Lá thư Làng Mai 38 – 2015

Bìa 1

Bìa 2

Bìa 3

Bìa 4

NỘI DUNG

Xin trân trọng gởi đến quý thân hữu Lá Thư Làng Mai số 38 vừa ra đời để quý vị thưởng thức trong những ngày xuân Ất Mùi 2015. Quý vị sẽ cùng thở nhịp thở của tăng thân cũng như nhìn lại sự hành trì và học hỏi của bản thân trong năm qua để "Càng nhìn càng hiểu rõ - Biết lắng biết thương sâu".

Tải về để in

 

Bìa khổ Letter

Bản in màu.PDF

 

Lá thư Làng Mai - Kệ Truyền Đăng
Ngỡ bây giờ là bao giờ
Chánh niệm là con đường
Trinh bạch một niềm thương
Câu hỏi của trẻ em và thanh thiếu niên
Tâm kinh Tuệ Giác Qua Bờ
Cắt đứt con đường ngôn ngữ
Tình thương lên tiếng gọi
Nụ cười trong tim
Bông hoa vẫn không ngưng lời hát ca
Dấu ấn Làng Mai
Sự tiếp nối
Chúng con đang uống thuốc
Làm biếng
Theo bước chân Bụt
Con gặp Thầy
Bụt hiện hoa hàm tiếu
Chọn một hướng đi
Có dễ hiểu không con
Mùa lá chín
Đến để mà thấy
Khoảnh khắc bên thầy
Thở cho Bụt về
Thư gởi Thầy
Cầu toàn… khổ
Chăm em – chăm tôi
Giây phút cùng Thầy
Giấc mơ trưa
Niềm vui chân thật
Tôi yêu
Cùng dòng sông mang theo thệ nguyện
Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay
Về đây học tiếng nói yêu thương
Nuôi lớn tình thương
Bước chân Hơi-Thở-Nhẹ
Tôi là chú chuột nhắt ở Phương Khê
Đánh thức những ước mơ
Hạt lành đã đơm hoa
Cùng tu – cùng học – cùng chơi
Việt Wake Up 2015 - Đón mừng sự sống
Thầy gọi con về
Bình yên chốn này
Vun bồi sự sống
Con đường vui
Giếng thơm về Kinh Bắc
Nắng ấm ngày đông
Đem chánh niệm vào trường học
Thầy ơi!..
Mừng đại sảnh lên ngôi
Nối lại tình thâm
Ân nghĩa bên trời
Tràng hoa mộc lan
Bước ngoặt cuộc đời
Mùa đông đang đi qua
Ước nguyện - Great inspiration
Đàn voi của Thầy
Tiếp xúc tiếp trợ
Tết bên người nghèo
Lịch sinh hoạt năm 2015
Liên lạc

Về lại ngôi nhà đích thực

Trong một ngày u ám của tháng Mười một năm 2014, họ lần lượt đến. Có người đến một mình, có người đi cùng cha, mẹ, anh, chị, em hoặc người sống chung. Dù cho mỗi người mỗi biểu hiện khác nhau, nhưng nhìn chung ai cũng có vẻ hoang mang, ngập ngừng và lo ngại. Họ đến tu viện Bích Nham từ các vùng xa xôi tận British Columbia, Tennessee, Ohio, và West Virginia.

Ra đón họ là những cựu chiến binh Việt Nam, chuyên viên xoa bóp, y tá, những người thực tập phương pháp trị liệu cảm ứng Reiki và các chuyên viên liệu pháp nghệ thuật (art therapists). Tất cả đều là những thiền sinh thực tập pháp môn Làng Mai thuần thục. Những người này đã đến trước ngày khai mạc vài hôm để tu tập và giúp chuẩn bị cho khóa tu có tên là Về lại ngôi nhà đích thực. Đây là một khóa tu dành cho cựu chiến binh chiến tranh Iraq và Afghanistan. Trên tất cả, họ đã được tăng thân Bích Nham chào đón với một vòng tay và một tấm lòng rộng mở.

Trong năm ngày của khóa tu, các cựu chiến binh và thân nhân được học hỏi phương pháp tu chánh niệm của Làng Mai qua sự hướng dẫn của những người giàu kinh nghiệm: Thầy Pháp Uyển, một cựu chiến binh từ chiến dịch Bão Sa Mạc (chiến tranh Vùng Vịnh); quý thầy, quý sư cô tại tu viện Bích Nham và một vị giáo thọ cư sĩ tên Jeanne Anselmo, cô là một nữ y tá (holistic nurse), đồng thời cũng là một chuyên viên trị liệu sử dụng liệu pháp phản hồi sinh học (biofeedback therapy) với 40 năm kinh nghiệm.

Tất cả cùng tham gia thiền tọa, thiền hành, pháp thoại và pháp đàm. Mỗi ngày đều có thời khóa dành cho những thực tập chăm sóc và trị liệu cơ thể như: thể dục để giải tỏa các thương tổn về tâm lý, Reiki, xoa bóp, yoga. Trong suốt khóa tu, lúc nào cũng có không gian dành cho bất cứ ai có nhu cầu chia sẻ tâm tư, tình cảm, quá trình diễn tiến của nội tâm hoặc muốn ngồi cùng một thiền sinh (có kinh nghiệm) để được lắng nghe sâu.

Mỗi ngày khi bình minh tới, mặt trời có vẻ như rạng rỡ hơn một chút. Mấy cái áo có mũ trùm đầu và những cặp kính đen từ từ biến mất, một con chó được huấn luyện để làm bạn cũng không thấy kè kè bên cạnh ông chủ cựu chiến binh của nó nữa. Những khuôn mặt sáng hẳn lên và những nụ cười tươi nở trên môi. Trong năm ngày ngắn ngủi, những người đủ may mắn có mặt trong khóa tu đã chứng kiến phép lạ của sự tỉnh thức xuất hiện ngay
trước mắt.

Buổi sáng cuối cùng của khóa tu, mọi người lo lắng vì có một cựu chiến binh vắng mặt trong thời pháp thoại. Thầy Pháp Uyển tìm thấy ông trong khi ông đang thưởng thức thiền hành trên những con đường rừng. Ông cho biết, chưa bao giờ ông cảm nhận được tình thương và sự chấp nhận hoàn toàn như ở đây, và vì vậy ông khó kiềm chế được cảm xúc. Có hai cựu chiến binh phát hiện ra là họ lái xe về nhà trên cùng một tuyến đường xa, vì vậy họ và hai người vợ quyết định sẽ cùng làm một chuyến lái xe về nhà trong hai ngày để vừa đi vừa thưởng thức.

Từ sau khóa tu ấy, có một số cựu chiến binh đã trở lại tu viện Bích Nham hoặc đến tu viện Mộc Lan để tu tập. Họ cũng giữ liên lạc với nhau qua Facebook của nhóm.

Nhờ Thich Nhat Hanh Foundation bảo trợ kinh phí nên những việc đó đã được thực hiện. Cảm ơn sự thực tập hạnh bố thí của nhiều tăng thân và các bạn thiền sinh trên toàn thế giới. Sự yểm trợ về tài chánh của Thich Nhat Hanh Foundation đã tạo điều kiện cho các cựu chiến binh và gia đình của họ được đi dự khóa tu.

Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, xin mời quý vị xem một đoạn phim ngắn về khóa tu này trên trang mạng https://www.youtube.com/ watch?v=nNOPne6GubU&list=PLNW70i8h5m_ tn567DFf8bKHdQzEM_VFUz

Anne Woods, Chân Đồng Xuân (True Collective Spring), là một luật sư đã về hưu, một cô giáo dạy võ và dạy yoga. Cô hiện đang thực tập với tăng thân Berkshire Mountain Laurel và thường xuyên về thực tập chánh niệm tại tu viện Bích Nham.

Từ suối thơm đến biển xanh

Thầy ở nhà thương

Đầu tháng giêng, Thầy được chuyển qua trung tâm phục hồi chức năng cũng ở trong khuôn viên nhà thương Bordeaux. Chỗ này phòng nhỏ hơn chỗ cũ, nhìn ra thấy đọt cây thấp thoáng. Ở đây họ tiếp tục cho Thầy tập nuốt, tập ăn, tập ngồi, tập đứng. Thầy cũng được tập đạp xe để kích thích dây thần kinh và cơ bắp để tập đi. Những ngày cuối tuần mà trời hơi ấm thì thị giả cũng đẩy xe Thầy ra parking đi một vòng. Nhìn Thầy ngồi sưởi nắng mà tôi trào nước mắt. Có thấy Thầy từ bất động đến tình trạng hiện giờ mới biết trân quý mỗi cử chỉ nhỏ nhoi mà Thầy làm được. Có một ngày Thầy kêu các thầy thị giả đẩy xe qua thăm khu nhà ban thị giả ở cách đó 20’. Ai cũng mừng vì thấy Thầy khoẻ đủ để đi xa như vậy dù sau đó Thầy phải nằm nghỉ rất lâu để lại sức.

Thời gian này tôi bắt đầu nấu xúp gạo lứt với rau để Thầy tập ăn thêm. Phải lọc rất kỹ để xúp mịn như da-ua thì nhà thương mới chịu chấp nhận và mỗi trưa thị giả chỉ được đút Thầy ăn (họ chỉ mình cách đút sao cho Thầy không bị sặc) khi có mặt họ để bảo đảm thức ăn không bị lọt vào khí quản. Nhiều người sau stroke đã bị chết vì nhiễm trùng đường phổi nên nhà thương rất kỹ về chuyện này, họ nghĩ rằng thức ăn chuyền vào đường bụng Thầy là đã đủ dinh dưỡng còn ăn bằng miệng chỉ để tập nuốt. Không ngờ Thầy biết đói bụng nên có một bữa tối, hiểu ra là Thầy đói chứ không phải đau bụng, thị giả bảo tôi nấu gấp cho Thầy rồi chạy về lấy đem qua vừa kịp giờ nhà thương đóng cửa. Sau đó dĩ nhiên là cho Thầy ăn bất-hợp-pháp vì ăn buổi khuya nào có nằm trong chương trình của nhà thương !!! Thấy Thầy nuốt được, khoẻ hơn, chúng tôi xin nhà thương cho Thầy ăn thêm buổi tối, họ đồng ý nhưng rồi họ không thể có mặt thêm vào buổi ăn chiều để “xem mình đút Thầy ăn”, mà họ không có mặt đồng nghĩa với chuyện mình không được làm vì họ sợ trách nhiệm. Thế là đành làm lén thôi, và mong biết bao Thầy hồi phục đủ để về nhà thì tha hồ ăn mấy bữa một ngày cũng được.

Tết tới, tôi theo sư cô Chân Không đi đi về về giữa nhà thương và Làng để có mặt cho các buổi lễ. Đón Tết trong nhà thương, cũng viết vài lời khai bút, mà nội dung chỉ xoay quanh sự cầu nguyện cho Thầy lành bịnh. Ngày mồng ba Tết cũng về dự được hội chợ của xóm Mới trong khi sư cô Chân Không hóa trang làm “ông đồ” bói Kiều cho thiên hạ. Lần đầu tiên tôi không chịu trách nhiệm làm một món ăn nào, nên đi lòng vòng thưởng thức đủ các món ăn của chị em một cách thong thả. Thấy ít ra mình cũng có ăn Tết.

Về lại Phương Khê

Đầu tháng tư, Thầy đòi về lại Làng. Thầy mặc áo lạnh, bắt thầy Pháp Hữu phải đưa Thầy ra xe đi về. Thầy Pháp Hữu gãi đầu: “Con mà đưa Thầy về mà không có phép bịnh viện thì con vào tù liền.” Sau đó Hội đồng bác sĩ chăm sóc cho Thầy phải họp ngay phòng Thầy để Thầy cho ý kiến, bàn tới điểm nào Thầy đồng ý thì Thầy gật đầu, điểm nào không đồng ý Thầy lắc đầu liền rất rõ ràng. Nghĩ rằng hoàn cảnh thay đổi sẽ giúp được cho Thầy nên họ đành ký giấy xuất viện và bảo lúc nào Thầy muốn trở lại cũng được. Về lại nhà Thầy rất vui và khoẻ hẳn ra. May là phía nội viện đã đóng xong cái sàn gỗ trong phòng Thầy và ở nhà ăn nên căn nhà như rộng hơn và dễ đi hơn. Sư cô Chân Không cũng nhờ thợ đổ xong một con đường xi măng quanh vườn để có thể đẩy xe Thầy đi dễ dàng. Thầy Pháp Duệ còn làm thêm một cái mái hiên bên hông nên có chỗ để dép không sợ mưa. Tôi về xóm kiếm mấy chậu lan đang ra hoa treo lên. Dễ thương lắm.

Chỉ khoảng mười ngày sau khi về Làng Thầy chứng minh cho thấy Thầy đã có thể nhai và nuốt được “bình thường” nên ai cũng giật mình – có thể Thầy đã hồi phục được phần nào khả năng này từ lâu mà mình không biết. Mình phải tin vào tuệ giác đòi rời bịnh viện trở về Làng của Thầy. Thế là từ đó tôi nấu cho Thầy ăn cơm ngày ba bữa chứ không còn ăn xúp nữa. Thầy ăn trả bữa nên nấu ăn cho Thầy hạnh phúc lắm tuy rằng phải kiêng cữ đủ thứ. Thầy lên cân từ từ. Chỉ trong vòng một tuần là đã thấy Thầy khác lắm.

Theo dự định, năm nay có chuyến hoằng pháp Đông Nam Á của Thầy gồm ba nước Nhật, Indo và Thái Lan. Khi tin Thầy bị stroke đưa ra, ban tổ chức khoá tu của ba nước đều vô cùng khó xử vì họ đang trong tiến trình tổ chức nhưng cuối cùng họ vẫn quyết định tiếp tục. Và vì thế, tăng thân Làng Mai cũng tiếp tục như những cam kết ban đầu. Dẫu biết rằng phải nối tiếp Thầy mới là điều Thầy mong muốn, nhưng trải qua những ngày tháng chứng kiến sự hồi phục từng chút của Thầy, sư cô Chân Không và tôi đều không yên tâm để đi đâu cả với tình trạng của Thầy hiện tại. Vậy mà vẫn phải đi. Đi vì không có Thầy thì các con lớn phải đại diện. Đi vì không thể hủy chuyến đi dạy ở Nhật một lần nữa, vì tôi trách nhiệm một phần tổ chức ở Nhật. Đi vì ở Indo ban tổ chức khẩn thiết mời sư cô Chân Không qua dạy thì họ mới dám quảng cáo cho khoá tu. Cho tới lúc này, chưa ai biết nhiều về một thầy cô giáo thọ Làng Mai nào khác ngoại trừ sư cô Chân Không vì sách của sư cô cũng “ăn khách” không kém sách Thầy ở Indo. Còn Thái Lan, không thể nào không đi vì đó có “nhà” của mình mà, chưa kể là Sư cô với tính cách “chị cả” thay mặt Thầy để thăm những sư em mới xuất gia trong hai năm qua. Thế là cuối tháng 4, bàn giao lại những chuyện đang làm và cả nỗi lo lắng trong việc chăm sóc Thầy, tôi xách vali, làm thị giả Sư cô, lại lên đường.

Qua Nhật

Chúng tôi ở chùa Nhật Tân ngay trong Tokyo của sư cô Tâm Trí. Các thầy cô của học viện Phật giáo Ứng dụng châu Á đã đến trước đó cả tuần để sắp xếp mọi chuyện nên không khí khá thoải mái. Ngày hôm sau chúng tôi chia ra nhiều nhóm đi khám phá Tokyo, có nhóm thì lo chuẩn bị cho buổi pháp thoại công cộng ngày 29/1. Tôi tháp tùng theo nhóm của sư cô Chân Không (lúc này đã có sư em Duệ Nghiêm tới từ Thái Lan làm thị giả sư cô) đi thăm vườn Nhật Hamarikyu, nơi mà trước đây, vào thế kỷ thứ 17, trực thuộc mạc phủ của gia tộc tướng quân Đức Xuyên Thị (shogun Tokugawa). Công viên rộng mênh mông, ở cổng vào có một cây thông cổ thụ lão đến nỗi một nhánh ngang phải dùng cây chống để khỏi trốc gốc. Nghe nói cây thông đó đã được 300 năm. Trong công viên có một cái hồ nhỏ trong đó có một trà thất để du khách có thể thưởng thức trà xanh và bánh ngọt được phục vụ theo kiểu nghi lễ. Chúng tôi đặt một phần trà bánh cho sư cô Chân Không và kinh ngạc nhìn chiếc bánh bé xíu vô cùng tinh xảo trên chiếc khay. Chiếc bánh đẹp và giống đến nỗi mình không dám ăn. Được biết là đang mùa hoa nào thì họ làm bánh theo hình dạng hoa đó.

Ngày 29 là buổi pháp thoại đầu tiên ở Nhật. Thầy Pháp Ấn được chia phiên giảng nhưng thầy đề nghị nên mời thêm các sư cô Chân Không, Diệu Nghiêm và thầy Pháp Đăng để có hình ảnh tăng thân thay thế Thầy. Chúng tôi chắp tay niệm Quan Âm để bắt đầu trong tiếng vĩ cầm réo rắt của sư cô Trai Nghiêm, như mọi lần. Nhớ tới Thầy và thấy như Thầy đang ngồi đó, giữa các thầy cô lớn của Làng Mai, lắng nghe chúng tôi với định lực hùng mạnh như bao giờ.

Ngày 30 được nghỉ để ban tổ chức khoá tu có giờ chuẩn bị. Chúng tôi, những người còn lại, được thượng tọa Issho Fujita của phái Tào Động và cô chú của sư cô Trai Nghiêm hướng dẫn đi thăm Kamakura, một thành phố trong quá khứ là một đô thị quan trọng và có nhiều kiến trúc đặc sắc, bây giờ là một thành phố cổ thu hút du khách quốc tế. Chúng tôi đi bằng xe lửa và dạo bộ trên những con đường đất đơn giản như những kiệt ở Huế.

Nhà hai bên đường nhỏ và xinh. Những bụi trúc xanh dọc đường gợi nhớ những con đường làng quê hương. Buổi sáng chúng tôi đi thăm chùa Engaku, một trong “ngũ sơn” của thiền phái Lâm Tế ở Kamakura. Những chùa còn lại của ngũ sơn là Kencho (tổng hành dinh của phái Lâm Tế), Jufuku, Jochi, và Jomyo. Chùa Engaku là nơi mà thiền sư Suzuki bắt đầu học hỏi về thiền nên rất nổi tiếng. Khi đi dạo trong khuôn viên chùa, chúng tôi bắt gặp hai vị tu sĩ trẻ trong y phục tu sĩ màu xanh, mang đôi guốc gỗ (đúng kiểu đôi guốc gỗ đặc trưng của Nhật) đang di chuyển. Hình ảnh này rất tự nhiên, nhưng tự dưng toát ra phong thái của một xuất sĩ trong tu viện và khác vô cùng với các vị xuất sĩ mặc âu phục hay có gia đình ở Tokyo mà tôi đã từng được gặp. Chúng tôi ăn trưa theo kiểu pic nic ở đền thờ thần đạo Hachimangu. Buổi xế, chúng tôi đi thăm chùa Kotoku của Tịnh Độ Tông, nơi có tượng Bụt A Di Đà nổi tiếng lớn vào hàng thứ hai ở Nhật.

Ngày 1/5, di chuyển lên thành phố Yamanashi. Ngủ đêm ở một nhà trọ có suối nước nóng chảy qua nên ai cũng hạnh phúc, hôm sau lên chỗ tổ chức khoá tu ở một khách sạn lớn dưới chân núi Phú Sĩ.

Núi Phú Sĩ
Đã qua Nhật một lần nhưng tôi chưa có cơ hội được nhìn núi Phú Sĩ, ngọn núi quanh năm tuyết phủ tuyệt đẹp nổi tiếng thế giới. Lần này, khóa tu được tổ chức ngay một khách sạn dưới chân núi nên tôi tha hồ mà ngắm cảnh buổi sáng, buổi chiều, nhất là giờ ăn (vì phòng ăn có cửa kiếng nhìn ra phía núi) và giờ thiền hành. Lúc nào nhìn cũng thấy đẹp, cũng thở một hơi dài ý thức là mình hạnh phúc biết bao khi còn có thể nhìn được. Hôm khoá tu chấm dứt, ban tổ chức cho đi thăm núi, xe lên đến trạm thứ 5 ở độ cao 2,305 mét, thì dừng lại. Từ đây đến đỉnh không dùng xe được nữa, phải leo tiếp khoảng ba tiếng nữa mới lên tới đỉnh. Chỉ có khoảng một tiếng để ở đây nên tôi đành đóng vai “cưỡi ngựa xem hoa” ở những gian hàng lưu niệm và ngôi đền thần đạo. Có một chỗ mà mình có thể tự đóng dấu chứng minh mình đã ở trạm thứ 5, tôi đoán là dành cho người leo núi lưu ký ở từng trạm, nhưng cũng hí hởn xin tờ giấy, trịnh trọng đóng con dấu mực tím hình núi Phú Sĩ vào. Sư cô Hỷ Nghiêm rủ tôi ra chụp hình ở địa điểm có thể thấy núi rất gần. Gần đủ để tôi thấy rõ đây là chỗ cuối cùng còn tuyết.

Chỗ chúng tôi đứng chụp hình tuyết tan rất lầy lội còn lên trên một chút là những tảng tuyết cứng như băng đang trong hình thể chảy dài xuống. Đất ở đấy không còn cây nữa và đen như than. Tôi nhìn ngọn núi bây giờ như một chiếc bánh “black cake” hình tháp đang phủ kem trắng và bật cười với ý nghĩ so sánh đó. Sau này, khi máy bay bay ngang núi Phú Sĩ, thầy Pháp Hộ đã quay được đỉnh núi nhìn từ máy bay xuống với vài ngọn khói còn bốc lên leo lét. Tôi nào có nghĩ mình sẽ được thấy đỉnh núi Phú Sĩ như vậy đâu.

Khóa tu chấm dứt, mọi người hạnh phúc như bao nhiêu khóa tu đã từng có ở các nơi khác bỏ qua sự vất vả của ban tổ chức. Trên đường về lại Tokyo chúng tôi được đãi một món vô cùng đặc biệt: mỗi người một tô mì Udon to “khủng khiếp”, mà ăn hết mới tài. Nhà hàng vừa xách tô mì to như cái nồi có quai cầm ra để trước mặt một người là bắt đầu có tiếng cười khúc khích, và flash lóe lên. Ai cũng muốn có một bức hình với tô mì đặc biệt này vì ở Nhật, thứ gì cũng tinh tế đầy nghệ thuật và nhỏ chút xíu, những bữa ăn trong khoá tu thường là không đủ lượng cho những người ăn khoẻ. Nhưng tô mì vĩ đại này trong một khung cảnh rất Nhật đột nhiên gợi nhớ tới một tính cách khác của Nhật: rất mạnh mẽ, quyết liệt với đời sống khắc nghiệt, một hình ảnh người nông dân ăn chắc mặc bền còn nghệ thuật là thứ yếu.

Những ngày còn lại ở Tokyo là ngày tu chánh niệm cho nhiều thành phần: chuyên gia y tế, doanh nhân, xuất sĩ, người Việt. Cũng trong những ngày này chúng tôi có tin Thầy đau bụng phải nhập viện gấp ở La Reole. Đích thân bác sĩ Rounet (trách nhiệm về Thầy ở bịnh viện Bordeaux) xuống thăm và khi Thầy ngỏ ý muốn rút ống G-tube ra, bác sĩ bảo điều đó cũng đơn giản, một vài hôm nữa Thầy khoẻ hơn sẽ làm. Ai ngờ là sau đó, Thầy đã tự mình giật lấy ống dẫn thức ăn ra khỏi bụng rồi nằm cười tủm tỉm. Thị giả đổi phiên trực không biết, mãi sau đó mới khám phá ra và kêu y tá vào sát trùng. Chắc là rất đau, nhưng … Thầy mà. Bác sĩ Rounet cười, quá biết tính cách của Thầy: “Il a toujours son propre projet” (Thầy luôn luôn có kế hoạch riêng của mình). Càng ngày sự hồi phục của Thầy càng tiến triển. Chân trái của Thầy cũng đã bước đi được những bước đầu tiên và Thầy đã có thể ngồi một mình trên băng ghế ít phút mà không cần người vịn.

Ghé Indonesia

Ngày 13/5 từ Nhật bay đi Indo, được ban tổ chức cho lên thẳng chỗ sẽ làm khóa tu cách đó khoảng 3 tiếng lái xe. Tới nơi trời đã tối mịt, chỉ thấy xe chạy vòng vòng như lên núi. Xuống xe ngỡ ngàng nhìn căn nhà mình sẽ ở mà ngạc nhiên. Nhà đẹp và sang quá. Mỗi ngôi nhà có nhiều phòng, có bếp, có phòng khách, chị em các nơi lâu nay xa cách giờ gặp nhau thật vui. Người Indo hiếu khách, sư em người Indo lại quá biết tâm lý của chị em phương Tây về châu Á nên trái cây nhiệt đới và bánh trái địa phương để đầy bàn. Họp cho khoá tu rất sôi nổi và không ai từ chối nhiệm vụ được giao vì không có Thầy, tinh thần tự nguyện bỗng thật cao. Huynh đệ học cách chia nhau những trách nhiệm mà mọi lần, có Thầy thì không ai phải làm.

15 – 20: Khóa tu đông như mọi lần. Cũng những chia sẻ rất thật và cảm động. Nhóm pháp đàm của tôi có cặp vợ chồng thí chủ cúng đất để xây trung tâm Làng Mai Indo. Họ kêu nhân viên đi dự khoá tu và lập tăng thân trong sở làm. Tôi gặp một gia đình gồm ba mẹ con người Việt từ Singapore qua dự. Họ thích đi khóa bằng tiếng Anh để xem thử ra sao.

Khóa tu chấm dứt, được một ngày nghỉ. Tôi đi thăm vườn rau organic gần đó. Đúng là organic, cỏ dại mọc đầy, không vui bằng đi thăm vườn nhà mình vì cố gắng lắm cũng không mua được nhiều loại rau như mình tưởng.

Về lại Jakarta, chúng tôi chia nhau ở ba khu nhà khác nhau trong khi các thầy thì ở chùa của sư phụ thầy Pháp Tử. Mỗi khu nhà chăm sóc khách của mình riêng biệt. Tôi ở chung với sư cô Chân Không và thị giả. Chủ nhà người Hoa nên cưng sư cô bằng cách ngày nào cũng cho ăn những món ăn rất ngon, tôi ăn ké chắc cũng lên cân.

Thăm đất mới

Ngày 11/6 có pháp thoại của Sư cô Chân Không và thầy Pháp Đăng ở chùa Ekayana. Ngày 12 bay đi Yogakarta, từ đó đi xe lên đất mới. Buổi chiều là lễ đặt đá ở đất mới. Chúng tôi tới sớm để làm lễ tẩy tịnh xong người dân địa phương mới tới dự. Họ mặc những bộ đồ cổ truyền đẹp đẽ và đãi bánh trong những hộp lá chuối rất địa phương và ngon. Họ làm lễ theo nghi của họ xong thì chúng tôi tụng kinh để cầu nguyện, ban phước cho đất mới.

Sau đó chúng tôi về Kaloran, ở ngay khách sạn Borobudur. Năm xưa chỉ có Thầy và một nhóm nhỏ được ở đây vì số phòng giới hạn, năm nay cả đoàn đều được ở. Buổi ăn được đặt ở phòng ăn ngoài trời như chuyến trước lại làm tôi nhớ tới Thầy. Hôm sau, vì đã ở sẵn trong khách sạn nên đoàn lên thăm Borobudur rất sớm. Đi từ lúc trời còn tối hù để lên xem mặt trời mọc. Tôi đi cho Thầy. Mỗi bước chân đều nhớ là Thầy đang tập đi ở Nội Viện. Đi lên tới tầng cao nhất, ngồi xuống, cũng nhớ ngồi cho Thầy, nhớ Thầy đã ngồi đây bốn năm về trước. Ngồi thiền chờ xem mặt trời mọc mà hôm nay có mây nên không thấy mặt trời, nhưng mặt trời có mất đâu mà lo. Tôi đi thiền hành nhiều vòng ở mỗi tầng, từ cao xuống thấp. Mỗi bước chân lại niệm Bụt, niệm Thầy.
Cuối tháng, đi tiếp chặng chót là Thái Lan.

Vườn xoài Thái

 Làng Mai Thái Lan đẹp quá. Chỉ có hai năm mà tu viện đã khác nhiều. Những cây phượng đã cao khỏi đầu người, tỏa bóng mát và ra hoa, nhất là cây phượng gần cốc Thầy nở đầy những đoá hoa đỏ thắm trên nền lá xanh dù mới bước vào đầu hè. Cốc Thầy đã xây xong, nhỏ thôi, nhưng là nhà sàn và khang trang. Người Phật tử cúng dường tiền xây cốc đã lựa chọn loại gỗ thật tốt. Tôi đi thăm cốc Thầy, lòng bâng khuâng biết có khi nào Thầy sẽ về được đây để cốc ấm hơi người.

Ngày tôi đi Thầy còn yếu lắm. Mới ăn lại được thôi. Chặng đường hồi phục còn rất dài mà tuổi người đã cao, sức khoẻ vốn dĩ xưa nay cũng không tốt chi. Nhưng Thầy hồi phục được chút nào tôi mừng chút đó. Cứ nhớ hoài lúc Thầy nằm mê man và bác sĩ lắc đầu thì lúc đó mình chỉ mong Thầy ở lại với đời còn “sao cũng được”. Bây giờ Thầy đã xuất viện, đã hồi phục trí nhớ, đang khoẻ từ từ, thì đừng tham lam quá, tôi nhắc mình như vậy.

Cốc của Sư bá Giác Viên cũng đã xây xong ở gần đó. Những con đường lầy lội đất đỏ đã được trải đá trắng nên việc di chuyển giữa các xóm dễ dàng hơn rất nhiều. Ba căn nhà lá dựng thành hình chữ U dành cho cư sĩ nữ đã được xây xong. Thiền đường đã được sửa lại, có vách để che mưa che nắng và một nhà bếp sắp hoàn thành để thế chỗ cho căn nhà tranh dành làm chỗ ở tạm cho cư sĩ nam. Xóm quý thầy tre cũng đã lên dầy làm thành một hàng rào tự nhiên bảo vệ tăng xá. Và chỗ mà năm nào Thầy dẫn đại chúng ra ngồi thiền mỗi sáng với các vị Bụt bằng đá rải rác đã trở thành thiền đường Vách Núi rất dễ thương vì không còn cây dại, chỉ toàn một màu cỏ xanh.

Buổi sáng sau hôm mới tới, tôi rủ một sư em đi dạo. Ngang vườn xoài đầy trái, thấy trái vàng rụng đầy tôi ham quá, lượm cả ôm đem về. Sư em đi cùng chỉ những trái còn xanh trên cành mà đã biết là trái nào ăn được và hái cho tôi ăn thử. Thế là chỉ mới ngày đầu tiên tôi đã ăn sáng bằng ba trái xoài. Đúng là ở nhà vườn (nhà có vườn) thật khác với ở thành thị. Những ngày sau đó tri khố ưu ái khi thì xoài, lúc thì dừa, lâu lâu thì sầu riêng, nhãn, măng cụt, còn đu đủ thì đi quanh xóm thấy trái vàng cứ hái. Nghe nói những cây đu đủ trồng mấy năm trước bây giờ trĩu quả ăn không hết. Và các sư em Trăng của tôi, vườn ươm Việt Nam và Thái Lan cũng trồng giỏi quá nên bây giờ tôi không cách nào nhớ tên tất cả (để biện minh cho cái trí nhớ bắt đầu làm reo của mình đó vì cứ phải hỏi lại tên các sư em hoài).

Hôm sau sư cô Chân Không chiếu cái video clip quay Thầy đang ăn ở Sơn Cốc. Thấy hình ảnh Thầy khoẻ, tự ăn được, đại chúng mừng quá. Nhiều sư em xuất gia nhưng chưa từng gặp Thầy, bây giờ được thấy tận mắt (dù là qua clip) vô cùng hạnh phúc.

Không có Thầy, sư cô Chân Không phải thế vào đó. Sư cô lắng nghe từ người lớn đến người nhỏ, giải quyết chuyện từ Thái Lan đến Việt Nam, chụp hình với các sư cô sư chú trẻ chưa từng được gặp Thầy. Các sư em thuộc gia đình Cây Sồi Đỏ đang ở Việt Nam cũng được mời về để Sư cô gặp mặt. Một nhà đoàn tụ vui quá chừng. Tôi thì ngoài việc giúp cho khoá tu ở Wang Ree, chỉ ở lại trung tâm để chơi với các sư em, để nghỉ ngơi sau hơn nửa năm chăm sóc Thầy.

Cũng trong tháng 6, gọi về Làng nghe tin Thầy đã thỉnh thoảng niệm theo được danh hiệu Quan Âm, đã đủ sức lên xe đi thăm xóm Mới một ngày. Dĩ nhiên Thầy vẫn còn những đau nhức, những khó chịu trong thân, nên mỗi tiến bộ chút chút của Người là một cố gắng lớn. Tôi học được từ Thầy mỗi ngày, ngày Thầy khoẻ cũng như lúc Thầy bịnh, học từ sự chịu đựng cũng như ý chí, từ sự kiên nhẫn tới lòng từ bi với học trò.

Khoá tu xuất sĩ vừa bắt đầu thì Sư cô Chân Không và tôi rời Thái Lan. Xa Làng đã quá lâu rồi. Những gì cần phải làm đã làm xong. Mà thật ra có bao giờ là xong khi việc xây dựng tăng thân là việc cả đời.

Tre Phương Khê

Về lại Pháp. Rừng tre tại nội viện xanh mát. Các thầy thị giả giỏi ơi là giỏi, đã dựng một chiếc lều bằng tre trong rừng tre ở Sơn Cốc, có tấm phản tre để Thầy và thị giả cùng uống trà bên suối. Thầy bắt đầu di chuyển được với sự giúp đỡ của thị giả. Thầy tập “đi” mỗi ngày. Có lúc đi cả ra rừng tre dù đất lồi lõm với những gốc tre cắt không sát.

Sức khoẻ Thầy cũng ổn định hơn. Chúng tôi mời người tới để phục hồi chức năng nói của Thầy, mời nhiều bác sĩ với phương pháp trị liệu khác nhau tới nhưng chưa có kết quả khả quan lắm. Nên cuối tháng sáu, khi nghe nói ở bệnh viện UCSF bên Mỹ có máy tập đi cho người bị đột quỵ rất có kết quả thì Thầy ra dấu muốn đi Mỹ. Ngày nào Thầy cũng ra lịnh sư cô Chân Không và hai thầy Pháp Dung, Pháp Linh lo việc cho nhanh. Thế là sau mọi liên lạc cần thiết, sau những kết quả khám tổng quát khả quan, vừa bước vào tuần đầu của khoá tu mùa hè thì ban thị giả khăn gói theo Thầy leo lên phi cơ bay qua Mỹ.

Lúc đầu chúng tôi rất lo. Lo vì không biết tình trạng não của Thầy có an toàn khi máy bay lên cao không, lo vì chuyến bay dài hơn 9 tiếng không biết Thầy có chịu nổi không, v.v. Nhờ vào sự giúp đỡ tận tình của một mạnh thường quân Mỹ có chuyên cơ riêng, bảo đảm chỉ bay ở độ cao 10,000 mét, “êm như ở trong nhà”, cộng với sự đồng ý của nhiều bác sĩ và có bác sĩ Thái từ Paris xuống cùng đi để cứu cấp khi cần thiết nên chuyện Thầy qua Mỹ đã được thực hiện.

Biển xanh

Ngày 11 tháng 7, Thầy tới phi trường San Jose, bình an, không đuối sức lắm. Thầy Pháp Linh và Pháp Siêu, Pháp Huy đã đem xe đến tận chỗ đậu máy bay để đón Thầy. Có hai chỗ ở để chọn lựa là ở San Jose và San Francisco. Dù ở đâu thì ê kíp bác sĩ của UCSF cũng đồng ý tới tận nhà để làm việc với Thầy hai lần một tuần. Lúc đầu Thầy về San Jose vì gần phi trường và rộng rãi nhưng sau một tuần nghỉ ngơi, khi đi lên San Francisco để khám bịnh thì thấy đường đi quá lâu vì bị kẹt xe, khám bịnh xong Thầy về nhà ở San Francisco nghỉ ngơi và quyết định ở lại San Francisco luôn. Hôm đó, tôi và sư cô Trung Chính đang nấu ăn chiều cho Thầy thì được điện thoại báo tin là đem đồ ăn, và dọn luôn cái bếp, lên San Francisco. Hai chị em nấu nướng và dọn dẹp trong một thời gian kỷ lục rồi xách va-ly, đóng thùng thức ăn (vừa đi chợ hồi sáng nữa chứ) leo lên xe di chuyển tiếp.

Căn nhà ở San Franciso khá lớn, có cái bếp và tủ lạnh, tủ đựng ly chén rất lý tưởng nên ban nhà bếp vui lắm. Có tủ riêng để đồ ăn chúng và tủ riêng để đồ ăn cho Thầy. Căn nhà ở một vị trí rất đẹp, nhìn ra có thể thấy biển xanh và cầu Golden Gate. Ở đây ra biển mất 30 phút đi bộ và xuống phố cũng khá gần, nhất là có xe buýt công cộng ngay góc đường. Nhà ở trên cao nên gió mát rất sướng, tuy nhiên đi đâu cũng phải leo dốc mới về được nhà nên tôi tha hồ mà tập thể dục mỗi khi ra ngoài. Thầy và nhà bếp ở một tầng, hai tầng còn lại dành cho ban thị giả. Chúng tôi nằm đất, khắp chốn, mới đủ chỗ. Thậm chí có hai thầy còn giăng lều trên sân thượng. Có giờ rảnh ai cũng ra ngoài thiền hành vì khí hậu dễ chịu, có không gian. Sư cô Trung Chính ngày nào cũng ra biển. Tôi thì lâu lâu mới đi một lần vì làm biếng leo dốc trở về. Nhưng cũng có ngày tôi đem theo thức ăn sáng đi với sư cô ra biển ngồi ăn. Có ngày tôi đi với sư cô ra biển ngắm … biển. Biển vùng vịnh thật êm, sóng không mạnh và xanh lắm. Trên đường ra biển đi ngang một công viên có cái hồ, sư cô Trung Chính và tôi thích đem bánh mì vụn, cơm khô ra rải cho chim bồ câu và vịt ăn. Nếu mình để cơm trong lòng bàn tay thì có những con chim rất dạn tranh nhau bay lên đậu ngay cánh tay để mổ cho gần rất thích.

Tôi và sư cô Trung Chính chia nhau nấu ăn cho Thầy đỡ ngán vì Thầy phải kiêng cữ khá nhiều mà số lượng rau củ để chọn lựa thì có giới hạn. Ngày nào tôi cũng lên mạng lục tìm thêm món này món kia để thay đổi khẩu vị cho Thầy. May là ở Mỹ có bán đồ hữu cơ nhiều, thức ăn dinh dưỡng và thức ăn thuộc dạng kiêng khem cũng nhiều nên tôi tha hồ thí nghiệm. Không biết về Pháp rồi nấu làm sao đây!!

Nhìn cầu Golden Gate đi

Có một ngày trong tháng 9, ông chủ nhà tới thăm Thầy và thấy chúng tôi ở chật quá, nhất là Thầy phải ở ngay phòng khách sát bếp bị tiếng động ồn suốt ngày vì bếp ngoài việc nấu ăn cũng là nơi ăn của ban thị giả, nơi tiếp khách tới thăm nên ông hoan hỷ mời mình sử dụng luôn ngôi nhà còn lại của ông ở kế đó, chỉ cách nhau một bãi cỏ với vài cây phong già cành lá sum suê. Thật ra ông ta cũng đã có dự định mời mình sử dụng ngôi nhà đó lâu rồi nhưng vì đã lỡ hứa cho khách của ông tới thăm ở lại nên ông ta tính chờ sau khi khách rời thì mới mời mình dọn vào. Bây giờ thương Thầy, thương mấy thầy mấy sư cô quá nên ông quyết định để khách của ông ở chỗ khác cho mình có thể sử dụng nhà sớm. Thế là Thầy và ban thị giả nam dọn qua nhà mới rộng rãi nhiều phòng hơn, còn các sư cô thị giả ở lại nhà cũ.

Ở nhà mới có nhiều phòng nên ban thị giả có nhiều không gian hơn, nhất là có phòng để làm thiền đường ngồi chung với nhau mỗi sáng. Phòng Thầy có cửa kiếng lớn nhìn ra cầu Golden Gate. Thầy hay ngồi nhìn phía đó. Thỉnh thoảng tôi ghé thăm Thầy buổi sáng sau giờ ngồi thiền, Thầy giơ tay chỉ cây cầu cho tôi ngắm. Có ngày cây cầu chìm trong sương sớm nhìn không rõ, Thầy vẫn chỉ. Thầy vậy đó bạn hiền, dù bịnh, không quên nhắc nhở học trò về giây phút hiện tại. Tôi nghĩ tới thiền ngữ “Uống trà đi” chắc có thể có thêm phiên bản mới: “Nhìn cây cầu đi”.

11/10. Hôm sinh nhật Thầy nhiều người tới dự lắm dù mình không báo cho ai biết. Vì đang trong chuyến hoằng pháp Mỹ nên có đông anh chị em xuất sĩ có mặt. Một số cư sĩ biết tin cũng kéo tới. Thầy mặc áo tràng, “đi” ra ngồi trên một chiếc ghế chứ không ngồi xe lăn. Đại chúng niệm bồ tát Quan Thế Âm Thầy cũng niệm theo. Đại chúng hát Thầy đánh nhịp. Khi thổi nến sư cô Chân Không phải rút cây nến đưa cho Thầy, Thầy cầm cây nến xoay một vòng rồi thổi tắt. Ai cũng cảm động. Thiệt ra trước giờ tôi nào thấy Thầy thổi nến sinh nhật, Thầy cũng không thích những chuyện như vậy vì tính Thầy rất hay ngại, nhưng biết sự có mặt của Thầy đem hạnh phúc đến cho tất cả mọi người nên Thầy chịu khó đi ra. Nhiều người bật khóc. Tôi thì cười mà trong lòng rưng rưng, Thầy ơi, sao Thầy chiều con của Thầy quá vậy?

Thực tập

Thầy khoẻ hơn, nên hai hôm sau Thầy bắt đầu ra thiền đường ngồi thiền với đại chúng mỗi sáng. Đây là một bước tiến lớn trong quá trình hồi phục của Thầy. Chúng tôi hô canh, ngồi thiền nửa giờ, rồi làm sám pháp địa xúc. Ông chủ nhà hay tới ngồi thiền chung. Bà bác sĩ riêng của Thầy trong UCSF cũng thỉnh thoảng ghé qua vì nhà bà gần đó. Có khi ông chủ nhà dẫn những người ông quen mà muốn thăm Thầy tới ngồi thiền để được chào Thầy. Có nhiều người quen Thầy và cũng quen cả ông chủ nhà nghe tin Thầy đang ở nhà ông thì cũng ghé tới ngồi thiền, thăm hỏi như ông Jack Kornfield (trung tâm Spirit Rock ở Bắc Cali, dạy thiền Vipassana), ông Robert Thurman (dạy ở Columbia University về Phật giáo, học giả về Phật giáo Đại thừa nhất là Tây Tạng), ông Gary Shandling (danh hài nổi tiếng của truyền hình Mỹ), v.v..

Vui nhất là có một cô hàng xóm cũng xin tới ngồi thiền mỗi ngày với chúng tôi. Cô ngồi rất siêng, không vắng buổi nào. Rồi cô viết một tấm thiệp cám ơn các thầy và các sư cô đã cho cô ngồi thiền chung và cúng dường. Không biết chúng tôi giúp cô hay cô giúp chúng tôi vì sự siêng năng của cô, làm nhiều bữa mệt quá, tôi tính “cúp cua” một bữa, chợt nhớ có cô hàng xóm chịu khó dậy sớm đi bộ tới để ngồi với mình mà mình không có mặt thì hơi kỳ, thế là ráng đi, để rồi nhận ra cái mệt đó cũng không thiệt là mệt mà còn có chút làm biếng trong đó.

Mỗi ngày mà nắng đẹp thì Thầy ra sân đi thiền hành với mọi người. Đi, có nghĩa là Thầy ngồi xe cho thị giả đẩy vòng vòng trong sân. Những thân hữu đem cơm cho ban thị giả hay muốn tới thăm Thầy mà đủ duyên, gặp hôm Thầy đi thiền hành thì được đi chung luôn. Những ngày khoẻ nhiều Thầy làm dấu cho thị giả đẩy xe ra đường, đi vòng quanh khu phố. Ở đây không có người qua lại nhiều nên có hôm, tăng thân vùng nam Cali lên thăm Thầy, tới mấy chục người mà đi thiền hành theo xe Thầy không làm cản trở lưu thông gì cả.

Tấm lòng Bồ tát

Không phải chỉ cho mượn chuyên cơ để di chuyển, nhà để ở mà mọi chi phí điện nước chúng tôi đều không phải trả vì Marc, ông chủ nhà, quả thật rất tử tế. Cali những ngày này thiếu nước trầm trọng, nhiều nơi phải để cỏ chết vì không được phép tưới nước, nhà nào cũng được khuyến cáo hạn chế sự tiêu dùng mà chúng tôi thì đông, đương nhiên sử dụng nhiều hơn mức bình thường, nhưng ông không hề nhắc nhở dù rằng tôi nghĩ ông nhắc nhở thì cũng đúng thôi.

Đã vậy, bà vợ ông, Lynn, đã nhờ cô y sĩ Peggy là bác sĩ đông y riêng của ông bà khám và châm cứu cho chúng tôi, tất cả thị giả của Thầy. Cô Lynn nói là thị giả có khoẻ thì mới giúp Thầy được nên rất muốn cô Peggy chăm sóc sức khoẻ cho chúng tôi luôn. Chi phí châm cứu của cô Peggy rất cao, ấy vậy mà sau khi được cô Lynn nhờ, cô Peggy đã làm miễn phí cho chúng tôi mỗi tuần hai lần. Coi như ai vừa đau là tới cô Peggy chữa liền. Và bất kể giờ nào, hễ Thầy đau là cô tới ngay để giúp Thầy.

Bà bác sĩ Vail cũng vậy, là bác sĩ riêng của Marc, là một trong những bác sĩ giỏi của UCSF, phụ trách trường hợp của Thầy và cũng lo luôn cho chúng tôi từ đi thử máu, chụp hình tới chích ngừa cúm. Chúng tôi hay nói đùa là Marc “bao trọn gói”, vì thỉnh thoảng đặt pizza, cà rem đem tới cho chúng tôi, thỉnh thoảng lại mời chúng tôi qua nhà ông ta để chơi với gia đình ông ngày cuối tuần.

Có một bác sĩ khác, bác sĩ Quốc, dạy và làm việc ở UCSF, tình cờ được biết đến tình trạng Thầy do chữa trị cho một người thiền sinh, đã liên lạc xin chữa bệnh miễn phí cho Thầy và chữa rất hay, làm Thầy bớt đau rất nhanh. Và dĩ nhiên hương lành bay xa nên học trò Thầy cũng níu áo bác sĩ Quốc: người đau vai, kẻ đau tay, đau lưng… Có một bữa bàn tay phải của tôi bỗng dưng bị đau, cầm đôi đũa không vững. Tôi vội vàng “xếp hàng” chờ gặp cho được bác sĩ Quốc vì nếu không chữa thì khỏi nấu ăn cho Thầy luôn. Chưa tới 5 phút bấm bấm kéo kéo, bàn tay tôi đã hết đau liền trong sự vô cùng kinh ngạc của tôi. Bác sĩ Quốc đông bệnh nhân đến nỗi không chịu nhận bệnh nhân mới và không có nhiều giờ rảnh nên phải lấy giờ ăn trưa hoặc giờ nghỉ cuối tuần để tới chữa cho Thầy.

Còn ông nha sĩ Blende, nổi tiếng hàng đầu ở San Francisco và cũng tính tiền rất mắc, khi yêu cầu cô thư ký đừng lấy tiền của mình sau khi ông mổ cho Thầy và cô thư ký hỏi: “Tại sao không ghi khi đó là một số tiền lớn như vậy?” ông đã trả lời: “Nếu cô làm cho đức Giáo Hoàng thì cô có lấy tiền không? Đây cũng vậy” (dĩ nhiên sau đó mình vẫn phải trả những dịch vụ khác như gây mê, tiền phòng, v.v..). Chẳng những làm không lấy tiền, sau đó mỗi khi Thầy có vấn đề về răng ông cùng ê kíp của mình đến tận giường Thầy để chữa miễn phí và ông tuyên bố: “I am the dentist of Thich Nhat Hanh” (tôi là nha sĩ của Thầy Nhất Hạnh).

Thuyết giảng

Ông chủ nhà là CEO một công ty lớn nhưng ông đọc sách Thầy nhiều, đứng ra mời nhiều CEO khác tham dự một ngày quán niệm do Thầy hướng dẫn tại nhà ông hai năm trước, và rất thích sự tu tập của Làng Mai. Nếu năm nay Thầy không bịnh ông đã dự định mời Thầy giảng trước 150,000 người rồi.

Bây giờ không có Thầy, thì còn … con Thầy. Các thầy và sư cô thị giả cũng được mời hướng dẫn nhân viên ông về cách tu chánh niệm. Khoảng vài tuần là mình đi hướng dẫn hai, ba buổi cho hai, ba bộ phận trong công ty. Công ty ông lớn nên có nhiều bộ phận và mỗi bộ phận mời mình vào ngày giờ khác nhau. Mỗi lần đi chỉ có hai, ba thầy và sư cô thôi nhưng họ hạnh phúc lắm. Mình chia sẻ gì họ cũng thích hết. Có ngày mình cho một bài pháp ngắn. Có ngày mình cho thiền hướng dẫn. Có ngày mình cho vấn đáp, v.v.. Tùy vào khả năng và sở thích của các vị thị giả mà mỗi buổi hướng dẫn có hương vị khác nhau. Còn sư cô Chân Không đi làm răng ở Ventura mà vì phải ở lại mấy ngày, cũng ra thuyết pháp trong một đạo tràng niệm Phật A Di Đà. Sư cô dạy thiền buông thư, thiền lạy và cho vấn đáp sau bài pháp thoại về Thiết lập truyền thông. Họ thích quá, nài nỉ lần tới sư cô có dịp ghé thì cho luôn một khóa tu năm ngày thì mới đủ.

Tháng 11

Đầu tháng, tôi bay về Lộc Uyển vì có cuộc họp. Có dịp đi thăm ni xá mới xây xong. Rốt cuộc rồi sau bao nhiêu năm chờ đợi bây giờ các sư cô đã có một chỗ nghỉ ngơi ấm áp và được ở với nhau. Vách làm bằng rơm nên khá dầy, do đó diện tích ở thật sự nhỏ hơn sự hình dung của tôi khi nhìn bảng vẽ. Tôi nghĩ bụng sợ không đủ chỗ ở cho cả chúng nữa ấy chứ. Mình về thăm chưa chắc đã còn chỗ để ở.

Về lại San Francisco, tôi sắp xếp để giữa tháng về Pháp lo việc khai thuế năm 2014 cho xong. Cả năm nay bận quá, dịp hẹn tháng tư thì tôi đi châu Á, hẹn tháng bảy thì tôi qua Mỹ với Thầy, bây giờ chỉ còn cái hẹn cuối năm không thể nào dời được. Ngày 14 tôi lên máy bay thì ngày 13 nghe tin vụ thảm sát ở Paris với 129 người chết, rúng động toàn thế giới. Giữa lúc Pháp đang nằm trong tâm điểm của sợ hãi mà nghe tin tôi sẽ về Pháp hôm sau ai cũng lo. May là tôi đi Turkish Airline nên máy bay không bay ngang Paris. Khi đổi chuyến ở Istanbul tôi nhìn màn hình phi trường, thấy vẫn có chuyến bay từ Istanbul về thẳng phi trường Charles de Gaule. Cuộc sống vẫn tiếp diễn thôi!!

Về lại xóm Mới, tôi vui quá. Đã một năm tròn tôi không ở xóm Mới, chỉ xẹt qua xẹt về mỗi khi có chuyện. Các sư chị sư em làm lễ đếm thẻ, lễ đối thú. Tôi sẽ làm sau khi về lại San Francisco, về lại “nội viện Thái Bình Dương”. Mọi người lên xóm Thượng để làm lễ đối thú bắt đầu cho khóa An cư kết Đông, tôi khoác áo lạnh đi thiền hành. Xóm Mới đẹp quá. Những cây hồng trĩu trái vàng chín trên bãi cỏ xanh. Từ đất Cali thiếu màu xanh qua đến đây ngỡ ngàng khi thấy cỏ mọc cắt không kịp. Bụi hoa nào cũng đẹp, dù chỉ mới chúm chím nụ.

Tôi ra tới vườn rau, lòng hạnh phúc. Các sư em đã trồng được ngò gai rồi, xanh ngăn ngắt. Đi quanh quanh những luống rau xanh, tôi nhìn cây cải bẹ xanh tươi nõn mà nhớ tới bánh xèo. Không biết Nhẫn Nghiêm đã có dịp đãi bánh xèo cho ban thị giả chưa. Buổi tối, có sư em Tông Nghiêm, Huệ Hiền ngồi chơi. Nghe sư em Tông Nghiêm kể chuyện đi giảng ở khóa tu Nam Mỹ mà tôi vui quá. Mùa thu này các sư em giáo thọ trẻ đã “ra quân” đi dạy ở nhiều nước. Đi dạy chung với tăng thân, với các sư anh, sư chị lớn giúp các sư em trẻ lớn rất nhanh. Sư em Tông Nghiêm đã lên giảng được bằng tiếng Anh. Tôi mừng khi thấy sự tiếp nối vững chãi của các sư em nhỏ. Thầy nghe tin này chắc vui lắm.

Cuối tháng, Sư cô Hỷ Nghiêm đang thăm Học viện ở Đức nhắn tôi qua. Tôi hỏi ý kiến sư cô Chân Không rồi lên mạng tìm vé đi Đức, rồi đổi ngày vé trở về Mỹ. Vậy là không về kịp ngày làm lễ An cư ở nội viện Thái Bình Dương rồi. Lại thêm một năm tâm niệm an cư nữa.

Cuối tháng, tôi qua Đức. Qua để chơi với các sư em vì khoá tu ở Đức kỳ rồi tôi không đi được. Các sư em ở đây tài ghê, tôi nhìn những khoá tu xảy ra song song với sinh hoạt của chúng xuất sĩ và công việc mà phục lăn. Phục cả thầy Pháp Ấn với bao trách nhiệm đè nặng trên vai mà vẫn phải đứng lớp giảng dạy đều đặn. Tôi là rảnh nhất. Chỉ đi chơi, việc bỏ lại nhà. Lâu lâu một lần mà.

Tháng 12

Ngày 3 tôi trở về Pháp, hôm sau bay về Mỹ. Điểm kiểm tra an ninh vào Mỹ rất nghiêm ngặt sau sự kiện hai người Hồi giáo mới xả súng giết 14 người. Những vụ bạo động xảy ra liên tiếp ở các nước đã nâng mức sợ hãi của mọi người lên cao. Thương lắm.

Ngày 11 là sinh nhật của gia đình mấy Con Cá. Cá con thành cá lớn và già mất tiêu rồi. Buổi tối có nồi phở thầy Pháp Tịnh nấu và chiếc bánh sinh nhật trang hoàng hình mấy con cá. Thầy ra ăn chung, thổi nến, chụp hình. Ôi mấy con cá hạnh phúc nhé. Thầy Pháp Hữu hài hước, mở tủ đá lấy ra hai lát cá chay ai cúng dường không biết đưa tôi và sư cô Định Nghiêm cầm chụp hình với Thầy. Đó là “món quà” duy nhất có tính cách… vật chất. Còn quà tinh thần thì đầy ắp với tình thương của Thầy, của các sư em. Bức hình chụp chung ai cũng cười toe toét (được chụp hình với Thầy là hạnh phúc lớn, ai lại không toe toét chứ!!).

Trước ngày Giáng sinh cô Peggy mời mọi người qua nhà cô ăn. Mình cũng đem theo dĩa chả giò đóng góp. Ngày Giáng sinh anh chị em chơi với nhau thôi mà cười chảy nước mắt. Thầy Pháp Lâm và sư em Lân Nghiêm lo quà và trò chơi rất chu đáo. Quà toàn là trà, bánh do thiền sinh cúng dường và Lộc Uyển gởi lên. Chơi với nhau vui quá sức. Toàn những trò chơi cộng đồng làm ai cũng như trẻ lại, hét và cười đến nỗi thị giả đang hầu Thầy cũng lâu lâu chạy ra tham gia. Trong một trò chơi tôi đóng vai con gấu đi kiếm con bị lạc mà phải diễn tả làm sao cho mọi người đoán ra, tôi đi lắc lư, hai tay giơ phía trước, tự cảm thấy mình cũng giống con gấu vô cùng vì mới ăn một bụng bánh và uống cả ly nước…

Ngày cuối năm

Sáng nay khi đại chúng ngồi thiền Thầy đi ra, cho biết là Thầy muốn đi về Pháp. Hơi bất ngờ nhưng tin tưởng nơi tuệ giác của Thầy nên đại chúng lại một phen lo chuẩn bị hành lý và liên lạc lo máy bay. Buổi tối đại chúng ngồi chơi Thầy cũng ra chơi. Tôi xuống trễ nhưng nghe kể đại chúng hát Thầy cũng giơ tay phụ hoạ theo. Thầy vui, cười miết. Chụp hình chung mặt ai cũng hào hứng. Tôi về phòng, mở máy, khai bút đầu năm. Năm nay điều ước nguyện duy nhất của tôi là Thầy nói được, hồi phục được nhanh nhanh, và cám ơn Bụt là ba mẹ tôi còn đủ sức khoẻ để tôi toàn tâm toàn ý lo cho Thầy.

Bạn hiền ơi,

Khi tôi đang đánh máy những dòng chữ kết thúc này thì Thầy đã về lại Pháp bình an. Đi cùng phi cơ có bác sĩ Quốc nhưng Thầy nghỉ ngơi và ngủ được gần như trong suốt chuyến đi nên rất khoẻ. Thầy về lại Sơn Cốc, nội viện, rồi đi thăm xóm Mới, xóm Hạ và hiện giờ đang ở xóm Thượng trong những ngày còn lại của khoá An cư kết Đông như mọi năm. Rõ ràng là về lại Làng Thầy lại tiếp tục có những tiến bộ đáng ghi nhận. Dù vẫn chưa nói được nhiều, chưa cử động được tay phải, chân phải đang trên đà hồi phục, Thầy đang trở về với nếp sống ngày trước một cách tự nhiên. Đó không phải là món quà quý nhất chúng ta đang nhận được hay sao.
Thân quý.

Cùng Thầy rong chơi

Tăng thân luôn có mặt cho con

Con tên là Chân Trời Minh Hóa, hai mươi tuổi. Con đang sống và tu tập tại tu viện Lộc Uyển ở Escondido, California. Con bắt đầu đọc sách của Thầy lúc 16 tuổi. Từ đó con đã hết lòng thực tập những gì Thầy dạy. Con thích nhất là được học cách an trú trong hiện tại, chăm sóc cảm xúc của chính mình và có mặt thật sự để giúp người bớt khổ. Có người nghĩ là khi trở thành xuất sĩ, con sẽ mất rất nhiều cơ hội. Bản thân con lại nghĩ là mình đang đi trên con đường của hạnh phúc đích thực. Trước khi vào tu viện, con thường bị trầm cảm và thấy cuộc đời thật vô nghĩa. Giờ đây, những pháp môn thực tập cùng sự yểm trợ của tăng thân đã giúp con xử lý và chuyển hoá những khó khăn.

Đại chúng ở Lộc Uyển rất thương và yểm trợ con. Con thấy mình vô cùng may mắn khi được bao bọc bởi tình thương của nhiều người. Con nguyện khi có khó khăn, con sẽ không bao giờ trốn chạy những người thương của mình mà ngược lại, con sẽ nương tựa các sư anh, sư chị để học hỏi và lớn lên từ những khó khăn ấy. Tăng thân luôn có mặt đó cho con, con nguyện sẽ thương yêu tăng thân như tăng thân đã thương yêu con.

 

 

Cùng đi trên đường vui

Con tên là Chân Trời Minh Nguyên, xuất gia đã được ba tháng. Con năm nay gần hai mươi tuổi. Mỗi ngày con được thực tập, làm việc, vui chơi và học hành cùng tăng thân, con rất vui và hạnh phúc. Con được thừa hưởng phước đức từ tổ tiên huyết thống và tâm linh, từ gia đình, bè bạn nên hôm nay con được làm người xuất gia. Tu viện giống như ngôi nhà của con từ lâu lắm rồi. Mọi thứ đều mới đối với con nhưng con thấy rất dễ dàng hòa nhập.

Bên cạnh những điểm đó, vì ở độ tuổi đang lớn, con cũng có những điểm cần thực tập như háo thắng, bướng bỉnh, vội vàng… Được ở trong tăng thân, được thực tập dừng lại, sử dụng hơi thở, bước chân ý thức, nhận diện và mỉm cười với tâm hành, con thấy mình lớn lên mỗi ngày, những tập khí xấu trong con cũng yếu đi và dần chuyển hóa.

Ở đây đại chúng rất hạnh phúc, năng lượng thật hùng hậu và tươi mát. Quý thầy, quý sư cô làm việc, tu học, tổ chức các khóa tu, ngày quán niệm cùng nhau trong tình huynh đệ… Mỗi thứ Hai, ngày làm biếng, con thường được leo núi cùng quý thầy (có khi gần 15 người) và sau đó đi bộ một vòng lớn với nhau. Con rất thích tình huynh đệ và sự hòa hợp nơi quý thầy, quý sư cô, điều này nuôi dưỡng con rất nhiều.

Mùa này, núi rừng Lộc Uyển như xanh hơn, chó sói hú từng hồi vang vọng, rắn rung chuông thì đi ngủ đông để yểm trợ quý thầy, quý sư cô an cư. Các bạn sóc, thỏ rừng đi kiếm ăn và vui chơi nhiều hơn làm cho không gian Lộc Uyển thêm sinh động và tuyệt vời.

Trong không khí mới mẻ, tươi mát của Tết Nguyên đán, con kính chúc Sư Ông, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng thật nhiều sức khỏe và hạnh phúc.

Thầy trong con

Con là sư chú Chân Trời Minh Tâm, được xuất gia theo Thầy vào ngày 23 tháng 10 năm 2015 tại tu viện Lộc Uyển, miền Nam nước Mỹ. Con là sư út của gia đình Cây Thế Kỷ. Được sinh ra và lớn lên ở thành phố New York, con là người Mỹ thế hệ thứ nhất, với mẹ là người Ecuador và ba đến từ Ireland. Con tiếp xúc với đạo Bụt và pháp môn Làng Mai cách đây chừng mười năm tại đạo tràng Thanh Sơn ở Vermont, tiếp nhận Năm giới vào năm 2007 với Pháp danh là Awakening Love of the Heart (tạm dịch là Tâm Từ Giác). Năm 2013, Thầy truyền giới Tiếp Hiện cho con tại tu viện Bích Nham với pháp tự True Precious Mindfulness (tạm dịch là Chân Bảo Niệm). Con được sống cùng tăng thân trong ba năm qua, thời gian đầu là cư sĩ và sau đó với tư cách một xuất sĩ. Sau khi trở thành xuất sĩ, con được tăng thân cho phép chuyển đến thực tập tại tu viện Lộc Uyển vào tháng Hai năm 2015, nơi con đang sống hạnh phúc từng ngày.

Khi còn là cư sĩ, con chỉ được gần Thầy như các vị cư sĩ khác. Trước đó con đã đọc nhiều sách của Thầy, nghe nhiều bài pháp thoại của Thầy, và vinh dự hơn nữa là được tham dự (cùng hơn một ngàn người khác) vào những chuyến hoằng pháp hai năm một lần của Thầy tại Bắc Mỹ.

Tuy nhiên, con chưa từng thật sự được “gặp” Thầy. Thầy không hề biết tên con, không hề biết bất kỳ niềm vui hay những ưu phiền nào của con. Nhưng con không hề lấy đó làm buồn. Trước đây, con chưa từng có ý niệm tìm kiếm một vị Thầy thật sự để nương tựa và đi theo suốt cả cuộc đời. Con đã được nuôi dạy dưới ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo, nơi mà những vị linh mục đến rồi đi, duy chỉ có mối liên hệ giữa mình và Chúa mới là vĩnh cửu. Theo thời gian, Thầy ngày càng trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của con, cũng như là việc thực tập vậy.

Vào mùa thu năm 2013, khi chuẩn bị được thọ giới Tiếp Hiện, bản thân con đã chiêm nghiệm nhiều về ý nghĩa của việc trở thành đệ tử của một ai đó. Con nhận thức một cách rõ ràng, đây là một sự cam kết suốt đời chứ không phải là chuyện bình thường. Vào thời điểm đó, con đã tham dự các khóa tu tại tu viện Bích Nham được gần một năm và có cảm giác tu viện như là ngôi nhà thân thương của mình. Có một hôm trong khi đang thiền hành qua những khu rừng tuyệt đẹp, một cảm giác khác lạ có mặt nơi con, rằng mọi thứ con nhìn thấy, nghe thấy, hay sờ thấy, đều là Thầy. Toàn bộ tu viện này, tất cả những ngọn đồi gối đầu lên nhau, những lối mòn trải đầy lá, thiền đường, quý thầy, quý sư cô, các bạn cư sĩ, tất cả như đang biểu hiện thật yên bình trong lòng bàn tay của Thầy. Con còn cảm nhận được tất cả những sự quan tâm, nâng đỡ, và cả những yêu thương của Thầy nữa.

Mỗi lần hồi tưởng lại điều này, con đều nghĩ đó là lần con tiếp xúc thật sự với pháp thân Thầy. Từ đó, mỗi khi nhìn thấy Thầy, con luôn ý thức rằng Thầy không chỉ đơn thuần là tác giả của những cuốn sách đã giúp con thật nhiều, không đơn thuần là người bước đầu xây dựng tăng thân mà con đang nương tựa, và cũng không đơn thuần là một thiền sư đầy tôn kính. Người là Thầy của con, và con là đệ tử của Người. Người cũng đồng thời là ông của con, và con là đứa cháu trong đời sống tinh thần của Người.

Với kinh nghiệm tâm linh này, con đã bước những bước đầy bình an và không quên mỉm cười trên con đường đi vào ngôi nhà ở San Francisco, nơi Thầy đang tĩnh dưỡng sau lần đột quỵ. Thầy chuẩn bị trở về Pháp, vì thế mà quý thầy, quý sư cô từ Lộc Uyển đến nơi Thầy điều trị để chào tạm biệt. Đối với ba thành viên mới xuất gia thuộc gia đình Cây Thế Kỷ, chúng con cũng biết rằng đây là lần đầu tiên được gặp mặt Thầy. Làm sao có thể diễn tả được cảm giác này? Một câu hỏi khác đi lên trong con: “Liệu con có bỏ lỡ những giây phút quý báu bên Thầy không?”.

Vừa mới đến nơi, ba anh em chúng con, cùng với một số quý thầy, quý sư cô khác nữa, được vào phòng thăm Thầy. Chúng con đã được thị giả của Thầy là thầy Pháp Hữu hướng dẫn nhẹ nhàng và khéo léo để cùng ngồi xung quanh xe lăn của Thầy. Bức tường phía sau lưng Thầy có treo bức thư pháp “The real miracle is to walk on the Earth” (Phép lạ là đi trên mặt đất). Chúng con cùng quỳ trước mặt Thầy và giới thiệu tên của mình. Chân Trời Minh Tâm, con đã nói vậy trong khi nhìn vào mắt Thầy. Con đang ở đây, quỳ trước người ông của mình, miệng mỉm cười mà đôi mắt ướt nhòe. Không hiểu sao con có cảm giác vừa lo sợ vừa tĩnh lặng tận sâu thẳm tâm hồn. Con cảm thấy Thầy cũng là một người ông của tất cả mọi người trong căn phòng này, trong ngôi nhà này, cũng như vô số đệ tử khác nữa trên khắp thế giới.

Thầy vỗ nhẹ lên đầu con ba cái, xoa thật khẽ lên khuôn mặt, và cuối cùng nắm lấy đôi bàn tay búp sen của con trong tay Thầy. Thầy nhìn con thật rõ, con cảm được cả sức mạnh và sự tinh tường của Thầy mà không cần nói ra một lời nào. Ánh mắt của Thầy như lấp lánh một ngọn lửa. Không cần đến ngôn từ, Thầy đã chào đón con, động viên con, nhắc nhở con, và truyền thêm cảm hứng cho con. Trong đầu con vang lên thông điệp sáng tỏ như pha lê: “Nào, hãy cùng đi một hướng. Hãy cứ tiếp tục. Hãy can đảm lên. Hãy là Thầy!”.

Nguyện cầu cho tất cả chúng ta cùng đi trên con đường tu học với đầy niềm vui và chánh niệm, với tình thương và sự hiểu biết, để luôn có Thầy trong tự thân. Con xin cúi đầu đảnh lễ trong niềm biết ơn.

 

Mỗi bước chân là thương yêu

Mặt trăng thật tròn và thật sáng. Con thức dậy, thấy mình đang được tắm mình trong ánh trăng trong. Sau thời thiền tọa và thiền hành ngoài trời, đại chúng được đón chào bằng ánh bình minh rạng rỡ. Được tu tập cùng tăng thân, được nuôi dưỡng bằng ánh trăng và ánh nắng mặt trời nên con có cảm hứng để viết vài dòng chia sẻ.

Con từ Hồng Kông về được một tuần. Con sẽ ở đây đến 01.01.2016. Đây là lần đầu con đến Làng Mai Thái Lan ở đất mới. Khi chưa có đất mới, con có đến Làng Mai ở đất cũ vào Giáng sinh và tết Tây 2009-2010. Mỗi ngày con đều chứng kiến cảnh quý thầy, quý sư cô từ Bát Nhã qua Thái Lan. Người đến trước đón người đến sau, đùm bọc nhau trong tình thương ấm áp.

Mười năm trước, vào tháng Hai năm 2005, con có đến công viên Quốc gia Khao Yai để dự khóa tu Thân tâm kiện khương trước khi sang Việt Nam và đi cùng tăng thân trong chuyến về Việt Nam lần đầu của Thầy. Con vô cùng biết ơn đất nước Thái Lan đã mở rộng lòng đón con nhiều lần, và lần này trong hình tướng một người xuất sĩ.

Làng Mai Thái Lan là một nơi đầy nuôi dưỡng. Ở đây, các sư cô mang chữ Trăng (trong đó có con) và các sư chú mang chữ Trời được chăm sóc rất chu đáo. Con được tiếp xúc với năng lượng trẻ trung, vui tươi và nhất là sự tươi mát của những người tu trẻ, cả tuổi đời lẫn tuổi đạo. Nhìn các sư em, con thấy lòng ấm áp chi lạ. Sự có mặt và cách các sư em chọn cuộc sống xuất gia đã mang lại rất nhiều hy vọng cho xã hội hôm nay.

Con trở thành người xuất gia khi đã quá tuổi 40. Nhìn lại, con thấy mình thật may mắn khi chọn cuộc sống này, được làm đệ tử xuất gia của Thầy và được nhận Làng Mai làm gốc rễ tâm linh. Trong năm vừa qua, con thực tập ở Viện Phật học Ứng dụng châu Á và tham gia hướng dẫn các khóa tu. Được tiếp xúc trở lại với văn hóa Á đông, con thấy mình trở nên vững chãi hơn. Cảm ơn Thầy đã đem con trở về cội nguồn đích thực, chiếc nôi của tổ tiên đất đai và huyết thống của con.

Gần đây, con đã được về Malaysia thăm gia đình hai tuần và tham gia khóa tu một tuần ở đó, con có rất nhiều hạnh phúc. Gia đình có thêm một thành viên mới, cháu bé chín tháng tuổi, con gái của em trai con. Mẹ của bé là người Việt Nam. Hai năm trước, khi con về thăm nhà, Ba con đã tìm đủ cách để giữ con lại. Nhưng lần này gặp lại, hai cha con không nói về những vấn đề nghiêm trọng đó nữa mà chỉ đơn thuần có mặt cho nhau. Con không biết là bao giờ con mới có dịp gặp lại Ba nhưng con biết con đang là sự tiếp nối của Ba. Con đang gieo trồng những hạt giống tốt và chuyển hóa những yếu kém trong con cho Ba.

Về thăm nhà lần này con thấy rất khác với hai năm trước. Con ý thức rõ ràng, nhờ sự yểm trợ của tăng thân, con mới có thể tiếp tục đi trên con đường này. Giờ đây con không còn chút nghi ngại nào đối với cuộc sống xuất gia. Cả gia đình đã chấp nhận con đường mà con đã chọn.

Con biết chỉ nương tựa tăng thân con mới sống còn và trưởng thành được. Đó chính là lý do con xuất gia, để có một gia đình tâm linh và có bạn đồng tu. Con rất biết ơn gia đình huyết thống vì đã cho phép con được sống cuộc sống xuất gia.

Những bước chân đầu tiên đặt lên nhà ga của hãng Air Asia trong sân bay Kuala Lumpur làm con hồi tưởng đến lần đi đón Thầy và tăng đoàn Làng Mai từ Singapore năm 2010. Khi đó, con còn là một cư sĩ. Giờ đây, năm năm sau, con về nước trong chiếc áo người xuất gia, cũng sân bay ấy, cũng hãng máy bay ấy, nhưng với thầy Pháp Khâm và sư chị Trăng Phổ Đà từ AIAB. Đoàn chúng con còn có thêm hai thầy đến từ Thái Lan và hai sư cô đến từ Việt Nam. Sự có mặt của sư chị Trăng Phổ Đà trong chuyến về thăm gia đình lần này làm con thấy thoải mái hơn vì biết rằng con luôn có sự yểm trợ của huynh đệ đồng tu bên cạnh.

Một hạnh phúc khác của con trong chuyến đi Malaysia là khóa tu một tuần. Dù là khóa tu nhỏ nhưng rất thành công. Ai cũng cảm được không khí của một đại gia đình trong khóa tu. Có nhiều chia sẻ rất sâu sắc, nhất là thuyết trình về Năm giới và Làm mới. Con rất vui khi thấy cách sư chị Trăng Phổ Đà truyền Hai lời hứa cho các em. Sư chị đã nói bằng ngôn ngữ của các em, làm cho không khí rất nhẹ nhàng và vui vẻ. Trái tim con thật ấm áp khi được dâng hương tán Bụt trong buổi lễ truyền Năm giới và cả khi hướng dẫn thiền buông thư để làm lắng dịu thân tâm cho những người đồng hương. Những sự chia sẻ đó chính là hoa trái mà con có được trong thời gian thực tập ở AIAB.

Con cũng rất hạnh phúc khi thông dịch cho các bạn thiền sinh người Trung Hoa. Đây là cơ hội để các bạn nói tiếng Trung Hoa có thể tham dự các khóa tu Làng Mai ở Malaysia. Như thế chúng ta sẽ có thể đem giáo pháp của Thầy đến với nhiều người ở quê hương con hơn nữa.

Trong khóa tu ở Thái Lan, con giúp thông dịch tiếng Phổ thông cho khoảng 70 người đến từ Trung Hoa. Con rất hạnh phúc vì có được cơ hội phụng sự cho quê hương gốc rễ của Tổ tiên mình.

Nhân dịp cuối năm, con xin kính chúc Thầy khỏe hơn. Con xin hứa với Thầy mỗi ngày con sẽ tiếp tục nuôi dưỡng những gì tốt đẹp trong con và xung quanh con trong vòng tay của tăng thân.

Con nương tựa cùng tăng thân thực tập

Nguyện Phổ Hiền xin làm đẹp quê hương

Có mặt trong con trời Cha đất Mẹ

Rạng ánh trăng trong chánh pháp soi đường.

Gieo hạt giống lành

Thầy kính thương,

Góc nhỏ con đang ngồi để viết là nơi con thường xuyên trở về, trở về để tận hưởng những niềm vui con đang có và cả những nỗi buồn, khó khăn con tự tạo ra. Con đã học được nhiều điều hay cũng chính từ góc này.

Thầy ơi, mùa thu năm nay con có trong danh sách đi khóa tu Canada. Đáng lẽ con không có tên đâu, nhưng vì con sắp trở về Việt Nam nên các sư chị, sư em khuyên con nên đi, đừng bỏ lỡ cơ hội có một không hai này. Con cũng tò mò muốn biết Canada đẹp như thế nào nên đồng ý đi một chuyến. Mặc dù giấy tờ của con và sư em Khoan Nghiêm có một ít trục trặc nhưng thầy Pháp Duệ vẫn kiên nhẫn làm cho hoàn tất, thầy nói: "Phải làm cho bằng được, nếu mình bỏ cuộc như vậy, lần sau những vị Việt Nam khác đi thì làm visa rất khó". Cuối cùng hai chị em con cũng có được visa

Chúng con gồm có thầy Pháp Ứng, thầy Pháp Duệ, sư chú Trời Bằng Hữu, sư cô Hạc Nghiêm, sư cô Khoan Nghiêm và con. Sáu anh chị em tới Canada ngày 03 tháng 10 năm 2015. Trời Canada bắt đầu se lạnh, con cảm được cái lạnh đang thấm vào người. Về tới nhà thầy Pháp Duệ, con nằm cho tới sáng hôm sau, đây là lần đầu tiên con bị say xe nhiều như vậy.

Thầy Pháp Niệm và thầy Pháp Áo cũng có mặt vài ngày và yểm trợ được một khóa tu, sau đó trở về Mỹ để chăm sóc Thầy. Anh chị em con thấy như vậy là đủ hạnh phúc rồi. Những ngày này trời chưa vào thu, lá vẫn còn xanh nên con thấy có cái gì đó giống nước Pháp. Mọi người chuẩn bị cho khóa tu gia đình với chủ đề Trân quý những điều đơn giản trong sự sống từ ngày 09 đến ngày 12 tháng 10 năm 2015. Có khoảng 1500 người tham dự với nhiều lứa tuổi, nhiều quốc gia. Đang ở đây mà con có cảm giác thân quen như đang ở quê hương, được gặp nhiều người Việt, ăn món Việt. Quý bác và các anh chị trong các tăng thân thương quý thầy, quý sư cô lắm. Tăng thân Bồ Đề đã đóng góp trái tim mình cho khóa tu được biểu hiện.

Một buổi sáng có lễ truyền Năm giới, con đau đầu nên xin phép vắng mặt. Nghĩ là không ai biết, vậy mà sau đó con được hai tô cháo thật to và vài viên thuốc đau đầu. Chúng con rất cảm động và biết ơn sự quan tâm chu đáo đó. Khóa tu diễn ra chỉ ba ngày mà ngày nào cũng vui. Thầy Pháp Ứng và thầy Pháp Niệm cho pháp thoại, còn chúng con thì chăm sóc những sinh hoạt như thuyết trình Năm giới, thuyết trình Làm mới, hướng dẫn tổng quát, hướng dẫn tụng kinh, thể dục… Anh chị em con làm việc với nhau rất vui và hòa hợp. Con thấy đó là yếu tố thành công đầu tiên trong khóa tu.

Thiền sinh chia sẻ những niềm vui và những khó khăn trong sự thực tập để cùng nhau tháo gỡ và hòa giải. Lắng nghe những chia sẻ, con thật sự cảm thông và kính phục những người ở đây. Họ dễ thương, chân chất, mộc mạc và ham tu. Có thiền sinh chia sẻ: "Nhìn quý thầy, quý sư cô, con thấy được sự tiếp nối của Sư Ông. Tuy Sư Ông không có trong khóa tu này nhưng mỗi năm quý thầy, quý sư cô có mặt cho chúng con thì chúng con rất hạnh phúc. Chúng con mong mỗi năm đều có khóa tu để tăng thân cư sĩ được hưởng năng lượng tu học từ quý thầy, quý sư cô". Có thiền sinh khác chia sẻ: "Mỗi khi có khóa tu, con được sạc thêm năng lượng và gia đình con mỗi ngày mỗi hạnh phúc hơn". Vui nhất là ba mẹ thầy Pháp Duệ đã nói lên được những khó khăn tích tụ rất lâu và đã chuyển hóa chúng như thế nào. Mọi người ngồi lắng nghe ba của thầy chia sẻ, những khó khăn này thực sự rất khó nói nhưng bác đã nói ra được, phải rất can đảm và có sự thực tập mới có thể chia sẻ cùng mọi người. Khóa tu kết thúc, hành lý mọi người mang về là niềm vui, sự biết ơn. Gương mặt ai cũng rạng rỡ nụ cười mãn nguyện. Con hạnh phúc thật nhiều và tình thương trong trái tim con tròn đầy hơn, đẹp đẽ hơn.

Lá cây bắt đầu đổi màu, nhanh đến nỗi con phải ngạc nhiên. Con chờ ngày được tới khu rừng thầy Pháp Duệ hay kể. Con đã chuẩn bị một quyển sổ khá dày, dày đến nỗi mỗi lần cầm đến là mỏi cả tay. Trước khi đi khóa tu con đã mang trọng trách lớn từ các sư chị, sư em, ai cũng đăng ký lá phong ép: Sư em năm lá, sư chị bốn lá… Chúng con có thêm vài ngày nghỉ ngơi. Ngày đẹp thì đi ngắm lá mùa thu, hay đi thăm vài cảnh đẹp gần Toronto. Ngày nào mưa gió thì đi chợ mua ít quà cho đại chúng ở nhà. Mùa thu Canada lạnh như mùa đông ở Làng.

Lạnh thế này thì ở Làng đã đông đá hay tuyết rơi rồi. Nghe nói mùa đông nơi này lạnh lắm, khoảng -30 độ, chỉ nghe thôi thì cũng thấy ớn lạnh huống gì là sống. Đến đây chơi chứ ở luôn có lẽ con đầu hàng. Cuối cùng con cũng được tới khu rừng mà bấy lâu mong đợi, góc nào cũng đẹp với nhiều màu sắc khó mà tưởng tượng được, khó vẽ nên được khung cảnh này. Con ước rằng Thầy và đại chúng cùng có mặt ở đây thì hạnh phúc biết bao. Chúng con đã chụp rất nhiều hình để lưu lại, rồi đem về cho đại chúng cùng thưởng thức. Say sưa ngắm lá nhưng con không quên nhiệm vụ ép lá vào quyển sổ. Nhìn qua, con thấy thầy Pháp Ứng cũng có một quyển sổ và cũng đang cặm cụi tìm tìm kiếm kiếm như con. Có thầy làm bạn đồng hành thì càng hạnh phúc hơn.

Tiếp theo, khóa tu Gia đình Phật tử lần đầu tiên được tổ chức tại miền đông Canada, bắt đầu từ ngày 16 đến 18 tháng 10 với 150 anh chị huynh trưởng và đoàn sinh nhiều vùng đến tham dự. Nhiều Gia đình Phật tử rất muốn tham dự, nhưng vì chỗ ở giới hạn nên danh sách phải dừng lại. Ai cũng muốn lần sau sẽ tổ chức ở một vùng đất rộng rãi hơn. Đây là lần đầu tiên Gia đình Phật tử miền đông Canada tiếp xúc với pháp môn của Làng nên có một chút bỡ ngỡ. Ngày đầu chưa quen, nhưng đến ngày thứ hai thì mọi người buông thư hơn, các em yên hơn, biết nghe chuông và trở về hơi thở. Dần dần, những anh chị huynh trưởng và các em thực tập rất hết lòng. Ai cũng thích thiền buông thư. Chúng con hiến tặng sự thực tập này, để mọi người có thì giờ trở về chăm sóc cho cả thân và tâm. Hướng dẫn chừng vài phút thì chợt nghe tiếng ngáy khò khò, lập tức tiếng cười rúc rích từ phía các em oanh vũ vang lên. Một lát sau không còn nghe ai cười nữa, các em oanh vũ đã ngủ hồi nào không hay. Thế là người lớn và trẻ con đều có cơ hội làm cho thân tâm thư thái, nhẹ nhàng. Khi thân tâm thư giãn được thì giấc ngủ đến dễ dàng và trị liệu hơn. Giờ buông thư chỉ hơn 30 phút, đến lúc hết giờ, ai cũng tiếc vì thời gian ngắn quá. Có một anh huynh trưởng đến thưa: "Lần sau mình thực tập buông thư dài dài một chút nha sư cô." Tất cả mọi người ai cũng mỉm cười.

Các em oanh vũ rất hiếu động. Con và sư em Trời Bằng Hữu chăm sóc, đa số nói tiếng Anh nên sư em hướng dẫn chính, con giữ trật tự. Con đi theo và phát hiện sư em rất có tài chơi với con nít. Nhưng giỏi cách mấy thì sau buổi sinh hoạt sư em cũng mệt lả vì nói quá to. Mệt nhưng hai chị em con rất vui. Thầy Pháp Ứng và sư em Khoan Nghiêm ngồi chơi với các anh chị huynh trưởng, lắng nghe những khó khăn và cả những niềm vui để thông cảm và giúp đỡ. Thầy Pháp Duệ và sư cô Hạc Nghiêm chăm sóc cho các em ngành thiếu, con nghe kể các em rất năng động và vui tươi.

Ngày xưa khi sinh hoạt Gia đình Phật tử, con cũng như vậy đó. Con biết rằng bao giờ các anh chị cũng vất vả với tụi con, nên trong khóa tu này anh chị em con luôn có sự cảm thông. Được nghe lại những bài hát, được chơi những trò chơi quen thuộc, con như sống lại cái thời phá phách đó, và vô cùng ngạc nhiên khi thấy mình còn nhớ nhiều bài hát, nhiều trò chơi như vậy. Anh chị em con không đòi hỏi gì nhiều ở khóa tu này mà chỉ trên tinh thần gieo duyên. Chúng con rất hạnh phúc bởi ước nguyện của Thầy đã được thực hiện. Để thành công trong lần đầu tiên tổ chức khóa tu Gia đình Phật tử thật quả không đơn giản. Hai khóa tu chính trong chuyến đi đã chấm dứt. Ngoài ra, còn có một buổi pháp thoại công cộng tại trường đại học Toronto và một buổi nói chuyện với nhóm Wake Up.

Trong chuyến đi, chúng con ý thức đã đi cùng Thầy và tăng thân. Đó chính là động lực giúp chúng con thêm tự tin để cống hiến những gì mình có. Sau mỗi khóa tu, con hiểu hơn về huynh đệ, về văn hóa của mỗi nơi, đồng thời học hỏi được nhiều kinh nghiệm trong sự thực tập. Con rất biết ơn sự có mặt của Thầy trong mỗi trái tim chúng con. Con nguyện một lòng mang chí nguyện xây dựng tăng thân và xây dựng tình huynh đệ của Thầy đi về tương lai.

Như mới hôm qua

Những cơn mưa kèm theo không khí lạnh kéo dài từ ngày này sang ngày khác. Con thích Huế nhưng chẳng thích những cơn mưa ở xứ này tí nào. Mới đó mà con đã tròn một tuổi trong gia đình tâm linh, mọi chuyện tưởng chừng như mới xảy ra hôm qua thôi. Những dòng ký ức hiện về trong con như một cuốn phim được trình chiếu lại, con gọi tên những cảm xúc đi lên, chợt vui chợt buồn len lỏi trong lòng như những luồng khí lạnh xứ Huế, len lỏi trong từng chiếc lá rồi bất ngờ tạt vào cơ thể.

Sinh ra từ một miền quê trên dải đất miền Trung, Phú Yên tạm gọi là yên bình nhưng cũng không tránh khỏi những thiên tai. Tuổi thơ con thật ấm áp trong tình thương của ba mẹ. Là con gái một trong gia đình nên phần nào đó con hơn bạn bè nhiều thứ. Cứ tưởng rằng cuộc sống của con cũng sẽ mãi đi theo dòng chảy của xã hội với ý niệm học hành đàng hoàng, công việc ổn định, có được người thương rồi sau đó là một gia đình đầm ấm, như vậy gọi là hạnh phúc, ba mẹ sẽ mát dạ và dòng họ sẽ được cái gọi là “nở mặt nở mày với thiên hạ.” Nhưng với con, những cái đó con chẳng bao giờ hình dung hay tưởng tượng ra được. Con thấy mình cần một hướng đi mới, phải làm sao chọn được con đường mà bản thân con muốn đi. Những suy nghĩ ấy cứ ấp ủ trong con nhưng con chưa định hình một cách rõ ràng được. Rồi theo năm tháng, tuổi mới lớn đã hướng con đi theo một lối khác, dần dần những ý niệm “chọn cho mình hướng đi mới” đã mờ nhạt trong con.

Lớn lên đi học xa nhà, môi trường và những người bạn mới, cuộc sống nhộn nhịp tất bật vô tình đã cuốn con đi lúc nào không hay. Con bắt đầu lao vào những cuộc chơi. Mãi rồi cũng chán. Có lúc con sợ phải đối diện với bản thân mình, con sợ cái trống trải trong lòng. Và lúc con mất phương hướng cho tương lai thì cái phao cứu sinh được thả ra để con nương vào.

Sau giờ học trên lớp, con về phụ bếp ăn sinh viên của chương trình Hiểu và Thương của các bác Tiếp Hiện. Con được các bác hướng dẫn thực tập các pháp môn căn bản của Làng Mai như thiền ăn, thiền thở, thiền im lặng… Con bắt đầu cảm thấy thích cách thực tập mới này vì đã đem lại cho con một cảm giác gì đó rất mới mà con chưa xác định và gọi tên được. Con bắt đầu tập nghe Đường xưa mây trắng, nhưng mỗi lần nghe là con đều ngủ quên. Cuối tuần, chị em làm việc trong bếp hay đến trung tâm bảo trợ xã hội để giúp những cụ già và những bạn trẻ bị bệnh tâm thần. Lần đầu tiên tới đây con đã bật khóc vì thấy mình được may mắn làm người và có được tình thương từ gia đình, bạn bè. Chúng con gọi ngày đó là ngày Chủ nhật thương yêu. Sau lần đi đó con đã suy nghĩ rất nhiều và con thấy mình phải sống khác, phải tìm cách nào đó để có thể giúp được những người đang gặp khó khăn. Lý tưởng năm xưa trong con trỗi dậy và hạt giống bồ đề trong con đang chuyển mình. Con quyết định đi tu. Nhưng làm sao để đi được khi ba mẹ chỉ có một mình con để nương tựa lúc về già. Nghĩ đến đó thôi là con thấy mình chẳng thể nào đi xa được rồi. Cuối cùng con quyết định xin việc làm. Con may mắn được một chị giám đốc người Nga nhận việc ngay sau khi phỏng vấn. Có được công việc khá tốt vậy mà con chẳng thấy vui tí nào, thấy mình không thích hợp trong môi trường này vì không đem lại hạnh phúc thật sự. Mọi thứ con đang có chỉ là sự hào nhoáng bên ngoài. Sau nhiều lần suy nghĩ, con quyết định trốn nhà đi tu dù biết ba má sẽ rất sốc khi nghe tin này. Con bất chấp tất cả, phải thử mới biết được. Vậy là con xin ra Diệu Trạm tập sự xuất gia.

Mới ở tu viện được hai ngày, hôm đó con đang ngồi ăn chiều thì ba má con xuất hiện. Mặc dù đã chuẩn bị tinh thần trước nhưng con vẫn sợ bị bắt về. Ba má con khóc rất nhiều. Cái tội to đùng của con là dám trốn nhà đi tu. Ba má dùng mọi lời lẽ để khuyên con về, từ lời nói nhẹ nhàng rồi chuyển qua nặng nề. Vốn thừa hưởng cái tính ngang ngạnh của ba nên lúc đó con nguyện là có chết cũng không về. Ba má cứ nói, con thì trơ trơ ra đó dù biết ba má đang rất đau khổ. Quý sư cô phải giúp, con mới chia sẻ được với ba má. Con nói lên ước muốn của con, muốn sống thật sự với chính mình, không muốn bị trói buộc vào tình cảm nhỏ bé, muốn hòa vào tình thương lớn với tăng thân, có như vậy con mới giúp được con, giúp gia đình và xã hội. Nghe con chia sẻ má lại càng khóc to hơn, ba càng giận dữ hơn. Ba bảo ba rất thất vọng vì bao nhiêu tình thương và hy vọng ba đều đặt vào con hết. Má thì chỉ nói ba từ “đồ bất hiếu.”

Lúc đó con buồn lắm, con nghĩ tại sao ba má thương con mà không hiểu con tí nào. Ba má càng nói vậy thì con càng nên ở đây để chứng tỏ rằng con đường mà con chọn không hề sai. Bên ngoài mưa như trút, sấm chớp liên hồi. Bên trong không khí vô cùng nặng nề. Cuối cùng ba bảo nếu con không về thì ngay bây giờ ba sẽ tự tử rồi con muốn làm gì thì làm. Nghe ba nói thế má càng khóc to hơn, má bảo nếu ba chết thì má cũng sẽ chết vì má không sống nổi nữa. Con thật sự bối rối không biết giải quyết ra sao để tạm thời giảm đi sự căng thẳng. Cách còn lại là con quỳ xuống xin ba má để cho con ở lại đây. Không khí càng căng thẳng hơn. Sư cô XN chia sẻ rồi khuyên ba má thật nhiều và: “Nếu hai bác đem em về mà em có chuyện gì thì hai bác cũng không sống nổi đâu!”. Nghe đến đây má bắt đầu sợ con sẽ chết, thế là tình thế đảo ngược lại. Thật may mắn cho con, cuối cùng thì bầu không khí căng thẳng dần dần giảm xuống, ba má cũng chịu suy nghĩ lại. Tối đó cả nhà con được ngủ chung với nhau, con nằm giữa ba má và suốt đêm nghe ba má trách móc hoài, lôi bao nhiêu chuyện ra để khuyên con về nhà. Con chỉ biết im lặng để lắng nghe thôi.

Sự mầu nhiệm đã xảy ra. Buổi hô canh ngồi thiền sáng hôm sau đã làm ba con có chút gì đó thay đổi trong lòng. Thế là con được ở lại mặc dù ba má không thoải mái cho lắm. Con cứ tưởng mọi việc đã ổn để con đặt hết lòng vào sự thực tập, nhưng mọi chuyện chưa dừng lại ở đó. Những cuộc điện thoại liên tiếp gọi đến báo tin về ba má. Sau khi ở Huế vào, vì buồn quá nên ba đã bỏ nhà đi chẳng thấy về, còn má thì đau khổ không thiết ăn uống phải nhập viện. Mọi thứ đến quá bất ngờ, con có cảm tưởng như chính mình là nguyên nhân gây ra đau khổ cho gia đình và dòng họ. Bao nhiêu lời trách móc, đổ lỗi đều ụp lên đầu con một lúc. Về hay ở? Câu hỏi đó cứ liên tiếp bám lấy con. Con quay về nắm lấy hơi thở để chế tác bình an trong lòng nhưng sao khó quá. Bên ngoài nhìn con có vẻ an nhưng bên trong thì vô cùng xáo trộn. Con quyết định xin phép quý sư cô về nhà một tuần để sắp xếp và thuyết phục ba má bằng những gì con đã được thực tập trong một tuần qua.

Thời gian về nhà, những cuộc tranh luận không có hồi kết, chung quy cũng chỉ chuyện lo cho con không chịu được cuộc sống ở chùa vì từ nhỏ con quen được nuông chiều. Riêng bản thân con luôn nhìn nhận nó theo hướng tích cực, khi có quyết tâm thì tất cả không thành vấn đề. Sống đúng theo lý tưởng và con đường mình lựa chọn là mang lại hạnh phúc cho con rồi. Hạt giống bồ đề trong con đang chuyển mình vươn lên để tiếp tục sự sống mầu nhiệm. Và cuối cùng thì con cũng được tái sinh trong gia đình Cây Sồi Đỏ.

Vu Lan năm nay có lẽ là những ngày hạnh phúc nhất của con. Nhân mùa báo hiếu, đại chúng tổ chức ngày sinh hoạt dành cho gia đình của quý thầy, quý sư cô, con mời ba mẹ ra tham dự và ba đã có mặt tại Diệu Trạm. Ba thực tập rất hết lòng. Con thấy ba đã tìm lại được hạt giống của tuổi thơ trong mình, ba còn biết làm nũng với quý sư cô để được sự quan tâm. Ba thương tất cả quý sư cô và mỗi khi về nhà, ba nói là ba nhớ quý sư cô lắm. Con nói với các chị em là ba thương các chị em hơn thương con nữa nên con cũng muốn ganh tị với các chị em. Những ngày ở lại Diệu Trạm việc gì ba cũng làm, từ đẩy rác đi đổ đến nhặt rau, quét sân, xếp thiền đường. Ba đã chuyển hóa trong cách suy nghĩ. Đi tu không khổ như ba từng nghĩ.

Trong khóa tu cũng có các em tập sự trốn nhà đi tu như con trước đây và cũng bị ba mẹ ra bắt về, mẹ các em cũng khóc và làm dữ lắm. Ba đã có một bước đột phá, theo suy nghĩ của con, vì ba đã hết lòng khuyên mẹ của một em tập sự để em đó được ở lại tu học. Khi cô không chấp nhận cho em ở lại, em đã trốn nên cô tìm khắp tu viện mà không thấy, vậy là cô ngồi ngay cửa nhà ăn mà khóc. Ba nhẹ nhàng đi đến và ngồi xuống bên cạnh thủ thỉ: “Thôi, chị về chăm sóc những đứa con ở nhà đi, chị còn tới mấy đứa nữa. Tui đây nè, tui chỉ có một đứa con gái duy nhất, lúc nó trốn nhà đi tu tui cũng khóc, cũng đòi bắt nó về dữ lắm. Nhưng bây giờ tui thấy nó đi tu vậy mà hay. Tui chừ không những có một đứa con mà tui có cả đàn con để thương, sư cô nào cũng dễ thương hết. Chị cứ cho cháu ở lại đây tu đi, khi nào tui ra thăm tui sẽ ghé nhà chị rủ chị đi cùng…” Nghe ba nói vậy con thấy ba đang làm một hành động rất dễ thương, đâu đó trong lòng ba đã bắt đầu nhen nhúm được hình ảnh đẹp của một người tu rồi.

Vừa rồi nghe tin má bệnh phải nhập viện, được sự cho phép của quý sư cô, con cùng với một sư em về chăm sóc má một thời gian. Má con rất xúc động khi hai chị em con về có mặt hết lòng cho má. Mấy dì mấy cô thấy con “đẹp” hơn ngày trước nên cũng an tâm là trong chùa cháu mình sống không khổ như họ tưởng. Bây giờ má thấy mình chẳng những không mất con mà ngược lại, má có rất nhiều con gái. Con thấy khi con thực tập có hạnh phúc đủ và biết cách trở về nhận diện những hạnh phúc đang có mặt thì chắc chắn ba má ở nhà cũng sẽ có được niềm vui và bình an. Sinh nhật thôi nôi gia đình cây Sồi Đỏ, ba ra có mặt cho con và đại chúng. Ba chia sẻ sự thực tập, nói lên niềm biết ơn tăng thân đã chăm sóc và dạy dỗ con. Bây giờ con đã thay đổi nhiều lắm. Con đã biết nấu ăn dù chưa ngon, chưa giỏi như các sư chị, con biết làm nhiều việc mà ở nhà con chưa từng làm. Năm nay ba má hứa sẽ ra Diệu Trạm đón Tết cùng đại chúng. Vui hơn nữa là sáng nay con gọi điện về hỏi ba có đi khóa tu tiếng Việt ở Thái không, ba bảo ba sẽ đi, nếu ba không đi được thì má sẽ đi. Con nghe mà mừng lắm, vừa về phòng con tin cho các chị em liền. Con thấy mỗi khi chia sẻ niềm vui của con đến các chị em thì y như niềm vui ấy lớn lên thêm.

Một năm đã trôi qua với bao nhiêu thử thách, con thấy mình vẫn còn nhiều phước đức từ ông bà tổ tiên để lại khi con được mang hình tướng của người tu. Con trân quý những tháng ngày được sống trong vòng tay của tăng thân, giúp con lớn lên từng ngày trong suy nghĩ và thực tập, làm việc. Con vô cùng biết ơn ba má là những vị “Bồ tát nghịch duyên” để con xác định rõ hơn con đường mà con lựa chọn. Con muốn làm chiếc cầu nối giúp ba má tiếp xúc với pháp môn để hiểu tại sao đây lại là con đường con gái mình lựa chọn mà không phải là con đường nào khác. Con thấy mình vô cùng an toàn khi sống trong vòng tay của tăng thân, thực tập uy nghi, giới luật giúp con được bảo hộ trước nhiều cám dỗ mà lắm lúc con phải đắn đo suy nghĩ để chọn hướng đi cho chính mình. Tuy không được Sư Ông dạy dỗ trực tiếp nhưng con luôn thấy được hình ảnh của Sư Ông nơi mỗi sư cha, sư mẹ, sư anh, sư chị và sư em của con. Trong con luôn có Sư Ông trong từng bước chân và hơi thở ý thức. Đất Tổ rất linh thiêng để cho con cắm rễ sâu hơn trong sự thực tập hằng ngày. Chỉ cần một hơi thở nhẹ, là bao phép lạ hiển bày. Giờ đây con đã nhận được sự yểm trợ từ gia đình, điều đó luôn làm động lực để con cố gắng nhiều hơn trong việc tu học. Con cúi đầu tri ân ba má đã hiểu và thương con thật sự, tri ân tăng thân đã giúp con và ba má con chuyển hóa để cuộc sống gia đình con có ý nghĩa hơn. 

 

Bình an là giác ngộ

Để tiếp nối những hạnh nguyện của Thầy, con biết con phải thực tập thật hết lòng. Điều đó có nghĩa là con phải thực tập để được là chính con. Có như thế con mới có thể bắt đầu công trình chuyển hóa tự thân để trở thành một pháp khí của Tam Bảo. Con thích được sống trong một môi trường giản dị và không quá bận rộn. Con ý thức về những gì gần gũi chung quanh, như quý thầy ở cùng phòng, y chỉ sư, những huynh đệ chung lớp hoặc chung công việc. Con thích trở về với tự thân, trở về như vậy con mới thực sự có thời gian và có mặt cho các huynh đệ. Vì con sống qua tỉ mỉ nên dễ đánh mất mình trong những việc không quan trọng. Giờ đây nhờ cắm rễ sâu hơn trong lòng đại chúng, con bớt nguyên tắc và có thể đi cùng tăng thân như một dòng sông.

Khi thả mình một cách tự nhiên trong tăng thân, con thường có mặt đúng lúc để hỗ trợ người khác, lắng nghe hay giúp đỡ ai đó trong khả năng của mình, lượm một mẩu rác, dọn dẹp sạch sẽ những gì mình vừa sử dụng, chăm sóc cho những vật dụng trong tu viện… Khi con bệnh hoặc không thể ra khỏi phòng vì một lý do nào đó, con thường lau chùi, dọn dẹp phòng. Sau đó con nghỉ ngơi và thưởng thức sự sạch sẽ của căn phòng. Con tiếp tục học nghệ thuật chăm sóc tự thân và làm thế nào để trong một ngày, việc thực tập, chơi, học và làm việc có sự cân bằng. Con biết nếu con hạnh phúc thì tăng thân cũng hạnh phúc.

Sống với huynh đệ cùng phòng là một cơ hội quý báu. Một khi đã tin tưởng và truyền thông tốt với nhau, chúng con có rất nhiều cái để hiến tặng và yểm trợ lẫn nhau. Con thực tập để có thể chấp nhận những yếu kém của huynh đệ, đồng thời con cũng học cách chế tác niềm vui và hạnh phúc cho chính mình. Con nghĩ điều khó nhất là làm sao để nhìn một người bằng đôi mắt mới tinh khôi mà không qua lăng kính của tâm phán xét.

Người Thuỵ Sĩ thường cho nhau không gian hoặc thể hiện sự tôn trọng bằng cách sống thứ tự và ngăn nắp. Xe lửa, xe buýt hầu như bao giờ cũng đúng giờ, mọi thứ đều chính xác như một cái đồng hồ. Đời sống cá nhân rất quan trọng. Nhà ở kín đáo nép mình sau những hàng rào cây xanh. Thường thì người ta không biết nhiều về hàng xóm của mình. Người Thuỵ Sĩ có điều kiện sống đầy đủ, nhưng ít ai ý thức về điều ấy. Các giá trị truyền thống, những vấn đề tôn giáo, phẩm chất của đời sống và tình lân mẫn giữa người với người dần dần mai một. Công nghệ kỹ thuật đã làm người ta trở nên xa lạ với nhau và ngay cả với chính mình. Trên xe lửa hay xe buýt, hầu như không ai nói chuyện với ai. Người ta dán mắt vào điện thoại di dộng, itouch hay laptop. Ở sở làm, mọi người phải chạy đua với công việc, ít khi để thời gian trò chuyện hay cười đùa với nhau. Họ nghĩ thời gian là tiền bạc.

Đọc đến đây, có lẽ người nào đã biết đến Làng Mai không thể không mỉm một nụ cười. Con đã “can đảm” khi sống ở Làng bởi vì con đã từng có một cuộc sống như vừa kể. Vì vậy thử thách của con là phải tu tập thế nào để thay đổi những thói quen đã được huân tập bởi lối sống ấy. Lúc mới vào tăng thân, con hòa nhập không dễ chút nào. May mắn cho con là ở Làng Mai, thiên nhiên rất gần gũi. Thiên nhiên mở ra một cánh cửa để cho con gieo trồng tình yêu cuộc sống và thực tập hạnh buông bỏ. Mối quan hệ đặc biệt của con với đất Mẹ và trời Cha đã giúp con vượt qua nhiều trở ngại.

Mỗi bước con đi trong lòng tăng thân, mỗi đóa hoa của sự tu tập đem lại cho con rất nhiều niềm vui và hạnh phúc, tạo cho con cảm hứng để chuyển hóa nội tâm. Con thật sự được sinh ra một lần nữa tại Làng. Một điều rất rõ ràng đối với con là nếu không có Thầy, không có tăng thân, kể cả các bạn thiền sinh, con sẽ không có cơ hội được học hỏi cách trị liệu và chuyển hóa để tìm lại chính mình.

Con được về thăm gia đình ba lần sau ngày xuất gia. Con không thể diễn tả hết lòng biết ơn của con đối với tăng thân khi đã cho con cơ hội viếng thăm và yểm trợ ba mẹ. Con đã có mặt cho ba mẹ trong sự nâng đỡ của Thầy và tứ chúng Làng Mai. Trong một chuyến về thăm, con có làm một buổi thiền hướng dẫn cho ba mẹ. Khi thời thiền tọa chấm dứt, mọi người cùng mở mắt ra và ý thức sự có mặt của nhau. Chưa bao giờ ba mẹ và con cảm thấy gần gũi nhau đến thế. Cảm giác ấy chỉ kéo dài trong vài giây nhưng lòng con dâng lên một nỗi xúc động sâu xa. Bấy nhiêu thôi cũng đã đủ để con nguyện ở lại cùng với tăng thân và tiếp tục con đường tu tập. Nếu có một ngày nào con muốn bỏ đại chúng ra đi, xin mọi người hãy nhắc nhở con điều ấy.

Mẹ con rất thích đi bộ. Dù mẹ thích trò chuyện, hai mẹ con cũng thực tập đi một lúc trong im lặng. Sau đó mẹ con cho biết, khi hai mẹ con cùng đi như thế, phẩm chất sự có mặt cùng nhau đã thực sự tăng lên. Con còn đòi hỏi gì hơn thế nữa? Cha cũng đã đến Làng dự lễ xuất gia của con (vì lý do sức khỏe nên mẹ con chưa về thăm Làng được). Sau này cha có trở lại Làng và đã thực tập rất tinh tấn, hết lòng trong một tuần lễ ở đây. Con thấy mình được thừa hưởng hạt giống quyết tâm đó nơi cha.

Trong nhóm sa di của chúng con, các sư chú đến từ nhiều nước khác nhau. Sự giàu có và đa dạng về văn hóa giúp con học hỏi rất nhiều, không chỉ ở sự cởi mở mà còn ở đức tính kiên nhẫn nữa. Để hiểu về một văn hóa khác, con cần phải có thời gian. Ngay cả khi nói được ngôn ngữ của nước đó, có thể sự hiểu biết của con vẫn còn hạn chế. Con thích nếm thử các món ăn truyền thống, các món đặc sản cũng như thưởng thức âm nhạc và những câu chuyện dân gian. Con cảm thấy mình có thể tiếp xúc với văn hóa và đất nước Việt Nam qua những bài dân ca. Đôi khi con nghĩ mình nên dành nhiều thời gian hơn chỉ để thưởng thức những cái đó. Con rất tri ân văn hóa xuất sĩ bởi vì nó bao gồm được cả gốc rễ tổ tiên huyết thống của mỗi người.

Được cùng huynh đệ học tập, pháp đàm, dự các cuộc họp trong tăng thân, cùng ngồi uống trà là cơ hội có mặt cho nhau và ăn mừng sự sống. Gần như bao giờ con cũng góp nhặt được những chất bổ dưỡng để nuôi mình và học hỏi một điều gì đó trong những lần như vậy. Quan sát và cảm nhận năng lượng của người khác và của tự thân, con có thể hiểu các huynh đệ và hiểu mình sâu hơn. Mới đầu vì chưa quen nên con hơi thụ động, sau một thời gian con nhận ra rằng sự đóng góp còn có thể được thể hiện qua thái độ tích cực và sự khéo léo của mình. Thí như như khi thấy năng lượng trong lớp học hơi thấp, thay vì phàn nàn hay phê phán, con tự hỏi mình có thể làm được gì. Con thấy mình phải chăm sóc chính mình trước để nếu có sự căng thẳng xảy ra, con sẽ có đủ bình an để đối trị với hoàn cảnh. Khi biết mình không giúp được gì, con thực tập để chấp nhận những cảm thọ không dễ chịu.

Con vẫn còn phải thực tập rất nhiều để giữ cho mình được tươi mát, vững chãi, tĩnh lặng và có không gian trong lòng bởi vì con dễ bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh. Như khi huynh đệ không hòa hợp thì con cũng không có bình an. Trong trường hợp đó, con thường tìm đến nói chuyện, tìm hiểu, hoặc có khi con phải tự ôm ấp nỗi khổ đó như là một cách để giúp đem tới sự hòa hợp.

Trước đây khi chưa biết gì về đạo Bụt, con hình dung đạo Bụt qua hình ảnh Bụt đang ngồi một cách an nhiên. Hình ảnh này tạo cho con nhiều cảm hứng. Bây giờ con nghĩ đạo Bụt chính là sống hòa hợp với đất Mẹ, trời Cha và bước trên con đường hướng về giải thoát. Con nghĩ cách con sống hiện giờ chính là một sự giáo dục cao cấp giúp phát triển những cái thấy sâu sắc.

Nhu cầu cấp thiết của thời đại là chăm sóc và bảo vệ loài người, các loài cỏ cây, cầm thú và đất đá trên hành tinh của chúng ta. Nhiều người tuyên bố rằng giai đoạn thử thách của nạn khủng hoảng môi trường chính là cơ hội để tỉnh thức và chuyển hóa. Tại sao con phải chờ cho đến khi bị tuyệt vọng nhấn chìm? Ngay bây giờ, con không ao ước đạt đến sự giác ngộ cao tột, con chỉ muốn tận dụng thời gian để chế tác nhiều bình an, để mỗi bình an trở thành mỗi năng lượng giác ngộ. Và, tại Làng Mai, con có thể làm điều đó bằng những phương pháp cụ thể.

Cây trong chùa

Tôi thật không ngờ trong chùa lại có nhiều cây đến như vậy. Tôi nghĩ rằng đi tu là chỉ biết có tụng kinh, chỉ biết đến chuông mõ. Ấy vậy mà tôi lại thích chăm cây mới lạ chứ. Tôi không hiểu tại sao lại có sở thích này. Tôi chỉ biết rằng tôi chăm cây vì không muốn cây chết hay bị bệnh.

Sau hơn bảy năm đi tu, tôi phải công nhận một điều rằng ở nơi nào cũng có nhiều cây, dù là Việt Nam hay các nước khác xa hơn. Mà cây cũng giống giống nhau, nhất là lan. Lúc ở Diệu Trạm, có những chậu lan tôi chăm hơn ba năm mà cũng chưa ra bông nên tôi không biết cây lan đó nở bông như thế nào. Rồi đến khi tôi được đổi trung tâm tu học – tôi sang Làng, nhập chúng xóm Mới, cũng loài lan ấy, sau hơn hai năm chăm sóc cây đã cho bông, chỉ một cái thôi. Thế cũng được, vậy là tôi đã được nhìn thấy hoa của loài lan đó rồi. Loài lan đó được sư mẹ Thoại Nghiêm mang về xóm Mới từ một nơi rất xa trong dịp sư mẹ đi về nhà sư em Sinh Nghiêm, để yểm trợ cho sư em cũng như gia đình sư em.

Sau một thời gian chơi với cây, tôi bỗng nhiên trở thành một người chăm cây “thường trực”. Trong xóm, các chị em có cây lan nào hết bông thì bỏ ra,tôi chăm hết. Tôi rất hạnh phúc với công việc này.

Bên Làng khó hơn ở Việt Nam một chút, đó là mùa đông thì phải mang hết cây vào trong nhà, vì ngoài trời có khi nhiệt độ xuống đến âm độ, cây sẽ chết. Vậy là tôi phải sắp xếp sao cho gọn vì không gian cũng có hạn. Mùa đông năm ngoái, khi sư em Hoàn Nghiêm còn ở đây, sư em đã giúp tôi thiết kế chỗ để rồi, bây giờ tôi cứ theo đó mà làm. Năm nay lan nhiều hơn năm ngoái mà chỗ để thì đã hết, thế là tôi mang những chậu lan nhỏ nhỏ ra để ngoài thiền đường lớn, bên cửa sổ. Lan hay bất kỳ loại cây nào cũng đều cần ánh sáng, không thể đặt cây ở nơi thiếu ánh sáng được. Ngoài đó dù lạnh một chút, cây chậm lớn nhưng chỉ cần qua được mùa đông thôi. Dù chậm còn hơn là cây bị chết.

Lan rất dễ bị rệp bông trắng tấn công. Chỉ cần sau mười ngày không để ý tới là lan đã bị rệp tấn công rồi. Trong chùa thì hoàn toàn không dùng thuốc nên tôi phải bắt từng con rệp ra, sau đó dùng bông gòn tẩm cồn để lau chỗ mà rệp bông đã ở, sau đó lau hoặc rửa lại chỗ đó bằng nước lạnh. Phải làm như vậy vì dù nhìn không thấy gì nhưng từ chỗ đó sẽ lại phát sinh rệp rất mau. Đôi khi bận công việc, tôi chưa kịp để ý là một nhành hoa lan phải cắt bỏ, vì rệp quá nhiều, tôi không làm gì được. Nếu có cố gắng làm thì chùm hoa đó cũng bị bầm dập mất rồi. Thôi thì chấp nhận cắt bỏ để rệp không lây lan qua những cây khác.

Ngày hôm qua đi quán niệm ở xóm Thượng, thấy trên bàn Bụt trong thiền đường Tăng xá có một chậu lan, y chang lan ở Huế, tôi tính xin quý thầy sau khi hết bông nhưng nghĩ đi nghĩ lại thấy ngại quá nên thôi. Tôi cũng không hiểu vì sao, dù biết rằng quý thầy sẵn sàng cho nếu tôi hỏi.

Viết đến đây tôi chợt nhớ đến bài hát Một đời người một rừng cây. Bài hát có câu: Và tôi vẫn nhớ hoài một loài cây, sống gần nhau thân mới thẳng, có một cây là có rừng, và rừng sẽ lên xanh, rừng giữ đất quê hương…” Tăng thân mà tôi đang được sống giống rừng cây trong bài hát này quá. Nhìn vào từng huynh đệ của mình, tôi như thấy cả một rừng lan. Mỗi một người đều hiến tặng cho tăng thân một vẻ đẹp khác nhau, làm nên một rừng lan muôn màu muôn sắc. Khi sắp xếp các chậu lan tôi cũng để xen kẽ các chậu lớn nhỏ cạnh nhau. Tôi thấy làm như vậy sẽ rất lợi vì nếu hai chậu cây lớn quá mà để cạnh nhau thì thấy không có không gian cho cả hai. Rất có thể cây lan nhỏ khi được đặt cạnh cây lan tươi tốt thì nó sẽ nương vào đó mà lớn nhanh. Nghĩ sao thì tôi làm vậy.

Khi làm việc gì tôi cũng nghĩ tới tăng thân và thấy rất đúng. Chuyển trung tâm tu học là một điều rất bình thường trong chúng. Tôi rất hạnh phúc vớiđiều này. Khi chăm sóc lan cũng vậy, tôi cũng thường “đổi trung tâm” cho các chậu lan. Chậu lan nào vừa hết bông thì tôi đổi chậu và đổi chỗ, làm như vậy để chậu lan nào cũng được ở gần cửa sổ để hưởng ánh sáng. Khi lan ra nụ, nụ hoa chỉ hướng về phía có ánh sáng thôi. Mầu nhiệm thay, cây nào cũng biết hướng về phía có bầu trời tươi sáng.

Bây giờ tôi đã có rất nhiều sư em, các sư em của tôi cũng như những cây lan vậy, cần được chăm sóc cẩn thận. Các sư em cũng được ở cùng phòng với các sư chị lớn để các sư em được học hỏi từ các sư chị. Tuy vậy, các sư chị cũng rất hạnh phúc khi được tận hưởng sự trong sáng, trẻ trung của các sư em. Các sư em của tôi, nhiều người còn rất trẻ, tâm bồ đề rất mạnh, tôi cũng được hưởng nguồn năng lượng dồi dào này. Những cây lan tôi chăm sóc, có cây mới chỉ có ba lá mà cũng cho một nhành hoa rất mập mạp, đầy sức sống. Nhìn cây lan, nhìn các anh chị em huynh đệ tôi thấy rất rõ sự tương tức. Tất cả chúng ta đều là một, chúng ta cần nương vào nhau để cùng chung tay xây dựng một cuộc sống lành mạnh.

Vài dòng gửi đến bạn đọc cho vui, tôi tin rằng tất cả chúng ta, ai cũng là một cây trong rừng cây nhân loại. Chúng ta cùng nhau xây dựng một tương lai tươi sáng. Chúc bạn hiền luôn yêu thương cuộc sống này vì còn rất nhiều điều mầu nhiệm đang chờ đón chúng ta.
Thương quý!

Đường xưa mây trắng vẫn còn bay

Thầy ơi !
Con đã đi tìm thầy từ muôn vạn kiếp trước
Con đã tìm như thể đó là lời hẹn ước
Từ thuở nước non đang còn tuổi sơ sinh

Thầy ơi!
Con đã đi tìm thầy khi mặt trời vừa rạng ánh bình minh
Hay trong đêm tối con bàng hoàng thức giấc
Con đã tìm thầy từ khi con còn là đất, là núi,là mây, là cây cỏ chốn rừng thiêng
Con đã tìm thầy như đi tìm chốn bình yên
Trong những nỗi khổ đau cùng cực nhất
Và rồi khi hạt mưa xuân thấm nhẹ trên mặt đất
Con đã thấy thầy trong hơi thở bước chân con

Thầy ơi!
Thầy vẫn lặng lẽ ngồi thật yên cạnh bên con
Trong những lần con chênh vênh cùng tột
Thầy đã bao giờ bỏ mặt con đâu
Vậy mà con đã nhìn thầy như nhìn kẻ xa lạ chốn núi thẳm rừng sâu
Để rồi con chơi vơi trong tháng ngày lạc lối
Mà chẳng biết rằng cứ mỉm cười thầy sẽ có mặt bên con

Sáng nay, đóa bạch cúc nhìn con cười lặng lẽ
Em thầm thì nhắn nhủ đôi câu
Rằng: “người thương ơi cuộc đời có bao lâu, sao
người thương cứ vấn vương trong nỗi sầu đau trước mặt?’’
Mở mắt ra đi thoát nẻo về cơn huyễn mộng

Thương ghét làm chi tình người tầm thường của thế gian
Rồi mai kia dẫu thân tâm có hoang tàn
Hãy cứ ngước mặt nhìn lên vầng trăng sáng
Hay là áng dương kia đang mỉm cười tỏ rạng
Vầng nhật kia đã bao giờ phụ ta đâu?

Ôi! Đúng là vầng nhật nguyệt kia đã bao giờ phụ con đâu
Vậy mà con đã bao lần đem bực tức
Đem những bứt rứt, phiền muộn, những bon chen
Đem những hờn ghen, oán thù trách móc
Hay những ngậm ngùi con trút cả vào hư không
Để rồi nhìn lại đời có khác gì cơn mộng
Như sóng bao phen lên xuống dập dồi
Hình hài này đã bao lần biến đổi
Chỉ có đường xưa mây trắng vẫn còn bay

Thầy ơi!
Thầy đã đến bên con và nắm nhẹ lấy đôi tay
Dạy con cười, dạy con đi, con thở
Con đường phía trước trong con đang rộng mở
Vì trên từng nẻo đường con có thầy đỡ nâng
Đường con đi nào phải ngày một, ngày hai
con sẽ gắng đi những bước chân thật dài
và vươn rộng từng bàn chân vững chãi
vượt qua những thăng trầm, chông gai con vướng phải
để được tiếp nối thầy trong từng buổi sớm mai.