Giếng nước thơm trong số thứ hai – tháng giêng năm 2023

Bìa trước số thứ hai

Bìa sau số thứ hai

Giếng nước thơm trong số thứ hai - tháng giêng năm 2023

 Kính thưa tăng thân và quý thân hữu gần xa!

Xin trân trọng giới thiệu "Giếng nước thơm trong", một tập san Đạo Bụt ứng dụng đã được ấp ủ trong nhiều năm, là thành quả có được từ trái tim, khối óc và bàn tay của những người xuất sĩ trẻ mang đầy hoài bão và nhiệt huyết trên con đường lý tưởng xuất gia và phụng sự.

Đây là một tập san do Làng Mai Thái Lan xuất bản định kỳ dưới hình thức một tạp chí Phật học nội chúng. Về cơ bản, trong mỗi số, cấu trúc của tập san sẽ bao gồm sáu mục với nội dung như sau:

Giếng nước thơm trong số thứ nhất – tháng 9 năm 2022

Bìa 1

Bìa sau số thứ nhất

Giếng nước thơm trong số thứ nhất - tháng 9 năm 2022

 Kính thưa tăng thân và quý thân hữu gần xa!

Xin trân trọng giới thiệu "Giếng nước thơm trong", một tập san Đạo Bụt ứng dụng đã được ấp ủ trong nhiều năm, là thành quả có được từ trái tim, khối óc và bàn tay của những người xuất sĩ trẻ mang đầy hoài bão và nhiệt huyết trên con đường lý tưởng xuất gia và phụng sự.

Đây là một tập san do Làng Mai Thái Lan xuất bản định kỳ dưới hình thức một tạp chí Phật học nội chúng. Về cơ bản, trong mỗi số, cấu trúc của tập san sẽ bao gồm sáu mục với nội dung như sau:

Lá thư Làng Mai 49 – 2026

Bìa 1

Bìa 2

Bìa 3

Bìa 4

 Kính thưa tăng thân và quý thân hữu gần xa!

Một sớm mai nào đó, ta bỗng giật mình vì tiếng chim hót vang lừng và nơi chân trời, ánh sáng hồng báo tin trái tim mặt trời vẫn đập nhịp nhàng trong lồng ngực vũ trụ. Quả là một tin vui!

Không gì đẹp hơn buổi bình minh khi nắng chưa về nhưng đã gửi thông điệp báo tin mình đang tới. Chân trời ửng lên một màu hồng để mời gọi những họa sĩ tài năng đua tài pha màu cùng mẹ thiên nhiên. Những hàng cây trơ trụi không biết tự lúc nào đã mang đầy lộc non. Những chồi lá vừa mới hé nhưng đã chứa đầy sức sống.

Vậy là ta đã gặp mặt mùa xuân rồi đó!

Xuân tới, ngồi nhắp chén trà, có mặt cùng nhau như một gia đình tâm linh ấm áp, hay với gia đình huyết thống, mời quý vị thưởng thức món quà xuân hiến tặng từ tấm lòng mà cũng là hoa trái của sự tu học của tăng thân khắp chốn trong năm qua.

Lá Thư Làng Mai số 49 xin được trao tặng như một món quà đầu năm đến quý vị trong tinh thần đó.

KÍnh chúc quý tăng thân, thân hữu và gia quyến một mùa xuân và một năm Bính Ngọ thật nhiều bình an, vững chãi và thảnh thơi.

Trân kính và biết ơn,

Tải về bản đọc:  Lá thư Làng Mai số 49 - 2026

Tải về: Bìa Lá thư Làng Mai số 49 - 2026

Tải về bản in: Lá Thư Làng Mai số 49 -2026

 

Lá thư Làng Mai 48 – 2025

Bìa 1

Bìa 2

Bìa 3

Bìa 4

   Kính thưa tăng thân khắp chốn!

   Sau những ngày tháng ẩn mình trong sương giá mùa đông, cả đất trời như chuyển mình thay áo. Trên mặt đất dần được phủ bởi những thảm cỏ xanh tươi, hàng vạn bông hoa dại muôn màu trỗi lên từ lòng đất, khắp nơi cây cối nảy mầm non. Mùa xuân đã về thật rồi! Lá thư Làng Mai số 48 năm nay cũng đã trải qua những tháng ngày âm thầm ấp ủ tình thương trong mỗi lời thơ mộc mạc, trong mỗi câu văn ấm áp lòng người. Tình thương là sự sống của mỗi người huynh đệ trên hành trình khám phá thế giới, mà cũng chính là hành trình trở về với chính tự thân, trở về với cội nguồn. Cả một quá trình kiên nhẫn chờ đợi và cuối cùng ấn phẩm đã được biểu hiện một cách nhiệm mầu! 

 Kính mời quý thân hữu! Chúng ta cùng nhau nở một nụ cười thật tươi để tận hưởng sự sống mầu nhiệm, lắng nghe những thanh hương của đất trời. Và cùng thưởng thức những hoa trái ngọt lành của niềm tin, của sự chuyển hoá trong đời sống thực tập chánh niệm qua những tâm tình được trao gửi nơi mỗi bài viết. Lá thư Làng Mai số 48 - 2025 là một món quà Xuân mà tăng thân trân trọng gửi đến quý thân hữu và gia quyến. Hy vọng sẽ đem đến cho quý vị nhiều niềm vui và cảm hứng mới trong cuộc sống.

Tải về bản đọc:  Lá thư Làng Mai số 48 - 2025

Tải về bản in:  BẢN IN - LÁ THƯ LÀNG MAI SỐ 48 - 2025

Mục lục

             TÁC PHẨM             TÁC GIẢ
Lấy lại chủ quyềnSư Ông Làng Mai
Kiến trúc sư xuất sắc của nền văn hoá hoà bìnhVũ Đức Tâm - Cựu Đại sứ Việt Nam tại UNESCO
Nụ cười còn đó - Phỏng vấn Linda SkinnerLinda Skinner
Chùm thơ XuânNi sư Chân Như Minh
Quê hương đi về trên mỗi bàn chânSư cô Chân Hoa Nghiêm
Lắng lòng nghe mạch sống tâm linhChia sẻ của quý thầy thuộc tu viện Lộc Uyển
Xuân tin yêuThầy Chân Pháp Ứng
Trở lại suối nguồnSư cô Chân Đào Nghiêm
Nắng xưa đưa lối ta vềSư cô Chân Quy Nghiêm
Mối tình rau langSư cô Chân Mẫn Nghiêm
Ngọn lửa dấn thân và vòng tròn kết nốiSư cô Chân Hiến Nghiêm và Christiana Figueres
Dấu chân chánh niệm và khúc hát mùa thuSư cô Chân Duyệt Nghiêm
Về lại núi rừng xưaSư cô Chân Tuyết Nghiêm
Một không gian an lành cho cộng đồng BIPOCValerie Brown và Juliet Hwang
Thích ý rong chơiThầy Chân Pháp Chúng
Buông bỏ để bay caoSư cô Chân Hội Nghiêm
Ta đi giữa mùa biến chuyểnSư chú Chân Nhất Niệm
Vẫn một niềm thương - Phỏng vấn sư cô Bội NghiêmSư cô Chân Bội Nghiêm
Cùng nhau bước tớiThầy Chân Pháp Lý
Trở về nhàSư cô Chân Trăng Sáng Tỏ
Có những vết thương (Thơ và lời bình)Sư cô Chân Trăng Bảo Tích
Giữ cho bền sắt tươi sonSư cô Chân Chuẩn Nghiêm
Trở về dòng sông bình yênSư cô Chân Duyệt Nghiêm
Thơ - Mạch sống vẫn đâm chồiSư chú Chân Nhất Pháp
Dừng lại và khám pháSư cô Chân Tạng Hạnh
Con không ngủ mơ đâuSư cô Chân Trăng Tâm Đức
Thi kệ thực tậpĐoàn Thiên Khanh (Chân Thường Lưu)
Cuộc phiêu lưu kỳ thúGeraldine M.
Thơ – Vô thườngNguyễn Thu Thuỷ (Tâm Tuệ Tĩnh)
Tình chị emSư cô Chân Đức
Đi tìm ánh ban maiSư cô Chân Trăng Tâm Thuận
Tưởng nhớ chị Terry BarberTăng thân xuất sĩ tu viện Lộc Uyển
Ngày vui đưa con đi tớiSư chú Chân Trời Bát Nhã
Thơ – Thương nhau như thuở ban đầuSư cô Chân Hội Nghiêm
Niềm tin toả rạngSư cô Chân Dung Hạnh
Khung trời SadiSư cô Chân Quang Hạnh
Thơ - VềSư cô Chân Trăng Vô Ưu
Con nắm tay Thầy dạo bướcSư cô Chân Dung Hạnh
Khám phá ý nghĩa của đời sốngGia đình xuất gia cây Tulip
Nhập Lưu - Những chồi non mới héSư cô Chân Sinh Nghiêm
Xin tạ ơnSư cô Chân Bảo Nghiêm
Khoảnh khắc vui, khoảnh khắc nhiệm mầuNhững kỷ niệm với sư cô Chân Diệu Nghiêm
Chùm thơ thuSư cô Chân Trăng Bảo Tích
Chương trình Hiểu và ThươngThư cảm ơn của Sư cô Chân Không
Làng Mai năm quaBan biên tập
Thư xin yểm trợ tái xây dựng toà nhà Mây Tím và Ni xá mới xóm Hạ, Làng Mai – PhápBan biên tập
Lịch sinh hoạt năm 2025 của tăng thânBan biên tập

 

Hồi ký SCCK 5 – Những dấu chân Thiền sư

Để bắt đầu: Phương Bối Am và Nẻo về của ý

Chương 1: Sơ lược về làng tu học của hàng ngàn thanh niên phụng sự xã hội đưa tới Làng Mai hôm nay

Chương 2: Làng Mai Pháp

Chương 3: Làng Mai Bắc Mỹ

Chương 4: Làng Mai Âu châu và Viện Phật học Ứng dụng châu Âu

Chương 5: Làng mai Á châu

Chương 6: Làng Mai Úc châu

Để chấm dứt

Phụ lục 1: Những áng mây vàng

Phụ lục 2: Từng bước nở hoa mai

Công phu nở đóa sen ngàn cánh

THONG DONG LÀ THÀNH QUẢ CỦA SỰ TU HỌC

(Phiên tả Pháp thoại ngày 27 tháng 11 năm 1997 tại xóm Mới, Làng Mai, Pháp)

Tiêu đề của khóa tu năm nay là Công phu nở đóa sen ngàn cánh. Công phu là sự thực tập của chúng ta hằng ngày, buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều. Đối với người phương Tây, hai chữ công phu làm cho họ nghĩ tới võ thuật (martial art). Nhưng kỳ thật, hai chữ công phu được phát xuất từ thiền môn. Từ trước đời Đường (Trung Quốc), hai chữ công phu đã được sử dụng. 

Trong khóa tu này chúng ta sẽ sử dụng sách Nhật tụng Thiền môn năm 2000 và mỗi người cần có một cuốn. Những kinh trong Nhật tụng Thiền môn năm 2000 phần lớn đã được dịch ra tiếng Anh, chỉ còn một vài kinh chưa được dịch, sư cô Chân Đức sẽ giúp chúng ta dịch những kinh còn lại. 

Có nhiều người nghĩ rằng công phu thiền môn chỉ là hai thời tụng niệm: sáng và chiều. Nhưng hiểu công phu như vậy thì hơi hạn hẹp. Vì công phu không chỉ là tụng niệm, mà công phu còn là ngồi – thiền tọa, đi – thiền hành, ăn – thọ trai im lặng, và chấp tác – làm việc trong chánh niệm. Ngoài ra còn những công phu khác như thở, nằm, lạy, làm mới, v.v. Vì vậy, công phu không chỉ là hai thời tụng niệm như người ta thường nói mà công phu còn là buổi khuya, buổi sáng, buổi trưa, buổi xế, buổi chiều, buổi tối. Công phu là công phu cả ngày. 

Hai chữ công phu nghĩa là sự rèn luyện hằng ngày của chúng ta (our daily training), cũng có nghĩa là trình độ thực tập mà chúng ta đã đạt được. Ví dụ khi người khác khen ta công phu tuyệt diệu, tức là ta đã đạt tới một trình độ thực tập nào đó. Người khác nói một câu móc họng mà người kia vẫn tươi cười, không đỏ mặt, khi đó ta có thể nghiêng mình kính phục: “công phu tuyệt diệu”. Nghe một tin dữ mà ta vẫn bình tĩnh, yên lặng thở, lúc đó người kia có thể chắp tay cúi đầu lạy: “công phu tuyệt diệu”. Vì vậy, công phu trước hết có nghĩa là trình độ, là kết quả sự thực tập của ta. Đại tuệ ngữ lục có câu: “Cái tâm này tuy chưa từng có một niệm thối thất nhưng tự biết công phu của mình rốt cuộc vẫn chưa được thuần nhất”. Nghĩa là cái tâm của tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện rút lui. Tâm này tuy chưa từng một niệm thối thất, chưa bao giờ chịu thua, chưa bao giờ muốn bỏ cuộc nhưng nói cho kỹ thì công phu vẫn chưa được hoàn toàn thuần nhất, vẫn còn xen vào một vài tạp niệm. Câu này nói về nghĩa trình độ của chữ công phu.

Nghĩa thứ hai là thời gian ta đã để ra thực tập để đạt được công phu đó. Ví dụ có người hỏi thiền sư Triệu Châu: “Chân tướng của một vị đại nhân thì như thế nào?” Đại nhân là những con người lớn, những Mahāsattva. Có những dấu hiệu gì chứng tỏ đó là một người lớn, một great being. Ngài Triệu Châu có nói: “Lão tăng không có công phu gì mà đã đạt tới trình độ của một vị hảo hán tự do”. Nghĩa là ta chẳng tu hành gì, chẳng cần trải qua một thời gian luyện tập nào mà cũng đạt đến trình độ của một hảo hán tự do. Hảo hán tự do chữ Nho là nhàn hán 閒 漢. Hán là một hán tử, một hero. Một hảo hán tự do tức là một con người thảnh thơi, một con người không bận bịu, vướng mắc. 

Trong bài kệ truyền đăng mà Thầy ban cho sư cô Chân Đoan Nghiêm cũng có chữ công phu. Câu đó là “Công phu nở đóa sen ngàn cánh”, một câu rất hay. Chúng ta lấy câu đó làm chủ đề cho khóa tu mùa Đông năm nay. 

Công phu là sự thực tập hằng ngày, sự rèn luyện hằng ngày của chúng ta. Hễ có tu là có chứng, có rèn luyện là có thành công. Nhờ sự thực tập đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, uống, thở, làm việc, v.v. chúng ta đưa công phu của mình lên tới một mức độ nào đó, có thể làm cho ta từ một con người nở ra như một đóa sen. Đóa sen không chỉ nở một cánh mà nở ra hai cánh, ba cánh, bốn cánh, ngàn cánh. Đến khi đóa sen đó nở liên tục thì chúng ta thấy nó không chỉ có ngàn cánh mà có cả vạn cánh, triệu cánh, rất mầu nhiệm. Ta không muốn sen nở thêm thì nó vẫn cứ nở thêm như thường, rất hay. Chỉ cần một người duy trì công phu của mình cho tinh chuyên thì có thể làm cho đóa sen nở cả triệu cánh, không chỉ ở đây mà ở khắp nơi, không phải trong những thời gian khác nhau mà là đồng thời. Mỗi ngày, chúng ta có thể thấy được những đóa sen đó nở từng giây từng phút. 

Bài kệ này bắt đầu bằng câu “Chân giác vun trồng miền tuệ uyển”. Chân giác tức là một hạt giống của sự giác ngộ chân chính. Hạt giống của giác ngộ chân chính được ươm vào, được trồng vào trong miền tuệ uyển. Tuệ tức là hiểu biết, uyển là khu vườn. Tuệ uyển tức là vườn tuệ. Đây là một danh từ đã được vua Trần Thái Tông sử dụng. Mỗi chúng ta đều có hạt giống của sự giác ngộ chân chính. Nếu chúng ta biết đem hạt giống của sự giác ngộ chân chính đó ươm và trồng vào đất của vườn tuệ thì chúng sẽ nở hoa. Nghĩa là chúng ta đừng chỉ nên tu phước để có công đức mà phải nên tu tuệ. Trong đời sống hằng ngày, trong mỗi bước chân, mỗi hơi thở, mỗi động tác chúng ta phải thực tập nhìn sâu để thấy rõ, đó gọi là tu tuệ. Làm việc quần quật để tạo phước đức thì đó chưa phải là vun trồng trong vườn tuệ mà là vun trồng trong vườn phước. Phép tu của chúng ta là phước tuệ song tu, tức là vừa tu phước, vừa tu tuệ.

Chúng ta có một bài kệ cho thiền sinh đi xe đạp: 

Ngồi thẳng trên xe đạp
Giữ vững thế thăng bằng
Phước cùng tu với tuệ
Hành với giải song song.

Tức là một bên là phước đức, một bên là trí tuệ, hai cái đó phải thăng bằng, cũng như ngồi trên xe đạp, mình không ngồi thăng bằng thì sẽ dễ té xe.

Chân giác vun trồng miền tuệ uyển: hạt giống của giác ngộ chân chính nên ươm, nên trồng trong đất của tuệ uyển. Trong đời sống hằng ngày chúng ta phải thực tập quán chiếu, thực tập nhìn sâu chứ đừng chỉ có làm việc. 

Đoan Nghiêm thuyền cặp bến thong dong, câu này cũng rất hay. Bến bờ ta muốn đi tới là bến bờ của sự thong dong, thảnh thơi và tự do. Thảnh thơi và tự do đối với những vướng mắc, khổ đau, giận hờn. Chỉ có những người thong dong mới là những người hạnh phúc. Chính thiền sư Triệu Châu nói rằng lão tăng chẳng trải qua công phu gì hết mà đã trở thành vị hảo hán thong dong. Thong dong là kết quả đẹp nhất của một đời tu. Mỗi chúng ta đều có trình độ thong dong. Trình độ thong dong của ta tức là không gian trong đó ta đang sống. Người khác nhìn vào chúng ta thì biết rằng chúng ta được bao nhiêu thong dong – nhìn vào là biết. Không cần phải là những người rất có trí tuệ, những người thường thôi, nhìn vào ta đã có thể thấy được trình độ thong dong của ta rồi. Thong dong của ta đối với mọi hoàn cảnh, đối với những phiền não. Và tự do là hoa trái đẹp nhất của sự tu học, tự do là hoa trái đẹp nhất của công phu.

Đoan Nghiêm thuyền cặp bến thong dong là một hình ảnh rất đẹp. Đoan Nghiêm là vừa đẹp vừa thẳng. Thuyền đã cặp bến, bến này không phải là bến vinh quang mà là bến thong dong. Bến thong dong là bến mà nơi đó ta có thể gặp được chư Bụt và chư Bồ tát. Trên bến đó, ai cũng thư thái, thong dong. 

Công phu nở đóa sen ngàn cánh
Quê cũ vui chơi thỏa nguyện lòng

Chúng ta người nào cũng có một ao ước thâm sâu nhất của trái tim là được trở về quê cũ. Mà quê cũ đích thực của chúng ta là bến bờ giải thoát, là nơi ta không còn cảm giác bị ngăn cách – ngăn cách với tổ tiên, ngăn cách với những người thương, ngăn cách với vũ trụ, ngăn cách với thế giới. 

Thiền sư Trần Thái Tông cũng thường nói đến quê nhà. Quê nhà tức là nơi chúng ta ao ước trở về, là nơi chúng ta cảm thấy thoải mái, không còn xu hướng muốn chạy, muốn đạt tới. Quê cũ chính là nơi ta cảm thấy thong dong, cảm thấy mãn nguyện, không còn muốn lận đận, lao đao chạy theo một đối tượng nào nữa. Quê cũ là bến bờ của sự thong dong, của sự giải thoát. Khi tới đó rồi, chúng ta đâu còn cần phải làm gì nữa, chỉ rong chơi. Tất cả những công việc hằng ngày như quét nhà, nấu cơm, độ đời, dạy đạo, cứu giúp con nít đói, v.v. chúng ta làm như chơi, làm rất thong thả, không lo lắng, không phiền não, không tranh chấp, đó gọi là thong dong. Thong dong không có nghĩa là không làm gì hết, thong dong nghĩa là có thể làm tất cả nhưng làm trong một tâm thái rất tự do. 

Chân giác vun trồng miền tuệ uyển

Đoan Nghiêm thuyền cặp bến thong dong

Công phu nở đóa sen ngàn cánh

Quê cũ vui chơi thỏa nguyện lòng

Đời của một người tu mà được như bốn câu thơ này đã là một sự thành công lớn. Chỉ trong bốn câu thơ ta có thể thấy được hướng đi của đời ta. Mỗi ngày chúng ta hãy ươm vùi hạt giống tuệ giác vào trong vườn tuệ, nghĩa là trong sự thực tập nhìn sâu, và không lâu, thuyền của chúng ta sẽ ghé tới bến bờ thong dong một cách tráng lệ, đẹp đẽ. Công phu có thể làm cho đóa sen của đời ta nở ra muôn ngàn cánh, lúc đó ta thấy ta trở về được quê cũ, ta có tự do lớn. Tất cả những gì ta làm đều đem lại cho ta hạnh phúc. Những điều ta làm không làm ta bận rộn, trái lại làm cho niềm vui của ta càng ngày càng lớn. Chữ công phu ở đây có nghĩa là sự thực tập hằng ngày. Mỗi người nên nắm vững công phu của mình. Chúng ta cần phải tự biết thực tập như thế nào trong đời sống hằng ngày, bởi vì công phu hằng ngày của ta quyết định tất cả trong tương lai.

Bắt đầu từ buổi giảng sắp tới thì mỗi người phải có một bản kinh Nhật tụng Thiền môn năm 2000. Đó là những người đọc được tiếng Việt. Còn những người không đọc được tiếng Việt thì sẽ có những bản kinh bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp. Kinh bằng tiếng Pháp thì các vị nói tiếng Pháp sẽ lo cung cấp. Tại khóa tu này, chúng ta giảng cho cả nước cùng học, các sư cô, sư chú trong nước cùng học. Vì vậy cho nên việc thâu thanh thâu hình phải làm cho đàng hoàng. Hễ mà ta thâu thanh và thâu hình thất bại là ở bên nhà lãnh đủ hết. Khi quay hình những chữ viết trên bảng, ta quay thế nào để cho người xem video có thể đọc được. Ngày hôm qua nghe lại bài giảng An cư kiết đông, thầy thấy những chữ thầy viết trên bảng, người xem video không đọc được. 

Trong khóa tu này chúng ta sẽ có ít nhất là hai bài giảng bằng tiếng Anh vào dịp Giáng sinh, và một bài giảng bằng tiếng Pháp. Còn lại, tất cả những bài giảng khác đều bằng tiếng Việt. Vừa rồi tu viện Kim Sơn có một khóa tu cho người xuất gia, đặc biệt là những người xuất gia trẻ. Tuy là khóa tu chỉ có năm ngày nhưng rất cô đọng. Vì vậy nếu trong tăng thân có ai phát tâm phiên tả pháp thoại và ghi chép về những sự kiện, những câu chuyện trong khóa tu thành một cuốn sách in gửi về cho các sư cô, sư chú bên nhà thì đó là một điều rất quý, công đức vô lượng. Ngoài ra chúng ta còn làm Lá thư Làng Mai vào dịp Tết. Và nếu có thể được thì chúng ta làm cuốn sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam từ giai đoạn Thiền sư Tăng Hội cho đến các thiền sư của thiền phái Trúc Lâm. Hiện nay trên thế giới họ đang cần những tư liệu về Phật giáo Việt Nam. 

Sau buổi pháp thoại này chúng ta sẽ đắp y và niệm Bụt cầu gia hộ cho khóa tu của chúng ta thành tựu viên mãn. Ở bên tu viện Rừng Phong, sư cô Chân Đức sẽ yểm trợ cho chúng ta những tài liệu bằng tiếng Anh mà chúng ta chưa có. Mỗi tuần các sư cô, sư chú ở tu viện Rừng Phong cũng nghe những bài pháp thoại như chúng ta nghe ở đây, tuy có trễ hơn ba ngày.

Thiền sư và em bé 5 tuổi

Lời giới thiệu

Em bé bên trong

Trong lòng chúng ta ai cũng có một em bé đang đau khổ. Ai cũng có một thời gian khó khăn khi còn thơ ấu và nhiều người đã trải qua những chấn động tâm lý, những tổn thương lớn mà vết thương còn lưu lại đến bây giờ. Để tự bảo vệ và phòng hộ trước những khổ đau trong tương lai, chúng ta thường cố quên đi thời gian đau lòng đó. Mỗi khi tiếp xúc với những kinh nghiệm khổ đau ấy, chúng ta nghĩ rằng chúng ta sẽ không chịu đựng nổi, sẽ không có khả năng xử lý nên chúng ta nén chặt những cảm xúc và ký ức của mình vào đáy sâu vô thức. Đó có thể là do đã từ lâu chúng ta không đủ can đảm để đối diện với em bé đó.

Cho dù chúng ta bỏ mặc em bé nhưng không có nghĩa là em bé không có ở đó. Cái em bé tổn thương luôn có mặt trong ta và đang cố gắng lôi kéo sự chú ý của ta. Em bé nói: “Tôi ở đây. Tôi ở đây. Bạn không thể tránh tôi. Bạn không thể trốn thoát khỏi tôi”. Chúng ta muốn chấm dứt những nỗi đau khổ của mình bằng cách nhốt em bé vào một nơi sâu kín trong lòng và cho nó ở đó càng lâu càng tốt. Tuy nhiên trốn tránh không thể chấm dứt được nỗi đau khổ, trái lại chỉ kéo dài nó lâu hơn mà thôi.

Em bé bị tổn thương đòi hỏi sự quan tâm, chăm sóc và tình thương của ta, thế nhưng ta lại làm ngược lại. Ta trốn chạy nó vì ta sợ khổ đau. Cái khối sầu khổ và đau buồn trong ta quá lớn. Cho dù có thời gian, ta cũng không trở về với chính mình. Ta luôn cố tìm cách tiêu khiển, như xem phim, xem truyền hình, giao tiếp xã hội, uống rượu bia và ma túy – bởi vì ta không muốn trải qua tất cả những nỗi khổ đau đó nữa.

Em bé bị tổn thương đang ở đó, ấy vậy mà chúng ta không biết. Em bé bị tổn thương trong ta là một thực tại, nhưng chúng ta không thấy được. Không có khả năng thấy được là vô minh. Em bé này đã bị tổn thương vài lần rồi. Nó thực sự cần chúng ta quay trở về để chăm sóc, nhưng chúng ta lại quay lưng bỏ đi.

Vô minh có mặt trong mỗi tế bào cơ thể và trong tâm thức ta. Giống như một giọt mực loang vào trong ly nước. Vô minh làm ta mê mờ, không cho ta thấy được thực tại, khiến ta làm những điều điên khùng dại dột, làm cho ta càng đau khổ hơn. Và cái vết thương đó lại một lần nữa chạm tới em bé bị tổn thương trong ta.

Em bé bị tổn thương cũng đang ở trong mỗi tế bào cơ thể ta. Không có tế bào nào trong cơ thể ta mà không có mặt em bé bị tổn thương đó. Chúng ta không cần phải nhìn xa xôi vào quá khứ để thấy được em bé đó. Chúng ta chỉ cần quán chiếu sâu sắc là có thể tiếp xúc được. Nỗi đau khổ của em bé tổn thương đó đang nằm sẵn trong chúng ta ngay trong giây phút hiện tại.

Tuy nhiên, cũng giống như nỗi khổ đau đang hiện diện trong mỗi tế bào cơ thể ta, thì những hạt giống tỉnh thức, cảm thông và hạnh phúc đã được trao truyền từ ông bà tổ tiên cũng đang có mặt trong ta. Chúng ta chỉ cần lấy chúng ra sử dụng. Chúng ta có một ngọn đèn trong mình, đó là ngọn đèn chánh niệm mà chúng ta có thể thắp lên bất cứ lúc nào. Nguyên liệu cho ngọn đèn đó là hơi thở ý thức, là bước chân chánh niệm, là nụ cười an lạc của chúng ta. Chúng ta phải thắp lên ngọn đèn chánh niệm để ánh sáng được soi chiếu và bóng tối tan đi.

Khi chúng ta bắt đầu ý thức được là mình đã lãng quên em bé bị tổn thương đó, lòng ta tràn ngập tình thương đối với em và ta bắt đầu chế tác năng lượng chánh niệm. Sự thực tập thiền đi, thiền ngồi, thiền thở là nền tảng căn bản của chúng ta. Với hơi thở và bước chân ý thức, chúng ta có thể làm phát khởi năng lượng chánh niệm và quay về tiếp xúc với nguồn tuệ giác đích thực nằm sẵn trong mỗi tế bào cơ thể ta. Năng lượng này sẽ ôm ấp và trị liệu cho chúng ta, cũng như trị liệu cho em bé bị tổn thương trong ta.

Lắng nghe

Khi nói về phương pháp lắng nghe bằng tâm từ bi, chúng ta thường nghĩ là lắng nghe một ai đó ngoài mình. Kỳ thực chúng ta cũng phải lắng nghe em bé bị tổn thương trong ta. Thỉnh thoảng, em bé bị tổn thương trong ta đòi hỏi sự chú ý của ta một trăm phần trăm. Em bé đó có thể xuất hiện từ những tầng sâu kín trong tâm thức ta và đòi hỏi chúng ta phải chú ý. Nếu có ý thức, ta sẽ nghe được tiếng cầu cứu của em. Vào lúc này, thay vì chú tâm vào bất cứ điều gì khác, ta hãy quay trở về chăm sóc em bé tổn thương đó bằng sự lân mẫn của ta. Ta có thể nói chuyện trực tiếp với em bé bằng ngôn ngữ của tình thương yêu, hãy nói với em rằng: “Trong quá khứ, tôi đã để em một mình. Tôi đã chạy trốn em. Giờ đây, tôi rất hối hận, tôi sẽ quay về chăm sóc em”. Ta cũng có thể nói: “Em thương, tôi đang có mặt đây cho em. Tôi sẽ chăm sóc em đàng hoàng. Tôi biết là em đã đau khổ nhiều. Tôi đã quá bận rộn và bỏ mặc em, bây giờ tôi sẽ học cách để quay về với em”. Nếu cần, ta có thể cùng khóc với em bé đó. Bất kể khi nào cần, ta cũng có thể ngồi lại và thở cùng em: “Thở vào, tôi trở về với em bé bị tổn thương trong tôi; thở ra, tôi sẽ chăm sóc em bé bị tổn thương trong tôi cho đàng hoàng”.

Mỗi ngày ta phải nói chuyện với em bé trong ta vài lần, cho đến khi nào em bé được chữa khỏi. Ta hãy ôm ấp em bé một cách nhẹ nhàng, trìu mến, ta phải đảm bảo với em rằng ta sẽ không bao giờ để em bị suy sụp hoặc bị bỏ rơi nữa. Em bé non nớt bé bỏng đã bị cô đơn một mình quá lâu. Đó là lý do tại sao ta phải bắt đầu thực tập điều này ngay lập tức. Nếu ta không thực tập ngay từ bây giờ thì đợi đến khi nào?

Nếu ta biết cách quay về với em bé và lắng nghe em một cách chăm chú khoảng năm đến mười phút mỗi ngày thì sự chữa lành sẽ bắt đầu xảy ra. Khi ta leo lên một đỉnh núi hùng vĩ, hãy mời em bé trong ta cùng leo. Khi ngắm nhìn cảnh mặt trời lặn, ta hãy mời em cùng ngắm, cùng thưởng thức với ta. Nếu ta làm điều này trong vài tuần hoặc vài tháng, em bé bị tổn thương trong ta sẽ được trị liệu.

Nhờ thực tập, chúng ta có thể thấy được rằng em bé bị tổn thương trong ta không chỉ là bản thân chúng ta mà có thể là đại diện cho vài thế hệ trước. Mẹ chúng ta có thể đã đau khổ suốt cuộc đời. Cha ta cũng có thể đã đau khổ quá nhiều. Có thể cha mẹ ta đã không có cơ hội để chăm sóc em bé bị tổn thương trong họ. Vì vậy, khi chúng ta ôm ấp em bé bị tổn thương trong chúng ta thì chúng ta cũng đang ôm ấp em bé bị tổn thương của những thế hệ trước. Sự thực tập này không phải là thực tập cho một mình ta mà cho vô số những thế hệ tổ tiên và con cháu ta.

Tổ tiên ta đã không biết cách chăm sóc cho em bé bị tổn thương trong họ, vì thế họ đã truyền lại nó cho chúng ta. Sự thực tập của chúng ta là để chấm dứt vòng luân hồi luẩn quẩn này. Nếu chúng ta có khả năng chữa lành cho em bé bị tổn thương trong ta, thì chúng ta không những giải phóng được cho chính mình mà còn giải phóng được cho những ai đã từng làm ta đau khổ hoặc lạm dụng ta. Người lạm dụng ta có thể là nạn nhân của một sự lạm dụng khác. Thực tập với em bé bị tổn thương trong mình một thời gian đủ lâu, nhiều người đã làm vơi được những nỗi khổ đau trong họ và có kinh nghiệm chuyển hóa. Mối liên hệ giữa họ với gia đình và bạn bè trở nên dễ dàng hơn.

Chúng ta đau khổ vì không tiếp xúc được với lòng từ bi và sự hiểu biết. Nếu chúng ta chế tác được năng lượng chánh niệm, hiểu biết và từ bi cho em bé bị tổn thương của chúng ta, chúng ta sẽ ít đau khổ hơn. Khi chúng ta chế tác được chánh niệm thì từ bi và cảm thông là điều ta có thể đạt được và chúng ta có thể cho phép những người khác thương mình. Trước đây, chúng ta nghi ngờ mọi người, nghi ngờ tất cả. Tuy nhiên, lòng từ bi giúp chúng ta liên hệ được với những người khác và thiết lập lại sự kết nối.

Những người chung quanh ta, gia đình và bạn bè, có thể cũng có một vài em bé bị tổn thương trong họ. Nếu chúng ta thực tập và giúp được cho chính mình, chúng ta cũng có thể giúp được cho họ. Khi chúng ta chữa trị được cho chính mình thì những mối quan hệ của chúng ta với những người khác sẽ trở nên dễ dàng hơn. Sẽ có nhiều an lạc và tình thương hơn.

Hãy quay về chăm sóc chính mình. Thân thể của ta, những cảm nhận của ta và những tri giác của ta đang cần ta. Em bé bị tổn thương trong ta đang cần ta. Nỗi khổ niềm đau của ta cần ta công nhận. Hãy trở về ngôi nhà của chính mình và có mặt cho tất cả những điều đó. Thực tập hơi thở và bước chân chánh niệm, làm tất cả các công việc trong chánh niệm là ta có khả năng có mặt thực sự, nhờ đó ta lại có thể yêu thương.

Viên ngọc kinh Pháp Hoa

Châu báu chất đầy thế giới

Tôi đem tặng bạn sáng nay

Một vốc kim cương sáng chói

Long lanh suốt cả đêm ngày

Mỗi phút một viên ngọc quý

Tóm thâu đất nước trời mây

Chỉ cần một hơi thở nhẹ

Là bao phép lạ hiển bày

Chim hót thông reo hoa nở

Trời xanh mây trắng là đây

Ánh mắt thương yêu sáng tỏ

Nụ cười ý thức đong đầy

Này người giàu sang bậc nhất

Tha phương cầu thực xưa nay

Hãy thôi làm thân cùng tử

Về đi, tiếp nhận gia tài

Hãy dâng cho nhau hạnh phúc

Và an trú phút giây này

Hãy buông thả giòng sầu khổ

Về nâng sự sống trên tay.

– Thích Nhất Hạnh

Lá thư Làng Mai 47 – 2024

Bìa 1

Bìa 2

Bìa 3

Bìa 4

Nội dung

“Tôi nghe không gian tiếng kêu rộn rã

Nghe vũ trụ tưng bừng trong cây lá

Cả loài người khoác áo mới tương thân

Và nơi đây, lấp loáng ánh sương trăng

Tiếng hoa lá hò reo bừng mạch sống.”

(Trích từ Mùa nhân loại thay áo mới, thơ Thầy)

Xuân về mang theo xanh tươi lan tràn mặt đất. Sau những tháng ngày ngủ yên, kiên nhẫn nuôi dưỡng, nhựa sống tuôn lên thành những đọt lá mới, thành mai vàng rực rỡ trong nắng ấm trời xanh. Sau một năm ấp ủ tình thương, kiên trì trở về sống trọn vẹn mỗi phút giây, chất liệu của tỉnh thức nay đã hóa thành những lời thơ, những câu văn ấm áp tình người. Hoa trái ngọt lành đó được gửi về từ khắp muôn phương. Người ở gần, người ở xa nhưng đều chung một tấm lòng muốn hiến tặng niềm vui, sẻ chia hạnh phúc và thắp lên niềm tin vào con đường thực tập bằng chính sự chuyển hóa của tự thân.

Tăng thân Làng Mai đã đón nhận những tấm lòng ấy và góp lại thành Lá thư Làng Mai số 47 với mong ước những hạt giống lành thiện như tha thứ, bao dung được tưới tẩm và nảy mầm mạnh mẽ nơi đất tâm mỗi người trong năm mới sắp đến.

Tải về bản đọc: Lá thư Làng Mai số 47 - 2024

(Để xem pdf tốt nhất xin sử dụng phần mềm Adobe Acrobat Reader. Tải phần mềm về tại đường dẫn dưới đây:  https://www.adobe.com/acrobat/pdf-reader.html )

MỤC LỤC

Làng Mai năm quaBan Biên Tập
Muôn thu ngàn dặm một nhàBan Biên Tập
Thắp sáng hiện hữuSư Ông Làng Mai
Ngàn sông trăng hiệnSư cô Chân Hoa Nghiêm
Chiếc áo nhật bìnhSư chú Chân Trời Bát Nhã
Ngọn đồi Tiểu ẨnSư cô Chân Tuyết Nghiêm
Áo nâu phai màu nắngThầy Chân Pháp Ứng
Đức Bụt tương lai đã có mặt rồiSư cô Chân Uyển Nghiêm
Theo dấu chân xưaSư cô Chân Uyển Nghiêm
Chào đón bình minhPhỏng vấn gia đình Hoa Thủy Tiên
Chùm thơ Đất TổQuý sư cô Diệu Trạm
Giọt nước trong dòng sông Tăng thânSư cô Chân Trăng Tâm Đức
Khất thực trong làng ThénacThầy Chân Trời Đức Định
Giải tỏa hận thù, khơi suối yêu thươngSư cô Chân Thuận Nghiêm
Vùng đất của những cây ô liu cổ thụSư cô Chân Trăng Linh Dị
Cánh cửa xót thươngThầy Chân Minh Hy
Tiếng gọiSư cô Chân Hiền Hạnh
Trở về nguồn cộiMain Hương, Hồng Anh và Janny
Bấy nhiêu thôi là đã đủThầy Chân Pháp Dung
Còn tu là còn thấy nhauSư chú Chân Trời Tương Tức
Câu trả lời là tình thươngSatish Kumar, GS.Hà Vĩnh Thọ và Rehena Harilall
Bóng dáng ThầySư cô Chân Trăng Bồ Đề
Công phu quét láSư cô Chân Đính Nghiêm
Cuộc sốngSư cô Chân Đính Nghiêm
Khúc hát Tăng thânThầy Chân Pháp Lưu
Lộc Uyển mùa an vuiSư cô Chân Trăng Chùa Xưa
Chùm thơSư cô Chân Bảo Nghiêm
Âm nhạc: Con đường tâm linhThầy Chân Pháp Hữu
Người đi hái thuốc đầu nonCảm niệm về thầy Trời Hải Thượng
Trót thươngThầy Chân Trời Hải Thượng
Người đã về, đã tớiThầy Chân Trời Hải Thượng
Hoa nở tự vườn tâmThầy Chân Trời Thiện Chí
Tăng thân khắp chốnSư cô Chân Trì Nghiêm
Có những ngày ươm nắngTiên Nguyễn
Gia đình tâm linh khắp mọi nơiThầy Chân Trời Đức Hiền
Thiện tri thứcSư cô Chân Đào Nghiêm
Thiền và nghệ thuật bảo hộ hành tinhThầy Chân Trời Đức Niệm
Mình là miếng đậu hũ?Sư cô Chân Trăng Hiền Tâm
Ánh sáng của sự kết nốiJoost Vriens
Chạy bộ để dừng lạiSư cô Chân Trăng Lâm Hỷ
Con đi cho mẹSư cô Chân Lạc Hạnh
Xuân yêu thương ngập tràn năm thángSư cô Chân Không
Lịch sinh hoạt năm 2024

 

 

 

 

Hồi ký SCCK 3 – Phương Hương xuôi vạn lý

Lời giới thiệu

Tôi thường học hỏi được rất nhiều từ những học trò của tôi. Với tôi, học trò cũng là thầy. Sư cô Chân Không là một trong những người ưu tú nhất trong số những học trò như vậy. Để tôi kể cho quý vị nghe một trong những bài học quan trọng mà tôi đã học được từ Sư cô. Đó là vào năm 1966. Cuộc chiến tại Việt Nam đang càng ngày càng khốc liệt. Tôi mải miết nghĩ cách để vận động nhiều vị tôn đức trong Giáo hội chịu cùng đứng ra kêu gọi chấm dứt chiến tranh, và nhiều khi không thể nuốt trôi miếng cơm nào mỗi khi nghe tin một trận chiến khốc liệt vừa xảy ra. Bữa đó, tại chùa Pháp Vân ở Phú Thọ Hoà, Sư cô Chân Không, đang chuẩn bị một dĩa rau thơm cho món phở, Sư cô quay qua hỏi tôi: “Bạch Thầy, Thầy có thể cho con biết những loại rau thơm này ở miền Bắc gọi là gì không?” Nhìn Sư cô đang cẩn trọng đặt những nhánh rau vào chiếc dĩa lớn với tất cả sự chú tâm, tôi bỗng bừng tỉnh. Sư cô có khả năng duy trì sự chú tâm vào những cọng rau thơm. Và tôi nhận ra rằng tôi cũng nên học để tâm tới những nhánh rau, chứ không phải chỉ nghĩ về chiến tranh mà thôi. Thầy trò chúng tôi trao đổi với nhau mười phút về những loại rau thơm ở miền Nam, Trung và Bắc. Tâm trí tôi thoát khỏi những suy nghĩ về cuộc chiến trong khoảng thời gian đó đủ giúp tôi lấy lại được sự cân bằng mà tôi đang rất cần. Năm 1968, khi sống ở miền Nam nước Pháp, tôi đã phát hiện ra những loại rau thơm của vùng Provence với tất cả sự chú tâm và thích thú.

Nhiều năm sau, một người bạn Hoa Kỳ hỏi tôi: “Thưa Thầy! Thầy trồng rau xà lách làm gì cho mất thời gian. Thầy dành thời gian đó để làm thơ có hơn không? Ai mà không trồng được rau xà lách, nhưng ít ai có thể sáng tác những bài thơ sâu sắc như thơ của Thầy.” Tôi mỉm cười đáp: “Bạn ơi! Nếu tôi không trồng những cây xà lách thật chánh niệm như vậy thì tôi không làm ra những bài thơ như vậy được.” Tôi đã không tiết lộ rằng câu trả lời của tôi có xuất xứ từ bài học với Sư cô Chân Không mười hai năm trước. Cho đến hôm nay, tôi vẫn tiếp tục học từ Sư cô. Một vị thầy luôn nên có khả năng làm học trò và một đệ tử cũng luôn phải cùng lúc làm thầy. Nhớ được điều này, cả thầy và trò sẽ cùng lợi lạc.

Điều khiến tôi khâm phục nhất ở Sư cô là khả năng sống an lạc và hạnh phúc. Niềm tin vững chắc của Sư cô đối với Giáo pháp ngày càng được củng cố khi sự tu tập không ngừng mang lại cho Sư cô hoa trái của chuyển hoá, chữa trị và niềm vui. Sự vững chãi, an lạc và hạnh phúc của Sư cô là nguồn động viên nhiệm màu cho rất nhiều các bạn ở Làng Mai cũng như trong đại gia đình Tăng thân. Nguồn vui của Sư cô là làm việc giúp người và giúp chuyển hoá xã hội. Nằm sâu bên trong những công tác của Sư cô là một tình thương lớn và sự quan tâm sâu sắc. Chân Không cũng có nghĩa là tình thương đích thực. Câu chuyện cuộc đời Sư cô vượt xa những gì ngôn từ có thể diễn tả, đó là cả một bài Pháp sống.

Thật tiếc là cuốn sách này còn quá ngắn, không chuyển tải hết sự sâu sắc và sống động những gì Sư cô đã đi qua. Sư cô còn rất nhiều chuyện để kể cho chúng ta, có thể dài gấp mười lần cuốn sách này. Nhưng Sư cô là một nhà hoạt động xã hội hơn là một nhà văn, và hiện tại chúng ta phải bằng lòng với tác phẩm này thôi. Nếu có cơ hội tiếp xúc với Sư cô, quý vị đừng quên xin Sư cô chia sẻ cho nghe những kinh nghiệm của Sư cô. Quý vị sẽ học hỏi được rất nhiều. Sư cô đích thực là một vị Bồ tát.

Thích Nhất Hạnh

Làng Mai, Pháp quốc – Tháng 5, 1993