Hộ niệm

bên kia bờ biển Mã Lai

bên ta châu Úc giữ hoài đêm đêm

ưc chi sóng lặng biển hiền

buồm căng thuận gió cho thuyền tới nơi

đt lành, chim đậu thảnh thơi

cho trăng sáng lại, cho người thương nhau

sóng kia cũng biết gật đầu

sao kia cũng biết nguyện cầu sáng đêm.

Thầy viết những vần thơ trên bên bờ biển Úc ngày 19 tháng 2 năm 1977, sau khi chú nguyện cho chiếc Roland chở được 300 đồng bào tị nạn về tới bến Perth an toàn. (Chương trình đi bằng chiếc Koojara bị phá, Thầy định cho chiếc Roland đi trước theo ước vọng của đồng bào.) Nhưng chiếc Roland chỉ mới rời khỏi hải phận Mã Lai thì đã bị bắt lại.

Vững cánh

loạn cánh

mt buổi chiều gió lộng

tan tác mây thu

nhng bóng chim giã từ

dư ảnh mùa xuân nắng ấm

người đã từ lâu quỳ nơi giáo đường bình lặng

bỗng dưng nghe qua hồn mùa

chiều nay vang vang tiếng gọi

lên đường vượt cánh đồng dài tuyết giá

vững cánh chở niềm tin.

Babita

hai mắt mở tròn

chưa đủ thì giờ để ngạc nhiên

Babita đã nằm trong vòng tay tôi

toàn thân Babita

run rẩy

tiếng khóc như tiếng rên

Babita không dám khóc to

v ì Babita đột nhiên

rơi vào vùng xa lạ

Babita đột nhiên

lt vào đền thánh uy nghiêm

hai bàn tay tôi run theo

trên mái tóc non

miệng tôi nói những lời trấn an

mà Babita không hiểu

nhưng rồi Babita nằm yên

Babita nằm yên.

 

ôi tôi muốn ôm vào hai tay

tt cả những em bé mồ côi hai tuổi rưỡi

họ bỏ Babita ở đây

để còn lo cách mạng

Babita có thể chờ

nhng tháng dài không sữa

nhng ngày dài bò trên sân nắng

trộn nước mũi với bùn đất

la lết bên đống phân

Babita còn trẻ

Babita có thể chờ

ngày cách mạng thành công.

Babita là một em bé gái mồ côi hai tuổi rưỡi ở một xóm cùng đinh (intouchables) gần Nagpur, Ấn Độ. Thầy nói trong chuyến đi Ấn Độ năm 1976 Thầy đã ẵm trong tay hàng trăm em bé như Babita.

Sau chuyến đi Ấn Độ và Bangladesh năm ấy, Thầy bị đau phổi, kiết lỵ và bệnh sốt rét ngày xưa tái phát. Bác sĩ Choy Leng phải trị cả một tháng trời mới bớt.

Chắc các bạn của tôi đã biết tới phong trào phục hưng Phật giáo tại Ấn Độ do bác sĩ Ambedkar lãnh đạo. Ambedkar vốn thuộc giai cấp cùng đinh hạ tiện, một giới mà, theo tín ngưỡng Ấn Độ giáo, sinh ra là để làm những công việc thấp hèn; người Bà La Môn quý phái, hễ đụng tới họ là bị ô uế, vì vậy họ bị gọi là intouchables. Ambedkar biết rằng nếu không phá được hàng rào Ấn Độ giáo thì giai cấp của ông không bao giờ thoát được xích xiềng nô lệ hàng ngàn kiếp, cho nên ông đã theo Phật và kêu gọi dân “cùng đinh hạ tiện” theo đạo Phật, lấy đạo Phật làm phương tiện dập phá xích xiềng để vươn lên giải thoát. Ngày 14 tháng 10 năm 1956, tại Nagpur, 500.000 người đã được quy y thành Phật tử. Từ ngày đó trở đi, phong trào Phật giáo của giới cùng đinh tiếp tục lan rộng mặc dù vị lãnh đạo của họ, bác sĩ Ambedkar đã từ trần năm 1956. Năm 1976, thầy Nhất Hạnh đã đi thăm viếng nhiều tiểu bang Ấn Độ, nơi phong trào có cơ sở. Thầy đã nói chuyện với giới lãnh đạo, nhất là giới thanh niên, thanh nữ, về những khó khăn hiện tại của phong trào; và giới trẻ đã hướng dẫn Thầy đi thăm những vùng nghèo đói, chậm tiến nhất trong giới cùng đinh. Nhà Babita là một cái động làm bằng bùn và rơm. Babita mồ côi, được bà ngoại đem về nuôi. Bà ngoại Babita đi làm suốt ngày, để Babita bò chơi trong sân.

“Kể sao cho hết những nghèo khổ đau xót uất ức của giới cùng đinh này”, Thầy đã nói như vậy. Thầy có gặp một người chủ gia đình của bốn em bé, tất cả đều dưới tám tuổi. Người chủ hằng ngày phải đi tắm trâu cho nhà giàu để lấy tiền nuôi bốn đứa em vừa đói vừa bệnh tật. Trong chuyến đi Bangladesh, Thầy nói đã gặp những trẻ thơ bị bỏ bên vệ đường mà không ai lượm về nuôi. Thầy cầu xin với vị giám đốc cô nhi viện Phật giáo ở Dacca, ông này không thể lượm về, vì sức ông còn chưa đủ nuôi các em hiện có trong cô nhi viện. Thầy đành khóc mà đi qua. Sau chuyến đi, Thầy đã về năn nỉ Pierre và Neige thiết lập một tổ chức vận động giúp đỡ cô nhi Bangladesh.

Bài Babita Thầy viết trên một tờ “ô-ram” gởi về cho tôi tại văn phòng. Tôi đã chép lại một bản và đưa vào trong Dấu chân trên cát. Tôi chắc Thầy đã ru Babita bằng tiếng Việt: “Nín đi con, đừng sợ, Thầy đây mà!”. Có lẽ đó là những lời Thầy nói với Babita.

Ấm áp

tôi bưng mặt trong lòng hai bàn tay

có phải để khóc đâu anh

tôi bưng mặt để giữ cho ấm áp sự cô đơn

hai bàn tay chở che

hai bàn tay nuôi dưỡng

hai bàn tay ngăn cản

sự ra đi hờn dỗi của linh hồn.

Nghe kể lại thì bài này tác giả làm trong chuyến đi du thuyết tại Hoa Kỳ, trong một ngày mà báo chí đăng tải rất nhiều về những tàn phá do các cuộc đụng độ quân sự lớn ở Việt Nam, một ngày mà tác giả cảm thấy mỏi mệt sau bao nhiêu tháng trường lê gót vận động để mong cho cuộc chiến chấm dứt. Chị Michèle Chamant đã dịch bài này ra Pháp văn như sau:

POUR LA CHALEUR

je tiens ma tête entre mes mains

non, je ne pleure pas

je tiens ma tête entre mes mains

pour garder encore chaude ma solitude

deux mains qui protegent

deux mains qui nourissent

deux mains pour empêcher

mon âme de me quiter

en colère.

Anh Võ Đình và chị Teo Savory dịch Anh văn như sau:

FOR WARMTH

I hold my face between my hands

no I am not crying

I hold my face between my hands

to keep my loneliness warm

two hands protecting

two hands nourishing

two hands to prevent

my soul from leaving me

in anger.

Duy thị nhất tâm

thành trì em năm xưa

ai hứa sẽ xây cho vững chãi?

sáng hôm nay những người cũ bỗng thấy bập bềnh phiêu dạt trên sóng gió đại dương

khổ đau xây cho loài người một trú địa cuối cùng,

và nơi đó em sẽ ẩn náu qua đêm dài độc địa.

hãy nhắc lại cho tôi nghe những lời năm xưa

tôi đã hứa

để tôi có thể còn có mặt ngày mai mà làm chứng cho em

nhng mũi tên cắm vào thân thể tôi vẫn còn đây, nguyên vẹn, chưa bao giờ giao trả

sửa soạn khu vườn xanh của em cho sây trái

tôi cũng sẽ là một con chim như những con chim khác

 suốt đời chỉ tìm tới chốn suối ngọt cây lành.

y là Chuyển Luân Thánh vương

ngọn bút nội tâm em sẽ ký sắc lệnh đày khổ đau ra ngoài vòng hiện hữu

và gọi về từ muôn phương tản mác nào hoa nào bướm,

cho chồi non tuổi xanh căng nhựa sống,

vũ trụ cười khi hai mắt em cười.

Bài này viết năm 1965. Tôi được chú Thanh Tuệ cho xem bản thảo tại nhà Lá Bối Sài Gòn vì đây là một bài thơ Thầy cho chú.

Đường quê

đường quê đi mãi về vô tận

thầm kín trong tôi gợi quốc hồn:

hương lúa mùa thu, theo gió quyện

mang về sầu muộn khóc cô thôn.

gió mưa gội rửa lòng hoa gạo

trinh bạch hồn nhiên, giọt lệ buồn.

rơi rơi theo gió, buồn cô quạnh

hoa rụng âm thầm, hoa cô đơn…

đâu xa tiếng gọi trời xa vắng

một chuyến đò qua ngập lá vàng

dân quê đâu khúc thanh bình cũ

ut ức ngàn câu gợi khốc tàn;

nhà lá phất phơ xiêu cột đổ

một mùa trăng loạn, mấy cô đơn?

rưng rưng liếp gió mang trời lạnh

khói lửa nghìn thu khóc bạo tàn

pht phơ lau sậy đồng hoang vắng

kiếp số thơ ngây, phận tủi hờn

ai thấy đời tươi trên lá thắm

vườn cau xanh ngắt mộng quê hương?

hỡi ơi! bao kẻ còn luân lạc

chưa trở về nghe tiếng gọi đàn:

say trong ảo mộng phù hoa mãi

nức nở phiếm đời rơi tiếng than!

đường quê đi mãi trong vô tận

thầm kín trong tôi gợi quốc hồn

mùa lúa năm nay đầy hứa hẹn

nước xanh nhuần thấm hạt muôn phương

rau khoai xanh tốt trên nương cũ

cờ bắp phất phơ tận cuối làng

cô gái đồng quê về lối xóm

tươi cười gánh cả một hoàng hôn

tình yêu non nước về trên lá

nhân loại mừng vui rộn nẻo đường

hoa lòng trời đất vô cùng nhỉ

mi một mùa xuân lại nhả hương!

Đây cũng là một bài làm vào khoảng 1950 – 1951. Theo tác giả, bài thơ này nằm trong tập Đường quê gồm cả thảy tám truyện ngắn chép tay. Tập truyện này Thầy trao cho một văn hữu ở Sài Gòn để xuất bản, ông ta đã làm mất.

Vết thương nhân loại

gió về hơi bấc căm căm lạnh

chiều xuống nhanh chân phủ núi đồi

ri rỉ thấm dần manh áo mỏng

cht gì loang loảng. máu! trời ơi!

vết thương nhân loại đà khơi mở

trên chiếc tàn thân lấm bụi đời

gió rét, chao ơi là buốt lạnh,

lòng đau như cắt, lệ đầy vơi.

ai gây chi lắm niềm cay đắng

vũ trụ cầu van đến nghẹn lời!

u độc đã vào, hoa lá úa

rồi đây vàng võ một chiều thôi

ôi vết thương sâu lòng nhân loại

thuốc thang tìm kiếm đã bao hồi?

đau quá, cạn khô dần huyết mạch

đừng sâu thêm nữa, hỡi người ơi!

Tạp chí Liên Hoa đăng bài này từ năm 1951. Chiến tranh từ hồi đó là một nỗi đau lớn trong tâm hồn tác giả.

Đừng khóc

buổi trưa hè

tiếng phi cơ bay nặng

sát mái nhà

đe dọa bé thơ,

cùng ngồi với em

lồng ngực tôi muốn tung ra tan vỡ

em nín lặng, ôm đầu

tôi ra đi chiều nay

tìm nàng tiên năm trước

cứu quê hương ta

can đảm lên

còn tương lai đó

trước buổi khuya, tôi sẽ trở về.

Pháp thể hằng hữu

bờ sông vắng

bờ sông nắng

nắng trên hè phố

nắng trên bức tranh

nắng trên lòng sách

sách cười trang chữ

lặng lẽ dòng sông trôi

lòng tôi với lòng sách

lòng tôi với dòng sông

nắng còn lưu hoa

trên lòng sách

thời gian

tràn lan

mênh mông.

Dây neo

cành lá thì thào

ri cành lá lặng yên

thuyền tôi cặp bến trăng sao

hơi thở là dây neo

tôi duy trì vũ trụ

Theo tôi nghĩ, thở ra thở vào có ý thức là an trú trong quán niệm. Sự quán niệm này “duy trì” tâm ta và vũ trụ cùng một lúc. Nếu mất hơi thở, lạc chánh định thì trăng sao và vũ trụ đều mất và vì vậy hơi thở là dây neo. Xin so sánh lại với bài Pháp giới thực ấn.