Công phu chiều thứ hai

Tĩnh Tọa – 20 tới 30 phút

Kinh Hành Im Lặng – một vòng

Kệ Mở Kinh
Nam mô đức Bổn SưBụt Thích Ca Mâu Ni (ba lần) (C)

Pháp Bụt cao siêu mầu nhiệm
Cơ duyên may được thọ trì
Xin nguyện đi vào biển tuệ
Tinh thông giáo nghĩa huyền vi.(C)

Trì Tụng
Hướng về Bụt và Thánh Chúng trên hội Hoa Nghiêm (3 lần) (C)

Kinh Mười Nguyện Phổ Hiền (C)

Con xin đem ba nghiệp thanh tịnh
Kính lạy tất cả hằng sa Bụt
Trong các thế giới khắp mười phương
Quá khứ, vị lai và hiện tại.

Thần lực của hạnh nguyện Phổ Hiền
Giúp con có mặt khắp mọi nơi
Nơi đâu có Bụt là có con
Bụt là vô lượng, con vô lượng.

Trong hạt bụi có vô số Bụt
Mỗi vị an trú chúng hội mình
Ðức tin của con vẫn tràn đầy
Trong mọi hạt bụi của pháp giới. (C)

Con đang sử dụng biển âm thanh
Phát ra ngôn từ rất vi diệu
Tán dương biển công đức của Bụt
Cho đến vô số kiếp về sau.

Lấy những tràng hoa vi diệu nhất
Hương thơm, âm nhạc và tàng lọng
Sử dụng mọi thứ trang nghiêm ấy
Con đem cúng dường các Như Lai.

Các thức y phục và hoa hương
Ðèn đuốc, trầm hương và tọa cụ
Mỗi thứ đều thành ra sung mãn
Con xin cúng dường các Như Lai.

Con đem tâm hiểu biết rộng sâu
Tin tưởng chư Bụt trong ba đời
Con nương sức hạnh nguyện Phổ Hiền
Cúng dường khắp hết các Như Lai. (C)

Từ xưa con đã tạo nghiệp xấu
Vì tham, sân, si từ vô thỉ
Do thân, miệng, ý mà phát sanh
Nay con đều sám hối tất cả.

Con xin tùy hỷ mọi công đức
Của các chúng sanh trong mười phương
Các bậc hữu học và vô học
Các bậc Như Lai và Bồ Tát.

Những ngọn đèn sáng soi thế gian
Hoặc mới thành tựu đạo giải thoát
Con xin tất cả đều thương tưởng
Chuyển bánh xe pháp để độ đời.

Các Bụt đang thị hiện Niết Bàn
Con cũng chí thành cầu như thế
Xin hãy ở lại đời mãi mãi
Ðể làm lợi lạc cho chúng sanh.

Con xin tán lễ cúng dường Bụt
Thỉnh Bụt ở lại độ chúng sanh
Căn lành tùy hỷ và sám hối
Xin đem hồi hướng cho đạo Bụt.

Con xin đem hết công đức này
Hồi hướng tất cả cho Tam Bảo
Cả tính và tướng trong pháp giới
Hai Ðế dung thông ấn tam muội.

Biển công đức vô lượng như thế
Con xin hồi hướng không giữ lại.
Nếu có chúng sanh nào dại dột
Bằng thân, bằng ý hoặc bằng lời
Bài báng phá hoại đạo giải thoát
Xin cho nghiệp chướng được tiêu trừ.
Mỗi giây, trí tuệ trùm pháp giới
Ðộ khắp mọi loài lên bất thối.

Hư không, chúng sanh không cùng tận
Phiền não, nghiệp báo không cùng tận
Bốn thứ kể trên thật vô biên
Hồi hướng của con cũng như thế. (CC)

Kinh Diệt Trừ Phiền Giận (C)

Ðây là những điều tôi đã được nghe, hồi Bụt còn cư trú trong tu viện Cấp Cô Ðộc, rừng Thắng Lâm, tại thành Xá Vệ.
Hôm ấy, tôn giả Xá Lợi Phất nói với các vị khất sĩ:
“Này các bạn đồng tu, hôm nay tôi muốn chia sẻ với các vị về năm phương pháp diệt trừ phiền giận. Xin các bạn lắng nghe và chiêm nghiệm.
Các vị khất sĩ vâng lời và lắng nghe.
Tôn giả Xá Lợi Phất nói:
Năm phương pháp diệt trừ phiền giận ấy là những phương pháp nào? (C)

“Ðây là phương pháp thứ nhất, này các bạn:
“Nếu có một ai đó mà hành động không dễ thương nhưng lời nói lại dễ thương, thì nếu là kẻ trí mà mình lại sinh tâm phiền giận người đó thì mình phải nên biết cách quán chiếu để trừ bỏ cái phiền giận ấy đi.
“Này các bạn tu, ví dụ có một vị khất sĩ tu theo hạnh a lan nhã, ưa mặc y phấn tảo, một hôm đi qua một đống rác bẩn có phân, nước tiểu, nước mủ và các thức dơ dáy khác, trông thấy một tấm vải còn lành lặn. Vị ấy dùng tay trái cầm miếng vải lên và lấy tay phải căng nó ra. Thấy miếng vải chưa bị rách thủng mà cũng không bị phân, nước tiểu, nước mủ và các chất dơ bẩn khác dính vào, vị ấy liền xếp miếng vải lại, cất lấy, đem về nhà để giặt sạch và may chung với các tấm vải khác làm y phấn tảo. Cũng như thế, này các bạn tu, khi có một người mà hành động không dễ thương nhưng lời nói còn dễ thương thì ta hãy đừng để tâm nghĩ tới hành động của người ấy mà chỉ nên chú ý tới lời nói dễ thương của người ấy, để có thể dứt trừ sự phiền giận của mình. Người có trí phải nên thực tập như vậy. (C)

“Ðây là phương pháp thứ hai, này các bạn:
“Nếu có một ai đó mà lời nói không dễ thương nhưng hành động lại dễ thương thì nếu là kẻ trí mà mình lại sinh tâm phiền giận người đó thì mình phải nên biết cách quán chiếu để trừ bỏ cái phiền giận ấy đi.
“Này các bạn tu, ví dụ như cách thôn xóm không xa có một hồ nước sâu nhưng mặt nước lại bị rêu cỏ che lấp. Lúc bấy giờ có một người đi tới gần hồ, tự thân đang bị sự đói khát và nóng bức hành hạ. Người ấy cởi áo để trên bờ hồ, nhảy xuống, dùng hai cánh tay khoát rêu cỏ ra và khoan khoái mặc tình tắm rửa và uống nước mát dưới hồ. Cũng như thế, này các bạn tu, khi có một người mà lời nói không dễ thương nhưng hành động lại dễ thương thì ta hãy đừng để tâm nghĩ tới lời nói của người ấy mà chỉ nên chú ý tới hành động dễ thương của người ấy thôi để có thể dứt trừ sự phiền giận của mình. Người có trí phải nên thực tập như vậy. (C)

“Ðây là phương pháp thứ ba, này các bạn:
“Nếu có một ai đó mà hành động không dễ thương, lời nói không dễ thương nhưng trong tâm vẫn còn có chút dễ thương, thì nếu là kẻ trí mà mình lại sinh tâm phiền giận người đó thì mình phải nên tìm cách quán chiếu để trừ bỏ cái phiền giận ấy đi.
“Này các bạn tu, ví dụ có một người đi tới một ngã tư kia, kiệt sức, khát nước, thiếu thốn, nóng bức và phiền muộn. Tại ngã tư ấy có một vết chân trâu, trong ấy còn đọng lại một ít nước mưa. Vị này nghĩ: “Mặc dù nước trong lỗ chân trâu ở ngã tư đường này rất ít, nhưng nếu ta dùng tay hoặc lá cây để lấy thì ta sẽ có thể quấy cho nó đục ngầu lên và sẽ không uống được, do đó sẽ không thể trừ bỏ được sự khát nước, thiếu thốn, nóng bức và phiền muộn trong ta. Vậy ta hãy quỳ xuống, tay và đầu gối áp sát đất, dùng miệng mà uống nước trực tiếp.” Người ấy liền quỳ dài xuống, tay và đầu gối áp sát đất, đưa miệng vào lỗ chân trâu mà uống. Cũng vậy, này các bạn tu, khi thấy một ai đó mà hành động không dễ thương và lời nói cũng không dễ thương nhưng trong tâm vẫn còn có chút ít sự dễ thương, thì ta hãy đừng nên để tâm nghĩ tới hành động và lời nói không dễ thương của người ấy mà hãy nên chú ý tới cái chút ít sự dễ thương còn có trong tâm người ấy thôi để có thể dứt trừ được sự phiền giận của mình. Người có trí phải nên thực tập như vậy. (C)

“Ðây là phương pháp thứ tư, này các bạn:
“Nếu có một ai đó mà hành động không dễ thương, lời nói không dễ thương mà trong tâm cũng không còn lại một chút gì gọi là dễ thương, thì nếu là kẻ trí mà mình lại sinh tâm phiền giận kẻ đó thì mình phải nên tìm cách quán chiếu để trừ bỏ cái phiền giận ấy đi.
“Này các bạn tu, ví dụ như có một kẻ đi xa, trên con đường dài nửa đường bị bệnh. Khốn đốn, héo hắt, cô độc, không bạn đồng hành, thôn xóm phía sau đã lìa bỏ lâu rồi mà thôn xóm phía trước cũng còn cách đó rất xa, người đó đang lâm vào tình trạng tuyệt vọng, biết mình sẽ chết ở dọc đường. Trong lúc ấy, có một người khác đi tới, thấy được tình trạng này, liền ra tay cứu giúp. Người ấy dìu người kia tới được thôn ấp phía trước, chăm sóc, chữa trị và chu toàn cho về các mặt thuốc thang và thực phẩm. Nhờ sự giúp đỡ ấy mà người kia thoát nạn. Sở dĩ người kia thoát nạn, đó là nhờ ở lòng thương xót và lân mẫn của người này. Cũng như thế, này các bạn tu, khi thấy một ai đó mà hành động không dễ thương, lời nói không dễ thương mà trong tâm cũng không còn lại một cái gì có thể gọi là dễ thương hết, thì ta phải phát khởi tâm niệm này: “Một người mà hành động không dễ thương, lời nói không dễ thương mà tâm ý cũng không dễ thương là một người rất đau khổ, người này chắc chắn đang đi về những nẻo đường xấu ác cực kỳ, nếu không gặp được thiện tri thức thì người ấy sẽ không có cơ hội chuyển hóa và đi về các nẻo đường hạnh phúc.” Nghĩ như thế, ta mở được lòng thương xót và lân mẫn, diệt trừ được sự phiền giận của ta và giúp được cho kẻ kia. Người có trí phải nên thực tập như thế. (C)

“Ðây là phương pháp thứ năm, này các bạn:
“Nếu có một ai đó mà hành động dễ thương, lời nói cũng dễ thương mà tâm ý cũng dễ thương, thì nếu là kẻ trí mà mình lại sinh tâm phiền giận hoặc ganh ghét với kẻ đó thì mình phải nên tìm cách quán chiếu để trừ bỏ cái phiền giận ấy đi.
“Này các bạn tu, ví dụ cách ngoài thôn xóm không xa có một cái hồ thật đẹp, nước hồ đã trong lại ngọt, đáy hồ sâu mà bằng phẳng, bờ hồ đầy đặn, cỏ xanh mọc sát quanh hồ, bốn phía cây cối xanh tươi cho nhiều bóng mát. Có một kẻ kia đi tới bên hồ, khát nước, phiền muộn, nóng bức, mồ hôi nhễ nhại. Người ấy cởi áo, để trên bờ hồ, nhảy xuống, khoan khoái mặc tình tắm rửa và uống nước; tất cả những nóng bức, khát nước và phiền muộn của mình đồng thời tiêu tán hết. Cũng vậy, này các bạn tu, khi thấy một người mà hành động dễ thương, lời nói dễ thương mà tâm địa cũng dễ thương thì ta hãy nên nhận diện tất cả những cái dễ thương của người ấy về cả ba mặt thân, khẩu và ý mà đừng để sự phiền giận hoặc ganh ghét xâm chiếm ta. Nếu không biết sống hạnh phúc với một người tươi mát như thế thì mình thực không phải là một người có trí tuệ. (C)
“Này các bạn tu, tôi đã chia sẻ với quý vị về năm phương pháp dứt trừ sự phiền giận.”
Sau khi nghe tôn giả Xá Lợi Phất nói, các vị khất sĩ vui mừng tiếp nhận và hành trì theo. (CC)

Ngày Đêm An Lành

Nguyện ngày an lành đêm an lành
Ngày đêm sáu thời đều an lành
An lành trong mỗi giây mỗi phút
Cầu ơn Tam Bảo luôn che chở
Bốn loài sinh lên đất Tịnh
Ba cõi thác hóa tòa Sen
Hằng sa ngạ quỷ chứng Tam Hiền
Vạn loại hữu tình lên Thập Ðịa. (C)
Thế Tôn dung mạo như vầng nguyệt
Lại như mặt nhật phóng quang minh
Hào quang trí tuệ chiếu muôn phương
Hỷ Xả Từ Bi đều thấm nhuận.

Nam mô Bụt Thích Ca Mâu Ni (3lần) (C)
(Vừa niệm Bụt vừa đi nhiễu)

Đảnh Lễ

Nhất tâm kính lễ đức Bụt Thích Ca Mâu Ni (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bụt A Di Đà (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Bi Quan Thế Âm (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Thế Chí (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Nguyện Địa Tạng Vương (C)
Nhất tâm kính lễ liệt vị tổ sư qua các thời đại từ Tây Trúc cho đến Việt Nam (CC)

Quán Nguyện
(một người đọc hoặc bốn người thay phiên nhau đọc, mỗi người một đoạn)

Lạy đức Bồ Tát Quán Thế Âm, chúng con xin học theo hạnh Bồ Tát, biết lắng tai nghe cho cuộc đời bớt khổ. Ngài là trái tim biết nghe và biết hiểu. Chúng con xin tập ngồi nghe với tất cả sự chú tâm và thành khẩn của chúng con. Chúng con xin tập ngồi nghe với tâm không thành kiến. Chúng con xin tập ngồi nghe mà không phán xét, không phản ứng. Chúng con nguyện tập ngồi nghe để hiểu. Chúng con xin nguyện ngồi nghe chăm chú để có thể hiểu được những điều đang nghe và cả những điều không nói. Chúng con biết chỉ cần lắng nghe thôi, chúng con cũng đã làm vơi bớt rất nhiều khổ đau của kẻ khác rồi. (C)

Lạy đức Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, chúng con xin học theo hạnh Bồ Tát, biết dừng lại và nhìn sâu vào lòng sự vật và vào lòng người. Chúng con xin tập nhìn với tất cả sự chú tâm và thành khẩn của chúng con. Chúng con xin tập nhìn với con mắt không thành kiến. Chúng con xin tập nhìn mà không phán xét, không phản ứng. Chúng con nguyện tập nhìn sâu để thấy và để hiểu những gốc rễ của mọi khổ đau, để thấy được tự tính vô thường và vô ngã của vạn vật. Chúng con xin học theo hạnh Bồ Tát, dùng gươm trí tuệ để đoạn trừ phiền não, giải thoát khổ đau cho chúng con và cho mọi giới. (C)

Lạy đức Bồ Tát Phổ Hiền, chúng con xin học theo hạnh nguyện của Bồ Tát, biết đem con mắt và trái tim đi vào cuộc sống. Chúng con xin nguyện buổi sáng dâng niềm vui cho người, buổi chiều giúp người bớt khổ. Chúng con biết hạnh phúc của người chính là hạnh phúc của mình, và nguyện thực hiện niềm vui trên con đường phụng sự. Chúng con biết mỗi lời nói, mỗi cái nhìn, mỗi cử chỉ và mỗi nụ cười đều có thể đem lại hạnh phúc cho người. Chúng con biết rằng nếu chúng con siêng năng tu tập thì tự thân chúng con có thể là một nguồn an lạc bất tuyệt cho những người thân yêu của chúng con và cho cả muôn loài. (C)

Lạy đức Bồ Tát Địa Tạng, chúng con xin học theo hạnh Bồ Tát, tìm cách có mặt ở bất cứ nơi nào mà bóng tối, khổ đau, tuyệt vọng và áp bức còn đang trấn ngự, để có thể mang đến những nơi ấy ánh sáng, niềm tin, hy vọng và giải thoát. Chúng con nguyện không bao giờ quên lãng và bỏ rơi những người còn đang bị kẹt trong những tình huống tuyệt vọng, nguyện cố gắng thiết lập liên lạc với những ai đang không còn lối thoát, những ai bị bưng bít không có phương tiện lên tiếng kêu gọi công bình, nhân phẩm và quyền được làm người. Chúng con biết địa ngục có mặt khắp nơi trên thế giới và chúng con nguyện sẽ không bao giờ tiếp sức xây dựng thêm những địa ngục trần gian như thế; trái lại, chúng con xin nguyện nỗ lực giải trừ những địa ngục còn đang có mặt. Chúng con nguyện tu học để đạt được đức vững chãi và kiên trì của Đất, để có thể trở thành trung kiên và không kỳ thị như Đất, và cũng được như Đất có thể làm nơi nương tựa cho tất cả những ai cần đến chúng con. (CC)

Kệ Vô Thường

Ngày nay đã qua
Ðời sống ngắn lại
Hãy nhìn cho kỹ
Ta đã làm gì?
Ðại chúng hãy cùng tinh tiến
Thực tập hết lòng
Sống cho sâu sắc và thảnh thơi
Hãy nhớ vô thường
Ðừng để tháng ngày trôi đi oan uổng. (C)

Quay Về Nương Tựa

Con về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời.
Con về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết.
Con về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức. (C)

Đã về nương tựa Bụt, con đang có hướng đi sáng đẹp trong cuộc đời.
Đã về nương tựa Pháp, con đang được học hỏi và tu tập các pháp môn chuyển hóa.
Đã về nương tựa Tăng, con đang được tăng thân soi sáng, dìu dắt và nâng đỡ trên con đường thực tập. (C)

Về nương Bụt trong con, xin nguyện cho mọi người thể nhận được giác tính, sớm mở lòng Bồ Đề.
Về nương Pháp trong con, xin nguyện cho mọi người nắm vững các pháp môn, cùng lên đường chuyển hóa.
Về nương Tăng trong con, xin nguyện cho mọi người xây dựng nên bốn chúng, nhiếp hóa được muôn loài. (CC)

Hồi Hướng

Trì tụng kinh thâm diệu
Tạo công đức vô biên
Đệ tử xin hồi hướng
Cho chúng sinh mọi miền. (C)

Pháp môn xin nguyện học
Ân nghĩa xin nguyện đền
Phiền não xin nguyện đoạn
Quả Bụt xin chứng nên. (CCC)

Công phu sáng thứ hai

Tĩnh Tọa – 20 tới 30 phút

Kinh Hành Im Lặng – một vòng

Kệ Mở Kinh
Nam mô đức Bổn SưBụt Thích Ca Mâu Ni (ba lần) (C)

Pháp Bụt cao siêu mầu nhiệm
Cơ duyên may được thọ trì
Xin nguyện đi vào biển tuệ
Tinh thông giáo nghĩa huyền vi.(C)

Trì Tụng
Hướng về Bụt và Thánh Chúng trên hội Kỳ Viên (3 lần) (C)

Kinh Kim Cương Gươm Báu Cắt Đứt Phiền Não (C)

Ðây là những điều tôi được nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Kỳ Thọ Cấp Cô Ðộc gần thành Xá Vệ, với đại chúng khất sĩ gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị. Hôm ấy vào giờ khất thực, Bụt mặc áo và ôm bát đi vào thành Xá Vệ. Trong thành, Người theo phép tuần tự ghé từng nhà để khất thực. Khất thực xong, Người về lại tu viện thọ trai. Thọ trai xong, Người xếp y bát, rửa chân, trải tọa cụ mà ngồi.
Lúc ấy, từ chỗ ngồi của mình trong đại chúng, thượng tọa Tu Bồ Ðề đứng dậy, trịch vai áo bên phải ra, quỳ chân trái xuống, chắp tay cung kính bạch với Bụt rằng: “Thế Tôn, Người thật là bậc hiếm có! Thế Tôn thường đặc biệt hộ niệm và giao phó sự nghiệp cho các vị Bồ Tát. Thế Tôn, những người con trai hiền và những người con gái hiền nào muốn phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác thì nên nương tựa vào đâu và làm sao mà điều phục tâm mình?”
Bụt bảo Tu Bồ Ðề: “Các bậc Bồ Tát đại nhân nên hàng phục tâm mình bằng cách quán niệm như sau: Có cả thảy bao nhiêu loại chúng sanh, hoặc sinh từ trứng, hoặc sinh từ thai, hoặc sinh từ sự ẩm ướt, hoặc từ sự biến hóa, hoặc có hình sắc, hoặc không có hình sắc, hoặc có tri giác, hoặc không có tri giác, hoặc không phải có tri giác cũng không phải không có tri giác, ta đều phải đưa tất cả các loài ấy vào Niết Bàn tuyệt đối để tất cả đều được giải thoát. Giải thoát cho vô số, vô lượng, vô biên chúng sanh như thế, mà kỳ thực ta không thấy có chúng sanh nào được giải thoát. Vì sao? Này Tu Bồ Ðề, nếu một vị Bồ Tát mà còn có khái niệm về Ngã, về Nhân, về Chúng sanh và về Thọ Giả thì vị ấy chưa phải là một vị Bồ Tát đích thực. (C)

“Này nữa, thầy Tu Bồ Ðề, vị Bồ Tát thực hiện phép bố thí nhưng không dựa vào bất cứ một thứ gì, nghĩa là không dựa vào sắc để bố thí, cũng không dựa vào thanh, hương, vị, xúc và pháp để bố thí. Tu Bồ Ðề, Bồ Tát nên bố thí theo tinh thần ấy, không dựa vào tướng. Tại sao? Nếu Bồ Tát bố thí mà không dựa vào tướng thì phước đức sẽ không thể nghĩ bàn. Tu Bồ Ðề, thầy nghĩ sao? Không gian về phương Ðông có thể nghĩ và lường được không?”
– Bạch đức Thế Tôn, không?
– Này thầy Tu Bồ Ðề, không gian về phương Tây, phương Nam, phương Bắc, phương Trên và phương Dưới có thể nghĩ và lường được hay không?
– Bạch đức Thế Tôn, không.
– Này thầy Tu Bồ Ðề, nếu Bồ Tát không nương vào đâu cả để thực hiện phép bố thí thì phước đức cũng nhiều như hư không vậy, không thể nghĩ được, không thể lường được. Này Tu Bồ Ðề, các vị Bồ Tát nên trú tâm theo những lời chỉ dẫn vừa đưa ra.
– Tu Bồ Ðề, thầy nghĩ sao? Có thể nhận diện Như Lai qua thân tướng hay không?
– Bạch đức Thế Tôn, không. Cái mà Như Lai nói là thân tướng vốn không phải là thân tướng.
Bụt bảo thầy Tu Bồ Ðề: “Nơi nào có tướng là nơi đó còn có sự lừa gạt. Nếu thấy được tính cách không tướng của các tướng tức là thấy được Như Lai.”
Thầy Tu Bồ Ðề thưa với Bụt rằng: “Bạch đức Thế Tôn, trong tương lai, khi nghe những câu nói như thế người ta có thể phát sanh được lòng tin chân thật hay không?”
Bụt bảo: “Thầy đừng nói vậy. Năm trăm năm sau khi Như Lai diệt độ, vẫn sẽ có những người biết giữ giới và tu phúc, và những người ấy khi nghe được những lời như trên cũng sẽ có thể phát sanh lòng tin và nhận ra đó là sự thật. Ta nên biết rằng những người ấy đã gieo trồng những hạt giống tốt không phải ở nơi một vị Bụt, hai vị Bụt, ba, bốn, năm vị Bụt mà thật sự đã gieo trồng những hạt giống lành ở nơi vô lượng ngàn muôn vị Bụt. Người nào chỉ trong một giây phút thôi, phát sanh được niềm tin thanh tịnh khi nghe những lời và những câu ấy, thì Như Lai tất nhiên BIẾT được người ấy, THẤY được người ấy và người ấy sẽ đạt được vô lượng phước đức như thế. Vì sao? Vì những người như thế không còn kẹt vào những khái niệm về Ngã, về Nhân, về Chúng sanh, về Thọ Giả, về Pháp, về Không Phải Pháp, về Tướng và về Không Phải Tướng. Vì sao? Nếu còn chấp vào ý niệm Pháp thì vẫn còn kẹt vào các tướng Ngã, Nhân, Chúng sanh và Thọ Giả và nếu còn chấp vào ý niệm Không Phải Pháp, thì cũng vẫn còn kẹt vào tướng Ngã, Nhân, Chúng sanh và Thọ Giả như thường. Thế cho nên, đã không nên chấp vào Pháp mà cũng không nên chấp vào Không Phải Pháp. Vì vậy mà Như Lai đã mật ý nói: Này các vị khất sĩ, nên biết rằng Pháp tôi nói được ví như chiếc bè, Pháp còn nên bỏ, huống là Không Phải Pháp.” (C)

Bụt hỏi thầy Tu Bồ Ðề: “Thuở xưa lúc còn theo học với Bụt Nhiên Ðăng, Như Lai có đắc pháp gì chăng?”
– Bạch đức Thế Tôn, không. Ngày xưa khi còn ở với Bụt Nhiên Ðăng, Như Lai không đắc pháp gì cả.
– Tu Bồ Ðề, thầy nghĩ sao? Bồ Tát có trang nghiêm cõi Bụt chăng?
– Bạch Thế Tôn, không. Vì sao? Trang nghiêm cõi Bụt tức là không trang nghiêm cõi Bụt, vì vậy nên mới gọi là trang nghiêm cõi Bụt.
– Như thế đó, thầy Tu Bồ Ðề, các vị Bồ Tát và đại nhân nên phát tâm thanh tịnh theo tinh thần ấy. Không nên dựa vào sắc mà phát tâm, cũng không nên dựa vào thanh, hương, vị, xúc và pháp mà phát tâm. Chỉ nên phát tâm trong tinh thần vô trụ.
“Tu Bồ Ðề ơi, Bồ Tát khi phát tâm bồ đề vô thượng thì nên buông bỏ tất cả các khái niệm, không nên dựa vào sắc mà phát tâm, không nên dựa vào thanh, hương, vị, xúc và pháp mà phát tâm, chỉ nên phát tâm vô trụ.
“Như Lai đã nói tất cả các khái niệm đều không phải là khái niệm và tất cả các loài chúng sanh đều không phải là chúng sanh. Tu Bồ Ðề, Như Lai là kẻ nói lời chính xác, là kẻ nói lời đúng với sự thật, là kẻ nói lời phù hợp với thực tại, là kẻ nói lời không dối trá, là kẻ chỉ nói một lời. Tu Bồ Ðề, nếu có pháp mà Như Lai đã đắc thì pháp ấy không phải thật cũng không phải hư.
“Tu Bồ Ðề, nếu Bồ Tát còn dựa vào pháp mà thực hiện bố thí thì cũng như đi vào trong bóng tối, chẳng thấy được gì. Trái lại, nếu Bồ Tát không dựa vào pháp mà bố thí thì cũng như người có mắt đi trong ánh mặt trời, có thể thấy được mọi hình và mọi sắc. (C)

“Tu Bồ Ðề, các vị đừng bảo rằng Như Lai có ý niệm ‘ta sẽ độ chúng sanh’. Tu Bồ Ðề, đừng nghĩ như thế. Tại sao vậy? Sự thật thì không có chúng sanh nào để cho Như Lai độ. Nếu Như Lai nghĩ là có thì Như Lai đã vướng vào khái niệm Ngã, khái niệm Nhân, khái niệm Chúng sanh và khái niệm Thọ Giả rồi. Tu Bồ Ðề, cái mà Như Lai nói là có ngã vốn không phải là có ngã mà người phàm phu lại cho là có ngã. Này Tu Bồ Ðề, kẻ phàm phu đó, Như Lai không cho đó là phàm phu cho nên mới gọi họ là phàm phu.
“Tu Bồ Ðề, thầy nghĩ sao? Có nên quán tưởng Như Lai qua ba mươi hai tướng không?”
Tu Bồ Ðề nói: “Thưa vâng, thưa vâng, phải dùng ba mươi hai tướng mà quán Như Lai.”
Bụt nói: “Nếu nói lấy ba mươi hai tướng mà quán Như Lai thì một vị Chuyển Luân Thánh Vương cũng là Như Lai sao?”
Tu Bồ Ðề nói: “Thế Tôn, con hiểu lời Bụt dạy rồi, không nên dùng ba mươi hai tướng mà quán Như Lai.”
Lúc bấy giờ Thế Tôn nói lên bài kệ này:

Tìm ta qua hình sắc
Cầu ta qua âm thanh
Là kẻ hành tà đạo
Không thể thấy Như Lai.
(C)

– Tu Bồ Ðề, thầy đừng nghĩ rằng Như Lai đạt tới vô thượng chánh đẳng chánh giác mà không cần tới các tướng một cách đầy đủ. Tu Bồ Ðề, đừng nghĩ như thế. Tu Bồ Ðề! Thầy đừng nghĩ là khi phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác ta phải coi các pháp là hư vô, đoạn diệt. Ðừng nghĩ như thế. Kẻ phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác không chủ trương rằng các pháp là hư vô hay đoạn diệt.

Sau khi nghe Bụt nói Kinh này, thượng tọa Tu Bồ Ðề và các vị khất sĩ, nữ khất sĩ, ưu bà tắc, ưu bà di và tất cả các giới Trời, Người và A Tu La đều rất hoan hỷ, tin tưởng và tiếp nhận để thực hành. (CC)

Kinh Thương Yêu (C)

Những ai muốn đạt tới an lạc thường nên học hạnh thẳng thắn, khiêm cung, biết sử dụng ngôn ngữ từ ái, những kẻ ấy biết sống đơn giản mà hạnh phúc, nếp sống từ hòa, điềm đạm, ít ham muốn và không đua đòi theo đám đông.
Những kẻ ấy sẽ không làm bất cứ một điều gì mà các bậc thức giả có thể chê cười.
Và đây là điều họ luôn luôn tâm niệm:
Nguyện cho mọi người và mọi loài được sống trong an toàn và hạnh phúc, tâm tư hiền hậu và thảnh thơi.
Nguyện cho tất cả các loài sinh vật trên trái đất đều được sống an lành, những loài yếu, những loài mạnh, những loài cao, những loài thấp, những loài lớn, những loài nhỏ, những loài ta có thể nhìn thấy, những loài ta không thể nhìn thấy, những loài ở gần, những loài ở xa, những loài đã sinh và những loài sắp sinh.
Nguyện cho đừng loài nào sát hại loài nào, đừng ai coi nhẹ tính mạng của ai, đừng ai vì giận hờn hoặc ác tâm mà mong cho ai bị đau khổ và khốn đốn.
Như một bà mẹ đang đem thân mạng mình che chở cho đứa con duy nhất, chúng ta hãy đem lòng từ bi mà đối xử với tất cả mọi loài. (C)

Ta hãy đem lòng từ bi không giới hạn của ta mà bao trùm cả thế gian và muôn loài, từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, lòng từ bi không bị bất cứ một cái gì làm ngăn cách, tâm ta không còn vương vấn một chút hờn oán hoặc căm thù. Bất cứ lúc nào, khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm, miễn là còn thức, ta nguyện duy trì trong ta chính niệm từ bi. Nếp sống từ bi là nếp sống cao đẹp nhất.
Không lạc vào tà kiến, loại dần ham muốn, sống nếp sống lành mạnh và đạt thành trí giác, hành giả sẽ chắc chắn vượt khỏi tử sinh. (CC)

Chuyển Niệm

Chúng con hiện tiền tâm thanh tịnh
Thiền tọa kinh hành và tụng kinh
Xin nguyện Tam Bảo và Long Thiên
Yểm trợ đạo tràng cùng bốn chúng
Tám nạn ba đường đều thoát khỏi
Bốn ân ba cõi thấm hồng ân
Thế giới khắp nơi không chiến tranh
Gió hòa mưa thuận dân an lạc
Đại chúng chuyên tu càng tinh tiến
Mười địa đi lên không khó khăn
Tăng thân an lạc sống tươi vui
Mọi giới quy y thêm phúc tuệ. (C)

Trí Bụt sáng ngời như trăng tỏ
Thân Bụt thanh tịnh như lưu ly
Bụt ở thế gian thường cứu khổ
Tâm Bụt không đâu không từ bi.

Nam mô Bụt Thích Ca Mâu Ni (3lần) (C)

(Vừa niệm Bụt vừa đi nhiễu)

Đảnh Lễ

Nhất tâm kính lễ đức Bụt Thích Ca Mâu Ni (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bụt Di Lặc (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Hạnh Phổ Hiền (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Thường Bất Khinh (C)
Nhất tâm kính lễ liệt vị tổ sư qua các thời đại từ Tây Trúc cho đến Việt Nam (CC)

Quy Nguyện

Trầm hương xông ngát điện
Sen nở Bụt hiện thân
Pháp giới thành thanh tịnh
Chúng sanh lắng nghiệp trần. (C)

Đệ tử tâm thành
Hướng về Tam Bảo
Bụt là thầy chỉ đạo
Bậc tỉnh thức vẹn toàn
Tướng tốt đoan trang
Trí và bi viên mãn.
Pháp là con đường sáng
Dẫn người thoát cõi mê
Đưa con trở về
Sống cuộc đời tỉnh thức.
Tăng là đoàn thể đẹp
Cùng đi trên đường vui
Tu tập giải thoát
Làm an lạc cuộc đời. (C)

Đệ tử nương nhờ Tam Bảo
Trên con đường học đạo
Biết Tam Bảo của tự tâm
Nguyện xin chuyên cần
Làm sáng lòng ba viên ngọc quý. (C)

Nguyện theo hơi thở
Nở nụ cười tươi
Nguyện học nhìn cuộc đời
Bằng con mắt quán chiếu
Nguyện xin tìm hiểu
Nỗi khổ của mọi loài
Tập từ bi
Hành hỷ xả
Sáng cho người thêm niềm vui
Chiều giúp người bớt khổ.
Đệ tử nguyện sống cuộc đời thiểu dục
Nếp sống lành mạnh an hòa
Cho thân thể kiện khương
Nguyện rũ bỏ âu lo
Học tha thứ bao dung
Cho tâm tư nhẹ nhõm. (C)

Đệ tử xin nguyện ơn sâu đền báo
Ơn cha mẹ ơn thầy
Ơn bè bạn chúng sanh
Nguyện tu học tinh chuyên
Cho cây bi trí nở hoa
Mong một ngày kia
Có khả năng cứu độ mọi loài
Vượt ra ngoài cõi khổ. (C)

Xin nguyện Bụt, Pháp, Tăng chứng minh
Gia hộ cho đệ tử chúng con
Viên thành đại nguyện. (CC)

Quay Về Nương Tựa

Con về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời.
Con về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết.
Con về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức. (C)

Đã về nương tựa Bụt, con đang có hướng đi sáng đẹp trong cuộc đời.
Đã về nương tựa Pháp, con đang được học hỏi và tu tập các pháp môn chuyển hóa.
Đã về nương tựa Tăng, con đang được tăng thân soi sáng, dìu dắt và nâng đỡ trên con đường thực tập. (C)

Về nương Bụt trong con, xin nguyện cho mọi người thể nhận được giác tính, sớm mở lòng Bồ Đề.
Về nương Pháp trong con, xin nguyện cho mọi người nắm vững các pháp môn, cùng lên đường chuyển hóa.
Về nương Tăng trong con, xin nguyện cho mọi người xây dựng nên bốn chúng, nhiếp hóa được muôn loài. (CC)

Hồi Hướng

Trì tụng kinh thâm diệu
Tạo công đức vô biên
Đệ tử xin hồi hướng
Cho chúng sinh mọi miền. (C)

Pháp môn xin nguyện học
Ân nghĩa xin nguyện đền
Phiền não xin nguyện đoạn
Quả Bụt xin chứng nên. (CCC)

Những chỉ dẫn cần thiết

 

1. Các nghi thức trong đây chỉ trình bày phần thiết yếu. Vị duy na, tùy theo thời gian, có thể thêm vào các bài như Dâng Hương, Tán Lễ, Niệm Bụt,  Khai Kinh và Hồi Hướng. Những bài này có đầy đủ trong phần Phụ Lục.

2. Những đạo tràng tu theo Tịnh Độ sẽ niệm Bụt A Di Đà trong thời  công phu chiều thay vì niệm Bụt Thích Ca. Sau danh hiệu A Di Đà là danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí và các đức Bồ Tát Trên Hội Liên Trì. Trong giờ tĩnh tọa của công phu chiều, hành giả Tịnh Độ thực tập niệm Bụt im lặng, lần tràng hoặc quán tưởng. Nghi thức buổi Công Phu Chiều Thứ Sáu là một nghi thức công phu Tịnh Độ tiêu biểu. Các đạo tràng Tịnh Độ, nếu muốn, có thể sử dụng nghi thức này mỗi buổi chiều.

3. Bài Quán Nguyện (về danh hiệu của bốn vị Bồ Tát lớn) trong buổi công  phu chiều thứ hai, thay vì được đại chúng đồng tụng nên để cho một vị trong đại chúng (hoặc bốn vị thay nhau) đọc lên. Niệm lực và định lực của những vị này phải khá vững thì trong khi đọc mới tạo ra được năng lượng quán chiếu trong đại chúng.

4. Trong khi tụng niệm, phải biết lắng nghe vị Duy na và đại chúng để có thể hòa giọng của mình vào giọng của đại chúng. Phải hết sức tránh tụng một mình một giọng riêng, tách biệt với giọng đại chúng. Tụng kinh phải biết sử dụng miệng và tai cùng một lúc.

5. Trong khi tụng niệm, đừng nên chỉ chú trọng tới âm điệu tụng niệm và kỹ thuật tán tụng. Âm điệu và kỹ thuật tuy cần thiết nhưng không thiết yếu bằng ý kinh. Tụng kinh không phải là hợp tấu hoặc hòa nhạc. Tụng kinh là để có cơ hội gieo trồng và tưới tẩm những hạt giống tuệ giác và từ bi trong chiều sâu tâm thức, vì vậy tâm ý phải duyên theo lời kinh và tiếp nhận ý kinh.

6. Niệm Bụt, dù là  Bụt Thích Ca hay Bụt A Di Đà, Bồ Tát Quán Âm hay Bồ Tát Địa Tạng, ta không nên chỉ niệm bằng miệng mà không niệm bằng Tâm. Nếu chỉ niệm bằng miệng, ta sẽ mau chóng trở thành một cái máy niệm, chỉ phát được âm thanh mà không phát ra được năng lượng chính niệm. Niệm bằng Tâm, ta sẽ tiếp nhận được năng lượng của Bụt vốn có sẵn trong ta dưới hình thức hạt giống Phật tính và chính niệm; năng lượng ấy cũng có mặt trong vũ trụ. Và chỉ khi nào năng lượng trong tâm ta phát sanh thì ta mới tiếp xúc được với năng lượng trong vũ trụ. Trong khi niệm Bụt, ta không thoát ra ngoài khung cảnh bây giờ và ở đây. Trái lại, ta thực sự có mặt. Với năng lượng Bụt trong tâm ta, những gì ta đang thấy và đang nghe đều là những gì Bụt đang thấy và đang nghe đồng thời. Vì thế, niệm giúp cho ta an trú trong định, và định làm biểu hiện cõi Bụt trong khung cảnh hiện tiền. Ta sẽ tiếp xúc được với thế giới của bản môn và của tịnh độ ngay trong khi niệm Bụt, và ta có an lạc và vững chãi cũng ngay trong khi niệm Bụt. Niệm Bụt ở đây không còn là một lời cầu khẩn hay kêu gọi mà là một sự thực tập làm cho Bụt và thế giới của Bụt có mặt trong ta và quanh ta  ngay trong giờ phút thực tập.
Khi thực tập kinh hành, nên chú tâm tới sự xúc chạm giữa bàn chân và sàn chính điện, đi từng bước an lạc và thảnh thơi như bước trong Tịnh Độ không khác, mỗi bước đi đều có giá trị nuôi dưỡng và trị liệu, mỗi bước đi đều đem lại thêm chất liệu chính niệm, vững chãi và thảnh thơi vào cơ thể và vào tâm thức. Bước đi như in xuống dấu vết niềm an lạc của mình trên mặt đất.

7. Thỉnh thoảng, đại chúng cũng có thể đề cử một vị đọc lên Kinh văn căn bản của thời công phu (như Kinh Kim Cương, v.v…) để tất cả mọi người khác lắng nghe, thay vì đồng tụng. Nên chọn người có giọng đọc truyền cảm và có niệm lực và định lực khá hùng hậu. Kinh nghiệm thực tập ở Đạo Tràng Mai Thôn trong 20 năm qua cho thấy cách tụng này giúp cho ý kinh có thể thấm vào lòng người nghe một cách dễ dàng và sâu đậm.

8. Các kinh dài như Niệm Xứ, Kim Cương, Người Bắt Rắn, v.v…, đã được thu gọn để có thể nằm vào khuôn khổ thời gian có giới hạn của khóa tụng. Toàn văn các kinh ấy có thể được tìm thấy trong sách Nghi Thức Tụng Niệm Đại Toàn.

9. Tất cả các buổi công phu sáng và chiều đều được bắt đầu bằng 20 tới 30 phút tĩnh tọa và một vòng kinh hành im lặng.

10. Trong khi chuông đại hồng đang được thỉnh hay khi đại chúng đang ngồi tĩnh tọa hoặc tụng kinh, tất cả những người trong chùa vì có phận sự không tham dự được buổi công phu đều phải chấp tác trong im lặng, theo dõi hơi thở để thiền tập hoặc niệm Bụt mà không được nói chuyện hoặc gây tiếng động làm hại đến phẩm chất của buổi công phu.

11. Xuất xứ của tất cả các kinh văn sử dụng trong sách này đều được ghi chép ở cuối phần phụ lục.

Giới thiệu – Lời nói đầu

Lời giới thiệu

Đã từ năm mươi năm nay, Phật tử Việt Nam, nhất là giới xuất gia, chờ đợi một cuốn Thiền Môn Nhật Tụng bằng quốc ngữ. Trong quá trình thực tập và hoằng pháp, tôi cũng đã từng nhiều lần cảm thấy nhu yếu cấp thiết này. Nay sách Nhật Tụng Thiền Môn của Đạo Tràng Mai Thôn được ấn hành, tôi hết sức vui mừng và xin trân trọng giới thiệu với các giới hành giả khắp nơi trong toàn quốc.

Sách Nhật Tụng Thiền Môn mà quý vị đang nâng trên tay quả là một pháp bảo, quý giá vô cùng. Các vị giáo thọ của Đạo Tràng Mai Thôn đã để ra mười lăm năm để soạn tập, phiên dịch và xây dựng lên nó. Văn dịch sáng sủa và đẹp đẽ, diễn đạt được ý kinh một cách rõ ràng và tự nhiên, rất dễ tụng đọc. Các kinh điển được chọn lọc trong kinh tạng lại là những kinh tiêu biểu và căn bản, kinh nào cũng thiết yếu cho công phu hành trì của người xuất gia. Những bài kệ tán và xướng tụng hay nhất trong sách Thiền Môn Nhật Tụng cũ đều đã được phiên dịch rất khéo léo, và thêm vào đó còn có rất nhiều bài kệ tán, phát nguyện và sám nguyện mới rất thích hợp với căn cơ và thời đại.

Sách Nhật Tụng Thiền Môn này nếu được đem ra áp dụng sớm sẽ tạo ra rất nhiều sinh khí mới cho thiền môn và mở ra một kỷ nguyên mới cho sự thực tập.

Trúc Lâm Thiền Viện, ngày 15.5.1997
Thiền sư Thích Thanh Từ

 

Lời nói đầu

Truyền thống thực tập hai buổi công phu bắt đầu từ đời Minh (1368 – 1628) và mãi đến đời Thanh (1610 – 1902) vào năm Quang Tự thứ 12 (1886), sách Thiền Môn Nhật Tụng mới chính thức ra đời trong hình thức ta thấy. Sách này gồm thâu lại tất cả những kinh văn, pháp ngữ, đà la ni, nghi thức, cảnh sách, vấn đối và giáo huấn trước đó thường được dùng trong các chùa thuộc nhiều tông phái khác nhau. Vì vậy tuy tên sách là Thiền Môn Nhật Tụng nhưng kỳ thực công phu soạn lục không phải chỉ là công phu của thiền môn mà còn là của các truyền thống khác như Luật, Tịnh Độ và Mật. Vào đời Thanh, các tông phái có khuynh hướng dung hợp, nhất là Thiền và Tịnh, vì vậy sách đã được sử dụng rộng rãi trong cả hai tông phái này.

Buổi công phu sáng mang nặng màu sắc Mật Tông, nội dung là thần chú Lăng Nghiêm và mười thần chú khác. Buổi công phu chiều thì vừa có màu sắc Tịnh Độ Tông vừa có màu sắc Mật Tông (nghi thức Tiểu Mông Sơn). Màu sắc Thiền Tông của đạo Bụt Việt Nam, vốn rất đậm đà trong lịch sử, qua hai buổi công phu ấy đã không được biểu hiện đầy đủ. Trong sách Nhật Tụng Thiền Môn Năm 2010 này, hai buổi công phu ở chùa đã được đề nghị thay đổi để nội dung được giàu có hơn về cả hai phía thiền tập và kinh văn. Thay vì ngày nào cũng tụng những kinh như nhau, ta được trì tụng mỗi ngày một hay nhiều kinh khác nhau, do đó những kinh điển căn bản về thiền tập đều được có dịp trì tụng và học hỏi. Buổi sáng, sau nửa giờ tĩnh tọa và kinh hành im lặng, ta bắt đầu trì tụng một kinh, như Kinh Kim Cương. Ngày hôm sau, ta tụng kinh khác. Sách này cống hiến nhiều kinh khác nhau cho bảy ngày trong tuần, và những tiết mục của buổi công phu cũng đầy đủ như trong nghi thức truyền thống, chỉ có khác hơn là nghi thức mới được trì tụng hoàn toàn bằng Quốc Ngữ.
Vì ta đã bắt đầu bằng nửa giờ tĩnh tọa và một vòng đi kinh hành im lặng nên đến tiết mục tuần nhiễu niệm Bụt, ta chỉ cần đi một hoặc hai vòng. Những điều vừa nói cũng được áp dụng cho nghi thức công phu chiều. Theo Nghi Thức này, mỗi tuần ta chỉ cúng thí thực bằng nghi thức Tiểu Mông Sơn một lần vào chiều thứ bảy. Tại những chùa vừa tu Thiền vừa tu Tịnh Độ thì trong buổi công phu chiều, ta niệm Bụt A Di Đà trong khi đi tuần nhiễu.

Thay vì có hai buổi công phu, ta có tới mười bốn buổi. Buổi công phu nào cũng được bắt đầu bằng tĩnh tọa và một vòng kinh hành im lặng. Giờ tĩnh tọa tối thiểu là từ 20 tới 30 phút. Tại các thiền viện, thời gian này có thể tăng lên tùy theo nhu yếu. Tại các chùa Thiền Tịnh song tu, hành giả có thể niệm Bụt Di Đà trong các buổi tĩnh tọa. Ngồi niệm Bụt, theo tinh thần của đạo Bụt nguyên thỉ, cũng là ngồi thiền. Khuya rằm và mồng một ta có thể thay buổi công phu sáng bằng nghi thức Chúc Tán.

Để cho nội dung các buổi tĩnh tọa được giàu có và lợi lạc, xin hành giả sử dụng sách Sen Búp Từng Cánh Hé, một thiền phổ tập hợp nhiều bài thiền tập rất có giá trị. Sách này do thiền sư Nhất Hạnh biên soạn căn cứ vào kinh nghiệm tu tập của mình và của những năm giảng dạy và hướng dẫn thiền tập ở Á Đông cũng như ở Tây Phương.

Nhật Tụng Thiền Môn

Lời Giới Thiệu
Lời Nói Đầu.

Những Chỉ Dẫn Cần Thiết

Công Phu

Sáng Thứ Hai
Kinh Kim Cương Gươm Báu Cắt Đứt Phiền Não
Kinh Thương Yêu
Chuyển Niệm
Đảnh Lễ
Bài tụng Quy Nguyện
Quay Về Nương Tựa

Chiều Thứ Hai
Kinh Mười Nguyện Phổ Hiền
Kinh Diệt Trừ Phiền Giận
Quán Nguyện
Kệ Vô Thường

Sáng Thứ Ba
Kinh Quán Niệm Hơi Thở
Bài tụng Hướng Về Kính Lạy

Chiều Thứ Ba
Kinh Sức Mạnh Quan Âm
Kinh Tám Điều Giác Ngộ Của Các Bậc Đại Nhân
Bài tụng Hạnh Phúc

Sáng Thứ Tư
Kinh Bốn Lãnh Vực Quán Niệm
Bài tụng Hướng Về Tam Bảo
Phòng Hộ Chuyển Hóa

Chiều Thứ Tư
Kinh Trung Đạo Nhân Duyên
Kinh Soi Gương
Ngày Đêm An lành
Bài tụng Tùy Hỷ Hồi Hướng

Sáng Thứ Năm
Kinh Người Biết Sống Một Mình
Kinh Bát Nhã Hành
Bài tụng Điều Phục Cơn Giận

Chiều Thứ Năm
Kinh Ba Cửa Giải Thoát
Kinh A Nậu La Độ
Ba Cái Lạy
Bài tụng Khơi Suối Yêu Thương

Sáng Thứ Sáu
Kinh Người Bắt Rắn
Thiên Long Hộ Pháp

Chiều Thứ Sáu
Kinh A Di Đà
Bài tụng Phát Nguyện

Sáng Thứ Bảy
Kinh Độ Người Hấp Hối
Bài tụng Hiện Pháp Lạc Trú

Chiều Thứ Bảy
Kinh Phước Đức
Kinh Tinh Yếu Bát Nhã Ba La Mật Đa
Sám Hối và Phát Nguyện

Sáng Chủ Nhật
Kinh Tuổi Trẻ Và Hạnh Phúc
Kinh Hải Đảo Tự Thân
Bài tụng Tưới Tẩm Hạt Giống Tốt
Nhận Diện Và Quán Chiếu Hạt Giống Sợ Hãi

Chiều Chủ Nhật
Sám Nguyện
Kệ Sám Hối
Bốn Phép Tùy Niệm
Bài tụng Phòng Hộ Chuyển Hóa

Nghi Thức
Chúc Tán Rằm Và Mồng Một
Chúc Tán Tổ Sư
Cúng Ngọ
Thọ Trai
Truyền Giới Sa Di
Tụng Giới Sa Di
Lời Cảnh Giác Và Khích Lệ Của Thiền Sư Quy Sơn

Phụ Lục
Kệ Tán
Sám Quy Mạng
Thi Kệ Nhật Dụng
Những Chỉ Dẫn Về Sự Thực Tập Ba Lạy
Ba Lạy
Năm Lạy
Nguồn Gốc Các Kinh Văn Sử Dụng

Những kinh văn và bài tụng mới
Kinh Sự Thật Đích Thực
Kinh Nghĩa Lý Siêu Việt Về Không
Kinh Bốn Loại Thức Ăn
Bài tụng Ái Ngữ Lắng Nghe
Văn Thỉnh Chuông Đại Hồng
Văn Thỉnh Linh
Văn Quán Niệm Đọc Trước Mỗi Buổi Họp
Văn Quán Niệm Đọc Trước Mỗi Buổi Soi Sáng
Mười Bốn Bài Kệ Chỉ Quán

Vết thương

Bạn trẻ thân mến!

Là con người, bạn nào cũng đã trải nghiệm yêu thương, nếm ít nhiều hương vị của tình yêu, nhưng hiếm người thấy rõ về hoa trái của nó. Tình thương là bài học quan trọng bậc nhất trong cuộc đời. Nó là gia tài vô giá của ông bà tổ tiên, vì thế tình thương không thể đến từ đầu môi chót lưỡi hay đùa cợt được. Nó là sự trải nghiệm, là tiếng thổn thức của con tim, là sự sống của linh hồn.

Khi yêu thương, bạn hãy xét nghiệm lại bạn khổ đau như thế nào, bạn hạnh phúc như thế nào? Quan trọng hơn là bạn đã học được gì trong tình yêu ấy. Có lúc tình thương là sự thèm khát, sự ham muốn, sự trống vắng. Con tim bạn có lỗ trống, cho nên tình thương là để bạn khỏa lấp nó. Tâm hồn bạn lạc loài nên thương yêu là để bạn tìm một bến đỗ cho tâm hồn.

Bạn thương nhiều thứ lắm! Bạn thương cha mẹ, thương anh chị em, thương bạn bè, thương đất trời… Số đông trong các bạn bận rộn quá, đầu tắt mặt tối, cho nên bạn chưa có cơ hội nhìn lại hoa trái của yêu thương. Bạn nên để ra vài ngày nghỉ ngơi như người Tây phương lấy ngày nghỉ “vacation”, không làm gì hết để nhìn lại cõi lòng.

Bạn phải có một cuốn nhật ký ghi lại những trải nghiệm của mình. Tình yêu này có bao nhiêu khổ đau. Nó đến từ nguyên nhân nào. Bạn nếm được bao nhiêu hạnh phúc trong tình yêu này. Do đâu? Tình thương này có vết thương nào, tự ái nào, tổn thương nào, hiểu lầm nào, đòi hỏi nào? Từ đó bạn rút ra bài học yêu thương thật sự. Bạn chuyển hóa bớt các nguyên nhân đưa tới đau khổ cho bạn và cho người thương. Mặt khác, bạn nuôi dưỡng thêm các tố chất hạnh phúc trong tình yêu thương.

Khi mặt hồ tĩnh lặng, bạn có thể thấy được tất cả sự phản chiếu trong đáy hồ. Cũng thế, khi tâm hồn yên tĩnh, bạn mới có khả năng nhìn tận đáy lòng mình. Bạn thấy tường tận với một tấm lòng thành thật, nhận diện đường nét, màu sắc của yêu thương. Lắng dịu tâm hồn là sự thực tập chánh niệm, là cánh cửa đi vào chân trời yêu thương.

Vết thương!

Ta cúi xuống trên thân người cát bụi

Nhìn cho sâu những vết thương dại khờ

Để sống lại trong nụ cười rạng rỡ

Cho tương lại đẹp mãi những bài thơ

Ta cúi xuống ngắm nhìn em thơ dại

Dang hai tay ôm chặt nỗi giận hờn

Vết thương ơi! Xin đừng mang tủi nhục

Bởi vì em là cánh cửa tâm hồn

Em cứ khóc cho vơi đi nỗi khổ

Niềm đau này vang vọng từ ngàn xưa

Hãy cúi xuống nhìn sâu hơn để hiểu

Tình yêu em, ta yêu mãi không vừa

Thương là hiểu, hiểu rồi không tuyệt vọng

Em là ta và ta mãi là em

Rác là hoa và hoa hóa thành rác

Vết thương lành em biến thành tình thương.

 

Tình thương là nguồn năng lượng được biểu hiện qua hành động, ánh mắt, lời nói…

 

Mùa xuân là của em

 

Bạn trẻ thân mến!

Bạn có biết không? Khổ đau không phải đến từ bên ngoài. Bạn có thể đau khổ nhiều, khi bạn có những ý niệm sai lầm.

Có lúc, bạn nghĩ rằng người kia ghét bạn, muốn làm cho bạn đau khổ. Hãy cẩn thận! Ý niệm này mang đến cho bạn niềm sợ hãi và tạo ra cảm giác bất an, khó chịu. Bạn muốn chứng tỏ cho cả thế giới biết rằng bạn đang bị ghét bỏ, đang bị oan ức. Những giây phút đó, bạn sống trong sự hoang mang, lo lắng, sợ hãi. Niềm vui, bình an trong bạn và xung quanh bỗng nhiên vắng mặt. Bạn cứ tin rằng người kia có quyền làm cho bạn đau khổ. Bạn ôm ấp trong tâm một ý niệm muốn trừng phạt, trả thù, do thế bạn trở nên mong manh, bất an, khổ sở. Thật đáng thương biết mấy!

Bạn biết không? Không ai có uy quyền, hoặc có khả năng làm cho bạn đau khổ, chỉ có nhận thức, cảm tưởng của bạn mà thôi. Người khác có thể có lúc vụng về nên nói nặng lời, hoặc khổ quá nên xì ra nguồn năng lượng bất an, buồn tủi, giận hờn. Chỉ cần nhận diện rằng người ấy đang đau khổ là bạn có chiếc áo giáp để che chở hay có thể tha thứ cho người ấy liền.

Cả mùa xuân này là của bạn. Nắng vẫn còn rơi, chim vẫn không ngừng hát ca, hoa vẫn thắm, lá vẫn xanh… Hạnh phúc đang có mặt khắp nơi là của bạn. Một người hạnh phúc luôn có cái nhìn cởi mở, độ lượng, bao dung. Chỉ khi nào, bạn coi thường hạnh phúc đang có mặt tràn ngập trong sự sống, thì sự vụng về của người khác mới làm khổ bạn mà thôi. Khi đau khổ, bạn dễ nổi sùng và muốn gây sự với người chung quanh.

Đừng bao giờ cho phép bạn mang ý niệm trả thù, mong muốn cho người kia đau khổ nhé! Nỗi hiềm hận này sẽ giết chết hạnh phúc, khả năng vui sống ở trong bạn. Với hiềm hận, đau khổ, bạn không thể nào hóa giải được những hiểu lầm đang có mặt.

Khổ đau mà bạn thường phải gánh chịu, nhiều khi là sản phẩm của tri giác sai lầm thôi, bạn ạ. Buông bỏ tri giác ấy, bạn hết khổ ngay. Bạn qua bờ đến an vui, hạnh phúc.

 

Các đặc tính của tri giác

Bạn trẻ thân mến!

Tri giác là cái thấy, cái nhận thức của mình. Duy biểu học gọi là tưởng. Chữ tưởng (想) viết theo Hán văn gồm có chữ tướng (相) ở phía trên và bộ tâm (心) ở phía dưới, nghĩa là tâm xúc tiếp với hình tướng bên ngoài như hình ảnh, âm thanh đều tạo ra một tri giác, một cái thấy.

Định nghĩa như thế thì tưởng chịu ảnh sâu đậm màu sắc của tâm, nói một cách khác tâm tạo ra tri giác như cái thấy, cái nghe, cảm nhận… Bạn thấy cảnh ấy đẹp hay xấu đều tùy sự vẽ vời của tâm bạn. Bạn thấy người kia đẹp hay xấu tùy theo sự vẽ vời của tâm ý… Đây là ý nghĩa của câu kinh: “Nhất thiết duy tâm tạo”. Vậy, bạn hãy cẩn thận với tri giác của mình. Dưới đây là những đặc tính của tri giác.

*Tri giác thường dễ bị lờn, nghĩa là cái thấy của bạn mau chán! Tới nơi nào đó, bạn thấy cảnh ấy đẹp một cách huy hoàng, nhưng ở một thời gian thì bạn thấy nó thật bình thường, đôi khi nó trở nên vô vị, đến nỗi chán chường là khác. Đây là tình trạng chung của tri giác con người, nghĩa là ở núi này trông núi nọ, do tri giác dễ bị lờn.

Ở với một người nào đó, bạn cảm thấy hạnh phúc được yêu thương và thương yêu, và nếu vắng bóng người ấy trong vài giờ là bạn cảm thấy trống trải vô cùng. Nhưng sống chung với nhau một thời gian, cái thấy của bạn từ từ bị lờn đi, nên bạn không còn trân qúy sự sống, sự hiện hữu của người ấy nữa. Có lúc bạn có cảm giác không muốn gặp, không muốn nhìn thấy người ấy nữa. Vì thế bạn hãy cẩn thận với tri giác mong manh, mau lờn của bạn và nên giữ tâm hồn cho trong sáng. Thi ca Việt Nam có câu diễn tả khi tình yêu đã hết:

"Anh đi đường anh, tôi đường tôi

Tình nghĩa đôi ta có thế thôi"

(Thế Lữ, Giây phút chạnh lòng)

*Tri giác thường dễ sai lầm. Thấy sợi dây mà tưởng là con rắn. Bỏ quên máy iphone ở đâu, thấy người kia đi ngang qua phòng, tri giác bạn thấy nghi nghi. Hình như người ấy lấy cái máy của bạn, nhưng một hai ngày sau bạn thấy máy iphone nằm trong túi áo. Cho nên tri giác thường đi chung với nghi ngờ, tưởng tượng, phán xét… Thông thường nó hay sai lầm.

*Tri giác dễ trở nên thành kiến. Thành là bức thành và kiến là tên khác của tri giác, là cái thấy, cái nhận thức. Sống với nhau, bạn có nhiều tri giác về chính bạn, người thương và cuộc đời. Sự thật, tri giác không phải là một cái mà một dòng chảy của nhận thức. Mỗi khi thấy gì, bạn có một tri giác; nghe âm thanh gì, bạn có một tri giác, và cứ như thế cái thấy này trôi chảy để nhường cho cái thấy khác, và chúng nó trở thành một dòng sông tri giác. Nếu không chiếu ánh sáng chánh niệm vào dòng tri giác, thì âm thầm qua nămtháng, tri giác của bạn sẽ ứ đọng, dồn nén, tạo thành một bức tường ngăn cách bạn với cảnh thật, với người thật đang hiện hữu trước mặt. Anh ấy là vậy, chị ấy là vậy, nơi ấy là vậy đó… Bạn chắc mẽm là như vậy, cho nên hễ có thành kiến rồi thì tri giác, cái thấy của bạn không còn mới nữa. Ồ! Tôi biết rồi. Ồ! Tôi thấy rồi… Bạn đóng hết tất cả cánh cửa giác quan bằng bức tường của tri kiến hạn hẹp, cố thủ của mình.

Mắt em mang chiếc kiếng màu

Nhìn đời em thấy một màu âm u" (*)

*Tri giác dễ rơi vào cố chấp, nghĩa là bạn bị kẹt vào tri giác, vướng vào cái thấy của bạn nên bạn không thể nhìn khác hơn, rộng hơn, bao la hơn. Cố chấp là ghì lấy, ôm lấy, vì thế cố chấp là một ngục tù nhốt bạn trong cái nhìn nhỏ hẹp, chủ quan của bản ngã.

“Ôi khung cửa vắng
Ngục tù nhận thức
Nhốt linh hồn em
Suốt mấy ngàn thu
Hiu quạnh, cô đơn
Âm u, mịt mù
.” (**)

 


(*), (**) Thơ Pháp Đăng.

 

Cánh đồng bao la

Bạn trẻ thân mến;

Muốn mến được vị ngọt của vô ngã, bạn phải nhận rõ vị đắng của ngã chấp. Bạn phải nhận diện sự hoạt động, đường đi nẻo về của ngã chấp, cũng như muốn có sen thơm thì phải có bùn hôi, có hoa tươi thì phải có rác bẩn.

Ngã là một thực thể riêng biệt, một cái tôi độc lập, mà sự thật làm gì có một cái tôi, một thực thể riêng biệt. Cho nên bạn không cần phá ngã mà buông bỏ sự chấp trước vào bản ngã. Vậy, ngã chấp là một ý niệm sai lầm, một suy tư âm thầm, vi tế về một cái tôi riêng biệt. Bộ mặt xuất hiện của ngã chấp chính là cố chấp, nắm bắt, đo lường, đánh giá, phán xét, lên án…

Cái chấp về một bản ngã đã có từ lâu nhiều đời, nhiều kiếp. Nó trở thành thói quen, cho nên bạn có thể gọi ngã chấp là một hạt giống. Bạn cần nhận mặt, quán chiếu về hạt giống ngã chấp ấy để chọc thủng cái vỏ u mê về bản ngã. Lúc ấy bông hoa vô ngã mới có thể đâm chồi nảy lộc. Giống như muốn gieo hạt sen vào hồ bên Pháp, bạn phải cưa một phần nào cái vỏ hạt sen để nước có thể thấm vào trước khi ngâm nó vào bùn, thì hạt sen mới có cơ hội nẩy mầm, bởi vì nắng bên Pháp không đủ nóng để cái vỏ cứng của hạt sen nứt ra.

Chấp ngã thường biểu hiện qua sự so sánh giữa bạn với người, cái này và cái kia… Bạn thấy bạn hay hơn, dở hơn hay bằng người này. Bạn thấy bạn có tài năng hơn người kia. Suy nghĩ của bạn sâu sắc hơn. Pháp môn bạn hay nhất, hay hơn tất cả pháp môn khác. Pháp môn bạn mới chánh thống, còn các pháp môn khác không có hiệu quả, không phải do Bụt trao truyền… Bạn nên nhận diện thói quen so đo, tính toán này và tập suy nghĩ, nhận thức, nói năng với tâm không so sánh. Bạn có thể chia sẻ về kinh nghiệm sống cá nhân, nhưng không cần so sánh với bất cứ người nào. Mỗi người mỗi kinh nghiệm, không ai phải giống ai, không ai phải hơn thua ai.

Khi nghe cũng vậy, bạn dừng lại sự phán đoán, đánh giá, so đo, chỉ nghe thôi. Bạn nghe người kia như nghe tiếng gió vi vu, tiếng suối reo, lời ru em của mẹ. Vui buồn, thương ghét có thể biểu hiện qua lời chia sẻ, nhưng bạn không nên đánh giá lời nói ấy. Ai có thể hiểu chiều sâu của dòng nước mắt? Ai có thể biết được đường đi của tâm thức? Nghe không phán xét, tâm bạn sẽ trở nên thênh thang, và người kia có không gian để tâm sự. Người ấy vẫn còn là người ấy, mà không trở thành một hình ảnh trong ngục tù thành kiến của bạn.

Bạn chia sẻ hết lòng, chia sẻ thật, từ kinh nghiệm sống dù có những khó khăn, lên xuống, trần lụy. Bạn không cần phải có mặt cảm xấu hổ, tủi nhục. Bạn cũng không có khuynh hướng muốn thuyết phục mọi người tin lời bạn. Kinh nghiệm dù sâu sắc đến mấy cũng chỉ là kinh nghiêm cá nhân, chứ không phải là sự thật tuyệt đối. Sau khi chia sẻ, bạn sẽ nhận được những lời khen chê. Bạn tập mỉm cười thanh thản với lời phản ánh. Bạn không nên vui, tự đắc khi được khen, mà không cần buồn, mặc cảm khi bị chê. Khen chê là sự đánh giá từ nhận thức của người nghe, do đó nó là thước đo thôi. Nó là tấm kính để phản chiếu lòng bạn. Có gì thật của bạn đâu mà phải vui hay buồn!

Không so sánh thì bạn không bị mặc cảm tự ti, tự tôn. Thấy bạn không ra gì nên bạn có khuynh hướng rút vào vỏ ốc mặc cảm là một biểu hiện của ngã chấp. Thấy bạn rất giỏi, tài năng nên bạn dương dương tự đắc cũng là biểu hiện khác của ngã chấp. Không so sánh phát xuất từ tâm vô phân biệt. Tâm bạn có hai mặt: phân biệt và vô phân biệt chỉ cách nhau một cánh cửa nhỏ có thể xoay trở qua lại. Chỉ cần thở để xoay cánh cửa phân biệt, cố chấp, so sánh, sang cánh cửa không phân biệt. Tâm bạn sẽ mở ra để bạn bước vào thế giới thênh thang của tâm không phân biệt. So sánh chỉ làm cho tâm hồn bạn thêm chật hẹp mà thôi.

Bạn có muốn mở cánh cửa tâm hồn để nhảy vào cánh đồng bao la của tâm không so đo, không đánh giá, không phán xét, không phân biệt không? Nơi ấy có không gian, nắng ấm, hoa lá, tình bạn, cảm thông và sự trân quý.

Ở với một người nào đó, bạn cảm thấy hạnh phúc được yêu thương và thương yêu.

Không làm gì cả

Bạn trẻ thân mến;

Sáng nào sư chú Thạch Lang (*) cũng dậy đúng giờ để ngồi thiền, mặc dù suốt hai tuần qua sư chú bị thức giấc giữa đêm do cơn ho. Mùa đông này, nhiều người bị bệnh cảm cúm. Con vi khuẩn này thật là mạnh, nó đã làm nhiều người ho nhiều ngày, có người ho suốt mùa đông. Sư chú cũng bị cúm một trận và cơn ho vẫn còn.

Sư chú không lo lắng, thế nào cơ thể cũng sẽ đẩy ra hết những con vi khuẩn cúm và trị lành phổi. Sư chú không muốn dựa vào thuốc Tây, mà muốn tập cho cơ thể tự trị liệu. Chỉ cần thở cho sâu giúp hai lá phổi làm việc, đưa máu vào phổi, thì tự động bạch huyết cầu sẽ tạo ra chất đề kháng để trị liệu.

Sáng nay, sư chú Thạch Lang ngồi thật yên. Bao nhiêu ý tưởng, bao nhiêu tư duy đều lặng xuống, dù ý tưởng, tư duy về thiền hay giáo lý. Ngồi thiền là để thở, mở tâm hồn để cảm nhận sự sống. Ngồi thiền không phải để tư duy.

Quán chiếu không phải là tư duy mà là quán sát, nhìn thấy sự hoạt động của tâm ý kể cả tư duy. Có một học giả hỏi Sư Ông: “Trong khi ngồi, Thầy làm gì?” Sư Ông trả lời: “Tôi không làm gì cả. Tôi chỉ thở.”

Sư chú Thạch Lang chú ý tới hơi thở. Sư chú không cố gắng thở mà thở tự nhiên, chỉ cảm nhận hơi thở. Sư chú không gọi tên vào, vào, vào, ra, ra, ra như theo kiểu thiền Minh sát mà chỉ nhận biết, cảm nhận hơi thở. Thực tập này gọi là tùy tức, tức là đi theo chiều dài của hơi thở, nhận diện hơi thở. Cảm nhận là to feel, nhận biết là to recognize.

Cảm nhận rõ ràng là chánh niệm rồi cần gì phải lặp tới, lặp lui mỗi chữ như thế. Nói lui tới như vào, vào, ra, ra, phóng tâm, phóng tâm, suy nghĩ, suy nghĩ để nhận diện tâm ý, trở về với hơi thở và sự phồng lên xẹp xuống có thể sử dụng cho người mới thực tập cho việc dừng tâm ý, chứ người thực tập lâu ngày nên bỏ hết từ ngữ, ý tưởng đi. Sư chú đâu phải là con robot bị người ta cài chương trình (programming) để tập nói. Sư chú là con người thật có khả năng nhận biết hơi thở, cảm nhận sự sống, nghe tiếng chim hót ngoài hiên. Sư chú cảm thấy tâm hồn yên lạ!

Sư chú không dám đánh giá phép thiền Minh sát, nhưng chẻ mỗi hành động ra nhiều giai đoạn, thì sư chú cảm thấy nó cứng cứng làm sao! Ví dụ:

“Khi đi chậm, tới lui trên đường kinh hành (cankama), mỗi bước phải được ghi nhận vào ba giai đoạn: dở chân lên, đưa chân tới, và hạ chân xuống. Hành giả bắt đầu với hai điểm ghi nhận, dở chân lên và hạ chân xuống. Phải hay biết rõ ràng cái chân dở lên. Cùng thế ấy, khi hạ chân xuống phải hay biết rõ ràng cái chân nặng nề đặt xuống.”

(Thực tập thiền minh sát, Mahàsi Sayàdaw)

Sư chú thích đi thiền tự nhiên, cảm nhận sự xúc chạm giữa bàn chân và lòng đất. Sự tiếp xúc ấy cũng đủ đưa tâm của sư chú trở về với đất mẹ, với hiện tại.

Sáng nay đáng lý mọi người phải lên xóm Thượng ngồi thiền cho trường đại học Hồng Kông quay phim. Sư chú cũng muốn yểm trở tăng thân, nhưng tới 6 giờ kém 15, sư chú mới ra tới nơi đậu xe nên không còn chiếc xe nào. Có lẽ, các sư em đã đi hết rồi! Sư chú định đi bộ lên xóm Thượng, nhưng 6 giờ đại chúng đã bắt đầu ngồi thiền. Sư chú có thể đi nhanh cho kịp giờ ngồi thiền, nhưng sư chú đổi ý. Tại sao phải đi gấp gáp để lên đó ngồi thiền? Lên đó ngồi thiền để được người ta quay phim sao, hay để mọi người thấy mình có tu tập? Sáng nào, sư chú cũng đều có ngồi thiền dù vào những ngày làm biếng. Sư chú đâu cần người khác chấm điểm. Sư chú cũng không ưa người ta quay phim. Bao nhiêu nhóm quay phim về Làng Mai muốn phỏng vấn sư chú, sư chú đều tìm cách từ chối.

Sư chú quyết định về phòng ngồi thiền. Sư chú pha một bình trà, rót một ly mời đức Thế Tôn và một ly cho mình. Vừa uống trà, vừa thở, sư chú thấy rõ tu tập chỉ cần đạt nội dung, tức là thắp được ánh sáng chánh niệm, nghĩa là tâm ý sáng lên, nhạy cảm, nhận biết mà không cần phải bị kẹt vào hình thức. Chú ý tới hành động rót trà, nâng ly lên, uống trà, mến hương vị trà đều là thiền. Có cái cảm nhận, có cái biết là có thiền rồi. Sư chú tiếp tục ngồi để nhìn vào dòng sông tâm ý. Sư chú vào được vùng yên tĩnh hoàn toàn mà không cần cố gắng mệt nhọc. Bao nhiêu tư duy đều được nhận rõ, bao nhiêu ý niệm đều buông bỏ. Ngồi như thế thật khỏe!

Ngoài hiên chim bắt đầu hót líu lo chào đón tia nắng đầu ngày. Sảng khoái quá, sư chú đứng dậy để đi dạo chơi trong thiên nhiên. Sáng nào cũng thế, sau buổi ngồi thiền, sư chú đều đi dạo chơi một vòng quanh chùa để cảm nhận sự yên tĩnh,  mát lành của thiên nhiên. Sư chú thấy một điều quan trọng là sự sống luôn có mặt cho sư chú. Sự sống là người tình luôn đợi chờ, luôn dang hai cánh tay rộng lớn cho người yêu. Người yêu ấy là chính sư chú. Sư chú chỉ cần mở lòng ra để ốm lấy người tình thiên nhiên. Có sự sống, sư chú có tất cả. Tiếp xúc với sự sống như tia nắng, ngọn lá, bông hoa, tiếng chim ca, ly trà nóng, sư chú thực sự có cảm giác thỏa mãn lắm rồi.

Bạn có muốn mở cánh cửa tâm hồn để nhảy vào cánh đồng bao la của tâm không so đo, đánh giá, phán xét, phân biệt không? Nơi ấy có không gian, nắng ấm, hoa lá, tình bạn, cảm thông, sự trân quý.


          (*) Thạch Lang là tên của tác giả.