Cái sợ nguyên thủy

Sự sợ hãi và ước muốn nguyên thủy

Hôm trước chúng ta có nói tới sự trống trải trong lòng và chúng ta thường đi tìm một đối tượng nào đó để khỏa lấp sự trống trải đó. Chúng ta giống như một cái nồi chưa có vung. Mỗi cái nồi đều đi tìm một cái vung để đậy lên, ta nghĩ rằng khi có vung đậy rồi thì ta sẽ có bình an. Nhưng sự thật thì không như vậy, khi đậy vung lên rồi thì nước trong nồi của ta trào ra và làm tắt lửa. Chúng ta có sự trống trải trong lòng, chúng ta cũng có sự mong ước và sự sợ hãi trong lòng.

Chúng ta sợ hãi tại vì ta nghĩ trên đời này sẽ không có một người nào có thể chăm sóc ta, có thể làm chỗ nương tựa cho ta. Đó là những tình cảm nẩy sinh từ khi chúng ta còn thơ ấu. Khi mới sinh ta, tuy có mắt nhưng ta chưa dùng được mắt, có tai nhưng ta chưa dùng được tai, ta có hai tay hai chân mà chưa dùng được hai tay hai chân. Chúng ta không có khả năng tự lo cho mình. Làm sao một em bé ba tháng hay sáu tháng hay một năm có thể tự lo cho mình? Em bé cảm thấy rất trống trải, rất sợ hãi. Nếu không có một bà mẹ hay một vú nuôi chăm sóc những khi đói lạnh thì em bé không biết làm thế nào để vượt qua những khó khăn đó.

Ngay lúc mới sinh ra đã là một giây phút hiểm nguy, nhất là ngày xưa, có thể cả mẹ con đều chết trong quá trình sinh con. Vì vậy cho nên mẹ sợ mà con cũng sợ, cái sợ của mẹ truyền sang con. Trong thời gian chín tháng đứa bé nằm trong bào thai rất êm ấm, không quá nóng không quá lạnh và nó có tất cả những tiện nghi. Em bé khỏi phải làm gì cả, mẹ ăn cho mình, mẹ thở cho mình, cho nên ra khỏi bụng mẹ là đứa bé đi vào một thế giới mới. Sau khi cắt rốn thì sợi dây liên lạc giữa mẹ và em bé không còn nữa. Nó phải tự thở lấy, tự ăn lấy, điều này rất khó cho em bé. Và em bé chỉ có một vũ khí thôi, đó là khóc; ngoài ra nó không có phương tiện nào khác để tự vệ. Khi đói nó cũng khóc, khi lạnh nó cũng khóc, khi cô đơn nó cũng khóc. Nhờ khóc mà mẹ tới ẵm nó vào trong hai tay, nhờ khóc mà nó có sữa bú khi đói, có áo mặc khi lạnh. Vì vậy rõ ràng vũ khí của em bé chỉ là tiếng khóc mà thôi. Trong em bé phát sinh ra một loại tình cảm là sự sợ hãi

Em bé sợ rằng có khi mình khóc mà người kia không tới được. Trước hết nó sợ chết, và nó sợ không có người chăm sóc cho mình, sợ bơ vơ. Tình cảm từ hồi còn bé thơ còn sống cho tới bây giờ. Cái sợ của chúng ta bắt nguồn từ đó, sự tìm kiếm của chúng ta cũng bắt nguồn từ đó, và sự yêu thương của chúng ta cũng bắt nguồn từ đó. Trong kho tàng âm nhạc của đạo Bụt có một bài tán dâng hương, trong đó có câu:

Da Du tử mẫu lưỡng vô ương

tức là mẹ con Da Du Đà La không bị tai nạn, tại vì ngày sinh ra Rahula là một ngày rất khó cho Siddharta. Da Du Đà La sinh con rất khó, tưởng là cả hai mẹ con đều chết rồi. Siddharta đi bộ ở ngoài, trong lòng rất lo lắng, sợ hãi, nghĩ rằng vợ con của mình có thể chết bất cứ lúc nào. Chính Siddharta cũng rất khó sinh, nên khi sinh ra Siddharta thì hoàng hậu Maya qua đời. Cái sợ đó có trong Siddharta mà cũng có trong Rahula.

Hỏa nội đắc thanh lương

có nghĩa là là trong cơn lửa cháy bừng bừng đó, có Cam Lộ tức tin mừng sinh con được rồi, và mẹ tròn con vuông. Đó là một giây phút rất là khó khăn cho cả mẹ lẫn con.

Khi đứa bé được sinh ra thì công việc đầu tiên nó phải tự làm là phải thở. Nó phải thở vào hơi thở đầu tiên và phải thở ra hơi thở đầu tiên, nhưng nó chưa được học kinh An Ban Thủ Ý. Lúc đó trong phổi của em bé có một ít chất loãng làm nó thở vào và thở ra đều khó, nó phải làm cách nào đó để đẩy chất loãng đó đi thì nó mới thở được. Vì vậy khi ra đời đứa bé bắt đầu bằng tiếng khóc, khóc để đẩy chất loãng trong phổi ra và thở vào một hơi. Thở vào và thở ra được một hơi thì biết là mình sống.

Sự sợ hãi phát sinh ngay từ khi mình mới sinh ra, mình sợ chết và sợ không có người chăm sóc mình. Cái sợ đó  là cái sợ nguyên thủy, cái ao ước đó là ao ước nguyên thủy. Cái sợ nguyên thủy là sợ chết, sợ cô đơn một mình. Sự ao ước nguyên thủy là ao ước có người chăm sóc mình. Khi chúng ta lớn lên thì cái sợ và sự ao ước đó vẫn còn. Là con trai hay con gái cũng vậy, chúng ta có cảm tưởng chúng ta là một cái nồi chưa có nắp. Chúng ta đi tìm cái nắp, mà không biết nguồn gốc của ước muốn đó là từ thời thơ ấu. Khi tìm được một người rồi thì ta mừng quá, cái nồi đã có vung rồi và ta thấy an tâm. Cái người mà ta tìm ra đó là đối tượng tìm kiếm của ta từ hồi còn nhỏ, tức là một bà mẹ, một người vú em hay một người cha. Ngồi bên cạnh người yêu ta nghĩ: “Như vậy là được rồi. Mình yên tâm rồi, đã có người lo cho mình rồi. Mình đã có một người cha, một người mẹ, một người vú em rồi.“ Người yêu của mình là sự tiếp nối của người cha, người mẹ hay người vú em đó. Nhưng mình có thể an tâm vài tháng hay vài năm rồi mình thấy người kia không phải là người cha, người mẹ hay người vú em. Người đó, thay vì chăm sóc mình, lại còn gây ra bao nhiêu khó khăn cho mình. Lúc đó mình đi tìm cái vung khác.

Có mặt cho chính mình, trở thành một người lớn thật sự

Em bé trong ta vẫn còn sống, nỗi sợ hãi và sự ước mong đó vẫn còn. Vì vậy khi chúng ta cảm thấy lẽ loi, đơn độc, thiếu thốn, đó là sự tiếp nối của cái ước mơ, của sự sợ hãi từ hồi còn ấu thơ. Chúng ta phải quán chiếu; chúng ta phải dùng niệm, định và tuệ để nhắc cho mình rằng mình không còn là một em bé nữa. Mình đã lớn rồi, mình đã trở thành người lớn; mình có thể tự đi, tự thở, tự nấu cơm, tự chăm sóc bản thân; mình không cần một vú nuôi , một người mẹ, một người cha nữa; mình có thể tự túc được. Mình phải tự nhắc mình như vậy, nếu không thì mình vẫn còn tiếp tục đi tìm cái vung. Thực tập được thì mình đạt tới cái gọi là plénitude, fulfilment: tôi có đủ hết rồi, tôi không cần đi tìm nữa.

Trong câu linh chú thứ nhất “I am here for you“ (Tôi đang có mặt đây cho em), chữ you trước hết có nghĩa là chính mình. Nếu ta có mặt cho mình thì ta đã có cái nắp nồi. Trong chúng ta rất ít người có thể có mặt cho chính mình, mình không có khả năng có mặt cho chính mình, mình muốn một người nào đó có mặt cho mình để khỏa lấp sự trống trải của mình. Mình không làm được công việc đó nên mình đi tìm một người khác làm cho mình. Mình đi tìm một người cha, một người mẹ, một bà vú em. Đó là sự thật.

Vì vậy tuệ giác đầu tiên chúng ta phải đạt được là: Chúng ta không cần một cái vung. Chúng ta không cần một bà mẹ, một vú em nữa tại vì chúng ta đã lớn, ta có thể có mặt cho mình được. Sự thật là mình có hai chân rất khỏe, mình có thể đi lấy cơm, đi lấy nước uống. Sự thật là mình có thể làm việc để có thực phẩm, có chỗ ăn ở, mình có thể tự lo cho mình, mình không cần có một bà mẹ, một vú già hay một người nào khác làm cho mình. Đó là sự thực tập niệm, tức là ý thức được rằng mình không còn là một em bé bất lực nữa, mình đã trở thành một người lớn và mình có thể lo cho chính mình. Sự thực tập là mình phải có mặt cho chính mình, mình không thể đi tìm một người để có mặt giùm cho mình, để chăm sóc mình. Mình phải trở thành một người lớn thật sự.

Mình có mặt cho mình để làm gì? Mình có mặt để chăm sóc mình. Trước hết là mình có mặt, thân và tâm về lại với nhau để nhận diện những mầu nhiệm của sự sống đang có trong mình và chung quanh mình để được nuôi dưỡng. Mình có khả năng tiếp xúc và sử dụng những yếu tố mầu nhiệm đó để nuôi dưỡng mình, mình không cần người khác lo cho mình. Đó là vai trò của chánh niệm. Thở hay đi trong chánh niệm thì mình đem tâm trở về với thân, và khi thân tâm nhất như thì mình có mặt trong giây phút hiện tại, mình có mặt cho mình. Mình có mặt cho mình để:

– Có khả năng tự sử dụng những yếu tố mầu nhiệm của cuộc sống để nuôi mình và chữ trị cho mình, mình không cần một người khác. Đó là có mặt để nuôi dưỡng và chăm sóc mình.

– Nếu có những tâm hành buồn khổ, lo lắng, sợ hãi đi lên thì mình có thể ôm ấp, nhìn sâu và chuyển hóa nó.

Mình không đi tìm một người khác làm chuyện đó cho mình. Sự thực tập ở đây là mình phải có mặt cho mình. Mình phải là cái vung nồi của mình, mình phải biết chăm lo cho chính mình. Trước hết là tiếp xúc và sử dụng các yếu tố tích cực để nuôi dưỡng thân tâm. Thứ hai là có mặt để nhận diện những khổ đau, thiếu thốn, buồn tủi; nhìn sâu vào nó để thấy được gốc rễ của nó và thoát ra được. Trong những buồn khổ đó có sự sợ hãi nguyên thủy, có cái ước muốn nguyên thủy là luôn có một người để chăm sóc cho mình tại vì mình là người bất lực. Khi nhận diện ra được mình đã là người lớn rồi, mình không còn là một em bé bất lực nữa thì tự nhiên mình hiểu được bản chất sâu xa của tâm hành lo lắng, sợ hãi.

Nếu mình không có mặt cho mình, mình không làm tan biến sự trống trải trong mình nhờ sự có mặt đó, mà mình đi tìm một người khác làm đối tượng để nhét vào lỗ hổng của mình là mình tìm một đối tượng ở ngoài để làm giùm mình công việc mà mình không làm được. Nếu người kia làm không được công việc đó thì mình giận hờn và mình trừng phạt người đó. Có thể người đó cũng không có khả năng lo cho chính người đó thì làm sao người đó có khả năng lo cho mình. Bắt người đó nhét vào khoảng trống của mình thì mình không giúp gì được cho người đó mà mình còn làm cho người đó mất tự do và mình cũng không có tự do. Sự thật là như vậy, cho nên chúng ta phải nhìn cho thật sâu để thấy được bản chất của tình yêu là gì.

Về nương tựa tăng thân để được chuyển hóa và trị liệu

Trong chúng ta có người rất nhạy cảm, tôi cũng là một trong những người nhạy cảm. Có một lần tôi than với một ông bác sĩ:

–  Bác sĩ ơi, sao tôi nhạy cảm quá vậy? Tôi rất dễ bị cảm.

Ông bác sĩ nói:

–  Thầy ơi, thầy đừng nghĩ nhạy cảm là chuyện xấu, nhạy cảm có thể là một chuyện tốt.

Tôi cứ suy nghĩ về câu trả lời của ông bác sĩ, tôi thấy nó đúng thật.Tôi thấy những nghệ sĩ, những thi sĩ, những họa sĩ lớn trong thế gian đều là những người nhạy cảm. Vì nhạy cảm nên họ tiếp xúc dễ dàng với cái hay, cái đẹp, cái lành và họ cũng tiếp xúc được với những đau thương của thế giới. Do đó họ nói ra được những đau thương, những niềm vui, những ước ao của dân tộc. Họ trở thành thi sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ của cả một dân tộc. Nhạy cảm chưa hẳn là một cái gì tiêu cực, nó có thể là một điều tốt.

Nhưng mình phải biết sử dụng chánh niệm, tại vì những người nhạy cảm có thể bị thương tích rất dễ dàng. Đôi khi người ta không trách cứ mình, nhưng mình lại nghĩ rằng người ta đang trách cứ mình. Ví dụ khi cho một bài pháp thoại thì thầy dạy cho tất cả đại chúng mà mình nghĩ là thầy đang nói cho riêng mình. Đó là nhạy cảm đặt sai chỗ. Khi nói một bài pháp thoại cho 2, 3 trăm người là tôi nói cho tất cả chứ không phải cho riêng một người thôi, và người nào cũng có thể thừa hưởng bài pháp thoại đó. Vì vậy mình phải có chánh niệm, có ý thức rằng mình phải sử dụng sự nhạy cảm của mình để tiếp xúc với cái hay, cái đẹp, cái lành đang có trong giây phút hiện tại để tự nuôi mình và chữa trị cho mình.

Trong tăng thân có những thầy, những sư cô, những vị cư sĩ tu tập rất giỏi, có nhiều tươi mát, nhiều niềm tin, nhiều hạnh phúc. Mình phải có khả năng tiếp xúc với những yếu tố đó để nuôi dưỡng mình. Mình phải mở lòng ra để những yếu tố đó chảy vào dòng chảy của mình. Sự nhạy cảm đó rất tốt, tạo sao mình phải đóng cửa lại để ôm ấp nỗi khổ niềm đau của mình. Mình phải mở lòng ra để những cái hay, cái đẹp, cái lành từ thiên nhiên và từ tăng thân tràn vào.

Khi những tâm hành như buồn chán, khổ đau, lo lắng đi lên thì với sự thực tập chánh niệm trong hơi thở và bước chân, mình có thể tạo ra được năng lượng để nhận diện: Đây là cái lo lắng, cái sợ hãi nguyên thủy. Mình đã lớn rồi, mình không phải là một em bé bất lực nữa. Mình phải có khả năng chiến thắng những tâm hành này để thấy rõ rằng mình có khả năng ôm ấp, chuyển hóa nó.

Mình biết trong tăng thân có những người đã từng đi qua những trạng thái như mình. Nhờ sự thực tập nên những người đó đã vượt thắng được, mình phải nương tựa vào những người đó để có thể sử dụng được năng lượng của tăng thân mà ôm ấp và chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau của mình. Vì vậy vần đề không phải là nhạy cảm nhiều hay ít, mà vấn đề là mình có biết sử dụng chánh niệm để làm cho sự nhạy cảm của mình có ích lợi cho mình và cho tăng thân hay không?

Nếu có những nỗi khổ niềm đau mà mình không mở lòng ra cho niềm vui của tăng thân đi vào thì dòng chảy của mình vẫn là một dòng chảy biệt lập. Những cái hay, những cái tốt của tăng thân không đi vào trong mình được. Mình cứ ôm nỗi khổ niềm đau trong mình, mình không để dòng chảy của tăng thân đi vào để giúp mình ôm ấp và chuyển hóa thì mình không có sự thay đổi. Sống trong tăng thân là phải nương tựa tăng thân, phải trở thành một dòng sông mà không tiếp tục là một giọt nước. Là một giọt nước thì không bao giờ có thể chuyển hóa và sẽ không bao giờ đi ra biển. Nếu mình phó thác thân mạng cho tăng thân thì tăng thân sẽ chuyên chở mình. Tăng thân làm gì thì mình làm cái đó, tăng thân đi đâu thì mình đi đó. Tăng thân có sứ mạng chuyên chở Bụt và Pháp như một dòng sông có sứ mạng chuyên chở nước để tưới những cánh đồng. Tăng thân là một dòng sông chuyên chở Bụt, chuyên chở Pháp và có sứ mạng hiến tặng Bụt và Pháp cho thế gian. Tăng thân có một sự nghiệp, đó là sự nghiệp giúp đời bớt khổ của Đức thế Tôn và tăng đoàn nguyên thủy. Vì vậy cho nên trong suốt cuộc đời của Bụt; Ngài đã không ngừng giảng dạy và giúp cho người khác thực tập vượt thoát khổ đau.

Mình tổ chức những khóa tu hay những ngày quán niệm, những buổi thiền tọa, thiền hành là mình tiếp nối sự nghiệp của Bụt. Nếu là một thành phần của tăng thân thì mình phải tham dự vào những công việc đó. Mình phải tham dự vào thiền ngồi, thiền đi, thiền chấp tác, mình tham dự vào công việc tổ chức, việc giúp đỡ những thiền sinh tới với mình. Mình phải làm hết lòng, như vậy mình sẽ chảy với tăng thân như một dòng sông và những khổ đau của mình sẽ được chuyển hóa. Mình phải vui cái vui của tăng thân, lo cái lo của tăng thân, buồn cái buồn của tăng thân, ao ước cái ao ước của tăng thân thì lúc đó những nỗi khổ niềm đau của mình mới tan biến được. Nếu mình ngồi một mình ôm ấp nỗi khổ niềm đau mà không hòa mình vào tăng thân thì mình sẽ không thành công.

Những người tới với đạo Bụt phải thực tập quy y Tam bảo. Quy y tam bảo là quy y Bụt, quy y Pháp, quy y Tăng. Nhưng Bụt, Pháp và Tăng không phải là ba thực tại tách rời ra. Mình phải thấy được Bụt trong Tăng và Tăng trong Bụt. Mình phải thấy được Pháp trong Tăng và Tăng trong Pháp.

Một đoàn thể tu học, trong đó có tình huynh đệ, có lý tưởng phụng sự, có sự hòa hợp; một đoàn thể có khả năng chế tác được niệm, định thì đó là một chân Tăng. Chân Tăng là một đoàn thể tu học có khả năng chuyên chở Bụt và Pháp. Vì vậy quy y Bụt cũng có nghĩa là quy y Tăng, không quy y Tăng là không quy y Bụt. Nếu mình bỏ Tăng mà đi, mình không chấp nhận Tăng thì mình cũng không chấp nhận Bụt. Gia nhập vào tăng đoàn là tham gia vào sự nghiệp của tăng đoàn. Tăng đoàn làm việc gì thì mình làm việc đó như tăng đoàn ngồi thiền thì mình ngồi thiền, đi thiền thì mình đi thiền, nghe pháp thoại thì mình nghe pháp thoại, nấu cơm thì mình nấu cơm, quét nhà thì mình quét nhà, tổ chức khóa tu thì mình tổ chức khóa tu, và mình phải làm hết lòng.

Trong khi đi thiền, tăng đoàn chế tác ra niệm và định tập thể rất hùng tráng. Nó làm cảm động lòng người, nó chuyển hóa được nỗi khổ niềm đau của người. Đó là Bụt, là Pháp. Khi quy y Tăng mà mình hòa với tăng thì đó là một phương pháp trị liệu rất hay. Mình là một dòng chảy, dòng chảy của mình hơi đen tối, hơi tiêu cực thì mình đi vào tăng đoàn, mình mở lòng ra để những dòng chảy trong sáng đi vào trong mình và mình trở thành một dòng lớn, tự nhiên sự chữa trị sẽ thành công, mình không có cố ý được chữa trị mà vẫn được chữa trị. Đi  tìm một nhà tâm lý trị liệu và ngồi hàng giờ để nói ra nói ra nói vào, mình tưởng là mình được chữa trị nhưng có thể là mình chỉ ôn lại, chỉ tưới tẩm thêm những hạt giống khổ đau của mình mà thôi. Sống với tăng thân, mình phải sống hết lòng, phải sống 100%, mình phải đem thân mạng mình giao cho tăng thân thì mới có thể chữa trị được những tập khí và những khổ đau từ nhiều đời nhiều kiếp. Đứng một chân trong một chân ngoài thì chắc chắn mình sẽ không làm được chuyện này.

Trong đại chúng, chúng ta thấy có những thầy, những sư cô và những vị cư sĩ hết lòng nương tựa vào tăng thân, tin tưởng vào con đường của tăng thân; có những vị sống trong chúng rất hạnh phúc, đóng góp rất nhiều vào trong sự nghiệp của Bụt, của Pháp và của Tăng. Muốn được như vậy chúng ta phải hoàn toàn quy y tăng, nghĩa là đem hết thân mạng giao phó cho tăng thân. Có thể là tăng thân chưa được toàn hảo bởi không có gì là toàn hảo cả. Nhưng mình có thể giúp cho nó toàn hảo hơn, vì tăng thân được làm bằng những thành phần của tăng thân. Nếu những thành phần đó có ý chí tu học thì tăng thân sẽ có phẩm chất cao hơn.  Mình đừng nên trông chờ ở người khác, mình phải tự đóng góp mà sự đóng góp đầu tiên là hoàn toàn nương tựa vào tăng thân, đem thân mạng của mình mà phó thác cho tăng thân. Như vậy sự chuyển hóa, trị liệu sẽ xảy ra, và mình không cần đi tìm sự chuyển hóa, trị liệu ở một nơi khác.

Xem Pháp thoại >>Xem<<

Pháp thân tỏa sáng buổi ban mai

Pháp thân tỏa sáng buổi ban mai

Sáng hôm nay thầy Pháp Tuyển hô canh bằng tiếng Anh: The Dharma Body is bringing morning light, nguyên văn bằng tiếng Việt là: Pháp thân tỏa sáng buổi ban mai. Câu này có nghĩa là: vào buổi ban mai thì pháp thân của ta tỏa sáng, dịch cho sát nghĩa: The Dharma Body shines realmly in the morning.

Trước hết chúng ta phải hiểu pháp thân là gì mà lại tỏa sáng trong buổi ban mai? Pháp thân, tiếng Hán là , tiếng Phạn là dharmakāya. Chữ pháp thân đã có nguồn gốc ngay từ hồi Đức Thế Tôn còn tại thế. Một hôm Đức Thế Tôn tới thăm một vị đệ tử đang bị bệnh nặng sắp chết. Đó là thầy Vakkali. Đức Thế Tôn hỏi thầy Vakkali:

– Thầy có tiếc nuối gì không?

Thầy Vakkali nói:

– Con không có tiếc nuối gì, nhưng có một chuyện là vì con bệnh quá nên không lên được núi Thứu mỗi ngày để ngắm nhìn Đức Thế Tôn.

Bụt nói:

–  Thầy ơi, nhục thân của tôi không có quan hệ gì. Thầy đã có pháp thân của tôi rồi thì thầy cần gì nhục thân của tôi nữa.

Ngay vào thời của Bụt đã có hai danh từ nhục thânpháp thân. Nhục thân của Đức Thế Tôn có thể tiêu hoại nhưng pháp thân của Ngài sẽ còn hoài. Khi đã có pháp thân thì ta đâu cần phải dính vào nhục thân nữa.

Pháp thân, trước hết có nghĩa là: Thân của giáo pháp (the teaching Dharma)

Thân của giáo pháp đó, Bụt đã trao lại cho các đệ tử. Mỗi người đã mang pháp thân theo mình. Chúng ta biết có hai loại pháp:

  • Pháp linh động (the living Dharma)
  • Pháp nói, pháp nghe hay pháp được chép xuống (the spoken Dharma)

Nhưng pháp nói không hay bằng pháp linh động. Mỗi khi ta thở mà có an lạc mới là pháp linh động. Mỗi khi đi thiền hành mà mỗi bước chân có an lạc thì đó là pháp linh động.

Pháp thân còn có nghĩa thứ hai là: Sự thực tập của chúng ta (the practice Dharma)

Mỗi người chúng ta đều có nhục thân (physical body). Nhưng nếu là đệ tử của Bụt thì ta có một thân thứ hai gọi là pháp thân. Pháp thân là sự thực tập của ta. Sự thực tập được vững chãi thì ta có nhiều hạnh phúc, ta có khả năng xử lý được những khổ đau của mình, ta có khả năng chế tác niềm vui và hạnh phúc. Đó là tùy theo ta có pháp thân vững chãi hay không.

Buổi sáng, khi ngồi thiền ta phải làm cho pháp thân tỏa sáng. Khi mới thức dậy ta khỏe khoắn và tỉnh táo nên pháp thân của ta có thể tỏa sáng. Những học trò cũng biết buổi sáng mới thức dậy là học hay nhất vì học sẽ thấm nhiều. Cuối ngày mệt mỏi ta học sẽ không vô. Buổi sáng thức dậy ta thực tập liền thì rất hay nên gọi là: "Pháp thân tỏa sáng buổi ban mai” (My practice is shining in the morning). Mỗi người chúng ta có hình hài (physical body) và pháp thân (Dharma body), và mỗi ngày ta phải nuôi lớn pháp thân của mình.

Pháp thân của anh lớn mạnh hay èo uột? Nếu pháp thân của anh còn yếu kém thì nó không làm cho anh vững chãi, không giúp anh tạo được niềm vui và hạnh phúc cho mình. Pháp thân của anh yếu thì anh không có khả năng xử lý được nỗi khổ niềm đau của mình và giúp cho người khác xử lý được nỗi khổ niềm đau của họ. Là người tu, mỗi ngày ta phải nuôi lớn pháp thân của mình.

Mùa Đông cây cối lớn rất chậm, nhưng tới mùa xuân thì chúng lớn lên rất mau. Những loại cây như cây tre, có đêm nó mọc  cao lên tới hai phân. Vì vậy ở Tây phương người ta gọi mùa xuân là springing up, tức là mùa tuôn dậy. Chúng ta phải làm sao để pháp thân của mình cũng lớn mau như vậy. Các thầy, các sư cô, các đạo hữu cư sĩ hãy tự hỏi xem pháp thân của mình có lớn lên mỗi ngày hay không; hay vẫn đứng nguyên tại chỗ? Tôi thấy pháp thân của mình đều lớn lên mỗi ngày, có sự tiến bộ trong khi đi, ngồi, thở, làm việc và tiếp xử. Pháp thân phải lớn lên mỗi ngày và buổi sáng là cơ hội để pháp thân có thể lớn mau. Khi ngồi thiền nửa giờ hay 45 phút ta phải ngồi như thế nào để pháp thân của mình lớn mạnh lên. Pháp thân có thể chế tác hỷ và lạc trong khi ngồi, trong khi thở.

Pháp thân cũng được nuôi bằng những sự thực tập khác như sự thực tập trong khi đi, ăn cơm, rửa bát hay làm việc. Nếu không được nuôi dưỡng và củng cố (consolidate, reinforce) thì pháp thân sẽ yếu đi. Pháp thân cũng cần phải có điều kiện để lớn. Khoa sinh học hiện nay thường dùng chữ điều kiện hóa (conditioning). Học và thực tập đều được hiểu theo nghĩa điều kiện hóa (operant conditioning), tức là ta phải chủ động làm cho nó lớn. Ví dụ như ta nghe tiếng chuông. Tiếng chuông là một cái gì xảy ra. Tiếng chuông không có nghĩa gì đối với những người không thực tập. Nó chỉ là một thứ tiếng động như những tiếng động khác. Nhưng đối với những người thực tập ở Làng Mai thì khi nghe tiếng chuông ta có phản xạ (reflex) ngay lập tức. Ta tự động ngưng suy nghĩ ngay mà không cần phải cố gắng im lặng ngay lập tức.

Lúc mới thực tập ta chưa làm được như vậy, có người nhắc thì ta mới im lặng, ngưng suy nghĩ và thở. Nhưng vì ở Làng Mai được hai, ba tuần nên ta có cơ hội để điều kiện hóa. Mọi người trong đại chúng đều làm như vậy. Đang ăn cơm mà nghe tiếng chuông đồng hồ thì mọi người đều ngưng lại và trở về với giây phút hiện tại để thấy mình đang có mặt, đang sống và thở nhẹ nhàng. Ban đầu ta cảm thấy hơi ngỡ ngàng, nhất là khi mới tới Làng Mai lần đầu. Nhưng rồi ta quen từ từ và sau bốn, năm ngày thì trở thành thói quen. Nghe tiếng chuông đồng hồ thì tự nhiên ta dừng lại mà không cần người nhắc nhở. Đó là điều kiện hóa.

Tiếng chuông hay hình ảnh của những người đang đi thiền hành là những điều kiện giúp ta trở với chính mình để thực tập. Khi đã trở thành thói quen thì ta chỉ tiếp tục thực tập mà không cần người nhắc nhở. Nếu ta không tiếp tục thực tập thì từ từ thói quen đó sẽ yếu đi và tới một lúc nào đó, khi nghe tiếng chuông ta không ngừng suy tư và vẫn còn nói chuyện. Thực tập đều đặn là một điều kiện, gọi là reinforcement, consolidation. Pháp thân muốn lớn lên thì phải cần được củng cố. Nếu xa tăng thân, ta ít có điều kiện để củng cố pháp thân của mình. Ba, bốn năm sau ta sẽ buông bỏ sự thực tập và pháp thân của ta càng ngày càng yếu.

Đến khi không có những điều kiện như tiếng chuông, tăng thân hay thời khóa, ta vẫn tiếp tục đi tới trong sự thực tập tại vì ta cần có hỷ, lạc và khả năng xử lý những niềm đau, nỗi khổ của mình. Ta vẫn quyết tâm thực tập dù không có ai khuyến khích hay nhắc nhở. Đó gọi là điều kiện hóa (operant conditioning). Ta tự làm lấy, tự củng cố sự thực tập của mình. Đó là nghĩa thứ hai của chữ pháp thân.

Những mầu nhiệm của hiện hữu

Sau này đạo Bụt đại thừa dùng chữ pháp thân trong ý nghĩa khác hơn. Pháp thân có nghĩa là những mầu nhiệm của hiện hữu, của vũ trụ, như: trúc tím, hoa vàng, trăng trong, mây bạc, chim hót, thông reo. Tất cả đều là những mầu nhiệm của pháp thân. Pháp thân biểu hiện ra thành những mầu nhiệm. Nhìn vào một chiếc lá, một đóa hoa, một đám mây, một dòng suối, nhìn vào con mắt hay não bộ thần kinh ta thấy tất cả đều là mầu nhiệm và tất cả đều đang thuyết pháp về vô thường, vô ngã, Tứ diệu đế và Bát chánh đạo. Nhìn bông hồng và lắng nghe ta thấy bông hồng đang thuyết pháp, vì vậy bông hồng là pháp thân. Nhìn và nghe một con chim đang hót, ta thấy con chim cũng đang thuyết pháp. Pháp thân của Bụt còn sống mãi, và Bụt chưa bao giờ ngưng thuyết pháp. Ý nghĩa cuối cùng của chữ pháp thân trong Đại thừa Phật giáo rất đẹp! Vì vậy cho nên các thiền sư đều trở thành thi sĩ, họa sĩ tại vì pháp thân là một nguồn cảm hứng cho thi ca. Trong Thiền chúng ta thấy những người tu đều trở thành nghệ sĩ, tại vì pháp thân biểu hiện cái đẹp của vạn hữu.

Pháp thân, trước hết là những lời dạy của Đức Thế Tôn (the teaching Dharma). Sau đó pháp thân có nghĩa là sự thực tập của chúng ta (the practice Dharma). Và cuối cùng, chữ pháp thân có nghĩa là những mầu nhiệm của vũ trụ đang thuyết pháp cho ta nghe. Nếu có lỗ tai ta có thể tiếp tục nghe Đức Thế Tôn thuyết pháp qua một bông hồng, một dòng suối.

Tóm lại, sự thực tập của ta là làm thế nào để ít nhất có thể chế tác được hỷ, lạc và an. Ta chế tác hỷ, lạc và an cho mình rồi mới có thể giúp cho người kia cũng làm được như vậy. Làm chưa được thì ta không thể giúp cho người khác. Một tăng thân gồm những người có khả năng chế tác hỷ, lạc và an thì có thể giúp được rất nhiều người. Đó là vốn liếng của một tăng thân, vốn liếng đó là lượng hỷ, lạc và an trong tăng thân. Ta đánh giá một gia đình bằng phẩm chất an, lạc và hỷ trong gia đình đó. Một gia đình có hạnh phúc thì những đứa con lớn lên trong gia đình sẽ có hạnh phúc. Trong một lớp học hay trong một đoàn thể như quốc hội, hội đồng tỉnh hay trong một nhà thương, một xí nghiệp cũng vậy. Nếu có hỷ, lạc và an thì gia đình đó, tổ chức đó, cộng đồng đó có thể giúp được cho đời. Trước hết chúng ta phải học như thế nào để pháp thân của ta có thể chế tác được hỷ, lạc và an cho mình. Rồi ta mới bắt đầu giúp cho những người trong gia đình và những người thân cận trước khi ta có thể giúp được cho xã hội.

 

Nghệ thuật xây dựng hạnh phúc

Pháp thân phải có khả năng xử lý những khổ đau, trước hết là những cảm thọ đau buồn (khổ thọ). Ta tới Làng Mai để học làm chuyện đó. Nếu giỏi ta có thể học được rất nhiều trong một ngày, không phải chỉ học trong bài pháp thoại mà còn phải học trong sự thực tập. Mỗi bước chân, mỗi hơi thở đều có thể chế tác hỷ, lạc và an. Không chỉ trong mùa xuân pháp thân của ta lớn nhanh mà trong mùa đông, nếu có chí thì pháp thân của ta cũng lớn rất mau. Mỗi ngày pháp thân ta đều lớn lên. Người Pháp có câu: “Silence, ça pousse!" (Im lặng đi, nó đang lớn lên).

Trong kinh dạy cho chúng ta phương pháp chế tác hỷ, lạc và an. Là người tu chúng ta phải chế tác được hỷ , lạc và an . Không chế tác được thì ta chưa phải là người tu, ta chưa có pháp thân mạnh. Kỹ thuật, cách luyện tập để chế tác hỷ, lạc trong kinh đã dạy rất rõ. Trước hết là:

Ly sinh hỷ lạc

Buông bỏ, chữ Hán là ly . Buông bỏ có khả năng đem lại hỷ, lạc và an.

Ly sinh hỷ lạc . Hỷ là niềm vui (joy), lạc là hạnh phúc (happiness). Hỷ và lạc có thể được sinh ra bởi sự buông bỏ (By the practice of letting go you can create joy and happiness). Ly sinh hỷ lạc, câu này xuất hiện rất nhiều trong các kinh Phật giáo. Ta không có hỷ, lạc tại vì ta chưa có khả năng buông bỏ. Ta đang ghì chặt, ta nghĩ không có cái đó thì ta sẽ chết. Ví dụ ta đang ở thành phố Los Angeles, ta quá bận rộn. Thành phố vừa ồn vừa bụi, ta muốn có hai ngày cuối tuần ra khỏi thành phố đi về miền quê. Ta đang ở Frankfurt, ta muốn về Làng Mai nhưng nói hoài mà ta không đi được vì ta không có khả năng buông bỏ. Cũng như nhiều người không bỏ được Paris, dù họ biết rằng ở Paris rất ồn ào, bụi bặm và ít khi thấy được ánh trăng hay các ngôi sao. Hôm đó một người bạn tới nói:

– Thôi, ngày mai chiều thứ sáu mình đi về Làng Mai đi. Tôi có xe hơi, tôi sẽ chở anh đi.

Người đó thuyết phục rất hay và ta chịu đi. Xe chạy độ 45 phút là ra khỏi Paris. Ta bắt đầu thấy miền quê, cảnh vật rất xanh và tươi mát. Ta có niềm vui lâng lâng, niềm vui đó có được là nhờ ta bỏ lại Paris phía sau lưng. Đó gọi là ly sinh hỷ. Ta tới Làng Mai và ngồi được ở đây là nhờ ta buông bỏ được cuộc sống của ta ở Paris. Có nhiều người vùng vẫy năm này sang năm khác cũng không tới được Làng Mai. Ta tới được Làng Mai có nghĩa là ta có khả năng buông bỏ. Nhưng ta phải buông bỏ cái gì? Đó là vấn đề. Ta phải lấy một tờ giấy và ngồi viết xuống những gì ta có thể buông bỏ được. Ta bị kẹt vào rất nhiều thứ và sở dĩ ta không có niềm vui và hạnh phúc là vì ta chưa buông bỏ được những thứ đó.

Trước hết là ý niệm của ta về hạnh phúc. Mỗi người chúng ta đều có một ý niệm về hạnh phúc. Chúng ta nghĩ phải có cái đó hoặc phải loại trừ cái kia thì mới có hạnh phúc. Ta nghĩ phải có cái nhà đó, cái xe đó, phải có người đó sống với mình thì mới có hạnh phúc. Ta đặt ra những điều kiện, những quan niệm về hạnh phúc của mình. Những người theo đảng cộng sản nghĩ chỉ có chủ nghĩa Mác-xít mới đem lại hạnh phúc cho mình và cho dân. Những người theo tư bản chủ nghĩa thì nghĩ chỉ có kinh tế thị trường mới đem lại hạnh phúc. Chúng ta có một ý niệm về hạnh phúc mà ta không buông bỏ được. Vì vậy ta phải ngồi xuống để xét lại ý niệm về hạnh phúc của mình. Có thể lâu này ta chưa có hạnh phục là vì ta chưa buông bỏ được ý niệm về hạnh phúc đó. Letting go ist the source of happiness. Trong Kinh có ví dụ thả bò: Hôm đó Đức Thế Tôn ngồi với các thầy trong một khu rừng. Sau khi đi khất thực về, thầy trò sắp sửa ăn cơm trong chánh niệm thì một bác nông dân đi ngang qua. Bác hớt hơ hớt hải hỏi:

–  Các thầy ơi, các thầy có thấy mấy con bò của tôi đi qua đây không? Không biết tại sao sáng nay mấy con bò của tôi chạy đi đâu mất hết! Không có mấy con bò thì làm sao tôi sống được? Chắc là tôi phải chết quá!

Thấy Bụt lắng nghe, bác than phiền thêm:

–  Tôi có mấy sào đất trồng hột mè, nhưng không biết tại sao năm nay lại bị sâu ăn hết, không gặt hái được gì. Như vậy thì làm sao tôi sống được? Chắc là tôi tự tử quá!

Đức Thế Tôn nói:

–  Bác ơi, tôi ngồi đây đã hơn nửa giờ mà chưa thấy con bò nào đi ngang qua. Chắc bác phải đi tìm phía bên kia.

Sau khi bác nông dân đi rồi, Bụt quay lại nhìn các thầy mỉm cười và nói:

–  Mấy thầy ơi, mấy thầy hên quá, mấy thầy đâu có bò đâu mà sợ mất.

Mục đích của câu chuyện là: Nếu có bò thì phải thả đi. Ý niệm về hạnh phúc là một con bò. Chính vì ý niệm đó mà ta chưa bao giờ có hạnh phúc (Your idea about happiness may be the main obstacle to your happiness). Liên bang Xô viết (the Soviet Union) cứ tin rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đem lại sự cường thịnh của đất nước, và ngoài chủ nghĩa Marx-Lenin ra thì không có con đường nào đưa tới hạnh phúc cho nước Nga. Họ đã bị kẹt vào vào ý niệm đó trong 70 năm. Nếu người công dân nào chống đối lại ý niệm đó thì bị bỏ  tù. Họ đã gây ra khổ đau rất nhiều. Chủ thuyết đó là một trong những con bò mà họ chưa thả được.

Tu là phải có thì giờ ngồi xuống, lấy giấy viết ra tất cả tên của những con bò mà ta chưa thả được, trong đó có ý niệm về hạnh phúc của mình. Ta cứ vướng víu, khổ đau, chật vật, bức xúc với chúng. Ta không có khả năng buông bỏ chúng ra. Ta ngồi xuống, hồi tưởng và viết ra trên một tờ giấy tên của những con bò. Có khi một trang giấy cũng chưa đủ vì ta có quá nhiều bò. Sự thật là thả được một con bò thì ta nhẹ đi rất nhiều, thả được hai con thì ta nhẹ đi thêm nữa. Thả hết những con bò thì ta sẽ có rất nhiều hạnh phúc.

Trong thời của Đức Thế Tôn, ông thống đốc của một tiểu bang đi xuất gia. Một đêm ngồi thiền ông cảm thấy hạnh phúc quá tại vì ông đã thả hết những con bò của mình. Ông hứng chí nói lên: “Ôi hạnh phúc! Ôi hạnh phúc!" (Oh, my happiness!) Một thầy khác ngồi cách đó vài thước có tri giác sai lầm, nghĩ rằng ông thầy này chắc tiếc thời kỳ làm thống đốc, tại vì làm thống đốc thì có quân đội, có tiền nhiều, có kẻ hầu người hạ. Thầy ra mách lại với Đức Thế Tôn:

– Bạch Đức Thế Tôn, hồi hôm ngồi thiền con nghe sư anh đó la lên hai lần trong khi ngồi thiền: Ôi, hạnh phúc của ta! Ôi, hạnh phúc của ta! Con không biết tâm lý sư anh ra sao? Chắc là sư anh hối tiếc.

Bụt biết thầy này có tri giác sai lầm nhưng Ngài cứ gọi thầy Badya và một số các thầy tới. Bụt hỏi:

– Này thầy Badya, có phải tối hôm qua trong giờ ngồi thiền thầy đã thốt ra hai câu: “Ôi, hạnh phúc của ta"  không?

– Dạ! Bạch Đức Thế Tôn, có. Đêm qua trong khi ngồi thiền con có thốt hai lần câu đó.

– Tại sao thầy làm như vậy, thầy nói cho chúng tôi nghe đi!

Thầy Badya nói:

– Bạch Đức Thế Tôn, hồi còn làm thống đốc con có đủ hết, có lính gác, có chức tước, có người hầu hạ, có châu báu, tiền bạc rất nhiều, nhưng con luôn luôn sống trong sợ hãi. Con sợ người ta lén vào giết con để lấy những thứ đó. Con thật sự không có hạnh phúc. Bây giờ đi xuất gia con buông bỏ hết. Ngồi thiền con thấy rất rõ là mình có tự do rất lớn, mình có sự vô úy, mình không còn sợ ai tới giết mình. Trong trạng thái hạnh phúc, có nhiều tự do đó con chịu không nổi nên đã thốt ra hai lần câu: “Ôi, hạnh phúc của ta".

Bây giờ các thầy khác mới hiểu hạnh phúc của thầy Badya không phải là gom góp, tích lũy thêm tiền bạc, của cải, danh vọng, mà là buông bỏ. Trong kinh có nói: Buông bỏ là phương pháp đầu tiên để tạo dựng hỷ, lạc và an.

Quý vị có thể hỏi: “Tôi cũng muốn buông bỏ, nhưng bây giờ tôi phải buông bỏ cái gì đây?" Chúng ta phải nhận diện những con bò của mình rồi mới thả chúng được. Vì vậy chúng ta phải viết xuống tên của những con bò mà lâu nay ta không có can đảm để buông bỏ. Buông được một con thì hạnh phúc tăng lên mấy mươi phần trăm. Đó là phương pháp đầu tiên: Ly sinh hỷ, ly sinh lạc, ly sinh an. Thầy Badya có rất nhiều an nên thầy có nhiều hỷ và lạc.

Khi sư chú hay sư cô đi xuất gia thì có người bảo là sư chú hay sư cô dại dột. Nhưng thật ra thì sư chú hay sư cô rất khôn, tại vì mình buông bỏ hết để được cái quý nhất là an, lạc và hỷ. Mình nhẹ lâng lâng, không còn sị hãi hay lo lắng gì nữa.

Định sinh hỷ lạc

Trong Kinh cũng nói tới những phương pháp khác như: Định sinh hỷ lạc . Khi có thiền định (meditation) thì ta có rất nhiều an, hỷ và lạc. Trong thiền định có niệm, định tuệ. Với ba loại năng lượng đó ta có thể chế tác ra an, hỷ và lạc. Với niệm, định và tuệ ta chế tác ra an, nghĩa là buông bỏ những căng thẳng, làm giảm thiểu những đau nhức trong hình hài của mình. Nếu biết cách thở trong chánh niệm, đi trong chánh niệm, ngồi trong chánh niệm, làm việc trong chánh niệm thì ta buông bỏ được nhiều sự căng thẳng trong thân và trong tâm, ta buông bỏ được sự căng thẳng trong cảm thọ hay trong cảm xúc. Ta chế tác được hỷ và lạc là nhờ định. Thiền định cũng làm phát sinh ra an, hỷ và lạc. Đây là một nghệ thuật (art of meditation).

Trong thiền môn, người ta nói: Niềm vui của thiền định là thức ăn (The joy of meditation as daily food). Thiền duyệt vi thực . Chữ duyệt giống như chữ hỷ, niềm vui của thiền định là thức ăn hàng ngày của người tu. Ta nuôi ta bằng hỷ, lạc và an mà không phải bằng danh vọng, quyền hành và sắc dục. Nếu có pháp thân (the practice) vững thì ta có thể nuôi được mình. Nuôi được mình rồi thì ta có thể nuôi được những người thương của mình.

Niệm sinh hỷ lạc

Trong định có niệm , và tại Làng Mai chúng ta học rất rõ niệm là một yếu tố để làm phát sinh ra an, hỷ và lạc (Mindfulness is the source of joy, happiness and peace). Đó không phải là lời nói suông. Biết chế tác ra năng lượng chánh niệm thì ta chế tác hỷ, lạc rất dễ. Ví dụ như tôi đứng trên bục giảng và làm những động tác chánh niệm. Tôi làm không phải để có sức khỏe mà là để có hỷ và lạc trong khi làm. Những động tác chánh niệm không phải là những phương tiện để đi tới cứu cánh là có thêm sức khỏe mà nó chính là cứu cánh. Tôi thấy có hỷ, lạc và an ngay trong khi làm. Ở Làng Mai, chúng ta phải học làm như vậy. Ngồi thiền, đi thiền, tụng kinh không phải là để có an lạc mà ngồi thiền, đi thiền, tụng kinh chính là an lạc. Đó là do niệm mà ra.

Khi tôi đứng và đưa tay lên, tôi không phải chỉ đưa tay lên thôi mà tôi còn đưa niệm của tôi lên. Tôi thấy rất rõ là nhiều thầy cùng một thế hệ với tôi đã chết rồi và vài vị đang còn sống nhưng ngồi xe lăn. Tôi thì còn làm được những động tác này nên trong khi làm tôi hạnh phúc vô cùng. Đó là niệm, niệm là nhớ, là so sánh. Niệm sinh hỷ lạc . Thầy Minh Châu, thầy đã phiên dịch tạng Pali ra tiếng Việt, bây giờ thầy không còn nữa. Hòa thượng Thanh Từ, bạn thân của tôi, bây giờ đi phải có hai người đỡ hai bên. Tôi thì vẫn còn đi được một mình nên mỗi bước chân của tôi đều có hạnh phúc. Muốn thở có hạnh phúc thì tôi chỉ cần niệm rằng: Có một năm nào đó tôi bị bệnh phổi, con vi khuẩn Pseudomonas aerogina làm phổi ra máu. Tôi thở không có hạnh phúc. Nhưng sau khi điều trị và phổi lành rồi thì tôi thở hay hơn. Mỗi khi muốn thở ngon tôi chỉ cần nhớ lại thời gian bị nhiễm trùng phổi thì tự nhiên tôi thấy hơi thở vào cũng ngon mà hơi thở ra cũng ngon. Chỉ cần có niệm thì muốn có hỷ, lạc là ta có hỷ, lạc ngay. Những người trẻ có hai chân rất khỏe, có thể đi, nhảy hay trèo được mà không có hạnh phúc thì rất uổng. Đợi tới khi già không nhảy, không trèo được nữa thì mới tiếc. Đó là do niệm. Niệm là nhớ rằng ta đang có tuổi trẻ, ta đang có hai mắt sáng, ta đang có buồng phổi tốt, có hai chân khỏe và ta có thể sử dụng được hai chân, hai mắt, hai buồng phổi của mình. Nếu ta không có hạnh phúc thì đó là tại vì ta không có niệm. Có niệm thì với hai mắt còn sáng đó, hai buồng phổi còn tốt đó, hai chân còn khỏe đó ta có thể có hỷ, lạc và an suốt ngày. Tùy ở chúng ta mà thôi. Ta phải tự nhắc mình và những người cùng tu có thể nhắc cho ta để ta có thể phát khởi niệm. Có niệm là có an, có lạc, có hỷ.

Ly đưa tới an, hỷ và lạc. Thiền định đưa tới an, hỷ và lạc và chánh niệm cũng đưa tới an, hỷ và lạc.

Tuệ sinh hỷ lạc

Tuệ cũng đưa tới an, lạc và hỷ. Tuệ sinh hỷ lạc . Người nào trong chúng ta cũng đã có những cái thấy (insight). Ta biết chuyện đó không đáng để cho ta đeo đuổi, quan tâm và bị cuốn vào đó. Ta thông minh và có đủ tuệ giác, ta biết cái đó không quan trọng, không đáng để ta quan tâm và làm cho ta mất thì giờ tranh đấu. Cho dù như vậy  nhưng ta vẫn quan tâm, vẫn tranh đấu, vẫn làm mất thì giờ vì ta không sử dụng cái tuệ mà ta có. Chúng ta, không ai là không có tuệ nhưng ta không biết sử dụng tuệ. Có tuệ thì ta buông bỏ rất dễ. Ta biết đa mang là khổ nhưng ta vẫn vướng vào như thường. Khi con cá biết được trong con mồi kia có sẵn một lưỡi câu thì nó có tuệ. Có tuệ thì con cá sẽ không cắn vào miếng mồi, tại vì nó biết nếu cắn vào thì nó sẽ bị lưỡi câu móc vào cổ họng và nó sẽ chết. Chúng ta có tuệ nhưng không chịu sử dụng tuệ, ta cứ để lưỡi câu móc vào cổ họng. Ta hành xử một cách dại dột, ta để mình vướng mắc vào một hoàn cảnh không đáng tại vì ta không biết sử dụng tuệ của mình. Chúng ta, ai cũng có tuệ, có nhiều hay có ít. Càng tu, càng có niệm và định thì tuệ càng lớn. Có định và tuệ mà không biết dùng thì ta bị kẹt vào những tình huống khó khăn, lầy lội. Vì vậy chúng ta phải biết sử dụng những yếu tố chúng ta có tức bốn yếu tố buông bỏ, thiền định, chánh niệm và trí tuệ để chế tác an, lạc và hỷ.

Nghệ thuật xử lý khổ đau

Trong Kinh dạy rất rõ, mỗi ngày chúng ta phải học theo lối điều kiện hóa (conditioning). Được nhắc nhở hay không được nhắc nhở chúng ta cũng phải làm cho được. Chế tác được hỷ, lạc và an bằng bốn yếu tố buông bỏ, thiền định, chánh niệm và trí tuệ thì ta cũng có khả năng xử lý được những nỗi khổ, niềm đau. Những nỗi khổ, niềm đau đó không quá lớn, nhưng vì ta không biết xử lý nên chúng trở thành lớn. Phương pháp ta học được trong Kinh là khi có nỗi khổ, niềm đau thì ta phải xử lý ngay. Nhưng đa số chúng ta trong xã hội lại tìm cách chạy trốn khi có nỗi khổ, niềm đau. Ta đi tiêu thụ để tìm quên lãng, ta mở ti vi ra xem, mở sách ra đọc, mở tủ lạnh tìm cái gì để ăn hoặc lên internet hay điện thoại cho một người bạn. Ta tìm đủ cách để đừng nhớ tới nỗi khổ niềm đau trong lòng. Đó là thái độ trốn chạy mà phần lớn những người trong xã hội đều làm theo. Vì vậy nỗi khổ, niềm đau đó chỉ bị khỏa lấp và nó tiếp tục ngày càng lớn lên cho đến khi nó bùng ra.

Trong Kinh Bụt đã dạy rất rõ là ta có thể xử lý được nỗi khổ, niềm đau nhờ bốn yếu tố buông bỏ, thiền định, chánh niệm và trí tuệ.

Nhận diện và ôm ấp khổ đau

Khổ đau là một sự thật và chánh niệm, chánh định, trí tuệ là một năng lượng khác. Ta dùng năng lượng niệm-định-tuệ để nhận diện và ôm ấp nỗi khổ niềm đau thì ta có thể làm cho nó dịu xuống. Cũng giống như một bà mẹ ôm lấy em bé một cách rất trìu mến, thân thương thì em bé sẽ bớt khổ. Nhận diện và ôm lấy nỗi khổ, niềm đau của mình bằng chánh niệm và chánh định thì khổ đau sẽ giảm xuống. Đó là bước đầu.

Quán chiếu để chuyển hóa khổ đau

Bước thứ hai là quán chiếu để chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau đó thành một cái gì tích cực hơn, giống như sử dụng bùn để nuôi sen. Nỗi khổ, niềm đau cũng có ích lợi, nó cũng giống như bùn có khả năng nuôi sen.

Người thực tập biết xử lý nỗi khổ niềm đau thì khổ đau rất ít. Người không biết cách xử lý thì khổ đau sẽ rất lớn. Hai người ở trong cùng một tình trạng mà một người khổ rất nhiều còn một người thì ít đau khổ hơn tại vì người này biết cách khổ đau. Biết cách khổ đau là gì?

  • Đừng khuếch đại khổ đau (exagerer)

Ta đừng để mũi tên thứ hai tới xâm nhập. Bụt dạy khi một người bị trúng một mũi tên thì người đó rất đau nhức. Nhưng nếu có một mũi tên thứ hai cắm đúng vào vết thương thì sự đau nhức sẽ lớn hơn gấp 10 lần hay nhiều hơn nữa. Mũi tên thứ hai đó là sự bực bội, giận dữ, phản kháng hay sự tưởng tượng của mình. Khi có một sự đau nhức trong cơ thể hay trong tâm hồn, ta đừng nên làm cho nó lớn ra thêm bằng sự tưởng tượng, lo sợ. Nó chỉ là một đau nhức nho nhỏ thôi nhưng ta nghĩ là mình bị ung thư (cancer) và mình sắp chết tới nơi. Ta sợ và chính cái sợ đó làm cho sự đau nhức tăng lên gấp mười. Đó là mũi tên thứ hai. Ta phải bình tĩnh và nhận diện nó là nó mà đừng tưởng tượng nó là một cái gì lớn hơn. Nếu cần thì ta đi gặp bác sĩ hay một vị thầy chứ đừng giận dữ, lo sợ, phản kháng. Sự giận dữ, lo sợ, phản kháng đó làm cho niềm đau lớn hơn gấp 10 lần.

Đó là bước thứ nhất: Tránh mũi tên thứ hai.

  • Đừng chạy trốn khổ đau

Ta phải có mặt đó để nhận diện, xử lý và ôm ấp nỗi khổ, niềm đau. Nếu biết dùng ly, niệm, định và tuệ để nhận diện, ôm ấp nỗi khổ niềm đau thì ta khổ rất ít. Người khác khổ 95% còn ta chỉ khổ 5%, hoặc ít hơn nữa.

Đó gọi là nghệ thuật khổ đau. Nếu có pháp thân khá vững thì ta có thể xử lý khổ đau một cách dễ dàng. Ta còn có thể đi xa hơn nữa là sử dụng những khổ đau một cách có ích lợi. Với khổ đau ta có thể chế tác ra hiểu, thương và hạnh phúc; cũng như với bùn ta có thể chế tác ra hoa sen.

Miễn được lòng rồi, chẳng cần phép khác

Ăn cơm với nhau như một gia đình

Ở Làng Mai, trong thời khóa mỗi ngày chúng ta có cơ hội ngồi với nhau, như ngồi nghe pháp thoại, ngồi thiền, ngồi ăn cơm chung, v.v… Đó là văn hóa. Trong xã hội mới, một tiểu gia đình gồm có hai vợ chồng và một, hai hay ba đứa con. Nhưng bây giờ chúng ta bận rộn đến nỗi không có thì giờ để ngồi chung với nhau như một gia đình. Chúng ta không có cơ hội ăn cơm với nhau như một gia đình. Người ăn trước, người ăn sau cho tiện với thời khóa của từng người. Chúng ta đã đánh mất rất nhiều. Ngày xưa trong bữa cơm gia đình, không người nào được phép vắng mặt. Người không đói cũng phải ngồi chung, tại vì giờ ăn cơm là giờ linh thiêng. Bây giờ ta cho là mình văn minh hơn nhưng thật ra ta không văn minh hơn ngày xưa. Chúng ta không có thì giờ ngồi với nhau, ăn cơm với nhau. Ngày xưa gia đình ngồi với nhau rất nhiều. Những buổi tối trăng lên cả gia đình ra sân ngồi ngắm trăng bên bụi tre và nói chuyện với nhau. Có những hôm trăng sáng quá thì cả nhà ăn cơm dưới ánh trăng. Đó là văn minh.

Bây giờ ta có quá nhiều công việc nên ta không có thì giờ ngồi với nhau. Ta làm việc quá nhiều để có nhiều tiền lương hơn, nhưng thật ra chúng ta không hạnh phúc bằng ngày xưa. Trong tương lai, nếu muốn hướng tới hạnh phúc thì ta phải tổ chức lại nếp sống gia đình để trong một ngày gia đình có cơ hội ngồi chơi với nhau. Và bữa cơm là một cơ hội rất quan trọng. Mọi người đều có mặt trong bữa cơm. Trước khi ăn chúng ta nhìn nhau và thở để thấy người thương của mình đang còn sống. Điều này không khó, nhưng nó đã trở nên rất khó tại vì tổ chức xã hội đã thay đổi. Vì vậy trong một trung tâm tu tập như Làng Mai, chúng ta đã cố giữ lại những giá trị đó, giá trị của một gia đình. Mỗi ngày chúng ta có giờ để ngồi với nhau mà không cần nói. Chúng ta ngồi yên lặng với nhau, ít nhất là trong giờ ngồi thiền. Mỗi ngày chúng ta có cơ hội đi với nhau. Mấy trăm người đi với nhau mà không cần nói, đi từng bước thảnh thơi lên đồi. Đó gọi là văn minh. Chúng ta thấy và trân quí sự có mặt của nhau. Tất cả mọi người đều có mặt trong bữa ăn. Dù không đói nhưng ta vẫn có mặt, đó là cơ hội để chúng ta thấy mặt nhau, ta có mặt cho nhau.

Ở Làng Mai, trước khi ăn cơm ta đọc lời quán nguyện: Chúng ta hãy ăn cơm như thế nào để có sự thảnh thơi, có tình huynh đệ và có hạnh phúc. Ăn cơm là một cơ hội để chế tác ra thảnh thơi, hạnh phúc và tình huynh đệ.

 

Chế tác sự thảnh thơi trong khi ăn cơm

Trong tiếng Việt có những danh từ tương đương với sự thảnh thơi như sự rỗi rảnh, sự rảnh rang. Rảnh rang có nghĩa là không bị bận rộn quá. Trong xã hội ngày nay hình như mọi người đều quá bận rộn, không có được sự thảnh thơi.

Chúng ta cũng có chữ nhàn , nhàn tức là không quá bận rộn. Chữ nhàn được làm bằng chữ môn tức là cái cửa (door) và chữ nguyệt tức là trăng. Nhìn ra cửa thì thấy có ánh trăng, chỉ những người người thảnh thơi không bận rộn mới thấy được ánh trăng ngoài cửa (Nguyệt lai môn hạ nhàn). Trong đạo Bụt có chữ vimukti tức là giải thoát, không bị ràng buộc. Mục đích chính của người tu là làm thế nào để không bị ràng buộc. Chúng ta tự ràng buộc lấy mình bằng những sợi dây hay là ta bị người khác ràng buộc. Bị ràng buộc thì ta không có tự do, không có sự thảnh thơi. Những sợi dây ràng buộc lớn là sự bận rộn, lo lắng (worry), giận hờn, ganh tị, sợ hãi, thèm khát, mặc cảm. Ta mặc cảm là mình hơn người, mình thua người, hay là mình bằng người. Nặng nhất là sợi dây si mê, tức không hiểu được, không thấy được. Ta có những cái thấy sai lầm về bản thân mình, về người kia và về thế giới. Những cái thấy sai lầm đó làm ta khổ rất nhiều. Vì vậy ta cần phải cắt đứt (đoạn) những sợi dây đó. Cắt đứt được những sợi dây ràng buộc thì ta có sự thảnh thơi tức sự giải thoát.

Trong tiếng Việt cổ có chữ rồi, sau này chữ rồi trở thành chữ rỗi. Ngày xưa vua Trần Nhân Tông đã nhường ngôi lại cho con để trở thành một ông thầy tu. Vua đi tìm sự thảnh thơi tại vì làm chính trị thì lo lắng rất nhiều. Đi tìm sự thảnh thơi không có nghĩa là không làm gì gì cả, mà là đi tìm một phương pháp tu học để cởi dần những sợi dây trói buộc mình. Tu không phải là để trốn đời. Vua Trần Nhân Tông sau khi đi tu vẫn còn làm hết sức mình để giúp nước. Vua con ngồi trên ngôi làm chính trị, còn vua cha thì đi xuất gia làm đạo đức. Vua đã để rất nhiều thì giờ đi chu du trong nước để gặp gỡ dân chúng, khuyên họ nên bỏ ác làm lành, giữ giới và ăn ở hòa thuận với nhau. Đó là sự dấn thân, là công việc lo về mặt đạo đức, luân lý cho dân. Vua Trần Nhân Tông, tuy ở trên núi Yên Tử nhưng không xa lánh cuộc đời. Vua làm thầy tu để có cơ hội cởi bỏ những sợi dây ràng buộc và giúp đời nhiều hơn. Trong một bài phú bằng chữ nôm “Cư trần lạc đạo“ (hồi đó đã có chữ nôm, phần lớn những sáng tác được viết bằng chữ Hán nhưng cũng có người từ đời Trần đã sử dụng chữ nôm), vua viết:

Miễn được lòng rồi, chẳng cần phép khác

"Lòng rồi" là "lòng rỗi", là sự thảnh thơi. Quan trọng nhất là sự thảnh thơi. Không có phép tu nào quan trọng hơn là phép tu để có được sự thảnh thơi. Mỗi người chúng ta, khi có cơ hội ngồi xuống thì nên nhìn xem mình bị sợi dây nào trói buộc. Ta phải nhận diện sợi dây đang trói buộc mình rồi ta mới bắt đầu cởi nó ra được. Ta không có hạnh phúc là tại vì ta đang bị ràng buộc. Giải thoát là cởi trói. Có khi ta đang bị sự giận hờn theo đuổi và không có giây phút nào mà ta có hạnh phúc. Sự giận hờn là một sợi dây. Học Phật pháp, ta có thể thấy được phương pháp tháo sợi dây giận hờn đó ra khỏi mình. Sợi dây giận hờn có thể trói ta suốt đời và suốt đời ta sẽ không có hạnh phúc nên ta phải tìm cách cắt tung sợi dây đó. Có người mang một mối thù suốt đời, những người đó không bao giờ có được tự do. Có người mang sợi dây thèm khát như thèm một chức vụ, một danh vọng hay một địa vị nào đó. Khi còn chạy theo một đối tượng của sự thèm khát thì ta còn bị sợi dây ràng buộc, ta không có khả năng có hạnh phúc. Cái đức lớn nhất của con người là có khả năng có hạnh phúc (the capacity to be happy). Chúng ta hãy tự hỏi là mình có khả năng có hạnh phúc hay không? Do I have the capacity to be happy? Nếu câu trả lời là không thì chúng ta phải hỏi:

– Tại sao tôi không có khả năng đó?

Câu trả lời sẽ là:

– Tại vì anh đang bị những sợi dây trói buộc.

Ví dụ mọi người đang đi thiền với nhau. Đi thiền là một cơ hội để chúng ta buông bỏ tất cả những lo lắng, những dự án của mình. Ta bước từng bước như thế nào để những bước chân đem lại hỷ và lạc. Trên phương diện lý trí, chúng ta biết mỗi bước chân thảnh thơi có chánh niệm có thể giúp cho ta tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống trong giây phút hiện tại. Những mầu nhiệm của sự sống có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu cho ta.

Mỗi bước chân là nuôi dưỡng

Mỗi bước chân là phép lạ

Mỗi bước chân là trị liệu

Mỗi bước chân là niềm vui

Có thân người, có được hai chân để đi dạo trên hành tinh này là một cơ hội rất lớn. Nếu có niệm và định thì mỗi bước chân đem lại cho ta nhiều hỷ và lạc.

Nhưng trong khi đi chung với nhau thì tại sao những người khác chế tác được hỷ và lạc trong từng bước chân còn ta thì không thể. Câu trả lời là tại vì ta đang bị một sợi dây nào đó trói buộc, ta không có thảnh thơi, ta không có giải thoát. Trong khi những người khác thưởng thức được những bước chân của họ thì ta đi như một cái máy. Ta chỉ đi hình thức, thiền đi của ta không có nội dung, không nuôi dưỡng được ta, không tạo được cho ta hạnh phúc. Chúng ta phải ngồi xuống và tự hỏi là ta đang bị sợi dây nào trói buộc và ta phải tìm cách gỡ sợi dây đó ra. Với ý chí thôi chưa đủ, ta phải cần có thông minh mới có thể cởi trói được. Ta phải có sự thức tỉnh, không có lẽ ta cứ bị sợi dây giận hờn, hận thù, thèm khát này trói mãi sao? Đời sống có bao lâu mà mỗi ngày ta không có khả năng tạo dựng hạnh phúc? Đi không có hạnh phúc, ngồi không có hạnh phúc, ăn cơm ta cũng không có hạnh phúc. Cái đó có đáng để ta theo đuổi hay không? Khi có cái thấy (tuệ giác) thì ta có thể buông bỏ và cởi trói được. Ta thấy mình đang dại dột làm uổng phí cuộc đời của mình. Khi có cái thấy sáng thì ta có thể buông ra được. Quan trọng nhất là sự thảnh thơi của mình, không có sự thảnh thơi thì không có gì hết.

Trong nền văn mình hiện đại rất ít người có được sự thảnh thơi, người nào cũng bận rộn. Có những người rất giàu, họ có hàng chục, hàng trăm triệu dollars trong trương mục nhưng họ không có thảnh thơi hạnh phúc. Có những người có danh thật lớn, có thật nhiều quyền lực nhưng họ không hạnh phúc tại vì họ không có sự thảnh thơi. Vua Trần Nhân Tông nói rất đúng: Miễn được lòng rỗi, chẳng cần phép khác.

Trước khi ăn cơm chúng ta đọc: Xin đại chúng ăn cơm như thế nào để có sự thảnh thơi. Đó là sự thực tập. Ngồi ăn cơm mà ta cứ để những sợi dây ràng buộc thì ngồi với huynh đệ, với chúng cũng bằng như là không ngồi. Ta bị bắt buộc phải vô ngồi nhưng ta ngồi không có hạnh phúc. Trong khi đó thì có người ăn mà trong mỗi hơi thở, mỗi miếng cơm họ đều có hạnh phúc. Ta không có hạnh phúc tại vì ta không có sự thảnh thơi, vì vậy sự thảnh thơi là quan trọng nhất. Ta phải tranh đấu để có được sự thảnh thơi.

Chế tác tình huynh đệ trong khi ăn cơm

Tình huynh đệ nuôi dưỡng chúng ta. Giữa hai vợ chồng phải có tình huynh đệ. Trong văn hóa Việt Nam người vợ gọi chồng mình là anh (my brother) và người chồng gọi vợ mình là em (my sister). Vợ chồng là một cặp huynh đệ (une fraternité amoureuse). Giữa cha con với nhau cũng phải có tình huynh đệ. Người kia là con trai mình nhưng cũng là người anh em, là đồng chí của mình. Có những cặp cha con chơi với nhau như hai anh em và những cặp mẹ con chơi với nhau như hai chị em. Thầy trò cũng là một cặp huynh đệ. Đệ tử tiếp nối thầy, chia sẻ, muốn thực hiện những giấc mơ của thầy thì giữa thầy và đệ tử có tình huynh đệ. Chữ đệ tử có nghĩa là vừa là con, vừa là em (đệ là em, tử là con). Ta là một sư anh thì sư em cũng là đệ tử của mình. Chăm sóc cho em tức là chăm sóc cho con mình. Không có tình huynh đệ thì không có gì hết. Có tình huynh đệ thì ta được nuôi dưỡng, ta có hạnh phúc. Với hạnh phúc đó ta có thể tổ chức và hướng dẫn cho những người khác tu tập để họ cũng được hạnh phúc. Mục đích chính của một trung tâm tu học là sống với nhau như thế nào để chế tác được sự thảnh thơi và tình huynh đệ.

Tình huynh đệ là vốn liếng của chúng ta. Không có tình huynh đệ thì ta không có đủ vốn để đầu tư vào sự nghiệp. Chúng ta ở với nhau như anh chị em. Mỗi ngày ta phải chế tác tình huynh đệ, vốn của ta càng lớn thì ta làm ăn càng lời tức là giúp được rất nhiều người trong thế gian. Trong khi chúng ta tổ chức một khóa tu 1300 người mà có tình huynh đệ thì tình huynh đệ đó sẽ chuyển hóa được tâm thức của người đến tu. Họ tiếp xúc với chúng ta và có chuyển hóa, không phải vì ta nói pháp thoại thao thao bất tuyệt mà chính vì trong khi đi, đứng, nằm, ngồi và tiếp xử chúng ta tỏa chiếu sự thảnh thơi và tình huynh đệ.

Tại Làng Mai, các thầy, các sư cô và các vị cư sĩ thường trú không có lương tiền nhưng họ có tình huynh đệ. Và họ được nuôi dưỡng bằng tình huynh đệ đó. Tình huynh đệ càng lớn thì sự nghiệp độ đời càng lớn. Vì vậy để đầu tư cho tương lai chúng ta phải có sự thảnh thơi và tình huynh đệ thì mới thành công.

Chế tác hạnh phúc trong khi ăn cơm

Trong mỗi bữa cơm chúng ta mở đầu trước khi đọc năm quán: Xin đại chúng ăn cơm như thế nào để có được sự thảnh thơi, có tình huynh đệ và có được niềm vui trong khi ăn. Như vậy trong bữa cơm chúng ta được nuôi dưỡng. Ta được nuôi dưỡng không chỉ bằng thức ăn (đoạn thực) mà còn bằng ba loại năng lượng đó. Ta ngồi ăn cơm như thế nào để có sự thảnh thơi. Ở ngoài đời bây giờ người ăn cơm không thảnh thơi, người ta ăn mau cho xong để đi làm chuyện khác. Trong khi đó chúng ta ăn càng chậm càng tốt, tại vì ăn chậm thì chúng ta có nhiều thì giờ ngồi với nhau hơn. Ở Pháp người ta quảng cáo một loại yogourt như thế này: Mange doucement pour que ça dure longtemps. Ăn chậm để cho lâu hết, ăn từng muỗng và ngậm mà nghe.

Tình huynh đệ trong khi ngồi ăn cũng vậy. Ta ý thức được có anh chị em, những người cùng một tâm chí đang ngồi với ta. Chúng ta đã chọn làm anh chị em với nhau và cùng đi trên một con đường. Ta được nuôi dưỡng không những bởi thức ăn mà ta còn được nuôi dưỡng bằng tình huynh đệ. Ta ăn thong thả và thấy rằng: Tu là ăn cơm, ăn cơm là tu. Ăn cơm như thế nào để có thảnh thơi, đó là một bí quyết. Anh cũng lấy cơm và vào ngồi với chúng tôi, nhưng không biết anh có thảnh thơi hay không? Hay là anh đang suy nghĩ chuyện này chuyện nọ, anh đang giận hờn? Anh không ăn cơm, anh chỉ ăn những đau buồn, giận hờn của anh mà thôi. Ăn như vậy không có ích lợi gì cho sức khỏe của anh. Thay vì ăn cơm, ăn sự thảnh thơi, tình huynh đệ và hạnh phúc thì anh ăn sự giận hờn, lo lắng. Anh chỉ thực tập hình thức.

Bữa cơm là một sự thách thức, ăn cơm như thế nào để trong 40 phút đó ta có sự thảnh thơi, có tình huynh đệ và có hạnh phúc. Trưa hôm nay chúng ta sẽ ăn cơm ở đây và chúng ta hãy thách thức xem mình có ăn cơm được như vậy hay không? Đó là sự thực tập. Nếu trong khi ăn cơm mà ta có được sự thảnh thơi, có tình huynh đệ và có hạnh phúc thì chúng ta cũng đi thiền được như vậy, và đến khi rửa bát hay chấp tác thì ta cũng làm được như vậy. Có hạnh phúc rồi thì ta mới giúp được cho người khác có hạnh phúc. Nếu không thì ta có gì để cho người kia?

Thực tập như một cơ thể

Nếu chú ý thì quí vị thấy trước khi quí thầy, quí sư cô tụng kinh chúng ta đọc bài quán niệm: Xin đại chúng hãy cùng nhau thở như một cơ thể. Trong khi thở chúng ta thấy sự có mặt của huynh đệ. Ta thở vào thì những người khác cũng đang thở vào, ta thở ra thì những người khác cũng đang thở ra. Thở vào, ta làm cho thân và tâm ta êm dịu xuống. Trong khi đó các huynh đệ cũng làm như ta:

Thở vào tâm tĩnh lặng

Thở ra miệng mỉm cười

Khi thực tập với tính cách của một cộng đồng thì chúng ta sẽ thấy tình huynh đệ thật rõ ràng. Nghe một tiếng chuông, tất cả đều ngưng sự suy nghĩ, sự nói năng và bắt đầu để ý tới hơi thở vào, làm cho tâm và thân lắng dịu xuống. Nếu có mấy trăm người cùng thở như vậy thì năng lượng tập thể của niệm và định trở nên rất hùng hậu. Đó gọi là đồng bộ (synchroniser). Đó là thức ăn, và ngồi trong đó chúng ta sẽ được chuyển hóa. Trong khi thở như vậy chúng ta tạo ra năng lượng tập thể của sự bình an. Chúng ta nuôi nhau bằng năng lượng tập thể đó. Trong khi thở ta nuôi anh, nuôi chị, nuôi em của mình. Tới đây để thực tập thì chúng ta trở thành anh chị em của nhau. Thở được một hơi có an, có lạc, có hỷ thì không những ta nuôi ta mà ta còn nuôi tất cả mọi người. Và nếu người kia đi được một bước chân có an lạc thì họ tự nuôi họ và họ cũng nuôi được ta. Thực tập như một đoàn thể là chúng ta nuôi nhau bằng năng lượng của niệm, định và tuệ, năng lượng đưa tới sự thảnh thơi, tình huynh đệ và hạnh phúc.

Xin đại chúng hãy thở như một cơ thể, xướng tụng như một cơ thể. Không còn cái ta nữa, chúng ta đi như một dòng sông mà không đi như những giọt nước. Khi hòa vào đại chúng và đi như một dòng sông thì những đau buồn của ta sẽ được năng lượng tập thể ôm ấp. Ta sẽ được nhẹ đi rất nhiều. Nếu ta hành xử như một giọt nước thì những đau buồn của ta vẫn còn y nguyên. Ngồi trong đại chúng, đi trong đại chúng, thở với đại chúng thì ta phải buông bỏ cái ngã của mình. Ta cùng thở với chúng như một cơ thể, ta phải xướng tụng với chúng như một cơ thể và ta phải nghe như một cơ thể. Khẩu hiệu của Làng Mai là: Đi như một dòng sông mà không đi như một giọt nước. Đi như một giọt nước thì ta giữ lấy cho riêng mình những khổ đau, những bức xúc. Nương vào tăng thân, để tăng thân ôm ấp, hướng dẫn thì ta có cơ hội được chuyển hóa nhờ năng lượng tập thể của niệm, định, tuệ, của sự thảnh thơi và sự bình an. Vì vậy trong truyền thống đạo Bụt, quy y Phật và quy y Pháp thôi chưa đủ mà chúng ta còn phải quy y Tăng. Tăng có năng lượng tập thể giúp cho ta chuyển hóa dễ dàng hơn. Muốn sự thực tập được lâu bền thì ta phải nương tựa vào một đoàn thể tu học. Nếu chưa có thì ta phải tìm cách tạo dựng ra một đoàn thể tu học ở địa phương của mình.

Quán chiếu trong khi nghe hô canh hay khi trong khi hát thiền ca

Trước khi ngồi thiền chúng ta có bài hô canh. Bài hô canh buổi chiều là:

Vững thân ngồi dưới cội bồ đề

Ba nghiệp lắng rồi hết thị phi

Vững thân ngồi dưới cội bồ đề có nghĩa là ta ngồi xuống đây giống như Đức Thích ca ngồi dưới cội bồ đề. Đây là một cơ hội, ta phải ngồi cho vững.

Ba nghiệp lắng rồi hết thị phi: Trong khi thở vào, thở ra, việc đầu tiên là ta phải làm lắng dịu ba nghiệp thân, khẩu và ý. Thân là hình hài này, ta làm nó lắng dịu lại. Ta im lặng, không nói năng và không suy nghĩ nữa. Ta không còn suy nghĩ “anh đúng tôi sai hay tôi đúng anh sai“ nữa. There is no longer any thought of right and wrong. Trong đời sống hàng ngày chúng ta bị cột bởi sợi dây “anh sai tôi đúng“, “anh đã gây ra cho tôi bao đau khổ, anh phải chịu trách nhiệm cho bao đau khổ đó còn tôi chỉ là nạn nhân mà thôi“. Khi ngồi thiền ta phải buông bỏ tư tưởng “đúng và sai, ai đúng ai sai, ai thị ai phi“. Khi ngồi thiền ta phải làm được chuyện này trong những hơi thở đầu tiên. Ta ngồi cho vững, làm thoải mái thân-khẩu-ý và chấm dứt tư tưởng “ai đúng ai sai“.

Thu nhiếp thân tâm vào chánh niệm

Rõ soi diện mục thoát bờ mê

Thân và tâm được đặt vào trong chánh niệm và ta có ánh sáng soi để biết mình từ đâu tới và sẽ đi về đâu, mình là ai. Do đó ta có thể rời bỏ bờ bên này, bờ của giận hờn, buồn tủi, lo lắng, sầu khổ để đi sang bờ bên kia, bờ của thảnh thơi, giác ngộ.

Bài hô canh buổi chiều cũng như bài hô canh buổi sáng là sự nhắc nhở. Khi nghe bài hô canh ta phải quán chiếu. Ta phải đem áp dụng ngay vào thân của mình. Ta phải để bài hô canh đi vào thân, đi vào hệ thần kinh của mình. Ta phải đưa những tuệ giác, những ước muốn đó đi vào trong cơ thể của mình.

Trước khi đi thiền chúng ta cũng đứng thành vòng và hát một vài bài. Những bài hát đó là để hướng dẫn ta đi thiền hành chứ ta không hát để mà chơi. Ví dụ như ta hát“Ta hạnh phúc liền giây phút này“ là để nhắc nhở ta bước như thế nào, ta thở như thế nào để mỗi bước chân là một huyền thoại, mỗi hơi thở là một truyền kỳ. Chúng ta làm được chuyện này và khi làm đã quen thì ta sẽ tạo ra những đường thần kinh mới (new neural pathway) dẫn ta đi tới hạnh phúc. Thay vì những con đường mòn suy tư cũ đưa tới giận hờn buồn tủi, ta vạch ra những con đường mòn mới đưa tới hạnh phúc. Đó là thói quen rất tốt. Cũng như thói quen nghe chuông, nghe tiếng chuông nhấp thì không cần phải cố gắng ta tự động ngưng suy nghĩ, ngưng nói năng và bắt đầu để ý tới hơi thở vào. Tại Làng Mai mọi người đều làm như vậy mà không cần phải cố gắng gì cả, nó đã trở thành ra con đường mòn của chánh niệm. Nghe một tiếng chuông thì tự nhiên ta ngưng suy nghĩ, ngưng nói năng và bắt đầu để ý tới hơi thở vào, ta thở vào và làm cho thân lắng dịu xuống. Đó là sự học hỏi của tàng thức. Tu là học cách nuôi mình, nuôi bằng sự thảnh thơi, bằng tình huynh đệ, bằng hạnh phúc trong khi đi, đứng, nằm, ngồi, rửa bát, ăn cơm. Nuôi được mình rồi thì ta có thể nuôi được người khác như huynh đệ mình, con mình, chồng mình, vợ mình, bằng hữu của mình.

Truyền thông với chính mình

Trở về nhận diện chính mình bằng hơi thở chánh niệm

Chúng ta phải làm thế nào khi có khó khăn trong sự truyền thông với một người khác? Tại sao ta có những khó khăn đó? Tại sao ta không truyền thông được với người đó? Thường thì chúng ta nghĩ tại vì người đó chứ không phải tại mình.

Chúng ta thường có hành động trốn chạy. Trong bản thân mình có thể có những cô đơn, đau buồn, giận hờn, trống trải mà ta không chịu đựng nổi. Ta đi tìm sự khỏa lấp ở những phẩm vật mà ta muốn tiêu thụ như internet, phim ảnh, âm nhạc, sách báo, v.v…Điều này chứng tỏ rằng ta không bình an với chính mình, ta không truyền thông được với chính mình. Vì vậy ta không truyền thông được với người kia là chuyện rất bình thường. Chính mình còn không truyền thông được với mình thì làm sao mình truyền thông được với người kia? Nếu ta trách người kia thì cũng tội cho họ. Nội cái thấy đó cũng làm cho ta nhẹ nhàng đi nhiều. Cái thấy đó là cái thấy nào? Cái thấy rằng người kia đang có những khó khăn. Người kia không truyền thông được với chính họ và ta cũng đang có những khó khăn, ta không truyền thông được với chính mình cho nên có sự khó khăn trong sự truyền thông giữa hai người. Thấy được như vậy đã đỡ khổ lắm rồi. Ta không trách móc người kia, ta không trách móc mình mà tự nhiên ta có ước muốn trở về để tìm hiểu chính mình, để truyền thông được với chính mình.

Phần lớn chúng ta đều không có ý muốn trở về bản thân tại vì ta sợ phải đối diện với những trống trải, cô đơn, lo lắng, buồn phiền. Trở về là một hành động rất can đảm. Nhiều khi ta cần một người bạn tu, một tăng thân, một đoàn thể tu học yểm trợ cho ta để ta có thể trở về với chính mình. Những nỗi khổ niềm đau và sự trống trải đó lớn và nếu về một mình thì ta có thể bị tràn ngập. Phải có sức mạnh của bạn đồng tu hay của đoàn thể yểm trợ ta mới có thể về để nhận diện nỗi khổ niềm đau của mình.

Khi ta để tâm vào hơi thở thì ta đem tâm trở về với thân. Đó là một hành động trở về, trở về bằng con đường chánh. Nếu có những người bạn tu cùng ngồi, cùng đi, cùng thở với ta thì họ sẽ yểm trợ cho ta trong chuyến đi về. Ta thở có chánh niệm để trở về và những người bạn tu cùng thở với ta, khuyến khích ta nên trở về. Ta có sự yểm trợ sau lưng. Phương pháp này đủ đơn giản để mọi người có thể làm được. Nếu thật sự chú tâm vào hơi thở thì ta đã có được sức mạnh gọi là định (concentration). Ta thở và biết là mình đang thở, đó là niệm. Ta thở và chú tâm vào hơi thở, tập trung tất cả tâm ý vào hơi thở, đó là định. Ta bắt đầu xây dựng một sức mạnh gọi là niệm và định. Trước hết ta nhận diện được hình hài của mình: Thở vào tôi biết rằng tôi có một hình hài. Đó là bài tập thứ ba trong kinh An Ban Thủ Ý:

Thở vào tôi ý thức về hình hài của tôi.

Trong hình hài của ta có thể có những đau nhức hay những căng thẳng và ta không có sự bình an. Trong khi thở vào và thở ra có ý thức ta có cơ hội buông bỏ những căng thẳng trong hình hài của mình ở trong tư thế ngồi, tư thế đi hay tư thế nằm. Hơi thở có thể giúp ta buông thư và đem lại một ít bình an cho thân của ta. Ta phải lo cho thân trước, còn những tâm như tâm giận hờn, cô đơn, trống trải, ta sẽ lo sau. Đó gọi là niệm thân (mindfulness of the body). Hơi thở là một phần của hình hài. Trong khi thở vào mà ta tập trung vào hơi thở thì hơi thở là đối tượng chính của tâm. Ban đầu hơi thở không được bình an lắm, hơi thở có thể hổn hển, gấp gáp vì trong thân ta có sự căng thẳng, trong tâm ta có những đau buồn. Nếu đem hết tâm ý nhìn vào hơi thở, ta thấy lúc đầu hơi thở của mình chưa được bình an, chưa được sâu, chưa được nhẹ. Phẩm chất của hơi thở còn yếu. Nhưng nếu ta giữ được niệm và định, ta chỉ để ý tới hơi thở và thở thì chỉ ba phút sau là hơi thở sẽ mềm ra và dịu xuống.

Thở vào tôi biết là tôi thở vào
Thở ra tôi biết là tôi thở ra

Đây là sự thực tập đầu: nhận diện hơi thở vào và hơi thở ra. Chuyện này làm rất dễ, như một trò chơi của trẻ em. Thở vào, tôi biết đây là hơi thở vào mà không phải là hơi thở ra. Thở ra, tôi biết đây là hơi thở ra mà không phải là hơi thở vào. Nhưng nếu ta làm được thì tự nhiên tình trạng tán loạn của tâm ý sẽ chấm dứt. Ta chú ý tới hơi thở, ta biết đây là hơi thở vào, đây là hơi thở ra. Ta làm công việc nhận diện. Khi làm công việc nhận diện thì ta có định mà định là ngược lại với tán loạn. Tâm của ta đang tán loạn, chỉ cần thở và nhận diện hơi thở vào và hơi thở ra thì tự nhiên tình trạng tán loạn sẽ trở thành định. Công việc này đủ dễ để cho bất cứ người nào cũng có thể làm được. Niệm, định, tuệ không phải là chuyện trên trời mà là chuyện bây giờ và ở đây và ai cũng có thể làm được. Ta cứ thở như vậy và không suy nghĩ gì cả. Đó là bài tập nhận diện hơi thở vào và hơi thở ra. Nếu ta thở như vậy được hai phút thì phẩm chất của hơi thở vào và hơi thở ra của ta sẽ tốt hơn. Ta không cố gắng hay ép buộc mà tự nhiên hơi thở vào sẽ sâu hơn và hơi thở ra sẽ chậm hơn.

Thở vào tôi nhận thấy hơi thở của tôi đã sâu hơn
Thở ra tôi nhận thấy hơi thở ra của tôi đã chậm hơn

Phẩm chất của hơi thở đã tăng lên. Ta chỉ cần thở trong một phút thì có thể làm cho phẩm chất của hơi thở cao hơn. Hơi thở của ta có bình an hơn, dễ chịu hơn. Hơi thở bình an và dễ chịu sẽ ảnh hưởng lên thân của ta tại vì thân và tâm dính với nhau. Lúc này ta có thể can thiệp vào thân, có chút bình an trong hơi thở thì ta có thể lấy bình an đó hiến tặng cho thân và thực tập bài kệ thứ ba trong kinh An Ban Thủ Ý:

Thở vào tôi có ý thức về hình hài tôi
Thở ra tôi buông bỏ những căng thẳng trong hình hài tôi

Chúng ta đã làm được với hơi thở, ban đầu hơi thở hổn hển không có bình an nhưng thở được một lúc thì hơi thở dịu xuống và có bình an. Hình hài của ta cũng vậy, ban đầu nó có sự căng thẳng, nhưng nếu ta tiếp tục thở và ôm lấy cơ thể bằng hơi thở thì những căng thẳng được buông bỏ và ta có sự bình an trong cơ thể.

Lúc tôi mới tới giảng tại đại học Cornell, ông giáo sư chính trị học George Mc Turnan Kahin hỏi tôi: Thầy ơi, trong khi ngồi thiền thì thầy làm gì? Ông rất tò mò muốn biết mình làm gì trong khi ngồi thiền. Trong khi ngồi thiền có những việc làm rất cụ thể mà trước hết là điều tức hay điều hòa hơi thở. Khi ngồi xuống công việc đâu tiên ta làm là điều tức, chăm sóc hơi thở để nó dịu xuống và có bình an. Sau đó thì ta điều thân tức điều chỉnh thế ngồi của mình. Thế ngồi của ta phải thẳng, không cứng, không có sự căng thẳng. Ta ngồi thật thẳng nhưng vẫn mềm và thoải mái. Hơi thở và thế ngồi phải đi đôi với nhau. Người ngồi thiền quen có thể điều tức và điều thân chỉ trong một vài phút. Sau đó ta đi sâu vào sự quán chiếu để có nhiều bình an và pháp lạc. Pháp lạc là niềm vui và hạnh phúc của chánh pháp (Dharma joy, Dharma happiness). Nếu ta ngủ đủ thì trong khi ngồi thiền thế nào ta cũng có pháp lạc, có hạnh phúc và niềm vui trong khi ngồi thiền. Niềm vui đó không phải do người khác đem tới mà do chính sự thực tập của mình.

 

Bình an trong ta là điều quan trọng nhất

Ta bắt đầu điều phục hơi thở, rồi sau đó ta điều phục thân, và tự nhiên ta sẽ có an trong thân và trong hơi thở. Ta có thể ở lại với thân lâu bao nhiêu cũng được. Trong đời sống hàng ngày ta đã bỏ bê thân của mình. Khi ngồi với máy tính trong hai giờ đồng hồ ta đã quên hẳn là ta có một hình hài. Trong thời gian đó những căng thẳng dồn lên và chứa lại. Nhưng vì ta mê, ta bị máy tính hút hồn nên ta không không ý thức được sự căng thẳng đang bị dồn chứa. Ta bỏ bê cơ thể của ta nên nó mất đi sự bình an. Ở Làng Mai chúng ta có tiếng chuông chánh niệm gài vào trong máy tính. Mỗi 15 phút thì có một tiếng chuông để ta ngưng làm việc, bắt đầu thở vào có ý thức và đem tâm trở về với thân. Ta mỉm cười với hình hài và nhớ rằng ta có một hình hài. Ta có cơ hội buông bỏ những căng thẳng trong hình hài. Nói như vậy không có nghĩa là khi ngưng để thở là ta mất thì giờ. Ta quen nghĩ rằng thì giờ là tiền bạc. Thật ra thì giờ quí hơn tiền bạc rất nhiều tại vì thì giờ là sự sống. Vì vậy khi nghe tiếng chuông, trở về với hơi thở và ý thức rằng mình có một hình hài mầu nhiệm thì đó là sự sống. Nếu có niệm lực và định lực hùng hậu thì ta thấy hình hài của mình là một cái gì rất là mầu nhiệm. Nó mang trong nó tất cả trăng sao, vũ trụ. Đất Mẹ có mặt trong hình hài của ta. Ta mang theo trong hình hài sự có mặt của tất cả tổ tiên. Tổ tiên của ta chưa bao giờ chết, tổ tiên vẫn tiếp tục sống trong ta và có mặt trong từng tế bào cơ thể ta. Nếu ta có bình an, có niềm vui thì tổ tiên cũng có bình an và niềm vui. Câu thiền ngữ ”Thở vào tôi biết là tôi có một hình hài, thở ra tôi mỉm cười với hình hài của tôi” có thể rất sâu, đó là một sự giác ngộ. Ta biết là ta có một hình hài và hình hài đó rất quí. Ta đã không biết quí hình hài của mình, ta đã từng đày đọa tấm thân. Bây giờ ta biết nó rất quí giá, ta biết tất cả tổ tiên đang có mặt trong hình hài của mình. Nếu ta sống nhẹ nhàng, thảnh thơi, hạnh phúc thì tổ tiên trong ta cũng nhẹ nhàng, thảnh thơi, hạnh phúc. Cái thấy đó là giác ngộ. Giác ngộ này tiếp theo giác ngộ khác, vì vậy giác ngộ là chuyện của ngày hôm nay chứ không phải ta tu 10 năm, 20 năm nữa mới có giác ngộ. Những cái thấy có thể đến một cách tới tấp, cho ta tuệ giác để gỡ ra những hệ lụy, những ràng buộc.

Ta đang buồn, đang giận, đang tranh đấu. Tâm của ta bị ràng buộc bởi những lo lắng, giận hờn, ganh tị, và ta có thể ở trong trạng thái đó giờ này sang giờ khác, ngày này sang ngày khác. Trong khi đó thì sự sống hết sức mầu nhiệm. Nếu ta tập trung vào hơi thở, ta thở vào và thấy hình hài của mình là một sự mầu nhiệm thì ta sẽ thấy rằng không có gì là quan trọng, chỉ có sự bình an trong ta là quan trọng mà thôi. Cái thấy này người nào cũng có thể đạt tới được. Không cần phải là một vị bồ tát hay một vị la hán mà bất cứ người nào trong chúng ta cũng có thể đạt được cái thấy đó. Những giận hờn, khổ đau, bức xúc làm cho ta trôi lăn trong đời sống hàng ngày. Trong khi đó thì sự sống rất là mầu nhiệm, ta có một hình hài, ta chỉ cần thở, ngồi và buông hết thì tự nhiên ta có sự bình an. Sự bình an này quí hơn bất cứ một chức vị nào hay một sự tìm cầu nào. Có gì quan trọng đâu? Quan trọng nhất là sự bình an trong hình hài và trong tâm của ta. Sự bình an đó ta có thể có được nếu ta biết buông bỏ những giận hờn, đau khổ, bức xúc kia. Và với cái thấy đó ta có thể buông bỏ được một cách dễ dàng. Mỗi bước chân sẽ đem lại cho ta niềm vui. Ta có một hình hài, ta có hai chân còn khỏe, ta đang còn bước đi những bước thong dong trên hành tinh xinh đẹp này. Điều này rất là mầu nhiệm, rất là hạnh phúc. Ta còn đòi hỏi gì nữa?

Tự do đối với những ràng buộc của quá khứ và tương lai

Tại sao ta bước được những bước như vậy? Tại vì ta có tự do, thân tâm ta không bị ràng buộc bởi những bức xúc, lo lắng, giận hờn, bực bội kia. Tự do là cái quí nhất mà hơi thở và bước chân có chánh niệm có thể đem lại cho ta. Mỗi bước chân giúp cho ta đạt tới một tự do, bước chân nào cũng giúp cho ta có thêm tự do. Tự do không phải là chuyện nói ngoài miệng, tự do đó có thật. Ta đang lo lắng, sợ hãi về tương lai hay ta đang buồn khổ, tiếc thương về quá khứ và ta không thấy được những mầu nhiệm của sự sống trong giây phút hiện tại. Như vậy là ta không có tự do. Có những người trong chúng ta cứ ở mãi trong ngục tù quá khứ, hay đang ở trong ngục tù tương lai mà không ra khỏi được. Trong khi đó thì trong giây phút hiện tại có vũ trụ, trăng sao, cây cối, chim chóc rất đẹp. Sở dĩ ta không tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống là vì ta không có tự do. Đây không phải là tự do chính trị mà là tự do đối với những sầu thương, tiếc nuối về quá khứ hay những lo lắng, sợ hãi về tương lai. Nếu thở vào mà ta đem hết tâm ý đặt vào hơi thở vào thì tự nhiên ta buông bỏ được. Một hơi thở vào có thể kéo dài chừng ba hay bốn giây, mà nếu ta tập trung tâm ý vào hơi thở vào thì ta buông hết quá khứ và tương lai, ta có tự do trong ba hay bốn giấy đó.

Định có nghĩa là nhất tâm hay tâm nhất cảnh. Tâm nhất cảnh là tâm chỉ tập trung vào một cảnh mà thôi. Nhất cảnh ở đây là hơi thở vào của ta. Nếu ta thật sự tập trung hết tâm ý vào thở vào thì ta buông được những lo lắng về tương lai và những sầu đau về quá khứ. Ta có tự do trong khi thở vào. Muốn duy trì tự do đó thì ta tiếp tục tập trung tâm ý vào hơi thở ra, và ta muốn duy trì tự do đó bao lâu cũng được. Thở ba phút có ý thức thì trong ba phút đó ta có tự do. Tự do này ta phải tranh đấu, ta phải luyện tập mới có.

Không bị những lo lắng, giận hờn chế ngự thì ta sẽ làm những quyết định hay hơn. Trong ta có những lo lắng, bực bội, giận hờn thì quyết định của ta sẽ không sáng suốt tại vì ta không có tự do. Nếu ta thở và tập trung tâm ý vào hơi thở thì ta có tự do và chính trong tình trạng có tự do đó mà ta có thể làm được những quyết định hay hơn nhiều. Tự do là chuyện có thể có được bất cứ lúc nào ta muốn. Bằng phương pháp thở, ngồi và đi trong chánh niệm ta đem lại sự an bình, sự nhẹ nhàng và niềm vui trước hết là cho hơi thở và sau đó là cho hình hài của mình.

 

Làm lắng dịu những cảm thọ đau buồn

Nếu có hơi thở an và thân an thì ta đứng trên một mảnh đất vững vàng để có thể điều tâm. Bây giờ ta có thể nhận diện, ôm ấp và làm lắng dịu xuống những cảm thọ buồn khổ, lo lắng, ưu sầu.

Đó là những bài tập có sẵn trong kinh An Ban Thủ Ý. Khi có một cảm thọ đau buồn đi lên thì ta thở và nói:

Thở vào tôi biết trong tôi có một cảm thọ đau buồn

Thở ra tôi ôm lấy cảm thọ đau buồn đó và làm cho nó lắng dịu xuống

Trước đó chúng ta đã thực tập với hơi thở và với hình hài của mình. Bây giờ với cảm thọ đau buồn ta cũng thực tập như vậy, nhận diện, ôm lấy và làm cho lắng dịu. Đó là phép tu của mình. Nếu được ở trong một môi trường có nhiều người thực tập thì ta được hưởng năng lượng tập thể và đạt được tiến bộ mau chóng và dễ dàng hơn.

Cái đó là cái gì? Nó đang làm cho ta bực bội, giận hờn, lo lắng. Nó ngăn cản không cho ta có niềm vui trong giây phút hiện tại. Ta phải gọi tên nó ra. Tại sao nó có sức mạnh như vậy? Tại sao ta để nó làm cho ta hệ lụy? Cái đó có đáng để ta phí bỏ cuộc đời của mình hay không? Có biết bao mầu nhiệm trong cuộc đời mà sao ta lại bỏ đi vì cái đó? Cái đó quan trọng tới mức đó sao? Ta phải hỏi mình câu hỏi: Cái đó có đáng để ta làm mất cuộc đời của mình hay không? Nếu ta thấy cái đó không đáng thì đó đã là sự giác ngộ rồi. Và khi thấy được sự sống hết sức là mầu nhiệm và bình an, hạnh phúc có thể có trong từng bước chân, trong từng hơi thở thì ta có đủ sức mạnh để buông bỏ cái đó. Có cái đó hay không có cái đó cũng không quan trọng. Hạnh phúc của ta không tùy thuộc vào cái đó.

 

Sự thực tập ở Làng Mai

Sự thực tập ở Làng Mai cũng đơn giản:

1. Ta phải sử dụng hơi thở, bước chân để chế tác hỷ, lạc và an.

Năng lượng niệm cho ta biết có những mầu nhiệm của sự sống đang có mặt trong giây phút hiện tại. Ta có đủ những điều kiện để có niềm vui và hạnh phúc. Vì vậy chế tác hỷ, lạc và an là chuyện có thể làm được ngay sáng hôm nay, ngay chiều hôm nay. Ta phải học làm cho được để nuôi dưỡng mình. Đó là nghệ thuật chế tác hạnh phúc.

2. Biết nhận diện những căng thẳng, lo âu, buồn khổ để làm cho nó lắng dịu xuống.

Sự thực tập hơi thở có ý thức và bước chân có ý thức có thể giúp cho ta làm được việc nhận diện và làm lắng dịu như ta đã làm đối với hơi thở và với hình hài của mình. Tới Làng Mai ta gặp được những người bạn tu. Có những người đã tu lâu năm và có kinh nghiệm. Họ có thể chia sẻ với ta những kinh nghiệm hành trì của họ.

Giữ khu vườn em cho tươi mát

Trong Kinh Pháp Hoa, chúng ta có câu:

Từ nhãn thị chúng sanh

Phước tụ hải vô lượng

Hai câu này nói về tình thương và hạnh phúc. Dịch ra tiếng Việt:

Mắt thương nhìn thế gian

Biển phúc chứa vô cùng

Nếu ta biết nhìn mọi người bằng con mắt thương yêu thì hạnh phúc của ta sẽ lớn như đại dương mênh mông. Chữ từ đã được dịch là thương. Chữ phước có nghĩa là hạnh phúc.

Các danh từ thương và yêu dùng ở ngoài đời không có nghĩa rõ rệt. Trong khi đó thương và yêu trong đạo Bụt có ý nghĩa rất chính xác. Phương pháp thương yêu cũng rất chính xác. Chúng ta đã biết rằng trong đạo Bụt cái thương phải đi đôi với cái hiểu. Nếu không hiểu được thì không thể thương. Hiểu là một phép thực tập và thương cũng là một phép thực tập. Chúng ta có thể bắt đầu bằng thương một người. Qua người đó chúng ta sẽ học thương được tất cả mọi người và mọi loài.

Thương được một người và thương đúng cách thì chúng ta có khả năng thương được người thứ hai, thứ ba rồi thương được tất cả mọi người và mọi loài. Danh từ dùng trong đạo Bụt để chỉ cho năng lượng thương yêu là từ và bi. Từ là hiến tặng niềm vui và hạnh phúc. Bi là làm vơi nỗi khổ. Từ Bi là thứ tình thương chỉ đem lại hạnh phúc mà không gây khổ đau và hệ lụy. Hệ là ràng buộc, dính mắc. Lụy là chìm xuống, vương vấn, sầu khổ. Từ và bi là thứ tình thương có tự do, có thảnh thơi và hạnh phúc.

Con đường tu cũng là con đường thương. Thương cho đúng. Chúng ta nên tập thương một người cho đúng. Nếu thương được một người, chúng ta sẽ có thể thương được nhiều người. Người đó có thể là cha, là mẹ, là anh, là chị, là em hay là bạn. Khi thương được người đó một cách đúng pháp thì người đó sẽ có hạnh phúc. Muốn cho người đó có hạnh phúc thì ta phải làm sao cho chất liệu của thương yêu ứa ra được từ trái tim của ta.

Ta phải làm sao cho ta trở thành một khu vườn tươi mát có hoa thơm cỏ lạ, có trái ngọt cây lành, thì ta mới có cái để hiến tặng người ta thương. Nếu ta là một vùng đất hoang vu, không có suối, không có cây, không có chim, không có trái, không có hoa, thì ta khó làm cho người kia có hạnh phúc. Vì vậy cho nên quá trình thương yêu là quá trình của sự vun xới, trồng trọt và nuôi dưỡng. Những người khổ đau, những người chưa hề được thương và những người không có khả năng thương được người khác, tất cả những người đó đều có thể được ví với một vùng đất khô cằn, không suối, không cây, không chim, không bướm. Nếu ta biết thương, ta sẽ biến được vùng đất khô cằn đó trở thành ra một vùng đất tươi mát, có suối, có chim.

Có câu chuyện thật của một người Pháp tên là Elzéard Bouffier. Ông sống ở miền Haute Provence. Ông đã trồng nên hàng ngàn mẫu rừng bằng công sức một mình ông thôi. Có hàng chục ngàn mẫu đất khô cằn ở miền Nam nước Pháp, không có suối, không có cây. Mỗi ngày, ông đã xách một chiếc bao bố trong đó có đựng những hạt cây sồi mà tối hôm trước ông đã chọn, và ông mang theo một chiếc gậy bọc sắt. Ông đào những lỗ nhỏ và gửi gắm những hạt sồi đó vào. Một mình thôi, ông đã biến những vùng hoang vu của miền Nam nước Pháp thành ra những vùng có suối, có chim, có sự sống. Người ta đã tìm tới các vùng ấy để sinh sống. Trước kia những vùng đó hoàn toàn hoang vu, không ai dám tới. Câu chuyện này đã được ghi trong một cuốn sách với tựa đề Líhomne Qui Plantait Les Arbres. Tác giả là Jean Giono.

Thương yêu cũng vậy. Thương yêu là làm thế nào để những mảnh đất khô cằn kia trở thành ra những mảnh vườn xanh tươi, có cây, có suối. Mảnh vườn đó có thể là chính mình. Khi mảnh vườn của mình đã có cây, có suối, có chim, có trái thì những con chim, con bướm sẽ tìm tới và chúng sẽ có hạnh phúc. Ngày xưa tôi có làm một bài thơ với tựa đề là Duy Thị Nhất Tâm, có những câu sau đây:

Thành trì của em năm xưa

Ai đã hứa sẽ xây cho vững chãi?

Sáng hôm nay

Bỗng thấy những người cũ bập bềnh

trên sóng gió đại dương

Khổ đau xây cho loài người một trú địa cuối cùng

Và nơi ấy

Em có thể ẩn náu qua đêm dài độc địa

Hãy nhắc lại cho tôi

những lời năm xưa tôi đã hứa

Để tôi có thể còn có mặt hôm nay

mà làm chứng cho em

những mũi tên cắm vào cơ thể tôi

tôi chưa hề giao trả

Hãy sửa soạn khu vườn em

Thành một nơi có cỏ hoa tươi mát

tôi cũng chỉ là một con chim như những con chim khác

Suốt đời chỉ muốn tìm tới những chốn

có suối ngọt cây lành

Làm thế nào để cho khu vườn của ta trở thành một khu vườn có cỏ hoa thơm ngát, có suối ngọt, cây lành để cho những người xung quanh được nương náu? Đó sự thực tập của yêu thương. Làm thế nào để cho bản thân mình không còn là một mảnh đất khô cằn, không suối, không chim?

Bụt đã dạy chúng ta những phương pháp thực tập để làm cho cam lộ tươm ra từ trái tim của chúng ta. Nếu thương được một người và làm cho người đó hạnh phúc thì chúng ta cũng sẽ có hạnh phúc. Hạnh phúc đó sẽ là vốn liếng cho ta lên đường như một vị bồ tát và ta sẽ đem lại trái ngọt cây lành cho biết bao nhiêu loài chúng sanh. Người ta thương có thể tự nhiên tìm tới hoặc do may mắn mà ta được gặp. Nếu người đó là một người dễ thương thì thương người đó không khó lắm. Người đó đã là một khu vườn có trái ngọt cây lành. Nhưng nếu chúng ta không biết bảo trì thì trong khu vườn đó, cây sẽ khô, suối sẽ cạn và chúng ta sẽ không được thừa hưởng những mầu nhiệm của khu vườn đó. Nghệ thuật là bảo trì.

Nếu ta không có khả năng bảo trì một khu vườn tươi mát, chúng ta sẽ đánh mất khu vườn tươi mát đó. Bảo trì một khu vườn tươi mát còn không được thì làm sao ta có thể biến một vùng đất hoang vu trở nên một vùng đất tươi mát được đây? Cho nên chúng ta nên bắt đầu bằng cách học bảo trì những khu vườn, trong đó có khu vườn của chính chúng ta. Trong ta có những hạt giống, có những cây cối, có những dòng suối mà chúng ta phải giữ gìn để làm cho khu vườn của chúng ta giữ được tính tươi mát và mầu nhiệm.

Người ta thương cũng có những dòng suối, cũng có những hàng cây, cũng có những hoa cả mà chúng ta phải nhận diện và bảo trì. Quá trình thương yêu là quá trình nhận diện, săn sóc và bảo trì những yếu tố tươi mát có mặt trong ta và trong người ta thương. Vì vụng dại và thất niệm, chúng ta có thể làm khô đi những dòng suối đó và làm chết đi hàng cây đó. Sau đó, chim và bướm không tới nữa.

Chúng ta thường nghĩ rằng anh em trong một nhà thì dễ thương yêu hơn là thương yêu người ngoài đường. Sinh ra trong một gia đình, chúng ta là anh em với nhau. Theo nguyên tắc, chúng ta thương nhau như là hai tay và hai chân của cùng một cơ thể. Chúng ta ai cũng thuộc lòng câu anh em như thể tay chân (brothers and sisters are the limbs of the same body). Nhưng sự thật nhiều khi chúng ta không thương người anh chúng ta được. Không thương người em, người chị, người cha hay người mẹ chúng ta được. Trong số những người đó, nếu chúng ta thương được một người và làm cho người đó có hạnh phúc, thì đồng thời ta có thể bảo trì được sự tươi mát của khu vườn ta. Rồi dựa vào cơ bản đó mà chúng ta có thể thương được những người khác.

Khi cha mẹ sinh ra cho ta một đứa em hay một người anh, chúng ta đâu có quyền chọn lựa. Chúng ta không chọn lựa vì người đó là anh của ta, em của ta hay chị của ta, và chúng ta phải học thương, phải tập thương. Nếu không thương được người đó thì ta thất bại và đời ta sẽ không hạnh phúc. Anh bắt buộc phải thương cho được người đó, phải học sống hạnh phúc cho được với người đó, nếu không thì đời anh sẽ khó mà có hạnh phúc. gia đình là môi trường để học thương. Thất bại trong môi trường gia đình thì khó mong sẽ thành công trong xã hội.

Người đi tu cũng vậy. Chúng ta sống trong một gia đình, gia đình của những người xuất gia, trong đó có sư anh, sư chị, sư em. Khi thầy sinh ra một sư em hay một sư chị thì đó là cơ hội cho ta thực tập thương yêu. Trong gia đình tu học này, chúng ta có quyền chọn lựa nhiều hơn trong gia đình huyết thống. Tại vì sư em của ta phải ở ít nhất là sáu tháng hay một năm, đến khi nhận thấy người này có thể hòa chúng, có thể thành công trong sự tu học thì ta mới thưa thầy: em này chắc là có thể tu được, có thể sống hạnh phúc được với tăng thân. Vì khả năng thương yêu của tăng thân chưa đủ lớn để có thể chấp nhận được bất cứ một đứa con mới nào. Nhưng khi một người đã trở thành sư em, sư anh hay sư chị của mình rồi thì người đó phải trở nên đối tượng thương yêu của mình. Nhờ thực tập thương yêu, ta giúp cho người kia phát triển và bảo trì những trái ngọt, cây lành trong bản thân người đó. Đồng thời ta cũng thực tập bảo trì những dòng suối, những hàng cây trong khu vườn của ta. Có suối và có cây thì tự nhiên sẽ có chim, có bướm, có trái, có hoa.

Ở Làng Mai, chúng ta đã và đang học những phương pháp cụ thể. Nếu áp dụng những phương pháp ấy, ta có thể làm hạnh phúc cho nhau và cho bản thân. Những hành động, những cái nhìn và những câu nói của ta, nếu được thực hiện trong chánh niệm, đều có thể là những hành động vun xới cho khu vườn. Còn nếu không được soi sáng bởi chánh niệm thì ba nghiệp sẽ có tác dụng phá hoại khu vườn của ta và của những người ta thương. Nghĩ, chúng ta phải biết ta đang nghĩ gì và nghĩ như thế nào. Nói, chúng ta phải biết chúng ta đang nói những gì, sẽ nói những gì và đã nói những gì. Và hành động, chúng ta biết chúng ta đang làm gì. Một cử chỉ không có chánh niệm soi sáng có thể có công dụng tàn phá như một nhát búa có thể đốn ngã một thân cây trong khu vườn. Nếu khu vườn tan hoang thì chính ta phải chịu trách nhiệm.

Rác và hoa

Không chạy trốn khổ đau

Tại Làng Mai, chúng ta thường nói Tịnh độ và Ta bà tương tức. Tịnh độ được làm bằng chất liệu của Ta bà, cũng như hoa được làm bằng chất liệu của rác, nếu không có rác thì sẽ không có hoa. Ví dụ mà chúng ta thường dùng là sen với bùn, không có bùn thì không thể có sen, chỗ nào có sen là chỗ đó có bùn và chỗ nào có bùn thì ở đó chúng ta có thể trồng sen. Chúng ta thường nói với các bạn Kitô giáo: Ý niệm cho Thiên đường (Thiên quốc) là một nơi biệt lập không có khổ đau cũng như ý niệm coi Tịnh độ là một nơi không có khổ đau là những ý niệm còn ngây thơ.

Là người học Phật sâu sắc chúng ta phải thấy được điều đó. Con người thường sợ hãi, chán ghét khổ đau nên tìm cách trốn chạy khổ đau. Người ta mơ tưởng đến một cõi không còn khổ đau và gọi đó là Tịnh độ hay Thiên quốc. Đó là khuynh hướng chung của mọi người, khuynh hướng trốn chạy cõi khổ đau này để đi tìm một cõi khác không có khổ đau. Vì vậy Tịnh độ hay Thiên quốc có thể là một sáng tạo phẩm của trí óc chúng ta. Đó là nhu yếu của con người. Nếu Tịnh độ hay Thiên quốc là một nơi không có khổ đau thì quả thật đó là một sản phẩm do trí óc tưởng tượng. Nhưng nói như vậy không có nghĩa Tịnh độ và Thiên quốc không phải là những cái gì không có thật, chúng có thật nhưng không có như chúng ta nghĩ.

Theo định nghĩa của Làng Mai thì Tịnh độ và Thiên quốc là những nơi có hiểu biết, có thương yêu. Đó là nơi con người biết sử dụng khổ đau để chế tác hạnh phúc. Chúng ta cần sự hiểu biết và thương yêu nên ta mới mong về Thiên quốc và Tịnh độ. Nơi nào có hiểu và thương thì nơi đó ít khổ. Quán chiếu tính tương tức giữa rác và hoa, giữa phiền não và bồ đề, chúng ta thấy làm gì có hiểu và thương nếu không có khổ đau, làm gì có sen nếu không có bùn? Khổ đau dạy cho ta biết hiểu và biết thương. Khổ đau có công dụng của nó, chúng ta lớn lên và làm người được là nhờ khổ đau, chúng ta học hỏi được là nhờ khổ đau.

Phương pháp của đạo Bụt không phải là chạy trốn khổ đau mà là nhận diện và nhìn sâu vào khổ đau. Ngay trong sự thật thứ nhất của giáo lý Tứ diệu đế tức khổ đế, giáo lý căn bản của đạo Bụt, chúng ta đã thấy thái độ của đạo Bụt là không chạy trốn khổ đau mà ta phải dừng lại, đưa nỗi khổ niềm đau lên và nhìn sâu vào nó. Ta nhìn sâu vào trong khổ đau để thấy nguyên do, gốc rễ của khổ đau, nghĩa là thấy được sự thật thứ hai là tập đế. Hiểu được sự thật thứ nhất và sự thật thứ hai thì ta sẽ đi tới sự thật thứ tư là đạo đế, tức con đường đưa tới sự chuyển hóa khổ đau.

Ta không thể hiểu được sự thật thứ ba (diệt đế) nếu ta không hiểu được sự thật thứ nhất và sự thật thứ hai. Điều kiện căn bản để thấy được đạo là phải hiểu được khổ và bản chất của khổ là gì. Chạy trốn khổ đế và tập đế thì không bao giờ thấy được đạo đế, mà không thấy được đạo đế thì không bao giờ có thể đạt tới hạnh phúc, tức diệt đế. Diệt là diệt khổ, diệt đế là sự chuyển hóa và chấm dứt khổ đau.

Khổ đau cho con nguời cơ hội để hiểu và thương

Tứ diệu đế có hai cặp nhân – quả: tập làm nhân cho khổ và đạo làm nhân cho diệt, gốc rễ khổ đau tạo ra khổ đau, và con đường thực tập đưa tới sự chấm dứt khổ đau. Ngay trong giáo lý căn bản Tứ diệu đế, chúng ta cũng đã thấy được tính tương tức của hoa và rác, của khổ và diệt, của tập và đạo. Một nơi mà không có khổ đau thì cũng không có hiểu biết và thương yêu. Chúng ta nói tới sự thiết dụng của khổ đau (the goodness of suffering): Khổ đau rèn luyện con người, cho con người có cơ hội để có thể hiểu và vì hiểu được nên mới thương được.

Chúng ta hãy thử gửi con cháu ta tới một nơi không có khổ đau. Con cháu ta sẽ không bao giờ có cơ hội chế tác chất liệu của hiểu và thương nếu chúng không biết đói, biết nghèo, biết chiến tranh là gì. Cho rằng Tịnh độ hay Thiên quốc không có khổ đau là một điều rất vô lý! Chư Bụt và chư Bồ tát lấy gì để dạy cho dân chúng ở những nơi đó? Chúng ta lấy gì để nuôi sen nếu không có bùn?

Ở cõi Ta bà có dư giả khổ đau nên chúng ta có cơ hội thực tập. Khổ đau cần thiết nhưng chúng ta không cần phải chế tác thêm nữa vì chúng đã có quá nhiều. Rác có quá nhiều nên bây giờ ta phải học cách chuyển rác thành hoa. Nhờ có rác nên có hoa, nhờ có nhiều rác nên ta có nhiều hoa.

Khi đối thoại với các truyền thống tôn giáo khác, chúng ta có thể cho họ biết quan điểm của chúng ta về Thiên đường hay về Tịnh độ vì giáo lý đạo Bụt không dựa trên đức tin mà dựa trên sự quán chiếu. Sự quán chiếu cho chúng ta biết rằng không có phiền não thì không có bồ đề, không có rác thì không có hoa, không có Ta bà thì không có Tịnh độ. Đó là tính tương tức giữa phiền não và bồ đề, một dấu ấn của Phật pháp và nếu đánh mất dấu ấn đó thì chúng ta đi vào tà đạo.

Người hành giả thấy rác không sợ, có rác thì ta biến rác thành hoa. Người hành giả thấy khổ đau không sợ, có khổ đau thì ta biến khổ đau thành hiểu và thương. Chúng ta có thể đánh tan cái ảo giác “có một cõi chỉ có hạnh phúc mà không có khổ đau” khi thấy được tính tương tức giữa phiền não (sự thật thứ nhất) và bồ đề (sự thật thứ ba).

Quan niệm bất thối chuyển

Trong đạo Bụt chúng ta có quan niệm bất thối chuyển, tức là sự không còn rơi xuống, không còn đọa lạc trở lại. Không đọa lạc trở lại không có nghĩa rằng nếu đã là hoa thì sẽ vĩnh viễn là hoa và không thành rác trở lại. Ta tưởng khi mới tu thì ta đang ở cõi khổ đau, mê mờ, ta đang ở cõi rác. Khi tu thành rồi thì ta ở cõi hạnh phúc, cõi sáng suốt và ta sẽ thường tại trong cõi đó, ta vĩnh viễn xa lìa cõi khổ đau. Nhưng vì khổ đau và hạnh phúc tương tức cho nên bất thối chuyển không có nghĩa là rác không trở thành hoa và hoa không thành rác trở lại. Hoa có thể thành rác trở lại. Một niềm vui hay một hạnh phúc cũng vậy, vì tất cả đều vô thường. Vô thường là một dấu ấn của Phật pháp (một trong Tam pháp ấn). Giáo lý nào đi ngược lại vô thường, vô ngã và Niết bàn thì giáo lý đó không phải đích thật là giáo lý đạo Bụt. Khổ đau và hạnh phúc cũng như rác và hoa, chúng đều vô thường. Chữ bất thối chuyển ở đây không có nghĩa là hoa không trở thành rác mà có nghĩa là khi hoa thành rác thì ta vẫn giữ được khả năng chuyển rác thành hoa. Chúng ta đã từng hiểu lầm chữ bất thối chuyển, ta cho rằng: khi rác đã trở thành hoa, phiền não đã trở thành bồ đề rồi thì ta vĩnh biệt rác, vĩnh biệt phiền não. Trên sự thật vô thường thì bông hoa nào cũng phải trở thành rác. Nếu là một người làm vườn khéo léo ta sẽ không sợ hãi khi hoa trở thành rác, vì ta biết trong rác có hoa và ta sẽ chuyển rác thành hoa trở lại.

Đó là sự sống, sự sống là vô thường, vô ngã và tương tức. Chữ “không đọa lạc” có nghĩa là không sợ hãi khi hoa trở thành rác vì ta biết cách liên tục biến rác thành hoa trở lại. Bất thối chuyển là nắm vững được pháp môn chứ không phải là sự tách rời vĩnh viễn giữa hoa và rác, sự tách rời vĩnh viễn giữa phiền não và bồ đề.

Rác và hoaHoa vĩnh viễn là hoa và mãi mãi không còn là rác nữa, ý niệm đó đi ngược lại với tuệ giác tương tức vì nhìn vào trong rác ta thấy hoa và nhìn vào trong hoa ta thấy rác. Muốn học Phật một cách thông minh ta phải có khả năng buông bỏ những ý niệm ngây thơ của mình về Phật pháp.

Trong cơ thể ta có rác và có hoa. Khi ta nâng lên trong tay một dĩa thức ăn thơm ngon thì dĩa thức ăn đó là hoa. Nhưng một giờ đồng hồ sau khi ăn thì dĩa thức ăn đó sẽ biến thành rác. Tất cả những chất liệu bổ dưỡng thấm vào cơ thể ta, lúc đầu là chất nuôi dưỡng, nhưng sau đó nó cũng thành rác và ta phải bài tiết ra, ta bài tiết không chỉ bằng cách đi cầu, đi tiểu mà còn bằng cách thở hay toát mồ hôi. Những chất ta bài tiết đều là rác. Nhìn vào dĩa cơm thơm ngon ta biết đó là từ rác mà ra. Nếu không có phân rác thì làm sao ta làm ra hoa trái, lúa gạo? Đó là đứng về phương diện vật chất. Đứng về phương diện tinh thần cũng vậy, những niềm vui và những đau khổ của ta đều có tính cách hữu cơ. Chúng là hoa, nhưng sau một thời gian thì trở thành rác. Tất cả đều theo định luật vô thường, rác vô thường mà hoa cũng vô thường. Chính nhờ vô thường nên ta có thể biến phiền não thành bồ đề.

Không đánh mất ý thức về hạnh phúc

Hôm qua ta có tuệ giác về vô thường nên ta rất vui. Nhưng hôm nay ta đánh mất tuệ giác đó nên ta ăn nói, hành xử giống như ta chưa bao giờ có tuệ giác đó. Khi mới tới Làng Mai, trong năm đầu ta cảm thấy rất hạnh phúc, ta trân quí mỗi điều kiện của hạnh phúc. Sống được vài năm, ta thấy chán, thấy buồn, ta muốn bỏ đi, hoa đã trở thành rác.

Người xuất gia hay người cư sĩ hãy cùng nhau nhìn lại: Lúc mới được chấp nhận vào sống ở Làng Mai, chúng ta hạnh phúc biết bao nhiêu, chúng ta muốn sống như vậy đời đời. Nhưng sau một thời gian chúng ta bắt đầu thấy lờn và không còn cảm thấy hạnh phúc nữa. Ban đầu ta cương quyết phải sống như thế nào để ta và đoàn thể đều có được hạnh phúc. Nhưng sau đó ta có thể sống bê bối và tạo ra những khó khăn, bực bội trong cộng đồng. Cuối cùng cộng đồng chịu không nổi nên không cho phép ta ở nữa và ta phải đi. Lúc đó ta mới thật sự tiếc. Theo thanh quy của Làng Mai, nếu một xóm không cho một người nào đó ở nữa thì các xóm khác cũng không cho. Người ấy phải đi, nhưng sau một năm người đó có thể viết thư xin trở lại. Lúc đó đã nếm mùi đau khổ ở ngoài nên người đó biết trân quí trở lại những cái trước kia mình được thọ dụng. Thấy người đó biết trân quí thì chúng có thể xét và có thể cho người đó một cơ hội được hội nhập trở lại.

Bí quyết của hạnh phúc là nuôi dưỡng được ý thức về hạnh phúc. Ta biết ta có may mắn, ta có những điều kiện của hạnh phúc và ta nguyện sẽ không bao giờ đánh mất ý thức về sự có mặt của những điều kiện hạnh phúc đó. Ngày xưa ta có tuệ giác nên thấy mình có may mắn được sống trong tăng thân và nhờ có tuệ giác đó mà ta có hạnh phúc. Bây giờ ta đánh mất tuệ giác đó, đồng thời ta cũng đánh mất luôn hạnh phúc.

Phiền não vô thường mà bồ đề cũng vô thường. Ngu si vô thường mà tuệ giác cũng vô thường. Người tu phải biết nuôi dưỡng tuệ giác cho bền lâu. Nếu một phần tuệ giác bị đánh mất thì nhờ sự tu học mà ta phục hồi được tuệ giác và chuyển rác thành hoa trở lại. Đó gọi là bất thối chuyển. Bất thối chuyển không có nghĩa là khi rác thành hoa rồi thì hoa sẽ tồn tại vĩnh viễn dù ta không tiếp tục thực tập. Vì vậy trong 14 giới Tiếp Hiện có giới “phải nuôi dưỡng ý thức về khổ đau, đừng đánh mất ý thức về khổ đau của sự sống”.  Đánh mất ý thức về khổ đau là đánh mất ý thức về những điều kiện của hạnh phúc mình đang có. Giới điều này đi rất sát với Tứ diệu đế.

Vì phiền não và bồ đề đều có tính hữu cơ nên sự thực tập cần được liên tục để mang tới sự chuyển hóa và giữ không cho đọa lạc.

Đọa lạc là đánh mất hết điều kiện của hạnh phúc. Ta chỉ còn có một đống rác và đống rác đó không có khả năng biến thành hoa trở lại. Bất thối chuyển là khả năng thường xuyên chuyển rác thành hoa, ta tu như thế nào để nắm được khả năng đó. Ta sẽ không sợ rác nữa vì ta luôn luôn biết tận dụng rác để làm thành hoa. Vì vậy đọa lạc có nghĩa là đáng mất khả năng chuyển rác thành hoa và bất thối chuyển có nghĩa là giữ vững khả năng chuyển rác thành hoa, nếu chúng ta muốn hiểu theo chân tinh thần của đạo Bụt.

Thỉnh thoảng chúng ta có nghe chuyện của một ông tiên tu đến một mức độ khá cao, đã có thần thông rồi nhưng ông vẫn bị đọa lạc. Như thế có nghĩa là khi hoa thành rác ông không có khả năng chuyển rác thành hoa trở lại. Sự sống vô thường nên hoa và rác đều vô thường và phiền não và bồ đề đều vô thường. Lâu nay chúng ta vẫn nghĩ phiền não là vô thường còn bồ đề thì không thể vô thường, cái thấy này không phù hợp với tuệ giác thâm sâu của đạo Bụt.

Luân hồi là sự tiếp nối phi cục bộ của ba nghiệp

Chúng ta thường hình dung luân hồi như một sự đi vòng. Nhưng trước hết luân hồi là một sự tiếp nối và luân hồi có thể được nhận thức trong từng giây phút. Ta chế tác ra một tư duy, một ý tưởng; tư duy và ý tưởng đó đi luân hồi liền lúc đó. Một tư duy lành, hiền, đẹp, đi đôi với hiểu và thương có kết quả ngay lập tức trên sức khỏe của ta và trên cuộc đời. Đó là sự tiếp tục. Tư duy của ta là nghiệp, là một sáng tạo phẩm của ta và nó là sự tiếp nối của ta. Một lời nói phát ra cũng là một sáng tạo phẩm của ta và nó cũng đi luân hồi. Một câu nói đầy tình thương làm cho ta và cho người kia khỏe liền. Vì vậy luân hồi là sự tiếp nối, tiếp nối ít nhất bằng ba dạng: tư duy (ý), ngôn ngữ (khẩu) và hành động (thân). Sự tiếp nối của chúng ta phải được nhìn qua ba dạng của nghiệp: Thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Không phải khi nào xác thân hoàn toàn tiêu hoại rồi ta mới đi luân hồi mà ta đang đi luân hồi trong mỗi giây mỗi phút, ở đây và ở các nơi khác. Ta phát ra một tâm niệm lành thì tâm niệm lành đó làm sáng ngời cả trái đất, chuyển hóa được ở đây và khắp nơi. Ta thấy được ta ở đây và ở mọi nơi, ta không còn tính cách cục bộ (local) nữa. Ta phải học để thấy được tính không cục bộ (non-local) của sự tiếp nối ta dưới ba dạng thân, khẩu và ý, như trong bài hát của sư chị Giải Nghiêm: An vui nơi này, an khắp mọi phương.

Ta tu tập đúng phương pháp thì gia đình, dòng họ, đất nước của ta cũng được thừa hưởng. Mỗi tư duy, mỗi lời nói, mỗi hành động của ta đều có ảnh hưởng trên tự thân và trên thế giới. Ta phải thấy nghiệp dưới ánh sáng không cục bộ. Non local là một danh từ mới của khoa học vật lý, còn danh từ phi thời gian có nghĩa là bao trùm cả thời gian, có giá trị vượt thoát thời gian.

Tuy hình hài này đang còn nhưng ta đã đi luân hồi dưới ba dạng của nghiệp. Ta được tiếp nối không những bởi hình hài và tâm thức này, mà ta còn được tiếp nối dưới dạng không cục bộ ở khắp mọi nơi. Không phải chỉ có Bụt và các vị Bồ tát mới có thần thông, mới có mặt được đồng thời trong ba cõi. Chính ta cũng có mặt một lần trong ba cõi. Mỗi tư duy ta phát ra làm chấn động toàn thế giới, nó có ảnh hưởng tới gia đình, đất nước quê hương ta. Nếu tư duy đó là hận thù, tuyệt vọng thì nó làm tan vỡ cả tự thân và thế giới. Nếu là bồ đề tâm thì nó nâng cả thế giới đi lên. Vì vậy chúng ta phải học nhận diện sự tiếp nối của ta qua dạng không cục bộ.

Trí tuệ và lòng từ bi của ta đem lại niềm vui và sự trị liệu cho rất nhiều hình thái của sự sống. Ngay khi quyết định làm một “ngày không xe” thì ta đã biết là sẽ có một sự thay đổi trên thế giới dù sự thay đổi đó chưa đủ như ta mong cầu. Ta có một tư duy, tư duy ấy biến thành hành động và biến đổi hình hài, tâm tư ta, biến đổi thế giới. Với ba nghiệp của ta, ta có thể biến đổi thế giới theo chiều tích cực hay tiêu cực. Thông thường người ta nghĩ sự luân hồi chỉ xảy ra khi phổi không còn thở nữa, trái tim không còn đập nữa. Nhưng sự luân hồi, theo đúng nghĩa của nó, xảy ra trong mỗi giây phút của đời sống hàng ngày vì sự sinh diệt của từng tế bào trong cơ thể và sự sinh diệt của các niệm trong tâm xảy ra từng giờ từng phút. Cái này luân hồi thành cái kia, em bé năm tuổi luân hồi thành em bé sáu tuổi, chàng trai mười tám tuổi luân hồi thành chàng trai mười tám tuổi rưỡi. Luân hồi đẹp hay không đẹp là do ta, nếu ba nghiệp của ta đẹp thì sự tiếp nối sẽ đẹp, nếu ba nghiệp ta không đẹp thì sự tiếp nối sẽ không đẹp.

Nghệ thuật nuôi hoa

Cái đẹp và cái lành cần được tiếp nối càng lâu dài càng tốt, đây là nghệ thuật nuôi dưỡng hạnh phúc và tuệ giác. Ta có tuệ giác, nhưng nếu không được nuôi dưỡng thì tuệ giác của ta sẽ bị lu mờ.

Tâm là đài gương sáng

Mỗi ngày cần lau chùi

Đó là bài kệ của thầy Thần Tú. Nhờ tu học nên ta có được một phần tuệ giác nào đó. Phần tuệ giác đó khiến ta biết được điều gì nên làm và điều gì không nên làm để đừng tạo ra đổ vỡ và để tạo ra hạnh phúc cho mình và cho người trong giây phút hiện tại. Tuệ giác đó rất quan trọng, nó có sinh mạng của nó, sinh mạng đó dài hay ngắn là tùy ở ta. Sinh mạng của tuệ giác gọi là tuệ mạng. Tuệ mạng có thể chết yểu, hôm nay ta có chút tuệ giác nhưng nếu không được nuôi dưỡng thì nó sẽ lu mờ. Gương phải được lau mỗi ngày, nghe thầy dạy, ngồi thiền quán là lau gương để tuệ giác của ta càng ngày càng sáng. Ta cắt một bông hoa, muốn giữ bông hoa được lâu dài thì mỗi ngày ta phải theo dõi nước trong bình hoa hay canh chừng không khí cho hoa thở. Nếu cắt bông hoa về rồi vứt trên sàn nhà thì hoa chỉ có thể sống dưới 24 giờ đồng hồ.

Nghệ thuật nuôi hoa có hai phương diện:

–  Nuôi hoa cho bền lâu.

–  Biết cách chuyển rác thành hoa trở lại khi hoa đã thành rác.

Quá trình chuyển rác thành hoa là một quá trình liên tục, hễ có một phiền não còn tồn tại là ta phải nhận diện và ủ nó để nuôi hoa. Ta phải xử lý hoa và xử lý rác, xử lý hoa là chăm sóc cho hoa được lâu dài, xử lý rác là biết cách ủ rác và chuyển rác thành hoa trở lại. Một người làm vườn giỏi không bao giờ đi ngược lại nguyên tắc đó.

Người tu là người làm vườn và khu vườn của ta là vườn tâm. Vuờn tâm cũng có hoa và rác nên ta phải nuôi dưỡng tuệ giác và hạnh phúc. Khi rác xuất hiện ta phải biết chăm sóc rác và chuyển rác thành hoa.

Cái xấu và cái dở cần được chuyển hóa càng sớm càng hay để đừng tiếp tục, rác phải được sử dụng để nuôi hoa.

Chết khát bên cạnh dòng sông

Những thương gia có tài và có may mắn thì dễ thành công trong sự nghiệp của họ. Ban đầu họ nghèo, nhưng nhờ những điều kiện nào đó mà họ liên tiếp thành công trong việc làm ăn. Họ càng ngày càng giàu, làm gì cũng thành công. Rất nhiều thương gia không được như vậy nhưng thỉnh thoảng có người được như vậy. Khi nói chuyện với những thương gia giàu có và thành công, ta khám phá ra một điều: Họ cảm thấy có một cái gì trống vắng ở trong họ. Tuy họ thành công và có rất nhiều tiền nhưng họ không thực sự cảm thấy hạnh phúc. Ta muốn sự thành công này, và khi may mắn có được nó rồi thì ta lại muốn có một sự thành công khác. Thương gia là như vậy, và ta cũng như vậy, không bao giờ thấy đủ. Ban đầu ta nghĩ một bằng cấp là cần thiết, nhưng khi có được bằng cấp rồi ta lại thấy chưa đủ, ta cần có công ăn việc làm. Có công ăn việc làm rồi, ta cần có nhà. Có nhà rồi, ta cần có xe hơi. Có xe hơi rồi, ta nghĩ phải có hai chiếc mới đủ. Thông thường là như vậy!

Có những người muốn gì được đó, rất là lạ. Thành công việc này rồi thành công việc kia, rồi lại thành công nữa, nhưng họ cũng không bao giờ dừng lại được. Nếu so sánh với những người khác thì người ấy đã quá giàu có, nhưng trong họ vẫn còn một cái gì đó không bao giờ được thỏa mãn, giống như khi khát nước mà ta cứ ăn muối vậy. Càng ăn thì lại càng khát thêm. Điều đó chứng tỏ là trong mỗi chúng ta có một con ma luôn luôn đói, dù có nhiều thực phẩm đến mấy thì con ma đó cũng không no được. Đó là con ma đói (hungry ghost, esprit affamé) mà trong mỗi người chúng ta đều có. Không phải ta chỉ đói sự thành công thôi, ta còn đói hiểu, đói thương. Phần lớn chúng ta người nào cũng đói hiểu, đói thương. Được một người hiểu rồi cũng cảm thấy chưa đủ, được một người thương rồi cũng cảm thấy chưa đủ. Nhiều khi có người ta tặng cho ta hiểu và thương nhưng ta cũng không có khả năng tiếp nhận và ta cứ tiếp tục đói.

Trong kinh Bách Dụ có câu chuyện của một anh chàng khát nước gần chết. Anh đi tới một dòng sông, nhưng không chịu uống nước. Anh nói: “Nước nhiều như vậy làm sao tôi uống được!” Và cuối cùng anh ta chết khát bên cạnh dòng sông.

Quý vị đang cười anh ấy phải không? Người gì mà dại quá đi, có bao nhiêu là nước như vậy mà lại để mình chết khát bên dòng sông. Sự thật là hầu hết chúng ta đều hành xử như vậy! Tại vì trong mỗi chúng ta đều có một con ma đói (ngạ quỷ) và con ma đói đó không bao giờ no được. Con ma đói trong ta cũng là nguyên nhân của sự khổ đau.

Nhiều người nghĩ rằng họ đau khổ vì họ thiếu cơm ăn, áo mặc, thuốc men, nhà cửa và tình yêu. Nhưng khi có được tất cả những thứ đó rồi họ vẫn đói như thường. Quý vị nhìn lại xem mình có giống người ấy không? Ta là một con ma đói, không bao giờ ta cảm thấy no lòng và thỏa mãn được. Đó là một trong những nguyên do của khổ đau.

Hạnh phúc không đâu xa: Hiện pháp lạc trú

Chúng ta đang đi trên con đường chạy tìm hạnh phúc, tìm cái gọi là “no đủ”. Chúng ta chạy như một con ma đói, chúng ta đi tìm hạnh phúc, đi tìm sự thật thứ ba nhưng chúng ta chỉ quanh quẩn trong sự thật thứ nhất. Chúng ta không bao giờ vượt ra được khỏi sự thật thứ nhất, vì chúng ta không thấy được nguyên do sâu sắc của khổ đau tức là thấy được sự thật thứ hai, thấy được con ma đói trong con người của mình. Cho dù hoàn cảnh có cung cấp cho ta bao nhiêu thực phẩm thì ta cũng vẫn thấy đói. Chỉ khi nào trái tim của chúng ta nhận được một giọt nước cam lồ của đức Thế Tôn thì lúc đó chúng ta mới hết đói. Dừng lại thì một giọt nước thôi cũng đủ làm mình no. Phần lớn chúng ta đều là người đang chết khát bên một dòng sông. Rất đáng tiếc!

Nếu giác ngộ được thì chúng ta lập tức hết đói. Chúng ta không cần phải đi tìm xa. Ta phải bắt đầu nói chuyện với con ma đói trong mình. Con ma ấy không bao giờ cảm thấy đầy đủ, dù ta có cho nó bao nhiêu thức ăn nó cũng không thấy thỏa mãn. Ví dụ chúng ta đi xa nhà hai, ba, sáu tháng, hay một năm. Chúng ta mong ước được trở về nhà. Ta ngồi trên tàu thủy, trên máy bay hay trên xe hơi giờ này sang giờ khác và chỉ ước mong được về đến nhà. Về  đến nhà, ta nói: ”Home, sweet home!” (Căn nhà thật ấm cúng làm sao!) và chúng ta mở cửa đi vào. Nhưng ngay khi đang ở trong nhà chúng ta vẫn không cảm thấy thỏa mãn, và thế là vài ngày sau ta lại muốn bỏ đi. Máu giang hồ réo gọi và ta lại muốn lên đường. Đó cũng là một con ma đói, ta không ngồi yên được, ta bị kéo theo. Khi đi rồi lại thấy nhớ nhà và muốn quay trở về, nhưng về rồi thì lại không thể ở yên, lại muốn ra đi. Chúng ta chưa tìm ra được quê hương đích thực (true home) của mình nên chúng ta cứ đói mãi. Chỉ khi nào con tim nóng hổi của chúng ta tiếp nhận được một giọt nước cam lồ thanh lương của đức Thế Tôn thì chúng ta mới bắt đầu thấy:

Mát lòng nhờ những giọt không

Bỗng đâu thuyền đã sang sông tới bờ

(Những giọt khôngthơ Nhất Hạnh)

Hạnh phúc nằm ngay đó. Cái mà chúng ta gọi là Niết bàn, nằm ngay trong giây phút hiện tại, nếu có được một giọt nước thanh lương từ bi của đức Thế Tôn nhỏ vào trái tim ta thì chúng ta sẽ cảm thấy hạnh phúc được liền lập tức.

Theo lời dạy của đức Thế Tôn thì tất cả đều mầu nhiệm. Thân ta mầu nhiệm, tâm ta mầu nhiệm, thế giới cũng mầu nhiệm. Ngay trong giây phút hiện tại, ngay bây giờ và ở đây chúng ta có thể tiếp xúc với những mầu nhiệm đó. Chúng ta không cần đi tìm cái gì nữa hết. Ngưng lại sự đi tìm thì chúng ta mới thấy được nó, và nếu còn đi tìm là chưa thấy được nó. Nếu an trú được thì ta sẽ thấy được rằng tất cả những gì ta đang đi tìm có ngay trong giây phút hiện tại. Cho tới những cái gọi là vô sinh bất diệt, vô khứ vô lai hoặc Niết bàn cũng nằm ngay tại đó.

Một đợt sóng nhô lên rồi sụp xuống. Đợt sóng đi tìm nước, mà đi tìm bao giờ cho gặp? Nếu nó biết nó là nước rồi thì nó còn đi tìm làm gì nữa? Khi biết được bản chất của mình là vô sinh bất diệt, là Niết bàn, thì ta không còn đi tìm nữa. Ta chính là Niết bàn. Tất cả các pháp đứng về phương diện tích môn đều là hữu vi, nhưng đứng về phương diện bản môn đều là vô vi. Pháp môn thực tập của Làng Mai rất đơn sơ. Khi thở vào, ta thở vào như thế nào mà ta có thể dừng lại được, ta có thể cảm thấy ta đã về đã tới nhà của mình rồi. Hạnh phúc có thể đạt tới ngay trong giây phút đó, ngay trong hơi thở vào. Hơi thở vào là một nguồn hạnh phúc, là một cái gì rất vi diệu. Khi bước một bước chân  mà ta thấy ta đã về đã tới thì bước chân đó đã làm cho ta thấy mãn ý rồi. Chỉ cần một bước thôi là ta đã đạt được hạnh phúc.

Có một thiếu phụ tên Laura bị bệnh, và người chồng tìm cách săn sóc. Hôm đó có một cú điện thoại của nhà thương cho biết rằng thứ hai tới cô khỏi phải vào nhà thương để khám lại tại vì bác sĩ biết không còn cách gì để trị cho cô nữa. Bác sĩ buông tay chịu thua. Hãy tưởng tượng mình là cô Laura. Nhận được thông điệp đó của nhà thương mình sẽ phản ứng thế nào? Cô Laura đã phản ứng thế này: “Đó, anh thấy không? Tôi sắp chết rồi.” (You know, I am dying!) Cô lâm vào tình trạng tâm lý hết sức tuyệt vọng. Chỉ mấy tiếng đồng hồ sau thì cô bất tỉnh và cô ở trong trạng thái bất tỉnh cho đến khi cô chết.

Có những người khác, cũng bệnh như cô, cũng nghe bác sĩ bảo chịu thua, họ lại hành xử rất khác. Như anh Chân Sinh ở Canada. Lần đầu tiên tôi ngồi uống trà với tăng thân Canada thì anh Chân Sinh ngồi bên tay phải của tôi. Các bạn cho biết bác sĩ nói trong mấy tuần lễ nữa Chân Sinh sẽ chết. Vì lý do đó nên các bạn mời anh Chân Sinh tới để anh có dịp ngồi uống trà với Thầy. Tôi xoay lại với anh và nói:

– “Chết thì chết chứ có sao đâu! Bây giờ mình hãy uống trà đi cho đàng hoàng. Ai mà không chết, chỉ có là người chết trước, kẻ chết sau thôi. Bây giờ mình đang có dịp uống trà thì mình hãy uống trà cho đàng hoàng, còn chuyện chết để lại giải quyết sau. Uống trà như thế nào để có hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Có mặt bạn bè, có mặt thầy, có trà để uống trong tình huynh đệ, trời còn xanh, mây còn trắng, cây liễu còn rũ, chim hoàng oanh còn hót thì mình cứ uống trà, chuyện chết để đó giải quyết sau. Anh có thể uống một chén trà với chúng tôi không? Anh có khả năng thưởng thức được hương vị của chén trà này không?”

Chân Sinh đã uống trà và đã thấy trà ngon thật, đã thấy rằng có cơ hội cùng ngồi uống trà với Thầy, với các bạn trong tăng thân thật là một điều mầu nhiệm. Hôm đó Chân Sinh đã học được sự thực tập: Phải sống những giây phút còn lại của đời mình cho thật sâu sắc. Dù ta chỉ còn vài ba tuần lễ để sống thì ta vẫn có thể sống được những giây phút còn lại một cách sâu sắc, còn hơn là sống những tuần lễ còn lại trong tuyệt vọng, trong tâm trạng nổi loạn với cuộc đời.

Chân Sinh biết mình không có thời gian nhiều để sống nên đã tiếp thu pháp môn đó một cách hết lòng, ngày đêm trân quý những giây phút còn lại của đời mình, tập sống theo phương pháp “hiện pháp lạc trú”, trân quý từng hơi thở, từng bước chân, từng tách trà, từng người bạn. Kết quả là Chân Sinh đã sống thêm được mười mấy năm nữa. Điều bác sĩ nói có thể đúng, nhưng tùy theo cách ta phản ứng mà sự việc xảy ra cho ta sẽ như thế này hay như thế kia. Sau buổi uống trà ấy Chân Sinh đã thọ Năm giới, rồi thọ Mười bốn giới và cái tên Chân Sinh được Thầy đặt cho anh khi anh thọ Mười bốn giới. Chân Sinh là sự sống đích thực. Sống không phải chỉ để cho có mặt mà sống thật sâu sắc.

Chúng ta không nằm trong trường hợp của cô Laura hay của anh Chân Sinh tại vì bác sĩ chưa có thông điệp nào cho chúng ta. Nhưng chúng ta cũng cùng một thân phận như Laura hay Chân Sinh. Một ngày nào đó có thể bác sĩ sẽ gọi điện thoại đến nói với ta như vậy. Chúng ta có nên ngồi đó chờ giờ phút bác sĩ gọi không hay là chúng ta nghe lời đức Thế Tôn sống cho đàng hoàng trong từng giây từng phút và đi tìm sự bình an và hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại? Đó là một điều ta có thể làm được.

Có những lần ta phải ngồi trên máy bay rất lâu, tới mười mấy tiếng. Máy bay đầy người. Mỏi quá ta ước ao có chỗ để ta có thể ngả lưng xuống cho khỏe mà không được. Về tới nhà có giường, ta nằm thẳng lưng và thấy hạnh phúc quá chừng. Trong chuyến về Việt Nam vừa qua , các vị cư sĩ ở khách sạn còn các thầy và các sư cô thì ở chùa Bồ Đề. Mỗi phòng trong chùa có 12 hay 22 thầy và mỗi người chỉ được một không gian khoảng 1mx2m. Ở Tây phương về nên các thầy các sư cô không quen, nhưng chỉ trong vài hôm thì họ thích ứng được. Đi ra ngoài suốt cả một ngày, khi trở về cái không gian 1mx2m ấy thì họ cũng rất thoải mái, rất sung sướng, họ không đòi hỏi gì cả. Hạnh phúc thật  đơn sơ. Có những đêm không ngủ được, tôi quán tưởng mình đang ở trên máy bay, đang ngồi bó gối rất mỏi và tự nhiên thấy được đang nằm thẳng trên giường thì hạnh phúc biết bao nhiêu. Ta được buông xuôi hai tay hai chân và tập thở theo bài “Thở vào thở ra, là hoa tươi mát”. Ta thấy “hiện pháp lạc trú” là chuyện có thể thực tập được. Xin quý vị cứ nhớ, cái khoảng không gian 1mx2m có nghĩa gì đâu? Nhưng khi đi một ngày dài về, được nằm xuống đó, thì hạnh phúc có thể rất lớn, và ta không đòi hỏi gì hơn. Cái đó đã đủ cho ta hạnh phúc nhiều rồi.

Ta không phải đi tìm hạnh phúc ở đâu xa. Ta phải biết nhận diện được con ma đói trong con người mình, con ma đói ấy cứ đòi hỏi mãi mà không bao giờ thấy đủ. Trong đạo Phật có chữ “tri túc”, tri túc tiện túc là khi ta thấy đủ thì tự nhiên đủ. Các nhà doanh thương không biết thế nào là tri túc, thành công bao nhiêu cũng không thấy đủ. Không những các nhà doanh thương mà những nhà chính trị hay bất cứ ai cũng vậy. Ai mà không mong được thành công? Nhưng dù cho chúng ta có liên tiếp thành công đi nữa thì đứng về phương diện lợi và danh chúng ta vẫn còn là những con ma đói. Như vậy chúng ta không bao giờ có được hạnh phúc.

Nếu ta thực tập được pháp môn “hiện pháp lạc trú” của đức Thế Tôn, thấy rằng cuộc sống đầy những mầu nhiệm, nếu ta an trú được trong giây phút hiện tại, tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống thì đời của chúng ta sẽ là một chuỗi những ngày vui. Đạo đế chính là phép thực tập “hiện pháp lạc trú” và trong khi thực tập đạo đế chúng ta đưa mình vào lạc đế, tức hạnh phúc, bây giờ và ở đây.

Anh muốn làm gì với đời anh?

 

Cần có một chiều hướng tâm linh trong đời sống hàng ngày

Một điều có thể nhận thấy qua chuyến đi hoằng pháp tại Bắc Mỹ lần này là tất cả mọi người – kể cả giới chính trị, giới doanh thương, và các nhà trí thức – đều nhận ra rằng mình cần phải thực tập một cái gì đó, mình phải có một chiều hướng tâm linh trong đời sống hàng ngày, nếu không thì mình sẽ không thể chịu nổi và sẽ “giữa đường đứt gánh”.

Trong chuyến này mình chọc thủng được màn lưới và đưa sự thực tập chánh niệm vào dòng chảy chính của xã hội (mainstream). Mình được mời hướng dẫn hai ngày thực tập tại Ngân hàng thế giới (World Bank – viết tắt là WB). Rất nhiều người ngạc nhiên: tại sao WB lại cần tới mấy ông thầy tu làm gì? Chính những nhân viên trong WB cũng nói: trời đất ơi, tại sao lại đem mấy ông thầy tu tới đây?

Ông Kim Young Jim, Giám đốc WB rất thích có một ngày chánh niệm do Thầy và Tăng đoàn Làng Mai hướng dẫn tại trụ sở của WB. Ngày xưa khi còn làm Viện trưởng Viện đại học Darmouth, ông rất thích cuốn Phép lạ của sự tỉnh thức. Ông nói là cuốn sách này đã thay đổi cuộc đời ông. Và khi được Tổng thống Obama cử làm Giám đốc WB, ông muốn đem những điều đã đọc trong cuốn sách này vào thực tập trong WB. Thầy Pháp Lưu – vốn là sinh viên trường Darmouth – viết thư cho ông và hỏi ông có muốn có một ngày chánh niệm tại WB không. Ông nói rất muốn. Nhưng ông cũng sợ người ta phản đối.

Ông Kim đưa lá thư của thầy Pháp Lưu cho một người phụ tá tên là Nicolas và nói: này anh, anh làm thế nào để có được ngày quán niệm trong WB, anh ráng đi. Tiến sĩ Nicolas là người tin cẩn nhất của ông trong WB. Nicolas lên Internet tìm hiểu Tăng đoàn Làng Mai là ai, thực tập như thế nào. Ông cũng rất muốn có một ngày chánh niệm nhưng cũng sợ sự phản ứng nặng nề của các nhân viên trong WB. Bữa đó, ông có than thở với phu nhân thì được bà chia sẻ rằng nếu Làng Mai đến WB thì đó là chuyện hy hữu, có thể đó là chuyện hay nhất từ trước đến nay tại WB. Được bà yểm trợ nên ông cương quyết tổ chức. Ông trả lời thầy Pháp Lưu là Giám đốc Kim sẽ viết thư mời Thầy và tăng đoàn Làng Mai.

 

Đối thoại với Giám đốc Kim và các nhà khoa học tại WB

Để cho đỡ sốc, ngày đầu WB mời các nhà khoa học tới để đối thoại với Thầy, để chứng tỏ là mình không đem chuyện tôn giáo vào trong WB. Họ mời những người như Tiến sĩ Davidson Richard và Tiến sĩ Brian Davey – những nhà thần kinh học để nói về chuyện tu tập chánh niệm có thể giúp người ta như thế nào, ví dụ như giảm căng thẳng,v.v. Ngày đó, những người có ý nghi ngờ, tuy không ra dự nhưng vẫn âm thầm ngồi nghe trong văn phòng để xem thử mình nói gì. Rốt cuộc ngày hôm sau, tất cả đều bỏ hết công việc ra tham dự. Và ngày hôm đó trở thành một ngày thực tập rất hạnh phúc, có đi thiền hành, có pháp thoại, có thiền buông thư, có vấn đáp v.v. Rất là hay.

Sau ngày ấy, nhân viên WB viết thư khen ngợi ông Giám đốc hết lời. Nghe nói là ở WB có một bức tường để mình dán lên những điều gì mình bất mãn đối với những vị trong Ban Giám đốc. Mình có thể viết và dán lên đó để “xì hơi”. Trước đó thì nhiều người chỉ trích và lên án đủ thứ, nhưng sau ngày đó, họ dán lên toàn là những lời khen ngợi.

Khoa học kỹ thuật có thể giúp con người trở về với chính mình?

Tăng đoàn Làng Mai cũng đã đến hướng dẫn một ngày Chánh niệm tại trụ sở của Google. Những lời hướng dẫn thiền hành và bài pháp thoại cùng buổi vấn đáp của Thầy được truyền đi khắp thế giới cho các nhân viên của Google ở tất cả các nước. Hôm đó theo chương trình, các thầy, các sư cô Làng Mai tới ăn sáng với nhân viên Google, sau đó đi thiền hành. Bảy trăm người đi thiền hành rất nghiêm túc. Có những người đến muộn, vào lúc tất cả đều đang ngồi lặng yên giữa buổi thiền hành, đã có cảm giác năng lượng tại Googleplex – trụ sở của Google – hôm đó thật hùng tráng kỳ diệu. Sau giờ thiền hành thì có pháp thoại. Thầy làm thiền hướng dẫn trước khi nói pháp thoại. Sau đó có ăn cơm im lặng, rồi có thiền buông thư, vấn đáp, v.v. Rất là hạnh phúc.

Chiều đó, Thầy cùng với các thầy Pháp Dung, Pháp Lưu, Pháp Linh và sư cô Hiến Nghiêm có một buổi gặp gỡ với một số vị kỹ sư trẻ trong Google. Vấn đề đưa ra là khoa học kỹ thuật (technology) có thể giúp con người bớt khổ được hay không? Trong bài pháp thoại tại Google, Thầy đã nói: mỗi người trong chúng ta đều có những nỗi khổ, niềm đau trong lòng, và những nỗi khổ niềm đau đó có thể mang theo những nỗi khổ, niềm đau của cha, của mẹ, của ông bà, tổ tiên. Phần lớn chúng ta không biết xử lý nỗi khổ, niềm đau cho nên chúng ta hay khỏa lấp và chạy trốn. Chúng ta dùng những phương tiện kỹ thuật để chạy trốn chính mình. Chúng ta dùng Internet, telephone, truyền hình, âm nhạc, sách báo để khỏa lấp nỗi khổ, niềm đau, tại vì chúng ta không có khả năng trở về để xử lý những khổ đau ấy.

Một nét đặc trưng của nền văn minh chúng ta là trốn chạy, trốn chạy bản thân. Và khi mình trốn chạy bản thân thì mình cũng trốn chạy khỏi gia đình mình, tại vì nếu mình không thể có mặt cho chính mình thì làm sao có thể có mặt cho những người mình thương. Thành ra mình bỏ bê gia đình luôn. Đồng thời mình cũng trốn chạy thiên nhiên, trốn chạy đất Mẹ. Đất Mẹ rất đẹp, rất lành; đất Mẹ có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu. Nhưng mình không có khả năng trở về với đất Mẹ để được chữa trị và nuôi dưỡng. Mình trốn chạy bản thân, gia đình và đất Mẹ. Mà khoa học kỹ thuật (technology) đang giúp mình chạy trốn. Những máy móc, những thiết bị điện tử và mạng lưới Internet giúp cho con người chạy trốn bản thân, chạy trốn gia đình và chạy trốn xã hội. Và trong khi tiêu thụ những thứ đó thì nỗi khổ niềm đau trong mình cứ từ từ tăng tiến. Đó là tình trạng của thế giới ngày nay. Vậy thì câu hỏi đặt ra cho những nhà doanh thương, cho những hãng lớn chuyên sản xuất ra những thiết bị điện tử là những thiết bị điện tử đó có thể đóng được một vai trò ngược lại hay không? Thay vì giúp người ta chạy trốn bản thân, chạy trốn gia đình, chạy trốn thiên nhiên thì làm sao để những thiết bị điện tử đó nhắc mình trở về để chăm sóc hình hài của mình, chăm sóc những cảm thọ, tri giác của mình, những khổ đau trong lòng mình? Các anh có thể làm cho tôi một cái máy; các anh có thể đưa những software nào vào trong các thiết bị điện tử hoặc điện thoại cầm tay, để mỗi khi tôi đi hấp tấp thì cái máy đó nhắc rằng: “này bạn, tại sao lại đi hấp tấp như vậy? Hãy đi theo kiểu thiền hành. Hãy đi từng bước thảnh thơi. Đừng suy nghĩ nữa”. Cái máy điện thoại của anh có thể làm được chuyện đó hay không?

Mỗi khi anh giận và chất adrenaline lên cao ở trong máu thì cái máy ấy có thể nhận biết và nhắc: “Anh đang giận, anh đang có một cảm xúc. Anh không nên làm gì hết. Hãy trở về để thở và chăm sóc cảm thọ trong anh”. Và khi có một người sắp tự tử đang kêu cứu trên mạng Internet thì tự khắc có người nói rằng: “Đừng, anh đừng làm chuyện đó. Bây giờ  anh phải nghe lời dạy của một vị thầy: một cảm xúc chỉ là một cảm xúc thôi. Nó tới, nó ở lại một thời gian rồi nó đi, tại sao anh phải chết vì một cảm xúc như vậy?”.

Cái máy có thể nhắc mình: “Câu thần chú thứ nhất: người thương ơi, tôi đang có mặt cho em đây (I am here for you) rất hay, tại sao hôm nay anh chưa thực tập? Anh hãy gọi về nhà và nói với chị câu thần chú ấy đi”. Những thiết bị điện tử bây giờ có thể được trang bị bằng những thiết bị cảm ứng (sensor) có thể biết những gì đang xảy ra trong cơ thể mình và trong tâm của mình. Chúng có thể nhắc mình trở về chăm sóc chính mình và chăm sóc gia đình của mình.

Những thiết bị điện tử kia có thể đưa người sử dụng tới một tu viện online, để người đó có thể biết được đường hướng phải thực tập như thế nào, để có thể xử lý được những cảm xúc mạnh, những cơn giận, những nỗi buồn, những nỗi niềm thất vọng của mình. Các anh rất giỏi về kỹ thuật và công nghệ, vậy các anh hãy giúp chúng tôi làm ra những thiết bị điện tử có khả năng giúp chúng tôi trở về với chính mình, trở về với gia đình của chúng tôi, lập ra một tu viện trực tuyến để chúng tôi đến tu tập và chuyển hóa.

Thầy và tăng đoàn Làng Mai đã ngồi với các vị kỹ sư của Google để bàn luận về việc chế ra được những thiết bị như vậy. Tăng đoàn Làng Mai cũng đã đến thăm và làm việc với Facebook và Twitter. Có khả năng Facebook hay Google sẽ giúp mình mở một trung tâm thực tập online để giúp nhân viên của họ và những người trên thế giới có thể trở về để được hướng dẫn tu tập khi có vấn đề khổ đau hay tuyệt vọng. Thầy tin rằng thế nào pháp môn thực tập chánh niệm, nhờ kỹ thuật và công nghệ, cũng sẽ được phổ biến trên thế giới một cách rộng rãi gấp trăm, gấp ngàn lần bây giờ.

Làm thế nào để giữ thăng bằng giữa công việc và đời sống?

Một vấn đề nữa mà Google đặt ra là làm thế nào để giữ thăng bằng giữa công việc và đời sống. Tại vì nếu mình bận rộn quá thì mình không có thì giờ để sống. Không lẽ chúng ta sống chỉ là để kiếm tiền thôi sao? Trong khi lo làm cho được nhiều tiền, bỏ hết thì giờ để trở thành doanh nghiệp Number One thì ta không có thì giờ để sống, để chăm sóc cho ta và cho những người mà ta thương yêu. Như vậy có đáng để cho ta thành công không? Làm thế nào để sử dụng công phu thực tập chánh niệm mà thiết lập lại được sự cân bằng giữa công việc và đời sống?

 

Các kỹ sư của Google tham dự ngày chánh niệm

 

Thầy nói rằng ở Làng Mai chúng tôi có bốn hoạt động: tu, học, làm việc và chơi. Cách chúng tôi là làm sao để tu cũng là chơi, học cũng là chơi, làm việc cũng là chơi. Mà chơi cũng là làm việc, chơi cũng là học, tại vì trong khi chơi chúng tôi cũng chế tác được tình huynh đệ, cũng làm mới lại được thân tâm. Thành ra anh có thể làm thế nào để công việc của anh trở nên dễ chịu, và công việc đó không làm đánh mất sự sống của các anh.

Phải làm thế nào để công việc trở thành sự sống. Ví dụ như trong lúc viết thư pháp – vẽ một vòng tròn,  thì khi thở vào, tôi vẽ nửa vòng tròn trước; khi thở ra, tôi vẽ nửa vòng tròn còn lại và tôi mỉm cười. Có khi tôi mời thầy tôi, mời cha tôi, mời các đệ tử của tôi cùng vẽ vòng tròn với tôi. Trong khi vẽ vòng tròn như vậy, tôi thấy đây không chỉ là công việc mà đây là sự sống, đây là tu học, đây là niềm vui, đây là công tác xây dựng tăng thân. Và như vậy công việc này cũng là chơi, công việc này cũng là xây dựng tình huynh đệ, công việc này cũng là sự sống.

Vấn đề là làm sao khi làm việc các anh đừng tự đánh mất mình trong công việc, mà phải thấy công việc là niềm vui. Chánh niệm có thể giúp các anh làm được điều đó. Đừng tư duy theo kiểu lưỡng nguyên, cho công việc là một chuyện, còn đời sống là một chuyện khác. Phải làm sao để mình được sống trong khi làm việc, mà không đánh mất mình trong công việc.

Ước muốn sâu sắc nhất của đời mình là gì?

Tăng đoàn Làng Mai đã gặp một số các nhà doanh thương lớn ở Mỹ, những nhà tỷ phú. Họ muốn biết làm thế nào để trong khi làm ra tiền, mình không bị khổ đau, không đánh mất sự sống của mình. Chính Google đề ra khẩu hiệu là: chúng ta có thể làm giàu, nhưng chúng ta không cần phải đi con đường tà (we can make money without being evil). Thầy đặt câu hỏi: nếu trong khi làm giàu mà anh bỏ bê bản thân anh, bỏ bê gia đình anh, anh bỏ bê trái đất thì cái đó có phải là “evil” không? Theo Thầy thì cái đó cũng là “evil” rồi.

Vì vậy cho nên tư niệm thực (ước muốn sâu sắc nhất của mình) rất quan trọng. Thầy đề nghị tất cả các nhà doanh thương, những ông chủ lớn đều phải có bồ đề tâm, tức là một ước muốn sâu sắc và thánh thiện (volition hay intention). Đây cũng là một trong những nội dung chính yếu được giảng dạy trong chuyến đi hoằng pháp lần này.

Google đã đề nghị Thầy nói về ba đề tài: intention (ý định, ước muốn), insight (tuệ giác) và innovation (đổi mới, cải cách). Thầy nói ước muốn chân chính của mình (intention) phải là giúp xã hội, giúp con người trở về với bản thân, tại vì hướng đi của văn minh bây giờ là chạy trốn bản thân, chạy trốn gia đình và chạy trốn thiên nhiên. Đó là một hướng đi sai lạc, làm cho khổ đau càng ngày càng lớn. Bây giờ đây, đường hướng sử dụng kỹ thuật (technology) của anh và công ty của anh phải có một hướng đi cho tốt. Và hướng đi này sẽ làm cho anh có hạnh phúc. Đó là làm sao giúp được con người trở về được với bản thân để tự chăm sóc mình, chăm sóc những người thương và chăm sóc thiên nhiên. Vì vậy cho nên chuyện làm ra tiền trở thành thứ yếu, tại vì có tiền mà không có hạnh phúc thì có tiền để làm gì?

Tại World Bank, Thầy đã nói câu đó. Thầy nói: giữa hai cái, anh phải chọn một cái thôi, một là trở thành Number One, hai là hạnh phúc. Anh thấy cái nào quan trọng thì anh chọn. Nếu anh muốn trở thành number one thì anh phải hy sinh hạnh phúc, còn nếu anh muốn hạnh phúc thì anh phải hy sinh cái ý định trở thành number one. Vậy thì tư niệm thực (volition) của anh là gì? Muốn có nhiều tiền, muốn thành number one hay muốn có hạnh phúc?

Thầy có đề nghị các nhà doanh thương, các nhà kỹ thuật phải ngồi lại và tìm hiểu xem thử mình thật sự muốn gì. Đâu là ước muốn sâu sắc của đời mình? Thầy đã sử dụng những cụm từ mà Thầy đã dùng trong khóa tu mùa hè ở Làng. Con người chúng ta có những mối quan tâm thường nhật như: làm thế nào để có nhà ở, có cơm ăn, có áo mặc, có người thương. Nhưng ngoài những tiện nghi vật chất và tình cảm đó, mình còn có cái ước muốn nào cao hơn nữa không?

Anh muốn làm gì với đời anh? Hay mục đích của đời anh chỉ là để đi tìm những tiện nghi vật chất và tình cảm? Ngoài những quan tâm thường nhật, anh còn có mối quan tâm tối hậu (ultimate concern): anh muốn làm gì với cuộc đời mình? Thầy đề nghị các nhà doanh thương, các nhà chính trị và các nhà kỹ thuật phải tìm một nguồn tư niệm thực lành mạnh. Thầy thấy nguồn tư niệm thực hay nhất bây giờ là ý chí giúp con người trở về với bản thân để chăm sóc bản thân, trở về với gia đình để chăm sóc gia đình mình, và trở về với thiên nhiên để được nuôi dưỡng và trị liệu, cũng như giúp thiên nhiên phục hồi lại được cái đẹp của nó. Đó là những nét chính của sự giảng dạy trong chuyến đi.

Hôm 25.10.2013, Tăng đoàn cử ra mười thầy và sư cô đi với Thầy để gặp khoảng 30 nhà doanh thương cỡ lớn nhất ở Mỹ. Sau buổi sinh hoạt có đi thiền hành vào khoảng 40 phút. Tối hôm sau (26/10), các nhà doanh thương này đều đến nghe thầy giảng tại nhà hát Paramount Theatre ở Oakland. Đề tài chiều hôm ấy là: làm cho máu trở về tim, tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống. Nội dung của buổi nói chuyện sáng hôm 25/10 tại Presidio Park, San Francisco cũng tương tự như buổi gặp gỡ ở Google. Buổi sáng hôm ấy, Thầy đã có dịp viếng thăm công viên Kaiser và thiền viện San Francisco với phái đoàn xuất sĩ.

Sức mạnh của từ bi

Trong chuyến hoằng pháp tại Bắc Mỹ lần này có hai trường đại học mời mình, đó là đại học Harvard và đại học Standford.

Trường Y (Harvard Medical School) và Trường Y tế Cộng đồng (Harvard School of Public Health) cùng đứng ra tổ chức hai ngày học hỏi và tu tập chánh niệm với sự cộng tác của tổ chức Cambridge Health Alliance Physicians. Các bác sĩ tới tu tập trong hai ngày đó sẽ nhận được tín chỉ của chương trình giáo dục thường xuyên (continued education). Bên Mỹ họ bắt buộc các nhà hành nghề y khoa mỗi năm phải học thêm về chuyên ngành.

Ngày đầu tiên (11/9), có mười mấy giáo sư dạy về thiền quán và về tâm lý trị liệu.  Ngày hôm sau (12/9), Thầy nói về phương pháp trị liệu thân tâm bằng thiền tập. Hôm ấy có hướng dẫn thiền tọa, thiền hành, pháp thoại và vấn đáp. Đề tài là sức khỏe cộng đồng và sức khỏe cá nhân. Làm sao thiền quán có thể giúp phục hồi sức khỏe con người và sức khỏe cộng đồng?

Ngày 24/10, đại học Standford tổ chức một buổi đàm luận về đề tài từ bi. Trong khuôn khổ của ngành não bộ thần kinh (neuroscience), họ muốn tìm hiểu từ bi có ảnh hưởng gì đến sức khỏe con người. Năng lượng từ bi có thể có tác dụng chữa trị cho con người được hay không? Thầy được mời tới để chia sẻ về đề tại này.

Trong buổi đàm luận này, các giáo sư cho biết là lâu nay y khoa chỉ tìm hiểu những yếu tố gây ra bệnh tật để chữa trị, mà chưa tìm hiểu những yếu tố tích cực giúp tăng cường sức khỏe. Đây là lần đầu tiên có một trường đại học nghiên cứu về từ bi, và thấy được vai trò của từ bi trong sự trị liệu cho con người và làm tăng tiến phẩm chất của đời sống.

Thầy nói rất rõ là từ bi có khả năng hóa giải hận thù, và khi hóa giải được hận thù thì con người mình trở nên thư giãn ra. Sự thư giãn đó giúp cơ thể phục hồi và trị liệu được. Khi có từ bi thì mình ngủ ngon hơn. Năng lượng từ bi còn có tác dụng bảo hộ cho mình. Súng ống và quân đội chưa chắc bảo vệ được mình nhiều bằng năng lượng từ bi. Như trường hợp của thầy Baddhiya, hồi thầy còn làm thống đốc một tiểu bang, có quân đội, có lính gác, nhưng thầy luôn sống trong lo sợ và không có an ninh. Khi đi tu rồi, thầy có rất nhiều từ bi và luôn được bảo hộ bởi năng lượng từ bi, vì vậy mà thầy thấy an ninh hơn rất nhiều, không sợ bị cướp, bị giết như trước đây nữa.

Ngoài ra, khi mình có từ bi thì mình có rất nhiều bạn. Giống như trong trường hợp Anathapindika (Cấp Cô Độc), ông là người rất từ bi cho nên ông có rất nhiều bạn bè và nhiều an ninh. Khi ông bị phá sản thì các bạn tới giúp ông gây dựng lại sự nghiệp một cách dễ dàng.

Nếu mình giàu thì cũng có rất nhiều người đến với mình, nhưng những người đến với mình có thể không phải để làm bạn đâu, họ đến với mình để mà nhờ cậy vào tiền của mình thôi. Vì vậy mà những nhà tỷ phú thường rất cô đơn. Họ luôn nghi ngờ những người đến với họ không phải là vì tình bạn, mà vì muốn lợi dụng vị thế của họ. Còn người có từ bi thì không bao giờ bị cô đơn. Không có từ bi thì mình không thể nào liên hệ với bất kỳ chúng sinh nào, bất kỳ con người nào khác. Vì vậy cho nên từ bi có khả năng chữa trị, có khả năng thiết lập liên hệ giữa mình với những người khác rất hay.

Buổi sinh hoạt hôm ấy rất hào hứng. Trong trường đại học có một buổi sinh hoạt như vậy rất là mới lạ, tại vì khung cảnh các buổi tọa đàm ở đại học thường rất khô khan với những con số, những công thức, những dữ kiện, v.v. Buổi sinh hoạt hôm đó rất linh động. Thầy đã nói rất nhiều về phương pháp chế tác từ bi.

Thầy đề nghị trong trường đại học, các giáo sư và sinh viên đừng chỉ nghiên cứu và giảng dạy bằng miệng và bằng khối óc, mà cần phải ngồi lại để cùng nhau chế tác năng lượng từ bi bằng chánh niệm, chánh định và tuệ giác. Quý vị phải dạy từ bi bằng cách sống của mình, chứ không phải bằng những bài giảng mà thôi. Khi quý vị có khả năng chế tác từ bi thì cách quý vị nhìn, cách nghe, cách tiếp xử với người khác khiến người ta thấy rất rõ năng lượng từ bi đó, chứ không phải chỉ do sự giảng dạy mà người ta hiểu được từ bi. Mọi người tham dự, trong đó có giáo sư James Doty – chủ tọa của buổi đàm luận rất thích và có nhiều cảm hứng từ những điều Thầy chia sẻ.

 

Hành trình của chuyến hoằng pháp tại Bắc Mỹ

Chuyến đi bắt đầu với khóa tu cho các nhà giáo tại đại học Brock, Toronto, Canada, với đề tài với đề tài “Thầy cô giáo hạnh phúc sẽ làm thay đổi thế giới” (“Happy teachers will change the world”). Khóa tu bắt đầu từ ngày 11/8 đến ngày 16/8. Khóa tu vừa chấm dứt thì ngày 17/8 có một buổi thuyết giảng công cộng tại Trung tâm Biểu diễn Nghệ thuật Sony (Sony Centre for the Perfoming Arts). Trong buổi thuyết giảng này Thầy giảng về chủ đề: Present moment – Wisdom for global peace and happiness (Giây phút hiện tại – Tuệ giác đem lại bình an và hạnh phúc cho thế giới). Ngày 18/8 là một ngày quán niệm dành cho người Việt, có 900 người tới tham dự. Ngày 19/8 thì Thầy và Tăng đoàn qua Mỹ.

Ngày 22/8, có một ngày xuất sĩ tại tu viện Bích Nham. Từ ngày 25 – 30/8 thì có khóa tu cho những người nói tiếng Mỹ. Trước khi lên đường sang tu viện Mộc Lan, có một buổi thuyết giảng tại Beacon Theatre, New York ngày 7/9. Và cũng trong ngày này, Thầy đã khai mạc buổi triễn lãm thư pháp tại ABC Home, New York. Phòng triễn lãm này sẽ mở cửa trong vòng 4 tháng, và theo báo cáo, ngày nào cũng có rất đông người đến tham quan. Có rất nhiều người đã đặt mua những thư pháp ở đó. Sợ rằng sau bốn tháng thì những thư pháp ở đó sẽ bị bán hết, không còn để cho thầy Pháp Nguyện tổ chức một buổi triễn lãm khác.

Ngoài hai ngày cho World Bank (9 – 10/9) và hai ngày cho Havard (11 – 12/9), mình còn có một buổi pháp thoại công cộng ngày 14/9 và một buổi ngồi thiền công cộng (Sit in Peace) ngày 15/9 trước nhà thờ Trinity Church ở Boston. Chủ đề ở Boston là The country of the present moment – the wisdom for global peace and happiness (Xứ sở của giây phút hiện tại – Tuệ giác đem lại bình an và hạnh phúc cho thế giới).

Ở Mộc Lan có hai khóa tu, một khóa tu cho người Việt (19 – 22/9) và một khóa tu cho người Mỹ (24 – 29/9). Sau hai khóa tu ở Mộc Lan thì Tăng đoàn đi Lộc Uyển. Ngày 4 – 8/10 là khóa tu cho người nói tiếng Việt. Và khóa tu tiếng Anh với chủ đề “Tìm lại ngôi nhà đích thực của chúng ta” (“Finding our true home”) bắt đầu từ ngày 11/10 và kết thúc ngày 16/10. Ngày 19/10, Thầy có buổi thuyết giảng công cộng tại Pasadena. Rồi sau đó mình đi lên miền Bắc California.

Ngày 23/10 là dành cho Google, ngày 24/10 là dành cho Standford, ngày 25/10 là để cho các nhà doanh thương, ngày 26/10 là diễn thuyết công cộng tại Paramount Theatre với đề tài “Làm mới thân tâm – Tiếp xúc với sự sống mầu nhiệm” (“Refreshing our Hearts, Touching the Wonders of Life”). Ngày 27 là ngày quán niệm cho người Việt tại tu viện Kim Sơn. Và ngày 28 thì Thầy và Tăng đoàn về lại Pháp, kết thúc chuyến hoằng pháp tại Bắc Mỹ năm 2013.

 

Đọc thêm:

Phần 1: Có Bụt trong xe không?

Phần 2:  Bụt có khổ không?

 

 

Bụt có khổ không?

 

Trong chuyến đi hoằng pháp tại Bắc Mỹ năm nay, có nhiều chuyện để kể từ từ. Nếu Thầy quên thì các vị khác sẽ bổ túc cho Thầy.

Cần có thêm vài ngàn người xuất gia nữa…

Một trong những điều mình thấy là số người muốn ghi tên tham dự các khóa tu và những buổi thuyết giảng rất đông. Ví dụ như buổi thuyết giảng công cộng tại Oakland, nhà hát chỉ chứa được 3200 người thôi nhưng khi mình mở đăng ký trực tuyến qua Internet cho người ta ghi danh tham dự khóa tu thì chỉ bốn giờ sau là hết chỗ, không mua vé được nữa. Rất nhiều người muốn tới nghe mà không có chỗ, do đó mình phải mời họ lên mạng để nghe trực tuyến. Có một tổ chức tên là Sounds True phụ trách về việc thông báo và ghi tên những người lên mạng để nghe. Hôm đó Sounds True báo cáo rằng số người lên mạng để nghe pháp thoại trực tuyến là 35000 người. Điều đó chứng tỏ rằng số người muốn tu học rất đông. Tất cả các khóa tu đều như vậy.

Trong khi đó phương tiện của mình để đáp ứng được nhu cầu tu học hiện nay lại rất hạn chế. Có những khóa tu mình chỉ có thể tiếp nhận được chừng 1000 người thôi hoặc ít hơn, nhưng luôn luôn có 700 – 800 người ở trong danh sách chờ đợi (waiting list). Như khóa tu ở Hồng Kông đầu tháng năm năm nay, mình chỉ có thể đáp ứng được cho 1300 người thôi, trong khi đó số người muốn tới tu rất đông. Tại tu viện Lộc Uyển, Bích Nham, Mộc Lan cũng vậy.

Trong những khóa tu ấy, Thầy có nói chuyện về tình trạng của Tăng đoàn Làng Mai. Thầy nói rằng ở châu Âu, nước nào cũng muốn có một khóa tu mỗi năm nhưng ước nguyện đó vẫn chưa thành đạt. Hiện nay, tại châu Âu chỉ có 3 nước: Pháp, Đức, Hà Lan là có khóa tu hàng năm. Còn những nước khác như Ý, Tây Ban Nha… nhiều lắm là hai năm mới có một khóa tu. Đó là vì tăng đoàn không có đủ người để gửi đi, mình thiếu các vị giáo thọ. Vì vậy Thầy kêu gọi phải có thêm vài ngàn người xuất gia nữa mới tạm đáp ứng được nhu cầu tu học. Thầy nói rằng trong quý vị ngồi đây, nếu ai thấy ngoài đời không có chuyện gì đáng làm thì nên đi xuất gia để mà phụng sự. Tại vì chỉ trong một khóa tu 6 ngày mà đã có rất nhiều người chuyển hóa và hòa giải được với gia đình. Người ta hạnh phúc lắm.


Cõi Tịnh Độ hay nước Chúa không phải là nơi không có khổ đau

Trong chuyến đi lần này, có những điều Thầy nói làm cho thiên hạ sốc rất nhiều. Những điều này đơn giản thôi, nhưng đối với họ rất mới lạ. Ví dụ như: trong cõi Tịnh độ của Bụt, cõi thiên đường của Chúa có đau khổ không? Hầu hết mọi người đều tin rằng ở cõi Tịnh độ hay ở cõi thiên đường thì làm gì có đau khổ nữa? Nhưng theo giáo lý tương tức của đạo Bụt, không có khổ đau thì không có hạnh phúc. Không có bùn thì không có sen. Nếu muốn có những bông sen thơm và tinh khiết thì phải có bùn mới được. Có bùn mới làm ra sen. Hạnh phúc và khổ đau cũng vậy. Chính nhờ cái bùn của khổ đau mà mình làm ra được bông sen của hạnh phúc. Vì vậy, Thầy nói rằng: “theo tôi, nước Chúa không phải là chỗ không có khổ đau. Nếu không có khổ đau thì cũng không có hạnh phúc. Chắc chắn là như vậy”.

Thầy cũng nói: “Nếu quý vị gửi con của quý vị tới những chỗ không có khổ đau thì con của quý vị sẽ không có cơ hội học hỏi để hiểu và để thương. Nếu không có hiểu và thương thì mình không phải là một người có hạnh phúc. Và muốn học hiểu, học thương thì mình phải tiếp xúc với khổ đau. Cõi Tịnh độ hay nước Chúa không phải là chỗ không có khổ đau, mà là chỗ người ta biết học hỏi từ khổ đau, biết sử dụng khổ đau để chế tác hạnh phúc cũng như người biết sử dụng bùn để nuôi sen.”

Chuyện ở nước Chúa mà có khổ đau là chuyện mà lâu nay người ta không nghĩ tới, không ai tin như vậy. Hầu hết mọi người đều tin rằng đã là nước Chúa, đã là Thiên quốc rồi thì chắc chắn là không còn khổ đau nữa. Nhưng sự thật mà mình quan sát được là nếu không có khổ đau thì cũng không có hạnh phúc. Khổ đau và hạnh phúc đi với nhau như một cặp bài trùng, không có cái này thì không có cái kia, cũng như một tờ giấy có mặt trái và mặt phải vậy. Mình không thể lấy mặt trái ra khỏi mặt phải. Mình không thể nói: anh tới đây lấy mặt trái đi về Bordeaux, còn chị lấy mặt phải đi về Toulouse. Đó là điều không thể làm được. Hai cái chỉ muốn ở chung thôi, không có cái này thì cũng không có cái kia.

Nếu không có dưới thì cũng không có trên, không có phải thì không có trái, nếu không có thì không có không, nếu không có khổ đau thì không có hạnh phúc. Rất rõ ràng. Đó là sự thật 100%. Vậy nên chúng ta đừng có ảo tưởng tìm tới một cõi không có khổ đau. Không! Tịnh độ và nước Chúa là những nơi có khổ đau, chắc chắn là như vậy. Nhưng ở những nơi đó người ta biết cách khổ, biết cách sử dụng khổ đau để chế tác hạnh phúc. Thầy có dạy rằng khi quý vị biết cách khổ thì quý vị khổ rất ít. “If you know how to suffer, you suffer much less”. Câu này họ thích lắm. Nếu mình biết cách khổ thì mình khổ rất ít, và mình lại có thể làm ăn khá hơn: mình có thể sử dụng khổ đau đó để chế tác thành hiểu và thương để làm nền tảng cho hạnh phúc.

Bụt có khổ, nhưng vì Bụt biết cách khổ cho nên Ngài khổ rất ít

Thầy có kể rằng ngày xưa khi còn trẻ, thầy cũng tin như mọi người là khi mình thành Bụt rồi thì mình không còn khổ nữa. Nếu thành Bụt rồi mà còn khổ thì thành Bụt để làm gì? Đó là lý luận của mình. Nhưng nếu mình thấy được sự thật là khổ đau và hạnh phúc tương tức thì mình có một cái nhìn rất khác. Thành ra sự thật là Bụt có khổ, nhưng vì Bụt có tuệ giác và tình thương lớn, và vì Bụt biết cách khổ cho nên Bụt khổ rất ít. Thầy nghĩ rằng Bụt cũng có nhức đầu, đau bụng, nhức mỏi chứ không phải là không. Nói rằng Bụt không đau bụng, nhức đầu, không nhức mỏi là không đúng. Tại vì đã có hình hài thì phải có những chuyện đó thôi. Nhưng vì Bụt có trí tuệ và từ bi lớn, và vì Bụt biết cách khổ cho nên Bụt khổ rất ít.

Có thể có những người không đồng ý với Thầy. Họ nói: nếu thành Bụt mà còn khổ thì thành Bụt để làm gì? Đó là lý luận của đa số. Nhưng Thầy thấy rất rõ là Bụt cũng khổ như mình nhưng Bụt khổ rất ít, tại vì Ngài có quá nhiều trí tuệ và từ bi. Nếu cần khổ thì Ngài cũng khổ. Ví dụ như nghe tin đệ tử thương yêu của mình là thầy Xá Lợi Phất tịch thì Bụt có buồn không? Bụt có phải là một tảng đá đâu? Khi đệ tử thương của mình qua đời mà Bụt tỉnh bơ thì đâu được. Chắc chắn là Bụt có khổ nhưng vì Bụt có sẵn tuệ giác về vô thường, vô ngã, biết rằng thầy Xá Lợi Phất đang tiếp tục có mặt trong các sư em của thầy, thì Bụt khổ ít hơn các thầy khác nhiều. Bụt khổ ít hơn thầy Ananda, có phải vậy không? Cho nên sự thật Thầy trao truyền là Bụt có khổ nhưng Ngài khổ rất ít. Ngài biết cách khổ. Cũng như Thầy vậy, Thầy cũng khổ nhưng Thầy khổ ít hơn nhiều người khác. Ví dụ nếu mình biết giáo lý về mũi tên thứ hai. Mũi tên thứ hai là sự lo lắng, sự bực bội của mình, nó làm cho mình khổ gấp mười lần, và vì vậy đừng để cho mũi tên thứ hai cắm vào thì mình đã bớt khổ nhiều rồi, huống hồ mình lại còn có những phương pháp khác.

Pháp thoại công cộng tại Paramount Theatre, Oakland

Khi thành Bụt rồi thì mình còn phải tu nữa hay không?

Khi còn là một thầy tu trẻ, Thầy còn có một câu hỏi nữa là: khi thành Bụt rồi thì mình còn phải tu nữa hay không? Thực tế trong kinh nói rất rõ là Bụt cũng có ngồi thiền, đi thiền hành và thực tập an ban thủ ý như các thầy khác. Thành ra mình hỏi tại sao thành Bụt rồi mà còn phải thực tập nữa, còn phải tu nữa? Tu là để thành Bụt, tại sao thành Bụt rồi còn phải tu nữa? Đó là những câu hỏi rất thực tế.

Câu trả lời cũng dễ thôi, nhưng tại sao mình loay hoay mất bao nhiêu năm mà tìm không ra. Đó là vì hạnh phúc cũng vô thường. Bụt có rất nhiều hạnh phúc, và vì hạnh phúc của Bụt cũng vô thường như hạnh phúc của mình cho nên Ngài phải tiếp tục tu để tiếp tục chế tác hạnh phúc. Thí dụ như mình đạp xe đạp, mình đạp mấy cái thì xe chạy, nhưng nếu mình không tiếp tục đạp thì xe đâu chạy nữa. Hạnh phúc của Bụt cũng vậy. Ngài biết cách nuôi dưỡng hạnh phúc cho nên hạnh phúc của Ngài kéo dài. Còn mình không biết nuôi dưỡng hạnh phúc cho nên hạnh phúc của mình rất ngắn ngủi.

Bởi vậy cho nên thành Bụt rồi mà Bụt cũng phải thực tập thôi. Ngài cũng thực tập an ban thủ ý, Ngài cũng thực tập thiền hành, thiền tọa, ăn cơm im lặng như mình vậy để nuôi dưỡng hạnh phúc của Ngài. Câu trả lời rất dễ, vậy mà trước đây mình cứ dại dột cho rằng: đã thành Bụt rồi thì còn tu nữa để làm gì?

Thầy nói những điều  này bằng một ngôn ngữ đơn giản và dễ hiểu cho nên thiền sinh dễ hiểu và dễ chấp nhận. Những cái ban đầu gây sốc cho người ta rốt cuộc rồi người ta cũng hiểu và chấp nhận được.

Đọc thêm:

Phần 1: Có Bụt trong xe không?

Phần 3: Anh muốn làm gì với đời anh?

Dòng sông đang múa ca

Hôm Noel, có một bà thiền sinh người Pháp viết cho thầy một lá thư và thầy muốn chia sẻ với quý vị, nhất là quý vị tới từ Việt Nam. Vị thiền sinh này là người Pháp và có gốc rễ Cơ Đốc Giáo. Đọc thư này mình sẽ thấy rõ ràng là trong khi mình ở tại Tây Phương để hành đạo, mình phải biết rõ gốc gác văn hóa và mình phải có một thái độ cởi mở và hiểu biết thì mới có thể thành công được.

Kính thưa Thầy!

Đã mấy tuần nay con muốn viết thư cho Thầy. Lá thư đã thành hình trong trái tim con rồi nhưng con đã đợi đến đêm Noel tĩnh lặng này để viết ra trên giấy. Nhưng làm sao con có thể sử dụng được chữ nghĩa để diễn tả được cái rung động trong toàn châu thân con. Niềm vui đang khởi dậy trong con. Niềm an lạc mà con trông chờ bao nhiêu năm nay bây giờ mới bắt đầu có mặt trong con. Con bắt đầu tiếp xúc được với pháp môn của Thầy từ ngày mùng 6 tháng 10 năm nay qua những quyển sách của Thầy. Trong nhật ký của con, vào ngày đó con đã vẽ bên lề của trang nhật ký một ngôi sao xanh sáng chói.

Tuổi thơ của con đã in dấu đủ mọi thứ bạo động và con đã sống lay lắt với một cảm giác rằng cuộc đời này là một cái gì vô nghĩa, quá nặng nề. Đến tuổi 16, con tiếp xúc được với Ki-tô Giáo, không phải là do ai dạy mà do chính con cảm nhận được một cách trực tiếp từ trái tim. Con nghe Chúa Ki-tô dạy rằng tất cả vạn hữu đều phát sinh từ tình thương. Và mục đích, ý nghĩa của cuộc sống là để biểu lộ tình thương và hoàn tất tình thương đó. Con tin vào lời nói đó.

Nhưng Thầy ơi! Ánh sáng đó bắn lại cho con nhiều điều vô lý mà con không thể nào hiểu được. Con đi tìm tới các vị linh mục để tham vấn thì các vị dạy con rằng phải yêu Thiên Chúa với tất cả trái tim và trí năng của mình. Phải yêu người khác như yêu mình. Họ dạy con như vậy. Đối với con, điều này khó thực hành quá tại vì trong con có rất nhiều hạt giống của sự hận thù, muốn tự tử, muốn tự tiêu diệt mình. Hơn nữa, trong Thánh Kinh lại có những đoạn khép kín mà con không thể nào có chìa khóa mở ra được, không thể tìm hiểu được. Những giải thích của các vị linh mục không làm thỏa mãn được những đói khát tâm linh trong con.

Theo những lời giải thích của các vị thì tình thương, sự hiểu biết cũng như sự an lạc là những gì thuộc về tương lai, hoặc là ở một chỗ khác, ở một nước Chúa, một Thiên quốc nào đó mà chúng ta chỉ có thể đi vào sau khi ta chết. Với lại ta cũng không chắc là mình có thể tới được đó nếu như những điều kiện của ta không đủ. Và vì vậy những lời giảng đó không đem lại cho con năng lượng để yêu quý sự sống mà làm cho con muốn chết cho mau để sớm được đi vào trong đất nước hứa hẹn kia mà thôi. Vì thế mà con đã bỏ Thiên Chúa Giáo ra đi. Con đã rơi trở lại vào trong nỗi niềm tuyệt vọng của con.

Tuy nhiên, con vẫn tin rằng không phải Chúa Ki-tô đã dạy như vậy. Nhưng thực sự thì Chúa Ki-tô đã dạy điều gì? Con có linh cảm là giáo lý chân thực của Chúa Ki-tô có đó nhưng làm sao con có thể chọc thủng được bức màn giáo lý để đi tới sự thực đó được. Nhờ theo học một lớp Yoga nên con có dịp tiếp xúc với nền đạo học Đông Phương. Nền đạo học Đông Phương này đã cứu con. Giáo lý bất nhị của đạo Bụt cho con thấy cái gọi là Thiên quốc đang nằm trong trái tim của chính mình và mình có thể tiếp xúc với nó ngay bây giờ. Và có một con đường để thực hiện điều đó.

Khi nghe được điều này thì trong lòng con bừng dậy một niềm tin, một niềm hạnh phúc. Con lập tức áp dụng giáo lý đó vào ngay trong đời sống của con với tất cả năng lượng của trái tim mình. Con đã sử dụng hơi thở ý thức để yểm trợ và con bắt đầu thích ngồi yên. Nhưng trong con vẫn còn có sự xâu xé trong khi thực tập. Con hỏi: Vậy thì Chúa Ki-tô của con đóng vai trò gì trong sự thực tập này hay không? Con không thể nào bỏ được Chúa Ki-tô, không thể tự chọn lựa con đường cho chính mình.

Con đi trên con đường của đạo Bụt nhưng một chân thì bước theo Chúa. Chúa mà con đã đi tìm cầu trong ánh sáng của tất cả những gì con đã học hỏi để có thể hiểu được ý Ngài, để cho lời dạy của Chúa được biểu lộ trong đời sống hàng ngày của con. Còn chân kia thì bước theo các bậc hiền nhân của Ấn Độ và những thiền sư Nhật Bản. Những lời dạy đầy ánh sáng của họ đã trở thành món ăn mà hằng ngày con ngấu nghiến. Con thấy cả hai con đường đều quan trọng đối với con nhưng con không thể chọn được một trong hai và con có cảm tưởng là con phụ bạc với cả hai con đường.

Thầy ơi! Chính trong trạng thái bị ray rứt đó thì Thầy đã tới với con. Con muốn nhắc lại, muốn viết lại một lần nữa cho rõ: chính trong lúc đó Thầy đã đến với con. Và với những lời dạy mà con đang thiếu thốn, những lời dạy mà con có thể hiểu và có thể gọi tên ra được. Những lời dạy thật đơn sơ. Cái mà con thiếu là cái này đây: an trú trong hơi thở ý thức, an trú trong chánh niệm, tức là đang an trú trong Chúa Thánh Thần, trong hơi thở thánh linh mà cũng là an trú trong Thiên quốc, trong giây phút hiện tại. Điều đó là điều mà con học được. Tức là hai cái chỉ là một mà thôi. An trú trong hơi thở ý thức, an trú trong chánh niệm cũng là an trú trong thánh linh, cũng là an trú trong Thiên quốc. Con tìm ra được điều đó nhờ Thầy dạy. Cái thấy đơn sơ và mầu nhiệm đó làm con quá đỗi ngạc nhiên. Con đã phải trải qua biết bao nhiêu công phu, nhọc nhằn và tìm kiếm; để  bây giờ cho một sự thực đơn giản, hiển nhiên như vậy có thể tới với con. Nhưng không sao. Điều quan trọng là cái mầu nhiệm đó đã tới trong cuộc đời của con.

 

 

Hai con đường bây giờ đã trở thành một. Một sự thật rất mầu nhiệm. Những lời con nói ra có vẻ tầm thường quá nhưng làm sao để có được những lời có thể diễn tả được năng lượng sáng chói mà con đang thể nghiệm và nói ra được cái mà ngay trong giây phút hiện tại con biết là con đang biết. Con không còn nhọc công đi tìm kiếm nữa. Con không chạy để theo đuổi một cái gì nữa và điều đó đã mang lại bình an cho trái tim con. Sự thực tập hàng ngày làm cho sự sống của con tràn đầy hạnh phúc.

Con thực tập như thế này: thất niệm thì tuy bên ngoài có vẻ như mình còn sống nhưng bên trong đã chết. Và khi mình có chánh niệm tức là mình thực sự đang sống. Trong khi ngồi thiền con thực tập như thế này: Thở vào, con hỏi ai cho con sự sống? Thở ra, con quay về nương tựa nơi thánh linh, tâm ý của con được tắm vào trong dòng nước tẩy tịnh của thánh thể và con đang được đổi mới trong từng hơi thở ra.  Và con trồi lên phục sinh lại trong từng hơi thở vào. Con thấy con được sinh ra trở lại giữa những người đang chết. Con biết là trong đời sống hàng ngày, con chỉ cần nắm lấy hơi thở chánh niệm. Nếu có quên thì đó chỉ là con rối cử động theo tập khí suy nghĩ, hành động, gieo rắc khổ đau vào những người mà mình muốn thương yêu. Con rối mà ta thường giao cho làm những việc mà nó không thể nào làm được. Khi nào có tỉnh thức, có chánh niệm, con nghĩ và tin rằng lúc đó thánh linh đang điều khiển, đang cầm cương. Trong trường hợp này, tư duy và hành động được chỉnh lại cho phù hợp với hoàn cảnh. Con thấy rằng chỉ trong sự thực tập cắm rễ đó con mới có khả năng thương lấy mình và thương được những người khác mà thôi.

Thầy ơi! Bao nhiêu năm nay con sóng bé nhỏ của con đang trôi nổi trên đại dương. Khi thì lăn lóc trong đam mê và hận thù; khi thì chìm xuống trong vực sâu, lạc đường và biến mất. Nhưng bây giờ đây, con sóng đó đang được múa ca. Và dòng sông của Thầy đã chảy vào trong dòng sông của con; và dòng sông của con cũng đang múa ca và đang được ca múa. Múa ca khúc hát mà những dòng sông khác đã từng múa ca. Chỉ cần múa ca trên đại dương với niềm biết ơn vô tận.

Con viết những dòng này từ trái tim của con và gửi đến trái tim của Thầy với tất cả niềm tôn kính.

 

Tháng 8/2014, Đức Giám mục Sánchez Sorondo – đặc phái viên của Đức Giáo hoàng Francis – đến Làng để chính thức mời Thầy đến Vatican tham dự Hội nghị các nhà lãnh đạo tôn giáo do Vatican tổ chức để kêu gọi thế giới chống nạn buôn người

 

Đây là lá thư của vị thiền sinh đó. Khi đọc một lá thư như vậy, mình thấy rất rõ là khi mình đem tới một cái gì để hiến tặng, mình nên biết phải làm thế nào để nhận diện những gốc rễ văn hóa và tâm linh của người được hiến tặng. Nếu không thì phẩm vật hiến tặng của mình sẽ không có giá trị. Khi Cơ Đốc Giáo truyền vào Việt Nam thì các nhà truyền giáo khuyên mình nên bỏ đạo Bụt và nên bỏ sự thờ cúng ông bà. Và như vậy làm cho mình mất gốc rễ. Một con người mất gốc rễ thì không bao giờ có hạnh phúc. Mình phải thấy được điều đó.

Khi chúng ta đang có mặt ở Tây phương, tiếp xúc với các bạn Tây phương thì chúng ta không nên lặp lại lỗi lầm đó. Chúng ta phải để cho họ cắm rễ vào trong văn hóa và trong tôn giáo của họ. Những phương pháp thực tập của chúng ta có thể làm cho họ trở về gốc rễ của họ, làm mới gốc rễ đó. Vậy cho nên lá thơ này đã phản chiếu rất thực con người của xã hội Tây phương. Thầy chia sẻ cho quý vị để quý vị thấy rõ là nếu mình đang ngồi trên đất nước Tây phương thì mình phải thấy được và công nhận được giá trị của nền văn hóa, của truyền thống tâm linh của Tây phương. Như vậy mình mới có khả năng chia sẻ sự thực tập của mình một cách thành công.