Bài kệ 17

Tùng thực nhân duyên hữu

從 食 因 緣 有

Tùng thực trí ưu lạc

從 食 致 憂 樂

Nhi thử yếu diệt giả

而 此 要 滅 者

Vô phục niệm hành tích

無 復 念 行 迹

Cái gì cũng do thức ăn mà tồn tại

Ngay cả cái buồn, cái vui cũng phải cần thức ăn mới có

Nếu cái chất liệu thiết yếu ấy không còn

Thì không còn dấu vết nào của hành mà mình có thể nhận diện.

Tùng thực nhân duyên hữu: Do nhân duyên thực phẩm mà có hữu, có vô. Hữu (abhāva) và vô (abhāva) có nguyên do của nó, đó là bốn loại thực phẩm: đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực và thức thực. Từ những nguồn thực phẩm khác nhau mà có sự lo lắng hay hạnh phúc. Thực phẩm nuôi hữu vô là vô minh cho nên mới thấy hành là những thực tại riêng biệt có ngã có pháp.

Tùng thực trí ưu lạc: Ngay cả cái buồn, cái vui cũng do thức ăn mà sinh ra.

Nhi thử yếu diệt giả: Nếu chất liệu ấy khôngcòn, nếu cắt đứt nguồn thực phẩm đó thì,

Vô phục niệm hành tích: Không có dấu vết nào của hành mà mình có thể nhận diện được. Tích là dấu vết. Vọng niệm về các hành, thấy các hành là ngã là pháp thì ta bị ràng buộc. Nếu thấy được bản chất các hành là duyên sinh, vô ngã, tương tức, thì ta có giải thoát, thấy được Niết bàn.

Khi bị trầm cảm, ta biết không phải tự nhiên mà ta bị trầm cảm, mà là do ta đã sử dụng, đã nuôi mình bằng loại thực phẩm đưa tới sự trầm cảm. Khi ta quán chiếu, tìm ra được nguyên do của sự trầm cảm chính là nguồn thực phẩm không lành mạnh đó và quyết tâm chấm dứt không sử dụng loại thực phẩm đó nữa, thì trầm cảm sẽ tan biến, không còn lưu lại dấu vết nào cả.

Kinh này, tuy có đề tài là Niết bàn, nhưng thật sự không đi vào tư duy siêu hình. Kinh có giáo lý rất thực tiễn để chúng ta có thể chứng nghiệm được.

Bài kệ 16

Tắc sinh hữu đắc yếu

則 生 有 得 要

Tùng sinh hữu dĩ khởi

從 生 有 已 起

Tác hành trí tử sinh

作 行 致 死 生

Vi khai vi pháp quả

為 開 為 法 果

Vì hữu nên mới phải có sinh

Và vì sinh cho nên hữu lại tiếp tục

Có tác, có hành, thì có tử, có sinh

Đó là cánh cửa sinh tử mở ra, để đưa đến sự phát khởi của các pháp.

Tắc sinh hữu đắc yếu: Đắc yếu là đạt tới chỗ thiết yếu. Vì có sinh nên hữu mới có chân đứng. Có quan niệm về sinh diệt cho nên mới có quan niệm về hữu vô.

Tùng sinh hữu dĩ khởi: Có ý niệm về sinh (diệt) nên ý niệm về hữu (vô) mới khởi ra.

Tác hành trí tử sinh: Những ý niệm về công việc (tác) và những ý niệm về hình thành (hành) cũng đem tới ý niệm sinh tử (saṃsāra). Tác là động tác và hành là sự hình thành của các pháp hữu vi.

Vi khai vi pháp quả: Và mở cửa ra cho tất cả các pháp.

Vì ý niệm hữu vô nên phải có ý niệm sinh diệt, và vì có ý niệm sinh diệt nên ý niệm hữu vô mới được khởi ra. Các pháp biểu hiện ra từ tâm ý phân biệt và vì phân biệt có ngã, có pháp, có tác, có hành cho nên có đau khổ, nên gọi là pháp quả.

Bài kệ 15

Sinh hữu tác hành giả

生 有 作 行 者

Thị vi bất đắc yếu

是 為 不 得 要

Nhược dĩ giải bất sinh

若 已 解 不 生

Bất hữu bất tác hành

不 有 不 作 行

Thấy có sinh, có hữu, có tác, có hành

Là chưa đạt tới chỗ thiết yếu

Nếu hiểu được thế nào là bất sinh (bất diệt)

Thì không thấy còn hữu (và vô) và cũng không còn thấy có tạo tác và hình thành.

Sinh hữu tác hành giả

Thị vi bất đắc yếu

Còn thấy có sinh, có hữu, có người làm, có người thực tập thì chưa đạt tới chỗ thiết yếu, tức là chưa đạt tới cái thấy sâu sắc nhất.

Nhược dĩ giải bất sinh

Bất hữu bất tác hành

Khi hiểu được không có sinh (và không có tử) thì sẽ thấy không còn hữu (và không còn vô), không còn tác và không còn hành. Tác là hành động, là tạo tác. Hành là các hiện tượng tâm lý và vật lý mà mình cho là có bản chất tồn tại thực sự, có mặt một cách độc lập, cái này nằm ngoài cái kia. Đó là những hình ảnh sáng tạo của tâm thức, không phải là bản chất thực sự của các hành. Bản chất thực sự của các hành là duyên khởi, là tương tức, là y tha khởi, là viên thành thật.

Bài kệ 14

Phù duy vô niệm giả

夫 唯 無 念 者

Vi năng đắc tự trí

為 能 得 自 致

Vô sinh vô phục hữu

無 生 無 復 有

Vô tác vô hành xứ

無 作 無 行 處

Chỉ khi đạt được vô niệm

Mới có thể tới được Niết bàn

Nếu đã là vô sinh diệt thì không còn hữu vô nữa

Lúc ấy không còn thấy sự tạo tác, cũng không còn thấy sự hình thành

Phù duy vô niệm giả: Chỉ có những người đạt được vô niệm. Vô niệm là không còn ý niệm (conceptualization), như ý niệm về sinh, diệt, có, không, cái này, cái kia. Vô niệm là một giáo lý rất cao siêu, muốn đạt tới chỗ thấy và hiểu được thực tế, thì phải buông bỏ tất cả mọi ý niệm sinh-diệt, có-không, còn-mất. Duy là chỉ có, giả là người.

Vi năng đắc tự trí: Mới có thể có khả năng đạt tới chỗ đó. Tự là tự mình.

Chỉ có những người đạt được vô niệm mới có khả năng tự mình đạt tới chỗ đó. Chỗ đó là Niết bàn.

Vô sinh vô phục hữu: Nếu không còn sinh thì không còn hữu. Sinh là birth, là arising. Chúng ta có thể hiểu chữ sinh là được sinh ra, tiếng Phạn là jāti. Vô sinh là unborn, non-being. Chữ sinh đại diện cho nhiều khái niệm khác, tại vì sinh đi đôi với diệt, vô sinh đi đôi với vô diệt. Hữu là existence, tiếng Phạn là abhāva. Vô hữu là abhava. Không sinh, không diệt, không có, không không, không tới (vô lai), không đi (vô khứ), không một (vô nhất), không khác (vô dị), đó là những ý niệm chúng ta phải vượt thắng, vượt thắng được thì gọi là vô niệm. Chữ vô sinh đại diện cho tất cả những cái vô. Nó là Niết bàn, tại vì Niết bàn là thể tánh không sinh, không diệt, không tới, không đi, không có, không không, không còn, không mất. Đạt tới vô sinh là đạt tới Niết bàn, không còn sinh diệt, khứ lai, nhất dị. Hữu không còn thì vô cũng không còn, tại vì hữu-vô là một cặp đối nghịch. Có người sợ chết vì họ sợ trở thành hư vô, nhưng có người lại sợ sống, sợ phải sống hết đời này sang đời khác. Nhiều người trong chúng ta ước có thuốc trường sinh để được sống hoài không chết. Trong lịch sử văn học Tây phương và Đông phương, đều có nói tới những người đi tìm thuốc trường sinh. Nhưng có người trong chúng ta lại rất sợ sống hoài. Nếu bị một quan tòa lên án: “Anh phải sống hoài, không bao giờ được chết” thì chúng ta có bằng lòng không? Có người thèm hữu (abhāva), nhưng có người thèm vô (abhāva), như những người tự tử chẳng hạn. Nhưng abhāva hay abhāva đều là những ý niệm. Niết bàn vượt thoát being và non-being, nếu tiếp xúc được Niết bàn thì thoát khỏi hữu và vô.

Vô tác vô hành xứ: Không có chỗ để tác và hành. Tác là tạo tác (action), hành là hình thành.

Làng Mai có một bài kệ được sử dụng khi thực tập thiền thở, thiền đi, thiền ngồi rất hay. Bài kệ bắt đầu bằng nhận thức lưỡng nguyên:

Để Bụt thở, để Bụt đi

Mình khỏi thở, mình khỏi đi

Tại vì trong ta có tính làm biếng, thấy thực tập hơi khó nên ta để Bụt làm. Là học trò, là con của Bụt, đã từng nghe giáo lý và đã từng thực tập nên ta hiểu có Bụt trong mỗi tế bào của ta. Bụt ở trong ta chứ không phải ở ngoài ta. Ta làm biếng nên ta để Bụt thở, để Bụt đi, ta khỏi thở, ta khỏi đi. Bụt rất siêng năng nên khi được mời thì Bụt thở, Bụt đi ngay, nhờ đó ta có cơ hội được thở, được đi.

Tôi đã thực tập theo bài này bao nhiêu năm rồi mà vẫn còn thấy hay.

Để Bụt thở, để Bụt ngồi

Mình khỏi thở, mình khỏi ngồi.

Để Bụt thở, để Bụt rong chơi

Mình khỏi thở, mình khỏi rong chơi.

Để Bụt thở, để Bụt nghỉ ngơi

Mình khỏi thở, mình khỏi nghỉ ngơi.

Có thì giờ nghỉ mà chúng ta không chịu nghỉ, nhiều khi đã lên giường rồi mà vẫn còn tranh đấu. Vì vậy, khi Bụt thở, Bụt nghỉ ngơi, thì ta được thở, được nghỉ ngơi.

Bụt đang thở, Bụt đang rong chơi

Mình được thở, mình được rong chơi

Đó là bài kệ hay nhất, dễ nhất và hạnh phúc nhất để thực tập.

Bụt đang thở, Bụt đang ngồi

Mình được thở, mình được ngồi

Bụt đang thở, Bụt đang nghỉ ngơi

Mình được thở, mình được nghỉ ngơi

Bài kệ này tôi thực tập luôn luôn thành công, không lần nào mà không thành công.

Bụt là hơi thở, Bụt là rong chơi

Mình là hơi thở, mình là rong chơi

Chúng ta bắt đầu đi sang tuệ giác vô ngã. Ban đầu, chúng ta tưởng Bụt là một thực tại riêng và thở là một thực tại riêng, có một người tên là Bụt và có một động tác tên là thở, có một người tên là mình và có một người đang thực tập. Nhưng bây giờ, ta thấy rõ khi Bụt thở, thì hơi thở này rất có phẩm chất, hơi thở rất có chánh niệm, rất thoải mái. Chúng ta thấy được Bụt trong hơi thở đó chứ không cần phải tìm Bụt ở ngoài. Không có chủ thể thở, chỉ có động tác thở (there is only the breathing, there is no breather). Khi chúng ta để Bụt thở, thì Bụt thở rất hay, rất có phẩm chất và chính trong phẩm chất của hơi thở mà chúng ta nhận diện ra Bụt, ngoài hơi thở không có Bụt. Nói có một người thở và có một hơi thở là không đúng. Bụt là ai? Bụt là đi, Bụt là thở, Bụt là ngồi. Chúng ta phải nhận ra Bụt nơi hơi thở, nơi dáng ngồi đó tại vì nếu là một người khác thì sẽ không thở, không ngồi được như vậy. Ngoài hơi thở và dáng ngồi, không có một chủ thể Bụt riêng. Có động tác thở, rong chơi hay nghỉ ngơi; nhưng không cần phải có một chủ thể để thở, để rong chơi hay nghỉ ngơi.

Chúng ta nói: Mưa rơi! Gió thổi! Mưa thì phải rơi, mưa mà không rơi thì không thể gọi là mưa, gió mà không thổi thì không thể gọi là gió. Có mưa mà không cần có chủ thể mưa. Khi xem tuồng múa rối, chúng ta thấy các con rối cử động; nhưng phía sau đó có bàn tay của người nghệ sĩ tác động vào. Còn ở đây, không có người ở phía sau, không có chủ thể đứng ở ngoài để thổi, gió chính là thổi và cũng không có một người đứng ở trên để thả mưa xuống, mưa chính là rơi.

Bụt là thở, Bụt là đi

Mình là thở, mình là đi

Trong khi thực tập, ta tiếp xúc được với sự thật là chỉ có thở, chỉ có đi và phẩm chất của hơi thở, của bước chân rất cao. Ta sẽ không tìm được Bụt ngoài hơi thở và bước chân đó. Lúc bắt đầu, ta và Bụt là hai thực thể khác nhau, nhưng khi tới câu kệ này, thì ta và Bụt trở thành một, chỉ có động tác mà không có người làm động tác. Đó gọi là vô tác.

Chỉ có hơi thở, chỉ có rong chơi

Không ai đang thở, không ai rong chơi

Chúng ta không cần có một chủ thể đứng ở ngoài, đó là vô ngã. Vô ngã tức là Niết bàn, đạt được vô ngã là đạt được Niết bàn. Bài tập này tuy đơn sơ, nhưng đem lại rất nhiều hạnh phúc và giúp ta tiếp xúc được với vô sinh.

Trong khóa tu dành cho xuất sĩ tại Pak Chong, Thái Lan, có một số các thầy Nam tông tới tham dự. Các thầy không tu theo Tịnh độ như các Phật tử Việt Nam. Nếu ta nói: “Mỗi bước chân đi vào Tịnh độ” thì các thầy sẽ không hiểu, nên chúng ta đã đổi lại là: “Mỗi bước chân đi vào vô sinh”. Vô sinh là Niết bàn.

Sự đi đang diễn ra nhưng không có người đi, người đi không tách ra được khỏi sự đi. Ngoài chuyện thở và chuyện đi, không có người thở và người đi. Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ chủ trương “không có ngã, chỉ có pháp”, tức không có người thở nhưng có cái thở, không có người đi nhưng có cái đi, không có người ngồi nhưng có cái ngồi, không có người rong chơi nhưng có cái rong chơi. Đó gọi là Ngã không pháp hữu.

Khi đạt tới cái thấy đó, thì không có tác, không có hành, không có hữu cũng không có vô.

Chỉ có thở nhẹ, chỉ có rong chơi

Không ai thở nhẹ, không ai rong chơi

Chúng ta không cần có một chủ thể đứng ngoài, có tác nghiệp mà không cần tác giả. Có cái thở, cái đi đang xảy ra, nhưng không có một cái ta núp đằng sau để điều khiển cái thở và cái đi. Có sự suy nghĩ, tư duy đang xảy ra, nhưng không có người suy nghĩ núp phía sau.

An khi thở nhẹ, lạc trong rong chơi

An là thở nhẹ, lạc là rong chơi

An và lạc là những cái có thật. Có thể có an, có lạc, có thở nhẹ và rong chơi mà không cần phải có một chủ thể núp phía sau như những bàn tay điều khiển con rối. Bài kệ này đơn sơ nhưng rất sâu sắc.

Đạt tới vô sinh thì không còn có hữu, nghĩa là không còn có vô, không có tác giả, tác nghiệp và cũng không có hành động và tạo tác.

Bài kệ 13

Tỳ-kheo hữu thế sinh

比 丘 有 世 生

Hữu hữu hữu tác hành

有 有 有 作 行

Hữu vô sinh vô hữu

有 無 生 無 有

Vô tác vô sở hành

無 作 無 所 行

Này các vị khất sĩ, trên đời có cái sinh, có cái hữu, có cái tạo tác và có cái hình thành. Nhưng cũng có cái không sinh, không hữu, không tạo tác và không hình thành để làm nẻo thoát cho những cái có sinh, có hữu, có tạo tác và có hình thành ấy.

Bài kệ 13 là bài kệ khó nhất, mà cũng là bài hay nhất trong kinh.

Tỳ kheo hữu thế sinh: Tỳ kheo là này các vị khất sĩ. Thế là trong cuộc đời này (sur la terre, ici bas, in this world). Hữu thế sinh là trên đời có cái sinh ra.

Hữu hữu hữu tác hành: Hữu hữu là có cái đang có.

Hữu tác hành là có cái tạo tác và có cái hình thành.

Sinh là born, hữu là being (existence), tác là made, hành là formed hay compounded, created. Trên đời có cái sinh, cái có, cái tạo tác và cái hình thành. Trên bình diện hiện tượng, ta thấy có cái sinh để rồi diệt, có cái có để rồi không, có cái sáng tạo ra để tiêu diệt, có cái hình thành để tan rã. Trên phương diện tích môn, ta thấy có sinh, có diệt, có có, có không, có tạo tác, có hình thành, có hư hoại và có tan rã.

Chữ hành, tiếng Phạn là saṃskāra, tiếng Anh là formation. Tất cả hiện tượng đều là những hành và tất cả các hành đều vô thường. (All formations are impermanent.) Chúng do nhiều cái tụ hợp làm thành (compounded). Vì là một hành (formation) nên nó được hình thành (formed). Ta thấy giống như nó được tạo tác (made). Cái bàn, bông hoa, trái đất… đều là tạo tác.

Being là có (exist). Being là brought into being, brought into existence. Nhưng trong đạo Bụt ta hay dùng chữ becoming, chữ becoming hay hơn chữ being, tiếng Phạn là bhāva. Trong chữ becoming có ý của sự chuyển biến; chúng ta không có mặt, chúng ta đang trở thành tại vì ta của phút sau không còn là ta của phút trước. Chữ bhāva, dịch là being hay existence cũng được, nhưng dịch là becoming thì hay hơn, tại vì trong becoming có cái nghĩa luôn luôn có chuyển biến, vì hành không là một cái chắc thật đồng nhất trong thời gian.

Đứng về phương diện tích môn, ta thấy có những cái được sinh ra, có những cái được có mặt, có những cái được tạo tác ra và có những cái được hình thành ra.

Hữu vô sinh vô hữu

Vô tác vô sở hành

Nhưng nhìn kỹ dưới chiều sâu của “những cái có sinh, có có, có tác, có hành” thì ta thấy có “cái vô sinh, vô hữu, vô tác và vô hành”. Đó là Niết bàn.

Vô sinh là unborn. Vô hữu không phải là không có (non-being). Vô hữu là không có (being) cũng không không (non-being). Vô hữu là vượt thoát cả có và không. Ví dụ một đám mây, khi thấy đám mây ta cho nó là có (being, existing). Nhưng lúc chưa thấy đám mây, mà ta cho nó là không (non-existing) là không đúng, vì trước khi là đám mây nó đã là hơi nước và ta đã không thấy được hơi nước. Trong phòng này có biết bao nhiêu hơi nước. Ta thở ra rất nhiều hơi nước, nhưng ta không thấy và ta nói đám mây không có mặt. Nói không có đám mây cũng sai mà nói có đám mây cũng sai. Cái không và cái có đều là cái thấy của ta. Sự thật vượt ra ngoài cái không và cái có. Cái ta cho là không, thật ra là có và cái ta cho là có, chưa chắc đã thật có, nó có thể là không.

Trong bình diện bản môn, có cái không có sinh, nghĩa là không có diệt; có cái không có có, mà cũng không có không; có cái không chế tác, mà cũng không có không chế tác; có cái không hình thành, mà cũng không phải là không hình thành.

Câu này là câu then chốt mà chúng ta có thể tìm thấy trong kinh Như Thị Ngữ (Itivṛttaka) và trong kinh Vô Vấn Tự Thuyết (Udāna). Chính nhờ tìm được mà chúng ta dịch được bài kệ này. Pali Text Society dịch ra tiếng Anh như sau:

Bhikkhus, there is a not-born, a not-become, a not- made, a not-compounded. Bhikkhus, if that not-born, not- become, not-made, not-compounded were not, there could be apparent no escape from this here, that is born, become, made, compounded.

Này các vị khất sĩ, có một cái không có sinh, không có hữu, không có tác, không có hành. Này các vị khất sĩ, nếu cái không sinh, không hữu, không tác, không hành không có mặt thì không có nẻo thoát cho những cái trên cuộc đời có sinh, có hữu, có tác và có hành.

Chúng ta có thể dịch như thế này:

Này các vị khất sĩ, trên bình diện hiện tượng, chúng ta thấy có cái có sinh, có diệt, có tạo tác, có hình thành. Nhưng ở chiều sâu bản thể, ta thấy có cái không sinh, không diệt, không có, không không, không tạo tác cũng không hình thành. Cái ấy là Niết bàn. Nếu không có cái ấy, thì không có lối thoát cho những cái có sinh, có hữu, có tác và có hành.

Cũng như những đợt sóng kia đang khổ đau, đang vùng vẫy tuyệt vọng trong thế có cao có thấp, có sinh có diệt của chúng. Nhưng nếu đợt sóng biết nó là nước, thì nó thấy có một nẻo thoát. Thấy được nẻo thoát, biết mình là nước rồi, thì đợt sóng vượt thoát được cái sinh, cái diệt, cái lên, cái xuống, cái cao, cái thấp. Lúc đó nó mới thật sự vui. Chưa thấy được mình là nước, thì đi lên đợt sóng mới vui, còn đi xuống thì nó lo sợ. Niết bàn là cái không cần phải đi tìm cầu đâu xa, nó nằm ngay trong tự thân của mình.

Tỳ-kheo hữu thế sinh

Hữu hữu hữu tác hành

Hữu vô sinh vô hữu

Vô tác vô sở hành

Có ba chữ hữu đi với nhau. Tại vì trong một câu kệ chỉ có năm chữ, nếu không chúng ta sẽ có câu: Hữu hữu hữu tác hữu hành. Như vậy là có bốn chữ hữu.

Chữ thế có thể nằm trước chữ hữu.

Này các vị Tỳ kheo, trên đời này có cái sinh, có cái hữu, có cái tác, có cái hành. Nhưng cũng có cái không sinh, có cái không hữu, có cái không tác, có cái không hành để làm nẻo thoát cho những cái có sinh, có hữu, có tác, có hành ấy.

Vô tác ở đây có nghĩa là không có một tác giả tồn tại ngoài tác nghiệp. Tác giả là người làm, là chủ thể; tác nghiệp là việc làm, là hành động. Ví dụ nói “mưa rơi”, thì mưa là tác giả, còn rơi là hành động, là tác nghiệp. Nhìn kỹ thì ta thấy ngoài rơi không thể có mưa, và ngoài mưa không thể có rơi. Mưa mà không rơi thì đâu phải là mưa nữa, mà chỉ là mây. Nói mây rơi là rất buồn cười. Nói mưa là đủ rồi, không cần nói mưa rơi nữa. Cũng như nói gió thổi. Gió mà không thổi thì đâu phải là gió nữa. Vì vậy, cả mưa lẫn gió đều không cần một chủ thể, một tác giả. Tác giả và tác nghiệp là hai ý niệm, không phải là hai thực tại riêng biệt. Không thể lấy tác giả ra khỏi tác nghiệp, không thể lấy tác nghiệp ra khỏi tác giả. Cả hai cái tác giả và tác nghiệp đều không tự đứng vững một mình. Cả hai đều không có bản chất riêng biệt, cả hai đều không có tự tính.

Trong tác phẩm Những bài kệ Thắng Nghĩa của Bồ tát Vô Trước, có bài kệ:

Các hành sát na diệt

Trú còn không, huống dụng

Cái sinh khởi của chúng

Là dụng, là kẻ làm.

Tất cả các hiện tượng đều sinh diệt trong từng sát na, sự có mặt của chúng còn không có huống là công dụng (tác dụng) của chúng. Phải nói rằng sự sinh khởi của chúng chính là công dụng của chúng, và cũng chính là tác giả của chúng.

Vô tác như vậy có nghĩa là không có tác giả và tác nghiệp như những thực tại riêng biệt, không có năng tác và sở tác như những thực tại riêng biệt. Cái thấy vô tác giúp ta dẹp bỏ tà kiến chấp ngã và đạt được bình đẳng tánh trí.

Vô hành ở đây có nghĩa là các hiện tượng (hành) không có bản chất, không có tự tính, chỉ là những tập hợp nhất thời không có thực thể. Hành được dịch từ chữ saṃskṛta, nghĩa là những pháp hữu vi. Các pháp hữu vi sinh diệt trong từng sát na, không có tự tính, không có bản ngã, bên trong trống rỗng không có thực chất. Hành có hai nghĩa: được hình thành và giúp làm hình thành những cái khác. Các hành nương vào nhau mà hình thành, cũng như cái trái nương vào cái phải mà biểu hiện, cái trên nương vào cái dưới mà biểu hiện, cái chủ thể nương vào cái đối tượng mà biểu hiện. Tiếng Anh dịch là conditioned (được hình thành, được tập hợp bởi các điều kiện), và conditioning (giúp hình thành, giúp cho các hành khác được biểu hiện). Nói hành là những pháp hữu vi (composed things) có nghĩa là phải chấp nhận có những pháp vô vi (uncomposed things) như Niết bàn, như không gian. Bởi vì hữu vi và vô vi là một cặp đối lập, một cặp tương đãi, như sinh tử, có không, tác giả tác nghiệp, v.v… Sự thực là pháp vô vi không thể thành lập ngoài pháp hữu vi, cũng như cái trái không thể có mặt nếu không có cái phải. Do đó, tưởng tượng có một cái Niết bàn tồn tại ngoài cái sinh tử, đó cũng là một tà kiến. Cho nên Niết bàn, cũng như đám mây hay bất cứ một hiện tượng nào khác, theo chính kiến (kinh Ca Chiên Diên) đều nằm ngoài hai ý niệm có và không. Do đó ta thường nghe câu “Niết bàn sinh tử thị không hoa.” (Niết bàn và sinh tử như những thực tại tách biệt chỉ là hai ý niệm, giống như những hoa đốm trong hư không, không phải là thực tại.) Năng hành (conditioner) và sở hành (conditioned) không phải là những thực tại riêng biệt.

Với vô hành, ta vượt được ý niệm vô vi và hữu vi, sinh tử và Niết bàn.

Bài kệ 12

Vãng lai tuyệt vô sinh tử

往來絕無生死

Sinh tử đoạn vô thử bỉ

生死斷無此彼

Thử bỉ đoạn vi lưỡng diệt

此彼斷為兩滅

Diệt vô dư vi khổ trừ

滅無餘為苦除

Cái qua lại đã hết, thì cái sinh tử cũng hết

Sinh tử hết thì làm gì còn phân biệt cái này cái kia?

Cái này và cái kia, cả hai ý niệm đều được chấm dứt

Cái tịch diệt tuyệt đối là cái vắng mặt của cảnh giới đau khổ.

Vãng lai tuyệt vô sinh tử: Vãng lai tuyệt là không còn có cái qua lại. No coming, no going. Cái qua lại chấm dứt thì làm gì có cái sinh tử nữa. Sinh tử là sự qua lại, sinh ra, chết đi, rồi sinh ra lại… Cái qua lại đã không còn, thì làm gì có sinh tử?

Sinh tử đoạn vô thử bỉ: Khi sinh tử đã chấm dứt, thì làm gì còn có cái này, cái kia? Cái này, cái kia là sự phân biệt. Cái này là tôi, cái kia là anh. Cái này là chủ thể, cái kia là đối tượng. Cái này là thân, cái kia là tâm. Tất cả mọi phân biệt đều không còn.

Thử bỉ đoạn vi lưỡng diệt: Cái này, cái kia chấm dứt, thì hai ý niệm cũng chấm dứt. Lưỡng có nghĩa là lưỡng nguyên (dualistic thinking, dualistic view). Đó là nhị thủ (double grasping). Chủ thể, đối tượng (thử, bỉ) đều bị diệt một lần.

Sinh tử hết thì cái này cái kia hết, cái này cái kia hết thì nhận thức lưỡng nguyên cũng bị tiêu diệt.

Diệt vô dư vi khổ trừ: Diệt hết, lấy đi hết làm cho yên lặng mọi ý niệm đó là sự chấm dứt khổ đau. Diệt vô dư là cái tịch diệt tuyệt đối. Đó là cứu cánh Niết bàn. Chữ diệt có nghĩa là diệt ý niệm của mình: ý niệm khổ- lạc, ý niệm động-tĩnh, ý niệm tới-đi…

Bài kệ 11

Ỷ tắc động hư tắc tịnh

猗則動虛則淨

Động phi cận phi hữu lạc

動非近非有樂

Lạc vô cận vi đắc tịch

樂無近為得寂

Tịch dĩ tịch dĩ vãng lai

寂已 寂已往來

Trong một bản in khác:

Ỷ tắc động hư tắc tĩnh

猗則動虛則静

Động phi cận phi hữu lạc

動非近非有樂

Lạc vô cận vi đắc tịch

樂無近為得寂

Tịch dĩ tịch vô vãng lai

寂已寂無往來

Ở trong hoàn cảnh động mà giữ được tâm thanh hư thì vẫn là tĩnh.

Trong cái động, không tiếp cận được Niết bàn, cũng không có an lạc.

Ý niệm về cái vui và cái khổ đã vượt qua rồi thì mới thực sự có cái tịch tĩnh

Vượt qua được cái ý niệm tịch tĩnh thì sẽ không còn cái qua lại nữa.

Ỷ tắc động hư tắc tĩnh: Chữ ở đây có nghĩa là tâm rỗng rang, tự do, lẳng lặng. Khi giữ được tâm lẳng lặng, rỗng rang thì dù ở trong hoàn cảnh có động thì tâm vẫn tĩnh. Chữ tịnh 淨 là in sai, phải là chữ tĩnh 静 mới đúng. Hư tắc tĩnh có nghĩa là nếu tâm ta rỗng rang, không vướng mắc thì dù ở trong hoàn cảnh động tâm vẫn yên lặng thanh tịnh.

Động phi cận phi hữu lạc: Trong cái động không tiếp cận được cảnh giới thanh tịnh của Niết bàn và không có an lạc.

Lạc vô cận vi đắc tịch: Vượt thoát ngay chính ý niệm về hạnh phúc (và về khổ đau) thì mới thật sự đi vào tịch tĩnh, tức đi vào Niết bàn.

Có cái khổ tương đối và cái vui tương đối, vượt thoát cái khổ tương đối và cái vui tương đối mới tới được cái vui tuyệt đối tức Niết bàn.

Tịch dĩ tịch dĩ vãng lai: Chữ 已 thứ hai là chép sai, trong một bản khác là chữ 無, vô vãng lai. Khi cái ý niệm về vắng lặng cũng đã vượt qua rồi, thì không còn có qua có tới.

Trước hết ta nghĩ Niết bàn là một không gian mà ta muốn đi tới. Ta muốn đi vào Niết bàn, nên ta có ý niệm về vãng lai. Vãng lai là đi vào, đi ra, đi tới, đi lui. Ta có những ý niệm như khổ hay vui, động hay tĩnh, tịch diệt hay không tịch diệt. Tất cả chỉ là những ý niệm. Khi ta đã vượt thoát những ý niệm đó rồi, ngay cả ý niệm Niết bàn là cái mà ta muốn đi vào, thì lúc đó ta không còn nhu yếu vãng lai, không còn chuyện từ ở ngoài đi vào Niết bàn, hay từ Niết bàn đi ra ngoài. Ta đã ở sẵn trong Niết bàn rồi.

Cũng như một đợt sóng đi tìm nước. Nó nghĩ: “Nếu mình là nước thì mình sẽ rất khỏe. Chỉ là sóng thì mình mới khổ, mình phải lên, phải xuống, phải có, phải không, phải cao, phải thấp. Đừng làm sóng nữa, phải làm nước đi thôi!” Và nó tìm cách đi vào nước. Nhưng thật ra, nó không cần phải đi vào nữa, tại vì sóng đã là nước rồi.

Bài kệ 10

Đổ vô trước diệc vô thức

覩無著亦無識

Nhất thiết xả vi đắc tế

一切捨為得際

Trừ thân tưởng diệt thống hành

除身想滅痛行

Thức dĩ tận vi khổ cánh

識已盡為苦竟

Đạt được cái vô trước và cái vô phân biệt,

Một khi buông bỏ được mọi ý niệm rồi thì sẽ vào được cõi ấy

Vượt thắng được ý niệm về ngã,

Điều phục được các tâm hành có tác dụng gây đau nhức

Và dứt bỏ được hoàn toàn cái tập khí nhận thức phân biệt kỳ thị, thì khổ đau không còn.

Đây là những chỉ dẫn rất cặn kẽ, rất chi tiết để chúng ta làm theo.

Đổ vô trước diệc vô thức: Đổ vô trước là thấy được, đạt được khả năng vô trước. Vô trước là không bị kẹt, không bị dính mắc vào. Thấy thì vẫn thấy, nghe thì vẫn nghe, nhớ thì vẫn nhớ, phân biệt thì vẫn phân biệt nhưng không bị dính vào. Diệc vô thức là không phân biệt, không kỳ thị.

Nhất thiết xả vi đắc tế: Một khi buông bỏ được mọi ý niệm rồi thì sẽ vào được cõi ấy. Xả là bỏ. Nhất thiết là tất cả. Nhất thiết xả là buông bỏ được tất cả. Tế là cõi, là không gian. Vi đắc tế là đạt được không gian đó.

Trừ thân tưởng diệt thống hành: Tưởng là một khái niệm, một nhận thức (perception). Thân ở đây có nghĩa là cái ngã.

Trừ thân tưởng là buông bỏ được ý niệm về ngã. Mỗi người chúng ta đều có thói quen coi cái thân, cái tâm của mình là cái ta, một cái ta thường còn, bất biến và đến khi xác thân này tiêu hoại thì nó hoặc vẫn còn hoặc bị hoàn toàn tiêu diệt. Đó là thân tưởng. Thân tưởng là ngã chấp (the perception of the self). Trừ thân tưởng là buông bỏ được ý tưởng “có một tự ngã riêng biệt”.

Diệt thống hành là làm chấm dứt tâm hành gây ra đau nhức như cái sợ, cái đam mê, cái ganh tị, cái giận hờn. Thân tưởng là ý niệm về một cái ngã, hoặc thường (vẫn còn y nguyên sau khi chết) hoặc đoạn (hoàn toàn tiêu diệt sau khi chết).

Thức dĩ tận vi khổ cánh: Thức dĩ tận là dứt bỏ hoàn toàn tập khí nhận thức phân biệt. Vi khổ cánh là khổ đau không còn nữa.

Bài kệ 9

Minh bất thanh tịnh năng ngự

明不清淨能御

Vô sở cận vi khổ tế

無所近為苦際

Kiến hữu kiến văn hữu văn

見有見聞有聞

Niệm hữu niệm thức hữu thức

念有念識有識

Trong một bản in khác:

Minh bất nhiễm tịnh năng ngự

明不染淨能御

Vô sở cận vi khổ tế

無所近為苦際

Kiến hữu kiến văn hữu văn

見有見聞有聞

Niệm hữu niệm thức hữu thức

念有念識有識

Sáng suốt, không để cho tâm ý bị nhiễm ô

Một khi đã được thanh tịnh hóa thì chế ngự được mọi dục ý.

Lúc ấy không còn phải tiếp cận với thế giới đau khổ nữa

Tuy rằng thấy thì vẫn thấy, nghe thì vẫn nghe, Nhớ thì vẫn nhớ, và biết thì vẫn biết.

Minh bất thanh tịnh năng ngự: Chữ thanh 清ở đâycó thể bị chép lầm. Trong một bản in khác là chữ nhiễm 染 . Minh bất nhiễm tịnh năng ngự: Minh bất nhiễm là sáng suốt, không để tâm ý bị nhiễm ô. Tịnh năngngự là: một khi đã đạt được sự thanh tịnh thì chế ngự được mọi dục ý.

Vô sở cận vi khổ tế: Lúc ấy không cần phải tiếp cận với thế giới khổ đau nữa. Nhưng như vậy không có nghĩa là mình tách rời sự sống. Tại vì trong khi có mặt, thì

Kiến hữu kiến văn hữu văn

Niệm hữu niệm thức hữu thức

Ta vẫn thấy những gì ta thấy, ta vẫn nghe những gì ta nghe, ta vẫn nhớ những gì ta nhớ, ta vẫn phân biệt những gì ta phân biệt. Nhưng ta không bị kẹt, không bị cuốn hút vào đó, ta vẫn giữ được tự do của ta. Ta vẫn là con người, vẫn thấy, vẫn nghe, vẫn biết, vẫn nhớ. Nhưng tất cả đối tượng đó không nắm bắt được ta, không làm cho ta mất tự do.

Bài kệ 8

Tâm nan kiến tập khả đổ

心 難見習可覩

Giác dục giả nãi cụ kiến

覺 欲者乃具見

Vô sở lạc vi khổ tế

無 所樂為苦際

Tại ái dục vi tăng thống

在 愛欲為增痛

Tâm khó thấy, nhưng thói quen có thể nhận ra,

Kẻ nhận diện được dục ý thấy được đầy đủ rằng

Không tìm thú vui trong dục lạc thì tránh được mọi thứ khổ

Và ái dục luôn luôn làm tăng trưởng niềm đau.

Tâm nan kiến tập khả đổ: Tâm nan kiến là mình khó thấy được tâm mình. Tâm không có hình tướng nên khó nhận diện, khó nắm bắt được. Tập là thói quen, là tập khí. Tập khả đổ có nghĩa là: thói quen thì có thể nhận diện được.

Mỗi chúng ta đều có thói quen, chính thói quen đó xúi đẩy chúng ta suy nghĩ, nói và làm. Nhiều khi chúng ta không muốn nói điều đó, nhưng nó đẩy chúng ta nói. Chúng ta không muốn làm điều đó, nhưng nó đẩy chúng ta làm. Chúng ta không muốn nghĩ về chuyện đó, nhưng nó đẩy chúng ta nghĩ. Đó là thói quen. Thói quen có thể từ tổ tiên, cha mẹ truyền lại, hay do huân tập từ hồi mình còn thơ ấu. Ngựa theo lối cũ. Tập là vāsanā, tiếng Anh có thể dịch là habit energy.

Tâm của ta, ta không thấy được; nhưng tập khí của ta thì ta có thể nhận diện được. Ta nhận diện bằng chánh niệm của ta. Chánh niệm là khả năng biết những gì đang xảy ra: cái đang xảy ra là ta đang bị thói quen áp đảo, thúc đẩy. Có hai loại thói quen:

Thói quen về nghiệp, nghiệp tập khí (karma-vāsanā). Nghiệp là hành động (action), nghiệp có ba hình thức:tư duy, nói năng và hành động. Ta có thói quen nghĩ như vậy, nói như vậy và làm như vậy. Có thể là thói quen tốt hay thói quen xấu. Khi làm theo thói quen tốt thì ta biết ta đang làm theo thói quen tốt. Ví dụ như khi nghe tiếng chuông ta ngưng suy nghĩ, nói năng và bắt đầu thở vô nhẹ nhàng. Mỗi khi nghe tiếng chuông, không cần ai nhắc hay bắt buộc, ta tự động làm như vậy. Đó là một thói quen tốt.

Ta tập đi thiền hành đã quen, nên khi đi ta đi thảnh thơi, và trong mỗi bước chân ta thưởng thức được sự thanh thản. Đi như vậy đã thành một thói quen. Mỗi buổi sáng, buổi chiều ngồi thiền, ta thấy khỏe khoắn. Ngày nào không ngồi thiền, ta thấy thiếu cái gì đó. Ngồi thiền đã trở thành một thói quen, một thói quen tốt.

Nhưng cũng có những thói quen xấu. Khi chúng ló đầu ra thì ta nhận diện được ngay, nhờ chánh niệm. Thói quen suy nghĩ như vậy, thói quen nói năng như vậy và thói quen hành xử như vậy.

Có một anh chàng người Mỹ tới xóm Thượng tu một tháng. Anh tu rất giỏi, làm việc gì cũng thong thả, từ tốn, không gấp gáp. Các thầy và các sư chú dạy anh rằng làm việc gì cũng nên làm thong thả, từ tốn. Xung quanh anh, người nào cũng làm như vậy nên anh được ôm ấp, bao vây bởi năng lượng từ tốn, thong thả. Trong ba tuần đầu tiên anh làm rất giỏi. Đến tuần thứ tư có lễ Thanks giving (Lễ Tạ Ơn), anh được gửi đi chợ mua sắm để về nấu cỗ. Đây là lần đầu tiên anh đi ra ngoài một mình không có tăng thân. Trong khi đi chợ, tự nhiên thói quen hấp tấp trở lại. Anh ta hối hả muốn làm cho xong việc để về. Nhưng vì đã được thực tập ba tuần rồi nên anh có khả năng nhận diện được. Anh thấy mình đang hấp tấp, vụt chạc, muốn làm cho xong để về. Anh nhận diện được tập khí đó và bất chợt thấy rằng cái thói quen đó là do má của anh truyền lại. Má của anh luôn luôn hấp tấp và anh đã tiếp thu cái tập khí xấu đó từ má. Thấy được, anh nhận diện và mỉm cười: “Hello mother, I know you are there!” (Chào Má, con biết là Má đang ở đó!) Khi nhận diện được thì anh trở về với chánh niệm, và trở lại sự từ tốn, thong thả trong khi đi chợ. Nương theo hơi thở, thì tập khí không còn lôi cuốn anh ta được nữa.

Nhận diện là một phương pháp rất hay. Ta không đàn áp, không trách cứ; chỉ nhận diện thôi. Pháp môn này được gọi là nhận diện đơn thuần. Ta không cần trách móc ta, ta không cần đàn áp tập khí. Khi nhận diện thì tập khí không làm gì ta được, và ta vẫn giữ được tự do của ta. Mỗi người chúng ta đều có nhiều tập khí, nhiều thói quen như vậy. Theo thói quen thì chúng ta làm đổ vỡ rất nhiều. Ta không muốn làm như vậy, ta không muốn nói như vậy, nhưng tập khí đẩy ta phải làm, phải nói như vậy. Người tu phải biết học thói quen nhận diện tập khí.

Không thể thấy được tâm, nhưng có thể nhận diện được tập khí. Trước hết là tập khí về suy tư. Có thể ta quen suy tư một cách tiêu cực, một cách nghi ngờ. Ta phải nhận diện tập khí của ta để đừng bị nó kéo theo. Đó là karma-vāsanā.

Thói quen thứ hai là nhị thủ tập khí. Nhị thủ tập khí là thói quen cho rằng có một chủ thể có mặt độc lập ngoài đối tượng và có một đối tượng độc lập với chủ thể. Đó là bị kẹt vào, là thủ. Nhị thủ là bị kẹt một lần vào hai cái, chủ thể và đối tượng.

Nhà khoa học bây giờ cũng đang còn bị vướng vào nhị thủ, cho rằng tâm thức ta và thế giới của thực tại ta đang nghiên cứu là hai cái riêng biệt nhau. Tiếng Anh gọi là double grasping. Ta cứ nghĩ rằng tâm thức của ta là một thực tại tồn tại độc lập ngoài đối tượng của nó. Đó là một tập khí rất sâu dày của con người. Ta không đạt tới giác ngộ được cũng là do tập khí nhị thủ này.

Ta có thể học hỏi để nhận diện được hai loại tập khí đó và từ từ chuyển hóa chúng.

Giác dục giả nãi cụ kiến: Giả là người (the one).

Người có thể nhận diện dục ý của mình là người có khả năng thấy được hoàn cảnh một cách rõ ràng. (The one who has the capacity to recognize his mind of desire will be able to see everything clearly.)

Ta có những mong cầu, những theo đuổi, những cái muốn nắm bắt. Đó là dục ý. Ta nghĩ ta không có hạnh phúc, ta đang không có hạnh phúc. Ta đang chạy theo, đang trông cầu, đang theo đuổi, đang ham muốn một cái gì đó. Đó cũng là một tập khí làm cho ta không có khả năng sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại. Trong giây phút hiện tại, có thể ta đang có đầy đủ điều kiện để có hạnh phúc liền, nhưng ta không có khả năng có được hạnh phúc ấy. (You do not have the capacity to be happy.) Lý do là vì ta có một dục ý, ta đang theo đuổi, đang muốn nắm bắt một cái gì đó. Ta tin rằng, nếu không nắm bắt được cái đó thì ta không có hạnh phúc. Vì vậy, người có khả năng nhận diện được dục ý mới có thể thấy được rõ ràng.

Vô sở lạc vi khổ tế: Chữ lạc có thể đọc là nhạo.

Nhạo là muốn, vô sở nhạo là không muốn đeo đuổi gì nữa. Ta như thế này đã là mầu nhiệm lắm rồi, ta không cần phải trở thành một người khác mới có hạnh phúc. (Be yourself, you don’t need to become someone else.) Tại sao ta không còn mong muốn gì nữa? Tại vì hiện bây giờ những điều kiện hạnh phúc của ta đã quá nhiều. Có được hai lá phổi để thở không khí trong lành cũng đã là hạnh phúc rồi. Trái tim của ta không bị nghẽn, hai mắt của ta còn sáng, mở mắt ra là ta có thể thấy được mùa xuân. Ta có rất nhiều điều kiện hạnh phúc; ta không cần đeo đuổi, chạy theo, nắm bắt gì nữa. Đó là vô sở nhạo, là aimlessness. Đó là cánh cửa giải thoát thứ ba trong ba cánh cửa giải thoát là không, vô tướng và vô tác. Nếu không còn đeo đuổi thì ta thoát ra được ngoài biên giới của khổ đau.

Tại ái dục vi tăng thống: Thấy rõ rằng, ái và dục, sự đam mê, sự đeo đuổi, luôn luôn làm tăng trưởng niềm đau của ta. Không đam mê, không theo đuổi là nền tảng của hạnh phúc.