Lịch sử đạo Bụt nhập thế

Dẫn lược

Trong những ngày đầu của khóa tu bảy ngày bằng tiếng Anh tại Hà Nội, các bạn thiền sinh về dự khóa tu đã có một cơ hội hiếm hoi được nghe Thầy chia sẻ những kỷ niệm ngày Thầy mới bắt đầu sự nghiệp. Từ đây có thể thấy rõ Thầy vừa là nhà giáo, vừa là nhà hoạt động xã hội, nhà văn với tác phẩm phong phú và là người làm cách mạng tạo nên phong trào đạo Bụt nhập thế, đạo Bụt dấn thân mà gần đây bắt đầu được gọi là đạo Bụt ứng dụng. Theo Thầy: “Đạo Bụt nhập thế trước hết là một đạo Bụt có mặt từng giây từng phút trong đời sống hằng ngày. Đạo Bụt có mặt khi ta chải răng, khi ta lái xe; khi đi siêu thị đạo Bụt cũng có mặt để giúp ta biết cần mua những gì và không cần mua những gì. Đạo Bụt dấn thân cũng là một nguồn tuệ giác để đáp ứng lại những gì đang xảy ra trong hiện tại, bây giờ và ở đây – tình trạng trái đất nóng lên, khí hậu thay đổi, môi trường sinh thái bị phá hủy, thiếu truyền thông, chiến tranh, xung đột, tự tử, ly hôn. Nếu có thực tập chánh niệm, chúng ta ý thức được  những gì đang diễn ra trong cơ thể mình, những cảm xúc, cảm thọ trong ta và những gì đang xảy ra với môi trường của chúng ta. Đó chính là đạo Bụt nhập thế. Đạo Bụt nhập thế là một đạo Bụt đáp ứng được với bất kỳ điều gì đang xảy ra trong hiện tại, bây giờ và ở đây.”

Vào năm 1949, tôi đã cùng thầy Trí Hữu, một vị Thượng tọa từ Đà Nẵng thành lập nên Phật Học Đường Ấn Quang ở Sài Gòn. Tôi dạy lớp sơ cấp đầu cho các vị Sadi. Hồi đó tên chùa là Ứng Quang. Chùa vách tre lợp lá rất đơn sơ. Khi đó chiến tranh đang diễn ra giữa quân đội Pháp và lực lượng kháng chiến Việt Minh.

Năm năm sau, vào năm 1954, Hiệp định Geneve được ký kết chia đất nước thành hai phần: miền Bắc theo chủ nghĩa cộng sản và miền Nam chống cộng sản. Hơn một triệu người, rất đông trong số đó là tín đồ Công giáo, đã di cư từ Bắc vào Nam. Một không khí hoang mang bao trùm đất nước.

Thỉnh thoảng lại có một vài người lính Pháp vào thăm viếng chùa Ứng Quang, họ đang chuẩn bị rút khỏi Việt Nam Vì sau chiến thắng Điện Biên Phủ, chiến tranh với người Pháp chấm dứt, các bên thỏa thuận chia đất nước làm hai phần, và người Pháp phải rút khỏi Việt Nam. Tôi vẫn còn nhớ, tôi đã nói chuyện với những người lính Pháp đó. Rất nhiều người Pháp tới Việt Nam và đã chết trên đất Việt Nam.

 

Đạo Bụt qua nhận thức mới

Trong năm 1954, người dân Việt Nam rất hoang mang, đặc biệt là giới thanh niên, tăng ni xuất gia cũng như cư sĩ tại gia. Miền Bắc theo chủ nghĩa Mác-Lênin, trong khi tại miền Nam, tổng thống Ngô Đình Diệm, một tín đồ Công giáo được Mỹ ủng hộ lại đang cố gắng lái đất nước đi theo một ý thức hệ khác, “chủ nghĩa nhân vị”. Dường như sắp bắt đầu một cuộc chiến tranh ý thức hệ.

Đạo Bụt là một truyền thống lâu đời ở Việt Nam, hầu hết người dân Việt đều mang trong mình hạt giống đạo Bụt. Ông Vũ Ngọc Các, chủ bút tờ nhật báo Dân Chủ đã tới chùa Ứng Quang nhờ tôi viết một loạt bài về đạo Bụt. Ông Các muốn tôi chia sẻ tuệ giác, chỉ ra một hướng đi tâm linh có khả năng giúp người dân thoát khỏi tình trạng hoang mang đang bao trùm đất nước. Và tôi đã viết loạt 10 bài đăng trong 10 số báo liên tục với tựa đề “đạo Phật qua nhận thức mới”. Trong loạt bài này, tôi đã đưa ra ý tưởng về đạo Bụt nhập thế – đạo Bụt trong lĩnh vực giáo dục, kinh tế, chính trị, v.v… Đạo Bụt nhập thế như vậy là đã xuất hiện vào năm 1954.

Tôi còn nhớ hồi đó tôi không dùng máy chữ mà viết tay theo lối truyền thống. Người của tòa soạn tới lấy bài và cho đăng ngay trên trang nhất, với tựa đề in chữ lớn màu đỏ. Tờ báo bán rất chạy vì tình trạng hoang mang đã lên tới cực độ và người dân đang rất khao khát một đường hướng tâm linh.

 

Trà tường vi và bắp luộc

Sau đó, loạt bài đã được tập hợp lại và in thành sách. Không lâu sau, tôi về thăm Huế. Thầy Đức Tâm, bạn học cũ của tôi hồi ở Phật Học Đường Báo Quốc, khi đó cũng đang là chủ biên tạp chí Phật Học Liên Hoa. Chùa của thầy Đức Tâm ở Cồn Hến, một hòn đảo nhỏ giữa dòng sông Hương. Bắp trồng ở Cồn Hến rất thơm và ngon. Thầy Đức Tâm mời tôi ở lại chùa chơi vài tuần. Mỗi sáng thầy Đức Tâm đều mời tôi một ly trà tường vi. Tường vi là một loại hoa hồng cánh nhỏ xíu, ướp trà rất thơm. Rồi cả hai đi thiền hành quanh Cồn và thầy Đức Tâm đãi tôi bắp luộc. Thầy nuôi tôi bằng trà tường vi và bắp luộc, rồi thầy ngỏ lời mời tôi viết một loạt bài về Đạo Bụt nhập thế. (đại chúng cười) Và tôi lại viết một loạt 10 bài nữa, nhan đề “đạo Phật ngày nay”,  cũng về đề tài đạo Bụt nhập thế. Loạt bài này được nhà nghiên cứu nhân chủng học Lê Văn Hảo đang sống tại Paris dịch sang tiếng Pháp, lấy tựa đề Aujourd’hui le Boudhisme. Năm 1964, trong khi đi giảng dạy tại Hoa Kỳ, tôi đã gặp linh mục Thomas Merton và đã tặng cha một cuốn Aujourd’hui le Boudhisme. Cha đã viết lời tựa cho cuốn sách.

 

Đạo Bụt đi vào cuộc đời

Vào năm 1963-1964, tôi giảng dạy về đạo Bụt tại trường đại học Columbia, Mỹ. Tại Việt Nam, phong trào biểu tình đòi nhân quyền do giới Phật tử lãnh đạo đã lật đổ được chế độ Ngô Đình Diệm. Có thể các bạn đã nghe nói tới Hòa thượng Thích Quảng Đức, người đã tự thiêu, dùng chính cơ thể mình làm ngọn đuốc để báo động cho thế giới về tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam. Đó quả thực là hành động đấu tranh cho nhân quyền hoàn toàn bất bạo động. Khi chính quyền Diệm sụp đổ, các bạn trong tăng thân mời tôi về để giúp.

Sau khi trở về Việt Nam, tôi đã thành lập Viện Đại Học Vạn Hạnh. Tôi tập hợp những bài đã viết trước đó và in thành cuốn sách đạo Bụt đi vào cuộc đời. Đó là đầu năm 1964. Có thể đây là lần đầu tiên các bạn được nghe những thông tin này. Cuộc đời có nghĩa là cuộc sống hay xã hội. Đạo Bụt nhập thế tiếng Việt được hiểu là đạo Bụt đi vào cuộc sống, đạo Bụt đi vào xã hội. Tiếng Trung Quốc gọi là nhân gian Phật giáo, tiếng Việt gọi là đạo Bụt nhập thế.

Sáu tháng sau, tôi cho ra đời một cuốn sách khác có tên gọi đạo Phật hiện đại hóa. Tất cả những danh từ đó, những cuốn sách đó đều chỉ diễn đạt cái mà mình gọi là đạo Bụt nhập thế. Sau đó tôi lại tiếp tục viết nhiều sách khác, như cuốn đạo Phật ngày mai. (đại chúng cười)

Nhưng hồi đó tên của tôi đã bắt đầu bị chính quyền chống cộng miền Nam bôi đen vì tôi đã  lên tiếng kêu gọi hòa bình, kêu gọi hòa giải giữa hai miền Nam Bắc. Tôi trở thành người tha hương. Tôi không thể trở về quê hương, tôi bị lưu đày.

Và vì vậy, cuốn sách đạo Phật ngày mai của tôi đã không được in tại Việt Nam dưới tên thật của tác giả, phải lấy bút danh là Bsu Danglu. Chắc các bạn tò mò muốn biết cái tên này từ đâu ra. Đó là vào năm 1956, tôi đã mua một mảnh đất của hai người Thượng tên là K’Briu và K’Broi ở buôn Bsu Danglu trên cao nguyên Bảo Lộc và cùng các bạn dựng nên Phương Bối Am. Bsu Danglu có xuất xứ như vậy.

 

Tuệ giác bây giờ và ở đây

Tôi tiếp tục xuất bản các cuốn sách khác dưới những bút danh khác nhau. Tôi đã viết bộ Việt Nam Phật Giáo Sử Luận ba tập và dùng bút danh Nguyễn Lang. Dù tôi phải rời xa quê hương đã 39 năm nhưng tôi vẫn tiếp tục viết sách và sách của tôi được xuất bản tại Việt Nam dưới rất nhiều bút danh.

Chúng ta đã được giải thích ý nghĩa đầu tiên của Đạo Bụt nhập thế là đạo Bụt có mặt trong mọi giây phút của cuộc sống hằng ngày. Đạo Bụt có mặt khi mình chải răng, khi mình lái xe, đạo Bụt có mặt khi mình đi chợ để nhắc mình ý thức cần mua những gì và không cần mua những gì.

Đạo Bụt nhập thế cũng có nghĩa là một nguồn tuệ giác có thể đáp lại được những gì đang xảy ra bây giờ và ở đây, như là tình trạng trái đất nóng lên, thay đổi khí hậu, hệ sinh thái bị phá hủy, thiếu truyền thông, chiến tranh, xung đột, tự tử, ly hôn… Là một người biết tu tập chánh niệm, ta phải ý thức được những gì đang diễn ra trong cơ thể, cảm thọ, cảm xúc và những gì đang xảy ra với môi trường bên ngoài. Đó là đạo Bụt nhập thế. Đạo Bụt nhập thế là đạo Bụt đáp ứng được với những gì đang diễn ra bây giờ và ở đây.

 

Cái nhìn mới về “bốn sự thật mầu nhiệm”

Chúng ta có thể nói về đạo Bụt nhập thế từ góc độ Tứ Diệu Đế – bốn sự thật mầu nhiệm. Sự thật thứ nhất là Khổ – dukkha. Định nghĩa truyền thống về sự thật thứ nhất thường là: sinh là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, oán ghét mà phải gặp nhau là khổ; yêu nhau mà phải biệt ly là khổ, mong ước mà không được là khổ. Đó là cách định nghĩa rất xưa. Ngày nay thực tập chánh niệm, chúng ta phải xác định được những hình thức của Khổ đang thực sự có mặt. Nỗi khổ trước tiên là sự căng thẳng đang có mặt trong cơ thể mình, rất nhiều căng thẳng. Chúng ta có thể khẳng định rằng nỗi khổ của thời đại ngày nay là căng thẳng, stress, lo lắng, sợ hãi, bạo lực, gia đình tan vỡ, tự tử, chiến tranh, xung đột, khủng bố, hệ sinh thái bị phá hủy, trái đất nóng lên, v.v..

Chúng ta cần có mặt hoàn toàn trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây để nhận cho được bản lai diện mục của khổ. Chúng ta có khuynh hướng tự nhiên là chạy trốn khổ đau, không muốn đối diện với chúng. Chúng ta thấy mình không đủ sức xử lý khổ đau nên tìm mọi cách trốn chạy. Nhưng Bụt khuyên chúng ta không nên làm vậy, trái lại Ngài khuyên chúng ta nên đối diện khổ đau, nhận diện khổ đau, nhìn sâu vào bản chất của khổ đau để học hỏi từ nó. Bụt dạy rằng nếu chúng ta không thấu hiểu được bản chất của khổ thì không thể thấy được con đường của sự chuyển hóa, con đường đưa tới sự chấm dứt khổ đau.

Chúng ta đều biết rằng sự thật thứ nhất là Khổ và sự thật thứ tư là Đạo, con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ đau. Nếu không hiểu được sự thật thứ nhất thì sẽ không bao giờ có cơ hội thấy sự thật thứ tư, con đường đưa tới sự chấm dứt khổ đau.

Chúng ta nên học cách trở về nhà, trở về giây phút hiện tại để nhận diện những nỗi khổ niềm đau đang thật sự có mặt. Và khi tập nhìn sâu vào sự thật thứ nhất – Khổ, chúng ta sẽ khám phá ra sự thật thứ hai – gốc rễ hay nguyên nhân của khổ.

Mỗi chúng ta phải tự tìm ra nguyên nhân nỗi khổ niềm đau của mình. Cuộc sống hiện đại thật sôi động, chúng ta có quá nhiều việc để làm, quá nhiều thứ muốn đạt tới. Nhà chính trị, nhà doanh thương, hay ngay cả người nghệ sĩ đều muốn thành công nhiều hơn nữa, hơn nữa. Chúng ta thèm khát thành công. Chúng ta không có khả năng sống sâu sắc từng giây phút trong cuộc sống hằng ngày. Chúng ta không cho cơ thể mình cơ hội nghỉ ngơi, thư giãn và trị liệu.

Nếu biết sống như Bụt, an trú trong giây phút hiện tại, để cho những yếu tố tươi mát và trị liệu thấm vào trong mình, chúng ta sẽ không trở thành nạn nhân của stress, của căng thẳng và của rất nhiều căn bệnh phát sinh từ đó. Có thể nói một trong những gốc rễ của khổ đau là do chúng ta không có khả năng sống sâu sắc trong từng giây phút.

Khi trong thân tâm ta đầy căng thẳng và khó chịu, ta sẽ không thể lắng nghe được người khác, ta cũng không thể nói lời ái ngữ. Ta không thể cởi bỏ tri giác sai lầm. Tri giác sai lầm gây nên sợ hãi, hận thù, bạo động. Chúng ta phải nhận diện những nguyên nhân của khổ đau. Công việc này vô cùng quan trọng. Chúng ta nói tới tình trạng tự tử và gia đình tan vỡ. Chúng ta biết rằng nếu truyền thông giữa vợ và chồng, giữa cha và con trai, mẹ và con gái gặp khó khăn thì mọi người không còn hạnh phúc. Vô số người trẻ rơi vào tình trạng tuyệt vọng và chỉ muốn tự vẫn, vì không biết cách xử lý cơn tuyệt vọng và những cảm xúc của họ, họ nghĩ rằng cách duy nhất để chấm dứt khổ đau là kết liễu đời mình. Mỗi năm ở Pháp có khoảng 12.000 thanh niên tự tử, chỉ vì không biết làm sao làm chủ những cảm xúc mạnh như tuyệt vọng. Cha mẹ họ cũng không biết cách làm chuyện đó. Cha mẹ không dạy con cái cách xử lý cảm xúc, ngay cả thầy cô giáo cũng không biết cách dạy học trò cách nhận diện và ôm ấp cảm xúc.

Khi không thể truyền thông với nhau, con người không thể hiểu nhau và thấy được khổ đau của nhau, và như vậy không thể có tình thương, không thể có hạnh phúc. Chiến tranh và khủng bố cũng do tri giác sai lầm sinh ra. Những kẻ khủng bố đinh ninh rằng phía bên kia đang tìm cách tiêu diệt mình, tiêu diệt tôn giáo mình, lối sống của mình hay đất nước mình. Một khi chúng ta tin rằng đang có người tìm cách thủ tiêu mình, chúng ta sẽ tìm cách tiêu diệt họ trước để tránh mối nguy hại.

Sợ hãi, hiểu nhầm và tri giác sai lầm là nền tảng của mọi hành động bạo lực. Cuộc chiến ở Iraq, cái được gọi là cuộc chiến chống khủng bố, thực tế đã không làm giảm số lượng những kẻ khủng bố, trái lại chính cuộc chiến đó càng khiến lực lượng khủng bố càng ngày càng đông đảo thêm. Để thực sự xóa bỏ khủng bố, chúng ta phải xóa bỏ tri giác sai lầm. Chúng ta biết quá rõ rằng phi cơ, súng đạn, bom mìn không thể xóa bỏ tri giác sai lầm. Chỉ có ái ngữ và lắng nghe mới có thể giúp con người cởi bỏ tri giác sai lầm. Nhưng các vị lãnh đạo của chúng ta lại không được đào tạo theo hướng đó nên họ chỉ biết dựa vào lực lượng vũ trang để chống lại khủng bố. Vậy nên khi nhìn sâu, ta có thể thấy nguyên nhân, gốc rễ của khổ đau bằng cách nhận diện khổ đau là một sự thật và nhìn sâu vào bản chất của chúng.

Sự thật thứ ba là Diệt – sự chấm dứt khổ đau, nghĩa là sự có mặt của hạnh phúc, cũng như sự vắng mặt của bóng tối là sự có mặt của ánh sáng. Vô minh diệt minh sinh. Lấy đi bóng tối thì ánh sáng xuất hiện. Vậy thì sự chấm dứt khổ đau nghĩa là sự có mặt của hạnh phúc, ngược lại với sự thật thứ nhất.

Giáo lý đạo Bụt khẳng định rằng hạnh phúc là điều có thể. Bởi vì có khổ đau nên có hạnh phúc. Nếu khổ đau được miêu tả trước hết là căng thẳng, stress, nặng nề thì hạnh phúc sẽ là sự nhẹ nhàng, an lạc, thư giãn. Bằng cơ thể mình, bằng hơi thở và bước chân chánh niệm, bạn có thể làm giảm căng thẳng và đem lại sự nhẹ nhàng, an lạc, buông thư.

Chúng ta có thể nói về sự thật thứ tư một cách rất cụ thể. Đó là những phương pháp, cách thức thực tập giúp ta giảm căng thẳng, stress, khổ đau – gọi là Đạo. Các vị giáo thọ thời nay có thể gọi sự thật thứ tư là con đường của hạnh phúc. Sự chấm dứt khổ đau nghĩa là sự khởi đầu của hạnh phúc – rất đơn giản!

 

Từ nhiều vị thần tới một vị thần

Chúng ta hãy quay trở về một chút với lịch sử đạo Bụt nhập thế. Trong thập niên 50, tôi bắt đầu viết bởi vì khi đó người dân đang rất cần một đường hướng tâm linh có thể giúp họ vượt qua tình trạng hoang mang. Một hôm tôi viết một bài về mối liên hệ giữa niềm tin tôn giáo với phương pháp chúng ta tổ chức xã hội. Tôi tóm lược lại lịch sử tiến hóa xã hội.

Tổ chức xã hội sơ khai là các bộ tộc. Dần dần, các bộ tộc họp lại với nhau và cuối cùng hình thành nên vương quốc, có nhà vua trị vì và khi thấy đã có quá đủ các vị vua, con người lại muốn lập nên nền dân chủ hay cộng hòa. Niềm tin tôn giáo của chúng ta cũng thay đổi theo. Ban đầu chúng ta có thuyết đa thần. Song song với sự hình thành các bộ tộc là thuyết tin rằng có nhiều vị thần và mỗi vị thần sở hữu một quyền năng, mỗi người được tự do lựa chọn một vị thần để thờ phụng và vị thần đó sẽ bảo hộ mình trong liên hệ với các vị thần khác và các bộ tộc khác. Khi chế độ quân chủ hình thành, thuyết đa thần chuyển thành thuyết nhất thần – chỉ còn duy nhất một vị Chúa tối cao và chúng ta chỉ thờ phụng một Thượng Đế.

Tới chế độ dân chủ, vua không còn nữa. Mọi người đều bình đẳng với nhau và chúng ta sống dựa vào nhau. Đó là nguyên do tại sao thuyết nhất thần chuyển thành thuyết tương lập – tương tức – ở đó không còn chỗ cho thần linh nữa. Chúng ta phải chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với cuộc sống của chúng ta, thế giới của chúng ta, hành tinh của chúng ta. Tôi đã viết những điều đó trong khi đang cố gắng hình thành đạo Bụt nhập thế.

 

Sự ra đời của dòng tu Tiếp Hiện

Dòng tu Tiếp Hiện ra đời năm 1964, và sự ra đời của nó rất có ý nghĩa. Chúng ta chỉ cần học 14 Giới Tiếp Hiện là có thể hiểu được tại sao dòng tu Tiếp Hiện được hình thành và được hình thành như thế nào. Khi đó chiến tranh đang leo thang ác liệt. Đó là cuộc chiến giữa hai ý thức hệ giữa miền Bắc và miền Nam, một bên theo chủ nghĩa Mác-Lênin, còn bên kia theo thuyết nhân vị và chủ nghĩa tư bản. Đó là cuộc chiến tranh không chỉ giữa những ý thức hệ từ bên ngoài mà còn bằng vũ khí của nước ngoài – súng, đạn, bom của Mỹ, Trung Quốc và Liên Xô. Là những Phật tử thực tập theo con đường hòa giải, hòa bình và tình huynh đệ, chúng tôi không chấp nhận một cuộc chiến như thế. Làm sao có thể chấp nhận được một cuộc chiến mà anh em một nhà dùng ý thức hệ và vũ khí của bên ngoài để tàn sát lẫn nhau.

Dòng tu Tiếp Hiện là một phong trào kháng chiến tâm linh. Các giới điều được hoàn toàn lấy từ giáo lý đạo Bụt. Giới thứ nhất – tự do nhận thức là câu trả lời trực tiếp cho chiến tranh, vì khi đó ai cũng sẵn sàng chết hay chiến đấu để bảo vệ niềm tin của mình.

Giới thứ nhất “Ý thức được những khổ đau do thái độ cuồng tín và thiếu bao dung gây ra, con xin nguyện thực tập để đừng bị vướng mắc vào bất cứ một chủ nghĩa nào, một lý thuyết nào, một ý thức hệ nào, kể cả những chủ thuyết Phật giáo…”

Đây quả là tiếng gầm sư tử lớn!

Những giáo nghĩa Bụt dạy phải được nhận thức như những pháp môn hướng dẫn thực tập để phát khởi tuệ giác và từ bi mà không phải là những chân lý để thờ phụng và bảo vệ, nhất là bảo vệ bằng những phương tiện bạo động.

Những lời Bụt dạy được ghi lại trong Kinh Tập (Sutta Nipata) về kiến chấp thật rõ ràng. Chúng ta không nên để bị vướng mắc vào bất kỳ quan điểm nào, chúng ta phải vượt thoát mọi quan điểm.

Chánh kiến trước tiên có nghĩa là sự vắng mặt của mọi quan điểm. Vướng vào quan điểm là nguồn gốc khổ đau. Ví như khi mình leo tới bậc thang thứ tư và nghĩ rằng đó là nấc thang cao nhất, vậy là mình sẽ chỉ dừng tại đó! Mình phải biết từ bỏ nấc thang thứ tư để có khả năng bước lên được nấc thang thứ năm. Trong lĩnh vực khoa học, để có thể tới gần với chân lý hơn, các nhà khoa học phải biết buông bỏ những kiến thức cũ. Bụt dạy rằng: khi ta chấp nhận một điều gì đó là chân lý và bị  kẹt vào đó, ta phải biết buông bỏ để đạt tới cái thấy cao hơn.

Không kẹt vào kiến chấp (phá chấp) là tinh thần của đạo Bụt. Quan điểm không phải là tuệ giác. Quan điểm không phải là trí tuệ. Chúng ta phải luôn trong tư thế sẵn sàng buông bỏ ý kiến, quan điểm của mình để đạt tới tuệ giác. Giả sử mình có một khái niệm về vô thường, vô ngã, tương tức và bốn sự thật mầu nhiệm, điều này rất nguy hiểm vì tất cả những cái đó chỉ là khái niệm. Ta tự hào rằng mình đã hiểu về Tứ Diệu Đế, về tương tức, về duyên sinh, về niệm, định, tuệ, nhưng những kiến thức đó chỉ là phương tiện để giúp mình đạt tới tuệ giác. Nếu bị kẹt vào những kiến thức đó, mình sẽ lỗ lắm. Giáo lý về vô thường, vô ngã, tương tức có mục đích giúp mình đạt được tuệ giác về vô thường, vô ngã và tương tức. Giáo lý không phải là tuệ giác.

Bụt dạy rằng “Giáo lý Bụt dạy như ngón tay chỉ mặt trăng. Mình phải thông minh và khéo léo. Mình phải nhìn theo hướng ngón tay chỉ mới thấy được mặt trăng, nếu cho rằng ngón tay là mặt trăng mình sẽ không bao giờ thấy được mặt trăng”. Như vậy ngay cả giáo lý Bụt dạy cũng không phải là chân lý mà chỉ là phương tiện để đạt tới chân lý. Điều này rất cơ bản trong giáo lý đạo Bụt.

Chiến tranh là hậu quả của thái độ cuồng tín, cố chấp. Nhìn sâu vào bản chất cuộc chiến tranh tại Iraq, ta có thể thấy đó cũng là một cuộc chiến tranh tôn giáo. Người ta lợi dụng niềm tin tôn giáo để phát động chiến tranh. Tổng thống Bush được các nhà truyền giáo cánh tả yểm trợ, trong khi đạo Hồi là điểm tựa cho lực lượng kháng chiến và khủng bố ở Iraq. Vậy nên ở mức độ nào đó, đây là cuộc chiến tranh tôn giáo.  Hòa bình không thể tồn tại nếu chúng ta cứ khăng khăng giữ thái độ cuồng tín.

 

Hoa sen trong biển lửa

Vào năm 1966, tôi có viết một cuốn sách nhỏ về cuộc chiến ở Việt Nam, cuốn Hoa Sen Trong Biển Lửa, được nhà xuất bản Hill and Wang xuất bản tại Hoa Kỳ. Cuộc chiến khi đó đang diễn ra rất dữ dội, chẳng khác gì một biển lửa. Con người giết hại lẫn nhau, máy bay Hoa Kỳ được phép đem bom thả trên những cánh rừng, lên đầu người dân. Vũ khí của Trung Quốc và Liên Xô cũng có mặt. Nhưng giới Phật tử đã cố gắng làm một điều gì đó để tìm lối thoát. Những ai không chấp nhận chiến tranh đã muốn làm gì đó để phản đối chiến tranh. Thỉnh thoảng lại có những cuộc tự thiêu để bày tỏ cho mọi người biết rằng chúng tôi không muốn có chiến tranh này. Giới Phật tử không có đài phát thanh hay truyền hình. Họ không có phương tiện nào để bày tỏ hết.

Có trăng sao mười phương
Có nhân loại, có anh em đây
Cho tôi cất cao lời tố cáo cuộc
chiến tranh này
Cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn
dã man thảm khốc
Ai xô chúng tôi vào vũng lầy giết chóc?
Xin làm chứng cho tôi
Hãy nghe tôi đây
Tôi nói rằng: Tôi không chấp nhận
cuộc chiến tranh này
Chưa bao giờ và không bao giờ
chấp nhận cuộc chiến tranh này
Tôi muốn nhắc lại một ngàn lần, trước khi
tôi bị giết.

Tôi đã viết những dòng thơ như thế.

 

Kẻ thù chúng ta không phải con người.

Kẻ thù chúng ta là hận thù, cuồng tín, bạo động. Kẻ thù chúng ta không phải con người. Nếu giết hết con người, ta sẽ ở với ai? Phong trào hòa bình ở Việt Nam rất cần sự yểm trợ của cộng đồng quốc tế, nhưng các bạn quốc tế không thể nghe thấy chúng tôi. Vậy nên thỉnh thoảng chúng tôi lại phải tự thiêu để báo cho thế giới rằng chúng tôi không muốn cuộc chiến tranh này. Xin hãy giúp chúng tôi chấm dứt cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn này! Đạo Bụt giống như một bông hoa sen đang cố sức vươn lên trong biển lửa.

Tôi đã dịch cuốn sách sang tiếng Việt và một người bạn Mỹ trong phong trào hòa bình mang giúp cuốn sách về Việt Nam. Cuốn sách được in lậu và rất nhiều bạn trẻ đã âm thầm phổ biến cuốn sách, hành động đó cũng giống như hành động kháng chiến vậy.

Sư cô Chân Không, khi đó đang là giảng viên khoa sinh học, đại học Huế, đã cầm theo một bản của cuốn sách ra Huế cho một người bạn. Sư cô đã bị bắt bỏ tù vì bị phát hiện mang trong người cuốn sách. Sau đó sư cô được chuyển ra nhà tù ở Sài Gòn.

 

Trường thanh niên phụng sự xã hội

Nhiều bạn trẻ tới yêu cầu tôi xuất bản tập thơ về hòa bình. Các bạn gọi đó là thơ phản chiến. Tôi chiều ý. Các bạn trẻ đã thu thập được 60 bài thơ về hòa bình của tôi và trình cho chính quyền miền Nam để xin phép xuất bản. Chỉ có vài bài được chấp nhận, 55 bài bị kiểm duyệt. Nhưng các bạn không nản chí, họ đã cho in chui tập thơ và tập thơ bán hết rất mau. Ngay cả một số mật vụ cũng thích tập thơ bởi vì chính họ cũng đang là nạn nhân của cuộc chiến, họ tới hiệu sách và nói “đừng nên bày tập thơ ra như thế, phải giấu đi”. (đại chúng cười)

Các đài phát thanh ở Sài Gòn, Hà Nội, và Bắc Kinh bắt đầu lên tiếng công kích tập thơ vì chúng kêu gọi hòa bình. Không ai muốn hòa bình, bên nào cũng chỉ muốn đánh cho đến cùng.

Năm 1964 tôi cùng các bạn thành lập trường Thanh Niên Phụng Sự Xã hội (TNPSXH). Trường đào tạo hàng ngàn thanh niên, trong đó có cả các thầy và sư cô trẻ, để đi về miền quê giúp những người nông dân tái thiết thôn làng. Chúng tôi hỗ trợ dân làng trong bốn lĩnh vực: giáo dục, y tế, kinh tế và tổ chức. Các tác viên xã hội về các thôn làng, chơi với trẻ em và dạy các em đọc, dạy viết và múa hát. Đến khi người dân làng bắt đầu quý mến các tác viên, chúng tôi mới đề nghị xây dựng trường học cho các cháu. Người góp tre, nhà góp lá dừa để lợp mái, và thế là các em có một ngôi trường. Các tác viên đều làm việc không lương. Sau khi dựng trường, chúng tôi dựng trạm y tế để phát các loại thuốc chữa những căn bệnh thông thường cho dân làng. Chúng tôi cũng mời sinh viên y dược hay bác sĩ về làng trong 1-2 ngày để giúp. Chúng tôi tổ chức các hợp tác xã, cố gắng hướng dẫn người dân những nghề thủ công mà họ có thể làm để cải thiện thu nhập cho gia đình. Những người dân phải tự mình bắt đầu. Trường TNPSXH được tổ chức trên tinh thần không chờ đợi, dựa dẫm vào sự trợ giúp của chính phủ.

 

Đoàn thanh niên cho một xã hội lành mạnh và từ bi

Chúng tôi đã đào tạo rất nhiều bạn trẻ, các thầy, các sư cô trẻ. Cuối cùng chúng tôi có tới hơn mười ngàn tác viên hoạt động từ Quảng Trị trở vào. Trong suốt cuộc chiến tranh, chúng tôi đã bảo trợ cho hơn mười ngàn trẻ em mồ côi. Người trẻ là một phần của phong trào đạo Bụt nhập thế.

Năm nay chúng tôi muốn thành lập một tổ chức cho thanh niên Phật tử và không Phật tử ở Âu châu, gọi là đoàn thanh niên cho một xã hội lành mạnh và từ bi. Rất nhiều bạn trẻ đã tới với chúng tôi, tới dự những khóa tu của chúng tôi ở Âu châu, Mỹ châu và Á châu, và chúng tôi muốn tập hợp các bạn trẻ ấy lại, tổ chức thành đoàn thể. Đoàn thanh niên sẽ thực tập năm phép thực tập chánh niệm (năm giới) và sẽ đi vào cuộc đời để giúp tạo dựng một xã hội lành mạnh hơn, từ bi hơn.

Nếu các bạn ở đây có cảm hứng với ý tưởng này thì xin mời các bạn, sau khi trở về nhà, hãy mời những người bạn của mình lập thành một nhóm “thanh niên cho một xã hội lành mạnh và từ bi.”

Tháng trước, khi mở khóa tu ở Ý, chúng tôi đã tổ chức một ngày thực tập với các bạn trẻ ở thành phố Napoli (Naples). Cả 500 nam nữ thanh niên tới dự khóa tu đều rất thích. Họ đã sẵn sàng cho sự thực tập an lạc, giúp tạo dựng một xã hội lành mạnh hơn, từ bi hơn. Các thầy, các sư cô trẻ của chúng tôi cũng sẽ tham gia tổ chức này.

 

Viện Phật Học Ứng dụng

Chúng tôi cũng vừa thành lập Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu (VPHUDCA). Tôi hy vọng trong khóa tu này, sư cô Chân Đức sẽ có một buổi thuyết trình về VPHUDCA. VPHUDCA cũng sẽ có những khuôn viên trực thuộc ở châu Mỹ và châu Á. Ai đã tham dự trọn vẹn khóa An Cư Kiết Đông ba tháng ở Làng Mai hay tu viện Lộc Uyển đều sẽ được Viện cấp chứng chỉ hoàn thành khóa học. VPHUDCA sẽ tổ chức rất nhiều khóa học lý thú. Các bạn cũng có thể tự tổ chức những khóa tu tại địa phương mình và chúng tôi sẽ gửi các vị giáo thọ Làng Mai tới hướng dẫn. Một trong những khóa tu có thể là khóa tu 21 ngày dành cho các bạn nam nữ thanh niên đang chuẩn bị kết hôn. Các bạn sẽ được học cách để thành công trong cuộc sống lứa đôi.

Cũng sẽ có những khóa tu dành cho những người nhiễm AIDS hay mắc bệnh ung thư, để họ có thể sống chung an lạc với căn bệnh của mình. Nếu chúng ta biết học cách chấp nhận và sống chung với bệnh tật thì có thể sống thêm được 20 – 30 năm. Cũng sẽ có những khóa học dành cho các doanh nhân, giáo viên, v.v… Chứng chỉ được cấp sẽ giúp các bạn trở thành một vị giáo thọ chính thức. Một ngày nào đó bạn sẽ mong muốn trở thành một vị giáo thọ để đi vào đời giúp mọi người, để tiếp nối sự nghiệp của đức Thế Tôn.

Ngày nay chúng ta dùng danh từ “đạo Bụt ứng dụng”, cũng chỉ là một cách nói khác của “đạo Bụt nhập thế”.

 

 


 

Phiên tả pháp thoại của TS. Nhất Hạnh ngày 6 – 7 tháng 5 năm 2008
tại khách sạn Kim Liên, Hà Nội trong khóa tu cho các thiền sinh Tây phương nhân dịp Đại lễ Phật Đản Quốc Tế Liên Hiệp Quốc 2008.

Xây dựng ngôi nhà tình thương đích thực

Xây dựng ngôi nhà cho chính mình

Mỗi người trong chúng ta đều đang cố gắng đi tìm cho mình một ngôi nhà đích thực. Chúng ta biết rằng ngôi nhà đó đang ở trong ta và với năng lượng chánh niệm, ta có thể trở về mái ấm đích thực của mình ngay trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây. Tăng thân cũng là nhà chúng ta.

Ở Việt Nam, người chồng gọi vợ mình là “nhà tôi” và người vợ cũng gọi chồng mình là “nhà” của cô ấy. “Nhà tôi” có nghĩa là căn nhà của tôi. Khi có người hỏi: “Vợ anh đâu rồi?” người kia sẽ trả lời: “Nhà tôi đang ra bưu điện.” Cũng đã có một vị khách hỏi người vợ: “Ai trang trí nhà bạn mà đẹp quá vậy?” Cô vợ trả lời: “Nhà tôi sửa soạn cái nhà tôi”, điều đó cũng có nghĩa là “chồng tôi đã làm cho ngôi nhà của chúng tôi trở nên đẹp như vậy đó”. Hay khi người chồng gọi vợ: “Nhà mình ơi!” (nhà của tôi), cô vợ sẽ đáp là: “Em đây! Nhà mình ơi.”

Khi quý vị có một mối liên hệ như vậy, nghĩa là người kia là ngôi nhà của quý vị, thì quý vị cũng hãy là một ngôi nhà đích thực cho người đó. Tuy nhiên, trước nhất, quý vị phải là ngôi nhà đích thực cho chính mình thì mới có thể là ngôi nhà cho người thương của quý vị. Và chánh niệm là sự thực tập để có thể là một ngôi nhà đích thực cho chính ta và cho những người ta thương.

Ở Làng Mai, mỗi khi nghe chuông, chúng ta ngừng lại mọi suy nghĩ, nói năng hoặc hành động. Chúng ta để sự chú tâm vào hơi thở vào ra và đọc thầm: “Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe. Tiếng chuông huyền diệu đưa về quê hương.” Ngôi nhà đích thực của ta đang ở trong ta. Ngôi nhà đích thực của chúng ta là bây giờ và ở đây. Vì vậy sự thực tập quay về nhà là điều mà chúng ta làm suốt mỗi ngày, bởi vì trong chúng ta, ai cũng chỉ thấy thoải mái khi được ở trong nhà của mình. Ngôi nhà của chúng ta đang có đó và chúng ta có thể quay về nhà trong mỗi phút mỗi giây. Ngôi nhà của chúng ta phải là một nơi an toàn, thân thương và ấm cúng. Do đó, chính chúng ta phải là người xây dựng nên ngôi nhà của mình bằng những yếu tố đó.

Tuần trước, tôi có ngồi uống trà với một cặp vợ chồng người Anh. Họ đã sống hai tuần ở Làng Mai với quý thầy ở xóm Thượng. Người vợ nói: “Thật lạ. Đây là lần đầu tiên con sống ở một nơi có cả trăm người đàn ông và không có phụ nữ. Vậy mà con cảm thấy rất an toàn ở xóm Thượng. Con chưa bao giờ cảm thấy an toàn như vậy.” Ở xóm Thượng, cô ta là người phụ nữ duy nhất, nhưng cô thấy rất an toàn. Và nơi nào mà cô ta cảm thấy an toàn thì nơi đó là nhà cô ta, bởi vì ngôi nhà phải là nơi mà khi sống trong đó ta cảm thấy an toàn. Vậy, quý vị có phải là một nơi an toàn cho những người thương của quý vị không? Quý vị có đủ vững chãi, mạnh mẽ để bảo vệ cho người thương của mình không?

Người chồng nói: “Hai tuần vừa qua có lẽ là hai tuần tuyệt nhất trong đời con.” Đó chính là nhờ công trình xây dựng tăng thân. Khi quý vị xây dựng một tăng thân thì quý vị cũng đang xây dựng một mái ấm cho chính mình. Ở nơi đó, quý vị cảm thấy như nhà của mình, dễ chịu và an toàn. Nếu quý vị không thấy an toàn trong tự thân thì quý vị không phải là ngôi nhà cho chính mình và không thể là một ngôi nhà cho người thương của quý vị. Đó là lý do tại sao quay trở về với chính mình để tạo nên một nơi an toàn cho mình và cho những người mình thương lại quan trọng đến như vậy.

Nếu quý vị cảm thấy cô đơn, trống vắng, cảm thấy bị mất gốc, đau khổ và cần được trị liệu thì quý vị không thể mong đợi một sự trị liệu bằng việc quan hệ tình dục với người khác. Quan hệ tình dục không thể giúp quý vị trị liệu. Quý vị sẽ gây thêm nhiều đau khổ cho người kia cũng như cho chính quý vị. Trong Giới thứ ba, chúng ta biết rằng tình dục không phải là tình yêu. Và một khi không có tình yêu thì những quan hệ tình dục sẽ mang lại nhiều đau khổ cho quý vị và cho người khác. Cô đơn không thể được giải tỏa bằng dục tình và quý vị không thể trị liệu cho mình bằng cách ấy. Quý vị phải học cách trị liệu cho chính mình, làm thế nào để trong mình được thoải mái và bắt đầu xây dựng ngôi nhà cho chính mình. Như vậy, quý vị mới có cái gì đó để hiến tặng cho người khác. Bên cạnh đó, người kia cũng phải tự trị liệu để thấy khỏe nhẹ, dễ chịu và có thể trở thành ngôi nhà cho quý vị. Nếu không, thì những gì người đó chia sẻ với quý vị chỉ toàn là cô đơn, bệnh hoạn và đau khổ. Điều đó không giúp trị liệu cho quý vị được một chút nào.

Lắng nghe nỗi khổ niềm đau trong tự thân

Có ba loại quan hệ. Thứ nhất là quan hệ về thân thể và tình dục. Thứ hai là quan hệ tình cảm và thứ ba là quan hệ tâm linh. Quan hệ tình dục không thể tách rời khỏi quan hệ tình cảm. Chúng đi đôi với nhau. Và nếu quan hệ tâm linh có mặt thì những quan hệ về thân thể và tình dục sẽ trở nên ý nghĩa, lành mạnh và có tác dụng trị liệu. Ngược lại, sẽ đưa đến tàn hoại.

Mỗi người trong chúng ta đều đang đi tìm kiếm những mối quan hệ tình cảm. Chúng ta muốn hiểu nhau, muốn có truyền thông thực sự và muốn trao đổi tâm tư tình cảm cho nhau. Dưới ánh sáng của sự thực tập đạo Bụt, chúng ta phải lắng nghe nỗi đau khổ của chính mình. Có những đau khổ bên trong quý vị và những đau khổ trong lòng người kia. Nếu không lắng nghe nỗi khổ đau của chính mình, quý vị sẽ không hiểu được nó và quý vị sẽ không có từ bi với chính mình. Trong khi đó từ bi là yếu tố giúp quý vị trị liệu.

Điều đầu tiên Bụt dạy là những đau khổ bên trong. Nhiều người trong chúng ta thường hay sợ hãi. Chúng ta không muốn quay về với chính mình vì ta tin rằng quay về với chính mình ta sẽ phải đối đầu với khối phiền não nội tại của ta và bị nhận chìm trong ấy. Thay vào đó, chúng ta cố khỏa lấp bằng việc tiêu thụ. Chúng ta tiêu thụ thức ăn, âm nhạc và rất nhiều thứ khác, trong đó có tình dục. Thế nhưng những điều ấy chẳng giúp ích được gì cho ta. Vì vậy Bụt dạy chúng ta phải dũng cảm quay về nhà của mình, để nhận diện và lắng nghe một cách sâu sắc những đau khổ trong ta. Chúng ta có thể sử dụng năng lượng chánh niệm được chế tác bằng những hơi thở và bước chân có ý thức, để nhẹ nhàng ôm ấp những đau khổ đó: “Nỗi đau của tôi ơi, tôi biết em đang có đó. Tôi đang ở đây và tôi sẽ chăm sóc cho em.”

Có những lúc chúng ta đau khổ mà không hiểu được bản chất của những nỗi khổ đó. Tổ tiên, cha mẹ ta có lẽ đã không thể chuyển hóa được những nỗi khổ niềm đau của họ nên đã trao truyền nó lại cho ta. Giờ đây, chúng ta đã có cơ may gặp được Pháp Bụt, chúng ta có cơ hội để nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa cho chính ta và cho cả tổ tiên, ông bà, cha mẹ ta: “Kính lạy liệt vị tổ tiên, ông bà, cha mẹ, con đã tiếp nhận những đau khổ này từ liệt vị. Giờ đây, con có giáo pháp, con có các pháp môn thực tập. Con sẽ học hỏi để nhận diện những đau khổ đã được trao truyền cho con và con sẽ cố gắng chấp nhận, chuyển hóa nó bằng tình thương yêu.” Quý vị có thể làm điều đó vì tình thương. Quý vị làm cho cha mẹ, cho tổ tiên, bởi vì quý vị cũng chính là tổ tiên của quý vị.

Theo giáo lý Tứ Diệu Đế, chúng ta sẽ không hiểu được gốc rễ khổ đau nếu chúng ta không biết lắng nghe nỗi khổ niềm đau, không biết nhìn sâu và ôm ấp nỗi khổ niềm đau một cách nhẹ nhàng bằng năng lượng chánh niệm. Khi bắt đầu hiểu được gốc rễ của khổ đau thì tự nhiên năng lượng từ bi, hiểu biết sẽ phát khởi. Từ bi và hiểu biết có công năng trị liệu. Ôm ấp và lắng nghe khổ đau sẽ mang lại cho chúng ta nhiều hiểu biết và từ bi. Khi cam lộ của từ bi ứa ra, chúng ta sẽ thấy ít đau khổ và ít cô độc hơn. Chúng ta bắt đầu thấy ấm áp trong lòng và có thể bắt đầu xây dựng một ngôi nhà cho chính mình. Bụt khuyên chúng ta nên xây dựng cho chính mình một ngôi nhà, một hải đảo tự thân. Hãy là hải đảo cho chính mình. Quý vị sẽ cảm thấy thoải mái, ấm áp và có thể trở thành một nơi nương tựa cho người khác.

Một khi đã hiểu được những nỗi khổ niềm đau, hiểu được sự cô đơn của chính mình, quý vị sẽ thấy nhẹ nhàng hơn và có thể lắng nghe nỗi khổ niềm đau của những người khác. Nỗi đau khổ của ta mang trong nó những đau khổ của tổ tiên, của thế giới và của xã hội. Tương tức có nghĩa là đau khổ của tôi có trong đau khổ của quý vị và ngược lại, những đau khổ của quý vị cũng có trong những đau khổ của tôi. Đó là lý do tại sao khi tôi hiểu được những đau khổ của tôi thì tôi dễ dàng hiểu được những đau khổ của quý vị. Khi chúng ta hiểu được nỗi đau khổ của ai đó thì đó là một món quà lớn mà chúng ta có thể hiến tặng cho người đó. Người kia sẽ cảm thấy đây là lần đầu tiên mình được hiểu. Hiến tặng sự hiểu biết, cảm thông có nghĩa là hiến tặng tình thương. Tuy nhiên, chúng ta không thể hiểu được một người nào khác trong khi chưa hiểu được bản thân mình. Xây dựng ngôi nhà phải bắt đầu với chính quý vị. Và người thương của quý vị cũng xây dựng một ngôi nhà bên trong người đó. Như vậy, quý vị có thể gọi cô ta là nhà mình và cô ta cũng gọi quý vị là nhà của cô ta.

Ở Xóm Thượng, chúng ta xây dựng tăng thân như xây nhà cho mình. Quý vị cũng xây dựng gia đình quý vị như một tăng thân, bởi vì “tăng thân” đơn giản nghĩa là “một cộng đồng, một đoàn thể”. Xây dựng tăng thân là một nhiệm vụ cao đẹp. Sau khi Bụt giác ngộ, điều đầu tiên Ngài dạy chúng ta là tìm kiếm những yếu tố để xây dựng tăng thân. Tăng thân là nơi nương tựa cho chính chúng ta và cho rất nhiều người.

Vì vậy, chúng ta hãy trở về nhà, lắng nghe những đau khổ trong thân tâm ta. Ôm ấp những nỗi khổ, niềm đau, sự cô đơn của mình bằng năng lượng chánh niệm. Tuệ giác đó sẽ giúp chuyển hóa những đau khổ trong ta. Chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng hơn và bắt đầu cảm nhận được một sự ấm áp, bình an nội tâm. Rồi khi có một người đến với ta để xây dựng tổ ấm, ta sẽ có đồng minh. Ta sẽ giúp người đó và người đó cũng giúp ta. Cả hai cùng có được một tổ ấm. Ta có một ngôi nhà trong tự thân ta. Ta cũng có một ngôi nhà trong người kia. Nếu không thiết lập được mối liên hệ tình cảm mật thiết đó thì quan hệ tình dục có thể gây ra nhiều thảm họa. Đó là lý do tại sao trước đó tôi nói quan hệ thân thể và tình dục không thể tách rời khỏi quan hệ tình cảm.

Mối liên hệ giữa tâm linh và tình cảm

Giữa tâm linh và tình cảm có một sự liên kết chặt chẽ với nhau. Tâm linh không chỉ là đức tin về một giáo pháp nào đó mà là sự thực tập. Thực tập luôn mang lại sự khỏe nhẹ, truyền thông và chuyển hóa. Mỗi người cần có một đường hướng tâm linh trong cuộc sống của mình. Không có hướng đi tâm linh trong cuộc đời, chúng ta không thể xử lý được những khó khăn gặp phải. Chúng ta phải biết sống một đời sống tâm linh, một đời sống có giáo pháp. Chúng ta phải học cách đưa giáo pháp vào sự thực tập. Và với cách thức thực tập đó, chúng ta có thể giải quyết được những khó khăn mà ta gặp phải trong đời sống hàng ngày.

Sự thực tập tâm linh có thể giúp quý vị rất nhiều trong việc đối trị những cảm xúc của mình, giúp quý vị lắng nghe, ôm ấp những đau khổ của chính mình cũng như nhận diện và ôm ấp nỗi khổ niềm đau của người khác. Vì vậy hai loại quan hệ (tình cảm và tâm linh) này tương tức nhau. Quý vị phải biết cách chăm sóc những cơn cảm xúc mạnh như giận dữ, lo sợ hay tuyệt vọng. Từ đó quý vị sẽ có nhiều an lạc hơn trong tự thân. Sự thực tập tâm linh giúp quý vị xây dựng một ngôi nhà cho chính quý vị, cho lợi ích của quý vị và lợi ích của người khác. Cho nên quan hệ tình cảm không thể tách rời quan hệ tâm linh. Cả ba loại quan hệ này đều tương tức với nhau.

Tình dục và tình yêu

Tình dục mà không có tình yêu gọi là “tình dục rỗng” (empty sex). Tình dục rỗng rất phổ biến trong xã hội chúng ta và là nguyên nhân gây nên nhiều đau khổ cho giới trẻ. Nếu quý vị là giáo viên, là các bậc làm cha mẹ, quý vị phải giúp cho con em và sinh viên của mình tránh khỏi tình trạng “tình dục rỗng” này. “Tình dục rỗng” đang mang lại nhiều tàn hại cho thân tâm chúng. Và thảm kịch sẽ còn lan rộng cho đến về sau dưới dạng trầm cảm, rối loạn tâm thần, tự tử… Nhiều người trẻ không thấy được sự liên hệ mật thiết giữa “tình dục rỗng” với những rối loạn về tâm sinh lý trong họ.

Những gì xảy ra cho thân thể đều ảnh hưởng đến tâm lý và ngược lại. Tâm dựa vào thân để biểu hiện và thân phải dựa vào tâm để tồn tại, để thực sự là một thân thể sống. Khi thương một người nào đó, không phải quý vị chỉ kính trọng tâm tư người đó mà còn phải kính trọng cả thân thể họ. Quý vị kính trọng thân thể mình và kính trọng thân thể của người kia. Tình yêu thương đích thực phải có bản chất của sự tôn kính. Trong truyền thống Á Đông, quý vị phải đối đãi với vị hôn thê của mình một cách trân trọng, giống như một vị khách quý. Và để tôn trọng người kia, quý vị phải tôn trọng chính mình trước. Tôn kính là bản chất của tình yêu thương.

Ở Việt Nam, cha mẹ thường tự hào giới thiệu con mình với những người khách đến chơi và khách thường hỏi: “Con có thương ba mẹ con không?” Đứa con sẽ trả lời: “Dạ có, con thương ba mẹ con lắm.” Người khách sẽ hỏi tiếp: “Thương ba mẹ, con để ở đâu?” Đứa trẻ sẽ trả lời rằng: “Dạ, thương ba mẹ, con để trên đầu.” Không phải “trong tim” mà là “trên đầu”. Khi một vị tu sĩ đắp y vàng cho một buổi lễ, người đó sẽ nâng chiếc y trong tay một cách trân kỉnh, tương tự như khi cầm một quyển kinh. Nếu quý vị đến gần để xá chào họ mà họ không tìm thấy một nơi nào cao ráo sạch sẽ để đặt chiếc y xuống thì họ sẽ đặt nó lên đầu, bởi vì đó là một nơi cao quý. Giống như cái bàn thờ vậy. Vì vậy trong phong tục tập quán của người Việt, quý vị không được sờ lên đầu người khác nếu quý vị không biết rõ về người đó. Đầu là một trong những nơi linh thiêng của thân thể, là nơi để thờ tổ tiên và thờ Bụt.

Có những bộ phận khác của thân thể cũng linh thiêng mà quý vị không được chạm tới. Cũng giống như trong Thành Nội có Tử Cấm Thành là nơi mà gia đình hoàng tộc đang ở. Quý vị không được đến những nơi đó. Nếu xâm phạm, quý vị sẽ bị bắt và bị chém đầu. Tương tự như vậy, trên cơ thể con người, có những vùng mà quý vị không được phép chạm đến. Nếu quý vị không tôn trọng, nếu quý vị chạm đến phần thân thể đó thì có nghĩa là quý vị đang xâm nhập vào Tử Cấm Thành. Khi một đứa trẻ bị lạm dụng tình dục, nó sẽ đau khổ cùng cực. Người đó đã xâm phạm đến Tử Cấm Thành của nó và nó không đủ khả năng để tự vệ. Có những đứa trẻ đã bị lạm dụng ở tuổi lên tám, lên chín hoặc lên mười và chúng cực kỳ đau khổ. Chúng trách móc cha mẹ đã không bảo vệ chúng và những liên hệ của chúng với cha mẹ trở nên rất khó khăn. Kế đó là những mối liên hệ với bạn bè và người yêu trong tương lai của chúng cũng sẽ rất khó khăn. Những vết thương sẽ cứ còn đó hoài.

Tình trạng lạm dụng tình dục ở trẻ em đang tràn ngập khắp nơi. Ở Mỹ, có 5 đến 15% bé trai và 15 đến 35% bé gái bị lạm dụng tình dục. Như vậy là quá nhiều. Khi một đứa trẻ bị lạm dụng như vậy, nó sẽ đau khổ suốt đời, bởi vì nó thấy thân thể nó đã không được tôn trọng.

Trong gia đình và trường học, chúng ta cần dạy cho những đứa trẻ biết kính trọng chính mình, biết kính trọng thân thể mình và kính trọng thân thể của người khác. Nếu là một nhà lãnh đạo tâm linh, là một chính trị gia, là phụ huynh, là giáo viên hoặc nhà giáo dục, xin quý vị hãy quan tâm về điều này. Chúng ta có thể học những lời Bụt dạy để tổ chức đời sống của mình trong gia đình, trường học và xã hội như thế nào mà ta được bảo hộ và con em chúng ta cũng luôn luôn được bảo hộ.

Bạn chỉ đẹp khi là chính mình (Be beautiful, be yourself)

Triển lãm thư pháp ABC New York 2013 (2).jpg

Như chúng ta đã nói ở trước rằng thú vui nhục dục, sự ham muốn dục tình, không phải là tình yêu, thế nhưng xã hội đã tạo nên một cách sống mà người ta thấy rằng thú vui nhục dục trở thành quan trọng nhất. Để bán được những sản phẩm của mình, các công ty kinh doanh thường chế ra những mẫu quảng cáo làm tưới tẩm những hạt giống thèm khát trong con người. Họ muốn ta phải tiêu thụ, vì vậy trong ta càng ngày càng tăng trưởng thêm sự thèm muốn về thú vui nhục dục. Và chính những thú vui này sẽ hủy hoại chúng ta. Cái chúng ta cần không phải là tình dục mà là tình thương, hiểu biết, cảm thông, tin tưởng, những liên hệ mật thiết về tình cảm và tâm linh. Tuy nhiên, chúng ta không có cơ hội đáp ứng được những nhu cầu sâu sắc đó trong ta.

Những tạp chí thời trang phụ nữ nói rằng, để được thành công, quý vị phải có một dáng vẻ như thế này và phải sử dụng những loại sản phẩm như thế kia. Do vậy, nhiều người trẻ trong xã hội phải tìm đến giải phẫu thẩm mỹ để đạt được tiêu chuẩn đẹp đó. Họ rất đau khổ vì không thể chấp nhận được thân thể mình. Nếu không chấp nhận được thân thể mình thì quý vị không phải là ngôi nhà đích thực cho quý vị. Mỗi đứa trẻ đã được sinh ra như một bông hoa trong vườn hoa nhân loại. Thân thể quý vị cũng là một bông hoa và không có bông hoa nào giống bông hoa nào. Thở vào, tôi thấy tôi là một bông hoa. Thở ra, tôi thấy tôi tươi mát. Nếu quý vị có khả năng chấp nhận thân thể mình thì quý vị có cơ hội để thấy được thân thể mình là một ngôi nhà. Nếu quý vị không chấp nhận thân thể mình thì quý vị không thể có được một ngôi nhà. Nếu quý vị không thể chấp nhận được tâm tư của mình thì quý vị cũng không thể là ngôi nhà cho chính mình. Có rất nhiều người trẻ không chấp nhận được thân thể họ, không chấp nhận được chính họ, họ muốn trở thành một ai khác. Chúng ta phải nói với những người trẻ rằng là họ vốn như vậy đã đẹp rồi, không cần phải là một ai khác.

Thầy có câu thư pháp: Be beautiful, be yourself (“Bạn chỉ đẹp khi là chính mình”). Đây là một sự thực tập rất quan trọng. Chúng ta phải chấp nhận mình như chính mình. Thực tập xây dựng ngôi nhà trong tự thân, chúng ta sẽ trở nên càng ngày càng đẹp hơn. Chúng ta có an lạc, có nhiệt huyết, có niềm vui. Chúng ta sẽ thấy, ngay trong tự thân chúng ta đã rất tuyệt diệu rồi. Và người khác sẽ nhận ra được vẻ đẹp của bông hoa mình.

Chánh niệm là một loại năng lượng có thể giúp quý vị trở về ngôi nhà của chính mình, an trú trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây. Vì thế, quý vị biết được những gì nên làm và những gì không nên làm để giữ gìn, bảo hộ chính mình, để xây dựng ngôi nhà đích thực cho chính mình, để chuyển hóa phiền não và để làm nơi nương tựa cho những người khác. Năm giới là con đường thực tập chánh niệm rất cụ thể. Trong truyền thống đạo Bụt, chất thánh được chế tác từ chánh niệm. Chánh niệm mang trong nó năng lượng của định và tuệ. Niệm, định và tuệ tạo nên con người thánh thiện trong quý vị.

Sự thánh thiện không chỉ có trong cuộc sống độc thân. Có những người sống độc thân nhưng không có chất thánh trong họ, bởi vì họ không có đủ niệm, định và tuệ. Ngược lại, có những người sống đời sống vợ chồng nhưng nếu họ có niệm, định và tuệ thì họ có được những yếu tố thánh thiện. Liên hệ tình dục có thể rất đẹp nếu trong đó có niệm, định, tuệ, có tình yêu thương và sự hiểu biết lẫn nhau. Ngược lại, nó sẽ gây ra rất nhiều tai hại. Trong kinh kể rằng khi hoàng hậu Mahamaya mang thai Bụt, bà nằm mơ thấy một con voi trắng, mang trên cái vòi của nó một đóa sen. Con voi dùng đóa sen chạm vào người bà và từ từ đi vào bụng bà một cách rất, rất nhẹ nhàng. Sau đó bà mang thai Siddhartha. Đó là cách người ta miêu tả về sự liên hệ tình dục, trong cung điện, trước khi Siddhartha được tượng hình: rất nhẹ nhàng và rất đẹp. Nếu không có sự đồng cảm, không có sự hiểu biết, không chia sẻ được về tâm tư tình cảm thì không nên có quan hệ tình dục. Ngược lại, khi những yếu tố này có mặt thì quan hệ thân xác và tình dục có thể trở nên thánh thiện.

Theo truyền thống đạo Bụt thì người tu sĩ luôn thực tập dễ dàng hơn người cư sĩ. Tục ngữ Việt Nam có câu: Khó nhất tu chợ, khó nhì tu nhà, khó ba tu chùa. Vì thế, không quan hệ tình dục thì dễ hơn nhiều so với có quan hệ tình dục. Để mối quan hệ tình dục có được sự hiểu biết, cảm thông và thương yêu, quý vị cần thực tập rất nhiều. Nếu không sẽ gây ra rất nhiều đau khổ cho người kia và cho chính quý vị.

Có một nữ bác sĩ người Thụy Sĩ đến thực tập ở Làng Mai. Cô ta đã đau khổ mấy lần vì những mối liên hệ của mình. Khi còn trẻ, mỗi khi có người đàn ông nào đến đề nghị quan hệ tình dục với cô, cô đều đồng ý chấp nhận cho dù cô thấy không sẵn sàng, bởi vì cô sợ. Rất nhiều người trẻ vị thành niên trong thời đại chúng ta rơi vào tình trạng đó. Chúng không thích, không muốn và chưa thấy sẵn sàng nhưng chúng không đủ can đảm để từ chối, bởi vì chúng sợ người ta xem chúng là những người không tự nhiên, không bình thường. Chúng không muốn bị chối bỏ. Chúng muốn được chấp nhận. Đây là vấn đề tâm lý mà các bậc cha mẹ và các thầy cô giáo phải ý thức đến. Chúng ta phải nói với giới trẻ rằng chúng phải học cách từ chối khi chúng chưa sẵn sàng hoặc khi chúng sợ hãi. Nếu không, chúng sẽ tự tàn phá thân tâm mình. Hãy lắng nghe những người trẻ, hãy từ bi với chúng và giúp đỡ chúng. Chúng ta phải giúp con em mình tìm ra cách khéo léo để từ chối.

Khi đến Làng Mai, cô bác sĩ đó được học những cách từ chối khéo léo. Và trong mối liên hệ gần đây nhất, cô ta đã có khả năng từ chối. Cô nói: “Em cần anh, em cần sự có mặt của anh. Em cần ai đó giúp em và hiểu em khi em gặp những khó khăn. Chúng ta cần hiểu nhau.” Họ đã sống với nhau một năm rưỡi mà không có quan hệ tình dục. Và khi chúng tôi đến nước cô ta để giảng dạy, cô đã rất tự hào giới thiệu chồng cô ta với chúng tôi. Mối liên hệ của họ rất tuyệt vời, rất thành công, bởi vì cô ta đã có khả năng từ chối cho đến khi cô ta thấy sẵn sàng và cùng với nhau họ có thể xây dựng một mối quan hệ bền vững lâu dài.

Pháp thoại Giáng Sinh, 26.12.2010 – Sr. Duyệt Nghiêm chuyển ngữ)=
Nguồn: “”Make a True Home of Your Love” edited by Barbara Casey – Mindfulness Bell.

Chiếc đũa thần chánh niệm


 

Trong bài thuyết pháp đầu tiên của Bụt tại Vườn Nai có nói tới Tứ Đế và Bát Chánh Đạo. Tứ Đế và Bát Chánh Đạo là giáo lý căn bản. Nhiều khi chúng ta nghĩ rằng mình đã hiểu được giáo lý Bốn Sự Thật và Tám Phép Hành Trì Chân Chính, nhưng càng hành trì thì cái hiểu của chúng ta càng sâu hơn. Mình đừng bao giờ nên cho rằng mình đã hiểu đầy đủ.

Khổ đau là chất liệu của hạnh phúc

Mình có thể hiểu giáo lý Bốn Sự Thật (khổ, tập, diệt, đạo) một cách sâu hơn. Đức Thế Tôn bắt đầu bằng sự thật về khổ đau tại vì Ngài muốn bàn tới những chuyện rất thực tế: Có những khổ đau ở trong mình và chung quanh mình. Khổ là ngược lại với vui, mình nhận ra khổ đau tại vì mình so sánh nó với hạnh phúc. Sự thật thứ ba (diệt) là sự vắng mặt của khổ tức khổ diệt, mà sự vắng mặt của khổ là sự có mặt của hạnh phúc.

Khi giảng về Tứ Đế Bụt không chỉ nói tới khổ mà còn nói tới lạc. Mình nhận ra lạc là nhờ mình so sánh nó với khổ cũng như bên trái mà bên phải, không có bên trái thì không có bên phải. Có lạc là có khổ, công nhận có khổ thì đồng thời mình cũng công nhận có lạc, chỉ có khổ mà không có lạc là chuyện không hợp lý. Nếu công nhận có tay trái thì đồng thời mình cũng công nhận có tay phải. Công nhận sự có mặt của khổ thì đồng thời cũng công nhận sự có mặt của lạc.

Chúng ta thường rất ngây thơ, muốn đi tìm một chỗ chỉ có lạc mà không có khổ. Tìm một chỗ chỉ có tay phải mà không có tay trái, chỉ có trên mà không có dưới thì làm sao có? Vậy mà hầu hết chúng ta đều mơ ước tìm tới một chỗ chỉ có hạnh phúc mà không có khổ đau.

Ngày xưa có một em bé nói: Con muốn tới ở chỗ nào mà buổi sáng có hạnh phúc, buổi trưa cũng có hạnh phúc, buổi chiều cũng có hạnh phúc. Em bé đó về sau đi xuất gia và trở thành sư cô Nho Nghiêm. Những người theo đạo Chúa nghĩ rằng Thiên quốc là một chỗ hoàn toàn không có khổ mà chỉ có lạc. Những người cầu sinh Tịnh độ nghĩ rằng cõi của Đức A Di Đà không có khổ tại vì có một câu kinh chứng minh điều đó: “Này Xá Lợi Phất, đất nước ấy vì sao có tên là Cực Lạc? Bởi vì dân chúng trong nước ấy không biết khổ là gì, chỉ hưởng thụ mọi thứ an lạc, cho nên cõi ấy được gọi là Cực Lạc”. Tưởng tượng rằng có một cõi mà nơi đó chỉ có hạnh phúc không có khổ đau là một tri giác sai lầm gọi là tà kiến. Sự thật là hễ có trái là có phải, không có trái thì không có phải. Mình được nghe nhiều lần rằng chính với chất liệu của khổ đau mà mình làm ra an lạc. Nhờ có bùn mà nuôi lớn hoa sen. Mình biết đau khổ đóng một vai trò nào đó trong sự tạo dựng hạnh phúc. Đau khổ là chất liệu cần thiết để tạo dựng hạnh phúc cũng như bùn là chất liệu cần thiết để làm ra hoa sen. Trong một bài giảng tôi có nói tôi không muốn gửi con cháu, đệ tử của tôi tới một chỗ không có khổ đau. Tôi không tin có một cõi như vậy, nhưng giả dụ có cõi đó đi nữa thì tôi cũng không muốn gửi con cháu, đệ tử của tôi tới đó tại vì tôi biết ở đó các đệ tử và con cháu của tôi sẽ không có cơ hội lớn lên. Sống trong khổ đau người ta mới tìm hiểu khổ đau, có hiểu rồi mới có thương. Không có hiểu, không có thương thì không có hạnh phúc. Vì vậy tôi biết nơi đó không phải là cõi hạnh phúc dù cho đó là Thiên quốc cũng như tôi biết chỗ nào không có bùn thì chắc chắn nơi đó không có sen. Tư tưởng Thiên quốc hay Cực lạc là một chỗ không có khổ đau, chỉ có toàn hạnh phúc, trong đạo Bụt gọi đó là một tà kiến.

Chế tác hạnh phúc

Là những người thực tập mình phải có khả năng đối diện với khổ, phải chuyển hóa khổ đau và chế tác hạnh phúc. Mình đừng nên nghĩ là mình giỏi đến độ có thể làm cho khổ đau hoàn toàn vắng mặt chỉ còn lại hạnh phúc đứng một mình. Chỉ có hạnh phúc đứng một mình là chuyện không thể có. Trong sự sống phải có khổ đau, bất cứ ở đâu hễ có sự sống là có khổ đau, ở Thiên quốc hay ở Cực lạc cũng vậy. Nhưng người tu thì không sợ hãi khổ đau, người tu biết xử lý khổ đau và tạo dựng hạnh phúc từ những khổ đau đó. Người tu không có vọng tưởng lấy hết khổ đau đi để còn lại chỉ toàn hạnh phúc. Mình phải có chánh kiến đối với vấn đề khổ đau và hạnh phúc, đó là chính khổ đau làm ra hạnh phúc. Nếu không biết cách duy trì thì hạnh phúc sẽ biến thành khổ đau giống như hoa và rác. Tu là một nghệ thuật giúp mình chuyển khổ đau thành hạnh phúc và khi hạnh phúc trở thành khổ đau thì mình có thể chuyển nó thành hạnh phúc trở lại. Mình sử dụng những chất liệu khổ đau để tạo dựng hạnh phúc. Hạnh phúc cũng vô thường như khổ đau. Người tu không mong ước chỉ có hạnh phúc mà không có khổ đau. Người tu mong ước mình có đủ khả năng để có thể chuyển hóa khổ đau khi hạnh phúc trở thành khổ đau.

Trong năm uẩn có cảm thọ:  khổ thọ  (苦 壽), lạc thọ (樂 壽) và xả thọ (捨 壽). Xả thọ là cảm thọ không khó chịu cũng không dễ chịu. Trong quá trình tu tập mình khám phá ra xả thọ là một cảm thọ rất ngộ nghĩnh. Xả thọ là cảm giác trung tính, nhưng bằng kinh nghiệm mình tìm ra rằng nếu mình chạm vào xả thọ với chánh niệm thì xả thọ có thể trở thành lạc thọ. Ví dụ mình đang ngồi dưới gốc một cây cổ thụ, không có tin vui mà cũng không có tin buồn. Một người bạn hỏi:
–          Anh làm gì đó?
–          Tôi không làm gì cả.
–          Có gì đặc biệt không?
–          Thường thôi,  không vui cũng không buồn.
Người bạn nói:
–          Anh có biết không, gốc cây anh đang ngồi rất mát. Ngồi đó nhìn lên anh thấy trời xanh mây trắng. Hiện bây giờ bên Nga đang rất nóng đã có nhiều người chết ở đó. Anh đang ngồi dưới gốc cây tận hưởng không khí mát mẻ. Đó là một điều rất mầu nhiệm!
Đó là ý thức, là chánh niệm mà người bạn đem tới và tự nhiên mình thấy cảm thọ trung tính kia trở thành lạc thọ. Ngón tay của chánh niệm giống như chiếc đũa thần của nàng tiên chấm vào, biến áo quần sơ mướp của cô Tấm thành xiêm y lộng lẫy. Đũa chánh niệm có phép thần thông, người tu dùng đũa chánh niệm điểm vào, biến xả thọ trở thành lạc thọ. Làng Mai nói chánh niệm là một nguồn suối của hạnh phúc. Chuyện này không khó, ai cũng có thể làm được và lúc nào cũng có thể làm được. Ngồi trên bờ sông cảm thọ mà quán sát chúng ta thấy thường là ta có chừng 10% khổ thọ, 5% lạc thọ và 85% xả thọ. Với chiếc đũa chánh niệm mình biến 85% xả thọ trở thành lạc thọ. Chúng ta ai cũng đã từng làm được việc đó, nhưng có điều chúng ta không tiếp tục, không được khuyến khích, nâng đỡ để làm việc đó. Ai cũng có khả năng nhận diện được điều kiện hạnh phúc hiện đang có mặt, không cần đi tìm trong tương lai. Trong dòng sông cảm thọ của ta, đa số là cảm thọ trung tính, nếu biết dùng chiếc đũa thần mình sẽ biến cảm thọ trung tính thành lạc thọ nuôi dưỡng và trị liệu cho mình.

Sống trong tăng thân, người nào cũng nên có một chiếc đũa thần. Mình lấy đũa thần chạm vào người kia cho họ có hạnh phúc. Kỹ thuật sử dụng là sự đối chiếu, mình thấy rất rõ khi đem cảm thọ đó đối chiếu với cảm thọ khác. Ví dụ sáng hôm nay mình đang đi thiền hành trong thiền đường Hội Ngàn Sao và đột nhiên mình nhớ tới thiền đường Cánh Đại Bàng. Cánh Đại Bàng bây giờ không còn nữa, mình đã bao nhiêu lần mong ước được trở về đi trên sàn của thiền đường Cánh Đại Bàng. Nhưng hiện giờ mình đang đi trên sàn của thiền đường Hội Ngàn Sao. Sàn này cũng rất mầu nhiệm, mỗi bước chân đặt lên sàn cũng có thể đem lại cho mình hỷ lạc cũng như ngày xưa mình đã từng cảm thấy hỷ lạc khi bước lên sàn của thiền đường Cánh Đại Bàng. Tùy theo cách sư cô bước mà bước chân đó có hỷ lạc hay không. Đem bối cảnh của Bát Nhã tới để so sánh, mình nhận ra rằng được an tịnh, cùng chị em bước đi trong thiền đường mà không có sự đe dọa, truy bức, đập phá của những người quá khích là một hạnh phúc rất lớn, nghĩ như vậy thì tự nhiên mỗi bước chân có hỷ lạc liền. Cũng bước chân đó, cũng sàn gỗ đó nhưng có chiếc đũa chánh niệm chạm vào thì có hỷ và lạc. Chánh niệm là nhớ lại những lúc mình không có tự do, không có thanh thản, hạnh phúc để trân quý sự thanh thản, hạnh phúc hiện giờ mình đang có.

Trong Lá thư Làng Mai số 33, thầy Pháp Hữu có viết một bài về quá trình xây dựng thiền đường Nước Tĩnh ở Xóm Thượng. Lúc đang xây cất tôi cũng có mặt chứng kiến các thầy, các sư chú và lâu lâu cũng có các sư cô tới làm việc chung. Tôi nhớ rất rõ, mỗi ngày diện tích sàn thiền đường được lát gỗ tăng lên, cho tới hôm được ngồi nghe pháp thoại trong thiền đường lần đầu tiên thì hạnh phúc của đại chúng lớn vô cùng, nhất là mình biết rằng cả thiền đường là do các anh chị em mình làm ra.

Sáng nay đi trên con đường lát gạch từ thiền đường về Cốc Ngồi Yên, tôi thấy rất rõ những viên gạch đó do các thầy, các sư chú, các sư cô lót chung. Không ai biết viên gạch nào là của thầy nào hay sư chú, sư cô nào lót. Nhưng mình biết trong đó có tình anh chị em, có niềm vui khi ngồi làm việc với nhau. Nếu có chánh niệm mình nhớ lại lúc mình chưa có con đường đó thì tự nhiên hạnh phúc trào dâng lên. Hỷ và lạc là cái mình có thể chế tác rất dễ. Con đường còn đó và sẽ còn lâu dài cho mình đi những bước chân chậm rãi, những bước chân chế tác được hỷ và lạc. Mình cần được nuôi dưỡng bằng hỷ và lạc để có đủ sức giúp đời, giúp người.

Tôi đề nghị Xóm Hạ và Xóm Mới cũng nên làm những con đường gạch và mời các xóm khác tới làm chung. Khi bước đi trên con đường đó mình biết đây là do sư anh, sư chị, sư em của mình lót gạch. Những bước chân sẽ làm cho trái tim mình ngập tràn tình thương.

Hàng ngày, mỗi sớm mai hay mỗi chiều hôm mình đều đi từ tăng xá tới thiền đường để ngồi thiền, mình đã có biết bao nhiêu là cơ hội bước đi trên con đường đó. Buổi sáng, buổi trưa, buổi tối, mình bước những bước chân thảnh thơi, ý thức và nuôi dưỡng. Mình có rất nhiều cơ hội để chế tác hạnh phúc, niềm vui, chế tác tình anh chị em. Đó chính là chánh niệm. Chánh niệm là trái tim của sự thực tập. Có niệm là có định, có hạnh phúc. Niệm và định đưa tới tuệ và có tuệ thì hạnh phúc càng lớn hơn nữa.

Chữ niệm trước tiên có nghĩa là nhớ lại, đem tâm trở về giây phút hiện tại để tiếp xúc được với giây phút hiện tại và đồng thời cũng tiếp xúc được với giây phút hiện tại trong bối cảnh của quá khứ. Nhiều khi hạnh phúc có đó nhưng mình không nhận diện được. Cái khổ và cái vui chỉ được nhận diện khi có sự so sánh với nhau. Trong bối cảnh của khổ đau mình nhận diện được hạnh phúc dễ dàng. Dù có nhiều điều kiện hạnh phúc mà không có niệm thì cũng như không có. Sự thật thứ nhất (khổ) và sự thật thứ ba (lạc) có liên hệ với nhau rất mật thiết. Không có khổ thì không có lạc, vì vậy mình đừng nên có tư tưởng sai lầm là phải xóa hết dấu vết của khổ đau đi thì mới có hạnh phúc. Đó là một nhận thức sai lầm gọi là tà kiến. Mình phải học lại Tứ Diệu Đế, đừng nghĩ rằng phải đá cái khổ đi ngàn dặm và chỉ giữ lại cái lạc. Không có cái khổ thì đố anh có cái lạc! Người tu là người khéo léo sử dụng cái khổ để làm thành cái lạc. Với đau khổ các anh, các chị có thể chế tác ra hỷ và lạc để nuôi mình và giúp cho thế giới. Đó là cái nhìn bất nhị của đạo Bụt về khổ (duhkha) và lạc (sukha).

Mình nên pháp đàm, chiêm nghiệm để viết một bài về sự thực tập: Tôi chế tác hỷ lạc như thế nào? Là người tu có nghệ thuật, tôi có thể chế tác hỷ lạc trong đời sống hàng ngày và giúp cho bạn tu cũng chế tác được hỷ lạc như tôi. Hạnh phúc và khổ đau tùy ở tâm mình chứ không phải do hoàn cảnh bên ngoài. Nếu có pháp môn, có phương pháp thực tập thì trong bất cứ hoàn cảnh nào mình cũng có thể chuyển hóa khổ đau và chế tác hạnh phúc.

Nếu có hứng quí vị có thể viết cho tôi một bài ngắn “Con đã chế tác hỷ lạc như thế nào.” Quí vị chắc chắn dùng chánh niệm, nhưng cũng phải dùng phương pháp tương phản: đem khổ đau lên nhận diện để thấy rõ hơn hạnh phúc mà mình đang có. Khổ đau rất cần thiết cho sự thực tập của chúng ta.

Thầy Làng Mai giảng ngày 09-01-2011 trong khóa An cư kiết Đông

Con người ý thức và Pháp thân

Phật thân

Pháp thân (dharmakaya) là một trong ba thân: Phật thân (Buddhakaya), Pháp thân (Dharmakaya) và Tăng thân (Sanghakaya). Đức Thế Tôn có Phật thân, Pháp thân và Tăng thân. Nhưng không chỉ riêng gì Đức Thế Tôn, chúng ta ai cũng có thể có ba thân, mỗi người chúng ta đều có Phật thân, nhưng Phật thân của ta chưa biểu lộ được một cách toàn vẹn. Phật có nghĩa là sự tỉnh thức, là sự hiểu biết lớn và tình thương lớn. Chúng ta đã có hạt giống của tỉnh thức, của tình yêu và hiểu biết trong ta rồi. Nhưng trong đời sống hàng ngày có nhiều lo lắng, giận dữ, buồn khổ đã không cho phép Phật thân trong ta lớn lên và được biểu hiện toàn vẹn. Phật thân của chúng ta còn đang nằm dưới dạng hạt giống, chúng ta có khả năng thương yêu, có khả năng tỉnh thức chỉ vì chưa được chăm sóc đúng mức nên chúng chưa lớn mạnh được mà thôi.

Trong Thiền có câu hỏi: “Con chó có Phật thân hay không?” Người ta thường phân biệt loài người với tất cả những loại động vật khác, nghĩ rằng chỉ có con người mới có Phật thân còn con chó thì không thể nào thành Phật. Nhưng trong ánh sáng của Tiến Hóa Luận, trong con chó cũng có khả năng hiểu và thương tuy không đến mức độ như của con người. Con chó, con ngựa, con khỉ,… đều có trí thông minh, có khả năng thương con của mình. Nó cũng có hạt giống của thương yêu, hiểu biết nhưng trên nấc thang tiến hóa thì loài vật phải đi tới mức con người khi ấy khả năng hiểu và thương mới có cơ hội phát triển toàn vẹn. Hơn nữa, khi nhìn lại mọi loài chúng ta thấy tuy là có chia ra từng loài rõ rệt nhưng tất cả mọi loài đều là chung. Là con người nhưng chúng ta cũng là con vật, trong chúng ta còn rất nhiều thú tính và trong loài thú cũng đã có tiềm tàng nhân tính. Nếu không thì con vượn làm sao trở thành con người? Chỉ cần 3 triệu năm là con vượn có thể trở thành con người. Vì vậy trong con người có thú tính và trong con thú có nhân tính. Chúng ta đừng nên phân biệt quá rạch ròi giữa người và vật .

Chính những loài thảo mộc cũng có trí tuệ của nó. Trong hạt bắp rất nhỏ đã có cái biết, nó biết làm thế nào để nẩy mầm thành cây bắp, làm ra lá bắp và trái bắp. Chúng ta thấy có sự hiểu biết trong đó, nó không phải là những vật vô tri. Cả những lượng tử, những hạt bụi cũng có trí tuệ trong nó. Hiện nay các nhà khoa học thấy được các lượng tử cũng có sự thông minh của nó cho nên chúng ta không thể nói vật chất là vô tri. Trong đạo Phật có câu tụng:

Tình dữ vô tình
Đồng viên chủng trí

Mong cho các loài vô tình và hữu tình đều hoàn thành quả vị nhất thiết chủng trí. Loài có nhận thức và loài coi như không có nhận thức đều có thể thành Phật. Theo đạo Phật sự sống là một. Ta không thể chia sự sống ra thành từng ô, ô này có Phật tính, ô kia không có Phật tính hay ô này có trí tuệ, ô kia không có trí tuệ.

Ngày xưa có một vị thiền sinh lên hỏi thầy của mình: “Thưa thầy, con chó có Phật tính không ạ?”. Vị thầy trả lời: “Có! Con chó có Phật tính”. Người thầy trả lời như vậy để giúp vị thiền sinh có được cái thấy sâu sắc hơn, cái thấy không kỳ thị. Nhưng hôm sau, một thiền sinh khác lại lên hỏi câu ấy: “Thưa thầy, con chó có Phật tính không ạ?” Lần này vị thầy trả lời: “Không! Con chó không có Phật tính!” Người thiền sinh này hỏi chỉ để xác nhận lại một kiến thức mà anh ta mới vừa thu lượm được. Đối với người tu thì kiến thức không quan trọng, sự chứng ngộ mới là quan trọng. Nếu thầy trả lời: “Con chó có Phật tính!” thì anh thiền sinh lại có thêm một ý niệm, chồng thêm một kiến thức, không có ích lợi gì cho anh ta. Người thầy trả lời một câu hỏi bằng hai cách khác nhau để đối trị với cái tâm của người hành giả. Đó là một công án thiền. Trong mỗi người đều có Phật tính, đi sâu hơn thì không phải chỉ con người mà những loài động vật, thực vật, khoáng vật cũng có Phật tính.

Pháp thân

Bụt được làm bằng Pháp, nhưng người thực tập theo Bụt cũng có Pháp thân. Pháp thân trước hết là cái hiểu và cái hành của ta về Phật pháp. Nếu Pháp thân của mình èo uột, yếu đuối là do chúng ta tu tập không thành công và ta không có hạnh phúc. Nếu Pháp thân ta ốm yếu thì ta không đủ sức để quản lý, hành xử trong những lúc có khó khăn của đời sống hàng ngày. Ta phải có Pháp thân khá vững, khi pháp thân vững mạnh thì ta đối phó và xử lý dễ dàng những khó khăn trong đời sống hàng ngày. Chúng ta ai cũng có Pháp thân nhưng vấn đề là Pháp thân đó đã đủ lớn mạnh chưa? Ta tu học để Pháp thân càng ngày càng vững chãi để chúng ta dễ dàng vượt thắng khổ đau và chuyển hóa phiền não.

Chữ Pháp thân trước hết có nghĩa là cái hiểu biết và sự thực tập của ta về chánh pháp. Thứ hai, Pháp thân cũng có nghĩa là những điều Bụt dạy bằng lời và bằng cách sống hàng ngày của Ngài. Ngày xưa thầy Vakkali rất mê Bụt, thầy thấy Bụt đẹp quá nên thầy cứ lò dò đi phía sau Bụt. Thầy thích ngồi ngắm Bụt mà không chịu nghe pháp thoại nên bị Bụt quở trách. Lúc đầu thầy được làm thị giả cho Bụt nhưng sau Bụt thấy thầy bị dính mắc quá nên không cho làm thị giả nữa. Thầy rất đau khổ, nhưng sau thầy chuyển hóa được và tu tập cũng khá. Ngày thầy Vakkali bị bệnh sắp chết Bụt có tới thăm và hỏi:

–  Thầy Vakkali, trong người thầy có đau nhức không?
–  Dạ, Bạch Đức Thế Tôn con không khỏe, con đau nhức lắm, con sắp chết.
–  Thầy có thực tập không?
–  Dạ, con có thực tập.
– Thầy có tiếc nuối gì không?
–  Dạ, con không tiếc nuối gì, con chỉ tiếc một điều là mỗi ngày không được đi theo Ngài, không được trông thấy Ngài.
Bụt nói:
–  Này thầy Vakkali, hình hài của tôi thế nào một ngày kia cũng sẽ tan hoại. Thầy đừng chấp vào hình hài này. Nếu đang thực tập thì thầy đã có Pháp thân của tôi rồi, chính cái đó sẽ trường tồn mãi mãi. Thầy nên nắm giữ Pháp thân chứ đừng nắm giữ nhục thân này.

Câu nói của Bụt chứng tỏ ngoài hình hài vật chất này mình còn có một hình hài khác gọi là Pháp.

Thầy mình có Pháp thân và nếu mình đã có Pháp thân của thầy thì mình không còn lo ngày mà nhục thân của thầy tan hoại. Tiếp nối được Pháp thân của thầy là có thầy hoài mãi

Trong bài hô canh sáng có câu: “Pháp thân tỏa sáng buổi ban mai”. Buổi sáng thức dậy sau một giấc ngủ dài nên cơ thể của mình khỏe khoắn, tỉnh táo nhờ đó sự thực tập của mình được dễ dàng. Mình phải sống đời sống hàng ngày như thế nào, mình phải tu như thế nào để Pháp thân của mình càng ngày càng vững chãi, càng tỏa sáng. Đừng để một ngày đi qua mà Pháp thân không lớn lên, Pháp thân lớn lên thì Phật thân trong mình cũng lớn lên.

Tăng thân

Thân thứ ba của mình là Tăng thân. Theo truyền thống thì mình phải nương tựa Tăng. Ngày xưa ở Việt Nam có một vị cư sĩ học Phật pháp rất giỏi, ông nói: “Tôi chỉ quy y hai bảo là Phật bảo và Pháp bảo thôi, còn các thầy, các sư cô thì tôi không phục lắm!” Ông không biết rằng nếu không có Tăng thân thì lấy gì để chuyên chở Phật thân và Pháp thân? Chính Tăng thân là cỗ xe chuyên chở Phật thân và Pháp thân. Nếu không quy y Tăng thì làm sao quy y Phật và Pháp được?  Quy y Tăng rất quan trọng, quan trọng hơn cả quy y Phật tại vì quy y Tăng thì trong Tăng đã có Phật và Pháp. Đánh mất và xa lìa Tăng thân là một tai nạn rất lớn cho đời một người tu. Danh từ Tăng thân chưa được dùng trong Phật giáo, nhưng Làng Mai dùng rất nhiều danh từ này. Tăng thân có ngoài mình nhưng cũng có trong mình. Sống trong Tăng thân mà mình liên hệ tốt với các anh chị em trong đạo của mình thì đi đâu mình cũng có Tăng thân trong mình.

Đôi khi vì hoàn cảnh khó khăn mình phải xa lìa Tăng thân, nhưng một khi đã có Tăng thân trong trái tim thì không sao. Nếu không có Tăng thân trong trái tim thì rất nguy, đời sống tu tập của mình sẽ rất bấp bênh. Là người tu mình phải để thì giờ và tâm lực mà xây dựng Tăng thân tại vì Tăng thân là chỗ nương tựa của mình. Dù cho mình là thầy, mình đã thành đạo, mình cũng cần có Tăng thân, đó là trường hợp của Đức Thích Ca. Ngài đã thành Phật mà Ngài cũng cần nương tựa Tăng thân. Vì vậy trong đời sống hàng ngày mình phải sống như thế nào để có thể liên hệ tốt với các thành phần khác trong Tăng thân. Trong Tăng thân có những thành phần rất dễ liên hệ, nhưng cũng có những thành phần khó liên hệ hơn. Mình phải thực tập như thế nào để có liên hệ tốt với tất cả thành phần trong Tăng thân. Lúc đó sự thực tập của mình mới vững và Phật thân, Pháp thân trong mình mới có cơ hội ngày một lớn mạnh.

Những mầu nhiệm của vũ trụ là sự biểu hiện của Pháp thân

Trong đạo Bụt đại thừa, chữ “Pháp thân” dần dần mang tính chất bản thể học. Ban đầu Pháp thân có nghĩa là giáo lý của Bụt dạy và sự thực tập của mình. Nhưng về sau, Phật giáo đại thừa diễn tả Pháp thân như những mầu nhiệm của thiên nhiên mà nếu sống có ý thức thì chúng ta sẽ nhìn thấy được. Ví như trúc tím, hoa vàng, trăng trong, mây bạc đều là biểu hiện của Pháp thân. Như vậy chúng ta có thêm một cách hiểu thứ ba. Pháp thân là nền tảng bản thể cho tất cả mầu nhiệm của vũ trụ.

Ở xóm Thượng khi đi thiền hành tôi đạp lên rất nhiều lá sồi. Ở Nội Viện khi đi thiền hành tôi đạp lên vừa lá sồi, vừa lá tre, vừa lá phong. Ở Việt Nam chúng ta có nhiều lá tre, đi thiền hành trên lá tre cũng rất mềm. Buổi chiều ở làng quê Việt Nam, những bà mẹ thường quét lá tre gom thành từng đống rồi đốt lên, khói tỏa ra trông rất đẹp. Khi bước lên lá sồi ta có thể tiếp xúc được với Pháp thân tại vì lá sồi cũng là biểu hiện của Pháp thân mầu nhiệm. Ví dụ như bỗng nhiên trên mặt trăng có một chiếc lá sồi hay có một cọng cỏ mọc lên, khi ấy chắc chắn trên trái đất các nhà báo sẽ nói rất nhiều về sự kiện đó tại vì nó rất lạ kỳ. Và lúc bấy giờ các thương gia sẽ bắt đầu nghĩ tới chuyện lên mặt trăng để làm ăn, xây cất nhà cửa cho thuê và làm giàu trên ấy.

Nhưng trên mặt trăng hiện chưa có những mầu nhiệm đó, chưa có lá tre, lá sồi, lá phong, chưa có một cọng cỏ, chưa có một đám mây. Trong khi đó trên trái đất của mình có tất cả những mầu nhiệm đó. Mỗi khi thực tập thiền đi quí vị có thể dẫm lên lá sồi, lá tre, nghe nước róc rách chảy, thấy một đám mây bay qua biến thành mưa rất kỳ diệu. Chỉ cần so sánh trái đất với mặt trăng thì mình thấy cho tới nay trong hệ mặt trời của mình và những hệ mặt trời mà hiện giờ mình biết đến chưa tìm thấy một hành tinh nào có sự sống như trái đất xinh đẹp của chúng ta. Trong khi đó mình được sinh ra trên cõi này, được hít thở không khí, được ngắm nhìn bầu trời và những mầu nhiệm xung quanh mà mình không thấy hạnh phúc, mình vẫn đau buồn, vẫn là hét, giận dữ, tủi thân thì rất uổng.

Con người ý thức

Những loài khác như con chó, con vượn, con nai, con sư tử, cũng sống trong những mầu nhiệm này. Nhưng không biết chúng nó có thấy được sự quí giá đó hay không? Con cá có biết là nó đang bơi lượn trong không gian như bích ngọc, con chim có biết là nó đang bay trong Niết bàn và con nai có biết là nó đang chạy chơi trong cõi tịnh độ hay không? Khi đang còn là con vượn, con người đi khom khom bằng hai chân và hai tay. Tới một lúc nào đó thì con người đứng thẳng dậy, hai tay được giải phóng để cầm, để đan kết. Vì sử dụng mười ngón tay nên bộ óc lớn lên rất mau. Lúc con người vừa mới đứng dậy thì khối óc của họ chỉ bằng 1/3 khối óc của mình bây giờ. Nhờ biết sử dụng hai bàn tay và dụng cụ nên tự nhiên những tế bào trong não được sinh trưởng và trở thành con người khôn ngoan.

Con người sống trong vũ trụ đầy những mầu nhiệm: trăng trong, mây bạc, trúc tím, hoa vàng. Con người có khả năng thấy được đó là những mầu nhiệm nhưng chưa chắc con chó, con khỉ, con vượn đã thấy được như vậy. Cầm một bông hoa trên tay con người biết màu sắc của bông hoa tươi đẹp, hương của bông hoa thơm ngát, cắt một trái cam ra con người biết trái cam ngọt ngon chín mọng. Nhưng chưa chắc loài vật đã biết được điều ấy. Nhìn những thứ này chúng nghĩ ngay tới việc cái đó có ăn được hay không?

Nhìn những con cá bơi lượn trong hồ nhẹ nhàng mình thấy rất đẹp nhưng con cá mập thì không nghĩ như vậy, nó chỉ nghĩ phải đớp như thế nào để ăn được nhiều cá. Người con trai nhìn một người con gái thấy cô gái đẹp quá, hai mắt trong như nước hồ thu, có đêm u huyền ngủ trên mái tóc và làm thơ ca ngợi. Nhưng con khỉ không khen “mắt em đẹp như nước hồ thu”, nó chỉ nghĩ nó có thể giao hợp với con kia mà không bị những con khỉ khác tới đánh hay không. Khi mình thành một con người khôn ngoan, tự nhiên khả năng nhận diện những mầu nhiệm của vũ trụ trong mình phát hiện. Mình ý thức được mình đang có mặt trên thế gian này. Những con vật kia có biết là nó đang có mặt trên thế gian này hay không?  Là con người mình đang ngồi đây, thở vào và mình biết mình đang thở vào trong giờ phút hiện tại. Đó gọi là chánh niệm. Con người khôn ngoan trở thành con người ý thức (homo conscius). Ý thức mình đang có mặt, “tôi đang có mặt trong trời đất”, là chánh niệm. Người đại diện xứng đáng cho giống homo conscius là Phật Thích Ca và chúng ta là con cháu của loại người đó.

Ý thức giúp cho mình thấy được tất cả những gì trong tự thân và những gì bao quanh mình, có nghĩa là ý thức giúp mình tiếp xúc được với Pháp thân tại vì Pháp thân là bản chất của hiện hữu, là nền tảng bản thể (base ontologique) của tất cả mầu nhiệm. Trong đạo Phật thường dùng hình ảnh của trăng trong, mây bạc, hoa vàng, trúc tím để chỉ những mầu nhiệm của cuộc đời. Chúng ta nhận diện được là nhờ có ý thức. Hạnh phúc của con người rất lớn, con người thấy được cái đẹp, thấy được cái mầu nhiệm của sự sống mà các loài vật chưa thấy được.

Mỗi khi đi thiền, bước từng bước chân mình tiếp xúc được tất cả những mầu nhiệm, nó nuôi dưỡng và trị liệu cho mình. Mỗi khi ngồi thiền mình có cơ hội thấy được mình đang có mặt, đã mang tiếng là được ở trong trời đất mình phải thấy được mình đã từng có đó. Có những người sống được 100 năm rồi chết đi mà không chứng tỏ được cho con cháu biết là họ đã có mặt tại vì họ không tu tập chánh niệm. Một trăm năm đi qua rất mau. mỗi ngày chúng ta thực tập chánh niệm để thấy mình đang có mặt, chúng ta có thể nói với con cháu sau này là “ta đã có mặt, ta đã từng sống trên trái đất này”.

Mối ưu tư của muôn đời

Hạnh phúc của con người có thể rất lớn, lớn hơn của các loài khác. Nhưng ý thức đó cũng làm cho con người đau khổ tại vì con người biết rằng thế nào mình cũng phải chết. Những con vật không nghĩ về cái chết, nó không có những câu hỏi về siêu hình như: “Mình từ đâu sinh ra? Mình từ đâu tới đây? Tại sao mình chỉ ở lại chừng 100 năm rồi cuối cùng mình tan thành tro bụi?” Con người hỏi những câu vớ vẩn như vậy cũng là do ý thức mà ra. Tôi yêu em nhưng tôi biết thế nào em cũng phải chết, đó là niềm đau của tôi. Làm con người thì phải trả một giá rất đắt, đó là cái ưu tư thế nào mình cũng phải chết. Con người không thể quên được mối ưu tư đó, nó là nguyên do của những ý tưởng siêu hình và những chứng bệnh tâm thần.

Những con vật không suy nghĩ như vậy. Cây thông đứng reo ngoài kia, hình như nó không suy nghĩ về chuyện sống chết. Thi sĩ Nguyễn Công Trứ có viết:

Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo

Tại sao mình sinh ra để rồi mình phải chết đi?

Hoa thiều lá nó xanh xanh
Thân ta biết thế đừng sanh ra đời

Sinh ra đời làm chi để rồi chết? Không có ý nghĩa gì cả! Con người bị bấn loạn bởi những ý niệm có và không, hữu thể và vô thể. Tại sao mình trở thành có và từ có mình lại trở thành không? Muốn được sống sót con người phải tìm ra đường hướng để trị cái bệnh ưu tư của mình. Do đó mới sinh ra tôn giáo. Con người nghĩ rằng thế giới này do một đấng tạo hóa tạo dựng ra. Đấng tạo hóa luôn luôn có đó, không sinh cũng không diệt. Đấng tạo hóa tạo dựng ra con người và thế giới, và khi chết mình được trở về ngồi dưới chân Thượng đế lúc ấy linh hồn mình trở thành bất diệt. Đó là phương thuốc mình đặt ra để đối trị với mối ưu tư của mình, phương thuốc này là tôn giáo. Đấng tạo hóa không sinh không diệt tạo dựng ra thế giới có sinh có diệt và mình là vật được tạo dựng, sau khi chết mình sẽ trở về sống đời đời với Thượng đế. Đó là một loại thuốc an thần để trị chứng bệnh ưu tư của mình.

Sự nghiệp trí tuệ của người tu

Đức Thích Ca không bằng lòng với lối trị bệnh này. Ngài muốn sử dụng tận lực trí tuệ của con người, dùng niệm-định-tuệ để khám phá ra bản chất thật của sự sống. Cuối cùng Ngài đã tìm ra Niết bàn, Niết bàn là bản chất không sinh không diệt. Những cái mình thấy có sinh có diệt chỉ là biểu tượng bên ngoài mà thôi. Quán chiếu một đám mây mình thấy nó không có sinh cũng không có diệt. Trước khi có đám mây thì đám mây đã có dưới hình thức của ánh sáng mặt trời, của sông hồ. Sau khi đám mây không có nữa thì nó vẫn còn dưới hình thức của cơn mưa, của ruộng đồng, của ngàn dâu xanh tốt. Dùng niệm-định- tuệ để quán chiếu, để đi sâu vào, mình khám phá ra được thế giới vô sinh bất diệt và mối ưu tư đó tan biến không còn nữa. Đó là cái mà đạo Bụt cống hiến cho con người để đối trị với ưu tư kia.

Là người tu, là con người có ý thức, mình tin vào Phật thân, tin vào khả năng có thể với tới cái thấy, cái hiểu của mình. Nhờ Tăng thân và Pháp thân mình đạt tới Phật thân, đạt tới cái thấy giải phóng cho mình ra khỏi những ưu tư, lo sợ tại vì bản chất của mình là vô sinh bất diệt. Như một đợt sóng rất sợ sinh diệt, lên xuống, nó tự hỏi: “Bây giờ tôi ở đây nhưng một lát nữa thì tôi không có!” Nó lo lắng, đau khổ. Nhưng khi khám phá ra mình đã là nước rồi thì nó không còn lo lắng, đau khổ nữa. Có hay không có không còn là vấn đề, lên hay xuống cũng là vui. Vì vậy, Niết bàn là chỗ mát mẻ, vững chãi, không còn ưu tư. Mục đích của sự tu học là tiếp xúc được với Niết bàn. Niết bàn trong giây phút hiện tại mà không phải là một sự hứa hẹn trong tương lai ở một cõi khác.

Ba triệu năm không có ý nghĩa gì, con người còn rất trẻ trên trái đất này. Thời gian từ khi mình đứng dậy và sử dụng hai tay cho đến bây giờ chỉ có ba triệu năm mà chúng ta đã sản xuất được những vị Bụt, những vị Bồ tát. Đó là một sự mầu nhiệm rất lớn, mình phải tiếp nối sự nghiệp này, sự nghiệp của trí tuệ. Trong đạo Bụt nói: Sự nghiệp lớn nhất đáng để chúng ta theo đuổi là sự nghiệp trí tuệ. Duy tuệ thị nghiệp 惟 慧 是 業, đó là bốn chữ trong kinh Bát Đại Nhân Giác: Chỉ có trí tuệ mới xứng đáng là sự nghiệp của mình mà thôi.

Trở về tiếp xúc với đất Mẹ

Trở về tiếp xúc với cội nguồn

Thiền hành là một phép thực tập rất dễ chịu, nhất là vào lúc ban mai, khi không khí rất là trong lành. Trong khi đi thiền chúng ta phải hợp nhất thân với tâm và phối hợp hơi thở với bước chân.Thở vào ta có thể bước hai, ba hay bốn bước; thở ra ta có thể bước nhiều bước hơn. Ví dụ thở vào ta bước hai bước thì thở ra ta bước ba bước, nếu thở vào ta bước ba bước thì thở ra ta nên bước năm bước, nếu thở vào ta bước bốn bước thì thở ra ta có thể bước sáu bước, thở vào ta bước năm bước thì thở ra ta bước tám bước. Đó là kinh nghiệm của tôi.

Nếu có một cái đồng hồ tíc-tắc trên bàn ngủ, ban đêm khi nằm xuống chúng ta ngưng suy nghĩ, thở vào ta đếm ba giây, thở ra ta đếm năm giây, v.v… cho đến khi ngủ.  Tiếng tíc-tắc của đồng hồ giúp ta rất nhiều. Trong thiền đường, nếu có một cái đồng hồ thì ta có thể thở theo tiếng tíc-tắc của đồng hồ. Chúng ta chấm dứt sự suy nghĩ và chỉ thở thôi. Thở như vậy rất là dễ chịu.

Chúng ta có thể đặt ra những câu thiền ngữ dùng để đi thiền hành.
Ví dụ như thở vào đi hai bước ta nói: Đã về,đã tới.
Thở ra đi ba bước ta nói: Con đã về, con đã tới.
Mình thật sự về, thật sự tới, mình không rong ruổi nữa và mình thích thú với giây phút hiện tại “đã về đã tới“.

Pháp môn Làng Mai rất đơn giản, bài thuyết pháp sâu và ngắn nhất của Làng Mai là: Đã về đã tới, đem thân tâm trở về hiện tại, tiếp xúc với những mầu nhiệm của giây phút hiện tại, những mầu nhiệm đang có trong mình và chung quanh mình để được nuôi dưỡng và trị liệu. Mình thấy thoải mái, an ổn, mãn ý với giây phút hiện tại. Mình không còn muốn chạy đi tìm gì khác nữa. Người nào trong khi ngồi hay khi đi mà thấy thích thú, mãn ý với giây phút hiện tại là người đó thành công. Mình không còn đi tìm gì nữa.

Thở vào, đi ba bước ta; thở ra, ta đi năm bước: Con đã về / con đã về thật sự
hoặc mỗi bước chân / con đi vào Tịnh độ
hoặc là mỗi bước chân / con trở lại suối nguồn.

Khi ngồi chúng ta cũng có thể nói: Mỗi hơi thở/ con đi vào Tịnh độ
hay là mỗi hơi thở / con trở lại suối nguồn.
Chúng ta đặt ra những câu thiền ngữ mình thích, khi mình dùng câu này, lúc mình dùng câu kia.

Thở vào đi bốn bước, thở ra đi sáu bước ta nói: Đã về đã tới, con đã về con đã tới.

 

 

Có những con đường thiền hành rất đẹp, một con đường đất, hai bờ cỏ xanh và màu đất hồng tươi. Ngày xưa tôi làm một bài thơ tựa là: Cẩn trọng

Qua ngõ vắng
Lá rụng đầy
Tôi theo con đường nhỏ
Đất hồng như môi son bé thơ
Bỗng nhiên tôi cẩn trọng
Từng bước chân đi

Thấy được vẻ đẹp, thấy được sự mầu nhiệm đó, tự nhiên mình tỉnh dậy, mình thấy mình đang sống trong một thế giới hết sức mầu nhiệm, mà nếu tâm bị vướng bận bởi những lo lắng, sầu khổ thì mình sẽ không thể thấy được. Khi tỉnh dậy mình thấy rất quí mỗi giây mà cuộc đời đã cho mình sống. Tôi trân quí từng bước chân đi và trong mỗi bước chân tôi đều có hạnh phúc .

Vì trái đất có lực hấp dẫn (gravity) nên bước chân nào mình cũng phải đi chấm đất, nếu không mình sẽ bay lơ lững trên không. Lực hấp dẫn làm cho bước chân của mình dính vào mặt đất. Với mỗi bước mình dính và tiếp xúc với đất Mẹ tức là mình tiếp xúc được với cội nguồn của mình.

 

Cái nhìn bất nhị

Ý thức của chúng ta có tính cách phân biệt, chia sự vật ra thành từng cặp đối lập. Ví dụ như chúng ta cho tay trái không phải là tay phải và tay trái có thể tồn tại ngoài tay phải, đó là sự phân biệt. Nhưng ta không biết rằng tay trái nương vào tay phải để thành lập. Chúng ta phân biệt tâm và vật, danh thân và sắc thân. Danh thân là tâm, tức là thọ, tưởng, hành, thức của mình của mình. Sắc thân là hình hài của mình. Chúng ta phân biệt một bên là hình hài (sắc) và một bên là tâm lý (danh), danh từ khoa học gọi là psychosoma. Psycho là tâm và soma là vật. Sự thật là tâm không thể có được nếu không có vật, tâm và vật là hai mặt của một thực tại. Không có vật thì không có tâm và không có tâm thì không có vật. Chúng ta phải tập nhìn bằng con mắt bất nhị.

Trong khi đó, khoa học chia thành hai ngành, một nghành chuyên về tâm gọi là tâm lý học và một nghành nghiên cứu về thân gọi là sinh lý học. Thực ra nếu lấy tâm đi thì không có thân và nếu lấy thân ra thì tâm cũng không còn. Thân và tâm dựa vào nhau mà thành lập như tay trái và tay phải, lấy một cái đi thì cái kia cũng không còn. Vì vậy chúng ta phải thấy tâm ở trong vật và vật ở trong tâm, đó gọi là vô phân biệt trí. Có vô phân biệt trí, chúng ta biết tâm và vật nương nhau mà có như trái và phải, như trên và dưới. Có khi vô phân biệt trí còn được gọi là bất nhịtrí (advaya-jñāna) tức tuệ giác không chia chẻ làm hai: trong và ngoài, vật chất và tinh thần.

Hiện nay nhiều nhà khoa học vẫn còn vướng vào ý niệm: tâm thức là cái ở trong và thế giới được nghiên cứu là vật ở ngoài, tức: tâm thức là chủ thể và thế giới khách quan là đối tượng. Khi nào còn sự phân chia giữa chủ thể và đối tượng, giữa tâm và vật thì vẫn còn sự kỳ thị, phân biệt. Muốn đi được xa, nhà tu cũng như nhà khoa học phải biết sử dụng bất nhị trí hay vô phân biệt trí. Trong lĩnh vực khoa học người ta đã bắt đầu thấy được điều đó. Nếu không buông bỏ sự phân biệt thì khó mà đi vào được sư tìm hiểu về thực tại.

 

 

Dẫm lên đất Mẹ

Khi đi thiền hành chúng ta không chỉ đi bằng thân mà phải đi bằng tâm của mình, gọi là thân tâm nhất như. Miệng (khẩu) của mình cũng phải đi theo, cho nên trong khi thiền hành mình không được nói chuyện. Thân, khẩu, ý hợp nhất gọi là tương ưng. Trong khi dẫm lên mặt đất, chúng ta không thấy đất là vật chất. Cho đất là vật chất tức theo chủ trương duy vật luận. Nếu thấy đất là ý niệm, là tâm như vị cố đạo Berkely thì đó là duy tâm luận. Duy vật luận là một cực đoan và duy tâm luận là một cực đoan khác, căn cứ trên ý niệm vật và tâm là hai cái khác nhau. Nhiều nhà khoa học cho rằng tâm là do vật chất tạo ra, thức là một sản phẩm của não bộ. Khuynh hướng này rất gần với chủ nghĩa duy vật. Nhiều người khác lại cho rằng chính tâm tạo ra vật chất.

Nhưng khi quán chiếu thân, mình thấy rằng hình hài của mình không phải chỉ là vật chất. Trong hình hài có tâm, có cái biết và có sự thông minh của nó. Một tế bào cơ thể là một thực tại linh động có cái tâm trong đó, mà nếu lấy cái tâm đi thì nó trở thành một tế bào chết. Trong cơ thể của chúng ta có hàng tỷ tế bào và mỗi tế bào có sự thông minh, có cái biết rất sâu sắc. Vì vậy nói hình hài chỉ là vật, chỉ là sinh lý là không đúng.

Nhìn vào thế giới, ví dụ như nhìn vào một cọng cỏ hay một cái cây, mình thấy đó không phải là vật chất vô tri, mà nó có cái biết trong đó. Mình không thể nói hạt bắp là vật chất, tại vì trồng hạt bắp xuống đất thì hạt bắp biết nẩy mầm, lên cây, làm lá, làm hoa và làm trái bắp. Như vậy, hạt bắp có cái biết và nói hạt bắp là vật chất là sai. Nhìn trái đất, mình thấy trái đất là một thực tại mầu nhiệm như tế bào trong cơ thể mình. Trái đất có cái biết trong nó. Hành tinh Đất có khả năng hiến tặng và nuôi dưỡng sự sống. Cho rằng hành tinh Đất là một khối vật chất là sai. Với trí bất nhị mình thấy rằng hành tinh Đất không phải là một khối vật chất, tại vì nó có sự thông minh, sự sáng tạo trong đó. Hành tinh này đã sản xuất ra những cái hết sức mầu nhiệm. Loài người là một trong bao nhiêu loài mà hành tinh này đã sản xuất ra. Bụt Thích ca hay Chúa Jésus cũng là con của hành tinh này. Mình và mẹ mình cũng là những đứa con của hành tinh này. Nếu thấy được mình là con của mẹ mình thì cũng thấy được mình và mẹ mình cũng là con của trái đất. Trái đất là một thực tại mầu nhiệm, tuy không phải là con người nhưng trái đất cũng là Mẹ, là đất Mẹ.

Rất nhiều nền văn minh đã nhìn trái đất như một bà mẹ. Nhà sinh vật học Mỹ, Thomas Lewis, viết một cuốn sách về hành tinh trái đất, cuốn sách có tên “The Lives of a Cell“ (sự sống của một tế bào). Trong đó ông nói rằng theo ông thì trái đất giống như một tế bào trong cơ thể con người. Trong trái đất có sự sống, có sự thông minh, tại vì khi nghiên cứu về tế bào trong cơ thể ông thấy mỗi tế bào mầu nhiệm vô cùng. Nhìn trái đất, ông thấy trái đất cũng là một sinh vật biết đau, biết buồn, biết suy tư, có thông minh, có trí tuệ, có tài năng.  Khi đi thiền hành chúng ta phải sử dụng trí bất nhị để thấy, mình đừng cho là mình đang dẫm lên trên vật chất. Mình phải thấy mình đang tiếp xúc với đất mẹ, tại vì đất mẹ là một thực tại rất mầu nhiệm.

 

Trái đất là một vị Bồ tát

Không hẳn là con người mới được gọi là mẹ, mình có thể nhìn trái đất như một vị bồ tát, bồ tát Thanh Lương Đại Địa. Mình có thể chắp tay lại và niệm danh hiệu: Nam mô bồ tát Thanh Lương Đại Địa, tại vì vị bồ tát này là mẹ của muôn loài, có khả năng chuyên chở, nuôi dưỡng và trị liệu. Mỗi khi đau ốm hay đánh mất mình, mình phải trở về lại với bà mẹ này để được nuôi dưỡng và trị liệu

Vì vậy thiền hành là một phương pháp thực tập rất hay để chúng ta có thể trở về tìm sự nuôi dưỡng và trị liệu từ đất mẹ. Tuy không phải dưới hình thức của một con người, nhưng đất mẹ đích thực là một vị bồ tát, tại vì đất mẹ có những đức rất lớn như sự vững chãi, sự kiên nhẫn. Trong kinh Địa tạng có câu: Địa ngôn kiên hậu quảng hàm tàng (đất có nghĩa là kiên cố, dày dặn và cất chứa được rất nhiều).

Đất có khả năng nuôi dưỡng, che chở, trị liệu và có khả năng cho ra đời biết bao nhiêu là mầu nhiệm. Nhiều vị Phật và bồ tát đã được đất sinh ra. Chính chúa Ki Tô cũng do đất sinh ra. Mình không biết chúa Ki Tô có phải do Thượng đế sinh ra thật hay không, nhưng mình biết chắc là chúa Ki Tô do trái đất sinh ra. Có những lúc mình lao đao, cô đơn, lạc hướng hay ốm đau thì mình phải trở về tiếp xúc đất Mẹ để được nuôi dưỡng.

Trong khóa tu mùa Đông này, chúng ta nên đưa vị bồ tát đất Mẹ vào trong danh sách đảnh lễ:
Nhất tâm kính lễ bồ tát Thanh Lương Đại Địa,
Mẹ của muôn loài, luôn luôn chở che, nuôi dưỡng và trị liệu cho chúng con.

 

 

Mặt trời cũng là một vị Bồ tát

Mặt trời cũng là một vị bồ tát lớn, là một vị Bụt. Không có mặt trời thì không có ánh sáng, sức nóng và không có sự sống. Mặt trời có tên là “Đại Nhật Như Lai“ (Vairochana Tathagata). Không có mặt trời thì không có sự sống trên trái đất. Chúng ta có thể xướng:
Nhất tâm kính lễ đức Tỳ Lô Giá na Như lai, Bụt Vô lượng thọ, Vô lượng quang
hiến tặng sự sống cho hành tinh đại địa.

Tiếp xúc với những vị bồ tát để được nuôi dưỡng và trị liệu

Đây là những vị Bụt, những vị bồ tát có thật mà mình phải lạy xuống. Những vị đó có ở trong mình chứ không chỉ có ở ngoài mình mà thôi. Đi thiền hành chúng ta phải tiếp xúc được với các vị bồ tát đó. Đất mẹ là một vị bồ tát, mặt trời là một vị bồ tát đã cho chúng ta sự sống và các vị đó không phải ở ngoài ta mà còn ở trong ta. Có được tuệ giác đó thì mình không còn thấy trái đất, mặt trời là vật chất và mình có thể tiếp xúc được thật sự với nó. Khi tiếp xúc được thật sự thì mình sẽ nhận được sự nuôi dưỡng và trị liệu.

Mỗi bước chân là nuôi dưỡng,
mỗi bước chân là trị liệu.

Con người hiện nay bị bệnh rất nhiều, chúng ta phải học cách chữa trị, và đi thiền hành là một trong những phương pháp chữa trị rất hay. Đang ở tại Làng Mai mình phải biết lợi dụng pháp môn thiền hành, tại vì đi thiền hành ở những thành phố lớn như Los Angeles hay thành phố Hồ Chí Minh không sướng chút nào. Ở đây chúng ta có không khí rất trong lành, có cây cối xanh tươi, có những con đường thiền hành rất mầu nhiệm. Vì vậy chúng ta đừng bỏ cơ hội, trong khi đi chúng ta dùng cả thân, khẩu, ý để tiếp xúc với đại đị, với bồ tát Thanh Lượng Địa. Trong đất có sức nóng, có không khí và có nước. Vòng khí quyển bao chung quanh trái đất cũng thuộc về bồ tát Thanh Lương Địa. Đất mẹ đã cho chúng ta nước để uống, không khí để thở; vì vậy đất cũng là nước, là không khí. Lớp ozon phía trên che chở cho chúng ta để những tia phóng xạ độc hại không thể đi vào trong trái đất. Đất mẹ chở che, nuôi dưỡng và trị liệu.

Trong khi đi thiền chúng ta có thể đạt tới những cái thấy rất sâu. Nhìn vào đất mẹ, ta thấy đất mẹ chứa cả tam thiên, đại thiên thế giới, có cả vũ trụ trong đất mẹ. Các nhà khoa học cũng có thể đóng góp cho cái thấy đó, tại vì họ có một vài ý niệm về sự thành lập của trái đất. Họ biết rằng trái đất được làm bằng những yếu tố không phải đất. Các hành tinh khác cũng đã gửi tới cho chúng ta những đóng góp, cũng như một bông hoa được làm bằng những yếu tố không phải hoa. Hành tinh Đất cũng là một bông hoa rất đẹp được làm bằng những yếu tố không phải Địa cầu. Nhìn vào hành tinh Đất mẹ ta thấy được cả vũ trụ. Nhìn vào bông hoa ta thấy cả vũ trụ như đám mây, mặt trời, v.v… Khi bước chân trên trái đất ta thấy đất Mẹ đang có mặt trong mình. Mình và đất mẹ không phải là hai thực tại tách rời nhau.

Trở về đất Mẹ trong từng giây từng phút

Có được tuệ giác đó chúng ta có thể đạt tới “không sợ hãi”, mình thấy mình với đất Mẹ là một. Nếu đất Mẹ đưa mình ra thì đất Mẹ sẽ tiếp nhận mình về, không có gì mất đi, không có sinh không có diệt. Mình không bị kẹt vào ý niệm “một cái ngã“, rồi đặt vấn đề: Sau khi xác thân này tan hoại mình sẽ đi về đâu? Còn hay không còn? Không phải chỉ khi nào xác thân mình tan hoại và những tác dụng tâm lý của mình không còn biểu hiện nữa thì mình mới về đất Mẹ. Sự thật là mình đang về đất Mẹ trong từng giây từng phút. Mỗi khi thở, mỗi khi bước đi là chúng ta đang trở về. Luôn luôn có những “input” và “out put” đang xảy ra, vì vậy chúng ta đừng nghĩ rằng sau khi xác thân tan hoại rồi ta mới trở về. Chúng ta đang trở về và trở ra trong từng giây phút của đời sống hằng ngày.

Tâm mình có thể làm thay đổi cục diện

Tuy đất Mẹ có sự vững chãi, có tài ba, có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu nhưng có khi đất Mẹ cũng đau khổ. Cũng như bà mẹ của mình, tuy có rất nhiều tình thương nhưng có khi mẹ cũng đau khổ. Hành tinh Đất cũng có khi đau khổ giống như một bà mẹ, vì vậy có khi có núi lửa phun ra, có khi có bão tố, địa chấn hay hải chấn. Ta rất đau khổ mỗi lần xảy ra như vậy và ta cho đó là vì trời phạt. Nhưng thật ra chúng ta cũng có một phần trách nhiệm về những gì xảy ra cho trái đất.

Ví dụ như trong vùng đất này gần cả năm không có mưa, chúng ta than phiền tại sao đất Mẹ không cho mưa; còn ở Thái Lan thì mưa đến ngập lụt khiến cho 500-600 người chết. Chúng ta trách trời trách đất tại sao bất công như vậy. Đó là tại vì nghiệp, tại hành động của chúng ta đã làm mất đi thế thăng bằng. Hôm trước có một vị đề nghị chúng ta nên gửi năng lượng để cầu mưa cho vùng này. Chúng ta cầu mưa không phải bằng cách hướng về một vị thần ở đâu đó. Tôi nghĩ cầu mưa ở đây cũng rất khoa học: Chúng ta ngồi ở đây như một tăng thân, tập trung tâm ý và gửi năng lượng tập thể cho đất Mẹ. Trong năng lượng tập thể có chất liệu của từ bi, của tuệ giác, ý thức được rằng con người đã làm mất đi cái thăng bằng và có tâm niệm muốn hối cải, muốn sống lành mạnh.

Khi chúng ta ngồi với nhau và gửi năng lượng tới đất Mẹ thì đất Mẹ có thể sắp đặt trở lại để mưa có thể rơi xuống vùng này của trái đất. Chuyện đó có thể xảy ra được. Lực lượng tâm ý của chúng ta cũng là một năng lượng có thể làm thay đổi cục diện. Cầu mưa không phải là mê tín mà có thể rất khoa học, tại vì tâm của mình có thể thay đổi được tình trạng. Tâm mà có từ bi, có tuệ giác, có năng lượng an lành thì tâm có khả năng chữa trị, thay đổi. Nếu tâm có hận thù, bạo động, tuyệt vọng thì sẽ tạo ra những khổ đau trên thế giới.

 

 

Đây là cầu nguyện:

Lạy Mẹ, Bồ tát Thanh Lương Đại Địa, có những lúc chúng con đau khổ thật nhiều vì thiên tai xảy ra. Chúng con ý thức rằng trong lúc chúng con khổ thì mẹ cũng đang khổ. Có khi chúng con hướng về mẹ và hỏi: Chúng con có thể trông cậy và nương tựa vào mẹ hay không? Nhưng lúc ấy Mẹ không trả lời ngay cho chúng con. Sau đó mẹ nhìn chúng con bằng con mắt xót thương và nói: Cố nhiên là các con có thể nương tựa vào Mẹ, tại vì Mẹ sẽ luôn luôn có mặt đó cho chúng con, nhưng các con cũng nên tự hỏi câu hỏi này: Liệu Mẹ có thể tin tưởng và trông cậy vào các con hay không?

Lạy Mẹ chúng con đã thức nhiều đêm không ngủ vì cái công án đó. Và bây giờ đây với những khuông mặt đầm đìa nước mắt, chúng ta đến quỳ dưới chân Mẹ và dâng lên Mẹ câu trả lời chân thành này: Mẹ từ bi và thánh thiện của chúng con ơi, Mẹ có thể trông cậy và tin tưởng ở chúng con.

Khi đi thiền hành chúng ta cũng thấy được phần trách nhiệm của mình. Mình phải thức dậy, phải biết vai trò của mình và bảo hộ Mẹ chứ mình không thể hoàn toàn chỉ trông cậy ở Mẹ. Mình là một phần của Mẹ, mình là Mẹ. Khi có bất nhị trí, mình sẽ thoát khỏi phiền não như sợ hãi, hận thù, thèm khát và tuyệt vọng. Mình sẽ không gây đổ vỡ hay tàn hại cho chính mình, cho chủng loại khác và cho đất Mẹ.

Quán chiếu về sống chết

 

Đối diện với cái chết

Chúng ta có bài tập:

Thở vào tôi biết tôi đang còn sống
Thở ra tôi mỉm cười với sự sống trong tôi và chung quanh tôi

Bài thực tập này giúp chúng ta có mặt thật sự và tiếp xúc được với sự sống. Theo nguyên tắc, khi thở vào, đem thân trở về với thân, tiếp xúc được với sự thật là ta đang còn sống và sự sống đang có mặt trong ta và chung quanh ta thì sự thực tập chế tác được niềm vui, niềm vui được biết là ta đang còn sống. Ta có tuệ giác là mình phải sống như thế nào cho xứng đáng, để không làm uổng phí sự sống mà mình đã được ban tặng. Thở vào tôi biết là tôi đang còn sống, ta có niềm vui do ý thức tạo ra.

Nhưng niềm vui nhờ ý thức được rằng mình đang còn sống có hàm chứa sự lo lắng mà mình không muốn đối diện. Mình lo lắng một ngày nào đó mình sẽ phải chết tại vì có sống thì phải có chết. Niềm vui đó có thể không trọn vẹn, mình trận quí sự sống, mình trân quí giây phút hiện tại nhưng phía sau vẫn còn một sự lo lắng nào đó: Ngày mai mình sẽ nằm xuống và thân xác của mình sẽ cứng đơ. Mình không còn thở, không còn cảm xúc, không còn cảm giác nữa, mình không còn suy tư và không còn có mặt trong cuộc đời.

Tuy niềm vui chế tác bởi ý niệm “mình đang còn sống” có mặt thật sự, nhưng phía sau còn lãng vãng một nỗi sợ, một nỗi buồn. Niềm vui đó không được trọn vẹn tại vì mình biết rất rõ đã có sự sống thì thế nào cũng có cái chết, không chết ngay bây giờ nhưng sẽ chết một ngày nào đó. Vì vậy trong đạo Bụt chúng ta có những phép thực tập quán chiếu về cái chết. Đức Thế Tôn nói quán chiếu về cái chết đem lại rất nhiều lợi lạc. Chúng ta sợ cái chết, chúng ta không cảm thấy thoải mái khi nghĩ tới cái chết và ta có khuynh hướng đẩy ý niệm chết ra. Ta không dám đối diện với cái chết, nhưng trong tiềm thức ta biết thế nào ta cũng phải đối diện với nó. Chúng ta có nhiều bài tập quán chiếu về cái chết mà bài tập thông thường nhất là:

Tôi thế nào cũng phải chết. Tôi không thể nào tránh khỏi cái chết.

Trong chiều sâu tâm thức của chúng ta có hạt giống sợ chết. Nhưng thay vì trốn chạy hay khỏa lấp nó thì ta đưa nó lên và nhìn thẳng vào nó. Ta đối diện với nỗi sợ của mình, nỗi sợ khi chết phải đi vào hư vô, phải từ lĩnh vực của hữu thể đi vào lĩnh vực của vô thể. Mỗi người trong chúng ta đều có hạt giống của sự sợ hãi đó nên bài tập dạy chúng ta: thay vì chạy trốn nó thì ta nâng nó lên cao và nhìn thẳng vào mặt nó. Trụ Vũ có viết một bài thơ:

Tôi đi giữa sa mạc hiu quạnh
Một con gấu bỗng đến vồ tôi
Nhưng tôi nhìn thẳng vào mặt nó
Để mặc cho nó xé nát cho rồi

Nhưng bài thơ của Trụ Vũ có vẻ bi thảm. Đáng lý ra mình phải xé nát con gấu thay vì để con gấu xé nát mình. Cái chết chỉ là một ý niệm, con gấu đó là một con gấu giấy mà không phải là con gấu thật.

Bài thực tập này Bụt đưa ra cho các thầy gồm có năm phần:

1.Thế nào tôi cũng phải già, tôi không thể nào tránh thoát cái già.

    Ta đem cái sợ già lên nhìn và mỉm cười với nó. Người tu phải có can đảm đối trị cái sợ của mình, nếu không nó sẽ âm thầm tàn phá mình, tại vì tiềm thức mình hoạt động ngày đêm và nó chi phối cách suy tư, cách nói năng, cách hành động của mình mỗi ngày.

    Phương pháp của đạo Bụt là không trốn chạy mà phải đem cái sợ lên mà nhìn cho kỹ, trước hết là nhìn cái già của mình: mình thế nào cũng phải già, mình còng lưng xuống chống gậy và đi những bước run rẩy.

    2.Tôi thế nào cũng phải bệnh, tôi không thể nào thoát khỏi bệnh.

      Trước khi chết thế nào mình cũng phải bệnh, không bệnh này thì bệnh khác. Mình rất sợ giờ phút mình nằm trên giường bệnh, bác sĩ chăm sóc cho mình bớt đau nhức. Khi mình trực tiếp nhìn vào mặt của cái bệnh thì nó sẽ không ở bên dưới thầm thầm chi phối mình nữa.

      3.Tôi thế nào cũng phải chết, tôi không thế bào tránh khỏi cái chết.

      4.Những gì tôi trân quí hôm nay như địa vị, bằng cấp, danh vọng, tài sản, những người thương thì đến giờ phút đó tôi đều phải buông bỏ, tôi không đem theo được gì hết.

        Mình phải thấy được sự thật đó. Có những người chết rất khó tại vì họ không buông bỏ được. Chúng ta học quán chiếu để buông bỏ ngay từ bây giờ.

        5.Cái mà tôi đem theo là tất cả hành động của tôi. Những gì, tôi nghĩ, những gì tôi nói, những gì tôi làm sẽ không mất đi, tôi sẽ đem chúng theo và hoàn toàn chịu trách nhiệm về chúng nó.

          Những tư duy của tôi, những lời nói, những hành động của tôi (hoặc lành hoặc dữ) đều mang chữ ký của tôi. Tôi không thể nào chối là tôi đã không nghĩ, không nói, không làm như vậy. Đó là những nghiệp mà tôi đã tạo ra trong đời này và nó sẽ đi theo tôi.

          Đức Thế Tôn đã dạy các thầy, các sư cô quán chiếu như vậy với mục đích là cho chúng ta cơ hội đưa cái sợ lên, nhìn thẳng vào mặt nó để làm cho nó yếu bớt đi, không cho nó âm thầm chi phối những tư tưởng, những ngôn ngữ hay những hành động của mình trong đời sống hằng ngày. Chúng ta nên có một bài tập nữa để bổ túc cho bài tập”Thở vào tôi biết đang còn sống, thở ra tôi ăn mừng sự sống”.

          Thở vào, tôi biết ngày nào đó tôi sẽ chết và tôi sẽ không đem theo được gì ngoài hành động (karma) của tôi mà thôi.

          Bài tập thứ hai này không dễ chịu bằng bài tập thứ nhất nhưng nếu mình biết thực tập thì bài tập thứ nhất sẽ đem lại cho mình hạnh phúc nhiều hơn. Đức Thế Tôn có nói: nếu chúng ta quán chiếu được về cái chết thì công đức sẽ vô lượng. Theo tiêu chuẩn ngoài đời, một người đang còn trẻ mà quán chiếu về cái chết thì không lành mạnh (morbide). Nhưng sự thật thì ngược lại, nếu quán chiếu và thấy được bản chất của cái chết thì ta sẽ trân quí sự sống và ta sẽ sống sâu sắc và hạnh phúc hơn nhiều.

          Đức Khổng Tử nói: Mình chưa biết xử lý sự sống thì làm sao mà xử lý được cái chết? (Vị năng sự sinh, yên năng sự tử?). Nhưng nếu mình quán chiếu và có được một cái thấy chính xác về cái chết thì lúc đó mình sống mới thật là sống, tại vì cái sống và cái chết nương vào nhau mà có.

          Quán chiếu về không sinh không diệt

          Đứng về phương diện tích môn thì có sống và chết, có sinh và diệt; nhưng đứng về phương diện bản môn thì không có sinh, không có diệt. Quán chiếu về chết và sống rồi, mình có thể đi tới bước thứ hai là quán chiếu về không sinh không diệt.

          Khoa học hiện đại đang vật lộn với quan niệm sống-chết, có-không và khoa học đã khám phá ra nhiều điều tương đương với tuệ giác của đạo Bụt. Lavoisier đã nói: Không có gì sinh cũng không có gì diệt (Rien ne se crée, rien ne se perd). Khoa học đã nêu ra luật bảo tồn năng lượng và luật bảo tồn vật chất (la loi de la conservation de l’énergie, la loi de la conservation de la matière). Các nhà khoa học nhìn vào vật chất, nhìn vào năng lượng và thấy rằng: bản chất của vật chất cũng như của năng lượng là không sinh không diệt. Chúng ta không thể nào làm ra vật chất mới, làm cho vật chất từ có mà trở thành không. Chúng ta cũng không thể nào tạo ra năng lượng mới hay làm cho năng lượng từ có mà trở thành không. Đó lá cái thấy của những nhà khoa học.

          Lavoisier nói: Không có gì sinh, không có gì diệt, tất cả đều chuyển biến (Rien ne se crée, rien ne se perd, tout se transforme). Tất cả đều biến đổi, mà biến đổi khác với sinh diệt. Sinh là từ không mà trở thành có, diệt là từ có mà trở thành không, còn chuyển biến là thay đổi mà thôi. Vì vậy cái thấy của Lavoisier rất sâu sắc, ông đã khám phá ra sự thật là các pháp không sinh cũng không diệt, các pháp là vô thường chuyển biến. Nhưng không biết Lavoisier có áp dụng được cái thấy đó vào trong đời sống của ông hay không? Năm 51 hay 52 tuổi thì ông bị lên máy chém. Vợ của Lavoisier rất dễ thương, ông đã cưới cô lúc cô chưa được 14 tuổi. Cô rất xinh đẹp và yêu chồng, cô nguyện học tiếng Anh để dịch những tác phẩm khoa học của các nước cho chồng tham khảo và cô cũng trở thành một nhà khoa học. Nhưng sau cuộc cách mạng Pháp thì Lavoisier và ông bố vợ đều bị lên máy chém.

          Tôi đặt câu hỏi là khi lên máy chém Lavoisier có áp dụng được cái thấy bất sinh bất diệt hay không? Chính Lavoisier đã nói rằng không có gì sinh cũng không có gì diệt và nếu quả thật Lavoisier có cái thấy đó như một tuệ giác sống mà không phải là lý thuyết thì khi lên máy chém ông có thể mỉm cười được. Cái thấy của Lavoisier và cả Lavoisier vẫn còn tiếp tục cho tới bây giờ, Lavoisier đang có mặt trong thiền đường này ngày hôm nay, Lavoisier không chết được. Cũng như đám mây trên trời, đám mây không chết khi trở thành mưa, nó chỉ tiếp tục dưới hình thức của cơn mưa. Những khám phá của khoa học không những chỉ được áp dụng vào lĩnh vực kỹ thuật mà còn phải được áp dụng vào đời sống tâm linh và đời sống tình cảm của con người. Vì vậy nhà khoa học phải nắm tay với nhà Phật học tại vì hai bên khám phá ra những điều tương đương với nhau rất hay.

          Không có cũng không không

          Nếu đã không có sinh, không có diệt thì cũng không có có, không có không tại vì sinh là từ không mà trở thành có và diệt là từ có mà trở thành không. Đã đạt tới không sinh không diệt, nhưng khoa học không chấp nhận được là đã không sinh không diệt thì cũng không có không không. Nhiều nhà khoa học vẫn còn kẹt vài ý niệm có và không. Theo nguyên tắc thì nếu đã chấp nhận sự thật là không sinh cũng không diệt thì cũng phải chấp nhận luôn sự thật là không có cũng không không. Chúng ta không thể nói rằng vũ trụ bây giờ đang có và mai mốt nó sẽ trở thành không, hay là vũ trụ bây giờ đang có nhưng trước khi có nó đã là không. Nếu chấp nhận sự thật đó khoa học sẽ không đi tìm giây phút đầu tiên, giây phút mà vũ trụ từ không trở thành có gọi là Big Bang, và một khi đã có Bia Bang thì khoa học phải tưởng tượng ra ngày nào đó vũ trụ sẽ bị tiêu diệt gọi là Big Crunch.

          Là nhà Phật học mình phải nói với nhà khoa học: Nếu đã chấp nhận không sinh không diệt rồi thì phải tiến tới một bước nữa là chấp nhận không có cũng không không, phải thoát ra ý niệm being và non-being. Đối với nhà thần học cũng vậy, nếu đã làm việc với nhà Phật học và nhà khoa học thì nhà thần học cũng phải chấp nhận điều đó. Định nghĩa Thượng đế là nền tảng của hữu thể (the ground of being) là còn kẹt vào ý niệm có và không. Nếu Thượng đế là nền tảng của cái có thì ai là nền tảng của cái không? Thượng đế phải thoát ra ý niệm có và không, cho nên đặt vấn đề Thượng đế có hay không có là vô nghĩa. Chúng ta không thể gán cho Thượng đế ý niệm có và không hay sinh và diệt, tại vì ta không thể gán niệm có và không hay sinh và diệt cho một đám mây hay một năng lượng thì làm sao mà ta có thể gán nó cho Thượng đế? Ta đừng cho rằng Thượng đế đứng về phe hữu thể và Satan đứng về phe vô thể, tại vì nếu như vậy thì Thượng không phải là tất cả, Thượng đế có kẻ thù là Satan cũng như hữu thể là kẻ thù của vô thể. Hữu và vô là hai ý niệm cũng như hai ý niệm sinh và diệt.

          Sống và chết tương tức

          Chúng ta thử vạch một đường tượng trưng cho thời gian từ quá khứ đi tới hiện tại, và tương lai.

          Mình ngồi ở điểm hiện tại và nói:

          Thở vào tôi biết là tôi đang còn sống

          Điều đó có nghĩa là tôi bắt đầu sống ở điểm sinh ra và sẽ tiếp tục sống cho đến điểm chết đi. Khi nói như vậy thì phía sau mình có một niềm đau, một sự lo lắng cho nên niềm vui không được trọn vẹn. Vì vậy ngồi ở giây phút hiện tại chúng ta làm thêm một bài tập:

          Thở vào tôi biết tới lúc nào đó tôi cũng phải chết

          Tôi từ vô thể mà đi vào hữu thể, rồi tới điểm chết tức là tôi sẽ từ hữu thể mà đi vào vô thể, đó là cái thấy của chúng ta. Cái thấy đó đưa tới sự lo lắng, nó nằm như một khối trong tiềm thức và chi phối đời sống của mình. Mình đẩy, mình chạy trốn, mình khỏa lấp cái sợ đó, nhưng nó vẫn còn đó, tại vì sự thật là hễ có sinh thì có tử, không có tử thì không có sinh. Mình cứ tưởng có  một cái sinh ra trước, rồi lâu lắm thì cái kia mới sinh ra. Điều này không đúng tại vì sinh và tử có mặt cùng một lần, chúng đi sát với nhau như một cặp bài trùng và có mặt ngay bây giờ chứ không đợi đến một trăm năm sau. Cũng như bên trái và bên trái, không phải là bên trái có trước và saư đó bên trái mới sinh ra, hễ có trái thì có phải ngay lúc đó. Phải làm nền tảng cho trái xuất hiện và trái làm nền tảng cho phải xuất hiện, phải và trái sinh ra cùng một thời, không có cái này thì không có cái kia. Phải và trái tương tức (inter-being), đó gọi là câu hữu (co-being), tiếng Phạn là sahabhu, bhu là có mặt (hữu), saha là cùng nhau. Cái có không thể có mặt một mình, cái có phải cùng có mặt với cái không. Cái sinh không thể có mặt một mình, cái sinh phải cùng có mặt với cái tử.

          Tất cả những gì chúng ta thấy và tiếp xúc hằng ngày cũng đều như vậy. Trong và ngoài cùng xuất hiện một lần, cha và con cùng xuất hiện một lần. Trước khi con anh sinh ra thì anh không được gọi là cha, anh chỉ được gọi là cha khi con của anh sinh ra mà thôi. Có con thì mới có cha, có cha thì mới có con, con và cha tương tức. Cha dựa trên con mà con và con cũng dựa trên cha mà có. Phật là người giác ngộ và chúng sanh là người mê lầm, nhưng có chúng sanh mới có Phật và có Phật mới có chúng sanh. Phật và chúng sanh đi đôi với nhau, chúng ta đừng nên chọn một cái và vứt cái kia đi. Hạnh phúc và khổ đau cũng như vậy, đó là hai mặt của một thực tại. Hạnh phúc dựa trên khổ đau mà có và khổ đau dựa trên hạnh phúc mà có, vì vậy chạy trốn khổ đau và đi tìm hạnh phúc là một chuyện rất buồn cười. Giải thoát có nghĩa ngược lại với triền phược, nhưng nếu không có triền phược thì làm gì có giải thoát và không có giải thoát thì làm gì có triền phược? Giải thoát và triền phược tương tức, câu hữu.

          Theo nguyên tắc, mình sinh ra lúc 0 hay 1 tuổi và chết đi lúc 100 tuổi, nhưng mình có thể chết đi bất cứ lúc nào. Giữa sinh và tử không có khoảng cách mà chúng dính vào nhau như mặt trái và mặt phải của một tờ giấy. Chúng ta thấy rất rõ nếu không có mặt trái thì không có mặt phải và ngược lại. Trái và phải, trên và dưới sinh ra cùng một lần. Đó gọi là tương tức.

          Chúng ta đừng nên nghĩ rằng sự sống có mặt bây giờ và cái chết sẽ đến trong tương lai. Khi đi từ Boston tới New York chúng ta nghĩ có Boston và có New York, ta phải lái xe mấy giờ đồng hồ mới từ Boston tới New York. Nhưng trong mỗi bước chân của mình, bước chân nào cũng có Boston và New York. Mình đang hướng về New York và quay lưng về Boston, nhưng Boston và New York có ngay ở đây mà không phải chỉ có ở hai đầu mà thôi.

          Cái chết và cái sống cũng vậy, nó không bị ngăn cách bởi một khoảng thời gian và không gian, nó có mặt ngay trong hiện tại, nó gần với nhau hơn là bề mặt và bề trái của tờ giấy. Không có cái chết thì không thể nào có sự sống, không có diệt thì không thể nào có sinh.

          Các nhà khoa học cũng tìm ra được điều đó. Họ thấy rõ ràng trong cơ thể của mình lúc nào cũng đều có cái chết đang xẩy ra. Trong lĩnh vực sinh học cũng như trong lĩnh vực lượng tử, cái gọi là vô thường (transformation) đạt tới trình độ cao nhất. Nhìn vào trong cơ thể của mình chúng ta thấy trong mỗi giây phút có hàng triệu tế bào chết đi và có hàng triệu tế bào sinh ra, và cái sống cùng cái chết dựa vào nhau mà có. Nếu những tế bào kia không chết đi thì những tế bào này không sinh ra, sinh dựa vào tử và tử dựa vào sinh. Nếu nhìn bằng kính hiển vi thì ta sẽ thấy bề dày của tờ giấy còn lớn hơn nhiều so với khoảng cách giữa sinh và diệt trong một giây phút, tại vì khoa học hiện nay đã chứng thực được rằng cái chết và cái sống cùng phát hiện trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày.

          Hàng triệu tế bào đang chết mà mình không đau buồn và hàng triệu tế bào đang sinh ra mà mình cũng không vui mừng. Thông thường nếu có một người chết thì mình làm đám ma, nhưng trong giây phút hiện tại có hàng triệu tế bào chết mà mình không có thì giờ để  làm đám ma cho từng tế bào, và có hàng triệu tế bào mới sinh ra mà mình không có thì giờ để ăn mừng ngày ra đời của chúng. Sự sống chết đang nương vào nhau và xẩy ra ngay bây giờ thì tại sao mình lại phải sợ chết? Mình sợ  tại vì mình có cái thấy lệch lạc, mình lấy lưỡi dao ý niệm để tách sự thật ra làm hai phần, một bên là sự sống và một bên là cái chết; bên này là hình hài nhảy múa, cười đùa, ăn uống và bên này là thân thể cứng đơ không có suy tư. Mình cho là mình đang ở bên sự sống, nhưng thật ra là cái sống đang ở bên cái chết và cái chết đang ở bên cái sống. Sống và chết tương tức với nhau.

          Niết bàn: Tuệ giác vượt thoát ý niệm sống và chết, có và không

          Quán chiếu bài tập đến câu thứ năm chúng ta thấy: Những gì mà tôi đem theo khi xác thân này tan hoại chỉ là những hành động của tôi. Tất cả những gì tôi chế tác bằng năm uẩn của tôi tức tư tưởng, lời nói và hành động đều mang chữ ký của tôi và khi tôi chết thì chúng nó sẽ đi theo tôi.

          Đứng về phương diện khoa học thì không có gì mất đi, không có cái chết. Đám mây trên không thể chết, nó không thể nào từ hữu thể mà trở thành vô thể. Khi trở thành mưa thì tất cả đám mây đều nằm trong mưa, nó không mất đi một nguyên tử nào. Khi thí nghiệm một phản ứng hoá học, chúng ta chế chất này vào trong chất kia thì phản ứng hóa học có thể cho chúng ta có cảm tưởng là có một chất gì đó mất đi và một chất gì đó hiện ra. Nhưng nhìn cho kỹ thì các nhà khoa học thấy rằng tất cả những nguyên tử đi vào phản ứng vẫn còn nguyên khi đi ra khỏi phản ứng hóa học, không có gì cũ bị mất đi và không có gì mới được tạo nên.

          Trong Thất Ngồi Yên của tôi có ống kính vạn hoa (kaleidoscope) rất đẹp. Nhìn vào, mình thấy một hệ thống hình ảnh và màu sắc tuyệt vời. Chỉ cần xoay một cái là mình có hình ảnh mới đẹp tương đương, có khi còn đẹp hơn hình ảnh cũ. Không có hình ảnh nào giống hình ảnh nào, nhưng hình ảnh nào cũng đều tuyệt vời. Những hình ảnh thay đổi, nhưng không có gì mất đi, không có gì sinh ra và mình không có thương tiếc tại vì hình ảnh này tiếp nối hình ảnh kia rất đẹp. Không có gì thêm vô, không có gì mất đi, tất cả đều chuyển biến. Đám mây trên trời đẹp thật, nhưng khi trở thành mưa thì nó cũng đẹp. Tất cả những gì có trong đám mây bây giờ đều có mặt trong cơn mưa. Đó gọi là bảo tồn (conservation). Nếu nghĩ chết là không còn gì nữa thì rất sai lầm. Nhìn cho kỹ thì không có cái sinh, không có cái tử. Chúng ta phải sử dụng tuệ giác đó, và ngay chính trong khoa học cũng phải áp dụng tuệ giác đó. Thấy được không sinh không tử mình sẽ giải quyết được vấn đề sợ hãi, tại vì sự sợ hãi là gánh nặng nhất của con người.

          Bông hoa hay con chim kia đang sống, nhưng chúng không có nỗi sợ hãi đó. Con người phải trả cái giá văn minh của mình bằng nỗi lo sợ phập phồng về cái chết và về cái vô thể.  Vì thế  sự quán chiếu giúp con người vượt thoát ý niệm có và không, sống và chết. Khi khi vượt khỏi ý niệm có và không, sống và chết rồi thì nỗi lo sợ của mình sẽ không còn và mình có được niềm vui thật sự. Mục đích cao nhất của người tu là đạt tới Niết bàn. Niết bàn là tuệ giác, là cái thấy vượt thoát ý niệm có và không, sống và chết. Nhưng Niết bàn không phải là cái gì xa lắc xa lơ, Niết bàn nằm trong những cái mà chúng ta tiếp xúc hằng ngày như đám mây kia. Đám mây thuộc về thế giới hiện tượng; quán sát nó mình thấy nó có khi có có khi không, có khi sinh có khi diệt. Nhưng nhìn kỹ bản chất của đám mây, mình thấy tự tính của nó là không sinh không diệt, không có không không. Khoa học cũng có thể làm được điều đó. Đám mây không cần phải đi tìm cái không sinh không diệt, không có không không tại vì nó đang ở trong đó rồi. Có, không, sinh, diệt chỉ là ý niệm của mình. Không những đám mây mà tất cả vạn vật đều như vậy.

          Chúng ta hãy tưởng tượng có một đám mây mà 50% biến thành mưa và 50% vẫn còn bay lơ lững trên trời. Một nửa đám mây nhìn xuống và nhìn thấy một nửa của nó đã trở thành dòng nước. Nó nhận ra được dòng nước đó là sự tiếp nối của mình, nó thấy nó bay ở trên cũng vui mà nó trôi chảy ở dưới cũng vui. Nó chào phân nửa của nó ở dưới: Hello, you are half of me down there, I go join you very soon. Đám mây không có sợ hãi, nó biết bản chất của nó là không có không không, không sinh không diệt. Chỉ có sự biến chuyển mà không có sự sinh diệt. Đám mây không có sự lo lắng của con người.

          Niết bàn không phải là cái mình đi tìm. Mình đang ở trong Niết bàn tức trong thể tính không sinh không diệt, không có không không của mình. Cũng như đợt sóng kia đang sợ hãi vì sự lên xuống, có không; nhưng khi đợt sóng biết mình là nước rồi thì nó không còn sợ hãi nữa, đi lên nó cũng vui mà đi xuống nó cũng vui. Nó không cần phải đi tìm nước, nó đã là nước rồi. Niết bàn cũng vậy, Niết bàn không phải là trạng thái tâm lý hay nơi chốn mà mình phải đi tìm. Niết bàn là bản chất của mình, mình đang ở trong Niết bàn. Chúng ta nói “nhập Niết bàn”, như vậy có nghĩa là mình ở ngoài và mình đi vô Niết bàn. Điều này không đúng, nói như vậy giống như mình là một cái khác, Niết bàn là một cái khác và mình đi vô Niết bàn. Mình đang ở trong Niết bàn thì cần gì phải nhập Niết bàn. Niết bàn nằm ở đâu? Niết bàn nằm ngay ở chỗ sinh tử. Đi tìm nước ở đâu? Tìm ngay ở sóng. Trong sóng có nước, trong sinh tử có Niết bàn. Nhìn bề ngoài, đám mây có sinh, có tử; nhưng trong bề sâu đám mây không có sinh, không có tử.

           

           

          Địa xúc – tuệ giác vô ngã

          Tiếp xúc với tự tính vô ngã

          Vô ngã là một cái định (concentration) mà không phải là triết học hay ý niệm. Nếu chỉ sử dụng trí năng thì chúng ta sẽ không chứng đạt được vô ngã. Phải thực tập định thì ta mới chứng được vô ngã, tại vì có thể ta nói về vô ngã rất hay nhưng cái ngã của ta vẫn còn rất lớn. Cái ngã càng lớn thì ta càng đau khổ và càng làm cho những người khác đau khổ. Vấn đề không phải là nói về vô ngã mà ta phải thực tập như thế nào để vượt thoát được ý niệm về ngã.

          Trong khi thực tập địa xúc (thiền lạy), chúng ta quán tưởng tới đất Mẹ. Chúng ta nhắc lại lúc Bụt Thích Ca sắp thành đạo. Ngài có linh cảm rằng trong 24 giờ đồng hồ nữa thì Ngài sẽ đạt được đạo nên Ngài rất phấn khởi. Lúc đó ma vương Ba Tuần hiện ra nói với Ngài:

          • Ông có chắc là trong 24 giờ đồng hồ nữa ông sẽ chứng đạo không? Ông đừng nên lạc quan nhiều như vậy. Ai sẽ làm chứng là ông đã làm được chuyện đó? Làm sao mà ông đạt được đạo? Thế giới nằm dưới quyền của tôi, quyền của u mê, quên lãng. Làm sao ông có thể vượt thoát ra sự kiểm soát của tôi?

          Bụt làm ấn địa xúc, dùng tay trái sờ vào đất Mẹ và nói:

          • Có đất này làm chứng cho tôi là tôi đã từng thành công và tôi sẽ thành công trong 24 giờ đồng hồ nữa.

          Khi được Siddharta chạm tới thì đất Mẹ đã rung động bảy lần. Ma vương biết mình đã thua liền biến mất. Trong khi thực tập địa xúc chúng ta biết Đức Thế Tôn đã thành đạo nhiều lần trên trái đất này. Ngày xưa đức Konāgamana (Câu Na Hàm Nâu Ni) cũng là Bụt. Ngày mai khi đức Di Lặc ra đời thì cũng là Bụt. Đất Mẹ vẫn tiếp tục cho ra những vị Bụt. Thấy được điều đó ta sẽ quay về nương tựa nơi đất Mẹ. Ta sẽ không bao giờ chết, ta luôn luôn trở về đất Mẹ và ta sẽ được đất Mẹ đưa ra trở lại cho tới khi ta có thể thành công được như Đức Thế Tôn, thầy của chúng ta.

          Nguồn: An cư kết đông 2013-2014 tại Làng Mai, Pháp

          Sau khi quán tưởng, đại chúng thực tập địa xúc ba lần. Mỗi khi tôi thực tập địa xúc, hoặc một mình hoặc cùng với đại chúng, lúc chắp tay lạy, trong quá trình năm vóc gieo xuống, tôi luôn quán tưởng rằng đây không phải là một cá nhân đang lạy xuống mà là cả một dòng họ, một đất nước, một dòng tâm linh và huyết thống đang lạy xuống. Và trong suốt thời gian gieo xuống năm vóc như vậy thì mình được giải thoát, giải thoát ra khỏi ý niệm mình là một cái ta riêng biệt tách rời. Sự thật thì chúng ta không có một cái ta riêng biệt. Nhìn vào năm uẩn tôi thấy sự có mặt của cha mẹ, của ông bà tổ tiên tâm linh và huyết thống, tôi thấy đại chúng và tôi cùng lạy xuống như một tập thể, như một dòng họ, như một truyền thống. Tôi không lạy xuống như một cá nhân riêng lẻ.

          Chỉ cần có một chút niệm và định thì ta thấy được, tức là ta có tuệ. Trong khi gieo năm vóc xuống mà có niệm, định và tuệ thì ta trở thành một con người tự do, ta không còn bị tư tưởng về cái ngã khống chế nữa. Định lực “không có cái ngã“ có mặt trong suốt thời gian gieo xuống năm vóc. Khi trán tiếp xúc với đất thì ta cũng tiếp xúc luôn với tổ tiên tâm linh, với các vị Bụt và các vị Bồ tát. Mấy năm nay tôi thường quán chiếu:

          Chúng con (tăng thân xuất sĩ, cư sĩ và cả dòng họ, ông bà, tổ tiên) xin Tam bảo (Bụt, Pháp và Tăng) gia hộ cho chúng con có đủ sức mạnh, đủ kiên nhẫn để vực dậy một nền đạo lý toàn cầu ứng dụng để làm cho thế gian này bớt khổ.

          Đây không phải là lời nguyện của một người mà là lời nguyện của cả tăng thân, dòng họ. Ta được tuệ giác vô ngã tiếp tục soi sáng trong thời gian ta thở ba hơi thở vào và ra. Theo sự thực tập của Làng Mai thì trong khi năm vóc lạy xuống, ta thở vào và thở ra ba lần. Vị tri chung phải để cho đại chúng đủ thì giờ để thở vào và thở ra ba lần trong khi quán chiếu. Trong khi thở vào và thở ra ba lần, ta duy trì được định vô ngã. Ta thấy ta cũng là dòng họ, là tổ tiên tâm linh huyết thống, là cả một đất nước mà không phải là một cá nhân.

          Khi nghe tiếng chuông nhấp thì ta đứng dậy, không phải với tư cách một người mà ta đứng dậy với tư cách của tăng thân, của dòng họ quá khứ, hiện tại và tương lai. Tôi hy vọng đại chúng cũng thực tập địa xúc như vậy.

          Khi nhìn một người, người đó có thể là sư anh, sư chị, sư em của ta, một thiền sinh cư sĩ hay một em bé, ta cũng phải thực tập nhìn với tuệ giác vô ngã. Ta không nhìn người đó như một cá nhân đơn độc tách rời mà ta phải thấy được cả dòng họ của người đó. Sự thật người đó không phải là một cá nhân biệt lập. Trong người đó có tất cả tổ tiên huyết thống và tâm linh, không chỉ tổ tiên loài người mà còn có các loài khác, tại vì các loài khác đã có mặt trước khi loài người xuất hiện. Trước khi có loài động vật thì đã có các loài thực vật và khoáng vật. Vì vậy ta có tổ tiên loài người, nhưng ta cũng có tổ tiên động vật, thực vật và khoáng vật. Nhìn một người ta phải thấy cả quá trình tiến hóa của sự sống. Ta thấy được lịch sử của sự sống trong con người đó. Người đó từ khoáng, từ khí, từ sương, từ cây cỏ, từ động vật mà trở thành con người homo sapiens. Thấy được như vậy thì ta mới thấy được người đó, nếu chưa thấy như vậy thì ta chưa thấy được người đó. Thấy được người đó là thấy được tính vô ngã của người đó. Người đó có đức hạnh, tài năng nhưng cũng có những khiếm khuyết và những tật xấu. Đức hạnh, tài năng hay khiếm khuyết, tật xấu không phải là của người đó mà là của cả một dòng tiếp nối. Thấy được như vậy là ta thấy được người đó, nếu không thì ta chỉ có ảo tưởng về người đó mà thôi.

          Khi thương một người ta nghĩ là ta đã biết người đó là ai và ta đã nắm được người đó rồi. Ta đã lầm, ta chưa biết gì nhiều về người đó đâu, ta bị hình thức bên ngoài của người đó làm chóa mắt. Khi thương một người ta phải thực tập, ta phải thấy rằng người này là một mầu nhiệm mà ta chưa biết rõ được. Ta chỉ có một quan niệm, một cái thấy rất cạn cợt về người này mà thôi. Ta phải quán chiếu theo lời Bụt dạy thì mới thật sự thấy được người này. Ta phải thấy cha, mẹ, ông, bà, tổ tiên huyết thống và tâm linh, thấy quá trình lịch sử diễn biến trong sự sống thì ta mới thấy được người đó. Nếu thấy được như vậy thì ta cũng thấy được ta ở trong người đó.

          Cũng như một vị tổng thống tiếp nhận một vị đại sứ mới, viên đại sứ khi mới tới phải gặp tổng thống hoặc vua hoặc thủ tướng để trình ủy nhiệm thư, vị tổng thống không nhìn viên đại sứ với tư cách của một cá nhân mà phải thấy viên đại sứ là đại diện cho cả một nước, một dân tộc, một quốc gia. Nói với người đó một câu là nói với cả đất nước, dân tộc của người đó. Trách cứ người đó một câu là trách cứ cả dân tộc, đất nước của người đó.

          Khi nhìn một người, dù người đó là người ta thương hay là người ta không thương thì ta cũng đừng nhìn người đó với tư cách một cá nhân đơn độc, lẻ loi. Ta phải thấy trong người đó, sau lưng người đó là cả một dòng họ, một đất nước với tất cả những cái hay, cái tốt và cái yếu kém của họ. Nhìn như vậy là thấy được cái vô ngã trong người đó. Người ta thương ta phải nhìn như vậy mà người ta giận ta cũng phải nhìn như vậy. Nếu nhìn được sâu thì ta sẽ thấy rõ ràng là ta đang ở trong người đó và người đó cũng đang ở trong ta. Ví dụ như bông hoa này, ta nghĩ là ta đã biết bông hoa này rồi. Nhưng nhìn kỹ thì ta thấy trong bông hoa có đám mây, mặt trời, đại địa, v.v. Ta đã nhìn kỹ mảnh đất nuôi bông hoa hay chưa? Nếu nhìn kỹ ta sẽ thấy trong đất có xương của các loài động vật, những loài thực vật và cũng có thể có xương của ông bà tổ tiên và cả xương của mình. Có thể trong kiếp trước ta đã sống và xương thịt của ta đã tiêu hoại thành đất. Nhìn bông hoa, không những ta thấy tổ tiên ta mà ta còn thấy ngay cả ta trong đó. Ta có trong hoa và hoa có trong ta. Ta đã dùng thực vật làm thức ăn, ta đã ăn trái, ăn lá và ăn cả hoa. Thấy được như vậy thì ta mới thật sự thấy được bông hoa, thấy được người kia, có nghĩa là thấy trong tuệ giác vô ngã.

          Vậy từ nay, khi gặp người thương hay người ta đang giận thì ta hãy nhìn họ với con mắt của niệm, định và tuệ, ta sẽ thấy cái thương ghét của ta được thay đổi. Ta sẽ được giải thoát nhờ tuệ giác vô ngã.

          Hình hài là một cộng đồng

          Trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi, ta phải quán chiếu để thấy hình hài ta là hình hài của tổ tiên và con cháu. Phải thấy rằng ta chính là một cộng đồng của cả hàng trăm tỷ các tế bào trong cơ thể đang cùng chung sống. Không chỉ là tế bào của con người mà còn là tế bào của hàng tỷ sinh vật đơn tế bào khác đang sống chung trong cơ thể, nhất là trong hệ thống tiêu hóa của ta có nhiều loài vi sinh rất cần thiết cho sự sống của cơ thể.

          Mỗi khi nhìn vào một người đang ngồi trước mặt hoặc đang từ xa đi tới, ta cũng có thể quán chiếu để thấy được người đó không phải chỉ là một cá nhân, mà người đó đại diện cho cả một dòng họ, một đất nước và một dân tộc. Thấy được như thế thì ta mới thực sự thấy được những tài năng của người ấy, những tài năng mà tổ tiên người ấy đã trao truyền cho người ấy mà nhiều khi chính người ấy cũng không nhận diện được. Thấy được như thế ta mới có thể giúp cho người ấy vượt thoát khỏi mọi mặc cảm, trong đó có mặc cảm thua người, hơn người hoặc bằng người. Thực tập nhìn ta và nhìn người như thế, ta có cơ hội chứng đạt được chân lý vô thường và vô ngã. Vô thường và vô ngã không còn là những ý niệm để học hỏi nữa mà đã trở thành tuệ giác đích thực có thể giải phóng cho ta và cho người.

          ************************

          Về sự thực tập địa xúc (thiền lạy), đại chúng được nhắc nhở là mỗi khi lễ lạy, ta không nên chỉ lạy xuống với tư cách một cá nhân mà nên lạy xuống như một dòng chảy có đầy đủ tổ tiên và con cháu của cả hai dòng tâm linh và huyết thống. Như vậy trong khi lạy, mình tiếp xúc được tự tính vô ngã trong thân tâm mình. Khi đi cũng vậy, mình có thể quán chiếu là mình bước đi một lần và với tất cả tổ tiên và con cháu tâm linh và huyết thống. Ta có thể đi bằng chân của Bụt, của Tổ, của ông bà, cha mẹ và con cháu chúng ta. Ta có thể bước như thế nào để tất cả dòng họ đều được tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống, để tất cả được nuôi nấng và trị liệu trong từng bước chân. Sáng nào, sau khi ngồi thiền, đại chúng cũng có thực tập địa xúc, sử dụng Sám Pháp Địa Xúc và lạy xuống trong tuệ giác vô ngã.

           

          Đi tìm ý nghĩa của đời sống

          Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đã từng đi tìm cho mình một ý nghĩa của đời sống. Người chưa tìm ra được một ý nghĩa cho đời sống thì chưa có hạnh phúc, chưa có năng lượng. Nếu không khéo thì người đó có thể rơi vào tình trạng trống rỗng hiện sinh (existential vacuum). Tình trạng trống rỗng đó buộc con người phải đi tìm một cái gì đó để khỏa lấp. Thường thì người ta đi tìm nơi đối tượng của dục. Có người tìm quên nơi rượu, có người sử dụng ma túy, có người tìm trong âm nhạc, trong những cuộc vui thâu đêm, cũng có người tìm nơi sắc dục để khỏa lấp sự trống rỗng trong lòng.

          Vào khoảng năm 1965, trong một cuộc thăm dò người ta thấy rằng ở châu Âu số lượng sinh viên có được một chủ đích sống trong cuộc đời lên tới 60 – 65%, trong khi số lượng sinh viên ở Mỹ chỉ có hơn 20%. Sự kiện “trống rỗng hiện sinh” là một triệu chứng của thời đại. Đó không phải là triệu chứng bất an của một cá nhân mà là triệu chứng tập thể của một xã hội. Người ta có cảm giác trống rỗng, cảm thấy đời sống không có ý nghĩa và rồi phải tìm tới những phương tiện để khỏa lấp. Nhưng vì không được soi sáng nên họ đi về hướng sắc dục, ma túy và bạo động.

          Vì vậy chúng ta phải làm thế nào để giúp cho người trẻ có được một ngọn lửa trong lòng, tìm ra được một ý nghĩa của cuộc sống, biết mình sống để làm gì, sống vì cái gì, sống vì người nào, sống vì một chính nghĩa nào. Chúng ta không thể đưa ra một ý nghĩa của đời sống nào đó và mời họ: “Đây là một chính nghĩa, anh lấy đi để xài!”. Công việc mà chúng ta có thể làm là soi sáng cho người đó, giúp cho họ tìm ra được một ý nghĩa của cuộc đời.

                    Tưới tẩm hạt giống tốt

          Thỉnh thoảng có những người tới Làng Mai trong tình trạng như vậy. Họ nói: “Tôi không cảm thấy đời sống của mình có một ý nghĩa gì cả! Tôi thấy chết hay sống cũng giống nhau thôi!”. Sự chán nản bao trùm lên những người đó. Khi đối diện với những người như vậy thì chúng ta phải làm gì để giúp họ? Chúng ta không thể nói một bài pháp thoại hay cho ý kiến để người đó chấp nhận. Chúng ta phải tìm cách nhìn sâu để có thể hiểu được, nhận diện được những hạt giống tốt của người đó, và chỉ cho họ phương pháp tưới tẩm những hạt giống tốt đó nơi họ. Đức Như Lai có dạy rằng người nào cũng có hạt giống tốt của tâm bồ đề. Khi được tưới tẩm thì hạt giống tâm bồ đề của ta biểu hiện ra cách này, và của người kia thì biểu hiện ra cách khác.

          Vấn đề không phải là trao truyền những ý kiến mà là làm thế nào để giúp người kia tìm ra được lẽ sống của chính người đó. Ta sẽ không làm được chuyện đó nếu ta không biết gì về quá khứ cũng như hiểu được cách sống của người đó trong giây phút hiện tại. Những bài pháp thoại của chúng ta chỉ có tác dụng tưới tẩm, khơi lối cho người kia tìm ra được mục đích, ý nghĩa của đời họ. Ta cho pháp thoại không chỉ bằng lời nói mà còn có thể bằng cách sống của mình. Ta sống một cuộc sống có lý tưởng, có thương yêu, có mục đích. Ta hành xử và tỏa chiếu niềm vui, năng lượng. Rồi khi tiếp xúc được với con người và với cách sống của ta thì người đó có cơ hội nhìn trở lại để khám phá ra trong bản thân họ có một cái gì tương tợ mà lâu nay đã bị bít lấp và đè nén.

          Đôi khi người kia bị kẹt, bị những trở lực, và có những bức màn ngăn che không cho người đó thấy được khía cạnh tốt đẹp của chính mình. Ta có thể giúp người đó lột bớt bức màn ngăn che, tháo gỡ những chỗ kẹt để cuối cùng người đó có thể tiếp xúc với những cái đẹp, cái lành, cái thật nơi họ. Họ tìm ra được hướng đi của đời mình.

                    Ý tư liệu pháp (Logothérapie)

          Nhà phân tâm học Viktor Frankl là cha đẻ của phương pháp trị liệu “Logothérapie”. Nếu dùng danh từ Phật giáo chúng ta có thể dịch “Logothérapie” là: ý tư liệu pháp. Ý tư mượn từ chữ ý tư thực (có khi còn gọi là tư niệm thực), tức là ước muốn (volition, deep desire). Nếu có ước muốn là ta có năng lượng và ta có thể đi tới. Những người chán chường, không muốn sống là những người không tìm ra được ý nghĩa của đời sống.

          Frankl đã từng sống rất lâu trong trại tập trung của Đức Quốc Xã (Nazi) và đã trải qua những khổ đau, tuyệt vọng cho đến nỗi ông đã từng nghĩ rằng mình không có khả năng sống sót trở về. Ông là một nhà tâm lý trị liệu có tài. Ông đã sáng tác một tác phẩm nói về phương pháp trị liệu gọi là “ý tư liệu pháp”. Trong đó, ông muốn trao truyền những kinh nghiệm và tuệ giác của mình lại cho đời. Nhưng khi ông bị chuyển tới trại tập trung Auschwitz thì người ta khám phá ra bản thảo và đã tịch thu tác phẩm của ông. Đó là đứa con tinh thần, là lẽ sống của ông. Bây giờ đứa con tinh thần bị tiêu hủy thì cuộc sống của ông còn có ý nghĩa gì nữa?

          Trong điều kiện sống tồi tệ ở trại tập trung, người ta rất dễ dàng trở thành nạn nhân của sự tuyệt vọng. Nhưng ông đã tìm cách để sống sót. Sau khi lột áo ông để lấy bản thảo, người ta đưa cho ông cái áo rách tả tơi của một tù nhân vừa bị cho vào lò hơi độc. Trong cái áo tả tơi đó, ông tìm thấy một tờ giấy xé ra từ một cuốn kinh Do Thái. Trong tờ giấy có bài kinh Kadish, tức bài kinh được đọc lên trước khi chết để chứng tỏ mình có niềm tin rất vững ở Thượng Đế và mình coi thường cái chết, cái chết không đụng chạm gì được tới mình. Khi tìm thấy mảnh giấy trong áo người tử tù đã chết trong phòng hơi độc thì ông bừng tỉnh. Ông thấy rằng cái chết và những khổ nhục lớn lao nhất của cuộc đời không làm cho người tử tù mất đi đức tin. Người này đã sống những giờ phút cuối cùng với đức tin đó. Vì vậy ông quyết tâm tìm mọi cách để sinh ra đứa con tinh thần của mình lần thứ hai.

          Ông lượm những miếng giấy vụn, ghi lại những ý chính mình đã viết trong bản thảo, hy vọng được sống sót để một ngày nào đó có thể viết lại bản thảo. Chính nhờ bám vào ý tư, vào ước muốn đó mà ông chống cự được với những khổ nhục, nhất là với bệnh sốt thương hàn đang hoành hành trong trại tập trung. Theo Frankl, mình chỉ có thể tìm ra được ý nghĩa của cuộc sống  khi có ba yếu tố:

          Yếu tố thứ nhất: mình muốn thực hiện một cái gì đó trong cuộc đời

          Chẳng hạn như ý muốn trao lại cho đời một đứa con tinh thần kết tinh từ những kinh nghiệm của mình, hoặc theo đuổi một chương trình, một sự nghiệp. Ví dụ mình tìm ra là mình có tài năng của một họa sĩ; những bức tranh của mình có thể đem lại niềm vui cho nhiều người, giúp họ quên bớt những khổ đau dằn vặt. Mình thấy những sáng tác của mình có thể tô điểm, làm đẹp cho cuộc đời. Vì vậy mình muốn theo đuổi sự nghiệp của một họa sĩ, không hẳn vì tiền bán tranh hay vì danh tiếng mà chỉ vì ý nguyện muốn làm đẹp cho cuộc đời. Nếu là người có khiếu âm nhạc, mình sáng tác không hẳn là vì quyền bính, vì danh vọng, vì lợi dưỡng hay sắc dục mà vì mình có ý nguyện. Sự nghiệp của mình là sống và thể hiện được cái mình cho là đẹp, là quí, là cần thiết cho cuộc đời.

          Trong trường hợp của Siddharta, Siddharta muốn tu tập để chuyển hóa những khổ đau và giúp những người đương thời chuyển hóa khổ đau. Đó là một tư niệm và tư niệm đó giúp Siddharta đi qua được những thời gian khổ hạnh cực kỳ. Khi chưa tìm ra được con đường, Siddharta đã thử nhiều cách thực tập, trong đó có sự thực tập khổ hạnh, và làm cho thân thể héo mòn, tiều tụy đến nỗi suýt chết. Nhưng Siddharta đi qua được tất cả những khổ hạnh đó và sống sót được vì có một ý tư rất mạnh. Ý tư đó là chuyển hóa phiền não và cứu độ con người. Sau khi thành đạo, ý tư đó vẫn còn hùng mạnh nên Siddharta đã để ra 45 năm để đào tạo, giảng dạy và thực tập. Siddharta không muốn nổi tiếng. Siddharta không muốn trở thành đối tượng của sự kính ngưỡng. Siddharta chỉ muốn chuyển hóa khổ đau và giúp người chuyển hóa khổ đau. Vì vậy ý nghĩa của cuộc sống có được là nhờ sự nghiệp, mà sự nghiệp đó không phải là sự thỏa mãn những tư dục cá nhân. Chúng ta phải phân biệt rõ ràng điều đó.

          Có những người đang chạy theo năm dục: tài (tiền bạc), sắc (sắc dục), danh (danh vọng), thực (ăn) và thụy (ngủ). Trong họ cũng có một động lực, họ biết họ muốn gì và chạy theo cái gì. Có nhiều người đi tìm những đối tượng của dục chẳng qua chỉ để khỏa lấp cái trống vắng trong lòng. Có người đi tìm hạnh phúc nơi quyền lực. Họ nghĩ rằng khi có quyền lực thì có thể thỏa mãn được những dục khác. Có người thấy rằng có nhiều tiền thì sẽ có nhiều quyền lực. Mặc dù mình không phải là ông bộ trưởng, ông thủ tướng hay ông tổng thống, nhưng một khi mình có nhiều tiền thì ông bộ trưởng, ông thủ thướng hay ông tổng thống cũng phải đi theo mình. Vì vậy trong thế giới của chúng ta, những nhà lãnh đạo công nghiệp rất quan trọng, nhiều khi họ còn có nhiều quyền lực hơn những nhà lãnh đạo chính trị. Có tiền là có quyền lực.

          Ngoài ra có những đối tượng khác như thức ăn ngon. Thức ăn ngon ở đây là những thứ làm thỏa mãn khẩu vị nhưng có ảnh hưởng tàn hại thân và tâm. Chúng ta không có khả năng chống cự lại những thức ăn hấp dẫn. Chúng ta biết ăn thứ đó vô thì sẽ khổ đau, sẽ dẫn đến tình trạng rã rời của thân và tâm nhưng không ăn không được.

          Chạy theo đối tượng của năm dục chưa hẳn là đã tìm ra được ý nghĩa của sự sống. Có những người có quá nhiều quyền hành, quá nhiều tiền bạc nhưng họ đau khổ cực kỳ vì họ thấy trống rỗng. Những nhà lãnh đạo doanh thương lớn như ông Bill Ford đã tới tu viện Thanh Sơn ngồi thiền với Thầy. Ông thấy cuộc sống của một người giàu có và quyền lực không đem tới hạnh phúc. Ông cho biết trong giới giàu có và quyền lực, có người đau khổ rất nhiều. Họ rất cô đơn, sống cô đơn mà chết cũng cô đơn. Vì vậy dù đi tìm quyền bính, đi tìm danh vọng người ta vẫn đau khổ như thường. Và rốt cuộc có người đã phải tự tử. Bill Ford đang đi tìm một ý nghĩa của đời sống. Ông muốn chế tạo ra xe hơi không gây ô nhiễm môi trường. Ông nuôi chí nguyện: làm sao để xe hơi sau này có thể chạy bằng nhiên liệu khí hydro. Đó là ý tư mà ông đeo đuổi. Nhưng liệu ông có nuôi được ý tư đó lâu dài hay không?

          Có thể nói cuộc đời của tướng De Gaulle rất thành công. Ông đã giải phóng được nước Pháp, đem lại độc lập và tự do cho nhân dân Pháp. Ông nổi danh như cồn và có thời dân Pháp coi ông như quốc phụ (tức người cha của tổ quốc). Nhưng những ngày tháng cuối của tướng De Gaulle rất buồn thảm. Sau một cuộc biểu tình chống đối của người trẻ, ông tổ chức buổi trưng cầu dân ý (referendum) để hỏi người dân có còn muốn ông đứng ở địa vị tổng thống nữa không? Ông tin chắc rằng người dân sẽ trả lời “muốn” tại vì ông là quốc phụ, là người đã có công giải phóng nước Pháp. Nhưng kết quả của cuộc trưng cầu dân ý thì trái lại, người dân không muốn. Ông bỏ chức vụ tổng thống, ngay lập tức trở về làng quê của ông trong vòng 24 giờ đồng hồ. Trong lòng ông có một nỗi thất vọng lớn. Ông nghĩ người dân Pháp vô ơn bạc nghĩa; mình là người anh hùng đã cứu nước Pháp mà bây giờ dân lại nói không thích mình. Những ngày tháng cuối cùng của tướng De Gaulle rất cô đơn. Ông chưa thoát khỏi ý niệm về ngã và chưa chuyển hóa được lòng tự hào của mình.

          Như vậy, danh vọng, dù lên tới mức cùng cực, cũng chưa có thể làm cho con người có hạnh phúc chân thật, huống hồ là lợi lộc, quyền bính và sắc dục. Chúng ta thấy rõ ràng khi chưa tìm được ý nghĩa của đời sống thì ta dễ bị xao động bởi sự đi tìm đối tượng của dục. Ta nghĩ đi tìm đối tượng của dục có thể khỏa lấp được cái trống rỗng trong lòng. Chứng bệnh tập thể của thời đại chúng ta là chứng bệnh trống rỗng hiện sinh (existential vacuum). Ta phải tu học như thế nào để vượt thoát triệu chứng đó và giúp cho đời bằng muôn ngàn phương tiện để mỗi người trong xã hội tìm ra được ý nghĩa của đời sống. Nếu là người xuất gia mà ta lâm vào tình trạng đó tức là Bồ đề tâm của ta bị soi mòn. Không có ý tư thực thì ta không giúp được cho chính mình, không giúp được cho tăng đoàn của mình chứ đừng nói là giúp được cho xã hội.

          Khi Bồ đề tâm không vững, chí nguyện tu học không bền thì tự nhiên mình đi tìm những chuyện tầm thường trong phạm vi năm dục để khỏa lấp sự trống rỗng. Nhưng nếu mình có khối lửa trong tâm thì sự lôi kéo của năm dục không đủ sức để làm xao động lòng mình.

          Yếu tố thứ hai: Tình yêu, kinh nghiệm của trái tim

          Tình yêu đó có thể là tình yêu Thượng đế hay tình yêu nam nữ. Khi có tình yêu thì mình bắt đầu đi trên con đường khám phá, khám phá bản chất của người mình yêu và bản chất của chính mình. Theo Frankl, tình yêu là cách duy nhất để nắm được một cách sâu sắc bản chất của một người. Không có tình yêu thì không thể hiểu được người đó. Nhưng theo thầy thì làm sao mình nắm được bản chất của một người khác khi mình không biết được mình là ai? Mình chưa biết mình là ai thì làm sao mình biết được người khác là ai? Tình yêu chân thật là một con đường khám phá, khám phá được bản thân tới chừng nào thì mình khám phá được đối tượng thương yêu tới chừng đó. Nếu không có sự khám phá bản thân thì không thể nào khám phá được người khác. Đức Thế Tôn có mười danh hiệu, trong đó có danh hiệu Thế Gian Giải, tức là bậc hiểu thấu thế gian. Có hiểu mới có thương. Tại sao đức Thế Tôn hiểu thấu được thế gian? Tại vì Ngài hiểu được chính mình. Hiểu được thì mới thương được người và giúp người thoát khỏi vòng khổ đau.

          Frankl nói một câu giống như giới thứ ba của Năm giới: Sự gần gũi nam nữ chỉ có thể được chấp nhận khi có tình yêu chân thật, nếu không thì đó là hành động có tính cách tàn hại. Trong giới thứ ba, chúng ta nói: “Con nguyện không ăn nằm với bất cứ ai nếu không có tình yêu đích thực và những cam kết chính thức lâu dài.” Theo Frankl, sự gần gũi nam nữ trong trường hợp có tình thương đích thực có thể là một cái gì thánh thiện. Mình có thể chấp nhận câu nói của Frankl. Vì vậy trong Năm giới dành cho người tại gia chúng ta cũng có một câu tương tợ.

          Đối với người xuất gia thì khác. Tại sao một sự thật áp dụng được cho người này lại không áp dụng được cho người khác? Người xuất gia cũng biết rằng hành động giao hợp nam nữ nếu được xảy ra trong sự cung kính, trong tinh thần trách nhiệm, trong tình yêu chân thật và sự cam kết lâu dài thì không phải là chuyện xấu. Nhưng tại sao người xuất gia không làm chuyện đó? Câu trả lời là tại vì người xuất gia có một tư niệm rất đặc biệt, muốn dồn hết năng lượng của mình về một hướng, sử dụng tất cả năng lượng để thực hiện chí nguyện của mình. Đời sống độc thân là một trong những nền tảng rất quan trọng cho chí nguyện đó. Những nhà cách mạng bôn ba nơi hải ngoại để tìm con đường sống cho quê hương cũng sống giống như người xuất gia. Họ không vướng bận thê nhi. Người xuất gia không cho đó là chuyện xấu ác, nhưng không làm vì mình đang theo đuổi một chí nguyện lớn. Vướng vào ái dục cũng là một trở lực không cho phép mình đi tới được.

          Trong trường hợp thứ hai (tình yêu), hình như trong thâm tâm của tác giả có nói tới một kinh nghiệm tâm linh (religious experience), có thể nói là tình yêu Thượng đế. Tình yêu đó có thể cho mình nhiều năng lượng để đi tới và làm được chuyện này chuyện kia. Khi yêu một người thì mình có thể hy sinh thân mạng để người đó được hạnh phúc.

          Nhưng trong ánh sáng của sự thực tập, chúng ta thấy rất rõ là khi thương một người và muốn làm cho người đó hạnh phúc thì mình phải hiểu người đó. Khả năng hiểu tùy thuộc nơi sự thực tập của mình, vì nếu không hiểu được mình là ai thì mình chưa thể hiểu được người kia là ai. Cũng như thương, nếu không thương được mình thì làm sao mình có thể thương được người khác. Thương như vậy chẳng qua là một sự đam mê. Mình phải phân biệt giữa đam mê và tình thương. Đam mê thì đưa đến sự vướng mắc, rồi dìu nhau vào chỗ khổ đau. Còn tình thương thì đưa tới hạnh phúc và tự do cho cả hai phía.

          Chúng ta phải phân biệt, phải nhìn cho rõ: sự nghiệp này có thể chỉ là sự chạy theo đối tượng của năm dục và tình yêu này có thể chỉ là sự chạy theo đam mê. Khi đọc Frankl với con mắt của Bụt thì mình thấy như vậy. Tình yêu, theo đạo Bụt, là một sự khám phá, không phải chỉ là sự khám phá người kia mà thôi. Làm sao mình khám phá được bản chất của người kia khi mình không biết mình là ai? Mình không yêu được mình thì làm sao mình yêu được người kia? Mình không giải phóng được mình thì làm sao mình giải phóng được người khác? Khi mình chưa tìm ra được ý nghĩa của đời mình thì làm sao mình giúp được người kia tìm được ý nghĩa đời sống của người kia?

          Khi thương thì mình có khả năng giúp được người kia phát triển tiềm năng trong họ. Người đó ban đầu thấy rã rời, không có năng lượng. Nhưng nhờ tình thương, mình có thể soi đường chỉ lối, gỡ ra những bế tắc của người đó và làm cho họ phát hiện ra được những tiềm lực lớn lao trong người họ. Và người đó trở thành một bậc anh hùng, một chàng hiệp sĩ, một người có khả năng làm đẹp cho cuộc đời. Đức Thế Tôn đã từng thương như vậy. Ngài đã khám phá ra những tài ba tiếp nối được Ngài như thầy Xá Lợi Phất, thầy Mục Kiền Liên, thầy A Nan, v.v. Sở dĩ Đức Thế Tôn làm được vì Ngài đã khám phá được chính Ngài. Ngài đã khám phá ra ý tư của Ngài, lẽ sống của đời Ngài. Ngài đã hiểu được Ngài. Ngài đã tự giác nên mới giác tha. Ngài đã tự độ nên mới độ tha. Ngài đã tự ái nên mới ái tha. Điểm thứ hai là có tình yêu thì tự nhiên có một lẽ sống. Lẽ sống không thể có bằng sự đam mê mà phải bằng tình yêu chân thật.

          Yếu tố thứ ba là khổ đau

          Khổ đau đã có nhiều, ta không cần phải đi tìm thêm khổ đau. Nhưng nếu biết quán sát, nhìn sâu vào lòng của khổ đau thì ta tìm ra được ý nghĩa của đời sống. Điều này rất rõ trong giáo lý “Tứ diệu đế”. Bụt nói sự thật hiển nhiên là có khổ đau (ill-being) và nếu quán chiếu sâu sắc khổ đau thì mình tìm ra được ý nghĩa của đời sống, tức sự thật thứ tư – Đạo đế. Khổ đau phải có giá trị mở mắt cho mình, giúp mình tìm ra được lẽ sống của đời mình. Nếu không thì khổ đau sẽ tràn ngập, và làm cho mình chết đuối trong biển cả mênh mông của nó.

          Tất cả mọi người trong trại tập trung gần như tuyệt vọng, không thấy một chút hy vọng sống sót nào. Và Frankl cũng không chắc có thể viết lại được, sinh ra đứa con tinh thần lần thứ hai để hiến tặng cho đời. Tất cả mọi người chung quanh đều nghĩ nếu không có được ngày mai thì tất cả các khổ nhục mà mình đang chịu đựng sẽ không có ý nghĩa gì nữa. Nhưng Frankl không để mình bị cuốn chìm trong tư tưởng đó. Và nhờ tờ giấy có bài kinh Kadish vò nhàu trong túi áo mà Frankl thấy rõ ràng: người Do Thái kia đi vào phòng hơi độc với những bước chân rất vững, ngẩng đầu lên và đọc bài kinh, không khiếp sợ, không co rúm, không than khóc. Frankl chợt tỉnh: những tuệ giác mà mình muốn trao cho người, mình có thể sống những tuệ giác đó trong giây phút hiện tại. Có thể ngày mai hay ngày mốt mình sẽ chết, nhưng nếu mình còn một hay hai ngày để sống thì mình phải sống với cái tuệ giác mà mình muốn trao truyền đó. Mình trao truyền bằng sự sống của chính mình. Frankl nghĩ: nếu ta chết trong phòng hơi độc với những tuệ giác ta muốn trao truyền thì ta đã thành công rồi. Vì vậy khổ đau tuyệt vọng cũng là một điều kiện để ta tìm ra được nghĩa sống. Frankl nói một câu rất hào hùng: nếu mình không thể chuyển đổi được tình trạng thì mình phải chuyển đổi tự thân mình! Mình đừng nói rằng hoàn cảnh này không thể chuyển đổi được nên tôi chịu thua, tôi bỏ đi.

          Frankl kể, một hôm một ông bác sĩ tới gặp Frankl, than khóc buồn khổ vì vợ ông mới qua đời, một người vợ mà ông thương yêu hết mực. Ông coi bà như lẽ sống của đời mình. Người đó chết nên ông không tìm được niềm vui sống nữa. Đau khổ, tuyệt vọng của ông lớn quá, ông chịu không nổi. Ông có ý muốn tự tử đi cho khỏe. Trong ông có sự trống rỗng hiện sinh. Frankl đã nói với ông như thế này:

          – Này ông, bây giờ ông thử trả lời tôi. Nếu ông chết và bà sống thì ông có nghĩ là bà sẽ khổ đau sau khi ông chết không?

          Ông nói:

          – Như vậy sẽ nguy hiểm lắm, tại vì bà ấy sẽ khổ đau vô cùng.

          Frankl nói:

          – Đó, ông thấy không? Ông biết bà chết thì không phải gánh nỗi khổ đau tuyệt vọng mà ông đang gánh. Có phải như vậy là đỡ cho bà lắm không? Vì vậy ông phải thực tập gánh khổ đau này cho bà. Đó là tình thương, đó là tình yêu.

          Phổ tế nhất thiết, nguyện đại chúng sanh, thọ vô lượng khổ” có nghĩa là thay thế cho chúng sanh mà chịu đựng khổ đau vô lượng. Đó là câu trong kinh Tám điều giác ngộ của các bậc đại nhân (Kinh Bát đại nhân giác). Bây giờ ông đang chịu gánh nặng đau thương để bà khỏi đau thương, như vậy thì điều này có ý nghĩa không? Ông bác sĩ tìm thấy ý nghĩa và ông hết đau khổ giống như một phép lạ vậy. Mình không thể làm phép lạ cho bà sống dậy, nhưng mình có thể làm cho ông hết khổ hay là bớt khổ.

          Nếu không thay đổi được hay chưa thay đổi được tình trạng thì ta phải thay đổi bản thân mình. Thay đổi bản thân thì ta bớt đau khổ liền mà không cần phải đòi hỏi người này phải như thế này, người kia phải như thế kia. Thay đổi tâm mình thì tự nhiên hoàn cảnh trở nên trong sáng và ta chấp nhận được tất cả những cái mà ta chưa chấp nhận được trong quá khứ. Frankl cũng giỏi, ông nói được ngôn ngữ của những người trong cuộc.

          Có một ông Rabi – tức giáo sĩ Do Thái giáo – đến gặp Frankl. Vợ và bốn đứa con của ông chết trong trại tập trung. Ông không còn đứa con nào để tiếp nối, để đọc kinh Kadish khi ông chết. Vậy nên ông tục huyền, cưới một bà vợ khác. Nhưng bà này lại không có khả năng sinh con nên ông tuyệt vọng vô cùng. Ông nói:

          – Bốn đứa con trai của tôi đã bị bức tử. Tâm hồn chúng trong trắng, bây giờ chúng đang ở trên cõi trời với Thượng đế. Còn tôi là một người trần tục. Tôi có nhiều tội lỗi, nhiều yếu kém.

          Frankl nói:

          – Nhưng mà ông cũng còn hy vọng là sau khi chết, ông sẽ trở về đoàn tụ với con ông trên đó.

          Ông Rabi nói:

          – Chắc không? Con tôi rất trong trắng. Khi chúng chết thì Thượng Đế đưa chúng trực tiếp lên trên đó. Còn tôi, tôi không còn trong trắng nữa, tôi có những phàm tục. Chắc chắn là trong khi tôi chết không có đứa con nào đọc kinh Kadish và tôi cũng không được đưa lên để gặp các con.

          Frankl không có niềm tin như ông đó, nhưng Frankl học nói ngôn ngữ đức tin của ông ta:

          – Nhưng nếu giáo sĩ chấp nhận những khổ đau này để thanh lọc hóa thì khổ đau trở nên có ích lợi. Nhờ những đau khổ này mà ông có thể thanh lọc tự tâm. Và chính nhờ sự thanh lọc mà sau này Thượng Đế sẽ cho ông lên đoàn tụ với các con của ông.

          Frankl giúp cho ông Rabi thấy trong quá trình đi ngang qua khổ đau, mình có thể biến khổ đau trở thành hữu ích và tìm ra được nghĩa sống của đời mình. Đạo Bụt nói rất rõ khổ đau là chất liệu làm ra tuệ giác, an lạc; cũng như bùn là chất liệu làm thành hoa sen. Không có khổ đau thì không có hạnh phúc, hiểu biết và thương yêu. Nhưng ta không cần và không nên tạo thêm khổ đau. Đã có quá đủ khổ đau cho ta sử dụng rồi.

                    Sứ mạng thương yêu

          Nhìn và quan sát cây cỏ, ta thấy lá chuối chị nuôi lá chuối em và nuôi thân chuối. Ta học được rất nhiều trong sự quan sát đó. Lá chuối chị được sinh ra trước, tiếp thu ánh sáng mặt trời, những chất hơi như carbonic dioxide (CO2) và chuyển hóa thành những chất nuôi dưỡng thân chuối và những lá chuối con đang từ từ phát hiện. Lá chuối chị có một sứ mạng, có thể gọi đó là sứ mạng thương yêu. Ngay trong giới cây cỏ cũng có, đó là điều rất tự nhiên: nuôi dưỡng và bảo hộ cho thế hệ tương lai. Đó là một cái gì được ghi khắc vào trong sự sống. Nhưng có một điều trong lá chuối chị có một cái mà mình có thể tạm gọi là ý nghĩa sống, mục đích sống của lá chuối chị là nuôi cây chuối và những thế hệ lá chuối tương lai.

          Khi một bà mẹ thương yêu và nuôi dưỡng đứa con, mình thấy rất rõ trong bà mẹ có tình thương, có một ý nghĩa của đời sống. Mục đích của bà là nuôi con lớn lên. Bà mẹ có sứ mạng giống như lá chuối chị. Nhưng trong khi lá chuối đang làm việc nuôi nấng cây chuối và những lá chuối khác thì nó cũng có thể có hạnh phúc trong giây phút hiện tại. Nó xòe ra tiếp nhận ánh sáng ban mai, trình bày tất cả những tươi mát, đẹp đẽ của mình và sống an lạc trong từng giây từng phút. Hai công việc đó không chống đối nhau. Năng lượng của Bồ đề tâm và khả năng lạc trú trong giây phút hiện tại không chống đối nhau. Con sư tử mẹ hay con mèo mẹ cũng chăm sóc, bảo hộ những những đứa con nó sinh ra. Nhiều khi nó nhịn để cho con ăn. Nó có tình yêu, nó có một ý nghĩa của đời sống.

          Là một người cha hay một người mẹ, ta phải thấy đời sống của mình có một ý nghĩa nào đó. Ta đã tiếp nhận như thế nào và sẽ hiến tặng như thế nào? Nếu không thấy được mình đã tiếp nhận cái gì thì làm sao thấy được mình sẽ hiến tặng cái gì? Là một người xuất gia, ta đã tiếp nhận được giới pháp, ta đã tiếp nhận được Tam bảo, đã có hạnh phúc. Ta  đã trở thành một sư anh, một sư chị. Ta có bổn phận nhìn các sư em bằng con mắt đó. Ta phải sống và hành xử như thế nào để mỗi giây phút của đời sống hàng ngày có tác dụng nuôi nấng các sư em. Ít nhất ta phải làm được như một tàu lá chuối. Vì vậy mỗi bước chân của ta phải đi trong chánh niệm. Nếu bước chân không chánh niệm thì bước chân đó không có tính cách nuôi dưỡng và không thể hiện được tình thương của mình. Là một sư chị mà ta không biết thở và ôm ấp khi có sự bực tức biểu hiện thì ta không thương các sư em. Mình nói mình thương sư em, thương thầy nhưng nếu mình không làm được việc đó thì lời tuyên bố kia trở thành trống rỗng. Thương là một cái gì có thật. Thương bằng mỗi bước chân, bằng mỗi hơi thở, bằng cách hành xử, bằng từng lời nói của mình. Mình có tình thương hay không, điều này có thể thấy được rất rõ ràng, không thể che giấu được.

          Cậu bé chăn trâu thảnh thơi (phần 2)

          Bài chia sẻ của Thầy Pháp Cơ

          Cậu bé chăn trâu thảnh thơi (phần 1)

           

          Kỷ niệm đẹp thì tương lai đẹp

          caubechantrau1.JPGKhi đến một trung tâm tu học hay là một không gian nào đó mà mình cảm thấy yêu thích, mình thấy tâm mình nó bay nhẹ nhàng thong thả như một con hạc và mình thấy mình không cần làm một cái gì quan trọng hết. Lúc đó tâm thức mình đã có sự buông thư, có sự lắng dịu và mình thưởng thức được sự sống chung quanh mình và đồng thời chánh niệm được phát khởi. Cũng giống như khi mình đến một trung tâm tu học như ở đây, mình đã bỏ lại sau lưng những khó khăn, lo phiền và công việc của mình. Nhưng khi mới đến đây tâm thức mình chưa lắng xuống liền vì mình còn mang ít nhiều quá khứ trong đầu, những hình ảnh phố thị vẫn còn chạy theo trong đầu của mình. Cho nên mình phải làm thong thả, đi thong thả và nhẹ nhàng như một con hạc đang bay. Mình đi thiền hành để chế tác chánh niệm trong tâm của mình; mình đi từng bước, từng bước như vậy và để hết lòng mình vào hơi thở và việc tiếp xúc với sự sống chung quanh. Nếu trong tâm mình vẫn còn đôi chút âu lo, phiền muộn còn ứ đọng thì cũng đừng quan tâm quá, cứ để cho nó thong thả, nhẹ nhàng rồi nó sẽ qua. Mình cứ đi thiền hành thong thả từng bước và theo dõi hơi thở như vậy một lúc cho đến khi hơi thở trở nên nhẹ và trong hơn, mình cảm thấy tâm mình cũng nhẹ và trong hơn. Khi mới bắt đầu thiền hành thì hơi thở nghe nặng nề, trầm đục, nhưng sau một hồi theo dõi hơi thở có ý thức thì hơi thở dần dần trở nên nhẹ nhàng và trong như cánh hạc bay qua. Lúc đó chánh niệm thấm từ từ vào tâm và làm cho người mình buông thư và cái phố thị cũng từ từ lắng xuống.

          Thơ cụ Nguyễn Du có câu:

          “Trong như tiếng hạc bay qua

          Đục như tiếng suối mới sa nửa vời”

          Mỗi lần mình tới một nơi mình thích, như tu viện này chẳng hạn, mình không cần gặp cho được vị trụ trì hay một thầy nào đó… Bởi vì mình tới đây là cơ hội để mình hưởng cái không gian của mình. Cái quan trọng trong lòng mình là cái không gian, và cái đó nó làm nên sự tu học và cái phước đức của mình. Công đức của mình có được là nhờ sự thực tập của mình. Mình phải có cái tính lặng lẽ như con hạc và sự trầm lắng thì chánh niệm mới dễ phát khởi. Nếu lúc nào mình đến chùa mình cũng chỉ muốn hỏi chuyện xây tháp hoặc quyên tiền và mình luôn bị cuốn theo, tâm mình loạn lên thì uổng cho mình quá!  Con thấy trong chúng của mình có một vị thực tập rất giỏi, đó là chú Thắng. Khi chú tới, chú thong thả như hạc bay, chú tiếp xúc với cây cối, thằn lằn rắn mối, rồi thấy cái cây nào cần sửa thì chú sửa, thấy thùng rác bay ngả nghiêng thì chú lượm rồi để lại ngay ngắn, và tất cả mọi việc mình đều làm trong chánh niệm. Điều này quan trọng lắm. Mình thường muốn gặp những vị thầy để bàn những chuyện lớn, mình nghĩ là phải làm những việc lớn mới là tu còn việc nhỏ không quan trọng, nhưng chưa chắc đâu!

          Hồi đó con có ở một ngôi chùa, và tình cờ học được trong Kinh Địa Tạng một câu mà con rất thích: “Có thiện nam tử, thiện nữ nhân, vị nào làm một việc nhỏ như một giọt nước, một sợi lông, một hạt bụi, mà ở trong Phật pháp mà làm thì công đức ấy không thể nghĩ bàn”, có nghĩa là nó rộng lớn không thể nói được, không thể tả được, trong khi đó thì hạt bụi nhỏ, nhỏ lắm. Cho nên khi tâm mình yên lặng và làm việc trong chánh niệm, tức là “ở trong Phật pháp mà làm”. Nghĩa là ở trong chánh niệm, mình học về Bụt, học Pháp của Bụt, xong mình làm những việc giống như lời Bụt dạy. Khi mình “Thở vào, mình biết mình đang thở vào; thở ra mình biết mình đang thở ra”, cái đó là ở trong Phật pháp mà làm. Sư cô Đẳng Nghiêm thường mời năm vị ở lại để giúp sắp bồ đoàn, tọa cụ. Khi mình sắp bồ đoàn, cái tay mình nâng nó lên và đặt xuống trên tọa cụ một cách ngay ngắn và tròn trĩnh, và mình thấy làm cái này là làm cho chính mình, mình làm cho mọi người ở đây có hạnh phúc là mình cũng đã có phần trong đó. Mình làm trong chánh niệm thì đó là làm trong Phật pháp. Cũng vậy, nếu với cái tâm thức đó mà làm, không có sự so đo phải làm công việc lớn mới có phước đức, thì tuy mình làm một việc nhỏ như hạt bụi, nhưng  nó rộng lớn không thể tưởng tượng được, cho nên mới nói là “bất khả thuyết”, không thể nói được. Ngược lại nếu không phải trong Phật pháp mà làm thì dù lớn nhỏ gì, phước đức cũng chẳng được bao nhiêu. Ví dụ, nếu mình muốn quyên tiền xây một mái thiền đường, mình nghĩ nó quan trọng hơn, và khi xây mái thiền đường xong thì mình muốn để tên của mình trên đó để cho mọi người biết cái tên của mình và nếu không ai công nhận cái tên của mình thì mình rất là buồn. Cái đó cũng có phước đức, nhưng chắc chỉ bằng cái kẹo hồ lô thôi.

          Nhưng nếu những người biết ở trong Phật pháp mà làm thì khác hơn nhiều. Nó cũng từ cái gốc ở chánh niệm mà có, khi mình có chánh niệm thì mình mới làm được những chuyện đó. Tại vì với chánh niệm, mình biết giúp mình làm những việc đúng với sự sống, đúng với những gì đang xảy ra, và mình đang làm bằng sự sống của chính mình. Đó sẽ là những kỷ niệm đi theo mình, theo suốt cuộc đời của mình. Con mời đại chúng quán tưởng là mình đang có một người bạn và mình đưa người bạn mình đi ra trạm xe lửa. Mình ý thức là người bạn này mình rất quý, không biết chừng nào mình mới gặp lại. Khi mình đi tiễn, cả tâm ý của mình chỉ biết có người bạn của mình thôi, và những người đi qua đi lại, kẻ áo xanh, người áo đỏ hoặc cái gì khác mình cũng không để ý đến. Khi người bạn lên tàu, mình chờ đến lúc bàn tay mình chào bắt tay bạn, và con tàu dần chạy xa hun hút rồi mà mắt mình vẫn dõi theo, cho đến khi xa không thấy được thì mình mới trở về. Cái kỷ niệm đó nó đi theo mình cả đời. Nó có được là do “niệm”. Niệm có nghĩa là tâm mình có ý thức về một hiện tượng nào đó đang xảy ra, và cái ý thức đó nó đem lại cái thấy sâu sắc trong sự sống của mình. Cái đó chính là cái kỷ niệm của mình. Nó có thể dẫn mình đi tới tương lai, và nếu mình có những kỷ niệm đẹp thì tương lai của mình sẽ được vui và đẹp.

          Cũng giống như vậy, khi mình tới được đây, mình đem theo cái tâm thức muốn thực tập hết lòng, muốn được đi trên đất rất thong thả… Đó là một chuyện mình làm rất sâu sắc trong lòng của mình, và nó sẽ là cái kỷ niệm của mình. Cho nên khi ngồi ăn chung với đại chúng, mình cũng hết lòng, mình không nói chuyện, mình ngồi cho ngay thẳng, mình để cho tâm thong thả, và nghe tiếng chuông thì mình dừng lại để thở; mình biết trân quý thức ăn như những tặng phẩm của đất trời, như những gì mình đang được nghe trong Năm Lời Quán Nguyện trước mỗi bữa ăn. Ý thức rằng thức ăn không phải tự nhiên mà có, cho nên mình ăn với sự trân quý. Mình đem hết tấm lòng mình để ăn một buổi ăn thôi là mình đã có được sự biết ơn sâu xa ở trong lòng. Nó sẽ trở thành một quá khứ đẹp, dù chỉ là một bữa ăn. Lâu lâu mình mới có cơ hội được ăn chung với mọi người chứ đâu phải lúc nào cũng có. Khi mình đi chung với mọi người thì tâm thức của mình cũng thực tập hết lòng giống như là mình đi đưa tiễn một người bạn vậy, tại vì mình biết cơ hội này không phải lúc nào mình cũng có được. Điều đó giúp mình thấy sự sống rất là gần gũi với mình.

           

          Liên hệ người người

          caubechantru2.JPGKhi mình thấy có sự sống, có niềm vui thì sự liên hệ giữa mình và người rất gần gũi, và cái khả năng đó làm cho mình tiếp xúc được với mọi người rất dễ dàng; nó làm cho mình có được tình người. Mình mà xa cách với con người là tại sự sống của mình không có gần gũi với mình nhiều, tức là mình không hiểu nhiều về sự sống. Con người là một phần của sự sống và mình gần với con người nhiều nhất. Mình thường nói mình sống với thiên nhiên, nhưng thật ra mình sống với thiên nhiên được bao nhiêu? Mình về nhà sống với người thân thì nhiều. Nhưng mình sống như thế nào? Cho nên nếu mình nói mình đi tìm thiên nhiên và xa con người là một điều rất là trật, vì con người là một phần của thiên nhiên.

          Nếu mình sống không hòa đồng và hạnh phúc được với con người  mình muốn đi tìm thiên nhiên để mà sống, đó cũng là một điều lạ! Nhưng khi mình tiếp xúc được và mình sống hết lòng với mọi người trong mọi hành xử thì nó mang cho mình một cái thấy sâu sắc ở trong sự sống. Mình tiếp xúc với con người rất là dễ và con người đưa đến cho mình nhiều hạnh phúc lắm. Khi có nhiều phiền lo trong con người mình, khi không hiểu được những tâm hành của mình thì những cái như buồn giận nó làm cho mình khổ đau nhiều, cho nên mình nghĩ là con người làm cho mình khổ đau, nhưng cái gốc là tại vì tâm thức của mình không gần, không cảm được sự sống, và không hiểu được sự sống.

          Mình có thể rất giỏi về những lãnh vực chuyên môn nào đó, nhưng những tâm hành và những con người sống cạnh bên mình thì mình lại không có thời gian để quan sát và học hỏi. Vì thế cho nên mình không hiểu nhiều, và mình có nhiều sự chia cách giữa mình với con người, với sự sống. Khi mình có chánh niệm và sống hết lòng, thì từ từ mình có thể ngồi với một người, trò chuyện với người đó, một lần hoặc hai lần gì đó, và lòng mình mở ra; dù mình không nói gì hết, mình chỉ nghe người đó nói, hoặc là mình nói và người đó chỉ ngồi đó thôi, nhưng nó làm cho lòng của mình thoải mái và hạnh phúc lắm. Quý vị làm thử đi. Cái đó mang cho mình niềm vui và mình thấy con người quý với mình lắm. Bản thân con thì con rất cám ơn trong đời sống của con có những người thân mà con rất quý và những người thân đó cũng rất quý con. Cho nên khi mình gặp, mình ngồi, mình uống trà hay là mình trò chuyện gì đó, trong một giây phút nào đó, mình thấy tất cả những cái đó là kỷ niệm nó nuôi dưỡng mình và làm cho mình đi tới, không thấy cô đơn.

           

          Học từ kinh nghiệm

          Có lúc mình xa cách tâm thức của mình, mình không quản thúc được cái giận hờn trong con người của mình. Nhưng khi có được chánh niệm và có sự sống thì giống như mình đã có con trâu ven bầy, nó có cái khả năng ven cái giận hờn và mình gom nó lại, khi nó lên trên mặt ý thức của mình, mình quản thúc rất dễ. Người chăn trâu, khi có con trâu quậy phá thì họ thường thả một cọng dây dài khoảng chừng mười thước, gọi là “dây dàm”. Cọng dây dàm là cọng dây rút lại và kéo lại. Người chăn trâu biết được con trâu nào thường hay quậy phá và mình phải để ý, để khi nó chạy thì mình chạy theo nắm sợi dây dàm và giựt nó lại. Không phải giựt là nó đứng lại liền mà đôi khi nó mang mình chạy xa lắm. Người có kinh nghiệm sẽ chùng sợi dây đó, xong giựt một cái rồi chùng lại, rồi giựt một cái,… họ giựt nhiều lần như vậy, cái lỗ mũi của con trâu sẽ đau. Khi mình chùng lại sợi dây dàm, con trâu đang có cái trớn chạy tới thì mình giựt một cái và khi mình giựt năm bảy lần thì nó chùng lại, từ từ mình bắt được nó.

          Cũng như vậy, khi mình có cái giận, cái lo cái buồn và mình lấy ý thức chánh niệm để nhận diện và ôm ấp nó thì không phải là nó dừng lại liền mà nó vẫn sẽ chạy, vì nó quá mạnh trong ý thức của mình. Lúc đó mình không nên cố gắng nhiếp tâm mạnh quá. Chữ “nhiếp” trong thiền đối với chữ “xả”. Khi mình biết được đang có một đối tượng tâm hành quá căng thẳng trong mình thì mình nên chỉ để ý đến nó khoảng chừng sáu bảy chục phần trăm thôi. Vì nếu mình cố hết sức ghìm giữ đối tượng lại, nhưng nếu đối tượng đó vẫn tiếp tục chạy thì tự động mình có cảm giác như bất lực, và cái tâm nó càng loạn lên. Cho nên mình chỉ cần chạm lên, mình biết được cái giận giữ hay cái buồn phiền đang có mặt, mình chạm vào nó khoảng sáu bảy chục phần trăm thôi, còn 40% hay 30% còn lại mình để cho con người mình thong thả và thoải mái, để tiếp xúc với những điều kiện tốt lành đang có. Trạng thái đó là trạng thái chùng vừa phải và cái tâm mình nó chùng lại từ từ. Có lúc mình nhiếp rất mạnh, nhiếp 100% vô trong cái giận, và mình thấy đây là cái giận rất rõ ràng. Lúc đó chánh niệm của mình rất mạnh, ôm cái giận trọn vẹn và nó lắng xuống ngay. Nhưng một khi nó vẫn còn chạy thì mình cứ để nhè nhẹ trên nó thôi, đừng có nhiếp 100%, chỉ 50 hay 60% thôi, còn 50 hay 40% còn lại để cho nó thong thả và chánh niệm sẽ ôm nó từ từ. Giống như con trâu, nó sẽ ngừng lại từ từ. Quan trọng là ở sự kiên nhẫn.

          “Xả” tức là không giữ, xả tức là không theo 100%, không theo bên nào hết. Lúc xả thì tâm mình thong thả như mình đang lùa trâu ra một đồng trống, không có một đối tượng nào để 51 tâm hành chạy theo. Lúc đó là một khoảng trống và tâm mình thong thả. Khi tâm mình nhiếp được cái đối tượng giận rồi thì từ từ cái giận nó sẽ gom lại, và từ từ nhập lại thành một với tâm hành chánh niệm. Khi có con trâu quậy phá thì mình đem con trâu ven bầy gom con trâu quậy phá, gom từ từ thì tự nhiên bầy trâu sẽ hợp trở lại. Những cái đó khi nói về tâm thức, đều là chánh niệm hết. Khi mình gom cái tâm thức giận hờn, và nó được chánh niệm ôm ấp thì cái giận hờn lắng dịu và nó trở thành năng lượng chánh niệm. Giống như nước và sữa, khi mình mới bỏ vô thì mình thấy có nước có sữa, nhưng nếu quậy một hồi thì nó trở thành một. Nhưng nó cũng có thể đi ngược chiều trở lại nếu chánh niệm của mình quá yếu và cái giận nó mạnh và mình không gom lại được thì cái niệm từ từ trở thành cái động và cả người mình toàn là giận, cả một cái tâm thức mình là giận hết. Cho nên khi mình thực hành tinh chuyên và ôm ấp được cái giận cái buồn, thì cùng một cách đó mình cũng ôm ấp được tất cả những tâm hành khác như ganh tỵ, ghét thương,v.v.. Trong sự thực tập, mình bắt đầu với sự nhận diện đơn thuần, tức là mình thấy cái tâm hành và nhận diện, gọi đúng tên nó khi nó vừa đi lên. Cũng với chánh niệm, mình từ từ ôm ấp nó, thấy được cái tâm mình lắng dịu, thấy được tất cả toàn là niệm, và khi thấy tất cả chiều sâu của cái sự giận hờn thì mình bật được cái gốc của nó, đó  gọi là chuyển hóa. Người chăn trâu và người tu thiền cũng giống nhau, cho nên trong thiền môn, người ta gọi người tu thiền là người chăn trâu, chăn cái tâm trâu của mình.

           

          Cái căn bản thì mình lại thiếu

          buocchanThay.JPGThưa đại chúng, khi mình mà chăn trâu không giỏi, mình chăm sóc không giỏi và mình để trâu mình phá hoại lúa, thóc, khoai sắn, thì lúc đó mình sẽ ra bờ sông mình nằm mình khóc, tại vì trâu mình nó ăn thóc ăn lúa phá hoại mà mình không biết phải làm sao. Khi đó mình mới chạy đi tìm một vị mà mình quý trọng, mình than thở, “trâu tui nó phá quá và giờ không biết làm sao, xin ông giúp tui với”, và khi đó mình chắc lưỡi than giống như con thằn lằn, và vái vị đó dạy cách cho mình phải làm gì.

          Quý vị có biết tại sao người ta thường nói “than như con thằn lằn” không? Có một câu chuyện như thế này: Có một vị đó rất giàu có, cái gì cũng biết hết, giàu về ý niệm, giàu về kiến thức và giàu về của cải, vị đó tên là ông Hống. Một hôm ông Hống cảm thấy rất hạnh phúc, rất đầy đủ và nói rằng nếu ai có cái gì mà tôi không có thì tôi sẽ đem tất cả những gì tôi có cho người đó. Hôm đó có một người nông dân, rất bình dân, đem tới một cái mẻ kho. Mẻ kho là cái mà nhà nào cũng có, cũ kỹ, ngày nào cũng kho nên nó rất xấu và đen. Ông nhà giàu thì cái gì cũng làm bằng vàng, bằng bạc, bằng i-nốc, bằng đồng chứ làm gì có cái mẻ kho xấu xí như vậy! Ông nhà giàu xem lại tài sản và không thấy có cái mẻ kho nào nên ông ta đem tất cả những gì ông có để tặng cho người nông dân và khen: “Anh có những cái rất đơn giản nhưng lại thiết thực và cần thiết cho đời sống; còn tôi, có nhiều cái tôi cảm thấy nó cao quý nó mầu nhiệm nhưng cái căn bản tôi không có, cho nên những cái gì tôi có tôi sẽ tặng cho anh”. Nhưng khi tặng xong, ông buồn và tiếc vì sự mất mát quá lớn nên vài ngày sau ông chết. Ông chết và đầu thai thành con thằn lằn và lúc nào nó cũng cứ than, cứ chắc lưỡi. Ở quê khi thấy có người hay tự khoe mình giỏi mình hay thì người ta thường phê bình:

          “Ông Hống còn thiếu mẻ kho

          Mày hay là mấy, miệng to làm gì!”

           

          Tức là ông Hống, ông hay ông giỏi như vậy nhưng những cái căn bản ông không có, và câu chuyện này rất hay. Nhiều khi mình thấy mình có những cái hay, mình thấy mình rất đầy đủ, mình cảm thấy rất thỏa mãn, nhưng những cái rất căn bản thì mình không có. Giống như một đời sống có chánh niệm để mình ý thức được một sự sống đang gần gũi với mình, và mình “đang là” thì mình lại không biết. Cái đau khổ và cái khó khăn của mình nó phát xuất từ đó nhiều lắm. Tại vì mình biết những cái xa hơn sự sống mình đang có và mình tự hào với cái mình có, nhưng cái căn bản thì mình lại thiếu. Khi mình thấy được người của mình yếu kém chỗ nào thì nên bồi đắp phần đó. Bản thân con thuộc loại nông dân nên con quý và học hỏi từ những cái căn bản, sống gần gũi với mọi vật với thiên nhiên và mình biết mình đang là. Nó giúp mình nhiều lắm, mình đừng có như ông Hống, lúc nào cũng chấp mình giỏi nhưng lại thiếu một cái mẻ kho, để phải làm con thằn lằn thì tội lắm. Nếu mình là người chăn trâu giỏi thì mình sẽ không than như con thằn lằn. Còn nếu mình chăn trâu không xong, nghĩa là học hỏi và điều phục tâm mình không xong để cho những con trâu giận hờn phiền não nó chạy nó phá mùa màng, khoai sắn lung tung thì lúc đó mình phải ra bờ sông mà khóc lóc và chắc lưỡi như con thằn lằn.