Tâm ban đầu

Con kính bạch Thầy,

Con kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng,

Con là sư chú Chân Trời Đức An, xuất gia trong gia đình cây Mai Vàng vào ngày 14 tháng 12 năm 2016 tại Làng Mai, Pháp. Con sinh năm 1988 và lớn lên ở miền ngoại ô phía bắc thành phố Paris. Hiện giờ, con đang được làm một sư chú sa di nhỏ ở xóm Thượng, Làng Mai.

 

 

Vài hôm trước ngày xuất gia, các sư chị trong ban biên tập Lá Thư Làng Mai hỏi con có muốn viết bài chia sẻ về thời gian sống ở Làng hay không? Con đã vui vẻ nhận lời. Tuy vậy, thật khó để bắt đầu và nghĩ xem mình muốn nói điều gì! Và rồi con quyết định chia sẻ với đại chúng những trải nghiệm trong cuộc sống của con – một người Pháp trẻ tuổi. Cũng chính từ những kinh nghiệm này, từ chất đất mùn màu mỡ này mà tâm bồ đề của con đã bắt rễ và lớn lên.

 

Năm 21 tuổi, con gia nhập Quân đội Pháp. Sau vài năm làm nghĩa vụ, lòng con đầy buồn chán, tuyệt vọng, giận dữ, bạo động và cả hận thù. Con đã phải chứng kiến nhiều cảnh bất công, phân biệt đối xử, bị điều khiển và vâng lời một cách mù quáng. Vào thời điểm ấy, trong con gần như không còn chút niềm tin  nào  vào  con  người. Dù con vẫn vâng lời, vẫn phục tùng mệnh lệnh nhưng trong con đã bắt đầu nhen nhóm sự nổi loạn. Bị tưới tẩm bởi những kinh nghiệm sống đầy tiêu cực nên cái nhìn của con về một cuộc ‘nổi dậy’ rất căng thẳng, đau thương bởi nó dựa trên một cái thấy lưỡng nguyên. Có lẽ vì thế con thấy mình rất gần với những bạn trẻ Pháp khác, những người đang giận dữ, đang đòi nổi dậy, đòi một sự thay đổi. Con cũng thấy mình có liên hệ sâu sắc với những người trẻ tuổi khác ở khắp nơi trên thế giới, những người sẵn sàng dùng khí giới, sẵn sàng chết cho một sự thay đổi mà họ nghĩ là chính đáng. Lòng quyết chí của các bạn ấy bị sử dụng để phục vụ cho một lợi ích nào đó. Nó khác xa với sự thay đổi có mục đích làm cho thế giới tốt đẹp hơn.

 

Rất nhiều thanh niên Pháp không mấy quan tâm tới các vấn đề kinh tế, chính trị, tình trạng của trái đất hoặc những gì về ngôn ngữ, lịch sử hình thành các dân tộc, tôn giáo… Nhiều người trong chúng con đã gần như đánh mất đi những giá trị của chính mình, đánh mất gốc rễ, không có lý tưởng, không có đời sống tâm linh và mất đi niềm vui sống. Chúng con tìm kiếm ý nghĩa của cuộc sống hay nói cách khác là chạy trốn khỏi cuộc sống không ý nghĩa của chính mình trong việc tìm kiếm tiền bạc, vinh quang, sở hữu, tiêu thụ,… Chúng con chạy theo tất cả những thứ này mà không có một chừng mực hay giới hạn nào cả. Lối sống ấy làm cho đầu óc chúng con luôn bận rộn. Chúng con không biết cách lắng nghe cơ thể mình, cũng không biết nhận ra những cảm thọ, tâm hành trong mình. Khi mệt mỏi, giận dữ, cô đơn, chúng con sẽ vội vã tìm cách để giải trí, tiêu thụ, để quên đi những vấn đề của chính mình. Chúng con đã không cho phép mình nghỉ ngơi và cũng không trung thực với chính tự thân mình. Nếu tâm từ chối không nghe những thông tin từ thân thể gửi tới thì thân thể sẽ chất chứa tất cả những điều đó cho tới khi nó không thể chịu nổi. Khi đó những căng thẳng và chấn động tinh thần mà mình không dành thời gian để lắng nghe, để hiểu và chăm sóc sẽ được biểu hiện dưới rất nhiều hình thức. Từ sự ngược đãi thân thể, tự cô lập cho tới những căn bệnh trầm cảm, eczema, ung thư … Con hiểu ra rằng giới trẻ chúng con cần học cách lắng nghe bản thân mình, cách thiết lập truyền thông giữa thân và tâm. Mong muốn chấm dứt khổ đau, có hạnh phúc, bình an là nhu yếu rất tự nhiên ở tất cả mọi loài. Liệu có ai thích khổ đau? Hay có ai không thích được hạnh phúc?

 

Con đang tập thiết lập mối liên hệ với tâm bồ đề trong con khi con nhận ra được những khổ đau mà con đã gây ra cho gia đình, người thân, qua hành động, lời nói còn thiếu suy nghĩ của con. Con đã không làm chủ được cảm xúc và lời nói của mình. Khi con hiểu ra rằng chỉ có con mới có thể chấm dứt những khổ đau, chuyển hóa được tập khí và đem lại ý nghĩa cho cuộc sống của chính mình, con đã đồng thời thắp lên ngọn lửa bồ đề tâm trong con.

Con cũng hiểu ra rằng con có thể giúp chữa lành những vết thương cho gia đình, và xã hội, bằng cách bắt đầu chữa trị cho chính mình. Không còn gì có thể có ý nghĩa và quan trọng hơn điều đó. Với cái thấy này, con đã quyết định xin được xuất gia.

 

Giờ đây con đã được đọc sách của Thầy, nghe Thầy giảng về đạo Bụt dấn thân, một đạo Bụt phù hợp với thời đại. Con như thấy lòng mình sáng rỡ lên, ấm áp và đầy dũng khí. Con bỗng thấy đạo Bụt mà Thầy đang trao truyền dường như là để dành cho con, cho chính tâm nguyện sâu xa đã luôn sẵn có trong con tự bao đời. Thầy đã chỉ ra cho con, với rất nhiều tình thương và lòng kiên nhẫn, rằng bạo lực, đàn áp, tâm phân biệt sẽ chỉ làm cho chính mình và những ai mình cho là kẻ thù khổ đau thêm: Kẻ thù ta không phải là con người. Kẻ thù ta là vô minh.

 

Trở thành người con Bụt hay một xuất sĩ không phải là điều thiết yếu, điều quan trọng là chính con đang thực sự có mặt, có mặt cho chính mình và cho những người xung quanh. Có mặt để thấy rất nhiều cơ hội chữa trị đang hiến tặng cho mình trong đời sống hàng ngày. Con tự hỏi, mình có đang sẵn sàng để nắm lấy những cơ hội ấy hay không?

 

Một buổi chiều mùa thu, lấy cảm hứng từ cuốn Trái tim của Bụt, con đã viết xuống vài dòng về cái thấy của con, con xin được chia sẻ:

Dòng chảy cuộc sống là cánh đồng màu mỡ. Cha ông ta đã khai phá, gieo trồng lên đó biết bao loại hạt giống, không phân biệt xấu tốt. Những hạt giống đủ loại ấy trở thành di sản của chúng ta. Và tới lượt mình, chúng ta tiếp tục sự trao truyền. Nhưng bởi vô minh nên từ thế hệ này sang thế hệ khác chúng ta nuôi dưỡng khổ đau và bỏ mặc những gì tốt đẹp đã nhận được.

Ngày hôm nay, đã gặp được chánh pháp, giúp chúng ta khai mở những cánh cửa đưa tới tự do. Hạnh phúc biết mấy! Ta có thể đi qua khổ đau và để cho sức mạnh thật sự trong chính ta biểu hiện. Khổ đau của chúng ta có gốc rễ từ vô minh và sự thiếu tỉnh thức của tự thân. Chúng ta cần chiếu soi ánh sáng của chánh niệm vào những vùng tăm tối trong ta, trao truyền lại những gì tốt đẹp cho thế hệ tương lai, đồng thời ôm ấp khổ đau của cha ông, của con cháu ta và của đất Mẹ.

Trong Nhật tụng Thiền môn có bài kệ quán chiếu về vô thường. Vào thời khắc cuối năm này, con kính mời huynh đệ khắp nơi cùng con đọc bài kệ ấy:

“Năm cũ đã qua (Ngày nay đã qua)

Đời sống ngắn lại

Hãy nhìn cho kỹ

Ta đã làm gì?

Đại chúng hãy cùng tinh tấn!

Thực tập hết lòng,

Sống cho sâu sắc và thảnh thơi,

Hãy nhớ vô thường!

Đừng để tháng ngày trôi qua oan uổng”.

Con của Thầy và tăng thân
    Chân Trời Đức An

* Để đọc bản tiếng Anh, xin xem tại đường link này: https://wkup.org/healing-past-transforming-future/

Mắt Bụt

 

Gió reo ngoài ngõ vắng

Mùa huynh đệ đến rồi,
Tiếng cười anh xanh thắm

Dắt em về tinh khôi.


Có một dòng sông trôi
Hồng hào trên mặt đất,
Chắp tay lòng thành thật

Nở muôn đóa từ bi…


Lời thơ anh cho đi

Ấm muôn lòng thế giới,
Lặng im trà thơm đợi

Hạnh phúc về thênh thang.

 Anh gieo một mùa vàng
Gọi vầng trăng về hiện,
Đi qua cồn cào biển

Anh hiểu lòng đại dương.

 Đời đẹp nhờ mắt thương,
Thanh thản lòng bước tới,
Trong tin yêu ngày mới
Mắt Bụt cười nơi anh.

Viết tiếp những ước mơ cho mẹ

Mẹ à, vậy là đã hơn 10 năm kể từ ngày con từ Sài Gòn về quê để xin phép ba mẹ cho con được đi tu, trở thành một người xuất gia, con gái của Bụt. Bây giờ ngồi nhớ lại, cảm giác khi xưa lại trở về, như mới hôm qua đây thôi. Bởi mẹ chẳng bao giờ tin được con lại có quyết định khác thường như thế. Những giây phút ấy thật khó khăn với con khi phải thuyết phục ba mẹ. Mẹ khóc, mẹ trách, mẹ nói con bất hiếu. Còn con, con chỉ biết… khóc, những gì con nói ra lúc đó chẳng thể nào ngăn nổi cảm giác khổ đau của mẹ khi nghĩ rằng mình sẽ mất đi đứa con đầu lòng mà mình thương yêu.

Dù mẹ khóc như mưa nhưng đôi chân con vẫn bước, cảm nghe lòng quặn thắt. Nhưng tận sâu thẳm trong tâm hồn con lại có một niềm tin mãnh liệt rằng chỉ có con đường xuất gia này con mới có thể trả lời được những câu hỏi, những khó khăn, bế tắc trong lòng và thực hiện được ước mơ từ nhỏ: làm sao cho gia đình mình có nhiều tiếng cười hơn.

Mẹ của con – người chị cả của tám đứa em leo nheo lóc nhóc – từ nhỏ đã sớm biết giúp ông bà ngoại làm đủ mọi việc trong nhà và chăm sóc các em. Mẹ của con siêng năng lắm, chu toàn mọi việc, nhiều lúc còn phải dậy thiệt sớm nấu cơm mang ra đồng cho thợ cấy lúa nữa. Ôi, cái tuổi ăn tuổi ngủ ấy mà phải dậy sớm thì thiệt là tội nghiệp, có lúc mẹ vừa ngồi bên bếp củi, vừa thổi cơm, vừa ngủ gục, bị ông ngoại phát hiện thế là… bị đòn. Con đã được nghe mẹ kể rất nhiều về tuổi thơ cơ cực ấy. Ông ngoại khó, lời nói yêu thương ít hơn những tiếng la mắng, có lẽ đó là nguyên nhân mà đôi mắt mẹ thường buồn, hay nhìn xa xăm. Mẹ đâu được học nhiều, chỉ tới lớp ba trường làng, đủ để đọc, viết và làm toán cộng trừ nên làm sao mà không mặc cảm với chúng bạn cho được, mẹ nhỉ? Quê ngoại lúc đó còn nghèo, ở tận cùng của bản đồ hình chữ S, quanh năm người dân chỉ gắn bó với ruộng đồng, với con cá, con cua, nhà thì đông con, mẹ là chị cả, hi sinh thật nhiều.

Rồi mẹ gặp ba, chàng trai vùng đất thần kinh, về quê mẹ làm kế toán. Sau đó mẹ quyết định theo ba về tận vùng đất đỏ Long Khánh trên này chỉ mong thoát cảnh “bị đỉa đeo chân” (mẹ sợ con đỉa mỗi khi lội xuống ruộng). Và rồi ba chị em con lần lượt ra đời. Một thân một mình không bà con thân thuộc, chỉ với hai bàn tay trắng, làm sao tránh khỏi những lúc mẹ phải tự đương đầu với những khó khăn, gian nan trong cuộc sống gia đình. Nhiều lần con thấy mẹ cô đơn, mẹ khóc. Những khó khăn cứ chất chồng mà ít có người để sẻ chia, rồi như một định luật tự nhiên, chúng trào ra và mấy chị em con cùng “hưởng”.

Là chị đầu, con ảnh hưởng nhiều nhất từ những nỗi đau của mẹ. Lúc đó con giận, con buồn, con phân vân tự hỏi có lẽ mình được mẹ lượm ở đâu đó về nuôi nên mẹ mới không thương, nên mới la, đánh mình mỗi ngày như thế chứ. Trái tim con cứ xa mẹ dần, xa dần… Lớn lên, con buồn vì thấy mình vô cảm, mẹ đó mà sao thấy lòng không thương mẹ như bao nhiêu bài hát, bao nhiêu câu chuyện ca ngợi tình mẹ con thật đẹp xung quanh. Mình mâu thuẫn với chính mình quá!

Con đã từng ước mơ rằng sau này khi con lớn lên, con sẽ tìm và xây dựng cho mình một gia đình nhỏ hạnh phúc, sẽ yêu thương các con mình và không la mắng chúng nó như con từng bị ngày xưa. Ấy vậy mà lạ lắm mẹ à, con vẫn lặp lại những điều con không muốn với các em, cũng la, cũng giận, rồi các em sợ, xa con. Tại sao lạ quá vậy mẹ, mình cứ lập lại y chang những gì mà ông bà, cha mẹ mình có, mặc dầu mình không muốn, và hình như cái em bé khổ đau trong mẹ lại đang có trong con. Con buồn, con tự hỏi là mình phải làm sao để thoát khỏi em bé đó đây, làm sao cho gia đình mình yêu thương nhau hơn, tiếng cười sẽ thay thế cho những trách móc giận hờn. Con muốn tâm hồn mình được bình an, hiểu thương nhiều hơn. Ngày xưa, trước những khó khăn trong truyền thông của gia đình ngoại, mẹ đã chọn con đường ra ngoài tự lập khi còn rất trẻ. Còn con, con lại muốn mình đi một con đường mới, muốn sống vui, sống hạnh phúc hơn cho mẹ. Đó là lý do con chọn con đường tâm linh này.

Mẹ ơi, thật may mắn phước đức khi con có duyên lành được gặp Thầy và tăng thân với những phương pháp cụ thể dạy con trở về chăm sóc lại tâm hồn mình. Con tập thở, tập đi, tập ngồi yên cho thân tâm lắng dịu, học lắng nghe sâu để hiểu những cảm xúc suy tư trong mình, học nói lời hòa ái, dễ thương. Rồi tập nhận ra bao nhiêu thói quen đẹp lành mà con thừa hưởng được từ ông bà, ba mẹ, để nuôi lớn. Còn những điều chưa hay thì tập thay đổi, làm cho nó đẹp hơn. Con tập nhìn lại cuộc sống của gia đình mình trước đây, cách con tiếp nhận, cách con nói năng. Cứ thế mà đi qua bao nhiêu năm… Cho đến một ngày, sau giờ ngồi thiền cùng đại chúng về, con tiếp tục ngồi yên bên góc học, quán chiếu tiếp đề tài lúc nãy hãy còn dở dang, bỗng nhiên… con nhìn thấy một cô bé khoảng 8 – 9 tuổi đang ngồi trong lòng con và… khóc. Nhìn kĩ, con nhận ra là mẹ của mình, hình ảnh cô bé nhỏ qua lời kể của mẹ khi xưa. Nhìn em bé khóc, con bỗng giật mình khi hai hàng nước mắt cũng đang lăn dài một cách tự nhiên trên gương mặt mình. Cô bé khóc vì những khổ đau bao lâu nay bây giờ đã có người thấu hiểu, và người ấy không ai xa lạ, chính là con. Một cuộc tương phùng bất ngờ xảy ra sau ngần ấy năm, con có cảm tưởng một sợi dây vô hình giữa mẹ và con vừa được nối lại. Hạnh phúc trong con vỡ òa!

Kể từ phút giây ấy, hình ảnh mẹ trong con đã khác, con thương mẹ nhiều hơn. Biết rằng vì mẹ khổ mà chưa có cơ hội chuyển hóa nên làm con khổ lây. Bao nhiêu điều chưa nói ra được bao năm, nay con có cơ hội chia sẻ hết bằng cách nói không một chút trách móc, giận hờn qua từng lá thư con gởi về. Mẹ đọc và tiếp tục khóc. Mẹ nói lúc xưa còn trẻ, lo cơm áo gạo tiền tất bật, chưa có nhiều kinh nghiệm dạy con, lại chồng chất bao nỗi đắng cay một mình nơi xứ lạ, mẹ vô tình trút giận lên con, bây giờ biết thương thì nó đã đi xa mình rồi… Nghe mà sống mũi con cay cay…

Con tự nhủ nếu không được đi tu, chắc gì con đã chuyển hóa được những nỗi đau của mẹ và hiểu mẹ như bây giờ, mẹ nhỉ? Nhờ được học trở về lắng nghe những niềm đau, những vụng về của mình mà trái tim con mở ra, tình thương cùng sự chấp nhận cứ thế tự nhiên đến mà con không cần cố gắng một chút nào cả. Càng thực tập, càng hiểu mình, con lại càng gần với mẹ hơn. Hai mẹ con mình chia sẻ được với nhau thật nhiều điều: từ chuyện gia đình, chuyện xã hội, chuyện cuộc sống xung quanh. Con thấy mẹ vui hơn, hay cười, suy nghĩ cũng tích cực ra. Mẹ lại hay quan tâm đến những người khốn khó hơn mình, giúp được tí gì là mẹ làm mặc dầu nhà mình cũng không khá giả hơn ai. Mẹ biết quay về nương tựa năng lượng thương yêu của Đức Bồ tát Quan Thế Âm, cứ sáng sáng chiều chiều, mẹ lại thành tâm thắp nhang. Con hay gọi vui nơi đặt tượng Đức Bồ tát trước nhà mình là “góc yên bình” của mẹ, nơi mẹ hay trở về nương tựa, chia sẻ mỗi khi muộn phiền hay lo lắng bất an. Có lần con hỏi: “Vậy mỗi lúc thắp nhang, mẹ nguyện cầu gì?” Mẹ nói: “Thì cầu cho gia đình mình an vui, khỏe mạnh, cho con tu tập giỏi”.

Vậy là bây giờ mẹ không còn muốn kêu con về với mẹ như những năm đầu nữa rồi, mẹ cũng ít khóc hơn xưa. Những khi nghĩ về mẹ với bao hy sinh cho ba và tụi con, chẳng bao giờ thảnh thơi mà đi đâu lâu, cũng đâu có cơ hội đi đây đó nhìn cuộc đời rộng lớn ra sao, con lại ý thức hơn mà sống cho thảnh thơi và đi cho mẹ. Mỗi khi có cơ hội đi khóa tu, tới một vùng đất mới, con lại cố gắng mở mắt thật to, cảm nhận cho hết lòng vì biết mình đang đi luôn cho ước mơ của mẹ. Em bé trong mẹ được tung tăng, vui vẻ hồn nhiên trở lại bởi em bé trong con đang từng ngày được chăm sóc, được sống một cuộc đời mới, ý thức hơn, bình an hơn. Hai mẹ con mình như hai em bé, đang nắm tay nhau đi về phía mặt trời, nơi mà hai bên đường thơm nức mùi cỏ dại, có bướm, có hoa, có nụ cười tươi sáng cùng những bước chân thật an bình. Biết ơn vô cùng tình thương của Bụt, của Thầy, của Tăng thân để giờ đây, con có thể tiếp tục viết tiếp những ước mơ của mẹ, ước mơ tưởng chừng thật nhỏ nhoi mà khó thực hiện vô cùng.

Và bỗng nhiên con thấy cô bé nhỏ ngày xưa đang nhìn con… mỉm cười!

Con gái nhỏ của mẹ.

Cùng theo các em học hành như xưa

BBT: Làm một sư anh và cũng là một vị trú trì trẻ, thầy thực tập như thế nào để có thể làm chỗ nương tựa cho các sư em, và đồng thời làm một sư em của các sư anh lớn? Điều gì nuôi dưỡng thầy?

Thầy Pháp Hữu: Thực sự thì Pháp Hữu cũng đang học cách làm một sư anh. Pháp Hữu thấy khi làm một sư anh thì sự có mặt là quan trọng nhất. Thầy mình dạy: “Khi thương ai, món quà quý nhất mình có thể hiến tặng là sự có mặt của mình”. Tăng thân của mình rất lớn, rất khó để có thời gian riêng với mỗi người nhưng trước hết Pháp Hữu cố gắng có mặt cho các thời khóa căn bản như ngồi thiền, thiền hành, tụng kinh, tụng kinh trước pháp thoại… Các sư anh có mặt trong giờ ngồi thiền thì đã là có mặt cho các sư em và tạo được niềm tin cho đại chúng. Pháp Hữu ý thức đó là những điểm căn bản cần phải gìn giữ.

Một bài học mà Pháp Hữu học được từ Thầy trong những năm làm thị giả là sự có mặt của Thầy với đại chúng. Đây là một cái đức rất đẹp của Thầy mà Pháp Hữu hy vọng các anh chị em xuất sĩ đều học được. Trong suốt thời gian còn giảng dạy, không có một bài pháp thoại nào Thầy bỏ. Có những lúc Thầy bệnh rất nặng, đêm hôm trước sốt mà sáng hôm sau Thầy vẫn ra cho pháp thoại. Những lúc Thầy ở xóm Thượng, Thầy đều có mặt để dùng trưa với đại chúng, Thầy không bỏ một bữa cơm nào, cũng như ngồi thiền sáng và tối. Nếu Thầy không có mặt thì ai cũng có thể hiểu được là Thầy lớn tuổi, cần nghỉ ngơi, nhưng Thầy rất quyết tâm có mặt với đại chúng. Điều đó vừa nuôi dưỡng Thầy vừa là lời dạy của Thầy qua hành động cho đại chúng.

Bài học thứ hai là những khi Thầy đang làm việc, đang đọc sách hay đang viết sách mà chỉ cần thưa Thầy tới giờ dùng cơm rồi thì trong vòng hai phút Thầy có thể ngưng công việc để đi dùng cơm. Thông thường, mình rất dễ đánh mất mình trong công việc, nhưng Thầy ngưng được để có thể đi dùng cơm với đại chúng đúng giờ. Pháp Hữu thấy nhờ huấn luyện theo nguyên tắc như vậy mà Thầy tạo được sự quân bình trong sự thực tập, làm việc và tu học trong đại chúng.

Pháp Hữu nghĩ làm sư anh thì cần hy sinh một chút thời gian của mình. Khi thực tập như vậy, mình bắt đầu buông bỏ cái ngã của mình để quan tâm đến anh em. Điều gì mình làm, người kia cũng cảm nhận được vì đó cũng là một loại năng lượng. Mình có mặt để giúp cho sư em mình vượt qua khó khăn. Có những lúc mình thấy hơi mệt mỏi. Tuy nhiên, nếu mình biết chuyển hướng suy tư, hướng tâm mình về một hướng khác thì mình sẽ có một cái thấy khác. Pháp Hữu nghĩ, mình đầu tư năng lượng, thời gian đó mà có thể giúp được cho sư em vững vàng hơn, cắm rễ được sâu hơn trong đại chúng thì đó sẽ là một niềm vui  rất lớn. Mình nghĩ mình hy sinh một chút năng lượng và thời gian của mình nhưng thực ra mình cũng đang nuôi mình. Tất cả tùy vào cách nhìn của mình thôi.

Pháp Hữu cũng thấy là làm sư anh, cũng như làm cha mẹ, phải biết tưới hoa, nghĩa là phải thực sự công nhận những điểm đẹp đang có nơi huynh đệ mình. Khi thấy anh em có khó khăn, mình tới hỏi thăm, lắng nghe và làm một người bạn cho người đó chia sẻ. Thông thường, ai mà tươi mát, vui vẻ thì mình dễ gần gũi; còn ai có một chút khó khăn, khó chịu, đau khổ thì thường là mình muốn tránh. Mình có thể nói: “Mình cho người đó không gian”, nhưng có thể trong lúc đó họ thực sự cần một người bạn, một sư anh, sư chị. Mình chỉ cần tới hỏi: “Sư em đang buồn hả, sư em có cần chia sẻ ra không?”. Chỉ cần mình hé cánh cửa ra, nếu lúc đó sư em đủ can đảm và đủ tin tưởng thì có thể chia sẻ ra được. Và có thể nhờ sự chia sẻ như vậy mà sư em vượt qua được giai đoạn khó khăn của mình.

Trong sự thực tập làm sư anh, mình cũng đang tiếp tục làm sư em của các sư anh trong chúng. Pháp Hữu ý thức rất rõ cái tình của mình với các sư anh cũng quan trọng không kém, và như vậy mình cảm được mình không đứng một mình. Sẽ có những lúc mình gặp khó khăn, rất khó chịu, bức xúc, nếu mình không có cái tình với các anh em thì mình sẽ cảm thấy đơn độc, phải ôm hết một mình. Sống trong đại chúng, ai cũng có những cái rễ với mọi người. Mình cần thực tập nhận diện ra những cái rễ đó. Có những người bạn mình có thể dễ dàng tới chơi và đùa giỡn, chia sẻ. Nhưng cũng có người mình có thể tới và nương tựa trong những lúc có khó khăn. Khi thấy được đây là một đại gia đình, có truyền thông, có sự hiểu biết và tình thương, thì mình có thể buông bỏ được cái ngã của mình để cầu sự giúp đỡ từ các anh em.

Khi thực tập làm sư anh, làm y chỉ sư, Pháp Hữu cũng phải rất cẩn thận để không áp đặt cái thấy của mình vào các sư em. Mình cần phải cho các sư em không gian để thực tập chuyển hóa. Làm một người lớn, hình như mình hay có khuynh hướng đặt những mong muốn, kỳ vọng của mình vào các em. Nhưng có khi mình kỳ vọng nhiều quá, cái thấy của mình trở nên hẹp đi, mình chỉ muốn sư em theo ý của mình và không thấy được những đức tính hay mà các sư em có thể phát triển. Thực tập của mình là thực tập ý thức, cho nên mình chỉ cần chiếu ánh sáng, tưới tẩm cho các sư em một cách khéo léo và các sư em phải là người tự thấy, tự cảm nhận, để thực tập mà mình không ép các em làm theo ý mình. Mình chỉ có mặt và yểm trợ để các sư em không đi lạc đường. Nhưng chuyển hóa được hay không phần lớn là do nỗ lực tự thân của vị đó.

BBT: Trong hai năm qua, Thầy đã làm thị giả chăm sóc Sư Ông trong quá trình trị liệu sau đột quỵ, và phải xa đại chúng lớn. Khi trở về, thầy thực tập như thế nào để hòa nhập lại với đại chúng?

Thầy Pháp Hữu: Pháp Hữu thấy cái khó nhất là buông bỏ cái ngã của mình, buông bỏ cái riêng để hòa vào cái chung, hòa nhập lại với đại chúng. Pháp Hữu nghĩ: “Mình chịu cực khổ nhiều rồi, bây giờ nghỉ ngơi, từ từ rồi hòa nhập lại, từ từ rồi đi thời khóa với đại chúng”. Mình có cảm giác không ai hiểu được mình vì không ai trải qua những gì mình từng trải qua. Những tri giác đó từ từ tách mình ra với anh em, làm mình không thể tiếp nhận tình thương và sự yểm trợ của tăng thân. Mặc dù huynh đệ thương mình, tăng thân thương mình, quan tâm tới mình nhưng mình chưa chịu mở lòng chấp nhận.

Pháp Hữu tự dặn lòng cần quay về thực tập như một sa di trở lại, ngồi thiền, đi thiền, nghe pháp thoại,… tham dự những thời khóa căn bản nhất. Pháp Hữu thực tập để theo đại chúng như lời Thầy từng dạy: “Thời khóa của đại chúng là thầy mình, nhất là trong những lúc mình không biết nương vào đâu”.

Cho đến khóa tu mùa hè, các anh em mời Pháp Hữu vào ban tổ chức. Pháp Hữu nghĩ đây là cơ hội cho mình từ từ hội nhập lại, cơ hội cho mình đến với các anh chị em nhiều hơn, xây dựng lại tình huynh đệ. Rồi khóa tu người trẻ, những cái rễ của Pháp Hữu đã bám chắc hơn với tăng thân. Sự thành công của khóa tu, niềm hạnh phúc của các em trẻ cũng nhắc lại tâm bồ đề của mình, nhắc lại cho mình nhớ vì sao mình đi tu, tại sao mình có mặt ở đây, mình đang thực tập để làm gì? Pháp Hữu thấy rõ hơn sự thực tập của một vị xuất sĩ giúp được cho rất nhiều người.

Nhìn các sư em trong gia đình Cây Đan Mộc tu tập, đóng góp cho đại chúng mình cũng muốn “cùng theo các em học hành như xưa”. Nhờ đợt sóng ở phía sau đẩy mình đi tới. Và khi thực sự buông xuống cái ngã của mình, trở về làm một sa di nhỏ theo thời khoá của đại chúng, Pháp Hữu thấy tâm mình nhẹ hơn.

Thêm vào đó, Pháp Hữu đã đứng lại vai trò trú trì, và cũng rất ý thức sự có mặt, năng lượng của mình ảnh hưởng đến các sư em trong chúng. Đó cũng là một lực đẩy để mình vững chãi hơn, có mặt cho các anh em, có mặt với đại chúng. Trong lúc Pháp Hữu hướng dẫn, chia sẻ cho thiền sinh hay cho các sư em, Pháp Hữu cũng thật sự đang tự nhắc nhở mình. Nó thúc đẩy mình đi tới, giúp mình nỗ lực hơn, vững chãi hơn để đóng góp cho tăng thân và đồng thời giúp mình nhớ lại những ước muốn của mình và của tăng thân. Pháp  Hữu cũng muốn làm một vị trú trì vững. Năng lượng của đại chúng, cùng với sự cởi mở, hết lòng của các anh em giúp cho Pháp Hữu rất nhiều. Những cái rễ bắt đầu cắm lại, thấy mình tự tin hơn, nương tựa Thầy, nương tựa đại chúng và làm chỗ nương tựa cho các sư em.

Pháp Hữu thấy đại chúng đã bước được những bước quan trọng, và Pháp Hữu có niềm tin mình sẽ tiếp tục vượt qua được những trở ngại có thể xảy ra trong tương lai.

BBT: Tại Làng Mai có rất nhiều buổi họp, thầy thực tập như thế nào để nuôi dưỡng và tạo hứng khởi cho mình trong các buổi họp?

Thầy Pháp Hữu: Pháp Hữu nghĩ yếu tố đầu tiên dẫn đến sự thành công của buổi họp là người chủ tọa phải là người thích đi họp (cười). Người điều hành buổi họp phải là một người sẵn sàng đi họp. Vì nếu mình không thích đi họp, cảm thấy đi họp nặng nề thì khi chủ tọa buổi họp mình sẽ truyền năng lượng nặng nề đó cho đại chúng.

Theo kinh nghiệm của Pháp Hữu, về phần họp, có nhiều khía cạnh cần lưu tâm. Trước hết, anh chị em trong chúng phải hiểu sự quan trọng của buổi họp. Buổi họp giúp duy trì sự truyền thông của đại chúng trong lĩnh vực làm việc, cũng như điều hợp, vận hành cho một xóm, một tu viện. Họp có rất nhiều loại: họp Ban chăm sóc, họp Tỳ kheo, họp Giáo thọ, họp Sa di, họp Ban tổ chức, họp chúng,… nhưng nguyên tắc chung của buổi họp là đưa tới sự hòa hợp. Buổi họp đưa tới hòa hợp để cho nhóm, cho ban, cho công việc đó đi đến một kết quả mà ai cũng đồng ý nâng đỡ. Đó là nguyên tắc mình cần biết và chia sẻ với đại chúng.

Người chủ tọa buổi họp cần phải có sự chuẩn bị trước. Thứ nhất, phải biết đề tài của buổi họp. Mỗi đề tài mình phải nắm vững để chia sẻ cho đại chúng hiểu được và đóng góp để cùng đưa tới quyết định. Khi chuẩn bị trước như vậy, nếu đại chúng thắc mắc mình có thể có đủ thông tin để giúp đại chúng đi đến quyết định nhanh hơn. Người chủ tọa, nếu không nắm rõ đề tài thì khi đại chúng hỏi, mình không có đầy đủ thông tin và đại chúng cần phải bàn về những câu hỏi đó sẽ mất thêm nhiều thời gian. Trong thời khóa bình thường, Pháp Hữu nghĩ mình duy trì buổi họp mỗi tuần và cố gắng như thế nào để buổi họp diễn ra trong vòng một đến một giờ rưỡi. Kéo dài buổi họp quá sẽ tạo tâm lý ngán và mệt mỏi cho đại chúng.

Khi làm chủ tọa buổi họp thì trước buổi họp một ngày, Pháp Hữu thường viết sẵn đề tài để đại chúng có thể hình dung trước, có thể cùng nhìn về đề tài đó trước khi vào buổi họp. Nếu không, khi vào buổi họp, đại chúng chưa có khái niệm nào hết nên sẽ cần thời gian để suy nghĩ về đề tài đó. Thứ hai, những công việc, những đề tài nào mình chưa nắm chắc thì mình nên đi hỏi thêm thông tin trước khi trình bày. Có những đề tài khó mà mình cảm nhận không biết đại chúng có dễ dàng chấp nhận hay không thì có thể hỏi ý vài anh em trước để có thể trình bày trong buổi họp rõ ràng hơn. Những phần chuẩn bị như vậy đưa tới sự rõ ràng, càng rõ ràng thì đại chúng sẽ càng khỏe.

Trước các buổi họp, mình cần phải đọc lời quán nguyện. Sự thực tập này rất quan trọng, nhắc nhở đại chúng: “nếu trong số chúng con có người nhận thấy có sự căng thẳng, chúng con xin lập tức ngừng lại để sám hối tại chỗ và trả lại cho đại chúng không khí Ý hòa đồng duyệt”. Ở xóm Thượng, quý thầy cũng thực tập điểm này. Khi có vị chia sẻ quá lớn tiếng thì sẽ được nhắc nhở sám hối để đưa lại cho đại chúng không khí hòa hợp. Trong buổi họp, khi có sự lớn tiếng và bất hòa, Pháp Hữu thường dừng buổi họp, đợi tới ngày mai hay tuần sau mới tiếp tục. Pháp Hữu nghĩ  khi đưa ra quyết định trong năng lượng bực bội, đại chúng sẽ không thông, không hòa hợp. Một buổi họp như vậy sẽ không đưa đến một kết quả tốt đẹp.

Vị hướng dẫn buổi họp phải nhạy bén. Có những đề tài dễ dàng, không có gì trở ngại, ai cũng cười thì mình có thể xin thông qua. Mỗi vị tỳ kheo, tỳ kheo ni trong đại chúng có trách nhiệm chia sẻ cái thấy của mình, nhưng sau khi đã chia sẻ thì thực tập buông bỏ. Mình nên tránh dùng cách bỏ phiếu, bởi vì khi bỏ phiếu tức là đã chia thành hai bên rồi, đâu còn sự hòa hợp.

Người chủ tọa buổi họp phải có tâm, và cũng là một người có tình, có sự liên hệ với mọi người trong chúng. Người chủ tọa là một người đứng ở vị trí trung lập, đang nói cho đại chúng chứ không phải nói cho cá nhân mình. Mình là người ngồi chuông, mình không thể lái đại chúng theo cái muốn riêng của mình. Người cầm chuông phải lái đại chúng tới sự hòa hợp. Pháp Hữu rất vui khi có một sư em tỳ kheo nói rằng: “Sư em thích tham dự những buổi họp vì khi họp sư em cảm được sự hòa hợp của đại chúng, và khi đưa tới một quyết định thì đó là quyết định chung. Lúc đó mới thấy mình là một cơ thể”.

BBT: Chúng con kính cảm ơn thầy đã chia sẻ hết lòng những kinh nghiệm rất quý mà thầy đã và đang đi qua.

Con làm trụ trì giúp Thầy đi

Mấy năm trước, sư cô cựu trụ trì chùa Cam Lộ, xóm Hạ muốn nghỉ ngơi và tìm người thay thế. Sư cô nhờ tôi đảm trách công việc này nhưng tôi đã từ chối. Tôi có thể làm bất cứ công việc gì sư cô nhờ, nhưng gánh vác trách nhiệm này thì không. Có rất nhiều lý do khiến tôi không thích làm. Thứ nhất là không muốn mọi người đòi hỏi mình, thứ hai tôi không muốn bận rộn, làm trụ  trì bận rộn lắm. Đã bảo: “Phụng sự chúng sanh  là cúng dường chư Bụt” mà cứ thích thảnh thơi. Cũng lạ thật! Tôi thích làm một người tu có nhiều tự do và thảnh thơi. Vì thế mà tôi không muốn nhận lãnh trách nhiệm này, mặc dù vẫn thương yêu, quý kính sư cô cựu trụ trì rất nhiều.

Thầy cũng thường để ý xem tôi có sẵn sàng chưa. Tết năm ấy Thầy gọi tôi lên bói Kiều, tôi viện lý do rồi trốn. Sau đó, Thầy bảo một sư em là Thầy muốn xem thử tôi đã sẵn sàng chưa. Tôi bảo: “Em nhớ nói với Thầy là chị không sẵn sàng nhé”. Tôi muốn giúp đại chúng, giúp sư cô cựu trụ trì hết lòng bằng khả năng của mình, nhưng không muốn nhận lãnh trách nhiệm trụ trì nên cứ phải để sư cô nói hoài.

Rồi một ngày vào đông nọ, tôi dâng cơm hầu Thầy ở thất Ngồi Yên, xóm Thượng. Mấy Thầy trò dùng cơm với nhau rất ấm cúng mặc cho bên ngoài trời giá lạnh. Hôm ấy có cả sư cô Như Quang nữa. Ăn xong, Thầy bảo tôi: “Con làm  trụ trì giúp Thầy đi. Con làm được mà”. Ôi, nghe nói “làm giúp Thầy đi” là thấy lòng mình chùng xuống rồi. Thương quá! Nhưng tôi vẫn thấy mình không có khả năng, tôi lắc đầu lia lịa: “Dạ không được”.

Thầy vẫn để yên cho tôi tung tăng trong cái không gian của mình. Những gì cần mà làm được thì  tôi làm. Tự do thoải mái, hạnh phúc bình yên. Tôi thấy trời đất thật thênh thang. Thế rồi, những tháng trước khi Thầy bệnh, như tiên đoán được điều ấy, Thầy viết một bức thư cho đại chúng, xin lấy quyền của tỳ kheo và tỳ kheo ni để làm vài quyết định trong vòng vài tháng. Thường thì Thầy để cho hội đồng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni làm quyết định hết mọi chuyện, khi nào có khó khăn không giải quyết được thì tham vấn, xin Thầy chỉ dạy.

Thầy làm những quyết định đổi người đi các trung tâm. Ai cũng hồi hộp không biết khi nào thì đến lượt mình. Không biết mình sẽ đi đâu, về đâu, đến trung tâm nào…? Bình thường, khi Thầy nói, Thầy khuyên, mình còn kèo nài nấn ná, nhưng khi Thầy đã ra thông cáo bằng văn bản rồi thì phải thi hành, không ai có thể từ chối, nấn ná hay cựa quậy chi được cả.

Ngày đã đến. Giờ đã điểm. Ấy là ngày quán niệm bốn chúng tại xóm Hạ, trong giờ ăn cơm quả đường, thầy Pháp Đăng thay mặt Thầy và đại chúng đọc quyết định của Thầy đề cử tôi làm trụ trì xóm Hạ. Trưa đó tôi đau tim và đau bao tử quá không thể ăn cơm được. Người tôi run lên, mặt mày tái xám. Tôi có cảm giác như mình bị một tội lỗi gì lớn lắm vậy và phải tu thêm. Vì tôi nghĩ làm trụ trì thì sẽ chịu sự đòi hỏi rất nhiều. Trong tình thế đó, tôi không thể từ chối được. Cái uy lực và đức độ của Thầy lớn quá, tôi không thể không vâng lời. Thế rồi sau mấy ngày nằm bẹp trên giường, tôi ngồi dậy, đi lạy Bụt, cầu nguyện chư Bụt gia hộ cho tôi có đủ sức khỏe, có đủ khả năng… để làm công việc này giúp Thầy, giúp đại chúng. Khoảng hai tháng sau, Thầy ngã bệnh, mình chưa có cơ hội được ‘nhõng nhẽo’ hay than van với Thầy một lời nào, hay được nghe Thầy dạy về cách làm trụ trì. Khi Thầy bệnh nặng, tưởng như không qua khỏi, ngồi bên giường bệnh của Thầy, tôi cầu nguyện: “Cầu nguyện chư Bụt gia hộ cho Thầy qua khỏi cơn bệnh này, rồi làm gì con cũng làm hết, con sẽ làm một sư cô trụ trì hết lòng cho Thầy”.

Tôi bắt đầu làm trụ trì trong thời gian có nhiều biến chuyển như thế. Thầy bệnh nặng, ai cũng lo lắng và đau lòng, nhiều người bất an, nhiều thứ xảy ra. Chưa nói là thay đổi trụ trì cũng là một vấn đề lớn của đại chúng. Đại chúng đã quen với sư cô cựu trụ trì, người có nhiều kinh nghiệm và tuệ giác, người có nhiều tình thương ngọt ngào, có tuổi tác như một người mẹ chăm lo cho đàn con của mình, nên cũng khó để chấp nhận một trụ trì mới chưa có kinh nghiệm, chưa có đủ tình thương và tuệ giác, và đặc biệt là chưa có chất làm mẹ như tôi. Ý thức được điều đó nên tôi không đòi hỏi các chị em phải chấp nhận mình, tôi chỉ thấy thương đại chúng đang đi qua giai đoạn chuyển mình. Bên cạnh tôi luôn có nhiều chị em yểm trợ hết lòng, dù âm thầm, dù xa dù gần. Cái tình ấy thật đẹp, là chất liệu nuôi dưỡng tôi đến ngày hôm nay. Sau nhiều tháng loay hoay với vị trí mới của mình, tôi nguyện làm một sư cô trụ trì hạnh phúc, sống thật nhẹ nhàng, thảnh thơi, có nhiều không gian tự do để gây cảm hứng cho nhiều người, để ai cũng có cảm hứng làm trụ trì giúp Thầy.

Muốn cho người khác hạnh phúc, trước tiên mình phải có hạnh phúc. Không có hạnh phúc làm sao mình có thể đem hạnh phúc đến cho người khác được. Làm sao mình có thể chia sẻ cho mọi người sống nhẹ nhàng, thảnh thơi trong khi mình lại sống hấp tấp, vội vàng? Làm sao mình chia sẻ với mọi người sống cho hạnh phúc trong khi mình  lại có nhiều khổ đau? Tôi tập buông bỏ để sống nhẹ nhàng, thảnh thơi, thật bình an và hạnh phúc. Đó cũng là một lời nguyện, không phải một năm, năm năm, mười năm hay chỉ trong khoảng thời gian làm trụ trì mà là nguyện ước cho cả đời tu của tôi. Viết lời khấn nguyện đầu năm, tôi cũng nguyện như thế. Làm trụ trì cũng giống như làm một người cha, một người mẹ, một thầy giáo, cô giáo, một bác sĩ, một nhà tâm lý trị liệu, một nhà quản lý, hay chỉ đơn giản là một người em, người chị, người bạn,… đem lại sự hòa ái, hạnh phúc cho mọi người. Ai lại không muốn con mình, em mình, học sinh mình, nhân viên mình có bình an, hạnh phúc, có hiểu biết, thương yêu, có đầy đủ những phẩm chất tốt đẹp! Tôi cũng muốn xây dựng một đại chúng như thế, không phải với tính cách của một nhà quản lý mà với tính cách của một sư cô hạnh phúc.

Mình muốn người khác như thế nào, xã hội như thế nào, thế giới như thế nào thì mình phải sống như thế đó. Mình muốn xây dựng đại chúng như thế nào? Hết lòng, nhiệt tình, không so đo tính toán, không vướng bận lo âu, việc gì cần thì làm, không cần thì nghỉ, không tự hào mà cũng không mặc cảm tự ti, thường xuyên trở về với chính mình để chăm sóc sức khỏe cũng như tinh thần. Sống cho lành mạnh an vui, hài hòa và hạnh phúc, biết cảm thông, thương yêu và tha thứ. Tôi cũng đang tập sống như thế.

Tập sống cho thảnh thơi trong khi có nhiều công việc, tập buông bỏ ý kiến và nhận thức cho thật sự có tự do. Làm hết lòng mà đừng vướng bận, có thể buông bất cứ lúc nào, không nắm giữ, không hối tiếc. Biết trở về với mình để trau dồi những đức tính đẹp, biết dừng lại, buông thư để trị liệu những đau nhức trong thân tâm. Nghe có vẻ đơn giản nhưng nhiều khi không dễ thực hiện. Đôi khi, tôi cũng hấp tấp vội vàng, cũng căng thẳng lo âu. Thế nhưng tôi không nhận những ánh mắt đòi hỏi: sao sư cô lại còn hấp tấp vội vàng, sao sư cô không bước cho nhẹ nhàng thảnh thơi, mà tôi lại nhận được những ánh mắt cảm thông, hiểu thương và tha thứ, rằng sư cô nhiều việc quá.

Nhiều lúc thấy mình vụng về quá, tự nhiên miệng tôi lại lẩm nhẩm: “Thầy chọn nhầm người rồi”. Nhưng mỗi lần cái ý nghĩ ấy đi lên, tôi lại thấy áy náy rằng mình xem thường cái thấy, xem thường tuệ giác của Thầy. Thế rồi tôi lại sám hối với Thầy trong tự tâm. Hôm soi sáng cho mùa an cư, có một sư em nói: “Con cám ơn Thầy đã chọn sư  cô làm sư cô trụ trì cho chúng con…”. Tôi thấy xúc động và thấy có lỗi với Thầy vì mình cứ bảo Thầy chọn nhầm người. Tự nhiên nhớ Thầy muốn khóc.

Tôi biết là Thầy tin cậy mình, sư cô cựu trụ trì tin cậy mình, đại chúng tin cậy mình nên mới giao cho mình trách nhiệm này. Kỳ thực, tôi không thích nhưng lại không muốn biến mình thành kẻ vô ơn, bạc nghĩa. Tôi tập đón nhận trách nhiệm của mình một cách trân quý như đang đón nhận một món quà quý của Thầy trao tặng. Tôi tập buông xuống cái thích và không thích để nuôi dưỡng niềm biết ơn, để xây dựng đại chúng, xây dựng nơi này hết lòng.

Tôi rất ấn tượng mỗi khi đọc đến đoạn: “Nơi nào Bụt đi qua cũng trở thành thánh địa” trong Sám pháp địa xúc. Mỗi lần đọc đến đây, tôi lại thấy xúc động và muốn đóng góp xây dựng những nơi mình đang ở cũng trở thành thánh địa. Các sư chị, sư em tôi cũng đang làm công việc ấy. Khắp nơi quanh xóm, đâu đâu cũng thấy những bàn tay khéo léo, đầy thương yêu chăm sóc, đâu đâu cũng có những tấm lòng đóng góp xây dựng cho đời sống của đại chúng mỗi ngày mỗi hạnh phúc, an vui và phẩm chất luôn được nâng cao.

Sống đẹp thì sẽ có tiếp nối đẹp. Tôi nhớ trước khi đi ngủ, lúc nào sư em Huyền Không cũng sắp xếp những đôi dép đi trong nhà ngay hàng thẳng lối, bây giờ sư em đi rồi, nhưng sáng nào thức dậy tôi cũng thấy những đôi dép được xếp rất ngay ngắn và có chánh niệm, mặc dù tôi chưa nhận ra ai là người tiếp nối sư em Huyền Không, ai là người tiếp nối mật hạnh của tôn giả La Hầu La. Mỗi lần nhìn những đôi dép được sắp xếp ngay ngắn ấy tôi lại thấy vui, lòng rộn lên một niềm mến phục và biết ơn. Tôi thấy rất hạnh phúc.

Mấy năm trước, Thầy có viết thư pháp: “Thầy giáo, cô giáo có hạnh phúc sẽ làm thay đổi thế giới”. Một thầy, một sư cô, sư chú có hạnh phúc cũng sẽ làm thay đổi thế giới. Đạo Bụt đã và đang đi vào cuộc đời. Biết bao nhiêu người đang đến đây tu học, họ là những nhà giáo dục, bác sĩ, kỹ sư, là nhà tâm lý trị liệu, là những nhà quản lý,… Họ sẽ gây ảnh hướng lớn đến những người chung quanh và xã hội. Các bạn ở ngoài đó, tôi ở trong này, chúng ta hãy cùng nắm tay nhau xây dựng một đời sống hạnh phúc, lành mạnh để có thể thay đổi thế giới bằng khả năng và hạnh phúc của chính mình. Chúc các bạn và tôi thành công. Đạo Bụt đang đi vào cuộc đời bằng sự sống của chính mình.

Chân Hội Nghiêm

Góc mới

Lại một góc mới nữa mở ra một cách thân quen. Vẫn vậy! Cứ mỗi lần chuyển đến một nơi ở mới, điều đầu tiên tôi làm cho mình là kiến tạo một góc nhỏ bình yên. Đó là nơi tôi về với mình mỗi sớm mai thức dậy để tri ân những nhiệm mầu của cuộc sống; nơi tôi có mặt cho những riêng tư để hiểu để thương chính mình; mà cũng là nơi tôi lặng về với những khoảnh khắc tiễn đưa một ngày đi qua để nhìn lại, làm mới bản thân và hứa hẹn cho một ngày mới lý tưởng. Đi đến đâu tôi cũng mang theo bên mình một góc mới – một trú xứ an bình không thể thiếu trong cuộc đời xuất sĩ của mình. Nếu có ai hỏi: “Sống và đi qua thật nhiều trung tâm – từ Bát Nhã, đến Diệu Nghiêm, qua xóm Hạ, lên thiền đường Hơi Thở Nhẹ, rồi về xóm Mới, ở Thái Lan, nay lại có mặt ở Việt Nam, vậy thì nơi nào là nơi tôi gắn bó và yêu thích nhất?’’. Tôi sẽ trả lời một cách chân thành rằng: “Nơi mà tôi gắn bó và yêu thích chính là những góc mới này’’. Tôi đã được nuôi dưỡng, chở che, ôm ấp; tôi đã được trị liệu, chuyển hóa, lớn lên và mạnh mẽ hơn từ nơi này. Giờ phút này tôi đang ngồi nơi góc mới để viết xuống những tâm tư, vài trải nghiệm và cảm nhận của mình. Thật vui!

Đặt chân đến Tuệ Uyển, lòng tôi thật hân hoan vì có quá nhiều những đổi mới. Nhìn đâu tôi cũng tiếp xúc được với những tấm lòng, những bàn tay xây dựng – con đường lát đá, hai hàng cau chạy dài từ cổng chùa vào tới cư xá thật có duyên; nhà bếp, nhà vệ sinh, các khu hành lang đều được sửa chữa khang trang, sạch và đẹp hơn. Hai năm về trước, tôi đã từng sống nơi đây hơn 6 tháng, nên đứng trước những đổi thay này, tôi thật sự xúc động và mừng vui. Niềm biết ơn thắp sáng, niềm hạnh phúc rõ ràng, tôi thật sự trở về trong niềm an vui sâu sắc.
Tuệ Uyển nơi tôi về, một không gian tĩnh lặng và bình yên. Chùa thưa người nên thế! Chỉ có vỏn vẹn bảy tám chị em xuất sĩ cùng với chín em tập sự sum vầy trong ngôi chùa nhỏ này. Tôi thấy ấm lòng ngay sau buổi đầu tiên đến đây. Rời khung trời Làng Mai Thái Lan có đến gần 200 người, mà về nơi đây chỉ có chưa đến 20 người, vậy mà trong tôi không có một cảm giác hụt hẫng nào, vì rằng ở đây tôi vẫn bắt gặp năng lượng tu học hùng tráng, vẫn được nuôi dưỡng bởi pháp vị của Tăng thân và của chính mình. Các em tập sự với tâm ban đầu mạnh mẽ, chăm tu, chăm học, còn các sư chị thì sự tu học thể hiện tâm bồ đề kiên cố qua hơn 10, 11 năm tu tập. Tôi thả mình một cách chân thật, tự nhiên và bình thản vào lòng tăng thân.
Những buổi sáng được quét lá sân chùa, tiếng chổi cho tôi thật nhiều hạnh phúc trong từng giây phút hiện tại. Và cũng từng giây phút đó, với nụ cười và hơi thở đều đặn thân quen, tôi được mời về với những ngày tháng đầu tôi tập sự làm người xuất sĩ. Tiếng chổi đưa tôi về với con đường từ tháp chuông Rừng Phương Bối đi xuống Bếp Lửa Hồng, với khoảnh khắc tôi nâng tròn chánh niệm trong từng tiếng chổi và hành động quét lá.
“Siêng năng quét đất Bụt
Cây tuệ nẩy mầm xanh” (Thi kệ Sư Ông)
Tôi mỉm cười. Mới đó mà đã 11 năm qua rồi! Tôi đã lớn. May quá tôi vẫn còn siêng năng quét đất Bụt. Hoa tuệ tôi đã nở và đang nở trong vườn tâm, dù chưa nhiều lắm nhưng đủ để giữ gìn hạnh phúc, đủ để nuôi lớn niềm tin trong lòng, giúp tôi sống và trân quý con đường tôi đang đi.
Những hoài niệm trong trẻo, ngây ngô của thời tập sự, sa di, những ngày tháng ở thiên đường Bát Nhã nối nhau tràn về hạnh phúc. Chuỗi ngày tháng ban đầu ấy đẹp thật! Bao nhiêu hình ảnh còn lưu lại sâu sắc, thân thương. Hình ảnh của mỗi buổi sáng họp chúng vui vẻ trước cư xá Liễu Xanh, chị em cùng hát, cùng cười, vui khi được nhắc nhở – bài ca muôn thuở vẫn là để dép và phơi áo quần cho ngay ngắn, thực tập im lặng cho nghiêm chỉnh và các điểm uy nghi còn thiếu sót khác,… Hầu như hôm nào cũng có người mới ra trình diện. Ai cũng phải trải qua khoảnh khắc bối rối khi ra mắt đại chúng với hơn 150 đôi mắt hướng về mình, sẵn sàng cười với những câu nói vụng về, ngây ngô. Những tiếng cười thân thương ấy là vòng tay đón nhận, ôm ấp, nâng đỡ và bao dung. Thời sa di ấy tình huynh đệ cao vút, tâm bồ đề mạnh mẽ như không sợ bất cứ một chướng ngại nào, chỉ quyết một lòng đi tới. Tôi chợt vui mừng khi thấy mình đang được tiếp nối nơi bóng dáng các em tập sự nơi đây. Dòng chảy của Tăng thân vẫn đang tiếp tục, Bát Nhã đã hóa thân khắp chốn, tôi mỉm cười trân trọng dòng thời gian và lịch sử nối dài.
Thời gian đi qua, những đổi thay đã rèn luyện tôi, tôi thấy mình trưởng thành hơn nhiều trong từng hành xử, tư duy, tôi đơn giản hơn với cái nội tâm vốn dĩ phức tạp của mình.Tôi tự nhiên là mình với những gì tốt đẹp và cả những vụng về, khiếm khuyết vẫn đang còn đó. Tuệ Uyển, Trạm Tịch nơi tôi trở về với quê hương Việt Nam yêu thương. Tôi vẫn còn đây nguyên vẹn một tấm lòng, sẵn sàng đôi bàn tay hiến tặng. Dù rằng điều kiện ở đây còn nhiều hạn chế, nhưng lửa vẫn còn chờ khơi lại bếp lửa hồng năm xưa.
Thầy vẫn còn đó là chỗ dựa tinh thần vững chãi, cùng tăng thân tôi không có chi ngần ngại. Bạn lành đang có mặt khắp nơi yểm trợ, nâng đỡ, bảo bọc và đang cùng chúng tôi đi về tương lai. Bài hát Về Giữa Đất Trời với lời thơ sư cô Đức Nguyên và tôi viết, được hát lên trong trẻo niềm tin yêu. Con đường tu học, con đường dựng xây và phụng sự vẫn đầy hiểu thương và hạnh phúc. Tôi thấy mình và bạn bè đang vui giữa đất trời lặng yên ươm nắng.

Về Giữa Đất Trời

    Sư cô Đức Nguyên
    Sư cô Tuyết Nghiêm

Ta ở giữa đất trời

Ươm nắng hồng tinh khôi

Cho tim người ấm lại
Cho nụ cười thêm tươi
Ta ở giữa đất trời
Buồn vui một cuộc chơi
Gió thu sao vội tới
Lá rụng hoài không thôi
Ta ở giữa đất trời
Lặng yên một mình thôi
Đường này ta làm bạn
Bước này ta dạo chơi

ĐK:
Xuân đã về đây giữa đất trời
Ý xuân thêm thắm, cảnh thêm tươi
Ai hay nữ sĩ vui ngày mới
Thắm cả hồn thơ, thắm nụ cười
Ta về giữa đất trời
Trạm Tịch từng ngày vui
Nghĩa ân tròn nhịp thở
Hiểu thương hiến tặng người
Ta về giữa đất trời
Tuệ Uyển lòng tươi mới
Thương đời và thương đạo
Bạn lành khắp nơi nơi.

Gọi tên bốn mùa

Bốn mùa của hương sắc
Bốn mùa của vị thơm
Bốn mùa thay áo mới
Bốn mùa cứ xoay tròn
 
Bốn mùa của tĩnh tại
Bốn mùa của bình an
Hay bốn mùa hệ lụy
Hay bốn mùa đêm dài
 
Bốn mùa luôn có đó
Vì tôi luôn có đây
Bốn mùa luôn luôn hỏi
Bốn mùa luôn trả lời
 
Sáng nay, trời thay áo
Tuyết phủ đêm đông dài
Đưa tay vốc một nắm
Nấu trà cho ngày mai
 
Tuyết biến thành hồ thu
Trong veo không một dấu
Nước kéo thành mây bay
Lơ lửng giữa xuân này
 
Bã trà trong hai tay
Xin gieo vào lòng đất
Một chồi hoa bất diệt
Của tình thương ngọt ngào
 
Của tình thương dung chứa
Của tình thương lên cao
Của tình thương mời gọi
Của tình thương vẫy chào.

 

Bồ công anh cho mùa xuân năm tới

Mùa xuân châu Âu

Đức là một đất nước thật xinh đẹp, có bốn mùa như thể một cô công chúa luôn có bốn chiếc váy, hay như một chàng hoàng tử luôn có bốn bộ vest, ăn mặc chỉnh tề mỗi khi đi dạ hội. Nói thật chưa bao giờ tôi thấy ở đâu mà hoa nhiều như vậy, chỉ qua một đêm mà từ dưới lòng đất xuất hiện bao nhiêu là hoa, nào bồ công anh, nào thủy tiên, nào tu-lip, nào hoa cải, rồi nhiều nhiều loại hoa nhỏ li ti,… Qua đây tôi mới biết những bài thơ, những bài thiền ca Thầy làm không phải là tưởng tượng. Những hình ảnh như “Bụt là lá chín, Pháp là mây bay”, “thở vào hoa nở, thở ra trúc lay”, “trời xanh mây trắng là đây”, hay “núi tuyết in nền trời và nắng reo phơi phới”, rồi “đất hồng như môi son bé thơ”, “qua ngõ vắng lá rụng đầy”,… đều là có thật hết. Khi mới qua đây, tôi nói đùa “mình không dám đi nhanh, vì đi nhanh quá thì hơi vô tình với những bông hoa đang nở dưới chân mình”.

Đi gặp Đôn Ki-hô-tê

Chưa hết kinh ngạc về mùa xuân nước Đức, chúng tôi lại có cơ hội được đi ngắm hoa ở Hà Lan bốn ngày. Qua đây chúng tôi được nghỉ tại trung tâm thực tập của một tăng thân địa phương. Trung tâm nằm ở ngoại ô, xung quanh là cánh đồng  lê, táo, mận đang nở hoa trắng xóa. Ấn tượng mà  tôi không bao giờ quên là ngủ trên một gác xép, phía trên nóc của ngôi nhà, giường tôi nằm cạnh cửa sổ, một cửa số toàn là kính. Cái cảm giác ngủ trong căn phòng đó làm tôi rất hạnh phúc. Hồi nhỏ tôi có xem những bộ phim về châu Âu, và luôn thích hình ảnh của những căn phòng như vậy. Nó có vẻ như một thiên đường riêng mà lũ trẻ con thường hay nghe kể chuyện phiêu lưu của thuyền trưởng Sinbad trước khi đi ngủ. Vào nửa đêm tôi có thể nhìn lên bầu trời và tha hồ thưởng thức theo cách mà tôi đã tưởng tượng khi còn bé.

Những ngày ở Hà Lan là những ngày rất lạnh, có những đêm có mưa đá. Lần đầu tiên trong đời nhìn thấy cảnh này, tôi bèn mở cửa sổ nhặt một ít đá ăn thử, mặc dù ngoài trời đang mưa rất lớn. Những ngày sau đó tôi được đi thăm cả một công viên toàn hoa tu-lip, tu-lip đủ màu, đủ kích thước, đủ chủng loại. Hôm sau đi thăm cối xay gió, xe tới nơi thì trời mưa lớn và không khí lạnh buốt, nên chỉ nhìn được qua cửa kính. Tôi hỏi thầy Pháp Xả – người Hà Lan, đang lái xe: “Thầy có biết ông Đôn Ki-hô-tê không, cái ông mà đánh nhau với cối xay gió ấy?”. Thầy cười và cũng không biết ông Đôn Ki-hô-tê theo cách phát âm tiếng Việt của tôi. Tôi nhìn xa xa và ước gì trời không mưa để tôi thử xuống làm Đôn Ki-hô-tê Việt Nam mà không được.

Mùa hè Học viện

Mỗi năm, vào mùa hè, ở Học viện (tên gọi đầy đủ là Viện Phật học Ứng dụng châu Âu) thường tổ chức hai khóa tu lớn: khóa tu dành cho người nói tiếng Đức và khóa tu cho người nói tiếng Hà Lan. Mặc dù không có Thầy, nhưng chúng xuất sĩ từ các xóm của Làng Mai vẫn qua để giúp Học viện tổ chức và hướng dẫn khóa tu. Với sự có mặt của các vị giáo thọ lớn và hơn 100 vị xuất sĩ nên năng lượng rất hùng hậu. Người Đức tới rất đông, họ dẫn theo cả gia đình đủ mọi thành viên, từ già cho đến em bé vài tháng tuổi. Những chiếc lều đủ màu dựng ngay trên bãi cỏ đồi táo. Ban tổ chức sắp xếp chỗ cắm lều dành cho người độc thân, dành cho gia đình, cho tình nguyện viên, mọi thứ đều ngăn nắp và sạch sẽ vô cùng. Có vài trăm người cùng cắm lều trên đồi táo nhưng tôi có cảm giác họ đang đi ngủ đông vậy, luôn luôn giữ im lặng và ý thức về sự có mặt của người bên cạnh.

Khóa tu này tôi có giúp làm DVD, thực tình đây không phải là lĩnh vực của tôi, nhưng vì thiếu người nên tôi phụ giúp. Một thầy quay phim, một thầy làm CD, và tôi làm DVD. Ban đầu hơi trục trặc kỹ thuật, bởi vì tôi nghĩ tôi chỉ phụ thôi, ai dè lại làm chính cho DVD. Một thời gian khá dài không làm nên tôi quên rất nhiều, thử đi thử lại mãi, có lúc mấy thầy trò mày mò tới khuya mà chưa được. Tôi định bỏ cuộc và chấp nhận những gì đang có, thôi chỉ có CD vậy, nhưng các thầy trong nhóm luôn kiên nhẫn mày mò làm tới cùng, cuối cùng khóa tu Hà Lan cũng có DVD. Tôi cảm thấy rất vui khi làm việc với hai thầy trong đội này, một vị thì luôn nhẹ nhàng từ tốn, nói tôi có thể làm những gì có thể, giúp cho tôi học được sự buông bỏ. Còn một thầy giúp tôi học được bài học của sự kiên nhẫn và không khuất phục trước những thử thách.

Trong khóa tu này, tôi còn được nuôi dưỡng bởi những em bé người Đức và Hà Lan. Các em người Đức thì lên đồi nhặt táo rụng, các em bé người Hà Lan thì nhặt sỏi về rồi vẽ lên và các em bày ra bán cho các vị thiền sinh trong khóa tu. Mỗi buổi bán hàng xong, các em ngồi vòng tròn đếm lại  số tiền mình đã thu được và sau đó các em mang số tiền đó đến sư cô Chân Không đóng góp cho chương trình Hiểu và Thương giúp trẻ em nghèo Việt Nam. Những hình ảnh này đã đi sâu vào tâm thức tôi. Tôi thấy hạt bồ đề đã gieo vào các em, chỉ qua những hành động rất đơn giản mà bố mẹ và môi trường đã cho các em có cơ hội đó.

Hình như thu đã về

Khi thấy táo và lê trên đồi chín là biết mùa thu đang tới. Trên đồi Học viện có cả trăm cây táo, lê, mận, sai trĩu quả. Ngày trước, khi ở Hà Nội nghe những bài hát về mùa thu làm tôi phải xao xuyến “Hà Nội mùa thu, cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ…” thì sang Đức tôi thấy một vùng trời chỉ toàn màu vàng. Vàng cả thành phố, lá vàng ngập cả đường đi, lá vàng bao trùm khắp mặt đất. Sắc thu làm cho hồn mình cũng lắng đọng và êm đềm đến kỳ lạ. Phải chăng khi tâm mình lắng đọng mình cũng có thể thấy rõ mình hơn như hồ nước mùa thu kia vậy.

Hồ thu làm cho tôi nhớ tới mấy câu thơ của cụ Nguyễn Khuyến:

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo”.

Tôi cũng tranh thủ đi chụp lại những khoảnh khắc này. Những ngày này ban chăm sóc có tổ chức  đi bộ ngắm lá thu và vào rừng hái nấm. Nhưng thật tiếc, năm nay mưa ít nên không có nấm, anh chị em vào rừng chơi, ngắm lá thu, quả thật đó  là những kỷ niệm đẹp, nó đã đi vào thiên thu. Mùa này cũng là lúc tri cây cảnh của tôi chuyển từ chăm cây sang cào lá. Lá rụng nhiều quá, đến nỗi tôi nói đùa “làm sao mà cào cho hết được lá mùa thu”.

Đông sang hoa tuyết ngập lưng trời

Tôi nhận ra đông sang qua một đêm trời đất thay áo mới, tuyết trắng phủ kín. Mấy hôm trời lạnh tuyết cũng lất phất rơi như mưa phùn ở xứ ta vậy, 

nhưng nó cũng đủ cho mấy anh chị em mới qua thích thú. Nhưng chỉ sau một đêm là tuyết đã về ngập cả lối đi, chẳng ai ngờ tới. Nó làm cho chúng tôi vô cùng sửng sốt, kinh ngạc và hạnh phúc tột cùng.

Đêm đó tôi thức cũng khá muộn, khoảng 11 giờ thì đi ngủ, tôi cũng chưa vào giấc hẳn thì bất ngờ, khoảng 12 giờ, có người kéo chân tôi. Tôi mở mắt ra thấy bóng người lờ mờ, nhìn sang giường bên thấy sư anh cùng phòng vẫn đang ngủ, cửa phòng thì vẫn đóng. Đêm hôm ai vào phòng mình mà làm gì, ngay lúc đó tôi nghĩ tới ma. Như một phản xạ tự nhiên, tôi hét lên một tiếng cả tăng xá phải nghe thấy, vài giây sau tôi nhìn kỹ lại thì là người, cái bóng đen kia bắt đầu thều thào lên tiếng: “Dậy, dậy, tuyết rơi trắng xóa kìa”. Lúc đó tôi chẳng còn nhớ tới ma, hay người gì nữa, tôi vùng dậy, mặc áo đi ra ngoài ban công xem có gì hay ho mà đêm hôm khuya khoắt gọi nhau thế. Ra tới nơi thì gặp hai thầy phòng bên cũng đang ngắm tuyết, hai thầy nhìn tôi cười vì tiếng hét vừa rồi.

Nhìn ánh sáng của tuyết phản lại vào bóng đèn điện trong hành lang, tôi hết sức kinh ngạc vì chỉ vài giờ trước vẫn còn nghe thấy tiếng lá xào xạc của mùa thu rơi xuống bờ tường, thế mà giờ đây thay đổi tới chóng mặt. Trước mắt tôi chỉ một màu trắng, màu trắng của tuyết làm cho đêm đông dường như sáng hơn, và có thể nhìn thấy rõ mặt nhau khi đứng gần. Tôi mở cửa bước ra mà tuyết rơi đầy trên áo. Hành lang đi xuống tuyết đã phủ kín cả chục centimet. Tôi lấy chân giẫm lên, tuyết in hình dép, tay sờ vào lan can, tuyết lạnh buốt. Tôi ngắm nghía một lúc rồi về phòng ngủ để sáng mai dậy sớm đi chơi tuyết.

Sáng hôm sau, ai nấy đều diện giày tuyết để xuống ăn sáng, nhìn ai cũng khăn mũ kín mít, vừa ăn sáng xong là anh em tôi lấy tuyết ném nhau, đủ mọi tư thế để tận hưởng cái món quà có một không hai này, nằm, ngồi, lăn, trượt,… Lúc này chẳng ai sợ lạnh gì hết, chúng tôi không quên chụp ảnh để “khoe” mấy anh em trong gia đình xuất gia của tôi đang ở Thái. Nhóm các sư cô, cầm dù đủ màu sắc rồi đi thẳng lên đồi táo chụp hình, rồi bắt đầu hát, múa, quay phim, tôi nhìn mà không nhịn được cười. Có lẽ khi con người ta tiếp xúc được với cái đẹp chân thật, tâm hồn họ sẽ trong sáng và hồn nhiên hơn bao giờ hết.

Chuẩn bị tới Noel, không khí ở đây cũng rất rộn ràng, kết hoa, treo đèn, giống như mình đón Tết. Tôi tưởng tượng tới cảnh cả gia đình quây quần bên nhau ăn tối, một không khí gia đình thật ấm áp. Ngoài trời tuyết vẫn rơi, nhưng trong nhà có trà, có bánh, có lò sưởi đỏ, có mâm cơm nóng, có mặt cho nhau, như vậy đâu còn sợ gì mùa đông băng giá.

Mỗi lần nhìn lại, mỗi lần mới tinh

Ở đây có bốn mùa thay lá, bốn mùa của màu sắc, bốn mùa của giao cảm đất trời. Mùa nào cũng có nét riêng của nó, ví như mùa đông có tuyết thật đẹp, nhưng lại không có mặt trời, nhiều lúc người ta thèm vài tia nắng để sưởi cho ấm, người ta thèm cảm giác đi dạo, ngồi trên bãi cỏ ngoài trời. Nhưng nhìn cho sâu thì chúng lại có đặc trưng riêng của chúng. Nếu mình biết tận hưởng thì mùa đông tới mình sẽ không còn sợ lạnh lẽo, không còn muốn đông mau kết thúc để đón xuân sang, nhìn hoa nở, nghe chim ca, hay nghĩ tới mùa hè ngập tràn bởi nắng. Mỗi thứ đều có một dấu ấn riêng, mà nếu thưởng thức được thì chúng có mặt bên nhau thật gần.

Tu học cũng vậy, cũng giống như thưởng thức bốn mùa: “khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên”, có khi nhặt chiếc lá thu đỏ ối, có lúc vốc một nắm tuyết trên tay. Tôi cảm nhận theo cách chúng đang biểu hiện và theo cách tôi đang quán chiếu. Nhiều khi khổ đau có mặt, cũng giống như nắm tuyết mùa đông, nhưng tôi có thể cầm nó trên tay, mang về nấu trà để làm ra đám mây mùa hạ, chén trà nóng trên tay như chiếc lá mùa thu, và bã trà tôi đổ xuống đất sẽ sinh ra những bông hoa bồ công anh cho mùa xuân năm tới.

Mùa xuân của sang năm tôi vẫn thấy nó đẹp, vẫn gốc anh đào đó, vẫn thảm bồ công anh đây, nhưng chúng lại đẹp theo một cách mới, chúng vẫn làm tôi tỉnh giấc mỗi khi đi thiền hành. Mùa hạ sang năm tôi vẫn thưởng thức được những trái lê giòn tan, từng quả anh đào (cherry) ngọt lịm. Hay mùa thu tới tôi vẫn đi dạo, ngắm lá thu bay, ngắm từng đàn vịt trời đang bơi lội trong hồ thu trong vắt. Mùa đông tôi vẫn thấy đông đẹp quá chừng, tôi vẫn vốc từng nắm tuyết trên tay mà xuýt xoa kêu lạnh. Sự tu học sợ nhất là mình luôn thấy nó cũ, luôn thấy nó cứ vậy mãi hoài hoài, đông năm trước chẳng khác gì đông năm nay. Chính vì thế mà mình làm mình khổ và người thương mình khổ. Sự thực tập “mỗi lần nhìn lại mỗi lần mới tinh” rất sâu, chỉ có năm tháng tu học mình mới cảm nhận được.

Nhà bếp cũng là thiền đường

Sư cô Diệu Nghiêm (thường được biết đến là sư cô Jina), người Ái Nhĩ Lan, quốc tịch Hà Lan, xuất gia trong truyền thống Thiền Tào Động ở Nhật Bản năm 1985. Sư cô được thọ giới lớn và được Sư Ông Làng Mai truyền đăng năm 1992. Là một sư chị lớn trong tăng thân, sư cô luôn nuôi dưỡng các sư em bằng sự tươi mát, vững chãi và tình thương đầy bao dung của mình. Sư cô hiện đang tu tập tại xóm Hạ, Làng Mai.

Tôi xin chia sẻ kỷ niệm về một mùa An cư kiết đông trong những năm đầu của Làng Mai. Một trải nghiệm đã tạo cho tôi nguồn cảm hứng cho tới ngày hôm nay. Tôi nhớ đó là mùa đông năm 1991. Năm đó, Thầy thường hay cho pháp thoại trong nhà ăn, cái nhà ăn cũ của xóm Hạ.

Chắc có vài vị cũng biết nhà ăn đó như thế nào. Nhà ăn có một lò củi lớn và Thầy thường ngồi sau bàn gần cái lò củi đó, còn chúng tôi thì ngồi trên những hàng ghế đối diện với Thầy.

Hồi đó, chúng tôi phải nấu ăn trong một góc của nhà ăn; cắt gọt trên một cái quầy có bồn rửa bát, còn bếp lò thì ở phía sau. Phòng ăn không rộng lắm, và điều đặc biệt là chúng tôi phải nấu ăn trong lúc Thầy đang cho pháp thoại.

Hồi đó, đội nấu ăn có rất ít người và đội của tôi thì gồm có hai người là tôi và… tôi. Hôm ấy, chúng tôi phải nấu ăn cho ngày quán niệm, có tất cả là 45 người. Đó thật là một thách thức cho một đội chưa bao giờ từng nấu ăn cho quá sáu người.

Thầy đang giảng trước phòng ăn, còn tôi thì đang ở trong góc, cắt gọt và nấu nướng trên bếp. Tôi phải làm việc thật yên lặng để không làm phiền Thầy. Và phải thật sự có mặt với công việc mình đang làm: cắt gọt, thở, rửa bát và… rửa nồi. Chuyện khó nhất là tôi phải đi từ cái góc bếp tới chỗ rửa nồi ở phòng kế bên, nghĩa là… phải đi ngang qua Thầy!

Tôi bê cái nồi, đi một cách thật chánh niệm, ý thức từng bước chân và hơi thở của mình để đi sang phòng kế bên rửa nồi. Phòng này không có cửa ngăn nên từ nhà ăn người ta có thể nghe được hết những gì đang xảy ra bên này. Rửa nồi xong tôi đi trở về và tiếp tục nấu ăn.

Bầu không khí thật nhẹ nhàng và tôi có mặt hoàn toàn với công việc mình đang làm. Sau buổi pháp thoại, Thầy đi thẳng tới cái quầy tôi đang nấu ăn và nói: “Sư cô Jina là một đầu bếp giỏi!”. Tôi nhìn Thầy ngạc nhiên. Thầy chưa từng thử món ăn tôi nấu bao giờ, làm sao Thầy biết tôi là đầu bếp giỏi hay không? Thầy cười thật tươi với tôi và tôi hiểu ngay. Tôi biết rồi! Thầy không ám chỉ mùi vị của những món ăn tôi nấu mà Thầy muốn nói tới cách thức tôi nấu ăn và đi đứng.

Tuy đó không phải là ngày duy nhất mà tôi nấu ăn nhưng là ngày nấu ăn duy nhất mà tôi còn nhớ. Nấu ăn với sự có mặt của Thầy, tôi cảm thấy mình không nấu ăn một mình. Tôi ý thức sự có mặt của Thầy và được lợi lạc từ năng lượng chánh niệm của Thầy. Đó là một trải nghiệm thật tuyệt vời!

Lúc tôi xao lãng, gây tiếng động trong khi đi đứng thì tôi nhớ lại buổi nấu ăn hôm ấy. Đó là một tiếng chuông chánh niệm, giúp tôi đem tâm trở về với thân để có thể ý thức hơn về từng cử động của mình.

Thầy có mặt nơi nào là nơi đó năng lượng chánh niệm có mặt. Tôi nhớ có lần vào khoảng năm 1996 hay năm 1997, tất cả các sư cô về sống chung với nhau ở xóm Mới. Và thỉnh thoảng Thầy có đến ăn cơm với chúng tôi. Một hôm, khi đi vào phòng ăn, bỗng nhiên tôi cảm nhận trong phòng ăn có một năng lượng rất đặc biệt. Khi các sư cô từ những hướng khác nhau đi đến phòng ăn, ai cũng mở cửa và đóng cửa trong chánh niệm. Mọi người đều ăn và đi đứng có chánh niệm, một cách đặc biệt. Tôi dừng lại, nhìn chung quanh và thấy Thầy đang dùng cơm trưa ở một góc phòng ăn. Buổi chiều, tôi chia sẻ điều đó với Thầy, Thầy hỏi: “Sư cô nghĩ gì về điều này?”. Tôi không trả lời Thầy nhưng để thì giờ quán chiếu về điều đó.

Sự có mặt của Thầy làm phẩm chất chánh niệm trong tôi tăng lên. Tôi nghiệm ra rằng: nếu sự hiện diện của Thầy giúp cho tôi có mặt nhiều hơn trong những công việc mình đang làm thì tại sao tôi không mời Thầy về trong khi mình đi tới thiền đường mỗi buổi sáng, trong khi mình ăn cơm trưa hay trong khi mình ngồi thiền? Như vậy thì bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, tôi cũng có thể thừa hưởng được năng lượng chánh niệm từ sự có mặt của Thầy.

 

 

Tết Thầy

Ngày về

Nếu cần lấy một sự kiện để ghi nhớ cho năm nay đó chính là sự kiện này: Sư Ông về Thái. Không năm nào là không đầy sự kiện, năm này cũng thế, cũng rất đầy và có vẻ như những năm càng về sau thì càng đầy. Nhưng sự kiện này là ngoại lệ, là nằm ngoài các tính toán sắp đặt và nằm ngoài mong ước của mọi người. Đó là một quyết định lớn, một quyết định đặt tất cả các quyết định trước đó của tất cả những ai liên quan vào chỗ bị động. Nhưng đó là một sự bị động tích cực.

Thế nào là một nhân cách lớn? Có phải đó chính là sự ảnh hưởng tích cực của nhân cách ấy lên những nhân cách khác một cách sâu rộng và lâu dài? Sư Ông là một người có nhân cách ấy.

Cái Tết chỉ đến một lần

Hàng mộc già ngoài hiên đồng loạt trổ hoa từ mấy hôm nay. Chưa bao giờ cây mộc trắng tinh ngập hoa như lần này. Trăng non mong manh qua lớp mây mỏng phủ lên không gian thơm tho kỳ diệu này thêm một tầng kỳ ảo thơm tho nữa. Cửa sổ rộng mở ngay sau lưng cho tôi cảm nhận được trọn vẹn sự ảo diệu tinh khôi ấy. Về đây, bạn sẽ được đón tiếp bởi ánh trăng ấy, bởi hương mộc ấy và đặc biệt hơn cả là bởi cái không khí đoàn viên như Tết này.

Một cái Tết sớm mà lại là một cái Tết được mong đợi hơn bất cứ một cái Tết nào. Bởi vì đơn giản rằng đây không phải là một cái Tết cứ mỗi năm lại đến mà là cái Tết chỉ đến một lần. Quyết định về Thái Lan của Sư Ông mang đến cái Tết chỉ đến một lần này.

Một cái Tết bình thường không thể nào có được không khí chuẩn bị rộn ràng và hết lòng như cái Tết đặc biệt này. Đại chúng làm việc hết công suất. Không phải là hai thời như khóa tu chấp tác, cũng không phải ba thời như lúc Bát Nhã đón Sư Ông năm 2007, chỉ một thời thôi: đã bắt đầu và hãy còn chưa kết thúc. Tất cả tài lực, nhân lực, năng lượng, thời gian và tình thương đều đang quay về biển lớn của niềm vui phụng sự. Đây thực sự là một món quà tuyệt diệu mà cái Tết đặc biệt này hiến tặng cho mọi người. Không có ai đứng ngoài cái Tết này. Nói cách khác, cái Tết này ôm được hết tất cả vào lòng. Do đó, mới gọi là Tết Thầy, vì trong lòng Thầy luôn có chỗ cho tất cả mọi người.

Thất Nhìn Xa đang được “lật tung” lên. Nói đúng nghĩa đen. Phòng ngủ, phòng ăn, phòng uống trà, phòng tập, phòng tắm, phòng bếp, phòng thị giả, cầu thang, tầng hầm, vườn cây, lối đi,… đều đang được xây dựng lại. Một thất Nhìn Xa mới đang chuyển mình để đón Sư Ông. Không phải chỉ  có thất Nhìn Xa, tất cả các con đường trong tu viện cũng đều đang bị “lật tung” lên. Từ xe ủi, xe múc, xe lu, xe tải, xe thùng, xe bê tông, xe phun nước, xe cẩu,… cho đến xe đạp, xe rùa đều đang hoạt động hết công suất.

Xóm Trời Quang, xóm Trăng Tỏ cũng đều được “xới tung” lên. Hơn 100 anh chị em xuất sĩ sẽ tới trong mấy ngày tới. Chưa hết, gần 200 cư sĩ cũng sẽ tới trong mấy ngày này. Cửa nhà phòng ốc đều phải được sắp xếp lại.

Lòng mỗi người cũng đang được “xới tung” lên. Thầy về đó, là thật, đúng là thật. Hầu hết đại chúng đều chưa được gặp Sư Ông từ mùa Xuân 2013, nghĩa là đã gần 4 năm, trong đó có hơn phân nửa là chưa từng được gặp Sư Ông lần nào. Ai mà không muốn được một lần thăm Sư Ông, đặc biệt là các em chưa từng được gặp Sư Ông, cái mong muốn ấy lại càng thiết tha bồng bột. Nhưng sức khoẻ của Sư Ông đã như thế, khoảng cách địa lý lại như thế, chúng lại đông như thế, thực sự là không có ai muốn nuôi nỗi hy vọng mong manh ấy. Thế nhưng nỗi vô vọng kia trong phút chốc bỗng trở nên vô nghĩa khi sự hiện diện của Sư Ông tại nơi này đang được đếm ngược bằng giờ và là một sự thật đã không thể không thành. Những mảnh đất tâm hồn vô vọng được phá toang, được xới cày tới tận gốc rễ và những mầm non của hội ngộ đoàn viên đang lớn dậy từng giờ. Lòng tôi cũng được xới tung. Lòng bạn cũng được xới tung. Đúng là một cái Tết lạ lùng.

“Với mảnh chân tâm đợi Người”

Những mảnh chân tâm chờ đợi ấy sáng nay lúc mười giờ đã hòa vào nhau trở thành một khối  yêu thương rộng lớn. Buổi sáng, nắng chia sân trước thất Nhìn Xa thành hai nửa đậm nhạt nhưng những mảnh lòng thành của mấy trăm con người đứng bên nhau giữa sân lại hòa quyện vào nhau thành một thể hùng vĩ uy nghiêm. Khi chiếc xe chở sự chờ đợi ấy tiến vào khoảng sân, sự chờ đợi ấy bỗng đồng loạt vụt tắt, nhưng thay vào đó, một biển sóng lặng thinh cuồn cuộn dâng lên trong từng ánh mắt rực sáng thương yêu. Tiếng hát “đã về đã tới” được ai đó khởi xướng đúng lúc và cũng được đại chúng hòa vào đúng lúc, hùng tráng và thân thương. “Chưa bao giờ hát bài ‘đã về đã tới’ mà cảm thấy đã như sáng nay” – một sư chú đã nói như thế khi trở về tăng xá.

Sư Ông được đưa xuống xe bằng cửa sau. Hai thị giả bồng Sư Ông từ trên xe xuống chiếc xe lăn nhỏ đã được chuẩn bị sẵn bên dưới. Đại chúng bao bọc một vòng chung quanh rất ấm cúng và đã có nhiều tiếng nấc xen trong những tiếng hát, đã có nhiều giọt ngọc tan vào những hạt nắng. Những bàn tay búp sen nơi trái tim và những dòng sáng tinh khôi từ đôi mắt đều đã hướng về người ngồi trên chiếc xe lăn đang được các vị thị giả đưa vào hiên thất Nhìn Xa.

Tôi đứng ngay cửa xe khi cửa mở, tôi đứng ngay lưng vị thị giả khi nâng chiếc xe lăn. Bỗng cánh tay trái của Sư Ông giơ cao, một ngón tay chỉ ngược lại hướng đi lên thất. Vị thị giả nào đó nhận ra rồi nhanh trí nói lớn lên rằng “Sư Ông muốn thăm đại chúng”. Vừa kịp thấy ngón tay, vừa kịp nghe tiếng nói là cùng lúc đó bàn tay của Sư Ông đã đưa lên cố lấy mũ ra khỏi đầu. Chiếc xe quay lại nhìn về phía đại chúng vẫn đang chắp tay quy hướng chân thành. Cái quay lại và đặc biệt là cái đưa tay lấy mũ ấy không hiểu sao lại làm tôi nghẹn cả cổ họng và nóng nhòe hai mắt. Nhưng tôi kịp an tịnh hơi thở và đã thưởng thức được trọn vẹn khoảnh khắc nghẹn ngào ngọt lịm ấy. Một khoảnh khắc nhiệm mầu của im lặng. Niềm vui đoàn tụ ngời sáng và sâu lắng trong một khoảng lặng vô tận vô cùng.

“Sư Ông bị trúng gió, xin Sư Ông lên nghỉ rồi sẽ thăm đại chúng sau”, tiếng một vị thị giả cất lên và chỉ một cái nhìn, các vị thị giả hiểu ngay là mình được phép. Chiếc xe được bốn vị nâng lên cầu thang rồi đưa vào phòng nghỉ trên thất. Biển người chầm chậm giãn ra trong không gian rộng lớn của thất Nhìn Xa rồi lặng lẽ tan vào buổi sáng đoàn viên uy nghiêm hùng tráng.

Tết rồi đó, Thầy về rồi đó.

Vừa được cạo gió xong là Sư Ông đã muốn đi thăm đại chúng! Sư Ông đã thăm rồi, vì đã luôn ngự trị nơi từng mảnh chân tâm ấy một cách vô cầu vô nguyện mà bất tận bất tuyệt.

“Thế nào Sư Ông cũng sẽ ở Thái Lan dài lâu”. Đó là mong muốn của tất cả mọi người ở đây nhưng khi được một sư chú nói ra với chữ “thế nào” hùng biện ấy thì ai cũng thấy vừa thỏa mãn vừa tò mò. “Vì sao lại ‘thế nào?”. Sư chú trả lời rằng vì thiên nhiên và con người ở Thái Lan sẽ làm cho Sư Ông khỏe hơn và bởi vì Thái Lan có thể làm cho Sư Ông trị liệu tốt nên Sư Ông sẽ ở lại Thái Lan lâu dài. “Nhưng nếu sức khoẻ của Sư Ông không tốt hơn khi ở Thái Lan thì sao?”. Câu hỏi rất khó. Tưởng rằng sư chú sẽ chịu thua nhưng không ngờ chữ “thì” của sư chú đáp lại chữ “nếu” khó khăn ấy là một chữ “thì” rất đặc biệt: “Thì Sư Ông sẽ không đủ sức để về Pháp và do đó Sư Ông thế nào cũng sẽ ở lại Thái Lan lâu dài”. Đúng là một chữ “thế nào” rất “hùng biện”, sự hùng biện của một tình yêu thương chân thành!

“Mặt tận mặt, lòng tận lòng”

Tiếng hát từ hiên trà tăng xá vẫn còn vang vang trong đêm trăng. Mấy phút nữa thôi chuông chỉ tịnh sẽ được thỉnh lên và niềm vui rộn ràng nhộn nhịp ấy sẽ được nhường chỗ cho niềm vui lặng lẽ, nhẹ nhàng.

Chiều nay tôi và thầy Pháp Niệm được lên thất Nhìn Xa thăm Sư Ông. Thị giả cho biết là Sư Ông không khỏe mấy và lại đang bị đau nhức. Vào phòng, thấy Sư Ông nằm bất động, tiếng thở tuy đều nhưng vẫn không giấu được sự đau nhức. Nhìn chân phải của Sư Ông co duỗi được, tôi thấy một niềm vui nhen nhóm trong lòng tuy biết rằng sự tiến triển đó được đo bằng những cơn đau của Sư Ông. Bỗng Sư Ông quay đầu, mở mắt nhìn. “Bạch Sư Ông, con là Pháp Niệm và Trung Hải”, thầy Pháp Niệm thưa khẽ. Sư Ông gật đầu hai  cái cũng rất khẽ nhưng mắt đã mở to hơn và nhìn thẳng với trọn vẹn sự tinh anh. Thầy Pháp Niệm quỳ phía cuối giường đưa tay bóp chân cho Sư Ông, tôi cũng tiến lại quỳ sát mép giường trong khi mắt vẫn không rời ánh nhìn từ ái, yêu thương, quyến luyến và thỏa mãn của Sư Ông. Bỗng Sư Ông đưa cánh tay trái ra một cách rất dứt khoát rồi ôm đầu từng đứa con vào lòng một cách nhẹ nhàng, âu yếm như những ngày xưa. Tôi đã rất cảm động và đã lưu giữ được cảm thọ đặc biệt ấy bằng những hơi thở trọn  vẹn ngon lành nhất. Sư Ông lại nhắm mắt nghỉ ngơi, hai anh em im lặng bóp chân cho Sư Ông một lúc rồi Sư Ông mở hẳn mắt ra nhìn và lần này Sư Ông đã cho người đối diện thấy rằng trong cái nhìn ấy vẫn còn đầy đủ sự tinh anh và uy nghiêm của một bậc tôn sư.

Sư Ông cười nhiều lần chiều nay và đã có lần cười ra tiếng. Thị giả rất vui và mấy em trong phiên trực ấy sau đó đã nói rằng niềm vui của Sư Ông chiều nay rất khác, bên cạnh nét tươi tắn còn có cả sự thỏa mãn của một nỗi mong chờ nào đó đã lâu không tìm thấy.

Được nhìn thẳng vào đôi mắt tinh anh từ ái mà uy nghiêm hùng vĩ của Thầy trong một khoảng cách gần bằng không như chiều nay là một niềm vui rất lớn, và lớn hơn cả khi  lòng mình được ánh mắt ấy đón nhận một cách trọn vẹn. Nhiều năm rồi không được trực tiếp hầu Sư Ông nhưng hai lòng vẫn như thể chưa từng xa cách.

“Trời cao, trăng vẫn thênh thanh như thuở trước,
Lòng sâu, người mãi tự tại tới ngàn sau
Tròn khuyết thăng trầm vẫn mãi còn nhau.
Mặt tận mặt, lòng tận lòng. Tri kỷ!”
Những trăn trở dịu dàng

Khi lòng rộng rãi và biết trân trọng sự có mặt của những người bạn tu chung quanh, đời tu bỗng nhiên trở thành một cuộc hẹn và dễ dàng thưởng thức. Sư Ông lại vào thăm tăng xá sau giờ ăn sáng. Hình ảnh Sư Ông là một chất xúc tác lớn cho ta tiếp xúc với biển lòng thênh thang nơi mà mỗi khi quay về mình liền có khả năng làm dịu dàng đi những trăn trở.

Tôi vẫn hay tự lừa dối mình bằng những trăn trở lớn lao, rằng có trăn trở những điều lớn lao ấy thì mình mới trở nên lớn lao! Gần đây, tôi bắt đầu biết làm dịu dàng đi những trăn trở ấy bằng hơi thở, bằng những tác ý như lý, bằng sự buông xả và bằng sự chấp nhận. Và tôi bỗng nhận ra rằng, thì ra người ta lớn là do người ta có khả năng làm dịu được những trăn trở lớn. Đó là đức hạnh, nếu chữ đức hạnh có thể được hiểu như thế, của kẻ bốn mươi tuổi: “Tứ thập bất hoặc”. Bất hoặc là gì nếu không phải là khả năng làm dịu dàng những trăn trở, là khả năng tháo tung những trăn trở và là khả năng mang những trăn trở về chan hòa trong biển lòng vô tận. Sự có mặt của Sư Ông lập tức mang lại sự dịu dàng ấy trong lòng người. Đó là Tết.

“Chén trà ấm trong hai tay
Bỗng dịu dàng bao trăn trở”.

Thắp lại lửa lòng

Tôi vừa pha một ấm phổ nhĩ, làm thong thả và thưởng thức từng động tác trong hương thơm cổ kính đang nhè nhẹ tỏa ra từ những thớ trà màu nâu đen. Tôi đã lại thấy lòng mình cháy bừng niềm vui học tập và phụng sự. Thì ra là lửa lòng vẫn có thể được thắp lên bằng những việc làm nho nhỏ như thế. Từ nay, tôi đã biết cách nhóm lòng bằng những việc nho nhỏ ấy. Không gian của lòng người là bất tuyệt, chỉ là tản mác và bị ngăn cách hay ràng buộc mà thôi. Tháo tung được thì ta trả lại được cho không gian tưởng nhỏ bé ấy sự bất cùng bất tuyệt vốn có của nó. Lòng nhóm được rồi thì ngọn lửa tự sẽ biết hân hoan.

“Lòng vừa nhóm, lửa cũng vừa hân hoan”

Gió đời bốn phương tám hướng dù có nghênh ngang đến mấy cũng chẳng thể nào làm tắt  được ngọn lửa đang cháy đều trong sự bảo hộ ấy của chánh định.

Lối về qua con đường vắng đã cho tôi một nụ cười vô hình vô dạng nhưng khoáng đạt thênh thang như thế.

Hương trời trong vạt áo
Thành mây che đường dài

Mây giăng kín, vầng trăng khuya nay thấp thoáng sau màn mây. Những tia nắng hiếm le lói xuyên qua màn mây tỏa xuống bãi cỏ trước thất Nhìn Xa một vùng sáng mờ ảo chỉ đủ làm hiện ra những dáng người đang ngồi bất động và tĩnh lặng. Tiếng gió nhẹ mời về tiếng gà rừng từng hồi thanh thoát. Và khi gió vén một khoảng mây xám khỏi nền trời, khi nắng mai đổ xuống thung lũng lốm đốm màu thu một vùng sáng tươi tinh khôi, thì cũng là khi chim rừng dâng thời kinh sáng, hùng tráng và hòa điệu.

Tiếng rên nhẹ của Sư Ông từ trên thất vọng xuống làm tê nghẹn từng hơi thở. Tôi ngồi đó, cố lấy  lại sự viên mãn của ý thức nơi hơi thở và tự nhủ rằng mình có thể thở cho Sư Ông. Hơi thở không còn tê nghẹn nữa nhưng trong nhập nhòe ánh sáng buổi sớm tôi bỗng nhận thấy nóng ấm nơi đôi mắt. May mà trời còn tối nên không ngại ai nhìn thấy. Tôi tiếp tục ngồi đó, an trú trong hơi thở và tình thương từ ánh sáng trên thất tỏa xuống làm ấm cả châu thân. Tôi ngước nhìn lên, thị giả đang đẩy xe Sư Ông lui tới trên thất. Xe lăn dừng lại sau khung cửa kính mở rộng tầm nhìn mênh mang xuống bãi cỏ và thung lũng đang được nắng mai thắp sáng dần. Tay Sư Ông đã cầm chén trà và thong thả đưa lên từng ngụm nhỏ. Bình an.

Xả thiền, đại chúng tập mười động tác chánh niệm ngay trước sân, tôi rời vòng tròn đi lên trên thất. Xá chào rồi quỳ xuống bên Sư Ông, nhìn Sư Ông uống từng ngụm trà thong thả và bình an. Nếu không có những cơn đau nhức thì đỡ cho Sư Ông biết mấy. Sư Ông nhìn tôi rồi tiếp tục một ngụm trà. Lặng yên. Rất lâu. Thị giả đổi chén trà mới. Sư Ông tiếp tục lặng yên thưởng thức. Lại thêm một chén trà nữa. Lại được thưởng thức một khoảng lặng bình an. Tôi ngồi đó tận hưởng từng hơi thở viên mãn.

Con đường phía trước còn dài, nhưng tách trà trên tay Sư Ông đã biến thành một đám mây thơm.

Không phải là Tết Tây đang kề, cũng không phải là Tết Ta đang tới, cũng không phải là Tết Thái sẽ tới mà là Tết Thầy. Là Thầy mang Tết đến hay Tết mang Thầy về? Thầy là Tết. Tết Thầy.