Đừng phụ suối đồi

Giữ mãi tình này

Năm nay khóa tu cho người Việt tại tu viện Bích Nham có chủ đề là Giữ mãi tình này. Chủ đề hấp dẫn cho nên khá đông người Việt về tham dự. Mối tình nào cần phải giữ mãi? Tình vợ chồng? Tình cha mẹ đối với con cái? Tình anh em, hay tình bạn? Mối tình nào cũng cần phải giữ mãi.

Trong các nhóm pháp đàm dành cho người trẻ, có em chia sẻ nỗi khổ đau về sự thiếu truyền thông với mẹ, có em thì nói rằng ba mẹ không muốn cho em đi đâu vì sợ hư, tối ngày ở nhà làm cho em xa lạ với bạn bè… Đây là vấn đề khoảng cách văn hóa mà từ lâu Thầy thường nhắc đến trong những bài pháp thoại dành cho người Việt tại hải ngoại. Đa số những người trẻ lớn lên tại Mỹ có nhiều khó khăn với ba mẹ. Có những em qua đây từ nhỏ, cũng có những em được sinh ra tại đây. Lớn lên trong môi trường của văn hóa Mỹ, sự suy nghĩ cũng như ý thích của các em hoàn toàn khác với ba mẹ. Đó là điều tất nhiên vì hai văn hóa hoàn toàn khác. Chúng tôi ngồi yên và lắng nghe, cảm thông từng nỗi khổ đau của các em.

Áp lực văn hóa và xung đột trong gia đình là một vấn đề lớn cần tháo gỡ. Mối tình nào cũng cần phải làm mới lại, cũng cần phải trân quý, giữ gìn. Đó là mục đích mà khóa tu này muốn chuyên chở và nhắn nhủ đến những người Việt tha hương.

Thăm Thầy

Nghe tin Thầy qua Mỹ điều trị, tôi liền xin phép chúng Bích Nham để đi thăm Thầy. Kể từ ngày Thầy bệnh, trong lòng tôi luôn mong muốn được gặp Người. Đáp chuyến bay từ New York qua San Francisco, tôi được thầy Pháp Huy kể cho nghe tình hình của Thầy hiện tại. Có một mạnh thường quân muốn giúp Thầy phục hồi sức khỏe. Ông là CEO của hãng Saleforce, tên là Marc. Ông đã đọc sách của Thầy và rất ấn tượng về Thầy cùng pháp môn thực tập của Làng Mai. Vào năm 2013, ông đã yểm trợ hết lòng để tổ chức một buổi pháp thoại của Thầy tại dinh thự của ông và một buổi thiền hành cho các CEO trong không khí thân mật. Sau đó, ông đã có ý định mời Thầy hướng dẫn ngày quán niệm cho 150000 nhân viên của mình vào năm 2015. Khi nghe tin Thầy bệnh, ông có nhã ý muốn giúp đỡ. Ông cho máy bay riêng qua tận Làng đón Thầy về dinh thự của mình để điều trị. San Francisco là môi trường thuận tiện nhất, vì nơi đây tập trung rất nhiều bác sĩ giỏi. Nhìn lại năm qua, tôi thấy hiệu lực của sự cầu nguyện do toàn thể đệ tử Thầy trên thế giới đến nay đã dần trở thành hiện thực, sức khỏe của Thầy đang có nhiều tiến bộ.

Thầy vẫn còn đây trước mặt tôi. Người đang ngồi yên trên chiếc xe lăn, cảm xúc tôi dâng trào. Sư em Pháp Hữu nhẹ nhàng thưa: “Bạch Thầy, có sư chị Hoa Nghiêm vào thăm”. Thầy quay lưng lại nhìn tôi thật lâu. Tôi lặng yên cho những giọt nước mắt âm thầm rơi. Tôi nắm lấy bàn tay phải của Thầy. Bàn tay đã viết cả ngàn câu thư pháp, bàn tay đã sáng tác bao nhiêu tác phẩm đem lợi ích cho nhân loại. Bây giờ bàn tay này đang ngồi yên. Bữa cơm chiều, tôi ngồi nhìn Thầy dùng trong im lặng. Dáng Thầy vẫn thẳng, Thầy đưa từng muỗng thức ăn lên miệng rất từ tốn.

Tôi ở chơi được hai tuần và giúp nhóm thị giả nấu ăn. Các vị thị giả chia thành sáu nhóm, mỗi nhóm hai người thay phiên nhau chăm sóc. Những thầy thị giả đang có mặt để chăm sóc Thầy đa số đến từ Pháp. Tăng thân địa phương cúng dường thức ăn vài ngày trong tuần để các vị thị giả hoàn toàn lo chăm sóc Thầy. Không đủ người nấu ăn cho ban thị giả, ngoài những ngày được cúng dường thức ăn, những ngày còn lại các vị thị giả nhiều khi phải ăn mì gói, vậy thì làm sao có đủ sức. Gần đến ngày về lại Bích Nham, thầy Pháp Huy nhìn tôi cười nói: “Xin sư chị Hoa Nghiêm ở lại, làm thị giả của thị giả. Sư chị nấu cơm cho chúng em. Chúng em cũng cần được chăm sóc để có sức khỏe mà hầu Thầy. Sức khỏe của Thầy là trên hết chị à”. Tôi có tên trong danh sách những vị xuất sĩ trong các khóa tu ở Mỹ: Bích Nham, Mộc Lan và Lộc Uyển. Tôi rất muốn có mặt, nhân đó cũng là cơ hội thăm viếng các trung tâm ở Mỹ. Nhưng rồi tôi thấy, nếu ở lại, tôi có thể đóng góp rất nhiều cho ban thị giả. Hơn nữa, cơ hội được gần vị Thầy kính yêu là một phước đức lớn. Tôi quyết định hủy chuyến đi để ở lại với nhiệm vụ phụ nấu ăn cho thị giả và chăm sóc Sư cô. Đó là một chút tấm lòng của sư con, sư chị, sư em.

Ngày nào đẹp trời, thị giả đưa Thầy ra biển Golden Gate hứng gió và nắng, đêm về Thầy ngủ rất ngon. Từ ngày đến đây, tôi thấy lúc nào Thầy cũng ngồi ăn một mình trong phòng với thị giả. Anh Hương đề nghị với tôi là mình có thể ăn chung với Thầy. Chiều nay, tôi nấu nồi phở thật thơm. Anh Hương ra ngoài mua hai cái bánh táo (apple pie) thật ngon. Chúng tôi mời Sư cô và tất cả thị giả cùng vào ăn chiều với Thầy. Thầy trông rất vui khi thấy các sư con quây quần bên mình. Sau buổi ăn mọi người yêu cầu tôi hát tặng Thầy. Thầy nhìn tôi gật đầu. Tôi hát bài Lòng không bận về, bài mà Thầy ưa thích. Ngày xưa mỗi lần gặp tôi ở đâu Thầy thường bảo tôi hát cho Người nghe. Nghe như có tiếng đất trời gọi nhau, bất ngờ Thầy cùng hát theo và còn đưa tay trái lên như diễn tả lời bài hát. Chúng tôi nhìn Thầy cảm động. Anh Hương và sư em Định Nghiêm đôi mắt đỏ hoe, cổ họng tôi bỗng dưng nghẹn lại không hát tiếp được, tôi phải thở thật sâu mới không gián đoạn bài hát.

Tôi ở đó được hơn một tháng. Thời gian này, chuyến hoằng pháp cũng đã bắt đầu với sự có mặt của 45 vị xuất sĩ đến từ các trung tâm của Làng Mai trên thế giới: Pháp, Mỹ, Đức và Thái Lan. Ngày xưa cứ cách hai năm thì Thầy có chuyến hoằng pháp tại Mỹ. Chuyến hoằng pháp ở Mỹ năm nay thiếu vắng Thầy. Số lượng người ghi danh khóa tu không đông như những năm trước, nhưng lực lượng giáo thọ hùng hậu khiến chất lượng các khóa tu không giảm sút. Tôi nghe các sư em báo cáo lại là thiền sinh rất hạnh phúc với những bài giảng của các vị giáo thọ. Họ có niềm tin vào sự tiếp nối của Thầy.

Khi phái đoàn đến hướng dẫn khóa tu tại San Francisco thì đúng vào tháng Mười. Ngày sinh nhật của Thầy đã gần kề. Chúng tôi bàn tính tổ chức ngoài vườn. Rất vui là 40 vị xuất sĩ trong chuyến hoằng pháp có cơ hội được ghé thăm và tham dự ngày sinh nhật của Thầy. Hôm đó đúng là một ngày đặc biệt. Thầy trông rất rạng rỡ. Nhìn mọi người, Thầy nở nụ cười thật tươi. 40 vị xuất sĩ trong phái đoàn cùng với rất nhiều thân hữu Tiếp Hiện, tề tựu quanh Thầy. Tất cả chúng tôi niệm Bồ tát Avalokitesvara cúng dường Thầy, có tiếng đàn violon và guitar của hai sư em Thệ Nghiêm và Trai Nghiêm phụ họa. Trong khi niệm danh hiệu Bồ tát, Thầy giơ bàn tay trái lên và đưa ra như ngày xưa Thầy thường hay bắt ấn. Nhiều thầy cô đã không dằn được cảm xúc. Bánh sinh nhật được đem ra, chúng tôi hát mừng ngày tiếp nối Thầy 89 tuổi. Thầy cầm cây nến, quay quanh một vòng rồi đưa lại gần miệng và thổi nhẹ. Chúng tôi reo mừng khi cây nến phụt tắt. Sự có mặt của Thầy là một hạnh phúc lớn cho chúng tôi.

Tôi tháp tùng sư cô Chân Không đến tham dự khóa tu cho người Việt tại tu viện Lộc Uyển, có trên 200 người tham dự. Trở về lại chốn xưa, nơi tôi đã từng sống bốn năm, khung trời núi rừng dường như không thay đổi. Các sư bạn già đã lớn tuổi hơn, nhưng tình thương dành cho tôi vẫn trọn vẹn như xưa. Gặp lại những thân hữu, ai cũng mừng rỡ hỏi thăm, tôi thấy ấm lòng. Tấm chân tình của người xưa vẫn còn nguyên vẹn dù thời gian đã đi qua. Sống trong đời sống cần có một tấm lòng, đó là nội dung bài pháp thoại tôi chia sẻ trong khóa tu. Tôi không nghĩ là mình sẽ cho pháp thoại, nhưng núi rừng Lộc Uyển muốn tôi trang trải cõi lòng của người đi xa mới trở về. Tôi muốn tâm sự rằng: “Dù vật đổi sao dời, nhưng tấm chân tình thì sẽ không bao giờ thay đổi”. Khi nhắc về Thầy, tôi không dằn được cảm xúc, khiến bao cô chú rơi nước mắt theo. Có một lần tôi hỏi Thầy: “Thầy ơi, trong khi cho pháp thoại, mà bỗng dưng muốn khóc, con có nên đè nén không?”. Thầy nhìn tôi lắc đầu: “Tại sao đè nén, cứ khóc đi con”. Tôi liền nói: “Nhưng nếu con khóc trước mặt mọi người thì quê lắm”. Thầy nói: “Có sao đâu! Mình khóc mà biết là mình khóc thì không có gì quê cả”.

Chứng kiến sự chăm sóc của thị giả đối với Thầy, tôi thấy lòng biết ơn các sư em lắm. Có đêm Thầy không ngủ, thị giả thức cùng Thầy. Mỗi người đã có mặt chăm sóc Thầy bằng tất cả tấm lòng thương kính. Có đêm Thầy ngủ ngon giấc. Nhìn Thầy, tôi nhớ lại những chuyến đi hướng dẫn khóa tu cùng Người những năm về trước. Hình ảnh Thầy đứng trên bục giảng, hình ảnh Thầy hướng dẫn thiền hành trước hàng ngàn người trở về trong tôi. Thầy đã trao truyền rất nhiều tâm huyết của mình, thông điệp cuộc đời Thầy đã đi luân hồi khắp mọi nơi trong sự bình yên của con người. Tôi nhắm mắt trở về với hơi thở, mỗi hơi thở vào tôi niệm Bụt cầu nguyện Thầy mau lành bệnh.

Bà Peggy là một bác sĩ châm cứu cho Thầy mỗi ngày, nhà bà gần chỗ chúng tôi. Bà rất hào phóng, tất cả chúng tôi đều được bà châm cứu miễn phí. Thông thường lệ phí để trả cho một giờ châm cứu rất cao. Một lần sau khi châm cứu cho tôi xong, bà hỏi: “Tại sao quý vị lại thương yêu Thầy nhiều như thế? Thầy đã làm gì cho quý vị?”. Tôi mỉm cười nhìn bà: “Chúng tôi thương Thầy vì Thầy thương chúng tôi. Thầy đã nuôi dưỡng chúng tôi không chỉ bằng Pháp mà còn bằng tất cả tình thương yêu như một người cha ruột thịt. Đôi khi Thầy còn nấu những thức ăn ngon cho chúng tôi nữa. Thầy đã cho chúng tôi thật nhiều, không phải chỉ riêng cho học trò của Thầy thôi, mà Thầy đã cống hiến cả cuộc đời của mình cho nhân loại. Sự chăm sóc của chúng tôi có là bao”. Bà nhìn tôi gật đầu cảm động. Bà rất hết lòng, dù trời đã khuya bà vẫn không ngại đi bộ đến để châm cứu giúp Thầy ngủ ngon.

Tôi trở về Bích Nham để an cư. Ngày mồng 2 tết, tôi nhận được tin vui từ Định Nghiêm, sư em nói: “Trước tết Thầy bị đau bụng lắm và muốn về lại Pháp. Nhưng nhờ châm cứu và liệu pháp phản hồi thần kinh (neurofeedback), Thầy không còn đau nữa. Thầy lại còn tham dự Be-in với ban thị giả”. Sức khỏe của Thầy là niềm vui của chúng tôi. Tuy ở đây nhưng lòng tôi luôn hướng về Thầy. Mỗi sáng tôi vẫn cầu nguyện cho Thầy mau phục hồi sức khỏe. Ở Bích Nham, tuy không còn bên Thầy, nhưng tôi thấy gần Thầy trong từng hơi thở bước chân. “Thương Thầy là các con phải biết thương nhau”, đó là câu nói ngày xưa Thầy thường nhắc nhở chúng tôi. “Thầy không cần gì hết, Thầy chỉ cần chúng con thương nhau là đủ rồi”. Ngoài những giờ chia sẻ phương pháp thực tập, thỉnh thoảng, tôi mời các sư em đến phòng chơi. Dù không nói gì nhiều, chỉ cần ngồi có mặt cho nhau, cùng uống một chén trà, ăn một miếng bánh thì tình huynh đệ cũng sẽ dần lớn lên trong mỗi chị em, đó là nguyện vọng của Thầy.

Một năm đi qua

Khóa tu Holiday bắt đầu khi tôi ở Bích Nham đúng một năm. Năm nay số lượng người tham dự đông hơn. Trong bài pháp thoại sáng nay, thầy Pháp Khôi đặt câu hỏi cho thiền sinh: “Vì sao quý vị về đây tu học?”. Tôi cũng tự hỏi, tại sao họ có thể rời ngôi nhà ấm cúng tiện nghi để về sống trong một môi trường thiếu tiện nghi hơn, cho dù chỉ năm ngày, nhất là trong ngày tết. Đối với người Việt, tết là ngày để gia đình quây quần bên nhau, bên bàn thờ ông bà tổ tiên. Nhiều người chia sẻ, muốn tìm sự bình an cho tâm hồn, muốn trở về với chính mình, muốn tu học với tăng thân, mà sự cô đơn thì không ai nhắc đến. Tôi nhớ có một mùa Giáng sinh ở Pháp, tôi đã tiếp xúc với một cô thiền sinh Mỹ, cô đã tâm sự rằng, mỗi lần mùa đông về, nhất là mùa Giáng sinh và tết Tây, có rất nhiều người cảm thấy cô đơn. Cô là một trong số đó, và cô muốn tìm đến một nơi có thể tạo lập bình an cho tâm hồn. Họ rất cần một cộng đồng với những sinh hoạt hiền lành. Trong xã hội hiện tại, nhiều người lao mình vào những cuộc chơi không lành mạnh để trốn tránh khổ đau, cô đơn và bế tắc. Và rồi họ tuyệt vọng nhận ra, sau cuộc chơi, họ càng khổ đau, cô đơn và bế tắc hơn. Nhiều thiền sinh đã cám ơn Thầy và tăng thân có mặt đó, để tất cả cùng tạo nên môi trường bình yên, có phẩm chất tu học, giúp họ trở về với chính mình, và cảm thấy được che chở.

Đi tu thì dễ, duy trì sự tu mới khó

Sau khóa tu Holiday, chúng tôi được ba ngày nghỉ ngơi. Sáng nay đi vào phòng giặt, gặp sư em Trường Nghiêm đang xếp những chiếc ra trải giường. Năm nay chúng Bích Nham có thêm các sư cô từ Việt Nam và Thái Lan qua, tu viện vui và ấm cúng hơn. Chúng tôi thăm hỏi nhau chuyện trong chúng. Các em tôi xuất gia ngày mỗi đông. Con đường tu rất đẹp nhưng không ít những chướng ngại, không phải ai cũng thành công. Nhìn sư em, tôi nói: “Tu không phải dễ em há”. Sư em thưa: “Theo con tu thì dễ nhưng duy trì sự tu mới khó”. Tôi thấy đúng quá. Lúc mới xin tập sự xuất gia, bồ đề tâm của ai cũng cao ngất. Nếu có hỏi tâm xuất gia bao nhiêu phần trăm thì người nào cũng cương quyết cho là ước nguyện của mình đã hơn 100% rồi. Một vài năm sau thì tâm ban đầu bị hao mòn, không tìm thấy niềm vui trong sự tu học nữa, bất mãn nhiều thứ xâm chiếm tâm hồn, nghĩ rằng thầy không hiểu, các sư anh sư chị không thương, không thấy pháp môn tu học rõ ràng, văn hóa quá khác biệt,… Có muôn vàn lí do để không còn có thể tiếp tục nuôi lớn lý tưởng xuất trần. Sư em nói đúng, duy trì đường tu mới khó. Làm sao chúng ta đi trọn con đường mà không trở thành khúc củi bị vớt lên hay bị kẹt giữa dòng? Làm sao giọt nước ra đến đại dương mà không bị bốc hơi?

Mấy ngày qua trời cứ đổ những cơn mưa, sáng nay mưa lất phất, đại chúng đi thiền hành vào rừng. Dòng suối trong veo chảy mạnh hơn mọi khi, không gian được tô bởi một màu xám của mây và mưa, ẩn hiện dưới chân là những chiếc lá vàng khô. Chợt nghĩ đến đời tu, tôi thấy mình đã vượt qua nhiều chông gai, chứ không phải hành trình tôi đi chỉ là bãi cỏ êm ái trải đầy hoa. Tôi nhận ra, sở dĩ tôi không bỏ cuộc là nhờ lòng biết ơn trong tôi thật lớn. Nhìn dòng suối chảy róc rách đổ xuống từ đồi cao, tôi liên tưởng tới câu thư pháp Thầy viết mà tôi rất thích: Đừng phụ suối đồi. Tôi không thể phụ lòng Má tôi và gia đình huyết thống. Má tôi rất mong muốn các con lo tu và đi trọn con đường, các chị em tôi cũng vậy. Tôi càng không thể nào phụ lòng Thầy tôi. Thầy đã dùng hết tâm huyết của mình để trao truyền cho học trò những pháp môn tu học, giúp chuyển hóa khổ đau, đưa đến chân hạnh phúc, đưa đến sự giải thoát hoàn toàn của một bậc giác ngộ. Dĩ nhiên tôi biết mình chưa đạt được điều đó, nhưng tôi tìm thấy được niềm vui trong sự tu học, niềm vui trong sự buông bỏ những tham đắm của cuộc đời. Tôi cũng không muốn phụ lòng các sư chị, sư anh và sư em của tôi trong gia đình tâm linh. Tình huynh đệ cũng đã giúp tôi đi qua những bước khó khăn trong đường tu. Tôi thấy mình có niềm tin vào pháp môn, có niềm tin vào Thầy và tăng thân.

Thầy thường hay nhắc nhở chúng tôi: “Ngày nào con còn biết ơn, ngày đó con còn hạnh phúc”. Thầy đã cho chúng tôi một con đường, và tôi tiến bước trên con đường đó cho đến hôm nay là do lòng biết ơn trong tôi không bao giờ cạn.

 

Em tôi

Các sư em thương mến!

Khi còn nhỏ, chị có cơ duyên thích học những bài kinh Pháp cú. Thích học, có lẽ vì nó ngắn, chỉ có bốn câu thôi, như:

Như mái nhà vụng lợp

Nước mưa dễ thấm vào

Cũng vậy tâm không tu

Tham dục dễ xâm nhập

(Kinh Pháp cú số 13)

Như mái nhà khéo lợp

Nước mưa khó thấm vào

Cũng vậy tâm khéo tu

Tham dục khó xâm nhập

(Kinh Pháp cú số 14)

Các sư em, những ngày chị ở đây cùng với các sư em tu tập, thỉnh thoảng chị lại nhớ về những ánh mắt, nụ cười hồn nhiên và trong sáng của các sư em Bát Nhã ngày trước. Thấm thoắt mà đã mười năm rồi, nhanh quá các sư em nhỉ! Những ánh mắt, nụ cười hồn nhiên năm nao ấy vẫn đang biểu hiện khắp nơi, không những ở đây mà đang được tương tục trong mỗi sư em TrờiTrăng.

Các sư em thương quý, năm nay đối với chị là một năm tròn đầy với bao niềm biết ơn và hạnh phúc. Không biết cái duyên hay là cái số, tất cả các chuyến đi trong năm nay của chị đến nơi nào cũng theo duyên đổi vé ở lại. Nhờ vậy mà chị có cơ duyên được gặp gỡ và tiếp cận với các sư em Bát Nhã thân thương ngày trước đang tu học tại các trung tâm ở Làng Mai Pháp, Đức, Hồng Kông, Việt Nam, Thái Lan. Gặp lại, cùng tu cùng học với các sư em, đặc biệt là các sư em trẻ mang chữ Trăng mà chị chưa bao giờ gặp. Nhìn các sư em, chị vô cùng cảm kích. Các sư em đã có đủ dũng mãnh khước từ đời sống vật chất mà hiện nay thế hệ trẻ chạy theo để bước vào chùa sống đời sống đơn giản, để tìm lại con người thật của chính mình. Tại sao các sư em không chọn những ngôi chùa to lớn mà lại chọn tăng thân? Trong khi đó thì tăng thân lại chưa có một mảnh đất chính thức trên chính quê hương của mình. Có phải chăng, các sư em đến với tăng thân, gởi mình vào tăng thân là các sư em đã chạm được ngôi chùa an trú, nếp sống đơn giản để có thời gian nuôi lớn bồ đề tâm, tâm thương yêu của các sư em.

Bồ đề tâm là tâm thương yêu. Tâm thương yêu đó còn có ba nghĩa: Thứ nhất là trực tâm (chân tâm, tâm ngay thẳng). Thứ hai là thanh tâm và thứ ba là đại bi tâm. Đại bi tâm phải luôn được hun đúc và nuôi dưỡng trong ba yếu tố của tín lực, hạnh lực nguyện lực. Là người xuất sĩ, các sư em đã gởi mình vào chốn già lam rồi thì hãy hết lòng thực tập, trau dồi thân tâm mình ngày một vững chãi, tiến gần đến ước nguyện đẹp đẽ ban đầu của mình. Trên bước đường tu học, có những lúc gặp phải những hoàn cảnh bất như ý, các sư em hãy nhớ đừng đánh mất anh nhi hạnh của mình. Hãy giữ tâm của mình cho nguyên sơ, trong sáng như khi mình mới bước vào chùa sống với đại chúng, nhìn cái gì các sư em cũng thấy đẹp, cũng thấy linh thiêng. Ngày xuống tóc, các sư em được mặc chiếc áo nhật bình, cảm giác sung sướng, nhẹ nhàng tràn đầy trong tâm. Mình thấy chiếc áo nâu tuy giản dị, nhưng thật đẹp và linh thiêng. Được ai chỉ bảo điều gì, các sư em đều chắp tay đón nhận. Đầu ngày gặp ai các sư em cũng thực tập chắp tay sen búp xá chào, những cử chỉ ấy thanh cao và đẹp làm sao! Các sư em học Tỳ ni thi kệ, mỗi bài giúp cho các sư em vun bồi chánh niệm trong mỗi lời nói nhỏ nhẹ, đàng hoàng. Bốn nét oai nghi đi, đứng, nằm và ngồi lúc nào cũng cẩn trọng, cũng giữ gìn, làm gì cũng để ý hết lòng.

Tâm ban đầu của các sư em đẹp và trong sáng vậy đó. Nhưng rồi ở trong chúng một thời gian, cái tâm đó trở nên quen thuộc với mọi thứ, thấy mọi sự sinh hoạt diễn ra hằng ngày trong chúng thật tầm thường, nên các sư em không còn trân quý những điều kiện trong tầm tay như buổi ban sơ. Các sư em ít còn để ý chăm sóc tới anh nhi hạnh ban đầu của mình nữa. Rồi các sư em có thể nghĩ rằng, bởi do công việc nhiều, không đủ thời gian, không gian trong tâm. Từ đó, các sư em va chạm với người này, đụng với người kia, thấy những ý của sư anh này, sư chị nọ, sư em kia không đúng với cái ý của mình. Các sư em buồn khổ, trách móc, đòi hỏi… Cái tâm xem thường, bất mãn cũng theo đó mà trỗi dậy. Các sư em cho phép mình sống theo bản tính ưa thích, mở cửa cho năng lượng tập khí điều khiển mình. Khi đó các sư em không còn dễ dàng tiếp nhận sự giáo dưỡng nữa. Cái tâm thuần thục, kính trên nhường dưới biến đâu mất. Khi đó các sư em sẽ đánh mất trái tim ban sơ, bình dị, mất tâm hồn trong sáng, mất chí nguyện yêu thương ban đầu của mình và mất luôn giá trị thiêng liêng trong đời sống mà các sư em đã tiếp nhận được trong những ngày chập chững bước chân vào chúng.

Các sư em thương, dù ở hoàn cảnh nào, có khó khăn gì trong nội tâm chăng nữa, chị cũng mong ước và gởi gắm đến các sư em của chị, hãy cùng nhau trở về với tâm trong sáng, tâm chân thật của mình. Thể hiện bản tâm trong sáng qua sinh hoạt hằng ngày, trang nghiêm thanh tịnh trong mọi cử chỉ và tư duy. Và nhớ rằng, ngoài vườn cây vẫn xanh, giọt nắng vẫn long lanh, tuyết vẫn trắng và mây trắng vẫn thong dong.

Thương mến,

Sư chị Cây Dừa.

 

Thăm Thầy

Con đến thăm Thầy một sớm mai
Vườn xuân thanh vắng, nắng rơi đầy
Chén trà thơm ngát căn phòng nhỏ
Yên lặng bên Thầy trong phút giây
 
Con đến thăm Thầy một sớm mai
Đàn chim ríu rít, suối reo cười
Lẳng lặng bên Thầy con nhẹ bước
Năng lượng Thầy hiền con thở yên
 
Con đến thăm Thầy một sớm mai
Vườn hoa trời rét tưới cùng Thầy
Hiên nhà hoa rụng trong màu nắng
Buổi mai hiền như một khúc thơ
 
Con đến thăm Thầy lúc khổ đau
Thầy dạy con: “Nhớ gọi tên Thầy
Tin rằng Thầy vẫn cùng con đó
Trên nẻo đường con gặp gian nguy
 
Hôm nay như sớm mai xưa ấy
Con lại qua đây, đến thăm Thầy
Gió vẫn còn lay hoa vẫn nở
Bước chân Thầy trong bước chân con.

Con thuyền tăng thân

Thầy Chân Pháp Hộ sinh ra và lớn lên tại Stockholm, Thụy Điển. Năm 29 tuổi thầy rời Thụy Điển đi Ấn Độ. Chuyến du lịch và tìm một con đường tâm linh ấy đã tạo duyên cho thầy đến Làng Mai, nơi thầy xuất gia vào năm 2003. Mùa đông năm nay (2015), thầy về an cư ở Làng Mai, sau 10 năm sống và thực tập tại Lộc Uyển. Từ năm 2010 đến nay, thầy là trụ trì xử lý thường vụ tại tu viện Lộc Uyển.

 

BBT: Năm 2009, Sư Ông chia sẻ với đại chúng về một bức thư thầy viết cho Sư Ông, trong đó thầy đã nói rằng không phải là thầy đang đi trên con thuyền Tăng thân mà thầy chính là con thuyền ấy, và vì vậy, cho dù con thuyền có bị chìm thì thầy cũng sẽ không nghĩ đến chuyện nhảy ra khỏi nó. Thường thường chúng ta hay viết thư cho Sư Ông sau khi vượt qua một khó khăn. Câu chuyện đằng sau tuệ giác đó là gì, thưa thầy?

Thầy Pháp Hộ: Đầu tiên thì có lẽ đó là một cái thấy, một tuệ giác. Nhưng Sư Ông luôn dạy rằng những tuệ giác như vậy cần được duy trì không ngừng như một định lực, hay nói cách khác là chúng ta phải sống với tuệ giác mà chúng ta có được. Điều này rất khó, nhưng nếu làm được như vậy thì đời sống của chúng ta sẽ luôn thấm nhuần và tỏa chiếu tuệ giác ấy.

Kể từ khi bước vào tăng thân, con nghĩ là mình có một chí nguyện khá rõ ràng. Tận đáy lòng, con biết là con muốn sống ở đây, con cần phải ở đây. Nhưng điều đó vẫn không ngăn được sự hoang mang và nghi ngờ đi lên khi con gặp khó khăn. Trước đây, khi có một huynh đệ rời chúng, con hay tự hỏi không biết nếu con rời chúng thì sẽ như thế nào. Rồi đến một lúc, con nhận ra là mình cần phải nuôi dưỡng và làm lớn mạnh cam kết của mình đối với tăng thân. Điều đó có nghĩa là con cần phải nuôi lớn tình thương đối với tăng thân, với huynh đệ của mình, một sự “vướng mắc” lành mạnh, để khi sự nghi ngờ phát khởi, hay lúc có khó khăn, con sẽ không dễ dàng rời bỏ tăng thân, vì con đã thương huynh đệ rất nhiều. Chính tình thương đối với tăng thân và huynh đệ là cái có thể bảo hộ và duy trì cuộc đời xuất gia của con. Đó là một thực tập cụ thể mà con cố gắng hành trì.

Thực tập cụ thể thứ hai là con viết thư bày tỏ với Sư Ông, rằng nếu con có tâm nghi ngờ và muốn rời bỏ tăng thân thì con không bỏ chạy ngay, ngược lại, con quyết tâm sẽ ở lại một năm trong chúng để chia sẻ với quý thầy, để nhìn sâu hơn vào những khó khăn và để biết chắc chắn rằng đó là điều mình muốn làm. Những thực tập và trải nghiệm ấy đã đưa đến tuệ giác về tăng thân mà con đã chia sẻ với Sư Ông.

BBT: Thầy có nghĩ rằng trách nhiệm trụ trì tu viện Lộc Uyển đã giúp thầy có cái thấy sâu sắc rằng mỗi chúng ta là một yếu tố làm nên con thuyền tăng thân? Xin thầy chia sẻ đôi điều về cái thấy ấy.

Thầy Pháp Hộ: Trong chuyến hoằng pháp châu Á năm 2010, tại Malaysia, thầy Pháp Dung hỏi con có hoan hỷ làm trụ trì xử lý thường vụ trong thời gian thầy về Làng ba tháng hay không. Con nói: “Dạ được, con sẽ thử”. Con hỏi thầy Pháp Dung có lời chỉ dẫn nào cho con không. Thầy bảo con chỉ cần làm một tờ giấy trắng là được. Thầy Pháp Dung khá hiểu con nên thầy biết điều gì con cần thực tập khi làm công việc này. Con có dịp làm việc gần thầy Pháp Dung một vài năm, vì vậy mà con có cơ hội quan sát và học hỏi rất nhiều ở cách thầy chăm lo cho tăng thân, tuy con và thầy có tính cách rất khác nhau.

Trong chuyến hoằng pháp Bắc Mỹ năm 2010, Sư Ông đã chính thức bổ nhiệm con làm trụ trì xử lý thường vụ của tu viện Lộc Uyển. Cho đến nay con vẫn tiếp tục vai trò ấy. Thực tâm con nhận trách nhiệm đó trước hết là vì con thấy nó là một sự huấn luyện để mình có thể phụng sự và yểm trợ cho tăng thân. Trong tác phẩm Sống chung an lạc, Sư Ông dạy rằng, vai trò của một vị trụ trì là lúc nào cũng có mặt cho mọi người, tìm cách phát hiện tài năng cũng như những cái đẹp của mỗi cá nhân trong tăng thân, và giúp nuôi dưỡng những cái đẹp ấy. Trách nhiệm ấy có vẻ hơi khó nhưng con cũng có cảm hứng để làm thử.

Con thấy giữ thái độ cởi mở để đến chơi và làm việc được với tất cả huynh đệ, tránh trường hợp chỉ hợp ý với một vài người trong chúng, là một thực tập rất quan trọng. Con thường tìm đến với nhiều huynh đệ khác nhau để nhờ giúp đỡ về mặt này hay mặt khác. Không phải tất cả mọi người trong đại chúng đều có cùng một mong đợi hay kỳ vọng nơi vị trụ trì, vì vậy mà sự thực tập và phụng sự của con càng trở nên năng động.

Cương vị này giúp con ý thức hơn về tập khí cầu toàn trong công việc, đồng thời tập cho con phải dành đủ thì giờ để lắng nghe và trò chuyện với huynh đệ, cũng như đủ thì giờ để nhìn sâu vào những gì đang xảy ra. Có rất nhiều điều mà con cần phải học hỏi. Nhưng mọi sự thực tập đều quay về điểm mấu chốt là an trú trong hiện tại.

Một số thiền sinh tò mò hỏi con có phải là trụ trì hay không. Khi được hỏi, con hay nói rằng con chỉ là người làm công việc yểm trợ tăng thân, tạo điều kiện và khích lệ khả năng của mọi người trong chúng, ngoài ra con cũng phối hợp với ban chăm sóc và tri sự để công việc trong chúng được trôi chảy. Tăng thân nắm quyền quyết định những việc quan trọng trong chúng, không phải vị trụ trì.

Sau ba năm làm trụ trì, con được một thầy soi sáng: “Trong hai năm đầu tiên, thầy Pháp Hộ rất căng thẳng, nhưng giờ thì thầy làm khá lắm”. Đó chính là nhờ tình thương và sự dìu dắt của đại chúng. Qua đó, con thấy chúng ta cần lắng nghe những phản hồi từ đại chúng, chiêm nghiệm và cố gắng chỉnh sửa những gì chưa hay một cách khéo léo. Tăng thân sẽ biết, sẽ thấy sự tiếp nhận ấy của chúng ta.

Về Làng an cư trong mùa đông năm nay là một dịp để con dừng lại và nhìn sâu vào một số vấn đề, thí dụ như làm thế nào để con có thể sống hòa điệu hơn, khéo léo hơn trong đại chúng. Sư cô Diệu Nghiêm chia sẻ rằng, sư cô thấy có ít nhất ba lĩnh vực cần được chăm sóc trong tăng thân: thứ nhất là xác định hướng đi của tăng thân; thứ hai là tổ chức-hành chánh; và thứ ba là ôm ấp và gắn kết mọi người trong đại chúng bằng tình yêu thương. Vị trụ trì có thể là người yểm trợ tăng thân trong các lĩnh vực kể trên, nhưng không nhất thiết luôn phải là người làm những công việc đó. Con xem đây như là một kinh nghiệm để con quán chiếu và nhìn sâu hơn về cách con thực tập và phụng sự tăng thân. Duy trì ý thức không có gì tồn tại vĩnh viễn cũng giúp con rất nhiều.

Con thấy khi Sư Ông hoặc tăng thân đề nghị ai đó nhận một trách nhiệm trong chúng, chúng ta thường nhận lời một cách miễn cưỡng, và như vậy thì chúng ta không cho phép mình cống hiến một cách hết lòng. Chúng ta hay nói: “Con không đủ khả năng, con chưa đủ lớn… con chưa được thế này… con chưa được như thế kia…” Đó là lý do tại sao khi thầy Pháp Dung hỏi con có nhận làm xử lý thường vụ không, con đã nhận lời. Con nguyện đảm đương trách nhiệm ấy một cách hết lòng trong khả năng của mình và con cũng cho phép mình phạm những sai lầm, vụng về khi làm công việc này. Con không có mặc cảm tự tôn hay tự ti gì hết. Con xem đó là một phương tiện giúp con trưởng thành trong sự tu tập.

BBT: Tăng thân đang phát triển, đại chúng càng ngày càng lớn. Quý thầy và quý sư cô lớn phải gánh vác nhiều trọng trách. Có rất nhiều tài năng trong tăng thân nhưng để tìm người thích hợp có thể giúp những vị lớn là một điều không dễ. Thầy nghĩ sao về vấn đề này? Các sư em có thể giúp như thế nào?

Thầy Pháp Hộ: Con nghĩ chúng ta cần phải nhìn vào cách sống của mình, nhất là vào sự thực tập để thấy mình đang đầu tư năng lượng vào đâu. Trong một bài pháp thoại, Sư Ông có dạy rằng, công việc của chúng ta không phải là lau chùi nhà vệ sinh hoặc làm công việc giấy tờ… Công việc của chúng ta là nhìn sâu vào cái mà chúng ta đang làm. Dĩ nhiên tùy thuộc vào kinh nghiệm và tính cách riêng mà mỗi người có khả năng làm những công việc khác nhau. Người này biết làm vườn, người kia có khả năng nấu những món ăn vừa ngon vừa lành cho đại chúng, người nọ tự nguyện đảm trách công việc hành chánh văn phòng. Mỗi người mỗi việc, việc nào cũng cần thiết và quan trọng như nhau. Không cần mặc cảm.

Một yếu tố quan trọng nữa là tất cả chúng ta cần hết lòng cống hiến thời gian, sức lực và tài năng của mình. Nếu chúng ta quá khép mình thì cuộc sống sẽ kém phần thú vị và mất đi nhiều ý nghĩa. Chúng ta cần thoát ra khỏi những chướng ngại nội tại đang giam cầm và cô lập chúng ta. Điều quan trọng là phải tạo điều kiện để tất cả mọi người trong tăng thân được phát triển khả năng và tiềm năng của mình, giúp cho những tiềm năng ấy được thăng hoa trong đời sống tăng thân.

Phần lớn chúng ta đều không sống trong tu viện trên chính đất nước mà mình sinh ra và không nói tiếng mẹ đẻ trong cuộc sống hàng ngày. Điều đó trở thành một vấn đề lớn của tăng thân. Có được một chút hiểu biết về văn hóa, nói được tiếng nói của người bản xứ, dù là căn bản, sẽ làm chúng ta thấy thoải mái khi tiếp xúc với thiền sinh, thấy gắn bó hơn với phong tục tập quán và đất nước ấy. Đây là một sự rèn luyện. Dần dần chúng ta sẽ có thể ra ngoài mua sắm cho đại chúng, hoặc có thể tiếp xúc với những người cung cấp các dịch vụ cần thiết cho tu viện.

Một điều rất quan trọng là các sư anh, sư chị cần thực tập để không can thiệp vào việc mà các sư em đang làm, không nên quá “nhiệt tình” giúp đỡ (cái này con chưa giỏi lắm). Dĩ nhiên là khi mình tự làm thì công việc sẽ chạy hơn nhiều, nhưng về lâu về dài, để cho các huynh đệ khác tập làm thì mới có sự tiếp nối và trao truyền được. Vì vậy, chúng ta phải có niềm tin. Niềm tin này sẽ lớn lên khi chúng ta nuôi dưỡng lòng biết ơn và trân quý các huynh đệ của mình. Chúng ta chỉ cần hướng dẫn cặn kẽ và có niềm tin rằng chắc chắn các huynh đệ sẽ làm được, rồi chúng ta buông công việc đó ra.

Đối với con, việc chăm sóc các em tập sự xuất gia hoặc các sư em chính là một sự đầu tư, là thêm một bước nữa trong việc con thực hiện cam kết gắn bó với tăng thân. Sự đầu tư vào thế hệ trẻ rất thiết yếu trong việc xây dựng một tăng thân xuất gia vững mạnh.

Rất nhiều lần Sư Ông dùng hình ảnh của một bàn tay để nói về tăng thân. Bàn tay sẽ không làm được gì nếu tất cả các ngón đều là ngón cái hoặc là ngón út. Chúng ta cần có nhau. Nuôi dưỡng ý thức này là một điều quan trọng. Không phải ai cũng cần nói tiếng Anh lưu loát, không phải ai cũng phải nấu ăn ngon hay biết chơi với trẻ con. Đối với một số người, học một ngoại ngữ là rất khó nhưng họ lại rất khéo tay, hoặc lại rất dễ đến với huynh đệ trong chúng. Chúng ta cần phải biết thế mạnh của từng người và giúp nhau thăng hoa để được là chính mình.

BBT: Mối quan tâm lớn của thầy về bảo hộ sinh môi đã giúp thầy khởi xướng những thực tập trong tăng thân để bảo hộ đất Mẹ. Xin thầy giải thích một cách chính xác với ngôn ngữ dễ hiểu nhất về vấn đề “Biến đổi khí hậu bất thường của trái đất” để mọi người có thể hiểu thêm và dễ hành trì.

Thầy Pháp Hộ: Cách đây ba năm, tự nhiên có một câu hỏi đi lên trong con là nếu nhìn lại đời tu của mình, có thể là sau hai mươi năm nữa, con đã sử dụng thời gian và năng lượng của mình như thế nào? Con có điều gì để ân hận hay hối tiếc không? Thật đáng ngạc nhiên là câu trả lời đã đến với con ngay lập tức và rất rõ ràng: con cần phải tìm ra phương thức để kết hợp một cách thiết thực sự thực tập của mình với vấn đề biến đổi khí hậu bất thường. Bởi vì nếu môi trường sinh thái không hoạt động bình thường và thiên nhiên không có sự quân bình thì sẽ không có gì tồn tại được. Khi đó con cũng đang tham gia khá nhiều hoạt động, nói chung là con thấy mình cũng đã có đủ việc để làm rồi. Nhưng trong quyển sách Hướng đi của đạo Bụt cho hòa bình và sinh môi, Sư Ông có dạy rằng chúng ta không thể nói là chúng ta quá bận rộn, không có thì giờ để cứu hộ sinh môi. Vì vậy điều đầu tiên con nghĩ đến là tạo một trang blog tên là “Earth Holding Blog”. Con đem đề nghị này trình lên Hội đồng giáo thọ của tu viện Lộc Uyển và tất cả mọi người đều đồng ý. Con thấy rất được yểm trợ. Sự yểm trợ ấy cũng là một cách hành động. Cho đến nay trang blog ấy vẫn còn đang hoạt động (earthholdinghereandnow.org). Con đang cố gắng mời thêm các vị xuất gia và các vị Tiếp Hiện khác tham gia.

Tăng thân Earth Holder

Khi bắt đầu đọc và tìm hiểu thêm về vấn đề biến đổi khí hậu, con thấy có quá nhiều thông tin và dữ liệu khoa học về vấn đề trái đất bị hâm nóng, nhưng đôi khi vấn đề này có vẻ khá trừu tượng với chúng ta. Một thực tế mà chúng ta có thể thấy rõ là nhiệt độ trái đất đang tăng dần. Con người chúng ta đã làm nồng độ khí nhà kính tăng lên (nhất là khí CO2), khiến cho các tia bức xạ mặt trời bị giữ lại trong khí quyển, dẫn đến tình trạng trái đất bị nóng lên. Hiện tại, nhiệt độ trên bề mặt trái đất đã tăng lên khoảng 0.70 C. Mức độ tập trung của CO2 trong khí quyển là 400 phần triệu, cao hơn rất nhiều so với thời kỳ tiền công nghiệp. Con số tương đối để bảo đảm an toàn cho sự sống trên trái đất là 350 phần triệu. Hiện tại, lượng khí thải nhà kính không hề giảm xuống, điều này có nghĩa là lượng khí CO2 sẽ lưu lại trong khí quyển trong nhiều thập niên. Các đại dương hấp thụ rất nhiều khí CO2, vì vậy cũng góp phần làm giảm bớt sự nóng lên toàn cầu, song lượng khí CO2 trong nước biển làm gia tăng độ acid, gây ảnh hưởng có hại tới sinh vật biển.

Mực nước biển đang dâng lên cao vì các tảng băng ở Nam Cực, Bắc Cực và Greenland đang tan rã. Những tảng băng trên các dãy núi cao cũng đang tan. Không có lớp băng bảo vệ để phản xạ nhiệt, 90% nhiệt lượng của mặt trời có thể chiếu thẳng xuống mặt nước, do đó đẩy nhanh quá trình hâm nóng toàn cầu. Tình trạng tan băng cũng sẽ kéo theo sự suy giảm lượng mưa, hạn hán và nạn khan hiếm nước trầm trọng.

Tầng đất đóng băng vĩnh cửu ở những vùng lãnh nguyên (tundra, nơi lạnh nhất của tất cả các quần xã sinh vật. Nó gắn liền với băng vĩnh cửu, nhiệt độ cực thấp, ít mưa, các chất dinh dưỡng kém và mùa sinh trưởng ngắn) ở Siberia bắt đầu tan, phóng thích lượng khí nhà kính tích trữ trong đất vào không khí. Rừng nhiệt đới là lá phổi của Địa cầu chúng ta, nơi vừa lưu trữ vừa hấp thụ bớt khí thải CO2. Khi cây rừng bị chặt phá, các loài thực vật sẽ trở nên thưa thớt và khô cằn, thậm chí chúng sẽ thải ra khí CO2 thay vì hấp thụ nó. Hiện nay, việc đốt rừng để lấy đất sản xuất nông nghiệp (chẳng hạn như để làm các đồn điền sản xuất dầu cọ tại Indonesia) đang trở thành vấn nạn toàn cầu. Đây cũng là một nguy cơ khác đang đe dọa chúng ta.

Ngoài ra, còn có những lĩnh vực mà chúng ta đã góp phần trực tiếp hay gián tiếp vào việc làm tăng lượng khí gây hiệu ứng nhà kính: khí thải từ các thiết bị như máy lạnh, máy sưởi, khí thải từ xe cộ, từ quá trình sản xuất thức ăn công nghiệp, trong đó ngành công nghiệp chăn nuôi là ngành đứng đầu trong việc phát thải khí nhà kính. Vì vậy, chúng ta có thể đóng góp vào việc cứu hộ sinh môi bằng cách nhìn lại hướng tiêu thụ của mình, đặc biệt là việc tiêu thụ các sản phẩm từ động vật.

Khi sử dụng các thực phẩm như thịt, sữa… chúng ta nên tự hỏi mình có đang góp phần tạo nên khổ đau cho các loài động vật hay không. Qua những hình ảnh quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, chúng ta lầm tưởng rằng những quả trứng gà hay những miếng thịt bò có vẻ như đến từ những con bò, con gà hạnh phúc. Chúng ta đã bị đánh lừa. Chúng ta không biết rằng những con bò con vừa lọt lòng đã bị tách ra khỏi mẹ ngay lập tức và sẽ được nuôi riêng rẽ để giết thịt. Những con bò mẹ thường xuyên bị thụ tinh nhân tạo để cho sữa liên tục. Thông thường các con bò sữa bị nhốt trong chuồng suốt cả ngày và chỉ đứng yên một chỗ, không được đi lại tự do. Đó là một sự khai thác tồi tệ nhất mà chúng ta có thể hình dung. Cuộc đời một con bò sữa nuôi bằng cách đó chỉ dài bằng một phần ba cuộc đời của một con bò được nuôi trong môi trường tự nhiên.

Trồng ngũ cốc và rau để phục vụ ngành chăn nuôi cũng là một sự lãng phí tài nguyên. Thay vì trồng trọt để nuôi những đồng loại đang đói khổ, chúng ta dùng nông phẩm để chăn nuôi thú vật rồi giết chúng để ăn thịt. Thử lấy một thí dụ về phương thức sản xuất thực phẩm hiện đại để thấy sự khác biệt quá lớn với cách sản xuất tại địa phương. Ở Hoa Kỳ, ngũ cốc chỉ được trồng ở một số vùng nhất định, gia súc chỉ được nuôi tập trung ở một số khu chăn nuôi lớn, sau đó được vận chuyển tới một số lò mổ nhất định. Vì vậy, ngũ cốc, gia súc và thịt được vận chuyển từ nơi này sang nơi khác tạo ra vấn đề “đường đi của thực phẩm” hay “dặm thực phẩm” (food miles), tức là quãng đường vận chuyển lương thực, thực phẩm. Quãng đường vận chuyển càng lớn thì càng tốn nhiều năng lượng, đồng nghĩa với lượng khí thải CO2 càng tăng.

Ngoài ra, chúng ta cũng cần nhắc đến nạn bất công về khí hậu. Cách sống và tiêu thụ của các nước phát triển có liên hệ vô cùng mật thiết đến sự ô nhiễm môi trường và sự khủng hoảng về khí hậu mà chúng ta hiện đang phải đối diện. Trong khi đó, những nước nghèo nhất, cũng là những nước có phương tiện eo hẹp nhất để đối phó với sự thay đổi khí hậu bất thường lại là những nước gánh chịu hậu quả nghiêm trọng nhất. Có thể xem đây là một sự bất công.

Những cơn bão lớn, thậm chí khi chúng xảy ra ở những nước tiên tiến như Hoa Kỳ, bao giờ cũng gây ra những thiệt hại to lớn về con người và về kinh tế. Ở những nước ấy, dù sự trợ cấp cho dân chúng khi có thiên tai rất chu đáo, sự khổ đau của họ vẫn vô cùng ghê gớm. Khi Philippines bị bão, Syria bị hạn, Bangladesh bị lụt lội… chúng ta sẽ thấy mức độ khổ đau của con người càng trầm trọng bởi vì đó là những nước kém phát triển. Số lượng người tị nạn khí hậu càng ngày càng tăng.

Biết bao loài đã bị tuyệt chủng vì môi trường sống của chúng bị ảnh hưởng trầm trọng. Vòng tuần hoàn của mưa và hạn hán cũng thay đổi. Và hiện tượng tuyệt chủng hàng loạt lần thứ 6 đã bắt đầu diễn ra. Vì vậy, chúng ta cần nhận diện và ý thức rằng những hoạt động của con người trên trái đất, bao gồm sự khai thác và sử dụng các nhiên liệu hóa thạch (dầu lửa, khí đốt và than đá) là nguyên nhân chính gây ra tình trạng nói trên. Đó là các loại nhiên liệu không thể tái tạo được. Chúng ta có thể thấy các quốc gia, các tập đoàn lớn đang tranh giành tài nguyên ở khắp nơi trên thế giới. Và chúng ta cũng thấy nhân lực, cầm thú và khoáng sản đã và đang bị khai thác một cách không thương tiếc để đáp ứng sự tham lam của con người.

Đó là những lý do vì sao con cảm thấy, như một tăng thân, chúng ta phải kiên quyết dừng lại để không góp phần vào vấn nạn này. Chúng ta phải học cách thức thay đổi cách sống. Sư Ông đã cho một bài pháp thoại rất mạnh ở Lộc Uyển về việc tăng thân nên thực tập tiêu thụ ít lại và sử dụng nhiều hơn các loại nhiên liệu có thể tái tạo. Đây không phải là những phát kiến mới bởi vì Sư Ông đã khởi xướng con đường này nhiều thập niên về trước. Năm 1971, Sư Ông và sư cô Chân Không đã giúp tổ chức một hội nghị về môi trường ở Menton có chủ đề chính là vấn đề bùng nổ dân số. Cuối cùng có khoảng 2000 nhà khoa học đã ký tên vào hiệp ước Menton. Năm 2008, nhờ sự góp sức của quý thầy, Lộc Uyển đã sử dụng năng lượng mặt trời cho toàn tu viện.

Tấm thu năng lượng mặt trời tại tu viện Lộc Uyển

Nếu chúng ta là con của Bụt, là đệ tử của Sư Ông, chúng ta cần nhìn thấu sự khổ đau của thời đại để có thể tìm ra phương thức tu tập nhằm giảm thiểu sự đóng góp của mình vào khổ đau đó, đồng thời giúp người khác ý thức rõ hơn về vấn nạn này. Con thấy đây là trách nhiệm tối thiểu của chúng ta. Nếu không bị đánh động bởi những hành động dấn thân của Sư Ông trong các vấn đề về môi trường cũng như các vấn đề xã hội mà thế giới đang phải đối diện thì con đã không trở thành một vị xuất sĩ trong truyền thống Làng Mai.

Mùa xuân năm nay, tại Lộc Uyển sẽ có khóa tu Earth Holding lần thứ hai, diễn ra từ 28.04 – 01.05.2016. Để tìm hiểu thêm về khóa tu này, các bạn có thể xem thông tin trên trang mạng earthholder.orgblog earthholdinghereandnow.org.

BBT: Xin cảm ơn thầy.

 

Về với đất Mẹ

Xin hôn lên đất Mẹ
Những bước chân đầu ngày
Ung dung
Nhẹ nhàng
Thơm mùi tinh khôi buổi sáng.

Cám ơn Mẹ đã cho con những tháng ngày hạnh phúc
Đã cho con những tiếng cười giòn giã
Đã cho con biết thương yêu hương hoa đồng nội
Biết trân quý những điều đẹp lành đơn giản
Biết tận hưởng không gian bao la của đất trời.

Con muốn trở về bên Mẹ
Lặng im nghe hơi thở Mẹ trao
Con muốn trở về bên Mẹ
Sám hối tất cả những lỗi lầm con đã gây ra
Những đau thương, vô tình con đã gởi vào đất Mẹ.

Con muốn trở về bên Mẹ
Có mặt trọn vẹn cho Mẹ
Không hờn dỗi, oán trách
Không đòi hỏi, buồn phiền
Con nguyện trở về bằng trái tim lành lặn an vui
Cất lên những khúc hát yêu thương
Cho vết thương trong Mẹ được chữa lành
Con nguyện sẽ thường xuyên trở về
Gìn giữ không gian,
Gìn giữ tự do
Để hiến tặng cho Mẹ
Không gian bao la và
Tự do muôn đời.

 

Dòng chảy yêu thương

Sư cô Chân Tuệ Nghiêm là một vị giáo thọ, hiện đang tu học tại xóm Mới, Làng Mai. Trong vai trò một sư chị lớn, sư cô cùng với các sư anh, sư chị lớn khác đang thay Sư Ông hướng dẫn và chăm sóc các sư em của mình.

 

Xóm Mới, ngày… tháng… năm…

Thầy kính thương,

Sáng nay con đọc một đoạn kinh trong Tăng chi bộ, Bụt dạy thầy Ananda nên có trách nhiệm chăm sóc, sách tấn, và nhắc nhở các vị mới tu. Bụt dạy thầy Ananda nên khuyên các vị mới tu về năm sự thực tập: sống theo những giới luật đã tiếp nhận, hộ trì sáu căn, nói ít lại, sống trong tĩnh lặng, và nuôi lớn chánh kiến. Đọc đoạn kinh này, con thấy y như Thầy đang nhắc nhở các sư anh, sư chị nên chăm sóc, sách tấn, và nhắc nhở các sư em về những điều ấy.

Từ khi Thầy bệnh đến giờ, các sư anh, sư chị lớn chúng con phải thay Thầy nói pháp thoại cho tứ chúng, nhắc nhở, chăm sóc, và hướng dẫn cho các sư em. Con cũng vậy, cũng phải đứng ra để thực tập những điều đó. Thầy được tiếp nối qua tăng thân, trong đó có các sư em. Chăm sóc các sư em là chăm sóc Thầy, chăm sóc Thân Tiếp Nối (Continuation body) của Thầy, vì vậy mà con không ngại ngùng đứng lên để đóng vai trò người chị. Con chỉ biết làm hết khả năng, bởi đối với con, trách nhiệm này không phải dễ. Con biết khả năng chăm sóc các sư em tùy vào khả năng con tự chăm sóc tâm hồn, sự tu học, và sức khỏe của con. Thầy kính thương, đây là những điều con đang làm để tự chăm sóc con mỗi ngày.

Thực tập những pháp môn căn bản. Con nương vào những pháp môn căn bản để nuôi lớn nguồn chánh niệm, sự bình an, tĩnh lặng, và hạnh phúc trong con. Con luôn tự nhắc, pháp môn căn bản là thức ăn của con hàng ngày. Mục đích của con khi xuất gia là nuôi lớn khả năng sống tỉnh thức, thương yêu, hiểu biết, và chuyển hóa khổ đau. Vì vậy con luôn xem sự hành trì những pháp môn căn bản là quan trọng hơn cả.

Tham dự các thời khóa sinh hoạt của đại chúng đầy đủ. Đây là cơ hội để thân tâm con được trị liệu và nuôi dưỡng nhờ năng lượng bình an và chí nguyện tập thể, và như vậy con cũng đóng góp sự có mặt của con để yểm trợ cho các chị em. Con thấy rõ tham dự thời khóa đầy đủ là cách đóng góp và xây dựng tăng thân thêm vững mạnh.

Có thì giờ ngồi yên một mình để nhìn lại bản thân. Điều này con cũng làm theo lời Bụt dạy cho các thầy hồi xưa, là nên tìm đến một căn nhà vắng hoặc một khu rừng, để quán chiếu và nhìn sâu vào lòng thực tại. Con biết khi con bận rộn với công việc và với trách nhiệm của một sư chị lớn, con rất cần thì giờ ngồi một mình để nhìn lại chính mình. Sống trong một chúng lớn, con có thể có thêm thì giờ vào lúc sáng sớm, trước khi đại chúng thức dậy. Đây là thời gian linh thiêng và trị liệu cho con, để có thể chăm sóc tâm thức con và tự sách tấn trên con đường tu học.

Thể dục mỗi ngày. Thân ốm thì tâm cũng ốm. Vì vậy, con dành thời gian tập thể dục mỗi ngày. Chăm sóc thân thể con cũng là chăm sóc cho các sư em, chăm sóc cho tăng thân. Có sức khỏe, con mới đóng góp sự có mặt của con cho tăng thân hết lòng.

Nghe pháp thoại của Thầy. Mỗi ngày con dành ít nhất nửa tiếng để nghe pháp thoại của Thầy. Bao nhiêu tuệ giác của Thầy, Thầy đã truyền đạt qua những bài pháp thoại. Nghe pháp thoại của Thầy, con có cơ hội tiếp xúc với những tuệ giác lớn để có thể chạm được ánh sáng ấy trong lòng. Thầy là một người thầy có tuệ giác, có tình thương lớn, một người thầy cách mạng, đã làm mới đạo Bụt để anh chị em chúng con có cơ hội học hỏi, thấm nhuần tinh ba và cốt tủy của đạo Bụt. Là một người có cái nhìn đi trước thời đại (visionary), Thầy đã mở một con đường sáng, đẹp và rộng lớn cho anh chị em con. Con thực tập để tiếp nhận gia tài quý báu mà Thầy trao truyền mỗi ngày.

Thực tập giới luật uy nghi. Con đang hướng dẫn lớp giới luật Tỳ kheo ni cho các sư em. Truyền trao cho các em cũng là cách con tự nhắc nhở mình về sự thực tập giới luật uy nghi, để con có thể ý thức được sự hiểm nguy trong những điều nhỏ nhặt mà tránh gây ra lỗi lầm và đổ vỡ. Hành trì uy nghi giới luật, con mới có thể làm gương cho các sư em.

Nói ít lại và sống tĩnh lặng. Nói ít lại, sử dụng năng lượng và thì giờ để đầu tư vào việc tu học và trau dồi cho chính con. Sống tĩnh lặng, con có thể trở về với nội tâm, thực tập nhận diện sự biểu hiện của các tâm hành để hiểu mình hơn.

Tiếp xúc với thiên nhiên. Con tiếp xúc với những mầu nhiệm của đất Mẹ mỗi ngày cho thân tâm được nuôi dưỡng bởi những gì đẹp và tích cực. Những gì con vun trồng nơi đất tâm lành mạnh thì cuộc đời con cũng sẽ trở nên lành mạnh và ý nghĩa.

Buông bỏ. Một trong những thực tập quan trọng hàng ngày cho con là buông xuống những suy nghĩ, những ý kiến và tri giác của con. Con vẫn nhắc nhở các sư em, nhưng con tập buông, dù các em có làm theo hay không. Trong buổi họp, con đóng góp ý kiến, và sau đó buông nó đi dù ý kiến có được chấp nhận hay không. Không có gì phải quá quan trọng. Buông được những gì trong lòng để tâm có không gian, yên tĩnh và sáng suốt. Chính cái tâm yên tĩnh, sáng suốt và tự do mới là cái cần thiết cho cuộc đời xuất sĩ.

Thầy kính thương,

Con cảm thấy con đang thực tập những điều Bụt dạy thầy Ananda: phải có trách nhiệm chăm sóc, sách tấn, và nhắc nhở các sư em trong công phu tu học. Và con cũng đang làm điều đó cho con như một vị mới vào tu. Sống theo giới luật uy nghi, hộ trì sáu căn, hạn chế sự nói năng, sống tĩnh lặng và nuôi lớn cái nhìn đúng đắn, những điều này không chỉ dành cho người mới vào tu, mà cho tất cả những xuất sĩ nào muốn thanh lọc thân tâm và muốn có tự do trong lòng. Đây chính là những thực tập giúp con có tự do, hạnh phúc, và vững chãi. Nhờ các sư em mà con nỗ lực hơn trong việc tu, học, và tham gia sinh hoạt của chúng vì con biết, các sư em đang trông mong và nương tựa nơi các sư anh, sư chị lớn.

Nhìn lại, con thấy không những các sư anh, sư chị lớn mới đóng vai trò thầy Ananda để chăm sóc và sách tấn các sư em. Mỗi người trong tăng thân đều đóng vai trò ấy. Ai cũng là thầy Ananda. Ai cũng phải tiếp nối Thầy để dìu dắt, nhắc nhở và thương yêu các sư em. Nếu trong tăng thân, ai cũng đóng vai trò người anh, người chị như thầy Ananda và ai cũng hành trì những điều Bụt dạy cho các vị mới vào tu, thì tăng thân sẽ lớn mạnh, là nơi nương tựa vững chãi cho mọi người, và có thể đi rất xa trên con đường thương yêu, hiểu biết, và chuyển hóa khổ đau mà Thầy đã một đời trao truyền.

 

Đường mòn

 
Con đường mòn bao lần ghi dấu lại
Những âm thầm kỷ niệm tháng ngày trôi
Có con đường ôm hết mọi buồn vui
Vẫn im lặng thủy chung qua đông hạ
Dòng suối chảy, tiếng uốn mình trong đá
Cây rung rinh nghe gió hát bên đồi
Còn con đường cứ mãi lặng im thôi
Để nâng đỡ bước chân người qua lại
Bước hồn nhiên thương đời tim thơ dại
Bước đầu ngày mang tâm sự đầy vơi
Hay bước chân vô úy khắp muôn nơi
Mang chí nguyện cao xa hoài một dạ
Hỡi con đường có cỏ hoa với đá
Bao lần rồi đưa tiễn bước ai đi
Hay chào đón những người con trở lại
Sau chuỗi ngày rong ruổi với thời gian.
 
Có con đường quen giữa hai xóm nhỏ
Buổi thiền hành nhè nhẹ bước chân qua
Hoa với lá điểm tô thêm sức sống
Cho đường yên thêm đẹp mỗi sớm mai
Ôi! Con đường mòn bao giờ cũng vậy
Luôn âm thầm ôm ấp bước chân thơ
Hay chữa trị những tâm hồn tan vỡ
Rồi nâng đỡ những bàn chân bỡ ngỡ
Mới lần đầu tập tễnh bước yêu thương.
 
Thời gian trôi đã bao giờ em nhớ
Có con đường luôn chờ đón bước chân em
Hãy bước đi em, bước trên con đường ấy
Con đường mòn có đá với cỏ cây
Hãy bước đi em, bước trên con đường ấy
Đường chông gai trắc trở những tháng ngày
Hãy bước đi em, bước trên con đường ấy
Bước vững vàng giữa gió bão mưa vây
Hãy bước đi em, bước trên con đường ấy
In thật sâu thật đậm chí nguyện này
Một chí nguyện cao xa và lớn rộng
Của ngày nào em quỳ gối chắp tay
Trước Thầy, Tổ, Tăng thân cùng huynh đệ
Phát nguyện sâu dâng hiến trái tim này.
 

Buổi sáng

Buổi sáng, nắng nghiêng qua tán lá, tạo thành những đốm râm – sáng rơi trên những con đường quanh co, tôi biết là những bông hoa nắng đã ra đời. Dưới mặt trời, loài hoa nào cũng nở bung ra như sứ mạng, ngọn núi nào cũng chứa cả một tâm hồn. Bình minh là bản hòa ca vi diệu của thời không. Tôi thấy giây phút này trôi qua thật nhẹ, và cái mát mẻ đầu ngày cũng là sự linh thiêng!

Buổi sáng, chim từ đâu về líu lo khắp lối. Em nghe trong tiếng hót là cả một niềm vui lớn, chúng hân hoan được có thêm một ngày nữa sống trên đời. Loài chim hay con người cũng mừng vui khi sống. Mỗi khi tấm lòng này bình thường và nông nổi, em lắng cõi lòng nghe chim hót, để lại thấy yêu đời trong từng phút đổi thay!

Buổi sáng, tôi ngửi được cái mùi thơm của đất, cái hương thầm, rất quen. Chỉ có quê hương mới có được cái mùi đặc trưng như thế. Bước chân nhờ đó mà cẩn trọng, để cảm nhận, hoặc là để tương phùng. Khi để một chút hồn mình vào hoa cỏ, chúng thật là những người bạn thân quen. Tôi thích cái hòa quyện của đất và cỏ hoa hơn cả. Đi đâu về mà nghe cái hương thân thương đó là thấy ấm lòng, như là được chở che!

Buổi sáng, hương vị của chén trà mầu nhiệm quá, nhấp một ngụm rồi như kết nối với bao giọt mồ hôi. Em uống trà để biết mây là tri kỷ của đời em, để nhận ra tình thương hoàn vũ, trở thành chung với những khoảng cách trên đời. Thế giới là gì, là sản phẩm, hay là một ý nghĩ vẩn vơ. Chẳng có ai mập mờ như thế cả, đúng không? Nhưng uống trà với nguồn tâm trong lắng, dừng hẳn mọi kiếm tìm, thì thế giới sẽ chuyển mình trong cái vị ngọt đắng thiêng liêng!

Buổi sáng, tay nắm lại giữa trời lập đông, tôi thấy lâng lâng như sắp sửa lại lên đường. Sự sống vẫn chờ, hành trình hai ta đều kì lạ, mà giống nhau. Mặt đất là một đường tròn, hễ nói hành trình thì phải nói tới muôn trùng gặp lại. Qua những tháng ngày, những gì đẹp đều lắng sâu vào trí nhớ, trở thành những lối về trong những phút chênh vênh.

Buổi sáng, trang sử cuộc đời vừa được mở ra, chờ những buồn vui tôi phủ đầy trang giấy trắng. Có khi lòng đau nhói, tôi quên mất vầng sáng trên cao. Những thứ ta gặp trên đời, chút gì là hạnh phúc, chút gì như niềm đau. Ta mênh mang từng nghĩ chúng là những xúc cảm không chung một bầu trời. Niềm đau là những gợn sóng lăn tăn đến đi trên đôi mắt, hoặc đã cài then khóa cánh cửa tâm hồn. Đôi lúc chỉ cúi đầu, chẳng cần chi lời nói. Vậy mà vẫn muốn viết lên những lời thật đẹp, cho buồn vui dung hòa. Hạnh phúc và niềm đau là hai mặt của tờ giấy sử. Có lẽ tình thương là thế, qua những lần thử thách thì mới thấy đẹp hơn!

Khi em và người thương có những cách ngăn xa vời vợi, thì buổi sáng vẫn còn, niềm ủi an duy nhất. Khoảng thời gian quên đi cái lây lất ngày qua. Lúc đó chỉ cần một con đường vắng, vài chiếc lá rơi, nghe tiếng chuông vẳng từng hồi, là đủ. Thiên nhiên hùng lực hàn gắn được những mảnh vỡ tưởng chừng như không thể. Bước chân gửi cho đất những va vấp nhiều lần, mà trái tim không hề đổi. Nhờ đất trời, em tìm lại bản chất của tình người quý giá. Thật là những tấm lòng cao cả. Tôi nghĩ đến đất, nhớ đến sự trở về, một cái gì bao dung, sâu lắng.

Buổi sáng, tôi muốn làm thơ, nhưng nhớ đến câu: “Xin đừng nghe lời thi sĩ…” thì một chút ngần ngại, tuy không phải nhà thơ nhưng sợ người khác không tin mình. Có thể tôi hiểu sai ý thơ tác giả. Mà đã có người không tin mình rồi đó chứ! Thế mà cái sợ chỉ đến một chút, rồi đi, vậy thôi!

Buổi sáng, nơi em bắt đầu sứ mạng không cho một ngày oan uổng qua đi, nơi em dựng xây một góc an lành cho thế giới. Nó đẹp như những năm tháng đầu đời của bé thơ. Chẳng có miên trường nào rơi trên tâm tư cả. Tôi nhớ đến Bụt, Người của những buổi sáng thật an lành. Sinh ra đời không phải để đếm những vết thương, mà để làm bé thơ có mặt cho buổi sáng. Vầng dương lên như mở hội, tôi bắt đầu nuôi lớn những không gian. Em hãy hướng mắt về mặt trời, quy phục trước một cái gì là cội nguồn cho tất cả, lập nguyện yêu thương, để biết ơn, và để thấy mình không lỗi hẹn!

 

Hình hài mầu nhiệm

Khóa tu dành cho các nhà lập trình và thiết kế mạng tại San Francisco, Mỹ

(Bài được chuyển ngữ từ tiếng Anh)

Có một câu hỏi thường đi lên trong tôi, đó là khoa học công nghệ có giúp chúng ta hạnh phúc và thảnh thơi hơn không? Quá trình tiến hóa 541 triệu năm của loài người có giúp chúng ta sẵn sàng cho những phức tạp, bế tắc về cảm xúc mà chúng ta đang phải đối diện trong hai mươi năm trở lại đây – thời đại mà chúng ta liên lạc và truyền thông với nhau, thậm chí với chính mình, chủ yếu qua máy vi tính, màn hình, bàn phím, máy thu hình và micro cài sẵn?

Thầy có dạy rằng khi sử dụng máy tính trong hai tiếng đồng hồ, chúng ta thường quên mất là chúng ta có một hình hài. Tôi nhớ hồi tôi mới tám tuổi, mẹ tôi đã mượn một máy Apple IIe mới tinh của trường tiểu học nơi mẹ dạy trong kỳ nghỉ hè năm 1984. Ba mẹ bắt tôi ngồi trước cái máy, và trong khi tôi nhìn vào cái màn hình xanh đen một cách thờ ơ, mẹ tôi bảo: “Ba mẹ thấy con cần phải học sử dụng cái máy này để chuẩn bị cho tương lai của con”. Thực thế, trong mấy mươi năm sử dụng máy tính để lập trình, làm bài tập ở trường, chơi game, viết email (khi email đã trở nên phổ biến), và sau này là sử dụng máy để thiết kế các trang web của Làng Mai, đã có những lúc tôi thật sự quên mất là mình có một hình hài. Là một người xuất gia trẻ, tôi tự hỏi liệu mình thật sự có khả năng an trú trong giây phút hiện tại, ý thức về hơi thở và hình hài trong khi sử dụng máy vi tính hay không?

Thế giới công nghệ – nhìn sâu để thấy rõ

Lúc này đây, tôi đang ghi xuống những dòng này trên giấy bằng bút máy. Nhưng để bài viết này được in ra trong Lá Thư Làng Mai, quý thầy, quý sư cô sẽ phải ngồi trước máy tính để dịch nó từ tiếng Anh ra tiếng Việt. Bản dịch cũng sẽ được chỉnh lý trên màn hình, được dàn trang, sau đó có thể nó sẽ được lưu vào một thẻ nhớ hoặc được gửi qua email. Bốn mươi năm trước, quy trình này gần như không thể thực hiện được vì cần phải điều phối hàng chục, nếu không nói hàng trăm máy tính với đủ loại phần mềm phức tạp và tinh vi. Một điều đáng kinh ngạc không kém là khi nhận một quyển Lá Thư Làng Mai còn thơm mùi mực in gửi qua đường bưu điện, sẽ không có ai nghĩ đến quy trình kỹ thuật ấy, cứ như nó là một chuyện đương nhiên, rất bình thường.

Điều này khiến tôi nhớ đến câu chuyện về nhà bác học thiên tài Albert Enstein. Năm 1902, chàng thanh niên Albert Enstein nhận một công việc có vẻ hơi tẻ nhạt tại Cục cấp bằng sáng chế Bern với vị trí là chuyên gia kiểm tra các bằng sáng chế. Việc kiểm tra các sáng chế liên quan đến sự đồng bộ hóa cơ điện của mọi đồng hồ ở tất cả các trạm xe lửa của Thụy Sĩ đã dẫn ông tới những kết luận quan trọng về bản chất của ánh sáng và sự liên hệ mật thiết giữa không gian và thời gian. Liệu chúng ta có thể tự huấn luyện mình, như Einstein, để có thể nhìn sâu vào những gì đang xảy ra trong lĩnh vực công nghệ và dùng chánh niệm để tiếp xúc với bản chất tương tức của thân, tâm và tất cả các pháp hiện hữu xung quanh ta, nhờ đó có thể đạt tới một cái thấy sâu sắc hơn về chính mình: mình là ai và làm thế nào để mình có thể sống hạnh phúc hơn trong phút giây hiện tại?

Ý tưởng về một khóa tu cho giới lập trình và thiết kế mạng

Tháng Tám năm 2014, trong một cuộc gặp gỡ tại Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) ở Waldbröl, Đức, một nhóm gồm quý thầy, quý sư cô và hai bạn thiền sinh Wake Up – những người làm việc trong lĩnh vực công nghệ, đã phát khởi ý tưởng: Thầy muốn chúng ta thiết kế một thiết bị điện tử giúp chúng ta chế tác thảnh thơi và hạnh phúc. Vậy thì tại sao trong chuyến hoằng pháp Bắc Mỹ, chúng ta không tổ chức một khóa tu dành riêng cho các chuyên gia lập trình và thiết kế mạng tại thung lũng Silicon, trái tim của thế giới công nghệ? Nếu các nhà lập trình và thiết kế mạng có thể đến với nhau để cùng tập thở, tập đi và tập ăn cơm trong chánh niệm, dù chỉ trong vài ngày của khóa tu, thì tài năng sẵn có của mỗi người kết hợp với tuệ giác tập thể chắc chắn sẽ mang lại những kết quả lớn hơn nhiều so với những gì mà chúng ta có thể mong đợi.

Nhờ sự giúp đỡ hết sức nhiệt tình của anh Kenley Neufeld – một người bạn, cũng là một giáo thọ cư sĩ, cùng với những đề nghị rất hay của thầy Pháp Dung trong cuộc họp chuẩn bị cho chuyến hoằng pháp Bắc Mỹ, chúng tôi đã lên kế hoạch để tổ chức khóa tu vào tháng Mười năm 2015.

Khóa tu “thí nghiệm” – mỗi ngày là một sự bất ngờ

Theo dự định, đó sẽ là một khóa tu nhỏ. Chúng tôi muốn thử nghiệm trước, giống như những nhà khoa học bắt đầu cuộc thí nghiệm chỉ với một ít nguyên liệu nếu như chúng có khả năng gây nổ. Vì là lần đầu tiên “thí nghiệm” khóa tu kiểu này nên chúng tôi không có chương trình hoàn chỉnh được vạch sẵn từ trước. Nhóm tổ chức khóa tu – gồm sư cô Diệu Nghiêm, thầy Pháp Trạch, thầy Pháp Mãn, sư cô Hiến Nghiêm, sư cô An Nghiêm và tôi, cùng với Kenley, muốn xem các sinh hoạt tiến triển như thế nào trong mỗi giờ, phản hồi của thiền sinh ra sao. Vì vậy, mỗi lần lên chương trình hay thời khóa sinh hoạt, chúng tôi chỉ làm cho nửa ngày thôi. Sự thực tập mà Thầy trao truyền đã giúp chúng tôi có thể phối hợp với nhau một cách chánh niệm trong thời gian chuyển tiếp giữa các sinh hoạt, lắng nghe ý kiến và đóng góp của mọi người để đi đến một quyết định chung về sinh hoạt kế tiếp. Kinh nghiệm thực tập và tổ chức khóa tu của quý thầy, quý sư cô trong tăng đoàn đã giúp cho khóa tu có thể được tổ chức một cách thoải mái và linh động đến như vậy.

40 phút chỉ để gửi một email

Một trong những thực tập làm cho khóa tu này khác với những khóa tu thông thường là “thiền email”. Một bạn trẻ chia sẻ: “Thực tập viết email trong chánh niệm là một kinh nghiệm thực sự làm cho tôi thức tỉnh và mở lòng ra”. Thiền sinh đến khóa tu được mang theo các thiết bị điện tử như laptop, iPad hoặc điện thoại di động. Sau khi các máy vi tính được kết nối với mạng Wifi, thiền sinh được mời để máy vi tính sang một bên. Các bạn thực tập trở về với hơi thở, thiết lập thân tâm vững chãi trong giây phút hiện tại, ý thức toàn thân và nhận diện những cảm thọ đang có mặt.

Một lúc sau, mọi người, kể cả quý thầy, quý sư cô, đem chiếc máy của mình để lên bàn phía trước mặt. Ai cũng đặt tay lên trên máy tính và thực tập nhìn sâu vào nó – để thấy những khoáng chất mà người ta đã khai thác để làm nên chiếc máy; thấy những người thợ mỏ và những hiểm nguy mà họ phải đối diện mỗi ngày; thấy những phần mềm, hàng chục triệu dòng mã để tạo nên chiếc máy cho chúng ta sử dụng; thấy những sáng tạo của biết bao chuyên viên, cả nam lẫn nữ. Để chiếc máy vi tính càng ngày càng tinh xảo, các kỹ sư đã phải bỏ ra hàng chục triệu giờ công để thiết kế, hoặc tái thiết kế mỗi thành phần: CPU, card đồ họa, ổ cứng, màn hình, v.v.

Sau đó, mọi người trở về ý thức tới cảm xúc của mình khi bắt đầu mở laptop hoặc thiết bị điện tử của mình ra, nhưng chưa bật máy lên. Vài người thấy được bóng mình phản chiếu trên mặt máy. Có tiếng ai đó cười khúc khích. Rồi trong khi hết lòng chú tâm vào hơi thở, mọi người cùng bấm nút khởi động máy.

Có bao nhiêu là cảm thọ đi lên trong tôi từ khi bấm nút khởi động máy! Tôi nhận diện được cảm thọ hồi hộp, phấn chấn phát khởi khi máy laptop vừa khởi động. Và tôi cũng nhận thấy tâm tôi chuyển rất nhanh sang chế độ “làm việc” (doing), muốn chạy tới trước, muốn bắt đầu công việc ngay thay vì chỉ đơn thuần có mặt trong giây phút hiện tại. Tất cả những cái đó chỉ diễn ra trong một vài tích tắc mà thôi.

Sau khi ý thức đến hơi thở, nhận diện các cảm thọ và trạng thái của tâm mình trong khi dõi mắt trên màn hình, chúng tôi được hướng dẫn làm một việc: mở email ra và viết email cho một người thân, nhưng phải viết trong chánh niệm. Cứ vài phút lại có một tiếng chuông được thỉnh lên để mời mọi người trở về với hơi thở trong lúc viết email như một tăng thân. Sau đó, tất cả đều bấm nút “send” để gửi cùng một lượt. Cả quá trình thực tập thiền email mất khoảng 40 phút. Bốn mươi phút chỉ để gửi một email!

Mở lòng cho những sẻ chia

Trước khi kết thúc khóa tu, thiền sinh và quý thầy, quý sư cô được mời lên chia sẻ. “Trong khóa tu, con cảm thấy quý thầy, quý sư cô và những người tham dự cùng nhau khám phá những tác động của sự thực tập chánh niệm với một tinh thần cởi mở mà không có sự chỉ đạo, điều khiển nào cả”, một chuyên viên thiết kế phần mềm nhận xét. “Thời gian quán chiếu sau khi gửi email đi là một thí dụ. Có một thầy hỏi chúng con cảm thấy thế nào về phương pháp thực tập này – kỳ cục, ích lợi, hay quái lạ? Con thấy thầy hỏi rất thật và mở lòng lắng nghe những phản hồi khác nhau từ mọi người mà không có sự ngần ngại”.

Những thực tập tương tự như vậy trong khóa tu – đem chánh niệm soi chiếu vào sự tương tác giữa người và máy – có một ảnh hưởng tích cực đến thiền sinh, như sau này họ chia sẻ. “Giờ đây khi bước đi, khi phải chờ ở nơi nào đó, khi viết email, hay khi có một cảm xúc mạnh đi lên, tôi có thể ý thức hơn về những gì đang xảy ra. Đó là một bước tiến quan trọng đối với tôi”.

Những bài pháp thoại trong khóa tu, phần lớn là do sư cô Diệu Nghiêm đảm trách, rất phù hợp với nhu cầu của thiền sinh. “Những lời dạy của sư cô Diệu Nghiêm về các loại hạt giống chứa trong tàng thức đã giúp con hiểu rõ hơn về chính mình, đặc biệt là hiểu hơn về những tác động của quá khứ lên con người mình”, một chuyên viên thiết kế vi tính nói. “Khóa tu chính là một mô hình thu nhỏ của cuộc sống mà con hằng mơ ước: một ngày bình an với những giây phút dành để nuôi dưỡng chính mình và những giây phút tập trung vào công việc. Con thấy có rất nhiều cảm hứng để thiết kế một ngày của mình như thế”.

Sau ba ngày đầu của khóa tu, các buổi thực tập chánh niệm trong khi làm việc được đan xen nhiều hơn với các thực tập căn bản như thiền ngồi, thiền đi, thiền ăn, thiền buông thư. Lúc đó, chúng tôi hơi phân vân giữa hai hướng: một là tiếp tục hướng dẫn thiền sinh làm những công việc hàng ngày theo cách làm việc của tu viện, thí dụ như khi lau chùi nhà vệ sinh thì chỉ lau chùi nhà vệ sinh thôi mà không suy nghĩ nhiều, khi làm việc gì thì có mặt với việc ấy càng nhiều càng tốt; hai là có thêm những hoạt động theo nhóm để các thiền sinh vừa có thể làm những công việc thuộc lĩnh vực của mình vừa áp dụng sự thực tập chánh niệm mà các bạn đã học hỏi trong ba ngày qua?

Dù cũng hơi “mạo hiểm” nhưng chúng tôi đều chọn phương án tổ chức sinh hoạt theo nhóm (collaborative visioning activity). Chúng tôi đề nghị thiền sinh tự tổ chức thành ba nhóm và làm việc với nhau trong tinh thần đồng đội, theo những gợi ý do chúng tôi đưa ra, chẳng hạn như: hãy thiết kế “một cái gì đó” có công năng giúp giảm thiểu khổ đau và mang lại hạnh phúc lâu dài. Cụm từ “cái gì đó” được cố ý sử dụng như một gợi ý chung chung, bởi vì công nghệ có thể biểu hiện qua rất nhiều hình thức.

Sau hai ngày làm việc cùng nhau trong tinh thần tập thể, thực tập nhìn sâu và ái ngữ, thay vì tổ chức một buổi Be-in như thường lệ, ba nhóm đã trình dự án “cái gì đó” bằng cách sử dụng các mô hình đồ họa trên các tập giấy khổ lớn. Thậm chí có nhóm còn làm hẳn một trang bìa theo kiểu trình bày sản phẩm của Steve Jobs/Apple. Nhóm thứ nhất thiết kế một giao diện lập trình ứng dụng (API – Application Programming Interface) qua mạng, nhóm thứ hai làm một phần mềm ứng dụng, dự án của nhóm còn lại là một loại thiết bị có thể đeo vào người được (wearable device).

“Cùng làm việc một cách cẩn trọng và cộng tác với nhau trong chánh niệm, đó là ước mơ bấy lâu của con, giờ đã trở thành hiện thực”, một chuyên viên thiết kế trẻ chia sẻ. “Con nhận thấy rất nhiều tập khí không nuôi dưỡng những hạt giống tốt trong con. Phần lớn những tập khí này có liên quan tới sự liên hệ của con với khoa học công nghệ, hay nói cách khác là con cảm thấy mình bị công nghệ sử dụng. Sau khi tham dự khóa tu, con thật sự tin rằng công nghệ có thể được sử dụng theo hướng tích cực – đem mọi người lại gần nhau chứ không phải tạo ra sự chia cách và bất bình đẳng”.

Một bạn khác chia sẻ: “Con đã quyết định mở lòng ra với các bạn thiền sinh khác. Và sự mở lòng này đã được đáp lại bằng sự tôn trọng, nhẹ nhàng và đầy tình thương”.

Sự chuyển hóa đã xảy ra rất cụ thể nơi các thiền sinh. “Quý thầy, quý sư cô đã hướng dẫn một cách rất thật lòng. Con cảm thấy quý thầy, quý sư cô gắn bó rất sâu sắc với pháp môn và sự thực tập”, một chuyên viên thiết kế nói. “Trong một không gian an toàn, tĩnh lặng, đầy tình thương và sự tôn trọng, con nhận ra rằng mình không chỉ là một lập trình viên hay là một ông bố trong gia đình, mà con còn là một con người”.

Một thiền sinh từ Bỉ bay sang dự khóa tu nói rằng anh ấy rất cảm kích “không khí cởi mở và thoải mái do quý thầy, quý sư cô tạo nên, bởi nơi đó không có chỗ cho sự phán xét, hoàn toàn không có sự thương hại từ phía những vị xuất sĩ đối với những vấn đề mà mọi người phải đối diện. Thay vào đó, chỉ có một nụ cười trầm tĩnh và lạc quan trong mọi tình huống”.

Giám đốc điều hành của một công ty sản xuất phần mềm đã trình bày trải nghiệm của ông trong khóa tu với các bạn thiền sinh khác như sau: “Nói chung, tôi thậm chí không hề nhắc đến những gì có liên quan đến kỹ thuật. Khía cạnh ấn tượng nhất là rất nhiều không gian đã được tạo ra để giúp mọi người trở về với chính mình. Tôi cũng muốn nói đến pháp đàm. Quý thầy, quý sư cô đã hướng dẫn một cách tài tình để các buổi pháp đàm có sự cởi mở, an toàn và hiệu quả”.

“Con đã dự rất nhiều khóa tu, nhưng khóa tu này hơi khác một chút”, một chuyên viên thiết kế phần mềm người Mỹ gốc Việt chia sẻ. “Ở đây, con đã gặp những người rất thú vị, những người có cùng những băn khoăn như con, và con đã học hỏi rất nhiều ở họ. Uớc mong sâu sắc của họ trong việc giúp đỡ người khác và xây dựng một cộng đồng sống tỉnh thức đã tạo cảm hứng cho con. Đó là những gì mà thế giới này đang cần”.

Thay vì để cho thiền sinh hành xử theo tập khí hay phản ứng qua lời nói, sự thực tập im lặng hùng tráng (noble silence) trong hầu hết các buổi sinh hoạt đã cho thiền sinh thời gian và không gian tĩnh lặng để quá trình chuyển hóa có thể diễn ra.

“Có người nói một điều gì đó mà con cho là vô lý và nó cứ nằm hoài trong suy nghĩ của con”, một thiền sinh chia sẻ. “Một người khác phản ứng lại khi con kể một câu chuyện đùa hơi quá lố (khi con nhận ra thì đã quá muộn màng). Những điều ấy làm con bận trí. Con cảm thấy con cần phải đến nói chuyện trực tiếp với những người đó để thấy nhẹ lòng hơn. Nhưng con lại không có được cơ hội ấy nên con đã đi thiền hành trong một tâm trạng cáu kỉnh. Sau khi thực tập thiền hành, con thấy mọi việc đã được giải quyết ổn thỏa. Con không có nhu cầu tới phân trần gì với những người đó nữa. Cảm giác nặng nề đã biến mất”.

Nuôi lớn ngọn lửa Thầy trao

Dù được gọi là khóa tu dành cho giới kỹ thuật công nghệ, nhưng những “kỹ thuật” rất đơn giản mà Thầy đã truyền trao không mỏi mệt đã được đón nhận rất hết lòng và chứng tỏ được hiệu quả lớn lao của mình. Một thiền sinh khác chia sẻ: “Thực tập ngồi thiền (có hướng dẫn) mỗi buổi sáng trong khóa tu mang lại cho tôi rất nhiều chuyển hóa. Nếu lần tới có khóa tu, tôi sẽ đăng ký ngay lập tức”.

“Một trong những cái thấy hữu ích nhất mà con thu thập được từ khóa tu là ý niệm về ngôi nhà đích thực nằm trong tự thân chúng ta”, một anh bạn làm thiết kế phần mềm nói. “Sự phối hợp giữa thiền ngồi, thiền đi và thiền ăn cùng với sự thực tập im lặng hùng tráng để bắt đầu cho một ngày đối với con rất quan trọng. Những thực tập này đem lại cho con một khoảng không gian mà thường ngày con không có, giúp con thấy rằng có mặt trong hiện tại có thể đem lại cho con rất nhiều niềm vui”. Và bạn tâm đắc nhất điều gì trong khóa tu? “Đó là các thầy, các sư cô! Con đã học từ cách sống của các thầy, các sư cô nhiều hơn là qua sách vở và trường lớp”.

Một người khác tâm sự: “Sự xa cách giữa con và các thầy, các sư cô biến mất khi nụ cười của con được đáp lại bằng một nụ cười. Con lo là các vị ấy sẽ cho là mình cao quý hơn người khác, nhưng thực tế là họ đã không làm như vậy”. Khi kể cho bạn bè nghe về khóa tu, anh gọi đó là “một kinh nghiệm làm thay đổi cuộc đời mình”.

“Khi nghe như vậy, thường thì người ta có vẻ rất ngạc nhiên và hỏi: Thật vậy sao? Con giải thích cho họ con đã được hướng dẫn cách ngồi thiền và đi thiền như thế nào, đã có thời gian tìm lại chính mình như thế nào, đã học cách mang sự thực tập chánh niệm về nhà và nơi làm việc ra sao. Nghe tới đây, họ thường nói: Hay quá! Mình ganh tị với bạn đấy. Một câu nói mà con ít khi chờ đợi ở những người bạn lúc nào cũng bận rộn này!”.

Vậy thì cái gì là hoa trái mà chúng ta gặt hái được khi thực tập chung với nhau qua những buổi cùng làm việc, cộng tác và phát huy sáng kiến trong chánh niệm? Đó là cùng nhau giữ gìn tình huynh đệ, tình tăng thân đã được xây dựng trong khóa tu và tiếp tục nuôi lớn ngọn lửa mà Thầy đã nhen lên trong lòng mỗi người. Hy vọng phần mềm tiện ích “Đám mây không bao giờ chết” (“A Cloud Never Dies” application) của Làng Mai có công năng tạo niềm vui và hạnh phúc lâu dài, sẽ được ra mắt đại chúng trong một ngày rất gần.

 

Người trồng tuổi thơ

Mexico, 30.10 và những ngày trước 20.11.2014

Ba thương,

Chỉ còn năm ngày nữa con sẽ trở lại Mỹ sau sáu tuần hoằng pháp tại năm nước: Chile, Ecuador, Colombia, Nicaragua và Mexico cùng với sáu vị xuất sĩ. Đất nước nào cũng có những nỗi khổ đau vì chiến tranh trong quá khứ. Niềm sợ hãi, sự nghi ngờ vẫn còn trong lòng mọi người. Nhà nào cũngcó hàng rào dây điện, nhiều người nghèo, tỷ lệ mang thai ở tuổi vị thành niên cao và nhiều người giàu thì mang bệnh trầm cảm. Những người đến tham dự khóa tu đã mở trái tim ra để tiếp nhận pháp môn, chia sẻ những khó khăn nơi tự thân và gia đình họ.

Tại Ecuador, có một thiền sinh thuộc nhóm pháp đàm của con đã kể rằng, tuổi thơ cô rất đẹp, bố cô đối xử với hai cô con gái như hai viên ngọc. Lúc cô và người chị đến tuổi lập gia đình, hai chị em đã qua Tây Ban Nha định cư. Người bố rất bơ vơ, buồn và giận, vì ông rất thương và muốn con mình ở bên cạnh. Hai người con vẫn thường xuyên gọi điện hỏi thăm sức khỏe và muốn nghe giọng của bố. Hai chị em cảm thấy bố nói chuyện rất ít và giọng nói không còn dễ chịu. Sau một thời gian, hai chị em quyết định trở về quê hương. Bố tỏ ra rất lạnh lẽo, điều này khiến con gái đau lòng. Những lúcmở rộng hai cánh tay ra để ôm bố, ông đứng yên như bức tượng, không bày tỏ chút tình thương nào. Người con vẫn quyết tâm tặng bố cái ôm của mình mỗi khi gặp, dù bố không ôm lại. Hành động đó vẫn tiếp tục ngày này đến ngày khác. Một ngày nọ, người con vội vã chia tay bố để đi xa đột ngột, bất ngờ người bố hỏi con: “Cái ôm của bố đâu?”. Cô gái rất cảm động, đầy niềm vui và không cầm được nước mắt. Hai bố con thật sự có mặt cho nhau.

Trong chuyến hoằng pháp này có sư cô Sứ Nghiêm, người Pháp, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn. Có một lần sắp đến sinh nhật 60 của bố, sư cô ngồi xuống và viết cho bố mình một lá thư tình. Sư cô có ý là sẽ viết xuống 60 hạnh đẹp của bố, một ý tưởng khá hoang đường dành cho người mà mình không truyền thông được. Nhưng kỳ lạ thay, khi đặt bút xuống, những điểm đẹp của bố xuất hiện liên tục trong đầu sư cô. Nhìn vào tờ giấy, hơn 60 điểm đã thành hình. Lúc đầu, sư cô không có ý định gởi thư đi, nhưng cuối cùng trái tim sư cô bảo đi tìm bì thư, tem, bỏ thư vào và gởi cho bố. Đó là một hành động rất dũng cảm. Làm xong, lòng sư cô nhẹ ra, không một chút đòi hỏi gì từ bố. Sau một thời gian khá lâu, bố của sư cô hồi âm một câu rất ngắn: “Bố đã trông đợi lá thư này suốt cuộc đời bố!”.

Câu chuyện của sư cô Sứ Nghiêm đã cho con thêm nguồn cảm hứng để viết bức thư này cho Ba. Con thấy những tinh hoa Ba đã cho chúng con gần năm mươi năm qua rất nhiều, và phần nhiều Ba làm trong im lặng. Con rất hạnh phúc mỗi khi con chia sẻ rằng Ba không uống rượu, hút thuốc hoặc cờ bạc. Suốt hai mươi năm sống với Ba Mẹ, chưa một lần con thấy Ba có một hành động bạo lực đối với Mẹ. Ba có biết điều này làm cho con hạnh phúc lắm không? Nhờ vậy nên con thấy rõ trong chúng con hầu như hạt giống bạo động rất ít biểu hiện. Con đã có một thời thơ ấu đẹp. Hiện tại cuộc sống của con khá thanh bình và hạnh phúc. Ai đã cho con một tuổi thơ đẹp? Người đầu tiên là Ba và Mẹ.

Chỉ còn ba tuần nữa Ba sẽ tròn 68 tuổi. Con xin viết xuống những tinh hoa mà chúng con thấy được nơi Ba:

1. Hiếm khi Ba bỏ cuộc. Ba dạy cho con biết kiên nhẫn là gì.

2. Ba làm việc nhiều nhưng không than phiền.

3. Ba thương Mẹ nhiều lắm. Con nhớ một lần Mẹ nằm viện, vừa mổ xong. Ba đi làm về, nét mặt lo lắng, Ba cầm tay Mẹ và hỏi: “Mẹ có đau không?”. Chỉ cần nghe câu hỏi của Ba thôi, Mẹ cũng cảm thấy hạnh phúc rồi. Con ngồi nhìn, trong lòng rất cảm động.

4. Ba nấu ăn rất ngon.

5. Ba đã huấn luyện cho mình trở nên một người có trách nhiệm.

6. Là một người có trách nhiệm, hiếm khi Ba đến một buổi họp hay sở làm trễ, trừ những lúc Ba bệnh hay xe có vấn đề. Ba luôn thức dậy lúc bốn giờ sáng.

7. Hạt giống cần cù nơi Ba rất lớn. Ba đã trao truyền cho chúng con điều này. Chưa lần nào chúng con nghe những người ở nơi làm việc hoặc trong tu viện than phiền rằng chúng con làm biếng.

8. Trải qua bao khó khăn lúc ở Việt Nam và những ngày đầu đến Mỹ, Ba vẫn có mặt đó để gia đình mình được như hôm nay.

9. Đôi lúc con và Ba lớn tiếng với nhau, nhưng chính những lúc đó con mới hiểu và biết rằng Ba có những khổ đau trong lòng.

10. Ba không phải là một người khó hiểu. Trong Ba có sự rõ ràng. Ba giận cũng dễ thấy mà Ba vui cũng dễ thấy.

11. Tính thân thiện của Ba khiến nhiều người thoải mái khi nói chuyện. Ba thường chủ động liên lạc để thăm hỏi bạn bè.

12. Ba cười rất tự nhiên, không có sự cố gắng. Con thích nhìn Ba cười với con cháu.

13. Sau khi Mẹ mất, con mới thật sự cảm được nỗi đau của Ba và Mẹ khi Mệ qua đời. Tình thương của Ba dành cho Mệ thật cao quý. Sự hiếu thảo của Ba đi vào trong trái tim con. Ba từng chia sẻ niềm hạnh phúc của Ba cho con nghe khi xây một ngôi nhà cho Mệ và ngồi bên cạnh Mệ những giờ phút

cuối cùng.

14. Tấm lòng của Ba rất bao la. Ba thường đem niềm vui đến cho người khác và không ngần ngại để làm công việc này.

15. Sau khi đi cải tạo về, Ba đã học cách trở thành một người làm ruộng giỏi. Với sự sáng tạo và thích tìm tòi, Ba tìm được giống đậu hoặc lúa cho năng suất cao. Ba chia sẻ thành quả ấy cho những người dân quê không một chút tính toán.

16. Có lần Ba, Mẹ, và con đi cắt tranh về làm nhà. Không may tranh bị cháy hoặc bị lấy cắp, nhưng đó không có nghĩa là lần cuối cùng đi cắt tranh. Với lòng cương quyết, Ba không dễ bỏ cuộc.

17. Điểm gì đẹp của Ba hiện đang có mặt trong con? Con thấy được trong con tính làm gì cũng hay nghĩ đến người khác. Ba đã trao truyền cho con sự

cương quyết và chắc chắn trong mọi chuyện.

18. Lúc con còn nhỏ, Ba thường xuyên kể chuyện vui và hay về ông Ngưỡng. Con thấy Ba rất thương kính ông.

19. Ba biết cách chế tác niềm vui cho chính bản thân mình.

20. Mỗi lần con cần sự giúp đỡ, Ba luôn luôn có đó để giúp con.

21. Ba là một cuốn từ điển sống, nhờ ba có niềm đam mê đọc sách. Nếu con có câu hỏi về lịch sử Việt Nam, tình trạng đất nước, kỷ niệm với Mệ,

ngôn ngữ Việt Nam… Ba sẽ có câu trả lời.

22. Con hạnh phúc khi cảm được rõ ràng tình thương và sự chăm sóc của Ba.

23. Ba rất thương các cháu. Ba thường gợi chuyện và giúp các cháu có truyền thông với Ba nhiều hơn.

24. Hiếm ai có được một người cha không uống rượu, hút thuốc, cờ bạc như Ba. Cường đã tiếp nối hạt giống đẹp đó từ Ba.

Còn đây là những lời chia sẻ ngây thơ của các cháu:

25. Thỉnh thoảng con không được ngoan nên ông ngoại hơi rầy. Rầy cháu vì ông ngoại thương cháu.

26. Ông ngoại nhẹ nhàng với chúng con nhiều hơn, con rất xúc động.

27. Tuy bà ngoại không còn, ông ngoại vẫn dành một tình thương sâu đậm cho bà ngoại. Con nhận ra được điều đó khi thấy ông ngoại vẫn còn đeo

chiếc nhẫn.

28. Ông ngoại biểu lộ sự bình tĩnh và mạnh mẽ khi bà ngoại mất.

29. Ông ngoại dễ thương lắm. Ngoại cho con một con heo màu đỏ cách đây vài năm. Con vẫn còn giữ nó trong phòng để nhớ đến ông, tuy rằng trong con

heo đó không có đồng nào.

30. Con rất hạnh phúc khi được ông ngoại ôm con tại nhà cậu Cường vào ngày 09.11.2014 khi con đến để chúc mừng sinh nhật ông ngoại.

31. Tuy ông ngoại đôi lúc la rầy chúng con, nhưng ông ngoại chưa một lần đánh.

32. Trong đám tang của bà, ông ngoại đã biểu lộ lòng thương kính đến với bà ngoại.

33. Hôm trung thu tại chùa Phổ Đà, ông ngoại cho chúng con tờ $2.00, chúng con ôm ngoại trong hạnh phúc.

34. Cách nói chuyện của ông ngoại dễ thương lắm. Ông ngoại không nói con đi ra khỏi phòng khi thấy con ngồi trên máy vi tính. Ngoại để cho con ngồi và ngoại đi làm vườn với Nathan.

35. Ông ngoại nói sau này khi ngoại qua đời, ngoại chọn nằm bên cạnh bà ngoại. Điều này làm cho con cũng muốn được nằm bên cạnh gia đình con sau khi con mất.

Con xin được tiếp tục với những lời tâm sự của chúng con:

36. Ba luôn năng động, không cho phép mình biểu lộ sự cô đơn trong đời sống hàng ngày.

37. Sau khi đi cải tạo về, từ địa vị một ông tướng, Ba phải đi cày ruộng. Con rất thương và cảm động.

38. Ba tự thấy điểm yếu nơi Ba và thay đổi,

39. Ba có sự chịu đựng bền bỉ. Buổi tối Mẹ mất, Ba thức trắng đêm ngồi bên Mẹ cùng với tiếng niệm Bụt. Tuy suốt đêm không ngủ, ngày hôm sau Ba vẫn tiếp tục làm những công việc cần thiết một cách tự nhiên.

40. Tuy Ba có khi dễ nóng giận, dễ lớn tiếng, nhưng Ba không mang một sự hiềm hận đối với bất cứ ai.

41. Ba có tính thân thiện. Hầu như mọi người ở mọi lứa tuổi, xuất gia cũng như cư sĩ, đều cảm thấy thoải mái mỗi khi tiếp xúc với Ba.

42. Ba dễ vui với niềm vui của người khác.

43. Ba rất rộng lượng, sẵn sàng hiến tặng những gì mình có thể: thời gian, năng lượng, tiền bạc, vật chất, nụ cười, sự lân mẫn.

44. Ba sống một cách đơn giản, không đua đòi và chạy theo vật chất.

45. Ba hướng về và giúp đỡ bà con nghèo tại Việt Nam với đầy niềm vui.

46. Ba là một nhà văn sáng tạo. Những thơ văn mà Ba sáng tác là tài sản tinh thần quý giá cho chúng con.

47. Ba thương kính văn hóa Việt Nam. Ba muốn chúng con tiếp tục giữ gìn những truyền thống đẹp của quê hương.

48. Tuy Ba đang sống trên đất người, nhưng Ba luôn hướng tình thương về Việt Nam, hy vọng một ngày gần đây đồng bào quê hương mình sẽ được hạnh phúc, thảnh thơi hơn.

49. “Biết rung niềm đau, con tim người rất rộng”, câu thơ con xin chép tặng Ba khi biết tình xót thương trong Ba dành cho những người bị đối xử bất công là rất lớn.

50. Chúng con xin cảm ơn Ba đã luôn bảo vệ chúng con khi chúng con chưa đủ sức để tự bảo vệ mình.

51. Ba luôn chia sẻ tin tức của bà con ở quê nhà và nhắc chúng con tìm cách giúp đỡ.

52. Ba không một lần xin chúng con giúp Ba về phần tài chánh. Ba muốn chúng con giúp người khác.

53. Con có cơ hội nghe Ba ngâm vài câu thơ, giọng Ba rất ấm, rất hùng. Chú Bình khen Ba có giọng mạnh, con đùa: “Chắc nhờ la con nên giọng Ba mới mạnh như vậy”.

54. Con không thể quên giọng hát của Ba và lời bài Rừng lá thấp, rất hùng và biểu cảm.

55. Mỗi khi chơi với các cháu, con thấy Ba hồn nhiên như em bé ba tuổi.

56. Hình ảnh Ba đi đến cầm tay cháu Hayden và mỉm cười, dù đơn sơ nhưng khiến con rất xúc động.

57. Ba có khả năng công nhận tài năng của mọi người và sẵn sàng để góp ý khi thấy điều gì đó sai hoặc không ổn.

58. Ba là một người trung thành. Trung thành với gia đình, tổ tiên, quê hương, bạn bè và ngôi chùa Phổ Đà thân thương.

59. Ba biết thưởng thức sự sống và đem niềm vui cho tự thân bằng cách viết lách, nghe nhạc, làm vườn, chơi với các cháu và tận hưởng thời gian nghỉ hưu của mình.

60. Nếu con bị lạc tại Memphis, Ba sẽ là người đầu tiên con gọi để hỏi đường.

61. Ba không ngần ngại để biểu lộ cảm xúc trước các con. Buổi Ba chia sẻ về Mẹ, Ba cảm được nỗi khổ đau tận cùng của Mẹ trong thời khó khăn và Ba đã khóc. Lần đầu tiên con thấy Ba khóc.

62. Ba là một người anh gương mẫu, luôn thương yêu và khuyên nhủ các con của em mình như con ruột.

63. Ba thương con rể như con ruột của mình.

64. Ba là một người bạn tốt.

65. Trước khi đám cưới Khánh, con có một cuộc giải phẫu ruột thừa và Ba đã đến nhà thăm con, con rất cảm động. Khánh rất bảo vệ Ba mỗi khi chúng con chia sẻ về Ba.

66. Ba vẫn còn đây với chúng con, cho chúng con một nơi để trở về ngôi nhà tuổi thơ. Hạnh phúc thay khi cha con vẫn còn có nhau.

67. Ba có những giấc mơ đẹp lúc còn nhỏ và khi lớn lên Ba đã biến những giấc mơ đó trở thành hiện thực, như xây nhà cho Mệ. Một giấc mơ khác, tuy

Ba không nói nhưng con biết, là Ba không bao giờ muốn bỏ rơi các con của Ba. Có khi nào chúng con cần mà Ba không có mặt đâu?

68. Ba là một anh hùng, một bậc trượng phu. Ba là sự tiếp nối đẹp của ông bà, tổ tiên. Thương chúc Ba nhiều hạnh phúc và bình an trong từng bước chân và hơi thở.

Kính thư,

Các con và các cháu.