Dẫn nhập

 

Chúng ta sẽ bắt đầu bằng phần thứ hai của Lâm Tế Lục là phần Dạy Chúng (Khai thị).

Tổ Lâm Tế là một người con có hiếu, và rất thông minh. Tổ xuất gia từ hồi còn nhỏ. Tổ đã được học rất nhiều kinh, luật và luận. Nhưng sau đó, Tổ thấy phong trào học Phật tuy rầm rộ, mà nhiều kẻ tu hành không đàng hoàng, chỉ lo tìm kiếm danh, lợi và địa vị, cho nên Tổ chán và quyết định tu thiền để đạt tới sự chứng ngộ. Có lúc Tổ tuyên bố: ‘Tất cả những gì ta học trong kinh, luật, luận đều vô ích. Làm sao cho mỗi giờ phút trong đời sống hàng ngày, ta sống được cho thật, đừng đánh mất cuộc đời trong sự tìm kiếm học hỏi.’ Phần lớn những người xuất gia thường đánh mất đời mình trong sự học hỏi, tìm kiếm.

Chúng ta nên nhớ rằng Lâm Tế Lục không phải là một tác phẩm do Tổ Lâm Tế viết ra. Tổ không có mục đích làm ra một tác phẩm. Đây là văn nói. Tổ chỉ dạy buổi sáng, buổi trưa và buổi chiều. Những đoạn chúng ta đang học đây là nội dung những lời Tổ dạy vào buổi chiều cho nhiều người, gọi là Khai Thị. Đệ tử của Ngài là Pháp Sư Tuệ Nhiên đã ghi chép lại. Tiếc là thầy Tuệ Nhiên không ghi hôm nay là ngày mấy, lúc mấy giờ chiều, năm mấy. Chúng ta chỉ biết rằng Tổ nói những lời ấy vào buổi chiều, còn buổi sáng thì có những vấn đáp. Tổ thử xem chúng ta tu chứng tới đâu. Nếu tu chứng không đàng hoàng thì Ngài đánh. Lâm Tế Lục kêu gọi chúng ta trở về sống cuộc đời của chính ta một cách đàng hoàng đích thực mà đừng phí đời mình trong sự tìm kiếm, dù đó là tìm kiếm Niết Bàn, tìm kiếm chân tâm, tìm kiếm giác ngộ.

Đọc Lâm Tế Lục chúng ta sẽ khám phá ra con người thật của thiền sư Lâm Tế, và chúng ta cũng thấy được con người thật của thiền sư Lâm Tế ở trong ta, chứ không phải không. Nguyên bản của Lâm Tế Lục bắt đầu bằng phần Đối Trị Căn Cơ. Nhưng chúng ta sẽ không bắt đầu bằng phần này mà bắt đầu bằng phần thứ hai, gọi là phần Khai Thị. Tại sao? Tại vì những người chưa biết gì về thiền, về phương pháp của Tổ mà bắt đầu bằng phần Đối Trị Căn Cơ thì có thể cảm thấy bối rối, lạc lõng. Khai Thị có nghĩa là chỉ bày, chỉ bày cho những thiền khách hoặc những đệ tử bằng những ngôn từ rất từ bi. Đọc Lâm Tế Lục, chúng ta sẽ thấy được đức từ bi lớn của Tổ. Có nhiều khi Tổ la mắng: ‘Bọn bay ngu quá, không có đủ niềm tin ở bản thân của mình…’, lời nói khá nặng, nhưng kỳ thực rất từ bi. Điều đó không khó hiểu gì cả. Nếu ta mở rộng lòng ra thì ta hiểu được tất cả những điều Tổ nói, không có gì là bí hiểm cả. Nó giống như: Ăn cơm đi! Dạ, ăn cơm xong rồi. Vậy thì uống nước đi! Ngồi chơi đi ! Rất là đơn giản.

 

Hiệp ước sống chung an lạc

Để sống chung với nhau hạnh phúc lâu dài, để tiếp tục xây dựng tình thương và sự hiểu biết, chúng con, những người ký tên dưới đây, xin nguyện cam kết và thực tập đúng theo những điều khoản sau đây:

 

Người đang chịu đau khổ vì sự giận hờn:

01.Không  nói hoặc làm bất cứ điều gì có thể tạo thêm đổ vỡ và làm cho cái giận của hai bên lớn thêm.
02.Không đè nén cái giận xuống, không đàn áp sự giận hờn của mình.
03.Nắm lấy hơi thở, thực tập hơi thở chánh niệm, quay về nương tựa hải đảo tự thân.
04.Cho người kia biết một cách bình tĩnh là mình đang giận và đang khổ, trong thời hạn tối đa là 24 tiếng đồng hồ.
05.Bình tĩnh xin hẹn gặp người kia vào tối thứ sáu để cùng nhìn lại vấn đề cho rõ.
06.Nếu chưa được bình tĩnh để có thể nói thẳng thì có thể điền vào mẫu giấy báo tin (gọi là giấy hẹn, mẫu đính kèm theo đây) và đưa cho người kia.
07.Đừng tự ái nói “Tôi đâu có giận – có sao đâu – tôi có khổ gì đâu – có gì đâu mà giận – không có gì đáng cho tôi giận.”
08.Trong khi đi, đứng, nằm, ngồi, lái xe hoặc làm việc thực tập hơi thở chánh niệm và quán chiếu sâu sắc để thấy:
-Đôi lúc tôi cũng thiếu chánh niệm, thiếu khéo léo.
-Tôi đã làm cho người kia buổn khổ nhiều lần vì tập khí của tôi.
-Hạt giống của sự giận hờn trong tôi là nguyên nhân chính làm tôi đau khổ.
-Người kia chỉ là người tưới tẩm hạt giống giận hờn trong tôi.
-Người kia cũng đang khổ cho nên mới làm như vậy.
-Chừng nào người kia còn khổ, chừng ấy tôi vẫn chưa có được an toàn và hạnh phúc.
09.Nếu thấy được sự vụng về và thiếu chánh niệm của mình, hãy tìm cách xin lỗi người kia ngay, đừng đợi đến chiều thứ sáu.
10.Nếu tối thứ sáu mà còn chưa đủ bình tĩnh thì xin lời hẹn đến thứ sáu tuần sau.

 

 

Người có trách nhiệm về việc làm người kia giận hờn:

01.Thấy người kia giận, đừng chế nhạo. Phải tôn trọng cảm thọ của người ấy và để cho người ấy đủ thì giờ lấy lại sự an tịnh.
02.Đừng ép người kia phải giải bày liền về cái giận của người ấy.
03.Nói với người  kia là mình đã nghe hoặc đã biết rằng người kia giận, bằng lời nói hoặc bằng cách viết trên mốt mảnh giấy, và hứa với người kia rằng mình sẽ có mặt vào chiều thứ sáu.
04.Trong khi đi, đứng, nằm, ngồi, lái xe hoặc làm việc, thực tập hơi thở chánh niệm và quán chiếu sâu sắc để thấy:
-Trong tôi cũng có những hạt giống của sự không dễ thương, của sự bực bội và hờn giận.
-Tập khí trong tôi đã có nhiều phen gây ra đâu khổ cho người kia.
-Tôi tưởng làm cho người kia khổ thì tôi sẽ bớt khổ, và tôi đã lầm.
-Làm cho người kia khổ, tôi cũng làm cho tôi khổ theo.
05.Nếu thấy được  vụng về và thiếu chánh niệm của mình, hãy tìm cách xin lỗi ngay, đừng chờ tới ngày thứ sáu. Xin lỗi mà đừng tìm cách biện bạch.

 

Trước sự chứng minh cúa Đức Thế Tôn và với niệm lực của Tăng Thân, chúng con xin nguyện thực tập theo những điều khoản của hiệp ước này. Cầu xin Tam Bảo gia hộ cho chúng con có đủ niềm tin và sự sáng suốt. Chúng con nguyền nương vào Phật thân, Pháp Thân và Tăng Thân để thực tập tu học.

 

Hiệp Ước làm tại_________ngày _______tháng _______năm______
Các đương sự:

Câu hỏi “ôn cố tri tân”

Các câu hỏi ôn cố tri tân Thầy gửi cho chúng xuất sĩ vào buổi pháp thoại ngày 27.9.2007

I – Thể thao:

  1. Có chạy bộ hằng ngày không?
  2. Có thực tập bài kệ chạy bộ không?
  3. Có thực tập 10 động tác chánh niệm không?
  4. Có tập gậy thường không?
  5. Có tập pháp nào khác không? (Dịch cân kinh…)

II – Việc học:

1. Có học Anh Văn không?
2. Có học Hán Văn không?
3. Có tìm cách học thêm Phật pháp ngoài những lớp Thầy dạy bằng cách đọc sách & tra cứu không?
4. Có cơ hội học thêm về khoa học, tâm lý học, xã hội học, các nền văn minh thế giới như là: văn minh Ấn Độ, Trung Quốc, Ai Cập?
5. Có đọc hết sách của Thầy chưa? Đã đọc những sách nào?
6. Đã học những khóa nào với Thầy? (Phải trả lời rõ ràng) Trực tiếp hay gián tiếp?
Những khóa như: Đại Tạng Nam & Bắc truyền; Lịch sử truyền thống sinh động của Thiền tập; Lâm tế lục; Phật pháp căn bản; Duy biểu ngũ thập tụng & tam thập tụng; Nhiếp đại thừa luận; Trung quán luận; Giới luật
7. Có cảm tưởng có khả năng dạy lại cho các lớp sau không? Đã từng đem những khóa đó dạy lại cho các sư em chưa?

III – Gia đình:

1. Sự tu học có ảnh hưởng gì đến tình trạng của gia đình không hay có bị phân tâm về chuyện gia đình không?
2. Trong gia đình có hòa điệu & phẩm chất của sự thực tập không?
3. Những cuộc điện thoại gọi về, những lá thư gởi về có giúp hay nuôi dưỡng gia đình không?

IV – Tình huynh đệ:

1. Có tới được với mọi người không?
2. Có cố gắng để tới với vài người còn khó chưa tới được không?
3. Có giận ai đến nỗi muốn bỏ chúng mà đi không?
4. Mình có cảm tưởng là Chúng hay Thầy không hiểu hoặc hiểu lầm mình không? Nếu có, mình đã có cố gắng để giúp Thầy hoặc Chúng hiểu mình không?
5. Có thấy được những khó khăn của huynh đệ không? Có cố gắng giúp người đó không? Bằng cách nào? Nếu chưa hiệu nghiệm thì có dùng cách khác không? Có bỏ cuộc chưa?
6. Có nói những lời nặng với huynh đệ không? Có đánh huynh đệ không?
7. Có nghĩ rằng mình không hạnh phúc là vì người mình ghét không?
8. Có thầm thương 1 người cư sĩ nào không? Đã có nói 1 câu nào khuyến khích người đó đi tới không?
9. Có thầm thương 1 người trong chúng không? Có bày tỏ hay nói câu nào chưa? Có tìm cách gần gũi người ấy không? Dù là người cùng phái hoặc khác phái.
10. Có thấy niềm kính tin là bản chất của tình thương không?

V – Thiền hành:

1. Có thực tập bài thi kệ nào khi đi thiền hành không? Bài nào? Bài nào sử dụng nhiều nhất? Đã sử dụng bài: “Để Bụt thở…” chưa? Kết quả ra sao?
2. Bao nhiêu phần trăm các bước chân được xem là bước trong chánh niệm?
3. Có an lạc trong khi đi không? Hay là vẫn đi như bị ma đuổi?
4. Có thật sự dừng lại vọng tưởng trong khi đi không?
5. Từ tăng xá tới thiền đường có an lạc, thảnh thơi không? Có dùng đường tắt không?

VI – Ngồi xe hơi:

  1. Có nhớ thở khi ngồi trên xe đi xuống phố hay đi xóm khác không?
  2. Có thở khi dừng lại ở đèn đỏ không? Nếu có, thở theo bài kệ nào?
  3. Có thực tập thi kệ khi lên xe và lái xe không?

VII – Thi kệ:

1. Những bài thi kệ nhật dụng có được thực tập hằng ngày không?
2. Có hấp tấp khi chải răng và rửa mặt cho mau xong không? Có an lạc, thong dong khi chải răng không?
3. Khi đi tiểu, đi tiêu có thong dong, hạnh phúc không, hay làm cho mau xong?

VIII – Ngủ:

  1. Có thực tập buông thư khi lên giường ngủ không?
  2. Đi ngủ lúc mấy giờ?
  3. Có thức làm việc hay chơi quá 12h khuya không? Thường hay lâu lâu mới có 1 lần?

IX – Ngồi thiền:

  1. Có đi ngồi thiền đều đặn không?
  2. Mỗi tháng bỏ ngồi thiền khoảng mấy buổi?
  3. Có được ai nhắc dậy đi ngồi thiền không? Nếu có thi có càu nhàu với người đó không?
  4. Có nhắc ai giúp họ dậy ngồi thiền không?
  5. Đã biết hô canh bằng tiếng Anh, tiếng Pháp chưa?
  6. Trong khi ngồi thiền có tập thở theo bài kệ nào không? Có thấy được nuôi dưỡng và an lạc trong khi ngồi thiền không?
  7. Có tập quán chiếu không, hay là chỉ ngồi cho an lạc thôi?
  8. Có hôn trầm trong khi ngồi thiền không?
  9. Có ngồi thêm ngoài những giờ của chúng không? Có ngồi khi tâm không an không?
  10. Có ngồi cho cha, cho mẹ không?

16 Bài thơ của Thiền sư Huyền Quang

Nhất Hạnh dịch
Thiền sư Huyền Quang là tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử do Trúc Lâm Đại Sĩ (vua Trần Nhân Tông) thành lập tại Việt Nam (thế kỷ XIV).

CHU TRUNG
Nhất diệp biển chu hồ hải khách
Tranh xuất vi hàng phong thích thích
Vi mang tứ cố vãn triều sinh
Giang thủy liên thiên nhất âu bạch

LÀM TRÊN THUYỀN
Một lá thuyền con khách hải hồ
Vượt bờ lau lách, gió vi vu
Triều dâng bốn mặt, hoàng hôn phủ
Trời nước mênh mông, một dáng cò.

DIÊN HỰU TỰ
Thượng phương thu dạ nhất chung lan
Nguyệt sắc như ba phong thụ đan
Xi vẫn đảo miên phương kính lãnh
Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn
Vạn duyên bất nhiễu thành già tục
Bán điểm vô ưu nhãn phóng khoan
Tham thấu thị phi bình đẳng tướng
Ma cung Phật quốc hảo sinh quan

CHÙA DIÊN HỰU
Đêm thu chùa vắng, tiếng chuông ngân
Sóng ánh mầu trăng, lá rụng hồng
Cánh đảo chim âu trời lạnh ngủ
Tháp vương đỉnh bạc sáng từng không
Thành ngăn tục lụy trần không vướng
Cửa ngỏ vô ưu mắt rộng tầm
Thấy được thị phi cùng một tướng
Ma cung Phật quốc cũng ngồi chung.

YÊN TỬ SƠN AM CƯ
Am bức thanh tiêu lãnh
Môn khai vân thượng tằng
Dĩ can Long động nhật,
Do xích Hổ khê băng.
Bão chuyết vô dư sách
Phù suy hữu sấu đằng
Trúc lâm đa túc điểu
Quá bán bạn nhàn tăng.

AM YÊN TỬ
Am cao trên đỉnh lạnh
Cửa mở mây từng không
Long Động trời đã tỏ
Hổ Khê nước còn băng
Văn chương không kế sách
Gậy chống thân gầy còm
Hầu hết chim rừng Trúc
Là bạn của nhàn tăng.

NGỌ THỤY
Vũ quá khê sơn tịnh
Phong lâm nhất mộng lương
Phản quan trần thế giới
Khai nhãn túy mang mang

NGỦ TRƯA
Mưa tạnh, khe núi tĩnh
Ngủ mát dưới rừng phong
Nhìn lại cõi nhân thế
Mắt mở vẫn say nồng.

THẠCH THẤT
Bán gian thạch thất hòa vân trụ
Nhất lĩnh xối y kinh tuế hàn
Tăng tại thiền sàng, kinh tại án,
Lô tàn cốt đột nhật tam can.

AM THẠCH THẤT
Nửa gian thạch thất cùng mây ngủ
Chống rét năm trường chiếc áo bông
Tăng tọa thiền sàng, kinh đặt án,
Mặt trời ba trượng, củi lò không.

THỨ BẢO KHÁNH TỰ BÍCH GIAN ĐỀ
Hoang thảo tàn yên dã tứ đa,
Nam lâu Bắc quán tịch dương tà.
Xuân vô chủ tích thi vô liệu,
Sầu tuyệt Đông phong kỷ thụ hoa.

GHÉ CHÙA BẢO KHÁNH
Tình quê man mác mầu sương cỏ
Quán Bắc lầu Nam nhuộm nắng tà
Thơ không tài liệu, xuân không chủ
Buồn nhớ đông phong, lũ cỏ hoa.

ĐỊA LÔ TỨC SỰ
Ổi dư cốt đột tuyệt phần hương,
Khẩu đáp sơn đồng vấn đoản chương.
Thủ bả suy thương hòa thái thác,
Đồ giao nhân tiếu lão tăng mang

HỎA LÒ
Củi hết, lò còn vương khói nhẹ
Sơn đồng hỏi nghĩa một chương kinh,
Tay cầm dùi mõ, tay nâng sáo
Thiên hạ cười ta, cứ mặc tình.

NHÂN SỰ ĐỀ CỨU – LAN TỰ
Đức bạc thường tàm kế tổ đăng,
Không giao Hàn Thập khởi oan tăng.
Tranh như trục bạn quy sơn khứ,
Điệp chướng trùng san vạn vạn tằng.

ĐỀ CHÙA CỨU LAN
Đức bạc thẹn mình nối tổ đăng
Học theo Hàn, Thập dứt đa đoan
Hãy đi với bạn về non ở
Rừng núi bao quanh đến vạn từng.

MAI HOA
Dục hướng thương thương vấn sở tòng,
Lẫm nhiên cô trĩ tuyết sơn trung.
Chiết lai bất vị già thanh nhãn,
Nguyện tá xuân tư ủy bệnh ông.

HOA MAI
Ngửa mặt trời xanh hỏi lý do
Hiên ngang trong núi mọc mình hoa
Bẻ về, không để chưng vui mắt
Chỉ mượn mầu Xuân đỡ bệnh già.

TRÚ MIÊN
Tổ phụ điền viên nhậm tự sừ,
Thiên thanh bàn khuất nhiễu ngô lư.
Mộc tê song ngoại thiên cưu tịch,
Nhất chẩm thanh phong trú mộng dư.

NGỦ NGÀY
Vườn ruộng tổ tiên hãy tự cày
Nhà tranh non biếc khắp bao vây
Ngoài song, hương mộc, chim im tiếng
Gió mát vừa qua, giấc đã say.

SƠN VŨ
Thu phong ngọ dạ phất thiềm nha,
Sơn vũ tiêu nhiên chẩm lục la.
Dĩ hĩ thành thiền tâm nhất phiến,
Cùng thanh tức tức vị thùy đa!

NHÀ NÚI
Gió thu xào xạc thổi qua hiên
Núi vắng lều tranh gối cỏ mềm
Nếu quả thiền tâm đà một khối
Tiếng trùng sao réo gọi thâu đêm?


AI PHÙ LỒ
Khóa huyết thư thành dục ký âm,
Cô phi hàn nhạn tái vân thâm.
Kỷ gia sầu đối kim tiêu nguyệt,
Lưỡng xứ mang nhiên nhất chủng tâm.

THƯƠNG TÙ NHÂN
Thư biên bằng máu nhắn tin nhau
Cô đơn chiếc nhạn vút mây sầu
Bao nhà nhìn nguyệt đêm nay nhỉ?
Hai chốn cùng chung một nỗi đau!

PHIẾM CHU
Tiểu đĩnh thừa phong phiếm diểu mang,
Sơn thanh thủy lục hựu thu quang.
Sổ thanh ngư địch lô hoa ngoại,
Nguyệt lạc ba tâm giang mãn sương.

ĐI THUYỀN
Mênh mông theo gió con thuyền nhỏ
Thu sáng ngời xanh nước với cây,
Tiếng sáo thôn chài lau lách vọng
Trăng lặn giòng sông sương trắng đầy.

ĐỀ ĐỘNG HIÊN ĐÀN VIỆT GIẢ SƠN
Hoa mộc di duyên chủng tác sơn,
Lung yên trạo nguyệt, lạc hoa hàn.
Tùng tư niệm lự đô vô tục,
Doanh đắc thanh phong nhất chẩm an.

NON BỘ CỦA ĐỘNG HIÊN
Núi dựng nên bằng đá với cây
Có lồng hoa rụng, tuyết, trăng, mây
Từ đây mọi niệm đà thanh thoát
Gió mát riêng mình giấc ngủ say.

TẢO THU
Dạ khí phân lương nhập họa bình,
Tiêu tiêu đình thụ báo thu thanh.
Trúc đường vong thích hương sơ tận,
Nhất nhất tùng chi võng nguyệt minh.

ĐẦU THU
Hương đêm mát dịu, bình phong lạnh
Xào xạc thu sang lá động cành
Trúc đường thong thả, hương vừa đốt
Cành cây chăng lưới lọt trăng thanh.

CÚC HOA
Tùng thanh Tưởng Hủ tiên sinh kính,
Mai cảnh Tây hồ xử sĩ gia.
Nghĩa khí bất đồng nan cẩu hợp,
Cố viên tùy xứ thổ hoàng hoa.

Đại giang vô mộng cán khô tràng,
Bách vịnh mai hoa nhượng hảo trang.
Lão khứ sầu thu ngâm vị ổn,
Thi biểu thực vị cúc hoa mang.

Vương thân vương thế dĩ đô vương,
Tọa cửu tiêu nhiên nhất tháp lương.
Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật,
Cúc hoa khai xứ tức trùng dương.

Niên niên hòa lộ hướng thu khai,
Nguyệt đạm phong quang thiếp thốn hoài.
Kham tiếu bất minh hoa diệu xứ,
Mãn đầu tùy đáo tháp quy lai.

Hoa tại trung đình nhân tại lâu,
Phần hương độc tọa tự vong ưu.
Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh,
Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu.

Xuân lai hoàng bạch các phương phi,
Ái diễm liên hương diệc tự thì.
Biến giới phồn hoa toàn trụy địa,
Hậu điêu nhan sắc thuộc đông ly.

HOA CÚC
Đường nhà Tưởng Hủ tre reo gió
Vườn cảnh Tây Hồ đẹp nét mai
Nghĩa khí chẳng đồng không ý hợp
Cúc hoa nở sáng khắp vườn ai.

Ngàn sông không đủ thấm lòng già
Bách Vịnh Mai Hoa vẫn kém xa
Đầu bạc ngâm hoài vần chửa ổn
Mỗi khi cúc nở rộn lòng ta.

Buông thân buông thế, thảy đều buông
Thiền tọa giờ lâu lạnh thấm giường
Trong núi năm tàn không có lịch
Thấy hoa cúc nở biết Trùng dương.

Năm năm nở đúng tiết Thu qua
Gió dịu trăng trong ý mặn mà
Cười kẻ không hay hoa huyền diệu
Khi về, mái tóc giắt đầy hoa!

Người ở trên lầu, hoa dưới sân
Vô ưu ngồi ngắm, khói trầm xông
Hồn nhiên người với hoa là một
Giữa vùng hương sắc lộ hình dung.

Phương phi Xuân sắc, trắng hay vàng
Thời tiết tùy loài hợp sắc hương
Khi mọi loài hoa rơi chật đất
Dậu Đông hoa cúc vẫn chưa tàn.

43 Công án Trần Thái Tông

Nhất Hạnh dịch Công phu Khóa hư cử niêm tụng

Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Đây là 43 công án Vua đưa ra để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia. Thầy Làng Mai đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968. Bản dịch tiếng Pháp xin xem ở phần phụ lục cuốn Clé Pour Le Zen, tác giả Nhất Hạnh, do nhà xuất bản JC Lattes ấn hành. Bản Hán Việt có trong Thơ Văn Lý Trần quyển II (Quyển thượng, trang 108-121), NXB Khoa Học Xã Hội.

___________________

Công án thứ nhất
Cử: Thế Tôn chưa rời cung Đâu Suất đã giáng sinh vương cung, chưa ra khỏi mẫu thai đã hoàn tất sự nghiệp cứu độ
Niêm: Gươm kích chưa vung, tướng quân đã để lộ tung tích.
Tụng:
Đứa bé hình hài chưa có ấy
Nửa đêm đưa dắt người đồng hương
Rong chơi khắp biển trời lồng lộng
Không cần phao nổi, không đò giang.

Công án thứ hai
Cử: Thế Tôn khi sơ sinh, một tay chỉ trời một tay chỉ đất: “trên trời dưới đất, duy ta độc tôn”.
Niêm: Một đám bạch vân qua cửa động
Bao nhiêu chim chóc lạc đường về
Tụng:
Vì muốn giáng sinh cung Tịnh Phạn
Độ sinh nên phải lộ hành tung
Bảy bước chân đi, trời đất chỉ
Biết bao Phật tử táng gia phong.

Công án thứ ba
Cử: Thế Tôn cầm đóa hoa đưa lên, Ca Diếp mỉm cười.[1]
Niêm: Dương đôi mắt ra mà nhìn: tư duy đàm thuyết phía trước còn cách nghìn dãy núi.
Tụng:
Thế Tôn tay nắm một cành hoa
Ca Diếp hôm nay trở lại nhà
Nếu gọi đó là “truyền pháp yếu”
Con đường Nam Bắc hẵng còn xa.

Công án thứ tư
Cử: Có nhà triết học ngoại đạo[2] đến tham vấn Phật, nhưng không muốn nghe danh từ hữu cũng không muốn nghe danh từ vô.
Niêm: Trừ là con cái trong nhà ta, còn ai lại dám đi vào chốn ấy nữa.
Tụng:
Cửa lao khôn buộc, nào ai biết
Ngôn ngữ mất rồi, níu tựa đâu?
Chẳng phải ngựa hay trên cõi thế
Bỗng dưng sao có được cơ mầu?

Công án thứ năm
Cử: Thế Tôn vừa bước lên pháp tọa, Văn Thù đánh khánh bạch: “Hãy lắng nghe pháp của Pháp Vương: Pháp của Pháp Vương là như thế”.
Niêm: Gẩy khúc Dương Xuân trên chỗ không có tơ đồng, ngàn đời sau âm thanh mãi còn bất tuyệt.
Tụng:
Tuy nói nên lời không dấu vết
Sừng dấu đuôi còn để ló ra
Nâng một cành tiêu không có lỗ
Vì ngươi, thổi khúc Thái Bình Ca

Công án thứ sáu
Cử: Tần Quốc Vương cầm kiếm gọi Tôn Giả, Tổ thứ 24, hỏi rằng: “Sư chứng được pháp uẩn không chưa?” Tổ nói: “Chứng”. Vua hỏi: “Lìa sinh tử chưa?” Tổ nói: “Lìa”. Vua hỏi: “Có bố thí cho ta đầu Sư được không?” Tổ nói: “Thân còn không phải là của ta, huống là đầu”. Vua bèn chém. Sữa trắng tuôn lên. Tay vua tự rớt xuống.
Niêm: Gươm trắng kề đầu tướng, như chém gió mùa Xuân.
Tụng:
Trên nước sáng lòe gươm báu chém
Trở ngại điều kia chẳng có gì
Xin biết hôm nay rời khói sóng
Ai hay riêng lại có tư duy.

Công án thứ bảy
Cử: Đạt Ma đại sư tới Lạc Dương núi Thiếu Thất, chín năm ngồi xoay mặt vào vách.
Niêm: Mở mắt nhìn cho tỏ, đừng có mê ngủ.
Tụng:
Chim bằng liệng cánh về Nam Hải
Chỉ uổng công lao vạn dặm đường
Đêm trước vì tham ăn tiệc sướng
Sáng nay say ngủ khó hồi dương.

Công án thứ tám
Cử: Nhị tổ xin Đạt Ma an tâm giùm. Đạt Ma nói: “Đem tâm tới đây ta an cho”. Nhị tổ đáp: “Tìm tâm mãi không đặng”. Đạt Ma nói: “Thế là ta an tâm cho ngươi rồi”.
Niêm: Đứa trẻ lên ba thì múa trống, ông già tám chục lại chơi cầu.
Tụng:
Tâm đã là không, nói với ai?
Hồn nhiên đâu lúc ở bào thai?
Lão tăng nói khoác: “An rồi đó”
Lừa kẻ bàng quan mà không hay.

Công án thứ chín
Cử: Văn Thù thấy một phụ nữ tọa tam muội một bên Phật. Văn Thù đánh thức người ấy mãi không được. Phật bảo Võng Minh đánh thức, Võng Minh đánh thức được ngay.[3]
Niêm: Đứa con oan gia làm tan nát cả gia phong ta.
Tụng:
Trước Phật sao còn niệm sơ, thân
Định ấy còn chưa được chính chân
Nếu quả hóa công không hậu bạc
Xuân về, đâu lại chẳng mùa Xuân?

Công án thứ mười
Cử: Mã tổ Đạo Nhất, ba mươi năm sau cơn loạn Hồ, chưa từng thiếu muối thiếu tương.
Niêm: Dù là không mảy may vi phạm thì cũng còn cầm đũa mà mút ngón tay.
Tụng:
Lưu Linh đã lỡ nên bầu bạn
Nhà là quán rượu ngủ quanh năm
Dù tự khoe mình trang hảo hán
Đóng vai mất áo giữa đường chăng?

Công án thứ mười một
Cử: Bách Trượng trở lại tham vấn Mã Tổ. Mã Tổ hét một cái, Bách Trượng đại ngộ.
Niêm: Chùy nhọn đâm nghìn nhát, không bằng thuổng cùn ấn xuống một nhát.
Tụng:
Xưa kia, xe, sách[4] chưa hòa hợp
Bốn bên giặc giã dậy bầy ong
Một lần vung kiếm thiêng trên ngựa
Đường đạo từ nay tin tức thông.

Công án thứ mười hai
Cử: Quốc sư[5] một hôm kêu thị giả ba lần, thị giả dạ ba lần. Quốc sư nói: “Đâu phải là ta phụ ngươi, chính là ngươi phụ ta đó”.
Niêm: Như người uống nước, nóng lạnh tự mình biết.
Tụng:
Đôi bên xướng họa vẫn tương đương
So sánh vào đâu biết đoản trường?
Gan ruột đã bày ra tất cả
Lòng ta ta biết, ý ta tường.

Công án thứ mười ba
Cử: Đại Quy nói: “Khái niệm về có và về không như dây leo quấn cây lớn”. Sơ Sơn hỏi: “Cây lớn ngã, dây quấn khô, thì có và không đi về đâu?” Nói rồi cười ha ha.
Niêm: Nước tuy chảy đi nhưng vẫn còn nơi biển cả
Trăng tuy lặn mất nhưng không lìa khỏi bầu trời.
Tụng:
Sóng lặng khi nào gió đứng yên
Mất công hướng ngoại luống lao phiền
Một tiếng cười tan nghi vạn mối
Phân thành sỏi ngọc rõ đôi bên.

Công án thứ mười bốn
Cử: Bách Trượng nói: “Thế nào gọi là pháp không vì người mà nói?” Nam Tuyền trả lời: “Không phải tâm, không phải Phật, cũng không phải vật”.
Niêm: Cả ngàn vị thánh đi tìm dấu chân nó cũng không được; toàn thân nó ẩn tại hư không lớn.
Tụng:
Công án là kia, hãy đối đầu
Thẳng nhìn vào mặt của cao sâu
Nhà Phật lưu mời không chịu ở
Đêm đêm thói cũ ngủ bờ lau.

Công án thứ mười lăm
Cử: Nam Tuyền nói: “Tâm không phải là Phật, trí không phải là đạo”.
Niêm: Hô hấp tất cả lý lẽ huyền vi, trên đường về bước dưới ánh trăng.
Tụng:
Vạn tiếng âm thầm tinh tú chuyển
Thái hư trầm lặng không vết gì
Nương gậy lên lầu trông bốn phía
Tịch tịch liêu liêu nào ngại chi?

Công án thứ mười sáu
Cử: Lâm Tế sau khi xuất thế, chỉ dùng có phép bổng yết để khai thị đồ chúng. Hễ thấy một vị tăng nào vào cửa là hét.
Niêm: Giữa trưa mồng năm tháng năm, miệng lưỡi độc địa tiêu trừ sạch hết.
Tụng:
Vừa tới cửa ngoài nghe tiếng hét
Tỉnh giấc hôn trầm lũ cháu con
Một tiếng sấm Xuân vừa chấn động
Khắp nơi cây cỏ nẩy mầm non.

Công án thứ mười bảy
Cử: Nam Tuyền nói: “Bình thường tâm thị đạo”.[6]
Niêm: Lạnh thì nói rằng lạnh, nóng thì nói rằng nóng.
Tụng:
Ngọc trắng nguyên lai không tội trạng
Cứ gì mài giũa mới là xinh
Quê cũ không do đường lối ấy
Núi dốc buông tay, phó mặc mình.

Công án thứ mười tám
Cử: Triệu Châu nói: “Các người bị hăm bốn giờ trong một ngày sai sử, ta đây sai sử hăm bốn giờ trong một ngày”.
Niêm: Cậy thế khinh người, không căn cứ trên căn bản nào cả.
Tụng:
Rồng thiêng cọp dữ nên thuần thục
Hăm bốn giờ vâng phép một ngày
Biến sắt thành vàng dù phép lạ
Ai đem tiết lộ cho người hay ?

Công án thứ mười chín
Cử: Có vị tăng hỏi Lâm Tế: “Thế nào là vô vị chân nhân ?” Lâm Tế nói: “Cọng cứt khô”.[7]
Niêm: Bắn chim sẻ thì sợ mất đạn, đập chuột lại sợ dơ gậy.
Tụng:
Cứt khô: vô vị chân nhân
Gia phong Phật tử nát bao lần
Kìa kìa chú mục mà quan sát:
Lội biển trâu bùn mất dấu chân.

Công án thứ hai mươi
Cử: Triệu Châu nói: “Ta đã khám phá ra được bà già ở Ngũ Đài Sơn rồi”.[8]
Niêm: Kẻ phạm tội ngũ nghịch nghe sấm, không cho bịt tai.
Tụng:
Đài Sơn nháy mắt không còn nữa
Chẳng cần bước mệt vẫn về nhà
Giặc hết, không ai chủ chiến
Gươm báu cần chi phải tuốt ra?

Công án thứ hai mươi mốt
Cử: Triệu Châu nói: “Phật bằng vàng không độ được lò, Phật bằng gỗ không độ được lửa, Phật bằng đất không độ được nước. Phật chân chính ngồi trong nhà”.
Niêm: Sơn là sơn, thủy là thủy. Phật ở đâu?
Tụng:
Võng Xuyên[9] cảnh ấy đã thành tranh
Xưa cậy Vương Duy mới đắc danh
Uổng nét đan thanh không chỗ họa
Trời kia trăng sáng gió thơm lành.

Công án thứ hai mươi hai
Cử: Triệu Châu nói: “Ở Thanh Châu, tôi làm được một chiếc áo gai bố nặng tới bảy cân”.[10]
Niêm: Nói củ cải Trấn Châu còn nghe được, nói gai bố Thanh Châu chỉ khiến người ta rầu.[11]
Tụng:
Một chiếc áo gai thật dị thường
Rương tre họ Triệu cất sao đương
Cân nhắc từng ly, phân với lượng
Tám chàng họ Mạnh chết không thương.

Công án thứ hai mươi ba
Cử: Có vị tăng hỏi Triệu Châu: “Con chó có Phật tính không?” Đáp: “Không”. Rồi có kẻ hỏi trở lại câu hỏi đó. Châu đáp: “Có”.
Niêm: Hai lần chọn một lần thi.
Tụng:
Trước mặt tùy cơ nói hữu, vô
Lời ra, diệt hết cả quần Hồ
Một đời tự phụ trang anh hán
Rốt cuộc vẫn còn chưa trượng phu.

Công án thứ hai mươi bốn
Cử: Triệu Châu nói: “Chốn có Phật thì không được ở lại; chốn không Phật thì phải vượt qua cho mau”.
Niêm: Nước dồn lại thành vụng, gậy đánh xuống thành vết.
Tụng:
Nơi có nơi không đều mất hết
Lời kia rốt cuộc vẫn chưa tròn
Sau bữa niêm hoa, tường thuật lại
Không rời nửa bước tới tây phương.

Công án thứ hai mươi lăm
Cử: Thủ Sơn cầm chiếc gậy tre nói: “Gọi cái này là gậy tre thì sẽ nhận một gậy, mà không gọi nói là gậy tre thì sai trái. Vậy thì gọi nó là cái gì?”[12]
Niêm: Đừng cựa quậy; ai cựa quậy sẽ lãnh đủ ba mươi gậy.
Tụng:
Phải trái đôi bên phải rạch ròi
Nói cho minh bạch, đấy là ai?
Tuy là đường rộng thênh thang đó
Vẫn còn lận đận lắm chông gai.

Công án thứ hai mươi sáu
Cử: Có vị tăng hỏi Động Sơn: “Phật là gì?” Động Sơn nói: “Ba cân gai trên vách”.
Niêm: Gọi là một vật rốt cũng không đúng.
Tụng:
Phật vốn là gì? Xin đáp rõ
Ba cân gai ấy của Động Sơn
Tuy không lặn lội phong trần nữa
Vẫn còn lấy cảnh chỉ bày tâm.[13]

Công án thứ hai mươi bảy
Cử: Có vị tăng hỏi Hiện Tử hòa thượng về ý của Tổ sư từ Tây Vực tới. Hiện nói: “Cái đài bàn cúng rượu trước miếu thờ thần”.
Niêm: Chưa phải sư tử con thì còn chưa miễn chạy theo cục đất.
Tụng:
Dứt hết cội nguồn không chỗ tựa
Mượn điều trước mắt gọi chiều sâu
Tổ ý nếu là bàn cúng rượu
Gọi quần là khố được hay sao?

Công án thứ hai mươi tám
Cử: Vô Nghiệp quốc sư nói: “Nếu trên đầu một mũi lông mà quan niệm phân biệt phàm thánh chưa dứt thì vẫn chưa miễn được cái cảnh đi vào thai lừa bụng ngựa”. Bạch Vân Đoan hòa thượng nói: “Thiết sử trên đầu một mũi lông mà quan niệm phân biệt phàm thánh đã dứt, thì cũng vẫn chưa miễn được cái cảnh đi vào thai lừa bụng ngựa kia mà”.
Niêm: Đốt núi thì cọp chạy, khua bụi thì rắn hoảng.
Tụng:
Lời nói vẫn còn chưa khí phách
Cần chi đập bụi để xà kinh
Trường An lối cũ đà thông thạo
Thì hỏi thăm chi nữa lộ trình?

Công án thứ hai mươi chín
Cử: Huyền Sa khai thị chúng: “Các vị lão túc nói thường hết lòng tiếp vật độ sinh. Giá có một kẻ vừa mù vừa câm vừa điếc đi tới, làm sao tiếp độ? Cầm chùy đưa phất trần lên thì kẻ kia không thấy, giảng thiền tam muội thì kẻ kia không nghe, dạy đọc kinh thì kẻ kia mở miệng không được”.
Niêm: Khát thì uống, đói thì ăn, lạnh thì choàng áo, nóng thì phẩy quạt.
Tụng:
Buồn thì xịu xuống; vui, cười lên
Mũi dọc mày ngang lẽ tự nhiên
Nóng lạnh đói no tùy xử sự
Nghi ngờ chi nữa luống ưu phiền ?

Công án thứ ba mươi
Cử: Thoại Nham thường tự gọi: “Này chủ nhân ông! Tỉnh tỉnh dậy! Từ nay về sau đừng để cho người ta khinh khi nữa !”
Niêm: Kêu được thì chỉ chảy máu miệng ra thôi, nào có ích gì đâu. Chẳng bằng ngậm miệng lại mà đợi mùa Xuân tàn.
Tụng:
Tài lược trầm cơ đã dụng công
Ngờ đâu chưa đáng mặt anh hùng
Nếu quả tướng tài vô địch thật
Mặt trời bắn thử rớt hay không ?

Công án thứ ba mươi mốt
Cử: Tam Thánh[14] nói: “Ta gặp người thì ra, nhưng chẳng phải là ra vì người”. Hưng Hóa nói: “Ta gặp người thì không ra, nếu ra là vì người mà ra”.
Niêm: Một con rùa mù làm bạn với hai con ba ba què.
Tụng:
Khi khát nào ai uống nước tương
Cả ngày bụng lép, nói “ăn” suông
Dao sắc đôi chiều, đừng liếm mật
Có ngày đứt lưỡi, chớ khinh thường.

Công án thứ ba mươi hai
Cử: Nam Tuyền thấy Đặng Ẩn Phong tới, liền chỉ vào tịnh bình mà nói: “Tịnh bình là cảnh, ông không nên dính vào cảnh”.
Niêm: Nói rằng có cảnh, nhưng dính vào đâu ?
Tụng:
Gương trong thanh tịnh, bụi đâu ra,
Lau rửa mà chi nhọc sức ta
Nhàn tịnh vui theo từng cảnh giới
Cơm xong hãy uống một chung trà.

Công án thứ ba mươi ba
Cử: Thạch Đầu nói: “Như vậy cũng không được, không như vậy cũng không được, vừa như vậy vừa không như vậy cũng không được”.
Niêm: Chư hạnh vô thường, tất cả đều chứa chấp khổ não.
Tụng:
Muốn kể cho người câu chuyện hay
Hiềm vì cửa động đám mây bay
Dù có tài tình trong lúc nói
Vạn dặm còn xa ý chỉ này.

Công án thứ ba mươi tư
Cử: Có vị tăng hỏi: “Cảnh giới Giáp Sơn thế nào?” Sơn đáp: “Sau khi vượn mẹ ôm con về rừng xanh, hoa rụng tơi bời nơi thung lũng biếc”.
Niêm: Đem theo cây gậy, gặp sân khấu ở đâu thì múa chơi ở đó.
Tụng:
Giáp Sơn u tịch không ai tới,
Ai thấy cho tường cảnh giới xa?
Gặp bậc siêu phàm đôi mắt tuệ
Thì nghe trống ngọ giữa canh ba.

Công án thứ ba mươi lăm
Cử: Có vị tăng hỏi Mục Châu: “Trong một hơi thở, có thể thông qua một đại tạng kinh không ?” Châu nói: “Có anh chàng bán bánh Tất La [15] thì dắt tới đây mau”.
Niêm: Buông xuôi hai tay mà về được tới nhà, không cần bước mỏi.
Tụng:
Kinh tạng chuyển hồi trong hơi thở
Tìm cành nhặt lá để làm chi
Diệu nghĩa thâm uyên đà hiện sáng
Tham vấn sơn tăng được ích gì ?

Công án thứ ba mươi sáu
Cử: Trong một kỳ chúng hội dưới sự chủ tọa của Lâm Tế, cả hai vị thủ tọa của hai thiền đường đồng thời hét lớn. Có vị tăng hỏi: “Như thế còn có chủ khách nữa thôi ?” Lâm Tế nói: “Thì chủ khách rõ ràng đó”.
Niêm: Cũng chỉ là khỉ bạch nói lăng nhăng.
Tụng:
Phật tại trời cao reo tiếng gió
Ý sâu công án thế mà thôi
Cũng nhờ phân được rành cương giới
Mới hiểu lòng dân giúp đỡ đời.

Công án thứ ba mươi bảy
Cử: Huyền Sa nói: “Ta cũng như chủ nhân một thửa ruộng, đem cắt bán hết cho người khác, duy còn lại một cái cây ngay giữa trung tâm, ta giữ trong quyền sở hữu của ta”.
Niêm: Biển lớn không dung nạp tử thi.
Tụng:
Nếu quả là người chân liễu ngộ
Thì tâm vô niệm hết phân vân
Dù xem vàng vạc như hơi bụi
Mắt vẫn còn rơi một mảy trần.

Công án thứ ba mươi tám
Cử: Có vị tăng hỏi Thiền sư Huệ Tư về đại ý Phật pháp. Tư nói: “Gạo ở Lư Lăng giá bao nhiêu?”
Niêm: Bóng trúc quét thềm, bụi trên thềm không lay động
Vầng trăng chiếu nước, mặt nước không vết ghi.
Tụng:
Ngữ khí quả là trang hảo hán
Tùy theo căn tính độ quần sinh
Lư Lăng giá gạo bao nhiêu nhỉ?
Rút lại gang tay vạn lý trình.

Công án thứ ba mươi chín
Cử: Có vị tăng hỏi Văn Thù [16]: “Vạn pháp đi về một, một đi về đâu?” Thù nói: “Sông Hoàng Hà chín khúc”.
Niêm: Có lúc vì trăng sáng quá, chẳng biết rằng thuyền đã vượt quá Thương Châu.
Tụng:
Chín khúc sông Hoàng khai tuệ nhãn
Đường xa không bước vẫn về nhà
Mở mắt bao lần quan sát lưới
Không dè chim hạc đã bay qua!

Công án thứ bốn mươi
Cử: Nam Tuyền hỏi Triệu Châu: “Chú là sa di có chủ hay sa di chưa có chủ?” Triệu Châu nói: “Có chủ”.
Nam Tuyền hỏi: “Chủ là ai?” Triệu Châu chấp tay trước ngực nói: “Hôm nay trời lạnh, mong hòa thượng giây phút nào cũng có hạnh phúc”.[17]
Niêm: Khéo tay thì dùi cũng như kim.
Kẻ khéo sử dụng thì vẫn thấy tiện lợi.
Tụng:
Chú Triệu chấp tay mà nói khéo
Né hai thái cực, đứng trung dung
Đâu biết Hoa Lam Hàn lệnh thuật
Nào hay chàng Hội rút về không?

Công án thứ bốn mươi mốt
Cử: Có vị tăng hỏi Một Am: “Thế nào là nạp y hạ sự?”[18] Am nói: “Kim đâm không thủng”.
Niêm: Tĩnh tọa không còn một mảy bụi, hư không chẳng có lối thông thương.
Tụng:
Mũi sắt dùi đồng xuyên chẳng thủng
Cầm lên mềm mại như bông tơ
Hư không lành lặn không khe hở
Đêm về hoa mộc nở thơm tho.

Công án thứ bốn mươi hai
Cử: Bàng cư sĩ [19] tuyên bố: “Đây là trường thi tuyển Phật, ai tâm không thì trúng tuyển vinh quy”.
Niêm: Danh đề tháp nhạn, không cho nạp quyển trắng đâu nhé.[20]
Tụng:
Lông chim mà kết được giày rơm
Tuyển Phật trường kia vượt vũ môn
Nếu nói tâm không thì trúng tuyển
Coi chừng bầm tím vết roi đòn.

Công án thứ bốn mươi ba
Cử: Từ Minh hỏi Chân Điểm Trụ: “Thế nào là đại ý Phật pháp?”
Chân nói: “Không có mây sinh trên đỉnh núi mà có mặt trăng rụng trong lòng sóng nước”.
Minh hét: “Đầu bạc răng long mà còn có kiến giải tệ như thế ư?” Chân khóc một hồi rồi nói: “Như thế tôi quả thật chẳng biết thế nào là đại ý Phật pháp”.
Từ Minh nói: “Không có mây sinh trên đỉnh núi mà có mặt trăng rụng trong lòng sóng nước”.
Chân bèn đại ngộ.
Niêm: Kẻ nhàn giả thì cho đó là nhàn, kẻ trí giả thì cho đó là trí.
Tụng:
Đây đó cùng chung một điệu đàn
Lòng xin trao gửi với tri âm
Non cao sông rộng dù sai khác
Trăng sáng mây quang nghĩ đại đồng.


[1]. Ca Diếp, Mahakasyāpa, là một trong mười vị đệ tử của Phật. Một hôm trên đại hội Linh Sơn, Phật cầm một cành hoa nhìn đại chúng không nói năng gì. Tất cả đại chúng đều giữ im lặng. Duy có Ca Diếp mỉm cười. Phật nói: “Ta có chánh pháp nhãn tạng, niết bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, pháp môn vi diệu, nay phú chúc cho Ma Ha Ca Diếp”.

[2]. Một nhà triết học ngoại đạo tới hỏi Phật; nhưng không muốn nghe về hữu mà cũng không muốn nghe về vô. Phật ngồi yên lặng hồi lâu trên pháp tọa, không nói năng gì. Nhà triết học khen ngợi: “Đức Thế Tôn đã phá tan màn mây vô minh khiến cho tôi thấy được chân lý”. Nói rồi làm lễ Phật và rút lui. A Nan hỏi Phật: “Người ngoại đạo đó đã chứng được gì? Tại sao ông ta làm lễ Phật rồi bỏ đi?” Phật nói: “Con ngựa hay chỉ cần thấy bóng của cây roi là đã chạy rồi”.

[3]. Khi Văn Thù tới Phật hội thì chư Phật đã lục tục giải tán đi về. Chỉ có một phụ nữ tiến đến gần pháp tọa của đức Thế Tôn rồi ngồi nhập thiền định. Văn Thù liền thưa với Phật: “Tại sao một phụ nữ còn được tiến lại gần pháp tọa của Ngài còn con thì không?” Phật nói: “Ngươi hãy đánh thức người đàn bà này dậy rồi hỏi ngay người đó”. Văn Thù đi quanh ba lần và búng ngón tay. Người đàn bà không xuất định. Văn Thù bay lên trời Phạm Thiên và dùng thần thông kéo người đàn bà đứng dậy. Cũng không thành công. Phật nói: “Dù cho cả trăm ngàn Văn Thù hợp lại cũng không thể đánh thức người đàn bà này. Chỉ có Bồ Tát Võng Minh cách đây hằng hà sa thế giới mới có thể đánh thức được”. Sau đó, Võng Minh xuất hiện từ dưới đất lên và đảnh lễ Phật. Phật ra hiệu cho Võng Minh. Võng Minh búng ngón tay và người đàn bà xuất định.
Nên nhớ Văn Thù Bồ Tát tượng trưng cho trí tuệ còn Võng Minh thì trái lại.
[4]. Xe và sách: Sách Trung Dung có câu: “Nay cùng ở dưới gầm trời, xe chung đường, sách chung chữ”. Ý nói: có sự liên lạc thông cảm giữa mọi người trong thiên hạ.

[5]. Huệ Trung Quốc Sư, người Chiết Quang, pháp tử của Lục Tổ Huệ Năng.

[6]. Triệu Châu hỏi Nam Tuyền: “Đạo là gì?” Nam Tuyền đáp: “Tâm hàng ngày của ta là đạo”. Triệu Châu nói: “Như vậy thì không cần tu hành phải không?” Nam Tuyền nói: “Nếu ngươi có ý định tu hành thế là đạo không còn nữa”. Triệu Châu nói: “Nếu tôi không có ý định, thì làm sao tôi biết đó là đạo?” Nam Tuyền nói: “Đạo không phải ở nơi biết hay là không biết. Nếu nói là biết thì là biết cái gì; đó chỉ là vọng giác. Nếu nói nó là không biết, thì là vô ký mất. Nếu ngươi đạt đến trình độ không còn nghi ngờ gì nữa thì tự nhiên thái hư mở rộng, sự vật dung hợp. Đạo không nằm ở chỗ phân biệt và phê phán phải trái”.

[7]. Lâm Tế Lục: Thiền sư Lâm Tế một hôm khai thị đại chúng: “Các ngươi biết không, có một bậc vô vị chân nhân trên đống thịt đỏ thường hay ra vào ở cái cửa phía trước mặt các ngươi. Các ngươi có biết người ấy là ai không. Nếu không biết thì hỏi ta”. Có một vị tăng hỏi: “Thế nào là vô vị chân nhân?” Lâm Tế liền đánh một gậy và nói: “Vô vị chân nhân là cái cứt khô gì?” Trong bài Phổ Thuyết Sắc Thân ở Khóa Hư Lục, Trần Thái Tông cũng nhắc đến đề tài Vô Vị Chân Nhân như sau: “Đã mang lấy thân thể này thì bỏ nó đi thật là một chuyện thiên nan vạn nan. Làm sao để không bị thân thể này ràng buộc? Nếu còn bị ràng buộc thì hãy nghe đây:
Vô vị chân nhân thịt đỏ au
Hồng hồng trắng trắng khéo lừa nhau
Ai hay mây cuốn, trời quang tạnh
Hiện rõ bên trời đỉnh núi cao”.
[8]. Có một bà già lập quán nước trên đường đi Đài Sơn. Những vị tăng hành cước sau khi uống trà xong thường hỏi: “Đường này đi lên Đài Sơn đây phải không bà cụ?” Bà già đáp: “Cứ đi thẳng lên đấy”. Khi vị tăng vừa đi khỏi vài ba bước là bà già nói thầm: “Cái ông thầy tu a dua này cũng thế”. Việc xảy ra nhiều lần, lọt đến tai Triệu Châu. Triệu Châu nói: “Như vậy để ta thử đi xem sao!” Đến nơi, uống nước xong Triệu Châu hỏi: “Này bà cụ, có phải con đường lên Đài Sơn đây không?” Bà già đáp: “Cứ theo đường ấy là được”. Triệu Châu vừa đi khỏi vài bước, bà cụ lại nói: “à cái ông thầy a dua này, lại cũng đi như thế nữa!” Triệu Châu không nói gì, về nói lại với đại chúng: “Cái bà già ở Đài Sơn ấy hôm nay ta đã khám phá ra tung tích rồi!”

[9]. Địa danh huyện Lam Điền, tỉnh Thiểm Tây, phong cảnh thanh tú. Vương Duy đời Đường đã vẽ nhiều bức tranh về vùng này.

[10]. Câu nói này của Triệu Châu là để trả lời câu hỏi của một vị tăng: “Vạn pháp đi về một, một đi về đâu?”

[11]. Có vị xuất gia hỏi thiền sư Triệu Châu: “Nghe nói Ngài có đích thân gập thiền sư Nam Tuyền, phải không?” Triệu Châu nói: “Ở Trấn Châu củ cải lớn lắm”.

[12]. Sau đó một vị tăng tên Quy Tỉnh đoạt chiếc gậy, liệng xuống đất nói: “Là cái gì?” Thủ Sơn nói: “Cái ông thầy mù chột”. Nghe câu ấy, Quy Tỉnh đại ngộ.

[13]. Về câu hỏi “Ý của Tổ sư từ Tây Vực lại”. Một hôm Triệu Châu trả lời một vị tăng: “Cây bách ở trước sân”. Vị tăng nói: “Xin hòa thượng đừng lấy cảnh chỉ bày tâm”. Triệu Châu nói: “Lão tăng chưa từng lấy cảnh chỉ bày tâm bao giờ”. Vậy thì thế nào là “Ý của Tổ sư từ Tây Vực lại ?” Triệu Châu nói: “Cây bách ở trước sân”.

[14]. Tam Thánh: tên chữ và cũng là danh hiệu của thiền sư Tuệ Nhiên, môn đệ thiền sư Lâm Tế, người biên chép Lâm Tế Lục

[15]. Tất La là một thứ bánh. Sách Tây Dương Tạp Trở kể chuyện có người nằm mơ vào ăn bánh Tất La trong quán, đến khi tỉnh dậy anh chàng bán quán tới nhà nói: “Ông là khách vào quán ăn hết hai cân bánh Tất La sao chưa trả tiền mà lại bỏ đi ?”

[16]. Văn Thù Viên Minh, người Phúc Châu. Sau khi đắc pháp đi du hành tại Ngũ Đài Sơn cảm thụ được sự hóa hiện của Văn Thù Bồ Tát, nên ở lại lập Văn Thù Viện. Sống tới 136 tuổi.

[17]. Bích Nham tập

[18]. Chiếc áo tầm thường của tăng sĩ kết lại bằng nhiều mảnh vải vụn.

[19]. Bàng cư sĩ, tên là Bàng Uẩn người Hồ Nam, tinh thâm Nho học, quy y Phật pháp, tham học với Thạch Đầu hòa thượng.

[20]. Bất dung duệ bạch: không được nộp quyển trắng. Quyển trắng là quyển của thí sinh không làm được bài nào.

Định đề giáo lý Làng Mai

  1. Hư không không phải là một pháp vô vi, hư không chỉ biểu hiện chung với thời gian, vật thể, tâm thức.
  2. Về phương diện Tích môn: tất cả các pháp đều là hữu vi. Về phương diện Bản môn: tất cả các pháp đều là vô vi.
  3. Niết bàn là sự vắng mặt của vô minh và phiền não mà không phải là sự vắng mặt của uẩn, xứ và giới.
  4. Niết bàn là Niết bàn, không hữu dư y cũng không vô dư y.
  5. Niết bàn có thể được tiếp xúc trong giây phút hiện tại.
  6. Niết bàn không phải là một pháp mà là tự tánh của tất cả các pháp.
  7. Vô sinh có nghĩa là Niết bàn, có nghĩa là Chánh giác, cùng với bất diệt, vô khứ vô lai, phi nhất phi dị, phi hữu phi vô.
  8. Các định Không, Vô tướng, Vô tác giúp ta tiếp xúc với Niết bàn.
  9. Những định căn bản là Vô thường, Vô ngã, Niết bàn.
  10. Ba pháp ấn là Vô thường, Vô ngã và Niết bàn. Có thể nói tới bốn pháp ấn hay năm pháp ấn nếu trong đó có pháp ấn Niết bàn.
  11. Niệm, định, tuệ là sự thực tập nòng cốt để đi đến giải thoát.
  12. Giới cũng là Niệm.
  13. Cần (tinh tấn) cũng là Giới.
  14. Niệm, định, tuệ tương dung, cả ba đều có công năng đưa tới hỷ lạc và giải thoát.
  15. Chánh niệm về khổ đau giúp ta nhận diện những điều kiện hạnh phúc đang có mặt và ngăn ngừa tạo tác lầm lỗi và gieo nghiệp nhân xấu.
  16. Bốn diệu đế đều là hữu vi; Bốn diệu đế đều là vô vi.
  17. Diệu đế thứ ba có thể được gọi là Lạc đế.
  18. Ý chí tự do có được là do Tam học.
  19. Nên nhìn tập đế là con đường của Bát Tà Đạo. Nguyên do sinh tử luân hồi không phải chỉ là ham muốn.
  20. Vị La hán chân thực cũng là một vị Bồ tát, vị Bồ tát đích thực cũng là một vị La hán.
  21. Hễ là người thì có thể là Bụt, là Bụt nhưng không ngưng làm người; Do đây có hằng hà sa số Bụt.
  22. Bụt có nhiều thân: chúng sinh thân (nhân thân), pháp thân, thân ngoại thân, tăng thân, thừa kế thân, pháp giới thân và pháp giới tính thân. Người vì có thể là Bụt nên cũng có đầy đủ các thân ấy.
  23. Có thể nói tới con người (pudgala) như một dòng ngũ uẩn liên tục (hằng) luôn luôn chuyển biến (chuyển) liên hệ tương duyên và trao đổi với các dòng hiện tượng khác, mà không thể nói tới con người như một cái ta biệt lập, bất biến và thường hằng.
  24. Chỉ có thể hiểu luân hồi theo đệ nhất nghĩa đế trong ánh sáng của vô thường, vô ngã và tương tức.
  25. Khổ lạc tương tức; phiền não và bồ đề đều có tính chất hữu cơ.
  26. Tăng thân, Phật thân, Pháp thân tương tức. Trong chân Tăng có chân Phật và chân Pháp.
  27. Vì phiền não và bồ đề đều có tính hữu cơ, nên sự thực tập cần được liên tục để mang tới chuyển hóa và giữ không cho đoạ lạc. Luân hồi là sự tiếp nối: Cái đẹp và cái lành cần được tiếp nối càng lâu dài càng tốt; cái xấu và cái dở cần được chuyển hóa để đừng tiếp tục; rác phải được sử dụng để nuôi hoa.
  28. Giải thoát luân hồi không có nghĩa là chấm dứt một bổ đặc già la (pudgala) vốn không thật có, cũng không phải là chấm dứt giới thân tuệ mạng của một đời tu.
  29. Sinh diệt chỉ là biểu và vô biểu. Biểu là biểu hiện, năng sở đồng thời. Trong khi có biểu này thì có vô biểu kia. Trong khi cái này biểu thì cái kia vô biểu.
  30. ‘Pháp’ không phải là ‘một sự vật’, ‘một cái’, ‘một thực thể’, mà là một quá trình, một sự kiện đang xảy ra, và trước hết là một đối tượng của tâm thức.
  31. Báo thân gồm cả y lẫn chánh, cả cộng lẫn tự, ta bà của chúng sinh là tịnh độ của Bụt.
  32. Không có ngã nhưng vẫn có luân hồi. Có cái gọi là tương tục (samtati) nhưng cái tương tục nào cũng đều có tính tương tức.
  33. Phật tử qua các thế hệ phải liên tục đối kháng lại hai khuynh hướng thần hóa và ngã hóa, biểu hiện những nhu yếu đại chúng nhất của con người.
  34. Tàng thức có công năng học hỏi, huân tập, xử lý, lưu trữ, sắp đặt kế hoạch đối phó, bảo hộ, nuôi dưỡng, trị liệu và tiếp nối. Tàng thức có công năng thiết lập một kho tư liệu, những lề lối hành xử vô thức đã được sắp đặt sẵn, một chương trình tự động tự dẫn để chiếc thuyền có thể tự lèo lái mà không cần sự có mặt của một vị thuyền trưởng.
  35. Mạt na có khuynh hướng tìm an ổn lạc thú bền bỉ, không thấy được luật tiêu thụ có chừng mực, không thấy được mục đích và sự nguy hại của sự tìm cầu dục lạc, không thấy được sự thiết dụng của khổ đau, sự cần thiết của tuệ giác vô thường, vô ngã, tương tức, từ bi và truyền thông.
  36. Ý thức nhờ thực tập Giới Định Tuệ có thể học hỏi và chuyền xuống những kinh nghiệm và tuệ giác của mình cho Tàng thức và giao cho Tàng thức trách nhiệm làm chín mùi và phát hiện toàn diện những hạt giống tuệ giác đã có sẵn trong nó.
  37. Phép tu căn bản của đạo Bụt Nguyên thủy là phép tu Niệm xứ, có công năng nhận diện, chuyển hóa tập khí, và làm cho thành tựu viên mãn bảy giác chi và Tám Chánh Đạo. Các pháp thiền quán đại thừa, kể cả thiền Tổ sư cần được thỉnh thoảng trở về tắm trong dòng suối Nguyên thủy ấy để đừng đánh mất cốt tủy của Phật Pháp.
  38. Thực chất của Tịnh độ và Niết bàn vượt thoát không gian và thời gian. Thực chất của vạn pháp cũng đều như thế.
  39. Duyên, thọ, uẩn, xứ, giới, thức… có thể được trình bày dưới nhiều mô thức khác nhau. Các mô thức này không nhất thiết phải chống đối nhau.
  40. Các giáo lý vô thường, vô ngã, duyên khởi, không, vô tướng, vô tác, niệm, định, tuệ, v.v. là trái tim tuệ giác đạo Bụt, có thể đi đôi với tinh thần khoa học, đối thoại, hướng dẫn gợi ý và nâng đỡ cho khoa học. Khoa học hiện đại cần vượt cho được nhị thủ; nhà khoa học cần luyện tập để phát triển hơn nữa khả năng trực giác của mình.

Các khóa giảng của Thiền sư Nhất Hạnh

Các khóa giảng an cư kiết đông

1988 – 1989 Duy Thức Tam Thập Tụng (Thirty Verses on Consciousness)

1989 – 1990 Đại Tạng Nam Truyền liên hệ tới A Hàm (Nikāyas with reference to Āgamas)

1990 – 1991 Đại Tạng Bắc Truyền I (Mahāyāna sutras part 1) (kinh Đại Thừa trước Long Thọ)

1991 – 1992 Đại Tạng Bắc Truyền II (Mahayana sutras part 2) (kinh ĐT trước Long Thọ tt và sau Long Thọ) (Gồm các kinh Phật Mẫu Bảo ĐứcTạng, Bảo Tích, Duy Ma Cật, Pháp Hoa, Kim Cương, Hoa  Nghiêm)

1992 – 1993 Năm mươi bài tụng Duy Biểu (50 verses of Consciousness)

1993 – 1994 Trái tim của Bụt (The Heart of the Buddhist Teaching)

Thu 1994 Kinh Tam Di Đề (Samiddhi sutra)

1994 – 1995 Truyền Thống Sinh Động Thiền Tập 1 (The Living Traditions of Dhyana Practice, part I)

1995 – 1996 Truyền Thống Sinh Động Thiền Tập 2 (The Living Traditions of DhyanaPractice, II)

1996 – 1997 Truyền Thống Sinh Động Thiền Tập 3 (The Living Traditions of DhyanaPractice, III)

10- 1997 đến 03-1999 Công Phu Nở Đóa Sen Ngàn Cánh (The Plum Village Chanting Book withCommentaries)

1999 – 2000 Nhiếp Đại Thừa Luận 1(The Compendium of Mahayana by Asanga- Mahayana Samgraha Sàstra, part I)

2000 – 2001 Nhiếp Đại Thừa Luận 2 (Mahāyāna Samgraha Śastra, part II)

2001 – 2002 Trung Quán Luận 1 (Madhyamaka Śastra, part I)

2002 – 2003 Trung Quán Luận 2 (Madhyamaka Śastra, part II)

Xuân 2003 Lâm Tế Lục 1 (Records of Master Linji, part I)

2003 – 2004 Lâm Tế Lục 2; 14 bài tụng Chỉ Quán; Cương Lĩnh Giới Luật (tại Lộc Uyển)

(Records of Master Linji, part II; The14 verses on Samatha and Vipasyana and Essentials of the Vinaya)

2004 – 2005 Dị Bộ Tông Luân Luận 1 (Samaya bhedavyūhocakra by Vasumitra, part I)

2005 – 2006 Dị Bộ Tông Luân Luận 2 và Định đề giáo lý Làng Mai 1 (Samaya bhedavyūhocakra by Vasumitra, part II and the Dharma Theses of P.V, part I)

2006 – 2007 Định đề giáo lý Làng Mai 2(The dharma Theses of P.V, part II)

2007 – 2008 Hoa Nghiêm Kim Sư Tử Chương (The Golden Lion Chapter by Fa Tsang)

2008 – 2009 Con Đường của Bụt (nền đạo đức toàn cầu)

2009 – 2010 Nghệ Thuật Hạnh Phúc (bộ Nghĩa Túc kinh)

2010 – 2011  Pháp cú Hán tạng

2011-12: Du già sư địa luận của thầy Vô Trước và Quán Sở duyên duyên luận của thầy Trần Na (Asanga’s Yogācārabhūmi-śāstra and Dignāga’s Ālambanaparīkṣāvṛtti )

2012-13: Tri kỷ của Bụt

2013-14: Duy biểu học (the Manifestation-Only teachings of Buddhism

Danh sách các khóa tu 21 ngày

1990 Reclaiming our True Freedom (Giành lại tự do) Satipattana sutra & Buddhist Psychology (Kinh Tứ Niệm Xứ & Tâm lý học Phật giáo)

1992 Vipassana – Mahayana (Thiền Minh sát – Đại thừa)

1996 The Heart of the Buddha (Trái tim của Bụt)

1998 The Path of Emancipation (Kinh An Ban Thủ Ý)

2000 The Eye of the Buddha (Con mắt của Bụt)

2002 The Hand of the Buddha (Bàn tay của Bụt)

2004 The Feet of the Buddha (Bàn chân của Bụt): tâm học duy thức

2006 The Breath of the Buddha (Hơi thở của Bụt)

2009 The path of the Buddha  (con đường của Bụt) Đạo đức toàn cầu

2012 The science of the Buddha (Nhà khoa học nắm tay nhà Phật học)

2014 What will happen when we die? (Cái gì xảy ra khi ta chết?)

Danh sách các khóa tu đặc biệt

Khóa tu cho giới cựu chiến binh Hoa Kỳ Tháng 09 – 1990 Washington D.C, USA

Khóa tu cho giới tâm lý trị liệu

    • 02-09.11.1997 Tại Florida, USA – Mở cửa Chuyển hóa và Trị liệu
    • 02-07.11.1998 Tại Regensburg, Zurich, Thụy Sỹ
    • Tháng 04 – 2002 Tại Làng Mai, Khóa tu cho các nhà tâm lý trị liệu nói tiếng Pháp

Khóa tu cho giới doanh thương 28.10 – 02.11.1999 Tại Làng Mai, Pháp quốc

Khóa tu cho người Do Thái và Palestin

  • Hè 2001
  • 10-2003 Tại Làng Mai – Peace Begin Here

Khóa tu cho dân biểu Quốc Hội Hoa Kỳ 12-14.09.2003 Tại thủ đô Washington D.C, USA

Khóa tu cho giới nhân viên công lực 24-29.08.2003 Protecting And Serving Without Stress And Fear Tại Madison, Wisconsin, USA

Khóa tu cho giới văn nghệ sĩ điện ảnh Hollywood 19-21.03.2004 Tại tu viện Lộc Uyển,

Khóa tu cho người da màu

    • 24-27.03.2004 Đề tài: Color Of Compassion
    • 06-09.09.2007 Tại tu viện Lộc Uyển,Escondido, California, USA

Khóa tu về Tâm học Phật giáo & Khoa học Thần kinh Não bộ 19-26.08.2006 Tại Làng Mai.

 

Những câu nói của thiền sư Nhất Hạnh – quotes

 

Khi quán sát tự thân, ta thấy Đất Mẹ có trong ta, Mặt Trời và cả những vì sao rất xa cũng có trong ta.
Ta và Đất Mẹ không phải là hai thực tại riêng biệt. Đất Mẹ chính là ta, ta là đất Mẹ.
Đất Mẹ không phải chỉ là môi trường.

Sống như thế nào để cho đất Mẹ tiếp tục được xanh tươi, bởi đất Mẹ khô héo thì ta cũng khô héo.
Sự có mặt của đất Mẹ là sự có mặt của chính ta, và nhìn sâu tự tánh của ta và của Mẹ đều là vô sinh bất diệt. Sinh mạng ta không phải chỉ được giới hạn trong 100 năm, bởi vì ta với Mẹ không phải hai.

—Thầy Làng Mai

An trú trong giây phút hiện tại là trở về quê hương đích thực của mình,
quê hương đích thực không hề bị giới hạn bởi thời gian, không gian, quốc tịch hay chủng tộc.

Quê hương đích thực không phải là một ý niệm trừu tượng,
với niệm và định, năng lượng của Bụt thì ta có thể tiếp xúc
và sống trong quê hương ấy mỗi giây phút với sự hoàn toàn buông thư của thân và tâm.

your true home is in the here and now. It is not limited by time, space, nationality, or race. your true home is not an abstract idea; it is something you can touch and live in every moment. With mindfulness and concentration, the energies of Buddha, you can find your true home in the full relaxation of your mind and body in the present moment.

—Thầy Làng Mai

"Nonviolent action, born of the awareness of suffering and nurtured by love, is the most effective way to confront adversity."

"Hành động bất bạo động được sinh ra từ nhận thức về đau khổ, được nuôi dưỡng bởi tình thương,
và chính là cách hiệu quả nhất để đối đầu với nghịch cảnh."

— Thich Nhat Hanh (Love in Action: Writings on Nonviolent Social Change)

Nhớ lại hồi thơ ấu, khi ta bị sốt.
Mặc dầu đã được cho uống bao nhiêu thuốc nhưng không có gì làm cho ta cảm thấy khỏe khoắn hơn
cho đến khi mẹ vào đặt tay lên trán. Dễ chịu làm sao! Bàn tay mẹ như bàn tay thiên thần.Bàn tay chuyền mát dịu và thương yêu vào cơ thể.

Bàn tay của mẹ chính là bàn tay của bạn hôm nay.
Nếu có chánh niệm, nếu thực tập hơi thở có ý thức bạn sẽ nhận ra rằng bàn tay của mẹ vẫn đang còn sống động trong bàn tay mình.
Rồi nếu bạn đặt tay mình lên trán thì đó chính là bàn tay của mẹ với bao thương yêu dịu hiền.
Khả năng thương yêu, dịu hiền của mẹ vẫn còn đó trong bạn ngày hôm nay.

—Thầy Làng Mai

Con sẽ tập nói những câu như
Được nghe giọng nói quen thuộc của anh qua giây điện thoại, em rất hạnh phúc
Thấy thầy còn có mặt và còn bước đi được những bước chân vững chãi bên con,
con thấy mình may mắn không cùng"  "
Mẹ ơi, mẹ có biết là mẹ đã trao truyền cho con bao nhiêu là đức hạnh, tài năng và từ ái của mẹ hay không!
Con rất trân quý những giờ phút được sống gần thầy, gần cha, gần mẹ, như trong giờ phút này.
 

—Thầy Làng Mai (Thực tập Sám Pháp Địa Xúc)

Con đã được biểu hiện từ đất mẹ, con sẽ trở về đất mẹ để tiếp tục được biểu hiện hàng triệu lần nữa, để cùng với tăng thân con làm công việc chuyển rác thành hoa,
bảo hộ sự sống và xây dựng một tịnh độ ngay trên mặt đất này.

Chúng con biết chất liệu hiểu biết và thương yêu là chất liệu căn bản để xây dựng nên tịnh độ,
cho nên chúng con nguyện là trong mỗi giây phút của cuộc sống hàng ngày chúng con sẽ nỗ lực chế tác chất liệu hiểu biết và thương yêu.

—Thầy Làng Mai (Thực tập Sám Pháp Địa Xúc)

Nơi nào không có bùn thì không có sen.
Cũng như thế khổ đau và hạnh phúc nương vào nhau mà phát hiện.
Chạy trốn khổ đau để đi tìm hạnh phúc thì cũng như đi tìm hoa sen ở nơi không có bùn.

Sen và bùn cũng như trái và phải, hễ cái trái có đó là cái phải có đó cùng một lượt.
Nhờ tiếp xúc được với khổ đau, lắng nghe khổ đau thì ta mới làm phát hiện được cái hiểu biết và cái thương yêu. Hiểu biết và thương yêu là chất liệu làm nên hạnh phúc.

—Thầy Làng Mai (Con đường thánh thiện) — Thầy's Dharma talk July 22nd, 2011 (Happiness is Made of Non-Happiness)

" It is said that God has created man in his own image. But it may be that humankind has created God in the image of humankind."

Người ta nói rằng Thượng Đế đã tạo nên con người theo hình ảnh của Thượng Đế.
Nhưng có thể là loài người đã tạo ra Thượng Đế bằng hình ảnh của loài người.

— Thich Nhat Hanh (Going Home: Jesus and Buddha as Brothers)

"To live in the present moment is a miracle.
The miracle is not to walk on water.
The miracle is to walk on the green Earth in the present moment,
to appreciate the peace and beauty that are available now."

Sống trong giây phút hiện tại là một phép lạ. Phép lạ không phải là đi trên mặt nước. Phép lạ là đi trên hành tinh xanh xinh đẹp này trong giây phút hiện tại, biết trân quý sự bình an và vẻ đẹp có sẵn ngay bây giờ.

— Thich Nhat Hanh (Touching Peace: Practicing the Art of Mindful Living)

"We often think of peace as the absence of war,
that if powerful countries would reduce their weapon arsenals,
we could have peace. But if we look deeply into the weapons, we see our own minds –
our own prejudices, fears and ignorance.
Even if we transport all the bombs to the moon, the roots of war and the roots of bombs are still there,
in our hearts and minds, and sooner or later we will make new bombs.
To work for peace is to uproot war from ourselves and from the hearts of men and women.

 

Chúng ta thường nghĩ rằng hòa bình là sự vắng mặt của chiến tranh,
rằng nếu các quốc gia hùng mạnh sẽ giảm các kho vũ khí vũ khí của họ thì chúng ta có thể có hòa bình.
Nhưng nếu chúng ta nhìn sâu vào các loại vũ khí, chúng ta thấy rằng vũ khí nằm trong tâm trí của chúng ta,
trong thành kiến ​​riêng, nỗi sợ hãi và sự thiếu hiểu biết.
Ngay cả khi chúng ta vận chuyển tất cả các quả bom lên mặt trăng thì gốc rễ của chiến tranh và gốc rễ của những quả bom vẫn còn đó, trong trái tim và khối óc của chúng ta, và sớm hay muộn chúng ta cũng sẽ tạo những bom mới.
Hoạt động cho hòa bình chính là phải nhổ gốc rể của chiến tranh từ chính trong chúng ta và từ trái tim của con người.

—Thich Nhat Hanh (Living Buddha, Living Christ)

'If you love someone, the greatest gift you can give them is your presence' Sự có mặt đích thực của bạn là món quà quý nhất để hiến tặng cho người mà bạn thương yêu.

— Thich Nhat Hanh

'The kingdom of God is available to you in the here and the now.  But the question is whether you are available to the kingdom.  Our practice is to make ourselves ready for the kingdom
so that it can manifest in the here and the now.  You don't need to die in order to enter the kingdom of heaven. In fact, you have to be truly alive in order to do so.'

‎"Nước Chúa đang có mặt cho bạn ở đây và bây giờ.  Nhưng câu hỏi là liệu bạn đang có mặt cho Nước Chúa.
Sự thực tập của chúng ta là làm cho mình có mặt thực sự để Nước Chúa có thể biểu hiện ở đây và bây giờ.
Bạn không cần phải chết mới đi được vào Nước Chúa. Sự thật là bạn phải thực sự sống để có thể làm được như vậy."

— Thich Nhat Hanh

'Suffering is not enough.
Life is both dreadful and wonderful…
How can I smile when I am filled with so much sorrow?
It is natural – you need to smile to your sorrow because you are more than your sorrow.'

"Chỉ biết đau khổ thôi thì không đủ. Cuộc sống đầy khổ đau nhưng cũng rất tuyệt vời …
Làm thế nào có thể mỉm cười khi trong lòng đầy những buồn đau? Bạn hãy học cách mỉm cười với nỗi buồn của mình bởi vì bạn đâu phải chỉ là nỗi buồn ấy.

— Thich Nhat Hanh

'To be beautiful means to be yourself. You don’t need to be accepted by others.
You need to accept yourself.'
Bạn chỉ đẹp khi là chính bạn. Bạn đâu cần sự công nhận của người khác. Bạn chỉ cần chấp nhận chính mình mà thôi.

— Thich Nhat Hanh

"The seed of suffering in you may be strong,
but don't wait until you have no more suffering before allowing yourself to be happy."

Những hạt giống khổ đau trong ta có thể còn rất lớn, nhưng đừng đợi cho đến khi không còn khổ đau mới cho phép mình hạnh phúc.

— Thich Nhat Hanh

"non violence does not mean non-action.
Nonviolence means we act with love and compassion.
The moment we stop acting, we undermine the principle of nonviolence."

Bất bạo động không có nghĩa là không hành động. bất bạo động có nghĩa là chúng ta hành động với tình thương và lòng từ bi.Giây phút mà chúng ta ngừng hành động, chúng ta phá hoại nguyên tắc bất bạo động.
 

— Thich Nhat Hanh

"Nếu không có khả năng trở về với giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây thì không thể nào nhận diện được chính mình, nhận diện được hạnh phúc cũng như khổ đau của mình."

— Thich Nhat Hanh

"Do not think the knowledge you presently possess is changeless, absolute truth.
Avoid being narrow-minded and bound to present views.
Learn and practice non-attachment from views in order to be open to receive others' viewpoints."

Đừng nghĩ rằng những kiến thức bạn hiện có là bất biến, sự thật tuyệt đối. Tránh hẹp hòi và bị ràng buộc với những quan điểm bạn đang có. Thực hành tinh thần không cố chấp vướng mắc về quan điểm để có thể được cởi mở đón nhận quan điểm của người khác.

— Thich Nhat Hanh (Living Buddha, Living Christ)

"Most of boundaries between traditions are artificial.
Trust has no boundaries. The differences are mostly in emphasis."

Hàng rào chia cách giữa các truyền thống tâm linh hầu hết là giả tạo.Đức tin không có ranh giới. Sự khác nhau chỉ ở điểm nhấn mạnh mà thôi.

— Thich Nhat Hanh (Living Buddha, Living Christ)

"Storing up knowledge about Buddhism will not answer your burning questions.
We have to learn the things that can help us
to transform our own suffering, our own caught situations.
If our teacher is a real teacher, then his or her words are there
to help us be in touch with life and untie the preconceptions, views, anger, and habit energies we have."

"Chất chứa thêm kiến thức về đạo Bụt không thể giải đáp cho bạn những thắc mắc thao thức của mình.
Bạn nên học những điều mà có thể chuyển hóa được những khổ đau, hoàn cảnh khó khăn dính mắc của mình.
Thầy của bạn là người sẽ giúp chúng bạn tiếp xúc được với cuộc sống, tháo gỡ được những định kiến, những quan niệm, hờn giận và những thói quen xấu.

— Thich Nhat Hanh (Answers From the Heart)

Xã hội chúng ta được xây dựng trên một khái niệm rất hạn hẹp về quyền lực, đó là giàu có, sung túc, thành công nghề nghiệp, danh tiếng, sức khỏe, sức mạnh quân sự và quyền năng chính trị.

Tôi xin đề nghị với bạn một thứ quyền lực khác, một thứ quyền lực vượt bậc:
quyền lực giúp ta thoát khỏi sự ám ảnh của mê đắm,
sợ hãi, tuyệt vọng, sự trấn ngự của kỳ thị, sân hận, ngu dốt;
quyền lực giúp ta đạt được hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại.
Đây là một thứ quyền lực mà bất cứ ai sinh ra cũng đều có quyền hưởng, không phân biệt sang hèn, giàu nghèo, mạnh yếu
.

— Thích Nhất Hạnh (Quyền Lực Đích Thực)

"Sometimes your joy is the source of your smile,
but sometimes your smile can be the source of your joy."

Đôi khi niềm vui chính là nguồn gốc của nụ cười, nhưng đôi khi nụ cười có thể lại là suối nguồn niềm vui của bạn.

— Thich Nhat Hanh

"Through my love for you,
I want to express my love for the whole cosmos, the whole of humanity, and all beings.
By living with you, I want to learn to love everyone and all species.
If I succeed in loving you, I will be able to love everyone and all species on Earth…
This is the real message of love."

Qua tình thương của tôi dành cho bạn, tôi muốn bày tỏ tình thương của tôi đối với toàn bộ vũ trụ, toàn của nhân loại, và tất cả muôn loài.  Bằng cách sống với bạn, tôi muốn tìm hiểu để yêu thương tất cả mọi người và tất cả các loài. Nếu tôi thương bạn thành công, tôi sẽ có thể yêu thương tất cả mọi người và tất cả các loài trên trái đất … Đây là thông điệp thực sự của tình yêu.

— Thich Nhat Hanh (Teachings on Love)

Waking up this morning, I smile. Twenty-four brand new hours are before me. I vow to live fully in each moment and to look at all beings with eyes of compassion

Thức dậy miệng mỉm cười. Hăm bốn giờ tinh khôi.
Xin nguyện sống trọn ven, mắt thương nhìn cuộc đời

— Thich Nhat Hanh

A flower cannot be by itself  alone. 
A flower  can only inter-be with the sunshine, with the rain, with the earth.
So “to be” means “to inter-be”.

“When we live the wisdom of interbeing in every minute, then we will not be caught in our small self.
We will see that we are everywhere.

Bông hoa không thể tự nó có mặt được. Bông hoa chỉ có thể tương tức với ánh nắng, với cơn mưa, với đại địa.
Hiện hữu nghĩa là cùng hiện hữu là tương tức. Khi ta sống được với tuệ giác tương tức trong mỗi giây phút, ta sẽ không còn kẹt trong cái ngã nhỏ bé nữa, ta sẽ thấy rằng ta có mặt mọi nơi.

— Thich Nhat Hanh

 

If we can cultivate a spiritual dimension to our life and work to day, tomorrow will take care of itself. With a spiritual community to support us, we will be able to realise our dream.

— Thich Nhat Hanh

Nếu ngày nay đã có một chiều hướng tâm linh trong đời sống cũng như công việc thì "ngày mai sẽ lo về việc ngày mai". Với sự nâng đỡ của đoàn thể tâm linh bạn sẽ thực hiện được ước mơ của mình.

Inclusiveness means embracing everyone, everything, you don’t exclude anyone. In true love, you don’t discriminate anymore. Whether that person is white or black or yellow, whether he is a Muslim, a Buddhist, a Jew, a communist, you accept them all with no discrimination whatsoever. Inclusiveness here means non-discrimination.

— Thich Nhat Hanh

“Nhẫn nhục là ôm lấy tất cả trong tình thương của mình mà không loại trừ bất cứ ai. Trong tình thương đích thực, ta không còn kỳ thị nữa, dù người ấy là da đen, da trắng hay da vàng, dù người ấy theo đạo Hồi, theo đạo Bụt, theo đạo Do Thái hay theo chủ nghĩa cộng sản đi nữa mình cũng chấp nhận tất cả mà không còn kỳ thị. Nhẫn nhục ở đây có nghĩa là không kỳ thị.”

“Theo cách suy nghĩ thong thường ở đời thì hạnh phúc là hạnh phúc, khổ đau là khổ đau, hai sự kiện hoàn toàn trái ngược nhau. Đó là khuynh hướng lập luận tự nhiên của tâm tư ta. Nhưng theo nguyên tắc tương tức của Bụt dạy thì hạnh phúc và khổ đau có liên hệ mật thiết. Hạnh phúc làm bằng chất liệu của khổ đau, và khổ đau cũng làm bằng chất liệu của hạnh phúc. Giống như rác có thể làm ra hoa và hoa nếu để lâu ngày sẽ biến thành rác. Hạnh phúc cũng vô thường mà khổ đau cũng vô thường. Vì khổ đau vô thường cho nên khổ đau cũng có thể trở thành hạnh phúc, và hạnh phúc cũng vô thường cho nên nó có thể trở thành khổ đau. Vì vậy khi ta vạch ra một giới tuyến để chia hạnh phúc và khổ đau làm hai là chúng ta là chúng ta đã tạo ra một lầm lẫn căn bản. Ta nên biết rằng nếu chưa từng khổ đau thì chúng ta chưa có cơ hội biết được thế nào là hạnh phúc. Vì vậy cho nên chúng ta có thể nói rằng hạnh phúc và khổ đau là hai hiện tượng có tính cách tương tức, cái này chứa cái kia. Khổ đau chính là chất liệu làm ra hạnh phúc. .”

— Thich Nhat Hanh

Quán Sở Duyên Duyên

Quán chiếu về đối tượng nhận thức

 

Trong số những người chủ trương rằng phải lấy hình sắc, v.v. bên ngoài để làm đối tượng nhận thức cho năm thức là nhãn thức, nhĩ thức, v.v., có những người cho rằng cực vi là thực thể có khả năng sinh ra nhận thức, lại có những người cho rằng các cực vi ấy khi hòa hợp lại làm ra những cái tướng trở thành đối tượng của nhận thức. Cả hai chủ trương ấy đều sai lầm. Tại sao ?

1.
Đối với năm thức, cực vi có thể là điều kiện (duyên) nhưng không thể là đối tượng nhận thức (sở duyên), bởi vì tướng của cực vi ấy không biểu hiện nơi nhận thức – cũng ví dụ như năm giác quan. (Năm giác quan là điều kiện (duyên) cho thức nhưng không phải là đối tượng cho thức.)

Đối tượng nhận thức là cái tướng trạng được phát khởi ra đi kèm theo với chủ thể nhận thức thì phải có thực thể khiến cho chủ thể nhận thức có thể nương vào đấy mà phát sinh. Nếu cực vi của sắc, v.v. mà có thực thể có thể sinh ra nhận thức (của năm thức) thì cũng chỉ có thể là điều kiện (duyên) mà không phải đối tượng nhận thức. Cũng giống như con mắt, v.v. đối với nhãn thức, v.v. không phải là cái hình tướng của đối tượng nhận thức. Cực vi trong năm thức (nhãn, v.v.) cũng không thể được gọi là đối tượng nhận thức (sở duyên).

2.
Đối với năm thức, hòa hợp có thể được gọi là đối tượng nhận thức (sở duyên) nhưng không thể gọi là điều kiện (duyên) vì nó không có thực thể, nó cũng giống như một mặt trăng thứ hai (hiện ra khi ta dụi mắt vậy).

Những hình tướng hòa hợp của sắc, v.v. trong năm thức (là nhãn, v.v.) có thể được gọi là đối tượng nhận thức (sở duyên) nhưng không thể nói chúng là điều kiện nhận thức (duyên) như khi con mắt bị bệnh trông thấy một mặt trăng thứ hai. Nó không có thực thể và vì vậy nó không có khả năng làm sinh khởi nhận thức. Vậy thì những hình tướng hòa hợp ấy trong năm thức (nhãn, v.v.) không phải là điều kiện phát sinh ra nhận thức (duyên). Cho nên biết rằng trong hai chủ trương kia, chủ trương nào cũng thiếu khuyết một chân, cho nên cả hai đều sai lầm.

Có người chủ trương rằng các yếu tố sắc, thọ, tưởng, v.v., mỗi yếu tố đều chứa đựng nhiều tính chất (tướng) và một phần nào của những tính chất ấy trở thành đối tượng trực tiếp (hiện lượng cảnh) của nhận thức. Do đó các cực vi nương vào nhau, mỗi cực vi đều mang theo nó cái tướng hòa tập (saṃcitakara), và cái tướng ấy là một cái gì có thật, mỗi tướng có khả năng làm phát sinh ra cái nhận thức giống nó. Do đó đối với năm thức (cảm giác) nó cũng có khả năng làm điều kiện đối tượng (sở duyên duyên).

Nói như thế cũng phi lý. Vì sao ?

3.
Những tính chất của cái hòa tập (mà anh nói đó) như cái rắn chắc, cái thấm nhuận, cái sức nóng, v.v. đối với năm thức (cảm giác) cũng chỉ có thể là điều kiện (duyên) mà không thể là đối tượng (sở duyên) của thức, tại vì chúng vẫn còn mang tướng cực vi.

Những tính chất (tướng) như rắn chắc, v.v. ấy tuy là có thật nhưng đối với 5 thức chỉ có thể đóng vai điều kiện (duyên) mà không thể đóng vai đối tượng (sở duyên), bởi vì trên nhận thức của 5 thức ấy không có những tính chất (tướng) ấy. Các cực vi của sắc, v.v. và những cái tướng hòa tập của chúng cũng đều như thế, tại vì trước sau chúng chỉ là những cực vi. (Đã là hòa tập vì sao còn gọi là cực vi được?) Chủ trương rằng năm thức (nhãn, v.v.) có thể tiếp xúc (duyên) tới được cực vi, thì những cái tướng hòa tập ấy đâu cần phát sinh ra nữa ? (phục hữu biệt sinh?)

4.
Tướng trạng các đồ vật như bình, chén,… tuy lớn nhỏ khác nhau, nhưng không phải vì vậy mà cực vi (làm ra chúng) có lớn nhỏ, có khác, vì thế biết là những tướng trạng lớn nhỏ khác nhau kia cũng là không có thật.

(Hỏi) : Các đối tượng nhận thức (sở duyên duyên) ấy đâu phải là hoàn toàn không có ? Nếu nó không phải là hoàn toàn không có, thì cái này như thế nào? (nhược nhĩ vân hà?)

(Trả lời):

5. Cực vi thì giống nhau. Những hình dáng khác biệt kia do cực vi hợp thành chỉ là giả hữu, tách chúng thành cực vi thì tri giác kia không còn tồn tại.

6. Sắc tướng bên trong hiện ra như là có mặt bên ngoài, nhưng đó chỉ là đối tượng của thức (sở duyên duyên), chỉ có thể nói rằng cái tướng trạng ấy chỉ có mặt nơi thức, và có công năng làm phát sinh ra thức.

Ngoại cảnh tuy không có, nhưng có nội thức, giống như có ngoại cảnh hiện ra làm đối tượng cho thức; các thức (như nhãn, v.v.) nương vào tướng ấy để sinh khởi, và từ đó mà phát sinh, có đủ cả hai nghĩa.

(Hỏi): Cái cảnh tưởng bên trong này nếu đã không lìa thức mà có thì nó đồng thời sinh khởi như thế nào mà nó có thể đóng vai trò đối tượng (sở duyên duyên) của thức?

7. Hai cái đi theo nhau, có thể nói đối tượng và chủ thể đồng thời sinh khởi, cũng có thể nói cái trước (tướng) làm điều kiện phát sinh cho cái sau (kiến), cái trước làm công năng dẫn khởi cái sau.

Cảnh tướng và thức quyết định là đi theo nhau, tuy là đồng thời sinh khởi nhưng cũng có thể đóng vai trò điều kiện (duyên) của thức được. Nhân đó mà biết rằng trong thức cả cái này (chủ thể) và cái kia (đối tượng) không có cái nào đi theo cái nào; tuy chúng đồng thời sinh khởi mà cũng có tính cách nhân quả với nhau. Hoặc tướng trước của thức làm điều kiện cho thức sau, dẫn đến trong bản thân của thức để phát sinh như tự quả của mình, đó là do chủng tử làm phát khởi ra, không sai với lý luận.

Nếu 5 thức sinh thì chúng cũng chỉ duyên tới nội sắc (của thức), làm sao lại nói chúng là điều kiện (duyên) đã làm phát sinh thức?

8. Các chủng tử của sắc, v.v. trong thức gọi là năm căn, cũng là hợp lý. Chủng tử và cảnh sắc (được chủng tử làm phát sinh) đã làm nhân cho nhau từ vô thỉ.

Do sự so sánh mà ta biết rằng có sự có mặt của các căn. Bởi vì các căn ấy có công năng làm phát hiện ra thức. Cái công năng ấy không phải đã được chế tác ra từ vật chất bên ngoài (ngoại sắc). Các công năng ấy cũng chỉ được phát hiện ra từ thức. Cái lý luận này không có gì là khác lạ. Ta không thể nói công năng ấy là ngoài thức hay trong thức, chỉ có thể nói rằng tất cả các sắc pháp, theo nguyên tắc (công năng phát hiện trên) không thể có mặt ngoài thức. Cái công năng (tạo ra) các giác quan ấy, cùng với đối tượng sắc của nó, từ đời vô thỉ làm nhân (quả) cho nhau. Các công năng ấy khi đạt tới chỗ thuần thục thì làm phát hiện 5 loại cảnh sắc bên trong trên mặt hiện thức, và cũng có công năng dẫn khởi tới (các công năng của) 5 giác quan. Năm căn và năm cảnh ấy, cả hai thứ căn và cảnh, hai cái mà ta nhận diện như là sắc, hoặc là một với thức hoặc là khác với thức hoặc nó là một vừa là khác, đó là tùy ý ta muốn gì thì ta nói. Các thức chỉ sử dụng nội cảnh để làm đối tượng sở duyên. Lập luận này có thể đứng vững.

觀 所 緣 緣 論
Quán Sở Duyên Duyên Luận
陳 那 菩 薩 造
Trần na Bồ Tát tạo
三 藏 法 師 玄 奘 奉 詔 譯
Tam tạng Pháp sư huyền Huyền Trang chiếu dịch

諸 有 欲 令 眼 等 五 識。 以 外 色 作 所 緣 緣 者。
Chư hữu dục linh nhãn đẳng ngũ thức。 dĩ ngoại sắc tác sở duyên duyên giả。

或 執 極 微 許 有 實 體。 能 生 識 故 或 執 和 合。
hoặc chấp cực vi hứa hữu thật thể。 năng sanh thức cố hoặc chấp hòa hợp。

以 識 生 時 帶 彼 相 故。 二 俱 非 理。 所 以 者 何。
dĩ thức sanh thời đới bỉ tướng cố。 nhị câu phi lý。 sở dĩ giả hà。

1.
極 微 於 五 識 設 緣 非 所 緣
cực vi ư ngũ thức thiết duyên phi sở duyên
彼 相 識 無 故 猶 如 眼 根 等
bỉ tướng thức vô cố do như nhãn căn đẳng

所 緣 緣 者。 謂 能 緣 識 帶 彼 相 起 及 有 實 體。
sở duyên duyên giả。 vị năng duyên thức đới bỉ tướng khởi cập hữu thật thể。

令 能 緣 識 託 彼 而 生 色 等 極 微。
linh năng duyên thức thác bỉ nhi sanh sắc đẳng cực vi。

設 有 實 體 能 生 五 識 容 有 緣 義。 然 非 所 緣。
thiết hữu thật thể năng sanh ngũ thức dung hữu duyên nghĩa。 nhiên phi sở duyên。

如 眼 根 等 於 眼 等 識 無 彼 相 故。 如 是 極 微 於 眼 等 識。 無所緣義
như nhãn căn đẳng ư nhãn đẳng thức vô bỉ tướng cố。như thị cực vi ư nhãn đẳng thức。 vô sở duyên nghĩa。

2.
和 合 於 五 識 設 所 緣 非 緣
hòa hợp ư ngũ thức thiết sở duyên phi duyên
彼 體 實 無 故 猶 如 第 二 月
bỉ thể thật vô cố do như đệ nhị nguyệt

色 等 和 合 於 眼 識 等 有 彼 相 故。
sắc đẳng hòa hợp ư nhãn thức đẳng hữu bỉ tướng cố。

設 作 所 緣 然 無 緣 義。 如 眼 錯 亂 見 第 二 月。
thiết tác sở duyên nhiên vô duyên nghĩa。 như nhãn thác loạn kiến đệ nhị nguyệt。

彼 無 實 體 不 能 生 故。 如 是 和 合 於 眼 等 識 無 有 緣 義 故。
bỉ vô thật thể bất năng sanh cố。 như thị hòa hợp ư nhãn đẳng thức vô hữu duyên nghĩa cố。

外 二 事 於 所 緣 緣 互 闕 一 支。 俱 不 應 理。
ngoại nhị sự ư sở duyên duyên hỗ khuyết nhất chi。câu bất ưng lý。

有 執 色 等 各 有 多 相。 於 中 一 分 是 現 量 境 故。
hữu chấp sắc đẳng các hữu đa tướng。 ư trung nhất phân thị hiện lượng cảnh cố。

諸 極 微 相 資 各 有 一 和 集 相。 此 相 實 有 各 能 發 生。
chư cực vi tướng tư các hữu nhất hòa tập tướng。thử tướng thật hữu các năng phát sanh。

似 己 相 識 故 與 五 識 作 所 緣 緣。 此 亦 非 理。 所 以 者 何。
tự kỷ tướng thức cố dữ ngũ thức tác sở duyên duyên。thử diệc phi lý。 sở dĩ giả hà 。

3.
和 集 如 堅 等 設於眼等識
hòa tập như kiên đẳng thiết ư nhãn đẳng thức
是 緣 非 所 緣 許 極 微 相 故
thị duyên phi sở duyên hứa cực vi tướng cố

如 堅 等 相 雖 是 實 有。 於 眼 等 識 容 有 緣 義。
như kiên đẳng tướng tuy thị thật hữu。 ư nhãn đẳng thức dung hữu duyên nghĩa。

而 非 所 緣。 眼 等 識 上 無 彼 相 故。
nhi phi sở duyên。 nhãn đẳng thức thượng vô bỉ tướng cố。

色 等 極 微 諸 和 集 相。 理 亦 應 爾。 彼 俱 執 為 極 微 相 故。
sắc đẳng cực vi chư hòa tập tướng。lý diệc ưng nhĩ。 bỉ câu chấp vi cực vi tướng cố。

執 眼 等 識 能 緣 極 微。 諸 和 集 相 復 有 別 失。
chấp nhãn đẳng thức năng duyên cực vi。chư hòa tập tướng phục hưũ biệt thất。

4.
瓶 甌 等 覺 相 彼 執 應 無 別
bình âu đẳng giác tướng bỉ chấp ưng vô biệt
非 形 別 故 別 形 別 非 實 故
phi hình biệt cố biệt hình biệt phi thật cố

瓶 甌 等 物 大 小 等 者。 能 成 極 微 多 少 同 故。
bình âu đẳng vật đại tiểu đẳng giả。 năng thành cực vi đa thiểu đồng cố。

緣 彼 覺 相 應 無 差 別。
duyên bỉ giác tương ưng vô sai biệt。

若 謂 彼 物 形 相 別 故 覺 相 別 者。 理 亦 不 然。
nhược vị bỉ vật hình tướng biệt cố giác tướng biệt giả。 lý diệc bất nhiên。

頂 等 別 形 唯 在 瓶 等 假 法 上 有。 非 極 微 故 彼 不 應 執。
đảnh đẳng biệt hình duy tại bình đẳng giả pháp thượng hữu。 phi cực vi cố bỉ bất ưng chấp。

極 微 亦 有 差 別 形 相 所 以 者 何。
cực vi diệc hữu sái biệt hình tướng sở dĩ giả hà。

5.
極 微 量 等 故 形 別 惟 在 假
cực vi lượng đẳng cố hình biệt duy tại giả
析 彼 至 極 微 彼 覺 定 捨 故
tích bỉ chí cực vi bỉ giác định xả cố

非 瓶 甌 等 能 成 極 微 有 形 量 別。 捨 微 圓 相 故。
phi bình âu đẳng năng thành cực vi hữu hình lượng biệt。 xả vi viên tướng cố。

知 別 形 在 假 非 實。 又 形 別 物 析 至 極 微。
tri biệt hình tại giả phi thật。 hựu hình biệt vật tích chí cực vi。

彼 覺 定 捨 非 青 等 物。 析 至 極 微 彼 覺 可 捨。
bỉ giác định xả phi thanh đẳng vật。 tích chí cực vi bỉ giác khả xả。

由 此 形 別 唯 世 俗 有。 非 如 青 等 亦 在 實 物。
do thử hình biệt duy thế tục hữu。 phi như thanh đẳng diệc tại thật vật。

是 故 五 識 所 緣 緣 體 非 外 色 等 其 理 極 成。
thị cố ngũ thức sở duyên duyên thể phi ngoại sắc đẳng kỳ lý cực thành。

彼 所 緣 緣 豈 全 不 有。 非 全 不 有。 若 爾 云 何。
bỉ sở duyên duyên khởi toàn bất hữu。 phi toàn bất hữu。 nhược nhĩ vân hà。

6.
內 色 如 外 現 為 識 所 緣 緣
nội sắc như ngoại hiện vi thức sở duyên duyên
許 彼 相 在 識 及能生識故
hứa bỉ tướng tại thức cập năng sanh thức cố

外 境 雖 無。 而 有 內 色 似 外 境 現。 為 所 緣 緣。
ngoại cảnh tuy vô。 nhi hữu nội sắc tự ngoại cảnh hiện。 vi sở duyên duyên。

許 眼 等 識 帶 彼 相 起 及 從 彼 生。 具 二 義 故。
hứa nhãn đẳng thức đới bỉ tướng khởi cập tùng bỉ sanh。 cụ nhị nghĩa cố。

此 內 境 相 既 不 離 識。 如 何 俱 起。 能 作 識 緣。
thử nội cảnh tướng ký bất ly thức。 như hà câu khởi。 năng tác thức duyên。

決 定 相 隨 故 俱 時 亦 作 緣
quyết định tướng tùy cố câu thời diệc tác duyên

或 前 為 後 緣 引 彼 功 能 故
hoặc tiền vi hậu duyên dẫn bỉ công năng cố

境 相 與 識 定 相 隨 故。 雖 俱 時 起 亦 作 識 緣。
cảnh tướng dữ thức định tướng tùy cố。 tuy câu thời khởi diệc tác thức duyên。

因 明 者 說。 若 此 與 彼 有 無 相 隨。
nhân minh giả thuyết。nhược thử dữ bỉ hữu vô tướng tùy。

雖 俱 時 生 而 亦 得 有 因 果 相 故。 或 前 識 相 為 後 識 緣。
tuy câu thời sanh nhi diệc đắc hữu nhân quả tướng cố。 hoặc tiền thức tướng vi hậu thức duyên。

引 本 識 中 生 似 自 果 功 能 令 起 不 違 理 故。
dẫn bổn thức trung sanh tự tự quả công năng linh khởi bất vi lý cố。

若 五 識 生 唯 緣 內 色。 如 何 亦 說 眼 等 為 緣。
nhược ngũ thức sanh duy duyên nội sắc。 như hà diệc thuyết nhãn đẳng vi duyên。

識 上 色 功 能 名 五 根 應 理
thức thượng sắc công năng danh ngũ căn ưng lý

功 能 與 境 色 無 始 互 為 因
công năng dữ cảnh sắc vô thủy hỗ vi nhân

以 能 發 識 比 知 有 根。 此 但 功 能 非 外 所 造 故。
dĩ năng phát thức bỉ tri hữu căn。 thử đãn công năng phi ngoại sở tạo cố。

本 識 上 五 色 功 能 名 眼 等 根。 亦 不 違 理。
bổn thức thượng ngũ sắc công năng danh nhãn đẳng căn。 diệc bất vi lý。

功 能 發 識 理 無 別 故。 在 識 在 餘 雖 不 可 說。
công năng phát thức lý vô biệt cố。 tại thức tại dư tuy bất khả thuyết。

而 外 諸 法 理 非 有 故。 定 應 許 此 在 識 非 餘。
nhi ngoại chư pháp lý phi hữu cố。 định ưng hứa thử tại thức phi dư。

此 根 功 能 與 前 境 色。 從 無 始 際 展 轉 為 因。
thử căn công năng dữ tiền cảnh sắc。 tùng vô thủy tế triển chuyển vi nhân。

謂 此 功 能 至 成 熟 位。 生 現 識 上 五 內 境 色。
vị thử công năng chí thành thục vị。 sanh hiện thức thượng ngũ nội cảnh sắc。

此 內 境 色 復 能 引 起 異 熟 識 上 五 根 功 能。
thử nội cảnh sắc phục năng dẫn khởi dị thục thức thượng ngũ căn công năng。

根 境 二 色 與 識 一 異或 非 一 異。 隨 樂 應 說。 如 是 諸 識。
căn cảnh nhị sắc dữ thức nhất dị hoặc phi nhất dị。tùy lạc ưng thuyết。như thị chư thức。

惟 內 境 相 為 所 緣 緣。 理 善 成 立。
duy nội cảnh tướng vi sở duyên duyên。lý thiện thành lập。

1.
Cực vi trong năm thức
Là duyên không sở duyên
Trong thức không thấy chúng
Ví như con mắt vậy.

2.
Hòa hợp trong năm thức
Là sở duyên không duyên
Thể của chúng là không
Như mặt trăng thứ hai.

3.
Chất hòa hợp như cứng v.v.
Trong năm thức như nhãn v.v.
Là duyên không sở duyên
Chúng là tính cực vi.

4.
Tướng vật như bình chén
Tuy chúng có khác nhau
Nhưng cực vi không khác
Tướng khác không thật có.

5.
Cực vi nhỏ giống nhau
Dáng khác kia là giả
Tách chúng thành cực vi
Tri giác kia không còn.

6. Nội sắc hiện ngoại sắc
Làm sở duyên cho thức
Tướng của nó trong thức
Giúp làm phát sinh thức.