Niềm vui chân thật

Sư cô Trăng Linh D người Úc gc Hoa, xut gia trong gia đình Cây Trc Bá (tháng 7/2014). Sư cô là con mt trong gia đình huyết thng, vì vy cách duy nht đ cha m ca sư cô đ nh con là thường xuyên v thăm Làng và thc tp cùng đi chúng. Sư cô đang tn hưởng hnh phúc được làm mt “em bé” trong tăng thân. Mt trong nhng ngun vui đi vi sư cô là làm vườn và hát các bài thi k mà sư cô t làm nhc, trong khi các sư ch ln thì đang bn… hp. Bài viết được Ban biên tp chuyn ng t tiếng Anh.

Những người thương mến của con ơi,

Hôm nay là ngày bắt đầu của một năm mới mà cũng chính là ngày bắt đầu cho những ngày còn lại trong cuộc đời của tất cả chúng ta. Con kính chúc mọi người nhiều sức khỏe.

Ngày hôm qua khi đến xóm Thượng đón Giao thừa (Tết dương lịch), con cùng với hai sư chị đi bộ lên khu đồi phía Tây. Mấy chị em ngồi chơi giữa sương mù lãng đãng, hít thở không khí trong lành tỏa ra từ những ngọn đồi xanh trải dài trước mặt và lặng ngắm cảnh hoàng hôn cuối cùng của năm 2014. Trong khi nheo mắt ngắm những tia nắng chiều, con ngạc nhiên thấy lòng mình không hề gợn chút luyến tiếc nào về quá khứ.

Những năm về trước, dù đón năm mới bằng những bữa tiệc với rượu champagne, nhưng con vẫn cảm thấy buồn khi nhìn thời gian đang vùn vụt trôi qua. Dù đón năm mới với bạn bè hay với gia đình, bao giờ chúng con cũng so sánh thức ăn, rượu, pháo hoa, nhạc của năm nay với năm ngoái. Trong khi hình hài của chúng ta già nua theo năm tháng, tâm đã trở nên mệt mỏi, nhưng lúc nào chúng ta cũng muốn mình tràn đầy sức sống và được trải nghiệm những điều mới mẻ.

Trong những khoảnh khắc như vậy, tâm con luôn chạy về tương lai, vừa háo hức trông đợi những gì sẽ đến, vừa tiếc nuối lo sợ những gì mình đang có, đang trải nghiệm sẽ đến hồi kết thúc. Điều này khiến cho con lo lắng và sợ hãi đến nỗi thành bệnh. Ngay cả khi tô son lên môi, con cũng lo lắng: Nếu cây son này hết thì mình phải làm sao? Nếu mình không có việc làm thì làm sao mình có tiền để mua sắm? Cái gì sẽ xảy ra cho mình nếu người thân trong gia đình qua đời hết và mình chỉ còn lại một mình?

Đương nhiên là con không lạ gì với mấy câu: “Đừng lo lắng, cứ vui đi”, “hãy sống trong giây phút hiện tại…” Nhưng những câu đó chỉ càng làm cho con cảm thấy thất bại với chính mình, bởi vì con rất rành về lý thuyết, nhưng khi đem áp dụng vào thực tế thì con không làm được.

Có những giai đoạn mà đối với con, mỗi ngày đi qua là một ngày với đủ loại hoang tưởng chết người, với những viên thuốc làm cho các giác quan của con trở nên tê dại và cơ thể con nhiễm độc. Tâm con tán loạn đến nỗi con không thể đọc một bài báo dù đơn giản nhất. Gia đình, người yêu, bạn bè, bác sĩ, kể cả chú chó cưng cũng đều cố gắng giúp cho con có thể thức dậy và ra khỏi giường mỗi sáng. Nhưng ra khỏi giường để làm gì? Bên dưới bề mặt vô nghĩa của cuộc sống hàng ngày là những câu hỏi trăn trở về sinh tử mà không có thuốc men nào có thể giúp cho con được. Con hoàn toàn lạc lối.

Ở đây, nơi con đang ngồi, mặt trời đang từ từ khuất bóng sau rặng bạch dương. Những con chim én đang chao liệng trên nền trời xanh thẫm. Con thấy mình mới may mắn làm sao khi được chỉ dạy cách trở về để làm lắng dịu thân tâm, để có thể bình an trong khi tâm ý đang vận hành như chiếc kính vạn hoa. Thật quý báu biết bao khi có duyên được nghe giáo pháp và được khai mở rằng sự sống và cái chết chỉ như những vòng tròn đang lan tỏa trên bề mặt đại dương của sự sống bao la.

Khi sống an trú trong mỗi phút giây thì những gì bình thường cũng trở nên phi thường. Vài người bạn đã hỏi con rằng: “Sư cô tu không thấy chán sao?” Ồ, có chứ, hồi xưa con đã từng chán, rất chán! Ba năm trước khi mới bắt đầu làm quen với thiền tập, mới ngồi năm phút con đã thấy như bị tra tấn. Con ngáp, ngọ nguậy, ngủ gục hoặc mơ màng chuyện này chuyện nọ. Ngoài những lúc ngồi thiền, cuộc sống của con đầy dẫy những kế hoạch để xem, nghe, nếm, ngửi, xúc chạm cái này, cái kia.

Mới gần đây thôi, vào một buổi tối trời mưa, sau khi dọn dẹp, rửa nồi, con có được một chút thời gian trống trước thời ngồi thiền tụng kinh buổi tối. Quả là những giây phút hiếm hoi quý báu! Con ngồi ngoài hiên một ngôi nhà nhỏ bằng gỗ mới dựng lên để làm phòng may. Ánh sáng từ chiếc bóng đèn gần đó hắt ra một màu vàng ấm áp soi rõ làn khói tỏa lên từ tách trà con đang cầm trong tay. Làn khói đang nhảy múa và hòa quyện với những giọt mưa đang rơi xuống.

Xung quanh chỗ con ngồi là những vật liệu xây dựng còn đang để ngổn ngang. Xa hơn một chút có thể thấy quần áo của ai phơi trên dây chưa được lấy vào. Không thể cho đó là một quang cảnh huy hoàng được. Ấy vậy mà con thấy mình hạnh phúc. Trong con không hề có ý muốn chụp một bức hình để bỏ lên Facebook, cũng không hề nghĩ là phải chi có ai đó cùng ngồi đây với mình trong giây phút này. Con cảm thấy hạnh phúc với những gì mình đang có, chỉ đơn giản vậy thôi.

Dĩ nhiên là để vun trồng được những giây phút có nhiều “hoa sen” như thế, con cũng đã có rất nhiều bùn. Có những lúc con thấy tâm mình vừa đáng bực vừa đáng cười. Sao con lại có thể ăn một lần hết cả một thanh sô cô la sau khi tụng giới thứ Năm về tiêu thụ có chánh niệm? Sau khi đọc quán nguyện về “tắt đài radio ở trong đầu”, sao con lại có thể ăn nhanh như thế? Đã phát nguyện độ tất cả chúng sanh, tại sao con lại có thể hối hả đi khử trùng chén dĩa khi một bạn thiền sinh đang có một câu hỏi cần con giải đáp? Chơi nhạc là để cúng dường đại chúng, sao con lại thấy hơi buồn trong lòng khi không được mời tham dự trong ban nhạc?

Bất cứ lúc nào con cũng có thể trở nên mất kiên nhẫn và bực bội. Những sư cô mà con quý nhất lại thường là những người phải hứng chịu nhiều nhất khi con vụng về, không ái ngữ trong cách nói năng.

Gần đây có một việc xảy ra làm cho con cảm thấy xấu hổ vô cùng vì con thấy trái tim mình còn quá nhỏ. Chuyện có liên quan đến ba sư chị của con. Sau khi sự việc xảy ra, con dự định đến sám hối với một sư chị, người đã bị con trút cơn giận của mình lên. Tối đó, tình cờ hai chị em gặp nhau, con nghĩ chắc sư chị sẽ nói một vài lời dạy dỗ con. Thay vào đó, sư chị cười và nói: “Cho sư chị thiền ôm với sư em một cái được không? Xin lỗi sư em vì sư chị đã làm cho sư em căng thẳng thêm một cách không cần thiết.” Trong vòng 24 tiếng đồng hồ sau đó, hai sư chị kia cũng tìm đến con và xin lỗi vì hai sư chị đã không đủ tươi mát và có mặt cho con. Trời ạ, con mới chính là kẻ sân si và kém dễ thương! Con đã phàn nàn là mình không có đủ thời gian để học thêm giáo pháp, nhưng bài học này đối với con đáng giá hơn bất cứ một điều gì con đã đọc trong sách vở. Cảm ơn tình thương mà quý sư chị đã dành cho con!

Và còn nữa, thương làm sao để lòng vẫn mở… ôi chao, một điều không dễ chút nào. Con rất sẵn lòng lau sàn nhà dùm cho một sư cô con thích, nhưng khi một sư cô khác bước lên sàn vừa mới được lau thì con lại thấy kém vui. Con đã quen thương theo kiểu ngoài đời, nghĩa là muốn mình có một vị trí đặc biệt đối với một ai đó, vì thế con rất dễ đánh mất mình. Tuy vậy, trong cái thương nhỏ hẹp đó, con cũng thấy có những yếu tố tích cực, thí dụ như lo lắng chăm sóc cho người khác và đặt nhu cầu của họ lên trước nhu cầu của mình (con thấy cái đó nơi mẹ của con). Con cố gắng nhận ra những yếu tố quý giá ấy và thực tập hiến tặng những điều đó cho nhiều người khác. Con tự nhắc mình rằng nếu con chỉ muốn thương yêu chăm sóc cho một vài người thì con đã có thể lập gia đình và có con cái. Như thế thì bà nội 93 tuổi của con sẽ không cần phải viết thư để hỏi xem bà nên gửi số tiền mà bà đã dành dụm cho đám cưới của con vào ngân khoản nào? (cười).

Có một buổi sáng, sư chị của con không được khỏe. Hôm ấy con được phân công ngồi chuông cho buổi tụng giới sadi nữ. Trên đường ra thiền đường, con thấy lo lo và đầu óc bận bịu tìm kiếm những phương thuốc có thể giúp cho sư chị hết bệnh. Đột nhiên con nghe tiếng của Thầy: “Thở đi con! Sự bình an là điều tốt nhất mà mình có thể hiến tặng.”

Ý thức là cảm thọ của mình sẽ được chuyển tải qua tiếng chuông trong buổi tụng giới nên con đi chậm lại, thưởng thức không khí mát lạnh của buổi sáng, ngắm những vì sao trên trời xa. Và khi ngồi chuông, con cố gắng để hết tâm mình vào sức nặng của dùi chuông, lắng nghe tiếng chuông ngân và mở lòng ra để cho những lời thuyết giới đi vào.

Con đã chia sẻ điều này với sư chị của con. Con không biết là nó có giúp được gì cho sư chị không, nhưng có một điều chắc chắn là nó đã làm cho môi con nở một nụ cười.

Những người thương của con ơi, cảm ơn mọi người đã cùng thở và cùng đi với con trên con đường vui và sáng đẹp này.

Với nhiều thương mến và lòng biết ơn,

Con – Chân Trăng Linh Dị

Giấc mơ trưa

Ngày làm biếng, tôi muốn mình ngồi thật yên và viết một cái gì đó. Tôi leo lên một ngọn đồi nhỏ, lối đi là những khối đá nhọn hoắc. Mùa đông với những chiếc lá vàng rụng đầy. Có những chiếc lá vàng còn tươi, có những chiếc đã mục, chúng nằm chồng chất lên nhau, đẹp. Lên tới đỉnh đồi, tiếng cười của anh em từ những ngọn đồi khác vọng lên văng vẳng. Lòng tôi yên lạ, cảm giác nhẹ tênh, như ở nhà. Tôi muốn viết một cái gì đó, mà chưa biết viết gì cả. Đầu vừa rỗng vừa đầy. Ngồi trên đỉnh đồi, đồi ngập nắng, tôi nhìn thung lũng dưới chân núi Khao Yai trước mắt, lòng đã bắt đầu thênh thang. Nét bút bây giờ thoáng đãng, nhịp nhàng hơn.

Giấc mơ trưa

Tôi chợt nhớ ngày xưa khi còn bé, có những giấc mơ mình được chạy chơi thoải mái trên đồng cỏ. Những đồng cỏ xa tít, bao la. Gần đây, những buổi trưa đầy nắng, những giấc mơ na ná như vậy hiện về. Có khi tôi thấy mình đang trên một cuộc hành trình giữa một phố người đông đúc, xa lạ. Tình cờ gặp được biết bao nhiêu là người, những con người gần gũi, thân thương. Họ đưa tay vẫy chào như muốn mời tôi ghé thăm, tôi bắt gặp nụ cười đầm ấm, ánh mắt nhẹ nhàng, muốn nói điều gì sâu thăm thẳm. Chỉ đến đó thôi, tôi choàng tỉnh, nhìn ra cửa sổ, nắng chiều nghiêng nghiêng, tự nhiên mắt mình bỗng nhòe đi – vì thấy sự sống này mầu nhiệm quá!

Những giấc mơ như vậy cứ đến với tôi vào những buổi trưa yên ắng, khoảng thời gian mà chỉ có một vài tiếng chim, vài tiếng gió lay động hàng cây. Buổi trưa trong tôi tinh khôi, trong lắng. Tôi cũng có những câu hát về buổi trưa như thế:

“Trưa đong đưa giấc ngủ võng ru chợt tỉnh giấc ôi phượng thắm rụng đầy trên lối đi

Lòng nhẹ theo mây trắng thong dong đến thời thơ ấu vút cao cánh diều

Chốn thần tiên nào trong giấc mơ ai ngủ thoáng lên nhẹ lòng một lữ khách qua”.

Những giấc mơ trưa là được ngồi chung với Thầy, được cùng anh em đi chơi trên những con đường nhỏ. Những giấc mơ ngắn, đến rồi đi như hơi thở, là thông điệp mà chính từ tâm thức mình trao gửi. Tôi trở nên bình yên, nhưng mạnh dạn và cứng rắn hơn sau những buổi trưa đề huề như thế.

Thầy và thơ

Bỗng tôi nhớ đến những vần thơ về buổi trưa của Thầy:

“Trưa! Ôi những buổi trưa nắng vào tuyệt đối, trời cao xanh ngắt

Bâng khuâng nghe tiếng gọi tôi về

Tiềm thức dâng tràn những nét thăng trầm mấy kiếp…”

Hồi Thầy còn trẻ, buổi trưa làm Thầy buồn lắm, Thầy đã chuyển hóa “những nét thăng trầm mấy kiếp” đó bằng cách nào nhỉ? Tôi thấy mình thênh thang với buổi trưa, chắc là nhờ vào công trình chuyển hóa của Thầy.

Những bài thơ của Thầy là đỉnh cao, là kho tàng tuệ giác mà tôi có thể dành cả đời để khám phá. Những cái thấy của Thầy mãnh liệt, nhưng lại rất “thơ”:

“Nỗi vui của tôi thanh thoát như trời xuân, ấm áp cỏ hoa muôn lối

Niềm đau của tôi đọng thành nước mắt, ngập về bốn đại dương sâu.

Hãy nhớ gọi đúng tên tôi, cho tôi được nghe một lần tất cả, những tiếng tôi khóc tôi cười

Cho tôi thấy nỗi đau và niềm vui là một”.

Cuộc đời Thầy có nhiều niềm vui ngập tràn, lan tỏa, muôn cây cỏ cũng cảm nhận được hơi ấm ấy. Thầy cũng có những niềm đau rất lớn, bốn biển cũng đầy vơi. Nhưng dù hạnh phúc hay khổ đau, vi tế hay thô sơ, Thầy đã ôm tất cả vào lòng, như nâng niu em bé. Có những lần pháp thoại, Thầy đã chia sẻ về giấc mơ của Thầy, những giấc mơ về tình huynh đệ, điều mà Thầy đã nhận ra là quý giá nhất. Những hoài bão đó của Thầy đang được thực hiện khắp nơi, những dòng thơ với nội dung như thế sẽ được tiếp tục chào đời, tiếp tục bay cao.

Kho tình thương

Tôi nghĩ đến ba và mẹ tôi, chắc năm nay hai người cũng gần sáu mươi rồi. Năm ngoái ba tôi bị tai nạn, phải ở nhà, không đi được. Tôi thở cho ba, những hơi thở đều, ôm cả mây trời vào trong đó. Tôi cũng thở cho mẹ, cảm thông những nhọc nhằn người đã đi qua. Nhìn thung lũng, tôi ước mong cho hai người cũng có những giây phút được mở lòng đón nhận một không gian bao la như vậy. Tất bật nhiều rồi, ba mẹ cần có thời gian tận hưởng cuộc sống chứ! Tôi gửi cho ba mẹ những gì đẹp nhất!

Ba mẹ là người thế nào? Hai người là một kho tình thương của tôi, cũng sống giữa đời, đơn sơ, chân chất. Những xung đột và hàn gắn của ba mẹ cứ đến, cứ đi, chỉ những vết thương trong tôi ở lại. Nhưng khi nhìn thật kỹ, tôi thấy hai người mầu nhiệm biết bao! Vì sao nhỉ? Tôi tự hỏi rồi tự trả lời: “À! Vì họ là ba, là mẹ của mình!” Tôi nhìn lên bàn tay mình, thấy bàn tay mẹ đang viết, lòng tôi thảnh thơi hơn khi những con chữ được ra đời. Mỗi lúc tôi nhỏ nhen với ai đó là tôi đến xin lỗi liền, đó cũng là đức tính của ba tôi ngày xưa. Bây giờ ba khỏe lại, nhận ra những gì không tốt cho sức khỏe rồi từ bỏ chúng, cả nhà đều vui. Mẹ cũng bớt dần những đòi hỏi, tập trung dung hơn khi hành xử, tôi thấy mẹ đang tu cho cả nhà. Sáng nào thấy ba mẹ cùng thắp nhang lạy Bụt, khói hương làm vết thương quá khứ trong tôi tan thành từng mãnh, vụn dần. Những lời ba dặn khi đi đâu xa, kí ức tôi còn giữ. Tiếng mẹ tôi hát khi nấu ăn cho cả nhà, kí ức tôi còn giữ. Chúng đã trở thành bất hủ, thân quen.

Trải nghiệm từ chiếc lá

Viết được một lúc, tôi nhìn ra phía trước, nắng đã về ngập trời thung lũng. Sương tan dần, gió về làm những chiếc lá vàng đua nhau rơi, quanh co, thích mắt. Tôi cười và tự hỏi: “Chúng đã làm gì với cuộc đời của chúng? Liệu chúng có được đi vào một lịch sử thanh cao?” Những chiếc lá rơi xuống, tịch tĩnh. Nhìn kỹ một chiếc lá trong khoảng lặng, dừng lại những lao xao nghi vấn, chợt tôi thấy chiếc lá không còn đến từ cái nhận thức đơn thuần trong ý thức như tôi đã có từ xưa. Nó là cái gì đó không dựa vào những nhận định mà tôi thường nghĩ lúc trước. Bây giờ nó tóm thâu cả muôn trùng. Nhìn kĩ vào gân lá, tôi chẳng thể tìm ra điểm nào là nhỏ nhất, khoảng không giữa hai gân lá phải chăng là cả một vũ trụ bao la? Chiếc lá trong tôi lúc đó không vui không buồn, không vàng không xanh, hình như nó đang hát, hát cho tôi nghe:

“Ta vẫn còn đến đi thong dong
Có không còn mất chẳng băn khoăn
Bước chân con hãy về thanh thản

Không tròn không khuyết một vầng trăng”.

Một chiếc lá, một trải nghiệm, một niềm vui. Cuộc sống là một chuỗi những trải nghiệm, không có trải nghiệm nào của riêng tôi cả, tôi thấy Thầy có đó – rõ ràng – sinh động. Càng trải nghiệm, tôi thấy mình sao thật ngây ngô, nhưng mật thiết, niềm vui trở thành giản đơn và sâu lắng hơn.

Khu vườn hôm nay

Làng Mai Thái – Vườn Ươm đã dọn về đất mới gần hai năm rồi. Đất mới, bao nhiêu mặt trời đi ngủ, bao nhiêu con trăng qua đồi? Ngày ngày tôi đi học, những con chim sẻ kiếm ăn hai bên đường chẳng hề bay, chúng cũng xem tôi như người bạn. Những hòn đá bây giờ cũng không còn hoang vu, hôm nay chúng gọn gàng, có dáng, chúng đang thi hành một sứ mạng riêng. Chớ nghĩ nơi đây chỉ là những chói chang mùa hạ, có những tháng mưa về ngập cả núi đồi, có những mùa rất lạnh, rất trong. Tiếng tụng kinh mỗi buổi sáng, khói bếp lên cao trong những sớm chiều. Những khóa tu đều đặn đi qua trong năm. Trẻ em đến tu chung với ba mẹ, chúng chơi xích đu thoải mái dưới gốc me già. Nơi đây đã trở thành một ngôi làng chung. Có sư chú mới xuất gia học tiếng Anh, tiếng Thái thật nhanh, có sư chú ngày nào cũng về cuối cùng để dọn dẹp nhà bếp sạch sẽ, phải chăng đức hy sinh và tận tụy của sư chú đang lớn dần cùng cây cối nơi đây?

Thiền ca là trở về

Tôi thở, thấy những bình an chảy dài trong huyết quản. Tôi dừng bút, nhận ra mình đã hát tự khi nào. Mỗi khi hát, trời mây với tôi hòa làm một, mọi người với tôi hòa làm một. Nhớ tới những khóa tu Wake Up, thiền ca là pháp môn đi vào lòng người dễ nhất. Nhiều bạn trẻ đã khóc khi hát cùng quý thầy, quý sư cô. Thiền sinh chia sẻ hạnh phúc, trị liệu, tìm được lối thoát khổ đau sau khóa tu, quý thầy quý sư cô ai cũng vui theo. Tôi thấy sự mầu nhiệm của Thầy, của Tăng thân đang xua tan những mệt mỏi, những yếu kém của tôi trong khi làm việc. Nương vào năng lượng tập thể, tôi thấy mình có niềm tin thật nhiều. Cuộc sống như một bài hát, có lúc trầm lắng, có lúc vút cao. Tôi gửi tất cả những thanh âm đó đến Thầy. Nắm bàn tay mình thật chặt, mắt nhìn thẳng về thung lũng, niềm tin ngập tràn rằng Thầy sẽ khỏe lại. Lá vàng lại rơi, giấc mơ trưa là thật, Thầy và thơ đang về uyên nguyên trong nắng, ba mẹ cũng đang ngồi chơi thảnh thơi. Tất cả cùng tôi đang tận hưởng một ngày làm biếng thật thênh thang!

Giây phút cùng Thầy

Thầy kính thương!

Con biết là Thầy đang có mặt đó cho con nên con rất hạnh phúc. Con hạnh phúc vì thật sự nhận diện được sự có mặt của Thầy chung quanh con và ngay cả trong con. Sự ấm áp, sự bình an bởi tình thương của Thầy đã nâng bước cho con, tiếp sức cho con, làm lớn mạnh niềm tin và hạnh phúc cho con.

Con nhớ Thầy nhiều. Và vì nhớ Thầy nên con đào sâu hơn vào sự thực tập. Con dành 100% sự chú tâm vào hơi thở và bước chân của mình. Con thấy Thầy trong mỗi bước chân an lạc, con thấy Thầy trong mỗi hơi thở bình an, và vì thấy Thầy, con càng tận hưởng được nhiều hạnh phúc hơn trong mỗi bước chân, mỗi hơi thở của mình. Cứ thế, sự tương tức giữa nhớ thương Thầy và hạnh phúc trong sự thực tập đang lớn dần trong con. Hai khía cạnh ấy hòa làm một trong con, giúp con không còn phân biệt sự nhớ thương hay niềm hạnh phúc nữa Thầy ạ. Con chỉ sống với chúng một cách bình dị vậy thôi.

Hồi con còn là một sinh viên ở Sài Gòn, mạ con đã tham dự khóa tu của Thầy tại Huế rồi gởi hình Thầy vào làm quà cho con. Con mở bì thư ra, nhìn vào hình Thầy rồi ngạc nhiên tự hỏi: “vì răng mà mạ gởi hình Ôn ni vô cho mình?” Hồi đó con chưa biết Thầy, con chưa có được một mối liên hệ nào với Thầy hết, con như chú hổ con chưa nhận ra mình đang gặp lại hổ mẹ, vì vậy con đã tặng hình của Thầy cho một người bạn của con, giống như chú hổ con vẫn thỏa mãn với gia đình khỉ của mình.

Nhưng dường như Thầy đã có mặt cho con từ thuở ấy, dường như Thầy đã gieo hạt giống bồ đề trong con từ dạo ấy, để rồi con tìm ra tu viện Bát Nhã năm 2007 và tham gia vào con đường hạnh phúc. Con nếm được pháp lạc của sự thực tập, và hạnh phúc càng lớn dần đến ngày con trở thành con của Thầy trong gia đình Sen Hồng. Vì hoàn cảnh cách trở, con trở thành con của Thầy trong khi chưa được gần Thầy, chưa được tiếp xúc với Thầy. Từng ngày, từng ngày, con nhận được tình thương của Thầy, sự có mặt của Thầy qua các sư cha, sư mẹ, sư anh, sư chị, sư em và Ôn Phước Huệ. Con nhận được tình thương của Thầy qua những lời nhắn nhủ đầy tình thương yêu trong mỗi bài pháp thoại. Và con đã gặp Thầy trong những hạnh phúc nho nhỏ mà con có được trong mỗi bước chân và hơi thở của mình. Con luôn chờ đợi đến ngày được gặp Thầy bằng xương bằng thịt, được kinh nghiệm trực tiếp mối liên hệ giữa Thầy và con… Theo thời gian, con đã được gặp Thầy, tiếp xúc với Thầy, và con biết Thầy luôn có mặt cho con, nhất là những lúc con thật sự cần Thầy.

Con nhớ một đêm mùa đông năm 2010 (con chỉ mới tới tu viện Bích Nham vài tháng), hệ thống sưởi hết ga và sư cô trong phòng con chuyển qua tòa nhà dành cho khách, nhưng con làm biếng nên đã thưa với sư cô cho phép con ở lại, một đêm qua nhanh lắm và con thường ngủ rất dễ dàng. Thế nhưng, đến nửa đêm thì con bắt đầu rét run và sợ (vì con chưa quen lắm với Bích Nham). Con đang lơ mơ trong tâm trạng bất an ấy thì con bỗng thấy Thầy. Thầy đã xoa đầu con và bảo “Thầy đây con!”. Dù là trong giấc mơ, con cũng ngạc nhiên tự hỏi sao Thầy biết là mình đang ở trong tâm trạng bất an như thế. Nhờ tình thương của Thầy, con đã ngủ một giấc thật ngon lành, ấm áp. Sáng hôm sau, sư cô phòng con quay về thật sớm để xem con có ổn không. Khi thấy con không bị ảnh hưởng gì thì sư cô rất ngạc nhiên. Con đã kể giấc mơ của con cho sư cô nghe, và sư cô cũng hạnh phúc không kém gì con. Sư cô bảo rằng Thầy luôn có trong tâm con, vì vậy mà con đã có một giấc mơ đẹp như thế. Và con nhận ra, Thầy đã ở trong con từ lâu rồi.

Một lần khác con gặp khó khăn với một sư anh của mình. Khối nội kết lớn đến nỗi mỗi lần đang đi thiền hành cùng đại chúng mà con nhìn thấy sư anh là con đi thật nhanh để tránh xa người ấy ra. Nhưng rồi, con nghĩ đến Thầy. Con thấy con và sư anh là những tế bào trong cơ thể của Thầy, con không thể cắt một tế bào nào ra khỏi cơ thể của Thầy hết, vì như thế sẽ làm Thầy đau. Nhờ nghĩ đến Thầy, con đã dần dần hòa giải được khối nội kết đó. Và thêm một lần nữa, con biết Thầy quan trọng đối với con đến nhường nào.

Mùa thu 2011 con được gặp Thầy. Thầy biết đó là lần đầu tiên con được gặp Thầy từ lúc xuất gia nên Thầy đã dành thời gian, không gian và tình thương cho con rất nhiều. Lúc đó, con chỉ muốn ngồi yên để tận hưởng giây phút huyền diệu, thiêng liêng mà ấm cúng ấy mà thôi. Dường như Thầy hiểu con nên Thầy đã không dạy con hát cho đại chúng nghe, mặc dù quý sư cô đã quảng cáo là con hát nghe cũng được. Và con hạnh phúc lắm vì con thấy Thầy hiểu con. Thầy cũng đã bao dung, không trách con vì con đã lỡ dại theo các sư chị mình leo núi ngay khi vừa đặt chân đến Lộc Uyển, thay vì đến chào Thầy trước. Thầy chỉ nhẹ nhàng hỏi: “Đi núi vui không con?”, làm con vừa cảm động vừa hối hận và con thầm nhắc mình đừng có lầm lỡ lần sau.

Lần khác, con thấy Thầy và thị giả đi ngang qua ni xá trong những ngày đại chúng làm biếng, và con đã lẳng lặng đi theo Thầy. Không biết vì sao, mặc dù Thầy đi thật thong dong, thật chậm mà con bước hoài không kịp. Trong lòng con như muốn gọi “Thầy ơi chờ con với!”, nhưng con không dám gọi ra. Rồi lạ thay, Thầy dừng lại chờ con, và đưa tay ra nắm tay con cùng đi. Con như được trở về tuổi thơ của mình, cùng nắm tay Ông của mình đi chơi. Giây phút ấy bình yên quá Thầy ơi! Còn những lần khác nữa, mỗi khi có dịp gần Thầy, con đã được đón nhận những lời dạy bảo đầy tình thương của Thầy. Thầy đã lắng nghe con chia sẻ về gia đình mình và đã dạy cho con về cách thích ứng với môi trường mới. Thầy đã giúp con được trở về là chính mình và sống an nhiên cùng đại chúng. Con thấy bình an biết bao, con tự hứa với chính con là sẽ thực tập hết lòng để không phụ tình thương của Thầy.

Năm 2012, con đã gởi đến Thầy một bài hát kèm theo lời tâm nguyện của con trước khi thọ giới Thức Xoa Ma Na. Vậy mà khi về lại tu viện Bích Nham, con đã nhận được tin nhắn từ Thầy qua một sư chị rằng Thầy đã nhận được thư con và rất thích bài hát ấy. Con thật ngạc nhiên và cảm động biết bao. Con biết nhạc của con chỉ tự phát mà thôi vì con có qua trường lớp gì đâu, nhưng Thầy luôn khuyến khích các sư con của mình có niềm vui và hạnh phúc trong sự tu tập. Thầy không bao giờ bỏ qua một lá thư nào của các sư con, dù Thầy có quá nhiều sư con và có rất nhiều khóa tu. Nhưng con biết, đó là cách Thầy dành sự có mặt của mình cho các sư con.

Mùa thu năm 2013, con được gặp lại Thầy. Thầy đã viết cho con câu thư pháp “Thầy đây con” khi nghe con kể lại giấc mơ của con. Thầy đã để tâm chăm chút chỉ dạy cho con về cung cách của người thị giả khi con được làm thị giả Sư cô Chân Không. Thầy luôn có mặt và yểm trợ con hết lòng. Mỗi khi con mang thức ăn đến, Thầy luôn để ý xem có thiếu gì không để nhắc con trước, vì vậy mà con chưa bao giờ làm Sư cô buồn. Có lần Sư cô con tiếp khách ở bên thiền đường Đại Đồng, con đã qua cốc của Thầy cầu cứu vì đi về ni xá thì xa quá. Thầy đã từ bi cho con mượn ly, bình thủy, trà và cả … bình trà “sơ cua” của Thầy nữa. Con chỉ biết để tâm vào các vật dụng ấy mà quên mất sự có mặt của Thầy. Đến khi con chuẩn bị rời cốc thì Thầy mới nhắc nhẹ nhàng :”Xong việc thì về chơi với Thầy nghe con!”.

Thầy còn dành thời gian để chuẩn bị tinh thần cho chúng con thọ giới Lớn. Thầy dạy cho con cách làm việc trong chúng, cách thực tập trong các buổi họp… và quan trọng nhất là đường hướng của người xuất gia. Con đã được chuẩn bị tư trang đầy đủ và được tiếp thêm năng lượng từ Thầy. Vì vậy mà năm 2014, con thật an nhiên khi tiếp nhận giới Lớn do Thầy truyền trao.

Thầy dường như hiểu được con thích gì, cần gì, nghĩ gì; Thầy như biết được lúc nào con cần Thầy để luôn luôn đáp ứng được cho con… Thầy luôn cho con giải pháp kịp thời trong những lúc con gặp phải khó khăn. Đối với con, Thầy vừa là một người Ông, vừa là một người Cha, vừa là một người Thầy. Thầy vừa hiền từ như người mẹ vừa nghiêm khắc như người cha. Thầy vừa là dòng suối ngọt ngào vừa là ngọn núi hùng vĩ che chắn cho con. Thầy luôn có mặt cho con, và sự có mặt lúc nào cũng tròn đầy. Con chỉ biết tận hưởng tình thương ấy và đào sâu sự thực tập cho mình mà thôi. Mỗi ngày con luôn nghĩ đến Thầy, để được hạnh phúc, và để giúp con buông những cảm thọ nho nhỏ khởi lên trong cuộc sống hàng ngày mà con lỡ có với sư anh, sư chị, sư em của mình. Con tập sống không đòi hỏi, không tìm cầu, không vọng tưởng. Thầy đã chuẩn bị hành trang cho con trước khi thọ giới lớn quá đầy đủ. Mỗi ngày nhìn lại, con thấy Thầy đã trao cho con một túi gấm chứa đầy cẩm nang. Mỗi khi cần lời khuyên của Thầy là con có ngay câu giải đáp. Và từng mỗi phút giây trong đời sống, con luôn nhận được sự có mặt của Thầy. Giờ đây con không còn sợ hãi hay băn khoăn gì cả. Niềm tin và tình thương vào Thầy không hề suy giảm. Con cứ thế thích chí rong chơi trong khung trời phương ngoại mà Thầy đã mở ra cho con; khung trời chứa đầy hạnh phúc, chứa đầy sự hiểu biết và thương yêu. Con nguyện gắng sức, bền lòng đi trọn con đường để đem giáo pháp nhiệm mầu đến cho người người đang mong đợi.

 

Con của Thầy

Chăm em – Chăm tôi

Thở vào, con thấy các em thanh thiếu niên đang có mặt trong con…

Thầy kính thương,

Sau bảy tuần sinh hoạt trong chương trình thanh thiếu niên (teens program) tại Làng Mai và tại Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB – Đức), con thấy mình được nuôi dưỡng, được thử thách và có nhiều cảm hứng. Con xin được chia sẻ một ít kinh nghiệm của con trong mùa hè vừa qua. Con rất vui khi lần đầu tiên được tham gia vào chương trình này ở Làng. Những  tháng năm niên thiếu của con tràn đầy nước mắt cũng như tiếng cười. Con đã may mắn gặp được những thầy cô giáo cũng như những nhà tư vấn (mentors) dạy con cách thương yêu và tin tưởng vào chính mình trong giai đoạn mà không ai xung quanh con nghĩ đến những việc như vậy. Được chia sẻ phương pháp thực tập chánh niệm cho các em thanh thiếu niên giờ đây là một cách con bày tỏ lòng biết ơn của mình đến với những vị đã nâng đỡ con trong quá khứ, và cũng để hiến tặng một cái gì đó tương tự cho  các em thanh thiếu niên ngày nay.

Đóng một vai trò quan trọng và thú vị trong chương trình sinh hoạt với thanh thiếu niên là nhóm các thầy, các sư cô và một số cư sĩ, thông dịch viên có trách nhiệm tổ chức và hướng dẫn sinh hoạt cho các em. Chúng con đã làm việc cùng nhau trong tinh thần hòa hợp, yểm trợ sự thực tập của nhau và vui chơi với nhau. Trong mỗi khóa tu đều có một nhóm hướng dẫn gồm cả xuất sĩ và cư sĩ nên không ai phải làm việc một mình. Con cũng cảm nhận được sự có mặt và yểm trợ của những người đi trước đã từng tổ chức chương trình này trong những năm qua. Sự cống hiến của các vị đã khuyến khích Tăng thân “đầu tư” thêm thời gian, không gian và năng lực – những yếu tố cần thiết – để việc tổ chức chương trình sinh hoạt cho các em thanh thiếu  niên được suôn sẻ trong năm nay. Nhờ vậy chúng con đã làm việc được một cách dễ dàng. Chúng con đích thực là một tăng thân nhỏ trong một Tăng thân lớn, cùng đi như một dòng sông.

Sinh hoạt với các em giúp cho con nhận ra tầm quan trọng của Tăng thân dưới một ánh sáng mới. Hầu hết các em về Làng với bố mẹ chứ không phải tự mình muốn về. Chúng con phải tìm cách tạo ra một không gian đủ vui tươi, thoải mái và đầm ấm bằng cách tổ chức nhiều trò chơi, trong đó có cả một đêm uống sô-cô-la nóng. Dù tổ chức khéo tới đâu đi nữa, điều quan trọng nhất đối với các em là tình bạn, cho nên việc kết nối là trọng tâm của sự thực tập. Tuần trước một em trai kể: “Con tưởng rằng chương trình này sẽ rất nghiêm ngặt, rất chán và con sẽ phải sinh hoạt chung với em gái của con cả một tuần dài. Nhưng sự thực là con lại làm quen được với nhiều bạn mới và chương trình thì rất vui!”.

Buổi thực tập làm mới giữa cha mẹ và các em thanh thiếu niên tại xóm Mới

Càng thấy được tầm quan trọng của việc kết nối tình thân giữa các em thiếu niên, con càng nhận ra điều này cũng quan trọng không kém cho những người lớn tới Làng và ngay cả cho giới xuất sĩ. Ngay từ thời kỳ săn bắn, hái lượm, phần não bò sát của con người (reptilian brain – đây có phải là tên khác của thức Mạt-na?) luôn mong muốn tìm kiếm  sự an toàn trong nhóm, trong cộng đồng. Sự kết nối mang lại cho ta cảm giác an toàn, và nhờ vậy giúp ta thư giãn và cho phép não bộ của ta học hỏi những điều mới. Một khi chúng ta đã kết nối được với nhau thì sự thực tập (cũng như cuộc sống!) sẽ trở nên dễ dàng. Con nghĩ ngay cả những em thích tách mình ra khỏi nhóm cũng tự tìm sự an ổn theo cách của mình. Khi chúng con để “những tâm hồn cô đơn” này tự tìm cách riêng để kết nối với nhóm, các em ấy cũng tìm được niềm vui trong sự “có mặt cho nhau”.  

Chúng con sáng tạo nhiều cách khác nhau để chia sẻ pháp môn ngồi thiền cho các em, chẳng hạn như cuối một buổi sinh hoạt chúng con cho các em ngồi thiền chỉ trong năm phút và thực tập nhiều lần như vậy trong ngày. Mức độ chú tâm của phần lớn các em thiếu niên rất ngắn so với người lớn. Tuy vậy, các em lại có khả năng làm lắng dịu tâm ý dễ dàng hơn người lớn. Một em gái đã chia sẻ: “Con thường bắt đầu bằng cách theo dõi hơi thở liên tục cho đến khi có thể nghe được nhịp tim của mình. Sau đó, con chỉ tiếp tục lắng nghe nhịp tim của mình của thôi. Con thấy thú vị lắm!” Không lo về phương pháp đúng sai, khỏi phiền hà về cái tâm rong ruổi. Đơn giản thật! Cô bé đã tạo cảm hứng cho con, từ đó con thử tập “thiền nhịp tim” và thấy phương pháp này thật dễ chịu.

Chúng con cố gắng hướng dẫn các pháp môn thực tập cho các em bằng những hình thức nhẹ nhàng, vui tươi, không cứng nhắc về hình thức. Chẳng hạn như pháp môn thiền đi và thiền ăn được giới thiệu bằng những trò chơi. Thiền buông thư là một pháp môn được các em rất ưa chuộng. Chúng con cũng thực tập thiền ca rất nhiều. Khi hát chung với nhau, các em nhận ra là khi tâm có mặt với thân và thở một hơi thật sâu đem lại cho các em cảm giác thật khỏe nhẹ! Ngay cả những em không thích ca hát cũng chia sẻ rằng được góp phần vào chương trình văn nghệ là một điểm nổi bật nhất trong tuần. Một khi được ca hát chung (với sự yểm trợ của một bà mẹ làm quản ca), không ai còn cần phải giải thích cụm từ năng lượng tập thể là gì nữa. Cả nhóm đều được kinh nghiệm trực tiếp. Qua các trò chơi sinh hoạt vui tươi, con tiếp nhận được một bài học quý báu rằng nếu biết cách thì ai trong chúng ta cũng có thể làm cho sự tu học trở nên dễ chịu và tươi vui.

Pháp môn Làm Mới cũng là một phần thực tập quan trọng trong thời khóa sinh hoạt của mỗi tuần. Nhiều em có hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, càng dành nhiều thời gian chuẩn bị cho các em thực tập Làm Mới qua việc viết “thư tình” cho bố mẹ và chia sẻ riêng với các em thì sự thực tập của các em trong buổi Làm Mới càng sâu sắc hơn. Nhiều giọt nước mắt biết ơn và trị liệu đã tuôn rơi, thỉnh thoảng cũng có những tiếng cười. Rất nhiều tình thương đã được thể hiện trong các buổi Làm Mới. Chúng con biết rằng chỉ một tuần ở Làng thì chưa đủ để trị liệu tất cả vết thương trong lòng các em, nhưng có thể đó là thời gian duy nhất trong suốt một năm mà các em và những người thân trong gia đình có thể chia sẻ một cách cởi mở tình thương yêu và lòng biết ơn dành cho nhau. Nhờ vậy họ có thể tiếp tục thực tập điều này sau khi về nhà. Những gia đình về Làng tu tập nhiều hơn một tuần thường có khả năng trị liệu nhiều nhất vì họ có thêm thời gian để học cách xây dựng niềm tin với nhau, đủ để thực tập pháp môn Làm Mới một cách sâu sắc.

Rất nhiều người trẻ về Làng mang theo nhiều vấn đề khó khăn lớn như: bố mẹ ly dị hoặc luôn bận rộn với công việc, không có thời gian cho con cái; bố hoặc mẹ mất vì ung thư; bị áp lực phải uống rượu và dùng thuốc phiện từ bạn bè; nghiện thuốc phiện, tình dục; bị các căn bệnh sợ hãi, trầm cảm, tự hành hạ mình; có bạn bè tự tử và nhiều vấn đề khác nữa. Dù có các trò chơi và các sinh hoạt vui tươi lành mạnh, chúng con cũng không thể quên rằng bên dưới những tiếng cười đó là cả một khối khổ đau.

Như Thầy thường dạy, chúng con cần phải chia sẻ những phương pháp thực tập cụ thể có công năng giúp được các em trong cuộc sống hàng ngày. Vì vậy chúng con chú trọng vào những pháp môn căn bản như hơi thở chánh niệm, buông thư toàn thân, nhận diện sự vô thường của các cảm xúc. Chúng con cũng luôn để tâm đến năng lượng chung của nhóm trong mỗi giây phút vì tình trạng chán nản có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Nhưng khi chính chúng con, những người hướng dẫn cho các em, chân thành chia sẻ những khó khăn của bản thân và cách chúng con thực tập như thế nào để đi ra khỏi những khó khăn đó thì các em tỏ ra quan tâm chăm chú và rất có cảm hứng. Con cứ tự hỏi: “Điều này thật ra là gì vậy?”. Câu trả lời đi lên trong con là: khả năng chấp nhận, tâm hiểu biết, tình thương và sự bình an.

Con thấy rằng mình phải quay về nương tựa Tăng thân và vũ trụ một cách sâu sắc hơn. Đôi lúc con cảm nhận một nỗi buồn nặng trĩu trong lòng, con ước mong mình có thể làm gì thêm để giúp những em có nhiều khó khăn. Nhưng rõ ràng là cá nhân con cũng có những giới hạn. Chúng con chỉ có thể có mặt cho các em trong một hoặc hai tuần ngắn ngủi, còn những điều kiện nằm đằng sau khối khổ đau của các em thì quá lớn, trong đó có gia đình, trường học, bạn bè, mạng lưới thông tin, môi trường, tình hình chính trị – xã hội, thực sự là cả vũ trụ này. Con chỉ có thể là một phần của Tăng thân và hiến tặng những gì mà mọi người trong tăng thân cũng đang hiến tặng, đó là: khả năng chấp nhận, tâm hiểu biết, tình thương và sự bình an. Rồi con cầu nguyện đức Bồ tát Quan Thế Âm và cả vũ trụ giúp các em sau khi các em trở về nhà.

Tiếp xúc với khổ đau trong các em cũng khơi dậy trong con những vết thương từ thời niên thiếu, những vết thương mà bấy lâu nay con cứ tưởng là đã được chữa lành. Đó là cảm giác bị loại trừ khỏi nhóm những người “được chú ý, được yêu thích”, cảm giác bị hiểu lầm và thường xuyên không cảm thấy thoải mái với chính con người mình. Chúng ta thường nghe về sự thực tập nhận diện em bé bị tổn thương trong ta, nhưng con xin thú thật rằng trong ta cũng có một cậu thiếu niên, một cô thiếu nữ bị thương tích nữa! May mắn thay, con không còn là một thiếu nữ và con đang có sự thực tập. Con có thể buông thư những căng thẳng trong cơ thể, chăm sóc cho những cảm xúc khổ đau và chuyển hoá những suy tư tiêu cực một cách nhanh chóng; đồng thời hiến tặng cho chính con khả năng chấp nhận, tâm hiểu biết, tình thương và sự bình an. Với sự thực tập đó, con có thể mời cô thiếu nữ trong con ra chơi đùa. Cô ấy hạnh phúc với điều đó lắm!

Có một cô bé trong nhóm làm con nhớ đến hình ảnh của con và một cô bạn thân khi còn trẻ, hai hình ảnh hòa chung thành một. Vì vậy con kết thân với cô bé ấy rất nhanh. Một hôm sau khi cãi vã với mẹ, cô bé đến để nhờ con giúp đỡ. Trong khi em đứng khóc, con đến và ôm em vào lòng. Con thấy mình như một người chị lớn, một y chỉ sư và một bà tiên hòa chung thành một. Con đã không làm gì nhiều, chỉ thở và lắng nghe nhưng có điều gì đó thay đổi trong cả hai chúng con. Em đã cảm thấy nhẹ hơn và có một cái thấy rõ hơn về những xung đột vừa xảy ra. Con cũng cảm thấy nhẹ hơn, như là có một khối nặng từ lâu đã được cất giấu vào một góc bụi bặm trong trái tim đã được đặt xuống. Con thậm chí còn nghe được một tiếng “bịch” trong lồng ngực của mình. Rồi khối nặng ấy tan biến đi.

Trong lúc nâng đỡ cho em gái này thì chính cô thiếu nữ trong con hai mươi năm trước vốn luôn mong muốn được hiểu, được thương cũng được hưởng điều này. Thời gian chợt tan biến, trong giây phút đó con vừa là một người lớn vừa là một cô bé. Trong khi chăm sóc cho em gái đó, con cũng đồng thời đang chăm sóc cho chính con. Thầy thường dạy chúng con thực tập điều này nhưng con chưa từng kinh nghiệm qua. Con đang được chuyển hóa. Khi tình nguyện tham gia chương trình sinh hoạt cho thanh thiếu niên, con đã không nghĩ rằng một điều như vậy có thể xảy ra. Con rất biết ơn điều ngạc nhiên mầu nhiệm này! Chắc chắn con sẽ tiếp tục tình nguyện tham gia chương trình này trong thời gian tới.

Cầu toàn…khổ

Đã khi nào bạn đến xóm Thượng ở núi Thệ Nhật chưa? Ở đó có một Thiền đường Chuyển Hóa rất đẹp. Trong Thiền đường ấy có một bức tranh vẽ bằng mực Tàu cao khoảng tầm 3m và rộng 1,2m. Đối với tôi đó là một kiệt tác, một câu trả lời đơn giản cho giáo lý tương tức – tương nhập. Tuổi của nó chắc cũng gần bằng tuổi xóm Thượng. Bức tranh được vẽ trên giấy thô, lâu ngày vì thế nên bị mo (co lại). Các anh em đã nhờ Thầy Pháp Ý mua giùm hai tấm mica lớn, phần khung gỗ là của thầy Pháp Áo, tôi và một vài bạn thiền sinh lo phần dựng nó lên tường. Phần khoan lỗ, bắt vít mất hai buổi. Nó gần như hoàn hảo sau khi được gắn lên tường. Nhưng buồn chưa, nó bị lệch qua một bên. Làm sao đây. Nó nặng quá. Bốn người phải vất vả lắm mới dựng được nó lên. Nhìn qua các bạn thiền sinh, họ đang ngắm nhìn bức tranh và thở phào vì đã xong việc. Chưa biết làm sao, tôi mời mọi người nghỉ tay, uống nước để nghĩ cách chỉnh sửa lại bức tranh được thẳng, đẹp theo như ý mình.

Mấy năm về trước

Đó là một buổi sáng mùa Đông, tôi bước vào bếp, đến bên nồi mít kho và phát hiện mít đã bị cháy. Làm sao có chuyện này nhỉ! Rõ ràng là mình đã nhờ sư chú trông chừng rồi mà. Mít kho là món rất được đại chúng ưa thích, đặc biệt là phải kho nhiều lần mới ngon. Vì thế mà đội chúng tôi đã chuẩn bị món này từ chiều hôm qua. Sau khi đặt nồi mít lên bếp, tôi nhờ sư chú trông chừng vì bận việc. Từ hôm qua đến sáng nay, cứ nghĩ đến nồi mít là tôi thấy lòng mình hạnh phúc. Nồi mít kho sẽ làm cho bữa cơm của đại chúng thêm ngon miệng. Mọi người sẽ hạnh phúc lắm. Thế mà bây chừ như thế này đây, mít bị cháy. Hạnh phúc tan liền theo khói bếp. Tôi không còn nghĩ đến chuyện gì nữa ngoài một việc là muốn gặp sư chú đó để hỏi cho ra chuyện. Tác giả đã làm cho hạnh phúc của tôi tan tành.

Một lúc sau, đây rồi, sư chú đang đi xuống. Khỏi cần chào hỏi, tôi vào đề ngay:

  • Tại sao chú để cho nồi mít cháy? Chỉ một việc kho nồi mít mà cũng làm không xong.

Sư chú lặng thinh, đi kiểm tra nồi mít. Tôi cũng lặng thinh nhưng trong lòng thì lửa vẫn còn cháy. (Giận quá tôi đánh mất luôn cả chữ “sư” mà chỉ gọi bằng chú.) Tuy vậy công việc nấu ăn vẫn tiếp tục. Hai phút sau, tôi làm thêm hiệp phụ.

  • Trưa nay coi mà ra sám hối đại chúng đó, để lần sau làm việc cho có trách nhiệm. Xong. Việc cần nói tôi đã nói xong.

Xoảng!… Cái thau lăn loảng xoảng dưới đất.

  • Thầy tưởng em hạnh phúc lắm à? Em cũng buồn lắm chứ, em có muốn như vậy đâu. Hôm qua em cũng có nhờ dì coi giùm rồi.

Nói xong sư chú đi về phòng, không nấu ăn nữa. Hai ngọn lửa chạm vào nhau, nổ cái bùm và tắt ngấm. Đó phải chăng là cách thoát lửa khi đi trong rừng, (của anh chàng Xi trong phim Thượng đế cũng phải cười). Người đã đi còn nồi mít ở lại. Xử lý nồi mít cháy này thì còn dễ chứ tình huynh đệ đang cháy xử lý mới thật khó. Mọi chuyện tôi phải tạm gác qua một bên để lo phần nấu cơm trưa cho đại chúng.

Cơ sự này là do mình mất bình tĩnh mà ra hết. “Đang giận thì hãy bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa một đời không khê”. Bây chừ không những khê mà cháy luôn. Cái hạnh phúc mà tôi miên man từ chiều hôm qua đã không làm cho tôi hạnh phúc thực sự. Sự thật là năng lượng chánh niệm trong tôi còn quá bé, Không đủ lớn để xử lý giây phút hiện tại cho khôn khéo. Thế mới biết hạnh phúc không phải là một sự mơ tưởng hay mong cầu mà nó phải gắn liền với thực tế và trong cách tiếp nhận của mình.

Biết mình có lỗi, tôi đã không ngại đến phòng sư chú để xin lỗi về cách hành xử vụng về của mình. Sư chú rất dễ thương, đã mở lòng chấp nhận và cũng nhận lỗi về phần mình. Anh em tôi đã làm hòa nhưng phải mất một thời gian nữa hai người mới tự nhiên trở lại. Một bài học quí giá cho tôi.

Câu chuyện thứ hai tôi sắp kể ra đây cũng xảy ra ở tại nhà bếp này. Đó là một ngày Chủ nhật – ngày quán niệm cho bốn chúng. Hôm đó đội tôi nấu ăn chung với quí sư cô. Nấu ăn trong tu viện chúng tôi là một phép thực tập, là cơ hội để xây dựng tình huynh đệ, tập làm việc chung với nhau, tập chế tác hạnh phúc và tình thương khi được phục vụ đại chúng. Vì vậy mà ở trong chùa, nhà bếp còn được gọi là Ái Nghĩa Đường. Ái là thương, Nghĩa là nuôi, mình nuôi đại chúng bằng tình thương. Vì thế những người nấu bếp được yêu cầu thực tập chánh niệm và giữ gìn một không gian rất thanh tịnh. Mọi người đều tập thở và tập dừng lại khi có tiếng chuông. Hôm ấy tôi thấy mình thật may mắn. Tôi nhờ một sư cô cắt giùm rổ cà-rốt để xào. Sư cô rất hoan hỷ. Nữa tiếng sau tôi quay lại thì ôi thôi rồi, cà rốt không được cắt thành que mà đã được cắt thành từng miếng vuông. Đã nói là cắt cà-rốt để xào rồi mà, chừ làm răng mà xào đây. Tôi bực mình lắm. Nhưng may quá, tôi bỏ đi mà không nói một lời nào. Bạn thấy có buồn cười không. Chuyện nhỏ như ngọn cỏ vậy mà tôi lại bực mình đấy. Tôi đi ra lu nước, đứng đó rửa tay. Không biết là tôi đã rửa hết bao nhiêu nước. Những lúc như thế này tôi chỉ biết thở, Thầy tôi đã dạy như thế. Trong lúc thở tôi liền nghĩ: Đó là một sư cô, mình giận một sư cô thì mất mặt quá! Đó cũng là sư em trong đạo của mình, mình là sư anh mà lòng mình lại bé tí tẹo không đủ bao dung cho sư em mình sao? Nghĩ như vậy, tôi liền tập trung vào hơi thở và đọc thầm một câu thần chú mới hiện ra trong đầu: “đã lỡ rồi thì thôi, đã lỡ rồi thì thôi, đã lỡ rồi thì thôi…” Tôi đọc như thế năm bảy lần để tự nhắc nhở mình là cho nó đi qua. Vậy mà có hiệu quả thật đấy, tôi trở vào bếp, vẫn thở, vẫn mĩm cười như chưa có chuyện gì xảy ra. Món cà-rốt kho với khuôn đậu cũng rất ngon.

Qua hai câu chuyện vừa rồi giúp tôi nhận ra thêm một tập khí mới trong mình. Chúng ta thường hay đặt trước những tiêu chuẩn cho người khác phải không? Nhưng nhiều lúc ta phải chấp nhận sự thay đổi cho những điều ta đã đặt ra. Trong cuộc sống ai cũng mong muốn cuộc sống sẽ chìu theo ý mình, muốn cuộc đời sẽ thương mình như chính mẹ mình đã thương yêu mình. Có phải vì ta đã sống trong vòng tay yêu thương của gia đình quá lâu, bây giờ đã hình thành một thói quen đòi hỏi trong ta!

Nghĩ về những tập khí ấy của mình, tôi quyết định không chỉnh sửa bức tranh nữa. Nó hơi nghiêng một bên nhưng đó sẽ là một cách để tôi tự nhắc nhở mình. Mình có một tập khí muốn mọi chuyện đều được như ý. Nhiều lần đi vào trong Thiền đường Chuyển Hóa, tôi đã mĩm cười với bức tranh và với chính tôi. Trong ý thức chánh niệm, tôi biết sự toàn hảo luôn có mặt đó trong chiều sâu tâm thức tôi, vì thế phải thường xuyên chăm sóc nó. Cùng với sự thực tập này tôi thường hay nhắc nhở mình phải biết nâng đỡ cho những người bạn của mình. Làm sao giúp các anh chị em mình có thêm niềm tự tin vào bản thân để cống hiến những tài năng cho tăng thân. Và trong khi phụng sự, đừng bao giờ mong người khác làm một điều gì hoàn hảo 100%. Chỉ cần vài mươi phần trăm là giỏi rồi. Ai cũng cần có thêm thời gian để lớn lên. Tôi cũng vậy. Bạn cũng vậy.

Sau mỗi chuyến đi chơi, trở về nhà chúng ta thường hay ngồi xem lại những tấm hình đã chụp. Xem lại những kỷ niệm và cũng xem lại chính ta. Mình chọn lựa những tấm hình dễ thương, hạnh phúc rồi ta chọn những tấm hình đẹp lưu giữ nó vào ổ cứng hay tài khoản trên mạng, còn những tấm hình xấu xí, những góc nhìn mất thẩm mỹ ta cho nó vào thùng rác. Ta từ chối nó, một khía cạnh khác của chính ta, ta chưa sẵn sàng chấp nhận. Mong rằng trong năm mới đề tài này sẽ giúp bạn hiểu và thương cuộc sống của bạn nhiều hơn.

Bây chừ đã đi xa, tôi biết bức tranh vẫn còn đó. Chắc sẽ không ai nghĩ cần phải chỉnh lại cho ngay ngắn như tôi. Đẹp hay chưa đẹp là tùy theo quan điểm của mọi người, vì thế nên chẳng có ai giống ai. Đừng mong người khác phải như mình và đừng mong cầu mình phải giống người khác mình mới hạnh phúc.

Thư gởi Thầy

 

Thầy thương,
Chúng con, một nhóm huynh đệ từ Thái Lan về thăm chùa Từ Đức ngày 25.09.2014. Chùa nay sáng đẹp hơn nhiều. Ngày 04-05.10.2014 là quán niệm và giỗ thân mẫu chúng con.

Qua các pháp thoại, trước tiên chúng con nói sơ về mẹ. Ba và ba anh chị lớn của con mất trong vòng ba tháng, lúc đó mẹ khoảng 40 tuổi, con mới được bảy tháng. Gia sản tiêu sạch, vất vả và đảm đang lắm mẹ mới nuôi nổi hai anh em con và dần dần dựng lại sự nghiệp. Có một lần lính Việt – Pháp bắt mẹ, đánh đập tra tấn một cách tàn nhẫn rồi giam cầm một thời gian không rõ lý do. Đi buôn, mỗi lần mẹ mua vài đôi dép để bán cho bất cứ ai. Dép này mặt trận đánh đuổi Pháp thường dùng nhưng ít ai buôn nên mẹ buôn dễ có lời mà rất gọn nhẹ. Lúc được tha về nhà, mẹ đau ốm nặng và rất buồn một thời gian lâu. Năm 1966, học hết lớp 9 thì con đi tu. Trước đó, anh của con đi lính và mất năm 1974. Năm 1972 để tránh bom đạn, mẹ vào Nha Trang sống, cách nơi con tu học là Phật Học Viện Hải Đức khoảng 500 mét. Buổi sáng mẹ thường nấu cháo đậu đỏ và bí ngô cho con dùng để giảm đau đầu.

Năm 1975, mẹ vào sống với con ở Chùa Từ Đức – Cam Ranh. Mẹ rất kính ngưỡng người tu và thích cúng dường. Mẹ tinh chuyên niệm Phật và ăn trường trai. Mẹ rất chu đáo, lo cho con ăn uống và cùng con trồng cây lương thực để sống. Mẹ bị bệnh sa tử cung độ 3 và thiếu máu trầm trọng, mỗi tuần phải chuyền máu một lần. Nhờ bác sĩ Luông khám chữa tận tình nên bệnh mẹ lành hẳn. Có lần mẹ té giếng bể đầu gối, bác sĩ Kỳ đã chăm sóc cho mẹ, một thời gian thì mẹ đi lại được nhưng khó khăn hơn trước. Sau tai nạn một thời gian mẹ mất, đó là năm 1988, thọ 80 tuổi. Ngày 28.09 Mậu Thìn, lúc 5h chiều mẹ không ăn uống gì, đến 8h tối thì mẹ đi rất nhẹ nhàng an ổn, không thấy có một dấu hiệu đau đớn nào. Con cùng với năm đạo hữu cư sĩ đã có mặt bên mẹ. Năng lượng yên tĩnh từ sự thực tập của mọi người được duy trì suốt cả đám tang. Có thầy Tâm Minh và các đạo hữu tụng kinh. Rạp lo đám được trang trí bằng kinh Pháp Cú và tượng Bồ Tát gánh mẹ và cha. Đêm trước, tối 29 tháng 09 Mậu Thìn, con nói pháp thoại với chủ đề báo ân như những đám tang khác ở đây.

Sáng hôm sau, ngày 01.10 tiến hành lễ di quan và mai táng, có 17 vị xuất sĩ và một vị linh mục, bà con cùng đạo hữu xa gần đông đảo đến dự. Dù ngày 27.09 có bão lớn, vườn cây điều cao khoảng bốn mét trong chùa nghiêng ngửa, đám tang vẫn đi trong tiếng niệm Bụt phát từ loa lớn qua băng cattsette để trên xe tang đẩy bằng sức người. Mỗi người cầm một cây hương, lần đầu tiên ở đây có một đám tang như vậy. Các ngày cúng và giỗ năm đầu của mẹ cho đến bây giờ, năm nào cũng được tổ chức như ngày quán niệm. Mọi người tham dự mỗi năm mỗi đông. Giỗ ba con cũng vậy. Trước mộ, con ghi hai câu nhắc con thực tập gởi niềm tri ân đến Thầy bổn sư và mẹ con, hai bậc sinh thành tâm linh và huyết thống đã chăm sóc chu đáo đầu đời của con đã cho con cảm hứng:
Trông xác vữa mẹ già chết để lại
Nhắc thân hèn trẻ mọn sống cho đi
Giỗ năm nay, huynh đệ chúng con ra thăm mộ và thắp hương. Ngôi mộ giản đơn như khung cảnh miền quê đã gây một ấn tượng đẹp trong lòng chúng con hôm ấy. Mười ba năm sống trong chùa, hai mẹ con đầy đủ mọi thứ. Chùa có hơn hai mẫu đất, nhờ các bạn tu cư sĩ trực tiếp phụ giúp trồng cây lương thực và chăm sóc mẹ con trong những lúc tai nạn, dù các vị rất khó khăn về mặt kinh tế và lao động vất vả suốt ngày thâu đêm.
Hằng năm, ba mẹ và anh chị của con được giỗ chung một ngày với ba mẹ của những người thân trong tăng thân xuất sĩ Làng Mai Thái Lan. Chị dâu con và con chị lại ở gần Từ Đức, ngoài quê nội, ngoại, làng xã, bà con xa gần đều được hướng dẫn thực tập đạo Bụt dấn thân một cách cụ thể, nhiều người trẻ đã xuất gia với Thầy, có vị đã xuất gia trên mười năm.
Con thấy rằng con đang từng bước tu tập và đã góp được một phần nhỏ vào việc nâng đỡ gia đình huyết thống và xã hội, nên con rất trân quý sự nghiệp này và biết ơn Thầy bổn sư, các huynh đệ của con và Thầy cũng như Tăng thân đã cho con rất nhiều cơ hội tốt để thực tập đạo Bụt dấn thân.
Chúng con chia sẻ niềm vui và lòng biết ơn những cái sáng đẹp của chùa về hình thức lẫn nội dung. Đó là nhờ sự tiếp nối đầy năng lượng của các sư em xuất sĩ trẻ và sự nuôi dưỡng của tất cả các bạn tu cư sĩ gần xa. Tất cả đều hết lòng miên mật hành trì nương tựa lẫn nhau, thuận dòng để cùng về biển cả. Nếu chùa không có năng lượng dựng tăng thuận dòng ấy thì khó mà được như thế, khó mà tiếp tục phát triển, trao truyền cho tới hôm nay.

Chúng con ôn lại vài nét của chùa Từ Đức trong 40 năm qua. Hồi ấy quý bạn xuất sĩ và cư sĩ chúng con còn trẻ như các bạn bây giờ, niềm tin chưa sáng, cách hành xử còn vụng về; bao nhiêu khó khăn từ bên ngoài đến bên trong đều do sự hạn chế này đã nảy sinh liên tục. Nhưng nhờ sự nâng đỡ của nguồn tuệ giác tiền nhân, chúng con đã cùng nhau thực tập xây dựng với những gì có trong tầm tay, nên đạo tràng chuyển hóa giúp đời tuy còn non yếu song vẫn được nuôi dưỡng. May mắn nữa là giờ đây có lớp trẻ kế tục, thừa hưởng và nuôi lớn tuổi già chúng con.

Lớp già bây giờ không còn năng nổ linh hoạt như xưa, song cách hành xử chín chắn hơn, cái nhìn sâu rộng hơn, đức kham nhẫn lớn hơn, lại được lớp trẻ tiếp sức dưỡng nuôi nên vẫn đến chùa, thấy cần đến chùa để được tắm mình trong năng lượng tin yêu thân kính ấy. Các vị chỉ cần có mặt, thường biết nhìn bằng cái nhìn chan chứa tin yêu đã là một đóng góp lớn lao rồi. Lớp trẻ cũng ý thức được, cảm nhận được, nên đã hết lòng tận hưởng, trân quý và nuôi dưỡng lớp già. Nhờ thế mà đại chúng có thêm sức để đi xa, đi sâu vào lòng sự sống trong mỗi phút giây. Quả là “Măng vươn xanh lũy tre già”.

Ôn lại quá khứ, tuổi già chúng con càng trân quý, thương cảm tuổi trẻ sâu sắc như mình thuở ấy, lòng con chợt cảm thấy lâng lâng, nhận được sức sống xuân thì trong ánh hoàng hôn của tuổi tác.

Sư chị CĐ, KN, ĐN, Sư em PL, PC, TK, ĐL và con, tất cả đều sinh hoạt với chùa, với huynh đệ nhịp nhàng mà vẫn có rộng thời gian và đầy đủ năng lực. Đó là nhờ sự bảo hộ của Tăng thân trong sự vận hành của tăng nhãn.

Ngày 12.10 (19.09 Giáp Ngọ), ngày vía đức Quan Âm, nhằm ngày quán niệm, đại chúng thiền hành đến bảo tượng Bồ tát, mọi người thiền tọa có hướng dẫn của thầy Pháp Huân, thầy Pháp Côn khởi niệm danh hiệu để làm lễ đặt đá cho việc xây cất tăng xá và chánh điện. Sau đó, đại chúng vào thiền đường để nghe pháp thoại. Chúng con chia sẻ với nhau kinh nghiệm và giáo lý thực tập chánh niệm từ bi, chuyển hóa tà kiến để hiểu và thương, biểu lộ trong các sinh hoạt hằng ngày, là sống cùng Đức Thế Tôn ngay bây giờ và ở đây qua hơi thở, việc làm có ý thức.

Buổi lễ và ngày tu đơn giản nhưng đã cho nhau thấy rằng, sống như vậy là chế tác năng lượng hộ quốc an dân rất cụ thể và nhiệm mầu mà các bậc tiền bối của chúng con đã sống qua các thời đại. Đặc biệt vào thời đại Lý – Trần là thời đại thuần từ nhất của nước Việt chính cũng nhờ vào năng lượng hộ quốc an dân đầy tuệ giác này. Năng lượng ấy hiện tại vẫn được tiếp nối và lan rộng khắp năm châu. Cuối pháp thoại, chúng con cùng ôn lại chuyến về nước của Thầy và huynh đệ thế giới, đã đến vun bồi năng lượng hiểu thương tại chùa Từ Đức vào chiều 13.04.2007 (26.02 Đinh Hợi). Chúng con cùng nghe bài thơ “Thầy thương” được làm vào dịp ấy:

Thầy thương

Bụt ở đó, Tăng muôn nơi,
Ngàn sao lấp lánh thảnh thơi muôn lòng.
Đường về mây bạc thong dong,
Từng buông xả, lại rõ từng bên nhau.
Bước chân huyền thoại ngàn sau,
Dâu ngàn xanh, ngát hương mầu thường nhiên.
Cúi đầu thâm tạ triều lên,
Suối ngàn trong mát mọi miền núi sông.
(Chùa Từ Đức kính dâng)
Chúng con đã cung đón Thầy và huynh đệ năm châu bằng tấm lòng trân quý đầy tình thâm của đại gia đình tâm linh có phẩm chất mà không phải là chủ nhà đón thượng khách. Năng lượng thuở ấy được sống dậy và nuôi dưỡng chúng con hiện tại rất nhiều. Sự nuôi dưỡng ấy cho chúng con thêm khả năng thưởng thức hoa trái sau bảy năm đã hiện rõ ở đây và làm vững chãi thêm sự tu học để  chúng con tiếp tục phát triển sâu rộng hơn.
Trong những ngày tu ấy, các sư em ở Huế, Đồng Nai cùng các bạn tu cư sĩ các nơi về dự. Sự họp mặt ấy tạo thêm năng lượng cho nhau. Qua mấy ngày tu, các sư em, huynh đệ ở đây đàm đạo rất hạnh phúc. Các em trẻ ở Đà Nẵng, các bác ở Đà Lạt, Ninh Hòa, Bình Phước chia sẻ về sự chuyển hóa rõ rệt của mình. Sự chuyển hóa ấy đã giúp các em ở Đà Nẵng nói ra được những khó khăn đau thương sâu thẳm rất khó tỏ lộ cùng ai từ trước tới nay. Nhờ vậy, các em “mới” hẳn, lại phát khởi tâm nguyện thiết tha là nuôi dưỡng cái “mới” ấy mỗi ngày ở tự thân, gia đình và xã hội để chuyển hóa tận gốc khổ đau và để có năng lượng an lạc hiến tặng cho người thương. Điều này đã nuôi dưỡng chúng con, làm tăng thêm niềm tin vào sức mạnh của pháp môn hiện pháp lạc trú trong dòng sức mạnh, lành đẹp của Tăng thân, một dòng sức mạnh mà thân hữu khắp nơi đang thụ hưởng, tán dương và mở rộng.
Sau đó, bốn huynh đệ chúng con được phép đi biển nghỉ dưỡng, cơ hội được sống với nhau trong tình huynh đệ và nuôi dưỡng được năng lượng tương tục tương tức, để cùng hòa nhập vào lòng đại dương giải thoát, trong đó có sư em mới về nhập chúng. Chúng con có cơ hội để nhìn lại, thưởng thức những hạnh phúc đã có và nhận diện những yếu kém để cùng nhau thẩm định lại thật hư, hầu dắt dìu nhau đi tới. Điều này giúp chúng con có thêm chiều sâu thời gian vui với biển rộng mây ngàn, có mặt cho nhau, cho các bạn đồng tu và cho các sư em thương kính ở Đồng Nai.
Trở lại chùa, những ngày tiếp theo chúng con lại có dịp chia sẻ một vài yếu kém trong sự tu học đã được huynh đệ nhận thấy, từ đó huynh đệ giúp nhau phương pháp vượt thoát, đồng thời cho nhau không gian thông thoáng để mỗi người tự quán chiếu sâu hơn mà dễ dàng cùng nhau chuyển hóa. Ngày 30.10, chúng con có buổi thiền trà, sư em KN chia sẻ hạnh phúc về sự chuyển hóa của bà con miền Tây mộc mạc, cụ thể mà ích lợi quá nhiều qua chuyến đi của các sư em về thăm quê ở đó. Có thầy P.L, sư em H.Ph, sư chị KN cùng đi về thăm mấy tuần. Điều này giúp huynh đệ cùng nhau ôn lại rằng, mở khóa tu là để tu học, trưởng thành chứ không phải bị đuối sức. Trong buổi thiền trà, huynh đệ chia sẻ niềm vui trong thời gian sống với nhau và nói lên những nhu cầu cần quan tâm, nâng đỡ đối với chùa trong các ngày tu đông người sắp tới.
Buổi ngồi bên nhau ấy, chúng con đều thấy rõ, tuổi trẻ giàu năng lượng là tài sản quý báu cần được chăm sóc và nuôi lớn mỗi ngày. Phần lớn nhờ vào sự thực tập Luật nghi và sự dẫn đạo của tăng nhãn. Với thực tập căn bản này, Tăng thân mới đủ sức thực hiện sự nghiệp dấn thân khế lý, khế cơ trước sự thay đổi nhanh chóng, tinh xảo rất tiện ích, song chứa đựng nhiều cám dỗ của cuộc sống đa dạng toàn cầu. Vì vậy, huynh đệ đều ý thức rằng tất cả cần nương tựa nhau, rất cần có nhau mới đủ điều kiện tốt để hiểu thương được bản thân, góp phần xây dựng nếp sống gia đình, xã hội một cách có trách nhiệm và tự do. Một điều kỳ diệu của Tăng thân là biết nương tựa sự tiêu cực như sen nương vào bùn. Vì chúng con đã có A-lại-gia thức tự do vượt thoát thời – không và có đủ điều kiện để giúp sáu thức phát khởi niệm – định – tuệ không những ở mỗi người mà còn được yểm trợ bởi mọi người trong mọi lúc, mọi nơi, nên sự thực tập ‘biết nương tựa’ ấy ít khó khăn, như Thầy dạy “không bùn là không sen”. Một ít khó khăn là bùn. Tình huynh đệ có thực là sen.
Ngày 02.11, chúng con về Thái Lan để tiếp tục nương tựa và nghỉ ngơi trong lòng đại chúng giàu năng lượng tu tập. Hay tin Thầy yếu sức rồi bệnh nặng, chúng con cùng nhau thực tập chung hai xóm để cùng hòa nhịp với tất cả các trung tâm khác, xuất sĩ cũng như cư sĩ, nên năng lượng nguyện cầu tỏa chiếu cụ thể qua các thời khóa mỗi ngày. Năng lượng này đi vào nguồn chung, tạo nên nhiều thuận lợi trong việc Thầy đang điều trị nơi chốn gốc Làng Mai. Xót xa với những cảm xúc có đó, song chúng con vẫn thấy được rằng, bệnh theo nhân duyên thường nhiên của Thầy vẫn tạo ra nhiều năng lượng lớn lao, giúp chúng con tu tập tinh chuyên, nhẹ nhàng vượt qua các khó khăn, lại trân quý những gì đang có một cách cụ thể hơn.

Nhân duyên này lại đánh động rất nhiều người đang lưu tâm cần hiểu sâu, hiểu rõ và thấy sáng, thật và lành hơn về Thầy, về Tăng thân, về Tam Bảo sinh động đang có thật bây giờ, ở đây và mỗi lúc mỗi lan tỏa gần xa khắp thế giới. Từ đó, mọi người có thêm hiểu biết, thương yêu cho sự tu học đi tới vững chãi, thảnh thơi trong các sinh hoạt hằng ngày.

Tối ngày 02.12.2014, lần đầu tiên chúng con ở đây được thăm Thầy qua mạng. Ai cũng lắng lòng theo dõi. Thấy được Thầy bệnh như vậy, tiếp nhận sự nuôi dưỡng trong vòng cho phép hạn chế như vậy, qua một thời gian khá dài như vậy mà sắc diện Thầy không suy giảm như thường tình. Thầy đang thở theo tiếng tích tắc của đồng hồ mà không thở bằng máy trợ lực ô xy. Thầy đã vượt qua được thời gian đầy hiểm nghèo và các đệ tử cũng như thị giả của Thầy đủ sáng suốt để thực tập giúp Thầy chữa trị cùng y bác sĩ mà không ảnh hưởng theo sức đẩy của tập quán đời thường. Tất cả đều từ nguồn tuệ giác tương tức tương tục biểu hiện, mà Thầy là bậc Thầy từ lâu đã sống với tuệ giác ấy một cách nhuần nhuyễn.

Thầy thị hiện bệnh như vậy là lời kinh sinh động, một thông điệp quý hiếm được trao đến cho tất cả chúng con và mọi giới. Thầy xuất huyết não mà các sư em Sồi Đỏ bụ bẫm ra đời vào ngày 18.12.2014 sung mãn với cả hình thức lẫn nội dung. Ở xóm Thượng có mặt của Sư Thúc Đà Nẵng và đại chúng, bên này chúng con cùng với một số huynh đệ lớn từ các nơi về, cùng thừa hưởng năng lượng Tam bảo qua Thầy, tĩnh lặng trao truyền giới pháp. Thập tử nhất sinh mà Thầy vẫn an nhàn đưa đàn con vào sự sống mới, 42 sư em được chăm sóc, được mớm bằng dòng sữa pháp từ đầu tới cuối như cùng tham dự một khóa tu, nên thân tâm sáng rỡ.

Thầy ơi! đúng như Thầy đã dạy cặn kẽ, năm uẩn là Niết bàn, Niết bàn không hữu dư, không vô dư. Chúng con có cảm nhận rằng, có niệm, định, tuệ thì sinh, trẻ, khỏe, già, bệnh, phục hồi hay viên tịch đều là Niết bàn, là sự sống vượt thoát mọi ý niệm, đều là tự tính vô thường, vô ngã luôn vận hành biểu hiện qua đủ mọi tướng sinh động nhiệm mầu. Trong năng lượng tự do Niết bàn, cái nhìn về tướng không bị vướng mắc, qua tướng là thấy rõ tự do, sống là tự do. Các chuyển thức thì còn vướng mắc vào các tướng, nên thức thứ sáu cần được giúp đỡ để phát khởi, nuôi lớn niệm, định và tuệ liên tục mỗi phút giây, mới vận hành, biểu hiện năng lượng tự do này trong mọi thời gian, không gian. Điều này rất cần đến minh sư hướng dẫn, Tăng thân có phẩm chất bảo hộ thường xuyên và sự tinh chuyên thực tập của mình để sự sống là tự do. Sự sống ấy chuyên chở tự tính tương tục tương tức, vượt thoát ý niệm sinh diệt, có không, đoạn diệt hay vĩnh hằng. Đây là nội dung Thầy dạy chúng con sống làm sao để vượt thoát được cái nhìn nhị thủ qua ba nghiệp của mình ngay ở cuộc đời này. Nhờ vậy, chúng con thấy lúc Thầy khỏe, Thầy nuôi chúng con tu tập giúp đời. Khi Thầy bệnh, Thầy phục hồi, vẫn liên tục nuôi dưỡng chúng con. Thời gian này, chúng con đã thực tập sâu sắc hơn rồi, thì mai đây giữa biển sóng nhấp nhô vô tận, chúng con đã có vốn liếng quý báu của ngày hôm nay để duy trì, nâng đỡ và nuôi lớn định tuệ cho tự thân, Tăng thân và tất cả qua mọi tình huống. Giờ phút này đây, chúng con cùng nhau thắp sáng ý thức ấy mọi lúc, mọi nơi, để tương lai trở thành hiện thực. Đây cũng là điều mà mọi người trông vào và kỳ vọng, lại cùng hòa đồng nhịp thở thắp sáng ấy với chúng con. Chúng con giàu có vô cùng trong đại gia đình tâm linh bốn chúng.

Có một điều mà ai cũng đồng lòng cầu nguyện và mong cầu là Thầy được bình phục trở lại trong sinh hoạt bình thường. Đó là niềm vui thanh thản khôn lường, để tất cả đều được nương tựa. Trong sự bình phục này, Thầy lại tâm sự cho mọi người rõ, Thầy thực tập trong lúc bệnh, nhất là lúc hiểm nguy nhất giữa sống và chết một cách rất là con người mà lại rất là tự do ra sao, lại là một chấn động lớn, một sự thúc đẩy mọi người trở về nương tựa tuệ giác tương tức sâu sắc không thể hình dung được cho con người, cho muôn loại và cho đến cả đất đá trăng sao. Cảm nhận này lại giúp chúng con thực tập ngay trong hiện tại một cách hết lòng và thảnh thơi. Năng lượng ấy là chúng con, là Thầy giữa ngôn từ sự tướng vô thường, vô ngã mà chuyên chở tự tính, tuệ giác vô ngã, vô thường.

Thầy là bậc Thầy thương yêu chúng con và thương yêu tất cả trọn đời. Chúng con là học trò, là sự tiếp nối năng lượng hiểu thương, là thương kính Thầy, cùng nhau mang Thầy đi về tương lai. Thầy trò và tất cả là Tăng thân. Thầy luôn trân quý và nương tựa Tăng thân. Chúng con thường được trao truyền năng lượng suốt đời trân quý nương tựa Tăng thân. Cốt lõi của Tăng thân là tình huynh đệ, là niệm, định, tuệ, là tăng nhãn.

Đặt mình vào sự dẫn đường của tăng nhãn, một cái nhìn tổng hợp mọi cái nhìn qua quyết định của chúng Khất sĩ về những việc quan trọng, chúng con được bảo hộ, nuôi lớn và đi xa; đó là uy đức của Tam Bảo, là uy đức của Luật nghi, đó là ý hòa và kiến hòa, uy đức của hiểu và thương. Tình thương và cái thấy vô thỉ vô chung, là Thầy của chúng con. Chúng con cùng dắt dìu nhau từng bước cẩn trọng hướng về trong sự bảo hộ của Tăng thân.

PakChong, 10.01.2015 – Cẩn ghi

 

Xuân Ất Mùi 2015

Sư đệ Thích Giác Viên

Thở cho Bụt về

Tâm cũng như rừng

Rừng đã thực sự vào đông và sức sống đang gói mình để lên đường, cuộc hành trình trở về, quay lại, đi xuống. Lắng lòng yên, ta có thể cảm nghe sự lắng đọng của đất trời, của cỏ cây. Rừng mận, rừng bạch dương, rừng sồi hay gỗ dẻ đều đã trụi lá, trơ cành nâu đen, cong quẹo, xương xẩu… Sự sống không còn mơn mởn nhưng sự sống lại hùng mạnh hơn bao giờ hết! Rừng cây trầm mặc trở lại và rút hết sự sống vào bên trong, để thực sự đi qua một chặng đường đầy khó khăn, thử thách. Đất trời, thiên nhiên đang làm hết lòng của mình. Còn tôi, tôi có đang làm hết lòng của mình hay chưa?

Rừng cây trở nên bớt kỳ bí, đơn giản và trải lòng, nó đang cùng nỗi chịu đựng sự khắc nghiệt như đất Mẹ. Rừng cây với đất Mẹ, một màu nâu xám yên lặng, kham nhẫn. Mùa đông bao giờ cũng có vẻ đẹp làm cho ta rúng động tận cùng tâm linh! Cái đẹp đó đơn giản, không có chi nhiều để nói về bởi nó giống như cái gì gần gũi, lắng yên nhưng lại khó nắm bắt, như chính tâm tư bề sâu của mỗi người. Nó có vẻ như không nằm ngoài, không tách biệt với tự thân ta! Lúc nào nhìn rừng cây mùa đông tôi cũng ý thức rằng nó đang “giữ lửa”, nó đang ẩn dấu, cất chứa, gói ghém sức sống còn lại của mình, nó đang ôm lấy mình với tất cả sự dịu dàng, bền bỉ. Rừng cây biết lắng nghe, chấp nhận và chờ đợi sự sống và đó chính là sức mạnh, là sức sống, là hiểu, là thương! Cây mận, cây bạch dương… làm điều này thật giỏi. Một người xuất sĩ có thể học và làm được bài học của rừng cây hay không?

Em tôi vẫn còn trông nom chút lửa hồng bếp cũ

Con người cũng là một thứ cây cối, cũng đi qua những mùa khác nhau, cũng phải học cách “giữ lửa” và phải biết rụng đi những chiếc lá non nớt phù hoa. Tôi có niềm tin nơi đất trời, thiên nhiên và tôi cũng có niềm tin nơi con người. Sự sống đang đẹp đẽ và mầu nhiệm vô cùng, nơi từng cành nhánh nâu nâu vươn mình giữa không gian rộng lớn, nơi từng khuôn mặt tươi vui hay trầm lặng của tất cả các anh chị em tôi, nơi những câu chuyện giúp người dễ thương của mạ và nơi từng hơi thở rõ ràng, đều đặn, bình yên của Thầy!

Mỗi lần thấy một sư anh, sư chị hay sư em ít cười, ít nói, niềm vui không như mùa xuân rạng rỡ trên gương mặt, tôi không buồn hay lo lắng gì nhiều, bởi tôi biết người anh chị em của mình đang đi qua một “mùa đông”, đầy thử thách cam go. Cũng như rừng cây vào đông, người đó cũng đang đem mình trở về, gom niềm vui và mang sức sống trở về cho quá trình lắng yên, phục hồi và chữa trị. Những gì người đó cần lúc này là không gian và thời gian, tình thương và sự chấp nhận. Có lúc tình cờ đứng gần, ngồi một bên hay chỉ đi ngang qua sư em, tôi hay mỉm cười, thở và nói thầm: “Cố lên, sư em làm được mà!”

Buông bỏ được thì hạnh phúc có mặt tức thì

Trước mặt tôi là rừng nối tiếp rừng, đồi nương và ruộng đồng, trải dài không vật cản. Chỉ trừ những hàng Tùng là còn giữ lại màu xanh, cây cối đã rụng hết lá và thật nhiều không gian lộ ra. Con mắt được ngập tràn và no đầy thứ không gian đó. Nhờ rụng hết lá mà cây cối không những đã cho nhau mà còn cho người ngắm chúng thật nhiều không gian. Tôi đã có thể đứng đó và nhìn xuyên qua khu rừng, nhìn được rất xa. Có phải buông bỏ được thì không gian có mặt tức thì hay không? Vào những khuya mùa đông, lúc trăng sao đang ngự trị bầu trời và mặt đất, nếu ta chịu tắt bớt đèn, tắt bớt những ngọn nến quá sáng thì ánh trăng bên ngoài tự nhiên bao la hơn, sáng soi hơn! Ánh trăng lúc nào cũng có đó, bàn bạc, thấm nhuận và dịu dàng soi sáng lên vạn vật, vậy mà đã không biết bao nhiêu lần tôi dại dột cố sức chong đèn đuốc lên cho đến lúc cạn dầu, thiếu bấc rồi thở than: “trăng hôm nay không sáng lắm, trăng hôm nay chưa lên…!” Tuệ giác và tình thương, sức mạnh tâm linh và gia tài huyết thống vẫn luôn có đó, bàng bạc và bao la như ánh trăng! Bụt Tổ, Thầy và Tăng thân, ba mạ và cả nhà, Sư phụ và huynh đệ, bạn bè vẫn luôn có đó, yên lành và hùng hậu, kiên nhẫn và trọn vẹn như sức sống của rừng cây mùa đông. Tôi tự hỏi chính mình là đã tắt được ngọn đèn tự hào nhỏ bé nào chưa, đã rụng được ngọn lá buồn phiền, đau khổ nào chưa, để có thể đem mình trở về cội nguồn yêu thương bất tận, để có thể đặt mình trong ánh sáng tuệ giác ngàn đời! Trăng khuya nay đẹp lắm, đang sáng mênh mông khắp vườn mận, khắp không gian… “Em ơi, em có đang tắt bớt đèn đi cho ánh trăng được chảy tràn?”

Mái chèo khua theo hướng nước mây trôi

“Cái túi của con có đủ gió trăng không con?”, đó là câu Thầy hay hỏi những đứa học trò thơ dại, vừa nói vừa nhìn nó mà cười, ánh mắt sáng long lanh, đôi khi còn có chút trêu đùa trong đó nữa. Người tu nào cũng phải biết chế tác gió trăng, cũng phải có đủ gió trăng. Tôi đang có đủ gió trăng chưa? Em có đang có đủ gió trăng chưa? Trong hơi thở bình an có Bụt, trong hơi thở yên lành có Thầy. Thở cho giỏi thì Thầy sẽ có mặt, thở cho giỏi thì Bụt sẽ có mặt, với tôi, với em.

Mái chèo khua theo hướng nước mây trôi
Từ hiện tượng thuyền quay về bản thể

(Thơ Thầy)

Làm sao để thuyền ta không bị kẹt vào những hiện tượng lên xuống đời thường? Làm cách nào để có thể từ những hiện tượng kia mà tìm ra được bản thể sự sống? Có phải thuyền ta phải đi về hướng nước mây hay không? Hướng nước mây kia có liên hệ gì đến cái túi gió trăng của hành giả? Và mái chèo kia sẽ khua nhẹ nhàng đưa thuyền về hướng nước mây, để có thể về với bản thể, về với cội nguồn! Mái chèo kia được làm bằng chất liệu gì, em có biết không? Thầy đã thương yêu ân cần trao lại cho mỗi đứa học trò mái chèo kia rồi, trao truyền nơi mỗi phút giây, nơi mỗi bước chân, hơi thở của Thầy và bằng cả cuộc đời Thầy. Em và tôi, chúng ta còn chờ đợi gì nữa mà không lên đường! Thở cho Thầy về, thở cho Bụt về, rồi mình đi với nhau cho vui, trên con đường này!

Khoảnh khắc bên Thầy

Thầy kính thương,

Con nhớ có lần tại cốc Thầy, cốc Tùng Bút ở tu viện Lộc Uyển, Thầy nói với con: “Này con, con làm một bài thơ và phổ nhạc rồi hát bài của mình, đừng hát bài Sông và Biển nữa.” Con thưa: “Bạch Thầy con không biết làm thơ, mà phổ nhạc thì con càng không biết nhạc lý gì cả”. Thầy nhìn con cười và nói: “Mỗi bước chân của con bước hãy làm biểu hiện những vần thơ, mỗi hơi thở vào ra của con đó chính là nốt nhạc”.

Ngay giây phút ấy, con chưa lĩnh hội được ý của Thầy một cách sâu sắc, con nghĩ thầm: “Ô, sướng quá! làm thơ như vậy đâu có khó”. Rồi Thầy dạy con hát cho Thầy nghe. Con thưa Thầy con không biết hát. Thầy lại dạy: “Sư cô Chân Đức làm thơ, làm nhạc rồi hát nữa, thế nào con cũng sẽ làm được như sư cô Chân Đức”. Con ngồi bên Thầy yên lặng, chưa biết trả lời ra sao thì Thầy dạy tiếp: “Con hát bài Lòng Không Bận Về cho Thầy nghe đi!” Con nhớ lúc ấy con thật lúng túng và thưa là con không thuộc bài đó. Thầy đâu có tha, Thầy nói không thuộc để Thầy nhắc cho. Thế là con chịu trận phải hát, hát tới câu nào quên là Thầy nhắc. Hát xong, con thấy mình như được thoát nợ.

Thầy ơi, con đâu có ngờ rằng chính bài hát mà Thầy nhắc cho con hát từng câu ấy đã giúp con rất nhiều. Những ngày tháng sống xa Thầy, về nơi đất mới đóng góp xây dựng chúng, có những khó khăn đến với con và đôi lúc làm cho lòng con chùng xuống. Chính những giây phút như vậy, câu thơ “Gió reo tám hướng lòng không bận về” trong bài hát ngày trước và hình ảnh Thầy lại hiện về trong con, giúp cho con mạnh mẽ hơn để đi tới. Sau mỗi lần lòng con chùng xuống, chỉ một lát sau tinh thần con được phấn chấn trở lại, lúc ấy con mới nhận ra và thốt lên một mình rằng: Ôi, tuệ giác và phương tiện của Thầy sao tuyệt vời quá! Ấy vậy mà ngày trước con nào có hiểu. Thầy dạy hát thì con “phải hát” như trả bài chứ đâu có nắm được yếu chỉ như nhà thiền thường nói tới “Tâm truyền tâm”. Và kể từ đó, con nhận ra Thầy đã trang bị hành trang cho con rõ ràng và cụ thể, con chỉ cần nắm lấy và khéo sử dụng để mỗi ngày làm nên chất liệu thơ, nhạc và hát cho Thầy nghe. Nhờ vậy, dẫu sống xa hình hài Thầy, nhưng không gian và thời gian chưa bao giờ ngăn cách tâm thức khi con muốn tiếp xúc với Thầy.

“Chúng ta xa cách nhau
Từ ngàn vạn kiếp lâu
Nhưng không hề xa nhau
Dẫu một phút giây nào.”

Thầy kính thương, mười chín năm về trước khi quyển sách “Bước Tới Thảnh Thơi” ra đời, Thầy tặng cho mỗi người con tâm linh của Thầy một quyển. Thầy nói các con muốn Thầy đề câu gì vào sách của mình thì cho Thầy biết để Thầy ghi vào. Con đã xin Thầy ghi cho con câu “Tình thương là chất liệu nhiệm mầu, Chư Bụt, Chư Tổ và Thầy truyền trao cho con, con hãy nắm lấy gìn giữ để nuôi dưỡng lại thế hệ tương lai”.

Thầy ơi, mười chín năm qua con rất thích câu này nên nó vẫn còn bừng sáng trong con, mỗi ngày con thực tập sâu sắc hơn với lòng biết ơn để không cô phụ suối nguồn.

Hướng đến Thầy với lòng thương kính.

Con của Thầy.

Đến để mà thấy

Là một tu sĩ đến từ Malaysia, thầy Kai Li đã tu học tại Làng Mai đến nay đã năm năm. Thầy sống rất gần gũi với các anh chị em. Tính tình cởi mở, thầy có khả năng đem niềm vui đến cho mọi người với những lời chia sẻ rất thật qua kinh nghiệm tu học của thầy. Trong mùa An cư kết Đông năm nay, Ban biên tập có cơ hội ngồi chơi với thầy và nghe thầy chia sẻ những cái thấy khi thầy đến tu học với tứ chúng Làng Mai.

BBT: Kính thưa thầy, xin thầy chia sẻ với chúng con một chút về thầy. Chúng con được biết thầy đã tìm đến nhiều truyền thống khác nhau để học hỏi và tu tập. Xin thầy hoan hỷ chia sẻ với chúng con về những trải nghiệm mà thầy có được khi tu tập với các truyền thống khác trước khi thầy đến Làng Mai để chúng con được hiểu thêm về thầy.

Thầy Kai Li: Pháp danh của tôi là Kai Li, “Kai” (Khai) có nghĩa là khai thông, còn có nghĩa là sự bắt đầu, còn “Li” (Luật) là giới luật. Thành ra Kai Li có nghĩa là Khai Luật. Thật ra thì Kai Li không phải là pháp danh gốc mà thầy bổn sư đặt cho tôi. Pháp danh gốc của tôi là Kai Hi (Khai Hỷ), giống như chữ Hỷ trong pháp danh của sư cô Hỷ Nghiêm, có nghĩa là niềm vui.

Khi thầy bổn sư gặp tôi, thầy rất vui nên thầy đặt tên đó cho tôi. Nhưng hồi ở chùa, tôi là một người rất nghiêm, không cười, không nói chuyện nhiều. Nhất là khi có người nữ thì tôi sẽ không nói năng gì cả. Vì vậy sư huynh tôi nói là chữ Hỷ không thích hợp với tôi nên sư huynh đổi thành Li. Tôi chấp thuận vì đó chỉ là danh xưng thôi. Thầy bổn sư cũng đồng ý nên tôi đã sử dụng pháp danh Kai Li cho đến bây giờ.

Tôi đến từ Malaysia. Quê tôi ở miền Bắc của đảo Borneo, một hòn đảo rất lớn. Năm 1989, tôi xin xuất gia tại một ngôi chùa ở Penang, một hòn đảo ở miền Tây của Malaysia. Thời gian làm sư chú (sadi) của tôi là ba năm tám tháng. Trong thời gian ấy, tôi hết lòng thực tập theo sự chỉ dạy của bổn sư. Thời gian làm sadi là thời gian mà mình dễ được uốn nắn nhất, vì vậy bất cứ điều gì bổn sư hoặc quý thầy lớn dạy, mình cũng nên hết lòng thực tập. Tôi thọ giới Tỳ kheo ngày 17 tháng 3 năm 1993 tại Đài Loan.

Về quá trình tu học của tôi thì trong mười năm đầu của cuộc đời xuất gia, tôi chỉ học thôi. Tôi học ở Malaysia bốn năm, sau đó sang Đài Loan học thêm sáu năm. Sau khi học xong, tôi quyết định tìm một trung tâm thiền để thực tập. Nơi đầu tiên tôi đến là Miến Điện. Ở đây tôi đã được tu học với nhiều bậc thầy khác nhau và được dạy những pháp môn hành trì khác nhau từ các vị thầy này. Sau khoảng tám đến mười năm ở Miến Điện, tôi đi sang Hàn Quốc vào năm 2008 để thực tập Thiền theo truyền thống Bắc Tông (Mahayana), bởi trước đây tôi thực tập theo truyền thống Nam Tông (Theravada). Tôi đi sang đó một mình và tìm đến một tu viện để thực tập. Đó là lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với thiền tập theo truyền thống Bắc Tông.

Đến năm 2010, tôi được gặp Thầy Làng Mai lần đầu tiên khi Thầy đến hoằng pháp tại Malaysia. Khi quý thầy và quý sư cô lên sân khấu để niệm danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm bằng tiếng Phạn, tôi cảm thấy không được thoải mái lắm. Là người tu mà sao lại hát? Lúc đó tôi không biết là quý thầy, quý sư cô đang tụng kinh, chứ không phải là “hát” như tôi nghĩ. Sau đó tôi nghe pháp thoại của Thầy và tôi thật sự được đánh động. Cho đến thời điểm đó, tôi chưa từng được nghe một vị thầy nào trong truyền thống Bắc Tông giảng về chánh niệm và Thầy là vị thầy Bắc Tông đầu tiên dạy cho tôi biết chánh niệm thực sự là gì. Đó chính là điều mà tôi đang tìm kiếm. Thật ra tôi đã từng thực tập theo truyền thống Theravada và cũng được dạy về chánh niệm, nhưng Thầy dạy về chánh niệm theo một cách khác, theo tinh thần Đại thừa.

Thế là trong năm đó, tôi quyết định sang Làng Mai dự ba tháng an cư kết đông lần đầu tiên. Tôi muốn tìm hiểu thực hư ra sao. Tôi muốn quán sát xem những gì Thầy dạy có thật sự đang được thực hành ở Làng Mai hay không. Và quả thật như vậy, tôi thấy rất được đánh động. Ở đây tôi tìm được những pháp môn mà tôi có thể học hỏi và thực tập. Vì vậy tôi đã gia hạn thêm “hợp đồng” của mình ở Làng để thực tập cho sâu sắc hơn (cười).

Tôi cho phép mình được tận hưởng nơi đây, không có gì phải vội vàng cả. Như một miếng xốp thả vào nước, tôi thả mình vào tăng thân và để cho mọi thứ từ từ thấm vào trong tôi. Tôi thấy mình được nuôi dưỡng thật nhiều. Thời gian thực tập ở Làng cũng cho tôi cơ hội bước thêm một bước nữa trong sự thực tập chánh niệm. Tôi rất thích pháp môn chánh niệm. Tôi thấy mình thật may mắn được ở Làng, được học hỏi một phương thức thực tập chánh niệm tương đối khác so với những gì tôi được biết trước đây.

BBT: Có nhiều vị khách tăng và một số cư sĩ từ các truyền thống khác (như Theravada hay Vipassana…) đến tu học tại Làng. Khi đến đây các vị hơi bị “sốc” vì ở đây đại chúng không thực tập yên lặng nhiều, tiếp xúc nhiều với những người xung quanh, và như thầy chia sẻ ở phần trên, các thầy các sư cô được “hát”, chơi thể thao, v.v. Vì thế một số các vị khách tăng và cư sĩ không thể chấp nhận được, họ đã rời Làng vì bị “sốc”. Lúc đầu, thầy có phản ứng tương tự như thế không và thầy thấy có những lợi ích gì khi thực tập chánh niệm trong một môi trường như vậy?

Thầy Kai Li: Khi mới đến Làng, tôi cũng thấy hơi chật vật vì tôi đã quen với cách thực tập truyền thống. Nhưng tôi tự nhủ là mình phải buông xuống những gì mình đã biết trước đây. Nếu tôi muốn học hỏi thì tôi phải học bằng một con người mới. Dần dần khi đi sâu hơn, tôi nhận ra rằng sở dĩ tăng thân Làng Mai khác với những tăng thân ở các nơi khác là vì ở đây có rất nhiều người trẻ, nên cần phải sử dụng những phương thức thực tập cho phù hợp với người trẻ, không thể dùng cách của truyền thống được. Đôi khi chúng ta phải thay đổi, bởi vì phương thức truyền thống có thể phù hợp với thời đại trước, còn bây giờ là thời đại mới.

Vì tăng thân có nhiều người trẻ nên cần phải năng động hơn. Các thầy, các sư cô trẻ có nhiều năng lượng nên đôi khi cần phải chơi các môn thể thao để quân bình năng lượng trong mình. Nếu đè nén thì sẽ bùng nổ. Tôi thấy đó là một cách rất hay để có sự cân bằng và đem lại sự chuyển hóa. Có những người trẻ thì lại thích hát, và những bài hát thường có nội dung tán dương Bụt, Pháp và Tăng.

Nếu nhìn cho sâu sắc, ta sẽ không thấy có sự chống trái nào hết. Chúng ta phải nhìn vào hoàn cảnh cụ thể. Không thể đem truyền thống này so sánh với truyền thống kia, hoặc trung tâm này để so sánh với trung tâm kia, như vậy không công bằng. Tuy nhiên việc so sánh hoặc chỉ trích thường hay xảy ra khi người ta đến từ một truyền thống khác. Vì vậy khi đến một trung tâm thực tập, mình nên buông bỏ cái mình đã học để sẵn sàng hội nhập. Có như thế mình mới có thể thực sự học được cái mới và tầm nhìn của mình mới được mở rộng, không bị bó buộc.

Tôi thấy pháp môn tu học ở Làng Mai giúp được nhiều cho người trẻ. Thầy thường nhắc nhở chúng ta là phải giúp cho người trẻ tu tập, không phải lúc nào cũng giúp cho người lớn mà thôi. Tôi vẫn nhớ lời Thầy nhắn nhủ khi tôi được truyền đăng là đối với người trẻ, mình phải dùng cách thức mới để giúp cho họ, không thể sử dụng cách thức ngày xưa được. Phải tìm một cách để cân bằng giữa cái mới và cái truyền thống, được như thế thì mới giúp cho người trẻ một cách hiệu quả. Đó là lý do mà trong giới luật (Vinaya), Bụt dạy rằng mình có thể thay đổi hay làm mới giới luật để thích nghi với hoàn cảnh.

Thầy cũng dạy rằng một người tu phải làm sao để có sự quân bình trong bốn lĩnh vực: tu, học, làm việc và chơi. Sự thực tập chánh niệm có thể được áp dụng vào cả bốn lĩnh vực. Thành ra đây là một phương tiện quyền xảo để giúp cho người trẻ. Các em thiếu niên cũng có thể đến để cùng tu và như thế dần dần các hạt giống tốt của các em sẽ được tưới tẩm. Đó chính là hướng đi của Làng Mai.

Thỉnh thoảng có người hỏi tôi là họ cần phải chuẩn bị tinh thần như thế nào khi đến Làng Mai. Thường thì tôi cho họ biết là ở đây rất khác với các chùa truyền thống, nếu đến đây họ phải cố gắng chấp nhận điều đó. Tuy vậy có những người vẫn không thể chấp nhận được, rất khó cho họ. Nhưng không sao, cho họ một chút thời gian, dần dần cách nhìn của họ sẽ rộng mở hơn. Tôi cũng không đánh giá phê bình gì họ hết, bởi vì kinh nghiệm của họ là như thế. Muốn thích nghi thì cần phải can đảm, giống như Thầy vậy. Thỉnh thoảng tôi cũng chơi thể thao với quý thầy, chơi trong chánh niệm, không phải để thắng hay thua, chơi chỉ để cho vui thôi.

BBT: Một số vị từ truyền thống Nam Tông khi đến Làng tu học đã nói rằng họ phải phạm rất nhiều giới truyền thống để có thể hòa nhập với cách thực tập của Làng Mai. Thầy nghĩ sao về điều này từ chính kinh nghiệm tu tập và cách hành trì giới của thầy?

Thầy Kai Li: Có sự khác biệt trong Giới luật (Vinaya) giữa các truyền thống của đạo Bụt. Có hai truyền thống chính trong đạo Bụt: Nam Tông và Bắc Tông. Theo cái biết của tôi thì truyền thống Nam Tông chủ trương giữ nguyên những giới luật mà Bụt đã chế, không thay đổi cũng không được chế thêm giới mới, như quyết định của Ngài Ma-ha Ca Diếp trong Đại hội kết tập kinh điển lần đầu tiên. Trong khi đó truyền thống Bắc Tông lại cho rằng đó là cách của Ngài Ca Diếp, còn chính Bụt cũng từng nói là một vài giới luật có thể được mở ra một chút, không phải lúc nào cũng làm y theo.

Vì vậy ta có thể thấy rằng chính Bụt cũng rất cởi mở và luôn luôn thích ứng. Thỉnh thoảng Bụt cũng thay đổi giới luật khi những giới luật đó không còn thích ứng. Nếu ta nghiên cứu về giới luật thì sẽ thấy có những chứng cứ về điều này. Tuy vậy, thường thì ta không dám thay đổi những gì đã được Bụt chế ra. Đối với tôi thì tôi chọn con đường trung đạo. Khi thực tập trong môi trường Nam Tông thì tôi theo cách thức của Nam Tông, còn khi thực tập ở môi trường Bắc Tông thì tôi theo cách của Bắc Tông. Tôi thấy mình vẫn còn đang trên con đường học hỏi giới luật. Nếu mình có thể nhìn theo cách đó thì mình sẽ có sự quân bình.

Tôi tập trung nhiều hơn vào sự học hỏi giáo pháp. Giới luật cũng rất quan trọng, tuy nhiên tôi cho phép mình điều chỉnh một chút cho phù hợp với hoàn cảnh. Đó là lý do vì sao tôi vẫn còn tiếp tục ở đây. Tôi vẫn hành trì những giới luật mà tôi đã thọ nhận, chỉ điều chỉnh một chút mà thôi. Có hai chủ đề liên quan đến giới luật thường gây tranh luận nhiều nhất giữa các truyền thống của đạo Bụt: thứ nhất là về giới ăn chay và thứ hai là về giới không ăn sau giờ Ngọ. Người ta tranh luận rất nhiều về hai vấn đề này. Nhưng đối với tôi thì những chuyện này không quan trọng lắm nên tôi có thể linh hoạt được.

BBT: Xin thầy chia sẻ đôi chút về bài kệ kiến giải của thầy và bài kệ truyền đăng mà Thầy Làng Mai đã trao cho thầy trong khóa tu xuất sĩ tháng 02/2013. Thầy cảm nhận như thế nào trong giây phút truyền đăng đó?

Thầy Kai Li: Trong lễ Truyền đăng, thông điệp mà tôi nhận được từ Thầy có liên hệ mật thiết đến chí nguyện sâu sắc trong tôi, đó là giúp cho đạo Bụt phát triển. Mà muốn được như vậy thì phải làm sao để cho người trẻ đến chùa. Hiện nay đa số Phật tử đến chùa là người lớn tuổi. Khi còn tu ở Penang, thấy được hiện trạng đó, tôi cảm thấy hơi buồn. Nếu chỉ có người lớn tuổi đến chùa thì đạo Bụt sẽ chết dần mà thôi. Khi ấy, tôi chưa biết mình cần phải làm gì, nhưng tôi có ước muốn thay đổi đạo Bụt, làm sao để cho đạo Bụt trở nên sống động hơn chứ không đơn thuần chỉ là tụng kinh mà thôi. Có lẽ Thầy cũng biết được tâm nguyện đó, nên trong lễ Truyền đăng, khi thắp lên ngọn đèn và trao cho tôi, Thầy nói rằng: “Hãy là một ngọn lửa, lúc nào cũng tươi trẻ để giúp cho người trẻ, chứ không chỉ giúp cho người lớn tuổi mà thôi”. Lời của Thầy hôm ấy đã thấm sâu vào trong tôi.

Trong khoảng thời gian tu tập ở Làng Mai, tôi có cơ hội tiếp xúc với rất nhiều vị xuất gia trẻ và tôi luôn quán chiếu cách thức để giúp người trẻ thật sự đi sâu vào thực tập. Kệ kiến giải của tôi liên hệ chủ yếu đến những lời giảng của Thầy về giáo lý của Ngài Long Thọ (Nagarjuna): “Không một cũng không khác, không có cũng không không, không sinh cũng không diệt”. Tôi rất ấn tượng với cách Thầy giảng về giáo lý này, thật là tuyệt vời. Do đó trong bài kệ kiến giải, tôi đã bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy rồi sau đó dần dần khai triển đề tài “giây phút hiện tại”. Nếu ta thật sự có mặt trong giây phút hiện tại thì ta có thể tiếp xúc được với Niết bàn. Thành ra Niết Bàn không phải là một cái gì ở tương lai, Niết bàn đang có mặt trong giây phút hiện tại. Trước đây tôi nghĩ Niết Bàn là một cái gì đó chỉ có trong tương lai mà thôi. Đó là lý do vì sao trong bài kệ kiến giải tôi nói rằng Niết Bàn là bây giờ và ở đây. Đây là một khám phá rất lớn đối với tôi. Trong bài kệ truyền đăng của Thầy có tên của tôi, nhưng mà tiếc quá, tôi đã quên mất bài kệ rồi (cười). Thành ra lời Thầy nhắn nhủ về việc giúp cho người trẻ là cái đi sâu vào lòng tôi nhất. Tôi sẽ cố gắng thực hiện điều đó, bởi vì giúp cho người trẻ là ước mong sâu sắc nhất của tôi. Tôi biết điều ấy không dễ thực hiện, bởi vì mình cần phải luôn trẻ trung. Sống ở Làng giúp tôi trẻ lại. Nếu mình sống chung với người trẻ thì mình cũng được trẻ lây (cười).

BBT: Thầy đã áp dụng pháp môn Làng Mai khi về lại tu viện của thầy ở Malaysia như thế nào ạ? Thầy nghĩ pháp môn Làng Mai có thể được phổ biến ở các nước châu Á không? Chúng ta phải làm gì để pháp môn này có thể phù hợp với môi trường châu Á?

Thầy Kai Li: Bởi vì tôi đã học hỏi và thực tập nhiều pháp môn khác nhau cho nên tôi không thể nói là mình hoàn toàn theo pháp môn Làng Mai. Tôi kết hợp nhiều pháp môn khác nhau trong sự thực tập. Ban đầu thì tôi có cố gắng nhưng dần dần thì sự kết hợp đó xảy ra một cách tự nhiên. Tôi thu thập tinh túy từ mỗi vị thầy mà tôi có duyên được học và kết hợp tất cả lại với nhau. Tôi sẽ tùy hoàn cảnh mà ứng dụng, thí dụ như nếu tôi trở lại Malaysia, tôi sẽ ứng dụng cách ở Malaysia.

Nếu tôi mang pháp môn Làng Mai 100% về Malaysia thì sẽ rất khó được chấp nhận một cách trực tiếp. Chẳng hạn như việc các thầy các sư cô hát, Phật tử ở đó không thể nào chấp nhận được. Vì vậy khi về Malaysia, tôi sẽ thay đổi nó một chút, không thể đem 100% về được. Tôi sẽ cố gắng áp dụng một cách linh hoạt cho đến khi mọi người có thể chấp nhận được. Gần đây khi sang Mỹ để giảng dạy, tôi cũng phải tiếp cận Phật tử theo một phương cách khác. Vì vậy phải tùy theo hoàn cảnh, nơi chốn mà mình đến, cũng phải tùy theo nhu cầu nữa. Thường thì tôi sẽ hỏi xem mọi người cần gì. Khi họ nói cho mình biết họ muốn thực tập pháp môn này hay pháp môn kia mà nếu tôi có biết về pháp môn ấy thì tôi sẽ chia sẻ với họ.

Tôi hay chia sẻ về chánh kiến và làm thế nào để thực tập chánh kiến. Nếu có chánh kiến thì bất kỳ pháp môn nào cũng có thể trở thành một pháp môn mà mình có thể thực tập được. Chánh niệm đóng vai trò hỗ trợ cho pháp môn mà mình thực tập. Đối với tôi, bất kỳ pháp môn nào mình thực tập cũng phải có chánh niệm cả, đó là điều quan trọng nhất. Tôi không biết người khác có nghĩ vậy hay không, nhưng đây là điều mà tôi đã khám phá ra. Mình cần có nền tảng chánh niệm để thực tập bất cứ một pháp môn nào khác. Và điều quan trọng nhất là mình phải có chánh kiến. Có chánh kiến thì mình sẽ được an toàn.

Sự thực tập của tôi là bao giờ tôi cũng cố gắng ý thức và quay trở về với giây phút hiện tại. Vì vậy khi đi về phòng hoặc khi mang dép, tôi ðều trở về với chính mình, chậm rãi, từng bước một. Khi tôi có ý thức về những gì đang diễn ra với chính mình thì đó là lúc tôi đang thực tập. Tôi cũng thích tìm hiểu thêm về giáo pháp của Bụt và đem ứng dụng vào cuộc sống. Ví dụ như giáo lý về vô thường. Đôi khi ta chỉ có kiến thức về vô thường mà không thực sự biết vô thường là gì. Như Thầy từng giảng trong một bài pháp thoại mà gần đây chúng ta mới xem qua DVD, chúng ta hiểu về vô thường bằng trí năng, nhưng làm sao để đạt tới định vô thường (tam muội vô thường)? Khó chứ không phải dễ. Tôi đã thử và thấy rất thú vị. Khi Thầy giảng về vô ngã, không có tự tánh riêng biệt, điều đó có nghĩa là gì? Mình hiểu ý niệm vô ngã, nhưng thực sự nó là gì? Tôi đã thử ứng dụng, thử khám phá nó để xem nó có nghĩa là gì. Khi thực tập phải có niềm vui, nếu không thì ta sẽ không duy trì được sự thực tập một cách lâu dài. Khi có niềm vui thì sự thực tập mới đi lên được. Khi ta hạnh phúc thì ta biết là mình đang thực tập đúng, còn càng tu càng thấy căng thẳng, càng đi xuống thì biết là sự thực tập của mình đang có vấn đề.

BBT: Thầy có cái thấy như thế nào về những cái hay và chưa hay của tăng thân? Bởi vì thầy là người từ nơi khác đến nên cái nhìn của thầy về tăng thân sẽ khách quan hơn. Xin thầy soi sáng cho chúng con. Giả sử ngày mai thầy rời Làng và không còn có dịp để quay lại nữa thì thầy có điều gì muốn nhắn nhủ với các sư em ở đây?

Thầy Kai Li: Bụt lúc nào cũng khuyến khích người xuất gia mỗi năm nên an cư ba tháng. Tôi nghĩ sự thực tập này rất quan trọng. Chín tháng còn lại trong năm là chín tháng phụng sự, còn ba tháng an cư là ba tháng mình nên đóng cửa để quay về, nghỉ ngơi và nuôi dưỡng chính mình. Trong chín tháng kia mình phải xử lý nhiều việc xảy ra, các khóa tu xảy ra liên tục, mình bận rộn, làm việc này việc nọ, thiền sinh tới đông, không dễ chút nào. Nhiều khi chúng ta mệt mỏi, hết xí quách nhưng vẫn phải cố gắng tiếp tục. Khi mình còn trẻ thì điều này có thể không thành vấn đề.

An cư kết đông là khóa tu cho người xuất gia, là cơ hội để chúng ta thật sự nghỉ ngơi, thực tập và làm vững thêm nội lực, đồng thời có thời gian bồi đắp thêm tình huynh đệ. Ba tháng an cư thật sự là một cơ hội quý báu để tiến tu và tăng trưởng nội lực. Khi nội lực dồi dào trở lại, ta sẽ sẵn sàng để phụng sự trong chín tháng còn lại trong năm. Nếu chúng ta có thể làm như thế thì tăng thân sẽ trở nên vững mạnh. Bởi vì chúng ta là con người, cơ thể chúng ta có những giới hạn nhất định, nếu sử dụng nhiều thì sẽ mau cạn kiệt.

Vì vậy ba tháng an cư là để chúng ta thật sự quay về tự thân và quay về chăm sóc lẫn nhau để chế tác ra năng lượng tập thể của chúng xuất sĩ. Tôi không có ý phân biệt giữa xuất sĩ và cư sĩ, nhưng người xuất gia có môi trường và lối sống khác với người cư sĩ, vì thế nên có những khác biệt nhất định. Nếu tất cả đều giống nhau thì đâu cần trở thành người xuất gia làm gì. Đôi khi mình phải biết tự bảo hộ cho mình để không trở nên quá mệt mỏi, đặc biệt là khi mình phải thường xuyên đi ra ngoài để tổ chức khóa tu. Vì vậy nếu có cơ hội để cùng an cư kết đông thì mình nên thật sự tận dụng thời gian này để chăm sóc cho chúng xuất sĩ.

BBT: Có nghĩa là mình tổ chức khóa an cư ba tháng chỉ dành riêng cho người xuất gia thôi phải không thưa thầy?

Thầy Kai Li: Mình cũng có thể cho người cư sĩ đến tu tập nhưng không cần phải đầu tư nhiều vào việc tổ chức các sinh hoạt cho họ. Họ chỉ cần tham gia vào thời khóa chung mà thôi. Bởi vì khi phải đầu tư nhiều vào việc tổ chức sinh hoạt cho người cư sĩ, các thầy các sư cô phải suy nghĩ, phải tốn rất nhiều năng lượng cho việc tổ chức. Đừng lo là nếu mình làm như vậy thì thiền sinh sẽ không tới nữa. Thiền sinh sẽ tới không ngừng. Đừng lo, họ sẽ tới. Ở đây trong mùa an cư, một vài thầy hoặc sư cô phải hy sinh một chút để chăm sóc cho thiền sinh, nhưng nếu có thể được thì nên bớt lại để quay về thực tập cho chính mình. Đôi khi mình phải hơi “ích kỷ” một tí. Nhưng sự ích kỷ này chỉ để cho chúng ta lấy lại năng lượng mà tiếp tục phụng sự thôi.

Theo sự quan sát của tôi thì những vị quá năng nổ lại hay bị hết xí quách. Điều này không những chỉ xảy ra ở Làng mà thôi, ở chỗ khác cũng vậy. Những vị nào có tài năng thì lại càng có nhiều việc, vì vậy đôi khi họ đánh mất đi mục tiêu chính của người xuất gia. Chính vì thế, quay trở lại chính mình là điều rất cần thiết và nuôi dưỡng. Mỗi năm chúng ta phải có ít nhất là ba tháng để làm điều đó. Đó là lý do tại sao Bụt dạy người xuất sĩ phải an cư ba tháng. Bên truyền thống Nam Tông (Theravada), họ luôn có ba tháng an cư mỗi năm. Dù đi bất cứ nơi nào họ cũng phải trở về tự viện để thật sự an cư.

BBT: Thầy có nghĩ là để cho người xuất gia bớt bận rộn thì tăng thân cần phải nhờ các vị cư sĩ làm giúp một số công việc hay không?

Thầy Kai Li: Đó là một cách rất hay để giúp người xuất gia giữ được sự quân bình. Có những việc mà người cư sĩ có thể giúp được. Họ có thể là người hộ pháp, yểm trợ và bảo hộ cho người xuất sĩ. Trong tiếng Hoa có chữ “Wai Hu”. Wai là bên ngoài, Hu là bảo hộ. Hãy  để cho người cư sĩ làm giúp một số việc dưới sự hướng dẫn của quý thầy quý sư cô. Như thế các vị cư sĩ cũng có cơ hội để phụng sự tăng thân. Người xuất sĩ yểm trợ người cư sĩ và ngược lại, chúng ta hỗ trợ lẫn nhau.

BBT: Theo thầy thì sức mạnh của tăng thân Làng Mai là gì?

Thầy Kai Li: Điều đầu tiên là sức mạnh của một đoàn thể đông đảo. Nếu ta chỉ có một hoặc hai vị xuất sĩ thì sẽ không mạnh lắm. Khi thiền sinh đến tu học với mình, họ sẽ thấy rất khác. Tôi có thể thấy được sự hòa hợp của đại chúng Làng Mai. Đôi khi cũng có những xung đột, đó là chuyện rất bình thường, nhưng nếu nhìn vào tổng thể thì vẫn có sự hòa điệu, ai cũng đều cố gắng để giữ sự hòa hợp, và đó chính là sức mạnh. Thầy vẫn thường nói là tình huynh đệ rất quan trọng. Nếu chúng ta thật sự có tình huynh đệ thì sẽ tạo ra sức mạnh, bởi vì mọi người có thể nâng đỡ lẫn nhau. Thứ hai là sức trẻ của tăng thân. Đại chúng ở đây rất trẻ. Khi thiền sinh đến đây họ rất ngạc nhiên khi thấy có rất nhiều những vị xuất gia trẻ tuổi. Họ cảm được năng lượng và sức sống mạnh mẽ của tăng thân. Họ thấy như được về nhà. Điều thứ ba là sự thanh tịnh. Vì phần lớn đều là người trẻ cho nên tâm của họ rất thanh tịnh.

Khi thiền sinh đến đây, nhiều người chia sẻ với tôi là các vị xuất sĩ ở đây thật trong sáng. Và họ rất thích nhìn cách sống của quý thầy quý sư cô. Chúng ta sống một nếp sống rất giản dị. Trên thực tế, cuộc sống ở Làng Mai quá đơn giản so với cuộc sống bên ngoài. Đó cũng là một điểm mạnh của tăng thân. Một ưu điểm nữa là mọi người trong tăng thân có thể truyền thông được với nhau. Thậm chí khi có những xung đột xảy ra, mọi người vẫn có thể hòa giải và tái lập được truyền thông với nhau. Tôi đã nhìn thấy quý thầy, quý sư cô thực tập điều này rất dễ thương. Đây là một điều rất đáng quý trong tăng thân.

BBT: Nhiều người cho rằng tăng thân Làng Mai mạnh là vì có Thầy Làng Mai, nếu mai này Thầy không còn tiếp tục biểu hiện dưới hình hài quen thuộc thì không biết tăng thân sẽ đi về đâu. Thầy nghĩ như thế nào về điều này?

Thầy Kai Li: Tôi thấy giáo pháp mà Thầy trao truyền mới là điều quan trọng. Chúng ta nên nương vào những gì Thầy dạy hơn là vào sự có mặt của Thầy. Và chúng ta phải bắt đầu ngay bây giờ. Chúng ta cần tập trung vào những gì Thầy dạy, bởi vì chính cái đó mới gắn kết chúng ta lại với nhau. Chắc chắn là một ngày nào đó Thầy sẽ không còn biểu hiện dưới hình hài này nữa, nhưng những lời Thầy dạy sẽ còn ở lại mãi với chúng ta. Thực ra Thầy đang có mặt trong mỗi chúng ta và chúng ta cần thấy rõ điều này. Tôi không biết cái gì sẽ xảy ra trong tương lai bởi vì tương lai thì khó đoán, nhưng trong hoàn cảnh hiện tại khi Thầy đang bệnh, đại chúng cũng thấy là không thể lúc nào cũng có thể dựa vào Thầy được.

Tôi đã thấy rất nhiều đạo tràng khi người lãnh đạo tinh thần viên tịch thì đạo tràng đó bị sụp đổ. Điều đó có nghĩa là các đạo tràng ấy đã dựa quá nhiều vào người lãnh đạo. Đó là lý do vì sao chúng ta phải nương tựa vào giáo pháp, bởi vì giáo pháp là cái sẽ còn mãi. Giáo pháp có thể được trao truyền. Dĩ nhiên là nếu có Thầy ở đây với chúng ta thì còn gì hay hơn nữa, nhưng chúng ta cũng phải chuẩn bị tinh thần cho giờ phút Thầy không còn tiếp tục biểu hiện trong hình tướng này nữa. Vì thế ngay từ bây giờ chúng ta cần phải thực tập để thấy Thầy đang được tiếp nối trong mỗi chúng ta. Nếu ai cũng thực tập được như thế thì tôi rất tin là tăng thân sẽ tiếp tục được duy trì.

Trong một đại chúng lớn, có thể có một vài vị sẽ bỏ chúng ra đi nên chúng ta cũng cần phải chuẩn bị tinh thần cho việc ấy. Đó là một việc rất tự nhiên. Vì vậy chuẩn bị tâm mình và duy trì ý thức về những khả năng có thể xảy ra đó, chúng ta sẽ không bị đau khổ. Tôi hy vọng là tăng thân Làng Mai sẽ luôn được tiếp tục bởi vì đây là một tăng thân rất đẹp. Tôi đã thấy nhiều người được lợi lạc khi thực tập pháp môn này, rất đáng công mình mặc chiếc áo người tu. Chúng ta có thể giúp được không biết bao nhiêu người.

Hiện tại Thầy đang nằm bệnh viện. Đây cũng là lúc mỗi người trong tăng thân cần đặt cho mình câu hỏi: chúng ta nên tiếp nối Thầy như thế nào đây?

 

 


 

Kệ truyền đăng Sư Ông Làng Mai trao cho thầy Kai Li

Niệm trú khai thông chân luật học
Năng linh hiện pháp đắc hoàn gia
Nhất phương chiếu diệu hằng sa giới
Bộ bộ an nhiên lạc thái hòa.

 

Việt dịch:

Chánh niệm khai thông nền luật học
Ngay trong giây phút đã về nhà
Một phương chiếu rạng muôn ngàn cõi
Mỗi bước bình an đất nở hoa.

Mùa lá chín

“Thở vào, con thấy Sư Ông luôn có mặt đó cho con
Thở ra, con mỉm cười hạnh phúc vì biết rằng mình là một người có thật nhiều phước báu”.


Sư Ông kính thương,
Từng chiếc lá thu đang múa lượn vài vòng rồi rơi xuống mặt đất. Chúng reo vui mỉm cười cùng con và hát cho con nghe rất nhiều bài hát về vô thường, vô ngã và tương tức. Mỗi chiếc lá là một viên sứ giả của mùa thu mang thông điệp ấy trao tặng đến muôn người.
Đây là lần đầu tiên trong cuộc đời, con có cơ hội thưởng lãm một nét đẹp đầy thi vị trên đất nước bạn, cơ hội cho con khám phá ra nhiều điều mới lạ, thú vị từ thiên nhiên cũng như văn hóa và con người nơi đây. Canada – một đất nước bình an, hiền hòa với những con người thuần hậu, dễ thương đem lại cho con cái nhìn mới mẻ. Trái tim con mở ra để tiếp thu những cái hay, cái đẹp từ cuộc sống. Sư Ông biết không, có những buổi trưa con không thể nào nhắm mắt được vì màu vàng của lá đã đi vào trong tâm hồn con:
“ Vì rằng mắt thắm màu thu
Cho nên con đã mang thu vào lòng”

Con thấy cả bầu trời cùng một gam màu vàng tươi thắm. Con ngồi xuống vốc từng nắm lá thu tung xuống mặt đất như những đứa trẻ con chơi trò con nít vậy. Thú vị thật! Có lẽ khi hòa mình vào thiên nhiên và vũ trụ bao la rộng lớn thì con người có cơ hội trở về sống với em bé hồn nhiên trong mình. Rồi có khi con pha một bình trà ấm, ngồi dưới gốc cây để lắng nghe từng âm thanh vi diệu của tiếng lá và thưởng thức từng ngụm trà thơm.

Cũng có lúc con treo võng vào thân cây và đung đưa như ngày xưa Mẹ đã từng cho con cảm giác hạnh phúc khi được nằm trong chiếc nôi tuổi thơ. Tiếp xúc với thiên nhiên, con thấy lòng mình thanh thoát, nhẹ nhàng chi lạ, tâm con yên lắng và thảnh thơi. Những giây phút đó với con không có gì quan trọng hơn cả. Con nghe từng tế bào trong cơ thể con vận hành với từng niềm vui trước những điều đơn giản của cuộc sống. Thiên nhiên mầu nhiệm đã đưa con đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác. Không phải chỉ duy nhất một màu vàng mà còn rất nhiều, rất nhiều những gam màu khác: màu đỏ tươi, đỏ thẳm, loại có đốm, loại không đốm .v.v..

Xe lăn bánh rời Missisauga để đến một khu rừng khoảng 275 mẫu ở Leathem Centre, Woodlands  Trail cách Toronto không xa lắm. Con nghe kể ngày xưa Sư Ông đã từng hướng dẫn khóa tu ở đấy. Giờ đây chúng con tiếp tục hạnh nguyện của Sư Ông để cho sự tiếp nối ấy còn mãi. Chúng con đi bằng đôi chân và thở bằng hai lá phổi của Sư Ông. Con biết mỗi khi đi Sư Ông luôn đi trong tự tại, thong dong và mỗi khi  thở, Sư Ông luôn nhiếp tâm vào chánh niệm. Con thấy được Sư Ông đã biểu hiện trong từng cử chỉ, lời nói và hành động của những người sư anh, sư chị và sư em của con.

Hóa thân của Sư Ông đang có mặt khắp nơi trên hành tinh này. Mỗi khi có một vị xuất sĩ hay cư sĩ có khả năng bước đi như thế là con thấy được hình ảnh của Sư Ông trong vị đó. Chúng con đã làm việc với nhau như một đàn trâu. Các sư em nương theo các sư anh, sư chị lớn để cùng lội qua sông. Con thấy mình không bị mất sức khi được đi chung, con hưởng được nguồn năng lượng của nhau và không tiêu hao quá nhiều năng lượng. Có những khúc sông nước chảy siết, nếu phải lội qua một mình thì thật là nguy hiểm, có thể sẽ xảy ra những điều rủi ro. Đàn trâu đi chung với nhau trong sự ung dung tự tại, khi có tình huống gì bất trắc xảy ra thì cũng có thể xử lý kịp thời như một tập thể.

Và khi có sự thiếu sót trong cách diễn đạt, trình bày của vị này thì vị kia bổ sung thêm và làm cho sự chia sẻ đầy đủ và trọn vẹn hơn. Chúng con thấy mình không có một cái ngã riêng biệt. Mọi cái nương nhau mà biểu hiện đồng thời. Sự thành công của một người chính là sự thành công của cả nhóm. Dù không trực tiếp giảng dạy nhưng cách đi, đứng, nói năng của vị đó cũng có thể là một bài pháp thoại không lời (living dharma). Thiền sinh đến tham dự phần đông là các bạn trẻ  nên khóa tu học rất vui tươi và đầy sinh khí. Năng lượng của khóa tu rất nhẹ nhàng, ai cũng có thời gian riêng để trở về với chính mình, tận hưởng những giây phút sâu lắng mà bấy lâu nay họ đã lãng quên vì cuộc sống khá bận rộn.

Dường như mọi lo âu bên ngoài đã được quẳng xuống khi bắt đầu khóa tu. Chỉ có ba ngày thôi nên mọi người ý thức rất rõ về điều đó. Ý thức để sống sâu sắc, hết lòng và trọn vẹn hơn trong từng sinh hoạt.

Một bạn trẻ đến nói với con: “Sư cô ơi, đi tu giống hệt đi chơi vậy đó, vui thiệt sư cô hỉ! ”. “Tu là chơi đó mà em!”, con đã đáp lại lời em. Các bạn tuy còn rất trẻ nhưng ý thức về niềm hạnh phúc chân thực do sự tu tập đem tới một cách rõ ràng. Có nhiều bạn tuy mới làm quen với pháp môn nhưng đã có những bước chân thật vững vàng trên mặt đất. Các bạn có khả năng dừng lại trước những cám dỗ dục lạc của cuộc đời, trước những hấp dẫn của niềm vui thế gian, tìm cho mình một hướng đi và sống hết lòng với lý tưởng của tuổi trẻ.

Các bạn đã tạo cho con rất nhiều nguồn cảm hứng và nuôi lớn niềm tin trong con. Người trẻ thì rất thẳng thắn, có khả năng chia sẻ thật những thao thức và suy tư về cuộc sống, những hoạch định cho tương lai của mình về hướng đi chung của tăng thân. Các bạn sống đơn giản, ít tiêu thụ cho nên có nhiều thời giờ để đầu tư cho sự tu học và xây dựng ước mơ chung cho tuổi trẻ. Phong trào Wake up cũng đã có nhiều bước tiến, các bạn đã đi với nhau như một dòng sông và đang cùng chảy về biển cả.

Sư Ông kính thương,

Sư con của Sư Ông thường hay mắc cỡ và nhút nhát trước đám đông lắm. Con chưa đủ tự tin khi chia sẻ trước mọi người và thấy mình còn nhiều lo sợ. Con thực tập thả xuống những lo lắng, bất an của mình khi biết là sẽ ra hướng dẫn tổng quát cho khóa tu bằng ngôn ngữ của bạn. “Bụt ơi, Bụt phải giúp con, con sẽ không nói gì cả, con chỉ có mặt đó thôi và mọi sự chia sẻ đều là của Bụt!”. Ngồi chơi với những hạt giống đó trong con, thở thật sâu, thật chậm để không kháng cự với những bất an đó.

Nhận diện và ôm lấy những tâm hành ấy bằng tình thương của một người chị dành cho đứa em của mình. Con cùng nắm tay em dạo quanh khu rừng thu bằng những bước chân tỉnh thức và những hơi thở nhẹ sâu, để màu vàng tươi thắm của lá đi vào và nuôi dưỡng lấy em, để sự rắn chắc, vững vàng của đất Mẹ sẽ cho em thêm can đảm và tự tin. Trở về với sự thực tập phó thác mình cho Bụt, cho tăng thân, con thấy sự bình an trong con được trở lại. Nó đã đi chơi một vòng khá xa và bây giờ thì đã quay về với con. Con để cho mình chia sẻ tự nhiên hơn, con cho phép mình vấp phải những vụng về, thiếu sót và con sẽ học hỏi thêm kinh nghiệm từ đó. Không sao cả ạ! Muốn đi giỏi thì em bé cũng phải té ngã và bị thương nhiều lần trong thời gian em tập đi.

Có lần cậu Dương nói một câu hơi vui vui, nhưng giúp mọi người nhớ lại những điều kiện hạnh phúc mà mình đang có, để cùng nhau trân quý, bồi đắp và giữ gìn. Cậu nói: “Nếu không có quý thầy, quý sư cô sang Canada thì mùa thu sẽ âm thầm lặng lẽ trôi qua”. Nơi đây, mọi người cũng khá bận rộn. Đôi khi các anh chị em trong cùng một gia đình huyết thống nhưng hiếm khi có cơ hội đi chơi chung với sự có mặt của tất cả mọi người. Chánh niệm giúp mọi người trở về với giây phút hiện tại, sống sâu sắc hơn với từng chiếc lá, từng cành cây, cây cối và chim chóc nơi đây cũng được mọi người nhận diện ra sự có mặt của chúng. Mọi thứ đều trở nên sinh động hơn qua từng bước chân, từng hơi thở và cái nhìn đầy trân quý. Phẩm chất và giá trị của cuộc sống được nâng lên khi mọi người đều thắp sáng ý thức ấy trong tự thân.

Các cô chú Tiếp hiện là những cánh tay đắc lực của quý thầy, quý sư cô. Tuy công việc nhiều hơn mọi khi, nhưng con thấy mọi người đều rất tươi vui, khuôn mặt rạng rỡ và luôn luôn mỉm cười. Đó chính là sự thành công lớn cho tăng thân. Nhờ tổ chức khóa tu nên mọi người có cơ hội làm việc chung với nhau, cùng nhau đóng góp hết khả năng của mình cho khóa tu dưới nhiều hình thức khác nhau. Tình thương của các cô chú là một động lực lớn cho các bạn trẻ trong những ngày qua. Sự trao truyền và tiếp nối luôn có mặt trong từng sinh hoạt giữa hai thế hệ.

Con nhớ khi vừa bước chân xuống phi trường để đi về Missisauga- một trong thành phố lớn của Toronto. Một nỗi buồn man mác gợn lên trong lòng của con. Buồn khi nghĩ về gia đình huyết thống của con chưa đủ phước duyên cho nên đường về nơi tu học hẳn còn xa lắm. Bên cạnh nỗi buồn thì niềm vui xuất hiện. Cuộc sống bao giờ cũng thế, nỗi buồn và niềm vui luôn là đôi bạn đồng hành. Chúng tương tức nhau như hai mặt của cùng một chiếc lá.

Con thấy mình được nuôi dưỡng nhiều bởi tình thương của mỗi vị trong gia đình thầy Pháp Niệm, thầy Pháp Duệ và sư cô Tịnh Hằng. Các cô, các chú, các dì, các em đều biết tu tập và đến với nhau rất dễ thương. Người xuất sĩ có khả năng hướng dẫn và làm chỗ nương tựa tinh thần cho gia đình huyết thống. Đồng thời khi gia đình huyết thống tu học có nhiều niềm vui, bình an thì yểm trợ cho người xuất sĩ rất nhiều trong đời sống tâm linh. Con thực tập và xem niềm vui trong gia đình huyết thống của sư anh, sư chị chính là niềm vui của mình. Nhờ buông bỏ được một vài ý niệm trong tâm thức nên con thấy lòng mình mở ra hơn. Trái tim con tiếp nhận được chất liệu thương yêu ấy và con đã đến với mọi người một cách tự nhiên như là một thành viên trong gia đình.

Rời Toronto, đoàn lại tiếp tục một chuyến đi bằng xe van đến tận vùng Montreal để hướng dẫn khóa tu cho người nói tiếng Pháp. Tu viện Làng Cây Phong mà khi còn nhỏ con được nghe cậu con nhắc đến trong những chuyến về thăm gia đình, giờ đây hiện ra trước mặt. Còn sung sướng nào hơn thế nữa!

Nằm trên một con đường quê, tu viện ẩn sau một cánh rừng Maple khoảng hơn 100 mẫu, có nhiều cây phong đứng hiên ngang, sừng sững và thân cây cao chót vót giữa bầu trời xanh. Kề bên khu rừng có hồ nước trong veo và cạnh bờ hồ có một chiếc sàn gỗ nho nhỏ thật dễ thương. Ngồi chơi và uống trà ở đó thì còn gì tuyệt bằng! Mỗi sáng sương mù bao phủ cả tu viện, đâu đó tiếng chuông chùa văng vẳng ngân lên từng hồi. Một khung cảnh nên thơ và huyền diệu khiến lòng con hạnh phúc vô cùng.

Bước vào thiền đường, con đảnh lễ Bụt. Quỳ dưới chân Ngài, con thật sự tiếp xúc được với sự đã về đã tới trong con. Không hiểu sao con có cảm giác rất là thân quen với khung cảnh nơi đây. Dường như con đã từng đến đây lâu lắm rồi thì phải! Có thể nói tu viện với con là hai chị em vì chúng con cách nhau hai tuổi. Chúng con đã biểu hiện trong cùng một giai đoạn và hơn ba mươi năm rồi chúng con mới được hội ngộ. Con thấy tuy khác nhau về ngôn ngữ, tuổi tác, màu da nhưng mọi người có cùng một cái chung và chính cái chung đó đã đem mọi người đến gần nhau hơn. Mọi người đã thở cùng một nhịp và đi cùng một bước. Nhịp đó là nhịp của sự nhẹ nhàng, yên lắng. Bước chân đó là bước chân của sự vững chải và thảnh thơi, không bị quá khứ giam hãm và không bị tương lai lôi kéo.

Con kính tri ân Sư Ông đã gầy dựng nên một môi trường tu học an bình như thế, một khung cảnh có nhiều yếu tố nuôi dưỡng và trị liệu. Con cảm ơn những trái tim và đôi tay đã trung kiên gìn giữ để tu viện còn được tiếp tục là nơi nương tựa cho rất nhiều người. Và giờ đây trái tim con đầy ắp cả yêu thương vì ngọn lửa của lòng biết ơn trong con đang được sưởi ấm. Con cúi đầu đảnh lễ Tam Bảo. Nguyện cầu hồng ân chư Bụt, chư vị Bồ Tát trong mười phương bảo hộ và che chở cho Sư Ông, bậc Tôn sư khả kính của chúng con.
Kính dâng lên Sư Ông

Con của Sư Ông.