Bài kệ 7

Trong Đại Tạng Tân Tu:

Thỉ vô như bất

始 無 如 不

Thỉ bất như vô

始 不 如 無

Thị vi vô đắc

是 為 無 得

Diệc vô hữu tư

亦 無 有 思

Trong một bản in khác:

Thỉ vô thỉ phủ

始 無 始 否

Như bất như vô

如 不 如 無

Thị vi vô đắc

是 為 無 得

Diệc vô hữu tư

亦 無 有 思

Thấy được cái không trước, không sau

Không là, không không là

Cái đó là vô đắc

Cũng là cái không thể tư duy được.

Đây là một bản đàn đã được chư Tổ đánh lên. Những nốt đàn đã nằm sẵn trong kinh, chư Tổ lấy ra dạo lên cho ta nghe để ta thấm được, hưởng được Niết bàn.

Bài kệ này là một đoạn văn rất khó!

Thỉ vô như bất: Ở đây người ta chép lộn chữ thỉ 始 thành ra chữ như 如. Trong một bản khác là:

Thỉ vô thỉ phủ: Phủ là phủ nhận. Không có cái bắt đầu, cũng không có cái không bắt đầu. (There is no beginning, there is no non-beginning).

Nếu là một nhà thiên văn học đang tin vào thuyết “Big Bang”, quý vị cần đọc kinh này. Theo thuyết “Big Bang”, thì có cái ban đầu, trước “Big Bang” không có gì hết. Không gian và thời gian chỉ biểu hiện sau cái “Big Bang”. Hiện nay, có người hỏi: Trước “Big Bang” có cái gì? Các ý niệm về ban đầu không ban đầu chống đối nhau. “Có cái ban đầu” có thể sai, mà “không có cái ban đầu” cũng có thể sai, tại vì tất cả đều chỉ là ý niệm.

Trong Cơ đốc giáo, có ý niệm về sáng thế, tức sự tạo dựng của đất trời. Ban đầu, chưa có gì hết và Thượng đế đã tạo đựng ra thế giới, đó là ý niệm “thuở tạo thiên lập địa”. Nhưng trước “thuở tạo thiên lập địa” thì có cái gì? Có thể cái không trở thành cái có hay không? Cái non- being tự nhiên trở thành being được không? Trước khi cái being hiện ra, thì có cái non-being không? Đó là một vấn đề lớn.

Đứng về phương diện Niết bàn, ta không thể suy nghĩ với phạm trù có không, being và non-being. Nói Nirvāna là being cũng sai, mà nói là non-being cũng sai, tại vì Niết bàn là sự vắng mặt của tất cả mọi ý niệm. Nếu đi sâu vào thần học, thì Thượng đế cũng vậy. Nói Thượng đế có cũng sai, mà nói Thượng đế không có cũng sai. Có và không chỉ là những ý niệm trong đầu của ta, chúng không thể áp dụng được vào trong thực tại tuyệt đối mầu nhiệm.

Đây là sự thực tập của sóng để trở về với nước. Khi đợt sóng trở về với nước, nó cảm thấy rất hạnh phúc, rất an toàn. Sự thực tập này nằm trong tầm tay của mình, của các bậc chân nhân, của người tu.

Thỉ bất như vô: Ở đây người ta đã chép lộn chữ như 如thành ra chữ thỉ 始. Trong một bản khác là:

Như bất như vô: Chữ như dịch ra tiếng Anh là to be. To be or not to be, that is not the question.

Không phải là vấn đề bắt đầu hay không bắt đầu. Không phải là vấn đề to be hay không to be. Niết bàn vượt thoát ý niệm “beginning or non-beginning” và ý niệm “to be or not to be”.

Thị vi vô đắc: Đó gọi là vô đắc. Vô đắc là aprapti hay anupalambha (bất khả đắc). Bất khả đắc là không nắm được.

Ta nắm bằng cái gì? Mùa Xuân đang có mặt, ta tìm cách nắm bắt mùa Xuân lại, hay nắm bắt ngọn gió Xuân lại, được hay không? Ta có thể nhốt ngọn gió Xuân vào trong rương được không? Không được. Người yêu của ta ta cũng không nắm bắt được (ungraspable). Các nhà khoa học tìm cách nắm lấy các lượng tử, nắm bằng trí óc của họ. Nhưng họ không biết rằng bản chất của lượng tử là bất khả đắc. Tất cả đều là bất khả đắc.

Sử dụng các phạm trù tư tưởng (mental categories) để nắm bắt thì không thể được, bởi vì Niết bàn cũng như Thượng đế đều là cái không thể nắm bắt. Vô đắc là một đặc tính của Niết bàn. Ta chỉ có thể ca hát về Niết bàn, và kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một bản nhạc giúp cho ta nhiều điều kiện để có thể tiếp cận với Niết bàn.

Thị vi vô đắc: Nó là cái ta không thể nắm bắt được.

Vô đắc không có nghĩa là không có mặt. Gió Xuân hay nắng mai tuy có mặt đó, nhưng ta nắm bắt không được. Ta chỉ có năm ngón tay thì làm sao nắm được gió Xuân?

Diệc vô hữu tư: Và cũng không thể suy nghĩ được. có nghĩa là tư duy. Vô hữu tư là không thể tư lượng được. You can not conceive it with your mental categories. Nó là bất khả tư nghì, không tư duy, không nói năng được, không thể dùng tâm mà nắm bắt được. Tiếng Phạn là acintiya. Thiền Tào Động có câu: “Không thể tư lương về cái không thể tư lương. Không tư lương là chỗ thiết yếu của thiền.”

Chúng ta hãy xem kinh như một bài hát hay một bài thơ và đừng bị kẹt vào ngôn từ, kỵ nhất là bị kẹt vào những ý niệm. Nếu may mắn thì nhờ bài hát, bài thơ đó ta có thể tiếp cận được với Niết bàn có sẵn trong lòng ta.

Thấy được cái không trước không sau

Thấy được cái không là và cái không không là

Cái đó là cái vô đắc

Và chính cái đó cũng là cái không thể tư duy được.

Bài kệ 6

Mi lộc y dã

麋 鹿 依 野

Điểu y hư không

鳥 依 虛 空

Pháp quy kỳ báo

法 歸 其 報

Chân nhân quy diệt

真 人 歸 滅

Hươu nai nương đồng quê

Chim chóc nương trời mây

Sự vật nương phân biệt mà biểu hiện

Các bậc chân nhân nương vào Niết bàn để sống thảnh thơi.

Kinh hay như một bài thơ. Nếu không có rừng, thì nai không có hạnh phúc. Ta đem nai nhốt vào vườn bách thú hay nhốt vào trong cũi thì làm gì nai có được hạnh phúc? Nai chỉ có hạnh phúc, khi nó có thảnh thơi. Trong Tương Ưng Bộ, có một kinh rất ngắn nói về con nai:

Một thuở nọ có nhiều vị khất sĩ kết hạ tại một khu rừng tại miền quê Kosala. Sau khi đã kết hạ ba tháng, các vị khất sĩ bắt đầu rời khu rừng để đi du hành. Một vị thiên giả trú ở khu rừng này thấy vắng bóng các vị khất sĩ, than thở, buồn bã nói lên một bài kệ sau đây:

Hôm nay trong lòng ta

Trống vắng không niềm vui.

Những chỗ ngồi hôm qua

Giờ đây không ai ngồi.

Các bậc đa văn ấy

Thuyết pháp thật là giỏi.

Đệ tử Đức Thế Tôn

Hiện đi đâu hết rồi?

Vị thiên giả ngồi khóc. Khi nghe bài kệ, một vị thiên giả khác đang có mặt, dùng một bài kệ khác để trả lời vị thiên giả kia:

Họ đi đâu hả?

Họ đi Ma Kiệt Đà

Họ đi Câu Tát La

Còn những khất sĩ khác

Thì đi về Bạt Xà.

Như nai thoát bẫy sập

Chạy nhảy khắp bốn phương.

Đời sống người xuất gia

Là thảnh thơi như thế.

Con nai không muốn bị nhốt, nó chỉ muốn thảnh thơi, và nó nương vào đồng quê.

Mi lộc ư dã: Nai thì nương vào đồng quê.

Điểu y hư không: Chim chóc thì nương vào hư không. Không có không gian, chim làm gì có hạnh phúc. Chỉ cần nhìn chúng bay vút lên cao là ta thấy hạnh phúc của con chim rồi.

Hươu nai có chỗ hạnh phúc của nó và chim chóc cũng có chỗ hạnh phúc của nó.

Pháp quy kỳ báo: Bốn chữ nầy là cả một vấn đề.

Trong một ấn bản khác mà Đại Tạng Kinh trích dẫn, chữ “kỳ báo” được thay bằng chữ “phân biệt”, Pháp quy phân biệt. Như trong phẩm Viên Tịch của Pháp Tập Yếu Tụng Kinh cũng chép “nghĩa quy ư phân biệt.” Có lẽ người chép kinh không hiểu “Pháp quy phân biệt” là gì, nên sửa lại là “Pháp quy kỳ báo”. Đây là tam sao thất bản. Cũng như trong ấn bản Truyện Kiều mới, người ta không hiểu được cụ Nguyễn Du, nên họ sửa lại văn của cụ. Khi Thúy Kiều đang ở trong Quan Âm Các, cụ Nguyễn Du viết:

Sớm trưa lá bối phiến mây

Ngọn đèn khêu nguyệt tiếng chày nện sương.

Cụ Nguyễn Du viết chữ “phiến mây” rõ ràng. Nhưng người in Truyện Kiều nghĩ phiến mây là gì, trong chùa thì chỉ có phướn thôi nên viết là phướn mây. Lá bối là đọc kinh. Là người tu, buổi sáng, buổi trưa chúng ta đọc kinh và buổi tối chúng ta thỉnh chuông. Trong chùa có một cái chuông hình đám mây gọi là vân bản. Phiến mây là vân bản. Vân bản được đúc hình đám mây.

Câu “Pháp quy kỳ báo” thì dễ hiểu: các pháp do quả báo của nó mà có. Làm lành có lành, làm dữ có dữ. Vì vậy, pháp quay trở về quả báo của nó. Chép như vậy không sai với đạo lý: cái gì cũng có nhân có quả, có nghiệp, có báo.

Nhưng trong văn mạch của kinh, thì câu “pháp quy kỳ báo” đó không ăn khớp với kinh lắm. Vì vậy chúng ta lấy lại chữ “phân biệt” trong một ấn bản khác. Chúng ta đọc là:

Pháp quy phân biệt: Sự vật nương phân biệt mà biểu hiện. Phân biệt, được dịch từ chữ vikalpa. Chữ vikalpa có khi được dịch là biến kế, tức tâm thức của mình phân biệt.

Trong “Duy thức tam thập tụng” có bài kệ:

Thị chư thức chuyển biến

Phân biệt, sở phân biệt.

Đây là bản dịch của thầy Huyền Trang.

Trong nguyên văn chữ Phạn là: Sự chuyển biến của thức là sự phân biệt. The manifestation of consciousness is discrimination. Khi thức chuyển biến thì trở thành phân biệt (vikalpa). Vijñāna-pariṇāma vikalpa.

Theo nguyên tác, phải dịch như thế nầy: Sự chuyển biến của thức tức là phân biệt. Nhưng thầy Huyền Trang ngưng ở chữ chuyển biến và cho chữ phân biệt xuống dưới nên có thể có sự hiểu lầm. Phân biệt có hai thứ: năng phân biệt và sở phân biệt, tức chủ thể và đối tượng. Rồi người ta tưởng chủ thể và đối tượng là hai cái khác nhau, không thể tách rời nhau.

Trong một buổi pháp thoại vừa rồi tại Viện Phật Học Ứng Dụng Âu Châu, tôi có lấy ví dụ đồng 2 Euro. Nó có hai mặt, một mặt trái và một mặt phải. Nhưng cả trái, cả phải đều do chất đồng của đồng Euro làm ra.

Thức là chất đồng, là chất kim khí và khi chuyển biến thành đồng Euro thì nó trở thành hai mặt, mặt trái và mặt phải của đồng Euro. Đó là sự phân biệt. Chính sự chuyển biến của thức trở thành ra sự phân biệt.

Câu kinh này rất sâu, rất uyên áo. Ta không biết tự tánh (true nature) của các pháp như thế nào, nhưng cái ta nhận thức được bằng tâm của ta chỉ là phân biệt (vikalpa). Cây cối, ánh sáng mặt trời, cái bàn… chỉ là biểu hiện của tâm thức. Tâm thức thấy chúng là như vậy, nhưng chưa chắc chúng đã là như vậy. Chúng là đối tượng của biến kế, của phân biệt. Tâm nhận thức như vậy, nhưng chưa chắc là như vậy. Nhìn người kia, ta tưởng ta nắm được người kia, nhưng kỳ thực ta chỉ nắm được những nhận thức của ta về người kia thôi. Hình ảnh của người kia là nhận thức của ta. Ta tưởng ta biết mặt trời là cái gì, nhưng thật ra mặt trời trong nhận thức ta chẳng qua chỉ là một sáng tạo phẩm của tâm thức ta (mental construction).

Các nhà khoa học lượng tử (quantum mechanics) cũng đang tìm mọi cách để thấy được bản chất của các điện tử, các lượng tử (nature of the quantum). Họ có thể đạt tới được cái bản chất, cái tự thân (svabhāva) của quantum hay không? Đạo Phật nói không thể đạt được. Dùng trí óc phân biệt thì ta thấy tâm của ta nhiều hơn là thấy sự thật. Sự vật quanh ta, tùy theo tâm thức của ta mà hiện ra như thế này hay như thế kia. Có khi nó hiện ra như một đợt sóng, có khi nó hiện ra như một cái hạt. Tùy theo tâm của ta, ta đặt câu hỏi thế này thì nó hiện ra như cái hạt, ta đặt câu hỏi cách khác thì nó hiện ra như đợt sóng. Vì vậy, các pháp là do phân biệt mà có. Câu “sự vật do tâm thức mà biểu hiện” rất hay. Các nhà khoa học phải nghiên cứu điều đó.

Quan niệm “sự vật là một cái riêng và tâm thức là một cái riêng, hai cái tồn tại độc lập” là một sai lầm căn bản.

Câu kinh “Pháp quy phân biệt” rất sâu! Lĩnh vực của các pháp là tâm thức. Nhà của hươu nai là đồng quê, nhà của chim chóc là không gian, nhà của sự vật là tâm thức, tâm chứa hết tất cả các pháp. Còn người tu, nhà của người tu ở đâu?

Chân nhân quy diệt: Chân nhân là người tu. Chân là thiệt, nhân người. Một người muốn sống thật đời sống của mình, gọi là chân nhân.

Chân nhân là một danh từ rất hay của Lão giáo, Khổng giáo. Cư sĩ Chi Khiêm cũng như thầy Tăng Hội là những người rất can đảm. Họ đã sử dụng những danh từ của Khổng giáo hoặc của Lão giáo để dịch kinh. Thiền sư Lâm Tế cũng dùng chữ chân nhân, vô vị chân nhân, tức con người thật, không có vị trí. Người tu, trước hết là con người muốn sống thật với mình, không giả dối, không đeo mặt nạ.

Chân nhân là những bậc thánh. Chỗ nương tựa của họ là Niết bàn. Nếu con nai có chỗ thích thú của nó là đồng quê, nếu con chim có chỗ thích thú của nó là không gian, thì người tu có chỗ thích thú của họ là Niết bàn. Niết bàn là cái đã có sẵn, ta đang ở Niết bàn, chỉ có điều là ta không trở về được thôi.

Làng Mai chúng ta hay có một ví dụ đơn sơ là nước và sóng. Sống đời sống của một đợt sóng thì ta lao đao, sợ hãi tại vì đợt sóng phải đi lên đi xuống, có sinh có diệt, có có có không. Rất khó sống đời sống của một đợt sóng. Ta thấy rất rõ. Nhưng khi đợt sóng khám phá ra mình là nước, thì nó bắt đầu tập sống với tư cách nước. Sóng thì có lên có xuống, có có có không, có cao có thấp. Nhưng nước thì hoàn toàn tự do. Vấn đề là đợt sóng có khả năng sống cái tự tánh nước của mình không, hay nó chỉ có thể sống đời sống của đợt sóng. Đợt sóng có thể tập sống đời sống của nước. Nó không phải đi kiếm nước, tại vì nó đã là nước rồi. Đây là một ví dụ dễ hiểu cho ta thấy Niết bàn là gì.

Nếu sóng an trú trong nước, thì nó sẽ không sợ hãi, nó có sự an toàn rất lớn. Đi lên an toàn mà đi xuống cũng an toàn. Nó không còn bị ý niệm còn-mất, có-không… làm cho sợ hãi.

Ta là một đợt sóng và đồng thời ta cũng là nước. Nhưng phần lớn trong chúng ta chỉ có thể sống đời sống của sóng mà không sống được đời sống của nước. Cơ Đốc giáo dùng chữ “Resting in God” là như vậy. God tức là nước. Nếu biết dựa lên nước thì sóng rất khỏe, nó sẽ hết tất cả sự sợ hãi: sợ có, sợ không, sợ còn, sợ mất. Chữ diệt ở đây hàm ý sự lắng dịu của mọi sợ hãi và đau buồn. Một khi đợt sóng biết mình là nước và biết sống đời sống của nước, thì đợt sóng không còn sợ hãi nữa. Lên nó cũng vui, xuống nó cũng vui, cao nó cũng vui, thấp nó cũng vui, có cũng vui, không cũng vui, tại vì nó đã vượt được cái có-không, cao-thấp. Niết bàn cũng vậy, Niết bàn là cái ngược lại với hành, là những pháp hữu vi.

Các bậc chân nhân nương và  Niết bàn để sống thảnh thơi, khi dịch ta đã thêm vào bốn chữ “để sống thảnh thơi”. Chúng ta có quyền dịch như vậy, vì ta thấy có ý đó trong kinh: Hươu nai về đồng quê thì thảnh thơi, chim chóc trở về không gian thì thảnh thơi, thì các bậc chân nhân trở về Niết bàn thì cũng thảnh thơi.

Ta không cần phải đi tìm Niết bàn, chính ta đã ở trong Niết bàn rồi. Sóng không cần phải tìm nước, sóng chính là nước. Tùy theo ta chọn, ta vẫn là sóng, ta không cần phải tiêu diệt sóng, ta vẫn sống trong thế giới của các pháp hữu vi. Nhưng khi sống sâu sắc, ta chạm được với cái vô vi và các pháp hữu vi không làm cho ta đau khổ lắm.

Bây giờ chúng ta hãy trở lại một chút với bài kệ thứ ba:

Cơ vi đại bệnh

飢為大病

Hành vi tối khổ

行為最苦

Dĩ đế tri thử

已諦知此

Nê hoàn tối lạc

泥洹最樂

Đói là cái bệnh khó chịu nhất

Tâm hành là cái gây khổ đau nhiều nhất

Cứ nhìn vào sự thực mà tìm hiểu

Thì Niết bàn là cái lạc thú lớn nhất.

Hành vi tối khổ: các hành là cái gây khổ đau nhiều nhất. Hành là các hữu vi pháp (saṃskṛta-dharma). Ở đây ta nên hiểu hành vi tối khổ nghĩa là: tâm hành là cái gây khổ đau nhiều nhất. Tại sao ta không dịch là “các pháp hữu vi là cái gây khổ đau nhiều nhất”, mà lại dịch là “tâm hành là cái gây khổ đau nhiều nhất”? Phạm vi của pháp hữu vi rất lớn, trong đó có thân hành, tâm hành và những thứ khác là vật hành như núi, sông, cây cỏ… Tâm hành chỉ chiếm độ một phần ba. Khi dùng chữ “tâm hành”, ta chỉ lấy độ một phần ba của hành, như thế là có sai với kinh hay không? Tại sao ta không dịch là “tất cả các pháp hữu vi đều gây ra đau khổ”, mà lại dịch là “tâm hành gây đau khổ”. Lý do là có sự nguy hiểm, người ta có thể nghĩ các pháp hữu vi là những cái độc lập với tâm và bản chất của các pháp hữu vi là gây đau khổ.

Đó là một sự hiểu lầm lớn mà ít người thoát khỏi trong khi học Phật. Hiểu lầm rằng vì các pháp hữu vi là vô thường, vô ngã; cho nên chúng là khổ. Ta cho vô thường, vô ngã đi đôi với khổ. Nhưng sự thật là: vì các pháp hữu vi là vô thường mà ta cho chúng là thường, cho nên ta khổ. Vì các pháp hữu vi là vô ngã mà ta cho chúng là có ngã, cho nên ta khổ. Khổ là do ta chứ không phải do các pháp. Nói các pháp hữu vi là khổ thì oan cho chúng lắm. Các pháp hữu vi là vô thường, vô ngã, chúng không có tội gì. Tại ta tưởng chúng là thường, là ngã, nên ta mới khổ. Các pháp hữu vi có thuộc tính vô thường, vô ngã, nhưng tính khổ không thuộc về các pháp hữu vi. Tính khổ thuộc về ta, tại ta có nhận thức sai lạc về các pháp hữu vi. Vì vậy cho nên nói các pháp hữu vi là khổ thì không đúng.

Nếu dịch “các pháp hữu vi là cái gây khổ đau nhiều nhất” mình có thể làm cho người ta hiểu lầm. Trong kinh Bảo Tích có một ví dụ rất vui, rất buồn cười: Có người cầm cục đá liệng một con chó. Bị liệng trúng, con chó đau quá, chạy theo sủa cục đá. Nó tưởng cục đá là nguyên do gây nên sự đau khổ của nó. Kỳ thực, nguyên do làm nó khổ là cái anh chàng liệng cục đá. Thay vì chạy theo sủa người liệng cục đá, nó lại chạy theo sủa cục đá.

Ở đây cũng vậy, các pháp hữu vi không làm cho ta đau khổ, nhưng ta khổ tại vì ta có nhận thức sai lầm về các pháp hữu vi. Cái gốc của khổ đau là tâm của mình mà không phải là các pháp hữu vi. Vì vậy, thay vì dùng chữ “các pháp hữu vi” thì ta dùng chữ “tâm hành”, trong đó có tham, sân, si (ngu dốt). Vì có sai lạc về nhận thức, nên các pháp hữu vi mới làm ta khổ. Nếu ta là một vị Bụt có trí tuệ, thì các pháp hữu vi không động được tới ta. Tâm hành là pháp hữu vi, nhưng chỉ là một phần thôi, ngoài ra còn có thân hành và vật hành. Tuy là tâm, nhưng đối tượng của nó có thể là vật và thân. Tâm bao gồm hết tất cả, cho nên ta dùng chữ “tâm hành” cũng được. Ta phải khéo léo, đừng để bị kẹt vào chữ. Khi đọc câu “các pháp nương vào phân biệt mà biểu hiện”, ta thấy rất rõ chữ phân biệt ở đây có nghĩa là tâm hành, là tri giác, là tưởng (perception).

Bài kệ 5

Tùng nhân sinh thiện

從 因 生 善

Tùng nhân đọa ác

從 因 墮 惡

Do nhân nê hoàn

由 因 泥 洹

Sở duyên diệc nhiên

所 緣 亦 然

Các cõi trời do tạo tác nhân lành mà mình được sinh lên,

Các ác đạo cũng do ác nhân mà mình bị đọa xuống

Niết bàn cũng như thế

Do nhân duyên tu tập mà có Niết bàn.

Trong nguyên văn chữ Hán không có chữ “cõi trời”.

Tùng nhân sinh thiện: Do sự thực tập những điều lành mà được sinh lên các cõi lành.

Ví dụ, Làng Mai là một cõi lành. Trong quá khứ, chắc mình có làm điều tốt nên được sinh ra trong Làng Mai. Làng Mai là một cõi thiện. Không hẳn trên mây mới có cõi trời, chỗ nào không có khổ đau thì đều là cõi trời.

Không phải ngẫu nhiên mà mình được sinh vào cõi thiện, phải do những nguyên nhân tích tụ trong quá khứ, nên bây giờ mình mới được sinh lên cõi thiện. Không phải trên trời mới có cõi trời, ngay ở dưới đất cũng có cõi trời. Nếu được sinh lên cõi trời, thì đó là do những nhân duyên, những hành động tốt trong quá khứ.

Tùng nhân đọa ác: Đọa là rơi xuống. Rơi xuống cõi ác. Nếu không tu, người đang ở cõi thiện rớt xuống cõi ác. Bị rơi xuống cõi hệ lụy cũng là do nhân.

Trong khi ở cõi trời, có thể ta không chịu nhận diện được những may mắn và hạnh phúc của mình. Ta coi thường, không giữ giới, đi ra ngoài không có đệ nhị thân. Đó là những nhân khiến ta rơi xuống cõi ác.

Hai câu kệ này xác nhận rằng: không có gì là ngẫu nhiên. Nếu ta được sinh ra ở một cõi an lành, đó là do ta, do nhân duyên của ta. Nếu ta rơi xuống cõi hệ lụy, cũng là do nhân duyên của ta.

Do nhân nê hoàn: Niết bàn cũng do nhân duyên mà có được.

Sở duyên diệc nhiên: Trong vấn đề duyên khởi, cũng giống như trường hợp được sinh lên cõi thiện hay bị đọa xuống cõi ác; đi vào Niết bàn cũng do nhân duyên mà sinh ra.

Điều chúng ta cần phải hiểu trong câu kinh là: Niết bàn không phải là một cái gì được tạo tác ra, tại vì Niết bàn là một pháp vô vi (unconditioned dharma), mà không phải là một hành (formation), hay một pháp hữu vi (conditioned dharma). Niết bàn không phải do những nguyên nhân tạo tác mà thành. Vì vậy, chữ “do nhân” không có nghĩa là do những điều kiện làm ra Niết bàn. “Do nhân”, có nghĩa là do sự tu tập mà Niết bàn hiển lộ ra. Niết bàn không phải có do ta tu tập, mà nó đã có sẵn rồi, nếu có tu tập thì ta được hưởng. Chữ nhân ở đây không phải là những nhân duyên tới với nhau để làm cho Niết bàn biểu hiện, như bông hoa, như mặt trời… Nhân là do công phu tu tập mà ta hưởng được Niết bàn.

Vào lúc bốn, năm giờ sáng, xóm Thượng trời rất trong, rất đẹp. Hương đêm rất thơm, tinh khiết. Ta trùm chăn ngủ, chuông thỉnh ta không chịu dậy. Cảnh vật lung linh, huyền ảo, mầu nhiệm bên ngoài tượng trưng cho Niết bàn. Trùm chăn ngủ, thì ta không hưởng được Niết bàn. Khi có tiếng chuông hay sư anh tới kéo dậy, ta tung mền đứng lên, rửa mặt. Đó là nhân, là công phu tu tập. Không phải nhân đó làm ra Niết bàn. Niết bàn đã có sẵn ngoài trời, ta chỉ cần mặc áo ấm, mở cửa đi ra thì tiếp xúc được với sự mầu nhiệm của cảnh trời khuya ở xóm Thượng. Những nguyên do đó không tạo ra Niết bàn, mà chỉ giúp cho mình hưởng được Niết bàn đang sẵn có. Niết bàn là một pháp vô vi. Nhưng pháp vô vi gọi là Niết bàn này không phải là một cái gì tách biệt ra khỏi các pháp hữu vi mà có. Nói cho đúng nó không phải là một trong một trăm pháp của tông Pháp tướng. Nó là bản thể, là lưng dựa, là nẻo thoát của tất cả các pháp hữu vi. Lìa hữu vi thì không có vô vi, ngược lại cũng thế. Như nước không lìa sóng và sóng không lìa nước mà có.

Có những tông phái cho rằng có nhiều pháp vô vi và có những tông phái nói chỉ có một pháp vô vi, đó là Niết bàn, còn các pháp khác đều là hữu vi. Ở Làng Mai, ta đi theo thuyết: Tất cả các pháp đều là hữu vi. Chỉ có một pháp vô vi, đó là Niết bàn.

Câu “Do nhân nê hoàn” có thể bị hiểu lầm là Niết bàn cũng do nhân mà có. Niết bàn không có cũng không không, vượt ra khỏi ý niệm có và không, nó là pháp vô vi. Niết bàn đang có mặt bây giờ và ở đây. Cảnh trời khuya mầu nhiệm của xóm Thượng có đó, sư em muốn hưởng thì chỉ cần đi ra ngoài. Nếu không đi ra bây giờ, thì làm gì hưởng được cảnh khuya mầu nhiệm như vậy? Nó có sẵn đó rồi, chỉ có điều ta có muốn hay không muốn, ta có khả năng hay không có khả năng. Hạnh phúc là một cái gì có thật đó, cái chính là ta có khả năng hưởng hạnh phúc hay không? Khả năng đó là nhân, do nhân. Nhân là khả năng tự giải phóng mình (ra khỏi chiếc chăn ấm), để được hưởng một buổi khuya mầu nhiệm trên xóm Thượng. Chúng ta đi tới bài kệ thứ 6, một trong những bài kệ rất đẹp trong kinh.

Bài kệ 4

Thiểu vãng thiện đạo

少 往 善 道

Thú ác đạo đa

趣 惡 道 多

Như đế tri thử

如 諦 知 此

Nê hoàn tối an

泥 洹 最 安

Ở đời, ít người được đi trên nẻo thiện,

Trong khi ấy, kẻ đi trên đường ác thì nhiều.

Cứ nhìn vào sự thực mà tìm hiểu

Thì Niết bàn là nơi an toàn nhất.

Thiểu vãng thiện đạo: Thiểu là số ít (thiểu số). Vãng là đi trên con đường (lai vãng). Thiện đạo là con đường tốt.

Thú ác đạo đa: Trong khi đó, người hướng về con đường ác thì nhiều, đa số.

Đạo là con đường (mārga). Trong giáo lý Tứ diệu đế, con đường chánh là sự thật thứ tư. Thiện đạo ở đây là sự thật thứ tư, là con đường bát chánh.

Sự thật thứ nhất là khổ đế (duḥkha) 苦 諦 , sự thật thứ hai là tập đế 集 諦 (saṃudāya). Ác đạo là con đường ngược với thiện đạo. Vì vậy, sự thật thứ hai cũng là một loại con đường, nhưng không phải đường chánh mà là đường tà. Sự thật thứ ba là diệt đế (nirodha) 滅 諦 và thứ tư là đạo đế (mārga) 道 諦 . Đạo là con đường, ở đây là con đường lành, gọi là thiện đạo, tức bát chánh đạo 八正道.

Saṃudāya là gốc rễ của khổ đau, là nguyên do của khổ đau, là con đường đưa tới khổ đau. Saṃudāya cũng là một thứ đạo, một tà đạo 邪道 . Ít người đi trên con đường bát chánh đạo, trong khi nhiều người đang đi trên con đường bát tà đạo. Chúng ta phải hiểu như vậy mới đúng nghĩa của kinh. Còn nếu nói: “Ít người đi trên đường thiện, nhiều người đi trên đường ác” thì rất thường. Tại sao chúng ta phải hiểu kinh như vậy? Tại vì:

Như đế tri thử: Chữ đế có nghĩa là sự thật (satya). Như đế là nhìn vào sự thật mà xét. Sự thật ở đây là Tứ đế(Bốn sự thật). Nhìn vào Tứ đế, ta thấy có bát chánh đạo và bát tà đạo. Chánh đạo đưa tới sự dập tắt khổ đau, tức đưa tới Niết bàn, hạnh phúc. Tà đạo đưa tới khổ đau, sinh tử. Câu “như đế thử tri” nói rất rõ: Nhìn vào sự thật qua ánh sáng của Tứ diệu đế. Sự thật ở đây phải là Tứ diệu đế. Nhìn sự thật qua nhãn quan của Tứ diệu đế, chúng ta thấy rõ ràng: Những người đi trên đường bát chánh thì ít, những người đi trên con đường tà đạo thì nhiều.

Và điều thứ ba chúng ta thấy được là:

Nê hoàn tối an: Niết bàn là cái an toàn nhất.

Khi đọc kinh, chúng ta thấy bốn câu kệ trên không có gì lạ, có vẻ quá đơn giản và ai cũng có thể hiểu được. Nhưng người học kinh cần phải có cái nhìn sâu hơn. Bài kệ nầy dựa trên giáo lý rất căn bản: Nhìn vào giáo lý Tứ diệu đế chúng ta thấy, người đi trên bát chánh đạo thì ít mà người đi trên bát tà đạo thì nhiều và ít ai thấy được rằng: Niết bàn là cái an toàn nhất.

An toàn, có thể được dịch là safety, sécurité, không lo sợ. Nhưng chúng ta chỉ có thể hiểu được chữ an khi đối chiếu với bài kệ thứ hai và thứ ba.

Bài kệ thứ hai nói: Niết bàn là cái hạnh phúc cao nhất. “Nê hoàn tối khoái”, khoái là khoái lạc. Tối khoái là extreme happiness. Khoái là một chữ rất cổ. Trong bài kệ thứ ba nói: “Nê hoàn tối lạc”, có nghĩa: Niết bàn là cái lạc thú lớn nhất. Bài kệ thứ hai và thứ ba diễn tả Niết bàn là cái lạc thú, khoái lạc nhất.

Bài kệ thứ tư diễn tả Niết bàn là cái an toàn nhất.

Muốn tìm cái an toàn, chúng ta tìm tới Niết bàn.

Bài kệ 3

Cơ vi đại bệnh

飢 為 大 病

Hành vi tối khổ

行 為 最 苦

Dĩ đế tri thử

已 諦 知 此

Nê hoàn tối lạc

泥 洹 最 樂

Đói là cái bệnh khó chịu đựng nhất.

Các pháp hữu vi là cái gây khổ đau nhiều nhất.

Cứ nhìn vào sự thực mà tìm hiểu

Thì Niết bàn là cái lạc thú lớn nhất.

Cơ vi đại bệnh: Đói là cái bệnh khó chịu đựng nhất. Ở trong thính chúng này chưa có vị nào đã từng trải qua một cơn đói thực sự đâu. Bảy tám giờ tối chưa được ăn chưa phải là đói. Nhịn ăn mười, mười lăm ngày để thanh lọc cơ thể, chưa gọi là đói. Phải đói cả mấy tháng trời không có ăn, đó mới thật là đói. Khi ấy mới thấm thía được nỗi thống khổ của cái đói.

Hành vi tối khổ: Các pháp hữu vi (các hành) là cái gây khổ đau nhiều nhất.

Hành tiếng Phạn là saṃskāra. Trước hết, hành có nghĩa là tất cả các pháp, các hiện tượng, tất cả pháp hữu vi như núi, sông, cây cỏ, đất đá, con người và thú vật. Các pháp nương vào nhau mà biểu hiện ra, gọi là hành. Các hành đều vô thường và vô ngã. Các pháp hữu vi là mặt trái của Niết bàn. Niết bàn là vô vi. Các pháp hữu vi vì có sinh có diệt, có qua có lại, có còn có mất nên gây nên nhiều khổ đau. Nhưng khi tiếp xúc thật sâu với các pháp hữu vi, chúng ta chạm tới Niết bàn. Chạm vào Niết bàn là chạm vào pháp vô vi (asaṃskṛta). Chạm vào cái vô vi, thì không còn lên xuống, sinh diệt nữa.

Sóng là một pháp hữu vi có lên, có xuống, có có, có không. Nhưng khi sóng biết trở về và tìm ra được mình là nước, biết rõ mình là một pháp vô vi rồi, thì nó hết sợ, lên cũng vui mà xuống cũng vui. Hành là các pháp hữu vi ngược lại với Niết bàn là một pháp vô vi. Thật ra các hành không phải là nguyên do của khổ đau. Nguyên do chính của khổ đau là nhận thức sai lầm của chúng ta về các hành: chúng vô thường và vô ngã mà chúng ta cứ tưởng chúng là thường, là ngã, cho nên chúng ta khổ. Nếu nhìn sâu vào bản chất của chúng và thấy được tự tánh Niết bàn vô vi trong chúng thì chúng không còn làm cho ta đau khổ nữa.

Ta tiếp xúc với Niết bàn bằng cách tiếp xúc với các pháp hữu vi, cũng như ta tiếp xúc với nước bằng cách tiếp xúc với sóng.

Dĩ đế tri thử: Lấy sự thật mà xét, thì

Nê hoàn tối lạc: Niết bàn là hạnh phúc lớn nhất.

Còn tám ngày nữa chúng ta sẽ mở cửa cho thiền sinh các nước tới. Chúng ta hãy sửa soạn trái tim của mình cho lớn để có đủ không gian thênh thang cho những người đến với chúng ta. Có thể có đến 4000 người tới trong vòng bốn tuần lễ. Chúng ta có bổn phận đem niềm vui và hạnh phúc cho họ. Muốn được như vậy, chúng ta phải biết đem hạnh phúc lại cho chúng ta trước. Anh chị em trong nhà phải nương tựa vào nhau, nắm tay nhau trong tình huynh đệ. Như thế, chúng ta có thể làm hạnh phúc cho rất nhiều người trong vòng một tháng của khóa tu mùa hè. Các sư anh, sư chị lớn nên kể chuyện cho các sư em nghe, nhất là những sư em nào chưa từng được tham dự khóa tu mùa hè ở Làng Mai, về những kinh nghiệm, những niềm vui, những công việc, những phương pháp làm hạnh phúc cho các bạn thiền sinh tới với mình. Khi có sự hòa thuận, có tình anh chị em, có hạnh phúc và niềm vui trong tăng thân, thì chúng ta có thể làm hạnh phúc cho người khác một cách rất dễ dàng. Đọc kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại tôi có cảm tưởng như đang đọc một bài thơ. Khi dịch xong kinh này, tôi thấy rất biết ơn chư Tổ đã ngồi đọc hết các kinh rồi lấy những lời Bụt dạy rải rác trong tất cả các kinh về chủ đề Niết bàn để gom lại thành một kinh. Trong kinh Pháp Cú bằng tiếng Pali không có phẩm Niết Bàn. Phẩm Niết Bàn này chỉ có trong kinh Pháp Cú Hán tạng.

Bài kệ 2

Vô bệnh tối lợi

無 病 最 利

Tri túc tối phú

知 足 最 富

Hậu vi tối hữu

厚 為 最 友

Nê hoàn tối khoái

泥 洹 最 快

Không bệnh là cái lợi tức lớn nhất

Tri túc là cái giàu có to nhất

Trung thực là người bạn tốt nhất

Niết bàn là cái hạnh phúc cao nhất.

Vô bệnh tối lợi: Không bệnh là cái lợi tức lớn nhất. Đây là để đối trị cái tư duy của những nhà doanh thương, lúc nào cũng lo nghĩ tới lợi nhuận. Câu kinh này Bụt nói cho những nhà doanh thương, nhưng cũng nói cho tất cả mọi người – những ai muốn có thật nhiều đồng ra đồng vào – một điều rất đơn giản: Sức khỏe là lợi tức lớn nhất. Đừng làm điều gì để hư hao sức khỏe của mình. Và phải học những phương pháp để giữ gìn sức khỏe.

Tri túc tối phú: Tri túc là cái giàu có to nhất.

Ai là người giàu nhất? Người đó không phải là người có nhiều cổ phần trong thị trường chứng khoán. Khi giá trị chứng khoán xuống, người đó cũng trở nên nghèo. Nhất là trong thời đại khủng hoảng kinh tế, hôm nay ta có thể giàu, nhưng ngày mai ta có thể không giàu nữa. Trong cái nhìn của người giác ngộ, tri túc là cái giàu có lớn nhất. Tri túc (saṃtusta) cũng là một yếu tố của Niết bàn. Ta biết từng đó đã là đủ cho ta. Ta đã có đủ điều kiện để có hạnh phúc, ta không cần thêm gì nữa. Tự nhiên ta trở thành người giàu nhất trên đời, vì ta biết thực tập tri túc. “Tôi có ba y và một bình bát, vậy là giàu quá rồi! Tôi có gốc cây, có cái võng, tôi giàu quá!” Kinh dạy những điều rất thực tế, không dạy ta mơ tưởng tới một thiên đường tương lai.

Hậu vi tối hữu: Trung thực là người bạn tốt nhất.

Hậu là dày. Người có hậu là người có tình, cái tình và cái nghĩa của người đó rất dày. Người đó rất trung thực, những người khác có thể nương tựa được.

Người bạn tốt nhất không phải là người có quyền hành để ta có thể dựa vào trong lúc khó khăn. Khi ta gặp tai nạn, có khi người đó không dám lên tiếng bênh vực, tại vì người đó sợ mất quyền. Người bạn thân thiết nhất không phải là người bạn giàu sang và có quyền hành. Trung thực chính là người bạn tốt nhất. Đây là một bài học rất thực tế.

Nê hoàn tối khoái: Niết bàn là hạnh phúc cao nhất.Khoái được dịch ra tiếng Anh là delight, là happiness. Đây là một kinh nghiệm. Người nói lên câu này đã được hưởng Niết bàn. Nếu những cái khác người đó đã nói đúng, thì cái này người đó cũng nói đúng.

Bài kệ 1

Nhẫn vi tối tự thủ

忍 為 最 自 守

Nê hoàn Phật xưng thượng

泥 洹 佛 稱 上

Xả gia bất phạm giới

捨 家 不 犯 戒

Tức tâm vô sở hại

息 心 無 所 害

Nhẫn là biện pháp hay nhất để tự bảo hộ.

Niết bàn là cái mà Bụt khen ngợi là cao đẹp nhất.

Buông bỏ nếp sống trần tục, sống đời phạm hạnh, không phạm giới,

Vị sa môn không gây thiệt hại cho bất cứ ai.

Trong chúng ta có tâm hành sợ hãi; chúng ta sợ những tai nạn, những mưu mô ác độc xâm phạm tới mình. Sống trong sự sợ hãi, chúng ta không thể nào có hạnh phúc. Ngay trong câu đầu, Bụt đã dạy cho chúng ta sống như thế nào để đừng sợ hãi và cảm thấy an toàn. Đó là bước đầu đi vào Niết bàn. Bởi vì Niết bàn trước hết là sự an ổn.

Nhẫn là biện pháp hay nhất để tự bảo hộ. Nhẫn là sự chấp nhận. Chấp nhận được rồi thì ta sẽ có sức mạnh để đi tới và vượt thắng. Niết bàn là cái mà Bụt khen ngợi là cao đẹp nhất. Buông bỏ nếp sống trần tục, sống đời sống phạm hạnh, đừng phạm giới. Biết cách làm lắng dịu tâm ý. Lúc đó, an ninh của mình sẽ lớn lên và ta bắt đầu nếm được cái an ổn của Niết bàn.

Ngoài đời, muốn làm giàu người ta đua nhau quảng cáo: “Có được chiếc xe hơi này quý vị sẽ là người hạnh phúc nhất”; “Máy tính của chúng tôi là loại máy tối tân chứa đựng cả một thiên đường, nó sẽ giúp quý vị biến cái không thể thành cái có thể…”

Niết bàn không phải là một hóa phẩm mà chúng ta đem đi bán. Mỗi tôn giáo cũng có thể bán một Thiên đường, một Tịnh độ, hay một Niết bàn. Nhưng Niết bàn có phải là một món hàng mà Bụt và chư Tổ muốn đem bán cho chúng ta hay không? Nó có phải là một cái giống như cái Thiên đường trên trần thế hay như một túp lều tranh có một trái tim vàng mà người ta tìm cách bán cho mình hay không? “Nếu ông theo đạo của tôi, nếu ông trở thành một thành phần trong tổ chức giáo hội của tôi, thì sau khi chết ông sẽ có Niết bàn, sẽ có Thiên quốc.” Niết bàn có phải là một món hàng như vậy hay không? Chúng ta thấy ngay một cách rõ ràng là không phải. Theo kinh Niết Bàn thì Niết bàn là cái đã có sẵn, ta không phải mua: Tôi không bán gì cho anh cả. Cái đó đã có sẵn. Nếu biết tiếp xúc, nếu có tự do, anh sẽ được hưởng cái đó. Như không khí tươi mát của buổi ban mai đã có sẵn, anh chỉ cần mở cửa sổ hoặc đi ra ngoài là anh có thể hưởng được. Chư Bụt, chư Tổ chỉ tìm cách giúp cho ta thấy mà thôi. Nếu khéo léo một chút, ta có thể bước ra và rong chơi ngay trong trời phương ngoại.

Thiên quốc hay Thiên đường trên trần thế là những cái thuộc về tương lai. Ta phải xuất tiền mua ngay bây giờ, nhưng trong tương lai hàng mới được giao. Niết bàn thì không như vậy. Niết bàn có thể có mặt liền ngay bây giờ, không cần đợi tương lai và cũng không cần phải quảng cáo.

Nhẫn là biện pháp hay nhất để tự bảo hộ. Bài kệ thứ nhất bắt đầu bằng chữ nhẫn. Chúng ta ngạc nhiên, tại sao kinh Niết Bàn lại bắt đầu bằng Nhẫn nhục ba la mật? Nhẫn, tiếng Phạn là ksānti, tiếng Việt là chịu đựng. Chữ chịu đựng rất hay! Chịu có nghĩa là có thể đồng ý được, có thể chấp nhận được mà không có khó khăn nhiều. Đựng có nghĩa là mang theo được, dung chứa được, đủ sức để tiếp nhận và dung chứa. Ví dụ, chúng ta có một cái thùng có thể chịu đựng được hai mươi lăm gói mì. Tâm của mình cũng vậy. Tùy tâm của mình nhỏ hay lớn mà nó có thể chịu đựng được nhiều hay ít. Chịu đựng được thì không đau khổ. Khi nghe chữ chịu đựng, có nhiều người hiểu theo nghĩa tiêu cực là phải cắn răng chịu đựng, nghĩa là trong sự chịu đựng này có khổ đau. Nhưng kỳ thực, hiểu theo đúng nghĩa của nó thì chữ chịu đựng có nghĩa là có khả năng chứa đựng được mà không cần phải cố gắng. Theo nguyên ngữ của chữ chịu đựng: chịu là đồng ý, đựng là có khả năng chứa đựng được. Tôi có thể mang anh, bỏ trọn anh vào trái tim của tôi mà không có vấn đề. Tại vì trái tim tôi đủ rộng, có đủ chỗ cho anh.

Nhẫn là một trong sáu sự thực tập đưa chúng ta đến bờ giải thoát gọi là Lục độ ba la mật. Trong kinh có một ví dụ rất hay về “chịu đựng”. Một hôm, Bụt cầm một nắm muối thả vào một bát nước, khuấy lên và nói: “Tôi vừa bỏ một nắm muối vào bát nước, bát nước này rất mặn không sao uống được. Nhưng nếu ta đem nắm muối ấy mà thả vào một dòng sông thì nó không đủ sức làm cho dòng sông mặn.” Dòng sông bao la, một nắm muối thả vào lòng nó không có nghĩa gì cả, nó có thể chịu đựng được nắm muối mà không có khổ đau gì. Kinh nói: Nước chịu và đựng rất giỏi. Nhưng đất, lửa và gió cũng có khả năng chịu và đựng rất giỏi. Đó là những lời Bụt đã dạy Rahula: “Con hãy tập được như đất. Con hãy tập được như gió. Con hãy tập được như nước. Con hãy tập được như lửa.” Đó là những lời Bụt dạy Rahula về nhẫn nhục ba la mật mà không cần sử dụng danh từ nhẫn.

Khi trái tim của ta lớn, thì dù có những khó khăn tới với ta, ta vẫn có thể chấp nhận được và chúng không đủ sức làm ta khổ. Còn nếu trái tim ta nhỏ xíu như hạt đậu phụng, thì bất cứ chuyện gì cũng có thể làm cho ta phiền lòng.

Nhẫn ở đây có nghĩa là làm cho trái tim ngày càng rộng lớn. Trái tim càng lớn thì sức dung chứa của nó càng nhiều và khổ đau càng nhỏ. Trái tim của Bụt là một trái tim không biên giới, gọi là Vô lượng tâm. Khi trái tim của ta lớn bằng trái tim của Bụt, thì không gì có thể làm cho mình bực tức, khổ đau được. Ai ta cũng có thể ôm được vào lòng. Đó gọi là nhẫn, là một cánh cửa mở ra để ta đi vào Niết bàn.

Nhẫn vi tối tự thủ: Thủ là bảo hộ. Tự thủ là tự mình bảo hộ cho mình. Tối là hay nhất. Câu này nghĩa là:

Nhẫn là phương pháp hay nhất để mình tự bảo hộ cho mình. Là học trò của Bụt, là người bạn đồng hành của Ngài, ta thử nhìn vào trái tim của mình để xem nó đã lớn chưa, hay còn nhỏ xíu. Nếu trái tim còn nhỏ xíu, ta sẽ còn nhiều đau khổ. Trái tim càng mở lớn chừng nào, thì ta càng có nhiều an lạc chừng đó.

Giữa hai câu này có sự so sánh: nếu nhẫn là phương pháp hay nhất để tự bảo hộ mình thì:

Nê hoàn Phật xưng thượng: Niết bàn là mục tiêu cao quí nhất đáng để cho ta đeo đuổi, là cái cao đẹp nhất mà ta có thể đạt tới được. Trong ta phải có cái ước muốn. Không muốn thì thôi, hễ muốn thì phải muốn cho nhiều mới được. Mới bốn giờ sáng, trời bên ngoài sao trăng rất đẹp, cây cối thức dậy rì rào, hương đêm rất thơm. Nếu muốn, ta chỉ cần tung mền, mặc áo đi ra ngoài là có thể hưởng được hương đêm tinh khiết. Niết bàn cũng vậy, nó là một cái rất dễ chịu. Hạnh phúc mà Niết bàn đem lại rất lớn. Muốn hưởng được Niết bàn, ta phải buông bỏ những hệ lụy tầm thường của cuộc đời. Một khi buông bỏ được những hệ lụy, thì tự nhiên Niết bàn có mặt. Cũng như khi buông bỏ cái mền ấm và sự lười biếng, ta mở tung cánh cửa bước ra ngoài, thì trăng sao, gió mát liền có mặt đó cho mình. Đừng muốn cái ít hơn. Đã muốn thì phải muốn cái gì thật đẹp, thật lớn. Cái đẹp nhất, lớn nhất đó là Niết bàn.

Ngay trong bài kệ mở đầu kinh đã rất hay: Nhẫn là biện pháp hay nhất để tự bảo hộ. Tự do là đối tượng cao đẹp nhất để mình theo đuổi. Niết bàn chính là tự do.

Xả gia bất phạm giới: Những người xuất gia không phạm giới.

Tức tâm vô sở hại: Tức tâm là tiếng cổ dùng để dịch từ sa môn, có nghĩa là người đã biết làm lắng dịu tâm ý mình lại. Tức có nghĩa là làm cho lắng dịu, làm ngưng lại; chữ tức tương đương với chữ chỉ. Tâm mình có thể đang chạy theo những đam mê, hận thù, tâm mình có thể đang còn lo lắng sợ hãi; mình làm tâm êm dịu lại gọi là tức tâm. Một vị sa môn có thể làm được chuyện ấy.

Śamatha-vipaśyanā là thiền. Śamatha là chỉ, còn vipaśyanā là quán. Thiền, trước hết là làm ngưng lại, làm lắng dịu lại (thiền chỉ), để từ từ thấy rõ và đạt tới sự thật (thiền quán). Trong kinh Quán Niệm Hơi Thở, đức Thế Tôn đã dạy nhiều phương pháp để giúp mình dừng lại và làm lắng dịu thân tâm. Thân tâm đã lắng dịu, thì không có gì có thể làm hại hay xâm phạm tới mình được.

Vô sở hại tức là không gây đau khổ, không gây đổ vỡ, không tàn hại ai. Đó là bất hại (ahiṃsā), đó là vô hại, đó là non-injury, là non-violence. Vào thế kỷ thứ sáu trước công nguyên, tại trung tâm lưu vực sông Hằng, có hai truyền thống tâm linh được thành lập, và cả hai đều chủ trương thực tập bất hại. Đó là giáo phái của những người Nirgranthas (không vướng bận thành lập), đứng đầu là Mahavira, cũng là Jina (người chiến thắng). Đó là Kỳ Na giáo. Giáo phái thứ hai là đạo Bụt, do Siddharta Gotama thành lập. Kỳ Na giáo vẫn còn tồn tại đến ngày nay ở Ấn Độ, tuy không vượt qua được biên giới để trở thành một truyền thống quốc tế như đạo Bụt. Nhờ đạo Bụt giáo hóa mà nhiều quốc gia từ từ bỏ bớt được bạo động, như Ấn Độ, Việt Nam, Trung Quốc, Tây Tạng, Cao Ly… Đó là nhờ sự thực tập “vô sở hại”.

Bình giảng

Dưới đây là kết tập lại những bài pháp thoại Thiền sư đã giảng trong hai khóa tu: Khóa tu mùa Xuân và Khóa tu mùa Đông, năm 2010, tại Làng Mai. Tất cả có đến mười bài pháp thoại. Sau khi giảng xong, Thiền sư cũng đã bắt đầu giảng một phẩm tương đương trong kinh Pháp Tập Yếu Tụng, cũng về chủ đề Niết bàn. Học xong phẩm Nê Hoàn trong kinh Pháp Cú, bạn có thể bắt đầu học phẩm Viên Tịch trong kinh Pháp Tập Yếu Tụng để có cơ hội so sánh đối chiếu hai kinh.

Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê Hoàn là Niết bàn (Nirvāna, Nibbāna). Trong bản dịch, chúng ta có chữ trời phương ngoại. Trời phương ngoại là cái không gian vượt ra ngoài không gian, chữ Hán gọi là thiên ngoại thiên hay phương ngoại phương. Phương là không gian, phương ngoại là ngoài không gian, nghĩa là không gian nằm ngoài không gian. Chúng ta sống trong không gian này, tuy bao la nhưng vẫn còn tù túng, tại vì không gian và thời gian ở đây được kết hợp với nhau. Đây là không gian của sinh, của diệt, của còn, của mất, của trên, của dưới, của trước, của sau. Trong không gian đó chúng ta vẫn chưa cảm thấy thật sự thoải mái. Chúng ta học được trong đạo Bụt rằng không gian và thời gian mà trong đó chúng ta sống không hẳn là một thực tại khách quan nằm ngoài tâm thức mà là một sáng tạo phẩm của tâm thức. Phương ngoại là một không gian khác vượt thoát không gian và thời gian của tâm thức. Không gian này bao la hơn. Trong đó không có sinh, không có diệt, không có tới, không có đi, không có còn, không có mất. Ở trong không gian ấy chúng ta thấy thoải mái hơn nhiều. Ngoại là ngoài, phương ngoại là vượt thoát không gian. Ngoài trời còn có trời, ngoài không gian còn có không gian. Rong chơi trời phương ngoại là đi chơi trong thế giới không gian ngoài không gian. Trong thế giới đó không có ta và không có người, không có sự phân biệt kỳ thị. Không gian đó bao la vô cùng, gọi là Niết bàn. Thường thì chúng ta nói Niết bàn là một cái gì không thể diễn tả được bằng ngôn ngữ và ý niệm. Chúng ta không thể nói gì về Niết bàn, không thể có khái niệm về Niết bàn. Nó nằm ngoài tư duy và ngôn ngữ của mình. Nói về Niết bàn là nói chỉ để mà chơi, tại vì Niết bàn không thể diễn tả được bằng ngôn từ và khái niệm. Thế nhưng, Bụt đã nói về Niết bàn và chư Tổ cũng đã từng nói về Niết bàn. Các ngài đã làm một chuyện tưởng chừng như không thể nào làm được. Vì thương nên các ngài đã ráng nói một chút về Niết bàn và biết rằng trong khi nói, người nói phải rất cẩn thận vì người nghe có thể nắm lấy và kẹt vào những gì mà mình đã nói ra. Người nói phải có nghệ thuật nói để giúp người nghe đừng kẹt vào những điều mình nói. Các Tổ đã tìm cách nói như thế nào cho khéo. Là người nghe, mình cũng phải nghe cho khéo, nếu không, thì mình sẽ bị kẹt ngay vào những điều Bụt và các Tổ nói. Người nói và người nghe đều phải có cố gắng. Khi học kinh Niết Bàn, chúng ta phải có thái độ như vậy. Đó là điều rất quan trọng!

Rong chơi có nghĩa là đi chơi, là không còn vướng bận gì nữa, tiếng Anh có thể dịch là “Enjoy your time, enjoy yourself.” Trời phương ngoại tiếng Anh có thể dịch là “the sky (or space) of the ultimate” Rong chơi trời phương ngoại là “Enjoy the sky (or space) of the ultimate.” Hãy thích thú rong chơi trong bản môn, tại vì trong đó không có sinh, không có diệt, không có lo lắng sầu khổ, không có có, cũng không có không. Rong chơi có nghĩa là không có chuyện gì phải làm, không có nơi nào phải đi tới, ta chỉ đi chơi vui thú. Tiếng Anh là to enjoy, nhưng trong chữ enjoy không có ý của cái không gian mà ta đang đi chơi. Tiếng Pháp có chữ flâner có nghĩa là chỉ đi chơi, không có mục đích nào cả. Trong kinh sử dụng hình ảnh của những con chim trở về với mây trời, tự do bay chơi và hình ảnh của những con nai cảm thấy thoải mái khi trở về đồng quê. Niết bàn, có nghĩa là rong chơi. Take time to enjoy where you are.

Chúng ta có thể học kinh này bằng thái độ của một nhà khoa học, hay thái độ của một tín đồ. Nhà khoa học cho rằng, học với thái độ của một tín đồ thì không thể nào khách quan được; vì hễ Thượng đế, chúa Jésus hay Bụt nói gì thì chúng ta phải nhất luật tin theo, mà không cần đặt câu hỏi. Như vậy là trái với tinh thần khoa học. Học với tư cách một tín đồ, một đệ tử, mới nhìn thì có vẻ không hay lắm. Nhưng xét cho kỹ, học với tư cách một tín đồ cũng có cái hay của nó. Trước hết, ta có niềm tin nơi thầy của ta. Khi có niềm tin, ta không hời hợt bác bỏ ngay cái mình chưa hiểu. Nếu nhìn bằng con mắt dò xét, nghi ngờ, đặt câu hỏi, có thể ta không thiết lập được liên hệ tốt với thầy, với người nói. Do đó, sự tiếp thu có thể yếu kém. Sự liên hệ thầy trò, liên hệ tín đồ có thể là một điều tốt. Cái hiểu không phải chỉ do trí năng mà thôi, đôi khi ta có thể hiểu bằng con tim của mình. Tâm của mình không chỉ là đầu óc, tâm của mình còn là trái tim nữa. Nhiều khi con tim có những tuệ giác, những lý luận của nó.

Trong đạo Bụt có nói đến khả năng quyết trạch, so sánh, đối chiếu gọi là tỷ lượng, trong đó có quy nạp (induction) và diễn dịch (deduction). Khoa học dùng tâm mình để quy nạp, diễn dịch. Ví dụ chúng ta nói: Tất cả loài sinh vật đều phải chết. Con người là một loài sinh vật, vì vậy con người cũng phải chết. Đó là lý luận, là tỷ lượng.

Ngoài ra, chúng ta có một khả năng nhận thức khác, không cần phải đi ngang qua lý luận, gọi là hiện lượng, tức là nhận thức trực tiếp (direct perception), không cần đi qua lý luận. Đây là một khả năng tuyệt vời, nhiều khi tự nhiên ta đạt tới sự thật mà không cần phân tích, suy nghĩ và lý luận. Trong sự giác ngộ, phần hiện lượng rất quan trọng, giác ngộ mà không cần phải đi ngang qua môi giới của suy luận. Đó là một loại trực giác (intuition).

Trong đạo Bụt ta cũng có nói tới một khả năng thứ ba gọi là thánh giáo lượng. Các bậc giác ngộ đã đi ngang qua những kinh nghiệm, họ đã thấy nên họ tìm cách chỉ lại cho chúng ta. Chúng ta chỉ cần nương trên tuệ giác của họ để tới cho mau mà khỏi phải lần mò đi tìm một mình. Đó gọi là thánh giáo lượng. Kinh là thánh giáo lượng, là những gì mà người đi trước đã đạt tới và tìm cách nói lại cho chúng ta. Nếu khéo léo, chúng ta có thể nương theo đó mà đạt được. Nhưng các ngài không đạt giúp cho ta mà các ngài chỉ có thể hướng dẫn để ta phải tự đạt lấy. Ví dụ, chúng ta chưa bao giờ ăn trái kiwi. Những người đã ăn nói với chúng ta rằng trái kiwi không giống trái cam, trái quít, nó nhỏ bằng quả trứng, vỏ có lông, vị của nó chua chua, ngọt ngọt… Người kia có ngồi nói như vậy cả ngày thì ta cũng không có được nhận thức trực tiếp về trái kiwi. Nhưng dù vậy, những gì người ấy nói cũng giúp mình rất nhiều. Ta biết trái kiwi không phải là trái cam hay trái quít và mình đỡ mất rất nhiều thì giờ. Khi thấy trái kiwi ta sẽ không ngồi lý luận nữa, ta lấy dao cắt ra ăn và đạt tới nhận thức trực tiếp. Trong khoa học cũng có thánh giáo lượng. Có những nhà khoa học đi trước đã tìm ra và người đi sau chỉ cần kiểm chứng, không cần phải mất công tìm tòi. Thánh giáo lượng ở đây rất cần thiết. Khoa học mà kỳ thị tôn giáo là một điều không đúng. Là một đệ tử, một tín đồ, chúng ta thừa hưởng thánh giáo lượng nhưng chúng ta cũng có thể lợi dụng được phương pháp của khoa học. Khoa học có thể giúp cho chúng ta rất nhiều. Ví dụ như trong kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại, nếu có phương pháp khoa học, chúng ta sẽ tìm ra được ý nào là ý của Bụt và ý nào là của chư Tổ đã thêm vào. Bụt nói, chư Tổ ghi lại bằng cái hiểu của mình, nên những câu ghi chép đó phản ảnh cái thấy của chư Tổ nhiều hơn là cái thấy của Bụt. Nếu có thái độ khoa học, ta có thể lọc ra ý của chư Tổ để nắm lấy ý của Bụt. Hơn nữa, có thể xảy ra đôi chút vụng về hay khuyết điểm trong khi trao truyền. Thí dụ, “Đường xưa mây trắng” mà ta nghe hấp tấp thành ra “Áo sơ mi trắng”.

Nhờ có phương pháp của khoa học nên chúng ta có thể lượm ra những sai lầm và phục hồi lại cái nghĩa cũ. Bây giờ ngành khảo cổ học và văn bản học có thể giúp được rất nhiều cho việc đó. Trong khi học chúng ta phải áp dụng thêm thái độ của nhà khoa học chứ không chỉ có thái độ của một tín đồ. Có thể trong kinh có những điều không ăn khớp với nhau. Không ăn khớp với nhau không hẳn là trái chống nhau.

Trong đạo Bụt có hai loại sự thật: sự thật tuyệt đối (chân đế) và sự thật tương đối (tục đế). Sự thật tuyệt đối còn được gọi là chân đế hay đệ nhất nghĩa đế. Những kinh diễn tả được sự thật tuyệt đối gọi là liễu nghĩa kinh. Còn sự thật nửa vời thì được gọi là sự thật tương đối. Những kinh Bụt dạy cho người sơ cơ (người mới học) diễn tả sự thật tương đối gọi là bất liễu nghĩa kinh, để giúp cho những người ấy dễ dàng hiểu được, rồi từ đó mới đi sâu hơn vào để tìm về sự thật tuyệt đối. Trong tục đế có sinh, có diệt, có có, có không; nhưng trong chân đế thì không có sinh, không có diệt, không có có, không có không. Đứng về phương diện hình thức thì hai cái chống đối nhau, nhưng trên phương diện nội dung thì cái này giúp đưa tới cái kia. Đôi khi thấy có sự mâu thuẫn trong kinh, chúng ta đừng ngạc nhiên, đừng cho là kinh nói không thống nhất.

Khi dựng lên kinh Niết Bàn, các Tổ đã lấy những lời Bụt nói về Niết bàn ở các kinh khác rồi tóm tắt lại. Có thể trong kinh có vài câu còn mang hương vị tục đế nên chúng ta phải hiểu rằng cái này không chống đối cái kia mà chỉ là bước thứ nhất để đưa tới bước thứ hai. Đó là tất cả những điều chư Tổ dặn dò, là người học Phật chúng ta phải rất cẩn thận.

Trong Phật học chúng ta có bốn nguyên tắc để căn cứ gọi là tứ y:

Y liễu nghĩa kinh bất y bất liễu nghĩa kinh: Chỉ căn cứ vào kinh liễu nghĩa và không căn cứ vào kinh không liễu nghĩa. Chúng ta có thể dùng kinh bất liễu nhưng đừng nên cho đó là kinh liễu nghĩa.

Y pháp bất y nhân: Căn cứ vào pháp, đừng nên căn cứ vào người. Đôi khi có người tuy đã là giáo thọ nhưng sự thực tập của vị ấy không biểu lộ được pháp một cách hoàn mỹ. Có thể vị ấy giảng về uy nghi rất hay nhưng chính vị ấy lại thực tập uy nghi chưa hay gì mấy, thậm chí vị ấy còn hơi khó chịu, nhưng vì vị ấy nắm vững được giáo lý nên ta phải chịu khó nhẫn nại để học cho được giáo pháp mà vị ấy đang có. Nương vào pháp mà đừng nương vào người, nếu chê người thì ta sẽ mất pháp. Khi giảng về “y pháp bất y nhân” các Tổ dùng một hình ảnh rất vui: Trong một thùng rác có một viên ngọc. Nếu muốn có viên ngọc thì ta phải chịu thọc hai bàn tay vào thùng rác bẩn để lấy viên ngọc ra. Hồi còn sa di tôi đã được học phương pháp y pháp mà không y nhân, y vào kinh liễu nghĩa mà không y vào những kinh bất liễu nghĩa.

Y nghĩa bất y ngữ: Nương vào nghĩa lý của kinh mà đừng bị kẹt vào danh từ. Phải nghe và hiểu được ý nghĩa tiềm tàng trong lời nói.

Y trí bất y thức: Thức là nhận thức, là tâm thức của mình. Tâm thức đó có thể bị màn phiền não vô minh che lấp nên không thật trong sáng. Khi đã lấy đi được sự giận hờn, si mê, ganh tị thì ta có trí, sáng suốt hơn nhiều. Học hay nghiên cứu kinh bằng tâm thức còn mang nặng đam mê, giận hờn thì sẽ không đạt được. Vì vậy trong khi học kinh chúng ta phải dùng trí nhiều hơn dùng thức. Tâm thức thì còn mang nặng khuynh hướng phân biệt. Trí tuệ là trực giác có khả năng đưa ta tới sự giác ngộ, sự liễu ngộ rất nhanh chóng. Đó là bốn nguyên tắc nương tựa trong khi học kinh gọi là tứ y. Chúng ta đã nghe nói về phương pháp học hỏi, nghiên cứu. Người đời gọi là phương pháp học. Nắm vững được phương pháp chúng ta mới có thể đi sâu và đi xa. Bây giờ, chúng ta hãy đi vào bài kệ đầu.

“Có bùn mới có sen” từ 26.05-02.06.2023

Mỗi khi có những khoá tu dành riêng cho các vị doanh nhân, Sư Ông Làng Mai – Thiền sư Thích Nhất Hạnh thường hay khuyến khích họ về việc tạo dựng môi trường làm việc sao cho nơi đó có thể trở thành một đạo tràng tu học tập thể. Những pháp môn đơn giản, những thực tập nho nhỏ đều có thể đem áp dụng vào trong môi trường làm việc đầy những căng thẳng này.

“Trước khi họp, hãy cùng ngồi với nhau vài phút trong tĩnh lặng. Nếu mọi người đều đồng ý thì chúng ta có thể sử dụng chuông trong khi họp. Tiếng chuông sẽ nhắc mọi người trở về với hơi thở và tìm lại bình tĩnh. Nếu không ai muốn ngồi với nhau trong tĩnh lặng vài phút trước khi họp thì bạn vẫn có thể một mình tới phòng họp sớm hơn vài phút để thư giãn thân tâm và thở hơi thở chánh niệm. Có thể những người khác sẽ theo gương và đến cùng ngồi. Bạn không cần nói gì hay chứng tỏ cho người khác biết chủ ý của mình. Chỉ ngồi yên, thở như thế và cảm nhận ích lợi của phép thực tập. Để góp phần vào việc tạo dựng không khí của buổi họp cũng nên có vài lời nhắc nhở các thành viên trong buổi họp là nên tôn trọng ý kiến và lời phát biểu của người khác khi họp. Nếu ta chỉ muốn áp đặt ý muốn của mình lên người khác thì ta sẽ tạo căng thẳng và đau khổ trong sở làm. Vậy thì trong các buổi họp, ta nên mở rộng lòng và lắng nghe trải nghiệm cũng như tuệ giác của những người khác.

Nếu bạn có một ý kiến tuyệt vời và muốn chia sẻ ngay thì cũng không nên gạt bỏ ý kiến của người khác. Hãy mời mọi người trình bày ý kiến của mình. Hãy tin tưởng rằng ý kiến tốt đẹp nhất sẽ phát xuất từ tuệ giác của tập thể. Khi họp nên sử dụng lắng nghe và ái ngữ. Theo dõi hơi thở khi nghe. Mỗi người thay nhau nói và không nên ngắt lời người khác. Tránh tranh cãi. Phát biểu trải nghiệm của mình cho toàn thể nghe. Nếu có một câu hỏi hay một ưu tư thì trình bày ra với toàn thể. Có thể đây là một điều khó vì phương thức họp bàn mới mẻ này khác với lề lối họp bàn của quá khứ. Ta không cần thay đổi phương thức một cách đột ngột. Nếu tất cả mọi người đều cùng lắng nghe nhau mà không ngắt lời người khác thì rất tốt. Nhưng nếu chỉ có một mình bạn theo phương thức ấy và quyết tâm nói năng, lắng nghe với tâm yêu thương thì cũng đủ để tạo hậu quả tích cực.”

Đến với khoá tu “Có bùn mới có sen” diễn ra từ ngày 26.05 đến ngày 02.06.2023  tại xóm Thượng, chùa Pháp Vân, Làng Mai, Pháp. Các vị doanh nhân người Việt đến từ Việt Nam đã có một tuần được trải nghiệm những thời khoá đi thiền, ngồi thiền, chấp tác… chung với nhau với nhiều niềm vui. Họ được lắng nghe thêm về pháp môn tu học qua những bài giảng của quý thầy, quý sư cô. Các vị thiền sinh cũng đã có dịp ngồi lại với nhau để chia sẻ, học hỏi thêm trong những buổi pháp đàm. Trong suốt khoá tu đã có rất nhiều những ánh mắt tươi sáng, bước chân thảnh thơi biểu hiện trên gương mặt mỗi người. Sau khoá tu đã có hơn 20 vị phát nguyện và tiếp nhận thọ trì Năm giới quý báu.

 

Giây phút nấu ăn – Giây phút hạnh phúc (từ 26.05-02.06.2023)

“Trong đời sống hằng ngày, nếu ta biết làm việc với ý thức và tình thương thì mọi công việc dù là rửa chén, quét nhà hay nấu ăn đều trở thành công phu tu tập. Nếu ta quét nhà trong thiền quán, đất ta quét là đất Bụt. Đó là cơ hội để cây tuệ giác nẩy mầm nơi tâm thức ta. Khi ta biết nấu ăn trong chánh niệm, nhà bếp sẽ trở thành ra thiền đường. Lúc ấy, an vui và hạnh phúc sẽ toả chiếu trong ta và xung quanh ta. Được nấu cơm nuôi sống tăng thân hay gia đình, đó là một hạnh phúc” (Thiền sư Thích Nhất Hạnh)

Với chủ đề “Giây phút nấu ăn – Giây phút hạnh phúc”, khoá tu nấu ăn năm nay ở Xóm Mới đã có khoảng hơn 200 vị thiền sinh về tham dự. Các vị thiền sinh được học cách nấu những món ăn ngon, học cách chế tác niềm vui trong khi làm bếp và cả những sự thực tập cần thiết để tạo nên một đời sống lành mạnh, hạnh phúc cho bản thân.

Dưới đây là một vài khoảnh khắc được ghi lại, mời đại chúng xa gần cùng thưởng thức, cùng tận hưởng niềm vui từ khoá tu: