Cửa giải thoát

Nghiệp

Trong đạo Phật thường nói ý là căn bản của hành động và lời nói. Khi suy nghĩ điều thiện thì lời nói sẽ lành và hành động khắc đẹp. Nghiệp là một thói quen, có tất thảy ba nghiệp: nghiệp thân, nghiệp khẩu và nghiệp ý. Nghiệp có thể là nghiệp nhân, nguyên nhân của hành động, nhưng cũng có thể là nghiệp quả, kết quả của hành động. Nghiệp nhân giống như là hạt giống, nghiệp quả ví như là quả. Khi tư duy (khởi tâm) thì nó trở thành một năng lượng, và năng lượng đó chỉ mới là hạt giống. Nhưng hạt giống thì thế nào cũng sẽ thành cây và kết trái.

Khi mình khởi tâm từ bi thì xung quanh mình là cả một thế giới từ bi. Khi mình khởi tâm muốn giết chóc hay muốn trả thù thì lập tức bên mình là cả một thế giới thù hận. Cho nên phải rất chánh niệm gìn giữ ba nghiệp thân, khẩu và ý, đừng để cho những nghiệp xấu dẫn đi. Chỉ cần mình khởi lên một tâm ý thôi thì quả báo đã được hình thành ngay trong giờ phút ấy rồi. Tuy mình không thấy nhưng tâm niệm ấy đã đi tới người kia và đang ảnh hưởng lên người kia. Có nhiều cái mắt thường chúng ta không nhìn thấy nhưng nếu có ai đó biết chỉ cho chúng ta thì ta lại không tin. Trong không khí không có gì, nhưng trong không khí có hơi nước, hơi nước mình không thấy nhưng nó có hơi nước. Tư duy của mình mình không thấy nhưng nó đang hoạt động. Nó là một năng lượng, nó có mặt và nó đang lên đường. Khi mình có một tư duy rất từ bi, mình thương được người hay làm khó làm dễ mình, thì lúc phát khởi tình thương năng lượng ấy đã lên đường rồi. Tư duy cho đúng thì tâm tư của mình sẽ chuyển đổi được thế giới.

Khi chúng ta tư duy thì lời nói chính là kết quả của tư duy ấy, và hành động chỉ là kết quả chót cùng. Một tư duy thiện sẽ đem nhiều ánh sáng đến cho thế giới. Còn tư duy mà bất thiện thì nó sẽ có hại cho thế giới. Cho nên thế giới này có phẩm chất nhiều hay không là do sự đóng góp của mình. Mình sinh ra ở thế giới này thì mình là nghiệp quả của thế giới này. Và mình đang ở đây là do những nghiệp thân, khẩu và ý mà mình đã gây ra trong quá khứ nên mình sinh ra trong thế giới này.

Gieo gió thì gặp bão. Gió là nghiệp nhân, bão là nghiệp quả. Chúng ta biết đóa hoa là biểu hiện của một quả báo. Nói tới “quả báo” người ta hay nghĩ rằng đó là một kết quả xấu, nhưng thực ra không phải vậy. Quả báo của một người làm vườn giỏi là có được những chậu hoa rất đẹp. Nhưng nụ hoa đó không chỉ do một mình người làm vườn tạo ra mà có cả triệu nguyên nhân khác nữa: có nắng, có mưa, có phân bón… có rất nhiều thứ mới tạo ra được bông hoa đó. Dù là đóa hoa, cái bàn, hay cái đèn cũng vậy, cả tôi cũng vậy mà bạn cũng vậy. Sự biểu hiện này là do vô số nhân duyên, có hàng triệu nguyên nhân tới với nhau để giúp cho bông hoa biểu hiện. Trải qua trùng trùng duyên khởi mới tới được một nghiệp quả. Khi nhìn một đóa hoa mình tiếp xúc được với hàng triệu nguyên nhân. Các nguyên nhân tới từ người, từ cầm thú, cỏ cây, thế giới đất đá… Nếu có ai đem tới cho mình một đóa hoa, mình cám ơn người ấy không thì chưa đủ vì đóa hoa đó có mặt ở đây là do vô lượng nguyên nhân.

Những bạo động trong xã hội mà chúng ta đang thấy là kết quả của bao nhiêu tuyệt vọng bao nhiêu tức tối và bực bội đã tích tụ lại. Những chuyện đó mình tưởng là không dính líu gì tới mình, nhưng thật sự là mình cũng có phần trách nhiệm trong đó. Cách mình ăn uống, cách mình hành xử với chính mình cũng tạo nên những nguyên nhân phụ, nguyên nhân xa để đưa tới sự việc này. Do đó, mình có thể chuyển đổi thế giới bằng cách thay đổi lối tư duy, nói năng và hành động của mình. Phải thấy tất cả những gì xảy ra cũng từ cả một cộng đồng.

Trong mỗi một con người đều có biệt nghiệp và cộng nghiệp. Biệt nghiệp là những gì của riêng mình, như tên tuổi là riêng mình, mình là con của ông đó, bà đó, mình sống tại đó. Nhưng mình cũng có cộng nghiệp và gần nhất là gia đình mình. Cộng nghiệp lớn nhất là của xã hội, đất nước và địa cầu của mình. Một triết gia nói “ Con người là tổng thể của tất cả hành động của người đó ”. Tuệ giác có từ khăp muôn phương, không phải chỉ đạo Phật mới có tuệ giác. Những câu rất hay trong thánh kinh, cũng là tuệ giác. Nhìn kỹ và nhìn sâu để thấy hàng triệu nguyên nhân đến với nhau. Khi chúng ta chết thì chúng ta không thể nào trở thành hư vô được. Có một người hỏi tôi là chồng cô ấy đã chết và bây giờ đã đi đâu? Tôi trả lời: một đám mây không thể nào chết được, đám mây có thể thành mưa, thành tuyết, thành nước đá. Người thương của mình khi chết đi cũng chỉ là biến dạng thôi, biến dạng thành nhiều hình thức khác, phải thật thông minh, chăm chú ta mới tìm ra được người đó. Sự tan rã xác thân không phải là sự tan rã của người ấy. Người đó có rất nhiều năng lượng đang biểu hiện cùng khắp. Tư duy được chế tác ra mỗi ngày, mình có mặt trong thân thể mình nhưng mình cũng đang có mặt khắp nơi trên thế giới.

Trong quả báo có y báo và chánh báo. Chánh báo là mình và y báo là hoàn cảnh và môi trường xung quanh, y báo gần nhất là gia đình, làng xóm, xã hội và dân tộc mình. Chính mình cũng tạo ra môi trường của mình. Tại sao mình chọn chỗ này mà không chọn chỗ khác, đi tu chỗ này mà không đi tu chỗ khác? Mình tự chọn y báo cho mình, mình thấy tu chỗ này gần gũi với mình hơn. Trong mình có chánh báo, là sự lựa chọn của mình và y báo là môi trường mình tu. Mình nghĩ tất cả sự sống của mình gói trọn trong thân ngũ uẩn này, nếu trái tim này ngừng đập thì mình sẽ chết liền. Nhưng nhìn chung quanh sẽ thấy mình có những trái tim khác, tuy nó không nằm trong thân thể mình nhưng nó cũng là mình. Mặt trời là trái tim thứ hai, nếu không có mặt trời thì sẽ không có nắng, và cỏ cây cũng không mọc được, và không có mặt trời thì ta cũng không sống được. Lá phổi rất quan trọng với chúng ta nhưng không có rừng cây thì không có dưỡng khí, nếu không có dưỡng khí thì chẳng ai sống được. Khi ấy lá phổi, trái tim của mình dù có tốt đến mấy cũng chết thôi. Đừng tưởng rằng mình chỉ có một trái tim, mình có nhiều trái tim lắm.

Phá vỡ thế nhị nguyên

Có một chướng ngại rất khó vượt qua mà Bụt gọi là Nhị Nguyên. Nhị nguyên là khuynh hướng phân biệt của chúng ta giữa chủ thể và đối tượng.

Ta cứ tưởng chủ thể không dính níu gì tới đối tượng, nhưng nhìn kỹ thì chủ thể và đối tượng chỉ là một. Mình cứ nghĩ mình là chủ thể và Làng Mai là đối tượng, là cái bên ngoài. Nhưng phải có chủ thể thì mới có đối tượng, cho nên chủ thể và đối tượng là hai mặt của một đồng tiền. Không có đối tượng thì không có chủ thể và ngược lại, không có chủ thể thì không có đối tượng, hai cái tương tức với nhau.

Chúng ta nghĩ mình có một tri giác riêng biệt và bông hoa nằm ngoài tri giác của mình. Khi mình tới với bông hoa thì mình biết đấy là bông hoa. Con mắt chạm phải bông hoa sinh ra cái thấy. Cái thấy (chủ thể) và cái bị thấy (đối tượng) là hai mặt của một thực tại. Thực tại là thấy bông hoa, con mắt thấy bông hoa sinh ra nhãn thức. Ví dụ mình nói tới một tri giác, khi tri giác thì phải là tri giác cái gì, tri giác về bông hoa, mình tưởng bông hoa nó như vậy, tưởng về Làng Mai như vậy. Mình ráng phân biệt nụ hoa và người ngắm hoa. Vật thể được nhìn và chủ thể nhìn. Một cái tưởng có thể kéo dài chừng một sát na, đơn vị nhỏ nhất của một giây. Trong sát na đó chúng ta có một cái bóng về cái hoa. Thí dụ như trong đêm tối, có một người cầm một bó nhang đang cháy và quay nhiều vòng, thì mình có thể thấy được rất nhiều hình dạng của bó nhang. Nhiều điểm sáng liên tiếp nhau tạo ra một vòng tròn. Nhưng thật ra nó không phải là một vòng tròn. Một triết gia nói là hình ảnh của mình chỉ là một chuỗi dài của những tri giác. Mình mới hé thấy một chút về sự thật thì mình chắc mẻm nó là như vậy. Trong vật lý điện tử nói: “khi mình nhìn sâu vào những điểm nhỏ thì mình có thể thấy được cái tâm của mình ở trong đó”. Cái tâm mình bây giờ như vậy, nhưng chút nữa nó đã khác rồi.

Khi người cha, người mẹ nhìn con cái của mình thì phải thấy con mình là mình và phải thấy được cả cháu nội, cháu ngoại mình trong con của mình nữa chứ không phải chỉ thấy có con không thôi. Người con ngược lại phải thấy bố mẹ, ông bà, tổ tiên mình đang có trong mình. Sự tan rã của thân này không phải là sự tan rã của sự sống, nó có thể là một bước tiến mới, nó thể là một sự bắt đầu cho một cái gì đó rất thâm sâu và đẹp đẽ. Quả báo của mình giống như là một ngân hàng nếu mình tư duy thiện thì ngân hàng của mình đầy những quả báo lành, nếu mình tư duy bất thiện thì ngân hàng của mình đầy những quả báo xấu. Không có cái gì mất đi hết, nó chỉ biểu hiện từ hình thái này qua hình thái khác. Hơi nước bốc lên từ biển cả, sông hồ rồi gặp khí lạnh trên cao nó ngưng tụ lại thành một đám mây và khi đám mây nặng đám mây rơi xuống thành những cơn mưa và làm giọt nước trở lại.

Cá nhân và tập thể tương tức với nhau, không có tập thể thì không có cá nhân. Không có cá nhân thì không có tập thể. Lúc giận có thể mình hay nói “ Cuộc sống của con không dính líu gì tới ba má hết ” Nhưng cuộc sống của mình dính líu chặt chẽ với  những người mình thương. Mình nghĩ thần kinh thị giác chỉ là của riêng tôi thôi không dính gì tới người ngồi kế bên, nhưng nếu mình đi chung xe với 4 hoặc 5 người thì thần kinh thị giác của mình có liên can với 5 người kia. Khi cái xe đằng trước nhào tới mà người lái xe không phản ứng kịp và bị cái xe kia tông thì tất cả những người trên xe đều chết. Cái gì cũng có cá nhân và tập thể hết. Có những tập thể liên hệ ít và có những tập thể liên hệ nhiều. Những điều mình làm đều dính với nhau. Mình làm ở đây nhưng chỗ kia cũng bị ảnh hưởng. Khi tư duy thì mình tư duy cho cả thế giới chứ không phải cho riêng mình. Khi tha thứ được, thương được thì mình là người có hạnh phúc trước. Dù người đó có đối xử với mình như thế nào thì mình cứ vẫn thương. Có trách nhiệm với mình không thôi chưa đủ mà phải có trách nhiệm cả với thế giới.

Cho dù thân này có tàn hoại thì sự sống của mình vẫn tiếp tục, vẫn rất đẹp đẽ. Vì mình có khả năng sống với những gì Bụt dạy, sống với những tư duy hiền, tư duy biết điều, tư duy từ bi, đừng để cho những tư duy hận thù hay bạo động xâm phạm. Khi có chánh niệm thì sẽ có những tư tưởng từ bi. Ai cũng có Phật tính, đó là khả năng chánh niệm, tỉnh thức sâu sắc. Mình có quyền chế tác ra những tư tưởng từ bi. Tuy đang thực tập cho mình nhưng người khác cũng sẽ được hưởng lợi lạc từ sự thực tập ấy. Có những lúc mình đi không có chánh niệm và mình nói: thôi con sẽ đi cho Thầy, con đi bằng bàn chân của Thầy, đi với sự tỉnh táo thảnh thơi. Làm như vậy thì những vết thương trong lòng sẽ tự chữa lành. Đánh răng súc miệng cũng làm trong chánh niệm với niềm hạnh phúc là mình đang được sống.

Trong mỗi phút giây của đời sống mình phải tập như là đang ăn mừng sự sống. Nếu đợi trái tim ngừng đập rồi mới biết ăn mừng sự sống thì đã quá muộn. Cho nên phải ăn mừng sự sống ngay bây giờ. Vui mừng vì mình còn đôi mắt để thấy được những sắc màu kỳ diệu, có đôi chân khỏe để bước được nhưng bước thảnh thơi mà không cần phải ngồi trên xe lăn. Mình thực  tập để tiếp xúc với sự sống từng phút từng giây. Không ai có thể tới siêu thị để mua niềm vui và sự hiểu biết được mà phải tự mình nhìn sâu để tiếp xúc với những điều kiện hạnh phúc xung quanh. Muốn như thế thì lúc nào cũng phải đem thân về với tâm, an trú trong phút giây hiện tại và nở một nụ cười. Mình có thể nhìn người kia bằng con mắt từ bi. Bất cứ trong trường hợp nào mình cũng có thể nhìn lại để tạo ra một nguồn năng lượng lành và từ bi cho mình và những người xung quanh. Với những người đang có khó khăn với mình, mình cũng có thể gởi năng lượng lành tới người đó liền bây giờ chứ không cần gặp người đó mới gởi. Mỗi người là một nữ hoàng, là một quốc vương, chúng ta phải có khả năng xử lý vương quốc của chính mình. Đừng để cho những giận hờn, bực bội nhào tới tấn công, phải làm chủ lấy thân tâm và nhất định chỉ đi về hướng tốt lành thôi.

Bụt đã ngồi hàng giờ tại cội Bồ Đề và Ngài đang ngắm cái tánh không của mỗi người mỗi vật. “Không” ở đây không phải là không có gì hết, không phải là hư vô. Không có nghĩ là không có một thực thể riêng biệt, một sự kiện riêng biệt. Một thiền sư nổi tiếng ở thế kỷ thứ 2 là Long Thọ, ngài đã nói là nhờ không mà tất cả mọi sự mọi việc đều thực hiện được. Nhờ cái hoa không có cái ta riêng biệt nên nó nhận được ánh nắng mặt trời, đất và người làm vườn…, cho nên nó mới biểu hiện được thành một bông hoa. Nhờ tánh không của mọi sự mọi vật mà bạn mới biểu hiện được cũng như tôi mới biểt hiện được. Để cho cái ly này đầy thì trước hết nó phải có mặt. Ta phải biết phân biệt giữa chữ “hư vô” và “không thấy”. Không thấy không có nghĩ là không hiện hữu.

Trong đời sống vợ chồng mình phải tiếp xúc được với cái tánh không của đời sống lứa đôi. Khổ đau của mình hay của người kia không còn là cái riêng tư nữa. Hạnh phúc của mình phải là hạnh phúc của người kia. Tuyệt vọng của người kia cũng là tuyệt vọng của mình. Phải thấy được sự tương tức đó. Có một câu kệ là “năng lễ sở lễ tánh không tịch”, tức là người lạy và người được lạy đều có tánh không. Khi đứng trước Bụt mình “không” mà Bụt cũng “không” nghĩa là mình không có một thực thể riêng biệt mà Bụt cũng không có một thực thể riêng biệt,  nhờ vậy nên mình với Bụt mới tương tức. Con với Bụt là một cho nên mới “cảm ứng đạo giao nan tư nghì”. Nếu mình là mình người kia chỉ là người kia, không có tánh không thì mình sẽ không có truyền thông được với nhau.

Muốn có được truyền thông thì phải bỏ cái nhị nguyên. Nếu mình chưa thấy được tánh không của mình, của người khác hay của mặt trời, mình nói mặt trời ơi, nắng ơi, mặt trời và nắng là không cho nên nắng mới đi vào trong tôi được. Nếu như tôi có cái ta riêng biệt và chặn cùng hết thì nắng và mặt trời đâu vào được trong tôi. Mình phải thấy được sự hiện diện của người thương. Đừng để người đó mất đi thì mình mới thấy được người đó đang ở trong lòng mình. Mẹ mới mất nhưng mình cũng thấy rõ là mẹ đang ở trong mình, ba cũng đang ở trong mình. Nếu như con chỉ là con, mẹ chỉ là mẹ thì làm sao con cảm nhận được mẹ trong con? Mình cũng có thể nói với Bụt là: Con có trong Bụt và Bụt đang trong con. Nhận diện tính cách không của mình và nhận diện tính không trong Bụt. Tính không là một trong ba cánh cửa giải thoát : Không, vô tướng, vô tác. Đi qua được hai cánh cửa đó (không và vô tướng) thì thân tâm sẽ rất nhẹ nhàng. “Bồ Tát quán tự tại khi quán chiếu thâm sâu bát nhã ba la mật, tức diệu pháp trí độ bỗng soi thấy năm uẩn đều không có tự tánh, ngài vượt thoát tất cả mọi khổ đau ách nạn”. Nhờ thấy được tánh không mà mình vượt thoát buồn lo, giận hờn.

Vô Sinh Bất Diệt

Khi ngọn lửa cháy thì nó sẽ nuốt que diêm của tôi, điều này cũng đúng với tuệ giác về không. Ý niệm về không không thể cứu mình được, chỉ khi nào sống được với tánh không thì mới thoát khỏi ràng buộc hệ lụy. Phải tự tu, tự sống mới thấy được. Pháp của Bụt ví như một chiếc bè qua sông nhưng đừng để bị kẹt vào chiếc bè. Bức tượng Bụt có thể rất đẹp nhưng ta đừng để bị kẹt vào tượng Bụt.

Mình có thể sống với ý niệm về không. Cái bè không phải là bờ sông bên kia, cái bè chỉ là phương tiện đưa mình qua bờ. Và cái bè đó chính là cái ý niệm về không. Lắng nghe lời Bụt, lời Thầy cho sâu sắc, hết lòng thì tự khắc tàng thức của mình sẽ làm việc. Khái niệm không phải là sự sống.

Nhiều người biết rõ khái niệm về vô thường, nhiều khi họ còn giảng giải hùng hồn về vô thường nhưng không sống được với vô thường, vẫn hành xử như sự vật là thường. Nếu mình thương người này thì mình thương tuyệt đối, mình ghét người này thì mình ghét tuyệt đối giống như là người này xấu hoài xấu mãi vậy. Tốt hay xấu là do nhiều điều kiện đưa đến. Người này hôm nay như vậy nhưng ngày mai họ lại khác, cho nên mình đừng nên đóng khung họ lại mà phải sử dụng lưỡi kiếm vô thường để đừng bị kẹt. Biết được điều này thì mình phải làm cho người xung quanh hạnh phúc ngay lập tức. Mẹ không sống đời với mình, thầy cũng không sống cả đời với mình. Phải sử dụng cánh cửa vô thường để trân quý từng phút giâu khi được sống bên thầy, khi đang còn đầy đủ cả cha lẫn mẹ. Đó chính là tu. Mình phải làm cho cha mẹ, những người xung quanh có hạnh phúc ngay bây giờ. Em mình có thể đang mạnh khỏe nhưng biết đâu ngày mai nó bị xe đụng thì sao? ‎

Ý niệm về vô thường không phải là tuệ giác về vô thường. Phải sống được với ý niệm vô thường thì mới gọi là có tuệ giác vô thường. Khi bị bệnh thì chỉ cần biết là mình bệnh thôi, đừng để bị kẹt vào căn bệnh, đừng có khổ đau dằn vặt là tại sao hôm qua tôi đang khỏe mạnh mà hôm nay tôi lại như vậy. Vô thường thôi chứ có gì đâu, hôm qua mình khỏe thì hôm nay mình bệnh, hôm nay mình bệnh thì ngày mai mình cũng có thể khỏe, vô thường mà.

Có danh từ Niết Bàn. Niết Bàn là sự tắt ngấm mọi ‎ý niệm, để mình sống được với thực tại. Trái cam là một ý niệm, nhưng khi ăn trái cam vào thì nó là một sự thật. Đừng bị kẹt vào ý niệm vô thường, mình chưa có tuệ giác về vô thường, nên đôi khi mình bị kẹt vào ý niệm vô thường. Vô thường là một pháp, dùng pháp để giải thoát mình chứ đừng dùng pháp để nhốt mình vào một cái kẹt khác. Trong Kinh Kim Cương có nói “pháp mà còn bỏ huống là cái không phải pháp ”. Cả hai đều phải buông thì mình mới thâm nhập được vào pháp đó. Niết Bàn là sự tắt ngấm của những khái niệm. Khái niệm sinh ra và chết đi cũng là khái niệm, nhưng không có gì sinh ra và cũng không có cái gì chết đi hết.

Trong cuộc đời có những khái niệm làm cho mình rất khổ, khái niệm là tri giác, tri giác là cái thấy. Khi chúng ta nhìn sự vật thì chúng ta không thấy hết mà chỉ thấy được một phần của thực tại nên chúng ta khổ. Không có gì đến từ hư không hết. Tờ giấy không tới từ hư không, tờ giấy tới từ rất nhiều điều kiện: cây trong rừng, cây có từ mưa và từ nắng. Sự xuất hiện của cây và lá không phải tới từ sự sinh ra mà là sự tiếp nối của những sự sinh ra đó. Khi nhìn sâu vào tờ giấy mình thấy được kiếp trước và tương lai của nó. “Này tờ giấy của tôi ơi, em đang có mặt trong cuộc đời này, kiếp trước của em là nắng, là đất, là mưa, là cây. Bây giờ em biểu hiện thành một tờ giấy. Sự biểu hiện của em bây giờ là để tiếp nối đường đi thôi bởi vì mình không thể nào từ hư vô mà hiện hữu được”. Hư vô sẽ không thể trở thành hiện hữu. Không hiện hữu hay hiện hữu cũng là một khái niệm.

Khi tôi vẽ một đường thẳng và tôi chấm vào một điểm gọi điểm đó là năm tôi sinh. Mình nghĩ trước cái điểm sinh ra mình chưa là gì cả. Tới chỗ mình chết mình cũng nghĩ tới đây là hết. Nếu nghĩ rằng trước khi sinh ra ta là hư vô và sau khi chết đi ta cũng là hư vô thì đó là cái nhìn rất cạn, cái thấy ấy gọi là cái thấy nhị nguyên. Trước khi biểu hiện thành tờ giấy thì tờ giấy đó không phải tới từ hư vô mà tới từ rừng cây, từ nắng, từ mưa, từ đất, tới từ người nghĩ ra cách nghiền cây thành bột để làm giấy, cha mẹ của người công nhân làm giấy và hàng triệu nhân duyên khác nữa. Trải qua trùng trùng duyên khởi tờ giấu mới có mặt ở đây. Cho nên, thay vì nói “mừng ngày sinh nhật của bạn” thì mình nói, “mừng ngày tiếp nối đường đi của bạn”. Nếu điểm sinh ra là một điểm tiếp nối đường đi thì sự chết đi cũng chỉ là một sự tiếp nối đường đi. Khi thấy đám mây tiếp nối thành cơn mưa thì mình nói” “chào em, em nhớ tiếp nối đường đi cho giỏi nhé”. Ý niệm về sinh ra không áp dụng vào thực tại được. Nhìn sâu sẽ thấy rằng mình chỉ là một sự tiếp nối thôi. Bản chất của mình là không sinh không chết. Khi thấy được và sống được với cái thấy ấy thì mình không còn sợ hãi và đau buồn nữa. Mình không sợ rằng đang hiện hữu bỗng trở thành hư vô và cũng sẽ không còn sợ chết nữa.

Khi đủ điều kiện thì tôi sinh, khi không đủ điều kiện thì tôi cũng chấp nhận để trở thành cái khác. Mình cũng có thể lấy đi những ý niệm về hiện hữu và không hiện hữu. Ví dụ ta có một bao diêm. Nhìn bao diêm ta chưa thấy ngọn lửa, nên cứ tưởng rằng ngọn lửa không có mặt, nhưng thật ra nó đã có mặt sẵn đó rồi, chỉ cần thêm một nhân duyên là quẹt que diêm vào vỏ bao là ngọn lửa xuất hiện. Cho nên khi thấy bao diêm ta có thể nói: “Ngọn lửa ơi, ta biết em đang ở đó”. Khi ngọn lửa đang cháy mà bị tắt thì ta biết rằng vì những điều kiện mất đi nên ngọn lửa ẩn tàng chứ ngọn lửa không chết. Khi nhân duyên đầy đủ thì nó biểu hiện, khi điều kiện không đủ thì nó ẩn tàng, ẩn tàng nhưng vẫn còn đó.

Thượng đế là căn nguyên của sự sống là nền tảng của sự sống. Nếu thượng đế là nền tảng của hiện hữu thì ai là nền tảng của không hiện hữu? Nền tảng của Như Lai vượt trên những ý niệm. Như Lai là không từ đâu tới và cũng không đi về đâu. Nếu thượng đế được giải thích về cả hai mặt hiện hữu và không hiện hữu thì mới tương đương với Như Lai. Khái niệm hiện hữu không hiện hữu không diễn tả thực tại được và mình cũng không thể diễn tả thượng đế hiện hữu hay không hiện hữu. Đừng bỏ thượng đế và Như Lai vào trong hộp, mình phải giải phóng hết những ý niệm để thực sống và nếm được thực tại. Hiện hữu hay không hiện hữu không phải là vấn đề. Nhân duyên tới đâu thì tôi biểu hiện như vậy, khi nhân duyên không đủ thì tôi không biểu hiện dưới dạng khác. Mình không kẹt vào cái nào hết, tôi không đi về đâu hết. Thực tại của tôi là không đến không đi, không sinh không diệt. Đừng tả Như Lai theo kiểu đến và đi.

Đừng có ngồi đó khen hay mà không thực tập, ta phải thực tập để cho cái khái niệm về không đó đi được vào trong mình. Mình sống từng phút từng giây trong đời sống của mình như là không để mình tiếp xúc được với cái thực tại rất là không của mình. Và thực tại rất là không của người không dễ thương kia. Tại điều kiện nó như vậy nên người kia mới như vậy, tại điều kiện như vậy nên mình mới như vậy. Mình không có gì để tự hãnh diện, hay xem nhẹ người kia, hoặc đề cao người kia hết. Mình giải thoát khỏi những ý niệm rất cạn.

Vô Tướng

Cánh cửa giải thoát thứ hai là vô tướng. Đừng bị kẹt vào tướng. Nhìn sâu để tiếp xúc với cái tính chân thật của sự vật vốn là không, không có cái ta riêng biệt, vì không có cái ta riêng biệt nên những điều kiện mới có thể vào – ra được. Bị vướng mắc vào đám mây, cho nên khi đám mây mất mình khóc rất nhiều. Mình bị kẹt vào hình tướng nên khi mẹ mất mình khổ bởi vì mẹ không còn biểu hiện ra trong hình tướng này nữa. Mình đang kẹt vào cái hiện hữu và không hiện hữu. Phải biết là người đó chỉ ẩn tàng thôi và sẽ biểu hiện ra dưới những hình thái khác. Đừng để bị lường gạt bởi những cái nhìn cạn cợt của mình. Người thương của mình đang có mặt trong những hình thái mới. Người kia đã mất nhưng mình cũng biết là người đó vẫn còn có trong mình và mình nói “ anh ơi em biết anh vẫn đang còn có đó cho em và em nghe anh còn sống rất nhiều trong em” mình phải cảm nhận được người thương của mình trong mình.

Vô Tác

Đừng có để một cái gì trước mặt rồi chạy theo dù là quả vị Bụt, tại vì quả vị Bụt đang có trong mình và đang ở đây, tại mình không khám phá thôi. Nếu như mình muốn sinh vào cõi Tịnh Độ thì đừng có chạy đi tìm Tịnh Độ vì cõi tịnh độ đang có mặt bây giờ và ở đây. Nếu muốn thành Phật thì mình đã và đang thành Phật. Mình đã là cái người mà mình muốn chạy theo. Như là hoa sen, nó đã đủ đẹp rồi, nó không cần trở thành một bông cúc. Nếu có đủ niệm định và tuệ thì hạnh phúc, niềm vui ở cõi Tịnh Độ đang có mặt với chúng ta. Bầu trời xanh, tiếng chim hót là tịnh độ. Chúng ta có thể rong chơi trong cõi tịnh ấy.

Có thể dùng bùn để chế tác ra hoa sen, dùng những cái rủi ro trong cuộc đời để làm nên hạnh phúc. Hãy học cách dừng lại mà đừng tiếp tục chạy, chạy sẽ chỉ gây nên tàn phá mà thôi. Nếu bước một bước và mình dừng lại được với giây phút hiện tại thì mình đang thực tập vô tác. Tiếp xúc bây giờ và ở đây thì mình sẽ tiếp xúc ngay với Tịnh Độ. Cõi Tịnh Độ lúc nào cũng có mặt cho mình, chỉ tại mình cứ mải mê chạy theo hết cái này tới cái kia nên không có mặt cho cõi tịnh mà thôi. Hạnh phúc là cái có thể sờ mó được mà không cần chạy theo. Không cần có thêm một điều kiện nào nữa để đạt hạnh phúc.

Trong thánh kinh có câu truyện kể về một người nông dân khám phá ra trong một thửa ruộng nhỏ có một kho tàng. Trở về nhà ông bán hết tất cả những mảnh ruộng của mình đi bởi vì ông đã có cả một kho tàng rồi. Cái kho tàng đó chính là cõi Tịnh Độ của mình. Nếu mình có khó khăn thì mình sẽ dùng chính cái bùn đó để làm nên bông sen. Tu tập là tập dừng lại. Đừng đợi tới khi chết mới về cõi Tịnh Độ, phải thấy là cõi Tịnh Độ đang có mặt ở đây. Mình có thể bước vào cõi Tịnh Độ bằng chánh niệm. Một phút chứa đựng cả thiên thu. Cõi tịnh độ là một cái gì đó rất thật, rất rõ ràng không phải chỉ là ý niệm. Mỗi bước chân có ý thức mình có thể đi trong cõi Tịnh. Tu tập như vầy thì chúng ta sẽ chữa lành những buồn khổ của chúng ta và đồng thời cũng chữa lành quả địa cầu này. Bụt vốn là một người rất đơn giản nên những điều Ngài dạy cũng rất đơn giản, không rắc rối mà thật thâm sâu.

Chúng ta là một gia đình tâm linh. Tăng thân của chúng ta có mặt cùng khắp, và tình huynh đệ là cái gì đó có thật. Những lời dạy của Bụt là những điều Bụt đã trao truyền để làm tỉnh dậy đức Bụt trong lòng ta. Phải tu nếu không sẽ uổng lắm.

Gìn giữ cho nhau

Kính thưa Tổng Thống,
Kính thưa các vị chức sắc tôn giáo và quý vị nhân sĩ có mặt hôm nay tại hội nghị Thượng Đỉnh,

Tôi còn nhớ vào những năm sáu mươi, thanh niên Mỹ khi xuống đường để đòi chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam thường hay hô lớn khẩu hiệu ‘Make love, not war’ (Chỉ nên làm tình mà không nên làm chiến tranh). Hồi đó tôi đã từng suy ngẫm nhiều về khẩu hiệu này. Tình mà họ nói đây là thứ tình gì? Có phải là tình yêu chân thực không hay chỉ là sự đi kiếm tìm nhục dục? Nếu chỉ là sự đi kiếm tìm nhục dục thì tình ấy cũng là một thứ chiến tranh. Tôi cũng còn nhớ là vào năm 1971, trong trận chiến giành độc lập cho Bangaladesh, 200.000 người phụ nữ Bangaladesh đã bị quân lính hiếp dâm, và 40.000 người trong số đó đã có thai. Như vậy người ta đã vừa làm tình vừa làm chiến tranh, và tình ở đây đồng nghĩa với chiến tranh vì tình ở đây có nghĩa là bách hại, tàn phá, gây khổ đau và chết chóc.

Tình thương chân thật (true love), theo chúng tôi, luôn luôn có mang theo trong nó yếu tố chánh niệm, khả năng bảo hộ và ý thức trách nhiệm. Tình yêu này có năng lực của tự giác, hiểu biết và từ bi. Tất cả các nhà thờ, giáo đường và chùa viện của các tôn giáo đều phải có bổn phận dạy cho tín đồ của mình thứ tình yêu chân thực ấy, dạy như thế nào để cả người lớn lẫn trẻ em đều có thể thực tập được. Trong truyền thống đạo Bụt, giới thứ ba của Năm Giới dạy rằng ta không thể có liên hệ sinh lý với những người không phải là vợ hay chồng của ta, rằng ta phải bảo hộ cho ta và cho kẻ khác, và phải có ý thức về những khổ đau mà ta có thể mang lại cho ta và cho kẻ khác vì hành động dâm dục không có tinh thần trách nhiệm của mình. Nếu không giữ giới này, ta tự hủy hoại đời ta và hủy hoại đời của những người ta thương và cũng đồng thời hủy hoại cả xã hội.

Thương yêu có chánh niệm mới đích thực là thương yêu. Ta có thể thực tập chánh niệm ngay trong ngày hôm nay và sự thực tập này đem tới cho ta một sự bảo hộ có liền trong tức khắc. Tất cả mọi thành phần của tăng thân hoặc của giáo xứ đều phải thực tập chánh niệm về sự liên hệ sắc dục, nghĩa là giữ giới thứ ba. Làm được như thế ta lập tức bảo hộ được bản thân ta, gia đình ta, giáo xứ của ta và xã hội của ta. Vai trò của người lãnh đạo tôn giáo, vai trò của người tu sĩ, người giáo sĩ và người mục sư là phải tự bảo hộ lấy thân mạng mình và giáo xứ của mình. Nếu không làm được như thế thì làm sao họ có thể giúp được những giới khác và những đoàn thể khác trong xã hội? Khi mới ngồi vào máy bay, chiêu đãi viên luôn luôn nhắc chúng ta là trong trường hợp thiếu dưỡng khí ta phải tự mang mặt nạ dưỡng khí cho ta trước đã rồi mới nên giúp những người khác làm như thế. Về vấn đề bệnh SIDA cũng vậy. Bản thân ta, gia đình ta và giáo xứ ta phải là đối tượng đầu của sự thực tập bảo hộ. Yếu tố tỉnh thức và giác ngộ phải có mặt, phải được chế tác trong tăng thân và đoàn thể tu học của chúng ta trước. Tất cả trẻ em và người lớn trong tăng thân và đoàn thể tu học của ta phải được học hỏi về những sự thật liên hệ tới bệnh SIDA và cách thức nhiễm độc của vi khuẩn HIV. Tất cả đều phải thấy được những khổ đau mà chứng bệnh này gây ra cho cá nhân, gia đình, đoàn thể và xã hội, khi ta không biết thực tập giữ gìn cho ta và cho mọi người.

Chánh niệm là năng lượng giúp ta ý thức được những gì đang xảy ra. Những gì đang xảy ra là những niềm đau nỗi khổ do bệnh SIDA gây nên, lớn lao và tràn ngập đến nỗi không bút mực nào có thể tả được. Trong năm 2000 này đã có trên 5 triệu người chết vì bệnh SIDA và hàng triệu người đã bị vi khuẩn HIV nhiễm độc. Các thành phần của giáo xứ hoặc tăng thân có bổn phận phải đánh thức giáo xứ và tăng thân dậy để tất cả đều thấy được hiểm họa lớn lao có một không hai này. Ý thức về khổ đau đang có mặt, đó là sự thật thứ nhất của bốn sự thật mầu nhiệm gọi là Tứ Diệu Đế. Trong suốt 45 năm giáo hóa, Bụt thường nhắc lại câu nói này: ”Tôi chỉ dạy về khổ đau và sự chuyển hóa khổ đau thôi.” Chỉ khi nào nhận diện được khổ đau ta mới có thể nhìn sâu vào tự tính của khổ đau và khám phá ra những nguyên nhân đã đưa tới khổ đau ấy. Có thể là chỉ cần một, hai hoặc ba tuần lễ để học hỏi và quán chiếu về khổ đau và nguyên do của khổ đau thì cọng đồng tu học của ta, giáo xứ của ta sẽ bừng tỉnh dậy về sự thật bi đát của hiểm họa SIDA và vi khuẩn HIV đang xảy ra trong cọng đồng và trên thế giới. Khi tất cả tăng thân hoặc giáo xứ của ta đều ý thức được rõ ràng về thực tại khổ đau và những nguyên nhân của khổ đau thì mọi người sẽ biết nên làm gì và không nên làm gì để tự bảo vệ cho cả tăng thân hoặc giáo xứ của mình. Hành động cho kịp và thích ứng thì ta có thể chuyển hóa khổ đau thành an lạc và giải thoát.

Trong cuộc sống hàng ngày vì chỉ biết tiêu thụ trong thất niệm nên chúng ta đã góp phần tạo ra những khổ đau trong hiện tại. Đức Thế Tôn nói: ”Không có gì có thể sống sót được nếu không có thức ăn.” Tình thương không sống được nếu không có thức ăn. Khổ đau cũng không sống được nếu không có thức ăn. Vì vậy nếu ta biết nhìn sâu vào bản chất của khổ đau ta và nhận diện được nguồn thực phẩm mà ta đã sử dụng để nuôi nấng nó, thì chúng ta đã bắt đầu đi vào con đường giải thoát và trị liệu. Những sản phẩm ta tiêu thụ hàng ngày để giải trí đã là một nguồn suối sâu dày của khổ đau. Phim ảnh, truyền hình, quảng cáo và sách báo, v.v.. đã cung cấp cho ta và cho con em ta những loại thức ăn mà mỗi chúng ta tiêu thụ hàng ngày qua sáu căn là mắt, tai, miệng, lưỡi, thân và ý. Những hình ảnh và âm thanh kia hàng ngày xâm chiếm và tràn ngập giác quan và tâm thức ta, và phần lớn đều có tác dụng tưới tẩm những hạt giống thèm khát, tuyệt vọng, bạo động và căm thù trong ta và trong giới trẻ. Con em chúng ta đã bị đầu độc quá nhiều bởi những độc tố ấy. Biết bao nhiêu tuổi trẻ đã chết đuối trong biển ma túy, nghiện ngập và dục tình. Vì vậy nếu ta biết thực tập chánh niệm trong khi tiêu thụ các sản phẩm gọi là văn hóa ấy thì ta có thể chấm dứt được tình trạng bị đầu độc của thân và tâm ta.

Trong đạo Bụt có sự thực tập Năm Giới để hướng dẫn cho ta nhận diện được những thực phẩm nào mà chúng ta sắp tiêu thụ. Nhờ chánh niệm ta có thể thấy được độc tố trong các loại thực phẩm gọi là đoàn thực, xúc thực, và tư niệm thực để chúng ta có thể khước từ không tiêu thụ chúng, không đưa những độc tố ấy vào trong thân tâm ta. Chúng ta phải thực tập để chỉ tiêu thụ những thực phẩm lành mạnh có thể nuôi dưỡng thân và tâm ta. Tại các chùa, nhà thờ và thánh đường, mọi người phải có cơ hội tiếp nhận những giáo lý và những phép thực tập chánh niệm như thế. Thành phần nào của tăng thân và của giáo xứ cũng phải được hướng dẫn học hỏi và thực tập chánh niệm trong việc tiêu thụ. Để thực tập cho dễ thành công, mỗi người phải nương vào đoàn thể tu học của mình. Có nương vào tăng thân ta mới có đủ sự hướng dẫn, soi sáng và yểm trợ để có đủ năng lượng mà thực tập.

Tái lập truyền thông

Thực tập chánh niệm cũng giúp ta thiết lập lại được truyền thông với những người trong gia đình và quyến thuộc. Hạnh phúc chỉ có thể có mặt khi có hòa khí. Nếu ta không biết thực tập các phép lắng nghe và ái ngữ thì ta không thể tái lập được truyền thông giữa cha mẹ con cái và anh chị em. Khổ đau có thể đã phát sinh vì thế, và do đó cá nhân mới đi tìm sự khuây khỏa và lãng quên trong sắc dục, hút xách, rượu nồng và ma túy. Thảm trạng HIV / SIDA có liên hệ mật thiết đến vấn đề truyền thông trong gia đình, bởi vì thiếu sự truyền thông cho nên người ta mới đi tìm đến với sắc dục và ma túy. Mà sắc dục và ma túy là hai nguyên do chính đưa tới nhiễm độc HIV/ SIDA . Số người bị bệnh SIDA vì sử dụng kim chích ma túy rất nhiều, những chiếc kim này đã được những người có bệnh SIDA sử dụng trước đó. Trưởng giả Duy Ma Cật nói: Tại vì chúng sanh bệnh nên tôi bệnh. Khi cả thế giới bị thảm họa SIDA tàn phá, và hàng chục triệu người đang rên siết dưới gánh nặng của khổ đau vì tuyệt vọng thì ta không thể làm ngơ. Chỉ kêu gọi chính quyền và các tổ chức thiện nguyện thì chưa đủ.

Các nhà lãnh đạo tôn giáo phải bắt đầu xây dựng tăng thân, cọng đồng và giáo xứ của họ bằng cách là phải thực tập những điều mà chính mình đang hô hào, kêu gọi và giảng dạy. Các vị giám mục, mục sư, linh mục và trú trì phải đứng lên làm gương cho cọng đồng của họ bằng sự tu tập của chính mình. Phải tái lập được sự truyền thông ngay trong chính cộng đồng tôn giáo của mình, phải hòa giải được với tất cả mọi thành phần của tăng thân – trong phạm vi giáo xứ, trong phạm vi gia đình và giữa những cộng đồng với những chủng tộc khác biệt trong mỗi thành phố. Sự thực tập này rất quan trọng. Khi cộng đồng đã có sự hài hòa, có sự học hỏi và quán chiếu về những khổ đau và những nguyên nhân gây ra khổ đau trong phạm vi hiểm họa SIDA thì mới có thể thành công. Nếu đoàn thể tôn giáo của ta đã có giác ngộ và hiểu biết về tình trạng hiểm họa, thì cái hiểu tự nhiên đưa tới cái thương. Chính yếu tố hiểu và thương này sẽ đem lại rất nhiều an ủi cho các nạn nhân của bệnh HIV và SIDA . Chúng ta biết rõ rằng thuốc men không đủ để đối phó với hiểm họa. Những người bị nhiễm độc HIV và có bệnh SIDA thường bị kỳ thị, hắt hủi, sống trơ trọi ngoài lề gia đình và xã hội. Tăng thân hoặc giáo xứ phải cung cấp tình thương và sự hiểu biết cho họ, thì sự chữa trị mới có thể thành công. Nếu không thực sự có hiểu và có thương thì ta sẽ không làm được gì cụ thể để giúp những người đang khổ đau, dù ta có rất nhiều tài năng và thiện chí.

Dựng lại tăng thân

Sự thực tập chánh niệm chỉ thành công lớn trong phạm vi tăng thân, nghĩa là trong một đoàn thể mà ai cũng nguyện sống trong tỉnh thức và trong tinh thần hòa hợp. Có nhiều cái ta không làm được khi ta làm một mình, nhưng cùng với tăng thân thì ta lại làm được. Sống với tăng thân, ta thực tập đi, đứng, nằm, ngồi trong chánh niệm, thực tập thiền tọa, thiền hành và ăn cơm im lặng rất dễ dàng. Chúng ta cũng thực tập tiêu thụ trong chánh niệm một cách rất dễ dàng, tại vì tăng thân luôn luôn có đó để soi sáng cho ta và yểm trợ cho ta thực tập. Theo tôi thì xây dựng tăng thân là công trình cấp thiết và đáng giá nhất của thời đại chúng ta.

Trong truyền thống đạo Bụt, sau khi tiếp nhận Năm Giới, cứ mỗi nửa tháng người ta lại tập họp với nhau tại chùa để tụng giới và dự pháp đàm về Năm Giới để chia sẻ kinh nghiệm thực tập và tìm thêm những cách thức hữu hiệu hơn nữa để áp dụng Năm Giới vào đời sống hàng ngày. Vị giáo thọ hay trú trì thường tham dự trọn buổi pháp đàm, đóng góp tuệ giác và kinh nghiệm của mình và hướng dẫn cho tín đồ bằng kinh nghiệm tu tập của mình. Nếu có cá nhân nào trong tăng thân gặp khó khăn thì tăng thân có đó để yểm trợ cho người ấy. Một tăng thân đích thực là một tăng thân có mang trong nó sự có mặt của Phật thân và Pháp thân. Điều này cũng tất nhiên phải đúng trong các truyền thống tôn giáo khác. Tăng thân với tăng nhãn (mắt Tăng) của mình, nhờ sự thực tập và quán chiếu, sẽ có thể hiểu được tình trạng khó khăn của ta và chỉ bày cho ta phương thức dẫn ta ra khỏi tình trạng ấy, giúp cho ta tự bảo hộ ta, bảo hộ gia đình và xã hội của ta.

Ngày nay, tuổi trẻ bỏ nhà thờ rất nhiều, tại vì nhà thờ không cung cấp cho họ những giáo lý và thực tập thích hợp với hoàn cảnh của họ. Nhà thờ không đáp ứng được với những nhu cầu có thật của tuổi trẻ. Làm mới lại giáo hội bằng cách giảng dạy những gì thích hợp và cung cấp những phép hành trì thích hợp với tuổi trẻ, đó là cách duy nhất để đưa tuổi trẻ trở về lại với giáo hội. Ta phải làm mới giáo hội và đoàn thể của ta lại bằng sự thực tập xây dựng tăng thân. Xây dựng tăng thân trên nền tảng thực tập chánh niệm – vì chánh niệm sẽ đem tới hiểu biết, thương yêu và năng lượng bảo hộ và hòa giải. Người lãnh đạo giáo hội, dù xuất gia hay tại gia, đều phải tự mình thực tập trước đã. Chúng ta phải dạy bằng thân giáo của mình. Giới trẻ sẽ không tin ta nếu ta không sống theo điều ta dạy. Vấn đề then chốt của HIV và SIDA là vấn đề hành xử, vấn đề giữ giới. Đó là thực tập chánh niệm. Nếu ai cũng có tăng thân để bảo hộ và soi sáng cho mình để mình có thể biết mình đang hành xử như thế nào thì mình sẽ không còn mang lại khổ đau cho chính bản thân và cho gia đình và xã hội mình nữa.

Đi vào Tịnh Độ

Tôi thường nhắc nhở các giới đệ tử của tôi rằng năng lượng chánh niệm chế tác do sự thực tập hàng ngày cũng tương đương với năng lượng của Thánh linh. Mỗi chúng ta đều có hạt giống chánh niệm trong tâm. Nếu ta biết thực tập thở trong chánh niệm, đi đứng trong chánh niệm, nằm ngồi, làm việc và tiêu thụ trong chánh niệm, thì hạt giống ấy sẽ trở thành một nguồn năng lượng sinh động trong ta, bảo hộ ta, giúp ta hiểu, thương và hành động đúng theo chánh pháp. Đối với người Cơ Đốc và Do Thái, điều này tương đương với sự sống hàng ngày đặt trong sự có mặt của Thượng Đế. Tôi đã chỉ dạy cho rất nhiều người bị bệnh nan y, giúp cho họ tập đi trong Tịnh Độ hay trong nước Chúa mỗi ngày. Nếu ta biết trở về với hơi thở chánh niệm và thực hiện được trạng thái thân tâm nhất như thì ta sẽ không còn bị ràng buộc bởi quá khứ và tương lai vì ta sẽ có khả năng bước ngay vào Tịnh Độ hay là vào nước Chúa trong giây phút hiện tại, và tiếp xúc được với tất cả những nhiệm mầu có mặt trong ấy. Nếu ta có thảnh thơi và tự do, thì Tịnh Độ có mặt ngay trong giờ phút này.

Tự do đây không phải là tự do chính trị; đó là sự giải thoát khỏi mọi lo lắng, đau buồn, sợ hãi và nuối tiếc. Thiết lập được thân tâm vững chãi trong giây phút hiện tại là ta có thể bước ngay được vào Tịnh Độ hay là trong nước Chúa. Riêng tôi, ngày nào tôi cũng thực tập đi trong Tịnh Độ. Dù tôi đang ở trong một nhà ga hay tại một phi trường, dù tôi đang ở trên Vạn Lý Trường Thành hoặc bên sườn núi Thứu, tôi đều có cơ hội bước đi thảnh thơi trong Tịnh Độ. Tịnh Độ hoặc nước Chúa là nơi mà chánh niệm, hiểu biết, thảnh thơi và từ bi có mặt. Đó là định nghĩa Tịnh Độ của tôi. Trong chúng ta ai cũng có khả năng chánh niệm, ai cũng có khả năng an trú trong hiện tại. Ta chỉ cần thực tập để khả năng ấy hiển lộ và lớn lên. An trú trong hiện tại, ta tiếp xúc được với những mầu nhiệm trong ta và quanh ta. Đôi mắt của quý vị là một mầu nhiệm. Trái tim của quý vị là một mầu nhiệm. Trời xanh là một mầu nhiệm. Tiếng chim hót là một mầu nhiệm. Nếu quý vị có mặt được cho những mầu nhiệm ấy thì những mầu nhiệm ấy sẽ có mặt được cho quý vị. Tất cả những mầu nhiệm của Tịnh Độ đang có mặt cho quý vị ngay trong giờ phút này. Chỉ sợ quý vị không có mặt cho những mầu nhiệm ấy mà thôi. Nước Chúa đang có mặt trong khoảnh khắc này đây và tại ngay đây. Câu hỏi cần hỏi là quý vị đang có mặt cho nước Chúa hay không mà thôi. Nếu thực tập giỏi quý vị sẽ thấy Tịnh Độ có mặt trong từng tế bào của cơ thể quý vị. Không gian vô cùng và thời gian vô tận đang có trong từng tế bào. Và quý vị có thể bước đi thảnh thơi trong từng tế bào của cơ thể quý vị. Đây là giáo lý mầu nhiệm của kinh Hoa Nghiêm.

Khi chánh niệm của ta vững mạnh, khi ta tiếp xúc được năng lượng của Thánh linh, ta sẽ có thể đi tới kiến tánh, nghĩa là thấy được tự tánh của chúng ta. Kinh Pháp Hoa dạy rằng thực tại có thể được tiếp xúc qua bản môn hoặc tích môn. Về phía tích môn, ta thấy có sinh có diệt, có còn có mất, có tới có đi. Về phía bản môn, ta thấy tự tính của ta là vô khứ vô lai, bất sinh bất diệt, không còn không mất. Trong Phật giáo, bản môn là tự tính, là niết bàn – Trong Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo, ta có thể gọi đó là Thượng Đế. Nếu quý vị là tín hữu Ki-tô giáo, thì chắc chắn quý vị không thể nói rằng Chúa Ki-tô chỉ bắt đầu hiện hữu sau khi được sinh ra trong máng lừa và không còn hiện hữu nữa sau khi bị đóng đinh trên cây thập tự. Không! Tự tính của Chúa Ki-tô là vô sinh bất diệt. Sinh diệt không thể động tới Ki-tô. Đạo Bụt ưa sử dụng danh từ biểu hiện hơn là danh từ tạo sinh. Nếu ta quán chiếu về tự tính của tạo sinh qua tuệ giác biểu hiện ta sẽ khám phá ra nhiều điều mới lạ.

Xin mời quý vị nhìn vào hộp diêm trong tay tôi đây và cho tôi biết quý vị có thấy ngọn lửa có mặt hay không. Dù ngọn lửa chưa biểu hiện, quý vị cũng không thể nói rằng nó không có mặt. Nó đang có mặt trong những điều kiện sẽ làm cho nó biểu hiện. Tất cả mọi điều kiện làm cho ngọn lửa biểu hiện đã đầy đủ, chỉ thiếu một điều kiện chót, đó là một động tác của bàn tay tôi, động tác quẹt que diêm vào vỏ hộp diêm. Ngọn lửa ơi, ngươi hãy biểu hiện đi. Tôi đang quẹt diêm đây. Ngọn lửa đã biểu hiện rồi. Nó không phải là một sự tạo sinh (creation). Nó chỉ là một sự biểu hiện (manifestation). Sự giáng sinh của Chúa Ki-tô là một biểu hiện, không phải là một sự tạo sinh. Nếu thấy được điều này quý vị có thể tiếp xúc được với Ki-tô trong bất cứ giờ phút nào, bởi vì trong bản môn, Chúa Ki-tô là vô sinh bất diệt. Trong đạo Bụt, người ta thấy rằng không những Bụt Thích Ca và Chúa Ki-tô mới có tự tính vô sinh bất diệt mà tất cả chúng ta cũng như tất cả mọi hạt sõi và mọi chiếc lá đều có tự tính vô sinh bất diệt ấy. Nếu ta thực tập tiếp xúc được với tự tính không sinh diệt của ta thì ta sẽ vượt thoát được sự sợ hãi và mọi vọng tưởng điên đảo khác. Ta có thể sống an lạc vui tươi, dù hình hài ta chỉ còn tiếp tục biểu hiện trong vài tháng hoặc vài năm.

Tôi đã giảng dạy và huấn luyện cho nhiều bệnh nhân bị ung thư, SIDA và nhiều chứng bệnh nan y khác thực tập và sống trong tinh thần này. Nhiều vị đã có thể sống an lạc những giờ phút còn lại của sắc thân họ, và thọ mạng của nhiều vị đã được kéo dài. Có vị khi mới tới nói rằng bác sĩ của họ nói rằng họ chỉ còn sống được chừng ba tháng, nhưng nhờ thực tập, họ đã sống được tới mười lăm hoặc hai mươi năm. Tôi rất mong các nhà thờ, các thánh đường và các chùa viện cung cấp được giáo lý và sự thực tập tiếp xúc bản môn này cho những người bị HIV và SIDA và cho cả bất cứ ai, để mọi người có thể cùng được hưởng lợi lạc. Mỗi người tín đồ hoặc đạo hữu trong giáo xứ và tăng thân phải có cơ duyên thực tập để tiếp xúc được với tự tính bất sinh bất diệt của mình trong đời sống thường nhật. Tiếp xúc được thì ta sẽ có tuệ giác và năng lượng vô úy. Ta sẽ không còn sợ hãi và sầu đau nữa. Ta cũng như một đợt sóng, khi biết tự tính của mình là nước rồi thì không còn sợ hãi sự lên xuống ra vào nữa.

Khi đã có được chất liệu vô úy, ta sẽ trở thành pháp khí, sẽ có năng lượng độ đời và giúp người như các vị bồ tát. Tất cả những ai đã bị HIV và SIDA cũng có thể trở nên những vị bồ tát tự giúp mình và giúp người thức tỉnh để tự bảo hộ mình, bảo hộ người, giúp người vượt thoát sợ hãi, thực hiện trị liệu và kéo dài thọ mạng. Cuộc chiến Việt Nam đã làm tổn hại không biết bao nhiêu sinh mạng. Hai mươi năm sau khi cuộc chiến chấm dứt, những người sống sót sau cuộc chiến vẫn còn mang đầy thương tích, nhất là cựu chiến binh. Tôi đã từng tổ chức các khóa tu cho cựu chiến binh Hoa Kỳ. Tôi khuyến khích họ phát nguyện bồ tát, đứng lên giáo hóa cho quần chúng biết thế nào là chiến tranh và những khổ đau cùng cực mà chiến tranh đem lại cho cả người lớn và trẻ em. Tôi nói rằng họ là những ngọn lửa trên đầu cây đèn nến: họ đã biết ngọn lửa chiến tranh tàn bạo đến mức nào. Nhưng ngọn lửa ấy có thể soi sáng cho nhân loại. Họ có thể làm nhân chứng và có thể xác định với quần chúng rằng cái mà ta thật sự muốn chính là hòa bình, là tình huynh đệ mà không phải là chiến tranh.

Mỗi người cựu chiến binh có thể trở nên một vị bồ tát đi làm công việc tỉnh thức nhân loại. Ta phải thấy rõ được rằng một cuộc chiến tranh như thế sẽ không nên bao giờ xảy ra trong tương lai. Nếu làm được việc này, thì cuộc đời họ sẽ trở nên một cuộc đời có ý nghĩa, và họ sẽ có thể thực hiện được sự trị liệu cho bản thân một cách mau chóng và đem lại nguồn vui sống cho chính họ và gia đình họ. Những ai là nạn nhân của HIV và SIDA cũng thế. Một khi đã phát được tâm bồ đề, nguyện đứng lên thức tỉnh mọi người và chỉ hướng cho mọi người để ai cũng có thể tự bảo hộ mà đừng sa vào hiểm nạn SIDA, thì những người bị HIV / SIDA sẽ thấy cuộc đời của mình có ý nghĩa, sẽ có một năng lượng lớn trong tâm, sẽ tìm lại được niềm vui sống, sẽ được trị liệu mau chóng và sẽ có thể kéo dài thêm thọ mạng.

Đưa Thánh Linh trở về

Thưa Tổng Thống, thưa quý vị,

Những điều tôi vừa nói không phải đã được trích dẫn từ kinh sách mà từ kinh nghiệm sống và thực tập của tôi. Đem áp dụng được thì ta có thể bảo hộ lập tức cho ta, cho gia đình ta, cho cọng đồng và xã hội ta. Ta có thể chế tác được chất liệu hiểu và thương để có thể giúp cho những ai đã rủi ro vướng vào tai nạn HIV và SIDA được có nhiều cơ hội hơn mà đi tới trên con đường bình phục. Ta có thể thực tập và tiếp xúc với Tịnh Độ và nước Chúa ngay trong ngày hôm nay. Ta có thể bắt đầu công việc chữa trị cho ta và cho thế giới bắt đầu ngay từ giờ phút này. Bất cứ trong truyền thống tâm linh và tôn giáo nào ta cũng có thể thực tập chánh niệm, ái ngữ, lắng nghe, chế tác hiểu biết, từ bi và chất liệu vô úy. Nếu tu tập mà không chế tác được những hoa trái ấy, thì ta tu tập làm gì? Phép tu của ta có hữu hiệu không? Ta phải tự hỏi mình và hỏi nhau. Nếu đường lối giảng dạy và thực tập của ta không mang đến kết quả thì ta phải thay đổi. Ta phải thực tập thế nào để chế tác cho được niệm, định, tuệ, từ bi và vô úy. Ta phải thực tập như thế nào để Thánh linh có mặt trở lại trong giáo đoàn và giáo xứ. Xây dựng tăng thân là con đường giúp ta ra khỏi tình trạng nguy nan hiện tại. Xây dựng tăng thân để có nơi nương tựa cho ta, cho gia đình ta và xã hội ta là công trình đáng giá nhất của thế kỷ thứ hai mươi mốt. Tăng thân là nơi nương tựa đích thực, vì Chân Tăng luôn luôn mang theo trong lòng nó Chân Phật và Chân Pháp.

Xin mời quý vị an trú thảnh thơi trong hơi thở và bước chân trong những ngày hội nghị Thượng Đỉnh, trong lúc chúng ta đang được tập họp như một tăng thân. Và xin cảm ơn liệt vị đã chăm chú lắng nghe.

Bài thuyết giảng bằng tiếng Anh

 

Address to the World Summit on HIV & AIDS at The White House, December 1, 2000

On December 1, 2000, Thich Nhat Hanh gave this Dharma talk at the White House in Washington, D.C., during a conference on AIDS. Thay is deeply aware of the suffering caused by AIDS, and offered teachings to encourage those present to respond to that suffering and to conduct themselves in ways that would bring relief to themselves, their families, and society.


Immediate Protection

By Thich Nhat Hanh

In the 1960s, American young people marched in the streets, shouting “Make love, not war.” I reflected deeply on this. What kind of love were they speaking of? Was it true love? If it were true love, it would be the opposite of war. If it were only craving, one could not call it “true love.” Making love out of craving is making war at the same time. In 1971, during the war for Bangladesh independence, soldiers raped 250,000 women; ten percent of these women became pregnant. These soldiers made love and war simultaneously. That kind of love is not true love.

True love contains the elements of mindfulness, protection, and responsibility. It carries the energy of enlightenment, understanding, and compassion. A church has to dispense the teaching on true love to all members of the church and to the children. In the Buddhist teaching, detailed in the third Mindfulness Training, a sexual relationship should not take place without true love and a long-tenn commitment. We must be aware of the suffering we bring upon ourselves and others when we engage in unmindful sexual activities. We destroy ourselves. We destroy our beloved. We destroy our society.

Mindfulness in the act of loving is true love. This practice of mindfulness can take place today and serve as our immediate protection. All church members should begin today the practice of mindful sexual behaviors. This is what I call immediate protection for ourselves, our community, and our society. The role of church leaders, in my belief, is to first protect themselves and their own community. If not, they cannot help protect others. When we are on an airplane, the attendant reminds us that if there is not enough oxygen, we must put on our own oxygen mask before we help another person. Similarly, our self, our own family, and religious community should be the first target of our practice and action. The elements of awakening and enlightenment need to take place immediately in our own religious community.

Children and adults should be well-informed about the problems of HIV infection and AIDS. They should be aware of the suffering that can be brought upon the individual, as well as the family, community, and society, through unmindful sexual activities. Mindfulness is the energy that helps us to know what is going on. What is going on now is a tremendous amount of suffering. In the year 2000, more than five million people died of AIDS; many still weep over this loss. Members of the church must wake the church up to the reality of suffering.

The awareness of suffering is the first of the Four Noble Truths emphasized by the Buddha. Next, every member of the church and of the temple has to be aware of the roots of the suffering. This is the second Noble Truth. During the forty-five years of his teaching, the Buddha continued to repeat his statement: “I teach only suffering and the transformation of suffering.” Only when we recognize and acknowledge our suffering, can we look deeply into it and discover what has brought it about. It may take one week, two weeks, or three weeks of intense activities before the whole community, the whole church, or the Sangha will wake up to the tragedies of HIV and AIDS in its own community, as well as in the world at large. When the church and all its members are aware of the reality of suffering and its root causes, we will know what to do and what not to do for protection to be possible. The appropriate course of action can transform our suffering into peace, joy, and liberation.

Daily unmindful consumption in our society has contributed greatly to the present suffering. The Buddha said, “Nothing can survive without food.” Love cannot survive without food; neither can suffering. Consequently, if we know to look deeply into the nature of our suffering and to recognize the kind of nutriments that have fed and perpetuated it, we are already on the path of emanci- pation. Entertainment in the media is a deep source of suffering. Movies, television programs, advertise- ments, books, and magazines expose us and our children to a kind of unwholesome nutriment, which we ingest every day via our sense organs, namely eyes, ears, nose, tongue, body, and mind. All of us are subject to invasions of these images, sounds, smells, tastes, and ideas. Unfortunately, these sorts of sounds, sights, and ideas in the media often water the seeds of craving, despair, and violence in our children and in us. There are so many items in the realms of entertainment that have destroyed us and our children. Many are drowned in alcohol, drugs, and sex. Therefore, to be mindful of what we consume-both edible foods and cultural items-is vital. The Fifth Mindfulness Training guides us to look at each nutriment we are about to ingest. If we see that something is toxic, we can refuse to look at it, listen to it, taste it, touch it, or allow it to penetrate into our body and our consciousness. We must practice to ingest only what is nourishing to our bodies and minds. The church has to offer this teaching and practice to all its members. The practice of protecting ourselves and our family is difficult, because the seeds of craving, violence, and anger are so powerful within us. We need the support of the Sangha. With the support of the Sangha, we can practice mindful consumption much more easily. Mindful consumption can bring us joy, peace, understanding, and compassion. We become what we consume.

Mindfulness also plays a critical role in relationships and communication. Relationships in the family are only possible if we know how to listen to each other with calm and loving kindness, if we know how to address each other with loving speech. Without the practice of loving speech and rnindfullistening, the communication between members of the family becomes tenuous. Suffering may result from this lack of communication. Many lose themselves in forget- fulness, and take refuge in sex, alcohol, violence, and tobacco. The problems of HIV infection and AIDS are intricately linked to these issues of poor relation- ship in the family and reckless consumption of sex and drugs. The layman Vimalakirti said, “Because the world is sick, I am sick. Because people suffer, I have to suffer.” The Buddha also made this state- ment. We live in this world not as separated, individual cells, but as an organism. When the whole world is devastated by the pandemics of HIV infection and AIDS, and many fellow humans are in desperate situations, our sense of responsibility and compassion should be heightened. We should not only call for help from the government and other organizations. Religious leaders need to take active roles in rebuilding our communities and reorganizing our churches by the embodiment of their own practice. The practice should aim to restore the communication between church members, between family members, and between ethnic groups. Com- munication will bring harmony and understanding. Once understanding is there in the church and the community, compassion will be born.

We know that with diseases, medical therapy alone is inadequate. We know that many people with lllV and AIDS are alienated from their own families and society. The church can offer understanding and compassion to people who suffer. They will no longer be lonely and cut off, because they will see that understanding is there, awakening is there, and compassion is there, not as abstract terms or ideas, but as realities. To me, that is the basic practice of the Sangha; that is the basic practice of the church. Without understanding and compassion, we will not be able to help anyone, no matter how talented and well-intentioned we are. Without understanding and compassion, it is difficult for healing to take place.

Thus, the practice of mindfulness should take place in the context of a Sangha-a community of people who strive to live in harmony and awareness. There are many things that we cannot do alone. However, with the presence and support of members of the community, these things can become easier for us to achieve. For example, when we have the Sangha to support us and shine light on us, we can have more success in the practices of sitting meditation, walking mediation, mindful eating, and mindful consumption. To me, Sangha building is the most noble task of our time.

In the Buddhist tradition, after we have received the Five Mindfulness Trainings, we come together every fortnight and recite them. After the recitation, we gather in a circle to have a Dharma discussion, learning more about these Five Trainings. We also discuss and share our personal experiences, in order to find better ways to apply the teaching and the practice of these trainings into our daily life. The Dharma teacher, the priest, or the monk attends the entire discussion session, contributes and guides the Sangha with his or her experiences and insights. If an individual in the Sangha has difficulties, the whole Sangha is available to support that person.

A true Sangha is a community that carries within herself the presence of the Buddha and the presence of the Dharma. The living Sangha always embodies the living Buddha and the living Dharma. The same must be true with other traditions. The Sangha, with her Sangha eyes, through the practice of mindfulness and deep looking, will be able to understand our situations and prescribe the appropriate course of practice for the protection of ourselves, our families, and society.

Today, many young people are leaving the church because the church does not offer them the appropriate teaching and the appropriate practice. The church does not respond to their real needs. Renewing the church by dispensing the appropriate teachings and practices is the only way to bring young people back to the church. We need to renew our church, rebuild our communities, and build Sanghas. This is the most basic and important practice. Again, in order to carry out this task, church leaders, whether clergy or laity, should embody the teaching and the practice. Young people do not only listen to our verbal messages. They observe our actions. Thus, we teach not with our sermons or our Dharma talks alone, but we teach through our behavior and our way of life.

Some people contract H N or AIDS from blood transfusions, but often, the issue of HIV infection and AIDS is an issue of behavior. If mindfulness practice is there, and each person has the Sangha to help him or her be mindful, then we should be able to avoid bringing suffering upon ourselves, our families, our communities, and our society.

I often tell my students and others that the energy of mindfulness, generated by the practice in daily
life, is equivalent to the Holy Spirit. The seed of mindfulness is there in each one of us. Once we know how to touch the seed of mindfulness in us through the practices of mindful breathing, mindful walking, mindful thinking and consuming, then it will become a living source of energy in us. Mindfulness always brings about concentration, insight, understanding, and compassion. The practice brings back the energy of awakening and generates the energy of God in our daily life. I have trained people with terminal illness to walk in the Kingdom of God every day. If you know how to dwell in the here and the now, and invest 100% of yourself into your in-breath and out- breath, you become free of the past and of the future. You can touch the wonders of life right in the present moment. The Kingdom of God is available in the here and the now, if you are a free person. This is not political freedom that I am talking about. This is freedom from worries and fear, freedom from the past and the future. If you can establish yourself in the here and the now, you have the basic condition for touching the Kingdom of God. There is not one day that I do not walk in the Kingdom of God. Even when I walk in the railway station, along the Great Wall, or at the airport, I always allow myself the opportunity to walk in the Kingdom of God. My definition of the Kingdom of God is where stability is, mindfulness is, understanding is, and compassion is.

Each person has the energy of mindfulness within. Each person has the capacity of dwelling in the here and the now. Once you are fully in the present moment, you touch all the wonders of life that are available within you and around you. Your eyes are wonders of life. Your heart is a wonder of life. The blue sky is a wonder of life. The songs of the birds are wonders o f life. I f you are available to life, then life will be available to you. All the wonders of the Kingdom of God are available to you today, at this very moment. The Kingdom of God is now or never. Thus the question becomes, are you available to the Kingdom of God? The Kingdom of God can be touched in every cell of your body.

Infinite time and space are available in it, and if you train yourself, it will be possible for you to walk in the Kingdom of God in every cell of your body.

When we are able to touch the Holy Spirit through the energy of mindfulness, we will also be able to have a deeper understanding of our true nature. The Buddha taught that there are two dimen- sions to reality. The first is the Historical Dimension, which we perceive and experience chronologically from birth to death. The second is the Ultimate Dimension, where our true nature is revealed. In Buddhism, we may call the ultimate reality “Nirvana,” or “Suchness.” In Christianity, we may call it “God.” If you are a Christian, you know that the birth of Jesus does not mean the beginning of Jesus. You cannot say that Jesus only begins to be on that day. If we look deeply into the nature of Jesus Christ, we find that his nature is the nature of no-birth and no- death. Birth and death cannot affect him. He is free from birth and death. In Buddhism, we often talk in terms of manifestations rather than creation.

If you look deeply into the notion of creation in terms of manifestation, you may discover many interesting things. I have a box of matches here with me, and I would like to invite you to practice looking deeply into this box of matches, to see whether or not the flame is there. You cannot characterize the flame as nonbeing or nonexistent. The flame is always there. The conditions for the manifestation of the flame are already there. It needs only one more condition. By looking deeply, I can already see the presence of the flame in the box, and I can calIon it and make it manifest. “Dear flame, manifest your- self!” I strike the match on the box, and there, the flame manifests herself. It is not a creation. It is only a manifestation.

The birth of Jesus Christ is a manifestation, and the death of Jesus Christ on the cross is also a manifestation. If we know this, we will be able to touch the Living Christ. In the Buddhist teaching, not only the Buddha has the nature of no-birth and no- death, but every one of us, every leaf, every pebble, and every cloud has this nature. Our true nature is the nature of no-birth and no-death.

I have learned from my practice that only by touching the Ultimate Reality in us can we transcend fear. I have offered this teaching and practice to numerous people with terminal illness. Many of them have been able to enjoy the time that is left for them to live with joy and peace, and their lives have been prolonged. In certain cases, the doctors told them that they had just three months or so to live, but they took up the practice and they lived fifteen to twenty more years. My wish is that the church will dispense teaching and practice on how to touch our Ultimate Reality to people who have been struck with the mvI AIDS, and also to those who have not. We should be able to help members of our community live in such a way that we can all touch Nirvana, that we can all touch the Ultimate Dimension within us in our daily lives. With the learning and the practice, we will be able to touch our true nature of no-birth and no-death. That is the only way to remove fear. Once the wave realizes that her nature-her ground of being-is water, she will transcend all fear of birth and death, being and nonbeing. We can help the people who do not have much time to live, so that they are able to live deeply with joy and solidity for the rest of their lives.

Once we can establish ourselves in the here and the now, and the fear of death is removed, we become the instruments of peace, of God, of Nirvana. We become bodhisattvas-enlightened beings working to free others from their suffering. Those of us who have been struck with mvIAIDS can become bodhisattvas, helping ourselves and other people, and acquire that energy of healing called bodhicitta, or the mind of love.

During the Vietnam War, numerous Vietnamese and American soldiers and civilians died, and many who survived were deeply affected. Twenty-five years later, the survivors continue to be devastated by this war. I have offered a number of retreats to American war veterans. I tell them that they can become bodhisattvas because they already know what the suffering of war is about. I advise them that they should play the role of the flame on the tip of the candle. It is hot, but it will help create the awareness, the realization, that war is what we do not want. We want the opposite. We want true love. Each person can transform into a bodhisattva, creating the awareness in his or her own people, so that we will never have a war like this one again. You life will have a new meaning and the energy of true love will guide you.

The Fourth Noble Truth is the path to end suffering and attain well-being. This path you have chosen to end suffering-your own and others’- is the bodhisattva path. Not only can you transcend the suffering of the past, but you bring joy and peace to yourself and your beloved ones, because you are helping to awaken people in your own community and society. The war veterans can practice creating awareness and waking people up, and the people who have been struck by mv and AIDS can do likewise. Once motivated by the desire to work for true love, we can engage our daily lives in the activities that awaken and embrace others as well as ourselves. The work of a bodhisattva will help our healing process to take place very quickly. Our lives may become longer and of deeper quality than the lives of many who do not have mv or AIDS.

Everything I have said comes from the experience of my own practice. I do not tell you things that I have read in books. It is possible for us to install immediate protection today, for ourselves, our families, and our communities. It is possible to provide understanding and compassion to those who suffer, so that everyone has the appropriate opportu- nities and conditions to heal. It is possible to experi- ence the Kingdom of God in the here and the now. It is possible to help the world heal as we are healing ourselves. Whatever our religious background, we must practice in such a way that we bring forth understanding, compassion, true love, and non-fear, so that possibilities become actualities. I f our practice does not yield these flowers and fruits, it is not true practice. We must have the courage to ask ourselves: “Is our practice correct? Do we generate understand- ing, awakening, and compassion every day?” If we do not, we have to change our way of teaching and our way of practicing.

To me, the Holy Spirit is the energy of God, representing the energy of mindfulness, of awakening to the reality of suffering. W e have to bring the Holy Spirit back to our religious communities in order for people to have true faith and direction. I sincerely believe that Sangha building is the way. It is the most noble task of the twenty-first century. Not only church leaders, but health professionals, gays and lesbians, schoolteachers, and members of different ethnicity should build Sanghas. Please reflect on this. The practice of Sangha building is the practice of giving humanity a refuge, because a true Sangha always carries within herself the true Buddha and the true Dharma. When the Holy Spirit manifests in our church, God is with us.

Enjoy your breath, enjoy your steps, while we are still together as a Sangha.

Nguyên Lý Căn Bản Của Đạo Phật

 

Phần tinh-ba nhất của con người là tư-tưởng. Con người có thể tự-hào rằng mình hơn vạn-vật ở chỗ biết suy tưởng. "Người là một cây sậy biết suy tưởng", câu nói ấy vừa thú nhận sự yếu đuối của con người trước vũ trụ mà cũng lại vừa đề cao khả năng bất-diệt của con người trước vũ-trụ.

Đứng trước vạn tượng bao la, và nhìn lại bản thân mình, con người khát khao được hiểu biết. Hiểu biết để được thỏa mãn, và hiểu biết để sống cho đáng sống. Chính khuynh hướng muốn tìm hiểu ấy đã làm nẩy sinh ra triết học.
Nhân loại ngày nay đã hiểu biết tới đâu? Triết học đã vạch ra được con đường tiến của con người chưa? Đã giải quyết được những nỗi thắc mắc lớn lao của con người về cuộc sống, về vũ trụ và về bản thân của con người chưa?

Đó là những câu hỏi mà chính những con người có khả năng suy tưởng nhất cũng phải ngậm ngùi mỗi khi nghĩ đến. Người ta băn khoăn tự hỏi tri thức con người có đủ khả năng để đạt đến sự thực hay không. Nếu không thì con người còn suy tưởng làm chi. Thà rằng cứ ù ù cạc cạc mà sống trong cuộc đời, bởi vì sự suy tưởng vô vọng ở đây chỉ làm cho con người thêm đau khổ.

Nhưng con người không thể không suy tưởng. Sống là suy tưởng, và vì thế, dù triết học là một môn học không hư, viển vông, vô ích thì triết học cũng còn phải tồn tại mãi mãi; bởi vì khi con người còn suy tưởng đến những vấn đề căn bản của kiếp người thì triết học vẫn còn. Ba nghìn năm lịch sử của triết học hình như đã nói với ta như thế.

Vào buổi rạng đông của triết học, con người rất tin tưởng ở khả năng tri thức của mình. Nhưng cùng với những triết gia hoài nghi, lòng tin ấy mất dần, mất dần… Càng đi sâu vào sự suy tưởng, con người càng cảm thấy rõ ràng cái bất lực của tri thức nhân loại! Con người lại càng bi quan hơn nữa khi thấy bên cạnh cái tri thức yếu đuối và hèn kém ấy, còn có một tâm hồn nặng trĩu những ước vọng đen tối, xấu xa. Chính những mờ tối, cố chấp và chủ quan này đã dự phần vào việc che lấp phần khách quan đáng quý mà tri thức cần phải đầy đủ.

Với những vốn liếng nghèo nàn như vậy mà con người đã dám hy vọng có thể tìm ra chân lý. Đã thế lại còn muốn bay xa, rất xa trong cõi siêu hình. Càng xa càng hay. Cần gì đến thực nghiệm! Thái độ "duy lý" cũng đã đủ để đảm bảo rồi! Vướng vào thực nghiệm làm sao mà bay xa đuợc! Và như thế, con người tha hồ tự do kiến tạo những giấc mộng siêu hình.

Nói "những giấc mộng siêu hình" rất đúng, vì chính những kiến tạo duy lý của con người về siêu hình đều do những động lực rất chủ quan của con người sắp đặt: phần lý trí nhiều lầm lạc và thành kiến, phần tình cảm nhiều mờ ám, thiên lệch, cho nên giấc mộng của tôi không phải là giấc mộng của ngài, và loài người có đến muôn ngàn giấc mộng… Đã có ai công nhận của ai là đúng đâu.

Đức Phật lúc đương thời đã nhận thấy cái vô ích của những giấc mộng siêu hình. Ngài không muốn cho các đệ tử Ngài đắm chìm trong những suy tưởng siêu hình, những vọng tưởng sai lầm của tri thức và tình cảm chủ quan. Vấn đề trọng đại mà Ngài đặt ra cho đệ tử là phải tiêu diệt ngay phần mê mờ thiên lệch nằm trong tri thức và tình cảm của mỗi người, nghĩa là phải tu hành để tự giải thoát khỏi vô minh triền phược. Diệt trừ được phần mê vọng là đạt đến tất cả. Chưa diệt trừ được phần mê vọng thì dù có suy tưởng ngàn kiếp đến các vấn đề siêu hình cũng vẫn không đi đến một kết quả tốt đẹp nào. Phương pháp của đức Phật là phương pháp thực hiện, không phải là phương pháp suy tưởng. Đạo Phật là một đạo sống chứ không phải là môn học siêu hình.

Một hôm đức Phật cầm trong tay một nắm lá "sinsapa" và nói với các vị đệ tử xuất gia: "Các con nghĩ sao? Lá trong tay ta nhiều hơn hay là lá trong rừng này nhiều hơn?" – "Bạch đức Thế Tôn, những ngọn lá Ngài cầm trong tay thì ít mà lá trong rừng thì quá nhiều" – "Cũng như thế đó, này các con, những cái ta biết thì rất nhiều, nhưng những cái ta đem ra dạy các con thì rất ít. Tại sao ta không đem tất cả ra để dạy các con? Bởi vì những cái ấy không có lợi gì cho các con cả. Chúng không giúp gì cho sự giải-thoát cho nên ta không đem ra dạy. Ta dạy những gì? Ta dạy về sự khổ, nguyên nhân cái khổ, sự diệt khổ và con đường đi đến diệt khổ. Những thứ ấy có ích lợi, vì chúng có thể đưa các con đến chỗ giải thoát" (Samyutta).

Ta thấy rõ ràng đạo Phật là một con đường và là một con đường duy nhất đưa đến chỗ diệt khổ. Đạo Phật chỉ là một lối sống, một lối thực hành, không phải là một thuyết lý vô ích, một "hý luận". Bởi vì đạo Phật nhận thấy cái cần thiết của sự diệt trừ mê vọng. Đức Phật nói: " Này các thầy tỳ kheo, đừng nghĩ vớ vẩn rằng thế giới này là hữu hạn hay vô hạn, hữu cùng hay vô cùng. Dù cho thế giới này là hữu hạn hay vô hạn, dù cho nó hữu cùng hay vô cùng thì điều mà chúng ta phải nhận là hiện hữu ở đời này, là những khổ đau: sinh, lão, bệnh, tử" (Anguttara).

Vậy đạo Phật chủ trương dẹp bỏ tất cả các lý luận vọng tưởng, cấm trí óc phiêu lưu vào trong những thế giới suy tưởng siêu hình mà đạo Phật quyết chắc rằng chỉ là những vọng tưởng hư ngụy và vô ích. Đạo Phật kéo con người trở về với thực nghiệm. Thực nghiệm này là một thực nghiệm bao la rộng rãi. Đó là sự nhận thức cái "khổ" ở đời.

"Khổ" là một chân lý thực-nghiệm. Không những chỉ sinh lão bệnh tử mới là khổ. Còn bao nhiêu cái khổ khác, lặt vặt hơn, nhưng phiền toái hơn, và dày vò con người thường xuyên hơn. "Nhận thức cái khổ" không phải chỉ là xác nhận cảm giác khổ thọ là thực hữu. Nhận thức cái khổ – dukkha – nghĩa là phải nhận chân một cách rõ rệt và sâu xa tính cách vô thường vô ngã chống đối nhau của vạn sự, vạn vật. Rộng rãi hơn, nhận thức cái khổ tức là biết mình sống đau khổ trong một thế giới khổ đau với một nghiệp báo không tốt đẹp. Tất cả những giáo lý Phật dạy đều hướng về chủ đích làm cho con người có ý thức về cái khổ, và nhận chân được cái khổ theo định nghĩa rộng rãi như trên. Con người trước tiên phải thực nghiệm một cách sâu xa và rộng rãi cái "khổ" ấy, cái sự thực Vô Thường, Vô Ngã, Bất Tịnh và Mâu Thuẫn ấy. Có thực nghiệm như thế rồi, con người mới đặt vấn đề cần thiết: tìm nguyên do của sự khổ và phương pháp diệt khổ.

Kẻ nào chỉ có ý thức nông cạn về cái khổ thì không thể tìm đến nguyên nhân của cái khổ được. Khi con người đã chứng nghiệm một cách đầy đủ và sâu xa cái khổ Vô Thường, Vô Ngã, Bất Tịnh và Mâu Thuẫn, con người sẽ tìm đến nguyên nhân của cái khổ một cách dễ dàng. Đã có chân lý thứ nhất là Khổ đế, thì có chân lý thứ hai là Tập đế, nguyên nhân sự khổ. Đức Phật bảo rằng nguyên nhân sự khổ là mê vọng, ác nghiệp, là ái nhiễm, và con người cũng nhận thấy như thế. Nguyên nhân của sự khổ cũng như sự khổ, không phải là một kết quả do những suy tưởng siêu hình đem lại mà là một chân lý có thể thực nghiệm. Ai cũng có thể thực nghiệm chân lý ấy cả. Kinh nghiệm sống dạy cho con người chân lý ấy. Đức Phật muốn cho con người có ý thức rõ rệt về chân lý ấy. Giáo điển đạo Phật đã thuyết minh rõ ràng về chân lý ấy.

Vậy Khổ-đế và Tập-đế là những điều thực nghiệm rộng rãi và đầy đủ dùng làm nền tảng cho phương pháp đạo Phật. Đứng trước những chân lý thực nghiệm ấy, con người cố nhiên phải nhận thấy con đường của mình: giải thoát diệt khổ.

Nếu nguyên nhân của đau khổ là dục vọng thì diệt-trừ dục-vọng tức là diệt trừ đau khổ. Đó là một điều quá giản lược mà không ai không thấy. Cuộc đời là khổ. Và nguyên nhân của cái khổ ấy là dục vọng. Tiêu diệt được dục vọng tức là tiêu diệt được cuộc đời đau khổ. Vậy, theo đạo Phật, cuộc đời khổ đau, con người phải tiêu diệt cuộc đời khổ đau ấy để tiến đến Niết-bàn.

Đừng vội la lên rằng: như thế thì đạo Phật là quá ư tiêu cực, là chủ trương đừng sống, là chủ trương xa lánh cuộc đời, là chủ trương biến tất cả thành hư vô. Dục vọng là nguyên nhân của sự khổ đau, là gốc của sinh, lão, bệnh, tử và ngàn muôn khổ thọ khác. Nhưng con người không phải chỉ có dục vọng mà thôi. Con người còn có những gì thanh thoát cao siêu hơn dục vọng, như lòng từ bi, như trí tuệ… Vậy tiêu diệt dục vọng chỉ là tiêu diệt cuộc đời khổ đau; nói một cách khác hơn, là tiêu diệt phần khổ đau của cuộc đời. Phần dục vọng bị tiêu diệt, nhưng còn phần tinh ba cao khiết sẽ ra sao? Phần tinh ba cao khiết này, khi dục vọng tiêu diệt, cố nhiên sẽ được thực hiện toàn vẹn. Không lẽ sự thực hiện toàn vẹn của phần này lại đưa đến một kết quả hư vô?

Vậy khi dục vọng tiêu diệt, phần xấu xa của cuộc đời (vô thường – khổ đau – vô ngã – bất tịnh) bị tiêu diệt, nhưng phần tốt đẹp của cuộc đời (thường – lạc – ngã – tịnh) phải được thực hiện toàn vẹn, vì ở con người, phần tinh ba cao khiết đã được thực hiện toàn vẹn. Vậy Niết bàn không phải là hư vô, mà là sự thực hiện toàn vẹn của những gì cao khiết nhất, thanh tịnh và nhiệm mầu nhất.

Sống trong cuộc đời vô thường, vô ngã, bất tịnh, khổ đau với bao nhiêu thăng trầm sinh tử, mà không thấy có vô thường, vô ngã, bất tịnh, khổ đau với bao nhiêu thăng trầm sinh tử ấy: đó là Niết-bàn.

Đạt đến chỗ diệt trừ dục vọng, con người được giải thoát, hoàn toàn tự do, không còn bị nô lệ cho một thứ gì nữa. Vấn đề Giải Thoát chỉ là vấn đề thay đổi nhận thức. Dục vọng tiêu diệt, bi trí thực hiện, tức thì nhận thức biến đổi. Vô thường, khổ đau, vô ngã, bất tịnh, trước nhận thức giải thoát, biến thành Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Sinh tử triền phược là ở đấy. Niết bàn giải thoát cũng ở đấy. Và Niết bàn không rời sinh tử, "Niết bàn, sinh tử thị không hoa".

Có mặt xấu của cuộc đời là sinh tử, thì cũng có mặt đẹp của cuộc đời là Niết bàn. Đó là chân lý thứ ba.
Nhưng để diệt trừ dục vọng, đạt tới Niết bàn, con người cần phải có một đường lối, một phương pháp. Đạo Phật là đường lối ấy, là phương pháp ấy.

Đường lối diệt dục cần phải rất rõ ràng, và phải khởi đầu từ bờ Mê, nghĩa là phải để cho con người khổ đau có thể đạt được những bước đầu tiên, khó khăn và ngượng ngập. Pháp môn tuy nhiều vô lượng, song được bao hàm trong mấy điều giản lược thiết yếu: Tam học và Bát chính đạo.

Tam-học: giới, định, tuệ. Chủ động của những nghiệp quả xấu xa, là các hành vi, ngôn ngữ và ý nghĩ mê vọng. Các "vọng nghiệp" này lại còn giúp sức cho dục vọng phát triển. Vậy công việc trước tiên là phải đình chỉ chúng lại. "Giới" chính là sự đình chỉ ấy. Không làm, không nói và không nghĩ những nghiệp nhân mê vọng tức là không chịu tuân theo sự sai sử của dục vọng. Đó là công tác cách mạng đầu tiên. Có thành công trong bước đầu kháng cự và bất phục tùng này, con người mới hy vọng tiến đến giai đoạn tiêu diệt dục vọng.

Trì giới tức là không chịu rót thêm dầu trong ngọn đèn dục vọng. Tuy thế, ngọn đèn vẫn cháy mạnh. Cho nên, con người phải dùng thêm những biện pháp tích cực để làm yếu dần sức cháy kia và cuối cùng, tiêu diệt được ngọn lửa đèn.

Do công năng trì giới, ý chí càng lúc càng mạnh. Hành giả sẽ thực hành phép tập trung tư tưởng, dùng lực lượng thiền định để cắt xén dần những rễ dây chằng chịt của dục vọng và trải qua nhiều công phu, có thể lay chuyển và xô ngã được cội rễ của nó.

Dục vọng càng bị tiêu diệt, trí tuệ càng thêm tăng trưởng. Trí tuệ càng tăng trưởng thì sức phá trừ dục vọng càng thêm mãnh liệt. Cứ thế hành giả tiến dần đến chỗ tiêu diệt hoàn toàn những mầm mống vi tế nhất của cội nguồn đau khổ. "Nhân Giới sinh Định, nhân Định phát Tuệ" là câu nói tóm tắt của tam-học vậy.

Nhưng công phu tam học cần được thành lập trên những kiến thức chân chính – chính kiến (vue juste). Nghĩa là cần thấu hiểu và chứng nghiệm triệt để bốn sự thực căn bản (gọi là Tứ Đế) để có thể tránh khỏi những nhận thức sai lầm, những tà kiến trái chân lý. Phải theo lời Phật dạy để biết xử dụng pháp tập trung tư tưởng và pháp thiền quán đúng theo chính pháp, chính định và chính tư duy. Chỉ tưởng niệm những điều đúng chánh pháp, chánh niệm. Phải siêng năng theo con đường chánh – chánh tinh tấn. Phải có một phương tiện sinh tồn chân chánh – chánh mạng. Phải hành động và nói năng đúng theo chánh pháp – chánh nghiệp và chánh ngữ. Đó là bát chính đạo.

Con đường tuy gay go nhưng là con đường duy nhất. Tất cả các hệ thống giáo lý phong phú của đạo Phật chỉ có một mục đích duy nhất là trình bày phương pháp và đường lối giải thoát, ngoài ra không hề có nhằm mục đích giải quyết những thắc mắc siêu hình. Người nào nhìn đạo Phật như một khoa học siêu hình chính người đó đã không hiểu đạo Phật.

Ôm lấy niềm đau sau trận hải chấn

Pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 30.12.2004 tại xóm Thượng, Làng Mai 
 
 

Trong kinh Du Hành có chuyện một chú sa di đem tin tới cho đức Thế Tôn là thầy Xá Lợi Phất mới qua đời. Vị sa di đó tên là Cunda (Thuần Đà). Hồi đó Bụt đang ở miền Bắc sông Hằng tại thành phố Vaisali. Thầy Xá Lợi Phất tịch ở quê hương của ngài. Chú sa di Thuần Đà đợi cho lễ trà tỳ xong mới đem tro của thầy về cho Bụt. Tro được để trong một cái bát. Chú nói: “Đây là tro của Thầy con. Thầy con vừa mới tịch”.

Trước khi chú sa di Thuần Đà được gặp đức Thế Tôn thì chú đã được gặp thầy A Nan. Khi chú chỉ vào cái bát và nói đây là tro của thầy Xá Lợi Phất thì thầy A Nan bủn rủn tay chân và đứng không vững. Sau đó thầy A Nan đưa chú sa di lên thăm đức Thế Tôn để báo cái tin dữ này. Đức Thế Tôn là một bậc giác ngộ hoàn toàn. Nhưng chúng ta biết đức Thế Tôn cũng là một con người, và nghĩ rằng khi nghe tin người đệ tử thương của mình tịch thì thế nào đức Thế Tôn cũng buồn. Đức Thế Tôn đâu phải là gỗ đá? Có điều cái buồn đó không làm cho đức Thế Tôn bủn rủn tay chân như thầy A Nan. Làm sao mình không buồn được khi một người đệ tử mình thương vừa tịch? Thầy A Nan bạch với đức Thế Tôn: “Bạch đức Thế Tôn, khi nghe tin sư anh con tịch thì tay chân con bủn rủn, con đứng không vững”.  Đức Thế Tôn an ủi thầy A Nan.

Có một hôm ở xóm Thượng, tôi nằm mơ thấy có hai vị giáo thọ được gởi đi dạy tại các nước Scandinavia, không biết vì tai nạn nào mà chết ở bên đó. Nghe tin đó tôi khóc. Lúc này ở trong phòng có sư chú Pháp Hữu, một sư chú Pháp Hữu trẻ hơn Pháp Hữu bây giờ. Tôi ôm Pháp Hữu. Hai thầy trò ôm nhau khóc. Khi thức dậy tôi mừng quá, thì ra hai vị đệ tử ấy còn sống. Nhưng mừng thì mừng, cái ấn tượng, cái nỗi buồn ở trong giấc mơ cũng còn lảng vảng tới mấy ngày.

 

 

Mấy ngày nay chú nguyện cho các nạn nhân của trận động đất sóng thần ở Đông Á, tôi thấy rằng trong giấc mơ mình đã may mắn có Pháp Hữu để ôm mà khóc, có một người thân để mình chia sẻ niềm đau nỗi buồn của mình. Có những người mà gia đình chết hết, thì niềm đau nỗi khổ một mình mình chịu, không có ai để mà chia sẻ. Đó trường hợp của nhiều chuyện xảy ra trong trận hải chấn ở Đông Nam Á. Trận hải chấn ở Đông Nam Á xảy ra vào ngày 26 tháng chạp. Số người chết từ Indonesia, Sri Lanka, Ấn Độ, Thái Lan, cho đến Miến Điện, con số đó lên đến gần một trăm ngàn người. Chỉ trong vòng mấy ngày thôi. Và có những gia đình chết hết. Có một em bé hai tuổi được sóng thần đưa lên một nơi cao, còn sống, và người ta tìm ra được, nhưng ba má và anh chị của bé đều chết hết. Động đất ở dưới biển gọi là hải chấn. Sóng thần đã tràn lên bờ, quét sạch tất cả những làng mạc ở các miền duyên hải.

Ban đầu người ta nghĩ rằng có thể là chỉ khoảng trên mười ngàn người chết, nhưng mà mỗi giây mỗi phút đồng hồ người ta đều khám phá ra những cái thây chết. Hiện bây giờ đây con số đã lên trên tám mươi ngàn (khi chép bài này ra, con số đã lên tới 155 ngàn). Có những người Âu châu sống sót trở về, họ báo cáo lại rằng họ thấy cái thân phận con người trong hoàn cảnh đó còn tệ hơn thân phận của một con kiến, con muỗi, không có nghĩa lý gì cả đối với các đợt sóng thần kia.

Sóng thần lên cao tới mười thước! Nó phủ ấp vào, cuốn trôi đi tất cả và kéo ra biển. Bây giờ biển trả lại những xác chết rất nhiều. Bây giờ người ta chỉ có thể chôn tập thể xuống hố: 50 người, 100 người, 200 người. Không thể nào chôn riêng được! Ngoài ra ta còn có những sợ hãi rất lớn: những xác chết không chôn kịp rữa ra sẽ gây ra bệnh truyền nhiễm: bệnh dịch, thương hàn… và có thể hàng triệu người sẽ chết vì tai nạn này và đang có hàng năm bảy triệu người không có nhà cửa, nước uống và cơm ăn.

Tất cả các nước Âu châu, Mỹ châu đều đã gởi máy bay chuyên chở người và phẩm vật về cứu trợ. Đây là một cái tang lớn cho tất cả nhân loại. Hàng ngàn người Âu châu đã chết, và nhiều ngàn người chưa biết được tin tức. Có những cặp vợ chồng mới cưới đi tuần trăng mật ở miền ấy, không bao giờ gọi điện thoại về nữa. Trong những ngày vừa qua, ngày nào tôi cũng niêm hương, niệm Bụt, gởi năng lượng cho họ và thân nhân của họ. Thế giới đang chấn động vì cái tai nạn lớn lao này ở tại Đông Nam Á. Indonesia và Sri Lanka bị nặng nhất. Những đợt sóng thần đi qua tới bờ biển Phi châu, và hàng trăm người ở bờ biển Phi châu cũng đã thiệt mạng.

Tuy đang ngồi đây, chúng ta cũng đã chết một phần nào trong trái tim và trong cơ thể của chúng ta. Ở các miền Bắc Âu như Thụy Điển có rất nhiều người đi về miền đó nghỉ lễ, đi tìm tới những chỗ rất thanh tĩnh, rất trong lành, rất ấm áp, vậy mà chỉ trong mấy phút đồng hồ của cuộc hải chấn đã mất mạng. Các nhà khoa học nói rằng nếu những nước ở Đông Nam Á có hệ thống báo động thì đã có thể giúp được cho một số người tránh được thảm họa. Họ nói rằng có thể có tới bốn giờ đồng hồ để cho người dân trốn chạy. Nhưng dầu có hệ thống báo động đi nữa, thì làm sao báo được cho dân chúng: những người không nghe radio, không coi ti vi, những người đang làm việc ở ngoài biển, những nông dân, những em bé.

Trong số những người Tây phương chết trong trận hải chấn này, cố nhiên phần lớn là những người đi nghỉ lễ, trốn lạnh, nhưng cũng có những người đi làm công việc thiện nguyện. Họ không phải đi chơi, họ đi là để giúp đỡ, nhưng họ cũng chết trong trận hải chấn này. Cái đau thương nó thúc đẩy chúng ta quán chiếu và suy nghĩ tới thân phận của con người.

Ở trong đạo Chúa, vấn đề này được đặt ra từ lâu: tại sao Thượng Đế sinh ra thế giới muôn loài mà lại để cho những thương đau như vậy xảy ra được? Đó là một đề tài thần học có từ ngàn xưa. Đạo Bụt nói về thuyết Nhân Quả, mình gây ra nhân gì thì mình chịu quả đó. Nhưng có người hỏi: “Tại sao những em bé mới có ba tuổi, năm tuổi, đã gây ra những tội tình gì mà phải mất cha mất mẹ, hoặc bản thân mình cũng chết? Làm sao cắt nghĩa được luật nhân quả nghiệp báo?” Chúng ta, dầu trong truyền thống Cơ Đốc giáo hay truyền thống đạo Bụt, cũng có những câu hỏi được đặt ra.

Tín đồ Cơ Đốc hỏi: “Tại sao Thượng Đế nhân từ mà lại để cho những cái như vậy xảy ra?” Phật tử hỏi: “Tại sao những người đi làm thiện nguyện, những người đi với một trái tim rất lành, những em bé đang còn ngây thơ, đã gây ra nghiệp báo gì, tội tình gì mà phải chết như vậy?” Có những người nói rằng, tuy trong kiếp này họ chưa gây ra nghiệp xấu, nhưng trong kiếp trước có thể họ đã gây ra nghiệp xấu rồi. Chúng ta đi tìm những câu trả lời tương tự. Thi sĩ Pháp tên là Victor Hugo vào năm bốn mươi mấy tuổi mất đứa con gái. Cô con gái trên dưới hai mươi. Cô tên là Léopoldine.

Thi sĩ rất đau khổ và ông hỏi trời hỏi đất tại sao như vậy. Đứa con gái chết cũng vì bị chết trôi. Một bông hoa mơn mởn đang nở như vậy mà bỗng nhiên bị sóng vùi, gió giập. Lúc đó thi sĩ đã trở về quê của mình, ở Villequier. Victor Hugo nói trong bài thơ A Villequier: “Con người chỉ có thể thấy được một mặt của sự thật, còn mặt kia bị chìm đắm trong một màn đêm rất bí mật, rất hãi hùng (Nous ne voyons jamais qu’un seul côté des choses. L’autre plonge en la nuit d’un mystère effrayant). Con người đã chịu đựng những khổ đau, những tang tóc mà không biết được tại sao mình phải chịu đựng (L’homme subit le joug sans connaitre les causes).Tất cả những cái gì con người thấy, cảm nhận được, đều là ngắn ngủi, đều là vô ích, đều là vô thường (Tout ce qu’il voit est court, inutile et fuxyant)”.

Victor Hugo kêu Thượng Đế: “Thượng Đế ơi, con đến đây đặt trước chân ngài những mảnh nát của trái tim đầy vinh quang của ngài, trái tim mà ngài đã đập nát ra thành từng mảnh. (Je viens à vous, Seigneur, Père auquel il faut croire. Je vous porte, apaisé, les morceaux de ce coeur tout plein de votre gloire que vous avez brisé). Con thấy rằng chỉ có ngài mới biết được cái gì ngài đang làm thôi, còn cái thân phận con người chẳng qua chỉ là thân phận của một cây sậy đong đưa trong gió, chẳng có nghĩa gì cả. (Je conviens que vous seul savez ce que vous faites. Et   que l’homme n’est rien qu’un jonc qui tremble au vent)”.

Con người bất lực, con người không có giá trị gì hết, thân phận con người là như vậy, và chỉ có Thượng Đế biết là ngài đang làm gì thôi, và chúng con không hiểu tại sao ngài làm như vậy. Và các nhà thần học đã tìm cách để giải thích. Trong những lối giải thích đó có kẻ nói rằng là nếu con người không đau khổ thì con người không thể nào lớn lên được, vì vậy cho nên những tang tóc và đau khổ đó là chính Thượng Đế muốn cho mình phải gánh chịu để cho mình học hỏi và lớn lên. Có những người chấp nhận được cái lý luận đó, nhưng có những người không chấp nhận được.

 

 

Ở Làng Mai, chúng ta đã học nhiều về luân hồi, về tái sinh. Chúng ta biết rằng trong đạo Bụt bình dân, giáo lý về luân hồi và tái sinh được dựa trên niềm tin về ngã: một người khi chết đi sinh ra một người khác hay vật khác. Niềm tin là có sự tiếp nối, là khi mình chết thì mình không mất hẳn, mình sẽ được tiếp nối dưới một hình thức khác, đó là luân hồi sinh tử. Nhưng chúng ta đã học rất nhiều lần rằng trong đạo Bụt thâm sâu, chúng ta phải hiểu luân hồi trong ánh sáng vô ngã. Nền tảng của đạo Bụt là cái thấy vô ngã. Nếu chúng ta hiểu luân hồi và nhân quả trên nền tảng hữu ngã thì chúng ta chưa tiếp xúc được với cái sâu sắc nhất ở trong đạo Bụt.

Vì vậy cho nên vấn đề khổ nạn (the problem of evil) cũng phải được giải quyết trong ánh sáng của vô ngã. Khi chúng ta đặt ra câu hỏi: “Tại sao ta phải gánh chịu tai họa, khổ đau trong lúc những người khác sống phây phây không hề hấn? Tại sao những em bé đầu xanh chưa có tội tình gì mà đã gánh chịu những cái tang thương quá lớn lao như vậy?” Phần lớn các câu trả lời ta được nghe đều đã căn cứ trên cái ý niệm hữu ngã. Chúng ta biết rằng nếu chúng ta còn căn cứ trên quan niệm hữu ngã thì chúng ta chưa tìm được câu trả lời đích thực của đạo Bụt. Và vì vậy các vấn đề nhân quả, nghiệp báo và luân hồi phải được giải quyết trên nền tảng vô ngã.

Trong Duy Biểu học, chúng ta đã học về nghiệp. Chúng ta thấy có biệt nghiệp và cộng nghiệp. Những người ở Đông Nam Á, sinh ra ở đó, lớn lên ở đó, làm ăn lập nghiệp ở đó, thì họ chết vì trận hải chấn này đã đành rồi, nhưng tại sao hàng chục ngàn người ở Tây phương, mắc mớ gì mà đi về đó để cùng chết? Hiện bây giờ có hàng ngàn người ở các nước Tây Phương vẫn chưa biết sống chết thế nào, mà mỗi giờ trôi qua như vậy thì cái hy vọng càng bớt đi. Khi một chiếc máy bay nổ, rơi xuống, có thể là phần lớn những hành khách đi trên chiếc máy bay chết hết, có chừng một hay hai người sống sót, chúng ta hỏi: Tại sao vậy? Tại sao không chết hết mà còn một hai người sống ? Khi quán sát như vậy, chúng ta thấy nghiệp có hai mặt: biệt nghiệp (nghiệp riêng) và cộng nghiệp (nghiệp chung). Khi ta tìm ra được nguyên tắc biệt nghiệp cộng nghiệp thì chúng ta đã có thể bắt đầu giải quyết được một phần rất quan trọng của các vấn đề rồi. Nếu chúng ta đi về hướng của tuệ giác vô ngã thì chúng ta sẽ từ từ tìm ra những câu trả lời xác đáng. Trong cuộc chiến Việt Nam, đất nước cũng như con người Việt Nam bị tàn hại rất nhiều: trên hai triệu người Việt đã chết trong cuộc chiến tranh. Tại sao hai triệu người đó chết, còn những triệu người khác không chết ?

Nhìn cho kỹ, chúng ta thấy rằng những người không chết cũng đã chết, và chết ở những mặt khác. Chúng ta thấy rất rõ rằng khi có một người thương chết, thì chính người đó ít đau khổ hơn những người còn sống. Sự thật là như vậy. Vì vậy cái đau thương là cái đau thương chung, chứ không phải là cái đau thương riêng. Victor Hugo, trong suốt cuộc đời làm thi sĩ của mình, cũng đã tìm hiểu, quán chiếu, và vì vậy rất nhiều bài thơ của Victor Hugo đã có tính cách quán chiếu. Những bài thơ có tính cách quán chiếu của Victor Hugo được gom lại và in thành một tập gọi là Les Contemplations. Contemplation là quán chiếu. Victor Hugo cũng đã tìm ra được rằng số phận con người là số phận chung, và ông cũng đã thoáng thấy được cái tính vô ngã của vạn sự vạn vật.

Khi tai nạn xảy ra cho một người trong gia đình, nó xảy ra cho tất cả mọi người trong gia đình. Khi một tai nạn xảy ra cho một phần của đất nước, nó xảy ra cho cả đất nước. Khi tai nạn đó xảy ra cho một phần của trái đất, nó xảy ra cho cả trái đất, và chúng ta đều gánh chung tai nạn đó. Khi chúng ta thấy được rằng niềm đau của họ chính là niềm đau của mình, họ chết tức là mình chết, thì chúng ta đã bắt đầu thấy được cái tính vô ngã. Khi tôi thắp hương và cầu nguyện cho những người chết ở trận hải chấn, tôi thấy rất rõ là tôi không chỉ cầu nguyện cho những người chết và cho thân nhân của họ mà cũng cầu nguyện cho chính tôi, tại vì chính tôi cũng là nạn nhân của cuộc hải chấn đó. Chính chúng ta đã chết chứ không phải chỉ có trên tám mươi ngàn người chết. Hễ mình thương là mình thấy được rằng người kia cũng là mình, và nếu người kia chết thì mình cũng chết. Tuy rằng mình đang ngồi đây, coi như mình còn sống nhưng kỳ thực mình cũng đã chết.

Cái đang xảy ra cho một phần của cơ thể đã xảy ra cho cả cơ thể. Nhân loại, trái đất là một cơ thể. Tôi có cảm tưởng rằng trái đất của mình đang đau khổ, và trận hải chấn này như một tiếng gọi quặn đau của trái đất, như một tiếng kêu than, kêu cứu, một lời cảnh cáo. Lâu nay chúng ta sống với nhau không có từ bi, chúng ta tiêu diệt nhau, chúng ta làm khốn khổ luôn cả đất mẹ. Vì vậy cho nên trái đất đã quặn mình, đã rên xiết, đã khổ đau. Trái đất là mẹ của tất cả mọi loài. Chúng ta làm khổ nhau và chúng ta làm khổ mẹ. Những trận hải chấn như vậy là những tiếng chuông chánh niệm. Sự đau khổ của một phần nhân loại là sự đau khổ của cả nhân loại. Chúng ta phải thấy như vậy, chúng ta phải tỉnh dậy!

Ngày xưa, mỗi khi có thiên tai, như lụt lội, hay động đất, hay bệnh dịch, các vị vua chúa ở các nước Á châu cảm thấy đó là cái lỗi chung, và họ tin rằng là những người trị nước, họ đã không sống xứng đáng để cho tai họa thiên nhiên đổ ập xuống đất nước và dân chúng. Thường thường các vị vua chúa ở Á châu, mỗi khi có tai nạn thiên nhiên như vậy thì phát nguyện ăn chay, nằm đất, cầu nguyện, và các quan trong triều cũng ăn chay, nằm đất, cầu nguyện theo như vậy trong nhiều tuần lễ. Rất hay! Truyền thống ấy hiện bây giờ không còn nữa. Một ông vua phát nguyện ăn chay, phát nguyện không nằm trên giường ngự nữa, đem chiếu trải xuống nằm dưới đất. Nó có nghĩa là ông vua đó đã thấy được rõ trách nhiệm của mình, mình đã sống như thế nào, mình đã cai trị như thế nào mà để cho những tai ương như vậy xảy ra trong nước. Hành động ăn chay, nằm đất của vua, của các quan trong triều đình là hành động của sự sám hối. Rất đẹp! Các nhà làm chính trị thời nay không thấy được như vậy.

Chúng ta không phải là những nhà chính trị, chúng ta không phải là những ông vua, nhưng chúng ta thấy những đau thương khổ nạn xảy ra cho trái đất, cho nhân loại như vậy, thì chúng ta cũng phải ăn chay, chúng ta cũng phải nằm đất, chúng ta cũng phải tu tĩnh trở lại, tại vì cái nghiệp là cái nghiệp chung. Tất cả chúng ta, dầu ít dầu nhiều, cũng đã đóng góp vào cái nghiệp chung, và những tai họa xảy ra cho bất cứ một bộ phận nào của trái đất, của nhân loại, thì dầu ít dầu nhiều chúng ta cũng phải chịu chung một phần trách nhiệm. Và khi người ấy chết thì ta cũng chết, người đó đau ta cũng đau, người đó tuyệt vọng ta cũng tuyệt vọng.

Thấy như vậy là cái thấy vô ngã. Trong cái thấy của Victor Hugo, người ta tìm ra được cái ý hướng, cái nhận thức của sự vượt thoát cái ngã. Khi người ta thấy được cái tính vô ngã của những hiện tượng thương đau như vậy, thì người ta bắt đầu chấp nhận được và chịu đựng được những đau khổ đó, và người ta không còn phản kháng nữa, phản kháng Thượng Đế, phản kháng lại thân phận con người. Trong Đạo Đức kinh có câu:

Thiên địa bất nhân dĩ vạn vật như sô cẩu

Thánh nhân bất nhân dĩ vạn vật như sô cẩu

Có nghĩa là trời đất bất công coi muôn loài như là con chó rơm, các bậc thánh nhân là bất nhân tại vì các bậc thánh nhân cũng coi muôn loài như là con chó rơm. Con chó rơm, tức là thân phận tồi tàn, không có nghĩa gì cả. Sanh ra muôn loài lại để muôn loài đau khổ và chết chóc như vậy thì trời đất quả thật là bất nhân. Thánh nhân ở đây tức là các vị vua. Những hiệu lệnh của vua gọi là thánh chỉ, những ý kiến của vua gọi là thánh ý. Thánh nhân ở đây là các nhà làm chính trị. Các nhà làm chính trị quyết định về số mạng của con người, họ quyết định phải đi chinh phục, phải tạo chiến tranh, và vì vậy họ cũng bất nhân như trời và đất. Đó là những câu phản kháng về số phận con người.

Lát nữa đây, chúng ta sẽ niệm danh hiệu của đức Bổn Sư, danh hiệu của đức bồ tát Văn Thù Sư Lợi, danh hiệu của đức bồ tát Phổ Hiền và danh hiệu của đức bồ tát Quan Thế Âm. Chúng ta như một tăng thân hãy chế tác ra năng lượng của từ bi, của chánh niệm, chúng ta ôm lấy hết cả trái đất, chúng ta cầu nguyện cho tất cả những nạn nhân, chúng ta cầu nguyện cho gia đình của họ hiện bây giờ đang khóc, người thì có người ôm lấy để khóc, người thì không có ai để ôm mà khóc, và chúng ta cầu nguyện cho chính chúng ta, tại vì chúng ta cũng là nạn nhân của trận hải chấn kinh khiếp vừa mới xảy ra. Xin đại chúng quán chiếu. Đây là cơ hội để cho chúng ta lớn lên, để chúng ta hiểu thêm.

 

 

Dù quý vị đến từ truyền thống Cơ Đốc giáo, Do Thái giáo, hay Phật giáo, quý vị cũng phải quán chiếu. Cái chìa khóa của sự quán chiếu là vô ngã. Victor Hugo là người Cơ Đốc giáo, ông đã tìm ra được sự vượt thoát cái ngã. Chúng ta phải quán chiếu rằng người chết đó cũng chính là ta, người mồ côi đó cũng chính là ta, em bé đó cũng chính là ta. Chỉ như vậy chúng ta mới chấp nhận được, chịu đựng được những nỗi đau thương quá lớn như nỗi đau thương hôm nay.

Xin đại chúng ngồi thẳng lên, chắp tay lại, để chúng ta cùng hộ niệm…(chuông).

Buông bỏ căng thẳng

 

Buông bỏ căng thẳng

Ngồi thiền là một cơ hội để chúng ta được tĩnh tâm, nhưng có nhiều người càng ngồi thiền lại càng đau, giống như là gồng mình vậy, rất là cực khổ. Tại sao phải làm như vậy. Tu tập thì phải thấy dễ chịu, nếu tu tập mà phải cố gắng, phải tranh đấu thì tức là mình đang đi lạc đường rồi.

Khi thở vào, mình buông thư và mỉm cười thì hơi thở đó sẽ đưa tới sự bình an, khỏe nhẹ. Điều này có thể làm được. Mình phải tập luyện để thở vào cảm thấy khỏe nhẹ liền, thấy vui sướng liền. Thở vào, thở ra là một cái gì mình có thể làm được trong từng phút từng giây trong cuộc sống.

Nếu muốn thực tập thì mình chỉ cần để ý tới hơi thở vào, hơi thở ra. Thở vào – tôi biết không khí đang đi vào trong người tôi, thở ra – tôi thấy một luồng không khí đang đi ra khỏi cơ thể tôi. Biết rõ hơi thở đang đi vào, đang đi ra một cách rõ ràng đó chính là chánh niệm, chánh niệm là cái biết, chánh niệm là một loại ánh sáng tỏa chiếu giúp mình thấy rõ. Nó giống như ánh sáng của mặt trời bao trùm làm sáng rõ cả vạn vật và rừng cây.

 

 

Khi biết rõ hơi thở đang đi vào hay đang đi ra trong cơ thể mình, tức là mình đã thắp lên ánh sáng của tỉnh thức, tỉnh thức nghĩa là đã thức dậy, lúc này phẩm chất của hơi thở đã rất khác rồi, hơi thở trở nên sâu hơn, nhẹ hơn, mịn màng hơn. Và mình thấy thân tâm mát mẻ, bình an liền lập tức, chỉ cần vài giây thôi, điều này rất dễ làm.

“Thở vào tôi thấy tôi đang còn sống, thở ra tôi trân quý cuộc sống này”. Còn sống là một phép lạ, một cái thân chết rồi thì làm sao thở được nữa? Đó chính là một thứ tỉnh thức, một sự tỉnh dậy. Có những người sống xung quanh chúng ta mà họ không biết là họ đang sống. Họ như đang đi trong giấc mộng, họ bị những suy tư, lo toan kéo đi, suốt cả ngày họ suy nghĩ hết chuyện nọ tới chuyện kia. Họ đang nằm mộng giữa ban ngày, mộng về chuyện này rồi lại mộng về chuyện khác, cái thực tại trước mặt họ thì họ không thấy, vì vậy họ sống mà như người mộng du. Do đó, hơi thở chánh niệm làm cho mình bừng tỉnh dậy.

Đạo Bụt là đạo làm cho mình tỉnh dậy để nhận thức một cách rất thâm sâu, sáng suốt, từ bi. Chỉ cần thở vào, thở ra là mình đã thở xong, là đã có niềm vui, sự buông thư, khỏe nhẹ rồi. Bụt đã tặng cho chúng ta những bài tập rất đơn sơ, giản dị. Thở vào, tôi ý thức toàn thân tôi. Khi ý thức toàn thân thì mình sẽ lắng nghe được những căng thẳng, đau nhức trong cơ thể của mình, nhận ra rằng cánh tay hơi mỏi, trái tim của mình hôm nay bị mệt, nó đang đập rất nhanh, ý thức và buông thư sẽ giúp chúng ta trị lành và phòng ngừa được rất nhiều thứ bệnh.

Những căng thẳng, buồn phiền nếu không được buông thư thì lâu ngày chày tháng nó sẽ trở thành bệnh. Vì vậy, chúng ta phải chấm dứt tình trạng căng thẳng trong thân tâm. Hơi thở có ý thức là một phương pháp rất mầu nhiệm để thực hiện được điều đó. Bây giờ bạn hãy vừa theo dõi hơi thở vừa ý thức về toàn thân của mình, chú ý tới đôi mắt, khuôn mặt, cái cổ, bờ vai, hai cánh tay, trái tim, lá phổi, lá gan, dạ dày, thận, tấm lưng, hai bên hông, bắp đùi, bàn chân… Nương vào hơi thở, mời bạn hãy đi thăm hết tất cả các bộ phận trong cơ thể mình, hơi thở là một chiếc dây neo cột thân lại với tâm, đặt sự chú ý tới đâu thì buông thư tới đấy. Thả lỏng toàn thân, buông bỏ mọi lo lắng, suy tư thì mình sẽ thấy khỏe nhẹ, an lạc ngay tức thì.

Thở vào, ý thức toàn thân, buông thư tất cả sự căng thẳng trong từng bộ phận cơ thể. Thở ra buông thư toàn thân. Thực tập như vậy, tuy chưa giúp được ai nhưng trước tiên là giúp chính mình thư thái, khỏe khoắn. Thành ra, thiền quán không phải là một lao tác cực khổ. Ngồi thiền mà thấy mình đang lao tác cực khổ là sai bét rồi. Phải ngồi làm sao mà trong lúc ngồi ta phải cảm thấy an vui, thấy rằng lúc này mình đang được ngồi yên, theo dõi hơi thở đang từ từ đi vào, hơi thở đang từ từ đi ra, mà chẳng phải làm việc gì hết đó là một điều quá sức mầu nhiệm.

Khi Tổng thống Nam Phi Nelson Madela được các phóng viên đặt câu hỏi: “Bây giờ ông muốn làm cái gì nhất?”. Tổng thống trả lời: “Tôi ấy hả? Bây giờ cái mà tôi thích nhất là được ngồi yên chẳng phải làm gì hết”. Chúng ta được ngồi thiền mỗi ngày, trong khi ngồi thật yên thưởng thức hơi thở, không ai bảo mình làm việc gì hết, vậy mà không thấy sướng, trong khi ông Nelson Madela thì thèm được ngồi yên như mình quá mà không có thời gian để ngồi yên.

Khi tới Làng Mai tu tập, có Tăng thân yểm trợ thì mỗi hơi thở, mỗi bước chân mà mình thực hiện phải đạt tới niềm vui, sự sung sướng, hạnh phúc, bình an, trị liệu những vết thương trong thân và tâm. Khi thở vào, mình có thể đi một hai bước và thầm nói: “Tôi đã về, tôi đã tới”. Mình đã về rồi, mình đã tới rồi. Mình thật sự đã tới nhà của mình, nơi mà bấy lâu nay mình cứ mải kiếm tìm. Nhà của mình chính là giây phút hiện tại, khi mình an trú được trong giây phút hiện tại nghĩa là mình đã đặt được chân tới nhà, sự sống chỉ có mặt trong giây phút hiện tại, quá khứ đã qua rồi, còn tương lai thì chưa tới. Vì vậy, tuy đang bước đi nhưng mình đã dừng được, mình đã thật về, đã thật tới rồi, không còn mải miết rong ruổi về quá khứ hay đuổi bắt tương lai nữa. 

Có nhiều người tuy đang ngồi đây nhưng tâm họ lại nhớ tới quá khứ, họ đang đau khổ, và họ không thể thoát ra khỏi quá khứ đau thương ấy. Quá khứ giống như một bóng ma đang ám ảnh người đó làm cho người đó không sống đàng hoàng được trong giây phút hiện tại. Trong khi đó, lại có những người rất sợ hãi tương lai, họ lo lắng, không biết ngày mai mình còn được làm ở công ty này không, mình còn giữ được người này không, hay người ấy lại bỏ mình để đi yêu người khác… Cái gì cũng sợ, cái gì cũng lo. Vì vậy, người đó không được thảnh thơi, người đó không được sống đàng hoàng ở giây phút hiện tại. Thành ra, chúng ta phải vứt bỏ những khổ đau trong quá khứ và đập tan những sợ hãi trong tương lai thì mới có thể sống đàng hoàng trong giây phút hiện tại được.

Biết hơi thở đang đi vào hay đi ra chính là chánh niệm. Khi định được tâm vào hơi thở thì mình sẽ nhẹ bớt một chút lo lắng, buồn bực, giận hờn và có thể tiếp xúc rất sâu với những mầu nhiệm của sự sống trong phút giây hiện tại, như là sương mù buổi sáng, tiếng chim hót, hay nét mặt của em bé thơ. Có khả năng sống trong phút giây hiện tại và tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống thì mình được nuôi dưỡng bởi những mầu nhiệm đó, và nó sẽ chữa lành từ từ những niềm đau của mình.

Trân quý người thương

Các vị đã biết thương chưa? Đã thương ai bao giờ chưa? Khi thương ai mình muốn nhìn sâu vào ánh mắt người đó và nói với người đó rằng người đó là nguồn hạnh phúc của mình. Mẹ ơi, mẹ là một kho tàng của con; ba là kho tàng của con; hay em yêu ơi, em là kho tàng của anh; anh yêu ơi, anh là kho tàng của em, v.v… Tại vì trong người kia có rất nhiều tươi mát, người ấy hiểu và thương mình. Người ấy cũng có sự vững chãi, có thể giúp mình không sợ hãi. Mình rất cần sự vững chãi ấy để được che chở, được chống đỡ. Và mình luôn mong rằng người ấy lúc nào cũng tươi mát, vững chãi, hiểu biết và thương yêu mình, để mình có thể tận hưởng người ấy. Có thể là mình muốn làm điều gì đó để kéo dài tình trạng êm đềm này. Nếu chúng ta chịu khó tu tập thì chúng ta luôn luôn có thể làm được nhiều điều để khiến cho người kia tiếp tục là suối nguồn hạnh phúc ngọt ngào của mình.

 

 

Cũng như vậy, khi mình là người thương của người kia thì mình cũng muốn trở thành nguồn vui của người ấy, muốn đem đến cho người ấy sự tươi mát, bình an, cũng muốn trở thành một điểm tựa vững chãi của người ấy. Bụt dạy về tình thương rất sâu sắc, rõ ràng, mình có thể thực tập ngay bây giờ, ngay ngày hôm nay. Sự tu tập thiền quán đem lại rất nhiều niềm vui và hạnh phúc, khi có niềm vui và hạnh phúc trong lòng thì những người ở xung quanh cũng sẽ được thừa hưởng niềm vui toát ra từ mình. Thiền quán đem lại nhiều hạnh phúc như vậy thì mình mớii thiền, chứ nếu không thì thiền để làm gì?

Khi người thương nhìn vào mắt mình rồi nói: “Con là kho tàng của mẹ”, nghe vậy mình muốn trở thành kho tàng đó thật, mình muốn tu tập cho đàng hoàng để xứng đáng với niềm tin đó. Người thương có thể là cha là mẹ hay anh chị em mình, hay bè bạn của mình. Sự tu tập luôn cung cấp cho mình niềm hạnh phúc.

Tình thương chân thật phải chứa đựng niềm vui, tình thương ấy đem niềm vui tới cho cả mình lẫn người kia. Nếu thương nhau mà cả hai cùng khổ, cứ khóc hoài, cứ hờn giận nhau thì đó không phải là tình thương.

 

 

 

 

Thiên thu trong khoảnh khắc

Nương tựa hơi thở

Một hơi thở vào có thể dài từ bốn tới mười giây, một hơi thở ra có thể tương tự hoặc dài hơn. Thường thì hơi thở ra dài hơn. Khi thở vào, bụng ta phồng lên; khi thở ra, bụng ta xẹp xuống. Nếu muốn kéo dài hơi thở ra, ta có thể ép bụng xẹp thêm nữa và như vậy ta có thể thở ra thêm vài giây nữa. Khi ép bụng để thở ra thêm ba bốn giây nữa thì phần thán khí trong phổi mình được thải ra thêm. Khi thả cho hai lá phổi hít vào là ta cho vào phổi thêm không khí trong lành. Nếu biết cách kéo dài hơi thở ra để đưa không khí trong phổi ra ngoài nhiều hơn thì còn tốt hơn nữa.

Khi chú ý tới sự phồng xẹp của bụng trong lúc thở thì đó là ta thở bụng. Khi thở bụng, hơi thở vào và hơi thở ra có thể dài hơn. Rất dễ chịu, nhất là khi phòng thoáng khí, hay là khi ta thực tập ngoài trời. Càng có nhiều không khí trong lành càng có tác dụng tốt cho sức khỏe của ta. Thực tập thở bụng là đi theo sự phồng xẹp của bụng: khi bụng phồng lên, ta cùng phồng với nó; khi bụng xẹp xuống, ta cùng xẹp với nó và ta nói: “xẹp thêm một chút nữa!”. Như vậy ta đẩy thêm thán khí trong phổi ra ngoài. Đến khi thả ra thì không khí tự động được hít vào. Nếu thấy dễ chịu trong khi thở vào, ta có thể cho không khí vào thêm một hoặc hai giây nữa. Nhưng nên chú ý tới phần thở ra nhiều hơn. Thở ra thêm được vài ba giây bao giờ cũng tốt cả.

Ta có thể quay về nương tựa nơi hơi thở. Ta thường hay nói nương tựa vào Tam Bảo, ít khi nói nương tựa vào hơi thở, hay vào bước chân. Nhưng nếu hơi thở có chánh niệm, nếu bước chân có chánh niệm, thì trong khi nương tựa vào hơi thở hay vào bước chân thì ta cũng nương tựa vào Tam Bảo. Vì bản chất của Tam Bảo là niệm, định và tuệ. Vậy nương vào hơi thở cũng chính là nương vào Tam Bảo. Nói “nương vào hơi thở” tuy không dùng danh từ Tam Bảo, nhưng bản chất của Tam Bảo có mặt trong hơi thở của ta. Trong khi ngồi, trong khi đi, ta hãy thở như thế nào để có hạnh phúc và an lạc ngay trong khi thở vào và thở ra. Ta không cần đi tìm hạnh phúc ở nơi khác, lúc khác. Ta tìm hạnh phúc ngay trong hơi thở vào và hơi thở ra.

Tịnh độ trong hơi thở

Tu Tịnh độ ta cũng có thể làm như vậy. Đừng đi tìm Tịnh độ ở một không gian hay một thời gian khác. Ta nên tìm Tịnh độ ngay trong hơi thở vào và hơi thở ra của ta. Tìm được Tịnh độ, có hạnh phúc ngay trong hơi thở vào và hơi thở ra là ta đã thành công, ta không còn lo lắng cho tương lai nữa. Có Tịnh độ rồi, có hạnh phúc rồi, tại sao ta phải nghĩ tới tương lai nữa? “Thở vào, tôi ý thức là bụng tôi đang phồng lên; thở ra, tôi ý thức là bụng tôi đang xẹp xuống. Thở ra, tôi xẹp cái bụng thêm một chút nữa để cho hơi thở ra của tôi đi ra thêm”. Trong khi thở như vậy, ta sẽ có rất nhiều hạnh phúc. “Thở vào, tôi tìm hạnh phúc ngay trong hơi thở vào của tôi. Tôi biết rằng nếu tôi không tìm được hạnh phúc ngay trong hơi thở vào thì tôi sẽ không tìm được hạnh phúc ở một chỗ nào khác”. Phải tự thách thức mình như vậy!

Trong một bài pháp thoại trước, tôi có nói rằng: Tịnh độ là bây giờ hay là không bao giờ cả! (The Kingdom is now or never!) Bây giờ là gì? Bây giờ là lúc ta đang thở vào. Ta phải tìm cho ra Tịnh độ, phải tìm cho ra hạnh phúc trong hơi thở vào. Phải tự thách đố mình. “Hạnh phúc là bây giờ hay không bao giờ hết” là khẩu hiệu của Làng Mai (happiness is now or never).

Theo giáo lý của Làng Mai thì ta chỉ có giây phút hiện tại thôi (The present moment is the only moment). Nếu trượt thì còn gì nữa! Ta nói ta có ước hẹn với sự sống, và cái ước hẹn đó được chỉ định là ở giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây. Điều này cũng dễ hiểu thôi, tại vì sự sống chỉ có mặt trong giây phút hiện tại. Đánh mất giây phút hiện tại là đánh mất ước hẹn với sự sống, nên ta phải đúng hẹn.

Thở vào chính là lúc để ta trở về với giây phút hiện tại, chính là lúc để ta tiếp xúc với sự sống. Hơi thở vào rất mầu nhiệm. Hơi thở vào chứa đựng niết bàn, chứa đựng Tịnh độ, chứa đựng hạnh phúc và tự do. Chúng ta đừng nên đi tìm những thứ đó ở nơi khác và ở lúc khác. Đó là một sự thách đố. Nếu thở vào mà thấy được Tịnh độ, thấy được hạnh phúc, thấy được tự do, thì… hết hơi thở vào, ta chết cũng được! Ta đã thành công rồi! Tại sao phải đòi thêm mấy chục năm nữa?

Kiếp người trong hơi thở

Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương có một đoạn đức Thế Tôn hỏi các thầy: “Mạng sống của con người được bao lâu?” Một thầy trả lời: “Bạch đức Thế Tôn, có thể nói là 100 năm”.

Đức Thế Tôn mỉm cười. Ngài hỏi thầy khác. Thầy trả lời: “Bạch đức Thế Tôn, vài chục năm”.

Đức Thế Tôn cũng mỉm cười. Ngài lại hỏi thầy khác, thầy này trả lời: “Bạch đức Thế Tôn, một tuần lễ”.

Đức Thế Tôn vẫn mỉm cười. Bụt lại hỏi, một thầy nữa trả lời: “Bạch đức Thế Tôn, một ngày một đêm”.

Ngài cũng chỉ mỉm cười. Nhìn một thầy ngồi gần, Bụt hỏi, thầy này trả lời: “Bạch đức Thế Tôn, mạng sống của con người chỉ trong một hơi thở!” Đức Thế Tôn gật đầu.

Trong Quy Sơn Cảnh Sách có câu: Chuyển tức tức thị lai sanh, nghĩa là khi đổi một hơi thở vào thành một hơi thở ra là ta đã sanh ra đời khác rồi, tức là đời sống của ta bị giới hạn trong một hơi thở. Vậy thì phải làm sao để trong hơi thở vào, ra, ta có hạnh phúc, có an lạc và có sự thỏa mãn. Được vậy là ta thành công. Đây là một thách thức rất lớn. Nếu trong hơi thở vào mà không có hạnh phúc thì sức mấy mà anh có hạnh phúc trong tương lai. Muốn có hạnh phúc, anh phải có một cái thấy (vision) rất sâu. Đó là cái thấy của kinh Hoa Nghiêm: một giây phút chứa đựng cả thiên thu. Không những đức Thế Tôn nói như vậy mà chính những thi sĩ lớn cũng nói như vậy. Thiền sư Khánh Hỷ, đức Tăng Thống của Phật giáo Đại Việt vào thế kỷ thứ XI có nói:

Càn khôn tận thị mao đầu thượng
Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung.

Nghĩa là tất cả trời đất có thể đặt gọn trên một sợi tóc, và cả mặt trời mặt trăng có thể nhét vào trong một hạt cải. Cái vô cùng lớn nằm trong cái vô cùng nhỏ, và cái thiên thu nằm trong cái khoảnh khắc. Nếu sống với cái thấy của kinh Hoa Nghiêm, khi tiếp xúc với khoảnh khắc thì đồng thời ta cũng tiếp xúc với thiên thu. Ta không thiếu cái gì cả.

Và như vậy hơi thở vào là một sự thách thức đối với ta. Có hạnh phúc hay không là tùy ở hơi thở vào đó. Thực tập thiền đi cũng vậy. Mỗi bước chân là một thách thức. Ai cũng bước một bước. Nhưng có người thì bước trong cõi Tịnh độ, còn có người thì bước trong cõi trầm luân. Tùy theo cái thấy của ta mà thôi.

Bước như thế nào để có thể đi vào Tịnh độ, để có an lạc và hạnh phúc liền trong bước đó. Ta phải đầu tư hết con người của ta vào trong bước chân đó. Bước chân đó phải có niệm, có định và có tuệ. Ta biết một bước chân chứa đựng tất cả những bước chân: đi được một bước thành công là tất cả những bước chân khác cũng thành công. Mà suốt cả một trăm năm có mấy ai đi được một bước như vậy? Đi được một bước như vậy rồi thì ta cần gì một trăm năm nữa?

Thiên đường và địa ngục

Trong truyền thống Do-Thái và Ki-Tô giáo, quan niệm về thời gian và không gian khác với quan niệm về thời gian và không gian trong đạo Bụt. Trong tín ngưỡng phổ thông của Cơ Đốc giáo, có một cõi đời do Thượng Đế tạo dựng, và chúng ta chỉ có một đời để sống trên cõi đời này thôi. Khi chết, chúng ta lên thiên đường hoặc xuống địa ngục. Thiên đường, địa ngục ở hai bên (xem hình.1). Khi xuất hiện ở cõi đời thì anh chỉ có cơ hội sống một kiếp thôi. Tùy theo cách anh sống ở kiếp đó mà sau đó anh đi lên thiên đường hoặc đi xuống địa ngục, lên là lên luôn, xuống là xuống luôn – vĩnh viễn. Anh không có cơ hội trở về cõi đời này nữa. Đó là vũ trụ quan của người Cơ Đốc.
(xem hình 1)

 

Nhưng nhiều khi cuộc đời ngắn ngủi quá, chưa được một trăm năm, mới chỉ được ba bốn chục năm mà ta đã chết rồi, thành ra ta cảm thấy rất cấn cái, chật vật, không thoải mái. Theo ý của Chúa, chúng ta chỉ có chừng đó thời gian thôi. Thành cái thấy của Ki-Tô giáo đối với cuộc đời trên trái đất này cho chúng ta một cảm giác thôi thúc, phải làm gấp, phải nhanh lên, không nên làm biếng.

Đạo Phật có dạy về luân hồi, nghĩa là chết rồi thì sanh trở lại và sanh ra rất nhiều kiếp (xem hình.2).

 

 

Thành ra người Phật tử cứ… tà tà. Kiếp này không thành công thì kiếp sau, có gì mà phải vội vàng! Với cái thấy đó, ta cho phép mình làm biếng. Nhưng coi chừng! Nếu kiếp sau, tuy được sanh lại trên cõi đời này nhưng nếu không được làm người mà phải làm con chim, con cá, con cóc, con thỏ, thì ta đâu được gặp thầy, đâu được theo tăng thân tu học. Vì vậy nên ta cũng phải cảnh giác, không thể nào làm biếng được đâu! Nhất thất nhân thân, vạn kiếp bất phục. Nghĩa là một lần mất thân người muôn kiếp khó trở lại. Đó cũng là tiếng chuông chánh niệm. Thành ra ta đừng coi thường! Tuy sẽ sanh lại rất nhiều lần nhưng chắc gì anh được làm người trở lại. Vì vậy anh cần phải đề cao cảnh giác.

Lá nuôi cây, cây nuôi lá

Thầy thị giả mới nhặt chiếc lá sồi này ở ngoài sân. Chiếc lá này sanh ra vào mùa xuân và đến khoảng tháng mười một năm nay thì nó rụng. Nó tồn tại vào khoảng tám tháng. Chúng ta người nào cũng có ngày sanh và ngày diệt. Chúng ta không khác gì chiếc lá. Chiếc lá này đã có cơ hội của nó rồi. Tám tháng của đời nó đã đi qua.

Đứng về phương diện của người Phật tử, chúng ta thấy chiếc lá có thể bắt đầu trở lại được. Chúng ta cứ để chiếc lá này mục đi, thành đất. Và cây có thể lấy chất liệu bổ dưỡng đó để làm ra những chiếc lá mới. Vậy thì chiếc lá này có thể luân hồi để thành những chiếc lá khác. Nhưng nó có thể không luân hồi thành một chiếc lá mà luân hồi thành cành cây; nó có thể không luân hồi vào cây này mà luân hồi vào một cây khác. Như vậy, không có gì bảo đảm cả. Nghĩa là nó sẽ tiếp tục.

Tám tháng là một cơ hội. Trong tám tháng đó, chiếc lá này có thể đã làm ăn rất hay. Chúng ta có thể thấy nó mới sinh ra, xanh mơn mởn và đùa giỡn trong ánh nắng mặt trời tháng tư, tháng năm. Chiếc lá này đã chứng kiến trời xanh mây trắng, đã thu nhiếp ánh sáng mặt trời, đã chế tác nhựa nguyên thành nhựa luyện, đã nuôi cây và nuôi cành. Chiếc lá này đã làm việc rất nhiều. Không phải chỉ có cây mới nuôi lá, mà lá trong suốt đời của nó cũng đã chế tác nhựa luyện để nuôi cây. Vì vậy nên nhìn vào lá là thấy cây và nhìn vào cây là thấy lá.

Nhìn vào xác lá, chúng ta đừng tưởng tất cả chiếc lá đang nằm trong cái xác này. Không! Chiếc lá này hiện vẫn đang nằm trong cây, vì suốt cuộc đời nó đã nuôi cây. Mỗi ngày, chiếc lá này hấp thụ những chất khí trong không gian, hấp thụ ánh nắng của mặt trời, tinh luyện ra nhựa luyện để gởi trở lại nuôi cây, nuôi cành và nuôi rễ. Vì vậy nói cuộc đời tám tháng của chiếc lá nằm trong cái xác lá này là không đúng. Đây chỉ là một phần nhỏ của chiếc lá. Chiếc lá hiện còn sinh động rất nhiều ở trong cây và đến tháng tư sang năm nó sẽ biểu hiện trở lại.

Như ông nội của mình, đừng nói ông nội mình đang nằm trong lòng đất! Ông nội đang có mặt trong mỗi tế bào của cơ thể mình. Mỗi khi mình thở vào thanh thản, nhẹ nhàng, ông nội mình cũng đang được thở vào thanh thản, nhẹ nhàng. Ít hay nhiều, mình phải thấy được ông nội qua từng hơi thở.

Cũng vậy, đừng thấy chiếc lá đã sống được tám tháng trên cây, hiện đang nằm dưới hình thức một tờ lá chết. Không! Chiếc lá đó không chỉ nằm ở đây: nó nằm ở mọi nơi, ở trong cây và ngoài cây. Chúng ta đã đi thiền hành qua những hàng sồi trong mùa xuân, trong mùa hè. Chúng ta đã hít thở không khí trong lành của chiếc lá tỏa ra.

Chiếc lá có mặt trong mỗi người chúng ta. Ta phải thấy chiếc lá này ở trong ta, không phải chỉ ở ngoài ta mà thôi. Quý vị đã tới Làng Mai. Quý vị đã hít thở và đã có những chiếc lá mùa xuân, mùa hè trong quý vị. Những chiếc lá đó đã chế tác dưỡng khí cho quý vị thở. Vì vậy nên chúng ta đừng dại dột nghĩ chiếc lá chỉ nằm trong cái xác lá này. Chiếc lá có mặt trong cây, trong quý vị và nó đang tiếp tục luân hồi.

Tịnh độ trong ta bà

Quan niệm về thời gian trong đạo Phật rất khác với quan niệm về thời gian trong đạo Chúa. Trong tín ngưỡng bình dân của đạo Phật thì có cõi ta bà, nhưng ngoài cõi ta bà còn có những cõi khác nữa. Trong đạo Phật có “tam thiên đại thiên thế giới”. Trong kinh, Bụt nói rằng: “Quý vị hãy nhìn sông Hằng xem! Sông Hằng có biết bao nhiêu là cát. Giả dụ mỗi hạt cát là một tam thiên đại thiên thế giới và sự thật là có bao nhiêu cát thì có bấy nhiêu tam thiên đại thiên thế giới”.

Cái thấy của đạo Phật về vũ trụ so với cái thấy đạo Chúa lớn hơn nhiều. Trong Thánh kinh, vũ trụ, trước hết là trái đất này. Trái đất là sân khấu của lịch sử: lịch sử bắt đầu ở đó và chấm dứt tại đó. Ban đầu, Thượng Đế tạo dựng ra với mục đích nào đó, và con người phải vâng theo ý của Chúa thì mới thành công. Khoa học vẫn còn bị ảnh hưởng bởi quan niệm thời gian đó. Khoa học đã cố gắng đi tìm cái khởi thỉ của vũ trụ, và do đó mới có thuyết Big Bang. Nhưng trong đạo Phật thì không có khởi thỉ (vô thỉ) và không có chung cuộc (vô chung).

Trong đạo Phật có cõi ta bà, có những cõi trời và những cõi khổ đau (xem hình.2). Có nhiều thứ địa ngục chứ không phải chỉ có một. Có địa ngục này dễ thở hơn địa ngục khác. Từ trái đất chúng ta lại sinh ra lại trong trái đất và tùy theo nghiệp lành hay nghiệp dữ mà chúng ta được sinh lên cõi trời hay phải xuống địa ngục.

Ở cõi trời cũng vô thường. Nếu thực tập năm giới một cách vững chãi, quý vị được sinh lên cõi thiên. Sau khi hưởng hết phước báu, quý vị trở xuống lại. Nếu quý vị làm ăn không đàng hoàng thì phải xuống địa ngục. Sau khi trả quả báo ở địa ngục xong thì quý vị được lên trở lại. Rất vui. Trong đạo Phật có nhiều cõi trời và nhiều loại địa ngục. Chúng ta thấy trong vũ trụ quan của đạo Phật, con người thoải mái hơn, đứng về phương diện không gian cũng như đứng về phương diện thời gian. Không có giới hạn về không gian và thời gian, ta gọi là vô thỉ vô chung.

Theo kinh điển đạo Phật, trái đất này là nơi đức Thích Ca chọn để làm Phật độ của ngài. Đọc trong kinh điển, ta được biết một kiếp ở cõi ta bà chỉ bằng một ngày một đêm ở cõi Tịnh độ của Bụt A Di Đà. Qua đó ta thấy quan niệm thời gian tương đối rất rõ ràng ở trong đạo Bụt. Cũng trong khoảng thời gian đó mà người này thấy rất dài và người kia thấy rất ngắn.

Ví dụ khi ngồi thiền 45 phút: có người thấy thời gian dài quá, sao chưa có tiếng chuông? Có người thấy thở chưa đã mà đã có tiếng chuông rồi! Tùy theo nhận thức của mỗi người mà thời gian 45 phút đó trở nên lâu hay mau. Có phải vậy không? Những người ở tù thấy một ngày trong tù bằng một ngàn năm ở ngoài. Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại. Thời gian là một cái gì tương đối. Thời gian là sản phẩm của trí óc. Nó dài hay ngắn tùy theo cái nhìn của mình. Một kiếp ở cõi ta bà chỉ bằng một ngày một đêm ở cõi Tịnh độ; một kiếp ở cõi Tịnh độ này có thể chỉ ngắn bằng một ngày một đêm của cõi Tịnh độ khác.

Thời gian và không gian

Đến Làng Mai, quý vị thấy một ngày ở Làng Mai cũng khác với một ngày ở thành phố quý vị đang sống. Có một lần tôi đi trên một chiếc xe du lịch (limousine) thuê được ở thành phố, cùng đi với các vị khác để viếng động Ajanta. Đó là một dãy núi mà người xưa đã đục để làm thành nhiều tu viện từ thế kỷ thứ II tới thế kỷ thứ IX. Người ta đục núi ra và trong đó có Phật điện, thiền đường, tăng xá, v.v… đủ hết.

Trong khi làm việc, để có đủ ánh sáng, người ta đã dùng những tấm kiếng để đưa ánh sáng vào trong. Trong động có những tượng Phật và những tác phẩm nghệ thuật khác rất đẹp. Tôi đã từng nằm trên những cái giường bằng đá trong những cái liêu của các thầy để có cảm tưởng mình sống vào thế kỷ thứ II, thứ III Tây lịch. Cái giường bằng đá đó cũng do con người đục núi làm ra.

Trên đường đi Aurangabad, trời rất nắng. Cố nhiên, khi đi xe du lịch là mình muốn tới nơi sớm chừng nào hay chừng đó. Đi tới một chỗ đó thì mình gặp một chiếc xe bò. Chiếc xe bò đi cà rịch cà tang, cà rịch cà tang, rất chậm. Con đường rất khúc khuỷu. Con bò kéo chiếc xe không vội vã gì hết. Người đánh xe cũng vậy. Anh ta ở trần. Anh ta ngồi rất thoải mái trên chiếc xe bò. Anh ta che đầu bằng một nhành cây. Anh ta đi nhưng không có ý muốn tới sớm như người lái xe du lịch.

Người lái xe du lịch từ thành phố tới, và cố nhiên muốn đưa khách tới nơi tham quan càng sớm chừng nào càng tốt chừng đó, để lấy tiền và về đi làm chuyến khác. Vì vậy nên trong người lái xe có cái thao thức muốn đi mau để tới sớm. Nhìn ra, tôi thấy chiếc xe bò do một con bò kéo và có một người ngồi ở trần, đang che nắng bằng một nhành cây đầy lá. Điều này chứng tỏ là con bò không có niềm thao thức muốn đi cho mau tới mà người ngồi đánh xe bò cũng vậy.

Tôi thấy rõ ràng có hai thời gian, hai thế giới hoàn toàn khác nhau. Người đánh xe và con bò, cả hai hoàn toàn không hối hả. Trong khi đó, người lái xe du lịch rất hối hả muốn tới. Chúng ta thấy rất rõ hai hình ảnh đó đại diện cho hai cái thấy về thời gian. Thời gian khác thì không gian cũng khác. Người lái xe du lịch và anh nông dân đang ngồi trên chiếc xe bò, hai người đang sống trong hai thế giới hoàn toàn khác nhau. Những ước mơ, những tính toán, không gian với thời gian, hoàn toàn khác nhau. Và người này không muốn trở thành người kia, người kia không muốn trở thành người này. Ai hạnh phúc hơn ai? Chưa biết!

Vũ trụ trong hạt bụi

Vòng tròn tượng trưng cho một thế giới hay một đơn vị thời gian. Thế giới đó nằm trong một thế giới khác lớn hơn, cũng như nước Pháp nằm trong Âu châu; Âu châu ôm lấy nước Pháp, nhưng Âu châu nằm trên quả địa cầu; quả địa cầu nằm trong Thái dương hệ; Thái dương hệ nằm trong dải ngân hà. Cái này ôm lấy cái khác, và cái khác được ôm lấy bằng cái khác nữa.

Trong cái thấy của đạo Bụt, không những cái lớn ôm lấy cái nhỏ mà cái nhỏ cũng ôm lấy cái lớn. Như chiếc lá sồi này, và cây sồi ngoài kia, nếu quý vị nói chiếc lá này nằm ngoài cây sồi là không đúng. Chúng ta đã quán chiếu để thấy trong suốt tám tháng trời chiếc lá đã làm việc: nó đã cười, đã reo, đã đi qua bao nhiêu mưa nắng. Chiếc lá đã tinh chế biết bao nhiêu nhựa luyện để nuôi thân cây, nuôi những chiếc lá anh, lá chị, lá em, và hiện giờ nó vẫn còn đang có mặt trong cây sồi ngoài kia. Nếu quý vị nghĩ nó chỉ có mặt trong cái xác lá này thôi là quý vị lầm.

Cũng như quý vị tưởng ông nội của quý vị đang nằm trong lòng đất là quý vị lầm. Ông nội của quý vị đang nằm trong quý vị, ông đang thở, đang mỉm cười với quý vị. Chiếc lá này đang chứa đựng cả cái cây. Quý vị đang chứa đựng tất cả tổ tiên. Tổ tiên huyết thống và tổ tiên tâm linh đều đang có mặt trong quý vị. Cái một chứa đựng cái tất cả. Đó là cái thấy của kinh Hoa Nghiêm.

Ta phải thấy được cái một trong cái tất cả và cái tất cả trong cái một; ta phải thấy được thiên thu trong khoảnh khắc, lúc đó ta mới có tự do. Ta phải thấy khi ta thở là thở cho tất cả tổ tiên. Và nếu trong một hơi thở, ta có thảnh thơi, có tự do và hạnh phúc thì tất cả tổ tiên ta đều được thừa hưởng.

Một hơi thở rất quan trọng. Đó là một hành động giải phóng. Giải phóng cho tất cả các tổ tiên trong bao nhiêu kiếp nếu hơi thở đó đem lại cho ta niệm, định và tuệ. Tuệ là cái thấy. Thấy cái gì? Thấy được cái một chứa đựng cái tất cả, thấy một khoảnh khắc chứa đựng cả thiên thu. Nên công phu của quý vị là phải nắm lấy từng hơi thở và từng bước chân. Quý vị phải thành công được trong hơi thở đó, trong bước chân đó, chứ đừng nói “vô lượng kiếp”. Không cần đến vô lượng kiếp.

Trong đạo Phật thường nói bản môn nằm trong tích môn. Nếu tiếp xúc được với một giây phút của tích môn cho thật sâu sắc là ta tiếp xúc được với bản môn. Nếu tiếp xúc được với cái khoảnh khắc cho sâu sắc là ta chạm được cái thiên thu ở trong đó rồi. Vậy thì vòng tròn nhỏ – tượng trưng cho đơn vị không gian và thời gian nhỏ nhất – được ôm lấy bởi vòng tròn lớn – tượng trưng cho không gian và thời gian lớn hơn (hình.3).

 

 

Đó là một chiều. Chiều thứ hai là tuy là đơn vị nhỏ nhất nhưng đồng thời nó cũng chứa đựng tất cả ở trong nó. “Trong hạt bụi có vô số Bụt, mỗi vị an trú chúng hội mình. Đức tin của con vẫn tràn đầy trong mỗi hạt bụi của Pháp giới”. Khoa học bây giờ bắt đầu thấy được điều đó: một hạt bụi chứa đựng tất cả những hạt bụi. Ý niệm về một, về nhiều, về lớn, về nhỏ, bắt đầu tan biến. Tu học là để giác ngộ. Giác ngộ để có hạnh phúc.

 

Niết bàn trong sinh tử

Có một lúc nào đó, tự nhiên chúng ta thấy mình đang đi trên con đường thời gian. (Xem hình 4)

 

 

Chúng ta thấy chúng ta tới từ vô thỉ. Trong đạo Phật, không bao giờ có cái bắt đầu. Điểm bắt đầu của cái này là sự chấm dứt của cái khác. Bắt đầu của năm 2008 là sự chấm dứt của năm 2007, vì vậy cho nên năm 2008 chỉ là sự tiếp nối của năm 2007 mà thôi. Thành ra cái chúng ta gọi là bắt đầu không phải là bắt đầu mà chỉ là sự tiếp nối. Sự bắt đầu của năm 2007 chẳng qua là sự chấm dứt của năm 2006! Vì vậy cho nên không có cái bắt đầu.

Khoa học bây giờ nên đi theo chiều hướng đó để tiếp tục khám phá, chứ đi tìm cái bắt đầu là vẫn còn bị kẹt. Vì ý niệm bắt đầu là một sáng tạo phẩm của trí óc (mental construction). Trong đạo Phật có vô minh, có luân hồi, nên người Phật tử tu là để chấm dứt luân hồi, đạt tới niết bàn. Ví dụ mình tu tới giao điểm A (Hình 4) là chấm dứt được luân hồi. Luân hồi hình như có điểm chấm dứt. Chấm dứt luân hồi tức bắt đầu niết bàn. Niết bàn hình như có điểm khởi đầu. Và đó là ý niệm về đắc mà Tát Bà Đa bộ sáng tạo. Đắc là cái gì mình chưa có mà bây giờ mình có, như danh từ đắc đạo.

Từ vô thỉ tới bây giờ chúng ta có sinh tử (samsara). Tới điểm A, chúng ta chứng đắc niết bàn (xem hình 4). Sinh tử chấm dứt ở A và niết bàn cũng bắt đầu từ A, giống như là sinh tử không có bắt đầu nhưng lại có chung cuộc; niết bàn giống như là có bắt đầu nhưng lại không có chung cuộc. Nhìn thì thấy như vậy. Trên quan điểm giải thoát, sinh tử từ vô thỉ tới. Khi chúng ta đắc thì sinh tử chấm dứt. Niết bàn là vô chung, nhưng lại có điểm khởi thỉ, là giao điểm đắc đạo (A). Đó là một sản phẩm của Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ, trong đó có ý niệm về đắcthất. Hễ được niết bàn là mất sinh tử. Đó là quan niệm lịch sử về vô thỉ, vô chung.

Nhưng trong đạo Phật có những tông phái chủ trương niết bàn và sinh tử đều là những hoa đốm giữa hư không. Ví dụ có một người đấm mình một cái. Tá hỏa tam tinh, tự nhiên mình thấy 36 ngọn đèn. 36 ngọn đèn đó có thiệt hay là sản phẩm của một cú đấm? Trong kinh có nói niết bàn hay sinh tử đều là sản phẩm của cú đấm (Niết bàn sinh tử thị không hoa). Niết bàn và sinh tử đều là những tạo tác của tâm ý mà thôi. Có vị thiền sinh hỏi: “Bạch thầy, con đi tìm niết bàn ở đâu?” Thiền sư nói: “Con đi tìm niết bàn ngay trong sinh tử chứ còn ở đâu nữa!” Trong sinh tử có niết bàn. Đó là cái thấy bất nhị.

Thời gian 45 phút quý vị ngồi thiền cũng vậy. Có người nói sao 45 phút lâu quá vậy! Có người nói sao mới ngồi xuống là hết giờ liền! 45 phút đó lâu hay mau là tạo tác của tâm ý quý vị, là tùy quý vị có pháp lạc hay không trong khi ngồi thiền. Niết bàn, sinh tử chẳng qua là những ý niệm, cho nên mới có danh từ chân như. Chân như là nó như vậy! Chúng ta có thể diễn tả thực tại là niết bàn, hay là sinh tử cũng được. Rất mầu nhiệm. (Xem hình 5)

Đại dụng

Vì vậy cho nên quan niệm về thời gian và không gian trong đạo Phật hoàn toàn khác so với trong lịch sử. Sinh ra trong truyền thống Phật giáo, quý vị được thừa hưởng quan niệm về không gian và thời gian rất đặc biệt. Nó thênh thang, không có ngằn mé. Quý vị sẽ có rất nhiều tự do nếu quý vị muốn, cái đó gọi là đại dụng. Khi có cái thấy đó rồi thì muốn cái gì là được cái đó. Nếu quý vị muốn là ánh sáng thì quý vị là ánh sáng, bây giờ và ở đây. Nếu quý vị muốn là ông nội thì quý vị là ông nội liền bây giờ; nếu quý vị muốn là Phật thì là Phật ngay bây giờ; nếu quý vị muốn ở trong lâu đài của đức Di Lặc thì quý vị ở trong lâu đài của đức Di Lặc ngay bây giờ. Không cần đi tìm kiếm. Vì đã thấy được cái một ở trong cái tất cả. Trong hơi thở vào, quý vị có thể tiếp xúc được với tất cả. Trong từng bước chân, quý vị có thể thể hiện được thần thông.

Bất khả đắc

Trong kinh Hoa Nghiêm có phẩm Dạ Ma Thiên. Đức Thế Tôn lên cõi trời Dạ Ma. Hàng chục ngàn thính chúng được ngồi với đức Thế Tôn hạnh phúc quá chừng. Có một ông ở cõi Diêm Phù vừa lên cõi Dạ Ma, thấy Bụt, ông ngạc nhiên nói: “Lạ quá! Tôi vừa mới thấy đức Thế Tôn ở dưới Diêm Phù mà lên đây cũng thấy Ngài nữa. Ngài lên hồi nào vậy?” Các vị trời trả lời: “Ngài ở đây lâu rồi!” Lạ quá! Đức Thế Tôn có mặt đồng thời trong hai cõi: ngài vừa có mặt ở dưới Diêm Phù, ngài vừa có mặt ở cõi Dạ Ma. Đó là cái thấy của kinh Hoa Nghiêm.

Anh không chỉ ngồi ở đây đâu. Anh tưởng là anh đang ở đây nhưng kỳ thực anh cũng đang đồng thời có mặt ở bên kia. Anh tưởng chiếc lá này đang ở trong thiền đường? Không đúng. Chiếc lá này đang ở trong cây, trong chúng ta, tại vì chúng ta đã hít dưỡng khí của nó thải ra. Chiếc lá này đang ở trong không gian vô cùng và thời gian vô tận. Anh đi tìm chiếc lá này không được đâu. Sức mấy mà anh nắm bắt được chiếc lá này, bất khả đắc. Sức mấy mà anh nắm bắt được Bụt, nắm bắt được chính anh. Anh là bất khả đắc. Đó là cái thấy của kinh Hoa Nghiêm.

Nhìn cho kỹ, niết bàn không phải bắt đầu từ giao điểm A. Nhìn cho kỹ, sinh tử không phải chấm dứt tại giao điểm A. Niết bàn chính là sinh tử, sinh tử chính là niết bàn. Vì vậy cho nên chỉ có một dòng chảy từ vô thỉ tới vô chung, gọi là chân như. (Xem hình 5)

 

 

Anh gọi nó là niết bàn cũng không được, sinh tử cũng không được. Cái niết bàn anh đang đi tìm, anh đi tìm ở đâu? Nó đâu có ở ngoài. Nó ở chính trong anh. Cũng như có người đi tìm không gian. Mình đang ở trong không gian rồi mà còn đi tìm không gian làm gì nữa? Giống như con cá đi tìm nước. Nó đang bơi lội trong nước mà đi tìm nước làm gì nữa? Niết bàn cũng vậy.

Chúng ta đang bơi lội trong niết bàn mà còn đi tìm niết bàn! Cái mà chúng ta gọi là thiên quốc, cái mà chúng ta gọi là Tịnh độ, cái mà chúng ta gọi là hạnh phúc, nó nằm ngay trong hơi thở vào của anh, nó nằm ngay trong hơi thở ra của chị. Anh, chị, đừng có đi tìm xa, chúng ta có đủ hết tất cả rồi. Chúng ta đã là cái mà chúng ta muốn trở thành (You are already what you want to become).

Món quà cho đời

Hơi thở vào là cơ hội của quý vị. Bước chân là cơ hội của quý vị. Quý vị còn đi tìm cái gì nữa? Thành công hay thất bại là ở hơi thở vào đó, là ở bước chân đó. Thở như thế nào mà trong khi thở, quý vị cảm thấy có tự do, an lạc và hạnh phúc.

Đi như thế nào mà trong khi đi, quý vị cảm thấy có tự do, an lạc và hạnh phúc. Cái chúng ta đi tìm nằm ngay ở đây (This is it). Thấy được điều đó rồi, chúng ta có rất nhiều tự do. Anh đang tập sự xuất gia (aspirant). Chị đang tập sự xuất gia. Anh và chị đang chờ đợi ngày được xuất gia, để được gọi là sa di, là sa di ni. Nhưng chúng ta đâu cần phải đợi tới ngày ấy.

Khi đang tập sự, chúng ta cũng có thể chứng đắc được với hơi thở vào và hơi thở ra. Làm thầy tu, ta có cơ hội làm chuyện thở vào, thở ra và ta có sự thích thú được tiếp tục làm chuyện đó. Và một khi mình làm được chuyện đó thì mình cũng làm được cho cha, cho mẹ, cho tổ tiên, cho Bụt, cho thầy và cho cả thế giới.

Sự giải phóng của một con người là món quà lớn nhất mà người đó có thể hiến tặng cho cuộc đời. Sự thành công đó, ta phải đạt cho được trong hơi thở vào và hơi thở ra của mình. Đó là một sự thách đố. Anh làm chuyện đó không phải cho riêng anh. Anh thở vào không phải cho riêng anh. Anh thở vào cho cả thế giới, cho cả vũ trụ. Chiếc lá này đã làm được chuyện đó, tại sao anh không làm được như vậy? Tại sao anh lo lắng, anh sầu khổ, anh sợ hãi? Anh đang làm người. Anh có cơ hội ngồi xuống. Anh có cơ hội thở vào. Anh có cơ hội đi từng bước chân. Tại sao anh không thành công? Anh còn đi kiếm cái gì nữa?

Thầy Làng Mai giảng ngày 17-01-2008

 

Truyền thừa của phái Liễu Quán

Ở Huế có một dòng sông tên là sông Hương và một ngọn núi tên là núi Ngự. Dưới chân núi có chùa Viên Thông, trong chùa có một vị thiền sư nuôi dạy đồ chúng, đó là thiền sư Liễu Quán. Hồi đó đất nước Việt Nam cũng bị chia đôi, từ sông Gianh ra ngoài Bắc là Chúa Trịnh cai trị còn trở vào Nam là chúa Nguyễn. Các Chúa ở trong Nam tuy gọi là Chúa nhưng kỳ thực họ là những ông vua, xưng là An Nam quốc vương. Chúa Nguyễn Phúc Khoát rất sùng đạo, nhưng vì thiền sư Liễu Quán không ưa lui tới tới phủ Chúa cho nên chúa thường hay tới chùa Viên Thông dưới chân núi để học đạo và cũng vì lý do đó nên người ta gọi ngọn núi đó là núi Ngự, tức là núi mà vua hay tới để nghe pháp.

Thiền sư sinh năm 1670, ở tỉnh Phú Yên, đến năm 6 tuổi thì mẹ mất. Chú bé ấy thường được cha dắt lên chùa Hội Tôn ở Phú Yên. Trong chùa có một thầy tên là Tế Viên rất cưng chú bé đó và chú bé đó cũng rất mến thầy. Năm 12 tuổi chú đòi đi tu và được cha cho phép. Chú tập sự xuất gia, làm chú điệu nhỏ ở chùa Hội Tôn dưới sự dẫn dắt của thầy Tế Viên. Bảy năm sau thì thầy Tế Viên viên tịch, lúc đó chú vẫn chỉ là điệu, còn để chỏm, chưa thọ mười giới (giới Sa Di). Chú điệu đó nghe nói ở Huế có nhiều thầy giỏi cho nên tìm đủ mọi cách ra Huế tầm sư học đạo. Hồi đó làm gì có xe bus, xe lửa, máy bay như bây giờ, vì vậy chú điệu từ Phú Yên phải vượt núi băng ngàn mà đi, cả mấy tháng mới ra tới Huế và tới Huế thì tìm tới được chùa Thiên Thọ (Hàm Long Sơn Thiên Thọ Tự). Chùa này là một trong những ngôi chùa cổ ở Huế, nằm trên một ngọn đồi cao, gọi là Hàm Long Sơn và sau đó đổi tên là Chùa Báo Quốc.

Hồi còn làm Sa di, tôi cũng được đi học ở Chùa Báo Quốc (Chùa Thiên Thọ). Hồi đó Phật Học Đường được tổ chức ở Chùa Báo Quốc. Tôi xuất gia tại chùa Từ Hiếu, mỗi tháng chùa Từ Hiếu phải đóng hai giạ lúa để cho tôi đi học. Chùa Từ Hiếu có ruộng, có lúa, thay vì đóng tiền thì đóng lúa, thành ra tôi đi học cũng tốn lúa của chùa lắm đấy. Hiện giờ chùa Từ Hiếu cũng vẫn còn ruộng, mỗi năm các thầy các sư cô cũng đi gặt lúa. Năm 2007 khi các thầy, các sư cô Tây phương về Huế cũng đã có dịp đi gặt lúa chung với các thầy, các sư cô của mình ở chùa Tổ rồi, rất là vui.

Chú điệu trẻ tuổi ra chùa Thiên Thọ tu học được một năm thì nghe tin cha bị bệnh nên phải về nuôi cha. Ngày ngày phải đi vào rừng đốn củi đem bán để đổi lấy gạo nấu cơm cho cha ăn và chăm sóc cha cho đến khi cha mất. Tang lễ cho cha xong thì chú ra lại Huế để tiếp tục tu học. Vào năm 1697 thì có Đại giới đàn ở Chùa Thiền Lâm và chú được thọ giới Sa di. Đại giới đàn do thiền sư Thạch Liêm ở Quảng Đông qua tổ chức, dưới sự bảo trợ của chúa Nguyễn Phúc Chu. Thiền sư Thạch Liêm còn để lại một cái bình bát ở Chùa Trúc Lâm (Huế). Năm 27 tuổi chú mới được thọ giới Sa Di, được làm một sư chú và hai năm sau đó thì được thọ giới lớn tại chùa Từ Lâm. Đó là năm 1697.

Lúc đó tại chùa Ấn Tôn (nằm trên ngọn đồi còn cao hơn ngọn Hàm Long là Long Sơn, tên mới là Từ Đàm) có một vị thiền sư đang giảng dạy và hướng dẫn thiền tập ở đó, vị thiền sư này tên là Minh Hoằng Tử Dung. Chùa Ấn Tôn được khánh thành năm 1702 nhưng thực ra hai mươi năm trước đó đã được thành lập. Đầu thế kỷ thứ 18 tức là vào năm 1702 thầy Liễu Quán được gặp thiền sư Tử Dung và thiền sư có trao cho thầy một công án, công án đó là:

– Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ?
tất cả các pháp chảy về một pháp vậy cái một đó chảy về đâu? Mười ngàn pháp đi về cái một, vậy cái một đi về chỗ nào? Sau khi nhận công án, thầy Liễu Quán về Phú Yên và tu tại đó. Sau năm sáu năm tham cứu mà công án đó chưa vỡ ra được, thầy chưa chứng ngộ được. Tự nhiên một hôm đó, đang đọc cuốn Truyền Đăng Lục, ngang qua câu:
– Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ.
(Chỉ vào sự vật với mục đích là truyền tâm mình cho người đệ tử thì điều này có thể là chướng ngại cho người đệ tử) tự nhiên thầy hiểu được, và thầy đặt cuốn kinh xuống. Thầy nhất định phải đi ra Huế trở lại để trình cho thầy biết là mình đã thấy được đạo rồi và cũng để xem thử là thầy có thấy mình đã thật sự đạt đạo hay chưa. Thầy vượt núi băng ngàn ra Huế trở lại, đó là vào năm 1708. Sau khi trình bày công phu của mình, thầy nghe thiền sư Tử Dung nói:
Hố thẳm buông tay
Một mình cam chịu
Chết đi sống lại
Ai dám chê mình

Thầy Liễu Quán vỗ tay cười. Thiền sư nói:
– chưa được.
Thầy Liễu Quán chỉ vào trái cân để gần đấy và nói
– Trái cân vốn là sắt.
Thiền sư vẫn lắc đầu. Thầy Liễu Quán buồn lắm. Nhưng qua ngày hôm sau, thấy thầy Liễu Quán đi ngang, Thiền Sư gọi lại. Thiền Sư bảo:
– chuyện ngày hôm qua nói chưa xong, hôm nay hãy nói tiếp đi.
Lúc bấy giờ thầy Liễu Quán mới mỉm cười và đọc:

Sớm biết đèn là lửa
Thì cơm chín đã lâu rồi!

Thiền Sư Tử Dung rất vui mừng và hết lời khen ngợi. Thầy Liễu Quán đã được đắc pháp.

Khi nghe thầy Liễu Quán đọc câu: “Trái cân vốn là sắt ta có thể nhớ tới con sư tử vàng của thầy Pháp Tạng. Con sư tử vàng chỉ là một huyễn tướng, chỉ có vàng mới thật sự là chân thực. Đó là giáo lý tánh khởi, từ bản thể mà biểu hiện ra hiện tượng. Có thể là thầy Liễu Quán đã muốn trình kiến giải trong cái thấy tánh khởi của kinh  Hoa Nghiêm, nhưng thiền sư đã không ấn chứng, có lẽ vì đấy chỉ mới là cái thầy của khái niệm. Đến khi nói chuyện đèn lửa nấu cơm thì mới thực sự là cái thấy thực chứng.

Liễu là hiểu được, quán tức là quán chiếu, là nhìn cho sâu. Tên hiệu là Liễu Quán, pháp danh là Thật Diệu. Thật là sự thật, diệu là sáng tỏ, chiếu sáng, sự thật chiếu sáng. Thầy truyền đăng cho mình là Minh Hoằng, bắt đầu chữ Minh (Minh Hoằng Tử Dung) và khi mình đắc pháp thì được chữ Thật. Bài kệ là:

Minh Thật Pháp Toàn Chương
Ấn Chân Như Thị Đồng.

Thầy là chữ Minh, trò là chữ Thật. Thật Diệu là pháp danh của thiền sư Liễu Quán và khi thiền sư Liễu Quán đặt tên cho đệ tử thì ngài đặt tên theo bài kệ này:

Thật Tế Đại Đạo
Tánh Hải Thanh Trừng
Tâm Nguyên Quảng Nhuận
Đức Bổn Từ Phong …

Tên thầy Liễu Quán bắt đầu bằng chữ Thật cho nên tên tất cả các đệ tử xuất gia và tại gia của thầy bắt đầu bằng chữ Tế. Tất cả đệ tử của các thầy có chữ Tế thì có pháp danh chữ Đại. Tất cả đệ tử thế hệ thứ tư đều có pháp danh chữ Đạo và thế hệ thứ năm là chữ Tánh. Hòa thượng Tánh Thiên Nhất Định khai sinh chùa Tổ của mình ở Huế là thuộc về thế hệ thứ năm. Thiền sư Tánh Thiên Nhất Định có nhiều vị đệ tử giỏi với pháp danh bắt đầu chữ Hải như Hải Thiệu Cương Kỷ và các đệ tử của thế hệ chữ Hải có pháp danh bắt đầu bằng chữ Thanh. Thầy của tôi, tức là sư ông của các vị ngồi đây là Hòa thượng Thanh Quý Chân Thật, thuộc thế hệ thứ bảy. Tôi là Trừng Quang, thế hệ thứ tám, pháp danh của tôi bắt đầu bằng chữ Trừng. Trừng là lắng đọng lại. Tất cả đệ tử xuất gia cũng như đệ tử cư sĩ của tôi đều có pháp danh bắt đầu bằng chữ Tâm, thuộc về thế hệ thứ chín của phái Liễu Quán.

Thiền thuộc tông Lâm Tế truyền sang Việt Nam nhiều lần và lần đầu tiên vào khoảng thế kỷ thứ 12, 13. Vua Trần Thái Tông cũng có tiếp nhận truyền thừa của tông Lâm Tế. Vào Thế kỷ thứ 17, thiền tông Lâm Tế lại vào Việt Nam thêm một lần nữa (không biết là lần thứ mấy). Hòa thượng Minh Hoằng Tử Dung là người đã trao truyền thiền tông Lâm Tế lại cho thiền sư Liễu Quán. Thiền sư Liễu Quán đặt ra một pháp phái mới, một ngành mới của tông Lâm Tế, pháp phái đó về sau lấy tên là phái Liễu Quán.

Tôi là thế hệ thứ tám của phái Liễu Quán còn quí vị ở đây nếu có pháp danh chữ Tâm là thế hệ thứ chín của phái Liễu Quán. Đệ tử của quí vị sẽ có pháp danh bằng chữ Nguyên. Thành ra các vị nào mà có pháp danh Nguyên phải kêu tôi bằng ông, có pháp danh Tâm mới được kêu bằng thầy. Sư thúc Chí Mậu (vừa mới viên tịch) cũng thuộc về chữ Trừng. Những người có chữ Trừng hiện nay còn ít lắm. Bây giờ còn có khá nhiều chữ Tâm. Sau đó là chữ Nguyên, Quảng, Nhuận, Đức. Mình là con cháu Lâm Tế, mình là con cháu của thiền sư Liễu Quán, mình phải học thuộc bài này để biết các tổ tiên tâm linh của mình thuộc về chữ gì và thuộc thế hệ nào

Thật tế đại đạo
Tánh hải thanh trừng
Tâm nguyên quảng nhuận
Đức bổn từ phong
Giới định phước huệ
Thể dụng viên thông
Vĩnh siêu trí quả
Mật khế thành công
Truyền trì diệu lý
Diễn xướng chánh tông
Hạnh giải tương ưng
Đạt ngộ chơn không

Dịch:

Đường lớn thực tại
Biển thể tính trong
Nguồn tâm thấm khắp
Gốc đức vun trồng
Giới định phước huệ
Thể dụng viên thông
Quả trí siêu việt
Hiểu thấu nên công
Truyền giữ lý mầu
Tuyên dương chính tông
Hành giải song song
Đạt ngộ chân không.
(Thiền Sư Nhất Hạnh dịch)

Đó là dòng kệ của mình, mỗi chữ đại diện cho một thế hệ. Quí vị thuộc thế hệ thứ chín và thứ mười. Nếu truyền đạt tâm tông tại Tây phương thì mình không có dùng chữ Hán mà phải dùng chữ Anh, chữ Pháp: Of The Heart, Of The Source.

Thật Tế Đại Đạo

Là con đường lớn của thực tại. Đại đạo là đường lớn (the great way), Thật Tế là danh từ chuyên môn, có nghĩa là lĩnh vực của sự thật, tiếng Phạn là bhutakoti, dịch ra tiếng Anh là reality. Trong biên tế, chữ tế có nghĩa là biên giới (Frontier), là phạm vi (Domain). Chữ thật là reality, tức chân như (Reality as is it, Suchness). Bản thể, chân như không phải là ý niệm mà là sự thật và sự thật đó không thể nào diễn tả được bằng lời nói, bằng ý niệm, cái đó gọi là Bhutakoti (the Realm of the Ultimate). Con đường đưa mình về cái đó, gọi là đường lớn thực tại (the great Way that leads us to the Ultimate Reality).

Tánh Hải Thanh Trừng

Đó là biển thể tính, trong và lắng lại. Con đường lớn đưa về sự thực tuyệt đối, nó là biển thể tánh (the Ocean of True Nature). Đứng về phương diện hiện tượng thì thấy có sóng gió, còn đứng về phương diện bản thể thì dưới lòng biển rất yên, không có sóng gió. Sự yên lặng, sự bình an đó mình đi tìm ngay trong thể tánh (True Nature) của mình. Đứng về hiện tượng thì giống như có sanh, có diệt, có lên, có xuống, có yên tĩnh, có ồn ào, có có, có không, nhưng đứng về phương diện bản thể thì nó lắng và trong. Bản chất của mình là vừa trong vừa lắng. Khi mặt nước lặng yên, nó phản chiếu được hình ảnh của mặt trăng, không bị lung lay, cái đó gọi là trừng. Trừng tức là lắng lạị, lắng lại cho nên trong. Sư Ông đặt cho tôi pháp danh là Trừng Quang, nghĩa là khi lắng lại rồi thì nó phát ra hào quang, phát ra ánh sáng (Trừng Quang). Con đường lớn đưa mình tới chân lý nhiệm mầu của thực tại đó, nó vốn là cái biển của thể tánh, nó vốn là trong, là lặng và nếu mình tu tập cho đàng hoàng thì mình có thể tiếp xúc được với thể tánh trong và lắng đó ở trong con người của mình.

Tâm Nguyên Quảng Nhuận

Tâm của mình là một nguồn suối. Nếu tu tập cho thành công thì nguồn suối đó là nguồn suối của trí tuệ, của từ bi, của hiểu và của thương. Nguồn suối đó sẽ đi khắp nơi và nó sẽ thấm nhuần vào trong cuộc đời, gọi là tâm nguyên quảng nhuận. Quảng là rộng lớn, nhuận là thấm (Penetrate, Absorbing). Một giòng sông có thể chảy thấm vào hai bên ruộng đồng, tưới mát cho ruộng đồng, nhưng nguồn tâm này thấm rất là sâu rộng. Tu học cho giỏi thì tâm của mình thành một nguồn suối của hiểu biết, của thương yêu và nguồn suối của hiểu biết và thương yêu đó thấm vào trong xã hội, thấm vào loài người, thấm vào loài vật, thấm vào loài cây cỏ, loài đất đá. Nguồn tâm thấm vào sự sống rất là rộng rãi.

Đức Bổn Từ Phong

Nguồn suối của hiểu biết, thương yêu đó cũng là gốc rễ của đạo đức. Một bên là nguồn suối, một bên là gốc rễ. Một bên là cội, một bên là nguồn. Cây có cội, nước có nguồn, mình cũng vậy, mình có cội và nguồn của mình. Mình phải trở về để tiếp nối được cội nguồn ấy. Nguồn ấy có thể do mình khơi mà chảy khắp, thấm nhuận trong cuộc đời. Cội đó có thể do mình trồng lên mà tạo thành một phong cách, một nếp sống từ hòa đẹp đẽ, gọi là từ phong. Từ phong tức là một nền văn minh, một nếp sống từ bi. Phong ở đây là phong cách, là một nếp sống, một truyền thống. Khi lập phong trào Wake Up cho người trẻ thì mình đặt tên là Young Buddhists and Non-Buddhists for a Healthy and Compassionate Society – để tạo dựng một xã hội lành mạnh và một nếp sống từ bi. Mình phải tạo ra một phong cách, một nếp sống, một nền văn minh có từ bi, gọi là từ phong. Cái gốc của mình là gốc đức hạnh, gọi là đức bổn. Đức ở đây tức là virtue, trước hết là đức hiểu, rồi đến đức thương (Understanding and Love). Mình có cái gốc đó và nếu biết vun trồng cái gốc đó thì mình có thể giúp tạo ra một nếp sống từ bi trong xã hội, gọi là đức bổn từ phong. Nếp sống bây giờ có quá nhiều bạo động, hung dữ, hận thù và làm cho bao nhiêu người đau khổ, thành ra chúng ta phải tu tập để cho nguồn suối cũng như gốc rễ đem tới từ bi cho xã hội.

Giới Định Phúc Tuệ

Đây là bài kệ bốn chữ cho nên thay vì giới định tuệ (tam học) thì thiền sư đã thêm vào chữ phước. Khi mình tu huệ thì tự nhiên có phước. Tu phước và tu huệ đi đôi với nhau, giới định phước tuệ. Chữ phước ở đây có thể hiểu là hạnh phúc.

Thể Dụng Viên Thông

Cái thể và cái dụng của giới định tuệ tròn đầy và bao trùm lấy nhau. Trong giới có định, trong định có giới, trong giới có tuệ, trong tuệ có giới và có định, gọi là viên thông, cả ba bao trùm lấy nhau. Ba cái đó (giới, định, tuệ) không phải là ba cái riêng biệt mà chúng chứa đựng nhau, trong một có ba, trong ba có một, gọi là thể dụng viên thông

Khi tới với nhau để tu tập, ví dụ như ngồi thiền chung sáng nay thì trước hết mình dùng hơi thở để điều hòa thân thể của mình. Mình ngồi như thế nào để cho những căng thẳng trong cơ thể được buông bỏ và có an bình. Mình phải tập thở như thế nào để tới phút thứ hai, thứ ba là cơ thể của mình lắng dịu xuống, những căng thẳng của cơ thể được buông bỏ, rồi những lo lắng, buồn phiền cũng tiêu tan và thân tâm của mình trở nên êm dịu. Khi hai ba trăm người ngồi với nhau mà người nào cũng làm cho thân tâm êm dịu thì năng lượng mà mình chế tác chung đó rất tốt, nó là thức ăn của mình trong khi ngồi thiền và cái đó là do giới, định mà có. Giới tức là chánh niệm và chánh định. Khi đã làm cho thư giãn thân thể, đã làm cho nhẹ bớt những nỗi khổ niềm đau trong lòng rồi thì mình bắt đầu quán chiếu.

Mục đích của quán chiếu là đạt tới tuệ giác. Tên của Tổ là Liễu Quán, tức là thành công trong sự quán chiếu. Quán chiếu để làm gì? Quán chiếu là để đạt tới tuệ giác mà có tuệ giác thì tháo gỡ được những khổ đau, những khó khăn  trong cuộc đời. Có những hệ lụy, khổ đau, những trái ngang, bế tắc thì những khổ đau đó chỉ có thể giải quyết được khi có tuệ giác. Muốn có tuệ giác thì phải có định, định đưa tới tuệ giác mà muốn có định thì phải có niệm, tức là phải có giới. Giới định tuệ hay niệm định tuệ thì cũng vậy. Khi thực tập hơi thở hay bước chân có ý thức thì mình thực tập chánh niệm, mình đi vào giới, rồi mình sử dụng định của mình. Mình quán chiếu về vô thường, về vô ngã, về tương tức, về duyên sinh, tất cả những cái đó gọi là định. Nương vào những cái định đó mà quán chiếu thì một lúc nào đó mình sẽ đạt tới cái tuệ mà khi đạt được cái tuệ thì mình tháo gỡ được những khó khăn, những khổ đau của mình.

Thực tập ở trong truyền thống thiền là như vậy. Mình tới tu tập chung với nhau, giữ giới, giữ chánh niệm chung với nhau là để làm chuyện đó. Mình sử dụng những phương pháp như là quán vô thường, quán vô ngã, quán không, quán vô tướng, quán vô tác, quán tương tức, đó đều là những phương pháp, gọi là định (Samadhi). Khi sử dụng một trong những phép quán đó thì thế nào mình cũng đạt tới cái thấy, tức là tuệ mà có tuệ rồi thì mình tháo gỡ được những khó khăn, những bế tắc rất là dễ dàng. Theo lời dạy của Tổ thì cái thể và cái dụng của giới định tuệ vốn tròn đầy, nó dung chứa nhau. Hễ có niệm là bắt đầu có định, hễ có định là bắt đầu có tuệ. Thí dụ như mình thở vào thì mình biết mình đang thở vào, mình chuyên chú vào hơi thở vào, tức là có niệm và có định. Có niệm và có định thì tự nhiên mình thấy được liền một cái gì đó: Thở vào, a mình đang còn sống đây! Mình biết mình đang còn sống, đó đã là tuệ rồi. Hễ có niệm, có định là có tuệ. Niệm càng vững thì định càng kiên cố và tuệ càng lớn mạnh.

Thành ra trong mỗi bước đi, trong mỗi hơi thở, trong mỗi hành động của mình mà nếu có niệm, có định thì mình đang ở trên con đường đạt tới tuệ giác. Ban đầu là những cái tuệ nho nhỏ rồi từ từ tới những cái tuệ lớn. Niệm và định làm cho chín củ khoai tuệ giác mà mình nấu ở trong nồi. Niệm là lửa ở dưới cái nồi, định là cái nắp, nó giữ hơi nóng đừng thất thoát ra ngoài và càng ngày nó càng tạo ra sức nóng nhiều hơn để cho củ khoai đó chín. Niệm và định là năng luợng đưa tới tuệ, nếu không có niệm, không có định thì không bao giờ có tuệ cả mà hễ có niệm và có định thì chắc chắn thế nào cũng có tuệ. Tuệ tức là hoa trái mà mình gặt hái khi mình tu tập. Mình không cầu xin cái tuệ đó từ một vị thần linh, mình biết cái tuệ đó có sẵn ở trong mình dưới dạng những hạt giống và nếu mình cho phép những hạt giống đó được tưới tẩm, được nâng niu thì nó sẽ bắt đầu nẩy mầm. Một người tu giỏi thì ngày nào cũng có thêm tuệ, mỗi ngày mỗi thông minh, mỗi ngày mỗi sáng suốt và khi mình có tuệ rồi mình giải quyết được những vấn đề trong đời sống hàng ngày rất dễ dàng và giúp cho người khác chung quanh giải quyết những vấn đề của họ dễ dàng hơn, đó là cái mà mình chế tác ra.

Ba nguồn năng lượng giới, định và tuệ, tuy có ba tên khác nhau nhưng mà cái thể của nó cùng chung. Trong niệm có định và có tuệ, hễ có niệm là bắt đầu có định và có tuệ, hễ có tuệ tức là đã có niệm, có định rồi. Công dụng của niệm, định, tuệ là khả năng tháo gỡ những khổ đau, những khó khăn cho mình. Ví dụ như mình từ thiền đường đi về phòng trong buổi sáng mai, đi từng bước thảnh thơi và thở trong chánh niệm. Nhờ thở trong chánh niệm, đi trong chánh niệm cho nên mình tiếp xúc được không khí trong lành của buổi ban mai. Mình thấy không khí trong lành ban mai có đó và mình đã được thở, được bước đi những bước chân rất nhẹ nhàng, thảnh thơi. Công dụng và lợi ích của chánh niệm là giúp cho mình tiếp xúc được với những mầu nhiệm như vậy để mình tự nuôi dưỡng mình, tự chữa trị cho mình, đó gọi là dụng, dụng là công dụng.

Nhìn vào tờ giấy ta thấy cái thể của nó là bột giấy, còn công dụng của nó là để viết chữ, in chữ. Như cây bút thể của nó bằng plastic và cái dụng của nó là để viết chữ. Cái gì cũng có thể và có dụng. Thật ra ta có thể nói tới ba cái : thể, tướng và dụng. Thể tức là bản chất, tướng là hình tướng, dụng là công dụng. Bột giấy là thể, tờ giấy mỏng là tướng và để dùng in sách gọi là dụng. Niệm, định và tuệ đều có thể, có tướng và có dụng của chúng. Khi thiền sư nói thể dụng viên thông, mình có thể hiểu : thể, tướng, dụng viên thông. Nếu để thêm tướng vào đây thành năm chữ, thành ra để hai chữ thể và dụng là đủ rồi cũng như bên này (giới, định, tuệ) có ba chữ thôi, cho nên thêm chữ phúc vào giữa để đọc cho êm tai. Thể dụng viên thông, tức là thể, tướng và dụng, đi chung với nhau, cái này ôm lấy cái kia, cái này chứa đựng cái kia. Ba nguồn năng lượng giới định tuệ và thể tướng dụng của ba cái chung với nhau và thông với nhau.

Vĩnh Siêu Trí Quả

Hoa trái của trí tuệ mà mình đạt tới giúp mình vượt thoát vĩnh viễn những hệ lụy, những khổ đau, gọi là vĩnh siêu. Siêu tức là vượt thoát, vĩnh có nghĩa là vĩnh viễn.

Mật Khế Thành Công

Mật tức là âm thầm không lộ liễu, còn khế nghĩa là ăn khớp với nhau, mật khế nghĩa là không cần phải  nói ra nhưng rất ăn khớp với nhau, giống như hai thầy trò, tuy họ không nói năng nhưng họ rất hiểu nhau, làm gì cũng có hòa điệu.

Giới định tuệ là một bộ ba với nhau, rất sít sao, phù hợp nhau,chúng đưa tới sự thành công của trí tuệ. Hoa trái của trí tuệ giúp ta vượt thoát vĩnh viễn những khổ đau và khi phối hợp lại đưa chúng ta tới sự thành công lớn. Vậy thì sau khi đạt đạo rồi phải làm gì?

Truyền Trì Diệu Lý

Truyền tức là trao truyền cho thế hệ kế tiếp. Trì tức là giữ gìn, đừng để mất. Mình đạt được tuệ giác nhiệm mầu đó rồi thì phải nắm cho vững và phải trao truyền lại cho hậu thế.

Diễn Xướng Chánh Tông

Diễn xướng tức là làm cho nhiều người biết tới, giới thiệu làm cho nó hưng thạnh. Chánh tông tức là tông phái chánh thức, tông chỉ của thiền tông. Chánh tông ở đây là thiền tông (True Zen).

Ở bên Nhật Bản có loại rượu Sake gọi là Cúc chánh tông. Ở Việt Nam hồi xưa có loại nước ngọt chánh hiệu con nai vàng và ở Sài gòn có một tiệm cơm chay Phật Hữu Duyên chánh tông. Chánh tông tức là một truyền thống. Tông ở đây là tông phái, tức thiền phái chánh tông. Thiền phái của mình có nội dung, có bản chất, có tuệ giác. Vì vậy mình phải nắm cho được, truyền lại cho được và phải đem công bố ra, gọi là diễn xướng chánh tông. Và nên nhớ, đây là lời dặn của Ngài.

Hạnh giải tương ưng
Đạt Ngộ Chân Không

Mình nói chánh niệm thì mình phải sống chánh niệm, mình nói hiểu thì mình phải hiểu, mình nói thương thì mình phải thương, mình dạy sư em như thế nào thì mình phải làm như thế đó, cái đó gọi là hành giải tương ưng, tức là nói và làm đi đôi với nhau, cái hiểu và cái làm đi đôi với nhau, lý thuyết với thực hành đi đôi với nhau.

Hồi tôi còn học tiểu học có cô giáo dạy chúng tôi là không nên đi giày cao gót vì có thể bị trẹo chân và đi đứng không tự nhiên trong khi đó thì cô giáo lại đang đi giày cao gót. Khi học sinh hỏi : « Sao cô dạy là không đi giày cao gót mà cô lại đi ? » Cô giáo trả lời : « Em hãy làm những gì cô nói, đừng làm những gì cô làm » (Fais ce que je dis, pas ce que je fais). Cái đó không phải là hành giải tương ưng. Hành giải tương ưng tức là cái mình nói, cái mình rao giảng và cái mình làm nói phải đi đôi với nhau. Đạt ngộ tới thực tế, chân không, nó chính là thực tế đó.

Vào đầu thế kỷ thứ 18, thiền sư Liễu Quán có lập thêm một ngôi chùa lớn ở Huế, gọi là Chùa Thiền Tôn. Nếu ai có dịp về Huế thì có thể đi thăm mộ của thiền sư Liễu Quán sát Chùa Thiền Tôn ở tháp Tổ. Ở Huế mỗi năm đều tổ chức tảo tháp và tất cả các con cháu của tổ đều tới để lượm rác, quét tước, nhổ cỏ, rất là vui. Tại Làng Mai một số các thầy, các sư cô ở đây đã từng được về Chùa Thiền Tôn và đã được tới thăm tháp của tổ Liễu Quán. Hiện bây giờ 95 % các thầy, các sư cô, các Phật tử ở Thừa Thiên và các tỉnh lân cận đều là con cháu của Tổ Liễu Quán. Chúng ta đã nối tiếp được Tổ tới mười mấy thế hệ rồi, quý vị ngồi đây là thuộc thế hệ thứ chín và bây giờ đã tới thế hệ thứ mười, thứ mười một, thứ mười hai.  Chùa Viên Thông ở dưới chân núi Ngự và chùa Thiền Tôn ở trên núi Thiên Thai là hai ngôi chùa mà Tổ đã thành lập ở Huế. Ngoài ra Tổ cũng có lập nhiều chùa ở Phú Yên. Cái gốc của phái Liễu Quán là Lâm Tế. Ban đầu thì được các thầy từ Quảng Đông truyền sang nên có tính cách rất Quảng Đông, nhưng từ thiền sư Liễu Quán trở về sau thì truyền thống này càng ngày càng được Việt hóa. Bây giờ đây nghi lễ, kiến trúc, thực tập đều đã được Việt Nam hóa. Có những bài tán, những bài tụng có giọng Huế, những bài Cực Lạc Từ Hàng xướng lên đúng là giọng Huế, không còn giọng Quảng Đông nữa. Cho nên phái Liễu Quán này đã Việt hóa thiền Lâm Tế tới cái mức rất hay. Chùa Tổ Từ Hiếu đã ấn hành sách Thiền Môn Nhật Tụng bằng chữ Hán, còn Mai Thôn Đạo Tràng tiếp nối đã ấn hành Nhật Tụng Thiền Môn toàn bằng quốc văn. Mình tiếp tục Việt hóa thiền và hiện bây giờ đây trong Nhật Tụng Thiền Môn mình có rất nhiều bài Sám, bài Kinh quốc ngữ rất hay. Sáng nay thầy Pháp Niệm hô canh rất hay, bài hô canh hoàn toàn nhạc Việt Nam và lời Việt Nam, đó cũng là một công trình nối tiếp sự nghiệp hoằng pháp của chư tổ. Chúng ta đã hết lòng để nối tiếp sự nghiệp của chư tổ, là con cháu của tổ bây giờ mình phải học thuộc lòng bài này kệ truyền thừa này.

 

 

Tinh Yếu Kinh Quán Niệm Hơi Thở

(Sư Ông nói bài pháp thoại về kinh Quán Niệm Hơi Thở này nhân dịp có một đoàn làm phim từ Việt Nam qua thăm và tu tập tại Làng Mai. Khi ấy đoàn phim đang làm một bộ phim về Kinh Quán Niệm Hơi Thở, và họ đã thỉnh Sư Ông giảng về đề tài này.)

Tinh Yếu Kinh Quán Niệm Hơi Thở

Hồi tôi viết cuốn sách Đường Xưa Mây Trắng là vào mùa đông, trời rất lạnh, không có lò sưởi như bây giờ. Trong phòng chỉ có một cái lò củi, tôi hơ tay trái trên lò cho ấm, còn tay phải thì viết sách. Mỗi ngày tôi viết rất nhiều giờ. Tôi đã rất hạnh phúc trong khi viết cuốn sách ấy. Tuy trong nhà không có lò sưởi, thiếu thốn tiện nghi nhưng niềm hạnh phúc của tôi rất lớn. Trong khi viết, tôi biết chắc rằng người đọc sẽ rất hạnh phúc, tại vì người viết sách hạnh phúc thì người đọc cũng sẽ có hạnh phúc. Khi ông tỷ phú Modi đề nghị làm phim “Đường Xưa Mây Trắng”, tôi có đề nghị rằng với ông ta rằng: Quý vị làm phim này thì phải vừa làm vừa tu phim mới có giá trị. Trong khi làm mà mình có hạnh phúc, có sự tu tập thì những người xem phim mới có hạnh phúc. Cho nên từ đạo diễn đến diễn viên tất cả phải tu trong khi làm việc. Để sau khi làm phim xong thì mình đã chuyển hóa rồi, đã thay đổi rồi và chắc chắn là những người xem phim họ sẽ có hạnh phúc, họ cũng sẽ chuyển hóa. Nhà xuất bản Parallax Press, hay nhà xuất bản Lá Bối cũng vậy, hai nhà xuất bản này thường in những cuốn sách về sự thực tập. Nếu muốn bán sách để cho người đọc tu thì với cương vị là nhà xuất bản mình cũng phải tu. Khi in những cuốn sách về thực tập thì mình phải thực tập những cái mà mình nói trong sách trước đã. Cái nhân tốt thì mới có quả tốt. Vậy nên tôi rất mong quý vị trong khi làm phim, muốn chia sẻ phương pháp thở cho nhân gian thì mình phải thực tập trong suốt quá trình đó. Thực tập như vậy đem lại hạnh phúc cho chúng ta ngay bây giờ và ở đây trong lúc làm việc.

Tôi nghĩ là trong khi quý vị làm phim này, quý vị dựng ra những cốt truyện thì quý vị cũng phải sống với chánh pháp đó, thì người xem mới tiếp thu được một cách cụ thể. Và họ có thể đem ra áp dụng trong đời sống hằng ngày.

Ngày tôi khám phá ra kinh Quán Niệm Hơi Thở tôi rất hạnh phúc, tôi xem như mình đã tìm ra một kho báu, tôi có cảm tưởng tôi là người hạnh phúc nhất trên đời. Vì vậy tôi đã từng giảng dạy, từng trình bày và từng hướng dẫn cho rất nhiều người tu tập. Trong khi hướng dẫn người khác tu tập tôi luôn luôn có hạnh phúc và những người được nghe và tu tập theo cũng có hạnh phúc. Do đó tôi nghĩ rằng trong phạm vi một giờ đồng hồ tôi sẽ trình bày mười sáu hơi thở như thế nào để quí vị có thể sống và thực tập được ngay bây giờ, và trong khi quý vị tìm cách chia sẻ các phương pháp này với những người khác thì quý vị đã hưởng cái hạnh phúc đó rồi.
Tôi đã nghiên cứu rất kỹ 16 hơi thở mà Đức Thế Tôn đề ra. Tôi đã áp dụng chúng vào đời sống hàng ngày. Những điều tôi giảng dạy đều xuất phát từ kinh nghiệm chứ không phải từ sự nghiên cứu và học hỏi trong sách.

Hơi thở thứ nhất: Nhận diện hơi thở

Thở vào, tôi biết đây là hơi thở vào
Thở ra, tôi biết đây là hơi thở ra.

Trong hơi thở đầu mà Đức Thế Tôn đề nghị là nhận diện hơi thở. Khi thở vào thì mình biết là mình đang thở vào, khi thở ra thì mình biết là mình đang thở ra. Mục đích của hơi thở thứ nhất là nhận diện hơi thở vào và nhận diện hơi thở ra. Bài tập này không khó, trẻ em cũng có thể làm được. Nhưng hiệu quả của nó thì vô song, tại vì nếu muốn nhận diện thì mình phải có mặt đó mới nhận diện được. Trong lúc thở vào mà biết đây là hơi thở vào thì tự nhiên tâm của mình bám lấy hơi thở vào. Khi đã để tâm vào hơi thở thì không còn lo nghĩ về chuyện quá khứ, hay tương lai nữa. Tâm của mình có mặt với thân. Đó là kết quả có liền lập tức khi mình nhận diện hơi thở.

Chúng ta thường sống trong thất niệm, thân ở một nơi mà tâm ở một ngả. Vì vậy nên mình không thực sự có mặt trong giây phút hiện tại, không sống được sâu sắc với giây phút hiện tại, vì thế hơi thở đầu có công năng đưa tâm trở về với thân. Khi thân tâm đã nhất như rồi thì lúc đó mình mới có mặt thực sự để tiếp xúc sâu sắc với những mầu nhiệm của sự sống đang có ở trong mình và xung quanh mình. Bài thực tập này có thể sử dụng ở mọi lúc mọi nơi: Khi lái xe, khi rửa bát, khi rửa tay… Chỉ cần thở vào biết rằng mình đang thở vào, thở ra biết mình đang thở ra. Bất cứ một giây phút nào của đời sống hằng ngày mình cũng có thể thực tập hơi thở này. Đem tâm trở về với thân để thực sự có mặt mà sống với giây phút đó.

Bài tập thứ hai: Đi theo hơi thở.

Thở vào một hơi dài hoặc một hơi ngắn hành giả biết rằng hơi thở của mình dài hay ngắn
Thở ra một hơi dài hoặc một hơi ngắn hành giả biết hơi thở của mình dài hay ngắn

Hơi thở có chiều dài của nó. Nó có điểm bắt đầu và chỗ chấm dứt. Trong khi thở vào mình phải bám sát lấy hơi thở từ đầu cho đến cuối. Tôi đang thở vào và tôi biết tôi đang thở vào. Tâm của mình hoàn toàn bám lấy hơi thở và không có một giây phút nào rời hơi thở. Bám lấy hơi thở gọi là đi theo hơi thở (tùy tức). Ví dụ: Cái bút này là hơi thở, ngón tay của tôi là cái tâm. Thì khi bắt đầu thở, ngón tay của tôi bám lấy cây bút. Tâm của tôi bám sát vào hơi thở. Trong suốt hơi thở vào tôi hoàn toàn chú tâm vào hơi thở, do đó cái định của tôi không bị gián đoạn. Có thể trong hơi thở đầu, tuy là tâm tôi đã có khả năng nhận diện được đây là hơi thở vào, đây là hơi thở ra nhưng mà cái định chưa thể sánh bằng so với hơi thở thứ hai. Bởi vì trong hơi thở thứ hai tôi hoàn toàn bám sát hơi thở, không hề rời hơi thở.

Trong bài tập thứ hai này mình thấy rõ ràng niệm và định của mình vững chãi, sâu sắc hơn. Cố nhiên khi niệm, định vững chãi hơn thì sự có mặt của mình trong giây phút hiện tại cũng vững chãi hơn. Và mình có thể tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống một cách sâu sắc hơn, khi ấy mình mới thực sự sống đời sống của mình. Ví dụ như khi đứng trước cảnh tượng mặt trời mọc rất huy hoàng, nếu cái tâm của mình không có mặt ở đó, mình cứ nghĩ về quá khứ, hay mải mê với những dự tính trong tương lai hoặc lo lắng sầu khổ thì cảnh mặt trời mọc đẹp đẽ kia không phải để dành cho mình. Trong khi người khác thực sự có mặt ở đó nên họ hưởng được cảnh tượng đẹp đẽ đang diễn ra trước mặt.

Vì vậy, hơi thở đầu là đem tâm trở về với thân và hơi thở thứ hai là có mặt một cách liên tục không gián đoạn. Tất cả những mầu nhiệm của sự sống ở trong ta và quanh ta luôn luôn có đó nhưng ta đã không có mặt cho nên ta không thừa hưởng được. Hơi thở thứ hai giúp ta trở về với chính mình để có mặt thực sự mà tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống. Cái đó gọi là “sống”. Từ một người “chết” trở thành một người “sống”. Khi tâm của mình trở về với thân thì mình mới thực sự sống, sống như một người sống. Nhà văn pháp  …… tác giả của cuốn Người Xa Lạ đã nói : “Sống như một người chết” để chỉ những người sống trong thất niệm.

Bài tập thứ ba: Ý thức toàn thân

Thở vào tôi ý thức được toàn thân tôi
Thở ra tôi biết hình hài tôi có đó.

Trong khi thở vào và thở ra mình chế tác một năng lượng chánh niệm. Năng lượng này giúp mình có mặt trong giây phút hiện tại. Vì vậy mình có thể định nghĩa: năng lượng chánh niệm là năng lượng giúp mình thực sự có mặt trong giây phút hiện tại để biết được những gì đang xảy ra trong giây phút ấy. Năng lượng này do chính mình chế tác ra trong khi thở vào và thở ra. Với năng lượng đó, mình tiếp tục nhận diện sự có mặt của thân thể mình, đó là mục đích của bài tập thứ ba.
Thở vào tôi ý thức được sự có mặt của toàn thân thể tôi, dùng năng lượng chánh niệm để ôm lấy cơ thể, một sự đoàn tụ của thân và tâm rất sâu sắc. Mình bắt đầu một cuộc trở về mà hơi thở là cửa ngõ. Trước hết mình trở về với hơi thở, khi trở về được với hơi thở rồi thì mình có mặt với thân thể.
Giống với bài thực tập thứ nhất và thứ hai, bài thực tập này cũng có thể thực tập ở mọi lúc mọi nơi: khi đang lái xe, khi đang quét nhà, đang, uống trà.v.v… Khi có mặt với thân thể thì mình có thể khám phá ra trong thân thể có những đau nhức, căng thẳng bị dồn chứa lâu ngày. Nhờ trở về với thân nên mình giác ngộ ra một điều, vì không tu nên những căng thẳng đau nhức mới có cơ hội tích tụ như vậy, đây chính là nguyên nhân phát sinh bệnh tật. Do đó mình cần đến bài thực tập thư tư

Bài tập thứ tư: Buông thư toàn thân

Tôi đang thở vào và làm cho toàn thân tôi an tịnh
Tôi đang thở ra và làm cho toàn thân tôi an tịnh

Buông thư toàn thân có nghĩa là làm cho hình hài lắng dịu xuống, làm cho những căng thẳng đi ra khỏi thân thể. Khi những căng thẳng dịu xuống thì những đau nhức cũng theo đó mà giảm thiểu. Nếu mình căng thẳng nhiều thì đau nhức cũng sẽ nhiều và từ căng thẳng đau nhức này sẽ phát sinh ra vô số bệnh tật. Trước hết là những bệnh về thân rồi sau đó là những bệnh về tâm. Nếu có ý thức tu tập thì mình sẽ vượt thoát khỏi những căng thẳng, đau nhức và không mang nhiều chứng bệnh nữa. Vì vậy bài tập thứ ba và thứ tư không chỉ có công năng trị liệu mà còn có giá trị phòng ngừa rất lớn lao. Rất là hay, chỉ cần thở là có thể ngăn ngừa bệnh tật.

Chúng ta có thể buông thư toàn thân trong tư thế ngồi, trong tư thế nằm, trong tư thế đứng, và ngay cả trong tư thế đi mình cũng có thể buông thư toàn thân được. Mỗi bước chân thảnh thơi giúp mình loại bỏ những căng thẳng ra ngoài. Đi như là đi chơi, đường dài em bước như dạo chơi. Đi như vậy thì đường không còn dài nữa, mình không đi như bị ma đuổi và mình có hạnh phúc trong từng bước chân. Vì vậy trong khi đi, mình có thể buông thư toàn thân, buông thư tất cả những căng thẳng. Thiền đi trước hết là buông bỏ tất cả những căng thẳng để mình có thể bước được trong tịnh độ. Một khi đã buông bỏ và đi được những bước chân chánh niệm thì mỗi bước chân như vậy giúp cho mình tiếp xúc được với những mầu nhiệm của đất trời: Bầu trời xanh, mây trắng, chim hót, thông reo, hoa nở, tịnh độ có mặt trong giây phút hiện tại là vậy.

Tịnh độ không còn là mơ ước của tương lai nữa. Tại vì trời xanh, mây trắng, chim hót, thông reo, hoa nở là những mầu nhiệm của sự sống đang thực sự có mặt. Những cái đó không thuộc về tịnh độ thì thuộc về cái gì? Chính mình đây cũng vậy, mình cũng thuộc về tịnh độ nhưng tại vì không biết cho nên mình tự gây ra cho mình những đau nhức, những sầu khổ. Một khi tâm đã trở về với thân, buông thư và an trú trong giây phút hiện tại thì tự nhiên mình tiếp xúc được với tịnh độ ở trong mình và xung quanh mình. Cơ thể của mình cũng thuộc về tịnh độ cũng là vật sỡ hữu của đức A Di Đà, của đức Thích Ca, đừng làm hư thân thể mình mà tội nghiệp. Bốn hơi thở đầu này nó có liên hệ đến thân thể – quán thân ở trong thân. Và nó có thể đem lại rất nhiều hạnh phúc. Mình mới trở về với hơi thở, mới chỉ tu thân thôi chưa tu tâm mà đã có thể buông bỏ được khổ đau và bắt đầu có những hạnh phúc rồi.

Bốn bài thực tập đầu của kinh Quán Niệm Hơi Thở thuộc về thân, đó là nhận diện hơi thở, nhận diện toàn thân và làm lắng dịu toàn thân. Qua bài tập thứ năm và thứ sáu ta bắt đầu bước sang lĩnh vực cảm giác. Bụt đã dạy rất nhiều phương pháp để chế tác ra niềm vui. Bài tập thứ bảy và thứ tám là cách nhận diện và ôm ấp niềm đau. Sang bài tập thứ chín và thứ mười, đang từ lĩnh vực thân (bốn hơi thở đầu), thọ (bốn hơi thở tiếp theo) chúng ta bước sang lĩnh vực của tâm. Kính mời các bạn tiếp tục học về phần 2 của kinh Quán Niệm Hơi Thở từ bài tập thứ 5 cho đến bài tập thứ 10

 

Bài tập thứ năm: Chế tác mừng vui

Ta đang thở vào và cảm thấy mừng vui
Ta đang thở ra và cảm thấy mừng vui

Với hơi thở thứ năm, chúng ta đi sang lĩnh vực cảm giác. Chúng ta có thể nhìn cơ thể mình như một dòng sông. Trong dòng sông đó mỗi tế bào là một giọt nước. Tại vì cơ thể chuyển biến, thay đổi trong từng giây, từng phút. Giây phút nào cũng có những tế bào mới sinh ra. Nó không phải là một thực thể bất động. Nó là vô thời gian. Nó là một dòng sông và bây giờ chúng ta ngồi trên bờ của một dòng sông thứ hai trong cơ thể, đó là dòng sông cảm giác. Trong cơ thể của mình có một dòng sông cảm giác tuôn chảy đêm ngày, mỗi cảm giác là một giọt nước của dòng sông. Những cảm giác đó được phát triển, tồn tại một thời gian rồi tiêu diệt để nhường chỗ cho những cảm giác mới phát triển. Và bài tập thứ năm là học cách làm như thế nào để đem lại những cảm giác mừng vui. Người hành giả phải có khả năng đem lại cảm giác mừng vui cho chính mình. Tại vì mình cần được nuôi dưỡng bằng những niềm vui.

Bài tập thứ sáu: Chế tác hạnh phúc

Ta đang thở vào và cảm thấy an lạc
Ta đang thở ra và cảm thấy an lạc

Mỗi chúng ta phải có khả năng chế tác sự mừng vui, phải có khả năng chế tác hạnh phúc. Nếu anh chưa có khả năng chế tác niềm vui cho anh thì anh thực tập chưa giỏi. Nếu chị chưa có khả năng chế tác hạnh phúc cho chị thì chị thực tập vẫn chưa giỏi. Chúng ta rất cần những giây phút có sự mừng vui, cần những giây phút có hạnh phúc để được nuôi dưỡng. Tại vì chúng ta có những nỗi đau cần phải được ôm ấp và chuyển hóa. Mà nếu chúng ta không đủ mạnh thì sẽ không thể ôm ấp và chuyển hóa được những nỗi khổ, niềm đau đang có mặt. Muốn có đủ sức mạnh để ôm lấy và chuyển hóa những niềm đau thì mình phải tự nuôi mình bằng những niềm vui, những hạnh phúc mà mình có thể chế tác được. Vậy nên hơi thở thứ năm là chế tác niềm vui, hơi thở thứ sáu là chế tác hạnh phúc. Niềm vui trong kinh gọi là Hỷ. Chế tác hạnh phúc ở trong kinh gọi là Lạc. Vậy làm như thế nào để chế tác mừng vui, chế tác hạnh phúc?

Bụt đã dạy cho chúng ta rất nhiều phương pháp để đem lại cảm giác mừng vui, hạnh phúc. Bất cứ lúc nào, nếu muốn là mình có thể có niềm vui, mình có thể có hạnh phúc ngay được. Hay như vậy đó! Và đây là những phương pháp:

1. Ly sinh hỷ lạc:
Trước hết là phương pháp buông bỏ để đạt tới hỷ lạc. Buông bỏ có thể đem tới niềm vui và hạnh phúc. Ví dụ: Mình đang ở một thành phố lớn ồn ào, bụi bặm. Ngày cuối tuần mình muốn thoát khỏi thành phố đó nên đã chuẩn bị đồ ăn, nước uống và lên xe đi về một miền quê để sống hai ngày. Chỉ sau một giờ đồng hồ xe chạy mình đã rời khỏi thành phố, tiếp xúc với ruộng nương xanh tốt, nghe được tiếng chim hót, gió thổi, và không khí trong lành khiến tâm tư khỏe nhẹ, tâm hồn thư thái. Đạt được điều đó là do mình có khả năng bỏ lại cái thành phố ồn ào bụi bặm kia. Vì vậy đây là một trong những phương pháp thực tập để đem lại niềm vui và hạnh phúc. Có rất nhiều cái mình có thể buông bỏ được. Ví dụ khi mình có một ý niệm như: Nếu tôi không có được cái đó thì tôi sẽ không bao giờ có hạnh phúc. Nếu tôi không loại trừ được kẻ đó thì tôi sẽ không bao giờ có hạnh phúc. Mình có những ý niệm như vậy và những ý niệm đó làm mình đánh mất đi cơ hội có hạnh phúc. Tại vì có thể mình có ý niện đó nhưng không bao giờ ý niệm đó thành hiện thực. Nếu tôi không cưới được người đó thì chắc là tôi không sống nổi. Nếu tôi không có bằng cấp đó, không có địa vị đó thì sống có nghĩa gì nữa đâu? Nếu cứ đưa vào trong đầu những ý niệm như vậy thì mình cứ khổ hoài, không thể có niềm vui hạnh phúc. Nhưng nếu mình bỏ được những ý niệm ấy ra ngoài thì niềm vui hạnh phúc ào ào đi tới. Thành ra những ý niệm, những tư tưởng của mình cũng là những nguyên do làm cho mình đau khổ. Vì vậy mình phải xét xem mình có những ý niệm nào, thành kiến nào cần phải buông bỏ. Càng buông chừng nào thì càng có hạnh phúc chừng đó. Cái đó gọi là ly sinh hỷ, ly sinh lạc. Hạnh phúc, niềm vui có được nhờ buông bỏ.

2. Niệm sinh hỷ lạc:
Phương pháp thứ hai mà Bụt dạy để chế tác niềm vui và hạnh phúc là phương pháp chánh niệm. Niệm là năng lượng giúp cho mình có mặt thật sự trong giây phút hiện tại. Biết được, nhận diện được những cái gì đang thực sự xảy ra trong giây phút đó. Niệm giúp cho mình biết rằng đây là hơi thở vào. Và khi thở vào mình biết rằng mình là một sinh vật. Mình là một người đang còn sống. Biết rằng mình đang còn sống, đó là một hạnh phúc rất lớn. Tại vì những người chết rồi thì làm sao mà thở vào được? Vì vậy cho nên khi thở vào tự nhiên mình giác ngộ được một sự thật là mình đang còn sống và đang còn sống là một phép lạ. Mình có thể ăn mừng phép lạ đó bằng cách thở vào và thở ra. Chỉ cần thở vào, thở ra thôi là đã có hạnh phúc rồi. Tự mình thở vào có chánh niệm, thở ra có chánh niệm cho nên năng lượng của chánh niệm cho mình biết mình là một thực tại mầu nhiệm và xung quanh mình là những sự sống mầu nhiệm. Cho nên khi có chánh niệm thì tức là sống có niềm vui và hạnh phúc. Vì thế có thể nói chánh niệm là một nguồn sống vô tận của hạnh phúc. Ví dụ, tôi thở vào và có ý thức về trái tim tôi, trái tim tôi rất là dễ thương với tôi. Nó làm việc đêm ngày để bơm máu nuôi các tế bào trong cơ thể. Tôi thì có thể được ngủ năm hoặc sáu giờ trong một ngày đêm, còn trái tim của tôi thì phải làm việc liên tục. Ấy vậy mà tôi chưa bao giờ lân mẫn, để ý thương yêu lưu tâm đến trái tim của tôi. Tôi có thể đã hút thuốc. Tôi có thể đã uống rượu. Tôi có thể đã thức đêm và tôi làm cho trái tim của mình mệt nhoài. Bây giờ tôi thở vào một hơi và tôi đem năng lượng chánh niệm nhận diện sự có mặt của trái tim. Và mình ôm lấy trái tim bằng sự trân quý, bằng ý thức của mình. Thở vào: trái tim của ta ơi, ta biết ngươi có đó. Mình phải biết rằng mình đã đối xử với trái tim không được dễ thương lắm do chuyện mình hút thuốc, mình uống rượu. Nghĩ tới đó tự nhiên tình thương đối với trái tim được phát triển và mình nghĩ từ đây về sau mình sẽ không uống rượu, hút thuốc, thức khuya nữa để cho trái tim của mình có hạnh phúc. Khi ôm lấy trái tim với chánh niệm thì mình nhận ra một điều rất mầu nhiệm là trái tim của mình nó đang vận hành một cách bình thường. Có những người không có một trái tim bình thường, họ có vấn đề về tim mạch, trái tim của họ có thể ngừng đập bất cứ lúc nào và họ luôn sợ hãi. Điều mong muốn sâu sắc nhất của họ là có một trái tim bình thường như là trái tim của bất cứ ai. Khi thở vào, mình giác ngộ một sự thực là mình có một trái tim bình thường. Và mình có thể ăn mừng sự kiện là có một trái tim bình thường. Đó là niềm vui có được nhờ có chánh niệm.
– Thở vào tôi ý thức về trái tim của tôi. Tôi ý thức rõ sự có mặt của trái tim tôi.
– Thở ra tôi biết trái tim tôi là một trái tim bình thường, mạnh khỏe.
Ý thức đó đưa tới niềm vui và hạnh phúc. Cái đó gọi là niệm sinh hỷ lạc. Mà đâu phải trong cơ thể chỉ có mỗi trái tim thôi. Lá gan của tôi, thận của tôi cũng còn tốt. Hai chân của tôi còn mạnh. Tôi có thể chạy nhảy được. Biết bao nhiêu là những điều kiện hạnh phúc có đó mà tôi vì không có ý thức, không có niệm cho nên không có hạnh phúc. Vì vậy, trở về với năng lượng chánh niệm. Nhận diện những điều kiện của hạnh phúc mình đang có thì tự nhiên sẽ có vô số hỷ, vô số lạc. Khi nhìn ra ngoài, mình cũng thấy trời xanh hoa nở, biết bao nhiêu là mầu nhiệm của sự sống. Người thương của mình vẫn còn và mình được sống chung với nhau dưới một mái nhà. Biết bao nhiều là điều kiện của hạnh phúc. Nó dư dả để cho mình không cần đi tìm thêm nữa. Tất cả những cái đó là điều nhờ công dụng của niệm. Vì vậy hễ thực tập thở vào – thở ra, trở về tiếp xúc được với những điều kiện hạnh phúc mà mình đang có thì tự nhiên niềm vui, hạnh phúc được sinh ra liên tiếp. Đó là phương pháp Bụt dạy để có niềm vui và hạnh phúc. Và mình có thể khẳng định rằng chánh niệm là một nguồn suối vô tận của hạnh phúc. Năng lượng chánh niệm có thể được chế tác bằng hơi thở vào và hơi thở ra.

3.  Định sinh hỷ lạc:
Phương pháp thứ ba mà Bụt dạy, đó là định sinh hỷ lạc. Định cũng là một loại năng lượng. Có chánh niệm thì bắt đầu có định. Ví dụ như khi ý thức được sự có mặt của bông hoa thì mình có chánh niệm về bông hoa. Nhưng nếu duy trì chánh niệm được lâu dài thì mình chú tâm vào bông hoa đó nhiều hơn. Và như vậy thì cái định nó sinh ra từ cái niệm. Định càng hùng thì niệm càng hùng và hạnh phúc càng lớn. Ví dụ: Khi uống một tách trà thơm mà nếu có niệm thì mình thực sự có mặt trong giây phút hiện tại. Mình có mặt trong giây phút hiện tại thì chén trà trở thành một cái gì có thật. Còn nếu mình không có mặt. Nếu tâm mình ở chỗ khác thì rõ ràng mình uống trà mà không biết là mình đang uống trà. Mình là một bóng ma không có thực mà chén trá cũng là một bóng ma không có thực. Tại vì mình đang bị kẹt vào trong cái lo lắng, buồn khổ, đang toan tính thì không có ai ngồi đó để mà uống trà hết, mà cũng không có trà để uống. Mình uống trà như một cái máy. Trong khi đó, nếu có hơi thở chánh niệm thì tự nhiên mình có mặt thật sự, thân tâm nhất như và mình có mặt thực sự thì trà cũng có mặt thực sự. Lúc ấy sự tiếp xúc giữa mình với trà là sự sống đích thực. Khi uống trà như vậy, có niệm có định thì chén trà rất là ngon. Còn nếu không, tách trà chỉ là một bóng ma mà thôi. Người thương của mình cũng vậy. Nếu mình không có niệm, không có ý thức rằng người thương của mình ở đó thì người thương của mình cũng như là một bóng ma. Mình chỉ sống với bóng ma. Vì vậy cho nên có niệm, có định thì tất cả đều trở thành sự thật. Điều đó đem lại rất nhiều niềm vui và hạnh phúc.

4. Tuệ sinh hỷ lạc:
Tuệ tức là cái thấy. Nếu mình có chánh niệm và mình tập trung cho vững thì mình sẽ có cái thấy, cái thấy này đem lại cho mình rất nhiều niềm vui và hạnh phúc. Càng tập trung chừng nào thì hạnh phúc càng lớn chừng đó. Đó gọi là tuệ sinh hỷ lạc. Là người hành giả khôn ngoan, ta phải có khả năng chế tác được niềm vui trong mọi giây phút bằng những phương pháp pháp buông bỏ, chánh niệm, chánh định và tuệ giác. Khi có niệm, có định thì sẽ có tụê.

Bài tập thứ bảy: Nhận diện niềm đau

Ta đang thở vào và có ý thức về những hoạt động tâm ý trong ta
Ta đang thở ra và có ý thức về những hoạt động tâm ý trong ta

Bài tập thứ tám: Ôm lấy niềm đau

Ta đang thở vào và làm cho những hoạt động tâm ý trong ta được an tịnh
Ta đang thở ra và làm cho những hoạt động tâm ý trong ta được an tịnh

Khi nào chúng ta có đủ Hỷ và Lạc thì chúng ta có khả năng sử lý những nỗi khổ niềm đau ở trong ta và xung quanh ta dễ dàng hơn. Vì vậy cho nên phải có bài tập thứ năm và thứ sáu trước khi chúng ta đi vào bài tập thứ bảy. Bài tập thứ bảy là nhận diện niềm đau. Bài tập thứ tám là ôm lấy niềm đau. Người hành giả, người thực tập không tìm cách trốn chạy niềm đau của mình, không tìm cách khỏa lấp niềm đau của mình bằng tiêu thụ, bằng rượu, bằng ma túy, bằng thức ăn, bằng những phương tiện tiêu khiển khác. Người hành giả biết tu thì có khả năng đối diện trực tiếp với niềm đau, ôm lấy niềm đau của mình mà chuyển hóa. Trước hết, tôi nói đến một chút về sự khác biệt giữa Hỷ và Lạc. Ở trong kinh có nói, ví dụ mình đi trong sa mạc mà khát nước cháy cả cổ, tự nhiên mình trông thấy một lùm cây và một hồ nước. Mình thấy mừng quá đi, tuy chưa thực sự được uống nước và ngồi dưới bóng mát nhưng mình đã có niềm vui rồi. Cái này gọi là Hỷ. Và khi mình tới nơi, quỳ xuống vốc nước uống, trong khi vốc nước uống mình có hạnh phúc. Cái đó gọi là Lạc. Hỷ và Lạc khác nhau ở chỗ đó. Trong Hỷ còn có sự xôn xao, còn có sự mong đợi. Nhưng trong Lạc thì mình hoàn toàn không còn sự xôn xao, còn sự mong đợi nữa. Mình thực sự hạnh phúc. Thành ra các pháp môn thực tập là đưa tới Hỷ, rồi đưa tới Lạc. Khi có Hỷ và Lạc rồi thì mình đủ mạnh và mình có khả năng nhận diện và ôm lấy niềm đau mà không trốn chạy, không khỏa lấp, không đàn áp niềm đau. Thở vào, tôi biết có một niềm đau trong tâm tôi. Đây là một cảm giác đau khổ, một khổ thọ. Chúng ta có ba loại cảm giác: cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác trung tính. Bài tập thứ năm là để chế tác những cảm giác dễ chịu. Bài tập thứ sáu cũng là để chế tác những cảm giác dễ chịu. Còn bài tập thứ bảy là để xử lý những cảm giác đau buồn, để ôm lấy niềm đau. Niềm đau là đối tượng cần được ôm ấp, cần được công nhận. Niềm đau của ta ơi, ta biết rằng ngươi đang có mặt đó, ta không trốn chạy. Ta không giả bộ rằng ta không có niềm đau. Mình phải có can đảm chấp nhận sự có mặt của những niềm đau, nỗi khổ. Và phải dùng những năng lượng chánh niệm mà mình đã chế tác để nhận diện và ôm ấp lấy niềm đau nỗi khổ của mình. Đó là bài tập thứ bảy, bài tập này bất cứ người hành giả nào cũng có thể làm được. Nếu mình dạy cho trẻ em thì các em cũng có thể làm được chuyện đó. Ở trong bài tụng Hướng Về Tam Bảo dành cho thiếu nhi có câu:

…Con xin lạy Bụt
Đã ban cho con
Giáo pháp nhiệm mầu
Giúp con nuôi dưỡng
Tình nghĩa, hạnh phúc
Nụ cười, niềm tin
Dạy con biết thở
Ôm lấy niềm đau
Những lúc tâm con
Tham đắm, giận hờn
Si mê, ganh tỵ….

Đó là những bài kinh cho các em thiếu nhi nhưng kỳ thực đó là phương pháp cho các em thực tập. Con lạy Bụt tại vì Bụt đã ban cho con giáo pháp, giúp cho con biết thở, biết ôm lấy niềm đau những lúc tâm con bị tham đắm giận hờn, si mê, ganh tỵ nó làm cho con đau khổ. Đây là sự thực tập. Khi mình đã thực tập được thì mình cũng có thể chỉ cho các em nhỏ thực tập theo. Các em nhỏ từ nhiều quốc gia khác nhau khi tới Làng Mai đã chứng tỏ rằng các em cũng có thể thực tập được. Thở vào, tôi nhận diện những nỗi khổ niềm đau trong thân tâm và tôi ôm lấy niềm đau đó. Nếu mình không có năng lượng chánh niệm và không ôm ấp được nỗi khổ, niềm đau thì mình sẽ để cho nỗi khổ, niềm đau tràn ngập. Muốn cho nỗi khổ niềm đau không tràn ngập thì mình phải có chánh niệm và chánh định. Nếu mình biết thực tập hơi thở thì mình liên tục chế tác ra chánh niệm, có năng lượng chánh niệm đó thì mình có khả năng ôm lấy niềm đau của mình. Mà đã ôm lấy nó thì tự nhiên mình bớt khổ. Cũng như khi một người mẹ đang làm việc ở trong bếp, nghe tiếng khóc của em bé, bà liền bỏ công việc xuống, đi vào và ôm lấy em bé một cách rất dịu hiền. Tuy bà mẹ chưa biết con mình có vấn đề gì, nhưng nội chuyện ôm lấy bé với tất cả sự trìu mến và thương yêu thì em bé đã hạnh phúc rồi.

Ở đây cũng vậy, khi mình có niềm đau, nỗi khổ nếu mình biết dùng năng lượng chánh niệm để nhận diện và ôm lấy niềm đau nỗi khổ ấy thì dù chưa làm gì hết mình đã bớt khổ rồi. Năng lượng thứ nhất là năng lượng khổ được năng lượng thứ hai là chánh niệm săn sóc, bảo hộ. Năng lượng thứ hai làm công việc của người chị lớn, người mẹ ôm lấy đứa con là khổ đau. Đó là sự mầu nhiệm của hơi thở thứ bảy, mà bất cứ một hành giả nào cũng phải làm cho được. Tại vì trong chúng ta người nào cũng có nỗi khổ, niềm đau mà chúng ta chỉ biết trốn chạy, khỏa lấp. Trong khi đó thì Bụt dạy đừng có trốn chạy, đừng có khỏa lấp, phải có can đảm nhận diện và ôm lấy niềm đau. Nhưng nếu quý vị không thực tập hơi thở chánh niệm thì làm sao quí vị có được những năng lượng đó để làm cái công việc là ôm ấp niềm đau. Phải có bà mẹ mới ôm đứa con được. Mình phải thực sự có mặt mới ôm lấy những nỗi khổ, niềm đau được. Mà muốn thực sự có mặt để ôm lấy nó thì mình phải thực tập hơi thở. Thực tập hơi thở mình sẽ làm phát khởi năng lượng của chánh niệm. Và kết quả là hơi thở thứ tám giúp mình có thể làm lắng dịu niềm đau. Mình chưa thể chuyển hóa được niềm đau tận gốc. Nhưng sự kiện là mình đã có thể nhận diện được nó, ôm lấy nó một cách rất là dịu dàng, rất là trìu mến thì niềm đau đó sẽ dịu xuống, khổ đau đã vơi bớt rất nhiều rồi. Với những bài tập tiếp theo, mình có thể đi xa hơn để có thể chuyển hóa hoàn toàn gốc rễ của những nỗi khổ, niềm đau. Nhưng ở đây chỉ nói nhận diện và ôm ấp thôi cũng đã có thể bớt khổ rồi.

Bài tập thứ chín: Nhận diện tâm

Ta đang thở vào và có ý thức về tâm ý ta
Ta đang thở ra và có ý thức về tâm ý ta

Tám hơi thở vừa qua thuộc về lĩnh vực cảm giác. Tới hơi thở thứ chín chúng ta bước sang lĩnh vực của tâm. Trong bài tập đầu chúng ta có nhận diện hơi thở, bài tập thứ ba có nhận diện toàn thân,  bài tập thứ tư làm lắng dịu toàn thân. Chúng ta cũng đã học cách nhận diện niềm đau, ôm ấp niềm đau qua hơi thở thứ bẩy, và làm lắng dịu niềm đau qua hơi thở thứ tám. Sang bài tập thư chín phương pháp cũng giống như vậy. Lúc đầu là thân, sau đó tới thọ và bây giờ sang lĩnh vực tâm. Tâm ở đây tức là tâm hành, trong đạo Bụt có nói tới 51 tâm hành (buồn, vui, thương, ghét, tuyệt vọng,.v.v..) Tâm ở đây không phải là cái gì trừu tượng nữa mà là cái mình biết rất rõ. Tâm tựa như là một dòng sông trong đó có 51 tâm hành đang tuôn chảy trên dòng sông ấy. Khi vào trường Phật học thì mình phải học thuộc tên của 51 tâm hành đó để khi chúng phát hiện thì mình nhận ra liền và gọi tên chúng: A! Bạn là giận, tôi biết bạn tên là giận. Cũng giống như một sinh viên trường Dược phải thuộc tên của những dược phẩm. Mình cũng phải nhận diện được tâm hành gì đang diễn ra trong mình. Trong 51 tâm hành có những loại tâm hành như tích cực như: Thảnh thơi, thương yêu, bao dung, … Có những loại tâm hành tiêu cực như: giận hờn, ganh tị, thù hận, … Trong bài tập thứ chín, nhiệm vụ của chúng ta là nhận diện và gọi được tên của tâm hành mỗi khi chúng phát khởi. Giống như mình ngồi trên bờ sông tâm hành và quan sát, chỉ nhìn và quan sát vậy thôi chứ mình không bám lấy chúng cũng không xua đuổi chúng dù chúng là tâm hành tích cực hay tâm hành tiêu cực. Nó xấu cũng đừng tìm cách đuổi đi mà nó tốt cũng đừng nắm giữ. Nhận diện tâm đây không còn là một cái gì trừu tượng nữa mà rất là cụ thể. Cảm thọ (cảm giác) cũng là một loại tâm hành nên tâm ở đây còn 50 tâm hành. Niềm vui, nỗi khổ là những cảm thọ. Người tu phải luôn luôn có mặt nhờ sự thực tập hơi thở có chánh niệm. Phải luôn luôn có mặt để khi nào có một tâm hành biểu hiện thì mình phải kịp thời nhận diện không để cho nó tác yêu, tác quái. Như vậy là mình làm chủ được tâm.

Bài tập thứ mười: Làm cho tâm hoan lạc

Ta đang thở vào và làm cho tâm ý ta hoan lạc
Ta đang thở ra và làm cho tâm ý ta hoan lạc

Mục đích của bài thực tập này là làm cho tâm hoan lạc. Mình rất cần năng lượng để tiếp tục thực tập. Cho nên phải nhận diện tâm và làm cho tâm phấn chấn, tươi vui. Bài thực tập này là sự tiếp nối của bài thực tập thứ 5 và thứ 6 nhưng nó đi sâu hơn vào những tâm hành khác. Nó cũng liên hệ tới Tứ Chánh Cần. Trong con người mình có những tâm hành như: tha thứ, bao dung, niềm vui, hạnh phúc, tình thương, chí nguyện độ đời… Tất cả những cái đó rất quý giá. Cho nên chúng ta phải làm như thế nào để những tâm hành đó được phát triển và đi lên. Cũng giống như nhà mình có cái CD nhạc rất hay nhưng mình cứ để bụi bặm bám vào từ năm này qua năm khác mà không đem ra nghe, rất là uổng. Mình vốn có sẵn những tâm hành rất thiện, rất lành được gia đình tổ tiên trao truyền nhưng mình không biết cách xử lý mà cứ để cho những tâm hành buồn giận, lo lắng, sầu khổ trấn ngự. Giống như mình có một cái CD hát những bài nhạc tình sầu đứt ruột nhưng mình cứ nghe đi nghe lại tới nỗi điên cái đầu luôn mà không chịu dừng. Vì vậy vấn đề ở đây là chọn CD. Nếu cái CD nào không thích hợp, không đem lại sự thoải mái cho ta thì ta không nên tiếp tục nghe nó nữa. Nếu cái CD đó không hay thì ta phải thay bằng cái CD mới, cái đó gọi là làm cho tâm mình hoan lạc. Thiếu gì những bản nhạc hay mà cứ phải nhai đi nhai lại những bài hát sầu đời để mặc cho nó kéo tâm mình chìm nghỉm xuống? Một ông thợ mộc thường dùng cái chốt mới để thay thế cho cái chốt cũ đã bị mục. Khi cái chân bàn hay chân ghế bị lung lay ông ta làm một chiếc chốt mới thay vào nơi chiếc chốt cũ, khi ấy chiếc bàn hay chiếc ghế lại trở nên vững chắc. Cái đó gọi là phương pháp thay chốt. Ngày nay nếu cái bàn hay cái ghế bị hư thì thường là người ta mua cái mới chứ không “thay chốt” nữa, vì vậy ngày xưa Bụt gọi là “phương pháp thay chốt”, còn ngày nay chúng ta gọi là “phương pháp thay CD”, hay “phương pháp thay DVD”. Ví dụ khi xem một bộ phim quá tệ mà ta cứ ráng ngồi chịu trận thì thật là dại, tại sao không đi thay bằng một bộ phim khác hay hơn? Cái đó là sự thực tập làm cho tâm hoan lạc. Mỗi chúng ta có bao nhiêu là tâm hành tốt ở trong mình: Vị tha, đại nguyện, đại trí, đại bi, tha thứ, bao dung, niềm vui, tình yêu, hạnh phúc.v.v.. nhưng mình không chịu phát triển nó mà cứ để cho đau khổ, buồn rầu chiếm cứ lấy. Đây chính là nội dung của bài thực tập thứ mười, là người hành giả ta gắng phải thực tập cho được. Một người tu khôn ngoan là một người biết cách làm hạnh phúc cho chính mình và làm hạnh phúc cho người khác. Đức Thế Tôn đã trao truyền cho chúng ta biết bao nhiêu là phương pháp hay, vấn đề là chúng ta có chịu thực tập hay không mà thôi.

Bài tập thứ mười một và mười hai vẫn thuộc về tâm nhưng bốn hơi thở cuối từ hơi thở thứ mười ba cho tới hơi thở thứ mười sáu có liên hệ tới tri giác. Tri giác của mình có thể sai lầm, thấy sợi dây mà tưởng con rắn. Tri giác sai lầm gọi là vọng tưởng. Mình khổ là vì vọng tưởng. Vì vậy mục đích tối hậu của đạo Bụt là đào tận gốc vọng tưởng liệng đi.

Ta đang thở vào và thu  nhiếp tâm ý ta vào định
Ta đang thở ra và thu  nhiếp tâm ý ta vào định

Tâm của mình có thể bị phân tán và thất niệm, khi ấy ta dùng chánh niệm để đưa tâm trở về và đem tâm vào trong định. Khi tâm được tập trung, được gom lại thì tâm trở nên rất hùng tráng, từ đó có thể làm được những việc rất hữu ích. Cũng giống như ánh sáng, ánh sáng truyền đi bằng đường thẳng nhưng khi ta sử dụng thấu kính thì thấu kính đó giúp tập trung ánh sáng vào một điểm duy nhất. Một khi chumg ánh sáng hội tụ tại một điểm thì nó tạo nên một sức nóng rất lớn có thể đốt cháy một tờ giấy. Tương tự như vậy, những si mê, lầm lạc của mình một khi mình có định thì những si mê lầm lạc ấy bị đốt cháy.

Định có nhiều loại định: Định về không, định vô thường, định vô ngã, định tương tức, vô tướng, vô tác,…. biết bao nhiêu là định. Chỉ cần có định thì phiền não sẽ bị đốt cháy. Nhiệm vụ của hơi thở thứ mười một là đưa tâm vào định, đưa tâm vào định thật ra không khó khăn gì mấy, khi định tâm hùng hậu thì nó bắt đầu đốt cháy những phiền não, tháo bỏ những sợi dây trói buộc.

Vô thường là một loại định chứ không phải là một lý thuyết. Ví dụ: Khi mình giận người kia, mình muốn trừng phạt người kia, mình tính nói một câu để người ấy khổ một chút cho vui. Tại vì người kia dám làm cho mình khổ. Hoặc có thể mình đánh người kia một cái để cho người kia khổ, tại vì người kia dám làm cho mình đau khổ. Mình làm như vậy bởi vì trong mình có sự đau khổ giận hờn. Thì bây giờ mình sẽ thực tập một loại định gọi là định vô thường, mình nhắm mắt lại và bắt đầu thực tập:

Thở vào tôi quán chiếu để thấy được sau 300 năm nữa thì tôi sẽ trở thành cái gì?
Thở ra tôi quán chiếu cái người đứng trước mặt tôi sau 300 năm nữa sẽ trở thành cái gì?

Mà định vô thường đâu cần tới 300 năm. Chỉ cần vài chục năm nữa là mình và người kia đã thành tro cả rồi. Thấy thế thì tội gì mà lại đi giận nhau? Mình chỉ có mấy chục năm để chơi với nhau thôi, vậy mà bây giờ hai đứa giận nhau, muốn làm khổ nhau thì đó là chuyện rất là ngu dốt. Và mình chỉ cần cái định đó trong vòng hai giây thôi là cơn giận hờn kia nó tan biến. Khi mở mắt ra mình chỉ muốn ôm người đó vào lòng. Biết em còn sống anh mừng quá đi. Biết con còn sống mẹ mừng quá đi. Biết bố còn sống con mừng quá đi

Bài tập thứ mười hai: Cởi trói cho tâm giải thoát

Ta đang thở vào và cởi mở cho tâm ý ta được giải thoát tự do
Ta đang thở ra và cởi mở cho tâm ý ta được giải thoát tự do

Tâm mình nó bị những sợi dây ràng buộc. Sợi dây sân hận, thù oán, tuyệt vọng làm cho mình đau khổ. Nhờ những cái định đó mà mình đốt cháy, mình tháo gỡ được, cởi trói được cho tâm, đó gọi là tâm giải thoát. Giống với hơi thở thứ chín và thứ mười, hơi thở thứ mười một và mười hai cũng thuộc về tâm hành

Bài tập thứ mười ba: Quán chiếu về vô thường

Ta đang thở vào và quán chiếu về tính vô thường của vạn pháp
Ta đang thở ra và quán chiếu về tính vô thường của vạn pháp

Với hơi thở thứ mười ba mình đi sang lĩnh vực của tri giác. Khi nhìn cây bút mình biết đây là cây bút, đó là một tri giác. Danh từ chuyên môn là Tưởng, Tưởng là một tri giác. Tưởng là một trong năm uẩn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức –  năm yếu tố tạo nên cơ thể. Chữ Tưởng  trong chữ Hán có chữ tướng ở trên (tướng mạo). Mình nhận diện được cây bút vì nó có tướng mạo của vây bút. Mình nhận diện được bông hoa vì có tướng mạo của bông hoa. Nhờ nó có cái tướng cho nên mình tưởng được và phần dưới là chữ tâm. Cái tâm nhận ra được cái tướng đó nên gọi là tưởng (tri giác). Tri giác của mình có thể là sai lầm. Thấy sợi dây mà tưởng là con rắn. Tri giác sai lầm gọi là vọng tưởng. Mình khổ là vì vọng tưởng. Vì vậy mục đích tối hậu của đạo Bụt là đào gốc vọng tưởng liệng đi hết. Bốn hơi thở cuối có liên hệ tới tri giác. Và tri giác là một trong 51 tâm hành.

Quán chiếu vô thường: Khi nhìn vào hình hài của mình, mình thấy nó là một dòng sông. Mỗi tế bào là một giọt nước. Mình thấy hình hài của mình không phải là một cái bất động mà là một dòng chuyển biến, qua đó mình thấy được tự tính vô thường, thấy được sự chuyển biến của cơ thể. Nhìn vào tập album ta thấy cái hình của mình lúc 5 tuổi khác xa so với bây giờ. Rõ ràng là không có cái gì giống nữa. Về sắc, thọ, tưởng, hành, thức không có cái gì giống hết vậy mà mình vẫn là cái tên đó. Cái tên của mình thì còn mà cả năm cái: sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều thay đổi. Vô thường và vô tướng là một phép quán rất mầu nhiệm. Tuy trong lý thuyết là sự vật vô thường, vậy mà mình vẫn cư xử như sự vật mãi là thường. Trên lý thuyết thì mình đều biết là cái người sống với mình đó mai mốt cũng sẽ chết nhưng trên thực tế mình cứ nghĩ người đó cứ sống hoài và mình đối xử tệ với người đó, mình không dễ thương với người đó. Nếu mình biết người đó vô thường thì ngày hôm nay mình có thể làm những điều đem lại hạnh phúc cho người ấy, nếu để đến ngày mai thì quá trễ. Vì vậy cho nên quán chiếu vô thường đem lại rất nhiều hạnh phúc. Mình biết rằng những cái gì mình có thể làm được cho người đó hạnh phúc thì phải làm ngay hôm nay chứ không thể đợi tới ngày mai. Và mình cũng biết rằng những công trình, những dự án mà không có lợi ích, không thiết thực thì mình không theo đuổi nữa. Mình buông bỏ. Hay lắm! Phải thực tế mới được. Vì vậy quán chiếu vô thường đem lại rất nhiều hạnh phúc cho mình và người thương của mình.

Bài tập thứ mười bốn: Quán chiếu vô dục

Ta đang thở vào và quán chiếu về tính không đáng tham cầu và vướng mắc của vạn pháp
Ta đang thở ra và quán chiếu về tính không đáng tham cầu và vướng mắc của vạn pháp

Vô dục có nghĩa là không đáng để cho mình thèm khát. Không đáng để cho mình theo đuổi. Khi quán chiếu còn mình thì như con thiêu thân, mình muốn lao mình vào mà không biết rằng làm như thế thì mình sẽ bị cháy xèo một cái. Cho nên phương pháp quán chiếu để giúp ta thấy được đối tượng của thèm khát kia vốn chứa đựng những hiểm nguy độc hại. Ví dụ con cá thấy một miếng mồi rất là hấp dẫn nó bèn tiến tới đớp một cái, đâu ngờ bị mắc câu? Mà hiện nay người ta bán những mồi câu bằng nhựa trông rất giống thật nhưng không phải là mồi thật. Vì vậy phải nhìn cho kỹ đối tượng mà mình đang theo đuổi. Đó là danh hoặc là lợi hoặc là sắc hoặc là dục. Tất cả đều có những hiểm nguy ở trong, nó không đáng để mình theo đuổi, không đáng để mình hy sinh cuộc đời vì nó. Cái đó gọi là quán chiếu vô dục. Khi quán chiếu vô dục được rồi thì mình có tự do, có thảnh thơi và hạnh phúc. Ví dụ bây giờ có người mời tôi làm bộ trưởng Bộ Giáo Dục hay là làm Thủ Tướng thì tôi thấy rằng làm thầy tu sướng hơn nhiều, làm thầy tu an lạc thảnh thơi, tự dưng làm cái kia làm chi cho cực. Tôi đang hạnh phúc như vậy ai mà dại gì đi vào chỗ đó cho khổ. Tôi không mảy may ham muốn, hoàn toàn lạnh lẽo với chuyện đó, ấy vậy mà hạnh phúc của tôi rất lớn. Bởi vì thấy được những hoạn nạn, tai ương trong những cái đó nên mình không hề muốn dính tới. Đó là kết quả của sự quán chiếu vô dục. Ở trong kinh Samadhi Đức Thế Tôn có dạy rằng

Không biết rõ ái dục
Mới vướng vào ái dục
Tâm ái dục không sinh
Ai quyến rũ được mình

Mình là người tự do. Người tự do thì có hạnh phúc, không có tự do thì không có hạnh phúc. Là một người tu, cái quan trọng nhất chính là tự do.

Bài tập thứ mười lăm: Quán chiếu vô sinh, niết bàn

Ta đang thở vào và quán chiếu về bản chất không sinh diệt của vạn pháp
Ta đang thở ra và quán chiếu về bản chất không sinh diệt của vạn pháp

Đây là một pháp tu rất là mầu nhiệm. Bề mặt thì có tới có đi, có sinh có diệt, có còn có mất. Mà nhìn cho kỹ thì bản chất của vạn hữu là vô sinh bất diệt, không tới không đi, không có không không. Đây chính là đối tượng của Tâm Kinh Bát Nhã mà người tu tụng mỗi ngày. Ví dụ đám mây, bản chất của nó là vô sinh, bất diệt. Đám mây không phải từ không mà trở thành có. Trước khi nó là đám mây thì nó là nước của đại dương nhờ sức nóng của mặt trời mà nước bốc hơi, khi lên cao gặp khí lạnh nó ngưng tụ thành mâu. Sự có mặt của đám mây chỉ là sự tiếp nối của sức nóng và nước thôi. Vì vậy đám mây không phải từ không mà trở thành có, đám mây chẳng qua chỉ là sự nối tiếp, bản chất của nó là vô sinh. Tại vì sinh là gì ? là từ không mà trở thành có. Mà đám mây đâu có thể từ không mà trở thành có được ? Không có cái gì từ không mà trở thành có được hết. Anh cũng vậy, chị cũng vậy và tôi cũng vậy. Mình không tới từ không, cho nên nói từ hư không tới lại trở về hư không là không đúng đâu. Khi đám mây chết, đám mây thì làm sao mà chết được ? Chết tức là từ có mà trở thành không. Làm sao mà đám mây trở thành không được ? Đám mây chỉ có thể trở thành tuyết, trở thành mưa, trở thành sương mù, thành nước đá chứ mây không thể nào trở thành hư vô được. Vì vậy cho nên bản chất của đám mây là vô sinh, vô diệt. Bản chất của Đức Thế Tôn là vô sinh bất diệt. Bản chất của mình cũng vậy là vô sinh bất diệt. Khi thấy được bản chất của mình là vô sinh bất diệt thì mình không sợ hãi nữa mình sẽ đạt được sự vô úy. Không có sự sợ hãi thì hạnh phúc mới thật là toàn hảo. Chừng nào còn sợ chừng đó hạnh phúc chưa toàn vẹn. Ví dụ một đợt sóng đi lên đi xuống, sóng có bắt đầu, có chung kết. Đợt sóng có thể nói mình cao hay mình thấp hơn ngọn sóng khác, mình đẹp hay là mình xấu hơn những ngọn sóng khác. Tất cả những so sánh đó chỉ khiến cho con sóng lao đao, buồn khổ. Nhưng nếu đợt sóng quán chiếu thấy bản chất của mình là vô sinh, nếu nó thấy rằng bản chất của nó là nước, trước khi là sóng nó vốn là nước, trong khi là sóng nó vẫn đang là nước, nếu thấy được như vậy thì dù lên hay xuống, đẹp hay xấu nó cũng vui. Nó thấy được bản chất của nó là nước, mà bản chất của những ngọn sóng khác cũng là nước thì nó sẽ thấy nó đẹp mà những ngọn sóng khác cũng đẹp. Vì vậy khi tiếp xúc được với bản chất của mình, tiếp xúc với tự tính của mình cái đó gọi là vô sinh. Vô sinh có nghĩa là vô dục, có nghĩa là vô khứ – vô lai, phi hữu – phi không…..vô sinh đại diện cho tám cái vô gọi là bát không.

Khi đám mây thấy được tự tính vô sinh bất diệt của mình thì là đám mây nó cũng hạnh phúc mà khi trở thành cơn mưa nó cũng hạnh phúc, trở thành dòng sông cũng hạnh phúc. Mình cũng vậy nếu thương xuyên duy trì sự quán chiếu về vô sinh thì mình không còn sợ chết, không còn sợ sinh nữa. Tại vì sinh diệt chỉ là ý niệm. Thực tập được hơi thở thứ 15 rồi thì hơi thở thứ 16 rất là dễ thực tập.

Bài tập thứ mười sáu: Quán chiếu buông bỏ

Ta đang thở vào và quán chiếu về sự buông bỏ
Ta đang thở ra và quán chiếu về sự buông bỏ

Buông bỏ đây là buông bỏ cái gì ? Đó là buông bỏ những ý niệm, những ý niệm về trước về sau, về trong về ngoài, về sinh về diệt. Ta phải buông bỏ hết tất cả những ý niệm đó. Nếu mình sợ, mình buồn, mình lo là vì có những ý niệm. Khi tiếp xúc được với bản chất vô sinh rồi thì mình có thể buông bỏ được tất cả. Ví dụ mình có một ý niệm về thời gian. Thời gian là một dòng trôi chảy liên tục nhưng vì mình có một ý niệm về thời gian cho nên mình mới chọn một điểm trong thời gian đó làm điểm sinh của mình. Và tại vì mình đã sinh ra rồi cho nên mình phải chết đi. Cho nên phải có một điểm nào đó gọi là tử. Rồi từ hai ý niệm sinh – tử, mình có ý niệm thọ mạng (kiếp). Mình có thể thọ 20 năm hay 100 năm. Từ đó mình nghĩ rằng trước khi sinh ra thì mình không có, mình chỉ có từ khi được sinh ra và mình sẽ chấm dứt khi mình chết, nghĩa là mình từ không mà trở thành có, rồi từ có lại trở thành không, thế nên mới có ý niệm : có – không ; trước – sau ; sinh – tử làm cho mình điên đầu. Vì vậy, buông bỏ ở đây là buông bỏ tất cả những ý niệm đó. Buông bỏ được thì mình trở thành một con người tự do, một người hạnh phúc, không còn sợ hãi nữa. Đó là hạnh phúc của một Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã dạy rằng hễ là con người thì ai cũng có thể đạt được tới cái đó hết.

Đây là cốt lõi của sự sống. Mình cần phải học hỏi thêm và phải đem áp dụng cho được vào đời sống hằng ngày thì cái hiểu của mình mới càng ngày càng sáng rõ.

Chánh kiến nền tảng của đạo đức

Dừng lại và buông thư

Thiền – Dhyana – Có hàm chứa nghĩa: dừng lại và làm cho buông thư. Sự dừng lại và buông thư được gọi là thiền chỉ. Trong sự thực tập, nếu chưa có khả năng dừng lại và buông thư, mình không thể đi xa hơn. Bởi không thành công thiền chỉ, khó có thể nhìn sâu, thấy rõ bản chất của các hiện tượng – Thiền quán.

Mỗi người đều sẵn có hạt giống rong ruổi, tìm kiếm, chúng ta không thể ở yên được, hạt giống này chúng ta được tiếp nhận từ tổ tiên. Sở dĩ, mình không dừng lại được, bởi vì mình thiếu buông thư. Không buông thư được, những căng thẳng trong cơ thể bị dồn nén và yếu tố trầm tĩnh của đời sống mất đi. Nếu thực tập vững vàng phương pháp thở và đi trong chánh niệm, mình sẽ dừng được sự chạy đua. Lúc ấy, sự buông thư và niềm an lạc sẽ lập tức có mặt.

Ngồi thiền là cơ hội để thực tập dừng lại hoàn toàn. Trong khi ngồi, chúng ta sử dụng hơi thở có ý thức để hỗ trợ cho việc dừng lại ấy. Dừng lại được là bắt đầu có chủ quyền đối với thân và tâm của chính mình. Ngồi thiền trước hết là dừng lại và buông thư. Nếu trong khi ngồi mà phải đấu tranh, phải gồng mình, và xem việc ngồi thiền như một lao tác mệt nhọc thì đó chưa phải là cách ngồi thiền đúng. Khi ngồi, tư thế phải thật thoải mái, lưng thẳng nhưng buông thư, và khởi sự thực tập theo kinh quán niệm hơi thở. Thở vào, tôi ý thức về toàn thân của tôi, thở ra, tôi buông thư toàn thân. Và mình đem cái tâm đi vào cái thân. Cái tâm của mình chỗ nào cũng có cái thân hết, tức là tâm đầy trong thân. Giống như việc mình ngâm đậu xanh với nước ấm vậy, đậu xanh được ngâm trong nước ấm một hồi, nước sẽ thấm vào trong hạt đậu, hạt đậu sẽ nở ra gấp ba bốn lần ban đầu. Sở dĩ, cái thân khô héo là bởi vì cái tâm không thấm vào trong thân được. Nếu muốn cái thân được tươi mát, được thấm nhuận thì cần phải để cho tâm đi vào trong thân. Lúc ấy, thân của mình không còn là một xác chết nữa.  Thân của mình sẽ trở thành một thực thể linh động, vì tâm được thấm vào trong từng cái tế bào. Tức là cái thân đầy cả cái tâm. Trong khi ngồi thiền, thiền hành… mình làm như thế nào để thân của mình đầy tâm mà tâm của mình cũng đầy thân. Khi thân và tâm hợp lại với nhau, mình thật sự có được những giây phút sống sâu sắc. Thiền là một phương pháp thực tập, và nếu thực tập đúng mình sẽ có hành phúc liền. Hạnh phúc này bắt đầu từ sự dừng lại và buông thư. Không có sự dừng lại và buông thư, thì không thể nào có hạnh phúc được. Hạnh phúc này được gọi là thiền duyệt. Thiền duyệt tức là niềm vui trong sự thực tập thiền. Và người tu phải lấy niềm an lạc mà thiền tập đem lại làm thực phẩm hàng ngày (Thiền duyệt vi thực). Trong nghi thức cúng ngọ có câu: “Nhược phạn thực thời, đương nguyện chúng sanh, thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn”. Khi ăn cơm, khi cúng ngọ ngày nào mình cũng nguyện cho tất cả chúng sanh đều hưởng được “thiền duyệt”, và niềm vui ấy đầy tràn: “pháp hỷ sung mãn”, nhưng chính mình đâu có chịu làm. Mình đã để cho chính mình bị đói và những người bạn đến với mình cũng bị đói. Những người bạn tin tưởng vào mình, trông cậy vào mình, nhất là khi mình là một vị giáo thọ, nhưng mình quên mất vai trò của chính mình. Đôi khi mình bỏ đói đại chúng, bỏ đói các bạn đến với mình. Nếu mình bắt đầu dừng lại và buông thư được, tức khắc mình sẽ có được hỷ lạc. Khi có được hỷ lạc, mình mới khởi sự quán chiếu vào lòng sự vật để thấy được bản chất của sự vật.

Mình có thể thực tập theo những hướng dẫn của đức Thế Tôn để dừng lại. Thở vào, con ý thức về hình hài của con. Thở ra, con ý thức về toàn thể hình hài con. Lúc đó, cái tâm đi vào cái thân và cái thân đi vào cái tâm. Tiếp tục thực tập như vậy, mình để cho tâm dần thấm vào trong thân. Mình có thân đầy trong tâm và tâm cũng đầy trong thân. Kế tiếp, mình buông thư thân thể, tâm hồn dựa vào hơi thở có ý thức. Thở vào, con buông thư thân thể con, tâm hồn con. Thở ra, con tiếp tục để cho tâm hồn con, thân thể con được buông thư. Hãy cho ra ngoài hết tất cả những dồn nén, những căng thẳng. Sự buông thư này sẽ mang lại sự trị liệu. Do vậy, khi đề cập đến khổ hay gọi tên những nỗi khổ, mình đừng quên đề cập đến những căng thẳng trong thân thể và tâm hồn. Bởi nó đích thực là một nỗi khổ và rất quan trọng, cần được chúng ta quan tâm đến. Chúng ta đừng nói đến đói, đến nghèo, hãy nói đến sự căng thẳng trước tiên.

Niệm là giới

Khi thực tập thiền hành phải thực tập như thế nào để dừng lại được trong khi đi. Đi như là đi chơi trong Tịnh Độ mà không đi như bị ma đuổi, buông thư được trên từng bước chân. Đường dài, em bước như dạo chơi. Đường càng dài càng hay, vì mình có thể dạo chơi càng nhiều. Mặc dù chưa là giáo thọ nhưng mình cũng không được bỏ đói các bạn thiền sinh đến với mình, mình có bổn phận phải giúp họ. Vì mỗi ngày, mình được hưởng thức ăn của thiền tập, và khi có ai đến, mình phải hỏi: Các anh, các chị có đói không? Thực phẩm đây! Tức là phương pháp giúp họ biết thở, biết đi, biết cười. Do vậy, khi ngồi thiền, cho dù nửa giờ hay bốn mươi lăm phút, cũng phải biết tận dụng khoảng thời gian ấy để nắm lấy chủ quyền, phải để cho thân tâm được buông thư, nghỉ ngơi. Nếu không làm được như vậy thì mình đã phung phí một cách oan uổng nguồn thời gian quý báu của chính mình.

Ở ngoài đời, người ta có thể có nhiều tiền, nhiều bạc, nhưng có thời gian để được ngồi yên thì rất hiếm. Được ngồi yên là một cơ hội để nuôi dưỡng và trị liệu thân tâm. Nếu thực tập thiền chỉ giỏi, tất nhiên mình sẽ có niệm và định. Niệm tức là sự chú tâm, biết rõ cái gì đang xảy ra. Ví dụ, khi theo dõi hơi thở, thở vào mình biết rõ đây là hơi thở vào, thở ra mình biết rõ đây là hơi thở ra. Đó gọi là chánh niệm về hơi thở. Khi đang đi, mình biết mình đang đi, mà không để cho đầu óc trôi dạt ở một phương nào. Đó gọi là niệm bước chân. Còn khi uống trà, mình biết là mình uống trà thì gọi là niệm uống trà. Khi chải răng, mình biết là mình chải răng, chải cho có hạnh phúc, chải cho buông thư thì gọi là niệm chải răng. Khi mình đi tiểu, đi cầu cũng vậy. Mọi lúc mọi nơi đều là cơ hội cho mình thực tập chánh niệm. Chánh niệm là phép tu căn bản, và nó cũng là nền tảng đạo đức của Phật giáo.

Trong đạo Bụt có đề cập tới ba phép thực tập để đưa tới giải thoát: Giới – Định – Tuệ đó là tam vô lậu học. Thực tập giới đưa tới định lực. Khi giới và định hùng hậu, mình có khả năng chọc thủng được màng vô mình, và tiếp xúc được với thực tại, tức là có tuệ giác. Mà có tuệ giác là có sự giải thoát. Thông thường, giới được hiểu như là đạo đức, nhưng tại Làng Mai hiểu giới như là sự thực tập chánh niệm. Do vậy, theo truyền thống Làng Mai, Giới – Định – Tuệ  còn được gọi là Niệm – Định – Tuệ. Cách đây bốn chục năm, tôi đã đã khám phá ra điều này: Giới tức là Niệm. Tại vì niệm có nghĩa là ý thức được những gì đang xảy ra trong mình và xung quanh mình.  Ví dụ, khi có sự căng thẳng và mình biết rằng, mình đang có sự căng thẳng. Thở vào, tôi ý thức được sự căng thẳng trong thân tâm tôi. Thở ra, tôi buông bỏ sự căng thẳng trong thân tâm tôi. Trước hết, mình nhận diện được sự căng thẳng đang có mặt, và sự căng thẳng là một nỗi khổ. Nếu có niệm lực hùng hậu, định sẽ xuất hiện. Khi để hết tâm ý vào sự căng thẳng tức là khổ đế thì mình sẽ tìm ra được nguyên nhân dẫn đến sự căng thẳng (tập đế), đó là cách sống hấp tấp, vụt chạc, dồn nén, mà không chịu buông thư trong đời sống hằng ngày. Rõ ràng, niệm giúp mình nhận diện ra cái khổ, và giúp mình thấy được gốc rễ của cái khổ. Niệm đi cùng định tìm đến với tuệ. Tuệ tức là thấy được cái nguyên nhân dẫn đến sự căng thẳng. Khi biết được nguyên nhân của sự căng thẳng, mình sẽ thực tập và lấy được những căng thẳng ra khỏi thân tâm, tức là diệt đế. Phương pháp buông thư, phương pháp thực tập để chuyển hóa tận gốc những căng thẳng chính là đạo đế. Vì vậy, niệm là cái đầu dây mối nhợ. Nhờ có niệm mà có định, nhờ có định mà có tuệ. Nhờ niệm định tuệ, ta thấy được chân tướng của bốn sự thật.

Trong văn học Phật giáo, chữ học có nghĩa là thực tập, tam học là ba sự thực tập. Khi người còn cần phải thực tập thì gọi là hữu học. Người đã thực tập thành công rồi, không còn phải học nữa gọi là vô học. Vô học không có nghĩa là vô giáo dục. Chữ vô học trong Phật giáo là địa vị rất cao. Các bậc vô học cao hơn các bậc hữu học nhiều. Khi nói tôi là một người hữu học có nghĩa tôi là người đang còn thực tập. Bạn là một người vô học có nghĩa bạn đã thực tập thành công rồi. Chữ học ở trong đạo Phật có nghĩa là thực tập. Mình thực tập niệm tức là mình thực tập giới. Vì vậy, mình cần biết rằng, nền tảng của đạo đức Phật giáo là chánh niệm. Đầu dây mối nhợ bắt đầu từ chánh niệm. Có chánh niệm, mình biết, mình cần làm gì, và không nên làm gì. Giới cũng có nghĩa là đạo đức. Đạo đức là những quy tắc, những tuệ giác giúp mình biết được nên làm gì và không nên làm gì để tránh khổ đau và mang lại hạnh phúc cho mình và cho người.

Dành cho tất cả mọi người

Trong quá khứ, có thể nhiều vị thầy đã thấy được giới tức là niệm. Nhưng có lẽ tôi là người đầu tiên nói ra điều đó. Chúng ta biết, nếu niệm hùng hậu sẽ mang theo định. Nếu niệm, định hùng hậu ắt sinh tuệ. Trong phạm vi đạo đức học, tuệ tức là cái thấy. Như ví dụ về sự căng thẳng vừa xét trên, mình thấy được sự căng thẳng đang diễn ra trong thân tâm mình, mình cũng biết rằng mình có thể buông thư và có những phương pháp cụ thể để đạt tới sự buông thư, chấm dứt căng thẳng. Cái thấy này gọi là tuệ. Tuệ rất quan trọng, bởi không có tuệ, mình chẳng biết đường đâu mà thực tập. Tuệ tức là chánh kiến.  Khi có chánh kiến, mình sẽ có chánh tư duy, và hẳn nhiên là sẽ nói năng đúng phép. Khi có chánh kiến, mình sẽ hành động đúng, tức là chánh nghiệp. Và khi có chánh kiến, mình sẽ biết tìm nghề nghiệp mà không gây khổ đau, không tàn hại sinh môi, không gây tác hại cho những sự sống khác đó là chánh mạng. Tư duy, ngôn ngữ, hành động và nghề nghiệp đúng, không gây khổ đau cho mình và cho người khác là nhờ có tuệ hay chánh kiến. Sự siêng năng trong các hoạt động để phục vụ cho hạnh phúc của người và của mình gọi là chánh tinh tấn. Tinh tấn có khi còn được gọi là cần. Bát chánh đạo là con đường của tám sự hành trì chân chính có thể được coi như nền tảng của nền đạo đức phật giáo. 

Nhìn tổng quan, ta thấy rằng, nền đạo đức phật giáo, giáo lý bát chánh đạo không phải chỉ dành riêng cho những vị tu sĩ. Giáo lý bát chánh đạo dành cho tất cả mọi người trong xã hội. Bởi khi sống trong xã hội, mình phải tiếp xúc với mọi người và mọi loài. Do vậy, hành động, ngôn ngữ của mình đừng gây đổ vỡ, khó khăn cho người khác, cho các loài khác. Bát chánh đạo là căn bản của một nền đạo đức, được áp dụng trong xã hội chứ không chỉ áp dụng riêng trong chùa hay trong các tu viện. Rõ ràng, đạo phật có tính cách nhập thế. Cho nên chúng ta khả quyết xác định rằng, bát chánh đạo là nền tảng của nền đạo đức cho toàn xã hội. Đạo phật nhập thế, đạo phật đi vào đời có cơ sở ngay từ giáo lý bát chánh đạo. 

Bất nhị

Sự quán chiếu trong đạo Bụt phải dùng đến năng lượng niệm và định. Đối tượng của niệm và định trước hết là những đau khổ, những khó khăn trong đời sống. Đạo phật không chủ trương về những vấn đề siêu hình như sự quán sát trăng sao, vũ trụ, nguồn gốc của thế giới này,… Đạo Bụt đưa con người trở về với vấn đề của hiện tại, vấn đề của những khổ đau, những khó khăn đang tồn tại trong cuộc sống, và giúp đưa ra phương pháp chuyển hóa những khổ đau và khó khăn ấy để mọi loài có thể sống hạnh phúc. Vậy nên nền đạo đức phật giáo có tính cách thực dụng. Nếu quay trở về quán chiếu sự thật về khổ, mình sẽ khám phá ra được khổ đau và hạnh phúc đều có gốc rễ. Tập là gốc rễ của khổ và Đạo là gốc rễ của hạnh phúc. Qua đó có thể thấy thấy được bốn sự thật nương vào nhau mà có, bốn sự thật tương tức không thể tách rời nhau. Do đó, tuệ giác là nền tảng của đạo đức phật giáo. Nhưng làm sao để có tuệ? Cần phải có niệm và định. Có tuệ thì tư duy đúng, nói năng đúng, hành động đúng, phương thức sống đúng, tinh tấn đúng. Một khi đã có tuệ thì không còn khổ đau nữa. Do đó, bát chánh đạo bắt đầu bằng chánh kiến – Chánh kiến là cái thấy đúng. Cái thấy đúng tức là cái thấy tương tức. Nếu đạt được cái thấy tương tức thì sự thực tập bảy chi phần còn lại của bát chánh đạo mới sâu sắc được. Ví dụ, khi nhìn cây bắp, mình thấy được hạt bắp, cây bắp và hạt bắp không ở ngoài nhau, chúng trong nhau.

Trong khóa tu tổ chức đầu năm 2008 tại Ý, tôi có phát cho mỗi thiền sinh một hạt bắp. Tôi yêu cầu họ đem hạt bắp về trồng trong chậu, chăm sóc cho đàng hoàng. Khi cây bắp nẩy mầm, ra lá thì đến nói chuyện với nó, hỏi nó như thế này: "Cây bắp ơi, em có nhớ rằng, ngày xưa em đã từng là hạt bắp không?" Hỏi xong, hãy lắng nghe cây bắp trả lời. Giả sử cây bắp quên đi mất thì phải nhắc lại cho nó nhớ. Cũng có thể cây bắp lúng túng: “Tôi hả? Tôi đã từng làm hạt bắp hả? Lạ quá tôi không nhớ chuyện đó”. Nếu nó quên, mình cần nhắc cho nó nhớ: Mình là người đã trồng ra nó. Mình đã mang nó từ khóa tu về. Mình đã chăm sóc nó, quan sát nó từ khi nó nẩy mầm, ra lá đầu, lá thứ hai, lá thứ ba… Đôi khi, mình cũng giống như cây bắp, khi giận cha, giận mẹ, mình quên mất mình được sinh ra như thế nào, lớn lên như thế nào. Mình nghĩ, cha mẹ là những thực thể ngoài mình. Mình không còn nhớ cha mẹ là người đã từng sinh ra mình, và mình đang mang cha mẹ trong người. Mình đâu biết, mình bước được một bước, nở được nụ cười là cha mẹ mình cũng được hưởng những điều ấy. Nếu thấy được như vậy thì mình không thể nào giận cha mẹ được. Đối với người Hồi giáo và Ấn Độ giáo hay giữa người Palestine và người Do Thái, nếu thấy được tính tương tức, họ sẽ không còn chống đối nhau, kỳ thị nhau nữa. Tất cả chúng ta cùng một tổ tiên, cho dù chúng ta mang màu da khác nhau. Nếu thấy được rằng, chúng ta có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chúng ta sẽ không còn làm khổ nhau nữa. Tương tức là cái thấy căn bản do đức Thế Tôn khám phá ra.

Các nhà khoa học đặt ra câu hỏi: bộ não của mình và tâm thức của mình có dính líu với nhau không? Có phải tâm thức là do não bộ sanh ra không? Bộ óc và tâm thức là hai cái hay là một cái? Có cái chủ thể nhận thức nằm ở trong bộ não không? Có một thế giới được nhận thức ở bên ngoài không? Cái tâm thức chủ quan và cái thế giới khách quan có liên quan với nhau không? Đây là những mối quan tâm nhất hiện nay của các nhà khoa học. Nhưng ba mươi mấy năm nay, phần lớn giới khoa học chủ trương theo đường hướng nhị nguyên. Còn đạo phật quan niệm rằng, tâm thức và pháp – đối tượng của tâm thức – ở trong nhau. Thân ở trong tâm và tâm ở trong thân. Thân và tâm không thể ở ngoài nhau. Đó là cái nhìn tương tức, bất nhị. Theo cái nhìn bất nhị, não bộ với tâm ý chứa đựng nhau, trong não bộ có tâm ý, trong tâm ý có não bộ. Trong cây bắp có hạt bắp, trong hạt bắp có cây bắp. Con có cha có mẹ, cha mẹ có trong con.

Một trong những phép tu của Đạo Bụt là phép quán: quán vô thường, quán vô ngã, quán duyên sinh, quán không, quán tương tức. Nhưng chúng ta phải thấy được các phép quán này có tính tương tức. Nếu mình thực tập thành công một phép quán thì mình có thể hiểu được những phép quán khác. Ví dụ, đứng về phương diện thời gian, cái chuông này vô thường, nhưng đứng về phương diện không gian, cái chuông này vô ngã. Cái chuông không có một thực thể riêng biệt. Nó được tạo thành từ rất nhiều yếu tố. Và nó biến chuyển không ngừng theo thời gian. Do vậy, vô thường là vô ngã. Hơn nữa, tất cả các hiện tượng đều do nhân duyên mà thành, mà biểu hiện, nên vô ngã cũng chính là duyên sinh. Từ đóa hoa, chiếc bàn, vì sao… đều do những điều kiện hội tụ mà thành. Mọi hiện tượng do duyên sinh, mọi hiện tượng đều vô ngã, vô thường. Vô thường tức vô ngã, vô ngã tức duyên sinh. Duyên sinh tức không. Không tức là không có mặt riêng biệt. Hạt bắp làm sao có mặt riêng biệt với cây bắp được. Cây bắp làm sao có mặt riêng biệt với hạt bắp được. Cha làm sao có mặt riêng biệt với con được. Con làm sao có mặt ngoài cha được. Mình cần thấy được tính tương tức giữa các sự vật, hiện tượng. Về mặt hình thức, về bề mặt, đôi lúc, mình dường như thấy có những cái chống đối nhau, nhưng sự thực chúng không chống đối nhau, chúng tương tức với nhau. Nếu mình quán chiếu tứ đế dưới ánh sáng của chánh niệm, mình sẽ thấy được, có khổ cho nên mới có vui, có vui cho nên mới có khổ, khổ và vui tương tức. Và cái thấy này cũng đúng với tất cả các hiện tượng hiện hữu trong vũ trụ.

Như đã nói ở trên, mọi sự vật hiện tượng đều có tính vô thường, vô ngã, tương tức, không. Nhưng nếu dùng chữ không, nhiều người sẽ hiểu lầm là đạo Phật chủ trương đoạn diệt, bi quan. Trong đạo Bụt, có nhiều phép quán, mình có thể đem niệm, đem định chuyên chú về một phép quán. Nếu mình thành tựu được định đó thì mình sẽ có tuệ. Định này có thể là định vô thường, định vô ngã, định duyên sinh, định không hay định tương tức. Khi có tuệ, mình sẽ có được nền tảng đạo đức không sai lạc. Lúc này, mình không còn bị kéo theo những cái thấy tà kiến. Tà kiến là những cái thấy đi ngược lại với tính không, vô thường, vô ngã, duyên sinh, tương tức. Nếu lấy tà kiến làm nền tảng thì tư duy sẽ sai lầm, ngôn ngữ sẽ sai lầm, hành động sẽ sai lầm, gây khổ đau cho mình và cho người khác. Ở đây, mình xác quyết, chánh kiến là nền tảng của nền đạo đức chân chính. Nhưng chánh kiến này từ đâu đến? Nó đến từ công phu quán chiếu. Nó không đến từ một đấng thượng đế. Chúng ta phải dùng niệm, định khảo sát tứ đế, và đạt tới cái thấy về không, về tương tức, vô thường, vô ngã, duyên sinh, tương tức. Đây là cái thấy bất nhị. Chư tổ có dạy, chánh kiến chính là tuệ, trước hết là cái thấy về bốn sự thật. Nếu thấy được bốn sự thật trong chân tướng của nó thì sẽ thấy được bản chất của toàn bộ vũ trụ.

Cái thấy của tôn giáo

Triết gia Aristotle có để lại thuyết Natural law (luật tự nhiên). Thuyết này ra đời nhiều trăm năm trước Chúa giáng sinh. Thuyết này đã được một người đệ tử của Aristotle là Platome ghi chép lại. Aristotle nói, mình phải đặt câu hỏi về bản chất và công dụng của sự thật đang hiện hữu trong vũ trụ này. Cần hỏi rằng, cái này là cái gì? Cái này làm bằng gì? Nó được làm ra như thế nào? Dùng vào việc gì? Ví dụ, ta cầm con dao lên hỏi, cái này là cái gì? Con dao. Làm bằng gì? Sắt. Cái này do đâu mà có? Do ông thợ rèn. Dùng để làm gì? Cắt, gọt. Aristotle thấy sự xuất hiện của tất cả mọi vật, mọi hiện tượng trong vũ trụ đều lý do tồn tại và mục đích, chứ không phải là sự tình cờ. Còn khoa học thì tin vào sự tình cờ, vào sự chọn lọc tự nhiên. Nhưng có một điều rất thú vị, khi Aristotle được hỏi, vi trùng vì sao mà có, lý do tồn tại của nó, mục đích của bệnh tật là gì thì ông ta hơi bỡ ngỡ, hơi lúng túng. Hoặc những trận bão, những trận hỏa hoạn có lợi ích và công dụng gì? Thật là khó hiểu, khó trả lời. Mình loanh quanh, lẩn quẩn, và mình cho rằng, đó là những hình phạt của Thượng Đế đối với những con người sống không đàng hoàng. Rõ ràng thuyết tự nhiên có những khó khăn. Còn Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo nói rằng, chính Thượng Đế đã tạo ra thế giới này. Và Thượng Đế đã đặt vào trong lòng sự vật những luật lệ, và khi nhìn vào sự vật thì mình thấy được những ý định của thiên chúa. Do Thái giáo và Cơ Đốc giáo dạy rằng, vũ trụ đã được một Thượng Đế toàn năng và đầy thương yêu tạo ra để làm chỗ ở cho con người. Con người được tạo ra từ thượng đế. Sự có mặt của vũ trụ này có ý nghĩa và có mục đích.  Và vũ trụ này là nơi để thực hiện các chương trình và mục đích của thượng đế. Đó là cái nhìn theo Do Thái giáo và cơ đốc giáo.

Căn cứ trên cái thấy đó, một nền đạo đức mà trong đó có mệnh lệnh của Thượng Đế được thành lập. Thượng đế nói rằng, cái này là đúng, cái này là sai; không được làm cái này, không được làm cái kia; phải làm cái này, phải làm cái kia. Vì vậy, đạo đức học của Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo căn cứ vào mệnh lệnh của đấng thượng đế. Và mười giới gọi là Ten Commencement of God đã xuất hiện trong đạo Cơ Đốc và Do Thái.  Trong khi đó, năm giới của đạo Bụt không xuất phát từ phán quyết của Bụt mà xuất phát từ nhận thức của Bụt và tăng đoàn. Nhận thức này do sự thực tập mà có. Ý thức được rằng, những cái khổ đau do sát hại ngây ra  đó chính là niệm. Ý thức được chính những tà kiến, chính từ cái nhìn lưỡng nguyên, từ sự kỳ thị, lo lắng, giận hờn, sợ hãi mà đưa tới sự giết hại lẫn nhau. Con nguyện thực tập giới thứ nhất là buông bỏ tà kiến. Đi theo chánh kiến, tập nhìn bằng cái nhìn bất nhị, tương tức, để con có thể bảo hộ được sự sống của mọi người và mọi loài.

Chúng ta thấy, trong mười bốn giới tiếp hiện có những giới liên hệ tới tuệ tức là chánh kiến. Giới thứ nhất là không lạc vào tà kiến, không nắm giữ tà kiến, không bị kẹt vào cái thấy, và phải sẵn sàng buông bỏ cái thấy. Cho nên có những ý trong các giới tiếp hiện có thể bổ túc cho năm giới. Khi nói về giới thứ nhất là bảo hộ sinh mạng, không sát sanh, chúng nói rằng: ý thức những khổ đau do sự sát hại gây ra – đó là niệm.  Khổ đau là sự thật thứ nhất –khổ đế. Giết hại sinh mạng là nguồn gốc của khổ đau tức là sự thật thứ hai –tập đế.  Nhưng trong ánh sáng của bát chánh đạo thì nguồn gốc khổ đau không phải chỉ là giết hại, sự giết hại đó là do mình không có chánh kiến. Mình không thấy được, người đó là anh em của mình, là chính mình. Do vậy, giới thứ nhất của năm giới cần được tu chỉnh lại để người hành trì thấy rõ rằng, khi người ta giết là vì người ta có tà kiến.  Cũng như các giới khác của năm giới để năm giới có thể trở thành một đóng góp của đạo Bụt.

Ở Bombay vừa có một loạt thảm sát, gây chết và bị thương hàng mấy trăm người. Khổ đau rất lớn là khủng bố và giết hại gây ra. Sự giết hại đó đã tới từ những cái thấy sai lạc. Đôi khi mình tưởng người ta sắp giết mình, nhưng thực tế có thể người ta không có ý định giết mình, mình sợ nên ra tay giết người ta trước cho chắc ăn. Sự sợ hãi nằm ở mặt sau của sự giết hại. Mặt sau của giết hại cũng có thể có sự kỳ thị – kỳ thị tôn giáo, kỳ thị chủng tộc. Mặt sau của sự giết hại cũng có thể là tham lam. Nhưng tựu trung lại, nguyên nhân của sự giết hại đến từ tà kiến. Bụt đã dùng quán niệm để chế giới nhằm mục đích đối trị với những khổ đau đó. Do đó, giới tức là niệm, từ niệm mà sinh ra. Niệm sinh ra một nền đạo đức. Và nhờ có niệm, có định mà sinh ra tuệ – chánh kiến. Chánh kiến làm nền tảng trở lại cho sự hành trì, cho những hành động của chúng ta.

Những đóng góp của Đạo Bụt cho nền đạo đức toàn cầu

Đạo đức học là một môn học cần tới tư duy, lý tính. Đạo đức học có mục đích tìm ra cái gì là cái cần làm, cái gì là cái không nên làm, không được làm. “What is the right thing to do?”. Khi nói đến đạo đức học tiêu chuẩn “normative ethic”. Thì chúng ta phải nói tới tiêu chuẩn khổ – vui. Những cái gì đem lại cái khổ thì chúng ta không nên làm. Những cái gì đem lại cái vui thì ta có thể làm. Đó là một trong những tiêu chuẩn. Nhưng tiêu chuẩn đó không tuyệt đối.

Sinh diệt nương nhau

Một hôm đi thiền hành xuống chùa Sơn Hạ, Thầy đã tiếp xúc sâu sắc với những chiếc lá sồi trên đường đi. Những chiếc lá sồi đó đã rụng xuống từ hai tháng nay và bắt đầu mục ra thành đất. Nếu để ý  một chút thì sẽ thấy rằng trong một thời gian ngắn nữa tất cả những lá sồi đó sẽ trở thành đất. Khi nó đã trở thành đất rồi thì mình không còn thấy lá sồi nữa, mà chỉ thấy đất thôi. Nếu có con mắt quán chiếu ta có thể thấy được trong đất có lá sồi. Nhìn cho kỹ sẽ thấy đất ôm ấp rất nhiều thứ, đất không chỉ có lá sồi mà còn có xương, có da, có thịt của những loài động vật khác nữa. Khi lá sồi rơi xuống, nó không buồn đau vì nó biết rằng nó sẽ trở về lại với đất. Người Việt mình có câu: “Lá rụng về cội”. Cội tức là cái gốc cây. Nên lá sồi rụng xuống là nó đi về cội nguồn của nó, nó là cuộc trở về. Mình có thể nói cội nguồn của nó là đất và nó sẽ hoà nhập thành đất, trở thành những chất dinh dưỡng nuôi lại cây sồi để rồi mùa xuân sang năm, cây sồi sẽ cho ra đời những lá sồi mới. Nhìn vào những lá sồi mới mình thấy sự tiếp nối của những lá sồi cũ từ lòng đất đi lên. Đối với những người biết quán chiếu, khi nhìn vào một cái có thể thấy được nhiều cái. Nhìn vào lòng đất mình có thể thấy được những lá sồi, nhìn vào những lá sồi mới mình thấy được đất và lá sồi năm xưa. Không có gì mất đi hết. Cái này ôm lấy cái kia, chúng tương tức với nhau, cái này cũng là cái kia. Đất là đất, lá sồi là lá sồi. Nhưng mà đất cũng là lá sồi và lá sồi cũng là đất. Khi nhìn vào bản thân, mình thấy mình là con của bố mẹ. Nhưng mình cũng chính là bố mẹ. Tại vì bố mẹ và tất cả tổ tiên cũng ở trong mình. Mình không thể lấy bố mẹ, tổ tiên ra khỏi mình được, không thể tách rời được. Đi đâu đứa con cũng mang cha mẹ tổ tiên đi theo. Vì vậy cho nên bố mẹ cho mình sự sống, nhưng kỳ thực bố mẹ đã trao bản thân của bố mẹ cho mình. Người cho, người nhận và vật được cho chỉ là một. Cái này ôm lấy cái kia. Không có cái này thì không có cái kia. Một người không có con thì không ai gọi người đó là mẹ được. Người đó chỉ có thể là mẹ khi người ấy có con thôi. Cho nên có con thì mới có mẹ và có mẹ thì chắc chắn phải có con. Nếu mình nghĩ con là con, mẹ là mẹ thì không đúng. Con và mẹ tương tức với nhau.

Ta tưởng rằng cái trái đối chọi với cái phải như mặt trăng với mặt trời. Nhưng nhìn cho kỹ thì cái này ôm lấy cái kia, chỗ nào có trái thì chỗ đó có phải, và ngược lại chỗ nào có phải thì chỗ đó có trái. Ta tưởng rằng trái và phải đối lập nhau nhưng thật ra chúng nương vào nhau mà có. Và mình đi đến kết luận là giữa cái sống và cái chết cũng như vậy. Cái sống và cái chết liên hệ tới nhau mật thiết. Cái sống ôm lấy cái chết. Nhìn trong cái sống thì thấy cái chết. Và nhìn trong cái chết thì thấy cái sống. Vì vậy cho nên nhìn cái chết cho sâu thì thấy rõ ràng  nếu không có nó thì không có sự sống. Cũng như khi nhìn vào hồ sen ta thấy cả bùn lẫn sen. Trong bùn có sen và trong sen có bùn. Không có bùn thì không có sen và không có sen thì không có bùn. Nên khi thấy bùn thì đừng sợ mà hãy biết rằng bùn này có thể trở thành sen.

Cái chết và cái sống tưởng chừng chống đối nhau, là kẻ thù của nhau. Nhưng kỳ thực trong tuệ giác của đạo Bụt, cái sống và cái chết tương tức với nhau, nó dựa vào nhau để làm ra nhau. Không có cái chết thì không bao giờ có cái sống. Và không thể có cái sống nếu không có cái chết. Biết được điều đó chúng ta sẽ không có sợ hãi nữa.

Khi quán chiếu chiếc lá sồi rơi xuống, rồi lá sồi sinh trở lại trên cây, cũng như quán chiếu sự có mặt của bố mẹ ở trong mình và mình thấy rằng mình chính là bố mẹ thì tất cả những cái thấy sai lầm, những tà kiến không còn nữa. Và chánh kiến mà mình đạt được làm cho mình không còn buồn đau, không còn tủi hận, không còn giận hờn, không còn sợ hãi nữa. Nếu trân quý sự sống thì mình biết rằng sự chết là một phần của sự sống, nó là một nguyên tố để làm ra sự sống. Giống như cánh hoa phải chết đi để cho quả lớn lên. Cái vỏ cứng phải vỡ ra thì hạt mới này mầm. Chúng ta biết rằng trong cơ thể chúng ta có rất nhiều tế bào, các tế bào sinh diệt không ngừng. Ngày nào cũng có các tế bào cũ chết đi để các tế bào mới sinh ra. Lúc đó, mình thấy mình ôm hết cả cái chết và cái sống ở trong lòng. Khi mình thấy cần phải trân quý sự sống thì không có nghĩa là mình sợ chết. Và sự thực tập ở Làng Mai là Chánh niệm. Trong mỗi bước đi, mỗi hơi thở mình đều thấy được rằng mình đang có mặt.

Ăn mừng sự sống

Thường thường chúng ta hay chạy đi tìm những hạnh phúc đâu đâu trong tương lai xa xôi mà không thấy thoả mãn trong giây phút hiện tại. Vì vậy chúng ta không có cơ hội để nhận diện những màu nhiệm của sự sống đang có mặt trong giây phút hiện tại. Đức Thế Tôn dạy rằng chúng ta có thể sống hạnh phúc được ngay trong phút giây hiện tại mà không cần phải phóng tâm về tương lai tìm cầu một cái gì khác nữa. Giáo lý đó được gọi là giáo lý vô nguyện hay vô đắc. Giáo lý đó cũng không có gì khó hiểu lắm và cũng không khó thực tập lắm. Vô đắc, vô nguyện tức là không chạy theo một bóng dáng hạnh phúc ở tương lai hoặc ở nơi khác mà có thể sống hạnh phúc liền ngay trong giây phút hiện tại. Đầu năm mình nên quyết tâm học và sống cho được như vậy.

Hạnh phúc là những gì có được ngay bây giờ, và ngay ở đây. Trước hết là với hơi thở, với bước chân chánh niệm. Mình thấy được rằng sự sống đang có mặt với tất cả những cái màu nhiệm của nó. Sự sống đang có mặt ở trong cơ thể của mình, ở trong tâm hồn của mình. Sự sống đang có mặt ở chung quanh mình và mình phải tiếp xúc với sự sống. Tiếp xúc sự sống bằng năng lượng chánh niệm của một người tỉnh thức. Không có chánh niệm thì mình không tiếp xúc được với sự sống và những màu nhiệm của sự sống. Khi đã nhận diện được sự sống với những màu nhiệm của nó rồi thì mình thấy rằng mỗi giây phút rất là quý giá. Buổi sáng sớm, khi hít thở mình thấy không khí rất trong lành và điều đó đem lại hạnh phúc liền lập tức, đó chính là tiếp xúc với sự sống màu nhiệm.

Chúng ta nên biết rằng giờ phút chúng ta sinh từ bụng mẹ ra là giờ phút rất là khó khăn. Ở trong bụng mẹ chúng ta ấm áp và êm ái lắm. Thai nhi nằm trong nước nên rất êm, một cái đệm bằng nước thật là tuyệt. Trong bụng mẹ thì không bao giờ quá nóng, cũng không bao giờ quá lạnh. Mẹ thở cho mình, Mẹ ăn cho mình, mình khỏi làm gì hết, chỉ cần nằm yên ở trong đó thôi. Đó là những tháng tuyệt vời ở trong cung điện của đứa con. Tử cung tức là cung điện của con.

Đến khi sinh ra hài nhi bị sốc rất lớn, đang từ chỗ rất êm ái, nó đi ra một nơi buộc phải đụng chạm đến những cái cứng và điều quan trọng nhất là phải thở, phải tự mình thở. Khi ấy trong phổi của em bé có những chất nước và nó phải hắt hơi ra để cho nước từ trong phổi đi ra. Bé bắt đầu thở vào hơi đầu tiên. Đó là giây phút rất quan trọng của đời nó. Nếu lúc ấy nó không thở được thì nó sẽ chết. Đây  là giây phút rất khó khăn. Để thở được hơi thở đầu tiên thì phải hắt hơi, đẩy ra những chất nước có sẵn ở trong phổi. Lúc đó em bé phải tự thở lấy. Bây giờ ta đã vượt qua giai đoạn đó rồi, giai đoạn đó chỉ diễn ra chừng mấy giây thôi. Ta sống hay chết tuỳ thuộc vào mấy giây đó, nay thì mình có thể thở tự do bằng hai lá phổi của mình, chỉ nội chuyện được thở không khí trong lành thơm thôi tho đã đem lại hạnh phúc rồi.

Mỗi khi bước đi, mình bước những bước chân nhẹ, tiếp xúc được với cỏ, với cây, với sỏi, với đá. Rồi tiếp xúc được với màu sắc, với những hình ảnh, âm thanh. Và những màu nhiệm của sự sống mình vẫn chưa thể giải nghĩa được. Mỗi cọng cỏ, mỗi cành hoa đều rất là màu nhiệm. Trăng, sao, mây, suối… tất cả những cái đó đều rất là màu nhiệm. Nếu quên lãng, không có chánh niệm, thì mình không nhận diện được những điều kỳ diệu ấy, rồi mình tự giam mình trong những cái vỏ của sự buồn khổ, giận hờn, lo lắng, tuyệt vọng. Mình đánh mất hết tất cả những mầu nhiệm đó của sự sống tại vì mình không tiếp xúc được. Cho nên giáo pháp hiện pháp lạc trú của đạo Bụt rất hay và quan trọng. Mình không cần phải chạy về tương lai để đuổi bắt một hạnh phúc xa xôi. Hạnh phúc vốn có sẵn trong mình và xung quanh mình, chỉ cần mình trở về và tiếp xúc với nó bằng chánh niệm thì hạnh phúc sẽ xuất hiện ngay trước mặt mình. “This is it”. Tức là cái mà mình đang tìm kiếm nó đang sờ sờ ở trước mặt đó.

Khi chúng ta trở về được với giây phút hiện tại, thì chúng ta sẽ tiếp xúc được với biết bao màu nhiệm của sự sống, và biết bao những điều kiện hạnh phúc mà chúng ta đang có. Ví dụ như là chúng ta đang được thở, thở ra, thở vào dễ dàng, không có nguy hiểm như cái thời mới sinh nữa, đó là một điều kỳ diệu. Chúng ta có thể bước những bước chân bình an trên thảm cỏ xanh. Chúng ta có thể ngồi uống trà,. Chúng ta có thể ngắm nhìn những đám mây trắng bay, thấy trái trăng vàng huyền diệu lơ lửng trên bầu trời. Chúng ta có thể mỉm cười nhìn nhau. Tất cả những cái đó là những cái mình đang có và mình có thể sử dụng được để đạt tới hạnh phúc. Mình đã sẵn có một kho tàng hạnh phúc trước mặt. Tuy rằng sức khoẻ của mình không tuyệt hảo (thật ra thì không có gì là tuyệt hảo hết), nhưng mình có dư sức để có hạnh phúc trong giây phút hiện tại. Mình có thể ăn mừng sự sống.

Mỗi bước chân thiền hành là mình đang ăn mừng sự sống, mỗi hơi thở bình an là mình đang ăn mừng sự sống, mỗi khi nâng ly nước lên uống là mình đang ăn mừng sự sống, khi rửa bát, nấu cơm đó đều là những hành động ăn mừng sự sống, ăn mừng sự sống trong mỗi giây phút của đời sống hàng ngày. Sướng quá, mình đang có mặt, sự sống đang có trong mình và chung quanh mình. Sống được như vậy thì tự nhiên đời sống hàng ngày của mình trở thành một cái gì rất là thiêng liêng. Mình không cần phải trở thành người khác, không cần phải thành Phật hay thành Tiên, không cần có bằng cấp, hay một địa vị nào cả. Chỉ cần tỉnh dậy, tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống thì tự nhiên mình có được cái mà mình đang mải miết rong ruổi kiếm tìm. Phải sống như thế nào để mỗi phút giây trở thành phút giây của sự ăn mừng. Sống như thế nào để mỗi giây phút của đời sống đều trở thành một huyền thoại cho con cháu của mình. Đó, ông bà của các con ngày xưa sống như vậy đó. Giây phút nào cũng vui, giây phút nào cũng hạnh phúc. Và điều này có thể làm được với giáo lý của Đức Thế Tôn. Ai cũng có khả năng sống hạnh phúc và khả năng sống hạnh phúc là cái đức hạnh, cái quý nhất nơi một con người. Người nào mà có khả năng sống hạnh phúc, người đó là người có giá trị cao nhất. Có những người rất giàu, có những người rất quyền thế, có những người nhan sắc rất mặn mà nhưng mà họ không có khả năng sống hạnh phúc thì tất cả những thứ đó: quyền hành, tiền bạc, nhan sắc cũng bằng không. Thành ra có khả năng sống hạnh phúc đó là cái quý giá nhất. Và cái đó chúng ta có thể tập được.

Khi sống hạnh phúc rồi thì một cách rất tự nhiên, mình làm hạnh phúc cho những người chung quanh thật dễ dàng. Mỗi nụ cười, mỗi ánh mắt, mỗi lời nói của mình đều tỏa chiếu bình an và mình trở thành một nguồn suối hạnh phúc cho những người khác. Năm mới mình nên phát tâm sống như thế nào để mình có thể có hạnh phúc ngay ngày hôm nay. Mình vốn có đủ hết rồi, không cần thêm một điều kiện nào khác nữa.

Tiêu chuẩn về đạo đức

Đạo đức học là một môn học cần tới tư duy, lý tính. Đạo đức học có mục đích tìm ra cái gì là cái cần làm, cái gì là cái không nên làm, không được làm. “What is the right thing to do?”. Khi nói đến đạo đức học tiêu chuẩn “normative ethic”. Thì chúng ta phải nói tới tiêu chuẩn khổ – vui. Những cái gì đem lại cái khổ thì chúng ta không nên làm. Những cái gì đem lại cái vui thì ta có thể làm. Đó là một trong những tiêu chuẩn. Nhưng tiêu chuẩn đó không tuyệt đối. Có những cái nhìn qua thì tưởng là khổ nhưng kỳ thực nó không phải là khổ. Tuỳ theo cách nhìn của mình mà cái đó là khổ hay không khổ. Ví dụ như chùi cầu tiêu, chùi cầu tiêu là khổ hay vui? Có những nơi dân cư rất nghèo khổ, họ không có cầu tiêu tiện lợi như mình để chùi. Có người có cầu tiêu nhưng hết xà bông nên không chùi được, có người có xà bông nhưng không có thời gian để chùi. Vì vậy cho nên đối với những người đó chùi cầu tiêu là một hạnh phúc. Có cầu tiêu để chùi, để rồi có cầu tiêu sạch mà đi thì trong khi chùi có thể có hạnh phúc. Còn nếu mình nói rằng “Mình như thế này mà phải đi chùi cầu tiêu à?” nghĩ thế thì tự nhiên mình đau khổ, buồn bực. Thành ra cái khổ hay là cái vui nó tuỳ theo mỗi người.

Ví dụ như chuyện đi học. Có nhiều đứa trẻ con nó đặt câu hỏi rằng: “Tại sao ngày nào cũng phải đi học? Chán quá!”. Nhưng những đứa khác lại nói: “Ôi, được đi học, sướng quá”. Thành ra cái khổ và cái vui không có giá trị tuyệt đối, nó tuỳ theo cái tâm của mình.

Khi uống rượu hay sử dụng ma túy thì có vui đấy chứ. Nó đem lại cảm giác khoái lạc. Cái đó là vui. Nhưng mà cái đó mình có nên làm hay không? Tại vì cái đó sẽ đem tới đau khổ trong tương lai. Vì vậy tiêu chuẩn về cái vui này cần phải xét lại. Chữ khổ và chữ vui chỉ có nghĩa tương đối.

Có những học thuyết đạo đức nói rằng cái gì đem lại hạnh phúc, thì hành động đó là hành động đúng, còn cái gì mà đem lại những khổ đau thì hành động đó là sai, không nên làm. Chuyện khổ vui là như vậy. Nhưng nội một chuyện định nghĩa thế nào là khổ, thế nào là vui cũng khó. Rồi còn cái khổ, chính bản thân cái khổ cũng là một yếu tố, làm nên cái vui. Chúng ta đã học về lý thuyết tương tức rồi. Làm sao mà có cái vui nếu không có cái khổ? Làm sao có cái phải nếu không có cái trái? Làm sao có cái sống nếu không có cái chết? Không có bùn thì không thể có sen. Vì vậy cho nên cái khổ đau đóng một vai trò khá là quan trọng để tạo ra niềm vui. Ví dụ như không bị đói thì mình không thể nào thấy được cái hạnh phúc khi ngồi vào mâm cơm có đầy thức ăn ngon. Phải đói ăn mới ngon.

Có những người thanh niên lớn lên chưa biết chiến tranh là gì, nên không biết sợ chiến tranh, thành ra sẵn sàng để gây chiến. Nhưng những người đã đi qua chiến tranh rồi thì thấy rõ ràng rằng chiến tranh là một cái không bao giờ nên có. Và những người ấy họ rất trân quý hòa bình. Họ không muốn đánh mất hoà bình. Vì vậy cho nên mỗi khi đi ngang qua một khổ đau thì người ta lớn lên một chút và người ta có khả năng nhận diện được hạnh phúc. Cho nên cái khổ cũng có giá trị tích cực của nó. Khổ đau cho ta những bài học rất giá trị. Chính nhờ khổ đau mà mình có thể phát khởi hiểu biết và thương yêu. Nếu không có hiểu và không có thương thì không thể nào có hạnh phúc được. Đó là cái thấy tương tức của đạo Bụt. Do đó, tiêu chuẩn về khổ vui không đủ để tạo dựng một nền đạo đức vững chãi.


Lợi và hại

Tiếp đến chúng ta bàn tới tiêu chuẩn lợi và hại. Cái gì nó có hại tới sức khoẻ, có hại tới niềm an vui của  mình thì cái đó không nên làm. Ngược lại, cái gì đem đến lợi ích thì cái đó nên làm. Có phải chúng ta nghĩ như vậy không? Trong đạo Bụt, khi nói tới lợi hại tức là mình nói tới cái lợi và cái hại cho chuyện tu học. Ví dụ hoàn cảnh giúp cho mình có được chánh niệm, chánh định, có trí tuệ thì được gọi là lợi. Còn sống trong hoàn cảnh khiến cho mình bị thất niệm, làm cho mình chất chứa những tà kiến thì đó gọi là hại. Thành ra tiêu chuẩn lợi và hại tới có thể bổ túc được cho tiêu chuẩn khổ và vui. Nếu cái khổ đó có lợi cho mình thì tại sao mình không chấp nhận nó? Khi mình chấp nhận nó rồi thì cái khổ không có làm cho mình bị khổ nữa.

Ví dụ như chuyện leo núi. Có những người không thích, họ nói: tại sao phải đày đọa thân mình như thế, tại sao phải bỏ thời gian leo lên tận đỉnh ngọn núi, mệt phờ cả người, áo quần rách, mình mầy lấm lem. Sao không ở nhà mà xem ti vi cho khỏe? Đối với những người ấy thì leo núi là không có lợi. Ở nhà có lợi hơn. Nhưng đối với những người thích leo núi thì họ lại hạnh phúc vô cùng. Tại vì tuy mệt như vậy nhưng họ thấy khoẻ khoắn trong người. Đối với họ thì leo núi là có lợi.

Ban đầu thấy ăn chay khổ quá, tại sao lại phải ăn chay? Nhưng nếu ăn chay với trí tuệ thì mình thấy ăn chay hạnh phúc hơn ăn mặn nhiều. Khi ăn chay ta bảo vệ được sinh mạng, bảo vệ được trái đất, thấy như vậy thì ăn chay không cảm thấy khổ nữa, mà ăn chay lại là một niềm vui, một điều may mắn. Hơn nữa, khi ăn chay một thời gian mình quen với thức ăn chay, khi ấy mình lại thấy thức ăn mặn rất là tanh hôi, gớm giếc và mình không thể ăn được. Thành ra tất cả mọi tiêu chuẩn đạo đức học đều tương đối, tiêu chuẩn lợi hại tới bổ túc cho tiêu chuẩn khổ vui

Mê và Ngộ

Bây giờ mình nói đến tiêu chuẩn mê – ngộ. Đây là những tiêu chuẩn của đạo Bụt đưa ra. “Mê” tức là mình đang không tỉnh táo, sáng suốt. Khi không tỉnh táo, sáng suốt thì những quyết định của mình có thể là sai lầm. Ví dụ có lần giận con quá, mình đã làm di chúc là sau khi mình chết đứa con này sẽ không được lãnh một chút gia tài nào của mình hết. Nếu mình viết di chúc trong cơn thịnh nộ như vậy thì đó là một quyết định sai lầm, một quyết định mù quáng và con mình sẽ bị  lãnh đủ. Cho nên không được đưa ra một quyết định nào trong lúc nóng giận hết. Hoặc nếu mình không đang giận thì mình đang đam mê. Cũng không được  đưa ra quyết định trong lúc mình đang đam mê, vì đam mê cờ bạc mà mình vội vàng bán nhà đi để nướng tiền vào sòng bạc mặc cho tương lai vợ con sẽ ra đường. Những quyết định trong lúc không tỉnh táo ấy sẽ làm hại cả cuộc đời mình.

Khi đang ở trong trạng thái mê thì cái thấy của mình về lợi – hại, khổ – vui sai lầm vô cùng. Vì vậy chúng ta phải lấy tư tưởng này làm một tiêu chuẩn quan trọng. “Ngộ” tức là khi mình tỉnh táo, mình có chánh kiến, thấy biết sự thật một cách rõ ràng, khách quan.  Đây là một tiêu chuẩn, nó tới, giúp bổ túc cho hai tiêu chuẩn đầu là khổ – vui và lợi – hại.

Khai và Giá

“Khai” tức là mở cửa ra. “Giá” tức là chặn đường lại. Hai chữ này nằm trong đạo Phật. Bất cứ một luật lệ nào, một tiêu chuẩn đạo đức nào cũng không thể tuyệt đối được. Vì vậy phải có “Khai”, tức là dành cho những trường hợp đặc biệt. Ví dụ như không nói dối là tiêu chuẩn đạo đức. Nhưng nếu có tên sát nhân nó tới hỏi mình “có thấy người đó trốn ở đây hay không?”. Nếu mình nói là biết và chỉ cho tên sát nhận thì người kia đã bị giết rồi. Cho nên trong trường hợp này nếu nói ra sự thật như vậy thì không đúng đạo đức. Thành ra, tuy thật thà là tiêu chuẩn đạo đức, nhưng thỉnh thoảng cũng phải “Khai”, đối với những trường hợp đặc biệt là mình cũng phải nói dối.

Có nhiều trường hợp như là trường hợp đôi khi phải giết người. Ví dụ như là có những căn bệnh không thể chữa được, bệnh nhân phải sống hết sức đau đớn trong những cơn đau kéo dài khổ sở khôn cùng và họ muốn chấm dứt đau khổ, họ muốn được chết mau, chết không đau đớn. Nhưng mà mình theo luật gọi là bất sát nên mình nhất định không giết.

Vấn đề này là vấn đề “Khai”, có nên mở cửa không? Có nên để cho người đó chết hay không? Đây là vấn đề đang xảy ra ở nhiều nước. Bây giờ trên thế giới chỉ có ba đến bốn nước cho phép điều đó thôi. Tất cả các nước khác đều không cho phép trích thuốc để bệnh nhân chết không đau đớn. Tại vì họ sợ rằng khi mở ra như vậy người ta sẽ lợi dụng và đi quá đà

Đối với vấn đề phá thai. Giáo hội Cơ Đốc giáo, Giáo hội La Mã vẫn có một lập trường rất vững chãi về chuyện phá thai. Tại vì phá thai tức là giết người. Có một giai đoạn Giáo hội nghĩ rằng khi cái thai còn nhỏ chưa hẳn là một con người thì có thể phá được. Nhưng tới một giai đoạn khác người ta bắt đầu nghĩ, tuy cái thai mới tượng hình nhưng đã có con người trong đó rồi, cho nên phá thai tức là giết người. Hiện tại lập trường của Giáo hội là phá thai tức giết người, là không thể được. Trong khi đó thì đi lính, đi ra trận để tham dự cuộc chiến tranh thì lại không bị cấm? Ra trận cũng là chuyện giết người. Còn chuyện kiểm soát sinh nở thì nói là chống lại ý muốn của Chúa, của Thượng Đế. Thượng Để muốn thì phải để phải để tự nhiên. Vì vậy có một thời, chính ngay bây giờ cũng có rất nhiều người chống lại chuyện kiểm soát sinh nở. Và chúng ta biết rằng nạn nhân chính là những đứa con sinh ra không được thừa nhận. Rồi khi chúng lớn lên bị xã hội hắt hủi, ghẻ lạnh. Những người con trai Mỹ đi công tác ở các nước Châu Á để lại rất nhiều những đứa con vô thừa nhận, ở Cao Ly, ở Nhật Bản, ở Việt Nam, và các nước khác. Ngay ở trên đất Mỹ, mỗi năm có hàng trăm ngàn đứa trẻ sinh ra không được thừa nhận. Bố nó không thừa nhận mà mẹ nó cũng không muốn giữ lại nuôi. Có thể 250.000 đến 350.000 đứa trẻ mỗi năm. Trong khi đó thì cấm không có được kiểm soát sinh nở? Thành ra tất cả những vấn đề đó là những vấn đề có thật trong thế giới của mình. Và đạo đức học của mình phải làm sao áp dụng được vào đời sống để làm giảm thiểu những khổ đau chứ không chỉ là những lý thuyết xuông.

Ngày xưa có chế độ đa thê. Tức là một ông có nhiều bà. Ở Tây Phương thì theo nguyên tắc hình thức hơn, tức là một ông chỉ có một bà. Nhưng mà có thể năng lượng tình dục mạnh quá, sự thực tập không đàng hoàng, cho nên có những người có những liên hệ vợ chồng, những liên hệ tình dục không chính thức. Vì vậy có rất nhiều những đứa con vô thừa nhận. Những đứa trẻ không được bố công nhận, không được mẹ nuôi dạy mà phải  sống trong cô nhi viện rất nhiều.

Trong chế độ đa thê, nếu người vợ không sinh được con, hoặc không sinh được con trai thì bà phải cưới cho chồng một người vợ thứ hai, thư ba…Tuy là đứng về phương diện hình thức nó mang tính cách đa thê. Nhưng ở đây không có những đứa trẻ vô thừa nhận. Đó là những vấn đề có thật trong xã hội mà đạo đức học của mình phải trực tiếp giải quyết. Gọi là đạo đức học ứng dụng. Tức là đạo đức học đem ứng dụng vào những trường hợp cụ thể như vậy.

Ví dụ trong giải quyết vấn đề những người đồng tính luyến ái. Lâu nay, giáo hội công giáo có một lập trường rất cứng. Cho rằng là tình dục giữa những người đồng tính là một cái gì rối loạn. Theo cái thấy của nhà thờ thì những người đồng tính luyến ái không nên có tình dục đó. Quan niệm gần nhất của nhà thờ là những người đồng tính từ khi sinh ra đã thế rồi và họ đâu có muốn như vậy. Thành ra mình phải chấp nhận họ. Phía nhà thờ mới đi được tới chỗ đó thôi. Còn chuyện những người đồng tính quan hệ tình dục với nhau thì nhà thờ chưa chấp nhận. Khi những người đồng tính nói tới một cái quyền là những người đồng tính  có thể cưới nhau, có thể làm hôn thú đàng hoàng thì Giáo hội nói rằng không, cái đó là không có đạo đức. Mà không có đạo đức thì không có quyền làm. Lập trường của Giáo hội Công giáo hiện bây giờ là đang như vậy.

Ngày xưa Natural law. Aristote khởi xướng lý thuyết gọi là “Luật lệ thiên nhiên”. Ông nói, bất kỳ cái gì ở trong vũ trụ cũng đều có một công dụng hết. Ví dụ Trời sinh ra cái răng để nhai thức ăn, sinh ra cái lưỡi để nếm, sinh ra con mắt để nhìn. Sau nay Giáo hội đã chấp nhận lý thuyết đó. Nói rằng đó là chính là Thượng đế đã sanh ra như vậy. Hỏi : ” Thượng đế sinh ra tình dục để làm gì ? ” Trả lời một cách rất là dĩ nhiên : ” Sở dĩ con người có năng lượng tình dục là để có con, để có sự nối dõi. Tại vì bất cứ một hiện tượng nào trong vũ trụ đều phải có một mục đích hết… Đó là ý muốn của Thượng đế. ” Vì vậy cho nên tình dục chỉ là để có con thôi. Còn đối với những người đồng tính luyến ái thì họ đâu có con ? Vậy nên tình dục của họ là  không đúng. Do đó tình dục của những người đồng tính luyến ái bị lên án. Đó là lý luận của nhà thờ trong một giai đoạn nào đó, của lịch sử. Và họ căn cứ trên cái gọi là ” luật tự nhiên “. Luật tự nhiên là bất cứ một hiện tượng nào trong vũ trụ đều có một mục đích, có một công dụng rõ ràng. Cái răng để nhai, con mắt để thấy thì tình dục để tạo ra những em bé. Mà nếu tình dục không phải để tạo ra em bé thì đó là sử dụng sai. Nhưng có những người họ lý luận như thế này : Con mắt là để thấy, nhưng có nhiều người dùng con mắt trừng lên một cái để cấm đoán thì con mắt đó đâu phải để thấy, mà là để cấm. Con mắt còn dùng để đưa tình, chứ con mắt đâu phải chỉ để thấy không thôi. Vậy thì tình dục cũng thế. Tình dục, mục đích của nó là làm ra những đứa con nhưng mà tình dục cũng có thể dùng để tỏ bày tình cảm của mình đối với một người mà mình thương rất nhiều, coi người đó là người mình tin tưởng nhất trên đời. Những người nghĩ như vậy họ chấp nhận chuyện tình dục giữa những người đồng tính luyến ái. Cũng như là con mắt tuy là để nhìn nhưng con mắt cũng có thể để háy, để nguýt, để trừng trừng, để ngăn cấm .v.v… Cho nên trong đạo Phật có rất nhiều không gian tại vì đạo Phật có chữ “Khai”. Khai tức là khai mở, có những trường hợp đặc biệt mình có thể khai mở. Trong những trường hợp đặc biệt mình có thể phá thai để kiểm soát sinh nở được. Có những trường hợp mà  mình có thể giúp người kia chết một cách an lành, có những trường hợp mình có thể nói dối. Nhưng tất cả những cái đó đều phải làm trên căn bản của tình thương. Nếu không có tình thương, nếu không theo tiêu chuẩn mê – ngộ, lợi – hại, khổ – vui thì mình không thể làm được.

Có những triết gia như là Kant không chịu như vậy. Kant nói rằng có những mệnh lệnh, những nguyên tắc tuyệt đối phải tuân theo. Ví dụ không nói dối là tuyệt đối không nói dối, không thể lấy cớ này, cớ nọ để nói dối được. Mọi trường hợp đều phải nói thật 100%. Tại vì mình muốn làm như thế nào để tất cả những người khác đều làm như mình hết. Đó là một thái độ rất cứng.

Quan điểm đó cho rằng, cái đúng và cái sai, cái chánh và cái tà là do Thượng Đế quyết định chứ không phải do con người quyết định. Cái đó nó đúng vì Thượng đế bảo là nó đúng. Cái đó sai vì Thượng đế nói nó sai. Mình chỉ đi theo thôi. Thượng đế là tạo hoá còn mình là tạo vật. Khi tạo hoá dựng ra con người, dựng ra vạn vật thì tạo hoá bỏ cái đúng và cái sai vào trong đó. Vì vậy cho nên cái đó gọi là mệnh lệnh của Thượng đế. Và nó có tính cách tuyệt đối.

Đạo Phật thì không cứng nhắc như vậy, nền đạo đức của đạo Phật có phương tiện quyền xảo gọi là “Khai”, đó là sự linh động. Một mặt là “khai”, một mặt là “giá”. Giá tức là ngăn lại. Ngăn lại cái hành động đó, tuy là nó không gây ra đau khổ, nhưng nếu để cho đi quá đà thì nó sẽ gây ra tai hại. Ví dụ như có rất nhiều vụ tai nạn giao thông xảy ra do tài xế đã uống qúa nhiều rượu trước khi lái xe. Khi uống rượu mà lái xe thì rất nguy hiểm cho tính mạng của mình và những người khác. Cho nên Bộ giao thông mới cấm người điều khiển xe có lượng cồn trong máu quá mức cho phép.

Vì vậy cho nên khi uống ly rượu đầu tuy là không tai hại, nhưng ly đầu có thể dẫn tới ly thứ hai, rồi ly thứ ba và lúc ấy thì tai nạn sẽ xảy ra. Sự thật là nếu không có ly thứ nhất thì làm gì có ly thứ hai, ly thứ ba ? Vì vậy cho nên đừng có uống ly thứ nhất. Cái đó gọi là giá tức là ngăn chặn.

Tuy mình làm điều đó không nguy hiểm gì nhưng điều đó sẽ kéo mình đi xa hơn và một khi đã đi xa rồi thì tai nạn sẽ xảy tới. Có một bà người Anh, sau khi được nghe trình bày về năm giới, bà nói tôi xin thọ 4 giới thôi, còn giới thứ 5 là không có uống rượu thì tôi không thể thọ được, vì mấy chục năm nay ngày cuối tuần nào tôi cũng uống một ly rượu mà không làm sao hết. Tại sao tôi phải thọ giới thứ năm giới để bỏ đi thú vui uống một ly rượu cuối tuần của mình ? Khi ấy tôi nói với bà ta rằng : Tôi công nhận là trong 30 năm nay mỗi cuối tuần bà đều uống một ly rượu và không có chuyện gì xảy ra cho bà hết. Đứng về phương diện sức khoẻ cũng như đứng về những phương diện khác. Nhưng mà bà nên biết rằng, những đứa con của bà khi thấy bà uống thì nó cũng uống, có thể nó có hạt giống của sự say sưa. Bà có thể uống mỗi tuần một ly nhưng các con bà khó có thể được như bà, chúng có thể đi vào con đường nghiện ngập. Vì vậy bà ngưng ly rượu đó không phải vì bà mà là vì các con của bà. Tại thường thường, cha mẹ làm gì thì con cái sẽ bắt chước làm theo. Cha mẹ hút thuốc thì con hút thuốc. Tôi nói với bà ta như vậy và thật may mắn là bà ta đã ngộ ra, hôm sau bà quyết định thọ cả năm giới. Cái đó gọi là “giá”, tức là nó có tác dụng ngăn ngừa những hậu quả có thể xảy ra trong tương lai. “Khai” và cái “Giá” là một tiêu chuẩn trong đạo Phật.

Theo giới luật hiện thời của Làng Mai thì mỗi khi một Thầy, hay một Sư cô cần phải lên Internet thì luôn phải có một thầy hay một sư cô khác ngồi một bên để làm đệ nhị thân. Có thể là Thầy đó, Sư cô đó lên Internet một mình nhiều lần cũng không sao hết. Nhưng mà có một người đi theo bảo hộ để ngăn ngừa cái chuyện có thể xảy ra, cái đó gọi là “Giá”. Tại vì trong mạng lưới Internet có thể có những vùng nguy hiểm. Không biết là các bậc làm cha, làm mẹ có thể áp dụng chuyện này với con cái mình được không ? Tại vì bây giờ trẻ con mới 7 tuổi, 10 tuổi đã bắt đầu lên mạng Internet một mình rồi. Và chúng có thể đi lạc vào những vùng rất là nguy hiểm. Có nên cấm nó hay không? Cấm nó chắc cũng không được. Nhưng giới luật đưa ra là mỗi lần con lên mạng internet thì phải có mẹ hoặc bố ngồi cùng. Không biết cái đó quý vị có thể làm được không? Cũng như khi uống rượu say có thể quý vị lái xe mà không gặp phải một tai nạn nào hết. Nhưng đó là may mắn thôi. Vì vậy cho nên không uống rượu vẫn hay hơn.

Trì và Phạm

Trì và phạm là nói về giới. Khi giữ giới thì gọi là trì giới, khi không giữ giới thì gọi là phạm giới. Trì là giữ cho nó còn nguyên vẹn. Còn phạm tức là để nó vỡ nát. Giới thân nói là không được làm cái đó mà mình cứ làm là ” phạm giới”, còn khi mình tuân theo giới, mình không làm thì gọi là “trì giới”. Những người trì giới là những rất hạnh phúc, rất thanh tịnh. Khi mình không uống rượu, không sử dụng ma túy tức là mình trì giới, nhờ vậy mà thân tâm mình khỏe mạnh an vui. Còn nều mình cứ sử dụng, mình phạm giới thì mình bị nô lệ cho sự nghiện ngập, sự nô lệ ấy làm mình mất tự do và làm khổ cả những người xung quanh

Trong trường hợp nói dối. Nếu một tên sát nhân đi kiếm người ta để thủ tiêu mà tới hỏi mình anh có thấy người đó không. Mình biết nhưng mà mình phải nói dối. Mà trong trường hợp này mình nói dối tức là mình trì. Nếu mình không nói dối tức là mình phạm. Nếu mình không nói dối thì mình gián tiếp giết người rồi. Vì vậy cho nên có những trường hợp vì tình thương mình bắt buộc phải nói dối. Ví dụ khác, khi thấy một người đang đau khổ, đang gặp hiểm nghèo mà mình không ra tay cứu giúp, thì tuy rằng mình không giết người đó nhưng mà mình đã phạm giới. Khi thấy một người đang đàn áp, đang giết người khác mà mình ngồi yên, bình chân như vại, không tới can ngăn thì mình cũng phạm giới như thường.

Cho nên, có khi trên hình thức là phạm nhưng kỳ thực là mình đang trì, có khi  trên hình thức là trì nhưng mà mình đã phạm giới. Đạo đức học trong đạo Phật rất là linh động, nó phải có tính cách khế cơ tức là phải phù hợp với từng hoàn cảnh. Mình có đạo đức học tiêu chuẩn nhưng mà phải đi tới đạo đức học ứng dụng. Và tất cả những cái đó đều phải dựa trên tuệ giác gọi là cái tuệ giác tương tức, tuệ giác bất nhị.

Bất nhị tức là không có hai. Khi chúng ta nói chánh và tà, khổ và vui, lợi và hại, thì theo cách nhìn của đạo Phật thì hai cái đó nương nhau mà thành. Cái này làm nên cái kia, cái kia làm nên cái này. Vì vậy đạo Phật có một quan niệm rất mềm dẻo.

Khi nói Phật và chúng sinh thì mình có một cặp đối lập nhau giống như là lợi và hại, hay là mê và ngộ. Như bùn và sen, nhưng bùn và sen vốn ôm lấy nhau, chúng nương vào nhau mà có, không có bùn thì không có sen, không có sen thì không có bùn. Phật và chúng sanh cũng như vậy. Phật ôm lấy chúng sanh và chúng sanh ôm lấy Phật. Tìm Phật ở trong chúng sanh và tìm chúng sanh ở trong Phật. Phật và chúng sanh không thể tách rời. Cho nên ở trong đạo Phật có giáo lý gọi là “Phật sinh bất nhị”. Phật tức là người tỉnh thức, sinh tức là chúng sinh. Phật và chúng sinh không thể tách rời ra được gọi là bất nhị. Nếu mà không nắm được điều này thì không thể nắm được nền đạo đức Phật học. Nếu mình muốn đi tìm Phật thì phải tìm ngay ở chúng sinh, vì ngoài chúng sinh ra không thể nào có Phật. Khi đã thành Phật rồi không phải mình hết làm chúng sanh. Cho nên hôm trước Thầy có nói rằng là Phật cũng có Phật thân. Phật không có thân thì làm sao gọi là Phật được? Do đó Phật và chúng sinh không phải là hai cái đối lập. Cũng như hoa sen và bùn không phải là hai cái gì đối lập. Vì vậy cho nên cái thấy lưỡng nguyên là cái ngăn ngừa không cho mình thấy được nền tảng của đạo đức Phật giáo.

Khi tụng Tâm kinh, ta có chữ “Không”. Trong ánh sáng của Tâm kinh, trong ánh sáng của cái không, thì những cặp đối lập như là sanh – diệt, thêm – bớt, có – không, còn – mất đều là những cái gì tương đối hết. “Nghe đây Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc”. Thấy rõ ràng là tính tương tức của vạn vật. Sắc nó ôm lây không, không nó ôm lấy sắc. Ngoài sắc không có không, ngoài không không có sắc. Thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy. Ngoài không không có thọ, ngoài thọ không có không. Thọ ôm lấy không, không ôm lấy thọ. “Nghe đây Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc. Xá Lợi Tử nghe đây, thể mọi pháp đều không, không sinh cũng không diệt, không nhơ cũng không sạch, không thêm cũng không bớt”. Không tức là cái thấy vượt thoát tất cả mọi cặp đối lập. Vì vậy cho nên trong ánh sáng của cái không, nó vượt thoát chánh tà, vượt thoát khổ vui, vượt thoát lợi hại, vượt thoát mê ngộ, cái này ôm lấy cái kia, cái kia nó ôm lấy cái này. Mà khi thấy được như vậy rồi thì mình mới có khả năng thiết lập một nền đạo đức. Lĩnh vực này ở ngoài đời gọi là “Siêu đạo đức học”. Gọi là Meta ethic. Và siêu đạo đức học sẽ trở thành rất quan trọng trong thời đại hiện nay. Người ta đã nói về applied ethics tức là đạo đức học ứng dụng.

Siêu đạo đức học

– Semantic. Có ngành gọi là nhận thức luận – epistemology. Nó có ngành bản thể học – ontology. Cho nên trong đạo Phật có rất đầy đủ. Đạo Phật nói về cái danh, tức là danh từ. Đạo Phật nói về nhận thức luận, tức là cái đó mình có thể nhận thức được không hay là không nhận thức được, nhận thức bằng lý luận hay nhận thức bằng trực giác ? Cái đó là bản thể học, nó là nền tảng của tất cả mọi cái. Khi đọc Tâm Kinh Bát Nhã vào mỗi buổi sáng là mình đang tiếp xúc với cái bản thể học. Nếu không nắm vững được cái thấy bất nhị, cái thấy tương tức của Tâm Kinh thì mình không thể thiết lập được một nền đạo đức dựa trên tuệ giác của đạo Phật được. Cho nên khi nghiên cứu về đạo đức học Phật giáo mình cũng có thể trình bày theo cái thấy của các nhà triết học bên ngoài. Tức là mình phải trình bày cái meta ethic (tương tức) của đạo Bụt, mình phải trình bày cái normative ethic (tiêu chuẩn đạo đức học) của đạo Bụt. Mình phải trình bày cái applied ethic (đạo đức học ứng dụng) của đạo Bụt. Khi tân tu lại giới bổn 5 giới hay 14 giới thì mình phải sử dụng cái thấy của mình về cả 3 lĩnh vực đó. Mình sẽ cố gắng làm thế nào để cho 5 giới hay là 14 giới được trình bày mà những người không phải là Phật tử cũng có thể chấp nhận, có thể hiểu được. Đây là công trình mà Đức Thế Tôn muốn chúng ta tiếp nối. Tại vì nền đạo đức Phật giáo mà Ngài đã xướng xuất cách đây đã 2500 năm, Ngài chưa hoàn tất, Ngài chỉ có 45 năm để làm việc ấy. Trước khi Ngài mất, Ngài dặn Thầy Anan là phải tiếp tục công trình đó. Chúng ta đang sống trong thời đại có rất nhiều vấn đề. Chúng ta phải làm công việc này, tu bổ lại giới bổn, và chúng ta không thể nào làm được nếu chúng ta không nắm được bản ý của Đức Thế Tôn. Vì vậy cho nên khoá tu này là một cơ hội để cho tất cả chúng ta có thể ngồi lại với nhau, để làm thử công việc đó. Cống hiến cho thế giới một đề nghị về một nền đạo đức toàn cầu.

Người ta đã nói rằng tiêu chuẩn đạo đức học normative ethics và tìm cách để nói rõ ra cái gì đáng làm, cái gì không nên làm để có hạnh phúc. Nhưng mà siêu đạo đức học đặt lại tất cả các vấn. Anh nói chánh thì thế nào gọi là chánh ? Anh nói tà thì thế nào được gọi là tà ? Anh nói khổ thì thế nào gọi là khổ? Anh nói vui thì thế nào gọi là vui? Anh nói mê cái gì gọi là mê? Anh nói ngộ thế nào gọi là ngộ? Vì vậy đòi hỏi nền siêu đạo đức học này thế nào cũng phải đưa tới cái thấy bất nhị, cái thấy tương tức của đạo Phật. Đứng về phương diện siêu đạo đức học thì có những nhận thức là ngữ nghĩa họcMình phải trở về với hiện thực của thế giới, xét xem cái gì có thể đưa thêm vào để bổ túc cho văn bản đó. Trong giới thứ ba mà mình đang tân tu đó, giới thứ ba nói về vấn đề quan hệ bất chính. Buổi giảng kỳ trước mình phải nhắc lại một sự thật là trong thời đại chúng ta, tình dục qúa nhiều mà tình yêu thì quá ít. Giới thứ ba có liên hệ tới tình dục và liên hệ tới tình yêu. Vì vậy trong giới thứ ba chúng ta phải đưa vào tứ vô lượng tâm, tức là tình yêu đích thực như trong đạo Bụt dạy. Tình yêu là phải có từ, phải có bi, phải có hỷ và phải có xả. Chúng ta phải làm sống dậy tình yêu và làm giảm thiểu tình dục. Đó là đối tượng của giới thứ ba. Từ, bi, hỷ, xả là những năng lượng tạo ra rất nhiều hạnh phúc. Năng lượng thứ tư, năng lượng xả là năng lượng hết sức màu nhiệm. Xả có nghĩa là không có kỳ thị, không phân biệt. Mở lòng ra để ôm lấy tất cả mọi người và mọi loài. Tình yêu đích thực là tình yêu lớn lên mỗi ngày. Tình yêu càng lớn thì hạnh phúc càng lớn. Xả cũng là không bị kẹt vào cái ngã, không bị kẹt vào cái ích kỷ của mình. Cho nên chữ upeksa mình dịch là xả. Trước đây mình thường dịch là equanimity. Có người dịch là indifference thì nó sai. Equanimity có khi mình dịch là inclusiveness, có khi mình dịch là nondiscrimination và trong ngành đạo đức học ngoài đời họ còn dùng một chứ mà mình có thể dùng được là impasibility(?). Tức là mình muốn cho người nào cũng được như vậy. Mình ôm lấy tất cả, mình không cho mình là đặc biệt.

Tân tu giới bản làm sao để khi đọc tụng phải thấy được cái tuệ giác và từ bi trong đó, để người trì giới tiếp xúc được với cái thấy bất nhị, cái thấy tương tức. Nó làm nền tảng cho hành động của chúng ta. Cố nhiên năm giới mới nó phải dài hơn 5 giới cũ nhưng nó thật sự phản chiếu được tuệ giác của đạo Bụt và sự thực tập của đạo Bụt.

 

Thầy Làng Mai giảng ngày 4.1.2009