Giới thiệu – Lời nói đầu

Lời giới thiệu

Đã từ năm mươi năm nay, Phật tử Việt Nam, nhất là giới xuất gia, chờ đợi một cuốn Thiền Môn Nhật Tụng bằng quốc ngữ. Trong quá trình thực tập và hoằng pháp, tôi cũng đã từng nhiều lần cảm thấy nhu yếu cấp thiết này. Nay sách Nhật Tụng Thiền Môn của Đạo Tràng Mai Thôn được ấn hành, tôi hết sức vui mừng và xin trân trọng giới thiệu với các giới hành giả khắp nơi trong toàn quốc.

Sách Nhật Tụng Thiền Môn mà quý vị đang nâng trên tay quả là một pháp bảo, quý giá vô cùng. Các vị giáo thọ của Đạo Tràng Mai Thôn đã để ra mười lăm năm để soạn tập, phiên dịch và xây dựng lên nó. Văn dịch sáng sủa và đẹp đẽ, diễn đạt được ý kinh một cách rõ ràng và tự nhiên, rất dễ tụng đọc. Các kinh điển được chọn lọc trong kinh tạng lại là những kinh tiêu biểu và căn bản, kinh nào cũng thiết yếu cho công phu hành trì của người xuất gia. Những bài kệ tán và xướng tụng hay nhất trong sách Thiền Môn Nhật Tụng cũ đều đã được phiên dịch rất khéo léo, và thêm vào đó còn có rất nhiều bài kệ tán, phát nguyện và sám nguyện mới rất thích hợp với căn cơ và thời đại.

Sách Nhật Tụng Thiền Môn này nếu được đem ra áp dụng sớm sẽ tạo ra rất nhiều sinh khí mới cho thiền môn và mở ra một kỷ nguyên mới cho sự thực tập.

Trúc Lâm Thiền Viện, ngày 15.5.1997
Thiền sư Thích Thanh Từ

 

Lời nói đầu

Truyền thống thực tập hai buổi công phu bắt đầu từ đời Minh (1368 – 1628) và mãi đến đời Thanh (1610 – 1902) vào năm Quang Tự thứ 12 (1886), sách Thiền Môn Nhật Tụng mới chính thức ra đời trong hình thức ta thấy. Sách này gồm thâu lại tất cả những kinh văn, pháp ngữ, đà la ni, nghi thức, cảnh sách, vấn đối và giáo huấn trước đó thường được dùng trong các chùa thuộc nhiều tông phái khác nhau. Vì vậy tuy tên sách là Thiền Môn Nhật Tụng nhưng kỳ thực công phu soạn lục không phải chỉ là công phu của thiền môn mà còn là của các truyền thống khác như Luật, Tịnh Độ và Mật. Vào đời Thanh, các tông phái có khuynh hướng dung hợp, nhất là Thiền và Tịnh, vì vậy sách đã được sử dụng rộng rãi trong cả hai tông phái này.

Buổi công phu sáng mang nặng màu sắc Mật Tông, nội dung là thần chú Lăng Nghiêm và mười thần chú khác. Buổi công phu chiều thì vừa có màu sắc Tịnh Độ Tông vừa có màu sắc Mật Tông (nghi thức Tiểu Mông Sơn). Màu sắc Thiền Tông của đạo Bụt Việt Nam, vốn rất đậm đà trong lịch sử, qua hai buổi công phu ấy đã không được biểu hiện đầy đủ. Trong sách Nhật Tụng Thiền Môn Năm 2010 này, hai buổi công phu ở chùa đã được đề nghị thay đổi để nội dung được giàu có hơn về cả hai phía thiền tập và kinh văn. Thay vì ngày nào cũng tụng những kinh như nhau, ta được trì tụng mỗi ngày một hay nhiều kinh khác nhau, do đó những kinh điển căn bản về thiền tập đều được có dịp trì tụng và học hỏi. Buổi sáng, sau nửa giờ tĩnh tọa và kinh hành im lặng, ta bắt đầu trì tụng một kinh, như Kinh Kim Cương. Ngày hôm sau, ta tụng kinh khác. Sách này cống hiến nhiều kinh khác nhau cho bảy ngày trong tuần, và những tiết mục của buổi công phu cũng đầy đủ như trong nghi thức truyền thống, chỉ có khác hơn là nghi thức mới được trì tụng hoàn toàn bằng Quốc Ngữ.
Vì ta đã bắt đầu bằng nửa giờ tĩnh tọa và một vòng đi kinh hành im lặng nên đến tiết mục tuần nhiễu niệm Bụt, ta chỉ cần đi một hoặc hai vòng. Những điều vừa nói cũng được áp dụng cho nghi thức công phu chiều. Theo Nghi Thức này, mỗi tuần ta chỉ cúng thí thực bằng nghi thức Tiểu Mông Sơn một lần vào chiều thứ bảy. Tại những chùa vừa tu Thiền vừa tu Tịnh Độ thì trong buổi công phu chiều, ta niệm Bụt A Di Đà trong khi đi tuần nhiễu.

Thay vì có hai buổi công phu, ta có tới mười bốn buổi. Buổi công phu nào cũng được bắt đầu bằng tĩnh tọa và một vòng kinh hành im lặng. Giờ tĩnh tọa tối thiểu là từ 20 tới 30 phút. Tại các thiền viện, thời gian này có thể tăng lên tùy theo nhu yếu. Tại các chùa Thiền Tịnh song tu, hành giả có thể niệm Bụt Di Đà trong các buổi tĩnh tọa. Ngồi niệm Bụt, theo tinh thần của đạo Bụt nguyên thỉ, cũng là ngồi thiền. Khuya rằm và mồng một ta có thể thay buổi công phu sáng bằng nghi thức Chúc Tán.

Để cho nội dung các buổi tĩnh tọa được giàu có và lợi lạc, xin hành giả sử dụng sách Sen Búp Từng Cánh Hé, một thiền phổ tập hợp nhiều bài thiền tập rất có giá trị. Sách này do thiền sư Nhất Hạnh biên soạn căn cứ vào kinh nghiệm tu tập của mình và của những năm giảng dạy và hướng dẫn thiền tập ở Á Đông cũng như ở Tây Phương.

Nhật Tụng Thiền Môn

Lời Giới Thiệu
Lời Nói Đầu.

Những Chỉ Dẫn Cần Thiết

Công Phu

Sáng Thứ Hai
Kinh Kim Cương Gươm Báu Cắt Đứt Phiền Não
Kinh Thương Yêu
Chuyển Niệm
Đảnh Lễ
Bài tụng Quy Nguyện
Quay Về Nương Tựa

Chiều Thứ Hai
Kinh Mười Nguyện Phổ Hiền
Kinh Diệt Trừ Phiền Giận
Quán Nguyện
Kệ Vô Thường

Sáng Thứ Ba
Kinh Quán Niệm Hơi Thở
Bài tụng Hướng Về Kính Lạy

Chiều Thứ Ba
Kinh Sức Mạnh Quan Âm
Kinh Tám Điều Giác Ngộ Của Các Bậc Đại Nhân
Bài tụng Hạnh Phúc

Sáng Thứ Tư
Kinh Bốn Lãnh Vực Quán Niệm
Bài tụng Hướng Về Tam Bảo
Phòng Hộ Chuyển Hóa

Chiều Thứ Tư
Kinh Trung Đạo Nhân Duyên
Kinh Soi Gương
Ngày Đêm An lành
Bài tụng Tùy Hỷ Hồi Hướng

Sáng Thứ Năm
Kinh Người Biết Sống Một Mình
Kinh Bát Nhã Hành
Bài tụng Điều Phục Cơn Giận

Chiều Thứ Năm
Kinh Ba Cửa Giải Thoát
Kinh A Nậu La Độ
Ba Cái Lạy
Bài tụng Khơi Suối Yêu Thương

Sáng Thứ Sáu
Kinh Người Bắt Rắn
Thiên Long Hộ Pháp

Chiều Thứ Sáu
Kinh A Di Đà
Bài tụng Phát Nguyện

Sáng Thứ Bảy
Kinh Độ Người Hấp Hối
Bài tụng Hiện Pháp Lạc Trú

Chiều Thứ Bảy
Kinh Phước Đức
Kinh Tinh Yếu Bát Nhã Ba La Mật Đa
Sám Hối và Phát Nguyện

Sáng Chủ Nhật
Kinh Tuổi Trẻ Và Hạnh Phúc
Kinh Hải Đảo Tự Thân
Bài tụng Tưới Tẩm Hạt Giống Tốt
Nhận Diện Và Quán Chiếu Hạt Giống Sợ Hãi

Chiều Chủ Nhật
Sám Nguyện
Kệ Sám Hối
Bốn Phép Tùy Niệm
Bài tụng Phòng Hộ Chuyển Hóa

Nghi Thức
Chúc Tán Rằm Và Mồng Một
Chúc Tán Tổ Sư
Cúng Ngọ
Thọ Trai
Truyền Giới Sa Di
Tụng Giới Sa Di
Lời Cảnh Giác Và Khích Lệ Của Thiền Sư Quy Sơn

Phụ Lục
Kệ Tán
Sám Quy Mạng
Thi Kệ Nhật Dụng
Những Chỉ Dẫn Về Sự Thực Tập Ba Lạy
Ba Lạy
Năm Lạy
Nguồn Gốc Các Kinh Văn Sử Dụng

Những kinh văn và bài tụng mới
Kinh Sự Thật Đích Thực
Kinh Nghĩa Lý Siêu Việt Về Không
Kinh Bốn Loại Thức Ăn
Bài tụng Ái Ngữ Lắng Nghe
Văn Thỉnh Chuông Đại Hồng
Văn Thỉnh Linh
Văn Quán Niệm Đọc Trước Mỗi Buổi Họp
Văn Quán Niệm Đọc Trước Mỗi Buổi Soi Sáng
Mười Bốn Bài Kệ Chỉ Quán

Vết thương

Bạn trẻ thân mến!

Là con người, bạn nào cũng đã trải nghiệm yêu thương, nếm ít nhiều hương vị của tình yêu, nhưng hiếm người thấy rõ về hoa trái của nó. Tình thương là bài học quan trọng bậc nhất trong cuộc đời. Nó là gia tài vô giá của ông bà tổ tiên, vì thế tình thương không thể đến từ đầu môi chót lưỡi hay đùa cợt được. Nó là sự trải nghiệm, là tiếng thổn thức của con tim, là sự sống của linh hồn.

Khi yêu thương, bạn hãy xét nghiệm lại bạn khổ đau như thế nào, bạn hạnh phúc như thế nào? Quan trọng hơn là bạn đã học được gì trong tình yêu ấy. Có lúc tình thương là sự thèm khát, sự ham muốn, sự trống vắng. Con tim bạn có lỗ trống, cho nên tình thương là để bạn khỏa lấp nó. Tâm hồn bạn lạc loài nên thương yêu là để bạn tìm một bến đỗ cho tâm hồn.

Bạn thương nhiều thứ lắm! Bạn thương cha mẹ, thương anh chị em, thương bạn bè, thương đất trời… Số đông trong các bạn bận rộn quá, đầu tắt mặt tối, cho nên bạn chưa có cơ hội nhìn lại hoa trái của yêu thương. Bạn nên để ra vài ngày nghỉ ngơi như người Tây phương lấy ngày nghỉ “vacation”, không làm gì hết để nhìn lại cõi lòng.

Bạn phải có một cuốn nhật ký ghi lại những trải nghiệm của mình. Tình yêu này có bao nhiêu khổ đau. Nó đến từ nguyên nhân nào. Bạn nếm được bao nhiêu hạnh phúc trong tình yêu này. Do đâu? Tình thương này có vết thương nào, tự ái nào, tổn thương nào, hiểu lầm nào, đòi hỏi nào? Từ đó bạn rút ra bài học yêu thương thật sự. Bạn chuyển hóa bớt các nguyên nhân đưa tới đau khổ cho bạn và cho người thương. Mặt khác, bạn nuôi dưỡng thêm các tố chất hạnh phúc trong tình yêu thương.

Khi mặt hồ tĩnh lặng, bạn có thể thấy được tất cả sự phản chiếu trong đáy hồ. Cũng thế, khi tâm hồn yên tĩnh, bạn mới có khả năng nhìn tận đáy lòng mình. Bạn thấy tường tận với một tấm lòng thành thật, nhận diện đường nét, màu sắc của yêu thương. Lắng dịu tâm hồn là sự thực tập chánh niệm, là cánh cửa đi vào chân trời yêu thương.

Vết thương!

Ta cúi xuống trên thân người cát bụi

Nhìn cho sâu những vết thương dại khờ

Để sống lại trong nụ cười rạng rỡ

Cho tương lại đẹp mãi những bài thơ

Ta cúi xuống ngắm nhìn em thơ dại

Dang hai tay ôm chặt nỗi giận hờn

Vết thương ơi! Xin đừng mang tủi nhục

Bởi vì em là cánh cửa tâm hồn

Em cứ khóc cho vơi đi nỗi khổ

Niềm đau này vang vọng từ ngàn xưa

Hãy cúi xuống nhìn sâu hơn để hiểu

Tình yêu em, ta yêu mãi không vừa

Thương là hiểu, hiểu rồi không tuyệt vọng

Em là ta và ta mãi là em

Rác là hoa và hoa hóa thành rác

Vết thương lành em biến thành tình thương.

 

Tình thương là nguồn năng lượng được biểu hiện qua hành động, ánh mắt, lời nói…

 

Mùa xuân là của em

 

Bạn trẻ thân mến!

Bạn có biết không? Khổ đau không phải đến từ bên ngoài. Bạn có thể đau khổ nhiều, khi bạn có những ý niệm sai lầm.

Có lúc, bạn nghĩ rằng người kia ghét bạn, muốn làm cho bạn đau khổ. Hãy cẩn thận! Ý niệm này mang đến cho bạn niềm sợ hãi và tạo ra cảm giác bất an, khó chịu. Bạn muốn chứng tỏ cho cả thế giới biết rằng bạn đang bị ghét bỏ, đang bị oan ức. Những giây phút đó, bạn sống trong sự hoang mang, lo lắng, sợ hãi. Niềm vui, bình an trong bạn và xung quanh bỗng nhiên vắng mặt. Bạn cứ tin rằng người kia có quyền làm cho bạn đau khổ. Bạn ôm ấp trong tâm một ý niệm muốn trừng phạt, trả thù, do thế bạn trở nên mong manh, bất an, khổ sở. Thật đáng thương biết mấy!

Bạn biết không? Không ai có uy quyền, hoặc có khả năng làm cho bạn đau khổ, chỉ có nhận thức, cảm tưởng của bạn mà thôi. Người khác có thể có lúc vụng về nên nói nặng lời, hoặc khổ quá nên xì ra nguồn năng lượng bất an, buồn tủi, giận hờn. Chỉ cần nhận diện rằng người ấy đang đau khổ là bạn có chiếc áo giáp để che chở hay có thể tha thứ cho người ấy liền.

Cả mùa xuân này là của bạn. Nắng vẫn còn rơi, chim vẫn không ngừng hát ca, hoa vẫn thắm, lá vẫn xanh… Hạnh phúc đang có mặt khắp nơi là của bạn. Một người hạnh phúc luôn có cái nhìn cởi mở, độ lượng, bao dung. Chỉ khi nào, bạn coi thường hạnh phúc đang có mặt tràn ngập trong sự sống, thì sự vụng về của người khác mới làm khổ bạn mà thôi. Khi đau khổ, bạn dễ nổi sùng và muốn gây sự với người chung quanh.

Đừng bao giờ cho phép bạn mang ý niệm trả thù, mong muốn cho người kia đau khổ nhé! Nỗi hiềm hận này sẽ giết chết hạnh phúc, khả năng vui sống ở trong bạn. Với hiềm hận, đau khổ, bạn không thể nào hóa giải được những hiểu lầm đang có mặt.

Khổ đau mà bạn thường phải gánh chịu, nhiều khi là sản phẩm của tri giác sai lầm thôi, bạn ạ. Buông bỏ tri giác ấy, bạn hết khổ ngay. Bạn qua bờ đến an vui, hạnh phúc.

 

Các đặc tính của tri giác

Bạn trẻ thân mến!

Tri giác là cái thấy, cái nhận thức của mình. Duy biểu học gọi là tưởng. Chữ tưởng (想) viết theo Hán văn gồm có chữ tướng (相) ở phía trên và bộ tâm (心) ở phía dưới, nghĩa là tâm xúc tiếp với hình tướng bên ngoài như hình ảnh, âm thanh đều tạo ra một tri giác, một cái thấy.

Định nghĩa như thế thì tưởng chịu ảnh sâu đậm màu sắc của tâm, nói một cách khác tâm tạo ra tri giác như cái thấy, cái nghe, cảm nhận… Bạn thấy cảnh ấy đẹp hay xấu đều tùy sự vẽ vời của tâm bạn. Bạn thấy người kia đẹp hay xấu tùy theo sự vẽ vời của tâm ý… Đây là ý nghĩa của câu kinh: “Nhất thiết duy tâm tạo”. Vậy, bạn hãy cẩn thận với tri giác của mình. Dưới đây là những đặc tính của tri giác.

*Tri giác thường dễ bị lờn, nghĩa là cái thấy của bạn mau chán! Tới nơi nào đó, bạn thấy cảnh ấy đẹp một cách huy hoàng, nhưng ở một thời gian thì bạn thấy nó thật bình thường, đôi khi nó trở nên vô vị, đến nỗi chán chường là khác. Đây là tình trạng chung của tri giác con người, nghĩa là ở núi này trông núi nọ, do tri giác dễ bị lờn.

Ở với một người nào đó, bạn cảm thấy hạnh phúc được yêu thương và thương yêu, và nếu vắng bóng người ấy trong vài giờ là bạn cảm thấy trống trải vô cùng. Nhưng sống chung với nhau một thời gian, cái thấy của bạn từ từ bị lờn đi, nên bạn không còn trân qúy sự sống, sự hiện hữu của người ấy nữa. Có lúc bạn có cảm giác không muốn gặp, không muốn nhìn thấy người ấy nữa. Vì thế bạn hãy cẩn thận với tri giác mong manh, mau lờn của bạn và nên giữ tâm hồn cho trong sáng. Thi ca Việt Nam có câu diễn tả khi tình yêu đã hết:

"Anh đi đường anh, tôi đường tôi

Tình nghĩa đôi ta có thế thôi"

(Thế Lữ, Giây phút chạnh lòng)

*Tri giác thường dễ sai lầm. Thấy sợi dây mà tưởng là con rắn. Bỏ quên máy iphone ở đâu, thấy người kia đi ngang qua phòng, tri giác bạn thấy nghi nghi. Hình như người ấy lấy cái máy của bạn, nhưng một hai ngày sau bạn thấy máy iphone nằm trong túi áo. Cho nên tri giác thường đi chung với nghi ngờ, tưởng tượng, phán xét… Thông thường nó hay sai lầm.

*Tri giác dễ trở nên thành kiến. Thành là bức thành và kiến là tên khác của tri giác, là cái thấy, cái nhận thức. Sống với nhau, bạn có nhiều tri giác về chính bạn, người thương và cuộc đời. Sự thật, tri giác không phải là một cái mà một dòng chảy của nhận thức. Mỗi khi thấy gì, bạn có một tri giác; nghe âm thanh gì, bạn có một tri giác, và cứ như thế cái thấy này trôi chảy để nhường cho cái thấy khác, và chúng nó trở thành một dòng sông tri giác. Nếu không chiếu ánh sáng chánh niệm vào dòng tri giác, thì âm thầm qua nămtháng, tri giác của bạn sẽ ứ đọng, dồn nén, tạo thành một bức tường ngăn cách bạn với cảnh thật, với người thật đang hiện hữu trước mặt. Anh ấy là vậy, chị ấy là vậy, nơi ấy là vậy đó… Bạn chắc mẽm là như vậy, cho nên hễ có thành kiến rồi thì tri giác, cái thấy của bạn không còn mới nữa. Ồ! Tôi biết rồi. Ồ! Tôi thấy rồi… Bạn đóng hết tất cả cánh cửa giác quan bằng bức tường của tri kiến hạn hẹp, cố thủ của mình.

Mắt em mang chiếc kiếng màu

Nhìn đời em thấy một màu âm u" (*)

*Tri giác dễ rơi vào cố chấp, nghĩa là bạn bị kẹt vào tri giác, vướng vào cái thấy của bạn nên bạn không thể nhìn khác hơn, rộng hơn, bao la hơn. Cố chấp là ghì lấy, ôm lấy, vì thế cố chấp là một ngục tù nhốt bạn trong cái nhìn nhỏ hẹp, chủ quan của bản ngã.

“Ôi khung cửa vắng
Ngục tù nhận thức
Nhốt linh hồn em
Suốt mấy ngàn thu
Hiu quạnh, cô đơn
Âm u, mịt mù
.” (**)

 


(*), (**) Thơ Pháp Đăng.

 

Cánh đồng bao la

Bạn trẻ thân mến;

Muốn mến được vị ngọt của vô ngã, bạn phải nhận rõ vị đắng của ngã chấp. Bạn phải nhận diện sự hoạt động, đường đi nẻo về của ngã chấp, cũng như muốn có sen thơm thì phải có bùn hôi, có hoa tươi thì phải có rác bẩn.

Ngã là một thực thể riêng biệt, một cái tôi độc lập, mà sự thật làm gì có một cái tôi, một thực thể riêng biệt. Cho nên bạn không cần phá ngã mà buông bỏ sự chấp trước vào bản ngã. Vậy, ngã chấp là một ý niệm sai lầm, một suy tư âm thầm, vi tế về một cái tôi riêng biệt. Bộ mặt xuất hiện của ngã chấp chính là cố chấp, nắm bắt, đo lường, đánh giá, phán xét, lên án…

Cái chấp về một bản ngã đã có từ lâu nhiều đời, nhiều kiếp. Nó trở thành thói quen, cho nên bạn có thể gọi ngã chấp là một hạt giống. Bạn cần nhận mặt, quán chiếu về hạt giống ngã chấp ấy để chọc thủng cái vỏ u mê về bản ngã. Lúc ấy bông hoa vô ngã mới có thể đâm chồi nảy lộc. Giống như muốn gieo hạt sen vào hồ bên Pháp, bạn phải cưa một phần nào cái vỏ hạt sen để nước có thể thấm vào trước khi ngâm nó vào bùn, thì hạt sen mới có cơ hội nẩy mầm, bởi vì nắng bên Pháp không đủ nóng để cái vỏ cứng của hạt sen nứt ra.

Chấp ngã thường biểu hiện qua sự so sánh giữa bạn với người, cái này và cái kia… Bạn thấy bạn hay hơn, dở hơn hay bằng người này. Bạn thấy bạn có tài năng hơn người kia. Suy nghĩ của bạn sâu sắc hơn. Pháp môn bạn hay nhất, hay hơn tất cả pháp môn khác. Pháp môn bạn mới chánh thống, còn các pháp môn khác không có hiệu quả, không phải do Bụt trao truyền… Bạn nên nhận diện thói quen so đo, tính toán này và tập suy nghĩ, nhận thức, nói năng với tâm không so sánh. Bạn có thể chia sẻ về kinh nghiệm sống cá nhân, nhưng không cần so sánh với bất cứ người nào. Mỗi người mỗi kinh nghiệm, không ai phải giống ai, không ai phải hơn thua ai.

Khi nghe cũng vậy, bạn dừng lại sự phán đoán, đánh giá, so đo, chỉ nghe thôi. Bạn nghe người kia như nghe tiếng gió vi vu, tiếng suối reo, lời ru em của mẹ. Vui buồn, thương ghét có thể biểu hiện qua lời chia sẻ, nhưng bạn không nên đánh giá lời nói ấy. Ai có thể hiểu chiều sâu của dòng nước mắt? Ai có thể biết được đường đi của tâm thức? Nghe không phán xét, tâm bạn sẽ trở nên thênh thang, và người kia có không gian để tâm sự. Người ấy vẫn còn là người ấy, mà không trở thành một hình ảnh trong ngục tù thành kiến của bạn.

Bạn chia sẻ hết lòng, chia sẻ thật, từ kinh nghiệm sống dù có những khó khăn, lên xuống, trần lụy. Bạn không cần phải có mặt cảm xấu hổ, tủi nhục. Bạn cũng không có khuynh hướng muốn thuyết phục mọi người tin lời bạn. Kinh nghiệm dù sâu sắc đến mấy cũng chỉ là kinh nghiêm cá nhân, chứ không phải là sự thật tuyệt đối. Sau khi chia sẻ, bạn sẽ nhận được những lời khen chê. Bạn tập mỉm cười thanh thản với lời phản ánh. Bạn không nên vui, tự đắc khi được khen, mà không cần buồn, mặc cảm khi bị chê. Khen chê là sự đánh giá từ nhận thức của người nghe, do đó nó là thước đo thôi. Nó là tấm kính để phản chiếu lòng bạn. Có gì thật của bạn đâu mà phải vui hay buồn!

Không so sánh thì bạn không bị mặc cảm tự ti, tự tôn. Thấy bạn không ra gì nên bạn có khuynh hướng rút vào vỏ ốc mặc cảm là một biểu hiện của ngã chấp. Thấy bạn rất giỏi, tài năng nên bạn dương dương tự đắc cũng là biểu hiện khác của ngã chấp. Không so sánh phát xuất từ tâm vô phân biệt. Tâm bạn có hai mặt: phân biệt và vô phân biệt chỉ cách nhau một cánh cửa nhỏ có thể xoay trở qua lại. Chỉ cần thở để xoay cánh cửa phân biệt, cố chấp, so sánh, sang cánh cửa không phân biệt. Tâm bạn sẽ mở ra để bạn bước vào thế giới thênh thang của tâm không phân biệt. So sánh chỉ làm cho tâm hồn bạn thêm chật hẹp mà thôi.

Bạn có muốn mở cánh cửa tâm hồn để nhảy vào cánh đồng bao la của tâm không so đo, không đánh giá, không phán xét, không phân biệt không? Nơi ấy có không gian, nắng ấm, hoa lá, tình bạn, cảm thông và sự trân quý.

Ở với một người nào đó, bạn cảm thấy hạnh phúc được yêu thương và thương yêu.

Không làm gì cả

Bạn trẻ thân mến;

Sáng nào sư chú Thạch Lang (*) cũng dậy đúng giờ để ngồi thiền, mặc dù suốt hai tuần qua sư chú bị thức giấc giữa đêm do cơn ho. Mùa đông này, nhiều người bị bệnh cảm cúm. Con vi khuẩn này thật là mạnh, nó đã làm nhiều người ho nhiều ngày, có người ho suốt mùa đông. Sư chú cũng bị cúm một trận và cơn ho vẫn còn.

Sư chú không lo lắng, thế nào cơ thể cũng sẽ đẩy ra hết những con vi khuẩn cúm và trị lành phổi. Sư chú không muốn dựa vào thuốc Tây, mà muốn tập cho cơ thể tự trị liệu. Chỉ cần thở cho sâu giúp hai lá phổi làm việc, đưa máu vào phổi, thì tự động bạch huyết cầu sẽ tạo ra chất đề kháng để trị liệu.

Sáng nay, sư chú Thạch Lang ngồi thật yên. Bao nhiêu ý tưởng, bao nhiêu tư duy đều lặng xuống, dù ý tưởng, tư duy về thiền hay giáo lý. Ngồi thiền là để thở, mở tâm hồn để cảm nhận sự sống. Ngồi thiền không phải để tư duy.

Quán chiếu không phải là tư duy mà là quán sát, nhìn thấy sự hoạt động của tâm ý kể cả tư duy. Có một học giả hỏi Sư Ông: “Trong khi ngồi, Thầy làm gì?” Sư Ông trả lời: “Tôi không làm gì cả. Tôi chỉ thở.”

Sư chú Thạch Lang chú ý tới hơi thở. Sư chú không cố gắng thở mà thở tự nhiên, chỉ cảm nhận hơi thở. Sư chú không gọi tên vào, vào, vào, ra, ra, ra như theo kiểu thiền Minh sát mà chỉ nhận biết, cảm nhận hơi thở. Thực tập này gọi là tùy tức, tức là đi theo chiều dài của hơi thở, nhận diện hơi thở. Cảm nhận là to feel, nhận biết là to recognize.

Cảm nhận rõ ràng là chánh niệm rồi cần gì phải lặp tới, lặp lui mỗi chữ như thế. Nói lui tới như vào, vào, ra, ra, phóng tâm, phóng tâm, suy nghĩ, suy nghĩ để nhận diện tâm ý, trở về với hơi thở và sự phồng lên xẹp xuống có thể sử dụng cho người mới thực tập cho việc dừng tâm ý, chứ người thực tập lâu ngày nên bỏ hết từ ngữ, ý tưởng đi. Sư chú đâu phải là con robot bị người ta cài chương trình (programming) để tập nói. Sư chú là con người thật có khả năng nhận biết hơi thở, cảm nhận sự sống, nghe tiếng chim hót ngoài hiên. Sư chú cảm thấy tâm hồn yên lạ!

Sư chú không dám đánh giá phép thiền Minh sát, nhưng chẻ mỗi hành động ra nhiều giai đoạn, thì sư chú cảm thấy nó cứng cứng làm sao! Ví dụ:

“Khi đi chậm, tới lui trên đường kinh hành (cankama), mỗi bước phải được ghi nhận vào ba giai đoạn: dở chân lên, đưa chân tới, và hạ chân xuống. Hành giả bắt đầu với hai điểm ghi nhận, dở chân lên và hạ chân xuống. Phải hay biết rõ ràng cái chân dở lên. Cùng thế ấy, khi hạ chân xuống phải hay biết rõ ràng cái chân nặng nề đặt xuống.”

(Thực tập thiền minh sát, Mahàsi Sayàdaw)

Sư chú thích đi thiền tự nhiên, cảm nhận sự xúc chạm giữa bàn chân và lòng đất. Sự tiếp xúc ấy cũng đủ đưa tâm của sư chú trở về với đất mẹ, với hiện tại.

Sáng nay đáng lý mọi người phải lên xóm Thượng ngồi thiền cho trường đại học Hồng Kông quay phim. Sư chú cũng muốn yểm trở tăng thân, nhưng tới 6 giờ kém 15, sư chú mới ra tới nơi đậu xe nên không còn chiếc xe nào. Có lẽ, các sư em đã đi hết rồi! Sư chú định đi bộ lên xóm Thượng, nhưng 6 giờ đại chúng đã bắt đầu ngồi thiền. Sư chú có thể đi nhanh cho kịp giờ ngồi thiền, nhưng sư chú đổi ý. Tại sao phải đi gấp gáp để lên đó ngồi thiền? Lên đó ngồi thiền để được người ta quay phim sao, hay để mọi người thấy mình có tu tập? Sáng nào, sư chú cũng đều có ngồi thiền dù vào những ngày làm biếng. Sư chú đâu cần người khác chấm điểm. Sư chú cũng không ưa người ta quay phim. Bao nhiêu nhóm quay phim về Làng Mai muốn phỏng vấn sư chú, sư chú đều tìm cách từ chối.

Sư chú quyết định về phòng ngồi thiền. Sư chú pha một bình trà, rót một ly mời đức Thế Tôn và một ly cho mình. Vừa uống trà, vừa thở, sư chú thấy rõ tu tập chỉ cần đạt nội dung, tức là thắp được ánh sáng chánh niệm, nghĩa là tâm ý sáng lên, nhạy cảm, nhận biết mà không cần phải bị kẹt vào hình thức. Chú ý tới hành động rót trà, nâng ly lên, uống trà, mến hương vị trà đều là thiền. Có cái cảm nhận, có cái biết là có thiền rồi. Sư chú tiếp tục ngồi để nhìn vào dòng sông tâm ý. Sư chú vào được vùng yên tĩnh hoàn toàn mà không cần cố gắng mệt nhọc. Bao nhiêu tư duy đều được nhận rõ, bao nhiêu ý niệm đều buông bỏ. Ngồi như thế thật khỏe!

Ngoài hiên chim bắt đầu hót líu lo chào đón tia nắng đầu ngày. Sảng khoái quá, sư chú đứng dậy để đi dạo chơi trong thiên nhiên. Sáng nào cũng thế, sau buổi ngồi thiền, sư chú đều đi dạo chơi một vòng quanh chùa để cảm nhận sự yên tĩnh,  mát lành của thiên nhiên. Sư chú thấy một điều quan trọng là sự sống luôn có mặt cho sư chú. Sự sống là người tình luôn đợi chờ, luôn dang hai cánh tay rộng lớn cho người yêu. Người yêu ấy là chính sư chú. Sư chú chỉ cần mở lòng ra để ốm lấy người tình thiên nhiên. Có sự sống, sư chú có tất cả. Tiếp xúc với sự sống như tia nắng, ngọn lá, bông hoa, tiếng chim ca, ly trà nóng, sư chú thực sự có cảm giác thỏa mãn lắm rồi.

Bạn có muốn mở cánh cửa tâm hồn để nhảy vào cánh đồng bao la của tâm không so đo, đánh giá, phán xét, phân biệt không? Nơi ấy có không gian, nắng ấm, hoa lá, tình bạn, cảm thông, sự trân quý.


          (*) Thạch Lang là tên của tác giả.

Bến bờ tâm linh

Bạn trẻ thân mến;

Chánh niệm có hai đặc tính: Một là chỉ (samatha), tức là dừng lại những tạp loạn, suy tư, tính toán, dừng lại tâm chạy rong, tâm khỉ, tâm vượn, tâm phóng đãng… Hai là quán (vipassanà), nghĩa là nhìn sâu vào những gì đang xảy ra, vào lòng sự vật.

Chỉ có nghĩa là dừng lại sự tạo tác của tâm ý như sự phán xét, sự đánh giá, sự đòi hỏi, sự suy tính và không bị cuốn theo trong dòng sông tâm ý ấy. Chỉ không phải chận đứng lại dòng sông tâm thức. Tâm thức là một dòng chảy, nó âm thầm tuôn chảy mãi ngày đêm, các giọt nước vui buồn, thương ghét, hờn tủi… cứ xô đẩy, đắp đổi, tuôn chảy mãi như một dòng sông. Dừng tâm nghĩa là nhìn thấy dòng sông tâm thức mà không thêm bớt, không khích lệ và không bị cuốn theo.

Sư Ông dạy: “Trong chỉ có quán và trong quán có chỉ. Chỉ càng lâu, quán càng sâu, quán càng sâu, chỉ càng mạnh”. Nghĩa là dừng tâm ý càng lâu thì quán chiếu càng sâu. Quán chiếu càng sâu thì dừng tâm ý càng mạnh. Bạn thử dừng tâm trên một bông hoa thì bạn thấy bông hoa sâu hơn. Nhìn bông hoa càng sâu thì tâm bất an, phóng dật của bạn dừng lại càng mạnh. Bạn thử dừng tâm vào nỗi buồn thì bạn thấy nỗi buồn rõ hơn, và nhìn nỗi buồn càng lâu thì bạn hiểu nó sâu hơn.

Quán (Vipassanà) là quán chiếu, nghĩa là tới gần, thẩm sát, xem xét, nhìn rõ, nhìn sâu vào lòng thực tại. Trái cam đang nằm trong lòng bàn tay bạn nâng nó lên, đưa tới gần, nhìn kỹ, nhìn sâu vào nó. Từ đó bạn có cái thấy về bản chất của trái cam, cái thấy này gọi là tuệ giác.

Quán chiếu không phải suy nghĩ, suy luận, diễn tả, tính toán… Cho nên chữ quán sát (observe) rất là quan trọng, nghĩa là chỉ nhìn thôi, ý thức không được xen vào để vẽ vời, ảnh hưởng hoặc tạo tác gì cả. Quán sát có nghĩa là nhận diện đơn thuần; nó là nó (những gì đang trôi ngang qua trong dòng sông tâm thức) mà không xua đuổi, không đè nén, cũng không đồng lõa hay chìm đắm theo nó.

Nói rằng thiền minh sát (vipassanà) không thực tập chỉ (Samatha) là không đúng chút nào. Sự thật, thiền minh sát chú trọng phần dừng tâm (chỉ) nhiều hơn phần quán chiếu. Ta hãy đọc vài đoạn trong bài giảng của ngài Mahàsi Sayàdaw:

“Khi thở thì bụng phồng lên và xẹp xuống. Ðó là cử động hiển nhiên. Ðó là tính chất vật lý gọi là vàyodhàtu, nguyên tố di động trong vật chất, thường được gọi là nguyên tố gió. Nên bắt đầu ghi nhận di động ấy, tâm chăm chú theo dõi quan sát bụng. Ta sẽ thấy bụng phồng lên khi thở vô và xẹp xuống khi thở ra. Trạng thái phồng lên phải được ghi nhận thầm, "phồng, phồng", và di động đến trạng thái xẹp xuống, với ghi nhận "xẹp, xẹp".

Trong pháp hành thiền Minh sát (Vipassanà), bất luận danh từ nào mà ta nói lên, hay tên nào mà ta gọi đến, cũng không thành vấn đề. Vấn đề thật sự là hay biết hoặc cảm nhận. Ta phải ghi nhận cái bụng phồng lên khi nó mới bắt đầu, và liên tục theo dõi di động của bụng cho đến khi nó không còn phồng lên nữa, cũng rõ ràng giống như ta nhìn thấy và theo dõi cử động phồng lên bằng mắt. Khi bụng xẹp xuống cũng vậy, ghi nhận di động của bụng từ đầu đến cuối.

Trong khi ghi nhận cử động của bụng như thế thì tâm hành giả có thể phóng đi nơi khác. Sự kiện này cũng phải được ghi nhận liền bằng cách nói thầm, "phóng tâm, phóng tâm". Khi ghi nhận như vậy một hoặc hai lần thì tâm ngừng phóng đi và hành giả trở lại bài tập ghi nhận bụng phồng xẹp.”

(Thực tập thiền minh sát, Mahàsi Sayàdaw)

Bài thực tập trên rõ ràng là phương pháp hơi thở ý thức chú ý nơi huyệt đan điền để cảm nhận sự phồng xẹp của bụng, giúp bạn dừng lại tâm ý. Đó chính là thiền chỉ (samatha).

Bạn thực tập quán chiếu như thế nào?

Không dừng tâm suy nghĩ, tạo tác, phóng đãng, lăng xăng (chỉ) thì không thể nhìn thấy (quán), do đó chỉ cũng là quán, mà đối tượng quán sát chính là hơi hơi. Kỹ thuật là bạn để ý tới sự phồng lên của bụng khi thở vào và xẹp xuống của bụng khi thở ra. Nếu thân tâm có gì đang xảy ra, thì bạn quán sát nó bằng cách gọi tên, ví dụ như suy nghĩ, suy nghĩ, phóng tâm, phóng tâm, ngứa, ngứa, gãi, gãi, tháo chân, tháo chân, muốn đứng dậy, muốn đứng dậy…

Bất luận ý nghĩ hay suy tư nào phát sanh cũng phải được bạn ghi nhận rõ ràng. Nếu tưởng tượng, bạn ghi nhận "tưởng tượng". Nếu suy nghĩ,  bạn ghi nhận "suy nghĩ". Nếu toan tính, bạn ghi nhận "toan tính". Nếu nhận thấy, bạn ghi nhận "nhận thấy". Nếu cảm nghe hạnh phúc, bạn  ghi nhận "hạnh phúc". Nếu nhàm chán, bạn ghi nhận "nhàm chán". Nếu nghe bằng lòng, bạn ghi nhận "bằng lòng". Nếu buồn phiền, bạn ghi nhận "buồn phiền"… Sự ghi nhận, nhận diện các sinh hoạt của tâm ý được gọi là niệm tâm (cittànupassanà) trong kinh Tứ niệm xứ.

Đó là quán sát chứ gì nữa. Trong kinh Quán niệm hơi thở, Bụt dạy:

-Thở vào, tôi thấy tâm tham, thở ra tôi mỉm cười với tâm tham.

-Thở vào, tôi thấy tâm phóng dật, thở ra tôi nhận diện tâm phóng dật…

Thiền quán không dừng lại sự quán chiếu gọi tên mà bạn còn thấy những gì đang xảy ra không phải là ngã.

“Vì thiếu sót, không ghi nhận những sinh hoạt của tâm như vậy nên ta có khuynh hướng đồng hóa sinh hoạt tâm linh ấy với một người, một cá nhân. Thấy tâm là người, người là tâm, tâm với người là một. Ta có khuynh hướng nghĩ rằng chính "Ta" đang tưởng tượng, suy tư, toan tính, hiểu biết v.v. Ta nghĩ rằng có một người sống và suy tư từ bé đến lớn.

Ðúng ra thì không có một người như vậy hiện hữu. Thay vì một người, xem như một thực thể đơn thuần, nguyên vẹn, chỉ có hành vi của tâm liên tục nối tiếp. Vì lẽ ấy ta phải ghi nhận những sinh hoạt tâm linh và thấu đạt thực tướng của nó, hiểu biết đúng như thật sự nó là vậy. Vì lẽ ấy phải ghi nhận tất cả và mỗi hành vi của tâm, ngay lúc nó khởi phát. Khi được ghi nhận như vậy thì nó có khuynh hướng tan biến. Chừng đó hành giả quay trở về phương pháp ghi nhận sự phồng xẹp.”

(Thực tập thiền minh sát, Mahàsi Sayàdaw)

Đa số bạn không thấy đường đi của tâm ý, bởi nó quá khôn ngoan, nó hoạt động cực nhanh. Nó luôn điều khiển bạn suy nghĩ thế này, suy nghĩ thế kia, đánh giá người này, đánh giá người kia, phân tích, tính toán. Nó tạo ra biết bao phiền muộn cho bạn và gây ra sự mâu thuẫn với người chung quanh. Bạn chấp suy nghĩ này là tôi, ý kiến này là tôi, cảm thọ này là tôi. Bạn phán đoán cái này là đúng, cái kia là sai, suy nghĩ này là chánh, suy nghĩ kia là tà như một ông quan tòa (a judge). Đây là gốc của mọi khổ đau, phiền muộn của con người.

Quán chiếu là khảo sát sự hoạt động của tâm ý, nhận biết đơn thuần mặt mũi của nó, mà không được đồng lõa với cái tôi, của tôi, cũng không nên xua đuổi nó. Chấp ghì cũng là ngã chấp, mà xua đuổi cũng là ngã chấp. Đây là phép quán chiếu vô ngã cụ thể nhất.

Quán chiếu là loại ánh sáng nhằm thấy rõ dòng tâm ý, giống như bạn đang ngồi trên bờ sông ngắm nhìn dòng sông. Hơi thở ý thức là bến bờ ấy. Cái gì trôi qua trên dòng sông như con thiên nga, bịch rác, cành cây, thì bạn thấy như vậy, không thêm không bớt, không ghì lấy, không xua đuổi… Muốn nhìn như vậy, bạn phải trở về với hơi thở và sự phồng xẹp của bụng. Hơi thở và sự phồng xẹp như là dây neo giữ con thuyền chánh niệm không cuốn phăng trong dòng sông tâm ý.

Tiếp tục quán chiếu, bạn thấy các dòng sông tâm ý, cảm thọ, nhận thức, tâm tư, thân thể đều luôn

chuyển động, biến đổi lạ thường, không bao giờ đứng yên dù trong một giây lát. Thấy rõ sự chuyển biến ấy, tuệ giác vô thường phát sinh ngay. Sự thật không có một hiện tượng gì trong thân tâm bền vững làm nơi nương tựa đâu, vậy nên bạn trở về với chánh niệm. Đó gọi là trí tuệ quán sát bằng sự phồng xẹp của bụng.

Hơi thở là đối tượng của thiền tập. Hơi thở là nhiên liệu nuôi dưỡng ánh sáng của tuệ giác, mà thiền Miến Điện gọi là minh sát. Bây giờ, bạn nắm rõ cách quán sát của thiền quán rồi phải không? Chúc bạn thành công!

Sư chú thích đi thiền tự nhiên, cảm nhận sự xúc chạm giữa bàn chân và lòng đất, cũng đủ đưa tâm của sư chú trở về với đất mẹ, với hiện tại.

 

 

Không theo phe

 

Bạn trẻ thân mến;

Chánh niệm là tâm sáng suốt. Nó chiếu vào tất cả mọi ngõ ngách của tâm ý, như mặt trời chiếu lên mọi loài cỏ cây, hoa lá… Chánh niệm không phân biệt tâm này thiện, tâm kia ác, không theo phe, không đánh phá, không xua đuổi mà chỉ soi sáng, nhận diện.

Chánh niệm kéo dài thành dòng ánh sáng (spectrum of mindfulness) chính là thiền định. Cho nên thiền định cũng là ánh sáng. Nó trong suốt, tĩnh lặng! Chánh niệm cũng có khả năng nhận biết rõ ràng những gì đang xảy ra trong thân tâm và nơi hoàn cảnh, cho nên nó cũng là con mắt trí tuệ.

Chánh niệm, chánh định, trí tuệ là ánh sáng nội tâm (inner light), là sức mạnh tâm linh, có khả năng phá vỡ các đợt sóng của tâm thức. Tâm thức là kho chứa của nhiều hạt giống, nhà máy của nhiều loại năng lượng. Khi các năng lượng này biến động, thì chúng biến thành các đợt sóng, ba động, biểu hiện lên trên mặt ý thức. Duy biểu gọi hiện tượng này là tâm hành hay tâm sở như buồn, giận, sợ hãi, trách móc, nghi ngờ, phán xét, thương, ghét…

Cơn giận vừa phát hiện thành những đợt sóng và năng lượng giận hờn, nếu chánh niệm nhận diện cơn giận liền, thì các đợt sóng ấy sẽ bị bẽ gãy ngay lập tức. Cơn giận không thể trở thành khối lửa hung mãnh, có công năng đốt cháy thân tâm, ảnh hưởng người khác và tàn hại tới hoàn cảnh chung quanh.

Tuy nhiên, bạn không được đánh dẹp, ức chế các tâm ý bất thiện mà nhận diện đơn thuần chúng như bạn tiếp đón những người bạn xa đến thăm.

Bên cạnh đó, bạn không khích lệ, bám riết các tâm ý tích cực như tha thứ, bao dung, rộng lượng mà chỉ ghi nhận thôi. Giận hờn là giận hờn, tha thứ là tha thứ, dục vọng là dục vọng, thanh thoát là thanh thoát… Bạn không khởi lên ý niệm ‘thích, không thích, bạn hay thù…’ Bạn chưa làm gì cả với các tâm ý ấy, chỉ thắp lên tâm không phân biệt cũng đủ cho bạn cảm thấy khoẻ khoắn, nhẹ nhõm rồi. Chánh niệm, chánh định, trí tuệ không theo phe thiện để tiêu diệt phe ác đâu. Tu tập là cuộc cách mạng bất bạo động.

Tâm thức là kho chứa có đầy đủ mọi hạt giống, vì thế bạn đừng bao giờ có ý tưởng muốn loại trừ cái này hoặc ức chế cái kia. Không! Bạn không thể tiêu diệt bất cứ cái gì kể hạt bụi. Thay vì ức chế, chiến đấu với đám mây phiền não, bạn chỉ cần thực tập thở từng hơi thở, bước từng bước chân. Đừng sợ phiền não, chỉ sợ bạn đánh mất chánh niệm mà thôi. Hãy đầu mỗi giây mỗi phút trong đời sống để thắp lên mặt trời chánh niệm như mặt trời trên cao luôn tỏa sáng sau lớp mây mù mịt dầy đặc kia.

Mọi loài, mọi người, ai cũng có ánh sáng chánh niệm, mà Bụt gọi là Phật tánh, khả năng giác ngộ. Tuy nhiên trải qua bao nhiêu kiếp, bạn trôi lăn trong thất niệm, vọng động, sống theo bản năng, nghiệp chướng. Chính phiền não, nghiệp chướng, bản năng này che lấp mất mặt trời trí tuệ và bầu trời trong xanh của chánh niệm, thiền định.

Quán (Vipassanà) là quán chiếu, nghĩa là tới gần, thẩm sát, xem xét, nhìn rõ, nhìn sâu vào lòng thực tại.

Dòng sông tâm thức

Bạn trẻ thân mến;

Chánh niệm là cái thấy, cái biết, ý thức sáng tỏ. Nói như thế cũng đủ cho bạn hiểu, nhưng làm sao bạn có thể chế tác được ý thức sáng tỏ ấy. Đó là nghệ thuật, kỹ năng, mà bạn phải nắm cho vững để áp dụng vào đời sống hàng ngày.

Là người mới thực tập, bạn có thể hiểu chánh niệm là gì, nhưng thói quen thất niệm, lo lắng, suy nghĩ quá mạnh, nên bạn cần nương tựa nơi tu viện có tăng thân đang thực tập mỗi ngày. Bạn không thể nào ngồi yên một mình ở nhà. Nhưng nếu chung quanh ai cũng ngồi yên, thì nó tạo ra nguồn năng lượng tập thể giúp bạn ngồi yên.

Tuy nhiên, quan trọng hơn vẫn là kỹ năng thiền tập. Thiền tập chú trọng tới hai tư thế là ngồi thiền và đi thiền. Hẳn nhiên ở tư thế nào, hơi thở vẫn là yếu tố quan trọng nhất. Khi thở, bạn chú ý ở huyệt đan điền, khoảng 3 cm phía dưới rốn. Huyệt đan điền là nơi xa lìa trung khu thần kinh, vốn kích thích nhiều suy nghĩ, cảm xúc, lo âu. Chú ý tới huyệt đan điền, thế nào tâm bạn cũng yên lại. Bạn thở tự nhiên, thở thoải mái, không cố gắng, không gồng gượng, không kéo dài, không ép ngắn. Bạn chú ý nhè nhẹ vào hơi thở và sự phồng xẹp của bụng. Nếu tâm đi lang thang, vọng động, thì bạn trở lại với hơi thở và sự phồng xẹp. Bạn đừng vật lộn với sự suy nghĩ, mà mỉm cười với nó, buông nó ra, rồi trở về với hơi thở.

Bạn hãy xem suy nghĩ mông lung là con chó con. Chó con ưa chạy đi, chạy lại, chồm nhảy lung tung. Bạn chỉ cần nhìn sự vọng động của nó, mà đừng để tâm xao lãng. Không nên bực mình với nó, bản chất chó con là phải chạy tới, chạy lui.  Con chó chạy một hồi, rồi nó cũng mệt. Lúc ấy, bạn có thể thở một cách nhẹ nhàng, thanh thản.

Tâm thức là dòng sông đang trôi chảy. Bạn không nên chận đứng dòng sông ấy, mà tập ngồi trên bờ dòng sông. Bờ ấy chính là hơi thở ý thức. Hơi thở ý thức là bến đỗ cho tâm hồn. Nếu không chú ý tới hơi thở, thì bạn không có bờ, do đó bạn phải bơi lội mãi trong dòng sông. Nó đưa bạn đi theo. Nó chảy tới đâu, thì bạn phải trôi theo nó. Có lúc dòng sông tâm ý chảy siết quá, nó làm cho bạn chìm ngập trong dòng lo lắng, suy tư, buồn phiền. Vậy nên bạn phải giữ vững bến bờ, đừng để bờ tan vỡ.

Nếu bạn muốn khám phá ngõ ngách của dòng sông tâm ý, thì bạn cần có một chiếc thuyền. Chiếc thuyền ấy cũng là hơi thở ý thức. Nắm lấy hơi thở ý thức, bạn giữ vững tay chèo mà lèo lái chiếc thuyền. Nếu không có thuyền chánh niệm, thì bạn bơi mãi trong dòng sông tâm ý. Có lúc dòng sông chảy siết quá, khiến cho bạn có nguy cơ chết chìm trong ấy.

Đó là hai ví dụ dễ hiểu để bạn thấy tầm quan trọng của hơi thở ý thức. Cố nhiên, có nhiều phương pháp thực tập khác như niệm Bụt, trì chú, công án… nhưng hơi thở là dễ nhất, thông dụng nhất. Bạn không nên có thái độ đứng núi này trông núi nọ, hay so sánh cao thấp giữa các pháp môn. Pháp môn nào cũng đều do Bụt trao truyền, bạn chọn lấy một pháp môn thích hợp và thực tập cho hết lòng.

Tôi may mắn học pháp môn An ban thủ ý, nghĩa là hơi thở giữ gìn tâm ý và đi thiền của đức Thế Tôn qua Bổn sư tôi. Bổn sư tôi không phải dạy lý thuyết về hơi thở ý thức và bước chân thiền hành, mà Người thực hành mỗi ngày. Tôi thấy tôi là con voi con đi theo dấu chân của voi mẹ. Voi mẹ chính là bổn sư tôi. Thiền hành có thể ví như những bước chân của loài voi.

Ở Phi châu, loài voi phải di cư cả mấy ngàn dặm mỗi năm để tìm nước uống và thức ăn. Con voi đi rất thoải mái, từng bước vững chãi, không hấp tấp, nhìn rất oai hùng. Thế mà năm nào, loài voi cũng di cư tới mấy ngàn dặm. Căn bản của thực tập là thanh thản. Bạn không cần gấp gáp để mong đạt tới đích. Bạn chỉ cần thực tập mỗi hơi thở, từng bước chân. Một bước chân có sự chú ý, có sự sống là có niệm, có định. Cho dù tập khí lo lắng còn mạnh, suy nghĩ còn mông lung, bạn cũng không nên nản lòng!

Kỹ năng thiền đi là bạn chú ý nơi điểm xúc chạm giữa lòng bàn chân với mặt đất. Bàn chân cảm giác được sự mát mẻ của đất mẹ. Bàn chân hôn lên lòng đất. Bạn đi sao cho tâm hồn bất an, phóng đãng có dịp được nghỉ ngơi, giúp bàn chân chạm vào lòng đất. Mới tập đi thiền, bạn nên đi bằng chân không, vì bàn chân có nhiều dây thần kinh ngoại biên, có thể cảm được sự mát mẻ của lòng đất. Có cảm giác là có xúc chạm. Có xúc chạm là có chú tâm. Có chú tâm là có định, có niệm.