Trăng sao vẫn đẹp đêm rằm

Cô Chân Bảo Nguyện, thọ giới Tiếp Hiện năm 1994, đã theo Thầy Làng Mai phụng sự gần như từ những năm đầu của Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội. Hiện giờ cô là một trong những thành viên nòng cốt của tăng thân Tiếp Hiện ở Thiền đường Hơi Thở Nhẹ, và cũng là “cánh tay nối dài của Thầy”, là “trạm dừng chân của Làng” ở Paris. Cô nhận truyền đăng từ Thầy năm 2011, tiếp tục con đường tu học và phụng sự với tấm lòng đầy yêu thương và nhiệt huyết.

 

Thầy thương kính của con,

Thấm thoắt đã 50 năm trôi qua! Một nửa đời người với biết bao tang thương, biến đổi, song hành trang và lý tưởng Thầy truyền trao vẫn không hề đổi thay, vẫn luôn cháy bỏng trong tim con. Đó là tình thương và lòng phụng sự tha nhân. Ánh mắt Thầy luôn rực sáng niềm tin và bao dung độ lượng, tấm lòng Thầy luôn chất ngất tình thương. Thầy mãi mãi là ánh đuốc soi đường cho chúng con noi theo tiến bước.

Con vẫn còn giật mình khi nhớ lại tâm trạng bơ vơ, lạc lõng trong một đất nước đang khổ đau cùng cực vì chiến tranh bom đạn. Tuổi trẻ chúng con khi ấy mất cả niềm tin và phương hướng. May thay chúng con tìm đọc được Nói với tuổi hai mươi của Thầy và từ đấy chúng con đã chọn con đường đi cho đến hôm nay. Đó là con đường của tình thương và sự hiểu biết, con đường phụng sự để đem lại bình an hạnh phúc cho tự thân và cho mọi người.

Trường TNPSXHNgày ấy, lần đầu tiên được tiếp xúc với các anh chị tác viên thuộc trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội (TNPSXH), con thật vô cùng hạnh phúc. Cả một thế hệ thanh niên thật trong sáng với bao nhiệt huyết đóng góp cho quê hương. Tiêu chí của Trường gồm 3 chữ T thật đẹp: Tình thương, Trách nhiệm và Tự nguyện. Đây chính là hạnh nguyện của những vị Bồ tát suốt đời dấn thân giúp đời vì tình thương lớn. Con đã bị thuyết phục vô điều kiện và đã tâm nguyện rằng, con sẽ đi theo con đường phụng sự của Thầy cho đến trọn đời và mãi mãi về sau.

Bằng thơ ca, Thầy đã thay mọi người nói lên ước vọng của dân tộc, ước vọng hòa bình mà trong hoàn cảnh bi đát của chiến tranh, bao nhiêu người bất lực không thể nói được:

Sáng nay vừa thức dậy
Nghe tin em gục ngã nơi chiến trường
Nhưng trong vườn tôi, vô tình,
Khóm tường vi vẫn nở thêm một đóa
Tôi vẫn sống, vẫn ăn và vẫn thở
Nhưng đến bao giờ mới được nói thẳng điều tôi ước mơ?

(Hòa bình, tập thơ Cho bồ câu trắng hiện)

Chính niềm ước mơ ấy mà Thầy lên đường bôn ba nơi xứ người để kêu gọi chấm dứt chiến tranh và xây dựng hòa bình cho quê hương. Vì lẽ đó, Thầy bị lưu vong nơi xứ người ngót 40 năm. Thầy đã sống như một tế bào phải tách rời khỏi cơ thể, lẻ loi, cô đơn vì bao nỗi nhớ nhà, nhớ người, nhớ quê nhà tuổi nhỏ thân thương.

Chúng con nơi quê nhà, thỉnh thoảng được truyền cho nhau đọc thư Thầy gửi về gói ghém biết bao nhớ nhung, thương yêu cho quê hương, cho hàng cau, vườn chuối… Thầy nhắc chúng con phải nhớ “rửa mắt” trên những cánh đồng lúa xanh. Lãng mạn và thơ mộng quá! Bài thơ Chỗ đứng của Thầy đã nằm lòng trong ký ức của con:

Quê hương tôi là đây
Chỉ có dòng sông, hàng cau, bụi tre, vườn chuối
Mặt trái đất dù mang đầy cát bụi
Nhưng trăng sao vẫn đẹp những đêm rằm.
 

Các anh chị tác viên đã thay mặt Thầy đi vào những xóm nghèo để chia sớt nỗi cơ cực, lầm than của đồng bào. Chúng con mỗi cuối tuần đều đến thăm Làng Tình Thương ở bên kia cầu Thị Nghè và Làng Thảo Điền qua khỏi cầu Xa Lộ. Chỉ cách thành phố không xa mà cuộc sống người dân nơi đây thật lạc hậu không tưởng: ăn ở mất vệ sinh, đi tiêu tiểu khắp nơi, không có trường học cho con nít học chữ, trẻ em nhỏ đã tập tành người lớn uống rượu, hút thuốc mỗi khi đi giăng câu…

Con vẫn đi dạy học ở Tân Uyên, một vùng quê giáp ranh chiến khu D, vẫn đi thu học bổng cho trường TNPSXH và cuối tuần vẫn về Làng tham gia công tác cùng các anh chị. Chiến tranh bom đạn cứ lan dần tàn phá quê hương mình. Người dân phải đứt ruột rời bỏ xóm làng để tập trung vào những trại tị nạn hoặc những vùng tương đối an ninh hơn. Các tác viên xã hội lại ngày đêm cùng đồng bào xây dựng lại xóm làng, dựng trường, mở lớp, trồng lúa, chăn nuôi…

Rồi tai ương cứ tiếp tục dồn dập xảy đến: Sáu tác viên trong lúc đi thực tập đã bị mất tích, trường TNPSXH bị kẻ lạ vào tấn công lúc ban đêm khiến hai chị Liên, Vui bị tử nạn, chị Hương bị cưa mất một chân và anh Vinh bị bắn vào đầu nên phải nằm liệt một thời gian dài, sau đó được sang Đức điều trị.

Mọi người vẫn không nao núng, vẫn tiếp tục dấn thân, các tác viên vẫn đi vào làng để giúp đồng bào và rồi lại thêm một mất mát lớn: Năm tác viên trong khi đi công tác ở Thủ Đức đã bị bắn chết lúc trời chạng vạng tối, chỉ có một người bị thương nặng song thoát chết trở về mà thôi.

Trước những thảm trạng ngày càng bi đát cho quê hương, người chị cả của dòng tu Tiếp Hiện Nhất Chi Mai đã nguyện đem thân làm đuốc để thắp sáng lương tri mọi người trên thế giới và để kêu gọi hòa bình cho dân tộc.    

Tết Mậu Thân với cảnh nhà cháy, chết chóc bất ngờ xảy ra cùng khắp trong thành phố và ngoại ô. Đồng bào quanh vùng Phú Thọ Hòa đều tập trung về khuôn viên chùa Lá và trường TNPSXH để tạm trú. Thầy Thanh Văn khi ấy đang là giám đốc trường và các anh chị tác viên phải đối phó với biết bao bất trắc không lường được khi bỗng nhiên có hàng vài ngàn gia đình đến ở bên cạnh chùa. Giữa bao khó khăn chồng chất thì có tin một sản phụ đang chuyển bụng, các anh chị tác viên phải bất đắc dĩ làm “bà mụ” đỡ đẻ giúp cho người thiếu phụ trẻ được mẹ tròn con vuông ngay trong khuôn viên Trường.

Các vấn nạn như lương thực, thuốc men, nước uống, vệ sinh hàng ngày luôn là gánh nặng mà mọi người phải trăn trở giải quyết. Các cơ quan xã hội của chính quyền vì ngại xa xôi nguy hiểm nên không ai đến cứu trợ. Chỉ có các thân hữu của Trường đi quyên góp và xông pha vượt qua hiểm nguy bom đạn để đem quần áo, thực phẩm, thuốc men đến chùa Lá tiếp tế. Trong công tác này, con đã được anh Hảo, giám đốc trường Anh văn quốc tế đặt cho biệt danh là “nữ hoàng ăn xin” vì tài đi xin hàng cứu trợ ở chợ cho đồng bào.

Nhà con buôn bán sơn dầu ở trước chợ Nguyễn Tri Phương, quận 10 nên quen biết hầu hết các cô bác buôn bán trong chợ. Do vậy con chỉ vừa khóc vừa kể tình trạng thảm khốc của đồng bào tị nạn là xin được vô số thức ăn như gạo, mì, tương, chao, khoai, đậu… Anh Hảo có xe hơi và tình nguyện cùng con khuân vác lương thực lên xe, chuyên chở, mạo hiểm chạy qua vùng vừa ngưng tiếng súng để đem đến chùa Lá cùng các tác viên TNPSXH phân phát cho đồng bào.

Ngoài ra chúng con còn tham gia vào việc giúp nhân viên Sở Vệ sinh đi chôn xác chết. Trong cơn lửa đạn ngất trời, mạng sống con người như chỉ mành treo chuông nên cái chết đến bất ngờ cho tất cả mọi người. Xác chết vô thừa nhận cứ lăn lóc ngoài đường qua bao ngày không ai chôn cất. Thầy Thanh Văn và chị Chín (sư cô Chân Không) đã mạnh dạn đề xướng việc kêu gọi mọi người giúp Sở Vệ sinh đi thu dọn các xác chết để phòng ngừa bệnh dịch lây lan trong thành phố.

Những đau thương tang tóc rồi cũng qua đi, cuộc sống bình yên dần dần trở lại. Mọi người như tạm quên đi quá khứ buồn đau để hướng về tương lai tươi sáng hơn.

Trong một dịp coi thi Tú tài, con và anh Đức quen nhau, tình yêu chúng con chớm nở từ đây. Con có giới thiệu anh về trường TNPSXH và dẫn anh về thăm Làng (khi ấy con gọi trường TNPSXH là Làng). Anh Đức được ăn cơm chung với thầy Thanh Văn hai lần và có trao đổi khá thân mật với thầy. Có lẽ nhờ nhân duyên này mà khi định cư tại Pháp, anh đã đóng góp thật đắc lực cho Làng Mai mỗi khi có việc cần. Hai chúng con luôn vui sướng kề vai giúp Làng một tay.

Vài năm sau đó, trong một chuyến đi cứu trợ đồng bào tại các trại định cư Biên Hòa, thầy Thanh Văn đã qua đời vì tai nạn xe. Con được một chị bạn làm y tá ở phòng cấp cứu bệnh viện Biên Hòa thuật lại, có một vị sư trẻ bị tai nạn trầm trọng được đưa vào cấp cứu trong tình trạng hôn mê. Ít lâu sau đó, thầy có tỉnh lại và hỏi thăm các đệ tử đã có ai thay thầy lo việc cứu trợ đồng bào ở trại định cư chưa? Mọi người đều cảm động ứa nước mắt vì tấm lòng của thầy, cho đến khi sắp lìa đời vẫn còn mang những nỗi lo cho tha nhân.

Bên này chúng con buồn lắm và khóc thật nhiều. Chúng con được tin Thầy bên phương trời xa cũng nhập thất cả tháng khi hay tin một biến cố lớn đã xảy ra nơi quê nhà! Quả thật con đường cho lý tưởng từ bi thật đẹp nhưng cũng đầy gian nan, khốc liệt, mất mát!

Thầy Châu Toàn lên thay thầy Thanh Văn tiếp tục công việc. Thầy năng nổ làm việc hết mình cho đồng bào được no cơm ấm áo. Trong dịp mừng lễ Tết cuối năm, thầy Châu Toàn phát biểu mơ ước của thầy khiến con ngồi rưng rưng nước mắt: “Chúng ta sẽ cố gắng làm thế nào để đến cuối năm, đằng trước sân mỗi gia đình là một đống lúa vàng cao ngất ngưởng”. Trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng của quê hương mà thầy vẫn cháy bỏng những ước mơ cao đẹp cho đồng bào như thuở thanh bình thì bảo sao con không khóc cho được! Ngồi phía đằng sau ngôi chùa Lá, nhìn qua những hàng cau xanh là cánh đồng bát ngát một màu vàng của bông lúa chín, con chợt nhớ đến hai câu thơ tuyệt đẹp của Thầy trong bài Đường quê:

Cô gái đồng quê về lối xóm
Tươi cười gánh cả một hoàng hôn
 

Có lẽ vì làm việc quá sức nên trong buổi lễ tổng kết sinh hoạt cuối năm, khi đang trình bày những việc làm của trường cho cử tọa, thầy kiệt sức và xin ra ngoài hội trường nghỉ đôi phút. Sau đó thầy vào đọc hết bản tường trình để rồi gục xuống bàn và vĩnh viễn ra đi.

Chúng con thật ngỡ ngàng đau xót. Thư Thầy gửi về an ủi nhưng chúng con biết Thầy cũng đứt từng khúc ruột: “Nhận được tin dữ, tôi đóng cửa phòng một ngày. Tôi như một gốc cây bị đốn ngã. Tôi đánh điện về an ủi các em nhưng tôi thì không an ủi được. Sao trên đời có những chuyện “lỡ hẹn” đớn đau đến thế, hả em?”.

Trải qua bao cuộc thăng trầm bể dâu, chúng con may mắn được gặp lại Thầy vừa lúc thiền đường Hoa Xương Rồng mới hình thành ngày 03.09.1985, sau này đổi thành thiền đường Hoa Quỳnh và hiện tại là thiền đường Hơi Thở Nhẹ. Gia đình con và các cháu nhờ vậy có nơi nương tựa như quê hương tâm linh tại Paris, sau quê hương lớn hơn là Làng Mai. Quả thật chúng con có phước báu quá lớn!

Tăng thân Thiền đường Hơi thở nhẹ, Paris

Ròng rã suốt 30 năm qua, chúng con luôn được Thầy thương yêu, nhắc nhở và chỉ dẫn tường tận hành trang sẵn có để thực tập, đó là hơi thở ý thức, bước chân chánh niệm và nụ cười bình an. Pháp môn chánh niệm trong từng giây phút của cuộc sống giúp chúng con nhận biết những điều kiện hạnh phúc đang có để nâng niu trân quý, đã cho chúng con biết bao niềm an lạc, tự do.

Việc xây dựng tăng thân cũng gian nan, lên xuống bao phen nay mới được hình thành tương đối tạm ổn, mặc dù đôi lúc cũng trải qua sóng gió. Chúng con nghĩ đây là những thử thách đo lường nghị lực và kiên nhẫn của chúng con mà thôi, vì Thầy đã trao cho chúng con chiếc đũa thần “Hiểu và Thương” rồi.

Khi Làng Mai kỷ niệm 20 năm, tăng thân Hơi Thở Nhẹ chỉ mới có 3 thành viên Tiếp Hiện. Hiện nay tăng thân chúng con đã có gần 30 thành viên, năng nổ trong tu tập và đóng góp công sức xây dựng tăng thân, nuôi dưỡng tình huynh đệ.

Con thật sự ngỡ ngàng và hạnh phúc đến lặng người khi nhận được bài kệ truyền trao của Thầy trong buổi lễ trao đèn, vì bài kệ Thầy trao cho con và bài kệ con kính dâng lên Thầy và chư Bụt đã ăn khớp một cách tuyệt vời, mặc dù cho đến khi được quỳ trước mặt Thầy con mới đọc lên:

Bài kệ Thầy truyền trao:

Nâng niu pháp bảo nguyện hành trì
Hoa lá bên đường mở lối đi
An trú thân tâm vào giới định
Quê hương trong mỗi bước chân về

Bài kệ của con kính dâng lên Thầy:

Từng bước chân chánh niệm
Từng hơi thở ý thức
Từng nụ cười bình an
Đây gia tài thiêng liêng
Thầy ân cần trao gửi
Đây hành trang mầu nhiệm
Cùng tăng thân vun bồi”.
 

Con xúc động mãnh liệt khi Thầy hướng đôi mắt đầy thương yêu trìu mến và ân cần nhắn nhủ: “Chiếc đèn này là để trao cho cả gia đình chứ không phải cho một mình Chân Bảo Nguyện đâu. Trong kinh có nói đức Bồ tát có rất nhiều cánh tay vươn ra rất dài, và con là cánh tay của Thầy ở Paris. Cánh tay Thầy rất dài, do đó khi nào có việc cần là có con ở đó, không kể đêm ngày, không kể có thì giờ hay không có thì giờ, luôn luôn có mặt cho tăng thân, phụng sự tăng thân. Một cánh tay không đủ, phải có nhiều cánh tay. Thầy trò mình biết thực tập theo bài kệ trên sẽ mang lại nhiều hạnh phúc. Thầy trò ta làm việc rất nhiều và đều không có lương gì cả, nhưng có rất nhiều niềm vui trong khi phụng sự. Đó là pháp lạc có công năng nuôi dưỡng và trị liệu. Con hãy cùng tăng thân thực tập và nuôi dưỡng tình huynh đệ…”

Qua 50 năm âm thầm theo con đường Thầy chỉ dạy, con vẫn luôn tự hỏi: Con có phải là tri kỷ của Thầy chưa? Con đã quá hạnh phúc và may mắn khi được bơi lội trong dòng suối thơm tho, mát trong chứa đầy tuệ giác và từ bi mà Thầy kính thương đã dày công tạo dựng bằng cả một đời dấn thân đầy truân chuyên và bi hùng.

Việc thị hiện bệnh của Thầy cũng đã cho chúng con biết bao bài học để thực tập, để cố gắng. Chúng con chỉ biết cúi đầu đảnh lễ Thầy với tất cả tình thương và kính ngưỡng.

Thầy kính yêu ơi, chúng con thương Thầy nhiều lắm, Thầy có biết không!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

       

 

Ngày 14.01.2016

Dòng tu Tiếp Hiện và Con đường phụng sự

Chặng đường 50 năm của dòng tu Tiếp Hiện đã trở thành một gia tài quý báu trong những pháp môn của truyền thống Làng Mai, là lý tưởng phụng sự mà cũng là pháp môn hành trì, thực tập chuyển hóa tự thân. Những người Tiếp Hiện khắp nơi trên thế giới, đã và đang đi về một hướng, cùng nuôi dưỡng nhau trên con đường hiểu biết và yêu thương.

 

Dòng tu tiếp hiện

Dòng tu Tiếp Hiện ra đời năm 1966, và sự ra đời của nó rất có ý nghĩa. Khi đó chiến tranh đang leo thang ác liệt. Đó là một cuộc chiến tranh không chỉ giữa những ý thức hệ ngoại lai mà còn giữa vũ khí của nước ngoài. Là những Phật tử thực tập theo con đường hòa giải, hòa bình và tình huynh đệ, chúng tôi không chấp nhận một cuộc chiến như thế. Làm sao có thể chấp nhận được một cuộc chiến mà anh em một nhà dùng ý thức hệ và vũ khí của bên ngoài để tàn sát lẫn nhau.

Dòng tu Tiếp Hiện là một phong trào kháng chiến tâm linh. Các giới được lấy từ giáo lý đạo Bụt. Giới thứ nhất, Tự do nhận thức, là câu trả lời trực tiếp cho chiến tranh, vì khi đó ai cũng sẵn sàng chết hay chiến đấu để bảo vệ niềm tin của mình:

Ý thức được những khổ đau do thái độ cuồng tín và thiếu bao dung gây ra, con xin nguyện thực tập để đừng bị vướng mắc vào bất cứ một chủ nghĩa nào, một lý thuyết nào, một ý thức hệ nào, kể cả những chủ thuyết Phật giáo.

Đây là tiếng gầm sư tử lớn!

Những giáo nghĩa Bụt dạy phải được nhận thức như những pháp môn hướng dẫn thực tập để phát khởi tuệ giác và từ bi mà không phải là những chân lý để thờ phụng và bảo vệ, nhất là bảo vệ bằng những phương tiện bạo động.

Những lời Bụt dạy được ghi lại trong Kinh Tập (Sutta Nipata) về kiến chấp thật rõ ràng. Chúng ta không nên để bị vướng mắc vào bất kỳ quan điểm nào, chúng ta phải vượt thoát mọi quan điểm.

Chánh kiến trước tiên có nghĩa là sự vắng mặt của mọi quan điểm. Vướng vào quan điểm là nguồn gốc khổ đau. Ví như khi ta leo tới bậc thang thứ tư và nghĩ rằng đó là nấc thang cao nhất, vậy là ta sẽ chỉ dừng tại đó! Ta phải biết từ bỏ nấc thang thứ tư để có khả năng bước lên được nấc thang thứ năm. Trong lĩnh vực khoa học, để có thể tới gần với chân lý hơn, các nhà khoa học phải biết buông bỏ những kiến thức cũ. Không kẹt vào kiến chấp (phá chấp) là tinh thần của đạo Bụt. Quan điểm không phải là tuệ giác. Quan điểm không phải là trí tuệ. Chúng ta phải luôn trong tư thế sẵn sàng buông bỏ ý kiến, quan điểm của mình để đạt tới tuệ giác. Ta tự hào rằng ta đã hiểu về Tứ diệu đế, về Tương tức, về Duyên sinh, về Niệm, Định, Tuệ, nhưng những kiến thức đó chỉ là phương tiện để giúp ta đạt tới tuệ giác. Giáo lý không phải là tuệ giác.

Chiến tranh là hậu quả của thái độ cuồng tín, cố chấp. Nhìn sâu vào bản chất cuộc chiến tranh tại Iraq, ta có thể thấy đó cũng là một cuộc chiến tranh tôn giáo. Người ta lợi dụng niềm tin tôn giáo để phát động chiến tranh. Tổng thống Bush được các nhà truyền giáo cánh tả yểm trợ, trong khi đạo Hồi là điểm tựa cho lực lượng kháng chiến và khủng bố ở Iraq. Vậy nên ở mức độ nào đó, đây là cuộc chiến tranh tôn giáo. Hòa bình không thể tồn tại nếu chúng ta cứ khăng khăng giữ thái độ cuồng tín.

Hoa sen trong biển lửa

Năm 1966, tôi đã viết cuốn Hoa sen trong biển lửa, nhà xuất bản Hill and Wang xuất bản tại Hoa Kỳ. Cuộc chiến khi đó đang diễn ra rất dữ dội, chẳng khác gì một biển lửa. Con người giết hại lẫn nhau, máy bay Hoa Kỳ được phép đem bom thả trên những cánh rừng, lên đầu người dân. Vũ khí của Trung Quốc và Liên Xô cũng có mặt. Giới Phật tử đã cố gắng làm một điều gì đó để tìm lối thoát. Những ai không chấp nhận chiến tranh đã muốn làm gì đó để phản đối chiến tranh, nhưng giới Phật tử không có đài phát thanh hay truyền hình, họ không có phương tiện nào để bày tỏ hết.

Có trăng sao mười phương
Có nhân loại, có anh em đây
Cho tôi cất cao lời tố cáo cuộc chiến tranh này
Cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn dã man thảm khốc
Ai xô chúng tôi vào vũng lầy giết chóc?
Xin làm chứng cho tôi
Hãy nghe tôi đây
Tôi nói rằng: Tôi không chấp nhận cuộc chiến tranh này
Chưa bao giờ và không bao giờ chấp nhận cuộc chiến tranh này
Tôi muốn nhắc lại một ngàn lần, trước khi tôi bị giết.

Tôi đã viết những dòng thơ như thế.

Kẻ thù ta không phải là người

Kẻ thù của chúng ta là hận thù, cuồng tín và bạo động. Kẻ thù của chúng ta không phải là con người. Nếu giết hết con người, ta sẽ ở với ai? Phong trào hòa bình ở Việt Nam rất cần sự yểm trợ của cộng đồng quốc tế, nhưng bạn bè quốc tế không thể nghe thấy chúng tôi. Vậy nên thỉnh thoảng chúng tôi lại phải tự thiêu để báo cho thế giới biết rằng chúng tôi không muốn cuộc chiến tranh này, xin hãy giúp chúng tôi chấm dứt cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn này! Đạo Bụt giống như một bông hoa sen thanh lương đang cố sức vươn lên trong biển lửa nóng bức ấy của cuộc chiến.

Tôi đã dịch cuốn sách sang tiếng Việt và một người bạn Mỹ trong phong trào hòa bình mang nó về Việt Nam. Cuốn sách được in chui và rất nhiều bạn trẻ đã âm thầm phổ biến cuốn sách, hành động đó cũng giống như hành động kháng chiến vậy.

Nhiều bạn trẻ yêu cầu tôi xuất bản tập thơ về hòa bình. Các bạn gọi đó là thơ phản chiến. Tôi chiều ý. Các bạn trẻ đã thu thập được 60 bài thơ về hòa bình của tôi và trình cho chính quyền miền Nam để xin phép xuất bản. Chỉ có vài bài được chấp nhận, 55 bài bị kiểm duyệt. Nhưng các bạn không nản chí, họ đã cho in chui tập thơ và tập thơ bán hết rất mau. Ngay cả một số mật vụ cũng thích tập thơ bởi vì chính họ cũng đang là nạn nhân của cuộc chiến, họ tới hiệu sách và nói: “Đừng nên bày tập thơ ra như thế, phải giấu đi”. Các đài phát thanh Sài Gòn, Hà Nội và Bắc Kinh bắt đầu lên tiếng công kích tập thơ vì chúng kêu gọi hòa bình. Không ai muốn hòa bình, bên nào cũng chỉ muốn đánh cho đến cùng.

Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội

                                          Chùa Lá, trụ sở đầu tiên của trường TNPSXH

Năm 1964, chúng tôi thành lập trường Thanh niên Phụng sự Xã hội (TNPSXH). Trường đào tạo những thanh niên trong đó có cả các thầy và các sư cô trẻ, để đi về miền quê giúp những người nông dân tái thiết thôn làng. Chúng tôi hỗ trợ dân làng trong bốn lĩnh vực: giáo dục, y tế, kinh tế và tổ chức. Các tác viên về thôn làng, chơi với trẻ em, dạy các cháu đọc, dạy các cháu viết và múa hát. Đến khi dân làng bắt đầu quý mến các tác viên, chúng tôi mới đề nghị xây dựng trường học cho các cháu. Người góp tre, nhà góp lá dừa và thế là các cháu có một ngôi trường. Các tác viên đều làm việc không lương. Sau khi dựng trường, chúng tôi dựng trạm y tế để phát các loại thuốc chữa những căn bệnh thông thường cho dân làng. Chúng tôi cũng mời sinh viên y dược hay bác sĩ về làng trong một hay hai ngày để giúp. Chúng tôi tổ chức các hợp tác xã, cố gắng hướng dẫn người dân những nghề thủ công để họ có thể cải thiện thu nhập cho gia đình. Những người dân phải tự mình bắt đầu. Trường TNPSXH được tổ chức trên tinh thần không chờ đợi, không dựa dẫm vào sự trợ giúp của chính phủ.               

Chúng tôi đã đào tạo rất nhiều bạn trẻ, các thầy, các sư cô trẻ. Cuối cùng chúng tôi có tới hơn mười ngàn tác viên hoạt động từ Quảng Trị trở vào. Trong suốt cuộc chiến tranh, chúng tôi đã bảo trợ cho hơn mười ngàn trẻ em mồ côi. Người trẻ là một phần không thể thiếu của phong trào đạo Bụt nhập thế.

Người Tiếp Hiện

Nghĩa đầu tiên của chữ Tiếptiếp nhận. Ta tiếp nhận từ tổ tiên huyết thống những cái hay, cái đẹp, những tuệ giác và đức độ. Ta tiếp nhận từ tổ tiên tâm linh giáo pháp nhiệm mầu, hạt giống tuệ giác. Đó là vốn liếng của ta. Vì vậy cho nên việc làm đầu tiên của người Tiếp Hiện là phải tiếp nhận cho được những cái hay, cái đẹp của tổ tiên trao lại.

Nghĩa thứ hai của chữ Tiếptiếp nối. Tiếp nối Bụt, tiếp nối Tổ, tiếp nối Thầy, tiếp nối tổ tiên. Một người con hiếu thảo là một người con tiếp nối được chí hướng của cha ông. Một người học trò có hiếu là một người học trò có thể tiếp nối được sự nghiệp của Thầy Tổ. Và muốn tiếp nối được thì ta phải tiếp nhận cho được chí nguyện và sự hành trì từ chư Bụt, từ chư Tổ và từ Thầy.

Nghĩa thứ ba của chữ Tiếptiếp xúc. Trước hết là tiếp xúc với hiện tại mầu nhiệm, với sự sống mầu nhiệm đang có mặt trong mình và quanh mình. Nhưng muốn tiếp xúc được với sự sống thì ta phải có mặt. Tiếp xúc như vậy để được nuôi dưỡng, để được chuyển hóa, để được lớn lên. Tiếp xúc đây cũng là tiếp xúc với những nỗi khổ niềm đau trong tự thân, trong hoàn cảnh, trong gia đình và xã hội của ta. Chỉ khi nào hiểu thấu được những nỗi khổ niềm đau của bản thân, của gia đình và của xã hội rồi thì ta mới biết cần phải làm gì và không nên làm gì để có thể chuyển hóa được những nỗi khổ niềm đau đó. Một mặt là tiếp xúc với những mầu nhiệm để được nuôi dưỡng, mặt khác là tiếp xúc với những khổ đau để hiểu, để thương và để chuyển hóa.

Chữ Hiện có bốn nghĩa:

Trước hết, chữ Hiện có nghĩa là hiện tại. Cái gì đang có mặt là sự sống, cái gì đang có mặt là tịnh độ. Chữ hiện có khi còn dịch là kiến, nghĩa là thấy những gì đang xảy ra xung quanh.

Nghĩa thứ hai của chữ Hiệnhiện pháp, là những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Hiện còn có thể dịch là kiến pháp, là những gì ta đang trông thấy trong giây phút hiện tại. Cái ta đang trông thấy là tăng thân, là cây thông, là những cơn mưa, là mặt trời v.v… Tất cả những cái đó ta phải tiếp xúc được. Những khổ đau hiện thực trong cuộc sống là những cái ta đang thấy và ta phải tiếp xúc. Ta không ở trong tháp ngà của tưởng tượng, của hý luận, của lý thuyết. Ta phải thực sự tiếp xúc với sự thật, với những mầu nhiệm của sự thật. Và nhờ có khả năng tiếp xúc với những gì đang thực sự xảy ra cho nên ta mới thực tập được cái gọi là Hiện Pháp Lạc Trú.

Nghĩa thứ ba của chữ Hiệnthực hiện, là làm cho mong muốn trở thành cụ thể. Sự tu chứng của ta cũng là thực hiện. Ước mơ, chí nguyện của ta là đạt tới tự do. Ta không muốn sống một cuộc đời hệ lụy, nô lệ. Ta muốn có tự do, tại vì chỉ có tự do mới đem lại hạnh phúc thực sự. Cho nên ta muốn xé toang những tấm lưới của đam mê, thù hận và ganh tị đang giam hãm ta. Những chiếc lưới ấy đang cuốn lấy ta nhưng ta không muốn kẹt vào những chiếc lưới ấy, ta muốn thoát ra.

Công phu thực tập hàng ngày là giá trị của vị hành giả. Nó giải phóng ta khỏi những chiếc lưới của địa vị, của danh lợi, của tham ái. Cái ta cần thực hiện là giải thoát, là tự do.

Nghĩa thứ tư của chữ Hiệnhiện đại hóa. Nghĩa là những pháp môn khế cơ, khế lý và thích hợp với thời đại.

Chữ Tiếp Hiện có nghĩa như vậy thì làm sao dịch ra tiếng Anh cho được. Thành ra phải tạm dịch sang tiếng Anh là Order of Inter-being. Hai chữ này cũng có gốc Hán-Việt, hiểu được ý nghĩa hai chữ đó thì sẽ hiểu được bản chất, hiểu được sự hành trì cũng như hướng đi của dòng tu Tiếp Hiện.

Với những ý niệm đó, ta có thể bắt đầu hiểu được thế nào là đạo Bụt đi vào cuộc đời, đạo Bụt nhập thế. Tu viện không nên là một thực tại bị cắt đứt khỏi cuộc đời. Tu viện phải được coi như là một vườn ươm để trồng những cây con. Và khi những cây con đã sống tốt, đã lớn đủ thì ta phải đem chúng trồng vào xã hội. Đạo Bụt có mặt là vì cuộc đời chứ không phải đạo Bụt có mặt chỉ vì đạo Bụt. Nếu không có cuộc đời thì không cần đạo Bụt. Sở dĩ có đạo Bụt là vì cuộc đời cần tới đạo Bụt. Cho nên các tu viện, các trung tâm tu học phải được coi như những vườn ươm. Trong tu viện, ta được che chở, ta có những điều kiện để lớn lên. Và khi ta đã lớn thì ta phải đi vào xã hội để phục vụ cho xã hội. Đó gọi là đạo Bụt đi vào cuộc đời.

                                                                       Sáu vị Tiếp Hiện đầu tiên

Đoàn Thanh niên cho một xã hội lành mạnh và từ bi

Năm 2008, chúng tôi đã thành lập một tổ chức cho thanh niên Phật tử và không Phật tử ở châu Âu, gọi là “Đoàn thanh niên cho một xã hội lành mạnh và từ bi”, hay còn gọi là “Phong trào Wake Up”. Rất nhiều bạn trẻ đã tới với chúng tôi, và chúng tôi muốn tập hợp các bạn trẻ ấy lại, thành đoàn thể. Đoàn thanh niên này sẽ hành trì năm phép thực tập chánh niệm (Năm giới) và sẽ đi vào cuộc đời để giúp tạo dựng một xã hội lành mạnh hơn, từ bi hơn. Nếu các bạn có cảm hứng với ý tưởng này thì xin mời các bạn, sau khi trở về nhà, hãy mời những người bạn của mình lập thành một nhóm “Thanh niên cho một xã hội lành mạnh và từ bi.

                                                                             Các học viên trường TNPSXH

Viện Phật học Ứng dụng

Chúng tôi cũng đã thành lập Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) tại Đức và Viện Phật học Ứng dụng châu Á (AIAB) tại Hồng Kông. Các viện Phật học Ứng dụng tổ chức rất nhiều khóa học lý thú. Các bạn cũng có thể tự tổ chức những khóa tu tại địa phương mình và chúng tôi sẽ gửi các vị giáo thọ Làng Mai tới hướng dẫn. Đó có thể là khóa tu 21 ngày dành cho các bạn đang chuẩn bị kết hôn. Các bạn sẽ được học cách để thành công trong cuộc sống lứa đôi. Cũng sẽ có khóa tu dành cho những người nhiễm AIDS hay mắc bệnh ung thư, để họ có thể sống chung an lạc với căn bệnh của mình. Cũng sẽ có những khóa học dành cho các doanh nhân, giáo viên, v.v… Cuối khóa học, các bạn sẽ được cấp một chứng chỉ. Một ngày nào đó bạn sẽ trở thành một vị giáo thọ để vào đời giúp người, để tiếp nối sự nghiệp của đức Thế Tôn.

Đạo Bụt ứng dụng cũng chỉ là một cách nói khác của đạo Bụt nhập thế.

Đạo Bụt ngày mai

Khoảng mười tuổi, tôi đã bắt đầu thích thú với đạo Bụt đi vào cuộc đời. Qua sách báo, ta biết rằng trong quá khứ đạo Bụt đã từng đóng một vai trò quan trọng trong việc đem lại hòa bình bền vững cho đất nước. Học lịch sử, ta thấy đời Lý, đời Trần đạo Bụt rất hưng thịnh. Từ trên xuống dưới, từ vua quan cho đến thứ dân đều hành trì đạo Bụt. Đó là sức sống tinh thần, là pháp thân của dân tộc, sự thực tập của cả một dân tộc.

Năm hai mươi tuổi, vua Trần Thái Tông đã có chí khí tu tập rất lớn. Vua có niềm đau trong lòng. Vượt thoát niềm đau, vua quyết tâm tu tập và đã thành công. Vua học Phật rất giỏi, thực tập thiền quán và đã sáng tác ra những tác phẩm Phật học giá trị còn lưu truyền cho tới ngày nay. Bốn mươi ba công án thiền và tác phẩm Lục thời sám hối khoa nghi của vua chứng tỏ rằng tuy làm chính trị nhưng vua vẫn dành thời gian để học Phật. Vua hành trì dâng hương, sám hối, ngồi thiền mỗi ngày sáu lần. Cứ sau hai giờ làm việc thì vua ngưng lại và thực tập hai mươi phút rồi tiếp tục làm công việc chính trị. Nếp sống tâm linh nuôi dưỡng ta, giúp ta vững mạnh để có thể làm một nhà chính trị giỏi. Đạo Bụt đi vào cuộc đời đã có từ lâu lắm rồi, trong truyền thống của đất nước ta. Đó không phải là một tư trào mới và chúng ta chỉ là sự tiếp nối truyền thống lâu đời ấy của tổ tiên mà thôi. Chúng ta đã có những tác phẩm như là Đạo Phật ngày nay, Đạo Phật hiện đại hóa, Đạo Phật đi vào cuộc đời… Và khi đã hiểu được ý nghĩa hai chữ Tiếp và Hiện thì câu chuyện của chúng ta thành ra rất đơn giản: Từ Phật giáo nhập thế ta phải đi tới Phật giáo ứng dụng. Chỉ có chừng đó thôi.

Chúng ta có thể giảng kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm rất hay, chúng ta có thể phân tích kinh Kim Cương rất giỏi nhưng những cái đó có thể chỉ để thỏa mãn trí năng. Chúng ta phải đặt câu hỏi: Áp dụng kinh Pháp Hoa như thế nào để giải quyết những vấn đề bức xúc, khổ đau, tuyệt vọng của ta? Áp dụng kinh Kim Cương như thế nào? Áp dụng giáo lý Tứ diệu đế, Bát chánh đạo như thế nào? Cái đó mới gọi là Phật học ứng dụng. Vì vậy đạo Bụt Ứng dụng đến để bổ túc cho đạo Bụt đi vào cuộc đời. Việc học Phật của chúng ta ở trong nước cũng như ở các trường đại học đều vẫn còn rất từ chương, rất lý thuyết. Đó không phải là cái học mà đức Thế Tôn gởi gắm. Là một vị giáo thọ thì thầy, sư cô phải cung cấp được Phật học ứng dụng cho những ai tới với mình và chỉ dạy cái mà mình đang làm. Là một vị cư sĩ, là một vị giáo thọ tập sự hay đã được truyền đăng thì ta cũng làm như vậy. Ta không học để khoa trương kiến thức Phật học của ta trong khi pháp đàm, trong khi pháp thoại. Ta chỉ nói và chỉ dạy những gì ta đang hành trì. Nếu dạy thiền hành thì ta phải thực tập thiền hành thành công tới một mức nào đó rồi mới nên dạy. Còn không thì đừng nên dạy, khoan dạy đã. Đó gọi là thân giáo. Dạy bằng sự sống của ta. Có những vị không thích nói pháp thoại nhưng họ có thể là những giáo thọ rất giỏi vì các vị ấy đi, đứng, nằm, ngồi, tiếp xúc, sống với đại chúng rất hài hòa, rất an lạc, rất cởi mở. Đó là những bài pháp thoại sinh động, là những viên ngọc quý của tăng thân. Những người đó không phải chỉ giới hạn trong những vị xuất gia. Trong giới tại gia cũng có nhiều vị tu tập rất giỏi, rất tĩnh lặng, rất bác học. Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam có những người như vậy. Các vị ấy là cư sĩ, nhưng cách các vị sống và hành trì khiến cho các thầy, các sư cô cũng phải kính nể và xem như bậc thầy của họ. Cư sĩ Thiều Chửu, tác giả cuốn Hán-Việt từ điển; cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám… là những người cư sĩ như thế. Họ lên pháp tòa và dạy kinh cho các thầy, các sư cô, nhưng họ có đầy đủ sự khiêm cung. Cư sĩ Lê Đình Thám mỗi khi lên bục giảng đều mặc áo tràng và đảnh lễ các thầy, các sư cô trước rồi mới dạy. Các thầy, các sư cô cũng rất kính trọng cư sĩ Lê Đình Thám. Ở miền Bắc, miền Trung, miền Nam đều có các vị cư sĩ như thế. Các vị ấy được cung kính không phải bởi vì các vị giàu hay có quyền lực mà vì các vị có sự hành trì rất vững chãi. Các vị nói cái mà các vị làm.                       

Năm uẩn là tăng

Theo nguyên tắc, không có chướng ngại nào, không có rào cản nào ngăn cách giới xuất gia và giới tại gia tu tập và làm việc chung với nhau. Vì chúng ta có sứ mạng đem đạo Bụt đi vào cuộc đời, làm cho đạo Bụt trở thành hiện thực, có thể ứng dụng được trong mọi trường hợp, cho nên chúng ta rất cần các vị giáo thọ. Dòng tu Tiếp Hiện là một cánh tay nối dài của tăng thân xuất gia để đi vào cuộc đời. Cố nhiên các thầy, các sư cô, là những người xuất gia, cũng đi vào cuộc đời nhưng số lượng các thầy, các sư cô không đủ.

Chúng ta cần thêm rất nhiều những người Tiếp Hiện cư sĩ. Những người Tiếp Hiện cư sĩ là cánh tay nối dài của tứ chúng để vươn ra xã hội. Cần có hàng ngàn vị cư sĩ Tiếp Hiện như vậy, để làm việc, để giáo hóa. Cố nhiên ta không làm công việc của các vị giáo sư Phật học, ta làm công việc tổ chức tu học và ta phải là mẫu mực của sự tu học. Ta phải nắm vững các pháp môn, nắm vững Phật học ứng dụng. Ta phải có hạnh phúc khi ngồi, phải có hạnh phúc khi đi, phải có hạnh phúc khi thở. Ta phải có khả năng tổ chức một tăng thân tại địa phương và các thành viên trong tăng thân địa phương đó phải sống với nhau cho có hạnh phúc. Tăng thân phải có tình huynh đệ, gây được niềm tin cho người trong tỉnh, trong nước. Là người Tiếp Hiện, ta phải làm cho được chuyện đó. Tại mỗi quốc gia, mỗi thành phố đều phải có những tăng thân như thế.

Phối hợp tinh cần

Mười bốn giới Tiếp Hiện cần phải tu chỉnh lại. Chúng ta phải có một ủy ban nghiên cứu và tu chỉnh Mười bốn giới Tiếp Hiện. Người ta khen Mười bốn giới Tiếp Hiện, nhưng giới tướng Mười bốn giới Tiếp Hiện có thể đầy đủ và hay hơn. Trong giới thứ tư, giáo lý Tứ diệu đế đã được đưa vào nhưng vẫn còn khiếm khuyết. Trong giới ấy nói: “Tiếp xúc và quán chiếu về bản chất của khổ đau có thể giúp con phát khởi tâm từ bi và thấy được con đường thoát khổ.” Cái thiếu sót ở đây là tuy có nói tới khổ đau nhưng không nói tới khổ đau của mình trước. Sự thật là khi ta hiểu được nỗi khổ niềm đau của mình rồi thì ta mới có thể thực sự hiểu được nỗi khổ niềm đau của người khác. Thiếu sót là ở chỗ đó.

Con nguyện tìm tới với những kẻ khổ đau để hiểu biết được tình trạng của họ và để giúp đỡ họ. Bằng những phương tiện tiếp xúc, tường thuật, hình ảnh, âm thanh, con nguyện thường xuyên tự đánh thức mình và đánh thức những người xung quanh về sự có mặt của những khổ đau hiện thực khắp nơi trên thế giới.

Ở đây chỉ nói tới việc tìm tới với những kẻ khổ đau. Những việc này trên thế giới đã làm cả rồi. Nhưng việc nhận diện những khổ đau trong bản thân ta và quán chiếu vì sao chúng có mặt thì chưa nói tới. Điểm yếu của con người hiện tại là trốn tránh khổ đau của chính mình. Ta có những nỗi khổ niềm đau nhưng ta không có can đảm để nhận diện, để trở về, để quán chiếu, mà ta lại khỏa lấp niềm đau bằng cách tiêu thụ, bằng cách sử dụng âm nhạc, báo chí, tiểu thuyết và internet. Ta sử dụng những thứ đó không phải vì ta thực sự cần, mà chỉ vì ta không muốn tiếp xúc với khổ đau trong tâm ta. Ta đã không thực tập chữ Tiếp. Ta muốn tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống nhưng ta cũng phải tiếp xúc với những khổ đau của bản thân. Ta phải tìm cho ra được gốc rễ của những nỗi khổ niềm đau trong chính ta. Và khi hiểu được nỗi khổ niềm đau của chính mình rồi thì ta mới thấy được phương pháp diệt trừ. Cũng như hiểu được những khổ đau của ta rồi thì ta sẽ không làm cho người khác khổ đau nữa. Đây là điểm thiếu sót của giới này mà ta phải tu chỉnh lại.

Hiện giờ vấn đề về cái nhìn lưỡng nguyên là một trở ngại lớn. Điều đó không những trong chính trị, trong xã hội, trong tâm lý mà ngay trong khoa học cũng bị kẹt. Cho nên trong giới thứ nhất, ta phải đưa vào tuệ giác bất nhị. Tuệ giác bất nhị đánh tan được sự kỳ thị, sự cố chấp, sự phân biệt. Trong Năm giới ta đã làm được chuyện này. Năm giới hiện nay giống như Bồ tát giới. Chỉ cần thực tập Năm giới thôi là đã có hạnh phúc rất nhiều rồi, đã có thể là một vị Bồ tát rồi. Giới Tiếp Hiện ban đầu được thành lập là một hình thức của giới Bồ tát. Trong truyền thống Việt Nam, khi các thầy, các sư cô nhận giới Ba la đề mộc xoa là phải nhận thêm giới Bồ tát. Nhưng nhận giới Tiếp Hiện thì không cần nhận giới Bồ Tát nữa bởi vì giới Tiếp hiện chính là giới Bồ tát hiện đại của chúng ta.

Trong bốn mươi lăm năm hành đạo và thuyết pháp, Bụt đã thay đổi rất nhiều phương pháp giảng dạy và hành trì. Chúng ta cũng phải vậy. Bánh xe pháp mỗi ngày một đi tới. Hơn ba mươi năm qua, cách hành đạo của Làng Mai chứng tỏ rằng chúng ta luôn đi tới, luôn phát kiến những pháp môn mới, những cách giảng dạy mới có ích lợi hơn, có hiệu quả hơn. Trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, mỗi năm người ta đều chế tạo ra những máy tính mới, những software mới. Về phương diện giáo dục cũng vậy, mỗi năm có những sách giáo khoa mới. Đạo Bụt cũng thế, phải có những tiến bộ, phải đẩy bánh xe tiến hóa đi về phía trước thì đạo Bụt mới có thể đóng được vai trò lãnh đạo tâm linh. Những cái này dòng tu Tiếp Hiện phải biết, phải biết ta đang đi phía trước, ta phải đẩy bánh xe đi tới và chư Bụt, chư Tổ đang trông chờ ta làm chuyện đó.

Đi như một dòng sông

Chúng ta có rất nhiều Phật sự phải làm và chúng ta phải làm những Phật sự đó trong tinh thần tu tập, coi đó như là đối tượng của sự tu học của ta chứ không phải là công việc. Chúng ta phải có niềm vui khi làm những chuyện đó. Chúng ta phải có năng lượng, phải có sức sống của chánh pháp. Tới tuổi này mà tôi vẫn còn đầy năng lượng, vẫn tiếp tục dịch kinh và tôi nghĩ rằng càng ngày kinh tôi dịch càng dễ hiểu hơn. Tôi có rất nhiều niềm vui trong khi dịch kinh, trong khi giảng dạy, trong khi thực tập, trong khi đi thiền, trong khi hướng dẫn tu tập. Vấn đề ở đây là vấn đề năng lượng. Nếu ta cảm thấy không có năng lượng là vì ta thiếu nguyện lực. Muốn làm cái gì đó cho quê hương, cho đất nước, ta phải có lý tưởng, phải có một nguyện lực, phải có một niềm tin. Người nào trong chúng ta, xuất gia hay tại gia, mà không thấy hăng hái lắm trong sự tu học, không chịu học, không chịu tu là do người ấy thiếu sức sống của chánh pháp, thiếu nguyện lực, thiếu một khối lửa trong trái tim. Mỗi người Tiếp Hiện phải có một khối lửa trong trái tim, nó cung cấp sức sống, nó đẩy ta đi tới. Cái đó không phải là danh lợi, không phải là địa vị mà là tình thương lớn, là nguyện lực lớn để trở thành sự tiếp nối xứng đáng của Bụt, của Tổ, của Thầy. Và chúng ta không làm chuyện đó như một cá nhân, chúng ta đang thực hiện nguyện lực lớn ấy như một tăng thân, như một dòng sông.

Đạo Bụt mà chúng ta thực tập ở Làng Mai là sự tiếp nối của đạo Bụt đó, đạo Bụt dấn thân, đạo Bụt đi vào cuộc đời, đạo Bụt với tâm nguyện chữa trị những vết thương hiện có của con người thời đại, đạo Bụt với tâm nguyện tìm ra một lối thoát cho những khổ đau có thật của chúng ta chứ không phải là thứ đạo Bụt tìm sự trốn tránh những khó khăn và đau khổ của cuộc đời.

                      Các vị Tiếp Hiện sau lễ truyền giới tại Làng Mai Thái Lan

(Biên tập từ các bài pháp thoại ngày 06-07 tháng 05 năm 2008 tại Hà Nội, Việt Nam và pháp thoại ngày 11 tháng 06 năm 2010 tại Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu, Đức của Sư Ông Làng Mai.)

 

Nước mắt ngày xưa nay đã thành mưa

Này em, một lần trong buổi vấn đáp, em đã đặt câu hỏi: “Làm sao có thể an trú được trong hiện tại khi em đang có quá nhiều buồn khổ?”.

Em đã được nghe Thầy dạy cách thực tập dừng lại, đừng rong ruổi về quá khứ hay mơ tưởng đến tương lai, mà hãy trở về với hiện tại. Quá khứ đã không còn, tương lai thì chưa tới, chỉ khi nào thân và tâm an trú trong hiện tại thì mới có thể thật sự tiếp xúc được với sự sống, mới nhận diện và thưởng thức được những mầu nhiệm ngay trong con người mình và xung quanh mình như tuổi trẻ, cặp mắt sáng, như mây trắng, trời xanh… Và chỉ khi nào tiếp xúc được những mầu nhiệm ấy thì ta mới có thể được nuôi dưỡng, chuyển hóa và trị liệu.

Nhưng trong cuộc đời này, đâu phải chỉ có những mầu nhiệm của sự sống không đâu? Còn cái chết của những người thương, bệnh tật và bao nhiêu buồn khổ khác nữa? Em nghi ngờ. Sống ngoài đời khổ gấp trăm gấp ngàn lần sống trong tu viện. Có phải pháp môn này chỉ phù hợp cho giới xuất gia, hay cho những người có nhiều may mắn, có được một nếp sống thoải mái, có thì giờ rảnh rỗi để đi thiền hành mỗi ngày, để ngắm trời, ngắm hoa chăng? Còn em, nhìn lại cuộc sống hằng ngày của mình, em chỉ thấy phiền muộn. Đối với em, trở về với giây phút hiện tại chỉ có nghĩa là trở về với phiền muộn thôi. Là con người, dù sống ở đâu, ngay cả ở trong tu viện, thì cũng có những tâm tư của con người, như phiền muộn, khổ đau… Vì vậy mới phải thực tập để chuyển hóa. Tuy vậy, những phiền muộn trong tu viện chỉ giống như “sóng gió trong một bát canh”, đâu có thấm thía gì với những khổ đau tràn ngập ngoài đời!

Vì vậy tôi đã giữ im lặng và chưa bao giờ trả lời câu hỏi của em. Tôi biết, dù cố gắng trả lời như thế nào đi nữa thì cũng chỉ có thể chạm đến phần lý thuyết mà thôi. Khi chưa đi ngang qua kinh nghiệm sống thì nói gì cũng chỉ là lý thuyết. Và tôi đã đợi mãi đến hôm nay mới dám trả lời câu hỏi của em.

Này em, em có đồng ý rằng một trong những nỗi buồn khổ lớn nhất và sâu đậm nhất là khi mình đang mất, hay sắp mất một người thương không? Tôi đã đi qua nỗi khổ này hai lần trong đời rồi. Lần thứ nhất cách đây 24 năm lúc Ba tôi mất, lúc đó tôi chưa đi tu. Lần thứ hai là cách đây một năm, lúc mọi người tưởng rằng Thầy tôi sắp tịch. Lúc mới biết tin Thầy đang nằm hôn mê sau khi bị xuất huyết não, anh của tôi chỉ biết xuýt xoa trên điện thoại: “Tội sư cô quá! Ba đã mất vì đột quỵ, bây giờ Thầy cũng bị đột quỵ. Sao mà tội sư cô quá! Sư cô lại phải đi qua thêm một lần nữa”. Tôi là người đầu tiên trong gia đình phát hiện ra Ba bị đột quỵ đêm đó. Đứng ngoài hành lang cạnh bác sĩ Moinard trong bệnh viện, tôi cũng là người đầu tiên biết tin Thầy tôi bị xuất huyết não sáng hôm đó. Anh tôi biết cái khổ khi có người thương bị đột quỵ. Anh tôi cũng biết nguyên nhân gì đã đưa tôi đến con đường xuất gia, cũng biết Thầy là người cha tâm linh đã dìu dắt tôi ra khỏi cơn buồn khổ và ra khỏi nếp sống hệ lụy. Thầy có phải chỉ là người cha tâm linh của tôi không đâu? Anh tôi và em út tôi không xuất gia, nhưng đến khi anh tôi lấy vợ và em út tôi xuất giá thì cũng níu áo Thầy, xin Thầy làm lễ Thành hôn cho họ. Các chị của tôi đã lập gia đình hết rồi, nếu không thì chắc cũng vậy.

Một buổi khuya khi vừa thức giấc, tôi nằm yên trong bóng tối, định thần để nhớ lại xem mình đang ở đâu. Khi nhớ ra rằng mình đang ngủ tại khách sạn Bordeaux và Thầy thì đang nằm ở phòng cấp cứu tại bệnh viện, sống chết không biết ra sao, trong khoảnh khắc ấy, cả người tôi tràn ngập một cảm giác buồn tê tái. Đi theo cảm giác này là một năng lượng bệnh hoạn, chết chóc nặc mùi nhà thương mà tôi đã tiếp xúc trong những ngày trước đó. Bàng hoàng trước cảm giác nặng trĩu này, tôi hiểu được tâm trạng của những người tìm cách khỏa lấp những vấn đề khó khăn trong cuộc đời của họ mà tôi đã từng nghe. Sau đó, khi phải đối diện lại với thực tại thì họ không bớt khổ chút nào, trái lại, càng khổ hơn trước rất nhiều. Tôi đã không cố ý chạy trốn, ngược lại, tôi đã trông đợi tin tức mỗi giây mỗi phút vì muốn biết chính xác những gì đang xảy ra cho Thầy tôi. Nhưng trong khi thiếp đi vài giờ đồng hồ, tâm trí tôi không còn ý thức và quên đi những gì đang tiếp diễn, cũng giống như một người đang dùng giấc ngủ để trốn tránh niềm sầu khổ. Giờ đây, với kinh nghiệm bản thân, tôi có thể khẳng định với bạn rằng, chạy trốn giây phút hiện tại không giúp được gì cả.

Năng lượng nặng nề này đã đè chụp lên cả con người tôi, từ đỉnh đầu cho đến gót chân, từ ngoài da đi thật sâu vào tận xương thịt. Nó kéo tôi đi thật xa vào một cái hố to tối hù. Tôi phải ngồi bật dậy, thầm đọc bài kệ trong khi đưa chân vào đôi giày. Bước ra khỏi giường, tôi đi rửa mặt và tiếp tục thực tập thi kệ trong mỗi động tác kế tiếp.

Tình ruột thịt lúc nào cũng thiêng liêng và vượt thoát thời gian, không gian. Dẫu cho sống xa nhau nửa vòng trái đất, hay nói theo cách nôm na là cách biệt nhau giữa hai cõi âm dương, cũng không thể nào phai nhạt được. Bởi vì tình này nằm trong ruột, trong thịt, trong máu và trong mủ của mình. Vậy mới được gọi là tình ruột thịt, máu mủ. Lúc đó tôi tự hỏi: tôi và Thầy tôi đâu phải là ruột thịt mà sao Thầy tôi hôn mê, cảm giác của tôi không khác gì khi chính Ba tôi hay Mẹ tôi hôn mê?

Khi cạo đầu xuất gia, tôi lại được sinh ra một lần nữa để làm em bé trong gia đình tâm linh. Thầy tôi sinh ra tôi, và đóng vai trò làm mẹ cũng như làm cha.

Ở ngoài đời, con cái cần đến cha mẹ khi còn bé. Lớn lên rồi, sống trong xã hội, đi theo quy luật chung thì con cái phải tự lập, phải có một nếp sống riêng và một sự nghiệp riêng. Thầy trò chúng tôi cho đến bây giờ vẫn có cùng một nếp sống chung và một sự nghiệp chung. Là người xuất gia, chắc chắn là tôi phải tiếp tục học và hành suốt đời. Và nếu còn học thì vẫn còn cần đến Thầy. Không những cần Thầy dạy học mà còn cần Thầy soi sáng những lầm lỡ của mình nữa.

Như một người mẹ, Thầy tôi rất quan tâm đến nếp sống vật chất của chúng tôi như cái ăn, cái mặc, chỗ ở, tiền túi… Có một lần đi khóa tu, thấy tôi mặc chiếc áo nhật bình bạc màu, Thầy hỏi sư chị trụ trì xóm tôi một cách rất nhẹ nhàng: “Sao sư chị để cho sư em mặc áo cũ đi ra ngoài vậy?”. Tánh tôi không bao giờ để ý đến chuyện ăn mặc, nhưng vì thương sư chị, từ đó tôi luôn để dành những chiếc áo mới nhất để đi khóa tu và đi ra ngoài.

Mỗi sinh hoạt trong thời khóa thường nhật của chúng tôi từ đầu ngày cho đến cuối ngày đều có liên hệ trực tiếp đến Thầy. Bởi vì Thầy dạy chúng tôi cách bắt đầu một ngày mới với sự thực tập thi kệ lúc thức dậy, cách mang dép, cách đi nhà vệ sinh, vặn vòi nước, đánh răng, rửa mặt, cách ngồi thiền, tụng kinh, lạy Bụt, cách ăn sáng, cách đi, cách làm việc… Trong mỗi sinh hoạt, mỗi động tác, Thầy hướng dẫn chúng tôi cách thức để có thể tự nuôi dưỡng thân tâm và chuyển hóa khổ đau cho chính mình. Thầy chỉ dạy và soi sáng đời sống tu học cá nhân, cho đến cộng đồng. Thầy dạy cách sống hòa hợp trong một cộng đồng mà mỗi người đến từ mỗi quốc gia khác nhau, có văn hóa và tuổi tác khác nhau. Từ những năm đầu, Thầy đã làm mới và chỉ dạy cho chúng tôi cách tổ chức, sinh hoạt trong chúng xuất gia. Chính Thầy đề cử ra Ban chăm sóc, đã dạy chúng tôi vai trò cũng như cách thức làm việc của Ban chăm sóc, rồi của Hội đồng Tỳ kheo, Hội đồng Tỳ kheo ni, cho đến Hội đồng Giáo thọ, và vị Trụ trì. Viết đến đây, tôi còn cảm được năng lượng hớn hở và phấn khởi của các chị em tôi mỗi mùa đông giá lạnh, một tuần ba buổi, vào thiền đường sớm để có được một chỗ ngồi tốt, chuẩn bị để nghe buổi pháp thoại sắp tới. Nghe pháp hoài cũng vẫn muốn nghe thêm. Rồi còn bao nhiêu là những sinh hoạt khác với Thầy nữa!

Này em, chắc em đã hiểu vì sao những gì xảy ra cho Thầy đã ảnh hưởng tôi nhiều như vậy. Tôi có quyền buồn đau khi Thầy tôi bệnh nặng phải không em? Nhưng cái gì đã giúp cho tôi ra khỏi cái hố to tối hù vào buổi khuya hôm đó?

Sau khi thực tập thi kệ một hồi, lòng dịu lại được phần nào, đầu óc tôi sáng suốt hơn để nhớ rằng Thầy đang có mặt khắp mọi nơi, trong tăng thân xuất sĩ cũng như cư sĩ, trong tất cả những ai đang thực tập hơi thở chánh niệm, những ai đang bước những bước thiền hành trên quả địa cầu này, và nhất là trong chính tôi. Tôi cũng đã từng thực tập tiếp xúc với Ba tôi trong bàn tay tôi lúc Ba tôi mới mất. Nhưng lần này, có lẽ nhờ được nhắc nhở thường xuyên trong đời sống tu tập hằng ngày trong suốt 22 năm, đây là lần đầu tiên tôi thấy hiệu lực thần kỳ của cách nhìn sự vật dưới ánh sáng của tương tức. Nhận thức này đã kéo tôi ra khỏi hầm hố của sự đau buồn, hố càng sâu thì tôi được thoát ra càng mạnh. Đúng như những gì em cũng đã từng được nghe, chỉ có tuệ giác mới giúp mình vượt thoát khổ đau. Và nếu mình chưa có tuệ giác, mình cũng có thể nương theo tuệ giác mà mình đã được học thì cũng đỡ khổ rồi, phải không em?

Khi nhớ rằng Thầy tôi đang tiếp tục sống mạnh khỏe dưới hình tướng của tôi, bỗng nhiên một sức mạnh chưa từng có dâng lên trong lòng, phát khởi thành một lời nguyện. Lời nguyện này còn mạnh mẽ gấp nhiều lần so với lúc tôi phát nguyện xuất gia, lúc thọ giới lớn và cả lúc nhận truyền đăng từ Thầy. Tôi ngạc nhiên vô cùng! Tôi đã từng đi qua trạng thái thương nhớ, chán nản, không còn một chút năng lượng để làm gì khi sầu khổ. Giờ đây, chỉ cần thấy tôi là sự tiếp nối của Người thì tôi lại tràn đầy năng lượng và niềm ước vọng. Trước mặt tôi có bao nhiêu điều tôi muốn làm để tiếp tục sự nghiệp của Người. Chính cái nhìn này đã làm cho niềm khổ đau trong tôi thoát hình thành một nguồn năng lượng dũng mãnh để tạo ra lời phát nguyện đó. Càng khổ thì lời phát nguyện càng dũng mãnh. Tôi đã chứng kiến nét mặt và ánh mắt của Thầy chuyển từ trạng thái xuất huyết não qua đến trạng thái hôn mê, ruột gan tôi vẫn còn thắt lại khi viết đến đây. Tôi cảm thấy thấm thía những gì tôi đã được học về Lợi lạc của khổ đau (the goodness of suffering). Nếu em lấy khổ đau làm phân bón, từ bùn, em sẽ gặt hái được những đóa sen xinh tươi và thơm ngát nhất.

Này em, đây là lần đầu tiên tôi dám trả lời câu hỏi của em. Tôi không biết tôi có giúp được gì cho em không, nhưng ít nhất, tôi không nói lý thuyết suông. Và tôi cảm được rằng Thầy tôi cũng như Ba tôi đang mỉm cười, hài lòng về tôi lắm.

 

 

Mùa hè trong con

Thầy kính thương,

Một buổi chiều trong khóa tu mùa Hè năm 2014, con được sang Sơn Cốc dùng cơm với Thầy. Thầy biết con đang cùng một vài sư cô nữa chăm sóc chương trình dành cho các em “tuổi teen”. Vừa trông thấy con, Thầy đã nói ngay: “Này con, con có biết là con rất may mắn không? Con đang có cơ hội tưới tẩm hạt giống lành”. Con chỉ mỉm cười và chắp tay lại xá Thầy.

Từ lúc mới đến Làng Mai năm 2009, con đã rất thích chương trình dành cho các em thanh thiếu niên (teens program), nhưng không dám thử sức vì con thấy mình mới tu, chưa có nhiều kinh nghiệm. Đến mùa hè năm 2012 thì cơ hội đến với con. Nhưng tiếc là năm đó con chỉ làm được có hai tuần rồi phải về Indonesia chăm sóc cho mẹ. Tuy vậy con đã học hỏi được rất nhiều khi được làm chung với quý sư cô. Chỉ đến năm 2014 và năm 2015, con mới thực sự có mặt cho chương trình này trong suốt một tháng mùa hè.

Mỗi tuần trước khi bắt đầu, nhóm chăm sóc chương trình đã cùng thảo luận cách làm sao để chia sẻ các pháp môn chánh niệm với các em vừa vui vừa bổ ích. Con rất được nuôi dưỡng bởi sự hòa điệu trong nhóm. Chúng con đã cùng chia sẻ công việc, yểm trợ nhau và cùng làm việc như một cơ thể. Làm việc chung như một cơ thể thật là tuyệt diệu bởi vì người này bổ sung và hoàn thiện cho người kia. Chúng con ý thức là mình cần tạo mọi điều kiện các em có thể cảm thấy thoải mái để thực tập và chia sẻ thật những gì trong lòng.

Chương trình dành cho các em thanh thiếu niên có nội dung không khác gì nhiều so với chương trình của người lớn, cũng học cách trở về có mặt trong giây phút hiện tại, thực tập nghe chuông, tập thở, ngồi thiền, thiền hành, ăn cơm im lặng, nghe pháp thoại, học cách đối trị với những cảm xúc mạnh, thực tập làm mới… Vào mỗi đầu tuần, các em được hướng dẫn tổng quát (vì mỗi tuần đều có các em mới đến) và có cơ hội chia sẻ lý do vì sao các em muốn đến Làng Mai.

Phần lớn các em chỉ có cơ hội đến Làng một lần vào mùa hè, vì vậy chúng con khuyến khích các em thật sự tận dụng cơ hội này để quay về với chính mình mà không bỏ thì giờ lên mạng, sử dụng điện thoại… Các em cũng học cách chăm sóc thân thể, kết bạn với nhau một cách thân ái, chấp nhận và bao dung nhau thay vì cạnh tranh hơn thua. Con thấy tổ chức những trò chơi và những buổi đi bộ cùng nhau giúp các em truyền thông rất hay. Một khi các em đã kết bạn và chơi được với nhau thì các sinh hoạt trong chương trình sẽ trở nên thú vị và các em cũng dễ dàng mở lòng để chia sẻ hơn. Một số em đã đến Làng nhiều lần nên thực tập khá vững. Sự có mặt của các em đem lại rất nhiều năng lượng cho tập thể.

Nhiều chuyển hóa và trị liệu đã xảy ra khi các em thực tập làm mới với cha mẹ hoặc người thân. Trước khi bắt đầu buổi làm mới, chúng con chia sẻ với các bậc phụ huynh rằng đây là cơ hội để thực tập tưới hoa, để bày tỏ tình thương của mình đối với con cái mà không phải là lúc khuyên răn dạy dỗ hay nhắc nhở các em.

Có hai mẹ con năm nào cũng thực tập làm mới với nhau khi tới Làng. Sự khó khăn có mặt khi cô bé trở thành thiếu nữ. Cô bé nói với chúng con rằng mẹ không hiểu cô. Thế nhưng khi chúng con gặp người mẹ thì thấy cô bé rất giống mẹ, cô chính là sự tiếp nối của mẹ. Năm nay cô bé lên 16 tuổi và đã có kế hoạch từ đầu năm là cô sẽ dọn ra ở riêng khi tròn 16 tuổi. Cô đã viết một bức thư cho mẹ vì cô thấy khó nói chuyện trực tiếp. Mẹ cô đã bị sốc khi biết chuyện này, tuy nhiên bà hiểu con nên đã đồng ý cho cô bé ra ở riêng.

Trong buổi làm mới, bà mẹ nói rằng dù con có ở riêng thì bao giờ con cũng là con của mẹ, và bất cứ lúc nào con cũng có thể quay trở lại. Thường thì cô bé làm mới với mẹ rất hình thức, nhưng lần này cô đã chia sẻ rất sâu sắc và rất thật. Cô đã tưới hoa và bày tỏ tình thương đối với mẹ. Khi cô nhận ra được những cái đẹp nơi chính mình, cô cũng đồng thời nhận ra rằng đó là những cái đẹp mà cô tiếp nhận từ mẹ. Buổi làm mới đã đem lại cho hai mẹ con nhiều trị liệu. Con rất xúc động.

Con thích tiếp xúc với người trẻ bởi năng lượng của các em khiến tâm hồn con trẻ ra. Con đã giữ nhiều vai trò khác nhau trong chương trình teen, nhưng vai trò mà con thích nhất là làm một người bạn của các em. Sau khi biết tên nhau, con thấy mình dễ dàng đến với các em. Con bắt đầu bằng một nụ cười, hỏi han các em về trường học, về sở thích, về cái làm các em thích nhất khi đến Làng Mai… Những lời hỏi han như thế tạo nên sự gần gũi giữa con và các em. Dần dần các em mở lòng ra. Nhiều lần khi các em chia sẻ, con thấy trong con có rất nhiều điểm tương đồng. Sự tương đồng này giúp con hiểu được các em và hiểu sâu hơn về chính bản thân mình.

Con nhớ trong mùa hè năm 2015, một em gái đã chia sẻ với con những khó khăn của em trong việc học. Em luôn nỗ lực và học rất chăm chỉ, nhưng mỗi khi không đạt được kết quả như ý, em luôn dằn vặt và tự trách mình là đã không đủ cố gắng. Con lắng nghe và có chia sẻ với em về sự thực tập buông bỏ những đòi hỏi đối với bản thân, chấp nhận chính mình và hạnh phúc với những gì mình đang có. Em đã khóc và hứa với con là sẽ thực tập những điều này.

Thầy kính thương, Thầy đã dạy chúng con rằng học, chơi, làm việc và tu tập chỉ là một mà thôi. Khi con áp dụng điều này trong khóa tu mùa Hè, con đã có rất nhiều niềm vui và hạnh phúc mà không cần phải dụng công quá nhiều. Con đã chuyển hóa được nỗi buồn và chăm sóc em bé tổn thương trong con.

Từ khi con đọc được quyển sách “Reconciliation -Healing the Inner Child” (Chăm sóc và trị liệu em bé bị tổn thương trong ta) của Thầy, con đã thường xuyên mời em bé trong con cùng thực tập. Trong những ngày làm biếng, con tập nhìn sâu và tìm ra được nguyên nhân gốc rễ gây ra khổ đau cho con từ hồi còn bé thơ, nhờ vậy mà con đã tháo gỡ được nội kết ấy. Từ lúc đó trở đi, em bé trong con đã trở nên vui vẻ hơn nhiều.

Trong chuyến đi Anh hướng dẫn khóa tu với quý thầy và quý sư cô vào tháng 08 năm 2015, con lại một lần nữa có duyên được chơi với các em teens. Thực ra lúc đầu con không định tiếp tục công việc này trong chuyến đi vì con đã chăm sóc trong suốt bốn tuần mùa hè, nhưng một thầy lớn trong đoàn nói với con: “Đại chúng đã chọn sư cô làm chương trình teens rồi”. Vậy là con tùy thuận theo đại chúng và nhờ thế lại có được một tuần lễ đầy nuôi dưỡng khi hướng dẫn các em cùng với Michael và Teri, là hai cư sĩ giáo thọ. Có tất cả 10 em gái và 4 em trai, độ tuổi từ 12 đến 18. Đây là một nhóm có độ tuổi khá chênh lệch, tuy vậy các em rất hòa hợp với nhau.

Vào ngày thứ hai của khóa tu, một em trai đến nói với con: “Sư cô ơi, con là một người có chứng khó tập trung và quá hiếu động (ADHD)”. Con chỉ nhìn em mỉm cười. Con quan sát cậu bé trong một vài hôm và khi có dịp ngồi chia sẻ, em nói với con là ở trường học, các thầy cô giáo đã cho em biết là em có vấn đề bởi em không thể ngồi yên và tập trung trong lớp được.

Em hỏi con cách thiền tập. Em nghĩ là phải làm cho đầu mình trống rỗng thì mới thiền được. Con bảo em để ngón tay lên ngang mũi để cảm được không khí vào ra khi mình thở. Sau khi em làm như thế được vài phút, con bảo em nằm xuống và đặt hai bàn tay lên bụng để thấy bụng đang phồng lên xẹp xuống theo hơi thở. Em làm như thế được một vài phút nữa. Con nói với em là em không có chứng ADHD. Con cũng có cơ hội được nói chuyện thêm với mẹ của em để hiểu thêm về em. Con hy vọng là em sẽ có thể xóa bỏ được mặc cảm do người khác tạo nên trong em.

Trong nhóm còn có một em gái 14 tuổi, bị hội chứng Down. Chúng con đã sắp xếp một tình nguyện viên 18 tuổi luôn có mặt bên em để em thấy thoải mái và theo được các sinh hoạt. Con chưa có kinh nghiệm nào về người bị thiểu năng. Có thể thấy em rất muốn được học hỏi, thực tập và kết bạn với các em khác. Không hề có một sự phân biệt nào trong cách các em khác đối xử với em.

Các em đã ôm ấp, chấp nhận và luôn coi em là một thành viên trong mọi sinh hoạt. Điều này làm cho con rất xúc động.Vào cuối khóa tu, có 9 trong số 14 em đã xin thọ Năm giới, kể cả em gái bị hội chứng Down. Mẹ của em đã giúp em điền đơn xin thọ giới. Dù em không hiểu một cách rốt ráo về Năm giới nhưng em tỏ rõ quyết tâm thực tập và sống có hạnh phúc.

Buổi sáng truyền giới, tất cả các em đều dậy sớm để dự lễ. Nhìn thấy các em ngồi giữa thiền đường tiếp nhận Năm giới quý báu, con thật hạnh phúc khi các em đã có khả năng thực tập hiểu và thương cho chính bản thân mình và cho người khác.

Cảm ơn Thầy kính thương! Thầy đã gieo trồng và tưới tẩm những hạt giống tốt trong con. Và như Thầy đã dạy, con thấy mình thật sự rất là may mắn!
Sư con của Thầy.

Đến để tự thấy

Viết cho các anh chị em xa Làng

Nắng mới lên rồi. Ánh nắng từ phía đông hắt qua khu rừng hướng lâu đài rất đẹp. Ở phòng học Mây Tím nhìn ra, có những buổi sáng sương giăng, phủ khắp cả đồi mận, đẹp lắm. Lá thu vẫn còn đó, vàng đỏ, chập chùng, ẩn hiện. Cái lạnh của mùa đông cũng đang ngự trị, cho thu đông quyện vào nhau, cảnh vật trở nên huyền nhiệm. Con biết ơn nơi này, biết ơn Thầy đã cho mình đôi mắt biết nhìn, biết ngắm.

Trăng lặn, thật đẹp, thật thanh bình. Phòng học với cửa kính lớn rộng cho mình cảm giác như đang ở ngoài trời, đang tiếp xúc với trăng thật sự. Từ dưới đất, hơi lạnh bốc lên thành khói, thành sương, thành mây bảng lảng. Sao mà huyền hoặc và đẹp đến thế. Ngồi đây, con nhớ lại có lần đi Đức trong một khóa tu tổ chức ở Intersein, Thầy được ở trong một căn phòng có cửa kính lớn rộng từ đầu này đến đầu kia. Nhìn ra bên ngoài khung cảnh thật đẹp. Chẳng khác nào mình đang ngồi ngoài trời ngắm cảnh. Thầy thường hay mời các anh chị em lên uống trà ngắm cảnh với Thầy. Có phải cảnh đẹp cũng làm cho lòng mình hân hoan rộng mở? Con ngồi đây, không gian bên ngoài cũng giúp con tạo dựng không gian bên trong. Tương tức mà. Con ước mình có thể chụp được bức hình này gởi cho các anh chị em xem. Có lẽ tàng thức là một cái máy chụp hình chuyên nghiệp nhất. Rất sống động và thực, chỉ có điều khó để gởi cho các anh chị em.

Trăng vẫn chưa hề lặn”. Yên, yên lắm! Có những buổi sáng thức dậy, thấy các chị em, ai cũng an nơi chỗ ngồi của mình và ngắm trăng. Một cảnh tượng rất yên, lặng và đẹp. Đẹp từ bên ngoài lẫn bên trong. Ở chỗ ngồi của con nhìn ra, trăng lặn ngay bên cạnh lâu đài. Cảnh vật làm cho trăng nên thơ thêm. Mỗi loài hoa, mỗi con người, mỗi cảnh vật… có một vẻ đẹp riêng, và vẻ đẹp ấy được tô điểm bởi cái vị trí của nó, nơi nó được đặt lên. Một bình hoa đẹp không phải đặt ở đâu cũng đẹp. Nó phải phù hợp với không gian chung quanh nữa.

Xóm Hạ bây giờ thay đổi nhiều. Chỉ mới một năm thôi mà đã khác hẳn. Nhà ăn bây giờ khang trang hơn. Nhớ ngày khai trương nhà ăn, cũng là ngày xuất sĩ, anh chị em quây quần bên nhau ăn trưa thật ấm cúng và vui nhộn. Hơn hai năm xây dựng, xóm Hạ ở trong tình trạng bùn lầy nước đọng, đi ra ngoài là áo quần dính đầy bùn, không có ngày nào và không có ai là không dính bùn. Khất thực từ nhà Anh Đào đến thiền đường Cam Lộ (lúc này một nửa làm nhà ăn, một nửa làm nhà kho chứa đồ) những ngày mưa thật vất vả. Ăn xong lại lặn lội trở về nhà Anh Đào để rửa bát. Một số quý sư cô sử dụng bình bát của mình để đi thẳng về ni xá. Một số muốn thực tập như mọi người nên cũng dùng bát thủy tinh của nhà ăn, thấy mình đồng sự được với thiền sinh, cũng vui. Niềm vui tại tâm mà! Chính vì vậy mà thiền sinh cảm thấy hạnh phúc. Chẳng có ai phàn nàn, chẳng có chuyện gì xảy ra cho năm ấy cả. Ai cũng thực tập hết lòng và chấp nhận những thiếu hụt của xóm. Họ thương mình nhiều lắm nên mới chấp nhận được trong những điều kiện như thế. Bây giờ nghĩ lại giai đoạn đó thấy mấy chị em xóm Hạ cũng cừ thiệt. Các anh chị em từ xóm khác đến quán niệm một ngày là đã la làng chọc: “Sao giống về quê cày ruộng quá”. Có những chị em từ nơi khác về an cư thấy vậy, ngày nào cũng đẩy những chiếc xe rùa đầy đất đi đắp đường, thật là dễ thương.

Những ngày quán niệm cả ba xóm, những con đường vốn đã bị giới hạn lại giới hạn thêm bởi những chiếc xe cẩu, xe tải đào đất, ban đất và chở vật liệu. Thế mà nay mọi thứ đã khang trang (trừ nhà Anh Đào chưa sửa chữa), cư xá Hồng Giòn cũng đẹp và ấm cúng hẳn ra. Chung quanh, những con đường được trải sỏi, rất đẹp và sạch. Những ngày mưa, tuyết, vẫn khô ráo không bị bùn lầy.

Ấy! Xóm Hạ bây giờ sạch đẹp như thế đó. Kính mời các anh chị em về thăm Làng, thăm lại xóm Hạ một chuyến cho vui. Được gặp lại cố tri thì còn gì hạnh phúc bằng!

Tự do của một người tu

Bây giờ là mùa Giáng sinh. Các anh chị em biết rồi đó. Truyền thống của làng mình là bốc thăm để tặng quà cho nhau. Ai bốc trúng tên mình thì người đó sẽ làm ông già Noel của mình.

Mọi người háo hức vui khi chuẩn bị và làm những món quà, những tấm thiệp, đơn giản mà đẹp. Chưa tặng, không biết người kia nghĩ gì mà người chuẩn bị đã thấy hạnh phúc nuôi dưỡng rồi. Những ông già, bà già Noel làm việc rất hăng say, vui vẻ. Có khi đụng đầu nhau vì phải đi tặng quà trong những lúc tối trời, lúc mọi người đã lên giường ngủ hết.

Thế rồi ngày Noel đến. Sau một ngày chơi với bốn chúng, các anh chị em xuất sĩ có một ngày riêng ở Sơn Cốc. Quà chất đầy các cây Noel. Các xóm dâng quà lên Thầy, rồi tặng quà cho nhau. Thật là vui và sinh động! Sau đó đi thiền hành và ăn picnic. Mọi người ngồi rải rác khắp nơi. Có người ngồi dọc hai bên đường đi, có người ngồi quanh đống lửa, có người ngồi cạnh rặng tre, bờ suối, thành từng nhóm. Món quà tình huynh đệ dâng lên tặng Thầy.

Con cũng gói nhiều quà, và món quà làm con vui nhất, chắc cũng đứng hàng top ten, là món quà con gói cho sư út. Một đôi vớ rất dễ thương, có mấy em bé người tuyết, có những viền ngang xanh, trắng, cam, rất đẹp. Tất nhiên những đôi vớ như vậy thì không thể mang ra ngoài được rồi, nhưng mình có thể để dành cho những ngày bệnh, có thể mang ở trong phòng, trên giường bệnh, không cần phải đi ra ngoài nhiều. Mỗi lần bệnh con thường thích mang những đôi vớ như thế, nhìn thấy vui vui, ngồ ngộ, bớt ưu sầu vì sự đau nhức và mệt mỏi. Đôi vớ đó là từ một sư em giữ tủ chúng đưa cho con. Một ngày đó soạn đồ, thấy đôi vớ dễ thương quá, sư em bảo con gói lại tặng cho sư út. Con xuýt xoa: “Chu cha, đôi vớ này mình cũng thích nữa huống là sư út, chắc sư út hạnh phúc lắm đây”. Sư em bảo: “Hay là tặng cho sư cô đi”. Con nói: “Thôi, gói tặng sư út cho sư út vui”. Con gói lại mà lòng thấy vui chi lạ. Con để ý xem sư út hạnh phúc như thế nào khi nhận món quà này. Cũng tò mò, con hỏi:

– Con khui quà hết chưa?
– Dạ khui hết rồi.
– Vui không?
– Dạ vui lắm, con có rất nhiều quà, chất đầy giường luôn. Con để dồn lại rồi mở một lần.
– Con thích món quà nào nhất?

Em ậm ự… (Con biết, cũng khó để nói là món quà nào mình thích nhất, mỗi món mỗi vẻ, mười phân vẹn mười).

– Có món nào vui không?
– Dạ có.
– Món nào?
– Món đó đó.
– Món đó là món nào?
– Thì món có ghi chữ “thương tặng sư út” đó. (Rồi em mỉm cười như muốn nói là món sư cô tặng đó).
– Con nhận ra à? Có thích không?
– Trời, sư cô nghĩ răng rứa. Cái nớ con buông bỏ ra mà, để trong tủ chúng đó.

Đến lượt tôi… há miệng, trợn mắt… “Ủa, dzậy hả?”. Rồi cả hai cùng phá lên cười.

Món quà ấy làm con cứ cười hoài, và càng thấy rõ tự do của một người tu. Khi chưa đi tu, mỗi lần tặng quà mình cứ nghĩ tới những món quà nào có giá trị, hợp sở thích của người đó. Rồi người nhận quà cũng vậy, món quà đó có đẹp không? Có giá trị không? Nếu không thì cũng trách móc tại sao lại tặng quà cho mình như vậy, tặng mà không hiểu gì hết… Nếu mình lỡ tặng một món quà cho ai không có giá trị, không hợp sở thích của người đó… chắc mình cũng áy náy lắm. Còn bây giờ thì, những món quà như thế cho nhau những tràng cười. Bởi thế mới thấy người tu có nhiều tự do thật. Tràng cười tự do của người xuất sĩ.

Núi

Dù trời xanh mây trắng
Dù sóng gió bão giông
Dù mây sương mưa tuyết
Núi vẫn sừng sững bao dung
Mỉm một nụ cười trầm lặng.
 
Ngọn núi đã lên đèn
Ánh sáng trời thắp lên từng đỉnh núi
Nối dài một dải
Tràn xuống núi đồi
Êm ả, bình yên
An nhiên và chậm rãi
 
Chậm, chậm lắm!
Có thể mắt em không thấy được
Nhưng nhìn thật sâu, thật lâu, em sẽ thấy
Ánh sáng tràn.
Nhịp độ chậm làm cho lòng mình lắng lại
Để mở ra những ngõ ngách đã đóng kín từ lâu.
Em ôm Núi vào lòng
Và Núi cũng ôm em
Như thể em là con của Núi
(Đây là lần đầu tiên em nhận mình là con của Núi)
Núi cao và linh thiêng
Chắp tay em gởi lòng vào Núi
Nguyện cho hồn thiêng của núi sông che chở
Nguyện cho hồn thiêng của núi sông bảo hộ
Cho em vững chãi bền lâu.
 
Niềm vui của những người chinh phục đỉnh núi
Đã trở về ngự trị trong tất cả mọi tâm hồn
Tình yêu làm cho mọi sự trở nên có thể.
Núi đã thổi hồn mình vào từng viên đá, ngọn cỏ
 
Dù rất nhỏ mà cứu được những linh hồn
Cứu được những xác thân.
Núi không chỉ ngự trị trong những đỉnh cao đồ sộ
Núi có mặt trong từng viên đá, ngọn cỏ
Để từ những viên đá nhỏ, từ ngọn cỏ mong manh
Núi đã nâng mình lên cao, lên cao
Đến tận đỉnh trời.
 
Bài học mà Núi đã dạy cho những người con của Núi hôm nay:
“Không có gì quý hơn tình huynh đệ,
Những lúc hiểm nguy đừng hốt hoảng, giao động
Đừng lo lắng băn khoăn
Hãy giữ lòng yên bình
Núi sẽ ôm em vào lòng
Núi sẽ bảo hộ cho em”.
 
Nguyện cho núi sông muôn đời bao dung bình lặng
Và em, cũng bình lặng bao dung như Núi.
 

Những ngày làm biếng sau khóa tu mùa Hè, các chị em thường tổ chức đi núi Pyrénées, có khi là núi Alps ở Pháp. Lần này, các chị em xóm Hạ tổ chức đi núi Alps, Thụy Sĩ. Núi Thụy Sĩ đẹp và hùng vĩ. Con thích những chuyến đi. Những chuyến đi như thế mình hiểu thêm được các chị em của mình. Mọi người được chơi, được tự do, được là mình. Không cần phải gò bó, cố gắng hay gì cả. Lên tới nơi là mọi người đã hạnh phúc rồi. Có người thì thấy lên đến đó là đủ. Không cần phải đi đâu nữa. Ngồi ở nhà uống trà ngắm núi bên bếp sưởi củi thì còn gì thú vị bằng. Vừa đẹp, vừa ấm cúng, lại vừa khỏe. Và họ cũng không hiểu tại sao một số khác đã lên đến đây rồi, cảnh đẹp như thế này rồi mà còn đi đâu nữa? Có người thì trèo lên tận các đỉnh núi mới thấy thỏa thích. Lên đến đỉnh núi còn tuyết, vốc tuyết uống cà phê ở trên đó. Vừa lạnh run cầm cập, vừa thưởng thức hương vị cà phê với tuyết trên đỉnh núi cao ngất ấy mới thấy mãn nguyện.

Và họ cũng không hiểu tại sao lại có những người đi núi mà không leo núi, chỉ ngồi ở nhà uống trà… phí quá. Con thì có cảm giác mình hiểu được tất cả các tâm trạng ấy nên cứ để cho các chị em tận hưởng những sở thích của mình. Đi chơi mà! Ép uổng nhau làm gì? Thế nhưng cũng có một ngày, tất cả các chị em, đông đủ, một đoàn 35 người, nào giày, áo khoác, nào thức ăn, nước uống, nào gậy gộc, nào máy quay phim chụp hình… đi núi chung với nhau. Có người thích đi nhanh, có người thích đi tà tà, đi không cần đến, tới đâu thì tới. Chỗ nào thích thú thì ta dừng lại, uống trà, ngắm cảnh, chụp hình và lượm những viên đá đẹp. Khó để gom lại cho mọi người cùng đi chung một lần. Con thì thích đi nhóm giữa. Cứ đợi nhóm cuối đến gần mình, con lại phóng theo nhóm trước. Cứ thế mà làm thành một đoàn dài. Cảnh núi rừng hùng vĩ và đẹp quá. Đi đến đâu mọi người trầm trồ đến đó.

Đến một đoạn, nhìn lên, thấy các chị em ngồi trên một mỏm núi xanh, uống trà, nhìn xuống, khung cảnh thật là lãng mạn. Vừa hùng vĩ, vừa nên thơ, vừa vui, mà vừa có tình. Đỉnh núi này không phải là đỉnh cao nhất, nhưng lại là đỉnh khó trèo và mạo hiểm nhất khiến các chị em đầy phấn chấn với những khoảnh khắc lặng im hay những tiếng cười giòn. Các chị em, những người vượt lên được đoạn đường núi khó khăn này, đều học được bài học cho riêng mình, bài học “không có gì quý hơn Tình huynh đệ”, “yên mình lại để nương tựa Bụt nơi tự thân”. Có một khoảnh khắc mất thăng bằng, đối diện với hiểm nguy nơi vách núi cao, con đã gọi thầm: “Bụt ơi, cứu con”. Lạy Bụt, ngay tức thì con thấy yên lạ. Yên lắm. Yên nơi mỗi tế bào. Con đứng lặng như thế một lúc, và thở. Sau đó tiếp tục cuộc hành trình. Tự nhiên con thấy người mình nhẹ tênh và bình an lạ. Một tay con lấy viên đá đang cầm trong tay moi đất ra để có chỗ tựa chân, tay kia con níu từng bụi cỏ nhỏ để nâng người mình lên. Cứ thế mà vui với cuộc hành trình. Bụi cỏ chỉ là chỗ cho mình thêm điểm tựa thôi. Con không hiểu tại sao những bụi cỏ nhỏ như vậy, nhổ gốc như chơi, lại có thể nâng cả con người bốn mươi mấy ký này lên được. Đó là một kinh nghiệm mới mà con khó có thể lý giải. Kinh nghiệm này cứ ở trong con hoài. Một ngày, con nghiệm ra, khi mình yên lại thì cơ thể cũng nhẹ hơn. “Vật chất có thể biến thành năng lượng” mà! Có những người khi họ bước đi mình thấy nhẹ như mây bay. Kinh nghiệm đó cho con một cái thấy mới là khi biết nương tựa những điều nhỏ thì nó có thể đưa mình lên cao và đi xa. Ở trong chúng cũng vậy. Mình thường nghĩ là mình phải nương tựa Thầy, nương tựa các sư anh sư chị vững chãi, thực tập tốt. Điều đó là hẳn nhiên rồi, nhưng mình không biết là mình cũng nương tựa các sư em nhỏ nhiều lắm. Các em rất hồn nhiên, vô tư và trong sáng. Đôi khi đang buồn một chuyện gì đó chưa kịp chuyển hóa, các sư em nói một câu, kể một chuyện làm mình cười lăn, thế là nỗi buồn tự chuyển hóa lấy, không cần phải mất nhiều thời gian và năng lượng. Nếu biết nương tựa những điều nhỏ thì mình có thể đi rất xa.

Thầy hay nói: “Con nuôi Thầy nhiều lắm con biết không?” (Chắc ai cũng nghe Thầy nói câu này nhiều lần). Mình không thể tin được. Làm sao mình có thể nuôi Thầy được. Bây giờ thấy các sư em nuôi mình, mình mới hiểu Thầy, điều hồi xưa Thầy nói là có thật. Biết cách nương tựa tăng thân thì mình mới biết cách xây dựng tăng thân.

 

Ngày mới

Trần gian bỗng có tin vui
Ta đi quanh nghe tiếng nhắn gọi của đất trời
Chim chóc hát ca trên những vòm cây mùa thu vàng lá
Mây lên cao cho bầu trời thật nhẹ
Nghe thênh thang một cõi đi về
 
Tạ ơn đời
Hành trình sự sống có mặt tới hôm nay
Thế gian mở bừng từng con mắt sáng
Tôi nhìn em, nhìn tôi qua khung cửa đời mầu nhiệm
Muốn mở rộng vòng tay ôm cuộc sống chan hòa
 
Xin tạ ơn…
Tình người, tình đời vẫn bao la
Mỗi cái nhìn xin cho thêm một lần độ lượng
Mỗi hơi thở, mỗi bước chân xin một lần quay lại
Nơi cội nguồn sâu thẳm của tự tâm
Mỗi nụ cười hãy xóa dấu những niềm đau
Mỗi đôi tay là một cõi sẻ chia khi em lạc lối
Mỗi nhịp đập trái tim là một lần nghiêng xuống đời chớm mỏi
Để tin yêu nhiệt huyết lại đong đầy
 
Tạ ơn Mẹ Cha
Tạ ơn Thầy
Tạ ơn Sự Sống
vẫn còn đó hôm nay
có mặt cho con
cho hình hài vẹn nguyên
con mang thương yêu đi vào cuộc sống
Và chắp cánh con bay lên phương trời cao rộng
để giữa mênh mông, con nhận ra mình…
 

Tiếng Việt của con

Sư chú Trời Hiện Pháp là người Thái Lan. Năm 2010, sư chú đến nương tựa đại chúng Làng Mai Thái Lan và trở thành đứa con trong gia đình xuất gia Cây Hoa Gạo sau một thời gian tu học theo truyền thống Phật giáo tại đất nước của mình. Hiện sư chú đang thực tập tại Làng Mai, Pháp. Đây là những chia sẻ của sư chú, viết bằng tiếng Việt.

 

Toàn vũ trụ chứa trong hạt cải, ba thời gom lại một sát na”. Lúc trước, con cảm thấy câu kinh này quá sức thần thông hóa, nhưng từ từ, con nhận thấy nó chứa đựng sự thật. Sự thật mà không phải chỉ là lý trí huyền ảo. Nó là kinh nghiệm có được sau những thao thức quan sát thực tại, mà cũng là một cái gì đó vốn đã có sẵn trong mỗi người. Một lời mời khám phá.

Tiếng Việt của con lúc hai hay ba tuổi thấy chiếc nón lá, nghe bài dân ca hòa tiếng đàn trong vô tuyến truyền hình, dù chẳng hiểu gì mà thấy hay hay, thích thích.

Tiếng Việt của con là thứ sinh ngữ nước bạn hàng xóm không gần không xa, học rồi thấy giống tiếng mẹ đẻ ta. Cần thế vài ba chữ thì cũng thành câu. Tổ tiên hẳn đã sống cùng nhau, giao lưu gắn kết bền lâu trong dòng lịch sử suốt hai ngàn năm hơn.

Tiếng Việt của con, đọc sách Thầy thấy nhiều đánh động sâu thẳm trong tâm hồn, muốn tìm hiểu là hoàn cảnh nào, là nhân duyên nào đã tạo nên Thầy. Con cũng muốn biết huynh đệ đồng bào gắn bó cùng Thầy, vào năm 2010, anh em xuất sĩ áo nâu đông vui, ấm cúng, “pháp sống xum vầy” khiến con muốn học tiếng Việt từ đây.

Tiếng Việt của con bắt đầu từ câu: “Chào cô, chào chú, chào thầy, chào bác, cám ơn, không biết, không hiểu tiếng Việt, tạm biệt”, rồi thôi. Có ai ngạc nhiên nói thêm vài câu, con nghe, và cố nhiên, con nói được chừng đó thôi. Không qua ngôn ngữ, chỉ có cảm thông, tình thương thân mến, “tâm truyền tâm”.

Tiếng Việt của con ở dưới mái tranh, dưới bầu trời xanh, các em các anh “sống nghèo mà vui”. Rồi trong nhóm uống trà, con ngồi ở đó không biết nói gì, anh em cười ha ha, chắc nói xấu mình. “Phải vậy không hả?” (Are you sure?). Bắt đầu rồi đó, giờ phải tìm ra, con học tiếng Việt. Trong máu huyết đã có “nó” rồi, học thêm chắc là không khó. Kinh nghiệm học của con là “Không có cách học nào đưa tới cái hiểu tiếng Việt. Cái hiểu là con đường”.

Tiếng Việt của con không có lớp học đàng hoàng, không có giáo viên nhưng ai ai cũng là thầy, dù ít hay nhiều họ đã dạy cho. Tiếng Việt của con ở ngoài vườn rau, ở mái nhà bếp, ở đất Mami, đất bác Pu-lư. Gặp ai cứ hỏi: “Anh đang làm gì?”. Không phải hỏi thiền mà để học ngôn ngữ. Anh em từ bi chỉ bày hết lòng, với tâm thao thức vì cả hai bên đều muốn hiểu nhau.

Tiếng Việt của con tập đọc ghép chữ trong buổi tụng kinh sáng chiều công phu, vừa tưới tẩm hạt giống tốt, chỉ lối tu tập, vừa tăng thêm vốn ngôn ngữ.

Tiếng Việt của con là lúc Thầy nói pháp thoại video. Mọi người muốn con lắng nghe sâu sắc nên đã nhờ người khác thông dịch. Nhường qua nhường lại rốt cuộc không có ai dịch. Con ngồi yên, nghe không hiểu, một mình cô đơn mà vẫn ngồi đó, vừa thở vừa quên thở nhưng chẳng đòi hỏi ai. Thôi thì quyết chí về học tiếp.

Tiếng Việt của con không ép mình học mà vì sống vui quá, muốn thương, muốn hiểu nên từ từ thấm vô. Sau khi sống một tháng với tăng thân, một buổi pháp đàm chiều ngày quán niệm, thông dịch mất thời gian, vốn đã biết nhiều cụm từ căn bản rồi nên con xin chia sẻ bằng tiếng Việt, từ nào không hiểu thì mới hỏi bằng tiếng Anh. Ba tháng, trong pháp thoại, anh em ý thức đến giúp thông dịch nhưng con nghe hiểu nên bảo không cần, chỉ cần giúp con từ nào khó thôi. Bốn tháng nói chưa thuần như người Việt Nam lắm, nhưng khi thấy vài cách hành xử không dễ thương của anh em, con đã chia sẻ trong buổi pháp đàm, làm cho không khí trầm lặng, im ru. Con chưa hiểu tăng thân và từng anh em nhiều nên mới chia sẻ theo cái thấy cá nhân về cách tu, nhưng ai ngồi đó chắc cũng hiểu ý và hơi sợ cái ông sư mới đến này.

Tiếng Việt của con sau bảy tháng, có người cư sĩ Thái tới thăm, ở tại tu viện (đất cũ). Con bắt đầu hiểu tiếng Việt nên được mời thông dịch. Chúng lúc đầu khó khăn với chuyện ăn, chỗ ngủ, tổ chức đời sống tu tập, ngoại giao, mấy anh em trẻ mà ai cũng phải lo đảm trách việc chúng. Không ngần ngại, con phải dấn thân. Việc thông dịch lúc đầu rất rắc rối, nào là tai phải nghe, nào là đầu phải làm việc chuyển ngữ, nào là miệng phải nói ra, rồi tiếng mình đang nghe đánh lại với tiếng nói cộng thêm sự lo lắng, tìm chữ nào phù hợp trong hai tiếng khác nhau. Đó là sự tập luyện, trải qua một thời gian thì việc dịch đã trôi chảy như rót nước.

Tiếng Việt của con giờ đây đã thuận, không cần trong đầu dịch qua dịch lại Thái sang Việt như lúc đầu tập nói. Nghĩ gì nói nấy. Nói như cảm nhận tiếng mẹ đẻ, cũng như con đang từ từ cắm rễ vào tăng thân.Vì ý chí tu luyện bản thân, con đã từng muốn rút vào nơi thanh vắng, xa lánh cuộc đời, bởi vì con không thấy tính tình của con phù hợp hay gần gũi được với chính mình và cả với thế gian. Nhưng khi có bạn đồng tu, cảm thấy thân thương hơn huyết thống nên gọi nhau là “anh em”. Con biết rằng mình không cần làm gì nhiều. Hiểu nhau, nâng đỡ, khuyến khích nhau và để không gian cho mọi người trau dồi phẩm chất tu tập, mỗi chúng ta chỉ cần làm ít ít mà tác động cho đời thì có được rất nhiều rồi. Chúng ta là ai nếu không phải là anh em. Ai ơi, nếu còn nhớ chuyện trăm trứng trăm con của mẹ Âu Cơ và Lạc Long Quân, có biết trăm đứa con đó đang ở đâu chăng?

Tiếng Việt của con nói với anh em xuất gia thấy gần gũi làm sao, như ba mẹ sinh ra, có đủ niềm tin hơn cả người nhà. Thật ra đối với con đây chính là nhà. Trong khi đó, chưa ai nói tiếng Thái rành rọt mà lại ở đất Thái này. Vậy là con hoan hỷ dấn thân đi vào mỗi lĩnh vực: thông báo thời khóa, chào đón cư sĩ đến tu hoặc khách đến thăm, dịch pháp thoại, pháp đàm, thiền hướng dẫn, đi khóa tu, đi mua dụng cụ âm thanh, mua gỗ, mua vật liệu xây nhà, mua phân bón cây, đi bệnh viện, gặp nha sĩ, chú công an. Nhìn lại thấy vui, trong đời sống dưới mái tranh mong manh, vô thường bất trắc, lắm lúc không từng hẹn hò mà tới khiến cho con tỉnh thức, tinh cần, là cơ hội phát triển thêm tình huynh đệ. Đức Thế Tôn đã căn dặn: “Các thầy khất sĩ, quý vị không có cha, không có mẹ, nếu không chăm sóc cho nhau thì ai sẽ chăm sóc?”. Con thì muốn nói: “Quý vị đâu phải là bà con huyết thống, đâu phải là đồng bào đồng hương. Quý vị quốc tịch khác khi sống trong tổ quốc tôi, nhưng đã có điều gì làm cho tôi thương mến, trân quý và tôn trọng nơi quý vị, có điều gì trong lắng sâu làm cho tôi gần gũi với quý vị không khác người đồng bào tôi. Chính tôi đã chọn các anh em mà không phải các anh em chọn tôi”.

Tiếng Việt của con là những bài thiền ca đặc sản Làng Mai rất thích thú. Những danh từ đơn giản mà ý nghĩa sâu sắc làm rung động tâm hồn người hành giả. Với âm điệu thanh thoát nhẹ nhàng hoặc hùng vĩ, hoặc pha lẫn thanh điệu chân chất quê làng, như đưa con trở về cây cầu cây dừa chốn quê xưa. Về bản (quê), con rất thích bản sắc quê hương, dù quê Thái, quê Việt hay quê Tây đều thích cả. Từ xưa con vốn không thấy thích thú bài hát ái tình chua cay, khi biết tiếng Việt có nhiều bài hát rất phong phú về quê hương, tình người, hay bài hát trẻ con đầy ý nghĩa thì con quý lắm. Nhất là thiền ca rất thiền vị nên con cũng thấy thú vị. Nghe rồi, con còn sáng chế thêm mắm thêm muối nữa chứ. Tiếng Việt của con là câu ngâm thơ, ngâm Kiều, nhạc lý, nhạc chèo, nhạc cải lương. Nghe thấy hay hay trong đáy sâu tâm thức, thấy quê Thái quê Việt vốn không xa, thấy âm hưởng hao hao như nhau. Tiếng Việt của con không phải giọng Bắc, không Trung, không Nam, vậy mà nghe người Nam giả giọng Bắc không chuẩn chỗ nào là con nhận ra đó nha. Một lần trong khóa tu người Việt tại Thái Lan, con thấy một bác trai hơi buồn buồn nên đến hỏi thăm. Thấy con mặc y phục lạ lạ mà nói tiếng Việt, bác giật mình hỏi: “Thầy quê ở đâu?” Con đáp: “Ở Thái Nguyên.” Bác giật mình lần nữa: “Tôi cũng ở Thái Nguyên” (ý con là: tôi, người Thái nguyên vẹn, chưa từng đi Việt Nam hay nước ngoài lần nào cả). Có lẽ bác vui mừng được gặp đồng hương, một lúc sau lại hỏi: “Thế thầy ở Thái Nguyên mà là người kinh hay người dân tộc?” “Tôi không phải người kinh, người dân tộc!” Con trả lời thật thà. “Dân tộc nào: Tày, Nùng, Mường, Thái?” “Dân tộc Thái.” “Đúng thế.” Bác gật đầu nói tiếp: “Ừ, tôi nghe giọng thầy nói, tôi cũng đoán được thầy là người dân tộc!” (may là bác không hỏi Thái Nguyên mà ở huyện nào, xã nào, biết cái cầu đó, đường kia không? Chớ nếu bác hỏi thiệt thì chắc con bảo: tôi chỉ ở trên núi rừng, biết gì mấy tên đó đâu.)

Tiếng Việt con bắt đầu nói thong thả. Khi đi khóa tu cho người Thái, con cũng giúp thông dịch tiếng Việt, ngay cả đồng bào cũng nhận không ra. Chắc là thấy nhiều thầy, sư cô trẻ người Việt đã bắt đầu nói tiếng Thái khá giỏi nên họ đến hỏi con: “Sư chú nói tiếng Thái rõ quá, học lâu chưa?” “Lâu rồi!” (từ lúc mẹ đẻ ra rồi, nhưng con chỉ trả lời đúng câu họ hỏi thôi). Họ gật gù: “Giỏi quá, công nhận.” Mới vừa rồi còn trường hợp vui hơn nữa. Trong khóa tu đó mẹ con cũng có tham dự. Một thiền sinh nữ bảo người bạn bên cạnh: “Sư chú bận đồ Nam tông đó nói tiếng Thái rất rõ nha.” Mẹ con trả lời: “Thì sư chú là người Thái mà.” “Đâu phải, sư chú là người Việt đó.” “Chắc chắn sư chú là người Thái, vì sư chú là… con của tôi đấy.”

Tiếng Việt của con trong năm thứ ba phải đem ra trao đổi để giải thích tiếng Thái, tiếng mẹ đẻ của con cho các anh chị em khi đã lên đất mới và có lớp ngôn ngữ đàng hoàng. Các sư chú, sư em trẻ mang nhiều sức sống, thường làm chuyện cười cho lớp học có sinh khí ấm cúng thêm.

Tiếng Việt của con, một số từ có gốc chữ Hán, gồm có danh từ Phật học phiên âm từ tiếng Phạn. Tiếng Thái cũng có nhiều từ lấy ra từ tiếng Pali và Sankrit, có khi thấy đồng âm giữa ngôn ngữ Thái Việt, con cũng trích dẫn ra nguồn gốc nhiều thứ ngôn ngữ như thế. Có một lần một sư em làm mặt giận nói với con: “Biết nhiều ngôn ngữ không đưa tới giác ngộ” rồi sư em mỉm cười kết luận: “Không biết ngôn ngữ, không biết đường về chùa!”. Hai anh em cười khì khì với nhau. Đúng là chúng ta cần tu thêm với nội dung này.

Tiếng Việt của con là ngôn ngữ của tình anh em tha thiết và vô tư, đã khiến con, lúc đầu là một người khách xa lạ, trở thành gần gũi, thân thiện và hòa nhập vào mạch sống chung của tăng thân.

Tiếng Việt của con đã mở cho con một thế giới để gặp lại huynh đệ rất mới của ngày xưa. Tiếng Việt đã là một yếu tố, không phải mục đích mà là con đường đưa chúng ta tới với nhau. Không phải vì tiếng Việt mà vì trong tận sâu tâm thức ta đã có sẵn “nó” rồi. Nó là gì, con không biết rõ, nhưng nó đã làm cho chúng ta trở thành người xuất gia từ thuở thơ ấu với tâm hồn trong sáng, cởi mở mà vững mạnh, quyết chí. Con không biết “nó” nằm ở đâu, và con không thể chỉ “nó” nơi một người nào khi con đang gọi bằng anh em. Con chỉ cảm nhận qua khi sống chung mà thôi. Anh em con là như thế nên con cảm thấy gần gũi không kém người đồng bào nào.

Con không phải là người Việt, nhưng ít nhiều con cũng mang trong người dòng máu tổ tiên huyết thống và tâm linh Việt Nam. Con giống hay khác với người Việt Nam?

Tiếng Việt của con chắc chắn là không giống với tiếng Việt của nhiều người khác. Tiếng Việt của con cũng như thế giới của con, chỉ có mái tranh, cây dừa, hồ nước, ngọn đồi, ly trà, sương mù và anh em ngồi quanh thầm cười hay lặng yên bước đi. Thế giới của con chỉ là thế giới nho nhỏ của một đứa con không hay đi đây đi đó kiếm xem cái gì ở ngoài kia. Một thế giới giản dị và bình thường, nhưng vì con thương nên con vẫn vừa lòng với cái thế giới đó. Vì nó còn nhỏ nên nó sẽ còn rộng lớn lắm. Con đang kể về tiếng Việt của con, nhưng thật sự ai ai cũng biết rằng con không phải nói về tiếng Việt. Tiếng Việt của con không phải chỉ về ngôn ngữ mà là ý nghĩa giữa những dòng chữ, là sức mạnh tuổi trẻ, là khao khát thâm sâu, là truyền thông của lòng người, và những ai đã sống trong dòng chảy những gì mà con vừa kể thì chắc là sẽ hiểu rõ nhất rằng con đang nói gì đây.

 

 

Hạt mầm chắp tay chào ánh sáng

Hình như trong nắng có mưa

Vẫn cái nắng gần bốn mươi độ của mùa hè Thái Lan. Nóng! Chắc là nóng rồi. Dễ làm cho con người ta thấy bứt rứt khó chịu chăng? Một phần. Cáu gắt, thiền định khó hơn vì trời như đổ lửa? Dĩ nhiên không rồi. Mà trái lại, nguồn năng lượng đầm ấm, tươi mát, hồn nhiên và những tiếng cười trong trẻo đã xóa tan đi cái nóng bức. Và long lanh đâu đó cố giấu những hạt mưa! Chắc mọi người nghĩ tới những cơn mưa mùa hè, nếu có thì tuyệt quá. Nhưng ở đây, con muốn nói tới những hạt mưa long lanh, chảy dài trên những khuôn mặt thân thương – các “Đức Bụt trẻ thơ” (baby Buddha) của đại chúng.

Hôm 19 tháng Tư, ngày các sư cô, sư chú sa di nhỏ về lại gia đình sau khóa xuất gia gieo duyên ba tuần lễ tại Làng Mai Thái Lan. Hình ảnh các sư cô, sư chú tí hon nước mắt ngắn, nước mắt dài, cánh tay bé nhỏ ôm chầm quý thầy rồi sang thiền ôm với quý sư cô như muốn đem cả tăng thân về nhà với mình. Thiền đường sau giờ cơm quá đường trưa nay bỗng mưa tầm, mưa tã trong khi ngoài trời vẫn nắng. Có một em trai nhỏ chắp tay lạy tạ từng thầy, từng sư cô dù không nói được lời chia tay nào vì tâm hồn em, trái tim em được lấp đầy bởi tình thương yêu, em không muốn xa một chút nào. Có em dõng dạc tuyên bố: năm sau chắc chắn con sẽ về lại, xin cho con được ở lâu hơn. Có em lại nói: mặc dù con không còn là sư cô, sư chú nữa nhưng chúng con cũng vẫn là con của đại chúng, chúng con xin được trở về như về lại ngôi nhà của mình mỗi lúc chúng con được nghỉ lễ. Con không muốn về đâu mà tại con phải đi học…

Các “baby Buddha” ra đời

Sau khi chương trình xuất gia Năm năm ra đời và được áp dụng khá thành công, vào khoảng đầu năm 2014, Sư Ông có ước muốn tổ chức các khóa xuất gia gieo duyên ngắn hạn cho các em thiếu nhi hoặc người trẻ. Theo Sư Ông, đây là cơ hội để các em có thể thực tập và trải nghiệm đời sống thực sự của người tu trong một khoảng thời gian ngắn. Ở lứa tuổi đó những hạt giống của giáo pháp, của hiểu biết và thương yêu được tưới tẩm sẽ rất dễ ươm mầm và lớn lên tươi tốt. Nơi thích hợp nhất để thực hiện chương trình này là trung tâm Làng Mai Thái Lan. Nơi đây, người Thái đã có sẵn truyền thống xuất gia gieo duyên trong một tuần, hai tuần… vào các dịp lễ Tết, mùa An cư kết Hạ, để được có thêm kinh nghiệm tu tập và là cơ hội cúng dường phước đức cho cha mẹ, ông bà, tổ tiên.

Ước mơ của Sư Ông đã thành hiện thực khi khóa tu gieo duyên đầu tiên được tổ chức tại Làng Mai Thái Lan trong ba tuần (30.03 – 19.04.2015), dành cho các em thiếu nhi từ tám đến mười hai tuổi. Tuần đầu tiên của khóa tu, các em được hướng dẫn và làm quen với nề nếp, cách sinh hoạt trong tu viện. Tuy cùng trang lứa nhưng trông các em gái lớn hơn và đã tự chăm sóc cho mình được tốt rồi, còn các em trai thì trông nhỏ hơn. Phần đông các em chưa từng xa nhà lâu, chưa rời mẹ bao giờ.

Ngày 28 tháng Ba phụ huynh đưa các em đến để dự ngày quán niệm cuối tuần và sau đó để các em ở lại tu viện. Ải thứ nhất phải trải qua là “tập xa mẹ”. Có em, khi mẹ về rồi, giờ cơm trưa bưng chén khóc tấm tức. Lại có em ngồi một mình ở bậc tam cấp dẫn lên thiền đường, đến khi có sư cô ra hỏi thăm: sao em ngồi đây một mình mà không vào thực tập thiền buông thư với các bạn? Em nói: con muốn chờ mẹ. Sư cô nghĩ thầm: lại một “ca” khó giải quyết đây. Rồi sư cô ngồi xuống làm bạn, lân la hỏi thăm và phát hiện ra là em không nhõng nhẽo đòi về với mẹ đâu mà chỉ muốn thấy mẹ, chào mẹ trước khi mẹ về. Muốn được ôm mẹ một cái thôi vì chưa xa mẹ lâu bao giờ. Vẫn còn có một “đấng anh hào” hai, ba ngày sau, chiều tối lại khóc thật nhiều. Nhớ mẹ lắm, xin phép sư cô cho con ở ngoài, không vào thời khóa. Muốn gọi điện cho ba mẹ nhưng nhất định không gọi vì sợ ở nhà mẹ lại lo lắng. Cậu bé đi dạo quanh tu viện ngắm trăng, trò chuyện với bác tình nguyện viên người Thái để phần nào đỡ nhớ mẹ. Rồi cậu bé cũng vượt qua được nỗi nhớ đó để tiếp tục ở lại tu viện.

Các em tới từ nhiều nơi, nhiều hoàn cảnh gia đình khác nhau, từ khá giả, điều kiện đầy đủ, được nâng niu nuông chiều hay tới từ các mái ấm tình thương, mồ côi, và có em đang ở với mẹ vì ba mẹ đã chia tay. Với truyền thống lâu đời tại Thái Lan, người nữ đi xuất gia rất hiếm, mà nếu có thì những vị ấy đã lớn tuổi, vô chùa cạo tóc và mặc đồ trắng, gọi là Maechi, các vị chỉ thọ Tám giới. Các câu hỏi gửi về rất nhiều từ các em gái là: con thích đến khóa tu này lắm nhưng con không cạo tóc được không? Con cạo đầu cũng được nhưng hết nghỉ hè con phải đi học lại, con sợ bạn bè trêu chọc. Tại sao lại phải cạo đầu? Và rất nhiều phân vân từ các em gái. Cuối cùng tổng cộng đơn ghi danh gồm hai mươi em trai và mười một em gái.

Thời gian đầu để các em có thể sống chung với nhau, chấp nhận và chăm sóc nhau thì thật quả là giai đoạn mà người ta gọi “vạn sự khởi đầu nan”. Vì điều kiện phòng ốc, tiện nghi không đầy đủ như ở nhà, các em phải ngủ giường tầng và một phòng gần mười người nên một số em cũng khó ngủ. Nhưng có em lại rất thích thú trèo lên, tuột xuống khi chọn ngủ giường tầng trên. Xa ba, xa mẹ tuy khó nhưng tới giai đoạn này các em đã làm được, còn xa gấu bông cưng lại là một vấn đề “nan giải”. Các thầy, các sư cô, sư chú trẻ (thường được gọi là “baby monks” và “baby nuns”) nay bất đắc dĩ trở thành Y chỉ sư hết, nhận trách nhiệm chăm em và nuôi em. Mỗi em đều có các Y chỉ sư đi theo chăm sóc, nhắc nhở và hướng dẫn trong mọi thời khóa.

Trong các buổi học Uy nghi mỗi ngày, quý thầy, quý sư cô giáo thọ hướng dẫn và dạy cho các em chi tiết các chương uy nghi căn bản của một vị sa di. Những buổi học của tuần đầu tiên thật là đau đầu. Các em vốn là con nít nên hiếu động, thích chạy nhảy, vui nhộn, nô đùa. Các khóa tu trước đây của tu viện dành cho con nít hoặc thanh thiếu niên chỉ kéo dài năm ngày là dài nhất. Lần này đến hai mươi mốt ngày mà nội dung là chuyển hóa, uốn nắn các cô bé, chú bé từ “nguyên chất” thành một vị “tu sĩ”, vì vậy mà quý thầy, quý sư cô phải vận dụng thêm nhiều “phương tiện quyền xảo” hơn.

Nuôi dưỡng sơ tâm

Những đôi mắt tròn to đen láy, nụ cười còn e dè, nhìn các em trong bộ đồ vạt hò nâu, không ai còn có thể phân biệt được đâu là trẻ em thành phố, đâu là trẻ em đến từ vùng quê. Các em đều giống nhau ở một điểm nữa là hồn nhiên và tinh nghịch. Chương trình cho các em được bắt đầu với những tiết học nhạc kinh, thiền ca và thực tập uy nghi.

Mỗi sáng các em có thời khóa ngồi thiền mười lăm phút thay vì ngồi ba mươi phút với đại chúng lớn, sáu giờ sáng đi thiền hành cùng các thầy, các sư cô. Giờ thiền hành vẫn còn trong giờ thực tập im lặng hùng tráng, nhưng các em thực tập rất tốt. Vốn dĩ con nít là phải ngọ nguậy không ít thì nhiều mà. Các em trông như những chú chim nhỏ hòa vào đường bay của cả đàn chim lớn. Từng bước chân thiền hành mỗi sáng quanh vườn chùa làm cho những mỏm đá to nhỏ cũng thấy vui.

Mặt trời vừa ló dạng là đã thấy các em thiền hành. Vừa thấp vừa bé bằng một nửa người lớn, nhưng chăm chỉ và hết lòng thực tập không thua gì đâu! Có em mải theo dõi bước chân và sự tiếp xúc của bàn chân với mặt đất hay sao ấy, bất thình lình khi người lớn phía trước đã dừng lại để thưởng thức ánh nắng, sương sớm mà em không nhận ra, vẫn bước tiếp và tông thụi vào cả người phía trước. Những buổi thiền hành có các em bỗng nhiên sinh động hẳn lên. Thỉnh thoảng có cả những tiếng cười khúc khích của ai đó khi thấy những chú bé đi trước cả người dẫn chúng. Đi một hồi rồi các em dừng lại chờ người hướng dẫn và đại chúng tới.

Các em biết tiếp xúc với thiên nhiên, cây cỏ và hoa lá. Ngắm núi, thiền trăng và đi picnic, leo núi, tha hồ chạy nhảy hít thở không khí trong lành miền núi Khao Yai. Buổi trưa hơi nóng, các em được thực tập thiền buông thư. Con nít mà, ai chịu ngủ trưa! Có buổi, các em chạy chơi quanh vườn, đuổi bắt. Mải nô đùa mà quên giữ im lặng, thế là quý thầy xuất hiện và gọi hết vào nhà. Hôm sau dù không ngủ cũng tập nằm yên, theo dõi hơi thở và nghe hướng dẫn thiền buông thư. Trò chơi heo mẹ chở heo con là trò các em thích nhất. Chùa có những chiếc xe kéo hai bánh dùng để chở đồ, di chuyển rau từ vườn lên nhà bếp hay đại loại như vậy. Còn các em thì người khỏe nhất kéo xe trong khi ba, bốn em khác ngồi trên xe. Hì hục mà cười vang trong nắng trưa, mồ hôi nhễ nhại. Các vị chăm sóc lúc nào cũng phải cố gắng có mặt để trông nom các em. Nếu cần qua phòng khác làm việc gì thì các giác quan vẫn phải để ý các em. Nếu bỗng nhiên không khí yên ắng lạ thường là biết trò gì đó đã được phát minh.

Ngủ dậy phải tập xếp mùng mền, phải treo hoặc xếp đồ lên móc là những việc mà ít em nào làm ở nhà. Lúc đến đây, các em cũng được tập làm, một hồi cũng thấy vui. Giờ chấp tác các em xuống vườn hoa nhổ cỏ, cuốc đất, phụ phân loại rác, giặt bao nylon tái chế. Sống chung, các em có cơ hội huân tập cho mình nếp sống biết thương yêu, chăm sóc và giúp đỡ nhau.

Hoa nở tự vườn tâm

Mỗi một nụ hoa tượng trưng cho những điều đẹp đẽ, tinh khôi và tươi sáng nhất mà các em dâng tặng Bụt, chư Tổ, Sư Ông và đại chúng. Trưa mồng 04 tháng Tư, sau buổi cơm quá đường, các em được hướng dẫn lên trước đại chúng để làm lễ dẫn thỉnh. Các em đi đứng oai nghiêm và trang trọng nhưng vẫn mang một sắc thái rất trẻ con. Buổi lễ làm cho Ôn Thủ tọa, quý thầy, quý sư cô và đại chúng ai cũng hoan hỷ vì mình sắp có thêm các sư em ngộ nghĩnh, dễ thương. Trước đó các em đã có thêm một cơ hội nữa để xác định lại tâm bồ đề của mình, dù xuất gia chỉ hai tuần thôi. Một tuần vừa qua là thời gian để các em thử xem mình có thể đi hết chặng đường hay không.

 

Hôm đó là một ngày cuối tuần đẹp trời, các phụ huynh, gia đình các em đến rất đông. Có em còn có cả dòng họ đến để được chứng kiến cảnh con em mình xuất gia. Từ thiền đường xuống nhà bếp đâu đâu cũng thấy niềm vui. Gia đình nào cũng đem đến cúng dường nào sữa, nào bánh, nào rau… Quý thầy, quý sư cô thay phiên nhau tiếp khách, hướng dẫn. Các thiền sinh được chăm sóc và tiếp đón rất chu đáo, mỗi lần đến chùa cũng là cơ hội được về nhà, được tu tập.

Buổi chiều ba giờ, lễ xuất gia được cử hành trong không khí nghiêm trang và ấm áp. Hôm ấy, khắp thiền đường rực rỡ và hùng hậu với bao nhiêu là hoa và khung cảnh đại chúng đắp y vàng. Các em được mặc đồ truyền thống của Thái Lan, hoặc đồ đẹp nhất của mình, có em đã chọn mặc đồ học sinh. Buổi lễ dài hơn một tiếng đồng hồ. Các em quỳ gối trang nghiêm, tắm mình trong năng lượng hào hùng, linh thiêng, như mưa pháp tưới mát tâm hồn. Đất tâm của các em vốn đang tươi tốt màu mỡ nay được tiếp nhận những hạt giống đẹp đẽ, chắc chắn hoa trái sẽ tươi tốt, làm hạnh phúc và lợi lạc cho rất nhiều người. Dòng nước cam lộ rưới lên những mái đầu xinh xắn.

Gia đình xuất gia cũng có thứ tự trên dưới, có sư anh, sư chị và sư em. Các em bắt đầu biết chăm sóc, thương yêu và giúp đỡ nhau. Biết đâu là anh chị, đâu là em rồi, các em cũng tự nhiên biết trách nhiệm và bổn phận của mình. Sau khi đã được cạo sạch mái tóc, mặc chiếc áo nhật bình vào, các em nữ thì chít khăn, tất cả trông thật sáng, thật tươi. Ai cũng chững chạc, tươi sáng và thánh thiện. Buổi tối thiền trà với đại chúng là một buổi tối đầy tiếng cười, ấm áp, hạnh phúc phản chiếu trong ánh mắt các bậc phụ huynh. Mẹ của sư em Núi Tỉnh Thức chia sẻ trong nỗi xúc động và niềm vui trào dâng khi thấy con mình nay là xuất sĩ. Vì mẹ em bị tai biến, em thật sự muốn xuất gia gieo duyên để cúng dường phước, để cầu nguyện cho mẹ sống lâu với em. Biết là khó khăn nhưng đó là điều duy nhất em làm được cho mẹ. Còn có rất nhiều chia sẻ cảm động từ các sư cô, sư chú sa di mới và gia đình, nhiều sự chuyển hóa đã xảy ra chỉ sau hơn một tuần.

Mầm non đạo pháp

Uốn nắn một cây tre còn non nớt là cả một nghệ thuật và bao nhiêu tình thương, bao nhiêu tâm huyết của đại chúng nơi đây. Mỗi em mỗi tính nết, mỗi tập khí, ngay cả khi nhõng nhẽo cũng không ai giống ai. Có em rất giỏi, ngoan và gương mẫu nhưng có em muốn được thương nhiều, được các thầy, các sư cô để ý tới mình nhiều nên làm đủ thứ “khác người”.

Mỗi ngày trôi qua là một tông màu tinh khôi, mới mẻ mà các em tô điểm cho đời sống trong tu viện. Những câu nói ngây ngô, những nụ cười lém lỉnh và tính cách của từng em âm thầm gắn kết các em thành những tế bào thực thụ trong đại chúng. Khi mọi thứ được sắp đặt và thích nghi đâu vào đấy thì bỗng chốc ai cũng thấy thời gian sao ngắn quá. Các em được tham dự khóa tu gia đình hằng năm tại một khu nghỉ dưỡng. Hớn hở với chuyến “phụng sự” đầu đời lắm nhưng các em bỗng chốc cũng chen lẫn chút se lạnh trong lòng, vì trở về sau khóa tu, là lúc khóa xuất gia gieo duyên kết thúc.

Hình ảnh các em xuất hiện trong khóa tu đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong lòng các bạn thiền sinh về một đạo Bụt mới, một ảnh hưởng mới, một cách tu tập mới. Vì các em không phải ai xa lạ, mà chính là con cháu của đất nước Thái Lan. Dù còn nhỏ nhưng các em là những “chiến sĩ” tí hon mang sứ mạng làm mới đạo Bụt. Có thể các em không ý thức về điều này nhưng các em đang góp phần vào công trình đó. Trong khóa tu, các em lon ton giúp các sư cô chăm sóc các bạn nhỏ. Buổi đi khất thực đầu năm, hàng áo nâu nón lá được nối dài ra thêm một đoạn bởi các sư cô, sư chú nhỏ. Các sư bé cũng nghiêm trang bình bát trong tay, bước đi thong thả và kính cẩn nghiêng mình mở nắp bình bát đón nhận phẩm vật từ các vị cư sĩ hai bên đường. Trước pháp thoại của một ngày trong khóa tu, đại chúng xuất sĩ tụng nhạc kinh với nhạc trưởng là sư cha Pháp Niệm. Sau đó, “sư cha tí hon” Trời Nắng Mai làm nhạc trưởng cho chúng xuất sĩ tí hon tụng bài Nguyện ngày an lành, đêm an lành bằng tiếng Thái. Hình ảnh những búp măng tươi xinh, được bao bọc và tận hưởng bóng mát của vườn tre tăng thân làm bao nhiêu người thấy hoan hỷ trong lòng.

Tăng thân về muôn lối, ngàn đời ta có nhau

Tiễn các em về rồi, hôm sau, ban chăm sóc các “baby Buddha” có buổi ngồi chơi “tổng kết” khóa xuất gia gieo duyên đầu tiên. Ai cũng có một tâm trạng như nhau, rằng các em về rồi mặc dù mình thở phào nhẹ nhõm thật, không khí yên ắng được trả lại thật, nhưng sao thấy là lạ. Công sức bỏ ra chăm cho mấy chục em một lần như vậy không quản ngày đêm, đủ chuyện phải lo, mệt thì có mệt thật nhưng rất hạnh phúc! Nghĩ lại giai đoạn đầu ai cũng ngán, không biết mình có đủ sức đi tiếp cho đến cuối khóa không. Đây cũng là một trải nghiệm đầu tiên cho các thầy, các sư cô.

Rồi mỗi em về lại nhà, về lại với nếp sống cũ, với những bộn bề của ba mẹ, những hối hả của xã hội và nhộn nhịp của trường lớp. Nghĩ cũng tiếc công mình uốn nắn các em, giờ trả lại với môi trường ngoài kia, dễ gì các em còn giữ được nếp sống mới được huân tập ở tu viện. Nhưng cái lớn hơn, cao đẹp hơn mà tăng thân đã gieo vào mảnh đất tươi non, chắc chắn không bao giờ mất, đó là tình thương. Dù các em có lớn bao nhiêu đi chăng nữa, có trôi theo dòng chảy của xã hội hiện đại nhưng những giây phút an bình của nếp sống tu tập sẽ đem các em về lại với tăng thân. Biết đâu lúc nào đó vấp ngã trên đường đời, tâm hồn mang nặng những vết thương, các em sẽ biết có một mái ấm cho mình trở về. Về bên đại chúng, bên tuổi thơ với những ngày mình là một “baby Buddha”.

 

Nhàn

Năm nay, mùa làm biếng đến với tôi thật bình an, nhẹ nhàng và sâu lắng. Thích cái thanh nhàn của tu viện, cái không khí trong lành và mát dịu của mùa thu, sự tỉnh táo của thân tâm khi bắt gặp một hình ảnh đẹp.

Mười ngày làm biếng bây giờ đối với tôi, nó không quá dài và không quá ngắn. Năm trước, tôi thấy thật chán khi chờ từng ngày làm biếng trôi qua, phải sống với cảm giác đi vòng quanh, ghé chỗ này chỗ nọ chơi cho hết ngày, hay thỉnh thoảng lại thở dài than: “Sao lâu hết ngày thế”. Dĩ nhiên là lúc đó tôi vẫn có tập khí “làm biếng”. Làm biếng thở, làm biếng đi hay làm biếng chấm dứt những suy nghĩ miên man. Nói như thế không có nghĩa là bây giờ tôi không “làm biếng”, vẫn còn như thường, nhưng ít hơn và biết cách thưởng thức hơn.

Mây trời cẩm tú

Buổi sáng được ngồi thở cho sâu, thở cho khỏe, thở cho an, giây phút đó thật tuyệt vời. Chỉ cần ngồi cho vững chãi thì hơi thở đến với tôi thật tự nhiên và thật bền. Có những sáng trời trở gió, trùm tấm chăn mỏng, đội cái mũ len, ngồi đón chào sự xoay vần của vũ trụ, sự chuyển biến của đất trời, bỗng thấy mình thật giàu có. Đất trời như nằm gọn trong lòng hạt sỏi sáng nay.

Mở mắt ra, nhìn sang phải, thấy sư anh đang ngồi bên cạnh, quay sang trái, thấy sư em đang “nhập định” với những cái gật gù. Hạnh phúc bây giờ chỉ bấy nhiêu thôi.

Hương thầm

Nhà thơ Hữu Thỉnh nhận ra thu qua mùi hương ổi chín:

“Bỗng nhận ra hương ổi
Phảng vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.”

Tôi nhận ra thu không phải qua hương ổi chín, tôi thấy thu về qua hương thơm nhẹ nhàng của cây bạch hạc đầu ngõ, qua hương thơm nhẹ nhàng của hàng nguyệt quế hay cái nồng nàn thân quen của hoa sữa. Có nhiều buổi tối, hương hoa sữa chạy thẳng vào phòng, làm tôi phải ngập ngừng dừng lại như một thoáng làm quen. Mỗi lần bắt gặp hương hoa ấy, là như một lần gặp lại đứa em ruột thịt từ muôn kiếp, lạ lẫm mà mừng vui khi nhận ra tri kỷ ở xứ người. Giây phút ấy, dù đang mơ màng buồn ngủ, tôi cũng dành một chút thời gian đi tìm đứa em thương. Quàng một cái khăn, khoác thêm chiếc áo mỏng, thế là đủ cho một cuộc tương phùng.

Ba ngàn thế giới không đầy tấc gang

Buổi sáng, con đường thiền hành thật dài và đẹp, mềm mại, yên bình và tinh khôi. Sương còn vương trên lá, hai bên xanh mướt màu cỏ non, từng bụi hoa dại li ti nở trắng cả vệ đường. Tôi được báo thức một ngày mới bởi tiếng gà rừng gáy le te từng hồi. Hình như nó phát ra phía sau cốc Thầy. Sáng sớm, tiếng gà gáy nghe thật thích, thanh bình quá trong khung cảnh đồng quê. Cốc Thầy đẹp lắm. Ngồi uống trà nơi này mỗi ban mai, ta sẽ thấy từng đàn sóc trắng chuyền cành, từng đàn chim cu gáy đậu trên mái tranh gọi nhau gù gù, hay từng đàn sáo kiếm ăn bên mé đồi, rồi lần lượt bay vút lên trời xanh.

Phía sau cốc là vườn Bụt. Ngày làm biếng, có nhiều thời gian đứng yên trước Bụt, nhìn thật sâu nụ cười hiền lành nơi khuôn mặt điềm nhiên, lòng người cũng lắng xuống. Ai đó đã đặt một bó hoa hồng dưới chân Bụt. Trong lòng thấy thương Bụt nhiều, tôi lại gần đặt bàn tay vào chân Bụt, bàn chân Bụt như mềm ra, thật mịn và thật ấm.

Mấy ngày làm biếng, trong vườn Bụt xuất hiện thêm một ông Bụt nữa, trước đó có bảy, giờ thêm một là tám. Bảy ông Bụt kia được đại chúng an vị cẩn thận, còn ông Bụt này là khách tự do đến đi. Ông Bụt này không thích bị dân chúng chú ý nên ngồi ẩn mình sau một phiến đá cao quá đầu người. Sở dĩ tôi phát hiện ra được vì trong khi tôi đang ngắm những ông Bụt tượng hình từ đá núi, thì ông Bụt này thỉnh thoảng quơ tay lên đuổi muỗi.

Lúc này câu thơ của Sư Ông xuất hiện trong đầu:

“Ngồi đây lắng tiếng chim bay
Ba ngàn thế giới không đầy tấc gang”

Ông Bụt bằng đá đang ngồi cạnh ông Bụt mềm mại, có mặt cho cả hiện tại và tương lai, khoảng cách chỉ vài tấc gang. Một cảnh tượng thật đẹp, nhiệm mầu và hy hữu. Không gian giờ đây hình như không còn cách biệt. Bụt dưới hình tướng nào, dường như chỉ còn là ý niệm. Tất cả là một, hòa quyện vào nhau, tôi chỉ có thể đo được bằng hơi thở mà thôi.

Tình bạn

Mùa làm biếng là thời gian chúng tôi đi tận hưởng vẻ đẹp và sự giàu có của đất trời nhiều nhất. Từng cuộc hẹn, lên lịch, thông báo cho nhau. Nào chơi theo cây xuất gia, chơi theo tri, theo nhóm, theo miền, theo lớp, theo tuổi, theo sở thích… đủ hết cả. Sáng sớm và chiều tối là nhộn nhịp nhất. Mới tờ mờ sáng, phòng nào phòng nấy bật đèn sáng choang. Chuẩn bị nào trà, nào bánh, nước sôi, mỳ gói, bánh mỳ, nấm kho, tương chao, đậu đỗ đủ hết, và hẳn nhiên là cả những câu chuyện tu học để chia sẻ cho nhau nghe. Đồ ăn thức uống đầy ắp cả ba lô để chuẩn bị cho một ngày chơi đầy tình huynh đệ, niềm vui và nuôi dưỡng nhau. Nơi chiếc ba lô đơn sơ ấy, có trái tim đầy lửa nguyện của những người tu trẻ.

Có những sáng thức dậy, tăng xá thật yên, nhìn quanh chỉ lác đác vài anh em ở nhà. Thấy vui trong lòng. Người đi chơi cũng vui mà người ở nhà cũng vui. Tu-chơi dung thông.

Chiều tối là lúc nhà bếp nhộn nhịp hơn ngày thường. Để chuẩn bị chiêu đãi cho ngày hôm sau, những anh chị em đi chơi tha hồ trổ tài nấu nướng. Tiếng cười nói rộn rã, người làm món này, người sửa soạn món kia, mùi xào nấu xèo xèo thơm phức. Bao nhiêu tình thương, đã để vào trong sự cẩn trọng từng công việc, từng động tác.

Về Làng

Mùa làm biếng năm nay, tôi thấy mình như được về Làng thật sự. Đây có lẽ là lần đầu tiên tôi tiếp xúc được với linh hồn của Làng. Trước đó có khi tôi chỉ được nghe, được kể, được nhìn về làm biếng. Nhưng giờ đây tôi cảm thấy tôi đã chạm được phần nào vào linh hồn của Làng, linh hồn của sự thực tập làm biếng đích thực.

Chưa bao giờ tôi thấy chữ Làng lại gần gũi, thân quen và lắng dịu như vậy. Có phải tôi đã được về Làng rồi chăng!

Nhật ký mùa Làm biếng, 2015
 

Con đã về

Áo nâu đón áo nâu

Quả cầu lửa màu cam đang lơ lửng trên bầu trời trong vắt. Đó là cảnh hoàng hôn tuyệt đẹp mà con chưa từng thấy ở Jakarta, thành phố nơi con được sinh ra. Sư cô Tân Nghiêm và con đang trên đường ra sân bay để đón gia đình Áo nâu tới Indonesia cho chuyến hoằng pháp 2015. Thật rủi ro vì đang giờ cao điểm. Có lẽ phân nửa dân số của Jakarta đang trên đường từ sở làm về. Rủi hơn nữa vì đó cũng là buổi tối trước kỳ nghỉ cuối tuần, rất nhiều người đang trên đường ra sân bay để kịp giờ bay. Tuy vậy trong cái rủi bao giờ cũng có cái may. Bác tài xế lái xe cho chúng con rất rành đường nên có thể tránh được dòng xe cộ đông đúc đó. Khi vào đến khu vực gần sân bay, chúng con có thể nhìn thấy một dòng xe cộ đủ màu, đủ loại đang nối đuôi nhau trên đường phố.

“Biết rõ đường đi lối về” là một kỹ năng quan trọng mà người ta cần phải có khi sống ở Jakarta nếu không muốn bị kẹt trong dòng xe cộ suốt 2-3 tiếng đồng hồ. Con nghĩ điều này cũng giống như trong sự tu tập. Chúng ta cũng phải “tỏ đường đi lối về” để không bị mắc kẹt trong khổ đau. Mà thôi, bây giờ mình quay về giây phút hiện tại. Chúng con cảm ơn người tài xế rất rành đường đã giúp chúng con tránh được nạn kẹt xe. Nhờ vậy mà chúng con đã đến sân bay đúng giờ để đón phái đoàn.

Máy bay đến trễ. Có vẻ như trên đó cũng có nạn kẹt… máy bay. Tính tiếu lâm của con lại nổi lên rồi. Con đang đứng chờ gần cửa ga, mặc chiếc áo nhật bình đẹp nhất, đầu chít khăn cẩn thận. Bất chợt con nhận ra đây là lần đầu tiên con được đón tăng đoàn trên quê hương mình trong chiếc áo người tu. Tâm trí con chợt đi về quá khứ. Từ năm 2008, con đã có cơ hội ít nhất là 5 lần ra sân bay để đón tăng đoàn Làng Mai đến Indonesia hướng dẫn khóa tu. Giờ đây, con cũng đang có mặt ở sân bay, nhưng là để đón… những huynh đệ xuất sĩ của mình. Trong con có một cảm giác thật khó tả, vừa hạnh phúc vừa thấy hơi là lạ, cứ như một giấc mơ. Trở về nước sau gần bốn năm xa cách, thăm viếng bạn bè, gia đình, đón tăng đoàn và gia nhập vào chuyến hoằng pháp tại Indonesia với tư cách một người xuất gia, mọi thứ quả thật mới mẻ đối với con. Chắc chắn những giây phút đầy ý nghĩa trong chuyến hoằng pháp này sẽ để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm thức con.

Thời gian đi tựa tên bay. Mũi tên thời gian bây giờ kéo con trở về với giây phút hiện tại, bởi vì ở cửa ga đã xuất hiện những bóng áo nâu. Sư cô Chân Không, sư cô Thoại Nghiêm và thầy Pháp Khâm là những người đi đầu, đang bước chậm rãi với nụ cười trên môi.

Đi như một dòng sông

Sau khi ăn chiều tại sân bay, mọi người lên xe về khách sạn Yasmin tại Puncak, nơi tổ chức khóa tu, cách sân bay ba giờ lái xe (nếu không đi trong giờ cao điểm). Ban tổ chức đã chu đáo thuê cảnh sát mở đường cho phái đoàn, bởi vì ngày hôm đó, bất cứ nơi đâu cũng bị kẹt xe. Nếu không có cảnh sát dẫn đường thì chẳng biết bao giờ chúng con mới đến nơi.

Đi như một dòng sông là chủ đề của khóa tu năm ngày, từ 14 đến 18 tháng 05 năm 2015. Có khoảng 600 người tham dự. Ban tổ chức ở Ekayana Buddhist Center đã làm việc cật lực cho khóa tu lần này. Chúng con đã lên chương trình cho chuyến hoằng pháp này một năm trước khi Thầy bị bệnh, nhưng sau đó mọi người không biết là có thể tiếp tục tổ chức chuyến hoằng pháp hay không. Vì vậy, khi được tin chuyến hoằng pháp vẫn diễn ra, thời gian dành cho chuẩn bị rất ngắn ngủi. Việc ghi danh chỉ bắt đầu khoảng hai tháng trước khi có khóa tu.Có rất nhiều điều mà con học hỏi được từ khóa tu. Có một lần con được nhờ thông dịch cho một phụ nữ đang cần tham vấn. Trong buổi tham vấn, con nhận ra rằng mình có thể tiếp xúc được với bộ mặt thật của thực tại, đó là khổ đau. Người ta có thể ăn mặc rất đẹp đẽ, nước hoa thơm ngát, nhìn bên ngoài có vẻ rất mãn nguyện và ổn định trong cuộc sống. Khó ai có thể biết được những khổ đau đằng sau bề ngoài sang trọng đó.

Cái đẹp của sự nhẫn nhục hay kham nhẫn là một trong những điều mà con học hỏi được từ khóa tu này và từ các buổi tham vấn. Một người mẹ có hai con đang phải nhẫn nhịn để giữ cho gia đình không bị đổ vỡ khi chồng không chung thủy; một người chị phải nhẫn nhịn để giữ gìn sự hòa hợp giữa các anh chị em trong gia đình khi có những tranh chấp xảy ra… Còn nhiều vấn đề muôn thuở khác nữa của cuộc sống gia đình, đồng thời cũng là những vấn đề lớn lao và phức tạp của cả nhân loại. Con thấy rất cảm động bởi vì con biết chỉ có tình thương mới có thể giúp cho người ta có thể nhẫn nhịn như vậy mà thôi.

Con quán chiếu về phẩm chất này trên con đường tu tập của mình. Nhẫn nhục hay kham nhẫn là một trong những hạnh quan trọng nhất, là một trong Sáu phép Ba la mật. Không có hạnh nhẫn nhục, chúng ta sẽ đi vòng quanh, không bao giờ có thể thoát ra khỏi khổ đau. Gần đây có một sư cô nói với con rằng nhẫn nhục là một nguồn phước đức. Con rất thích điều này dù con nghĩ thực hiện nó không dễ chút nào. Phải có nghị lực, sự hoan hỷ và tuệ giác thì mới mong làm được. Con nhớ lại câu thơ nổi tiếng của tổ Hoàng Bá ở Trung Hoa: “Chẳng phải một phen xương lạnh buốt, hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương!”.

Giờ đây con càng tâm đắc câu thơ ấy bởi con đang sống ở Làng Mai, đi qua mùa đông và thưởng thức hoa mai nở rộ trên đồi. Khi con thưởng thức hoa mai, con biết một trong những nhân duyên hội tụ để những đóa hoa được biểu hiện, đó là sự kham nhẫn.

Dòng sông vẫn đang tuôn chảy

Ngày 20 tháng 05, sau khi khóa tu chấm dứt, dòng sông tăng thân tiếp tục xuôi về Yogyakarta, cách Jakarta khoảng một giờ bay. Sáng hôm sau, tăng đoàn lên xe đi thăm khu đất được cúng dường bởi một thương nhân thành công ở Indonesia, một người rất thương kính Sư Ông và pháp môn Làng Mai. Ông cũng đồng thời là một người rất năng nổ trong giới Phật tử, đã áp dụng phương pháp thực tập của Làng Mai ở văn phòng làm việc. Ông cho đặt một cái chuông trong phòng họp tại nơi làm việc. Mỗi thứ Sáu, tất cả các nhân viên của ông mang theo thức ăn và cùng nhau thực tập ăn trong chánh niệm. Họ có rất nhiều cảm hứng khi nghe ông chia sẻ. Không phải tất cả nhân viên của ông đều là Phật tử, vậy mà họ đã mở lòng ra đón nhận sự thực tập này. Ông đã chia sẻ rằng một nhân viên của ông đã được khách hàng khen ngợi vì khả năng lắng nghe của người đó.

Khu đất được cúng dường cách sân bay khoảng 3-4 tiếng đồng hồ lái xe, nằm trong địa phận của đảo Java, nơi có khoảng 136 triệu dân – tức 60% dân số của Indonesia đang sinh sống. Rất nhiều sự kiện lịch sử đã diễn ra tại hòn đảo này. Vào thế kỷ thứ VII, đế chế thời bấy giờ đã cho phép đạo Hindu và đạo Bụt được du nhập và phát triển tại Java. Chỉ sau khi những người đạo Hồi chiếm đảo Java, các Phật tử đã chạy sang Bali hoặc lên vùng núi ở trung tâm đảo Java. Theo thống kê, hiện có khoảng 750 ngàn người theo đạo Bụt ở trung tâm Java. Đây là những người có gốc đạo Bụt, từ đời này sang đời khác.

Một nhóm quý thầy, quý sư cô đã có cơ hội đi thăm một số làng Phật tử ở những vùng sâu, vùng xa của đảo Java. Dân chúng các vùng này sống rất đơn sơ và thanh bạch. Phần lớn là nông dân. Sau một ngày làm việc đồng áng, họ về nhà dùng cơm chiều, sau đó đến chùa để tụng kinh. Đây là sinh hoạt thường nhật của họ mà không có sự hướng dẫn của người xuất gia. Các thầy thỉnh thoảng từ nơi khác đến cho pháp thoại mà thôi. Sự tinh tấn của người dân ở đây làm con rất cảm phục.

Khi chúng con đến khu đất được cúng dường, trời hãy còn sớm lắm. Cần phải leo lên một con dốc cao và thẳng đứng mới đến được vùng đất bằng phẳng. Ở nơi đó, một cái bục và một bàn thờ đã được chuẩn bị sẵn. Con leo lên dốc với Sư cô Chân Không và thị giả. Ngoài ra còn có thầy Pháp Tử và Rini, cô bạn từng qua Làng tu học gần một năm. Dọc đường, mọi người dừng lại nghỉ khá nhiều lần. Không khí thật trong lành, đâu đâu cũng thấy một màu xanh. Khi lên đến nơi, mọi người có thể thưởng thức cảnh đẹp của núi đồi. Được biết là vào sáng sớm, ngồi ở đây có thể thấy được năm ngọn núi bao bọc xung quanh. Quý sư cô đùa với con rằng không ai muốn qua trung tâm ở Indonesia vì sợ núi lửa phun. Biết làm sao được, thật sự là có tất cả 38 ngọn núi lửa trên toàn đảo Java từ Đông sang Tây. Và tất cả đều đã từng hoạt động một lần. Không có bùn thì không có sen. Nơi nào núi lửa đã từng phun, nơi ấy đất đai rất màu mỡ. Đó là lý do tại sao những miền đất ấy đã từng bị người châu Âu chiếm làm thuộc địa một thời gian rất lâu trong quá khứ.

Sáng hôm ấy, tăng đoàn đã làm lễ tẩy tịnh cho khu đất bằng một nghi thức ngắn gọn và đơn giản. Sau đó sư cô Chân Không, thầy Pháp Đăng, thầy Kai Li và thầy Dharma Vimala đặt viên đá đầu tiên. Tiếp theo quý thầy, quý sư cô ngồi chơi với những người dân địa phương. Họ trang trọng trong y phục cổ truyền Batik và nói bằng ngôn ngữ Java mà con hoàn toàn không hiểu.

Cho đến tận lúc này, tăng thân vẫn chưa được chính quyền địa phương cấp giấy phép xây dựng trung tâm tu học ở đây. Tuy vậy, tăng thân vẫn quyết định làm lễ tẩy tịnh cho mảnh đất này cũng như tổ chức chuyến hoằng pháp tại Indonesia như đã dự định trước khi Thầy bị bệnh. Không có gì thay đổi. Ít nhất là hạt giống xây dựng trung tâm Làng Mai tại Indonesia vẫn đang tiếp tục được gìn giữ và tưới tẩm.

Ngoài lễ tẩy tịnh, tăng đoàn còn đến thăm và thiền hành ở thánh tích Borobudur. Nơi đây là chứng tích một thời hoàng kim của đạo Bụt trên mảnh đất Nam Dương. Thầy rất thích Borobudur khi đến viếng thăm nơi này vào năm 2010. Thầy muốn đem đạo Bụt về lại cho người dân bản địa Indonesia. Với tinh thần của đạo Bụt Dấn thân, Thầy cũng muốn xây trường học cho trẻ em nghèo, đồng thời giúp cho người dân ở đây có thêm phương tiện sinh sống khá hơn. Khi Thầy chia sẻ những ý này, con thấy đây cũng là tinh thần của trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội mà Thầy đã sáng lập. Mỗi buổi sáng tăng đoàn đều leo lên núi ngồi thiền và ngắm mặt trời lên. Ai cũng ý thức từng bước chân, thưởng thức cái đẹp cho Thầy. Năng lượng của tăng thân làm cho sự có mặt của Thầy trở nên sống động, vượt cả ý niệm về không gian và thời gian. Tăng thân vẫn đang tiếp tục bước tới một cách hết lòng trên con đường thực hiện chí nguyện và công việc độ đời mà Thầy đã mở ra.

Ngày 22 tháng 05, tăng đoàn về lại Jakarta và ngày hôm sau, có một buổi pháp thoại công cộng. Ngày 24 tháng 05, các thầy, các sư cô chia thành nhiều nhóm để tổ chức một ngày quán niệm: nhóm thứ nhất dành cho các chuyên gia giáo dục, nhóm thứ hai dành cho các doanh nhân và nhóm thứ ba dành cho cộng đồng Phật tử tại chùa Boddhi Dharma, Kaloran.

Tăng thân là tấm gương soi

Vào tháng Hai, đoàn tiền trạm gồm các sư cô Tân Nghiêm, Doãn Nghiêm, Hoàn Nghiêm, Trăng Phương Nam và con đã đến Indonesia trước để chuẩn bị cho chuyến hoằng pháp của tăng đoàn. Năm chị em được sắp xếp ở tại trung tâm Bodhidharma. Sống, làm việc và thực tập chung với nhau trong ba tháng là một cơ hội để cho con học hỏi và khám phá nhiều điều về tự thân và về các huynh đệ của mình.

Khi chưa xuất gia, mỗi lần có khóa tu, con thường giúp lo về mặt tổ chức. Quý thầy, quý sư cô chỉ làm công việc giảng dạy, hướng dẫn và thưởng thức Indonesia mà thôi. Vì vậy, khi bắt đầu chuyến hoằng pháp này, con có khuynh hướng đóng vai trò một người tổ chức như trước đây. Rồi con nhận ra bây giờ con không phải là người đóng vai trò tổ chức nữa mà con là một giọt nước trong dòng sông tăng thân.

Một buổi tối, trong lúc đang làm việc, vì cần một số thông tin có liên quan nên con đã không ngần ngại gọi điện thoại để hỏi một anh bạn lâu năm trong tăng thân cư sĩ mà trước đây con thường sinh hoạt. Trong thời khóa sáng hôm sau, trong khi nghe đọc chương “Nói chuyện trên điện thoại” trong sách oai nghi cho người xuất gia, con mới nhận ra là mình đã không có chánh niệm, mình vẫn bị tập khí cũ lôi kéo.

Con bắt đầu thấy sự nguy hiểm khi mình không thực tập oai nghi, nó khiến mình không thể lớn lên và vững chãi trong Pháp và Luật Bụt dạy. Giờ đây con mới hiểu tại sao Thầy thường nhắc nhở chúng con là phải luôn nương tựa tăng thân. Nhìn lại những gì đã đi qua, con cảm thấy vô cùng tri ân sự có mặt của quý sư cô đi cùng con về Indonesia lần này, bởi đó cũng chính là sự có mặt của oai nghi và giới luật. Nhờ hành trì oai nghi giới luật rất miên mật mà sự hiện diện của quý sư cô đem lại rất nhiều lợi lạc cho những người sống thường trú ở trung tâm, kể cả ôn Trụ trì. Một người bạn của con chia sẻ là khi đến Bodhidharma, chị có thể cảm được nơi đây không khí của một tu viện thực sự.

Cho mẹ mượn cây lược chải tóc

Sau khi tăng đoàn rời khỏi Indonesia, con còn khoảng hai tuần để về thăm gia đình, bạn bè và chùa cũ. Đây là lần đầu tiên con về thăm gia đình trong hình tướng của người xuất gia. Trước khi về lại Indonesia, con khá lo lắng. Con không biết mẹ con sẽ phản ứng thế nào bởi vì mẹ đã rất thất vọng và giận dữ khi biết tin con đi xuất gia. Tuy nhiên, sâu thẳm trong lòng, con biết nếu mình có đủ bình an và niềm tin trên con đường mình đã chọn thì mọi việc sẽ ổn thôi.

Có những khoảnh khắc con hơi chạnh lòng khi tưởng tượng ra nhiều cách phản ứng của mẹ khi gặp lại con. Rồi con tự bảo mình đừng quá lo lắng. Con tin rằng dù giận dữ tới mức nào, mẹ cũng có đủ nghị lực để đối diện với thực tế. Và đó là sự thật. Sự lo lắng, sợ hãi của con chỉ là vô cớ.

 Khi con vừa bước chân vào nhà, mẹ con đã bỏ chạy lên lầu và khóc. Thế nhưng chỉ một hai phút sau, mẹ đã trở xuống và bắt đầu hỏi con tới tấp. Con rất cảm động, nhưng cố ghìm nước mắt và tỏ ra bình thường, cứ như con vừa mới trở về nhà sau một ngày làm việc để làm cho không khí nhẹ đi.

Một hôm nọ sau khi tắm xong, mẹ không tìm ra được chiếc lược chải tóc. Mẹ quay sang con: “Cho mẹ mượn cái lược chải tóc của con một chút!”. Đây là câu mà mẹ thường nói với con ngày con chưa xuất gia. Con nhìn mẹ rồi trả lời: “Mẹ, con làm gì còn tóc đâu mà có lược”. Mẹ giật mình nhìn lại con và nhận ra điều đó. Con chỉ dám thầm cười nhẹ, vì biết mẹ vẫn còn buồn, vẫn còn nhiều nỗi đau trong lòng.

Dù vậy, trong con có một niềm tri ân vô bờ bến đối với mẹ và cả gia đình huyết thống. Giờ đây gia đình đã có thể mở lòng để yểm trợ cho con đi trên con đường đẹp này. Sự yểm trợ này giúp con tu tập tinh tấn hơn để chuyển hóa khổ đau và chữa lành những thương tích trong con, để con có thể chia sẻ những hoa trái của sự thực tập này với gia đình. Con cũng vô cùng biết ơn gia đình tâm linh đã cho con sức mạnh và có mặt để yểm trợ bất cứ khi nào con cần đến.

Con như được tiếp thêm sức mạnh mỗi khi nhìn vào mắt của những người thân trong gia đình, thấy được nỗi đau, tình thương và niềm hy vọng của mọi người dành cho mình, cũng như khi tiếp xúc với hoài bão phụng sự cho quê hương, tiếp xúc với tình thương của Thầy. Tất cả những điều ấy đã trở thành một nguồn năng lượng giúp con vượt qua những khó khăn để đi tới và tiếp tục nuôi lớn tâm ban đầu của mình.