Mừng Đại-sảnh ngày Nhập-thế lên ngôi.
Xin hãy về chứng kiến giờ: Đại-sảnh lên ngôi.
đang nẩy lộc đơm bông.
là anh em máu mũ chung cùng!
huynh đệ tương phùng.
mẫu mực.
Tỏa sáng nét Vô-ưu.
Nhập Thế lên ngôi.
Adds the featured image on the top left.
Mừng Đại-sảnh ngày Nhập-thế lên ngôi.
Xin hãy về chứng kiến giờ: Đại-sảnh lên ngôi.
đang nẩy lộc đơm bông.
là anh em máu mũ chung cùng!
huynh đệ tương phùng.
mẫu mực.
Tỏa sáng nét Vô-ưu.
Nhập Thế lên ngôi.
“Hươu nai ưa đồng quê,
Chim chóc ưa trời mây…”
Con rất thích được Thầy gọi chúng con là những con hươu con về cánh đồng quê nội. Được Thầy đặt cho biệt danh “Hươu Con” con rất được nuôi dưỡng. Con thấy con là chú hươu con hạnh phúc được nằm trong vòng tay yêu thương của nội. Mỗi ngày chúng con luân phiên nhau đem cơm lên nhà nội và được dùng cơm chung với nội. Đó cũng là thời gian con được làm thị giả cho Thầy, được mang cơm cho Thầy, những ngày ấy đã để lại cho con nhiều kỷ niệm đẹp.
Thầy ơi! viết xuống những dòng này bao nhiêu kỷ niệm về Thầy sống lại trong con. Thầy đã từng dạy chúng con rằng: “có những giây phút nếu như mình biết sống cho trọn vẹn và trân quý thì giây phút đó sẽ trở thành bất diệt”. Con nuôi dưỡng những giây phút được sống gần Thầy. Và mỗi lần gọi hai tiếng “Thầy ơi!”, con lại thấy Thầy đang có mặt cho con ngay trong giây phút ấy. Tiếng gọi ấy cũng là bài học Thầy đã dạy con trong thời gian con làm thị giả.
Mỗi lần được ngồi bên Thầy con thật hạnh phúc, đôi khi Thầy trò không cần nói gì cả. Có khi Thầy kể chuyện cho chúng con nghe. Có một buổi chiều hai chị em con vào thư viện của Thầy để thỉnh Thầy ra dùng cơm. Thầy đang ngồi trên võng đọc sách, Thầy dạy hai chị em con ngồi xuống chơi với Thầy. Thầy dạy hai chị em con cách gọi “Thầy ơi!”. Con được bắt đầu trước. Thầy dạy con nói theo Thầy:
– “Thầy ơi…! ơi…!…ơi!”
Con chưa nói theo được. Con thưa:
– Thưa Thầy, khó quá con không nói được.
– Không khó mô, con cứ nói theo Thầy đi! Con nói được. Con đọc theo Thầy này: “Thầy ơi!…ơi!…ơi!”
Lần này con đọc theo:
– Thầy ơi!
– Không, chưa hay, chưa giống Thầy, dài hơn, nhẹ nhàng hơn nữa, con đọc lại đi! Phải đọc cho diễn đạt, cho hay như Thầy vậy đó.
– Thầy ơi…! ơi…!
– Con tập đọc theo Thầy nhiều lần. Con thầm nghĩ, con phải nói cho được để Thầy vui và đỡ mất sức phải chỉ cho mình nên con tiếp tục gọi:
– Thầy ơi…! ơi…! ơi…!
– Ơi … ơi… ơi! – Thầy đáp lại.
Con cảm nhận như có nguồn yên vui, hạnh phúc, trân quý, thương kính trào dâng, không thể nào nói được thành lời. Con thấy mình may mắn được làm đệ tử của Thầy và được Thầy chỉ dạy.
Đến phiên sư em con, sư em ngại ngùng không chịu nói, sư em thưa:
– Bạch Thầy, con không nói được.
Thầy dạy: – Con nói được, con cứ xem Thầy như Ba của con đi! Ở nhà con có nói như vậy với Ba con không?
– Dạ không, bạch Thầy!
– Vậy thì bây giờ con tập nói đi. Thầy ơi…! ơi…! ơi…!
– Bạch Thầy, con không nói được đâu.
– Bây giờ con không chịu nói, đợi đến khi Thầy thành nắm tro rồi mới chịu nói cho Thầy nghe thì muộn rồi!
Sư em đã cố gắng, nhưng hơi khó cho sư em. Sư em không làm được. Cuối cùng Thầy không ép sư em con nữa. Thầy cho sư em con mắc nợ, lần sau sẽ đọc.
Rồi Thầy dạy: “Khi nào các con có khó khăn, chỉ cần các con gọi thầy ơi thôi, là khó khăn đã nhẹ đi nhiều lắm rồi. Con sẽ có thầy bên cạnh, yểm trợ và giúp mình vượt qua khó khăn. Và cứ mỗi khi các con gọi thầy như vậy thì thầy sẽ âm thầm đáp lại “ơi!” liền cho các con”.
Ba Thầy trò ra phòng ăn. Trong bữa ăn, có thêm hai sư em con cùng ăn cơm nữa nên Thầy lại dạy chúng con tập gọi Thầy như lúc nãy. Sư chị, sư em nào gọi xong được Thầy thưởng cho một miếng đậu hủ, sư em chưa gọi được nhưng Thầy cũng thưởng cho sư em một miếng.
Thầy kính thương!
Chị em con mỗi người lớn lên với nhiều hoàn cảnh khác nhau! Chúng con thương Thầy, thương Tăng thân và có chung lý tưởng. Có những sư chị, sư em con đến với Thầy rất dễ dàng, nhưng cũng có những sư con của Thầy chỉ thích đứng từ xa nhìn Thầy, nghe Thầy nói pháp thoại mà không dám lại gần. Thầy đã giúp chúng con phá đi cái hàng rào ấy để chúng con có được tình Thầy trò rất đẹp. Sư em con vẫn đang tập gọi “Thầy ơi” mỗi ngày, chúng con thường kể lại chuyện này cho nhau nghe và chúng con nói với nhau rằng “Sư Phụ” của chúng mình dễ thương quá!
Mùa đông này con tu tập có hạnh phúc hơn rất nhiều. Con không biết tình thương của Mẹ là gì nhưng tình thương của Thầy đối với con ngọt ngào quá! Con thương Thầy nên cố gắng tu cho thật tốt. Khi con làm điều gì đó sai, con thật sự thấy có lỗi với Thầy. Con đã cố gắng làm bất cứ cái gì mình có thể để giúp chúng và giúp các sư chị sư em khi các chị em cần đến con. Và mỗi lần gọi “Thầy ơi”, con biết Thầy đang âm thầm đáp lại “Ơi!” cho con và Thầy đang mỉm cười.
Với mong muốn đem chương trình đạo đức ứng dụng vào trường học (Wake Up Schools), trong năm 2014, các thầy, các sư cô Làng Mai đã có hai chuyến thăm và chia sẻ sự thực tập với thầy cô giáo, học sinh và các bậc phụ huynh của trường Tiểu học Phật pháp (Dharma Primary School) ở Brighton, nước Anh. Đây là trường tiểu học duy nhất ở Anh cung cấp một nền giáo dục dựa trên những giá trị tâm linh của đạo Bụt. Sau đây là bài chia sẻ của thầy Pháp Lưu về những điều mầu nhiệm đã xảy ra trong hai chuyến đi này.

Tháng 3/2014, theo lời mời của trường và được sự cho phép của Tăng thân, chúng tôi (thầy Pháp Lai, thầy Pháp Lý và tôi) đã có ba ngày sinh hoạt trọn vẹn với 70 học sinh của trường Tiểu học Phật pháp (Dharma Primary School) ở Brighton. Ngôi trường tư thục này mở cửa cho trẻ em từ 3-11 tuổi thuộc tất cả các tín ngưỡng tôn giáo và các nền văn hóa.
Trong ngày đầu tiên, chúng tôi đến từng lớp học của trường để giới thiệu về các pháp môn căn bản như theo dõi hơi thở, sự thực tập dừng lại khi nghe chuông, cũng như dạy cho các em những bài hát như “Thở vào, Thở ra” (Breathing In, Breathing Out) và “Tôi yêu thiên nhiên” (The Nature Song). Qua những câu hỏi của các em, chúng tôi rất đỗi ngạc nhiên khi thấy các em có ý thức rất rõ về những cảm xúc của mình. Nhiều em đã có kinh nghiệm thực tập với các cảm xúc như giận dữ, sợ hãi… và biết nương vào hơi thở để làm lắng dịu thân tâm. Trong buổi chiều cùng ngày, chúng tôi đã trả lời những câu hỏi của thầy cô giáo và cán bộ của trường. Chúng tôi cũng đề nghị mọi người cùng thực tập pháp môn thiền đi khi lên xuống cầu thang chính của trường. Ai cũng chấp nhận và thực tập liền trong những ngày sau đó.
Sáng hôm sau, chúng tôi có một buổi gặp gỡ chung với các bậc phụ huynh, học sinh và thầy cô giáo. Hôm đó, hội trường chính của trường chật kín người, vì rất nhiều bậc phụ huynh muốn đến gặp các thầy, các sư cô Làng Mai. Buổi gặp gỡ được bắt đầu bằng sự thực tập nghe chuông, dừng lại và trở về với hơi thở. Sau đó chúng tôi chia sẻ về sự thực tập Bốn Ơn và bài hát Hai lời hứa (Two Promises Song). Ngoài ra chúng tôi còn hướng dẫn thiền sỏi – chúng tôi đã nhặt những viên sỏi này trên bãi biển từ tối hôm trước – và phương pháp điều phục cảm xúc mạnh. Sau đó, thầy Pháp Lai hướng dẫn các em học sinh đi thiền vòng quanh sân trường. Các em giữ yên lặng thật giỏi trong khi đi, vừa theo dõi hơi thở, vừa tiếp xúc với cây cối và chim chóc xung quanh. Buổi chiều, chúng tôi có cơ hội gặp gỡ các thành viên Hội đồng Quản trị của trường (trustees). Ông Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị nói với chúng tôi rằng chuyến thăm lần này của tăng đoàn Làng Mai là “điều tuyệt vời nhất từng xảy ra tại đây”. Ông cũng mong muốn Làng Mai coi trường Tiểu học Phật pháp ở Brighton là “nơi thử nghiệm của chương trình Wake Up Schools”.

Ngày kế tiếp, chúng tôi chia nhau đến các lớp lớn của trường để thực tập thiền sỏi với các em và chỉ cho các em cách làm các túi đựng sỏi.
Có một số lớp, chúng tôi hướng dẫn thiền buông thư cho các em. Sau đó, cả trường lại một lần nữa tập trung trong hội trường lớn để cùng thực tập pháp môn thiền quýt. Từ thầy cô giáo đến học sinh, ai cũng đặc biệt thích pháp môn này! Buổi chiều, sau khi ăn trưa chung với các thầy cô giáo, chúng tôi có một buổi chia sẻ sâu hơn không chỉ với thầy cô giáo mà còn với các cán bộ và thành viên Hội đồng Quản trị của trường. Một lần nữa, các vị bày tỏ mong muốn Tăng thân Làng Mai đem chương trình Wake Up Schools vào áp dụng tại trường.
Kết thúc chuyến thăm, chúng tôi hứa sẽ trở lại thăm trường để tổ chức một khóa tu cho các giáo viên của trường trước thềm năm học mới và giúp các giáo viên chào đón học sinh trong ngày khai giảng. Ngoài ra chúng tôi còn dự định tổ chức khóa tu hoặc ít nhất là một ngày tu học cho các bậc phụ huynh vào cuối tuần. Vì vậy, tháng 9/2014, một đoàn gồm bốn thầy (thầy Pháp Lai, thầy Pháp Linh, thầy Pháp Triển và tôi) cùng ba sư cô ( sư cô An Nghiêm, sư cô Trì Nghiêm và sư cô Tảo Nghiêm) đã đến thăm trường Tiểu học Phật pháp lần thứ hai, từ ngày 1 – 09/09/2014.
So với lần thứ nhất, chuyến thăm lần thứ hai này đã tạo được một ảnh hưởng sâu sắc hơn. Thông thường, trước thềm năm học mới, trường Tiểu học Phật pháp tổ chức một khóa tập huấn, bồi dưỡng trong hai ngày dành cho các giáo viên và cán bộ của trường. Nhưng năm nay, trường đã đồng ý cho chúng tôi sử dụng hai ngày này để tổ chức một khóa tu ngắn, thay vì khóa tập huấn như mọi năm. Chúng tôi đã cùng các thầy cô giáo và cán bộ của trường thực tập thiền hành, thiền tọa có hướng dẫn, thiền ăn, pháp đàm và cả thiền ca nữa. Trong một buổi pháp đàm, chúng tôi đã mời các thầy cô giáo thực tập nhìn sâu vào những điều kiện hạnh phúc đang có ở trường và trong cuộc đời dạy học của mình, cũng như những lời ước nguyện cho một năm học mới đang đến.
Ngoài ra, chúng tôi còn tổ chức những buổi Làm Mới, đặc biệt là hướng dẫn phương pháp tưới hoa. Một giáo viên chia sẻ: “Phương pháp tưới hoa có tác dụng đặc biệt đối với tôi, bởi vì thực sự tôi thấy rất khó khăn khi khen ngợi người khác, nhất là sau một ngày dạy học bận rộn. Nhiều lúc tôi không có thời gian để dừng lại và nghĩ đến những gì mà các đồng nghiệp của mình đã hiến tặng. Đôi khi chỉ vì một lỗi nhỏ mà tôi quên hết tất cả những điều dễ thương mà họ đã làm cho tôi. Tôi nhận thấy ngay cả khi có những bất đồng, nếu tôi có thể nói một điều gì tích cực với đồng nghiệp của mình thì đó luôn là một khởi đầu tốt, và từ đó có thể làm cho mối liên hệ trở nên tốt đẹp hơn. Bởi vì cái nhìn lạc quan, tích cực về người khác bao giờ cũng giúp cho mình dễ dàng hòa giải hơn, phải vậy không?”.
Trong những nhóm pháp đàm, các thầy cô giáo được hướng dẫn thực tập pháp môn ái ngữ và lắng nghe để có thể áp dụng cho chính mình và giúp cho các em học sinh. Sau giờ pháp đàm, một giáo viên chia sẻ: “Tôi nghĩ có lẽ điều hữu ích nhất đối với các giáo viên và cán bộ của trường trong những ngày qua là được học cách nói chuyện với nhau và lắng nghe nhau. Từ trước đến nay, các cuộc họp thường khá ồn ào, ai cũng tranh nhau nói lên ý kiến của mình, vì vậy mà không khí khá căng thẳng. Tôi thấy sự thực tập trong những buổi pháp đàm mà các thầy, các sư cô hướng dẫn – cách chắp tay xá khi muốn nói và cho mọi người không gian để chia sẻ – thật là hay. Ai cũng có cơ hội nói ra những điều mình muốn nói mà không sợ bị phán xét. Mọi người xây dựng được niềm tin với nhau trong buổi pháp đàm. Tất cả mọi người đều có thể chia sẻ những cảm xúc thật của mình. Ai cũng có tinh thần nâng đỡ, yểm trợ nhau trong buổi pháp đàm, đó là điều rất quý, rất cần”.

Trong ngày thứ hai của khóa tu, cô Katherine Weare – một Giáo sư về Giáo dục của trường đại học Southampton, Anh quốc và cũng là người đã từng làm việc với các thầy, các sư cô trong chương trình Wake Up Schools để xây dựng một cuốn cẩm nang cho giáo viên về sự thực tập và giảng dạy chánh niệm trong trường học – đã trình bày một vài “hướng dẫn thực tập” (recipe) trong cuốn cẩm nang để các thầy, các sư cô cùng các giáo viên thử nghiệm. Ai cũng phải dành 15 phút để đọc các hướng dẫn về thực tập thỉnh chuông, thiền hành, hay theo dõi hơi thở, sau đó có thêm 15 phút để tập cách trình bày, rồi chia ra thành từng cặp: người này giảng cho người kia nghe trong 15 phút, sau đó đến lượt người kia giảng cho người này nghe, cũng trong 15 phút. Cuối buổi, các thầy cô giáo chia sẻ, đóng góp để cho phần hướng dẫn thực tập được nêu trong cuốn cẩm nang được rõ ràng, chính xác và mang lại nhiều lợi lạc cho các thầy cô giáo ở khắp nơi.
Sau hai ngày sinh hoạt với các thầy cô giáo là đến ngày khai giảng năm học mới. Các em học sinh trở lại trường sau kỳ nghỉ hè. Chúng tôi chia ra, hai người vào một lớp để xem cách các thầy cô giáo chào đón học sinh trong ngày đầu tiên của năm học và để chơi với các em. Thật là vui khi được có mặt trong ngày tựu trường và được chơi với các em nhỏ! Một giáo viên nhận xét: “Tôi thấy các em rất thích sự có mặt bình an và vui tươi của các thầy, các sư cô. Em nào cũng hăng hái tham gia các hoạt động như: tập thở, hát, chơi trò chơi… Có em hỏi: con có thể đến và ngồi gần các thầy, các sư cô trong giờ ăn trưa không? Các em rất thích gần gũi các thầy, các sư cô và thích năng lượng tỏa ra từ người tu”. Chúng tôi cũng rất hạnh phúc khi được chơi với các em, được ngồi ăn trong im lặng với các em ngay ở sân chơi của trường. Thật là nuôi dưỡng khi thấy các em có khả năng thưởng thức miếng bánh mỳ sandwich một cách sâu sắc và ăn im lặng trong suốt mười lăm phút!
Trong buổi họp toàn trường ngày kế tiếp với sự tham dự của các bậc phụ huynh, thầy Pháp Lai đã chia sẻ về những hoạt động trong thời gian qua của chương trình Wake Up Schools, cũng như về ước nguyện sâu sắc của Thầy là đem chánh niệm và đạo đức ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục. Chúng tôi đã hát những bài thiền ca và chia sẻ niềm vui của mình với mọi người có mặt hôm đó, đồng thời đề nghị trường xây dựng một tăng thân để các bậc phụ huynh có cơ hội yểm trợ cho con em của mình cũng như yểm trợ các thầy cô giáo trong sự thực tập.
Chúng tôi cũng tổ chức một ngày Quán niệm dành cho các bậc phụ huynh, nhưng cũng có sự tham gia của nhiều giáo viên trong trường. Ngày hôm đó, chúng tôi chia sẻ về ý nghĩa của pháp môn thiền sỏi, về tầm quan trọng của bốn yếu tố: tươi mát, vững chãi, tĩnh lặng và tự do đối với hạnh phúc của mỗi người. Sư cô Lực Nghiêm đang về thăm mẹ ở Brighton cũng có mặt trong buổi sáng hôm ấy.
Khi nhìn lại một tuần thực tập chung với nhau để bắt đầu năm học mới, một giáo viên chia sẻ: “Cách đây một vài năm, chúng tôi nghĩ là chúng tôi biết mình cần phải làm gì để xây dựng và phát triển trường Tiểu học Phật pháp. Không hiểu sao sau một thời gian, hình như chí nguyện ban đầu của chúng tôi bị hao mòn ít nhiều. Tuy nhiên, trong những ngày qua, tôi thấy tất cả những mơ ước ngày xưa đều trở về và dường như còn mạnh mẽ hơn trước. Đối với cá nhân tôi thì những trải nghiệm trong một tuần qua đã làm cho tôi thay đổi trong mối liên hệ giữa mình với mọi người. Còn đối với trường, tôi có rất nhiều hy vọng là trường sẽ thay đổi theo một chiều hướng tốt đẹp hơn, mọi người sẽ quan tâm tới nhau nhiều hơn. Trước đây trong trường có nhiều khó khăn nhưng bây giờ tôi thấy có một sự thay đổi lớn nơi nhiều người và điều đó cho tôi một niềm vui lớn. Tôi cảm thấy thật khó khi phải chia tay với các thầy, các sư cô”.
Qua hai chuyến thăm, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều khả năng xây dựng một trường thí điểm theo mô hình Wake Up Schools ngay tại nước Anh. Ban Quản trị của trường mong muốn một ngày nào đó sẽ tiếp tục xây dựng một trường trung học theo mô hình này. Chúng tôi cũng đề cập đến khả năng xây dựng một trụ sở chính của chương trình Wake Up Schools tại trường Tiểu học Phật pháp – nơi mà các giáo viên ở khắp nơi có thể đến và được tập huấn bằng cách tham gia làm trợ lý giảng dạy cho các giáo viên của trường.

Mộc Lan đi dễ khó về
Mộc Lan giờ đây là nơi có nhiều thân thương trong lòng con. Nơi đây đã cho con học hỏi nhiều cái hay, cái đẹp đầy mới lạ. Nơi đây con cùng các sư anh, sư chị, sư em đã bước những bước chân an trú cùng thở nhẹ nhàng, nơi đã mở ra những nụ cười, nơi chúng con được lớn lên với những vui buồn hờn giận và đã thật sự được sống. Con mang ơn Mộc Lan bởi nơi đây đã cho con cơ hội chứng kiến sự tạo dựng, hình thành và lớn lên của Mộc Lan qua từng năm tháng. Con mang ơn những ánh mắt, nụ cười, những niềm vui, những trắc trở mà huynh đệ đã gắn bó, đi qua. Nhờ sự nâng đỡ, ôm ấp và chấp nhận, con đã lớn lên và tồn tại trong Tăng thân tại Mộc Lan này. Các sư anh, sư chị, sư em ở Mộc Lan đã từng là chiếc cầu tình thương để dìu dắt và yểm trợ con.
Mộc Lan bây giờ là những ngày tháng hạnh phúc và huy hoàng nhất. Mộc Lan là một trong những trung tâm của Làng có nhiều nét đẹp đặc trưng, nhiều cái hay, cái đẹp mà con người học hoài, thương hoài không hết. Đôi lúc con mỉm cười hạnh phúc khi nhìn Mộc Lan với sự sạch sẽ, ngăn nắp trong ngoài. Mộc Lan với những dãy cốc xinh xinh ẩn dưới những hàng cây, khu rừng mộc mạc đơn sơ, nhẹ nhàng. Mộc Lan với thiền đường mái đỏ, tháp chuông to lớn hùng vĩ bên khu nhà sum họp của xóm Mai, xóm Trúc. Hai xóm hầu như sinh hoạt chung, gặp nhau vẫn nở được nụ cười trong sáng và thân thiện. Mộc Lan thật sống động với tinh thần tu học tinh chuyên, cùng chơi, cùng tu học, cùng làm việc và có nhiều sự đồng lòng, vui vẻ hài hòa giữa bốn chúng như một đại gia đình. Đúng vậy, “Mộc Lan đi dễ khó về” là châm ngôn của nhiều người đã đến để thừa hưởng năng lượng bình an và thực tập chuyển hóa, đến lần đầu rồi sẽ đến lần sau và lần sau nữa. Điều đó đã nói lên tấm lòng của những con người có mặt ở Mộc Lan. Còn nhiều và nhiều nữa mà con sẽ mang theo để nuôi dưỡng mình.
Vào những ngày làm biếng thích thật. Sáng thức dậy với cảm giác nhẹ nhàng, bình an và tươi mát, được ngồi yên, được thở. Mộc Lan có nhiều cảnh thiên nhiên đẹp. Con đang ngồi bên cạnh Bụt trong Thiền Đường xóm Mai, nhìn thẳng ra khu rừng mùa đông, con nhìn rất sâu vào giữa cánh rừng và bắt gặp từng lớp, từng lớp lá khô trải mình trên đất mẹ. Những ngày trời đông, cây cối đã dọn mình sạch sẽ để đón xuân về. Mấy hôm nay trời nắng ấm, chim rừng bắt đầu đua nhau ríu rít, con cũng không còn co ro như những ngày lạnh buốt, lạnh đến nỗi hồ sen đã đóng băng rất dày nên anh chị em chúng con rủ nhau ra mặt hồ để chơi. Ai cũng có cơ hội thử nghiệm đi trên mặt nước đá khác với đi trên mặt đất mầu nhiệm như thế nào.
Tình mẫu tử, nghĩa ân sư
Mấy hôm nay con nhớ Thầy nên con đọc lại những trang thư Thầy viết cho chúng con vào những năm trước đây. Đọc tới đâu con thấy nuôi dưỡng và hạnh phúc tới đó. Chúng con được Thầy dạy dỗ thật cặn kẽ và rõ ràng, Thầy động viên sách tấn chúng con qua từng chặng đường, dõi theo mỗi bước chúng con đi. Hôm qua là ngày quán niệm, bốn chúng cùng tu học với nhau đông vui hơn những tuần trước. Đặc biệt có nhiều người trẻ Mỹ và người trẻ Việt lớn lên ở Mỹ cũng như những thiền sinh khác đến ngày càng đông và tu tập đều đặn hơn. Chiều làm biếng, sư cô Nhẫn Nghiêm đãi đại chúng món bánh xèo rất ngon. Một số anh chị em chơi đá banh trước sân với nhiều tiếng cười rộn rã. Anh chị em chơi để được nuôi dưỡng, chơi bằng tình huynh đệ mà không phải bằng sự thắng thua, con thấy đi tu rồi chơi đá banh vui hơn nhiều. Một số anh chị em khác đi bộ, chạy bộ. Sau ngày quán niệm, Mộc Lan vui như ngày hội và đặc biệt hôm nay trời nắng ấm đẹp quá. Chúng con cũng đã trồng xuống những củ hoa thủy tiên để chào mừng mùa xuân tới. Suốt một ngày quán niệm cùng tu tập, cùng chơi với nhau thật vui và tròn đầy.
Về lại phòng nghỉ ngơi, con nằm xuống buông thư, thở và thấy đời người tu thật diễm phúc biết bao khi mình biết cách thưởng thức sự sống, biết sống với những vui buồn, khổ đau hay hạnh phúc ở trong mình cũng như xung quanh. Để cho cơ thể được buông thư sau vài hơi thở, con lại nhớ đến những lá thư của Thầy nên ngồi dậy tiếp tục mở ra đọc. Con có một ý tưởng thú vị khi vừa buông thư vừa đọc thêm những điều nuôi dưỡng thì thế nào sự trị liệu cũng được nhân đôi. Con đọc từng câu, từng chữ mà Thầy đã dùng tình thương của người Cha để nuôi các con, nhất là những lá thư Thầy viết khi chúng con còn ở Bát Nhã và Phước Huệ như đang thấm vào cơ thể con. Con cảm được niềm vui, tình thương của Thầy qua sự có mặt, ra đời và lớn lên của các sư con ngày một đông.
Thầy cũng vậy, tình của Thầy càng ngày càng bao la khi đón nhận những người trẻ xuất gia có đầy nhiệt huyết, đầy tài năng, đầy năng lượng tươi trẻ với tâm bồ đề sáng trong. Con nhớ trong giai đoạn biến cố Bát Nhã và những ngày chúng con ở Phước Huệ, Thầy thường động viên chúng con qua những bức thư. Mỗi khi nhận tình thương từ những bức thư Thầy gởi, từng lời chỉ dạy của Thầy giúp chúng con thấy rõ con đường, làm động lực thôi thúc chúng con vững mạnh lên, Thầy dạy chúng con tay nắm tay trong tình huynh đệ để cùng đi qua sóng gió mà không bị bão tố dập vùi hay rụng rơi. Đúng là: “Không có gì thiêng liêng bằng tình mẫu tử, cũng không có gì cao cả và lớn lao bằng nghĩa ân sư”.
Thầy đang biểu hiện trong mỗi chúng con

Giờ đây, trong khi Thầy đang thị hiện bệnh, nếu chúng con biết tiếp xúc với Thầy trong tình huynh đệ, biết chấp nhận, tha thứ và thương yêu nhau, biết nương tựa vào nhau, nương tựa vào những sư anh, sư chị đang thay Thầy dẫn dắt thì chúng con thật sự được lớn lên trong Thầy và Thầy cũng đang biểu hiện trong mỗi chúng con. Con nhớ lại trong chặng đường biến cố Bát Nhã, mặc dù chúng con đang tạm trú tại Chùa Phước Huệ nhưng theo dòng chảy của Bụt Tổ, các sư em gia đình xuất gia Cây Sen Hồng vẫn ra đời. Lúc đó, có nhiều sư anh, sư chị, sư em rất lo lắng cho hoàn cảnh mà Tăng thân đang gặp phải, ngại rằng các sư em rồi sẽ nương náu nơi đâu? Nhưng nhờ Bụt Tổ đưa đường dẫn lối nên các sư em đi cùng Tăng thân cho đến hôm nay.
Bây giờ trong thời gian Thầy đang bệnh, đang nghỉ ngơi thì lại một lần nữa cũng có các sư em gia đình xuất gia cây Sồi Đỏ tiếp tục được sinh ra. Một số anh chị em chúng con thấy thương cho các sư em sẽ bơ vơ khi thiếu vắng Thầy. Rồi sự bình an trở lại đã cho con cái thấy mới, cho dù hình tướng Bụt không còn nhưng Tăng đoàn, giáo pháp của Bụt vẫn luôn lớn mạnh, vẫn chảy mãi cho đến hôm nay. Con đang thực tập ôm ấp với những gì đến và đi. Người ta nói: “Mẹ già như chuối chín cây, gió lay mẹ rụng con phải mồ côi.” Còn chúng con thì: “Thầy già như lá mùa thu, gió lay lá rụng thì lá xanh đang tiếp bước Thầy”.
Dẫu ý thức rõ tuổi Thầy đã cao, mỗi chúng con đều đang thực tập để thấy được vô thường và chúng con đều đang là sự tiếp nối của Thầy, không có gì phải lo sợ. Khi nghe tin Thầy bệnh, có thể không có mặt với chúng con, mỗi chúng con ai cũng đều chấn động. Ngày đêm chúng con đã cầu nguyện năng lượng Bụt Tổ gia hộ cho Thầy nhưng thực ra cũng chính là gia hộ cho chúng con được bình an hơn, biết trở về với hơi thở, bước chân, biết thực tập buông bỏ những buồn giận, vướng mắc để có mặt cho huynh đệ và an trú trong hiện tại sâu sắc hơn. Những ngày Thầy bệnh cũng là những ngày huynh đệ chúng con an cư đầm ấm, khắn khít bên nhau, vui tươi, dễ dàng bỏ qua và tha thứ cho những vụng về của nhau hơn. Đặc biệt là ở Mộc Lan, chúng con có nhiều buổi ngồi lại chia sẻ cho nhau những vụng về, những chân tình sâu kín. Những thực tập bền vững và sâu sắc của mỗi sư anh, sư chị, sư em là thức ăn chúng con hiến tặng, nuôi dưỡng nhau. Con được nuôi dưỡng, được đánh động rất lớn khi lắng nghe những gì chân thật của huynh đệ mình chia sẻ qua những buổi sinh hoạt đó.
Dòng chảy tăng thân
Noel năm nay tất cả anh chị em chúng con được ngồi uống trà, tâm tình chia sẻ với nhau, món quà đặc biệt mà quý sư cô xóm Mai tự tay làm để tặng cho mỗi thầy xóm Trúc là những tấm thiệp rất đẹp. Trong đó quý sư cô đã viết vào những điểm đẹp mà mỗi thầy đã biểu hiện trong những năm qua. Vào buổi thiền trà đó, mỗi sư cô cầm trên tay tấm thiệp có tên một thầy và khi được gọi tên thầy nào thì sư cô đang cầm tấm thiệp đó đọc lên với giọng đọc rõ ràng, mạnh mẽ và vui tươi. Buổi ngồi chơi kéo dài gần ba giờ đồng hồ nhưng ai cũng cảm thấy vui và hớn hở.
Vào những ngày cuối năm có khóa tu Holiday Retreat, số lượng thiền sinh tăng lên gấp đôi, đông hơn so với dự tính của chúng con. Chủ đề khóa tu là: “Trong ấm, ngoài êm”. Khóa tu đã thật sự ấm êm và có nhiều hoa trái cho tất cả những người tham dự đón một năm mới. Bây giờ Thầy đang ngày một khỏe hơn, chúng con hạnh phúc và biết ơn sự cố gắng của Thầy, của cả tăng thân, cùng những bác sĩ, y tá đã và đang tận tình chữa trị cho Thầy. Trong tích môn con vẫn luôn mong ước Thầy còn đó hoài với chúng con, dù cho ai có bảo con nghèo mà ham cũng được.
Con nhớ những ngày mới xuất gia, con có nhiều hạnh phúc khi nhìn về Tăng thân của mình, con quán tưởng về những đứa con của thầy qua hình ảnh mẹ Âu Cơ: “Xưa mẹ Âu Cơ sinh được trăm con, năm mươi xuống biển, năm mươi lên non. Nay triệu cháu con chung tình nước non, là hoa một gốc là con một nhà”. Con không biết lúc đó mẹ Âu Cơ và các con của Mẹ có buồn không vì phải chia đôi mà chưa có pháp môn để thực tập. Còn Thầy bây giờ thì sao? Bởi vì chúng con là những đứa con mới được Thầy sinh ra và ở lại Chùa Diệu Nghiêm nên con đã làm lại bài hát rằng: “Nay thì Sư Ông sinh được trăm con, năm mươi ở Làng, năm mươi ở quê” (bởi vì chúng con đang ở Việt Nam, quê nhà). Xa nhau thì cảm thấy hơi buồn nhưng chúng con ý thức rõ: “Nay triệu cháu con như một dòng sông, là con nhiều nước là cha một nhà”, và Thầy hay là chúng con đều không có buồn khi ở cách xa nhau. Bởi Thầy đã dạy cho chúng con cách an trú, chế tác niềm vui, an lạc để ở đâu chúng con cũng có quê hương thân yêu. Thầy tuy xa nhưng lại thật gần, Thầy luôn có mặt cùng khắp. Chúng con có chung một người Cha và chung một ngôi nhà lớn là: “Hành Tinh Xanh”.
Đã mười năm con được sống trong dòng chảy của Tăng thân, mặc dầu con còn mang theo những vụng về, những nỗi khổ niềm đau chưa chuyển hóa hết, nhưng con đã hưởng được rất nhiều bình an, nhiều hạnh phúc và con đang lớn lên trong lòng Tăng thân. Con thấy đường tu ngày càng đẹp và thú vị lắm. Con sẽ không như thi sĩ Nguyễn Công Trứ: “Kiếp sau xin chớ làm người, làm cây thông đứng giữa trời mà reo”, con sẽ nguyện: “Kiếp sau xin được làm người, cùng chung dòng chảy sống hoài với Tăng thân”.
Hình ảnh mái chùa, cây đa, giếng nước, sân đình, từ lâu đã đi vào nếp sống của người dân làng quê Việt Nam. Mỗi khi nhắc tới, trong lòng mình lại trào dâng một niềm thương nhớ. Mình thương, mình nhớ vì đó là một phần máu thịt, một phần của tuổi thơ. Làm sao quên được hình ảnh tết Trung thu được chơi đèn kéo quân, được chạy quanh sân đình gọi nhau í ới, được chơi trò ô ăn quan hay bịt mắt bắt dê. Vào những dịp nghỉ hè, mấy đứa con trai chúng tôi hay trèo lên cây đa tìm bắt tổ chim hay hái những quả đa rồi chia nhau ăn, sau đó lại ùa ra giếng làng tắm gội. Người dân quê những hôm đi làm đồng về được ngồi ở gốc đa đầu làng, uống bát nước chè xanh, nói dăm ba câu chuyện, hỏi nhau về chuyện làng, chuyện xóm.
Chẳng thế mà ca dao tục ngữ có câu:
Hay vào những đêm trăng sáng, các nam thanh nữ tú rủ nhau đi cấy, rồi cùng nhau hát các bài dân ca, hát giao duyên, hát đối đáp:
Ngày xưa người ta có thời gian đi cấy chung, hát chung với nhau một câu dân ca hay rủ nhau đi chùa vào những ngày Rằm, mồng Một. Hồi bé mỗi lần thấy bà nấu nước bồ kết, tôi biết ngày mai bà sẽ đi lễ chùa. Tôi cũng chẳng hiểu tại sao bà không gội dầu gội đầu cho tiện mà bà lại nấu nước bồ kết. Bây giờ tôi mới thấy, người xưa trước khi đi lễ chùa họ thường sửa soạn thân tâm cho thật chay tịnh từ những ngày trước đó. Có thể đó là một phong tục tập quán đẹp mà bà tôi còn giữ lại, chứng tỏ những con người ấy đã có một đời sống tâm linh sâu sắc. Sống mà không có gốc rễ tâm linh và huyết thống, không biết tới cội nguồn thì khổ lắm. Tôi được trao truyền một đời sống tâm linh như hôm nay là nhờ sự tưới tẩm từ bà và mẹ. Cứ đến ngày lễ Tết hay ngày Rằm, mồng Một, bà chuẩn bị hương hoa ra chùa cúng Bụt. Khi nhà có hoa quả hay gạo mới đầu mùa thơm ngon, bà chọn một ít mang ra chùa, trước là cúng Bụt, sau đó thừa lộc cúng Sư Cụ. Bàn thờ tổ tiên lúc nào bà cũng chăm sóc thật chu đáo, mỗi khi con cái đi đâu về hay đi làm ăn xa, bà đều thắp hương khấn nguyện với tổ tiên, mong cho con cháu được chân cứng đá mềm.
Mẹ tôi cũng thế, một lòng một dạ với Bụt Tổ. Những khi ở chùa có công việc nhiều, mẹ đều sắp xếp việc nhà để ra giúp chùa. Khi chị em tôi còn nhỏ, mẹ không có thời gian ra chùa nhiều, nhưng vài ngày mẹ lại đáo qua xem Sư Cụ có khỏe không, mẹ tranh thủ quét dọn sân chùa hoặc gánh nước đổ vào lu giúp Sư Cụ. Bố tôi cứ cười đùa gọi mẹ là bà vãi:
Quét lá đa mà có niềm vui, có chánh niệm thì mình đang thực tập thiền quán. Có thể hồi đó mẹ tôi biết về hơi thở chánh niệm, sau mỗi lần ở chùa về mẹ rất hạnh phúc, mẹ cười tươi hơn và mỗi lần như vậy, chị em tôi lại được Sư Cụ cho khi thì quả chuối, quả mít hay quả chay được lấy từ vườn chùa.
Hình ảnh mái chùa từ lâu là một phần của tuổi thơ chị em tôi. Hồi bé, mỗi lần được theo bà ra chùa tôi vui lắm, vui chẳng khác gì người ta cho mình gói bỏng ngô hay vài cái kẹo. Trước khi đi bà dặn tôi: “Cháu ăn mặc cho gọn gàng sạch sẽ, không được mặc quần đùi, ra tới chùa cháu phải ngoan, không được nói bậy đấy, ra gặp Sư Thầy thì chắp tay chào nghe chưa”. Tôi vâng vâng dạ dạ làm theo lời bà một cách cẩn thận.
Lần đầu tiên ra chùa tôi thấy cái gì cũng mới cả, mọi thứ thu hút tôi một cách kỳ lạ. Hàng ngày thứ làm tôi thích nhất là quà vặt và đồ chơi, nhưng khi ra chùa, tôi cứ chăm chú quan sát từ cái cổng tam quan cổ kính, cây đa cổ thụ và nhất là tôi cứ chăm chú ngắm nhìn từng ông Bụt Ốc. Tôi cứ thắc mắc sao gọi là Ông Bụt Ốc, bà biết ý liền giải thích rằng, vì trên đầu mỗi ông Bụt đều có những lọn tóc được tạc như hình con ốc. À thì ra là thế, mỗi ông Bụt lại có một vẻ đẹp thật kỳ lạ, khuôn mặt phúc hậu tròn đầy, trên môi luôn nở nụ cười hàm tiếu. Các nghệ nhân điêu khắc xưa như đang thổi hồn vào từng pho tượng, họ tạc không chỉ bằng đôi bàn tay tài hoa mà còn mang cả tâm tư tình cảm, cái hồn của người xưa vào trong đó.
Trong chùa có hai tượng Hộ Pháp to lắm, to bằng mấy người thường, một ông mặt dữ tợn gọi là ông Ác, còn một ông hiền lành gọi là ông Thiện. Ban đầu tôi nhìn thấy ông Ác thì sợ lắm, khuôn mặt đỏ lòm, mặt đầy râu ria cưỡi trên mình con Sấu (gần giống con sư tử), trên tay cầm một thanh kiếm. Tôi quay sang hỏi bà, bà bảo: “Hai ông Hộ Pháp đại diện cho tính cách của một con người, trong mình luôn có thiện và ác, ông Ác thì trừng trị cái ác, còn ông Thiện thì bảo vệ những gì thiện lành”. Hồi đó tôi thích tới vái và ngắm ông Thiện hơn, còn ông Ác thì thỉnh thoảng tôi mới tới len lén liếc một cái rồi chạy theo bà xuống vườn chùa. Có thể đó là tuệ giác trong cách bố trí thờ tượng của người xưa, không thiện không ác, thiện ác nương nhau mà biểu hiện, mình không thể loại bỏ cái ác đi mà chỉ tôn thờ cái thiện. Con người mình cũng thế, không bùn thì không sen, vấn đề là lấy bùn nuôi sen, lấy từ bi để chuyển hóa cái ác.
Bà đang thắp hương ở những ngôi tháp, mắt bà nhắm, miệng lâm râm khấn vái có vẻ thành tâm lắm. Nghe bà kể đây là tháp Sư Cụ trụ trì. Vào những năm 70 – 80, chiến tranh loạn lạc, rồi trải qua thời kỳ bao cấp, chùa chiền bị bỏ ngỏ hoặc bị phá hủy làm trường học hay trở thành nhà hợp tác xã, người dân cũng ít lai vãng tới chùa. Nhưng Sư Cụ vẫn với chiếc áo nâu sòng sờn bạc, sáng tối hai bữa dưa cà, ngày đêm lời kinh tiếng kệ nguyện cầu cho dân làng khỏe mạnh, quốc thái dân an. Sư Cụ thương trẻ con lắm, nhà nào con cái khó nuôi cũng bế ra chùa làm con của Bụt, dân làng tôi gọi là “lễ bán khoán”. Sau ngày lễ bán khoán, các cháu có vẻ ngoan hơn, ít quấy khóc hơn, tôi cũng được bà cho đi bán khoán, làm con của Bụt từ hồi còn ẵm ngửa. Sư Cụ mất hồi tôi còn bé tí nên tôi chỉ thấy ảnh Sư Cụ trên nhà thờ tổ. Một bà cụ với khuôn mặt hiền từ, đôi mắt sáng, răng nhuộm đen, mặc áo tràng nâu, đầu chít khăn nâu, một tay cầm chiếc gậy trúc, tay kia lần tràng hạt. Hình ảnh chiếc áo nâu và chiếc khăn nâu đã quen với tôi từ tấm bé, rất gần gũi và thiêng liêng, chẳng thế mà khi chị gái tôi xuất gia, tôi cứ luôn nhắc chị: “Chị nhớ chít khăn vào cho đẹp”. Vì tôi thấy Sư Cụ ngày nào đang biểu hiện trong chị gái tôi một cách thật mầu nhiệm. Tôi cũng mong một ngày hai chị em tôi cùng được ngồi chung một chuyến tàu về thăm quê, chị em tôi sẽ ra ngoài tháp thắp một nén hương cúng dường Sư Cụ và cùng nhau lên chính điện lạy Bụt rồi nói: “Bạch Bụt, chúng con đã về”.
Đi xuất gia tôi thấy yêu văn hóa, yêu quê hương dân tộc mình hơn bao giờ hết. Mỗi lần được tiếp xúc với văn hóa quê hương, tôi thấy mình đang được Về Nguồn, đang được tắm gội lại giếng nước thơm trong ngày nào. Tôi sẽ vốc làn nước mát nâng lên trong hai tay, mỉm cười và nói rằng: con đã tới! Tôi đâu chỉ được quay về với tuổi thơ, được bơi lội trong hồ nước mát, mà tôi còn đang được đắm mình trong dòng nước tâm linh, đang lưu nhuận từ ngàn xưa.
Nếu cho tôi được đặt tên một Tăng thân ở quê tôi, tôi sẽ đặt tên là: “Tăng thân Giếng Thơm hoặc Tăng thân Kinh Bắc”. Giếng Thơm và Kinh Bắc, nó xuất phát từ cuốn sách của Thầy là “Giếng nước thơm trong” và một cuốn của Sư cô Chân Không là “Cần Thơ về Kinh Bắc”. Tôi không chỉ thấy thương từ Giếng Thơm mà tôi còn thương cả từ Kinh Bắc. Kinh Bắc là cái nôi của Phật giáo Việt Nam, là nơi mà Sư tổ Khương Tăng Hội từng hành đạo và sinh sống, là nơi mà chú tiểu Kính Tâm tu tập rồi trở thành Phật Bà Quan Âm. Nếu có duyên lành tôi sẽ về thăm, tôi sẽ đi thiền hành quanh tháp Tổ, tôi sẽ hái một cành hoa bưởi về cho mẹ gội đầu. Tháp tổ vẫn sừng sững chờ đón những người con xa xứ, những người con lưu lạc trong thất niệm, một ngày nào đó trở về:
Tôi sẽ thở cho bà cụ trước khi hấp hối đã gọi con lại dặn mang bát gạo bà còn để ở đầu giường ra cúng Bụt. Tôi sẽ đi cho Sư Cụ chùa tôi vì tuổi già sức yếu không đi lại được, nhưng sáng tối vẫn lần từng bậc thềm trong ánh đèn dầu leo lét, từng bước một chậm rãi từ liêu của mình lên chính điện để tụng kinh lạy Bụt. Tôi sẽ tu cho những bà lão răng đen, mặc áo tràng nâu, đầu chít khăn mỏ quạ, cổ đeo tràng hạt rủ nhau đi lễ chùa, mỗi độ ngày Bụt sinh, Bụt nhập diệt hay mỗi độ Vu Lan về. Và tôi sẽ cười cho các em thơ chạy lon ton theo bà ra chùa, vui mừng được Sư Cụ chia cho nửa quả chuối hay một phần tư chiếc oản xôi dù Sư Cụ biết rằng trưa nay mình sẽ ăn ngô thay oản.
Sư Cụ, ông Bụt Ốc, bà lão răng đen, những lời kinh tiếng kệ vang vọng mỗi khi chiều về… là những dòng nước mát đang lưu nhuận trong từng tế bào của tôi. Dòng nước tâm linh, lâu nay vì chiến tranh bom đạn, vì thời thế mà bị rong rêu, bị thân bèo bao phủ. Tôi, các sư anh, sư chị và sư em của tôi cần phải vớt bèo, cần những cánh tay để kéo những đám rong kia ra khỏi mặt nước giếng, trả lại dòng nước mát ngày nào. Để tôi và anh cùng về thăm mẹ, tôi sẽ gánh một gánh nước quê hương gội đầu cho mẹ. Tôi cần cánh tay của các anh, tôi cần bàn tay của các chị. Muốn làm được như thế, tôi mời anh chị hãy cùng tôi “Thở cho đều”.
Say thời gian
Những ngày cuối năm 2014 đang qua, tôi luôn thấy thời gian trôi nhanh vào những ngày này. Tôi có cảm tưởng chóng mặt, say xe khi tôi cùng mọi người chuẩn bị tiễn đưa năm cũ và đón chào một năm mới. Tôi tự hỏi: “Có cái gì mất đi và có cái gì sinh ra? Phải chăng đó là thời gian? Ồ không? Thời gian là một dòng chảy mà! Tôi biết chắc như vậy”.
“Thế cái cảm giác say từ đâu đến?” Qua bao năm thực tập nhìn rõ mặt thời gian, tôi phát hiện ra “tôi say thời gian”. Người ta thường nói say rượu, say tình… hay nặng hơn ‘say’ là ‘nghiện’: nghiện rượu, nghiện cà phê, thuốc lá, hay si tình, thất tình v.v…, một cảm giác không mấy dễ chịu. Còn tôi là người tu. Tôi quyết tâm thanh lọc rượu, bia, thuốc lá và cả tình cảm. Vậy mà tôi vẫn say. Tôi thấy mình dễ nổi cáu và mất tự chủ. Tôi quyết tâm rình bắt cho được anh chàng thời gian để xem mặt mũi, hình dáng anh như thế nào mà dám vào quấy phá sự tu học của tôi.
May nhờ có Thầy trao cho tôi chiếc nhẫn thần, nhờ thực tập dừng lại mà tôi khám phá ra căn bệnh say thời gian của mình. Thường thì tôi có khuynh hướng tìm ra nguyên nhân và gán tội cho thủ phạm. Bây giờ tìm ra thủ phạm là anh bạn thời gian rồi nhưng tôi không biết làm sao mà giận anh đây. Tôi bực mình nên giận những người xung quanh. Thật là dại dột.
Tôi ngồi yên và tự ngẫm rằng: “Không thể giận thời gian được”. Thế thì giận ai bây giờ? Loay hoay hoài mà không biết làm sao tiêu hóa cái giận, dù tôi đã học “Năm phương pháp diệt trừ phiền giận” hẳn hoi. Nhưng ứng với đối tượng thời gian thì khá mới mẻ. Nhất là ở trong một môi trường cởi mở nhận thức thì thời gian hình như đi nhanh quá? Cho đến một ngày giáp Tết, tôi nhận ra sự yên bình trở về trong bước chân tuổi thơ. Tôi đứng yên thưởng thức tiếng chuông cùng tiếng chim ríu rít trong bụi tre. Tôi như thấy thời gian dừng lại và cùng thở với tôi. Tôi cười. Nụ cười hạnh phúc đón chào năm mới vọng về trong những vần thơ:
(Thơ Thầy)
Trong hai câu thơ cuối tôi gặp lại Thầy, gặp lại ánh mắt và nụ cười của Thầy trong ngày đầu tiên tôi bước vào Nội viện Phương Khê, Thầy đã đọc cho tôi nghe hai câu thơ: “Chợ văn bán sách lầu cao. Muối dưa đắp đổi hôm nào cũng vui”. Hôm nay tôi thấy tiếng cười nguyên sơ của tôi, trong nụ cười đó thấp thoáng niềm vui tu học của Thầy. Tôi vùng dậy lần theo tiếng cười…
Vì sao tôi đi tu?
Câu hỏi này nhiều người hỏi tôi, nhất là ba mẹ và bạn bè thân thuộc của tôi. Ai cũng thấy nửa thương tôi và nửa giận tôi. Tôi có rất nhiều lý do nhưng tôi vẫn không thấy thỏa đáng mỗi khi tôi trả lời câu hỏi này. Cho đến khi tôi được học Duy Biểu, tôi mới khám phá ra hạt giống đi tu đã có trong tôi từ khi tôi còn rất nhỏ. Bây giờ tôi thấy câu trả lời thỏa đáng nhất là “tôi thích đời sống xuất gia.”
Tôi thích khám phá sự sống trong mình. Tôi thích tiếp xúc thực tại bằng cả con người của mình. Thích chạm được vào những buồn vui sâu kín trong tôi. Thích rong chơi cùng sự sống với những thay đổi của bốn mùa, của chồi non và hoa lá. Tôi thích nhìn đàn cá bơi tung tăng trong nước, những cánh chim bay lượn tầng không và con người sống hòa ái bên nhau.
Từ nhỏ tôi thường quanh quẩn trong nhà, ở trường và chùa. Tôi cảm thấy có một cái gì thân quen khi đến chùa, khi sinh hoạt Gia Đình Phật Tử. Nhưng tình bạn và học đường có sức lôi cuốn tôi hơn. Được đi học là một niềm vui lớn. Tôi thật sự mất định hướng khi rời giảng đường, mọi cái dường như quá xa lạ với tôi. Thế giới người lớn đòi hỏi tôi phải thay đổi, tôi thấy mình ngơ ngác và tội nghiệp. Mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm trôi qua, tôi cảm thấy có một cái gì thiếu thốn mà tôi không thể tìm thấy trong sách vở, trong công danh sự nghiệp. Tôi say sưa trong công việc, cũng có nhiều niềm vui nho nhỏ, nhưng tôi thấy mình đang đi theo mọi người để sống mà không hiểu vì sao mình cứ phải sống như vậy?
Ngày bạn tôi mất, tôi nhận ra ánh mắt sợ hãi của bạn khi đối diện với tử thần, và tôi thấy đôi mắt đó thi thoảng xuất hiện trong tôi, trong những người xung quanh. Thì ra đã có những lúc mình đánh mất sự sống mà mình không biết? Tôi nhận ra sách vở, kiến thức học đường và công nghệ máy móc không đáp ứng cho tôi tìm lại sự sống. Có lần tôi thấy mình lạc vào nghĩa địa. Những nấm mồ là hàng chục chiếc máy vi tính tối tân câm lặng. Một không gian chết.
Lúc đó tôi thật sự cầu nguyện cho tôi gặp Thầy, gặp bạn. Tôi sẽ làm lại từ đầu. Thầy đã từ bài giảng bước ra như một phép lạ. Thầy dạy: “Người ta thường mất nhiều thời gian để chuẩn bị sống nhưng chưa thật sự được sống…” Câu nói ấy đi vào tâm thức tôi, xuyên qua bao tường thành kiên cố và cuối cùng ở lại trong tôi. Tôi tìm đọc sách của Thầy, nghe pháp thoại của Thầy, tôi như sống lại và trở thành một con người mới. Tôi thường tự gọi đùa với mình rằng: “Công chúa ngủ trong rừng ơi, tỉnh dậy đi nào!”.
Tôi được thức tỉnh nhờ những bước chân bình an của Thầy đi qua đồi thông chùa Từ Hiếu. Hình ảnh ấy rất quen thuộc. Tôi không hiểu vì sao tôi kết duyên cùng bước chân Thầy. Và tôi quyết lần theo những bước chân huyền thoại…
Trong niềm vui đó có những vần thơ ra đời:
Thế là tôi đi tu. Mới đó mà gần mười năm rồi, nhanh thiệt là nhanh. Năm nay tôi về lại xóm Mới An cư để được sống gần Thầy như lời Thầy nhắn nhủ:
Thở cho vui, Đi cho vui
Tôi thật buồn vì nhận ra tập khí quên thở của mình trong khi gia tài của pháp môn Làng Mai là “THỞ”, là “ĐI”. Tôi tập đi chậm rãi, nhưng tôi thấy tôi chưa thật sự hạnh phúc khi đi. Đôi lúc nhìn dáng vẻ bên ngoài có vẻ thiền hành nhưng tôi vẫn quên thở. Nhất là những lúc nấu ăn. Tôi loay hoay với chính mình rất lâu, và tôi nhận ra đi thiền kết hợp được với hơi thở và bước chân không dễ như Thầy dạy mà tôi đã được học. Cho đến một ngày Thầy bật mí cho tôi một sự thật là đi không cần tới, mình cứ đi như người mù, mình biết hết tất cả mọi nơi trong nhà rồi, nên đến ngang đâu là mình cảm được ngay, dù mình nhắm mắt đi nữa…
Làm thị giả cho Thầy, tôi thật sự ấn tượng bởi sự di chuyển của Thầy, nhất là những chỗ Thầy đã ở, đã làm việc. Nhất là những hôm Thầy bệnh, Thầy chóng mặt, bước chân Thầy không vững, nhưng Thầy có khả năng định vị rất tốt. Đôi lúc Thầy lim dim nghỉ mà vẫn biết xung quanh đang xảy ra chuyện gì. Thầy đi thiền như một cuộc dạo chơi thú vị, mỗi cảnh mỗi vật đều trở nên thân quen gần gũi. Chính niềm vui này đã giúp tôi gặp lại tôi ngày bé.
Mẹ tôi đi dạy xa, tôi và chị tôi còn quá nhỏ nên phải có hai người chăm hai chị em tôi. Chị Nở, người chăm sóc tôi bị tật ở chân, một chân của chị không gập lại được, chị đi đứng rất khó khăn. Tôi thường nhoài người ra để tụt xuống đất trước khi chị có thể đặt chân tôi chạm đất. Nhưng tôi thường thấy chị nhìn cây cối và bầu trời rất trìu mến.
Rồi chị xin mẹ tôi về lại với ruộng đồng. Mỗi lúc nhớ chị, tôi lại thấy hình ảnh chị ngồi duỗi chân bên cây đa, một tay chị cầm nón lá quạt thong thả, mắt ngước nhìn trời xanh. Đôi mắt Thầy đã nhiều lần nhìn mọi vật như thế. Cái nhìn đó chạm vào ký ức tôi và tôi đã gặp lại đôi mắt của người chị nuôi tôi ngày bé. Tôi nhớ những ngày tôi chạy theo bên chị, tôi thấy mình gần với trời xanh và đất mẹ. Chị sống hiền lành, đơn giản, không đua đòi theo đám đông nên được ở gần chị, tôi luôn cảm thấy bình an lạ. Chị đã ở lại với ruộng đồng, còn tôi học hành và mưu cầu cuộc sống tiến bộ. Tôi quên bẵng chị. Vậy mà Thầy đã đem chị về cho tôi. Ký ức tôi theo bước chân thiền hành đã tiếp xúc được với ân tình của chị. Tôi thật sự giật mình. Bởi tôi đâu có ngờ chị đã gieo duyên cho tôi được gặp Thầy. Người chị bị khuyết tật, không học hành nhưng chị giữ được một tâm hồn thật đẹp. Chị cho tôi lấy lại niềm tin một cách dễ dàng. Tôi biết rõ chị, tôi đã được sống và cảm được sự nhẹ nhàng của một người chị nghèo. Và tôi thật vui khi ngày bé tôi đã có được giấc ngủ ngon lành cùng chị trên đống rơm khô. Tôi nhận ra Thầy giúp tôi tiếp xúc với chính tôi, với hiện tại và quá khứ, với những người thương.
Gặp lại chị tại Làng trong mỗi bước chân sự thật tôi quá bất ngờ. Cái tâm bình an trong cái nghèo những năm sau 1975 tại quê tôi luôn làm tôi mặc cảm. Nhưng từ khi gặp lại chị, tôi thấy chị nghèo thật nhưng chị không mặc cảm. Chị không đi bình thường, nhưng tôi thấy chị chấp nhận cái không bình thường của mình, và đặc biệt là chị có niềm vui không ai lấy đi được. Niềm vui ấy không cần giàu sang, bằng cấp, địa vị mới có được. Niềm vui của sự bình an chị đã tặng tôi mà tôi không hay biết. Gặp được Thầy, tôi đã gặp lại chị, gặp lại tuổi thơ của mình. Lạ thật, mỗi lúc Thầy đưa mắt nhìn trời, nhìn cây cỏ là tôi lại thấy hổ thẹn vì tôi đã bỏ rơi tôi mấy chục năm trời. Thời gian Thầy bệnh, thức dậy, tôi mở cửa bước ra ngoài, trời lạnh nhưng có nắng, ngước mắt nhìn bầu trời ban mai, lòng tôi vui khôn tả. Tôi thấy niềm vui của Thầy trong bài trường ca Avril và niềm vui của tôi ngoi lên thành hai câu thơ:
Học để mà học
Tôi bắt đầu học Đi để mà đi trong nhà mỗi sáng thức dậy, rồi khi thấy vui vui với cách đi này tôi áp dụng Đi để mà đi cho thời khóa. Có những sinh hoạt không di chuyển như ngồi thiền, ăn cơm, nghe pháp thoại, họp, pháp đàm v.v. tôi thấy rõ là mình đi, đi nhiều hướng là đằng khác.
Thầy vẫn ân cần chỉ dạy chúng tôi nhớ thở khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi ăn, khi hát, khi tụng kinh hay cả khi đọc sách, viết văn, làm vi tính và cả khi đóng sách nữa… Với tôi đây là một công án.
Tôi nghĩ, tôi phải chọn một cái để thực tập cho ra hồn. Thử qua một loạt tôi vẫn thấy khó quá! Tôi lại thích thực tập hòa đồng với mọi người để không ai phát hiện ra là mình đang thực tập. Tôi chọn một thực tập chưa được phổ biến rộng rãi, đó là thực tập viết. Lúc đầu tôi viết tất cả những vui buồn trong ngày. Và tôi nhận ra những vui buồn ấy làm ảnh hưởng sự thực tập Đi để mà đi của tôi. Tôi ngừng viết, ngừng đọc và chuyển sang “tập chép” theo nhu cầu học ngôn ngữ.
Từ ngày xuất gia, tôi tạm ngưng đọc sách các tác giả khác. Tôi chuyên chú vào sách Thầy. Tôi đọc một cuốn như thưởng thức một món ăn rỉ rả, đọc một ngày một vài trang thôi để trị cái tập khí đọc sách ngấu nghiến của tôi xưa nay. Lúc đầu thật khó chịu, nhưng nhờ biết thiểu dục tri túc nên tôi nghĩ ra cách tập chép để trị cái bệnh lười học ngoại ngữ của tôi luôn thể.
Thầy đã chỉ tôi cách học Anh văn sau bao ngày tôi không có hứng thú. Thầy đã dạy Sư cô Chân Không học Anh văn bằng cách chép lại và tự đối chiếu lỗi của mình chép lại theo sách mẫu. Rồi tự mình so sánh và tự sửa lấy. Tôi bắt chước, thấy hay hay khi nhận ra chỉ đọc qua mà viết lại còn không đúng nữa là. Thật là tam sao thất bổn! Nhờ đó tôi học luôn đức khiêm cung với lỗi của mình và của người khác. Bởi chỉ cần lơ đểnh là tôi thêm cái biết của tôi vào liền.
Tôi phát hiện ra. Đi để mà đi dễ hơn học để mà học. Bởi vì khi đi mình có thể không cần suy nghĩ, nhưng khi học thì phải suy tư chứ! May mà hình ảnh Thầy bình an ngồi viết thư pháp đã khích lệ tôi khám phá cái nghịch ngợm học để mà học của tôi. Tôi có thói quen quậy phá để tạo cảm hứng cho mình học cũng thư tu. Tôi không bằng lòng với hạnh phúc của người khác. Tôi đi tu là muốn nếm cho được cái vị hạnh phúc của mình. Và đó cũng là cách duy nhất tôi tạo niềm tin cho mình.
Đang loay hoay với việc tạo cảm hứng thực tập cho mình. Tôi lại thấy có nhiều niềm vui khi thấy Thầy ngồi bình an bên bàn viết, vẽ vô số vòng tròn. Tôi nhớ hồi nhỏ tôi muốn sau này sẽ trở thành giáo viên dạy Toán. Mẹ tôi đã ra cho tôi một bài tập: chừng nào con vẽ được vòng tròn thật là tròn mà không cần compa, con có thể nghĩ tới việc làm giáo viên môn toán. Vậy là mẹ tôi cho tôi một cây bút và một cuốn tập, tôi cũng vẽ vòng tròn như Thầy với rất nhiều niềm vui. Chắc lúc đó tôi quậy dữ quá nên mẹ tôi phải tìm cách cho tôi chơi, khỏi quấy rầy mẹ.
Tôi nhìn Thầy vẽ với rất nhiều hạnh phúc, Thầy ngước mắt lên hỏi. “Con thấy Thầy vẽ vòng này có tròn không?”
Thay vì trả lời: “Thưa Thầy có” hay “Thưa Thầy không”, tôi lại thưa: “Thưa Thầy, có phải Thầy vẽ theo cái vòng tròn của tấm Thầy kê phía dưới?”. Thầy cười thật hiền rồi nói: “Không, thầy chỉ kê cho giấy khỏi chạy thôi. Còn mỗi vòng nó đi theo hơi thở khác nhau”. Lúc này thì tôi giật mình vì câu hỏi trẻ con của mình.
Thế là về nhà tôi bắt chước Thầy tìm cho ra cái hơi thở trong vòng tròn. Và tôi lại phát hiện ra lâu nay tôi vẽ cái vòng tròn thật khổ sở. Tôi dùng hết sức bình sinh của tuổi thơ để vẽ cho thật là tròn. Tôi đã quên thở, lại còn nghiêng người bên phải, bên trái như đang làm một việc gì nặng nhọc lắm. Tôi nhăn mày, nhíu trán, méo miệng theo cái vòng tròn. Thật là khổ sở. Sau đó tôi khám phá ra không những đó là thói quen tôi vô tình hình thành trong tôi mà tôi còn đem theo cái thói quen ấy khi viết, khi đọc và làm vi tính…
Đề tài thở vẫn còn canh cánh trong lòng tôi. Tôi mới gặp lại em bé trong tôi thật vui nên tôi chọn cuốn “Sen búp từng cánh hé” để tập chép ba ngôn ngữ Anh, Pháp, Việt. Nhất là sau khi thực tập Đi để mà đi giúp tôi có thêm bình an, tôi có tham vọng Học để mà học cũng vui như vậy. Và tôi phát hiện ra tập khí tham lam kiến thức của mình khi học, mình bị dính chặt vào cái mình gọi là không biết, mà chất keo đó là sự sống còn, sự hơn thua, mặc cảm… Tôi đã từng khóc vì tội nghiệp cho tôi. Tôi đã không biết cách học. Tôi đã tạo ra khổ đau mà tôi lỡ cất giữ sau bao nhiêu năm vùi đầu vào sách vở.
Bây giờ, mỗi khi cầm cuốn sách của Thầy là tôi thấy cả cuộc đời Thầy. Mười năm nay tôi chỉ đọc sách và nghe pháp thoại của Thầy như một nguồn thực phẩm lành mạnh, trong đó gói bao ân tình của Thầy để cuốn sách ra đời. Thầy dạy: “Viết văn làm thơ như một bà mẹ mang thai vậy đó!”. Phải chuẩn bị từ từ, phải có bình an và niềm vui thì khi mình đọc lên hay người khác đọc cũng cảm nhận được niềm vui đó. Thầy rất có niềm vui khi làm lại các bài Sám trong Nhật Tụng Thiền Môn. Khi mình tụng, đọc mà không thấy vui là mình phải xem lại sự thực tập của mình.
Tình huynh đệ
Mùa Đông này dù Thầy bệnh nặng, nhưng vẫn có Lễ xuất gia cho các sư em cây Sồi Đỏ. Các sư em đã cho tôi thêm niềm tin về con đường tâm linh. Tôi nhớ những đợt xuất gia trước, Thầy vui vẻ đặt tên cho các em và nói: các con có biết bây giờ Thầy đang mang thai các sư em tương lai, sắp tới ngày sinh rồi nên Thầy vui lắm!
Chúng tôi vui cùng niềm vui của Thầy khi nhìn các sư em hòa vào đời sống tăng thân. Mỗi tối, các sư em cùng theo đại chúng Xóm Mới đắp y cầu an cho Thầy được phục hồi sức khỏe. Khi tụng những bài Sám và Tâm Kinh ai cũng mang theo niềm vui và lòng biết ơn Thầy. Thầy đã dành cả cuộc đời để hiến tặng kinh nghiệm thực tập và tuệ giác của Thầy đến cho tất cả mọi người. Trong giờ phút ấy, tôi thấy hình ảnh Thầy trong mỗi câu kinh. Dù không hoàn toàn 100% nhưng các sư cha, sư mẹ, sư chị, sư em chúng tôi đều đang gìn giữ và tiếp nối Thầy. Những lúc thấy nhớ Thầy, các sư chị, sư em chúng tôi ngồi lại kể cho nhau nghe những kỷ niệm đẹp cùng Thầy và nhắc nhau mỗi ngày nhớ nghe thêm pháp thoại của Thầy.
Khi mô Thầy về!
Thầy kính thương, trong dịp mừng Giáng Sinh, chúng con đã tổ chức một buổi ngồi chơi tại Sơn Cốc, như Thầy vẫn còn ở nhà. Chúng con làm quà tặng nhau và kèm theo tình thương, sự tha thứ cho nhau. Sư em con đi quanh xóm ghi âm những tâm sự, những kỷ niệm đẹp, những bài hát để gửi lên bệnh viện, mong rằng Thầy sẽ phục hồi nhanh khi nghe giọng các sư con của Thầy. Con nằm nghỉ trưa nghe các sư chị sư em hát:

Lâu lâu chúng ta có một chuyến đi xa, khi trở về thế nào cũng có nhiều người hỏi: “Sao, chuyến đi có vui không?”. Dĩ nhiên là phải vui chứ! Nếu buồn ai mà dám đi, phải vậy không? Được có dịp đi đây, đi đó mà không cần phải bận tâm về công ăn việc làm, được thay đổi không khí và không cần lo lắng gì hết thì thật không có niềm vui nào bằng. Tất cả chúng ta nếu có dịp cũng nên đi, dù là vài ngày, một tuần, hay dài hơn càng quý. Nhất là trong lúc này vì ai cũng muốn biết tình hình ở Làng thế nào? Sức khỏe của Sư Ông ra sao?
Gia đình chúng con rất may mắn có đầy đủ thuận duyên được qua Làng thăm quý thầy, quý sư cô, luôn tiện thăm thầy Pháp Triển thân thương của chúng con, được đón Christmas và New Year. Lần nào đến Làng con cũng được đón nhận nhiều sự ân cần thăm hỏi. Khi gặp quý thầy, quý sư cô, ai cũng tươi cười hỏi thăm: “Ba má có khỏe không? Cám ơn ba má đã hiến tặng thầy Pháp Triển cho tăng thân, chúng con rất được nuôi dưỡng với sự có mặt của ba má và gia đình v.v…” Cứ thế, ngày nào con cũng được nuôi dưỡng bởi những nụ cười tươi như hoa hướng dương, những ánh mắt hồn nhiên, vui tươi. Rứa mà không vui là chuyện lạ.
Qua Làng có hai tuần mà con lên cân thấy rõ, vì sáng nào cũng được ăn bánh mì bagguette của Pháp. Mommy ăn mà cứ tấm tắc khen “mì dòn” (bánh mì bagguette Pháp nổi tiếng, sao mà không ngon được). Thế là Mommy có ý định sẽ đóng một thùng về làm quà cho quý thầy, quý sư cô ở Mộc Lan ăn cho biết nó khác với mì ở WallMart ra sao, nhưng vì thiếu trợ duyên nên rốt cuộc không mang được ổ nào cả. Về tới Mỹ rồi mà Mommy vẫn còn tiếc hụt: “biết rứa khi đó mình liều đóng đại một thùng là được rồi. Lần sau không những chỉ đóng một thùng mà có lẽ phải đóng bù nhiều hơn!”.
Tuy nhiên, ai cũng muốn biết về tình trạng sức khỏe của Sư Ông. Thật ra trong chuyến đi, chúng con nghĩ rằng có nhiều Tôn Túc tăng, ni và nhiều đệ tử lớn của Sư Ông từ khắp nơi về, ai cũng muốn viếng thăm và đảnh lễ Sư Ông, làm gì tới phiên mình được đến thăm? Vả lại Sư Ông cũng cần có không gian yên tĩnh để trị liệu. Được qua Làng thăm quý thầy, quý sư cô thì coi như cũng đã được thăm Sư Ông rồi.
Nhưng may mắn quá! Vì con đi cùng nhóm trẻ lên chơi với quý thầy, quý sư cô thị giả nên con cũng được hưởng ké. Vừa đến nơi, quý thầy, quý sư cô thị giả cho biết liền: “quý vị rất may mắn, hôm nay Sư Ông khỏe và đang mở mắt to và sáng lắm!”. Vậy là chúng con hân hạnh được diện kiến Sư Ông. Nhìn hình hài Sư Ông, chúng con không khỏi bồi hồi xúc động, chúng con đứng lặng yên trong giây lát để nhận diện và ôm ấp cảm xúc dâng trào. Trong lúc ngắm nhìn, thăm hỏi, Sư Ông gật đầu như nói với chúng con là Sư Ông vẫn khỏe, không sao đâu. Sư Ông đưa tay trái lên “phẩy phẩy” để chúng con lại gần, khi đó chúng con chỉ biết gục đầu kính lễ và nâng nhẹ bàn tay “ốm gầy” của Sư Ông, lòng ngậm ngùi thương kính mà không biết nói gì thêm.
Biết nói gì đây? Sư Ông đang từ từ phục hồi từng ngày, bấy nhiêu đó cũng đủ cho chúng ta vui rồi. Sư cô Chân Không nói: “Sao cũng được, miễn là Sư Ông còn sống là một diễm phúc lớn rồi!”. Chúng con chỉ biết tâm niệm mong sao Sư Ông sớm bình phục và kéo dài tuổi thọ để làm nơi nương tựa cho chúng con và nhiều người trên thế giới.
Có những cái ta không tính toán gì hết, nhưng đủ duyên thì nó tự đến. Chẳng hạn như mục đích con qua Làng là để thăm và chơi. Ấy vậy mà con được mời lên chia sẻ về Năm Giới, trong lúc tâm hồn của con đang rong chơi ngoài những cánh đồng hoang đầy sương mù bủa vây hay đang đứng trên đồi ngắm nhìn thung lũng cỏ vàng úa của mùa đông bao quanh hồ nước lắng trong, soi bóng những áng sương mù uốn lượn. Lúc đầu con cũng hơi bỡ ngỡ, có ý từ chốii nhưng làm như vậy coi sao được với tiếng tăm xuất thân sinh hoạt từ chúng Mộc Lan? Thế là con xin chia sẻ giới thứ Năm “Nuôi dưỡng và trị liệu”.
Thật ra, sự chia sẻ của con cũng chẳng có gì sâu sắc, ngoài những chuyện đi chơi với mấy cháu trẻ trong ngày làm biếng, cùng chụp hình “selfie” với cái cần “selfie stick”; cùng ra thăm vườn Bụt, và cứ tưởng như là những vị Bụt thật đang ngồi yên đó cho mình mà sung sướng ôm choàng, rồi hôn lên đầu, lên trán… với lòng cung kính, thú vị làm sao ấy. Ờ mà đúng vậy, được đi chơi, được ngắm nhìn thiên nhiên là một sự nuôi dưỡng cho tâm hồn và thể chất, chính đó là “xúc thực” và “thức thực”, đúng không? Vậy nếu mình có những khó khăn hay có con trẻ thì cũng nên tìm đến những chốn này, để được thiên nhiên nuôi dưỡng và trị liệu. Còn nếu để chúng ở nhà thì chúng chỉ biết vào internet, chơi games, hay xem TV với đầy dẫy những hình ảnh lôi cuốn, bạo động… không lành mạnh.
Chúng ta nên biết những games điện tử rất quyến rũ và đam mê, vì họ chế ra để người chơi có thể đạt được nhiều điểm, hay đạt đến những tầng cấp cao hơn và sau đó được thưởng theo điểm (reward points) hay tầng cấp (level), cứ như vậy nên mình mãi say sưa với chúng mà quên ăn bỏ ngủ. Đam mê như vậy thì gọi là “tiêu thụ không có chánh niệm”. Cho nên thực tập chánh niệm giúp chúng ta chọn lựa đúng đắn cho việc tiêu thụ, có bổ ích lành mạnh cho thân và tâm. Bấy nhiêu đó, cũng tạm đủ liên quan đến giới thứ Năm. Ôi! May quá, con muốn nói thêm nữa nhưng hết giờ.
Hai tuần tưởng chừng như dài lắm, nhưng không đủ để tham quan qua con đường “Huyền Thoại” nối dài từ xóm Thượng đến Sơn Hạ, hay lên đồi mận xóm Mới, hoặc men theo rừng sồi của xóm Hạ…, và càng không đủ để thưởng thức thêm bánh mì baguette “dòn khấm”. Thời gian trôi, trôi theo dòng đời, trôi theo những cảm xúc dấu yêu, niềm vui và hạnh phúc cũng xin gởi theo thời gian hòa tan vào hư không, để hẹn một ngày đẹp trời sẽ trùng phùng tao ngộ. Sự sống luôn hiện hữu có đó, chúng ta chỉ cần biết dang rộng vòng tay để đón nhận, hay mở rộng tầm nhìn để thưởng thức vẻ đẹp của đất trời. Tất cả cũng cần chăm sóc, vun bồi thì mới có ngày đơm hoa kết trái. Vun bồi sự sống là vậy.
Bình minh lên. Sài Gòn – nơi trước đây tôi sống, ồn ào và hối hả. Từ các ngả đường, dòng xe bắt đầu ào ạt đổ về. Tiếng còi xe inh ỏi, tiếng rao hàng, tiếng chuyện trò rôm rả ở các quán cóc vỉa hè. Nắng sớm xuyên qua những khóm cây thưa thớt trong các công viên, đánh thức những chú chim non chào ngày mới. Những âm thanh kia át hẳn tiếng chim và ít ai nhận ra được điều mầu nhiệm của đất trời đang hiện hữu xung quanh
Chốn này! Nơi chúng tôi đang sống sương lam giăng phủ mái nhà. Trời se lạnh. Thi thoảng có tiếng xe máy, xe công nông chuẩn bị ra đồng, nhưng không đủ lớn để át đi tiếng gà rừng, tiếng muôn chim vũ khúc nhạc đón chào bình minh.
Ông mặt trời ở đây to lắm! Ông nhè nhẹ chuyển mình đánh thức mọi người. Xa xa ở chái bếp sau nhà đã lên khói, bát cơm nóng và thức ăn thơm đã sẵn sàng dọn ra, nhưng không phải để ăn mà để cúng dường, những con người đang thực tập vun bồi thêm ruộng phước.
Sài Gòn! Anh kỹ sư xây dựng, cô thư ký văn phòng, anh hướng dẫn viên du lịch, đến em sinh viên v.v.. đang bận rộn chuẩn bị cho công việc đầu ngày: nào là dự án, hồ sơ, giáo trình, tiền lương cho đến chuyện kẹt xe… tất cả đã đẩy họ theo nhịp sống của Sài thành mà không có khả năng dừng lại dù chỉ một hơi thở vào ra.
Chốn này! Những vị khất sĩ an nhiên với mỗi bước chân tĩnh mặc, thiền hành quanh các thôn xóm, thực tập hạnh an bần nhưng thanh cao, đó là hạnh xin ăn (khất thực) theo truyền thống vào thời Bụt.
Dân làng ở đây mộc mạc với đôi chân đất, quỳ xuống cúng dường với sự thành tâm, các vị khất sĩ cúi đầu khiêm cung thọ nhận, sau đó hồi hướng niềm biết ơn đến mọi người. Những việc làm đó đã giúp nuôi dưỡng sự tu tập và vun bồi thêm đạo tâm trước những cử chỉ cao đẹp của người cúng dường và người thọ nhận.
Mặt trời lên cao, rặng núi Khaoyai đã dần hiện rõ tô đẹp thêm cho khung cảnh sống động đầu ngày. Tiếng tụng kinh trầm hùng:
Các vị khất sĩ trẻ đã chấn động cõi lòng và nhận ra rằng hạnh phúc thật sự là đây với vô vàn niềm biết ơn về một vùng quê nghèo nhưng lại đậm đà một nếp sống tâm linh.
Thương lắm chốn này – Pakchong.
Rảo bước rong chơi, lối cũ con về…
Và ngửi thấy hoa mộc hương thơm ngát.
Sư Ông Làng Mai đã khởi xướng phong trào Thức Dậy – “Wake Up” hơn 5 năm nay. Khắp nơi trên thế giới, người trẻ Âu châu, Mỹ châu và Á châu hưởng ứng nồng hậu. Chúng con, các anh chị em xuất sĩ thấy rằng thanh niên người Việt ở hải ngoại phần đông chưa biết về phong trào này! Vì thế nên nhóm Việt Wake Up đầu tiên đã khởi hành vào tháng 3, năm 2014.
Nhóm chúng con gồm có bảy thầy và sư cô từ các tu viện Làng Mai tại Pháp và Mỹ. Chủ đề của chuyến hoằng pháp này là “Trở Về Gốc Rễ”. Chúng con mong được đem Phật pháp đến với các em thanh niên từ 17-38 tuổi, sinh ra hoặc lớn lên tại Bắc Mỹ, ít có cơ hội tiếp xúc với Phật pháp, hoặc thuộc về truyền thống Cơ đốc giáo. Chúng con cũng muốn gieo duyên cho các sư em tương lai, như Thầy đã từng tìm chúng con, để chúng con có được đời sống tu học tươi sáng như ngày hôm nay. Chúng con đã đi đến Toronto (Canada), Houston, Seattle, San Francisco, tại mỗi nơi, chúng con đã tổ chức một buổi thuyết trình công cộng cho mọi người và một khóa tu ba ngày dành riêng cho người trẻ có gốc Việt. Chúng con đã đến nói chuyện tại trung tâm của Facebook và một ngày quán niệm tại Orange County.
Chuyến đi 5 tuần đã thành công hơn sự tưởng tượng của chúng con. Chúng con đã tiếp xúc với hơn 400 em thanh niên, cả các vị lão niên, thiếu niên (biệt danh là “chả giò lớn” trong nhóm pháp đàm), thiếu nhi (“chả giò nhỏ”). Cây đàn guitar là pháp khí và bài hát “Living in the Moment” (sống trong hiện tại) của Jason Mraz, bài hát chính mà chúng con đã cùng các em thực tập sống trong những ngày bên nhau. Các em khám phá một đạo Bụt thuần túy và giản dị, ngồi cũng là đạo Bụt, đi cũng là đạo Bụt, nằm cũng là đạo Bụt v.v..
Mỗi ngày các em được ăn ba bữa trong im lặng, tận hưởng mỗi muỗng thức ăn do quý cô bác nấu với rất nhiều tình thương và niềm vui. Các em có cơ hội chia sẻ những ưu tư, khó khăn của mình trong các nhóm pháp đàm. Thay vì chúng con thuyết trình Năm giới cho các em nghe, chúng con chia các em ra thành năm nhóm tự pháp đàm từ một đến hai giới. Sau đó các nhóm nhập chung với nhau, mỗi nhóm lên chia sẻ về những gì các em học hỏi được lẫn nhau. Các em thường làm một kịch bản, phản ánh được nội dung của giới đó. Cách chia sẻ này rất sáng tạo, vui nhộn, cho các em có cơ hội nói lên cái hiểu của các em và cách áp dụng của các em về thực tập Giới.
Chúng con thường tổ chức một buổi thiền trà trong các Khóa tu, các em rất thích được giúp dâng hương và làm trà giả. Sư cô Bách Nghiêm rất khéo tay, có thể lấy những gì sư cô tìm được trong rừng đem về và thiết kế thành một vòng tròn ấm áp bằng cách đặt những khúc gỗ, những cành dây leo bên cạnh những hòn cuội và những ngọn nến lung linh. Sau khi được uống trà, ăn bánh trong không khí trang nghiêm và lắng đọng, các em lên chia sẻ những bài hát và những kịch bản các em sáng tạo chỉ trong vòng một buổi chiều, làm chúng con cũng có thêm cảm hứng để chia sẻ kịch bản về “Mindful Nails.” Thầy luôn muốn đem hình ảnh của Bụt vào đời như một con người, và trong chuyến đi này các em đã cảm nhận được điều đó.
Chúng con chia sẻ những gì rất thật, rất con người về cuộc đời và về sự tu học hàng ngày của mình. Chúng con cùng chơi đá banh, bóng rỗ, bóng chuyền và những trò chơi vòng tròn (non-electronic games) với các em. Nhờ vậy, các em không thấy quý thầy, quý sư cô là những hình ảnh xa lạ như trước nữa mà thấy chúng con là bạn của các em. Tuy chỉ trong mấy ngày của khóa tu, các em tiếp xúc được với tình bạn, tình đồng hương, với bình an và hạnh phúc chân thực, trái tim của các em đã mở ra. Lúc chia tay, chúng con và các em thiền ôm với nhau như một khối. Có vài em phát nguyện sẽ cố gắng học tiếng Việt nhiều hơn để truyền thông với cha mẹ, tìm hiểu thêm về tổ tiên và văn hóa của mình. Chúng con không kêu gọi các em làm những điều đó, nhưng khi các em có sự tu học và có hạnh phúc trong lòng, tự nhiên các em muốn trở về với gốc rễ tâm linh và huyết thống của chính mình.
Không chỉ có các em mà chính chúng con cũng đã chuyển hóa và lợi lạc rất nhiều trong chuyến đi. Năng lượng của khóa tu đã cho chúng con thêm niềm vui để đi tới trên con đường tu học và phụng sự. Chúng con trân quý tình huynh đệ, luôn lắng nghe, chấp nhận nhau và lấy sự hòa hợp làm đầu. Trong chuyến đi, chúng con thường nghĩ tới tăng thân, tới anh chị em xuất sĩ của mình. Nếu được đi trong môi trường như thế này, chắc chắn cũng sẽ được nuôi dưỡng Bồ Đề Tâm. Chuyến đi lợi lạc và không bị tốn sức. Khi về lại trú xứ chúng con còn có thêm cảm hứng để thấy cần phải làm gì để trau dồi thêm trong công phu của mình để có thể hiến tặng thêm trong những chuyến đi kế tiếp.
Chúng con cùng tu, học, làm việc và chơi như một nhóm lành mạnh “Dream team”, trong đó mọi người có một sự thông cảm, hiểu biết và chịu chuyền banh cho nhau nhẹ nhàng. Cuối mỗi trận chơi, mọi người đều hạnh phúc và tươi cười. Không ai cảm thấy cần phải chứng tỏ này nọ, chỉ cần trao cho nhau những trái banh, những đường chuyền và đá vô gôn… Trong những buổi hướng dẫn tổng quát và pháp thoại, chúng con đều lên ngồi chung với nhau. Mỗi buổi chia sẻ có ba vị. Vị lớn nhất sẽ mở đề, bằng những chia sẻ căn bản như: Ba loại quyền lực, Bốn loại thực phẩm, hoặc Bảy yếu tố giác ngộ… Sau đó, hai sư em sẽ triển khai thêm bằng kinh nghiệm sống và tu học của bản thân. Cách chia sẻ này tạo thêm niềm tự tin trong các sư em vì cảm thấy được nâng đỡ và yểm trợ bởi tất cả các anh chị em của mình.
Sau mỗi khóa tu chúng con đều ngồi lại với nhau để uống trà và “Ôn cố tri tân,” nhìn lại những kinh nghiệm vừa đi qua để học hỏi và áp dụng tốt hơn. Nhờ vậy chúng con đã hiểu thêm về cuộc đời của nhau, chúng con cũng học từ cách chia sẻ của mỗi người, để ngay trong khóa tu kế tiếp, chúng con có thể tiến bộ hơn trong cách chia sẻ của chính mình.
Điều đặc biệt là mỗi nơi chúng con tới, chúng con có cơ hội ở nhà của các cô chú thuộc tăng thân địa phương. Không khí gia đình giúp chúng con mở lòng ra để được nuôi dưỡng và cũng giúp nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình bởi sự có mặt của chúng con. Dù đã từng tháp tùng theo nhiều khóa tu trước kia, chúng con tất cả đều công nhận rằng chưa có khóa tu nào chúng con tạm trú tại nhà của cư sĩ nhiều như vậy, vui và thoải mái như vậy, và được ăn toàn thức ăn Việt Nam ngon tuyệt vời như trong chuyến Việt Wake Up 2014 này!
Được tiếp xúc nhiều với ba mẹ, cô chú, thế hệ lớn của các em, chúng con cảm được tấm lòng của các cô chú có tình thương và sự đầu tư vào giới trẻ cho con em của mình. Quý cô chú có niềm tin tuyệt đối vào quý thầy, quý sư cô nên đã đóng góp, nâng đỡ hết lòng để có thể làm cho những khóa tu trở thành hiện thực. Chúng con mong được làm nhịp cầu nối giữa hai thế hệ, thế hệ của cha mẹ từ Việt Nam qua rất khác với thế hệ sinh ra và lớn lên ở nước ngoài, vì vậy trong sinh hoạt gia đình thường tạo nên một khoảng cách giữa cha mẹ và con em. Ai cũng có tình thương nhưng đôi khi thiếu sự truyền thông. Các khóa tu Việt Wake Up là cơ hội giúp cho các em và mọi người hàn gắn và hiểu nhau thêm.

Từ sau chuyến Việt Wake Up 2014, rất nhiều em đã đến tu học thêm tại các tu viện của Làng tại Pháp và Mỹ. Các em đã tạo nên những nhóm Việt Wake Up tại địa phương để tiếp tục tu học mỗi tháng. Có hai em gái đã xin về tu học và làm việc với quý thầy, quý sư cô tại tu viện Bích Nham trong suốt một năm. Những hạt giống vừa gieo trồng trong những khóa tu đã đâm chồi nẩy lộc và vẫn đang tiếp tục lan rộng và cho hoa trái.
Để tiếp tục nuôi dưỡng các em, năm nay một nhóm xuất sĩ chúng con cũng sẽ lên đường hướng dẫn các khóa tu tại Bắc Cali, Florida, Houston và Toronto. Đề tài của chuyến hoằng pháp năm nay là “Đón Mừng Sự Sống – Celebrating life.” Các em Việt Wake Up từ năm ngoái đang giúp chúng con chuẩn bị những buổi thuyết trình công cộng sắp đến trong các khóa tu. Chúng con rất mong quý cô chú, anh chị giúp chúng con đem thông tin về chuyến Việt Wake Up 2015 đến các em thanh niên hiện đang ở Mỹ và Canada để các em có cơ hội tham dự các sinh hoạt trong suốt tháng 3, năm 2015 sắp tới.
Những thông tin về khóa tu đã được đăng trên trang nhà Làng Mai và Website: www.vietwakeup.org