cùng nhau tìm những giải pháp cho tình trạng cấp bách hiện nay nhưng cũng không quên dành thời gian để cùng nhớ lại, cùng lắng nghe, cùng học hỏi từ lịch sử và từ những chứng nhân của lịch sử ấy.

Trong một thế giới mà quá khứ có thể được làm sống lại một cách chân thật và đầy đau thương như trong bộ phim The Son of Saul (Con trai của Saul) được công chiếu gần đây, liệu chúng ta có thể cùng nhau tưởng nhớ đến những khổ đau và mất mát trong quá khứ, để từ đó có những hành động sáng suốt, đầy trách nhiệm và không tạo thêm bất cứ cơ hội nào khiến con cháu chúng ta phải sống lại những thương đau mà chúng ta đang trải qua này.

 Liệu chúng ta có thể cùng nhau dựng xây một thế giới nơi mà tâm bi thính – khả năng lắng nghe những khổ đau của cả hai phía với tâm từ bi – sẽ vượt lên ý muốn làm cho bạo động leo thang, nơi ước mong thấu hiểu và cảm thông sẽ chiến thắng mọi thành kiến, mọi sợ hãi, mọi khát vọng trả thù hay quyền lực.

Cùng với nhau, chúng ta không những không làm cho thế giới mù lòa bằng hận thù như lời thánh Gandhi đã nói*, mà còn thắp lên những tia sáng của sự sống nhiệm mầu, của hy vọng và thương yêu trong ánh mắt của mỗi người dân. (*Lời Thánh Gandhi: Mắt đổi mắt chỉ khiến cho thế giới mù lòa – An eye for an eye will only make the whole world blind).

Kính thưa Tổng thống, tôi tin rằng sử sách và những thế hệ tương lai sẽ nhớ đến Ngài như một nhà lãnh đạo biết dùng sức mạnh của sự định tĩnh để trấn an đất nước trong những giờ phút hỗn loạn đầy sợ hãi và giận dữ, một vị thuyền trưởng đầy kinh nghiệm biết đưa con tàu tới những vùng nước lặng, một vị chỉ huy khôn ngoan và dũng cảm biết bảo vệ hòa bình, một người chăn cừu biết chăm sóc và giữ an toàn cho những con cừu non của mình. Một lẽ đơn giản là tất cả chúng ta đều yêu mến tiếng chim non ríu rít hơn tiếng súng đạn. Chúng ta đều muốn được ngắm nhìn những đàn chim lượn bay tự do hơn là những chiếc máy bay quân sự trên bầu trời.

Thưa Tổng thống, trong những thời khắc đen tối này, ngài không bước đi một mình. Có rất nhiều người đang hướng về Ngài, yểm trợ Ngài và cầu chúc cho Ngài có nhiều can đảm trên chặng đường khó khăn này.

Xin gửi tới Ngài tất cả lòng biết ơn và niềm tin tưởng.

Thích Nữ Chân Mai Nghiêm.

 

Thư của Sư Ông Làng Mai gửi Tổng thống Mỹ

 

George W. Bush (ngày 8.8.2006)

Kính thưa Ngài Tổng thống,

Đêm qua, tôi mơ thấy anh tôi (anh tôi vừa từ trần cách đây hai tuần tại Hoa Kỳ). Anh đang ở bên các con của anh và nói với tôi: “Chúng ta hãy cùng nhau về nhà đi”. Sau một tích tắc ngần ngừ, tôi vui vẻ trả lời: “Vâng, chúng ta phải về nhà thôi”.

Thức giấc vào khoảng năm giờ sáng, tôi nghĩ tới tình hình bên Trung Đông, và lần đầu tiên tôi có thể khóc. Tôi khóc rất lâu và cảm thấy nhẹ hơn sau một giờ đồng hồ. Rồi tôi xuống bếp pha trà. Trong khi pha trà tôi nhận ra rằng lời anh tôi nói là đúng: “Nhà của chúng ta đủ rộng cho tất cả chúng ta. Hãy cùng nhau trở về trong tình anh em”.

Kính thưa Tổng thống, tôi nghĩ rằng nếu Tổng thống có thể khóc như tôi đã khóc sáng nay, Tổng thống sẽ cảm thấy nhẹ bớt rất nhiều. Chúng ta đang giết những người anh em của chúng ta ở bên đó. Họ là những người anh em của chúng ta – Chúa đã nói với chúng ta như vậy, tất cả chúng ta đều biết như vậy. Họ có thể không coi chúng ta như những người anh em bởi vì họ đang thù hận, hiểu lầm và kỳ thị. Tuy nhiên, với chút ít tỉnh thức, chúng ta có thể nhìn mọi sự từ một khía cạnh khác, và như thế chúng ta giải quyết tình trạng bằng cách khác. Tôi xin đặt hết tin tưởng vào đức Chúa nơi Ngài. Tôi xin đặt hết tin tưởng vào Phật tính trong Ngài.

Xin cảm ơn Tổng thống đã đọc thư này,Với lòng biết ơn, và trong tình huynh đệ,

Thích Nhất Hạnh

Làng Mai