Khoảnh khắc bên Thầy

Thầy kính thương,

Con nhớ có lần tại cốc Thầy, cốc Tùng Bút ở tu viện Lộc Uyển, Thầy nói với con: “Này con, con làm một bài thơ và phổ nhạc rồi hát bài của mình, đừng hát bài Sông và Biển nữa.” Con thưa: “Bạch Thầy con không biết làm thơ, mà phổ nhạc thì con càng không biết nhạc lý gì cả”. Thầy nhìn con cười và nói: “Mỗi bước chân của con bước hãy làm biểu hiện những vần thơ, mỗi hơi thở vào ra của con đó chính là nốt nhạc”.

Ngay giây phút ấy, con chưa lĩnh hội được ý của Thầy một cách sâu sắc, con nghĩ thầm: “Ô, sướng quá! làm thơ như vậy đâu có khó”. Rồi Thầy dạy con hát cho Thầy nghe. Con thưa Thầy con không biết hát. Thầy lại dạy: “Sư cô Chân Đức làm thơ, làm nhạc rồi hát nữa, thế nào con cũng sẽ làm được như sư cô Chân Đức”. Con ngồi bên Thầy yên lặng, chưa biết trả lời ra sao thì Thầy dạy tiếp: “Con hát bài Lòng Không Bận Về cho Thầy nghe đi!” Con nhớ lúc ấy con thật lúng túng và thưa là con không thuộc bài đó. Thầy đâu có tha, Thầy nói không thuộc để Thầy nhắc cho. Thế là con chịu trận phải hát, hát tới câu nào quên là Thầy nhắc. Hát xong, con thấy mình như được thoát nợ.

Thầy ơi, con đâu có ngờ rằng chính bài hát mà Thầy nhắc cho con hát từng câu ấy đã giúp con rất nhiều. Những ngày tháng sống xa Thầy, về nơi đất mới đóng góp xây dựng chúng, có những khó khăn đến với con và đôi lúc làm cho lòng con chùng xuống. Chính những giây phút như vậy, câu thơ “Gió reo tám hướng lòng không bận về” trong bài hát ngày trước và hình ảnh Thầy lại hiện về trong con, giúp cho con mạnh mẽ hơn để đi tới. Sau mỗi lần lòng con chùng xuống, chỉ một lát sau tinh thần con được phấn chấn trở lại, lúc ấy con mới nhận ra và thốt lên một mình rằng: Ôi, tuệ giác và phương tiện của Thầy sao tuyệt vời quá! Ấy vậy mà ngày trước con nào có hiểu. Thầy dạy hát thì con “phải hát” như trả bài chứ đâu có nắm được yếu chỉ như nhà thiền thường nói tới “Tâm truyền tâm”. Và kể từ đó, con nhận ra Thầy đã trang bị hành trang cho con rõ ràng và cụ thể, con chỉ cần nắm lấy và khéo sử dụng để mỗi ngày làm nên chất liệu thơ, nhạc và hát cho Thầy nghe. Nhờ vậy, dẫu sống xa hình hài Thầy, nhưng không gian và thời gian chưa bao giờ ngăn cách tâm thức khi con muốn tiếp xúc với Thầy.

“Chúng ta xa cách nhau
Từ ngàn vạn kiếp lâu
Nhưng không hề xa nhau
Dẫu một phút giây nào.”

Thầy kính thương, mười chín năm về trước khi quyển sách “Bước Tới Thảnh Thơi” ra đời, Thầy tặng cho mỗi người con tâm linh của Thầy một quyển. Thầy nói các con muốn Thầy đề câu gì vào sách của mình thì cho Thầy biết để Thầy ghi vào. Con đã xin Thầy ghi cho con câu “Tình thương là chất liệu nhiệm mầu, Chư Bụt, Chư Tổ và Thầy truyền trao cho con, con hãy nắm lấy gìn giữ để nuôi dưỡng lại thế hệ tương lai”.

Thầy ơi, mười chín năm qua con rất thích câu này nên nó vẫn còn bừng sáng trong con, mỗi ngày con thực tập sâu sắc hơn với lòng biết ơn để không cô phụ suối nguồn.

Hướng đến Thầy với lòng thương kính.

Con của Thầy.

Đến để mà thấy

Là một tu sĩ đến từ Malaysia, thầy Kai Li đã tu học tại Làng Mai đến nay đã năm năm. Thầy sống rất gần gũi với các anh chị em. Tính tình cởi mở, thầy có khả năng đem niềm vui đến cho mọi người với những lời chia sẻ rất thật qua kinh nghiệm tu học của thầy. Trong mùa An cư kết Đông năm nay, Ban biên tập có cơ hội ngồi chơi với thầy và nghe thầy chia sẻ những cái thấy khi thầy đến tu học với tứ chúng Làng Mai.

BBT: Kính thưa thầy, xin thầy chia sẻ với chúng con một chút về thầy. Chúng con được biết thầy đã tìm đến nhiều truyền thống khác nhau để học hỏi và tu tập. Xin thầy hoan hỷ chia sẻ với chúng con về những trải nghiệm mà thầy có được khi tu tập với các truyền thống khác trước khi thầy đến Làng Mai để chúng con được hiểu thêm về thầy.

Thầy Kai Li: Pháp danh của tôi là Kai Li, “Kai” (Khai) có nghĩa là khai thông, còn có nghĩa là sự bắt đầu, còn “Li” (Luật) là giới luật. Thành ra Kai Li có nghĩa là Khai Luật. Thật ra thì Kai Li không phải là pháp danh gốc mà thầy bổn sư đặt cho tôi. Pháp danh gốc của tôi là Kai Hi (Khai Hỷ), giống như chữ Hỷ trong pháp danh của sư cô Hỷ Nghiêm, có nghĩa là niềm vui.

Khi thầy bổn sư gặp tôi, thầy rất vui nên thầy đặt tên đó cho tôi. Nhưng hồi ở chùa, tôi là một người rất nghiêm, không cười, không nói chuyện nhiều. Nhất là khi có người nữ thì tôi sẽ không nói năng gì cả. Vì vậy sư huynh tôi nói là chữ Hỷ không thích hợp với tôi nên sư huynh đổi thành Li. Tôi chấp thuận vì đó chỉ là danh xưng thôi. Thầy bổn sư cũng đồng ý nên tôi đã sử dụng pháp danh Kai Li cho đến bây giờ.

Tôi đến từ Malaysia. Quê tôi ở miền Bắc của đảo Borneo, một hòn đảo rất lớn. Năm 1989, tôi xin xuất gia tại một ngôi chùa ở Penang, một hòn đảo ở miền Tây của Malaysia. Thời gian làm sư chú (sadi) của tôi là ba năm tám tháng. Trong thời gian ấy, tôi hết lòng thực tập theo sự chỉ dạy của bổn sư. Thời gian làm sadi là thời gian mà mình dễ được uốn nắn nhất, vì vậy bất cứ điều gì bổn sư hoặc quý thầy lớn dạy, mình cũng nên hết lòng thực tập. Tôi thọ giới Tỳ kheo ngày 17 tháng 3 năm 1993 tại Đài Loan.

Về quá trình tu học của tôi thì trong mười năm đầu của cuộc đời xuất gia, tôi chỉ học thôi. Tôi học ở Malaysia bốn năm, sau đó sang Đài Loan học thêm sáu năm. Sau khi học xong, tôi quyết định tìm một trung tâm thiền để thực tập. Nơi đầu tiên tôi đến là Miến Điện. Ở đây tôi đã được tu học với nhiều bậc thầy khác nhau và được dạy những pháp môn hành trì khác nhau từ các vị thầy này. Sau khoảng tám đến mười năm ở Miến Điện, tôi đi sang Hàn Quốc vào năm 2008 để thực tập Thiền theo truyền thống Bắc Tông (Mahayana), bởi trước đây tôi thực tập theo truyền thống Nam Tông (Theravada). Tôi đi sang đó một mình và tìm đến một tu viện để thực tập. Đó là lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với thiền tập theo truyền thống Bắc Tông.

Đến năm 2010, tôi được gặp Thầy Làng Mai lần đầu tiên khi Thầy đến hoằng pháp tại Malaysia. Khi quý thầy và quý sư cô lên sân khấu để niệm danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm bằng tiếng Phạn, tôi cảm thấy không được thoải mái lắm. Là người tu mà sao lại hát? Lúc đó tôi không biết là quý thầy, quý sư cô đang tụng kinh, chứ không phải là “hát” như tôi nghĩ. Sau đó tôi nghe pháp thoại của Thầy và tôi thật sự được đánh động. Cho đến thời điểm đó, tôi chưa từng được nghe một vị thầy nào trong truyền thống Bắc Tông giảng về chánh niệm và Thầy là vị thầy Bắc Tông đầu tiên dạy cho tôi biết chánh niệm thực sự là gì. Đó chính là điều mà tôi đang tìm kiếm. Thật ra tôi đã từng thực tập theo truyền thống Theravada và cũng được dạy về chánh niệm, nhưng Thầy dạy về chánh niệm theo một cách khác, theo tinh thần Đại thừa.

Thế là trong năm đó, tôi quyết định sang Làng Mai dự ba tháng an cư kết đông lần đầu tiên. Tôi muốn tìm hiểu thực hư ra sao. Tôi muốn quán sát xem những gì Thầy dạy có thật sự đang được thực hành ở Làng Mai hay không. Và quả thật như vậy, tôi thấy rất được đánh động. Ở đây tôi tìm được những pháp môn mà tôi có thể học hỏi và thực tập. Vì vậy tôi đã gia hạn thêm “hợp đồng” của mình ở Làng để thực tập cho sâu sắc hơn (cười).

Tôi cho phép mình được tận hưởng nơi đây, không có gì phải vội vàng cả. Như một miếng xốp thả vào nước, tôi thả mình vào tăng thân và để cho mọi thứ từ từ thấm vào trong tôi. Tôi thấy mình được nuôi dưỡng thật nhiều. Thời gian thực tập ở Làng cũng cho tôi cơ hội bước thêm một bước nữa trong sự thực tập chánh niệm. Tôi rất thích pháp môn chánh niệm. Tôi thấy mình thật may mắn được ở Làng, được học hỏi một phương thức thực tập chánh niệm tương đối khác so với những gì tôi được biết trước đây.

BBT: Có nhiều vị khách tăng và một số cư sĩ từ các truyền thống khác (như Theravada hay Vipassana…) đến tu học tại Làng. Khi đến đây các vị hơi bị “sốc” vì ở đây đại chúng không thực tập yên lặng nhiều, tiếp xúc nhiều với những người xung quanh, và như thầy chia sẻ ở phần trên, các thầy các sư cô được “hát”, chơi thể thao, v.v. Vì thế một số các vị khách tăng và cư sĩ không thể chấp nhận được, họ đã rời Làng vì bị “sốc”. Lúc đầu, thầy có phản ứng tương tự như thế không và thầy thấy có những lợi ích gì khi thực tập chánh niệm trong một môi trường như vậy?

Thầy Kai Li: Khi mới đến Làng, tôi cũng thấy hơi chật vật vì tôi đã quen với cách thực tập truyền thống. Nhưng tôi tự nhủ là mình phải buông xuống những gì mình đã biết trước đây. Nếu tôi muốn học hỏi thì tôi phải học bằng một con người mới. Dần dần khi đi sâu hơn, tôi nhận ra rằng sở dĩ tăng thân Làng Mai khác với những tăng thân ở các nơi khác là vì ở đây có rất nhiều người trẻ, nên cần phải sử dụng những phương thức thực tập cho phù hợp với người trẻ, không thể dùng cách của truyền thống được. Đôi khi chúng ta phải thay đổi, bởi vì phương thức truyền thống có thể phù hợp với thời đại trước, còn bây giờ là thời đại mới.

Vì tăng thân có nhiều người trẻ nên cần phải năng động hơn. Các thầy, các sư cô trẻ có nhiều năng lượng nên đôi khi cần phải chơi các môn thể thao để quân bình năng lượng trong mình. Nếu đè nén thì sẽ bùng nổ. Tôi thấy đó là một cách rất hay để có sự cân bằng và đem lại sự chuyển hóa. Có những người trẻ thì lại thích hát, và những bài hát thường có nội dung tán dương Bụt, Pháp và Tăng.

Nếu nhìn cho sâu sắc, ta sẽ không thấy có sự chống trái nào hết. Chúng ta phải nhìn vào hoàn cảnh cụ thể. Không thể đem truyền thống này so sánh với truyền thống kia, hoặc trung tâm này để so sánh với trung tâm kia, như vậy không công bằng. Tuy nhiên việc so sánh hoặc chỉ trích thường hay xảy ra khi người ta đến từ một truyền thống khác. Vì vậy khi đến một trung tâm thực tập, mình nên buông bỏ cái mình đã học để sẵn sàng hội nhập. Có như thế mình mới có thể thực sự học được cái mới và tầm nhìn của mình mới được mở rộng, không bị bó buộc.

Tôi thấy pháp môn tu học ở Làng Mai giúp được nhiều cho người trẻ. Thầy thường nhắc nhở chúng ta là phải giúp cho người trẻ tu tập, không phải lúc nào cũng giúp cho người lớn mà thôi. Tôi vẫn nhớ lời Thầy nhắn nhủ khi tôi được truyền đăng là đối với người trẻ, mình phải dùng cách thức mới để giúp cho họ, không thể sử dụng cách thức ngày xưa được. Phải tìm một cách để cân bằng giữa cái mới và cái truyền thống, được như thế thì mới giúp cho người trẻ một cách hiệu quả. Đó là lý do mà trong giới luật (Vinaya), Bụt dạy rằng mình có thể thay đổi hay làm mới giới luật để thích nghi với hoàn cảnh.

Thầy cũng dạy rằng một người tu phải làm sao để có sự quân bình trong bốn lĩnh vực: tu, học, làm việc và chơi. Sự thực tập chánh niệm có thể được áp dụng vào cả bốn lĩnh vực. Thành ra đây là một phương tiện quyền xảo để giúp cho người trẻ. Các em thiếu niên cũng có thể đến để cùng tu và như thế dần dần các hạt giống tốt của các em sẽ được tưới tẩm. Đó chính là hướng đi của Làng Mai.

Thỉnh thoảng có người hỏi tôi là họ cần phải chuẩn bị tinh thần như thế nào khi đến Làng Mai. Thường thì tôi cho họ biết là ở đây rất khác với các chùa truyền thống, nếu đến đây họ phải cố gắng chấp nhận điều đó. Tuy vậy có những người vẫn không thể chấp nhận được, rất khó cho họ. Nhưng không sao, cho họ một chút thời gian, dần dần cách nhìn của họ sẽ rộng mở hơn. Tôi cũng không đánh giá phê bình gì họ hết, bởi vì kinh nghiệm của họ là như thế. Muốn thích nghi thì cần phải can đảm, giống như Thầy vậy. Thỉnh thoảng tôi cũng chơi thể thao với quý thầy, chơi trong chánh niệm, không phải để thắng hay thua, chơi chỉ để cho vui thôi.

BBT: Một số vị từ truyền thống Nam Tông khi đến Làng tu học đã nói rằng họ phải phạm rất nhiều giới truyền thống để có thể hòa nhập với cách thực tập của Làng Mai. Thầy nghĩ sao về điều này từ chính kinh nghiệm tu tập và cách hành trì giới của thầy?

Thầy Kai Li: Có sự khác biệt trong Giới luật (Vinaya) giữa các truyền thống của đạo Bụt. Có hai truyền thống chính trong đạo Bụt: Nam Tông và Bắc Tông. Theo cái biết của tôi thì truyền thống Nam Tông chủ trương giữ nguyên những giới luật mà Bụt đã chế, không thay đổi cũng không được chế thêm giới mới, như quyết định của Ngài Ma-ha Ca Diếp trong Đại hội kết tập kinh điển lần đầu tiên. Trong khi đó truyền thống Bắc Tông lại cho rằng đó là cách của Ngài Ca Diếp, còn chính Bụt cũng từng nói là một vài giới luật có thể được mở ra một chút, không phải lúc nào cũng làm y theo.

Vì vậy ta có thể thấy rằng chính Bụt cũng rất cởi mở và luôn luôn thích ứng. Thỉnh thoảng Bụt cũng thay đổi giới luật khi những giới luật đó không còn thích ứng. Nếu ta nghiên cứu về giới luật thì sẽ thấy có những chứng cứ về điều này. Tuy vậy, thường thì ta không dám thay đổi những gì đã được Bụt chế ra. Đối với tôi thì tôi chọn con đường trung đạo. Khi thực tập trong môi trường Nam Tông thì tôi theo cách thức của Nam Tông, còn khi thực tập ở môi trường Bắc Tông thì tôi theo cách của Bắc Tông. Tôi thấy mình vẫn còn đang trên con đường học hỏi giới luật. Nếu mình có thể nhìn theo cách đó thì mình sẽ có sự quân bình.

Tôi tập trung nhiều hơn vào sự học hỏi giáo pháp. Giới luật cũng rất quan trọng, tuy nhiên tôi cho phép mình điều chỉnh một chút cho phù hợp với hoàn cảnh. Đó là lý do vì sao tôi vẫn còn tiếp tục ở đây. Tôi vẫn hành trì những giới luật mà tôi đã thọ nhận, chỉ điều chỉnh một chút mà thôi. Có hai chủ đề liên quan đến giới luật thường gây tranh luận nhiều nhất giữa các truyền thống của đạo Bụt: thứ nhất là về giới ăn chay và thứ hai là về giới không ăn sau giờ Ngọ. Người ta tranh luận rất nhiều về hai vấn đề này. Nhưng đối với tôi thì những chuyện này không quan trọng lắm nên tôi có thể linh hoạt được.

BBT: Xin thầy chia sẻ đôi chút về bài kệ kiến giải của thầy và bài kệ truyền đăng mà Thầy Làng Mai đã trao cho thầy trong khóa tu xuất sĩ tháng 02/2013. Thầy cảm nhận như thế nào trong giây phút truyền đăng đó?

Thầy Kai Li: Trong lễ Truyền đăng, thông điệp mà tôi nhận được từ Thầy có liên hệ mật thiết đến chí nguyện sâu sắc trong tôi, đó là giúp cho đạo Bụt phát triển. Mà muốn được như vậy thì phải làm sao để cho người trẻ đến chùa. Hiện nay đa số Phật tử đến chùa là người lớn tuổi. Khi còn tu ở Penang, thấy được hiện trạng đó, tôi cảm thấy hơi buồn. Nếu chỉ có người lớn tuổi đến chùa thì đạo Bụt sẽ chết dần mà thôi. Khi ấy, tôi chưa biết mình cần phải làm gì, nhưng tôi có ước muốn thay đổi đạo Bụt, làm sao để cho đạo Bụt trở nên sống động hơn chứ không đơn thuần chỉ là tụng kinh mà thôi. Có lẽ Thầy cũng biết được tâm nguyện đó, nên trong lễ Truyền đăng, khi thắp lên ngọn đèn và trao cho tôi, Thầy nói rằng: “Hãy là một ngọn lửa, lúc nào cũng tươi trẻ để giúp cho người trẻ, chứ không chỉ giúp cho người lớn tuổi mà thôi”. Lời của Thầy hôm ấy đã thấm sâu vào trong tôi.

Trong khoảng thời gian tu tập ở Làng Mai, tôi có cơ hội tiếp xúc với rất nhiều vị xuất gia trẻ và tôi luôn quán chiếu cách thức để giúp người trẻ thật sự đi sâu vào thực tập. Kệ kiến giải của tôi liên hệ chủ yếu đến những lời giảng của Thầy về giáo lý của Ngài Long Thọ (Nagarjuna): “Không một cũng không khác, không có cũng không không, không sinh cũng không diệt”. Tôi rất ấn tượng với cách Thầy giảng về giáo lý này, thật là tuyệt vời. Do đó trong bài kệ kiến giải, tôi đã bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy rồi sau đó dần dần khai triển đề tài “giây phút hiện tại”. Nếu ta thật sự có mặt trong giây phút hiện tại thì ta có thể tiếp xúc được với Niết bàn. Thành ra Niết Bàn không phải là một cái gì ở tương lai, Niết bàn đang có mặt trong giây phút hiện tại. Trước đây tôi nghĩ Niết Bàn là một cái gì đó chỉ có trong tương lai mà thôi. Đó là lý do vì sao trong bài kệ kiến giải tôi nói rằng Niết Bàn là bây giờ và ở đây. Đây là một khám phá rất lớn đối với tôi. Trong bài kệ truyền đăng của Thầy có tên của tôi, nhưng mà tiếc quá, tôi đã quên mất bài kệ rồi (cười). Thành ra lời Thầy nhắn nhủ về việc giúp cho người trẻ là cái đi sâu vào lòng tôi nhất. Tôi sẽ cố gắng thực hiện điều đó, bởi vì giúp cho người trẻ là ước mong sâu sắc nhất của tôi. Tôi biết điều ấy không dễ thực hiện, bởi vì mình cần phải luôn trẻ trung. Sống ở Làng giúp tôi trẻ lại. Nếu mình sống chung với người trẻ thì mình cũng được trẻ lây (cười).

BBT: Thầy đã áp dụng pháp môn Làng Mai khi về lại tu viện của thầy ở Malaysia như thế nào ạ? Thầy nghĩ pháp môn Làng Mai có thể được phổ biến ở các nước châu Á không? Chúng ta phải làm gì để pháp môn này có thể phù hợp với môi trường châu Á?

Thầy Kai Li: Bởi vì tôi đã học hỏi và thực tập nhiều pháp môn khác nhau cho nên tôi không thể nói là mình hoàn toàn theo pháp môn Làng Mai. Tôi kết hợp nhiều pháp môn khác nhau trong sự thực tập. Ban đầu thì tôi có cố gắng nhưng dần dần thì sự kết hợp đó xảy ra một cách tự nhiên. Tôi thu thập tinh túy từ mỗi vị thầy mà tôi có duyên được học và kết hợp tất cả lại với nhau. Tôi sẽ tùy hoàn cảnh mà ứng dụng, thí dụ như nếu tôi trở lại Malaysia, tôi sẽ ứng dụng cách ở Malaysia.

Nếu tôi mang pháp môn Làng Mai 100% về Malaysia thì sẽ rất khó được chấp nhận một cách trực tiếp. Chẳng hạn như việc các thầy các sư cô hát, Phật tử ở đó không thể nào chấp nhận được. Vì vậy khi về Malaysia, tôi sẽ thay đổi nó một chút, không thể đem 100% về được. Tôi sẽ cố gắng áp dụng một cách linh hoạt cho đến khi mọi người có thể chấp nhận được. Gần đây khi sang Mỹ để giảng dạy, tôi cũng phải tiếp cận Phật tử theo một phương cách khác. Vì vậy phải tùy theo hoàn cảnh, nơi chốn mà mình đến, cũng phải tùy theo nhu cầu nữa. Thường thì tôi sẽ hỏi xem mọi người cần gì. Khi họ nói cho mình biết họ muốn thực tập pháp môn này hay pháp môn kia mà nếu tôi có biết về pháp môn ấy thì tôi sẽ chia sẻ với họ.

Tôi hay chia sẻ về chánh kiến và làm thế nào để thực tập chánh kiến. Nếu có chánh kiến thì bất kỳ pháp môn nào cũng có thể trở thành một pháp môn mà mình có thể thực tập được. Chánh niệm đóng vai trò hỗ trợ cho pháp môn mà mình thực tập. Đối với tôi, bất kỳ pháp môn nào mình thực tập cũng phải có chánh niệm cả, đó là điều quan trọng nhất. Tôi không biết người khác có nghĩ vậy hay không, nhưng đây là điều mà tôi đã khám phá ra. Mình cần có nền tảng chánh niệm để thực tập bất cứ một pháp môn nào khác. Và điều quan trọng nhất là mình phải có chánh kiến. Có chánh kiến thì mình sẽ được an toàn.

Sự thực tập của tôi là bao giờ tôi cũng cố gắng ý thức và quay trở về với giây phút hiện tại. Vì vậy khi đi về phòng hoặc khi mang dép, tôi ðều trở về với chính mình, chậm rãi, từng bước một. Khi tôi có ý thức về những gì đang diễn ra với chính mình thì đó là lúc tôi đang thực tập. Tôi cũng thích tìm hiểu thêm về giáo pháp của Bụt và đem ứng dụng vào cuộc sống. Ví dụ như giáo lý về vô thường. Đôi khi ta chỉ có kiến thức về vô thường mà không thực sự biết vô thường là gì. Như Thầy từng giảng trong một bài pháp thoại mà gần đây chúng ta mới xem qua DVD, chúng ta hiểu về vô thường bằng trí năng, nhưng làm sao để đạt tới định vô thường (tam muội vô thường)? Khó chứ không phải dễ. Tôi đã thử và thấy rất thú vị. Khi Thầy giảng về vô ngã, không có tự tánh riêng biệt, điều đó có nghĩa là gì? Mình hiểu ý niệm vô ngã, nhưng thực sự nó là gì? Tôi đã thử ứng dụng, thử khám phá nó để xem nó có nghĩa là gì. Khi thực tập phải có niềm vui, nếu không thì ta sẽ không duy trì được sự thực tập một cách lâu dài. Khi có niềm vui thì sự thực tập mới đi lên được. Khi ta hạnh phúc thì ta biết là mình đang thực tập đúng, còn càng tu càng thấy căng thẳng, càng đi xuống thì biết là sự thực tập của mình đang có vấn đề.

BBT: Thầy có cái thấy như thế nào về những cái hay và chưa hay của tăng thân? Bởi vì thầy là người từ nơi khác đến nên cái nhìn của thầy về tăng thân sẽ khách quan hơn. Xin thầy soi sáng cho chúng con. Giả sử ngày mai thầy rời Làng và không còn có dịp để quay lại nữa thì thầy có điều gì muốn nhắn nhủ với các sư em ở đây?

Thầy Kai Li: Bụt lúc nào cũng khuyến khích người xuất gia mỗi năm nên an cư ba tháng. Tôi nghĩ sự thực tập này rất quan trọng. Chín tháng còn lại trong năm là chín tháng phụng sự, còn ba tháng an cư là ba tháng mình nên đóng cửa để quay về, nghỉ ngơi và nuôi dưỡng chính mình. Trong chín tháng kia mình phải xử lý nhiều việc xảy ra, các khóa tu xảy ra liên tục, mình bận rộn, làm việc này việc nọ, thiền sinh tới đông, không dễ chút nào. Nhiều khi chúng ta mệt mỏi, hết xí quách nhưng vẫn phải cố gắng tiếp tục. Khi mình còn trẻ thì điều này có thể không thành vấn đề.

An cư kết đông là khóa tu cho người xuất gia, là cơ hội để chúng ta thật sự nghỉ ngơi, thực tập và làm vững thêm nội lực, đồng thời có thời gian bồi đắp thêm tình huynh đệ. Ba tháng an cư thật sự là một cơ hội quý báu để tiến tu và tăng trưởng nội lực. Khi nội lực dồi dào trở lại, ta sẽ sẵn sàng để phụng sự trong chín tháng còn lại trong năm. Nếu chúng ta có thể làm như thế thì tăng thân sẽ trở nên vững mạnh. Bởi vì chúng ta là con người, cơ thể chúng ta có những giới hạn nhất định, nếu sử dụng nhiều thì sẽ mau cạn kiệt.

Vì vậy ba tháng an cư là để chúng ta thật sự quay về tự thân và quay về chăm sóc lẫn nhau để chế tác ra năng lượng tập thể của chúng xuất sĩ. Tôi không có ý phân biệt giữa xuất sĩ và cư sĩ, nhưng người xuất gia có môi trường và lối sống khác với người cư sĩ, vì thế nên có những khác biệt nhất định. Nếu tất cả đều giống nhau thì đâu cần trở thành người xuất gia làm gì. Đôi khi mình phải biết tự bảo hộ cho mình để không trở nên quá mệt mỏi, đặc biệt là khi mình phải thường xuyên đi ra ngoài để tổ chức khóa tu. Vì vậy nếu có cơ hội để cùng an cư kết đông thì mình nên thật sự tận dụng thời gian này để chăm sóc cho chúng xuất sĩ.

BBT: Có nghĩa là mình tổ chức khóa an cư ba tháng chỉ dành riêng cho người xuất gia thôi phải không thưa thầy?

Thầy Kai Li: Mình cũng có thể cho người cư sĩ đến tu tập nhưng không cần phải đầu tư nhiều vào việc tổ chức các sinh hoạt cho họ. Họ chỉ cần tham gia vào thời khóa chung mà thôi. Bởi vì khi phải đầu tư nhiều vào việc tổ chức sinh hoạt cho người cư sĩ, các thầy các sư cô phải suy nghĩ, phải tốn rất nhiều năng lượng cho việc tổ chức. Đừng lo là nếu mình làm như vậy thì thiền sinh sẽ không tới nữa. Thiền sinh sẽ tới không ngừng. Đừng lo, họ sẽ tới. Ở đây trong mùa an cư, một vài thầy hoặc sư cô phải hy sinh một chút để chăm sóc cho thiền sinh, nhưng nếu có thể được thì nên bớt lại để quay về thực tập cho chính mình. Đôi khi mình phải hơi “ích kỷ” một tí. Nhưng sự ích kỷ này chỉ để cho chúng ta lấy lại năng lượng mà tiếp tục phụng sự thôi.

Theo sự quan sát của tôi thì những vị quá năng nổ lại hay bị hết xí quách. Điều này không những chỉ xảy ra ở Làng mà thôi, ở chỗ khác cũng vậy. Những vị nào có tài năng thì lại càng có nhiều việc, vì vậy đôi khi họ đánh mất đi mục tiêu chính của người xuất gia. Chính vì thế, quay trở lại chính mình là điều rất cần thiết và nuôi dưỡng. Mỗi năm chúng ta phải có ít nhất là ba tháng để làm điều đó. Đó là lý do tại sao Bụt dạy người xuất sĩ phải an cư ba tháng. Bên truyền thống Nam Tông (Theravada), họ luôn có ba tháng an cư mỗi năm. Dù đi bất cứ nơi nào họ cũng phải trở về tự viện để thật sự an cư.

BBT: Thầy có nghĩ là để cho người xuất gia bớt bận rộn thì tăng thân cần phải nhờ các vị cư sĩ làm giúp một số công việc hay không?

Thầy Kai Li: Đó là một cách rất hay để giúp người xuất gia giữ được sự quân bình. Có những việc mà người cư sĩ có thể giúp được. Họ có thể là người hộ pháp, yểm trợ và bảo hộ cho người xuất sĩ. Trong tiếng Hoa có chữ “Wai Hu”. Wai là bên ngoài, Hu là bảo hộ. Hãy  để cho người cư sĩ làm giúp một số việc dưới sự hướng dẫn của quý thầy quý sư cô. Như thế các vị cư sĩ cũng có cơ hội để phụng sự tăng thân. Người xuất sĩ yểm trợ người cư sĩ và ngược lại, chúng ta hỗ trợ lẫn nhau.

BBT: Theo thầy thì sức mạnh của tăng thân Làng Mai là gì?

Thầy Kai Li: Điều đầu tiên là sức mạnh của một đoàn thể đông đảo. Nếu ta chỉ có một hoặc hai vị xuất sĩ thì sẽ không mạnh lắm. Khi thiền sinh đến tu học với mình, họ sẽ thấy rất khác. Tôi có thể thấy được sự hòa hợp của đại chúng Làng Mai. Đôi khi cũng có những xung đột, đó là chuyện rất bình thường, nhưng nếu nhìn vào tổng thể thì vẫn có sự hòa điệu, ai cũng đều cố gắng để giữ sự hòa hợp, và đó chính là sức mạnh. Thầy vẫn thường nói là tình huynh đệ rất quan trọng. Nếu chúng ta thật sự có tình huynh đệ thì sẽ tạo ra sức mạnh, bởi vì mọi người có thể nâng đỡ lẫn nhau. Thứ hai là sức trẻ của tăng thân. Đại chúng ở đây rất trẻ. Khi thiền sinh đến đây họ rất ngạc nhiên khi thấy có rất nhiều những vị xuất gia trẻ tuổi. Họ cảm được năng lượng và sức sống mạnh mẽ của tăng thân. Họ thấy như được về nhà. Điều thứ ba là sự thanh tịnh. Vì phần lớn đều là người trẻ cho nên tâm của họ rất thanh tịnh.

Khi thiền sinh đến đây, nhiều người chia sẻ với tôi là các vị xuất sĩ ở đây thật trong sáng. Và họ rất thích nhìn cách sống của quý thầy quý sư cô. Chúng ta sống một nếp sống rất giản dị. Trên thực tế, cuộc sống ở Làng Mai quá đơn giản so với cuộc sống bên ngoài. Đó cũng là một điểm mạnh của tăng thân. Một ưu điểm nữa là mọi người trong tăng thân có thể truyền thông được với nhau. Thậm chí khi có những xung đột xảy ra, mọi người vẫn có thể hòa giải và tái lập được truyền thông với nhau. Tôi đã nhìn thấy quý thầy, quý sư cô thực tập điều này rất dễ thương. Đây là một điều rất đáng quý trong tăng thân.

BBT: Nhiều người cho rằng tăng thân Làng Mai mạnh là vì có Thầy Làng Mai, nếu mai này Thầy không còn tiếp tục biểu hiện dưới hình hài quen thuộc thì không biết tăng thân sẽ đi về đâu. Thầy nghĩ như thế nào về điều này?

Thầy Kai Li: Tôi thấy giáo pháp mà Thầy trao truyền mới là điều quan trọng. Chúng ta nên nương vào những gì Thầy dạy hơn là vào sự có mặt của Thầy. Và chúng ta phải bắt đầu ngay bây giờ. Chúng ta cần tập trung vào những gì Thầy dạy, bởi vì chính cái đó mới gắn kết chúng ta lại với nhau. Chắc chắn là một ngày nào đó Thầy sẽ không còn biểu hiện dưới hình hài này nữa, nhưng những lời Thầy dạy sẽ còn ở lại mãi với chúng ta. Thực ra Thầy đang có mặt trong mỗi chúng ta và chúng ta cần thấy rõ điều này. Tôi không biết cái gì sẽ xảy ra trong tương lai bởi vì tương lai thì khó đoán, nhưng trong hoàn cảnh hiện tại khi Thầy đang bệnh, đại chúng cũng thấy là không thể lúc nào cũng có thể dựa vào Thầy được.

Tôi đã thấy rất nhiều đạo tràng khi người lãnh đạo tinh thần viên tịch thì đạo tràng đó bị sụp đổ. Điều đó có nghĩa là các đạo tràng ấy đã dựa quá nhiều vào người lãnh đạo. Đó là lý do vì sao chúng ta phải nương tựa vào giáo pháp, bởi vì giáo pháp là cái sẽ còn mãi. Giáo pháp có thể được trao truyền. Dĩ nhiên là nếu có Thầy ở đây với chúng ta thì còn gì hay hơn nữa, nhưng chúng ta cũng phải chuẩn bị tinh thần cho giờ phút Thầy không còn tiếp tục biểu hiện trong hình tướng này nữa. Vì thế ngay từ bây giờ chúng ta cần phải thực tập để thấy Thầy đang được tiếp nối trong mỗi chúng ta. Nếu ai cũng thực tập được như thế thì tôi rất tin là tăng thân sẽ tiếp tục được duy trì.

Trong một đại chúng lớn, có thể có một vài vị sẽ bỏ chúng ra đi nên chúng ta cũng cần phải chuẩn bị tinh thần cho việc ấy. Đó là một việc rất tự nhiên. Vì vậy chuẩn bị tâm mình và duy trì ý thức về những khả năng có thể xảy ra đó, chúng ta sẽ không bị đau khổ. Tôi hy vọng là tăng thân Làng Mai sẽ luôn được tiếp tục bởi vì đây là một tăng thân rất đẹp. Tôi đã thấy nhiều người được lợi lạc khi thực tập pháp môn này, rất đáng công mình mặc chiếc áo người tu. Chúng ta có thể giúp được không biết bao nhiêu người.

Hiện tại Thầy đang nằm bệnh viện. Đây cũng là lúc mỗi người trong tăng thân cần đặt cho mình câu hỏi: chúng ta nên tiếp nối Thầy như thế nào đây?

 

 


 

Kệ truyền đăng Sư Ông Làng Mai trao cho thầy Kai Li

Niệm trú khai thông chân luật học
Năng linh hiện pháp đắc hoàn gia
Nhất phương chiếu diệu hằng sa giới
Bộ bộ an nhiên lạc thái hòa.

 

Việt dịch:

Chánh niệm khai thông nền luật học
Ngay trong giây phút đã về nhà
Một phương chiếu rạng muôn ngàn cõi
Mỗi bước bình an đất nở hoa.

Mùa lá chín

“Thở vào, con thấy Sư Ông luôn có mặt đó cho con
Thở ra, con mỉm cười hạnh phúc vì biết rằng mình là một người có thật nhiều phước báu”.


Sư Ông kính thương,
Từng chiếc lá thu đang múa lượn vài vòng rồi rơi xuống mặt đất. Chúng reo vui mỉm cười cùng con và hát cho con nghe rất nhiều bài hát về vô thường, vô ngã và tương tức. Mỗi chiếc lá là một viên sứ giả của mùa thu mang thông điệp ấy trao tặng đến muôn người.
Đây là lần đầu tiên trong cuộc đời, con có cơ hội thưởng lãm một nét đẹp đầy thi vị trên đất nước bạn, cơ hội cho con khám phá ra nhiều điều mới lạ, thú vị từ thiên nhiên cũng như văn hóa và con người nơi đây. Canada – một đất nước bình an, hiền hòa với những con người thuần hậu, dễ thương đem lại cho con cái nhìn mới mẻ. Trái tim con mở ra để tiếp thu những cái hay, cái đẹp từ cuộc sống. Sư Ông biết không, có những buổi trưa con không thể nào nhắm mắt được vì màu vàng của lá đã đi vào trong tâm hồn con:
“ Vì rằng mắt thắm màu thu
Cho nên con đã mang thu vào lòng”

Con thấy cả bầu trời cùng một gam màu vàng tươi thắm. Con ngồi xuống vốc từng nắm lá thu tung xuống mặt đất như những đứa trẻ con chơi trò con nít vậy. Thú vị thật! Có lẽ khi hòa mình vào thiên nhiên và vũ trụ bao la rộng lớn thì con người có cơ hội trở về sống với em bé hồn nhiên trong mình. Rồi có khi con pha một bình trà ấm, ngồi dưới gốc cây để lắng nghe từng âm thanh vi diệu của tiếng lá và thưởng thức từng ngụm trà thơm.

Cũng có lúc con treo võng vào thân cây và đung đưa như ngày xưa Mẹ đã từng cho con cảm giác hạnh phúc khi được nằm trong chiếc nôi tuổi thơ. Tiếp xúc với thiên nhiên, con thấy lòng mình thanh thoát, nhẹ nhàng chi lạ, tâm con yên lắng và thảnh thơi. Những giây phút đó với con không có gì quan trọng hơn cả. Con nghe từng tế bào trong cơ thể con vận hành với từng niềm vui trước những điều đơn giản của cuộc sống. Thiên nhiên mầu nhiệm đã đưa con đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác. Không phải chỉ duy nhất một màu vàng mà còn rất nhiều, rất nhiều những gam màu khác: màu đỏ tươi, đỏ thẳm, loại có đốm, loại không đốm .v.v..

Xe lăn bánh rời Missisauga để đến một khu rừng khoảng 275 mẫu ở Leathem Centre, Woodlands  Trail cách Toronto không xa lắm. Con nghe kể ngày xưa Sư Ông đã từng hướng dẫn khóa tu ở đấy. Giờ đây chúng con tiếp tục hạnh nguyện của Sư Ông để cho sự tiếp nối ấy còn mãi. Chúng con đi bằng đôi chân và thở bằng hai lá phổi của Sư Ông. Con biết mỗi khi đi Sư Ông luôn đi trong tự tại, thong dong và mỗi khi  thở, Sư Ông luôn nhiếp tâm vào chánh niệm. Con thấy được Sư Ông đã biểu hiện trong từng cử chỉ, lời nói và hành động của những người sư anh, sư chị và sư em của con.

Hóa thân của Sư Ông đang có mặt khắp nơi trên hành tinh này. Mỗi khi có một vị xuất sĩ hay cư sĩ có khả năng bước đi như thế là con thấy được hình ảnh của Sư Ông trong vị đó. Chúng con đã làm việc với nhau như một đàn trâu. Các sư em nương theo các sư anh, sư chị lớn để cùng lội qua sông. Con thấy mình không bị mất sức khi được đi chung, con hưởng được nguồn năng lượng của nhau và không tiêu hao quá nhiều năng lượng. Có những khúc sông nước chảy siết, nếu phải lội qua một mình thì thật là nguy hiểm, có thể sẽ xảy ra những điều rủi ro. Đàn trâu đi chung với nhau trong sự ung dung tự tại, khi có tình huống gì bất trắc xảy ra thì cũng có thể xử lý kịp thời như một tập thể.

Và khi có sự thiếu sót trong cách diễn đạt, trình bày của vị này thì vị kia bổ sung thêm và làm cho sự chia sẻ đầy đủ và trọn vẹn hơn. Chúng con thấy mình không có một cái ngã riêng biệt. Mọi cái nương nhau mà biểu hiện đồng thời. Sự thành công của một người chính là sự thành công của cả nhóm. Dù không trực tiếp giảng dạy nhưng cách đi, đứng, nói năng của vị đó cũng có thể là một bài pháp thoại không lời (living dharma). Thiền sinh đến tham dự phần đông là các bạn trẻ  nên khóa tu học rất vui tươi và đầy sinh khí. Năng lượng của khóa tu rất nhẹ nhàng, ai cũng có thời gian riêng để trở về với chính mình, tận hưởng những giây phút sâu lắng mà bấy lâu nay họ đã lãng quên vì cuộc sống khá bận rộn.

Dường như mọi lo âu bên ngoài đã được quẳng xuống khi bắt đầu khóa tu. Chỉ có ba ngày thôi nên mọi người ý thức rất rõ về điều đó. Ý thức để sống sâu sắc, hết lòng và trọn vẹn hơn trong từng sinh hoạt.

Một bạn trẻ đến nói với con: “Sư cô ơi, đi tu giống hệt đi chơi vậy đó, vui thiệt sư cô hỉ! ”. “Tu là chơi đó mà em!”, con đã đáp lại lời em. Các bạn tuy còn rất trẻ nhưng ý thức về niềm hạnh phúc chân thực do sự tu tập đem tới một cách rõ ràng. Có nhiều bạn tuy mới làm quen với pháp môn nhưng đã có những bước chân thật vững vàng trên mặt đất. Các bạn có khả năng dừng lại trước những cám dỗ dục lạc của cuộc đời, trước những hấp dẫn của niềm vui thế gian, tìm cho mình một hướng đi và sống hết lòng với lý tưởng của tuổi trẻ.

Các bạn đã tạo cho con rất nhiều nguồn cảm hứng và nuôi lớn niềm tin trong con. Người trẻ thì rất thẳng thắn, có khả năng chia sẻ thật những thao thức và suy tư về cuộc sống, những hoạch định cho tương lai của mình về hướng đi chung của tăng thân. Các bạn sống đơn giản, ít tiêu thụ cho nên có nhiều thời giờ để đầu tư cho sự tu học và xây dựng ước mơ chung cho tuổi trẻ. Phong trào Wake up cũng đã có nhiều bước tiến, các bạn đã đi với nhau như một dòng sông và đang cùng chảy về biển cả.

Sư Ông kính thương,

Sư con của Sư Ông thường hay mắc cỡ và nhút nhát trước đám đông lắm. Con chưa đủ tự tin khi chia sẻ trước mọi người và thấy mình còn nhiều lo sợ. Con thực tập thả xuống những lo lắng, bất an của mình khi biết là sẽ ra hướng dẫn tổng quát cho khóa tu bằng ngôn ngữ của bạn. “Bụt ơi, Bụt phải giúp con, con sẽ không nói gì cả, con chỉ có mặt đó thôi và mọi sự chia sẻ đều là của Bụt!”. Ngồi chơi với những hạt giống đó trong con, thở thật sâu, thật chậm để không kháng cự với những bất an đó.

Nhận diện và ôm lấy những tâm hành ấy bằng tình thương của một người chị dành cho đứa em của mình. Con cùng nắm tay em dạo quanh khu rừng thu bằng những bước chân tỉnh thức và những hơi thở nhẹ sâu, để màu vàng tươi thắm của lá đi vào và nuôi dưỡng lấy em, để sự rắn chắc, vững vàng của đất Mẹ sẽ cho em thêm can đảm và tự tin. Trở về với sự thực tập phó thác mình cho Bụt, cho tăng thân, con thấy sự bình an trong con được trở lại. Nó đã đi chơi một vòng khá xa và bây giờ thì đã quay về với con. Con để cho mình chia sẻ tự nhiên hơn, con cho phép mình vấp phải những vụng về, thiếu sót và con sẽ học hỏi thêm kinh nghiệm từ đó. Không sao cả ạ! Muốn đi giỏi thì em bé cũng phải té ngã và bị thương nhiều lần trong thời gian em tập đi.

Có lần cậu Dương nói một câu hơi vui vui, nhưng giúp mọi người nhớ lại những điều kiện hạnh phúc mà mình đang có, để cùng nhau trân quý, bồi đắp và giữ gìn. Cậu nói: “Nếu không có quý thầy, quý sư cô sang Canada thì mùa thu sẽ âm thầm lặng lẽ trôi qua”. Nơi đây, mọi người cũng khá bận rộn. Đôi khi các anh chị em trong cùng một gia đình huyết thống nhưng hiếm khi có cơ hội đi chơi chung với sự có mặt của tất cả mọi người. Chánh niệm giúp mọi người trở về với giây phút hiện tại, sống sâu sắc hơn với từng chiếc lá, từng cành cây, cây cối và chim chóc nơi đây cũng được mọi người nhận diện ra sự có mặt của chúng. Mọi thứ đều trở nên sinh động hơn qua từng bước chân, từng hơi thở và cái nhìn đầy trân quý. Phẩm chất và giá trị của cuộc sống được nâng lên khi mọi người đều thắp sáng ý thức ấy trong tự thân.

Các cô chú Tiếp hiện là những cánh tay đắc lực của quý thầy, quý sư cô. Tuy công việc nhiều hơn mọi khi, nhưng con thấy mọi người đều rất tươi vui, khuôn mặt rạng rỡ và luôn luôn mỉm cười. Đó chính là sự thành công lớn cho tăng thân. Nhờ tổ chức khóa tu nên mọi người có cơ hội làm việc chung với nhau, cùng nhau đóng góp hết khả năng của mình cho khóa tu dưới nhiều hình thức khác nhau. Tình thương của các cô chú là một động lực lớn cho các bạn trẻ trong những ngày qua. Sự trao truyền và tiếp nối luôn có mặt trong từng sinh hoạt giữa hai thế hệ.

Con nhớ khi vừa bước chân xuống phi trường để đi về Missisauga- một trong thành phố lớn của Toronto. Một nỗi buồn man mác gợn lên trong lòng của con. Buồn khi nghĩ về gia đình huyết thống của con chưa đủ phước duyên cho nên đường về nơi tu học hẳn còn xa lắm. Bên cạnh nỗi buồn thì niềm vui xuất hiện. Cuộc sống bao giờ cũng thế, nỗi buồn và niềm vui luôn là đôi bạn đồng hành. Chúng tương tức nhau như hai mặt của cùng một chiếc lá.

Con thấy mình được nuôi dưỡng nhiều bởi tình thương của mỗi vị trong gia đình thầy Pháp Niệm, thầy Pháp Duệ và sư cô Tịnh Hằng. Các cô, các chú, các dì, các em đều biết tu tập và đến với nhau rất dễ thương. Người xuất sĩ có khả năng hướng dẫn và làm chỗ nương tựa tinh thần cho gia đình huyết thống. Đồng thời khi gia đình huyết thống tu học có nhiều niềm vui, bình an thì yểm trợ cho người xuất sĩ rất nhiều trong đời sống tâm linh. Con thực tập và xem niềm vui trong gia đình huyết thống của sư anh, sư chị chính là niềm vui của mình. Nhờ buông bỏ được một vài ý niệm trong tâm thức nên con thấy lòng mình mở ra hơn. Trái tim con tiếp nhận được chất liệu thương yêu ấy và con đã đến với mọi người một cách tự nhiên như là một thành viên trong gia đình.

Rời Toronto, đoàn lại tiếp tục một chuyến đi bằng xe van đến tận vùng Montreal để hướng dẫn khóa tu cho người nói tiếng Pháp. Tu viện Làng Cây Phong mà khi còn nhỏ con được nghe cậu con nhắc đến trong những chuyến về thăm gia đình, giờ đây hiện ra trước mặt. Còn sung sướng nào hơn thế nữa!

Nằm trên một con đường quê, tu viện ẩn sau một cánh rừng Maple khoảng hơn 100 mẫu, có nhiều cây phong đứng hiên ngang, sừng sững và thân cây cao chót vót giữa bầu trời xanh. Kề bên khu rừng có hồ nước trong veo và cạnh bờ hồ có một chiếc sàn gỗ nho nhỏ thật dễ thương. Ngồi chơi và uống trà ở đó thì còn gì tuyệt bằng! Mỗi sáng sương mù bao phủ cả tu viện, đâu đó tiếng chuông chùa văng vẳng ngân lên từng hồi. Một khung cảnh nên thơ và huyền diệu khiến lòng con hạnh phúc vô cùng.

Bước vào thiền đường, con đảnh lễ Bụt. Quỳ dưới chân Ngài, con thật sự tiếp xúc được với sự đã về đã tới trong con. Không hiểu sao con có cảm giác rất là thân quen với khung cảnh nơi đây. Dường như con đã từng đến đây lâu lắm rồi thì phải! Có thể nói tu viện với con là hai chị em vì chúng con cách nhau hai tuổi. Chúng con đã biểu hiện trong cùng một giai đoạn và hơn ba mươi năm rồi chúng con mới được hội ngộ. Con thấy tuy khác nhau về ngôn ngữ, tuổi tác, màu da nhưng mọi người có cùng một cái chung và chính cái chung đó đã đem mọi người đến gần nhau hơn. Mọi người đã thở cùng một nhịp và đi cùng một bước. Nhịp đó là nhịp của sự nhẹ nhàng, yên lắng. Bước chân đó là bước chân của sự vững chải và thảnh thơi, không bị quá khứ giam hãm và không bị tương lai lôi kéo.

Con kính tri ân Sư Ông đã gầy dựng nên một môi trường tu học an bình như thế, một khung cảnh có nhiều yếu tố nuôi dưỡng và trị liệu. Con cảm ơn những trái tim và đôi tay đã trung kiên gìn giữ để tu viện còn được tiếp tục là nơi nương tựa cho rất nhiều người. Và giờ đây trái tim con đầy ắp cả yêu thương vì ngọn lửa của lòng biết ơn trong con đang được sưởi ấm. Con cúi đầu đảnh lễ Tam Bảo. Nguyện cầu hồng ân chư Bụt, chư vị Bồ Tát trong mười phương bảo hộ và che chở cho Sư Ông, bậc Tôn sư khả kính của chúng con.
Kính dâng lên Sư Ông

Con của Sư Ông.

Có dễ hiểu không con

Thường sau các buổi pháp thoại, Thầy tôi hay hỏi: “Có dễ hiểu không con?”. Đối với tôi, bài pháp nào Thầy giảng cũng thật dễ hiểu, kể cả những đề tài khó học như giáo lý Trung Quán hay Duy Biểu. Ngay cả bọn con nít cũng hiểu được sự thật về vô sinh bất diệt khi Thầy đưa ra những ví dụ cụ thể như hạt bắp không bao giờ chết mà vẫn tiếp tục nơi cây bắp, hay đám mây không bao giờ mất mà luôn còn có mặt trong tuyết, trong mưa, v.v.

Tuy pháp Thầy dạy dễ hiểu như vậy, nhưng tôi không bao giờ dại gì nói hớ: “Bạch Thầy, con đã hiểu!”. Đó là vì có lần chúng tôi đã từng được nghe câu chuyện đức Thế Tôn dạy thầy A Nan: “Này thầy A Nan, thầy đừng vội nói rằng thầy đã hiểu giáo lý duyên khởi. Giáo lý này thậm thâm vi diệu vô cùng, cần phải học và hành cả đời mới mong hiểu thấu”. Tuy rằng chưa từng trả lời hớ với Thầy lần nào, trong thâm tâm tôi cũng ngấm ngầm tin rằng mình đã hiểu, ít nhất là những điều căn bản mà Thầy thường dạy. Mãi cho đến gần đây, mới gần đây thôi, tôi mới phát hiện ra rằng ngay cả những điều căn bản nhất, xưa nay tôi cũng chẳng hiểu gì cả.

Như các bạn đã biết, cuối năm ngoái Thầy bị xuất huyết não và nằm trong hôn mê nhiều tuần. Trước đó hơn ba tháng, Thầy bắt đầu yếu và ngã bệnh, vì vậy các thị giả luôn túc trực bên Thầy từ lúc đó. Một trong những điều mà các vị thị giả không bao giờ được quên là Thầy ở đâu thì cái đồng hồ nhỏ kêu tích tắc phải ở đó. (Những cái đồng hồ kêu tích tắc bây giờ rất hiếm có. Ngoài chợ, họ chỉ toàn quảng cáo và bán các loại đồng hồ không gây tiếng động). Như bạn đã từng nghe trong nhiều bài pháp thoại, Thầy dạy chúng ta cách dùng tiếng tích tắc của đồng hồ để duy trì hơi thở chánh niệm. Một hơi thở vào có thể kéo dài 5 hay 7 giây và hơi thở ra 7 hay 9 giây, hoặc lâu hơn nữa. Nếu bạn đã từng thử phối hợp hơi thở với tiếng tích tắc của đồng hồ, chắc hẳn bạn cũng đã cảm được thực tập như vậy thì dễ dàng và dễ chịu như thế nào phải không? Trong thời gian Thầy bệnh, các thị giả mới có cơ hội ở bên Thầy 24 trên 24 giờ, và đã chứng kiến Thầy đã thực tập như vậy ngày cũng như đêm, Thầy chưa bao giờ rời cái đồng hồ. Trong nhà, bất kỳ khi Thầy ngồi hay nằm ở đâu thì cái đồng hồ cũng được đặt trên chiếc bàn thấp ngay sát đó. Ngoài trời, trong khi Thầy ngồi nghỉ ngơi dưới những cây tùng hùng vĩ ở Sơn Cốc hay dạo chơi trong sân hoa của Nội viện, Thầy luôn đặt cái đồng hồ trong chiếc nón len nâu ngay phía trên lỗ tai.

Vì vậy trong khi Thầy hôn mê, các thị giả đã không quên đặt chiếc đồng hồ bên cạnh Thầy. Trước kia, ngay cả trong những giấc mơ khi ngủ, Thầy cũng đã thấy mình thực tập an ban thủ ý và đi thiền hành. Trong lúc hôn mê, Thầy đã luôn tiếp tục thở thật sâu, khi tất cả các thức, trừ mỗi một tàng thức, đều đã ngưng hoạt động. Thầy đã không hề cần đến máy thở như đa số các bệnh nhân ở tình trạng nặng như thế. Theo các bác sĩ chuyên môn về não bộ, sau cơn xuất huyết não, từ ngày thứ ba đến ngày thứ năm bộ óc bệnh nhân sưng to nhất và họ thường chết trong khoảng thời gian này. Mặc cho những gì xảy ra trong những ngày ấy, tàng thức của Thầy cứ thản nhiên tiếp tục thực tập an ban thủ ý một cách miên mật, không ngừng nghỉ.

Trong khi hôn mê, người bệnh mất đi khả năng nuốt. Trong khi đó thì hai lá phổi và hệ thống hô hấp phản ứng bằng cách tiết ra rất nhiều đàm. Vì không được nuốt, đàm có thể chảy vào phổi và gây nhiễm trùng phổi. Do đó có nhiều bệnh nhân chết không phải vì xuất huyết não hay hôn mê mà vì bị nhiễm trùng phổi sau đó. Trong suốt thời gian này, các thị giả liên tục hút đàm cho Thầy ngày cũng như đêm. Tuy nhiên, vẫn còn đàm rất sâu dưới cổ họng không hút tới được, vì vậy có một hôm, hình phổi của Thầy cho thấy rằng lá phổi bên trái vừa bị nghẽn bởi đàm. Lúc bấy giờ, Thầy chỉ thở bằng mỗi lá phổi bên phải. May thay, bác sĩ đã phát hiện kịp thời và đặt một cái máy để giúp Thầy thở vào sâu và mạnh. Khi đẩy dưỡng khí vào đầy phổi thì màng phổi hai bên tự động tách ra và lá phổi sẽ được thông trở lại. Đây không phải là máy thở, và nếu dùng máy này lâu, bệnh nhân sẽ đánh mất khả năng tự thở. Vì vậy Thầy chỉ được dùng máy trong vòng vài giờ đồng hồ chiều hôm đó, ngưng vài giờ rồi lại được tiếp tục chỉ trong một đêm. Kết quả ra sao thì sáng hôm sau, hình phổi sẽ cho biết.

Trong suốt khoảng thời gian thập tử nhất sinh, đây là lần đầu tiên tôi thật sự cảm nhận được ý nghĩa của: “Hơi thở là trị liệu”, “hơi thở là phép lạ”. Chưa bao giờ tôi biết trân quý hơi thở như vậy, hơi thở của người bệnh, hơi thở của chính mình, hơi thở đơn thuần mà không cần biết hơi thở của ai. Trong phòng cấp cứu, tôi hạnh phúc khi thấy Thầy vẫn còn thở. Tiếng thở đều của Thầy hòa vào và trở thành một với tiếng thở của các thị giả, với tiếng thở của tất cả các huynh đệ gần xa và của tất cả các bạn cư sĩ trên thế giới, những người cùng thực tập để cầu nguyện cho Thầy. Tất cả những lo lắng, tuyệt vọng, những lời tuyên bố của bác sĩ về kết quả hình chụp, v.v. đều đã được bỏ lại ngoài cửa. Trong phòng Thầy chỉ có hơi thở chánh niệm. (Sau này nghe kể lại, chúng tôi mới biết rằng các bác sĩ và y tá đã thường vào phòng Thầy để thâu nạp năng lượng bình an vào những giây phút căng thẳng nhất trong công việc).

Tôi đã tập nhìn thấy sự có mặt của Thầy khắp nơi chứ không phải chỉ trong hình hài này, nhưng tôi cũng vô cùng biết ơn Thầy đã tiếp tục thở. Tôi biết ơn mẹ tôi ở bên kia vòng trái đất. Mẹ tôi không cần phải làm gì, chỉ cần thở thôi cũng đủ làm cho tôi tràn đầy hạnh phúc rồi. Những người tôi thương cũng vậy. Và chính bản thân tôi, tôi biết rằng khi tôi thở giỏi, tôi cũng làm cho mọi người yên lòng.

Có những biến cố đau thương trong cuộc đời làm chúng ta lớn lên và thay đổi hoàn toàn, như da cây hé nứt đau đớn để cho những chồi non mới chào đời. Nếu cái “chết” của ba tôi đã làm tôi tái sanh để bắt đầu một cuộc sống mới, thì giờ đây cơn bệnh của Thầy cũng đang làm tôi lột xác để trở thành một con người mới.

Chọn một hướng đi

 

Nhân dịp 42 Cây Sồi Đỏ biểu hiện trong khu vườn Tăng thân (ngày 18/12/2014), BBT Lá Thư Làng Mai đã có một cuộc trao đổi thân tình với các sư em trong gia đình Cây Sồi Đỏ được xuất gia tại Làng Mai.

Dưới đây là một số tâm sự của các sư bé khi được hỏi: “Vì sao các sư bé đi tu?”.

Sư bé Trăng Vô Ưu: Tên đời của con là Quỳnh Anh và tên xuất gia của con là Chân Trăng Vô Ưu.

Năm học lớp sáu, con được ba mẹ cho lên tu viện Bát Nhã ở Bảo Lộc – Lâm Đồng thực tập. Khi ra về, quý sư cô tặng con cuốn vở với lời nhắn nhủ con quay trở lại. Nhà con ở gần chùa Từ Đức nên con cũng thường lên chùa. Ngày đó, con không biết vì sao mà mình lại thích đi tu, chỉ là thấy thích thôi. Con rất thích cuộc sống tại Bát Nhã nên xin ba mẹ con cho con đi xuất gia tại Bát Nhã. Ba mẹ con nghĩ con chỉ muốn nhất thời thôi và khuyên con nên học xong lớp 12 đã.

Học hết lớp 12, con thi đỗ đại học. Sư cô Hội Nghiêm – dì của con – đã tặng cho con một chuyến đi chơi Thái Lan. Con rất hứng khởi với chuyến du lịch này. Nhưng ông ngoại con lại cho con qua Làng Mai chơi. Và đó là nhân duyên đã đưa con tới Làng năm 2012. Trước ngày đi sang Làng, mẹ dặn con phải quay về học đại học xong rồi mẹ mới cho đi tu. Lý do đi học đã kéo dài thêm thời gian của con ở lại với gia đình, bè bạn…

Con ở Làng một thời gian rồi được qua Đức thăm Học Viện EAIB. Thời gian này, ngày nào con cũng viết thư cho Sư Ông kể về những hạnh phúc của con. Một hôm, Sư Ông gọi con lên chơi và bảo: “Bây giờ Sư Ông và quý sư cô cho con ở xóm Hạ, con có đồng ý không?” Nghe Sư Ông hỏi, trong lòng con thích lắm. Nhưng con thưa với Sư Ông là con đã trót hứa với mẹ sẽ trở về Việt Nam để đi học đại học rồi. Khi rời Làng về lại nhà, con khóc nhiều lắm.

Lần khác, con lại xin ba mẹ đi tu, ba mẹ hỏi tại sao con đi tu? Lúc đó con cũng không giải thích được lí do. Mẹ nói: “Nếu như con nuôi dưỡng được tâm bồ đề thì dù có học xong bốn năm hay sáu năm đại học, mẹ cũng không ngăn cản con được. Còn bây giờ, con không nói được mục đích đi tu của mình thì mẹ thấy con còn bồng bột”. Nghe mẹ nói vậy, con đành phải đi học tiếp. Hai năm đầu học đại học, con thấy những thú vui ở ngoài đời không nuôi dưỡng được con bằng niềm vui đích thực bên trong. Con thấy buồn nên thường trốn học và rủ mấy bạn đi ăn hàng, đi hát karaoke… Ngày nhỏ con chưa bao giờ dám trốn học đi chơi, mà vào đại học con lại hư như vậy đó! Sau những cuộc chơi, con thấy tâm mình vẫn không được vui nhiều. Con thường ra công viên để nhìn ngắm mọi người. Ở công viên có rất nhiều bạn trẻ. Bên ngoài các bạn cười nói vui vẻ, nhưng con tự hỏi chắc gì các bạn có hạnh phúc thực sự từ bên trong tâm hồn. Con suy nghĩ rất nhiều. Và từ từ con thấy rõ được tâm bồ đề của con, đồng thời biết được lý do vì sao con muốn đi tu.

Lần thứ ba, con quyết tâm xin ba mẹ đi tu. Ba mẹ thấy lời nói của con có vẻ mạnh mẽ quá, nên cũng không hỏi lại lý do vì sao con muốn đi tu nữa, mặc dù khi đó con đã chuẩn bị rất kỹ nhiều câu trả lời. Ban đầu ba mẹ cũng không đồng ý. Nhưng khi thấy con tự quyết định trả nhà trọ và xe máy thì ba mẹ lo con nghĩ quẩn rồi trốn đi nên cuối cùng cũng đành phải chấp thuận theo ý nguyện của con.

Thời gian đầu về Làng thực tập, con được nuôi dưỡng rất nhiều. Song cũng có lúc con thấy hơi buồn. Theo sự chỉ dạy của quý thầy và quý sư cô, con nhận ra trong lòng mình còn nhiều tập khí, nhất là chưa thực tập giỏi pháp môn sử dụng ái ngữ. Vì vậy con đang cố gắng thực tập mở lòng thương yêu, chấp nhận và con thấy con đang có rất nhiều hạnh phúc trong cuộc sống xuất gia.

Sư bé Chân Trăng Hòa Hợp: Tên của con là Xuân Lộc. Xuân Lộc nghĩa là mùa xuân ở Bảo Lộc, nơi con được sinh ra, đó cũng là mong ước của ba con gửi gắm nơi con. Con đến từ tăng thân Xuân Phong tại Sài Gòn. Xuân Phong có nghĩa là “làn gió xuân.” Khi con thọ giới Tiếp hiện, pháp tự của con là Chân Xuân Hồn Nhiên. Do đó con thầm nghĩ, có lẽ xuất gia lần này con sẽ có tên Xuân gì đấy. Nhưng cuối cùng lại là Chân Trăng Hòa Hợp.

Bốn năm học ở Sài Gòn đã cho con cơ hội thực tập quay về với hải đảo tự thân, và không bị ảnh hưởng nhiều về những gì xảy ra ở bên ngoài. Bây giờ được qua Làng xuất gia, con mong ước mỗi ngày con thực tập hành xử cho đẹp để quý sư cô và các sư chị, sư em không buồn lòng. Con thấy mình còn nhiều vụng về và thỉnh thoảng cũng có buồn. Những lúc sự thực tập của con đi xuống thì con hay nhớ nhà, nhớ những người thương của mình. Sau đó con nghĩ lại, nếu như con cứ vội vàng, muốn cái gì cũng được mau chóng thì tự mình làm mình khổ thôi. Vì vậy, con buông bỏ để tâm con được bình an trở lại.

Xuất thân từ tăng thân cư sĩ nên con rất trân quý những tăng thân cư sĩ như Tăng thân Sen Búp hay Tăng thân Trăng Rằm… Không có các tăng thân ấy thì con không có được hạnh phúc như bây giờ. Con thấy con may mắn được sinh hoạt trong tăng thân, các anh chị em, bạn bè cùng hướng đến những điều tốt đẹp. Con được nuôi lớn từ môi trường an lành, nên tâm con không để nhiều thời gian nghĩ đến các chuyện linh tinh khác.

Con hay nghĩ cuộc sống mình cần cái gì và nuôi mình bằng cái gì? Con thích nuôi mình bằng lý tưởng phụng sự và sống hòa hợp với mọi người. Con thích đi dạo phố một mình để nhìn cuộc đời và xem thử mình có làm được điều gì không? Từ những suy nghĩ đó, nó đã tạo cho cái thao thức muốn xuất gia trong con lớn lên.

Nói tới phụng sự thì con nghĩ đến con đường của Sư Ông đã đi qua, và những gì con đang tiếp nối. Con thích làm việc từ thiện theo chương trình “Hiểu và Thương” với các cô chú Tiếp hiện. Con muốn những việc mình làm phải có thực tế và có kết quả tốt đẹp. Ví dụ con mời các bạn trẻ cùng con mở các lớp học tình thương cho các em có hoàn cảnh nghèo khó.

Khi xuất gia, lý tưởng phụng sự của con có thay đổi khác một chút. Con thấy các công việc chấp tác ở trong chùa cũng là việc phụng sự. Làm tri rác con cũng thấy vui nữa… Con muốn nuôi cho mình đủ sự bình an và sự hòa hợp ở trong tâm hồn, cũng như trong môi trường sống cùng Tăng thân. Ngoài ra, con còn có thao thức muốn giúp đỡ cho những trẻ em và những người khó khăn bớt khổ đau!

Sư bé Trăng Khiêm Cung: Con sinh ra ở Bình Định. Năm 14 tuổi, con theo bố mẹ qua Mỹ sinh sống. Con biết Làng Mai mới một năm trở lại đây. Con hay lên mạng để coi quý thầy thuyết pháp. Nhưng sao video: “Đường xưa mây trắng” của Sư Ông cứ hiện lên hoài? Lúc đầu con không thích, nhưng với tâm tò mò vì nghĩ rằng những chương trình hay hiện lên như vậy thường là những chương trình có nhiều người xem, thế là con ấn vào để xem. Càng nghe con càng thích và sau đó con nghe thường xuyên. Nghe xong “Đường xưa mây trắng” con hiểu rõ ràng hơn về người tu chứ không như trước đây con nghĩ là có vấn đề gì đó thì người ta mới đi tu! Và nhờ đó con thấy Đức Bụt gần gũi với mọi người hơn, mà không phải là Ông Bụt biết bay hay có hào quang rực rỡ.

Khi con biết được đạo Bụt rồi nhưng con vẫn không nghĩ là mình sẽ đi tu, lúc đó con đang học đại học. Con học hết ngành này đến ngành khác. Con nghĩ mình phải làm một cái nghề nào đó thật có ý nghĩa để trước khi chết không cảm thấy áy náy, hối hận. Ở nhà, ba má con sống với nhau rất vui và đầm ấm. Ba má thương con lắm. Ngày nhỏ, con cứ nghĩ giây phút hạnh phúc đó sẽ còn mãi, còn hoài, nhưng khi biết Phật pháp, con mới hiểu không có gì có thể ở lâu với mình được, một ngày nào đó nó cũng sẽ phải thay đổi vì không tránh được quy luật tự nhiên của vô thường. Con có đọc sách Sư Ông, trong Nói với người xuất gia trẻ, Sư Ông dạy: người trẻ cần tìm môi trường tốt để tu tập… và con nghĩ một khi đã quyết định đi tu thì con đi luôn chứ con sẽ không quay trở về. Sau đó con liền mua vé qua Làng.

Ngày đầu tiên tới Làng, con rất vui khi được sống cùng các sư cô trẻ và con thích nhất là phong cảnh ở Làng, nó rất giống cảnh tiên. Tại Làng, con được gặp Sư Ông và một hôm Sư Ông dạy con viết thư xin tập sự xuất gia, trong thư con có kể niềm vui khi con được về Làng. Mấy ngày sau, con được Sư Ông dẫn đi thiền hành và khi dừng chân nghỉ, Sư Ông nói đủ con nghe: “Ở đây giống như ở cõi tiên!”. Con cười và nghĩ thầm: “Sao Sư Ông nói giống như lời con viết trong thư cho Sư Ông quá!” Trong thư xin xuất gia, con không biết giải thích lý do vì sao con đi tu, con chỉ cảm nhận rằng “con đi tu vì đường đời không có điểm đến, chỉ có con đường này con cảm nhận mỗi giây phút đều có điểm đến và có được hạnh phúc chân thật…”. Con cũng thấy con có nhiều điểm giống chú Cát Tường trong chuyện Đường Xưa Mây Trắng. Chú Cát Tường biết chăn trâu thì trước đây con biết chăn bò, con cũng biết cắt cỏ cho bò ăn, biết un khói cho bò không bị muỗi đốt và chăm sóc cho bò mập nữa…

Xuất gia, con được nhận tên mới là Chân Trăng Khiêm Cung. Mặc dù con chưa biết rõ ý nghĩa sâu xa tên của con, nhưng con rất vui và hạnh phúc với cái tên đó. Từ từ con sẽ khám phá thêm.

Lễ xuất gia của Cây Sồi Đỏ

Và dưới đây là những lời chia sẻ của hai sư em Trăng Chánh Niệm (người Ai-len) và sư em Trăng Chánh Định (người Mỹ gốc Phi-líp-pin). Chánh niệm và chánh định cũng là hai yếu tố quan trọng trong sự thực tập của Làng Mai. Ban biên tập chuyển ngữ từ tiếng Anh

BBT: Xin hai sư cô có thể chia sẻ một chút về giây phút đầu tiên khi tiếp xúc với con đường tâm linh hoặc giây phút phát tâm xuất gia của mình.

Sư cô Trăng Chánh Định: Từ nhỏ, con đã được thấm nhuần đời sống tâm linh. Con lớn lên trong gia đình theo đạo Cơ đốc (Filipino Catholic – đạo Cơ đốc của người Phi-líp-pin). Con đi học ở trường Cơ đốc giáo và kinh nghiệm này đã in đậm trong con. Con không xem đạo Cơ đốc là một tôn giáo mà chỉ chứng nghiệm nơi đây tình thương, sự bình an và lòng từ bi. Con thường chơi với các Sơ (nữ tu đạo Cơ đốc) khi còn học lớp một, lớp hai và từng cầu nguyện cho hòa bình trước tượng đức mẹ Maria. Có một lần, khi đang học lớp hai tại tiểu bang California – Mỹ và con được hỏi là muốn làm gì khi trưởng thành, con đã viết xuống câu trả lời rằng con muốn làm một họa sĩ hoặc một người tu. Nhưng khi lớn lên, con có khó khăn với một vài yếu tố trong đạo Cơ đốc và trong thâm tâm, con không muốn trở thành một sư cô theo truyền thống này. Tuy thế, con vẫn thực tập theo tinh thần của đạo Cơ đốc và truyền thống tâm linh của gia đình.

Mãi cho đến năm 2005 con mới tìm đến tu viện Lộc Uyển. Nơi đây đã đánh thức một cái gì đó vốn nằm sâu trong con từ bấy lâu nay. Trong thời gian còn học đại học cho đến lúc đi làm, con chỉ nghĩ rằng ý muốn xuất gia lúc còn nhỏ của con là vì con muốn sống một nếp sống đơn giản và phụng sự cho công bằng xã hội. Vì vậy con đã theo học chuyên ngành về hòa bình và giải quyết xung đột. Sau khi ra trường, con làm việc cho một tổ chức phi lợi nhuận, hoạt động vì công bằng xã hội. Đến năm 2005 thì con kiệt sức. Con tìm về tu viện Lộc Uyển, vì trước đó con gặp lại một người bạn cũ cũng kiệt sức khi làm các công tác xã hội trong cộng đồng người da màu tại thành phố Los Angeles, anh ấy vừa trở về từ khóa tu cho người da màu tại Lộc Uyển.

Con như một con cá gặp lại nước khi lần đầu tiên đến Lộc Uyển. Có một cái gì thật sâu trong con được đánh động. Con nhớ mình đã khóc khi phải rời nơi đây. Con cảm giác như đang được uống một thứ nước mà con không nhận ra là mình đã khát khao tìm kiếm bấy lâu. Từ đó hạt giống xuất gia tiếp tục được tưới tẩm trong con. Nhưng các điều kiện để được xuất gia chưa hội tụ đầy đủ, vì bên ngoài lẫn bên trong con còn những giới hạn như tài chánh, nợ nần và nhiều vấn đề khác. Tuy vậy, con vẫn tiếp tục về Lộc Uyển và tham dự các khóa tu cho người da màu.

Năm 2007, lần đầu tiên con về thăm quê hương Phi-líp-pin và có cơ hội tham dự vào phần cuối chuyến đi Việt Nam của Tăng thân Làng Mai. Chuyến đi này đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời con. Năng lượng cầu nguyện của các buổi lễ Trai đàn chẩn tế và những lời dạy của Thầy về sự trị liệu, về giáo lý bất sinh bất diệt đã cứu cuộc đời con. Trong thời điểm đó, con đã nghỉ việc và đang tìm một hướng đi mới, đến gần với Tăng thân hơn và tìm hiểu thêm về cuộc sống xuất sĩ. Sau khi trở về Mỹ, con tham dự thêm một khóa tu cho người da màu, sau đó thì hay tin em trai con bị giết. Con đã bị chấn động rất lớn. Nếu không có sự thực tập, nếu không tu tập với Thầy cùng Tăng thân trong mùa hè năm đó thì con không còn có mặt ở đây trong hình hài này. Năng lượng mà con tiếp nhận được, những bài học và những thực tập đã giúp con vượt qua được nỗi đau mất em, đồng thời có mặt cho người thân của con. Con trở thành người chăm lo mọi chuyện cho đám tang của em. Cái chết bất đắc kỳ tử của em con là một cú sốc lớn cho cả gia đình. Vì vậy con đã áp dụng sự thực tập để quân bình năng lượng trong gia đình. Lúc ấy, con buông bỏ ước muốn xuất gia của mình. Sau một thời gian vết thương lòng trong gia đình đã ít nhiều được chữa lành, con bắt đầu trở về con đường thực tập, trở về với tu viện Lộc Uyển – nơi mà hạt giống xuất gia của con tiếp tục được tưới tẩm và giúp con biểu hiện dưới hình tướng của một người tu như ngày hôm nay.

Sư cô Trăng Chánh Niệm: Rất khó để con tìm lại dấu vết nơi khởi đầu con đường tâm linh của con, vì trước khi đến Làng Mai, nó chưa thực sự định hình trong con. Con lớn lên ở Ai-len (Ireland), sống rất gần gũi với đất đai. Con thường chơi một mình trên những cánh đồng, bên bờ sông hay chơi với các loài vật. Con thấy mình rất may mắn được sống như vậy. Mối liên hệ với đất Mẹ thực sự là gốc rễ tâm linh của con. Lớn lên ở Ai-len, nơi Cơ đốc giáo có ảnh hưởng rất lớn, con đã đi học ở trường đạo hai năm nhưng không bao giờ xem mình là người Cơ đốc vì cha mẹ của con cũng chưa bao giờ thực sự theo đạo này. Ngoài ra, có cái gì đó trong đạo Cơ đốc chưa làm cho con thỏa mãn. Tuy nhiên, khi sống ở Làng, con đã có thể trân quý một phần nào giá trị của đạo Cơ đốc, đặc biệt là khi con đọc được quyển sách của Thầy “Living Buddha Living Chirst” (Bụt ngàn đời, Chúa ngàn đời).

Con bắt đầu tìm hiểu về đạo Bụt và con đường tâm linh năm con mười sáu tuổi, nhưng rồi nhiều chuyện xảy đến khiến con ngưng lại và không muốn đi xa hơn trên con đường tâm linh nữa. Mãi đến năm 2007, con đọc được một quyển sách về chánh niệm và bắt đầu thực tập. Con đã cảm nhận được niềm hạnh phúc mà nhiều năm qua con đã không chạm tới được. Tuy nhiên, có thể vì không có tăng thân và có nhiều sự thay đổi xảy ra cho cuộc đời con vào thời điểm đó, nên rốt cuộc con đã từ bỏ sự thực tập. Lúc đó con đang làm việc cho Trung tâm Y tế Quốc gia (National Health Service) ở Anh, phụ trách công việc liên quan đến những người trẻ đang bị rối loạn tâm thần ở giai đoạn một. Ban đầu con thấy đây là một công việc tuyệt vời đối với con, vì con có cơ hội giúp đỡ những người khác. Nhưng dần dần con bị nhấn chìm bởi những khổ đau mà con tiếp xúc qua công việc, đến một lúc con không chịu đựng nổi nữa. Và con quyết định mua vé một chiều đi Brazil và con đi du lịch khắp đất nước này trong hai năm. Trong suốt thời gian đó, con vẫn thường tự hỏi: vì sao con lại từ bỏ sự thực tập chánh niệm trong khi sự thực tập đem đến cho con rất nhiều hạnh phúc?

Sau một thời gian dài rong ruổi, tìm kiếm ý nghĩa của cuộc đời, con quyết định trở lại với sự thực tập. Con muốn chấm dứt khổ đau và tập khí gây khổ đau trong con. Vì vậy con đã phát nguyện để ra một năm thực tập sống chánh niệm và con muốn tìm đến Làng Mai. Con không nghĩ rằng con sẽ được nhận vào, tuy thế con vẫn gửi đơn xin về Làng. Quý sư cô xóm Hạ nhận được đơn của con và đã gọi con về. Con về đến Làng sau ngày sinh nhật của mình một ngày và liền sau đó, mọi người đều hỏi con: “Em có ý định xuất gia không?” Lúc ấy con suy nghĩ: “Không! Không bao giờ!”. Con không hề có ý định đó khi đến đây.

Con đã quen sống trong một gia đình nhỏ và gia đình con cũng đi qua rất nhiều sóng gió, vì vậy sống chung trong một tăng thân và để cho tăng thân ôm ấp là điều mà con thực sự phải học hỏi. Con phải thực tập xây dựng niềm tin: niềm tin vào mọi người, vào gia đình, niềm tin là mình có khả năng mở lòng và chấp nhận tình thương của mọi người. Con cũng đang thực tập để sống đúng với chính mình, được là chính mình mà không sợ bị người khác phán xét, đẩy ra hay bỏ mặc. Con thực tập điều này không chỉ cho bản thân con mà còn cho cả gia đình huyết thống.

Những lời dạy của Thầy và những kinh nghiệm sống trong tăng thân đã làm cho cuộc đời con thay đổi một cách sâu sắc. Con không hình dung nổi chuyện gì sẽ xảy ra nếu con không tìm về đây. Vào tháng 5/2014, con trở về thăm mẹ và cũng bắt đầu suy nghĩ về việc xuất gia. Con đã bàn với mẹ về việc này. Có nhiều sự thay đổi đã xảy ra trong liên hệ giữa mẹ và con. Con đã thực sự lắng nghe mẹ chia sẻ. Chỉ cần ngồi yên theo dõi hơi thở và lắng nghe mẹ thôi cũng đã giúp cho mẹ rất nhiều rồi. Con đã vượt qua khổ đau của chính mình để có mặt thực sự cho mẹ, điều này đã giúp gắn kết hai mẹ con lại với nhau. Đây là điều mà Thầy và Tăng thân đã trao truyền cho con.

Con nhớ trong khóa tu mùa hè vừa rồi, khi Thầy và đại chúng đang ăn trưa pic-nic giữa rừng bạch dương ở xóm Hạ, và con đang ngồi tựa lưng vào một gốc cây bạch dương thì thầy Pháp Linh và sư cô Trai Nghiêm trình diễn bài hòa tấu Ave Maria. Giây phút ấy thật nhiệm mầu, có nắng ấm, có Thầy, có Tăng thân bao quanh. Con cảm giác như nếu con không còn cơ hội thưởng thức một giây phút tuyệt đẹp nào như giây phút này nữa thì con cũng bằng lòng. Giây phút này đẹp quá, đủ để nuôi con cả một đời rồi. Và bỗng nhiên trong con đi lên hình ảnh mình rụng hết tóc và đang mặt áo nâu của một người xuất sĩ. Con nghĩ “ồ, thật là thú vị!” (cười). Thế nhưng, cũng phải mất một thời gian để cho con thực sự quán chiếu và quyết định về con đường xuất gia của mình. Giống như sư chị Chánh Định chia sẻ, con cảm giác như được trở về nhà. Con hiện đang rất hạnh phúc và mong sẽ có cơ hội tạo hạnh phúc cho mọi người.

BBT: Hai sư cô đã chuẩn bị như thế nào cho lễ xuất gia?

Sư cô Trăng Chánh Niệm: Con đã chuẩn bị cho mình bằng cách không suy nghĩ, lo lắng nhiều. Trong suốt một tháng, sáng nào con cũng dậy sớm và thực tập Năm Cái Lạy để tiếp xúc với tổ tiên tâm linh và huyết thống. Sự thực tập này giúp cho con rất nhiều. Con cũng được tham dự các lớp giới và uy nghi. Sư cô y chỉ sư còn hướng dẫn cho con về những uy nghi trong đời sống hàng ngày như cách ngồi khi mặc áo tràng và ngồi như thế nào cho đúng trong một buổi pháp thoại, v.v.

Sư cô Trăng Chánh Định: Con thấy cả cuộc đời con là một quá trình chuẩn bị cho sự kiện này. Có một bài thánh ca của đạo Cơ đốc mà con xem là một bài kệ cho chính mình. Bài này thường được hát vào buổi sáng tại nhà thờ khi tín đồ lên nhận bánh thánh.

Lạy Chúa, xin hãy chuẩn bị cho con để con trở thành một nơi an trú

Tinh khiết, linh thiêng, đáng tin cậy và trung thành.

Với lòng biết ơn, con sẽ là

Một nơi an trú muôn đời cho Ngài.

(Lord, prepare me to be a sanctuary

Pure and holy, tried and true.

With thanksgiving,

I’ll be a living sanctuary for you.)

Với bài kệ này, con thực tập mở lòng để tiếp xúc với tổ tiên huyết thống, tâm linh và đất đai trong con với lòng biết ơn. Con cũng thực tập pháp môn dừng lại. Y chỉ sư của con và sư cô Trụ trì cũng hướng dẫn và khuyến khích con thực tập sám pháp địa xúc. Thực tập pháp môn này, con thật sự cảm nhận được năng lượng của tổ tiên huyết thống trong con. Giữa con và tổ tiên huyết thống không có sự ngăn cách. Khi con bước trên con đường tự do, thảnh thơi của người xuất sĩ thì tổ tiên huyết thống cũng đang bước cùng con.

BBT: Khi lần đầu tiên nghe pháp danh của mình, hai sư cô cảm thấy thế nào? Có thấy sự liên hệ nào giữa mình và pháp danh của mình không?

Sư cô Trăng Chánh Định: Pháp danh của con là Chánh Định, và Định trong tiếng Phạn là “samadhi”. Một điều thật thú vị là mật khẩu (password) cho máy tính cũng như các thiết bị điện tử cá nhân của con đều là chữ “samadhi”. Ngay cả khi con kết nối mạng wifi cho ba mẹ và gia đình, con cũng dùng mật khẩu là “samadhi”. Con nhớ sau khi xuất gia, cháu của con hỏi: “Tên của cô – Chánh Định – có nghĩa là gì?”. Con trả lời: “thực ra nó là samadhi”, rồi con chợt nhận ra: “ui chết, đó là mật khẩu của mình!”. Con sẽ phải đổi hết các mật khẩu ấy. Con thấy mình hình như có mối liên hệ với pháp danh này. Chắc sẽ còn nhiều điều thú vị nữa đang chờ con khám phá.

Sư cô Trăng Chánh Niệm: Giây phút ấy là một giây phút trọng đại đối với con. Khi tiếp nhận pháp danh, con nghĩ: “Ồ, cái tên làm cho con có cảm giác như mình đang trở thành một con người hoàn toàn mới”.  Trước đó có vài người nói rằng có thể pháp danh của con sẽ liên quan đến âm thanh vì con biết hát. Con cũng mong như thế. Nhưng khi nghe tên “Chân Trăng Chánh Niệm”, con cũng thích! Con ý thức rằng tên con đại diện cho pháp môn và con thấy mình phải cố gắng thực tập uy nghi nhiều hơn nữa. Mỗi khi nghe ai đó gọi tên mình, chẳng hạn như: “Cảm ơn sư em Chánh Niệm!”, con thấy đó là một tiếng chuông chánh niệm. Quả là một cơ hội để thực tập. Con thường có khuynh hướng hơi nghiêm khắc và đòi hỏi với chính mình. Sư cô Kỳ Nghiêm, một sư cô rất vui tính, đã nhắc nhở con rằng “chánh niệm là suối nguồn của hạnh phúc”. Con cảm thấy biết ơn đại chúng thật nhiều. Con sẽ cố gắng thực tập để xứng đáng với pháp danh của mình và đem lại hạnh phúc cho đại chúng.

BBT: Xin hai sư cô chia sẻ một vài kinh nghiệm chuyển hóa của mình, kể từ lúc bắt đầu thực tập cho đến bây giờ.

Sư cô Trăng Chánh Định: Sự thực tập lắng nghe đã chuyển hóa mối quan hệ giữa con và gia đình, nhất là đối với ba của con. Con thực tập theo Năm giới, khi thấy cơn giận phát khởi, con ngưng việc nói năng. Đây là một sự chuyển hóa quan trọng cho con và cho gia đình. Khi con nghe một điều gì không như ý mình hoặc khi con đang giận, con thực tập dừng lại, thở và không phản ứng lại. Con không còn tập khí phản ứng như trước đây nữa, đặc biệt là với ba của con. Con thọ Năm giới đã bảy năm và sự thực tập Năm giới này đã đem lại nhiều chuyển hóa và trị liệu quan trọng cho gia đình con.

Sư cô Trăng Chánh Niệm: Con học được rất nhiều từ phương pháp truyền thông, truyền thông với chính mình và mọi người xung quanh. Khi xưa con thường giận dữ mà không biết nguyên do. Bây giờ thì con biết và con có thể nói ra cho người khác biết. Thật tuyệt diệu!

Mùa Xuân Mới -2015, đã đến với nhiều điều mong ước tốt đẹp. Chúng ta cũng hy vọng các sư em trong Gia Đình Cây Sồi Đỏ sẽ thu hoạch được nhiều niềm vui và hạnh phúc trong đời sống tu học để hiến tặng cho Tăng thân mỗi ngày một tươi đẹp thêm!

Bụt hiện hoa hàm tiếu

Cây khế già phủ bóng mát một góc sân trước nhà khách. Mái ngói cổ che mát cả hành lang dài trước phòng khách ấy. Những hôm có gió, hoa khế trải một tấm thảm màu tía trên nền đất. Chú ưa ngồi nơi hành lang ấy, dưới bóng cây khế và dưới mái ngói cổ kính, nhìn những hoa khế tí hon nhảy múa trong con gió mát.

Một lần, chú bỗng nhận thấy trong con gió nhẹ ấy có một thứ hương rất ngọt, thoáng qua, rồi thôi. Chú không cưỡng lại được mà để cho cái hương vị ngọt thanh ấy trôi xuống cổ họng rồi lan toả khắp các giác quan của mình. Chú cố để ý nhưng con gió không mang lại cái vị ngọt kia cho chú thêm lần nào nữa. Chú cũng tiếc, nhưng rồi cũng buông thả được.

Đó là những tuần đầu cuộc đời xuất sĩ của chú. Chùa vắng, cổ kính, mùa hè và gió mát. Những thứ ấy nghe qua chẳng có vẻ gì là liên hệ với nhau. Thế nhưng trong ký ức chú, chúng kết hợp với nhau thành một thứ độc ảnh cảnh rất tỏ tường. Những buổi trưa mùa hè, góc hành lang nhà khách dưới bóng cây khế cổ kính kia là thiên đường của chú.

Một lần khác, khi đang nhặt một trái khế trong một bụi cây ngay dưới mái hiên, chú bỗng nhận thấy lần nữa cái hương vị ngòn ngọt mà con gió đã đưa tới ấy. Nhưng hôm đó không có gió. Chú hít một hơi thở nữa và biết chắc là vị ngọt ấy không phải từ đâu xa xôi được con gió đưa đến mà phải ở đâu đó ngay cạnh mình. Chú nhìn kỹ những bụi cây chung quanh, những bụi cây lá xanh màu ngọc lục dọc theo phía dưới hành lang. Và rồi chú phát hiện ra những nụ trắng nhỏ nhắn, như những đóa sen tí hon, khép mình trong những nách lá xanh bóng sum suê. Lại gần, cúi xuống, và chú quyết chắc rằng cái hương ngọt rất thanh kia đã được gửi đi theo con gió từ những nụ hoa trắng khiêm tốn ấy.

Thế là thiên đường mùa hè của chú có thêm những nụ trắng khiêm nhường, tinh khôi. Như đã thân thiết nhau, từ đó chú phát hiện ra nhiều hơn, rồi nhiều hơn, những nụ trắng thơm ngọt tinh khôi như thế trong các bụi xanh rậm rạp dọc theo hành lang nhà khách. Có nắng có nước là có hoa. Những năm tháng đầu tiên của cuộc đời xuất gia, chú đã được nuôi dưỡng không ít bởi cái hương thơm thanh ngọt ấy.

Lớn lên, chú phải đi xa, rất xa. Ký ức và tuổi thơ thường đến cùng với những hình dáng, sắc màu và hương vị có dấu vết sâu sắc nhất trong tâm hồn người ta. Nhớ về tuổi thơ ngọt ngào u tĩnh của mình nơi hành lang cổ kính mùa hè dưới bóng mát cây khế già, chú thường dừng lại rất lâu nơi cái hương vị ngọt ngào thanh thanh của những bông hoa trắng tí hon ấy. Nhưng cách nửa địa cầu, ở một môi trường khí hậu thuỷ thổ hoàn toàn khác biệt, chú không dám mong đến chuyện có thể gặp lại kẻ cố nhân kia. Cái gì người ta nhớ mong mà biết là mình không thể nào gặp được, cái ấy sẽ hiển hiện thường trực và tỏ tường hơn những cái khác. May thay, đó chỉ là một dáng trắng nhỏ như hoa sen và một mùi hương ngọt nhẹ như chuối chín. Và, quan trọng hơn cả, là cái dáng nhỏ và cái hương nhẹ kia, mỗi khi biểu hiện, đều làm cho chú trân quý và an trú hơn nơi nếp sống xuất sĩ của mình. Từ bên kia địa cầu, chú vẫn nhớ, vẫn thương và vẫn thường “ngồi” nơi cái hành lang có những bông hoa trắng ấy.

Rồi chú cũng được về thăm chốn xưa, nhiều năm sau đó. Tuy không phải là mong ước chính, nhưng tự trong thâm tâm, chú vẫn đợi để có thể ngồi bên hiên nhà khách, dưới bóng cây khế già để thở lại cái vị ngọt thanh của tuổi thơ kia. Chú về, chốn xưa không còn u tĩnh nữa. Những mái ngói thành đỏ tươi, những hành lang gạch rêu phong thành những hành lang men bóng loáng, gốc khế cổ thụ đã biệt dấu, và hàng cây ngọc lục dọc hành lang với những hoa trắng ngọt thơm của chú ngày xưa đã biến thành sân bê tông để xe gắn máy. Chú đã phải ngơ ngẩn một hồi lâu. Rồi thôi, bởi chú có quyền gì để giữ một gia tài mà chú đã không chọn lựa? Chú đã chọn lựa dựng xây một gia tài khác từ ngày rời chốn xưa. Làm sao người ta có thể cùng lúc đi trên hai con tàu ngược hướng? Rồi thôi, bởi chú muốn giữ được trong ký ức mình cái độc ảnh cảnh ngọt ngào thanh khiết ấy. Rồi thôi, bởi chú về rồi chú lại đi. Rồi thôi.

Gần mười năm sau phút giây ngơ ngẩn ấy, chú đã phải ngơ ngẩn một lần nữa. Và lần này, chú ngơ ngẩn bên cái dáng cây, cạnh cành lá, trong hương thơm và dưới bóng mát của những bông hoa trắng như biểu hiện ra từ thể tánh mình. Đương nhiên đó không phải là chốn xưa, mà là một nơi khác cách nơi xưa vài ngàn dặm. Lòng ta có người, người tự tìm đến ta. Phải vậy chăng? Đây rồi.

Đây rồi, bởi chú đã trả lại được cho mình cái mà mình tưởng là đã mất. Chú đã mất gì đâu? Đây rồi, chú bé ngày xưa đang cười tươi thỏa mãn trong lòng chú. Đây rồi, bông hoa trắng tinh khôi ngọt thơm trên tay đã mang đoàn tàu ngược hướng kia trở về thể nhập với chú trong khoảnh khắc trùng phùng ấy. Đây rồi.

Từ khi cái độc ảnh cảnh ấy hòa tan vào tánh cảnh, chú thấy mình không còn có nhu yếu nhớ, thương hay cố mời gọi những ký ức xưa kia quay về nữa. Và hay thay, một lần khác, một nơi khác, và với sự vô cầu, chú thấy mình đang ngồi bên những chậu hoa xưa ngay hành lang phòng trà của chú. Chú bỗng phát hiện ra mình cười, một nụ cười hàm tiếu, nụ cười nở từ hạnh phúc và sự u tĩnh khiêm nhường tinh khôi trong lòng chú. Bụt hiện hoa hàm tiếu.

Chùa Quy Thiện, dưới chân núi Thiên Thai, Tứ Tây, Thủy An, Huế, là nơi tôi khởi đầu cuộc đời xuất gia của mình. Những năm đầu thế kỷ 20, cự tộc Thái Văn gốc Quảng Trị đã khai kiến ngôi phạm vũ này. Quy Thiện, là tên làng của gia tộc hiển hách này. Quy Thiện, nghĩa là những điều lành, những hoa trái ngọt ngào của sự thực tập quay về nương tựa Tam bảo. Cụ Thượng thư Thái Văn Toản đã thỉnh thiền sư Chơn Đạo Chánh Thống, cao đồ của sư tổ Hải Đức làm trú trì.

Thầy tôi, Hoà thượng húy trước Như sau Phan hiệu Quán Chơn kế truyền trú trì đời thứ ba. Ngày 16 tháng 4 năm 1993, tôi được xuống tóc, chính thức làm người xuất gia, đệ tử đời thứ tư dòng Quy Thiện. Gần một trăm năm tuổi, ngôi chùa tuy khiêm tốn và trẻ ấy lại rất đỗi hùng vĩ và cổ kính đối với một chú bé mười ba. Cái hành lang nền gạch mái ngói chạy dài mát rượi bóng cây, những cội hoa hàm tiếu u nhã xanh tươi dọc theo hành lang ấy là nơi tôi cất giữ tuổi thơ thanh tịnh ngọt ngào của mình. Những câu kinh đầu tiên, những bài thi kệ đầu tiên, những nét sổ nét mác đầu tiên, những điệu tán tụng đầu tiên… tôi được học trong cuộc đời xuất gia của mình đều có sự cổ vũ và sẻ chia của cái nền gạch ấy, của cái mái ngói ấy, của cội khế già ấy và đặc biệt là của mùi hương ngọt lịm thanh khiết nơi những đóa hoa nhỏ nhắn trắng tinh như những đóa sen tí hon khiêm tốn khép mình trong những giậu hàm tiếu tươi tốt sum suê ấy. Thầy tôi rất cưng những cây hàm tiếu ấy. Các sư huynh của tôi cũng rất quý chúng. Và đương nhiên, tôi cũng bắt đầu biết yêu thương những đóa hoa trắng nhỏ xíu hình búp măng như ngón tay Bồ tát ấy. Nghe đâu, những gốc hàm tiếu dọc hành lang nhà khách kia đã có từ thời tổ khai sơn, nghĩa là đã trăm năm tuổi rồi.

Hàm nghĩa là còn ngậm, chưa mở tung ra; tiếu nghĩa là cười; hơn nữa hoa này chỉ cho hương khi đang còn nở hé cho nên mới có tên là hàm tiếu (含笑花). Hàm tiếu thuộc họ Magnoliaceae, cùng gốc với hoàng lan và ngọc lan. Nhưng so với hoàng lan và ngọc lan thì cây hàm tiếu nhỏ hơn, có khi mọc thành bụi hoặc thành cây thân gỗ nhưng rất chậm lớn. Chiều cao tối đa chừng 4-5 mét. Tán lá tuy xanh quanh năm nhưng không rộng. Lá bóng mượt, màu ngọc lục, có loại có gai mềm quanh vành lá. Hàm tiếu có tên khoa học là Michelia Figo hay là Michelia fuscata. Hoa nhỏ, hình búp sen. Hương hàm tiếu ngọt như mùi chuối chín nên Trung Hoa gọi là hương tiêu (香蕉花), tiếng Anh dịch là Banana Shrub. Người phương Tây cho nó có hương thơm của một loại rượu nên gọi nó là Port Wine Magnolia. Khi lớn, cây hàm tiếu khá giống với cây tulip bên phương Tây nên người phương Tây cũng gọi là Chinese tulip tree. Người Nhật gọi loài hoa này là đường chủng chiêu linh (唐種招霊). Ngoài ra, bởi nó cùng họ với hai loài hoa lan và có hương thơm của chuối chín nên cũng có tên là lan tiêu. Hoa thường màu trắng, có loại màu hạt dẻ, và cũng có loại khác màu trắng với nhiều vệt tía. Không như hai kẻ đồng tộc của mình, hàm tiếu ngậm hương và một khi đã nở tung ra rồi thì không những là không hương mà còn rụng liền ngay sau đó. Hơn thế nữa, hương hàm tiếu tuy đượm ngọt nhưng không khoe khoang, chỉ trong gang tay và đối với kẻ thiếu duyên, là đã có thể không cảm nhận được mùi hương. Phải đến thật gần, thật khẽ và thật cẩn trọng thì may ra mới có thể hưởng được cái hương thơm ngọt lịm thanh khiết của nó. Không biết có phải là do cái ẩn nghĩa vi diệu ấy mà người xưa ví nó với những kẻ xuất trần ẩn dật không?

“Trước sân tôi có trồng một cây hoa hàm tiếu, hoa nó vàng lợt mà thơm, thường lúc đêm khuya người vắng, mùi hương càng nồng; mà lạ nhất là hoa nó chỉ ngậm nụ cho đến khi kết quả mới thôi. Người thưởng hoa chẳng bao giờ thấy lòng hoa. Ở trong làng hoa như nó, có sắc mà chẳng lòe đời, có hương mà chẳng cầu tục biết, có lẽ một bực dật nhân sĩ trong loài hoa chăng?”- (Phan Bội Châu, lời mở bài “Vịnh Hoa Hàm Tiếu”, 1937)

Tôi thích một nụ hàm tiếu trong túi áo nhật bình. Trên con đường đạp xe đến trường, không khí núi non trong lành hòa với hương chuối nhè nhẹ của nụ hàm tiếu làm tôi phấn chấn và sảng khoái lắm. Bạn bè tôi, những ai được tặng một đóa hàm tiếu là vui mừng không giấu được. Những buổi trưa vắng người, nhất là sau một cơn mưa đêm, những đóa hoa trắng ngà kia càng trở nên tươi vui gấp bội. Những buổi tối mùa trăng, hương hàm tiếu quyện vào ánh trăng thành những hơi thở ngọt lịm chảy tan trong cổ họng.

Nhưng tôi không được ở Quy Thiện lâu, mùa thu năm 1996, tôi phải chuyển sang Từ Ân, một ngôi cổ tự khác mà thầy tôi trú trì, để tiện việc theo chương trình trung học. Từ Ân khiêm tốn nhưng nên thơ, nằm sát dòng Hương, dưới bóng những cội mít già trăm tuổi. Mỗi lần có dịp về Quy Thiện không khi nào tôi quên trở lại ngồi yên bên góc thiên đường tuổi thơ của tôi.

Và tôi cũng không được ở Huế lâu, mùa thu năm 2000, tôi theo tiếng gọi của lý tưởng sang Làng Mai cầu học. Mai Thôn là cõi tịnh ở trần gian và tôi không nghĩ rằng mình có thể mong cầu một nơi khác huyền thoại và nên thơ hơn. Tôi an trú được và được nuôi lớn từ cõi tịnh ấy. Nhưng thi thoảng tôi cũng nhớ cái góc tịnh tuổi thơ của tôi quá chừng, đặc biệt là hương hàm tiếu. Nhớ, chỉ thế thôi.

Mùa xuân năm 2004, tôi về thăm quê và đương nhiên là cũng đã về Quy Thiện. Nhưng ngôi chùa cổ kính khiêm tốn xưa không còn nữa. Sư huynh của tôi tiếp nhiệm giám tự và đã hoàn tất sở nguyện đại trùng tu. Tôi chỉ thấy lạ. Là kẻ hoài cổ chăng? Tôi còn thấy tiếc. Là kẻ vọng cổ chăng? Kẻ đi xa nào mà không hơn một lần thấy mình vọng hoài cổ niệm? Ký ức về chốn cũ luôn sống động trong lòng kẻ đi xa. Không còn ngôi cổ tự, không còn mái hiên dài che cái hành lang mát rượi, không còn cái sân đất ngập hoa khế, không còn dãy hàm tiếu xanh mướt ngọt lịm hương… Chẳng thà không về. Về mà thấy những kẻ cố nhân mất biệt dấu tích thì lại càng nhớ. Thì phải thế, phát triển mà. Tôi lại phải rời đi. Thì nhớ, thế thôi.

Tôi tiếp tục ở Mai Thôn và thi thoảng cái nhớ ấy vẫn về. Nhưng bởi biết chắc rằng góc thiên đường tuổi thơ của mình đã thực sự đi vào huyền thoại, tôi, từ từ phải cố tập thả cho nỗi nhớ ấy bay lên tít mù cao. Rồi cũng qua. Thế nhưng lâu lâu nỗi nhớ ấy lại ập về, nhất là những khi thực tại buộc tôi phải kiếm tìm một góc yên bình và ngọt ngào trong ký ức. Nhưng đến rồi đi. Rồi thôi.

Tháng 10 năm 2013, trong một chuyến hoằng pháp đến Indonesia, tôi được thầy phó viện trưởng Ekayana đưa đi thăm đảo Java, nơi dự định sẽ thiết lập trung tâm Làng Mai Indonesia. Đoàn nghỉ chân ở một ngôi cổ tự thuộc giáo hội Ekayana. Sau chuyến bay và chuyến xe dài, đến nơi, tôi thấm mệt. Cái vườn nhỏ và những hành lang trong khuôn viên tòa kiến trúc chữ khẩu mời mọc những bước chân. Tôi lại đang cần những bước chân như thế. Tôi đi, thực sự nghỉ ngơi được trong từng bước chân. Những giao động và ồn ào của chuyến đi cũng đang theo cách riêng của mình mà tìm chỗ nghỉ. Tôi không lo cho chúng, chúng cũng không lo cho tôi. Tôi hoàn toàn hóa thành bước chân và hơi thở. Bỗng có một thứ gì đó rất quen lại vừa rất lạ xuất hiện trong sự lóe sáng của một góc khuất nào đó từ chiều sâu tâm thức. Tôi không muốn để tâm. Nhưng đến một góc khác của khu vườn, ánh chớp kia lại lóe sáng và lần này tôi nhận ra nó xuất phát từ tỷ căn của mình. Ghi nhận như thế rồi tôi tiếp tục mang tôi về nơi bước chân. Thế nhưng khi trở lại lần thứ hai nơi chỗ tôi phát hiện ra sự lạ ấy lần đầu thì tia lửa kia đã trở thành một đám cháy lớn: trước mặt tôi là một cội hàm tiếu đầy hoa cao tới mái chùa. Trong giây phút ngẩn ngơ, bao nhiêu giao động, mệt mỏi và ồn ào của chuyến đi đồng loạt tan chảy cả vào mùi hương thân thương ấy. Đây rồi. Tôi thấy một nụ cười ngọt ngào nở trong lòng mình. Tôi ngồi xuống trên hành lang, bên hiên ngói cổ kính, dưới bóng mát cội hàm tiếu, và dáng lá xanh, và những bông hoa trắng, và hương xưa. Đúng, đây rồi.

Thứ mình tìm kiếm có khi chẳng phải dành cho mình. Cái thật sự dành cho mình tự sẽ đến tìm mình. Chỉ cần mình có mặt cho trọn vẹn. Thật thế.

Từ cái ngày tôi tình cờ tìm lại được góc tịnh tuổi thơ của mình tôi bỗng thấy mình nhẹ nhõm.
Tôi trở lại Thái Lan, nơi tôi nhập chúng mấy tháng trước “chuyến đi tìm thấy” kia, và cái nỗi nhớ ngày xưa tôi đã phải nhiều lần cố phải tập thả cho nó bay lên tít mù cao ấy, bấy giờ bỗng tan biến đâu mất trong tuyệt mù sâu mà không cần một sự để tâm nào cả.
Cái khoảnh khắc tôi khám phá ra rằng mình đã giải thoát được một nỗi nhớ kia thật khoái hoạt làm sao!

Một lần, cũng ở Thái Lan, ra phố cùng huynh đệ, anh em tôi ghé vào một chợ hoa để mua hoa cúng Bụt. Tôi không phải xuống xe bởi chẳng cần phải làm gì cả. Nhưng muốn cho đôi chân được đi vài bước, tôi xuống xe, đi vài bước và trước mặt tôi là một dãy mấy chậu hoa hàm tiếu như từ tít tắp cao và tuyệt mù sâu kia biểu hiện. Và chúng cùng về với tôi.
Tết Giáp Ngọ này tôi có mười mấy chậu hàm tiếu rộ hoa ở “góc tịnh tuổi già” của mình.

Bụt không ở đâu xa. Một lòng về nương Bụt, Bụt hiện hoa hàm tiếu.

Con gặp Thầy

Sư chú Chân Trời Đại Đồng là người Việt, sinh viên du học tại Paris – Pháp. Mùa hè năm 2013, sư chú về Làng lần đầu và đã tìm ra cho mình một hướng đi mới. Ngày 2/7/2014, sư chú chính thức trở thành người xuất sĩ trong gia đình xuất gia Cây Trắc Bá. Bài chia sẻ dưới đây đã nói lên được sự thực tập tiếp xúc với Thầy trong tự thân của sư chú.

Cây hoa lan nhỏ bé,

Từ ngày em về phòng, tôi có thêm một thói quen mới. Khi rảnh rỗi, thắp lên một cây nến, pha một ấm trà, tôi ngồi nhấp từng ngụm trà và ngắm từng bông hoa xinh xắn trong ánh nến lung linh. Có khi với một ly trà nhỏ, vậy mà tôi đã nhấm nháp đến mười lăm, hai mươi phút, chỉ đơn giản vậy thôi nhưng tôi có được rất nhiều niềm vui.

Hầu như mọi lần tôi chỉ ngồi ngắm em trong im lặng. Hôm nay tôi sẽ kể cho em nghe vài câu chuyện nho nhỏ của tôi. Những câu chuyện tuy nhỏ nhưng đem đến cho tôi những hạnh phúc rất lớn. Đó là những kỷ niệm của tôi khi tôi được gặp Thầy – vị Thầy kính yêu của tất cả chúng ta.

Em biết không, bông hoa xinh đẹp! Lần đầu tiên tôi gặp Thầy cách đây chừng sáu năm, lúc ấy tôi còn chưa biết Thầy là ai, thậm chí tôi chưa bao giờ nghe tới tên Thầy. Đó là khi tôi tình cờ được nghe đĩa thu âm của tác phẩm Đường Xưa Mây Trắng, một cuốn sách do Thầy viết. Khi tôi nghe đến tựa đề của chương thứ nhất – Đi để mà đi – tôi thực sự bị tác động mạnh. Hồi còn học tập và công tác ở ngoài đời, tôi làm việc về lĩnh vực kỹ thuật. Những người làm về kỹ thuật chúng tôi thường nói với nhau về tác phong công nghiệp. Ai làm gì lề mề, chậm chạp là bị nhắc nhở “tác phong công nghiệp đâu?” hay khi luộm thuộm, cẩu thả cũng bị nhắc “tác phong công nghiệp đâu?” Tôi cũng có thói quen kiểu tác phong công nghiệp như vậy, đi đâu cũng hấp tấp vội vàng như bị ma đuổi, lên xuống cầu thang là cứ phải hai hay ba bậc mỗi bước mới chịu, làm gì cũng phải thật nhanh, thật chóng mới được.

Ấy thế mà lần đầu tiên nghe câu đi để mà đi, tôi sửng sốt vô cùng. Lối suy nghĩ cũ của tôi – nghĩa là dù không gấp gáp nhưng đi đâu cũng phải bước thoăn thoắt, đi cho mướt mồ hôi ra mới gọi là hay – đã bị đánh đổ hoàn toàn nhờ câu nói giản dị của Thầy. Từ đó tôi bỏ thói quen cũ, tập đi đứng và làm việc khoan thai, từ tốn hơn. Trong tôi đã có những biến đổi rất lớn kể từ khi tôi thay đổi phong cách sinh hoạt hằng ngày. Khi đi, tôi có thể cảm nhận được vẻ đẹp của những hàng cây, những phong cảnh xung quanh. Khi làm việc, tôi bớt được những căng thẳng và còn có thể cảm nhận được sự nhẹ nhàng và niềm vui trong công việc.

Đó em, tôi đã gặp Thầy lần đầu tiên như vậy đấy. Rồi từ đó tôi say mê sách của Thầy, tôi tìm đọc hết cuốn này đến cuốn khác. Càng đọc tôi càng kính trọng Thầy, càng quý mến Thầy, vì Thầy đã mở cho tôi những chân trời hoàn toàn mới lạ về cuộc sống mà tôi chưa từng được biết. Tôi ao ước có ngày được gặp Thầy trực tiếp, được cùng Thầy thực tập những điều mà Thầy dạy trong sách.

Bông lan xinh tươi, ngắm em, tôi thấy em có nhiều phước đức lắm. Em đang được ở đây, bên ánh nến lung linh và bên ly trà thơm, giữa lòng tăng thân của Thầy, được thấm nhuần tình thương của Thầy và những người học trò yêu quý của Thầy. Tôi thấy tôi cũng có rất nhiều phước đức, cơ duyên mầu nhiệm đã đưa tôi từ Việt Nam xa xôi qua bên Pháp và được về Làng gặp Thầy và tu học với tăng thân của Thầy.

Ngày được lên xóm Thượng nghe Thầy giảng pháp thoại, tôi vô cùng phấn khích, lại còn sắp được thực tập thiền hành với Thầy nữa chứ. Tôi tự nhủ mình phải tìm cách đi cho thật gần Thầy mới được. Nhưng vì lạ lẫm nên tôi không biết đại chúng tập trung ở đâu. Khi tới nơi thì Thầy cùng mọi người đã đi được một đoạn, Thầy đi đầu còn tôi ở phía sau cách hàng trăm người. Tôi thất vọng não nề mặc dù tôi vẫn tiếp tục đi cùng đại chúng. Biết là không thể nào chen lên nổi để tới gần Thầy, tôi đành chờ dịp khác. Bây giờ tôi chỉ có thể thực hiện theo lời Thầy dạy là quay về với từng bước chân và từng hơi thở. Rồi nỗi hậm hực trong lòng cũng tan đi, cảm xúc của tôi cũng lắng dịu và nhẹ nhàng trở lại.

Bất chợt câu hát Bụt là lá chín khởi lên trong tâm tôi. Lần này tôi cũng sửng sốt không kém lần trước khi nghe câu đi để mà đi. Lòng tôi bỗng phơi phới lạ kỳ. Khi tôi đem ý thức về với mỗi bước chân và hơi thở, tôi thấy Thầy đang đi ngay bên cạnh mình. Mỗi chiếc lá đung đưa trong gió, mỗi bông hoa long lanh dưới ánh nắng đều thấp thoáng nụ cười hiền từ của Thầy. Tôi dường như quên hẳn ai kia đang dẫn đầu đoàn thiền hành, tôi đang cảm nhận hạnh phúc khi đi thiền với Thầy qua từng ngọn cỏ, từng cánh hoa. Lần thứ hai tôi được gặp Thầy với niềm hạnh phúc dâng tràn như vậy đấy.

Khi nhìn về bản thân, tôi tin rằng cha mẹ, ông bà và tổ tiên của tôi hẳn đã gieo trồng rất nhiều phước đức từ ngày trước để ngày nay tôi có cơ duyên gặp Thầy, được học hỏi những điều Thầy dạy. Sau hai tuần về Làng thực tập như một thiền sinh, một hạt giống mầu nhiệm trong tôi được Thầy tưới từng giọt mưa; được những người học trò của Thầy ôm ấp và vun vén đã nảy mầm – tôi phát nguyện gia nhập tăng đoàn xuất gia của Thầy. Được Thầy và tăng thân chấp thuận, tôi sung sướng vô cùng. Mỗi ngày niềm vui, niềm hạnh phúc và lòng biết ơn của tôi đối với Thầy và tăng thân đều được nuôi lớn.

Trong cuộc sống hằng ngày, tôi vẫn thường xuyên trở về gặp Thầy. Tôi có thể gặp Thầy trong mỗi hơi thở, mỗi bước chân chánh niệm. Khi đang làm việc, thỉnh thoảng bên tai tôi vẳng lên câu hỏi “con đang làm gì vậy?” và tôi mỉm cười, lúc đó có lẽ nụ cười của tôi cũng đẹp gần bằng nụ cười của Thầy nhỉ. Tôi có thể gặp Thầy trong các học trò thương yêu của Thầy, những người đã nguyện sẽ hết lòng tu tập để có thể trở thành sự tiếp nối xứng đáng của Thầy. Ngay khi ngồi đây, ý thức rằng tôi đang được sống giữa những người anh em có tình thương, có sự gắn kết, ý thức rằng tôi có thể ngồi thảnh thơi mà ngắm từng cánh hoa, nhấp từng ngụm trà trong tĩnh lặng, là tôi có thể gặp được nụ cười đầy từ bi của Thầy. Tôi có thể gặp Thầy trong những hạnh phúc, trong sự chuyển hóa những niềm đau nỗi khổ của những thiền sinh tới với Làng. Tôi cũng có thể gặp Thầy trong tôi, trong những niềm vui tôi có hằng ngày, trong những sự chuyển hóa nội tâm của tôi.

Em thấy đấy, bông hoa mầu nhiệm, tôi và em may mắn lắm chứ. Lúc nào Thầy cũng ở ngay bên cạnh chúng ta, Thầy chỉ chờ chúng ta trở về gặp Thầy, và chúng ta có thể gặp Thầy ngay lập tức. Mỗi giây phút chúng ta gặp Thầy đều là những giây phút kỳ diệu, đem lại cho chúng ta niềm hạnh phúc vô bờ. Tôi và em nhớ đừng bỏ lỡ những cơ hội quý giá để về gặp Thầy em nhé, điều này không phải ai cũng may mắn có được. Tôi còn tin chắc rằng, mỗi khi chúng ta về gặp Thầy là Thầy hạnh phúc nhiều lắm. Còn gì vui sướng hơn khi được làm cho Thầy hạnh phúc, phải không em?

Theo bước chân Bụt

Chuyến hành hương mười ba ngày của chúng tôi kết thúc với món quà truyền thống do anh Shantum tặng – một sợi chỉ màu vàng cam cột quanh cổ tay mỗi người để làm kỷ niệm. Người Ấn gọi sợi chỉ này là “sutra” hay kinh, rất hợp với chủ đề của chuyến đi: “Theo bước chân Bụt”. Hai tuần của chuyến đi với bao kỷ niệm khi đặt chân trên các thánh tích, những kinh nghiệm chuyển hóa của tự thân cũng như những cái thấy mới, sâu sắc hơn về nước Ấn và đạo Bụt đã gắn kết tất cả chúng tôi lại với nhau. Những gì chúng tôi mang về từ chuyến đi không chỉ là những tấm ảnh hay vật lưu niệm, mà còn nhiều hơn thế. Như lời chia sẻ của anh Shantum vào cuối chuyến đi, cuộc hành trình tâm linh này sẽ vẫn được tiếp nối khi chúng tôi trở về nhà. Ấn Độ là một nơi đem lại sự chuyển hóa tâm linh sâu sắc, nơi mà những yếu tố huyền thoại và  hiện đại được pha trộn với nhau – một nơi mà trái tim ta không bao giờ có thể rời xa.

Những sắc màu tuyệt diệu của Tăng thân

Chuyến hành hương này thật đặc biệt bởi vì người tham dự đều là người biết thực tập và đã từng dự ít nhất một khóa tu do Làng Mai tổ chức. Chúng tôi được khuyến khích thực tập trong suốt chuyến đi, lúc ngồi trên xe buýt, khi đi, đứng, ăn uống và giao tiếp với mọi người. Đoàn chúng tôi gồm sáu mươi người đến từ nhiều quốc gia như Đức, Hà Lan, Anh, Mỹ, Ái Nhĩ Lan, Pháp, Úc, Thụy Sĩ và cả Ấn Độ. Trong số này có tám vị xuất sĩ (bốn thầy: Pháp Xả, Pháp Chương, Pháp Lý và Pháp Dung và bốn sư cô: Bi Nghiêm, Giác Nghiêm, Hiền Hạnh và Hiến Nghiêm), hai vị giáo thọ cư sĩ và nhiều vị Tiếp Hiện. Sự có mặt của các thiền sinh thực tập chánh niệm đã góp phần làm nên sự giàu có và sâu sắc của những trải nghiệm trong chuyến đi. Có thể nói chuyến hành hương này là một khóa tu di động, thấm nhuần năng lượng tâm linh, yếu tố lịch sử, âm thanh, cảnh tượng và hương vị của xứ Ấn.

Nơi cội Bồ đề uy nghiêm hùng vĩ, chúng tôi có cơ hội chứng kiến những màu sắc phong phú của Tăng thân Làng Mai giữa những sắc màu của các truyền thống Phật giáo khác. Vào buổi sáng đầu tiên, chúng tôi thức dậy sớm và đi bộ đến Bồ Đề Đạo Tràng trước khi mặt trời lên. Chúng tôi đi trong tĩnh lặng, chánh niệm, và cảm nhận được mình đã về, đã tới mặc dù nhiều người trong chúng tôi mới đến đây lần đầu. Chúng tôi lạy Bụt trên nền đá ẩm mát và đi kinh hành chân trần quanh ngôi bảo tháp trước khi tìm đến một khoảng trống để ngồi thiền. Phía bên trên cách chúng tôi không xa là các thầy người Thái quấn y màu vàng nghệ đang tụng kinh tiếng Pali. Bên phải là các sư cô trẻ Tích Lan với các cư sĩ áo trắng đang tụng kinh, và bên trái là khoảng hai mươi thầy Tây Tạng đang hướng về cội Bồ Đề để lễ lạy hết sức nhanh nhẹn và đầy sinh lực trên những tấm ván gỗ. Xa xa, chúng tôi nghe thấy âm thanh quen thuộc của tiếng chuông Đài Loan và gần hơn một chút là tiếng của một nhóm hành hương người Việt. Sư cô Hiền Hạnh pha trà mời mọi người. Chúng tôi ngồi xuống, theo dõi hơi thở, mở lòng lắng nghe giây phút hiện tại – giây phút đầy màu sắc, ngát hương và huyền bí.

Khi mọi người trong nhóm đã tập hợp trong im lặng, chúng tôi bắt đầu ngồi thiền với giọng hô canh của thầy Pháp Xả – thầy dùng bài hô canh buổi chiều, dù là đang buổi sáng, vì bài hô canh ấy được bắt đầu bằng câu: “Vững thân ngồi dưới cội Bồ Đề”.

Từ du lịch đến hành hương

Chuyến đi đòi hỏi mọi người phải tìm được sự quân bình giữa việc làm một du khách và làm một người hành hương, giữa kinh nghiệm bề mặt, thế tục và sự tiếp xúc với chiều sâu tâm linh. Chúng tôi đã được thử thách về nhiều khía cạnh khi chứng kiến những hình ảnh: bầy quạ mổ xác một con bò bên lề đường, đàn bướm vàng đang múa lượn trong nắng mai, bầy trẻ ốm yếu đang hát xin ăn, những người bán hàng rong níu kéo, mời mọc chúng tôi mua hàng. Những cảnh tượng mà chúng tôi chứng kiến mỗi ngày cứ đi lên trong tâm trí khi chúng tôi trở về khách sạn với những tiện nghi đầy đủ, phòng lạnh và thức ăn cầu kỳ.

Những buổi ngồi lại thành vòng tròn để pháp đàm đã giúp chúng tôi có cơ hội chia sẻ những niềm vui cũng như những thử thách trong ngày. Chúng tôi có thể bày tỏ tâm tư của mình, được lắng nghe và kết nối với nhau qua những trải nghiệm. Một vị trong nhóm chia sẻ: “Chúng ta không đến đây để vui thú, chụp ảnh hoặc để khám phá vẻ đẹp quyến rũ của xứ Ấn”. Đối với chúng tôi, chuyến đi này là một hành trình tâm linh, một cơ hội để nhìn sâu vào chính mình và nhìn lại chặng đường mà mình đã đi qua trong cuộc đời. Trong suốt chuyến đi, chúng tôi đã sống với nhau, chấp nhận nhau và nâng đỡ nhau như một gia đình tâm linh.

Mỗi khi có chánh niệm trong bước chân, trong giao tiếp, mỗi khi nhìn mọi người và cảnh tượng xung quanh với con mắt ý thức thì lúc ấy chúng tôi đang là những người hành hương. Mỗi cảnh tượng đều trở nên thiêng liêng khi ta có cái nhìn sâu sắc. Chúng tôi ý thức rằng cây Bồ đề có thật hay không tùy vào chúng tôi đang thực sự có mặt trong giây phút hiện tại hay không. Chúng tôi áp dụng những pháp môn Bụt dạy, dừng lại, có mặt thật sự và tiếp xúc với hình hài và cảm thọ của mình. Ở những thánh địa mà đoàn đặt chân đến, chúng tôi đều có cơ hội ngồi yên, theo dõi hơi thở và quán chiếu về ý nghĩa cuộc đời của đức Bổn Sư.

Bụt là Tăng

Thầy đã nhiều lần chia sẻ rằng vị Bụt tương lai sẽ biểu hiện dưới hình thức một cộng đồng tỉnh thức. Nhiều lần trong chuyến đi, chúng tôi cảm nhận là Bụt, chư Tổ và Thầy đang có mặt và đồng hành cùng chúng tôi. Chúng tôi ý thức được sự quý giá của việc di chuyển như một tăng thân bốn chúng, trong đó ai cũng hết lòng thực tập mỗi phút mỗi giây. Sự có mặt của tăng thân bảo hộ và ôm ấp chúng tôi, cho phép chúng tôi có đủ thời gian và không gian để gọi đúng tên những niềm vui cũng như khổ đau của mình. Những giáo pháp Bụt dạy trở nên sống động trong chúng tôi, đó không phải là một cái gì chỉ thuộc về quá khứ mà thôi.

Tại đỉnh núi Linh Thứu, chúng tôi đã cùng nhau tụng Tâm Kinh Bát Nhã như một phẩm vật cúng dường lên Bụt và tổ tiên tâm linh. Khi chúng tôi bắt đầu tụng thì trời chợt đổ mưa, một cơn mưa nhẹ như một lời chúc phúc. Chúng tôi tập trung tâm ý để tụng cho đến cuối bài kinh, cùng lúc ấy cơn mưa cũng đi qua, nhanh như khi mới đến. Một sự giao hòa kỳ diệu giữa Đất và Trời, đó là  cảm nhận của chúng tôi trong giây phút ấy. Một vị trong đoàn chia sẻ trong buổi pháp đàm sau đó rằng sự hội tụ của các điều kiện như mưa, bài Tâm kinh, núi Thứu, lời dạy của Thầy về bản chất vô sinh bất diệt của đám mây, sự kiện con gái của cô vừa qua đời, sự có mặt của các bạn đạo – tất cả những yếu tố này đến với nhau và làm tăng thêm sinh lực cho cả thân và tâm cô ấy. Cô thấy nước mắt mình hòa lẫn với cơn mưa và nỗi đau dịu dần với nụ cười nhẹ nhàng, chấp nhận. Tâm cô thay đổi. Lần đầu tiên cô cảm nhận được sự có mặt thật sự của con gái mình, đó không còn là cái hiểu của trí năng mà là một thực tại sống động. Cô thấy con gái đang mỉm cười cùng cô – một sự truyền thông toàn hảo giữa hai mẹ con.

Bụt dạy rằng chánh pháp sẽ là sự tiếp nối đích thực của Bụt. Bất cứ nơi nào mà chánh pháp được hành trì thì nơi ấy có mặt Đức Thế Tôn, và chánh pháp chỉ có thể được tìm thấy trong một chân Tăng. Chúng ta không thể nào tìm thấy chánh pháp trong sách vở hoặc trên youtube, mà chỉ có thể tìm thấy trong cách sống hàng ngày của chúng ta, trong cách chúng ta giao tiếp với những người xung quanh, bằng ý thức sâu sắc, sự hiểu biết và tình thương. Trong suốt chuyến đi, có những giây phút chúng tôi cảm nhận rõ màu vàng óng của ánh nắng ban mai, hoặc thưởng thức dòng sông đang êm đềm trôi, hay khi chúng tôi ngồi hoặc bước đi trong an lạc, hoặc bắt gặp ánh mắt đầy thiện cảm của nhau. Trong những phút giây ấy với ý thức sống động tràn đầy, chúng tôi cảm nhận được Bụt đang có mặt cùng chúng tôi.

Nhìn bằng mắt thương

Mắt chúng tôi không thể nhìn đi nơi khác, nhắm lại hay thờ ơ với khối khổ đau và nạn nghèo đói có mặt khắp nơi. Mỗi ngày khi rời khách sạn và mỗi khi bước xuống xe buýt, chúng tôi đều chứng kiến và cảm nhận được sự đói nghèo và khổ đau đó. Đối với những ai đến Ấn Độ lần đầu, đây là một thử thách và nhiều lúc làm ta không thể chịu nổi. Những người ăn xin thường có nhiều mưu mẹo và biết rõ lối cư xử của du khách, họ rất khôn khéo. Và nhiều người trong đoàn chúng tôi vì quen với môi trường “vô trùng” của xã hội Tây phương nơi ít thấy cảnh người già, bệnh và tàn tật nằm lăn lóc trên đường phố, đã không chuẩn bị trước cho những kích thích như vậy. Vài người trong chúng tôi thấy mình yếu đi giữa sự nghèo nàn cùng cực này. Đôi lúc, chúng tôi phải về lại xe buýt như tìm về một nơi trú ẩn, một dòng nước mát cho những người đang bị khát khô vì sức nóng của cảm xúc, một không gian khuây khỏa khỏi những bụi bặm, cảnh túng thiếu và sự rối loạn của xứ Ấn.

Ở một khía cạnh nào đó, có thể so sánh những kinh nghiệm này của chúng tôi với kinh nghiệm của chàng trai trẻ Siddhartha khi ra ngoài thành du ngoạn. Sau khi Siddhartha chứng kiến cảnh người bệnh, người già, người chết và đối lập với hình ảnh đó là hình ảnh một người có sự bình an, Siddhartha thức tỉnh cơn mê và bắt đầu cuộc hành trình tâm linh của mình. Chúng tôi cũng vậy, chúng tôi cũng được thức tỉnh bởi thực tại của cuộc đời, bởi cảnh nghèo đói của xứ Ấn và sự giàu có của trái tim con người. Trong cuộc sống hàng ngày với nhiều tiện nghi vật chất và những lối tiêu khiển bên ngoài, chúng tôi có rất ít cơ hội để nhìn sâu vào tự thân và vào xã hội. Giờ đây, cảnh nghèo đói của xứ Ấn đã cho chúng tôi một cơ hội để suy ngẫm, để tiếp xúc với chiều hướng tâm linh và tìm được ý nghĩa sâu sắc cho cuộc đời mình.

Vàng đen giữa núi sông

Vài dặm từ Bồ Đề Đạo Tràng, tăng thân chúng tôi đi ven theo những cánh đồng lúa đến một ngôi tháp tưởng niệm, nơi mà truyền thuyết kể rằng có một cô bé tên Sujata đã cúng dường người tu khổ hạnh Siddhartha bát cháo sữa (tiếng Ấn gọi là kheer). Phía trước là dòng sông Niranjana. Bên bờ sông này, Siddhartha đã từng ngất xỉu. Xa xa là dãy núi Dungasiri vươn cao khỏi những rặng dừa. Siddhartha đã tu khổ hạnh tại chính những hang núi này.

Chúng tôi bước đi hàng một cẩn thận giữa các thửa ruộng để không bị rơi xuống nước. Xa xa, các cô gái làng đội những bó lúa trên đầu uyển chuyển, thanh thoát băng qua các cánh đồng. Chúng tôi gặp một nhóm người đang dùng phân trâu khô làm thành những khoanh tròn, họ gọi đó là “vàng đen”. Những người này rất tử tế, họ cho chúng tôi tham gia công việc họ đang làm. Một số người trong chúng tôi đã bắt tay vào việc, nhúng hai bàn tay mình vào “khối của quý” màu đen, ấm, ẩm, thơm phức kia và tạo thành từng khoanh tròn. Dù thiếu kinh nghiệm nhưng đó là một cơ hội để thực tập tâm không kỳ thị: thấy được hoa sen trong bùn, trân quý của báu trong đống phân. Phân trâu là nguồn nhiên liệu quý ở vùng này.

Thỉnh Bụt về nhà

Vài người trong đoàn chúng tôi có cơ hội dừng lại trên những đồng ruộng xanh ngát để cảm nhận sự tĩnh lặng, niềm an lạc và không gian hài hòa bên trong và cả xung quanh. Những dãy núi đá sắc nhọn phía xa cân xứng đầy thi vị với dòng sông uốn khúc, như thể chúng tôi được trở về với khung cảnh ngày xưa thời của Bụt. Chúng tôi có thể cảm nhận niềm phấn chấn của chàng trai trẻ trước sự mời gọi đầy thách thức của những hang động. Chúng tôi cũng thấy được nét đẹp và không gian bình an bát ngát mênh mông của thiên nhiên. Cách đó không xa là nơi Siddhartha, sau sáu năm tìm kiếm, đã tìm ra giáo lý Trung Đạo. Ngài thấy mình không cần phải phấn đấu để vượt thoát thế giới này; trái lại Ngài đã nhận ra bản chất tương tức của vạn vật và nhờ vậy đã tự giải thoát mình khỏi mọi ràng buộc. Cũng gần nơi này, Ngài đã lập đại nguyện giúp chúng sinh chứng nhập sự thật ấy. Đứng tại đây, chúng tôi rất biết ơn mảnh đất này đã yểm trợ công trình của Ngài. Chúng tôi cung kính cảm tạ núi sông, ruộng đồng, những khoanh cỏ kusa, những em bé trong làng và gia đình của các em.

Giờ đây, chúng tôi hiểu và thương kính hơn vị thầy gốc của mình, đức Bổn Sư Sakya Muni. Sự cảm thông gần gũi và ấm áp này sẽ giúp chúng tôi tiếp xúc được với Ngài trong tự thân chúng tôi và trong giáo pháp mà Ngài đã trao truyền. Khi ngắm nhìn bầu trời đầy sao, chúng tôi giờ đây có thể ngắm nhìn với đôi mắt của Ngài. Khi đi với Tăng thân, chúng tôi có thể bước với đôi chân của Ngài, những bước chân thanh thoát, nhẹ nhàng.

Làm biếng

Người thương công việc chứ?
Làm biếng có giỏi không?
Ngoài trời trăng sáng lắm,

Soi rõ cả đường rừng.

Người mỉm cười nhiều chứ?
Có nhăn mặt nhiều không?
Sen đầu mùa đã nở,

Sáng rỡ cả tầng không.

Bên bờ, hồ tâm vắng
Hai vầng sáng nhìn nhau
Đôi mắt cười ươm nắng

Tay buông, hóa tâm đầu!

Việc theo việc còn mãi,
Già bỗng đến bạc đầu!
Người về theo bốn đại,

Để lại những gì đâu?

Trùng dương ngàn sóng bạc
Ngại gì trước với sau
Cứ làm như làm biếng
Hề gì chậm với mau.

Chúng con đang uống thuốc

Thầy bệnh

Từ hồi tôi xuất gia đến giờ, mùa đông nào cũng có Thầy ở nhà. Ở nhà có nghĩa là Thầy An cư kiết đông ở Xóm Thượng. Tứ chúng Làng Mai mỗi tuần được gặp Thầy hai lần vào ngày Thứ năm và Chủ nhật, là hai ngày Quán niệm. Ngoài ra ngày thứ Ba, ngày xuất sĩ, anh chị em tôi được gặp Thầy tại Sơn Cốc để nghe Thầy giảng sâu thêm về kinh điển hoặc được Thầy dạy những vấn đề trong chúng. Tôi mới xuất gia được vài năm nên còn rất cần nương tựa Thầy. Tôi được dạy là năm năm đầu tiên trong cuộc đời xuất gia là những năm tuổi thơ, một vị xuất sĩ cần được ở gần Thầy của mình để học hỏi và được chỉ dạy. Dù Thầy ở Xóm Thượng hay ở Sơn Cốc, tôi vẫn thấy mình được ở gần Thầy, bình an và vui tươi, như một bé thơ được ở bên cạnh người cha hiền của mình, cảm thấy thật an toàn.

Năm nay Thầy bệnh nặng, phải nằm bệnh viện rất lâu, phải đón Giáng Sinh, Tết Tây và Tết Ta ở đó. Khi Thầy trở bệnh, có tin đồn là Thầy đã mất. Ở bên nhà (bên nhà là tiếng Thầy hay dùng để chỉ bên Việt Nam) và ở các nơi khác nhiều người rất lo lắng. Nhất là quý tôn túc có giao tình sâu nặng với Thầy và với Làng trong nhiều năm qua. Quý tôn túc lo cho các con xuất sĩ của Thầy lắm. Nghĩ là bên Làng chắc mọi người đang cuống lên, không khí u buồn bao trùm, không ai có lòng dạ nào để làm gì nữa hết. Nhiều vị đã vội mua vé máy bay về Làng gấp. Cả những đệ tử xuất gia lâu năm của Thầy hiện đang sống ở nơi xa cũng lần lượt về Làng trong dịp này. Trước là để thăm Thầy, sau để có mặt và làm chỗ nương tựa cho tứ chúng.

Hôm nghe tin Thầy bệnh nặng, trưa đó tôi cùng một sư chị rủ nhau đi thiền. Trên đường đi tôi thấy có rất nhiều bóng áo nâu cũng đang đi thiền như chúng tôi. Tin Thầy bệnh khi ấy chưa được chính thức báo trong chúng, tin chỉ mới được chuyền tai nhau trong chúng xuất sĩ mà thôi. Chúng tôi được dặn dò là nên chờ quý sư cô lớn sắp xếp công việc đâu ra đó rồi mới thông báo chính thức để không bị động chúng. Ở trong chùa, bất cứ một việc gì mình làm, mình cũng đều cẩn thận để không bị động chúng. Điều này rất là quan trọng, vì đôi khi những tin thông báo sớm khi chưa đúng lúc sẽ gây ra những hoang mang và xáo trộn không cần thiết. Vì vậy khi trông thấy các bóng áo nâu đang đi thiền trưa hôm ấy, chúng tôi đều ngầm hiểu là những vị đó cũng đã biết tin rồi.

Thầy vẫn thường dạy là khi có khó khăn hay có một cảm xúc mạnh đi lên thì nên đi thiền cho tâm lắng lại, sau đó mới đủ bình an để nhìn vào hoàn cảnh. Ngoài đời, khi có chuyện, ông bà mình hay nói: “Chuyện đâu còn có đó, ngồi xuống ăn miếng bánh, uống miếng nước rồi từ từ nói chuyện”. Tin Thầy trở bệnh nặng dĩ nhiên gây cho chúng tôi những cảm xúc mạnh. Vì thế, ai cũng biết là mình cần chăm sóc những cảm xúc đó bằng cách làm theo lời dạy của Thầy.

Thiền hành là một pháp môn “ruột”, pháp môn căn bản mà Thầy chúng tôi rất tâm đắc. Có một lần khi tôi được dùng cơm với Thầy, Thầy bảo là mình phải đi làm sao cho bước chân của mình trở nên thật tự nhiên, bước chân của mình phải có hạnh phúc. Hễ đi là thấy hạnh phúc, cái hạnh phúc đó phải thật tự nhiên thì mới được. Đi từ nhà bếp lên phòng ăn, đi từ phòng ngủ ra nhà vệ sinh, đi từ thiền đường xuống hồ sen, phải biết thưởng thức mỗi bước chân. Tôi thưa với Thầy là không hiểu sao tôi vẫn chưa làm như thế được, thực tập nghe chuông thì tôi đã làm được một cách tự nhiên, nhưng thiền hành thì chưa. Nghe vậy, Thầy nói: “Không sao đâu con, thực tập một hồi thì mình sẽ làm được”. Thầy bao giờ cũng rất kiên nhẫn với chúng tôi.

Thầy tâm huyết với pháp môn thiền hành nên dù trời mưa hay nắng, có tuyết hay không có tuyết, Thầy đều thưởng thức thiền hành. Đôi khi tôi hơi lười, thấy trời mưa, trời lạnh, người hơi mỏi mệt một chút là muốn bỏ thiền hành. Nghĩ tới Thầy, tôi thấy mình không thể lấy lý do này hay lý do kia mà không đi thiền được. Tôi chưa được như Thầy, tôi chưa thấy háo hức trông đợi đến giờ thiền hành. Tôi vẫn còn phải nương vào cái lực của Thầy để tự sách tấn mình. Tuy nhiên khi đã bắt đầu đi, tôi thấy mình hạnh phúc, thấy cả Thầy và trò cùng có mặt cho nhau.

Hạ thủ công phu

Mấy ngày Thầy bệnh nặng, có khi tưởng Thầy không qua được, cả tăng thân ai cũng ý thức là nếu mình thực tập miên mật thì Thầy sẽ không bao giờ thật sự mất đi. Nếu Thầy mất đi thì chỉ có nghĩa là Thầy xả bỏ báo thân này mà thôi. Thầy sẽ vẫn còn mãi mãi trong từng bước chân, hơi thở của các con Thầy, của các bạn thiền sinh, của tăng thân. Tăng thân là một tác phẩm để đời của Thầy. Và tăng thân này phải là một tăng thân có sự hòa hợp, thương yêu, có tình huynh đệ mới đích thực là tăng thân mà Thầy tâm huyết, là “kiệt tác” (masterpiece) của Thầy. Vì thế, tăng thân còn là chắc chắn Thầy còn. Một tăng thân nếu muốn có tình huynh đệ, có hòa hợp, thương yêu thì chắc chắn tăng thân ấy phải thực tập, nếu không thì những phẩm chất ấy có lẽ sẽ không tồn tại lâu dài, không phát triển được và rất chông chênh. Một tăng thân như thế sẽ là nơi nương tựa cho biết bao người. Thầy đã dạy không biết bao nhiêu lần như thế.

Ai cũng ý thức được điều này nên cố gắng “hạ thủ công phu”: Thiền tọa, thiền hành, tham gia thời khóa của chúng, hai ngày quán niệm, ngày xuất sĩ đầy đủ và đều đặn. An cư kiết đông vẫn diễn ra một cách bình thường, đúng như Thầy mong muốn. Quý thầy, quý sư cô giáo thọ lớn, mà ở Làng chúng tôi gọi một cách thân thương là quý sư cha, sư mẹ đã cho những bài pháp thoại rất súc tích và thực tế, chạm được tới ý thức của sự tiếp nối Thầy một cách đích thực trong mỗi cá nhân và trong cả tăng thân. Do vậy chúng tôi thấy mình được sách tấn và nâng đỡ tinh thần, không còn lo sợ cho tương lai không có Thầy nữa. Ngoài ra trong thời gian ấy, sự có mặt và các lời chỉ dạy quý báu của các bậc tôn túc khắp nơi về tụ hội càng làm cho tăng thân thêm tinh tấn và vững chãi.

Tôi thấy mình thật may mắn được nương tựa nơi năng lượng yêu thương, bao dung và nâng đỡ của quý tôn túc. Tất cả các vị chia sẻ khi nghe tin Thầy Làng Mai bệnh nặng như thế, ai cũng lo lắng cho tăng thân, do vậy nên quý tôn túc vội sang ngay để nâng đỡ tinh thần. Thế nhưng khi sang đến đây, thấy đại chúng vẫn thực tập miên mật, mọi việc vẫn diễn ra bình thường, các thầy các sư cô ở Làng vẫn nhẹ nhàng, vui vẻ, quý tôn túc đều thấy an lòng và có niềm tin ở pháp môn mà Thầy đã truyền trao, có niềm tin ở sự tiếp nối của Thầy nơi tăng thân.

Trong thời gian Thầy bệnh, dù không có khóa tu lớn, thiền sinh vẫn tới Làng đông hơn thường lệ. Chúng tôi lại có quý tôn túc và quý thầy quý, sư cô ở các trung tâm khắp nơi về thăm Thầy, về dự An cư kiết đông rất là ấm áp. Nhất là bây giờ đang vào dịp Giáng Sinh và Tết Tây, thiền sinh về một ngày một đông.

Thầy đang có mặt cho con đây

Sáng nay, 25.12, quý thầy, quý sư cô theo thông lệ hàng năm sang mừng Giáng Sinh ở Sơn Cốc. Sơn Cốc năm nay không có Thầy vì Thầy đang ở bệnh viện. Thế nhưng chúng tôi vẫn có Thầy rất tròn đầy trong mỗi trái tim, trong từng hơi thở, trong mỗi bước chân. Mỗi tấc đất ở Sơn Cốc trong 32 năm qua đều in dấu chân thiền hành của Thầy. Mỗi ngày Thầy đều đi thiền ít nhất là hai lần. Buổi chiều, Thầy hay nằm võng đong đưa dưới rặng tre, nghe chim hót, nghe suối reo, nghe tiếng gió xào xạc qua những tán lá sồi, nhìn những con chim nhỏ nhảy nhót tới lui, bận rộn. Có khi mấy con sóc, con nai cũng tới gần cho Thầy ngắm. Mấy con sóc hay leo thoăn thoắt trên những cây sồi già lâu năm, rong rêu bám đầy, có cây đã bị rỗng ruột vì sâu mọt nhưng vẫn còn là chỗ nương náu cho rất nhiều chim và sóc. Chính vì thế nên chúng tôi đã bắt đầu ngày họp mặt ở Sơn Cốc sáng nay bằng thiền hành. Chúng tôi đi trên những bước chân mà Thầy đã in dấu khắp nơi ở Phương Khê. Phương Khê là tên một con suối nhỏ chảy dọc theo rặng tre, bên cạnh Sơn Cốc.

Tôi nắm tay một sư em cùng thiền hành. Sư em mới xuất gia cách đây một tuần. Tôi cầm tay sư em đi và thấy tay mình với tay Thầy là một. Thầy đã nắm tay tôi thiền hành và bây giờ tôi nắm tay sư em. Đây là lần đầu tiên sư em được sang Sơn Cốc, được thiền hành ở Sơn Cốc. Tôi muốn để lại cho sư em một cảm giác đẹp và ấm áp cho lần đầu tiên này. Tôi và sư em đi trong lòng tăng thân, bước những bước nhẹ và đều một nhịp. Thỉnh thoảng, tôi siết tay sư em một chút, giống như Thầy hay làm để nhắc tôi trở về giây phút hiện tại, biết trân quý sự có mặt của Thầy đang đi bên cạnh, đồng thời cũng cho biết là “Thầy đang có mặt cho con đây”. Tôi thấy bàn tay Thầy đang siết tay sư em. Đi đến một góc vườn tôi thầm nói với sư em: “Chỗ này có một bụi hành dại”. Đó là tiếng nói thầm trong đầu khi tôi chạm vào kỷ niệm…

Mùa đông năm đó một sư chị và tôi làm thị giả cho Thầy. Tuyết rơi phủ trắng cả vườn. Thầy nắm tay hai chị em tôi đi thiền, khi đi đến chỗ đó, Thầy nói: “Chỗ này có một bụi hành”. Tôi chẳng thấy hành đâu cả vì khi ấy tuyết phủ đầy, nhưng đến mùa xuân, khi thiền hành ngang chỗ ấy quả nhiên có một bụi hành. Tôi hay nhớ về Thầy qua những kỷ niệm nho nhỏ như thế. Ai trong chúng tôi cũng có những kỷ niệm nho nhỏ với Thầy (dĩ nhiên là quý sư cha sư mẹ xuất gia với Thầy mười mấy hai mươi năm thì những kỷ niệm nho nhỏ như thế là vô số, mà những kỷ niệm lớn thì cũng đếm không xuể). Những kỷ niệm ấy bao giờ đối với tôi cũng là vô giá bởi chúng không đơn thuần là những ký ức mà chúng chính là những bài học về chánh niệm, về sự có mặt 100% của Thầy ở giây phút hiện tại.

Chúng con đang uống thuốc

Trong các pháp thoại, thỉnh thoảng Thầy kể chuyện về một ông thầy thuốc rất giỏi, bốc thuốc cho nhiều người và giúp họ hết bệnh. Tuy nhiên con của ông thầy thuốc, khi bệnh lại không chịu uống thuốc do cha bốc. Một lần ông thầy thuốc buồn con không chịu uống thuốc để lành bệnh nên ông bỏ nhà đi. Ông đi một thời gian rồi nhờ người mang tin về, nói là ông đã chết. Khi ấy các con của ông mới giật mình và bắt đầu uống thuốc. Thầy bảo chúng tôi đừng để tình trạng đó xảy ra, đừng để đến khi Thầy không còn nữa thì mới chịu thực tập bước chân, hơi thở. Bây giờ Thầy bệnh, lâu lâu tôi tự nhủ biết đâu Thầy cũng như ông thầy thuốc nọ, đang nhắn tin về, báo là mình bệnh nặng để các con lo mà thực tập, chịu uống thuốc, những bài thuốc về bước chân, hơi thở mà Thầy đã ra toa không mỏi mệt trong mấy chục năm qua.

Cứ hai năm một lần, Thầy đi hoằng pháp ở Bắc Mỹ. Chuyến đi thường kéo dài đến mấy tháng. Gần đây, từ hồi có trung tâm Làng Mai ở Thái Lan, Thầy lại còn vòng qua Á châu trước khi sang Mỹ nên chuyến đi của Thầy dài hơn. Ngoài ra còn các khóa tu tại các nước châu Âu, trong đó có Đức và Anh nên năm nào có chuyến đi Mỹ thì Thầy ở nhà ít hơn. Có năm Thầy nói: “Năm nay Thầy không đi đâu hết, Thầy ở nhà chơi với các con!”. Nhưng điều đó vẫn chưa thực hiện được!

Khi Thầy đi xa như thế, chúng tôi ở nhà duy trì thời khóa thực tập bình thường và chúng tôi thường dùng thời gian hơi rảnh hơn một chút đó để học thêm nội điển hoặc học thêm ngôn ngữ, học tụng kinh … Nhưng chúng tôi không quên dõi theo từng bước chân của Thầy ở nơi xa, vui với từng cái tin nho nhỏ gửi về vì biết rằng có nhiều người đang được thực tập pháp môn cùng tăng đoàn xuất gia tháp tùng Thầy trong chuyến đi, được tưới tẩm hạt giống hướng thiện qua các bài pháp thoại sống động của Thầy.

Mùa Đông này Thầy vắng nhà, cũng giống như Thầy đang đi một chuyến hoằng pháp dài ngày. Chỉ khác hơn một chút là lần này, chuyến hoằng pháp của Thầy là một chuyến hoằng pháp vượt qua giới hạn của không gian. Pháp thoại của Thầy là pháp thoại qua hơi thở, qua cách Thầy vượt qua cơn bệnh. Thầy đang hoằng pháp nhưng cũng là đang nghỉ ngơi. Tôi thấy Thầy không hề vắng mặt. Chúng tôi cũng đang dõi theo từng bước chân Thầy như thường lệ, và vui với những tin nho nhỏ về Thầy như thường lệ. Chúng tôi đang thực tập tiếp bước Thầy ở nơi tự thân, làm cho tác phẩm để đời của Thầy được duy trì, phát triển và luôn tươi mới. Chúng tôi có thể báo cho Thầy một tin vui: “Bạch Thầy, chúng con hiện giờ đang chăm chỉ uống thuốc, xin Thầy cứ an lòng”.

Mùa Giáng Sinh 2014

Kính dâng Thầy