Giáo pháp của đức Như Lai được Ngài diễn bày một cách khéo léo nên được gọi là thiện thuyết. Trong khi tán dương Pháp, nếu ta diễn bày không đủ khéo thì người nghe có thể hiểu lầm và điều đó sẽ có hại cho họ. Ta phải rất khéo léo trong khi nói pháp, phải nói như thế nào để tất cả những gì ta nói đều là thiện thuyết. Người nghe pháp cũng phải khéo léo để tiếp thu đúng pháp mà đừng kẹt vào chữ và những thành kiến của mình. Phải có sự cộng tác giữa người nói pháp và người nghe pháp. Người nói pháp phải thấy được tâm tư của người nghe pháp. Ta nói như thế nào để những gì ta nói lọt vô trái tim của người nghe pháp. Người nghe pháp phải mở trái tim ra, buông bỏ những tư kiến của mình thì mới có cơ hội tiếp nhận chánh pháp. Nếu không thì những gì ta thu nhận sẽ trở thành có hại. Kinh “Người bắt rắn” có kể chuyện thầy A Lê Xá đã hiểu sai lời Bụt dạy và hành trì sai rồi cứng đầu không chịu nghe lời khuyên nhủ của các thầy khác. Bụt cho gọi thầy A Lê Xá lại và nói: “Tôi không nói như vậy, tại sao thầy lại hiểu như vậy?” và Ngài đưa ra ví dụ về một người bắt rắn. Nếu không biết cách bắt rắn thì người đó sẽ bị rắn cắn chết. Khi gặp một con rắn thì người biết cách bắt rắn sẽ dùng một cây chỉa hai để đè đầu con rắn xuống và bắt ngay cái đầu của nó chứ đừng bắt đuôi của rắn. Khi nghe pháp cũng vậy, nếu ta không khéo léo để hiểu đúng pháp thì pháp đó sẽ trở lại hại mình. Kinh “Người bắt rắn” là một kinh rất lạ, vì chưa có một vị thầy nào tuyên bố rằng giáo pháp của mình nếu không biết sử dụng thì rất nguy hiểm, giống như thuốc để cứu người nhưng nếu ta dùng không đúng cách thì thuốc có thể làm chết người.
Hiểu lầm những lời Bụt dạy là chuyện rất thường.
Không những người ở ngoài truyền thống hiểu lầm, mà người ở trong truyền thống cũng còn có những sự hiểu lầm. Ngay trong thời của Bụt cũng có những người đệ tử hiểu lầm Bụt, có nhiều người hiểu lầm lời dạy của Bụt về phép quán thân bất tịnh đến nỗi họ phải đi tự tử. Vì vậy trong kinh thỉnh thoảng ta nghe Bụt than: “Tôi đâu có nói như vậy! Tôi đâu có dạy như vậy, tôi đâu có chủ trương thuyết hư vô đoạn diệt!” Các học giả Tây phương hiểu lầm giáo lý Bụt trong khi nghiên cứu đạo Bụt cũng là một chuyện tự nhiên. Ta hiểu lầm Bụt, rồi truyền đạt giáo lý của Bụt một cách sai lạc và kéo theo sự hiểu lầm của cả thế hệ tương lai. Có nhiều người hiểu lầm Niết bàn là cái chết vĩnh viễn. Trong khi đó Nirvana là hạnh phúc lớn của những người giải thoát. Hạnh phúc mà ta có thể hưởng được bây giờ và ở đây vì ta có tự do, nhất là tự do đối với những ý niệm.
Hai năm trước, khi giảng về kinh Nê Hoàn tôi đã có nói về vấn đề này. Ở xóm Thượng, có những đêm trời trong, trăng sao vằng vặc và cỏ cây rất thơm. Nếu ta thức dậy vào lúc bốn giờ, rửa mặt rồi đi tới thiền đường thì ta tiếp xúc được với không khí ban đêm thanh thoát, mầu nhiệm lạ kỳ không thể tả được. Nếu ta cứ trùm mền nằm nướng trên giường, nghe chuông không chịu dậy thì làm sao ta hưởng được những giây phút đó. Niết bàn cũng vậy, Niết bàn đã có sẵn trong giây phút hiện tại, chỉ cần lột đi những tư kiến của ta về thực tại thì ta sẽ tiếp xúc được với Niết bàn. Ta càng có tự do thì Trời phương ngoại càng hiện rõ. Điều này ta không thể diễn bày cho người khác biết được, chỉ mình ta cảm được hạnh phúc đó mà thôi. Những giáo lý nào khi trình bày mà giúp cho người khác có thể nương theo để tiếp cận được với bản môn, với hạnh phúc của Niết bàn thì giáo lý ấy mới được gọi là giáo lý tùy thuận.
Người ta đã hiểu lầm Bụt rất nhiều và ta thấy tội nghiệp cho Bụt. Nhưng Bụt có cần chúng ta tội nghiệp hay không? Bị hiểu lầm như vậy Bụt có buồn hay không? Chúng ta thì rất buồn nếu bị hiểu lầm. Nếu bị sư anh, sư em, sư chị hiểu lầm thì ta sẽ buồn nhưng Bụt có buồn khi bị hiểu lầm không? Quý vị hãy tự trả lời lấy.
Có khi ta bỏ ra một giờ đồng hồ để giảng một bài. Giảng xong ta thấy ta đã nói hết ra những gì mà ta đã thấy, đã hiểu. Nhưng có một người đứng lên hỏi một câu và ta biết rằng người đó không hiểu gì cả.
Ta đã đem hết cả trái tim để trao truyền, ta đã làm hết tất cả những gì cần làm. Hỏi như vậy chứng tỏ là người đó không hiểu gì hết. Đó là tâm trạng của Bụt, vậy thì Bụt có buồn hay không? Sau khóa tu 90 ngày, mình đứng lên hỏi một câu chứng tỏ trong suốt 90 ngày qua mình nghe rất nhiều nhưng không hiểu gì hết. Chuyện này xảy ra rất thường, buồn hay không buồn có phải là vấn đề hay không?
Buồn hay không buồn không phải là vấn đề, vấn đề là làm sao để giúp cho người kia hiểu được. Tuy hôm nay người đó chưa hiểu, nhưng có thể ngày mai người đó đi vấp phải một cục đá và sẽ hiểu. Cục đá có thể là một điều bất như ý xảy ra trong cuộc đời của người đó. Nhờ gặp chuyện bất như ý mà tự nhiên ta bừng tỉnh và hiểu được.
Nếu Bụt bị hiểu lầm mà Bụt không buồn thì tại sao ta chỉ mới bị hiểu lầm một chút mà ta lại buồn quá như vậy? Hôm nay người ta chưa hiểu nhưng ngày mai người ta sẽ hiểu. Nếu người ta chưa hiểu thì ta cũng đừng buồn, ta sẽ tìm đủ cách để giúp người ta hiểu được. Ta đừng nổi nóng, đừng giận. Có người nói: Trên đời này không có ai hiểu tôi hết! Tôi không có người tri kỷ. Vì vậy khóa tu này có chủ đề: Ta có phải là tri kỷ của Bụt không? Đôi khi ta chắc mẩm là ta đã hiểu được Bụt rồi.
Lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia
Thỉnh thoảng trong kinh ta bắt được những con sâu rọm rất lớn, như trong Majjhima Nikaya 36 có một đoạn nói đức Thế Tôn đã kể lại quá trình tu tập của Ngài trước khi Ngài thành đạo. Có một lần đức Thế Tôn đã dùng những phương pháp bạo động để đè nén thân và tâm của mình nhưng Ngài không thành công mà còn làm tăng thêm khổ đau:
Tôi nghĩ tại sao tôi không ngậm cứng hai hàm răng lại, lưỡi đè sát nóc họng, lấy tâm mà quật ngã tâm, lấy tâm mà đàn áp tâm. Rồi như một người lực lưỡng có thể nắm lấy đầu và hai vai của một người yếu hơn mà chế ngự người ấy, ép buộc người ấy phải tùng phục, đàn áp người ấy. Tôi đã ngậm cứng hai hàm răng lại, lưỡi đè sát nóc họng, rồi cố sức lấy tâm mà quật ngã tâm, đánh bại tâm. Mồ hôi tôi chảy ra nhễ nhại khi tôi làm như vậy. Dù năng lực tuôn ra đầy dẫy trong tôi, dù chánh niệm vẫn được duy trì không đứt đoạn, nhưng thân tâm tôi vẫn bất an và tôi kiệt sức vì những cố gắng mệt nhọc đó. Những cảm thọ khổ đau như thế phát sinh thêm trong tôi và vẫn không có tác dụng điều phục được tâm tôi.
Bụt kể lại kinh nghiệm của Ngài và khuyên chúng ta đừng nên dùng phương pháp bạo động để trấn áp thân và tâm của mình. Nhưng đoạn này lại được đưa vào trong kinh như là một phương pháp rất hay. Như trong kinh Vitakkasanthana sutta MN 20, bản tiếng Hán là kinh Tăng Thượng Tâm của Trung A Hàm, có lặp lại:
Ví như một người lực lưỡng nắm lấy đầu và hai vai của một người yếu hơn, chế ngự người ấy, ép buộc người này phải tùng phục, đàn áp người ấy. Này các vị khất sĩ, nếu vị khất sĩ trong khi quán chiếu để đình chỉ các tư tưởng bất thiện liên hệ tới ái dục và sân hận mà các tư tưởng ấy vẫn tiếp tục phát khởi thì vị khất sĩ ấy phải nghiến răng, lưỡi đè sát nóc họng, cố sức lấy tâm quật ngã tâm và đánh bại tâm. Trên phương diện hình thức thì đoạn kinh này khuyên chúng ta nên làm theo cách của Bụt đã thực tập, cách mà Ngài đã thất bại trước khi Ngài thành đạo.
Trong Hán tạng, kinh Niệm Xứ tức kinh thứ 98 của Trung A Hàm và kinh Niệm Thân, tức kinh thứ 8 của Trung A Hàm cũng lặp lại đoạn trên và nói đó là phương pháp chúng ta nên làm:
Vị khất sĩ quán niệm thân trong thân, ngậm khít hai hàm răng lại, lưỡi áp vào nóc họng, lấy tâm mà chế ngự tâm, đối trị tâm, tiêu diệt và đoạn dứt tâm. Như hai người lực sĩ nắm lấy một người sức yếu, chế ngự người này hoàn toàn một cách tự do, vị ấy ngậm khít hai hàm răng lại, để lưỡi trên nóc họng, lấy tâm mà chế ngự tâm, đè nén tâm, đối trị tâm.
Vậy mà đoạn kinh này đã được đưa vào kinh Vitakkhasanthana (M.20), tương đương với kinh Tăng Thượng Tâm trong Hán Tạng (Trung A Hàm, 101) để khuyên người ta nên thực tập theo cách đó.
Nguy hiểm hơn nữa là đoạn kinh ấy cũng đi vào trong kinh Niệm Thân (Trung A Hàm, 8), tương đương với kinh Kāyagatasati (M. 119) và trong cả kinh Niệm Xứ (Trung A Hàm, 98), một kinh thực tập căn bản về Thiền. Oan ức cho Bụt biết chừng nào. Đó là một trong những con sâu rất lớn mà ta thấy có mặt trong rất nhiều kinh. Khi học, chúng ta phải nên học với tinh thần của một học giả.
Chúng ta có phải là tri kỷ của Bụt không? Thật ra người ta đã hiểu lầm Bụt rất nhiều. Không phải chỉ những người ngoài đạo Bụt hiểu lầm Bụt mà trong chính hàng đệ tử của Bụt cũng hiểu lầm Bụt. Có thể nói là đa số đã hiểu lầm Bụt. Điều này được ghi lại trong kinh. Bụt không dạy như vậy nhưng người ta nói Bụt dạy như vậy, rất là oan cho Bụt. Chúng ta có hiểu được Bụt không? Đó là câu hỏi. Chúng ta không thể nói: Chỉ có tôi mới hiểu được Bụt thôi. Chúng ta không chắc nên chúng ta phải rất cẩn thận. Trong khóa tu này chúng ta phải rất khiêm cung và tìm cách để có thể trở thành một đệ tử có khả năng hiểu được thầy của mình, tức là Bụt Thích Ca. Không những nhiều thành phần trong sáu phái triết học đương thời hiểu lầm rằng Bụt chủ trương thuyết hư vô hoại diệt mà chính nhiều vị trong hàng đệ tử xuất gia của Người cũng đã hiểu lầm như thế. Ví dụ thầy Yamaka (Diệm Ma Ca) chẳng hạn. Kinh Tương Ưng Bộ (S. III 109) có ghi lại chuyện của thầyYamaka. Thầy này tin rằng một vị xuất gia thành đạo giải thoát rồi thì khi chết không còn lại gì nữa, nghĩa là đoạn diệt hoàn toàn. Một số các thầy khuyên thầy Yamaka nên buông bỏ tà kiến ấy nhưng thầy cứng đầu không chịu, thầy vẫn tin rằng kiến giải của thầy là trung thực với kiến giải của đức Thế Tôn. Sau cùng nhờ thầy Xá Lợi Phất khai thị thầy mới chịu buông bỏ tà kiến đoạn diệt ấy.
Vô ngã là một cái định (concentration) mà không phải là triết học hay ý niệm. Nếu chỉ sử dụng trí năng thì chúng ta sẽ không chứng đạt được vô ngã. Phải thực tập định ta mới chứng được vô ngã. Có thể ta nói về vô ngã rất hay nhưng cái ngã của ta vẫn còn rất lớn. Cái ngã càng lớn thì ta càng đau khổ và càng làm cho những người khác đau khổ. Vấn đề không phải là nói về vô ngã mà ta phải thực tập như thế nào để vượt thoát được ý niệm về ngã. Trong khi thực tập địa xúc chúng ta quán tưởng tới đất Mẹ. Chúng ta còn nhớ rằng hồi Bụt Thích Ca sắp thành đạo, Ngài có linh cảm rằng trong 24 giờ đồng hồ nữa Ngài sẽ đạt được đạo nên Ngài đã rất phấn khởi. Lúc đó ma vương Ba Tuần hiện ra nói với Ngài:
– Ông có chắc là trong 24 giờ đồng hồ nữa ông sẽ chứng đạo không? Ông đừng nên lạc quan nhiều như vậy. Ai sẽ làm chứng cho ông là ông sẽ làm được chuyện đó? Làm sao mà ông đạt được đạo? Thế giới nằm dưới quyền của tôi, quyền của u mê, quên lãng. Làm sao ông có thể vượt thoát được sự kiểm soát của tôi?
Bụt đã làm ấn địa xúc, Ngài dùng tay trái sờ vào đất Mẹ và nói:
– Có đất này làm chứng cho tôi là tôi đã từng thành công và tôi sẽ thành công trong 24 giờ đồng hồ nữa.
Khi được Siddhārtha chạm tới thì đất Mẹ đã rung động bảy lần. Ma vương biết mình đã thua liền biến mất. Trong khi thực tập địa xúc chúng ta biết đức Thế Tôn đã thành đạo nhiều lần trên trái đất này. Ngày xưa đức Konāgamana (Câu Na Hàm Nâu Ni) cũng là Bụt. Trong tương lai khi đức Di Lặc ra đời thì cũng là Bụt. Đất Mẹ vẫn tiếp tục cho ra đời những vị Bụt. Thấy được điều đó ta quay về nương tựa nơi đất Mẹ. Ta sẽ không bao giờ chết, ta luôn luôn trở về với đất Mẹ và ta sẽ được đất Mẹ đưa ta ra đời trở lại cho tới khi ta có thể thành công được như đức Thế Tôn, thầy của chúng ta.
Sau khi quán tưởng, đại chúng đã thực tập địa xúc ba lần. Mỗi khi tôi thực tập địa xúc, một mình hoặc cùng với đại chúng, lúc chắp tay lạy, trong quá trình năm vóc gieo xuống, tôi luôn quán tưởng rằng đây không phải là một cá nhân đang lạy xuống mà cả một dòng họ, một đất nước, một dòng tâm linh và huyết thống đang lạy xuống. Và trong suốt thời gian gieo năm vóc xuống như vậy thì mình được giải thoát, giải thoát ra khỏi ý niệm mình là một cái ta riêng biệt tách rời. Sự thật thì chúng ta không có một cái ta riêng biệt. Nhìn vào năm uẩn tôi thấy có sự có mặt của cha mẹ, của ông bà tổ tiên tâm linh và huyết thống, tôi thấy đại chúng và tôi cùng lạy xuống như một tập thể, như một dòng họ, như một truyền thống. Tôi không lạy xuống như một cá nhân riêng lẻ.
Chỉ cần có một chút niệm và định thì ta thấy được, tức là ta có tuệ. Trong khi gieo năm vóc xuống mà có niệm, định và tuệ thì ta sẽ trở thành một con người tự do, ta không còn bị tư tưởng về cái ngã khống chế nữa. Định lực “không có cái ngã” có mặt trong suốt thời gian gieo xuống năm vóc. Khi trán tiếp xúc với đất thì ta cũng tiếp xúc luôn với tổ tiên tâm linh, với các vị Bụt và các vị Bồ tát. Mấy năm nay tôi thường quán chiếu:
Chúng con (tăng thân xuất sĩ, cư sĩ và cả dòng họ, ông bà, tổ tiên) xin Tam bảo, Bụt, Pháp và Tăng gia hộ cho chúng con có đủ sức mạnh, đủ kiên nhẫn để vực dậy một nền đạo lý toàn cầu ứng dụng để làm cho thế gian này bớt khổ.
Đây không phải là lời nguyện của một người mà là lời nguyện của cả tăng thân, dòng họ. Ta được tuệ giác vô ngã tiếp tục soi sáng trong thời gian ta thở ba hơi thở vào và ra. Theo sự thực tập của Làng Mai thì trong khi năm vóc lạy xuống, ta thở vào và thở ra ba lần. Vị tri chung phải để cho đại chúng có đủ thì giờ để thở vào và thở ra ba lần trong khi quán chiếu. Trong khi thở vào và thở ra ba lần, ta duy trì được định vô ngã. Ta thấy ta cũng là dòng họ, là tổ tiên tâm linh và huyết thống, là cả một đất nước mà không phải là một cá nhân.
Khi nghe tiếng nhấp chuông ta đứng dậy, ta không phải đứng dậy với tư cách của một người mà ta đứng dậy với tư cách của tăng thân, của cả dòng họ quá khứ, hiện tại và tương lai. Tôi hy vọng đại chúng cũng thực tập địa xúc như vậy.
Khi nhìn một người, người đó có thể là sư anh, sư chị, sư em của ta, một thiền sinh cư sĩ hay một em bé, ta cũng phải thực tập nhìn người đó bằng tuệ giác vô ngã. Ta không nhìn người đó như một cá nhân đơn độc tách rời mà ta phải thấy được cả dòng họ của người đó. Sự thật người đó không phải là một cá nhân biệt lập. Trong người đó có tất cả tổ tiên huyết thống và tâm linh, không chỉ tổ tiên loài người mà còn có các loài khác, vì các loài khác đã có mặt trước khi loài người xuất hiện. Trước khi có loài động vật thì đã có các loài thực vật và khoáng vật. Vì vậy ta có tổ tiên là loài người, nhưng ta cũng có tổ tiên là động vật, thực vật và khoáng vật. Nhìn một người ta phải thấy cả quá trình tiến hóa của sự sống. Ta thấy được lịch sử của sự sống trong con người đó. Người đó từ khoáng, từ khí, từ sương, từ cây cỏ, từ động vật mà trở thành con người homo sapiens. Thấy được như vậy thì ta mới thấy được người đó, nếu chưa thấy như vậy thì ta chưa thấy được người đó. Thấy được người đó là thấy được tính vô ngã của người đó. Người đó có đức hạnh, có tài năng nhưng cũng có những khiếm khuyết và tật xấu. Đức hạnh, tài năng, khiếm khuyết hay tật xấu ấy không phải là của riêng người đó mà là của cả một dòng tiếp nối. Thấy được như vậy là ta thấy được con người thật của người đó, nếu không thì ta chỉ có ảo tưởng về người đó mà thôi.
Khi thương một người ta nghĩ là ta đã biết người đó là ai và ta đã nắm được người đó rồi. Nhưng ta đã lầm. Ta chưa biết gì nhiều về người đó đâu, ta chỉ để hình thức bên ngoài của người đó làm ta chóa mắt. Khi thương một người ta phải thực tập, phải thấy rằng người này là một mầu nhiệm mà ta chưa biết rõ được. Ta chỉ mới có một quan niệm, một cái thấy rất cạn cợt về người này mà thôi. Ta phải quán chiếu theo lời Bụt dạy mới thật sự thấy được người này. Ta phải thấy cha, mẹ, ông, bà, tổ tiên huyết thống và tâm linh, thấy quá trình lịch sử diễn biến trong sự sống của người đó thì ta mới thấy được người đó. Nếu thấy được như vậy, ta cũng thấy được ta ở trong người đó.
Cũng như một vị tổng thống tiếp nhận một vị đại sứ mới, viên đại sứ khi mới tới phải gặp tổng thống hoặc vua hay thủ tướng để trình ủy nhiệm thư, vị tổng thống không nhìn viên đại sứ với tư cách của một cá nhân mà phải thấy viên đại sứ là đại diện cho cả một đất nước, một dân tộc, một quốc gia. Nói với người đó một câu là nói với tất cả đất nước, cả dân tộc của người đó. Trách cứ người đó một câu là trách cứ cả dân tộc, đất nước của người đó.
Khi nhìn một người, dù người đó là người ta thương hay người ta không thương thì ta cũng đừng nhìn người đó với tư cách một cá nhân đơn độc, lẻ loi. Ta phải thấy trong người đó, sau lưng người đó là cả một dòng họ, một đất nước với tất cả những cái hay, cái tốt và cái yếu kém của họ. Nhìn như vậy là thấy được cái vô ngã trong người đó. Người ta thương ta phải nhìn như vậy mà người ta giận ta cũng phải nhìn như vậy. Nếu nhìn được sâu thì ta sẽ thấy rõ ràng là ta đang ở trong người đó và người đó cũng đang ở trong ta. Ví dụ như bông hoa này, ta nghĩ là ta đã biết bông hoa này rồi. Nhưng nhìn kỹ thì ta thấy trong bông hoa có đám mây, mặt trời và đại địa, v.v… Ta đã nhìn kỹ mãnh đất đã nuôi bông hoa hay chưa? Nếu nhìn kỹ ta sẽ thấy trong đất có xương của các loài động vật, những loài thực vật và cũng có thể có xương của ông bà tổ tiên mình và cả xương của mình. Có thể trong nhiều kiếp trước xương thịt của ta đã từng tiêu hoại thành đất. Nhìn bông hoa, không những ta thấy tổ tiên ta mà ta còn thấy ngay cả ta trong đó. Ta có trong hoa và hoa có trong ta. Ta đã dùng thực vật làm thức ăn, ta đã ăn trái, ăn lá và ăn cả hoa. Thấy được như vậy thì ta mới thật sự thấy được bông hoa, thấy được người kia, có nghĩa là thấy bằng tuệ giác vô ngã.
Vậy từ nay, khi gặp người thương hay người ta đang giận thì ta hãy nhìn họ với con mắt của niệm, định, tuệ, ta sẽ thấy cái thương ghét của ta được thay đổi. Ta sẽ được giải thoát nhờ tuệ giác vô ngã.
Hình hài là một cộng đồng
Trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi, ta phải quán chiếu để thấy hình hài ta là hình hài của tổ tiên và con cháu. Phải thấy rằng ta chính là một cọng đồng của cả hàng trăm tỷ các tế bào trong cơ thể đang cùng chung sống. Không chỉ là tế bào của con người mà còn là tế bào của hàng tỷ sinh vật đơn tế bào khác đang sống chung trong cơ thể, nhất là trong hệ thống tiêu hóa của ta có nhiều loài vi sinh rất cần thiết cho sự sống của cơ thể.
Mỗi khi nhìn vào một người đang ngồi trước mặt hoặc đang từ xa đi tới, ta cũng có thể quán chiếu để thấy được người đó không phải chỉ là một cá nhân, mà người đó đại diện cho cả một dòng họ, một đất nước và một dân tộc. Thấy được như thế thì ta mới thực sự thấy được người ấy, mới tiếp xúc được tự tính vô ngã của người ấy, mới thấy được những tài năng của người ấy, những tài năng mà tổ tiên người ấy đã trao truyền cho người ấy mà nhiều khi chính người ấy cũng không nhận diện được. Thấy được như thế ta mới có thể giúp cho người ấy vượt thoát khỏi mọi mặc cảm, trong đó có mặc cảm thua người, hơn người hoặc bằng người. Thực tập nhìn ta và nhìn người như thế, ta có cơ hội chứng đạt được chân lý vô thường và vô ngã. Vô thường và vô ngã không còn là những ý niệm để học hỏi nữa mà đã trở thành tuệ giác đích thực có thể giải phóng cho ta và cho người.
Về sự thực tập địa xúc (thiền lạy), đại chúng được nhắc nhở là mỗi khi lễ lạy ta không nên chỉ lạy xuống với tư cách một cá nhân mà nên lạy xuống như một dòng chảy có đầy đủ tổ tiên và con cháu của cả hai dòng tâm linh và huyết thống. Như vậy trong khi lạy mình tiếp xúc được tự tính vô ngã trong thân tâm mình. Khi đi cũng vậy, mình có thể quán chiếu là mình bước đi một lần với tất cả tổ tiên và con cháu tâm linh và huyết thống. Ta có thể đi bằng chân của Bụt, của Tổ, của ông bà cha mẹ và con cháu chúng ta. Ta có thể bước như thế nào để tất cả dòng họ đều được tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống, để tất cả được nuôi nấng và trị liệu trong từng bước chân. Sáng nào sau khi ngồi thiền, đại chúng cũng có thực tập địa xúc, sử dụng Sám Pháp Địa Xúc và lạy xuống trong tuệ giác vô ngã.
Trước khi đọc năm quán chúng ta nên chia sẻ thêm: Xin đại chúng nhớ rằng ngoài đời, mỗi khi ăn cơm người ta cũng tắt tivi. Vậy ở chùa, trong khi ăn cơm chúng ta cũng tắt luôn cái radio NST (non-stop thinking: suy nghĩ liên tục không ngừng).
Trong khi ăn mà suy nghĩ thì ta ăn tư duy của mình chứ không phải ăn cơm. Tư duy của ta thường là tà tư duy, ta suy nghĩ lung tung, trong kinh gọi là tán tâm tạp thoại. Tán tâm là tâm ý bị tán loạn, tạp thoại là nói chuyện tầm bậy.
Nhà ăn, tức “thực đường” trong chùa thường gọi Ngũ quán đường 五 觀 堂 có nghĩa là nơi mà trong đó người ta thực tập năm quán. Có thể nói năm quán mới của chúng ta có tiến bộ hơn so với năm quán của truyền thống. Trước khi ăn chúng ta đọc ngũ quán một lần, sau đó có thể là ta đánh mất năm quán khi ăn và ta bị tán tâm tạp thoại. Tuy không nói ra bên ngoài nhưng ta nói chuyện ở trong tâm (mental discourse, le discours mental). Chúng ta cũng nên nhắc lại năm quán trong truyền thống để cùng nhau làm mới lại:
1. Kế công đa thiểu, lượng bỉ lai xứ
Kế công đa thiểu là xét xem công phu làm ra cơm này nhiều hay ít.
Trong năm quán mới của chúng ta là: Thức ăn này là tặng phẩm của đất trời và công phu lao tác. Câu này không những theo đúng truyền thống mà hình ảnh trong đó lại còn đẹp hơn nữa, đó là hình ảnh “tặng phẩm của đất trời và công phu lao tác”.
Lượng bỉ lai xứ là suy nghĩ xem thức ăn này từ đâu tới. Thức ăn này tới từ trời đất, là tặng phẩm của đất Mẹ và cha Trời.
2. Thổn kỷ đức hạnh, toàn khuyết ứng cúng
Ứng cúng có nghĩa là có xứng đáng để được nhận thức ăn này hay không. Ta xem xét đức hạnh của ta có xứng đáng để thọ nhận thức ăn này hay không.
Trong năm quán mới thì nói văn vẻ hơn: Xin nguyện ăn trong chánh niệm để xứng đáng thọ nhận thức ăn này.
3. Phòng tâm ly quá, tham đẳng vi tôn
Quá là lầm lỗi. Giữ gìn tâm đừng để sa vào tật xấu, mà tật xấu thứ nhất là tham ăn. Trong năm quán mới là: Khi ăn xin nhớ nhận diện những tâm hành xấu, nhất là tật ăn uống không có chừng mực.
4. Chính sự lương dược, vị liệu hình khô
Trong khi ăn phải xem thức ăn như thuốc có công năng làm cho thân thể ta không ốm yếu gầy mòn.
Tôi thấy hơi tội nghiệp, ăn cơm mà cứ xem như uống thuốc thì trong khi ăn ta không thấy cơm ngon. Tôi nghĩ khi Bụt được vua Tần Bà Sa La hay vua Ba Tư Nặc cúng dường một bữa cơm thịnh soạn thì chắc là Bụt ăn cũng thấy ngon. Ngài có ca ngợi thức ăn của các vua nên ta biết là Bụt cũng biết ngon. Ngài ăn trong chánh niệm và Ngài cũng biết thưởng thức thức ăn.
Trong năm quán mới chúng ta đi xa hơn, ta cho phép mình biết được giá trị của thức ăn và biết thưởng thức thức ăn, miễn là ta đừng tham ăn. Ngon thì ta phải biết là ngon, dở thì ta phải biết là dở, tuy trên hình thức ta không được chê dở. Tôi biết các thầy Nam tông trong khi ăn không được khen ngon hay chê dở, nhưng trong bụng vẫn biết là ngon hay dở. Một lần tôi được mời ăn xoài với xôi, thấy ngon quá nên tôi nói: Ngon quá đi! Các thầy ở Thái Lan có thấy ngon thì cũng giữ trong bụng mà không nói ra.
5. Vị thành đạo nghiệp, ứng thọ thử thực
Vì muốn hoàn thành sự nghiệp tu học và giúp đời nên hôm nay mới tiếp nhận thức ăn này.
Trong năm quán mới là: Vì muốn xây dựng tăng thân và nuôi dưỡng tình huynh đệ nên chúng con xin thọ nhận thức ăn này.
Nhiều thầy và sư cô Làng Mai, vì tu tập theo pháp môn Làng Mai, dùng tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Anh nên không biết những câu chữ Hán này. Đây là cơ hội để quý vị biết ngày xưa người ta đọc năm quán như thế nào.
Trước năm quán truyền thống, vị duy na thường đọc thêm câu khai thị:
Phật chế tỳ kheo, thực tồn ngũ quán, tán tâm tạp thoại,tín thí nan tiêu! Đại chúng văn khánh thanh, các chánh niệm.
Hiện nay tại Huế ở Việt Nam hay bên Trung Quốc vẫn còn đọc câu khai thị trên.
Phật chế tỳ kheo, thực tồn ngũ quán: Phật đã thiết lập ra thể chế rằng vị tỳ kheo trong khi ăn phải duy trì năm phép quán. Thật ra sau khi đọc năm quán, ta ăn và ta không quán tiếp nữa. Chúng ta phải tìm phương pháp để duy trì năm phép quán trong suốt bữa ăn. Nếu không biết cách thì sau khi đọc xong năm quán ta quên mất, và ta lại tiếp tục vừa ăn vừa suy nghĩ, gọi là tán tâm tạp thoại.
Tán tâm tạp thoại: Ta để tâm phân tán và suy nghĩ lung tung, nghĩ thế này về người này, nghĩ thế kia về người kia rồi ta buồn giận, chán nản.
Tín thí nan tiêu tức là ăn như thế thì không tiêu được những vật mà thí chủ đem tới cúng dường.
Đại chúng văn khánh thanh, các chánh niệm: Xin đại chúng khi nghe tiếng khánh thì duy trì chánh niệm.
Khai thị xong, mọi người chắp tay lại để lắng nghe một người đọc năm quán hoặc mỗi người tự đọc thầm. Làng Mai chúng ta đi xa hơn, ta nói: Xin nguyện ăn như thế nào để có thể giảm thiểu những khổ đau của muôn loài trên trái đất, bảo hộ được hành tinh này và chuyển ngược lại quá trình thay đổi khí hậu thất thường.
Ta học được từ kinh Tử Nhục, tức kinh Bốn Loại Thức Ăn, là ta phải ăn như thế nào để nuôi dưỡng được lòng từ bi. Đó là một bước tiến của năm quán. Tất cả những cái hay của năm quán truyền thống đều được giữ lại trong năm quán mới, và trong năm quán mới có thêm vào những điều khác. Như vậy là có sự tiến bộ. Chúng ta có thể khai thị như thế này: Bụt và Tăng mời chúng ta ăn cơm trưa trong chánh niệm. Ta hãy để ý tới thức ăn và tăng thân mà đừng suy nghĩ vẩn vơ tới những chuyện quá khứ, tương lai, bên này, bên kia. Ta ăn cơm như thế nào để có thảnh thơi, an lạc và tình huynh đệ trong khi ăn. Đại chúng nghe tiếng chuông xin nhất tâm thực tập năm quán.
Khi ăn cơm chúng ta phải ăn như thế nào để có thảnh thơi, có tình huynh đệ, có hạnh phúc trong khi ăn. Muốn làm được như vậy thì chắc chắn ta phải chấm dứt sự nói năng và sự suy tư. Trong mùa An cư năm nay chúng ta lại thêm vào: Trong khi ăn chúng ta nên tắt cái radio NST (non-stop thinking) đi, đừng suy nghĩ nữa mà chỉ chú ý tới thức ăn. Ở Làng Mai chúng ta được dạy rất kỹ là trong khi ăn ta chỉ nên chú ý tới hai thứ: thức ăn và những người cùng ngồi ăn với mình.
1. Thức ăn
Mỗi khi gắp một miếng cà rốt hay một miếng đậu hủ lên, ta phải nhìn miếng cà rốt hay miếng đậu hủ đó trong một giây và thấy được đó là tặng phẩm của đất trời. Ta thấy trong đó có sương, tuyết, đất, nước, gió, ánh sáng mặt trời, v.v… Tất cả vũ trụ cùng có mặt để tạo ra miếng cà rốt cho chúng ta ăn. Chỉ cần một hay hai giây là ta có thể thấy được điều này, đó là tuệ. Có một chút niệm và định là ta có được tuệ. Đưa miếng cà rốt lên nhìn một chút, ta thấy được công phu của cả đất trời và công phu của người nấu, ta thấy được chân tướng của miếng cà rốt. Miếng cà rốt giống như một viên đại sứ mà đất trời đã gửi tới để nuôi mình. Thấy được điều đó lòng ta khởi lên một niềm biết ơn. Đưa miếng cà rốt vào miệng, ta tiếp xúc được với đất trời thay vì tiếp xúc với những suy nghĩ vẩn vơ và buồn giận. Để ý tới thức ăn rất quan trọng, nếu có chánh niệm thì ta sẽ thấy được cả vũ trụ trong một hạt gạo hay trong một hạt đậu phộng. Cây lúa hay cây đậu phộng mọc lên từ đất, chúng lấy những chất dinh dưỡng từ đất. Trong những chất dinh dưỡng đó có biết bao nhiêu hình hài đã bị tiêu hủy của những loài đã sống và đã chết. Có thể trong hạt gạo hay hạt đậu phộng đó có xương cốt của ông bà, cha mẹ ta. Bao nhiêu thế hệ đã chết và hình hài của họ đã tan rã. Lớp đất được làm bằng những chất hữu cơ và trong chất hữu cơ đó là hình hài tan rã của các loài như lá cây, sâu bọ, thú vật và con người. Có thể trong kiếp trước ta cũng đã ngồi và chết ở đó, xương cốt của ta cũng đã tan rã ở đó. Bây giờ ta đang ăn hạt gạo hay hạt đậu phộng cũng chính là ta đang ăn xương cốt của chính mình. Đó là cái thấy sâu sắc. Ăn như vậy thì ta có tuệ giác rất nhiều trong suốt bữa ăn. Ăn không phải cho có sức khỏe để tu mà ăn chính là tu. Đó là sự thực tập năm quán.
Ăn với lòng biết ơn thì thức ăn sẽ rất nuôi dưỡng. Ta ăn với lòng từ bi, nếu không có lòng từ bi thì cũng như ta ăn thịt con mình như trong kinh Tử Nhục đã nói. Kinh Tử Nhục là kinh nói về bốn loại thức ăn. Trong khi ăn ta dừng sự suy nghĩ để chú ý tới thức ăn. Một miếng đậu hủ, một miếng cà rốt, một hạt đậu phộng, một muỗng cơm, tất cả đều là đề tài của sự quán chiếu, đều là chủ đề của thiền, mà nếu tán tâm tạp thoại thì ta sẽ không thực tập được.
2. Tăng thân
Tăng thân là các anh, các chị, các em, các bạn đang ngồi ăn với ta. Nhờ phước đức nên bây giờ ta mới có được một gia đình tâm linh đầm ấm. Nếu ta không nhìn họ, ta không nhận diện sự có mặt quý giá của họ thì rất uổng vì mai mốt có thể mỗi người đi một ngả. Mai mốt thầy tịch, sư anh đi Hoa Kỳ, sư em đi Thái Lan, v.v… làm sao chúng ta còn ngồi với nhau được nữa? Vì vậy khi ngồi với nhau chúng ta để ý tới thức ăn và những người cùng ngồi ăn với mình. Thực tập như vậy làm phát khởi lòng biết ơn là những người khi đang còn sống và đang ngồi với mình. Ăn cơm như vậy thì chắc chắn ta sẽ có hạnh phúc.
Bốn loại thực phẩm
1. Đoàn thực (edible food)
Đoàn thực là những thức ăn đi vào bằng đường miệng.
2. Xúc thực (sense impression)
Xúc thực là thức ăn ta đưa vào bằng mắt, bằng mũi, bằng da và bằng ý tưởng. Ta ăn bằng sáu giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Xem tivi, đọc báo, đọc sách đều là xúc thực. Những chương trình tivi, những bài báo hay tiểu thuyết là những thức ăn có thể chứa đựng độc tố. Nếu ta không biết tự phòng hộ trong khi xem, nghe hay đọc những chương trình đó thì ta đều có thể đưa vào thân tâm ta những chất độc hại. Vì vậy xúc thực rất quan trọng, ta phải chọn những thức ăn lành. Ví dụ như khi sử dụng internet. Internet có thể là một nguồn thức ăn lành mạnh hữu ích, nhưng cũng có thể là một nguồn thức ăn độc hại. Ta phải có chánh niệm để phân biệt được những nguồn thức ăn lành mạnh và những nguồn thức ăn độc hại. Vào nhà sách ta chỉ mua những loại sách có thể cung cấp cho ta thức ăn tinh thần bổ dưỡng và lành mạnh, không chứa đựng những hận thù, bạo động và thèm khát. Ta chỉ xem những chương trình tivi không có hận thù, bạo động và thèm khát.
3. Tư niệm thực (volition)
Tư niệm thực là dự án, là mong muốn, là tâm nguyện, là lý tưởng của mình. Ta sống, ta có mặt trên đời này để làm gì? Mỗi người trong chúng ta đều có một tư niệm, một ước mơ, một hy vọng, một lý tưởng. Hy vọng, ước mơ, lý tưởng của ta có thể rất lành mạnh mà cũng có thể rất độc hại. Ví dụ như những người ăn trộm hay ăn cướp muốn làm giàu nhưng họ làm giàu bằng cách đi đốt làng đốt xóm. Thấy người ta có nhiều của cải thì họ tới ăn cướp mà không muốn tự mình làm ra. Ý muốn làm giàu đó là một loại tư niệm thực không lành mạnh.
Có những người muốn làm thầy giáo giỏi hay cô giáo giỏi để đưa một thế hệ trẻ đi lên. Đó là một loại tư niệm thực rất tốt. Ta muốn giúp cho trẻ em tiếp thu được những gì lành mạnh, từ ái để chúng có hạnh phúc. Ta muốn có một nền giáo dục giúp chuyển hóa được những bạo động, sợ hãi, hận thù trong giới trẻ. Ta muốn bảo hộ sinh môi, bảo hộ trái đất, để thì giờ giúp làm giảm thiểu sự ô nhiễm. Những ước muốn đó đều là tư niệm thực tốt.
Nếu ta ước vọng có thật nhiều tiền, thật nhiều danh vọng, nhiều sắc dục thì đó không phải là tư niệm thực tốt. Có những người chạy theo danh vọng, tiền tài, quyền hành, sắc dục và làm tiêu tán thân và tâm của họ.
4. Thức thực (consciousness)
Ít người hiểu đúng nghĩa của chữ thức thực, nhiều thầy đã giải thích một cách sai lạc từ thức thực này. Họ hiểu thức thực là thực thức, cho danh và sắc là thức ăn của thức, thức bám vào danh sắc để lớn lên. Ví dụ như sau khi chết ta đi đầu thai, thần thức của ta tìm một danh sắc (thai nhi) để bám vào rồi nương vào đó mà lớn lên. Hiểu như vậy là không đúng.
Thức thực có nghĩa là thức ăn, không phải thức ăn sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp ở ngoài mà chính là tâm thức. Tâm thức cá nhân và tâm thức cộng đồng. Tâm thức cộng đồng có thể rất độc hại và tâm thức cá nhân cũng có thể rất độc hại.
Ví dụ như ta tới với một đám người mà trong đó người ta có rất nhiều hận thù, tuyệt vọng. Khi những người có nhiều hận thù, tuyệt vọng ở với nhau thì họ tạo ra một nguồn năng lượng hận thù và bạo động tập thể rất ghê gớm. Gần họ ta cảm thấy năng lượng bạo động đó đang đi vào trong cơ thể và tâm hồn của ta. Có những khu phố có rất nhiều bạo động và hận thù. Thấy nhà cửa ở đó rẻ, ta tới thuê hay mua nhà ở đó thì ta lãnh đủ và con cháu ta cũng lãnh đủ, vì chung quanh, người ta suy tư và hành động rất bạo động và hận thù. Từ từ năng lượng bạo động và hận thù đó đi vào trong thân và tâm con cháu mình. Đó là tâm thức cộng đồng (collective consciousness).
Mạnh Tử là một nhà triết học Trung Quốc. Một hôm bà mẹ của Mạnh Tử thấy con mình chạy về nhà mũi chảy lòng thòng, áo quần rách rưới dơ bẩn. Bà buồn chán vì bà biết nó vừa đánh nhau với bọn con nít thất học trong xóm. Trong xóm chỉ có lò sát sinh, bọn con nít không được đi học.
Vì vậy thay vì đánh mắng con thì bà suy nghĩ để tìm cách dời nhà đi nơi khác. Bà làm việc khuya hơn, dệt vải nhiều hơn để có thêm tiền và cuối cùng bà đã quyết định đi định cư ở một làng mà nơi đó con nít được đi học, được ăn mặc sạch sẽ và môi trường lành mạnh hơn. Nhờ vậy Mạnh Tử đã lớn lên và trở thành một nhà triết học.
Tới Làng Mai chúng ta thấy thầy nào, sư cô nào, Phật tử nào cũng thực tập chánh niệm, cũng học cách phát khởi tâm từ bi. Ta thấy năng lượng tập thể ở Làng Mai lành và ta được nuôi dưỡng bởi năng lượng lành mạnh đó. Đó là thức thực tốt. Ta phải chọn môi trường có năng lượng tập thể tốt để ở. Nếu khu phố ta đang ở có quá nhiều bạo động, hận thù thì ta phải tìm cách rời khỏi nơi đó càng sớm càng tốt. Ta phải tìm một khu phố nào mà người ở đó sống thảnh thơi, nhẹ nhàng hơn để ta có thể thừa hưởng được những nguồn thức thực lành mạnh.
Đó là tâm thức cộng đồng ở bên ngoài, còn bên trong tâm thức của ta cũng có những chất lành mạnh và những chất độc hại. Trong khi ăn cơm, nếu ta suy nghĩ tán tâm tạp thoại thì ta có thể ăn những độc hại đi ra từ trong tâm của ta. Trong giấc mơ ta thấy những chuyện hoảng sợ, đau thương, đen tối thì ta cũng đang ăn những chất liệu của tiềm thức. Theo Bụt dạy thì trong tâm thức của ta có tất cả, có Tịnh độ, có Thiên đường và cũng có địa ngục, quỷ đói. Nếu ta không biết cách thực tập thì nguồn thực phẩm địa ngục, quỷ đói sẽ trào lên. Ở Newtown bên Mỹ, anh chàng Adam hôm đó nổi khùng lên đã giết mẹ rồi tới trường học giết luôn 20 người. Lúc đó địa ngục trong anh đã trào lên, vì anh đã từng ăn chất liệu của địa ngục và ngạ quỷ. Khi địa ngục, ngạ quỷ trào lên thì anh trở thành người địa ngục, người ngạ quỷ. Những chất liệu của tình thương, của hiểu biết lặng mất nên anh đã cầm súng giết chết cả mẹ mình, giết luôn những thầy giáo và những trẻ con khác. Địa ngục hay thiên đường không nằm ở ngoài ta mà nằm ngay trong tâm ta.
Vì vậy ta phải cẩn thận chọn lựa, ta phải thực tập chánh tư duy, thực tập chánh niệm để đừng tiêu thụ những thức ăn độc hại trong tâm thức. Ta có những kinh nghiệm đau buồn, ta có thể có những khổ đau trong quá khứ, ta có thể bị lạm dụng tình dục, bị đánh đập hành hạ. Những khổ đau đen tối đó vẫn còn trong tiềm thức ta và ban đêm thỉnh thoảng có những giấc mơ trồi dậy. Những kinh nghiệm của ngày xưa trở về giống như ta đang nhai lại một lần nữa. Tư duy của ta thường kéo những chất liệu không lành mạnh trong tâm thức ra để nhai lại. Có những đau khổ ta tiếp thu trong tiềm thức rồi ta nhả ra để nhai lại. Ta giống như những loài vật nhai lại. Hàng ngày, trong khi thức cũng như ngủ, ta đều đang tiêu thụ những thức ăn nhai lại của mình. Trong tiềm thức của ta có những cuốn phim đen tối, khổ đau của quá khứ. Mỗi khi rảnh ta chui vào tiềm thức, chiếu lại những cuốn phim đó để sống lại những giây phút đen tối, những kinh nghiệm khổ đau của quá khứ. Chúng ta bị giam giữ bởi quá khứ.
Trong hầm tối của quá khứ có một số phim của những kinh nghiệm khổ đau có thể do tổ tiên, cha ông truyền lại. Khi rảnh rỗi, khi mơ màng, ta đi xuống hầm tối chiếu những cuốn phim đó để xem lại. Những lúc như vậy ta đang tiêu thụ những thức thực không lành mạnh.
Bụt dạy chúng ta thực tập một loại tác ý 作 意 (attention), manaskāra. Chúng ta chỉ chú ý tới những gì giúp cho ta mở ra những khung trời sáng và lành. Ví dụ như khi nghe một tiếng chuông, ta dừng mọi sinh hoạt lại, ta ngưng suy nghĩ, chỉ để ý tới tiếng chuông và hơi thở vào, hơi thở ra. Nghe một tiếng chuông, ta có cơ hội trở về để tiếp xúc với hình hài của mình, ta có cơ hội thở vào và thở ra ba lần để làm lắng dịu thân tâm và ta sống được mấy phút thanh tịnh và an lạc. Để ý tới những đối tượng tốt gọi là như lý tác ý 如 理 作 意, tiếng Phạn là yoniso-manaskāra. Vì vậy trong một thiền viện người ta sắp đặt như thế nào để có tiếng chuông, tiếng khánh, lời kinh, mái chùa cong, bông hoa nở, tất cả cái gì chung quanh ta cũng đều có khả năng giúp ta tiếp xúc được với những thực phẩm lành mạnh trong ta và quanh ta. Nếu là một kiến trúc sư giỏi thì ta sẽ xây một cái nhà, tạo ra một khung cảnh như thế nào để giúp người ta mỗi khi nghe hay thấy bất cứ cái gì cũng đều tiếp xúc được với cái lành mạnh trong tâm ý của họ. Đó là như lý tác ý.
Khi nghe tiếng chuông, có những người chú ý tới tiếng chuông, tới hơi thở và có được những phút giây bình an. Nhưng cũng có những người không lắng nghe tiếng chuông mà chỉ nghĩ tới những buồn khổ, bực bội của mình. Đó không phải là như lý tác ý. Hằng ngày ta tiếp xúc với những tiêu cực có rất nhiều trong thế gian. Ta xem phim trên Tivi, mục đích của ta là xem phim nhưng cứ nửa tiếng hay 15 phút là phim dừng lại để chiếu quảng cáo, những hình ảnh quảng cáo đó đã đánh động tới những thèm khát, những ước muốn của mình:
Anh mua chiếc xe này thì cuộc đời anh lên hương!
Anh mua loại nước hoa đó thì người ta sẽ bu vào anh như ruồi bu vào mật ong!
Quảng cáo thường làm ta chú ý tới những cái tiêu cực. Khi đi chợ ta phải trang bị chánh niệm thật kỹ vì bước vào chợ thì ta rất dễ bị lôi kéo bởi những thứ mà ta không có ý định muốn mua chúng. Như lý tác ý là phương pháp bảo hộ cho ta để ta đừng chú tâm tới những cái không tốt.
Nó có thể đưa ta đi rất xa, đi tới chỗ tiêu thụ không lành mạnh. Đó là phi như lý tác ý 非 如 理作 意 , ayoniso-manaskāra. Sự thực tập ăn cơm không suy nghĩ hay đi thiền không suy nghĩ có dính líu tới nguồn thực phẩm thứ tư. Chúng ta ngồi suy tư rồi để ý tới những chủ đề đưa ta tiếp xúc với những cái tiêu cực làm cho ta bệnh, trong đó có sự đam mê, thèm khát, hận thù, bạo động, tuyệt vọng. Những thứ đó là phi như lý tác ý. Sống trong một hoàn cảnh lành mạnh, ta có cơ hội thực tập như lý tác ý. Do đó ta phải xây dựng một trung tâm tu học, nơi giúp ta có thể dễ dàng thực tập như lý tác ý.
Thấy một người bạn đang trầm ngâm, đang bị kéo theo một tư duy nào đó, nét mặt lo lắng, buồn khổ thì ta biết người đó đang phi như lý tác ý, đang bị một tư tưởng hay một cảm thọ khổ đau, buồn chán trấn ngự. Ta phải tới giúp. Ta vỗ vai người đó nói: Anh đang suy nghĩ gì vậy? Anh có thấy trời đang nắng đẹp hay không? Anh có biết mùa Xuân đang tới rồi hay không?
Ta kéo người bạn ra khỏi thế giới của sự tiêu thụ những thực phẩm không lành mạnh. Ta đừng để bạn ngồi đó nhai lại những kỷ niệm tiêu cực, đau khổ của chính mình. “Ăn cơm phải có canh, tu hành phải có bạn”, có bạn thì tu hành dễ hơn, có tăng thân sẽ giúp ta tránh khỏi tiêu thụ những thực phẩm không lành mạnh.
Bây giờ ta hiểu được tại sao trong khi ăn cơm hay trong khi đi thiền ta không nên tán tâm tạp thoại. Chúng ta nâng đỡ nhau để có thể tiếp xúc với những gì lành mạnh mà thôi.
Trước giờ ăn trưa, đại chúng cũng được nhắc nhở là trong khi thọ trai chúng ta đừng nên suy nghĩ mà chỉ chú tâm tới thức ăn và tăng thân đang có mặt cho mình. Đây là lời mở đầu cho năm quán: “Ngoài đời, thiên hạ cũng biết tắt máy truyền hình mỗi khi ăn cơm. Xin mọi người trong đại chúng cũng tắt đài phát thanh NST (Non- Stop Thinking, suy nghĩ liên miên không ngừng) và có mặt thực sự trong khi ăn. Chúng ta ăn cơm như thế nào để có được sự thảnh thơi, có tình huynh đệ và có hạnh phúc. Ta quán chiếu thực phẩm ta đang ăn là tặng phẩm của đất trời và công phu lao tác. Ta ăn để nuôi sống tổ tiên và con cháu trong ta. Ta ăn cho tổ tiên, cho bố mẹ, cho con cháu, cho Bụt và cho chư Tổ.
Trong buổi lễ Đối thú an cư, chúng ta đã đồng ý với nhau rằng sẽ thực tập nghiêm chỉnh thiền đi trong mùa An cư này. Chúng ta cũng biết rằng nếu ta thực tập được 100% thì rất dễ, còn nếu ta chỉ thực tập nửa vời thì sẽ không thành công. Thực tập được thành công thiền đi thì chúng ta sẽ thực tập được thành công trong những pháp môn khác.
Xuất sĩ cũng như cư sĩ, chúng ta đã quyết định phải thực tập thiền đi 100%, nghĩa là mỗi bước chân phải đi trong chánh niệm. Muốn có chánh niệm chúng ta phải ngưng sự suy nghĩ, bởi tư duy làm chúng ta bay bổng lên không trung, hay kéo ta đi về quá khứ hoặc hướng tới tương lai. Tư duy tuy đôi khi cũng hay nhưng thường thì không có lợi. Nó kéo ta đi về hướng thất niệm, làm tâm trí ta bị phân tán và suy nghĩ lung tung. Cách hay nhất để làm ngưng lại sự suy nghĩ là cột tâm vào hơi thở, dùng hơi thở làm đối tượng duy nhất của tâm, gọi là tâm nhất điểm. Tâm nhất điểm là định. Tâm ta chỉ để ý tới hơi thở và ta phối hợp hơi thở với bước chân. Hơi thở vào kết hợp với một, hai hay ba bước chân, hơi thở ra kết hợp với một, hai, ba hay bốn bước. Khi ta cột sự chú tâm vào hơi thở và bước chân thì tự nhiên tư duy ta sẽ ngưng lại. Tùy theo ý ta muốn mà ta có thể an trú trong trạng thái “không tư duy” đó trong thời gian mười, mười lăm hay hai mươi phút hay hơn nữa.
Mỗi khi đi ta không nói chuyện cũng không suy nghĩ. Không nói chuyện trong khi đi là điều chúng ta đã thực tập mấy chục năm nay, vì nếu nói chuyện trong khi đi thì ta không thể để tâm vào bước chân và hơi thở. Và nếu suy nghĩ thì ta cũng không có cơ hội để chú tâm vào bước chân và hơi thở. Sự suy nghĩ đã mang chúng ta ra khỏi giây phút hiện tại. Không phải trước đây chúng ta không thực tập “không suy nghĩ trong khi đi”, nhưng năm nay chúng ta sẽ chú trọng nhiều tới phần “không suy nghĩ trong khi đi thiền”. Nói thẳng ra là: Khi đi thiền hành thì thầy không được suy nghĩ, sư chú không được suy nghĩ.
Phái thiền Tào Động (Soto Zen) nói rằng: Bí quyết của thiền là không suy nghĩ (phi tư lương). Phi tư lương là không suy nghĩ. Không phải thiền là cấm ta tư duy, nhưng phần lớn các tư duy của ta không phải là chánh tư duy mà chỉ là những tư duy vòng quanh không đưa ta đi tới đâu. Nếu là chánh tư duy thì không sao, nhưng nếu không phải chánh tư duy thì ta bị kéo theo dòng tư tưởng và ta không để tâm được vào hơi thở và bước chân. Vì vậy nhắc nhau đừng suy nghĩ trong khi đi là một việc rất quan trọng. Trong khi đi ta để ý tới bước chân và hơi thở để tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống trong hình hài ta và chung quanh ta để được nuôi dưỡng và trị liệu.
Mỗi bước chân là nuôi dưỡng
Mỗi bước chân là trị liệu
Mỗi bước chân là phép lạ
Mỗi bước chân là thảnh thơi
Chữ phép lạ (thần thông) là do tổ Lâm Tế đặt ra, Ngài nói bước đi có chánh niệm trên hành tinh này đã là một phép thần thông. Ta biết mình đang còn sống, hai chân mình vẫn còn khỏe và đang đi những bước thanh thản trên hành tinh này là đang thực hiện một phép thần thông. Đó là địa hành thần thông (the miracle is to walk on earth). Thảnh thơi là giải thoát, không bị ràng buộc. Nếu bước chân có nuôi dưỡng, có trị liệu, có phép lạ, có thảnh thơi thì bước chân ấy đem lại rất nhiều hạnh phúc. Nhìn một người đang đi ở xóm Thượng, xóm Hạ hay ở xóm Mới ta biết người đó có hạnh phúc hay không. Không cần phải chứng đạo, là một người thường ta cũng có thể thấy người đó có để ý tới bước chân, hơi thở và người đó có an lạc, thích thú khi bước đi hay không. Ta có thể nhận ra rất dễ dàng. Trong khuôn viên của chùa, một người đi có chánh niệm, thảnh thơi, an lạc là một tiếng chuông nhắc nhở ta phải thực tập đi như vậy. Sự có mặt của một người biết cách đi và đi trong hạnh phúc rất có lợi cho tăng thân. Ta đi như một người giải thoát, một vị Bụt, một vị Bồ tát.
Ta phải đi có chánh niệm, ta phải có hạnh phúc trong từng bước chân thì ta mới có thể đóng góp phẩm chất an lạc và hạnh phúc của ta cho tăng thân. Thấy người kia đi hấp tấp, không có chánh niệm, đó cũng là một tiếng chuông chánh niệm cho mình. Nếu ta đi đúng và những người khác cũng đi đúng thì người kia sẽ thay đổi cách đi trong một vài ngày. Người kia sẽ đi lại một cách có chánh niệm và có hạnh phúc. Có thể hôm mới tới cô ta không đi được như thế, ngày thứ hai cô cũng chưa đi được. Nhưng thấy các thầy, các sư cô, các đạo hữu khác đi thảnh thơi như vậy thì cô giật mình: Mình tới đây chính là để thực tập những bước chân an lạc, hạnh phúc như thế. Cô ấy thay đổi được là nhờ ta đã thay đổi trước. Khi thực tập thiền đi như một tăng thân, người nào cũng có được an lạc, hạnh phúc thì chúng ta tạo ra được một năng lượng tập thể, năng lượng của niệm, định và tuệ, năng lượng của an và lạc. Năng lượng tập thể đó nuôi dưỡng tất cả mọi người trong tăng thân. Khi 500 người hay 1000 người cùng đi như vậy thì năng lượng của niệm, của định, của lạc và an rất hùng hậu. Năng lượng đó nuôi dưỡng và chữa trị được cho rất nhiều người.
Vậy trong khi đi ta hãy ngưng suy nghĩ và nói năng để có thể chú tâm vào hơi thở và bước chân. Ta phối hợp hơi thở và bước chân, đi như thế nào để mỗi bước chân mang lại sự nuôi dưỡng, nuôi dưỡng bởi những mầu nhiệm của sự sống đang có mặt trong ta và chung quanh ta như khí trời, cây cỏ,v.v… Khi được nuôi dưỡng thì ta cũng được trị liệu. Sự trị liệu xảy ra khi ta biết buông thư, ta để cho những mầu nhiệm của sự sống thấm vào trong cơ thể và trong tâm hồn của ta. Có những người chỉ đi thiền hành mà trị được bệnh của họ. Mỗi bước chân giúp ta tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống để ta có thể trị liệu, nuôi dưỡng và chế tác được hỷ và lạc. Đó là phương pháp đi của Làng Mai. Đi được như thế ở Làng Mai thì khi trở về thành phố ta cũng đi được như vậy. Ta mang Làng Mai theo bất cứ nơi nào ta tới.
Trong thiền phái Tào Động có câu: Tư duy cái mà ta không tư duy được thì làm sao mà tư duy? Tư lương cá bất tư lương để, bất tư lương để như hà tư lương? Phi tư lương thị thiền chi yếu dã. How can you conceive of something that cannot be conceived?
Not thinking, not conceiving is the secret of meditation. Tư là tư duy, tư lương (hay tư lượng) là đo lường. Thực tại không thể nắm được bằng tư duy. Trong khi đi chúng ta phải thực tập phi tư lương 非 思 量 . Ta cột tâm vào hơi thở, vào bước chân. Đó là niệm và định. Niệm là nhớ hơi thở, nhớ bước chân. Định là ở với hơi thở, ở với bước chân. Có niệm và định thì ta có được tuệ giác là ta đang còn sống, ta đang đi trên đất Mẹ mầu nhiệm. Mỗi bước chân có thể có hỷ, có lạc và tự do, đó là thảnh thơi. Chữ thảnh thơi (moksa, vimukti) có nghĩa là tự do (freedom), là không bị ràng buộc, lôi kéo hay đè ép. Có thảnh thơi thì ta mới có hạnh phúc.
Các sư cô xóm Mới báo cáo rằng từ khi bắt đầu áp dụng phương pháp đi không nói 100% thì năng lượng trong đại chúng lên rất cao, sự thanh tịnh an vui tăng tiến rất nhiều. Các sư cô nói thực tập 100% dễ hơn thực tập nửa chừng. Mỗi sáng sau khi công phu xong, chúng ta đọc lên lời nhắc nhở như sau bằng tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Việt: “Xin đại chúng hãy ý thức đất Mẹ luôn có mặt và đang nâng đỡ từng bước chân của chúng ta. Chúng ta hãy nên có mặt một trăm phần trăm trong từng bước đi của mình, để hết tâm ý trong phút giây hiện tại, khi đi thì không nói chuyện và dừng suy nghĩ. Nếu cần trao đổi hoặc lắng nghe thì nên tập dừng lại. Cảm ơn đại chúng cùng nâng đỡ trong sự thực tập chung này.” Thực tập được như vậy, chúng ta sẽ đem lại rất nhiều hạnh phúc cho mình và cho đại chúng. Chúng ta đang thực tập địa hành thần thông.
Thiền là chấm dứt sự tư duy
Trong khi ngồi thiền hay đi thiền ta nên chấm dứt sự suy tư, vì ta thường tư duy trong trạng thái tâm tán loạn (dispersion). Tư duy đó kéo ta ra khỏi giây phút hiện tại, đưa ta đi về quá khứ hay đi tới tương lai, tạo ra sự lo lắng sợ hãi, làm cho ta không có cơ hội sống được những giây phút mầu nhiệm của sự sống. Khi ngồi thiền hay đi thiền ta nên tập chấm dứt tư duy, dù cho tư duy đó là tà tư duy hay chánh tư duy. Phải tập chấm dứt tà tư duy thì ta mới có thể chế tác chánh tư duy. Vì vậy khi đi thiền một mình hay đi với đại chúng ta phải tập làm sao để không những chấm dứt sự nói chuyện mà còn chấm dứt luôn sự suy tư. Nếu ngưng nói năng nhưng cứ suy tư liên tục thì ta cũng không thật sự có mặt. Chấm dứt nói năng đã đành mà ta cũng phải chấm dứt luôn tư duy, không tầm, không từ.
Triết gia Pháp René Descartes rất hào hứng khi tìm ra được một sự thật và ông cho đó là một công thức toán học: “Je pense, donc je suis” – Tôi tư duy tức tôi có mặt. Nhìn cho kỹ thì ta thấy câu này không đúng lắm, vì khi tư duy thì ta bị tư duy kéo về quá khứ hay kéo tới tương lai, ta không thật sự có mặt trong giây phút hiện tại. Descartes nghĩ rằng hễ có sự tư duy đang xảy ra thì phải có chủ thể tư duy, cái này có nên cái kia phải có, tức là có một cái tôi, có một cái ngã. Đây là một điều ngược lại với đạo Bụt. Đạo Bụt dạy: “Có tư duy nhưng không có người tư duy”. There is thought, but there is no thinker.
Ngày xưa tôi có thấy một bức hí họa vẽ ông Descartes đang đưa một ngón tay lên và đọc câu thần chú của ông: “Je pense, donc je suis”. Phía sau ông có một con ngựa ngẩng đầu lên hỏi: “Ông là gì?” (you are what?) Câu trả lời rất rõ: “Tôi chính là tư duy”. Nếu tư duy đó viển vông đi vòng vòng thì ta là sự viển vông. Trong khi ngồi thiền ta đi vòng vòng, trong khi đi tới sở làm ta cũng đi vòng vòng. Muốn thật sự có mặt thì trước hết ta phải tập ngừng tư duy. Theo thiền phái Tào Động thì tinh túy của thiền là không tư duy. Phi tư lương thị thiền chi yếu dã. 非 思 量 是 禪 之 要 也 . Đi thiền như vậy là chúng ta đi vào nhị thiền, không còn tư duy mà chỉ còn hơi thở và bước chân. Ngồi thiền như vậy thì ta chỉ còn hơi thở mà thôi. Nếu ta tư duy liên tục trong đầu thì ta không tu được, giống như có một đài phát thanh đang luôn luôn phát sóng hay như có một tổ ong đang bay vù vù suốt ngày đêm. Đó là tà tư duy nên ta phải tìm nút bấm tắt nó đi. Nút bấm đó là hơi thở, là bước chân. Khi ta để hết tâm vào hơi thở và bước chân thì tự nhiên tư duy dừng lại. Tuy ta có thể đi xa hơn trong khi ngồi thiền nhưng trước tiên là ta phải ngưng lại sự tư duy.
Ta phải nhớ trong khi đi thiền không những ta phải chấm dứt sự nói năng bên ngoài mà ta còn phải chấm dứt sự nói năng bên trong (discour mental) và bắt đầu tiếp xúc với những mầu nhiệm của vũ trụ. Tới Làng Mai thực tập một tuần lễ, ta phải sử dụng thời giờ một cách khéo léo. Mỗi bước chân phải tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống để nuôi dưỡng, trị liệu cho mình và để đạt tới tuệ. Chúng ta thường nghĩ đạt tới tuệ giác là nhờ tư duy, nhưng phần lớn những tư duy của ta là tà tư duy. Ta phải dùng sự thông minh của mình để thực tập. Sụ thực tập thiền đi rất hay. Tôi đã tạo ra những phương pháp để tự thực tập cho riêng mình như:
Thở vào tôi đi ba bước và nói thầm: Mỗi bước chân.
Thở ra đi ba bước tôi nói thầm: Là phép lạ.
Đây không phải là tư duy mà là những câu thiền ngữ để nhắc mình trở lại với giây phút hiện tại. Ta phải thấy được mỗi bước chân là phép lạ vì ta còn sống đây, ta còn đủ chân để đi và còn hai lá phổi để thở. Đó là thần thông, thần thông là đi trên mặt đất. Ý thức rằng mình đang còn sống và đang bước đi trên hành tinh xinh đẹp này thì đó đã là một sự giác ngộ, vì hầu hết những người đi trên mặt đất này đều đi như bị ma đuổi. Người ta đi trong u mê, quên lãng, đi trong thất niệm; còn ta đi trong tỉnh thức, trong giác ngộ. Ta đang tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống, ta đang thực hiện thần thông. Chỉ cần nhớ là ta đang còn sống đây, ta đang có mặt thật sự và đang bước những bước chân thảnh thơi, an lạc, đó đã là một phép lạ. Ánh nắng đó rất đẹp, sương mù kia rất đẹp và ta đang được tiếp xúc với ánh nắng, với sương mù. Tư duy làm cho ta mất tất cả, ngưng tư duy thì tự nhiên tất cả những mầu nhiệm đó đều là của ta.
Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta không được quyền suy nghĩ. Một sư cô có hỏi tôi: “Con có nhiều chuyện quá mà thầy không cho con suy nghĩ thì làm sao con giải quyết được những vấn đề của con?” Theo phương pháp thiền thì chánh tư duy mới có ích lợi và đem lại kết quả tốt. Thường thì hơn 90% tư duy của chúng ta là tà tư duy. Nó chỉ đưa ta đi vòng vòng, càng tư duy thì ta càng bị rối như tơ vò. Tư duy như vậy không giúp ta giải quyết được vấn đề. Ta cần phải có niệm và định. Nếu dùng tà tư duy thì ta sẽ khó giải quyết được vấn đề. Vì vậy ta nên giao phó cho tàng thức giúp ta tìm ra giải pháp. Giống như khi ta gieo hạt vào trong đất, gieo hạt xong ta tưới nước, ủ rơm và chờ cho hạt giống nảy mầm. Trong thiền gọi đó là công án. Ta chôn công án (câu hỏi) vào trong đất của tàng thức. Ý thức không phải là đất, chính tàng thức (store consciousness) mới là đất. Gieo xong thì ta phải đợi, vì trong khi ta ngủ, ta đi hay trong khi ta làm việc thì tàng thức làm việc và một lúc nào đó tuệ giác sẽ bừng lên. Ta không phải suy tư mà vẫn có thể giải quyết được vấn đề, ta không nương tựa vào ý thức mà nương tựa vào tàng thức của mình. Phương pháp thiền là giao phó những vấn nạn cho tàng thức và có niềm tin nơi nó. Ta dùng niệm và định để tưới tẩm nó, có thể sau một hay hai ngày thì hạt giống sẽ nảy mầm, đó gọi là giác ngộ tức là thấy được.
Thiền duyệt vi thực
Tôi thấy khi thở ra thì số bước chân nhiều hơn khi thở vào nên thở vào tôi bước ba bước và thở ra tôi bước năm bước:
Mỗi bước chân
Là phép lạ / phép lạ
Đi ba, bốn lần như vậy tôi thấy rõ ràng là mình đang làm phép lạ. Mình thực tập được “địa hành thần thông” như tổ Lâm Tế đã nói. Ta có thể làm phép thần thông nếu ta thấy mình có một hình hài và ta đang bước những bước chân tỉnh thức, tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống. Ta cũng có thể sử dụng câu khác:
Mỗi bước chân
Là nuôi dưỡng / nuôi dưỡng
Tất cả những mầu nhiệm như không khí trong lành, ánh nắng mặt trời, cây cối xanh tươi đều có tác dụng nuôi dưỡng; còn ta thì đang bị bệnh không ít thì nhiều. Cái mà ta đang tìm cầu là làm thế nào để hết bệnh, bệnh tâm cũng như bệnh thân. Vì vậy đi thiền là một phương pháp trị bệnh rất hay. Muốn được trị liệu thì ta phải được nuôi dưỡng, nhưng làm sao có thể được trị liệu khi những yếu tố nuôi dưỡng đang có mặt đó mà ta không tiếp xúc được? Mỗi bước chân ta phải tiếp xúc được với những mầu nhiệm của vũ trụ để được nuôi dưỡng. Khi ta cảm thấy mỗi bước chân có sự nuôi dưỡng thì sự trị liệu cũng đang xảy ra.
Mỗi bước chân
Là trị liệu / trị liệu
Trong khi đi thiền thì ta phải có sự nuôi dưỡng và trị liệu, vì vậy nếu ta nói chuyện hay tư duy thì sự nuôi dưỡng và trị liệu sẽ không thể xảy ra. Từ cư xá tới thiền đường chúng ta phải đi như thế nào để mỗi bước chân là phép lạ, là hạnh phúc, là nuôi dưỡng và trị liệu.
Mỗi bước chân
Là thảnh thơi / thảnh thơi
Người tu phải có thảnh thơi, nếu còn nhiều vướng bận thì không phải là người tu. Trong khi đi chúng ta phải có tự do thật sự. Có thảnh thơi chúng ta mới tiếp xúc được những mầu nhiệm của sự sống, và tiếp xúc được thì ta được nuôi dưỡng và trị liệu. Chúng ta có thể đặt ra những câu thiền ngữ khác, ví dụ như trong kinh có rất nhiều câu hay:
Mỗi bước chân
Đi vào Tịnh độ / Tịnh độ
Mỗi cái nhìn
Thấy được pháp thân / pháp thân
Khi sáu căn
Tiếp xúc sáu trần / sáu trần
Đem ý thức
Tinh chuyên phòng hộ / phòng hộ
Tất cả các kinh đều có thể đem ra sử dụng trong khi đi thiền. Khi ngồi thiền, thay vì dùng chữ “mỗi bước chân” thì ta nói “mỗi hơi thở”:
Mỗi hơi thở
Là phép lạ / phép lạ
Ta đang còn sống, ta còn thở vào thở ra là một điều mầu nhiệm. Đến lúc thở xong hơi thở cuối cùng thì dù có muốn ta cũng không thể thở thêm được một hơi nào nữa.
Mỗi hơi thở
Là nuôi dưỡng / nuôi dưỡng
Mỗi hơi thở
Là trị liệu / trị liệu
Mỗi hơi thở
Là thảnh thơi / thảnh thơi
Trong khi ngồi thiền ta điều phục được hơi thở, điều phục được thân và tâm thì ta bắt đầu có thiền duyệt, tức là niềm vui của thiền định. Pháp lạc là thức ăn của người tu thiền. Thiền duyệt vi thực có nghĩa là hạnh phúc tạo ra trong khi thực tập thiền, thiền duyệt là thức ăn hằng ngày của ta. Thức ăn đó nuôi dưỡng và trị liệu. Nếu các sư cô, sư chú hay các vị cư sĩ đặt ra những câu thiền ngữ để thực tập mà thành công thì nên đem ra chia sẻ với đại chúng và chúng ta sẽ cho những câu đó vào sách Nhật Tụng Thiền Môn để kho tàng tư liệu thực tập của chúng ta ngày càng phong phú hơn. Mỗi người có quyền viết ra những bài thi kệ mới để thực tập. Ta phải làm thế nào để những buổi đi thiền không bị uổng phí. Những buổi đi thiền hay ngồi thiền đều cho ta sự nuôi dưỡng, trị liệu và thảnh thơi. Nếu ta thật sự có thảnh thơi, nuôi dưỡng và trị liệu thì ta sẽ không buồn ngủ nữa mà ta sẽ có nhiều hứng thú trong khi thực tập thiền ngồi và thiền đi.
Trở về giây phút hiện tại
Trong chúng ta có những người bị ràng buộc bởi quá khứ. Họ không thể quên được quá khứ. Họ có những đau buồn trong quá khứ và thường trở về quá khứ để nhai lại những đau buồn đó mà không thoát ra được. Họ không có thảnh thơi, không có tự do. Ví dụ có một thiếu nữ bị hãm hiếp trong thời thơ ấu, nỗi đau khổ đó còn hằn trong thân tâm của cô. Hằng ngày cô không có khả năng sống trong giây phút hiện tại. Cô không thấy được vẻ đẹp của trời xanh mây trắng, không thấy được hoa nở, không nghe được tiếng chim hót và tiếng thông reo, cô đang bị quá khứ trấn ngự. Muốn đừng bị quá khứ trấn ngự thì cô phải phá bỏ ngục tù quá khứ và trở về với giây phút hiện tại. Cô có thể nhờ một người khác nhắc mình rằng chuyện bị hãm hiếp chỉ xảy ra trong quá khứ, bây giờ không còn nữa và cô đang có an ninh. Cô phải tự nhắc mình: Bây giờ không có chuyện đó nữa, nó đã là quá khứ. Nhưng vì quá khứ đó giống như một cuốn phim đang được chiếu lại liên tiếp dưới tiềm thức và mình cứ chui vào cái vùng đen tối ấy của tiềm thức để xem cuốn phim và để đau khổ rồi khóc. Đó không phải là sự thật đang xảy ra, đó chỉ là những cuốn phim. Trong khi ấy thì hiện tại là sự thật. Mây bạc, trăng trong, chim hót, thông reo, hoa nở đều là những mầu nhiệm đang có thật. Ta không có khả năng sống với những sự thật đó mà cứ chui vào trong hầm tối để coi lại cuốn phim, coi đi coi lại mãi. Vì vậy ta không có thảnh thơi, không có tự do.
Khi thở một hơi dài chừng ba hay bốn giây, ta đặt hết sự chú tâm vào trong hơi thở thì trong thời gian ba hay bốn giây đó ta buông được quá khứ và tự do liền có mặt. Tâm nhất điểm (one pointed mind) có nghĩa là tâm chỉ có một đối tượng là hơi thở. Nếu trong hơi thở của ta có niệm và định thì trong bốn giây đó ta có được tự do.
Tương lai cũng vậy, nó cũng ràng buộc ta. Ta không biết ngày mai ra sao? Có ai để cho ta nương tựa không? Cái gì sẽ xảy ra cho ta? Ta buồn khổ cho tương lai, tương lai trở thành ngục tù cho dù nó chưa tới và ta cứ sợ hãi tương lai. Quá khứ hay tương lai đều là những sợi dây ràng buộc. Khi ta bắt đầu thở và chỉ chú tâm vào hơi thở thì trong một, hai, ba hay bốn giây đó ta buông hết quá khứ. Ta chỉ ở trong giây phút hiện tại, vì hơi thở vào đó đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Nếu có được tự do trong bốn giây thì ta sẽ có được tự do trong tám giây, vì khi thở ra ta cũng chú tâm vào hơi thở ra mà không để tâm nghĩ về quá khứ hay nghĩ tới tương lai. Tư duy thường kéo ta về quá khứ hay tương lai nên ta cần phải chấm dứt sự tư duy.
Khi có tự do thì ta có hạnh phúc. Hạnh phúc có khi ta tiếp xúc được với những cái hay, cái đẹp, cái mầu nhiệm, cái tươi mát, cái nuôi dưỡng đang có mặt trong giây phút hiện tại. Mỗi người trong chúng ta là một chiến sĩ. Ta phải dùng gươm trí tuệ để chặt đứt những sợi dây ràng buộc ta với quá khứ hay cột ta vào tương lai. Tự do là sự thực tập của chúng ta. Không phải sau khi thực tập mười năm chúng ta mới có tự do. Tự do đó tuy còn ít nhưng chúng ta có thể có liền được. Ngồi một mình ta có thể nói chuyện với em bé trong ta. Em bé đó muốn ta chú ý tới, nó hay kéo ta trở về quá khứ để gặm nhấm lại những đau thương. Ta phải trở về với em bé đó để nói chuyện với nó: Em bé ơi, tôi biết là em đang có đó trong tôi. Vì em đòi sự chú ý nên tôi đã trở về với em đây. Em bị thương rất nặng. Nhưng em nên nhớ rằng tôi cũng là em và em đã trưởng thành. Chuyện đau buồn của em là chuyện quá khứ. Hiện tại rất đẹp, có trời xanh, mây trắng, thông reo, hoa nở. Em phải cầm tay tôi đi ra khỏi quá khứ và trở về trong giây phút hiện tại.
Tăng thân là những người tu với ta và giúp ta làm chuyện đó. Chúng ta giúp nhau đi ra khỏi ngục tù của quá khứ hay sự lo lắng về tương lai để an trú trong hiện tại. Mỗi hơi thở, mỗi bước chân đều có khả năng đem lại giải thoát và tự do. Những hơi thở, những bước chân có niệm, có định và có tuệ chính là những lưỡi gươm cắt đứt những sợi dây ràng buộc ta với quá khứ và tương lai.
Nếu nói chuyện trong khi đi, ta để cho câu chuyện hay sự suy tư kéo ta về quá khứ và tương lai. Ta không có cơ hội để tranh đấu cho tự do. Có thảnh thơi, tự do rồi thì ta mới có an lạc, hạnh phúc. An lạc không phải là cái xa vời ta chỉ có thể đạt được sau sáu năm thực tập. Mỗi hơi thở có chánh niệm và chánh định đều đem tới an lạc. Khi ta tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống trong giây phút hiện tại thì an lạc liền có mặt.
Bước chân chuyển hóa
Cách đây chừng 30 năm, tôi đang ngồi ở phi trường Hawai thì có một người tới hỏi thăm:
– Thầy là ai? Thầy tu tập theo pháp môn nào?
Hỏi ra mới biết rằng ông này đã thấy tôi bước đi trong phi trường bằng những bước chân thảnh thơi, an lạc. Ông ta cảm được năng lượng của sự bình an, hạnh phúc. Ông hỏi vì ông thấy cách tôi đi mà thôi. Vì vậy cách đi của ta, không những đem tới hạnh phúc an lạc cho mình, mà cũng có thể đem lại hạnh phúc an lạc cho người khác, tạo ra một cơ hội cho người khác.
Ở chuyến đầu thăm Trung Quốc, tôi và phái đoàn đã tới viếng Ngũ Đài Sơn, chỗ của đức Văn Thù Sư Lợi. Đường lên núi rất cao, có cả ngàn bậc thang và người nào cũng mệt hết hơi khi lên tới nơi. Phái đoàn của mình gồm nhiều thầy, nhiều sư cô và một số cư sĩ. Đứng dưới chân núi tôi cung cấp những chỉ dẫn về cách leo núi và cách thở để mỗi bước chân đều chế tác được niệm, định, tuệ và sự hỷ lạc. Chuyện này có thể thực hiện được vì chúng tôi biết rằng chúng tôi đang được cùng nhau leo lên Ngũ Đài Sơn. Trong mỗi bước chân phải có hạnh phúc. Cô hướng dẫn du lịch, người đã từng hướng dẫn hàng ngàn phái đoàn du lịch, đã không vừa ý. Cô cầm cờ, phăng phăng đi trước với mong muốn phái đoàn phải đi nhanh theo cô. Chúng tôi không chịu và bảo cô phải đi sau lưng phái đoàn. Phái đoàn cứ leo mười bậc thang thì ngồi xuống, nhìn cảnh vật bên dưới, thở và mỉm cười. Cô hướng dẫn bắt buộc phải đi theo tại vì cô phải phục vụ khách hàng. Vì vậy tuy nói là cô hướng dẫn nhưng thật ra cô bị hướng dẫn. Cứ leo như vậy, càng lên cao thì càng đẹp, đi mà không cần phải tới, mỗi bước đã là tới rồi. Chúng tôi phải ngồi một bên để phía bên kia cho du khách tiếp tục leo, họ vừa leo vừa thở hỗn hển. Chúng tôi đi rất hạnh phúc và khi tới nơi thì rất khỏe. Hôm đó chúng tôi gặp được thầy trụ trì. Tôi hỏi:
– Thưa đại đức, đại đức có phải là đức Văn Thù ở đây không?
Thầy ấy nói:
– Không phải, tôi là con chó của đức Văn Thù.
Chiều hôm đó ngồi trên xe bus, cô hướng dẫn viên kể lại câu chuyện cho một đồng nghiệp. Cô nói tiếng Hoa và nghĩ trong phái đoàn không có ai hiểu tiếng Hoa, nhưng không ngờ có một sư cô gốc Hoa và rất giỏi tiếng Hoa là sư cô Viên Quang. Sư cô Viên Quang báo cáo lại những gì cô hướng dẫn viên nói với anh đồng nghiệp:
– Cái ông thầy này lợi hại thật! Tôi đã từng hướng dẫn hàng ngàn phái đoàn leo núi. Mỗi khi leo lên tới nơi là mệt đừ, vậy mà lần này tôi không thấy mệt gì cả. Tôi đã viết báo cáo ngày hôm nay (chúng tôi đi đâu và nói pháp thoại nào thì cô đều ghi lại để báo cáo mỗi ngày, hướng dẫn viên du lịch phải làm việc chung với công an để theo dõi khách du lịch). Nhưng hôm nay tôi chưa nộp, tôi phải photocopy một bản để giữ lại mà thực tập, tại vì ông thầy này giảng về nếp sống hạnh phúc hay quá.
Đó là thiền đi, đi như thế nào để mỗi bước chân đều có niệm, có định, có tuệ, có hỷ và có lạc. Tới Làng Mai chúng ta phải tìm cách để đi được như vậy: đi mà không nói chuyện, không suy tư, đi như thế nào để có hạnh phúc. Thực tập vài ngày thì ta có thể làm được.
Một lần qua Ý, phái đoàn Làng Mai được một ngày nghỉ để tham quan. Các bạn thiền sinh thương mình, muốn đoàn mình được đi thăm các thành phố đẹp như Venise. Họ thuê một cô hướng dẫn viên du lịch rất giỏi tới hướng dẫn cho mình. Cô hướng dẫn viên cắt nghĩa di tích này, lịch sử kia, nhưng chúng tôi đã xin cô đừng nói, chúng tôi chỉ đi chậm và thưởng thức cái đẹp vậy thôi. Cô rất ngạc nhiên vì cô không được hành nghề, nhưng rốt cuộc cô đã chuyển hóa, sang Làng tu tập và cô đã thọ Năm giới sau đó.
Đây là lời nhắc nhở vào mỗi buổi sáng sau thời công phu: “Xin đại chúng ý thức là đất Mẹ luôn có mặt và đang nâng đỡ từng bước chân của chúng ta. Chúng ta phải đem hết thân tâm một trăm phần trăm đầu tư vào mỗi bước chân của mình để tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống, để được nuôi dưỡng và trị liệu. Khi đi thì không nói chuyện và dừng suy tư. Nếu cần nói hoặc lắng nghe điều gì thì xin dừng lại. Cám ơn đại chúng cùng thực tập và yểm trợ cho sự thực tập chung này.”
Ta phải thấy được mỗi bước chân là phép lạ. Ta còn sống đây, còn đủ hai chân để đi và còn hai lá phổi để thở, đó là một sự mầu nhiệm. Bước đi mà ý thức rằng mình đang còn sống và đang bước đi trên hành tinh xinh đẹp này đó là một sự giác ngộ. Có những người đi như bị ma đuổi, đi trong sự quên lãng và thất niệm. Còn ta biết đi trong tỉnh thức. Mỗi bước chân là ta đang thực hiện “địa hành thần thông”. Thần thông không phải là đi trên mặt nước mà là đi trên mặt đất. Chỉ cần nhớ là ta đang còn sống đây, ta đang có mặt thật sự và đang bước những bước thảnh thơi, an lạc. Tia nắng đó, hạt sương kia đều rất đẹp. Nếu ta tư duy thì ta sẽ đánh mất cơ hội để tiếp xúc với chúng. Chỉ cần dừng tư duy thì những mầu nhiệm đang sẵn có đó, tất cả đều là của ta.
“Là người, chúng ta nghĩ rằng ta và thế giới thực vật và động vật khác biệt nhau, chẳng có gì liên quan với nhau. Cho nên đôi khi ta bâng khuâng không biết nên đối xử với thiên nhiên như thế nào. Nếu chúng ta hiểu rằng con người và thiên nhiên không thể tách rời nhau thì ta sẽ biết cách đối xử với thiên nhiên như đối xử với chính bản thân mình, với tất cả sự cẩn trọng nhẹ nhàng, với tất cả tình thương yêu, không có sự bạo động. Cho nên nếu chúng ta không muốn mình bị thương tổn thì không nên làm thương tổn thiên nhiên, vì làm thương tổn thiên nhiên là làm thương tổn chính mình và ngược lại.” (Thiền sư Thích Nhất Hạnh)
Khoá tu một tuần vừa qua tại Làng Mai Pháp với chủ đề “Thương yêu là tự do” (Love is freedom) là cơ hội để những vị thiền sinh đến tham dự nhìn sâu vào liên hệ giữa mình và môi trường sống, với thiên nhiên và đất Mẹ. Tâm thương yêu càng rộng lớn, ta càng có nhiều tự do. Càng nhìn được bằng tuệ giác tương tức, ta càng thức tỉnh, có đủ sức mạnh và tình thương để bảo hộ đất Mẹ.
Mỗi bước chân của ta có công năng trị liệu và chuyển hoá cho chính bản thân mình, cho đất Mẹ và cho vũ trụ xung quanh
Chúng ta và đất Mẹ là một, nếu Mẹ sống thì chúng ta sống, nếu Mẹ chết thì chúng ta cũng chết
Nghe pháp trong bản môn. Nuôi dưỡng tâm yêu thương. Hướng lòng về đất Mẹ. Địa cầu mãi xanh tươi
Nếu ta biết nhìn sâu vào vẻ đẹp của thiên nhiên quanh ta thì đời sống của ta trở nên một thông điệp của tình thương, và ta đóng góp tích cực vào việc ngăn chặn tình trạng nguy hại của trái đất
“Khi chúng ta sống với nhau với tinh thần của Sáu phép lục hoà, chúng ta sống hoà thuận hơn với thế giới, có thời gian lắng nghe nhau và lắng nghe đất Mẹ”
Quý thầy, quý sư cô thực tập tụng kinh trước mỗi buổi pháp thoại
Thầy Pháp Hữu thực hiện nghi thức gia trì nước tịnh trong Lễ Hạ chí – nghi thức đánh dấu sự khởi đầu của mùa hè
Đây là dịp để mọi người hướng lòng về để tiếp xúc với tổ tiên đất đai, tổ tiên tâm linh và gửi niềm biết ơn đến với đất Mẹ
Nghi lễ quy tụ sự tham gia của nhiều vị đại diện đến từ những truyền thống tâm linh khác nhau
Cầm nhành dương liễu, rưới lên nước cam lộ. Trừ nóng bức làm mát mẻ nhân gian
Trong khoá tu này, quý thầy và quý sư cô ban kĩ thuật cũng làm việc rất hết lòng để những bạn thiền sinh tham dự trực tuyến thật sự thấy được là mình đang cùng hoà vào dòng chảy tu tập của đại chúng ở Làng, không hề bị ngăn cách bởi thời gian và không gian
Những bài pháp thoại vượt qua rào cản ngôn ngữ đến được với nhiều nơi nhờ những vị thông dịch viên hết sức tươi mát và dễ thương
Sư cô Trăng Lộc Uyển đang thông dịch pháp thoại từ tiếng Pháp sang tiếng Việt
Buổi lễ truyền Năm giới diễn ra trong niềm vui và sự hân hoan của cả hai chúng xuất sĩ và cư sĩ
Sự an lạc toả chiếu trên khuôn mặt mỗi vị thiền sinh
Đại chúng được gặp những người bạn đồng tu qua màn ảnh nhỏ, cùng chia vui với nhau trong buổi Be-in
Mọi người cùng đàn, cùng hát lên trong niềm vui để ăn mừng những chuyển hoá, những hạnh phúc chế tác được sau khoá tu
Nhìn một bông hoa, ta phát hiện ra đất Mẹ. Nhìn những con người có hạnh phúc, ta thấy được tương lai tươi sáng của cả hành tinh
Sẽ rất hữu ích nếu bạn có thể tìm được những cách bắt đầu và kết thúc mỗi buổi sinh hoạt mà các em sẽ nhớ và thích. Ý thức đến hơi thở trong khi nghe chuông là một bài tập hay. Nhắc các em rằng các em lúc nào cũng có thể tự mình trở về với hơi thở mỗi khi cần sự chú tâm. Khi các em đã biết cách thỉnh chuông, cho các em bắt đầu và kết thúc các sinh hoạt sau đây bằng tiếng chuông. Sau đây là các bài dạy mẫu kéo dài 45 phút – 1 giờ cho các em từ 6 đến 12 tuổi:
Bài một: Thở theo tiếng chuông để lắng dịu thân tâm
DỤNG CỤ: Chuông, bình thủy tinh, nước, cát màu.
Giới thiệu ý nghĩa của tiếng chuông và đếm hơi thở theo tiếng chuông 10 phút (chương 4)
Học cách thỉnh chuông 10 phút (chương 4)
Chiếc lọ tâm trí 20 phút (chương 1)
BÀI TẬP VỀ NHÀ: Đề nghị các em chọn một âm thanh hay một vật bất kỳ làm tiếng chuông chánh niệm để các em thực tập cho đến giờ học tiếp theo. Khi các em tiếp xúc với âm thanh hay vật đó, các em dừng lại mọi hoạt động để trở về với hơi thở. Các em cũng có thể chọn một hành động mà các em làm trong suốt ngày hôm đó để lưu tâm đến (coi đó như là tiếng chuông chánh niệm), ví dụ như khi đeo ba lô lên lưng, mở một quyển sách, uống nước, đi vệ sinh. Khi làm những điều này thì trở về với hơi thở. Trong giờ học kế tiếp, các em có thể chia sẻ cho nhau biết mình đã thực tập chánh niệm như thế nào với tiếng chuông tự chọn này.
DỤNG CỤ: Chuẩn bị một tờ giấy thực hành thiền sỏi cho mỗi em (hoặc cho mỗi em một tờ giấy trắng để các em tự làm) – chương 5.
Dạy các em hát bài Thở vào, thở ra 5 phút
Thiền Sỏi (chương 5), bao gồm thời gian chia sẻ và chiêm nghiệm sau khi thực tập: 15 phút
Điền và vẽ vào tờ giấy thực hành thiền sỏi (chương 5): 15 phút
BÀI TẬP VỀ NHÀ: Tìm một không gian trong nhà, nơi em có thể ngồi yên. Đặt những viên sỏi của em ở đó. Em có thể trang trí thêm để làm cho không gian đặc biệt dùng để tập thở này đẹp và gây cảm hứng cho em. Chia sẻ với mọi người về không gian này trong lần gặp tới.
Bài ba: Tương tức
DỤNG CỤ: Một hạt nho khô cho mỗi em, giấy, các dụng cụ cần thiết để vẽ.
Thiền nho 10 phút (chương 7) hoặc Sự mãn nguyện 10 phút (chương 9)
BÀI TẬP VỀ NHÀ: Chuẩn bị một món ăn nhẹ tại nhà cho gia đình. Cùng nhau thảo luận về sự tương tức của món ăn này với tất cả mọi thứ khác.
Bài bốn: Hiểu và thương
DỤNG CỤ: Một bản Tờ thực hành Hai lời hứa cho mỗi em (chương 7).
Bài hát Hai lời hứa 5 phút
Chia sẻ với các em về Hai lới hứa (chương 7) 10 phút
Tờ thực hành Hai lời hứa (xem trang 190, chương 7) 10 phút
Xá chào nhau (chương 4) 5 phút
BÀI TẬP VỀ NHÀ: Học bài hát Hai lời hứa. Từng cá nhân hoặc từng nhóm tự sáng tác điệu múa cho bài hát Hai lời hứa. Dạy cho mọi người trong lớp múa bài này trong lần gặp tới. Hoặc thực tập hiểu và thương với người khác rồi chia sẻ về trải nghiệm đó trong buổi học tới.
Bài năm: Địa xúc
Kể câu chuyện về Bụt và Ma vương (chương 6) 10 phút
Thực tập Thiền lạy (chương 6) 10 phút
Mình được làm bằng gì? (chương 6) 30 phút
BÀI TẬP VỀ NHÀ: Dành thời gian ngoài thiên nhiên (ở công viên, ngoài vườn, gần một gốc cây hay một loài thực vật). Nhìn sâu xem chúng ta liên hệ như thế nào với khía cạnh này của thiên nhiên (công viên, vườn,…). Thực tập “Xin phép thiên nhiên” (chương 8).
Thời khóa mẫu cho một buổi sinh hoạt với thiếu niên (Teens)
Các vị xuất gia Làng Mai đã được mời đến hướng dẫn một buổi sáng chánh niệm tại một trường trung học ở Waldbrol, Đức. Sau đây là chương trình sinh hoạt của buổi sáng đó:
Hướng dẫn các em thực tập hơi thở ý thức (Ý thức chiều dài của hơi thở vào – hơi thở ra, chương 4) 5 phút
Giới thiệu, chia sẻ về mục đích của buổi sinh hoạt 20 phút
Chia sẻ về lợi ích của chánh niệm và cách áp dụng chánh niệm trong đời sống 20 phút
Thiền buông thư (chương 5) 30 phút (Có thể bắt đầu bằng cách chia sẻ vắn tắt các em có thể làm gì khi bị căng thẳng)
Thiền trà và cam (tương tự như thiền nho, chương 7) 30 phút
Giải lao 20 phút
Dạy phương pháp Lắng nghe sâu và Ái ngữ 10 phút
Thực tập lắng nghe sâu theo từng cặp (chương 10) 30 phút
Kết thúc: mời các em chia sẻ điều các em thích, không thích, điều các em học được 30 phút
Chương trình mẫu cho một ngày quán niệm dành cho gia đình
Bạn có thể tổ chức ngày quán niệm dành cho gia đình để cha mẹ và các con có mặt cho nhau trọn một ngày. Chương trình sau đây đã khá thành công:
9:30 Giới thiệu tổng quát cho ngày quán niệm
10:00 Chia mọi người vào 5 nhóm, mỗi nhóm từ 5 đến 10 người trong đó có cả người lớn và trẻ em. Mỗi nhóm đến một địa điểm khác nhau để thực tập hoặc Thiền Sỏi (chương 5), cùng sáng tạo một tác phẩm nghệ thuật tập thể hoặc một mạn đà la dùng vật liệu từ thiên nhiên (chương 8), chơi một trò chơi tập thể (chọn trò chơi mà bạn thích từ chương 8), làm một món ăn vặt để sau đó cùng thưởng thức (chương 7), hoặc làm một vở kịch về giải quyết mâu thuẫn trong đời sống gia đình (chương 10). Mỗi 30 phút, các nhóm sẽ đổi phiên cho nhau để tất cả các nhóm đều có cơ hội tham gia đầy đủ 5 hoạt động. Những người đã chuẩn bị các hoạt động/trò chơi, đồng thời cũng là những người điều phối chương trình nên có mặt tại địa điểm do mình phụ trách để hướng dẫn từng nhóm mới tới. (Bạn có thể tùy nghi thêm hoặc bớt số hoạt động và nội dung cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế)
12:30 Ăn trưa
14:00 Thiền buông thư cho trẻ em (chương5) do các em hướng dẫn, tiếp theo là thiền lạy dành cho trẻ em (chương 6). (Cũng có thể do các em xướng đọc).
15:00 Thực tập Làm mới giữa cha mẹ và con cái (chương 3). (Các em không cần phải làm thiệp. Các em chỉ cần nói lên lòng biết ơn đối với cha mẹ là đủ. Phụ huynh chuẩn bị một món quà từ thiên nhiên cho con của mình).
16:00 Chia tay
[1] Dành cho nhóm từ 8-20 người. Nếu đông hơn thì chia thành nhiều nhóm nhỏ. Cho các em đứng thành một vòng tròn, vai liền vai. Hướng dẫn các em đưa tay phải ra và nắm lấy một bàn tay bất kỳ hướng về phía mình. Tay trái cũng đưa ra và với lấy một bàn tay bất kỳ hướng về phía người khác. Trong một khoảng thời gian nhất định, cả nhóm phải tìm cách mở nút rối của những cái nắm tay thành một vòng tròn lớn mà không phải thả tay ra. Nhóm nào gỡ rối nhanh nhất sẽ chiến thắng.
KHI NHÌN VÀO TRANG GIẤY mà bạn đang đọc, có thể bạn nghĩ rằng tờ giấy này không có mặt trước khi nó được làm ra ở xưởng giấy. Thế nhưng tờ giấy đã có mặt từ lâu trong nhiều hình thái khác nhau.
Nếu bạn có tâm hồn thi sĩ khi nhìn vào một tờ giấy, bạn sẽ thấy một đám mây bay trong ấy. Không có mây thì không có mưa, không có mưa thì cây cối không mọc được, và nếu không có cây thì làm sao có tờ giấy này trong tay bạn? Cho nên tờ giấy có mặt là vì đám mây có mặt, không có mây thì không có tờ giấy. Đám mây và tờ giấy phải nương vào nhau để hiện hữu, cái đó gọi là tương tức (inter-being).
Tờ giấy này có mặt trước khi nó được sinh ra hay không? Nó từ không mà trở thành có? Không, không có bất cứ cái gì có thể từ không mà trở thành có cả. Tờ giấy “tương tức” với ánh nắng, cơn mưa, đất đai, nhà máy, người công nhân, thức ăn mà người công nhân tiếp nhận mỗi ngày. Bản chất của tờ giấy là tương tức. Nếu ta tiếp xúc với tờ giấy thì mình cũng tiếp xúc được với cả vũ trụ. Trước khi tờ giấy được sinh ra trong nhà máy, tờ giấy đã là ánh nắng mặt trời, là cây cối. Cái được gọi là ngày sinh của tờ giấy chỉ là “ngày tiếp nối” của nó mà thôi. Chúng ta không nên bị hình tướng lừa gạt. Chúng ta biết rằng tờ giấy chưa từng được sinh ra. Thật thế. Nó đã có mặt ở đó trước rồi, bởi vì tờ giấy không thể nào đến từ không. Làm thế nào chúng ta có thể đột nhiên từ không trở thành có được? Làm thế nào mà từ không gì cả, chúng ta có thể đột nhiên trở thành một người nào đó được? Chuyện ấy là không thể.
Bạn cũng có thể cho rằng khi bạn chào đời, bạn đột nhiên trở thành có và trước đó bạn không là gì cả. Nghĩa là từ không là ai, bạn đột nhiên trở thành một ai đó. Thế nhưng, thực ra giây phút bạn ra đời chỉ là một khoảnh khắc của sự tiếp nối mà thôi, bởi vì bạn đã có mặt sẵn trong bụng mẹ hơn chín tháng rồi. Điều đó có nghĩa là ngày sinh trong giấy khai sinh là không chính xác; bạn phải lùi ngày ấy về chín tháng trước.
Có thể bạn cũng nghĩ rằng khi bạn được tượng hình trong lòng mẹ là lúc bạn bắt đầu tồn tại. Nhưng nếu ta tiếp tục nhìn sâu, ta thấy rằng phân nửa của bạn đã có trong cha, và phân nửa kia đã có trong mẹ. Do đó, thậm chí thời điểm bạn tượng hình cũng là thời điểm của sự tiếp nối. Thiền tập là nhìn sâu vào trong tự thân để thấy bản chất đích thực của ta, bản chất của không sinh không diệt.
Hãy tưởng tượng đại dương với vô vàn con sóng. Tất cả những con sóng đều khác nhau, có những con sóng lớn, có những con sóng nhỏ, có những con sóng đẹp hơn những con sóng khác. Bạn có thể diễn tả sóng bằng nhiều cách, nhưng khi tiếp xúc với sóng bạn luôn luôn tiếp xúc được với một thứ khác nữa: đó là nước.
Hãy hình dung bạn là một con sóng trên mặt đại dương. Khi con sóng – là bạn – được tạo ra: bạn dâng lên cao, dừng lại một chút rồi hạ xuống đại dương trở lại. Bạn biết rồi sẽ có một thời điểm mà bạn kết thúc. Nhưng nếu bạn biết cách tiếp xúc với nền tảng của con sóng – là nước – thì tất cả các sợ hãi của bạn sẽ tan biến. Bạn sẽ thấy, là một con sóng, cũng như mọi con sóng khác, sự sống của bạn chính là nước. Đây là bản chất của tương tức. Khi ta chỉ sống như là một con sóng và không có khả năng sống như là nước, ta sẽ rất đau khổ. Trên thực tại, mỗi giây phút chính là giây phút của sự tiếp nối. Bạn tiếp nối sự sống trong một hình thức mới. Chỉ vậy thôi!
Khi một đám mây sắp rơi xuống thành mưa, mây không sợ hãi vì nó biết rằng làm một đám mây thong dong trên bầu trời rất tuyệt vời, nhưng là một cơn mưa, rơi xuống đại dương và tưới mát ruộng vườn cũng tuyệt vời không kém. Đó là lý do tại sao giây phút mây trở thành mưa không phải là giây phút của cái chết, mà là giây phút của sự tiếp nối.
Có những người nghĩ rằng họ có thể làm mọi thứ trở thành hư không. Họ nghĩ là họ có thể tiêu diệt những người như John F. Kennedy, Martin Luther King hay Mahatma Gandhi… với hy vọng là các vị ấy sẽ vĩnh viễn biến mất. Nhưng thật ra khi một người bị giết, có thể người đó sẽ trở nên mạnh hơn lúc trước.
Thậm chí ngay cả trang giấy này cũng không thể bị biến thành không. Bạn đã từng thấy chuyện gì xảy ra khi ta dùng que diêm đốt cháy một tờ giấy. Tờ giấy không hề biến mất: nó tiếp tục trong hình thức của hơi nóng, của than và của khói. Một phần của tờ giấy đã trở thành khói hòa vào với đám mây. Có thể ngày mai chúng ta sẽ gặp lại nó trong hình thức của một giọt mưa. Đó chính là bản chất đích thực của tờ giấy. Khó mà nắm bắt sự đến đi của một tờ giấy. Ta nhận ra rằng một phần của tờ giấy vẫn còn đâu đó trên bầu trời dưới hình thức một đám mây. Vì vậy, ta có thể nói với tờ giấy: “Hẹn gặp lại bạn ngày mai nhé!”
VẤN ĐÁP VỚI THIỀN SƯ
Tuổi già và cái chết
BÉ: Sư Ông bao nhiêu tuổi ạ?
SƯ ÔNG: Con nói cho Sư Ông biết trước, con bao nhiêu tuổi?
BÉ: Dạ! con 6 tuổi, gần 7 tuổi rồi ạ.
SƯ ÔNG: Con nghe này, Sư Ông sẽ cho con một câu trả lời thiệt hay. Sư Ông là sự tiếp nối của Bụt cho nên Sư Ông 2.600 tuổi rồi.
BÉ: Ồ!
SƯ ÔNG: Sư Ông cũng là sự tiếp nối của cha mình nên Sư Ông đã được 110 tuổi. Con cũng là sự tiếp nối của Sư Ông và con có Sư Ông trong con, cho nên Sư Ông cũng 6 tuổi như con. Đó là sự thật, bởi vì Sư Ông đã được sinh ra trong con. Con sẽ đem Sư Ông về tương lai. Vì vậy, Sư Ông còn trẻ lắm. Sư Ông mới 6 tuổi thôi. Nếu con nhìn xung quanh, con sẽ thấy Sư Ông ở khắp nơi. Sư Ông có nhiều tuổi khác nhau. Con có thấy như vậy không?
VƯỢT THOÁT TỬ SINH
BÉ: Tại sao một ngày nào đó mình phải chết?
SƯ ÔNG: Con thử tưởng tượng trên đời này chỉ có sinh ra mà không có chết đi. Một ngày nào đó, sẽ khó mà tìm trên trái đất một chỗ trống để cho người ta đứng. Chết nghĩa là để lại một
chỗ trống cho con cháu của mình. Mà con cháu của mình là ai? Chính là mình chứ ai.
Con cháu của mình là một biểu hiện mới của mình. Con là sự tiếp nối của cha. Người cha, khi nhìn con mình, sẽ thấy là mình không chết bởi con của mình vẫn còn đó để tiếp nối mình. Có cái thấy ấy, mình sẽ thấy là mình không hề chết, bởi vì mình đang tiếp tục trong con của mình. Con mình cũng không chết vì được tiếp nối trong cháu chắt. Thiền tập của đạo Bụt giúp ta nhìn sâu để thấy không có cái chết thật sự mà chỉ có sự tiếp nối không ngừng trong những hình thái khác nhau.
Con hãy nhìn đám mây trên trời. Có thể đám mây đang sợ phải chết đi, nhưng có một lúc nào đó, mây sẽ phải trở thành mưa. Nhưng đó không thật sự là cái chết. Đó chỉ là sự thay đổi hình thái mà thôi. Đám mây trở thành mưa, đám mây đã được tiếp nối bằng mưa. Nếu con nhìn sâu vào trong mưa, con có thể nhìn thấy đám mây. Không có cái chết thật sự. Con sẽ tiếp tục có mặt trong rất nhiều hình thức khác. Đám mây cũng có thể tiếp tục dưới hình thức tuyết, dòng sông hay nước đá. Một ngày nào đó, đám mây cũng có thể sẽ trở thành kem. Nếu đám mây không chịu thay hình đổi dạng thì làm sao có kem cho chúng ta ăn?
Sư Ông không sợ chết vì Sư Ông thấy Sư Ông trong các đệ tử, và trong con. Con đã đến đây để học hỏi từ Sư Ông thì con đã có Sư Ông trong con rồi. Sư Ông đã trao truyền chính Sư Ông cho con. Nếu con tiếp nhận được một chút hiểu, chút thương, chút tỉnh thức từ Sư Ông thì Sư Ông được tiếp nối trong con. Sau này, nếu có người muốn đi tìm Sư Ông, họ chỉ cần đến gặp con họ sẽ thấy Sư Ông. Sư Ông không chỉ ở đây [Sư Ông chỉ vào mình] mà còn ở đây nữa [chỉ vào bé]. Sư Ông thích điều này nhất trong thiền tập của đạo Bụt. Thiền tập đạo Bụt giúp ta vượt thoát ý niệm về cái chết.
Con nên biết cái chết rất cần cho sự sống, cho sự tiếp nối của chúng ta. Trong cơ thể của chúng ta, mỗi phút có rất nhiều tế bào đang chết để nhường chỗ cho những tế bào mới được sinh ra. Sự sống và cái chết đang diễn ra từng phút trong thân ta. Nếu không có sự chết, cơ thể ta sẽ không thể nào tiếp tục được. Cho nên cái chết và sự sống có liên hệ mật thiết với nhau. Nhờ có chết mà có sự sống, nhờ có sự sống mà có sự chết. Nếu mình khóc mỗi khi một tế bào trong cơ thể mình chết đi thì mình sẽ không còn nước mắt để khóc nữa. Nếu mình tổ chức đám tang mỗi lần có một tế bào chết đi thì mình sẽ phải dùng tất cả ngày giờ của mình để làm đám tang. Do đó, ta phải thấy sự sống và cái chết đang diễn ra từng phút từng giây trong chính bản thân ta. Đó là lý do tại sao vai trò của cái chết rất là quan trọng. Đó là câu trả lời thứ nhất của Sư Ông. Nhưng câu trả lời thứ hai còn hay hơn. Nhìn sâu, con sẽ thấy không có sống mà cũng không có chết: chỉ có sự tiếp nối mà thôi. Càng học con sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn.
KHÔNG TRƯỚC, KHÔNG SAU
BÉ: Con gà và cái trứng, cái nào có trước ạ?
SƯ ÔNG: Con gà hay cái trứng có trước? Đây là một câu hỏi rất thú vị. Nhưng vì con là một thiền sinh, con phải cẩn thận, đừng trả lời câu hỏi này quá vội. Con phải nhìn thật sâu mới thấy câu trả lời. Có những thời gian nhất định trong năm, nhìn lên cây chanh, con chỉ thấy cành lá thôi chứ không hề có cái hoa hay quả chanh nào cả. Nhưng đó là khi con chưa biết nhìn bằng cặp mắt thiền quán. Còn nếu con là một thiền giả giỏi, biết nhìn sâu thì khi nhìn cây chanh – dù nó chưa ra hoa và chưa có quả – con vẫn có thể thấy hoa và quả chanh ở đó rồi. Hoa chanh, quả chanh chưa biểu hiện vì chúng còn chờ thêm vài điều kiện như thời gian, mưa và sức nóng mặt trời. Cho nên mình không thể nói là trái chanh không có đó. Nó chỉ đang ẩn mình thôi. Cây chanh, cành lá, hoa chanh và trái chanh – tất cả đều đang cùng có mặt. Mình không thể nào nói cái nào có trước, cái nào có sau được. Thời điểm chúng biểu hiện có khác nhau, nhưng chúng đã luôn có mặt ở đó rồi. Con thấy không?
Khi nhìn một bông hoa, con chỉ thấy hoa là hoa thôi. Nhưng kỳ thực rác đã có sẵn trong bông hoa rồi. Rác và hoa luôn đi đôi với nhau. Nếu con không cắm hoa vào trong nước thì chỉ trong vài hôm bông hoa sẽ trở thành một cọng rác. Nếu con là một thiền giả giỏi thì con sẽ thấy rác hiện giờ đang có trong hoa. Nói rác chưa có trong hoa là không đúng. Rác đang có trong hoa. Chỉ cần một hay hai điều kiện nữa thôi là nó sẽ biểu hiện. Và nếu con nhìn thật sâu vào rác, con sẽ thấy hoa đang chờ đợi để biểu hiện trở lại.
Vì thế, câu trả lời của đạo Bụt cho câu hỏi của con là cái trứng đang có trong con gà và con gà có trong cái trứng. Không có cái nào có trước, không có cái nào có sau.
TƯƠNG TỨC
CHUẨN BỊ: Đưa các em đi thăm nơi bảo vệ và chăm sóc thú nuôi trong nhà (bị bỏ bê hoặc đi lạc). Nếu có thể nên chọn một nơi cho phép các em được vuốt ve chó con hoặc mèo con. Hoặc sắp xếp để đem một con chó đến lớp học (lý tưởng nhất là một con chó được cứu hộ và không thuần chủng). Sẽ rất có ích nếu cho các em xem hình của chính các em khi còn bé. Hoặc bạn có thể sử dụng các loại hạt và tùy nghi áp dụng phần thảo luận về tương tức cho thích hợp.
Chúng ta sẽ được vuốt ve chú cún con (hay chú mèo con) này, nhưng trước tiên các em có muốn xá chào chú một cái không?
[Dạ có] Tại sao?
[Để cho thấy là mình biết chú cún cũng có tính Bụt; để bày tỏ tình thương và sự kính trọng]
Nhắc các em để ý đến âm thanh nào mà chú cún hay mèo con phát ra. [Có khi các em đồng ý với nhau lấy meo meo hay tiếng sủa của cún con làm tiếng chuông chánh niệm.] Làm mẫu cho các em thấy nên làm thế nào để vuốt ve một con thú: xá xuống, rồi một tay nâng nó, một tay vuốt thật nhẹ. Sau đó, mời các em xá và vuốt ve chú chó hoặc mèo con. Cho các em đủ thời gian để chơi, vuốt ve, nói chuyện và ôm các con vật.
Trả các con thú trở lại giỏ hoặc chuồng.
Chú cún con đến từ đâu nhỉ? [Từ chó mẹ ạ]
Chú cún được sinh ra phải không? [Dạ]
Chó con được sinh ra khi chui ra từ chó mẹ có phải không? [Dạ]
Cô/thầy không nghĩ vậy! Sinh ra nghĩa là từ không mà trở thành có. Có phải chú cún con này không có mặt trước khi chui ra từ bụng chó mẹ không?
[Không ạ, chú đã có trong bụng chó mẹ rồi ạ]
Chúng ta đã khám phá ra rằng không chính xác lắm khi nói chú cún con được sinh ra khi nó chui ra từ bụng chó mẹ, vì mình biết rằng cún con đã có sẵn trong bụng của chó mẹ trước đó rồi. Mình có thể nói là chú cún con đã có mặt trước khi nằm trong bụng chó mẹ không?
[Dạ được ạ]
Mình có thể nói là cún con đã sống một phần trong chó mẹ và một phần trong chó cha không?
[Dạ được ạ]
Các em có nghĩ là điều đó cũng đúng cho con người không? Hãy nhìn vào chính chúng ta nào. Mời các em nhìn vào tấm hình của chính mình hồi các em còn bé xíu. Ngày nào là sinh nhật của em? Cho các em nói ngày sinh của mình.
Tại sao mình gọi ngày đó là ngày sinh?
[Bởi vì ngày đó là ngày em chui ra khỏi bụng của mẹ]
Nếu nói ngày em ra khỏi bụng mẹ là ngày sinh của em thì cũng giống như mình nói rằng: cún con đã được sinh ra khi nó chui ra từ bụng chó mẹ. Và chúng ta đã biết là điều đó không đúng.
Trước khi được sinh ra từ bụng mẹ, em không là gì cả, phải vậy không?
[“Dạ không! Em đã có mặt khi em nằm trong bụng mẹ. Mẹ em nói là mẹ có thể nghe và cảm nhận những cử động của em khi em nằm trong bụng mẹ.]
Vậy em là gì trước khi em nằm trong bụng mẹ? Em không là gì cả hay sao?
[“Dạ không! Em là một ý tưởng đang chờ để biểu hiện!”, “Em là một cái trứng bé nhỏ”, “Em chưa bao giờ không là một cái gì”]
Vậy thì em ở đâu trước khi nằm trong bụng mẹ?
[“Một phần của em nằm trong mẹ và một phần nằm trong cha”, “Em có trong ông bà của em”, “Khoan đã, kiểu này thì mình có thể đi lui hoài không bao giờ dứt”]
Có thể thấy rằng các em chưa bao giờ không là một cái gì! Bởi vì “sinh ra” nghĩa là từ không mà trở thành có. Nhìn sâu, ta có thể nói rằng, giống như chú cún con này, ta chưa bao giờ được sinh ra! Hoặc chúng ta có thể nói chúng ta luôn được sinh ra. Chúng ta lúc nào cũng là một cái gì đó; chúng ta chưa bao giờ không là cái gì cả.
Có khi ta là một ý niệm; có khi ta là một phần của người khác, có khi ta lại là ta như bây giờ. Rất có thể mình đã từng là một đámmây, một bông hoa hay một dòng sông. Sư Ông nói có thể mình nên gọi ngày sinh nhật là Ngày Tiếp Nối là hay hơn cả. Tại sao Sư Ông lại dạy mình như vậy nhỉ?
[“Để nhắc nhở là chúng ta không bao giờ được sinh ra”, “Chúng ta luôn đã là một cái gì trước đó rồi”, “Chúng ta tiếp nối cái mà ông bà, tổ tiên đã tiếp nối”]
Lần tới, nếu các em tổ chức tiệc sinh nhật thì các em hãy mời các bạn hát “Mừng ngày tiếp nối của em” nhé!
Nếu em không bao giờ sinh thì em có bao giờ chết không? [Không ạ]
Làm sao chúng ta có thể sống hoài hoài được nhỉ? Làm sao để chúng ta không bao giờ chết?
[Bởi vì cô biết em. Em là một ý tưởng của cô/thầy. Chừng nào cô/thầy còn sống thì em còn sống, vậy nên em sẽ tiếp tục sống trong tất cả những người cô/thầy quen biết”; “Khi em có con cháu, em sẽ là một phần của con cháu”; “Có phải là em có mặt trong tất cả mọi thứ không? Em nghĩ vậy”; “Này, kiểu này thì mình cứ tiếp tục hoài hoài.”]
Tại sao biết mình không bao giờ sinh không bao giờ chết là một điều quan trọng nhỉ?
[“Vì nếu em bị bệnh phải vào bệnh viện, và bác sĩ bảo là em sắp chết, em có thể nói con sẽ không bao giờ chết”; “Rồi khi người nhà em đến thăm và buồn khi nhận tin này, em có thể bảo họ: Đừng buồn. Con sẽ không bao giờ chết”; “Bởi vì nếu có ai đó nóirằng em sẽ chết, em sẽ không sợ nữa, em đã biết điều đó không phải là sự thật”; “Bởi vì khi biết rằng mình đang còn sống trong những người khác thì mình sẽ quan tâm chăm sóc người đó tốt hơn”; “Con cũng cần chăm sóc cho chính mình nữa, vì nếu bạn con có trong con, thì chăm sóc cho mình cũng chính là chăm sóc cho bạn”.]
Cho nên biết rằng mình chưa bao giờ từng sinh ra mà cũng không bao giờ chết đi, ta sẽ không còn buồn, còn sợ nữa, ta sẽ biết cách an ủi bạn bè và gia đình. Điều này cũng nhắc ta quan tâm chăm sóc cho những người khác bởi vì ta có trong họ, đồng thời nhắc ta nên chăm sóc cho chính mình bởi vì những người khác cũng có trong ta. Biết được là ta không sinh cũng không bao giờ chết giúp ta có hạnh phúc và ta sẽ làm cho những người khác có hạnh phúc.
MỘT HÔM, BỤT vào rừng thiền hành, trên đường về Người nhặt một nắm lá simsapa. Tại cửa rừng, Người gặp một nhóm các vị khất sĩ. Người mỉm cười và đưa nắm lá simsapa lên hỏi: “Các vị khất sĩ! Lá trong tay tôi nhiều hay lá trong rừng nhiều?” Các vị khất sĩ trả lời, “Lá trong tay Bụt thì ít mà lá trong rừng thì nhiều”.
Bụt nói: “Cũng như thế đó, các vị khất sĩ! Những điều tôi biết do sự thực chứng thì nhiều, nhưng những điều tôi đem ra dạy quý vị thì ít. Tại sao thế? Tôi chỉ muốn trình bày cho quý vị những gì thật sự có ích lợi cho công trình tu tập của quý vị mà thôi”.
Tương tự như vậy, trước tiên chúng ta nên dạy những gì có thể đáp ứng cho nhu cầu thiết yếu của các em học sinh và nếu có thời gian, thì dạy thêm những kiến thức khác. Tôi hy vọng các nhà lãnh đạo và Bộ Giáo dục xem xét lại vấn đề này. Quý vị nên biết rằng giáo viên bị áp lực thời gian vì chương trình dạy quá nặng. Khi học sinh có nhiều đau khổ vì bạo lực, tuyệt vọng, giận dữ và thiếu tình thương thì các em không thể học tập tốt được. Đây là một vấn đề nền tảng mà các nhà giáo dục cần giải quyết.
Tất cả chúng ta ai cũng có những nhu yếu sâu sắc của mình. Mà nhu yếu sâu sắc nhất là thương yêu và được thương yêu. Chúng ta phải tìm cách chạm vào những hạt giống thương yêu của học sinh. Thương yêu là một nghệ thuật. Nếu nhà giáo dục biết cách thương yêu thì người đó sẽ có khả năng dạy cho học sinh của mình biết cách thương và cách tiếp nhận tình thương.
Nhu yếu sâu sắc thứ hai là nhu yếu hiểu. Khi ta tò mò muốn tìm hiểu thì ta sẽ thích học hỏi. Vì vậy, nếu ta có thể khơi dậy hạt giống tò mò muốn tìm hiểu trong học sinh, thì các em sẽ ham học. Khi đó ta không cần ép các em mà việc dạy và học sẽ trở thành một niềm vui.
Tôi luôn luôn cảm thấy vui sướng mỗi khi bước vào lớp học. Nhìn các em tôi thấy hạnh phúc và các em cũng hạnh phúc vì cả thầy lẫn trò đều có cùng một ước muốn. Chúng ta phải làm cho đối tượng của việc dạy và học trở thành vui tươi, có thể đánh thức hạt giống thương yêu và tâm muốn tìm hiểu nơi học sinh cũng như nơi thầy cô giáo.
Chuyện này chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện được không những cho học sinh mà còn cho cả chúng ta – những giáo viên, bởi vì ai cũng đều có nhu yếu muốn hiểu và được hiểu, muốn thương và được thương. Chúng ta không chỉ cần được học sinh hiểu, mà cũng cần đồng nghiệp và ban lãnh đạo nhà trường và lãnh đạo ngành giáo dục hiểu. Nếu không được hiểu thì chúng ta không thể nào có hạnh phúc và không thể hoàn thành trách nhiệm của mình. Những vị làm việc trong ngành giáo dục cần phải học cách lắng nghe nhau và thực tập ái ngữ để nói cho người khác hiểu được những khó khăn và khổ đau của mình. Trường học có thể được vận hành như một tăng thân, một cộng đồng thực tập của những nhà giáo dục. Chúng ta có thể đến để chia sẻ với nhau những băn khoăn và cái thấy của mình, đồng thời giúp người khác ý thức về khó khăn mà mình đang gặp phải.
Nhiều người trong chúng ta có đủ năng lực để tổ chức những buổi lắng nghe sâu sắc trong lĩnh vực giáo dục. Ta cần bầu ra một số thành viên trong cộng đồng giáo dục để nêu lên những mối quan tâm lo lắng của chúng ta. Ta phải mời được những nhà chức trách trong lĩnh vực giáo dục, bao gồm những nhà làm luật và quan chức chính phủ, đến nghe ta nói. Đây là sự thực tập giới thứ tư, ái ngữ và lắng nghe như một tập thể. Trên khắp đất nước có nhiều bậc nhân sĩ có khả năng lắng nghe, họ là những học giả, nhà báo, thi sĩ, chính trị gia…, ta có thể mời những người đó đến tham gia thực tập lắng nghe chúng ta. Buổi thực tập chia sẻ và lắng nghe đó có thể được phát sóng trên vô tuyến truyền hình cho cả nước theo dõi.
Chia sẻ
MỘT GIÁO VIÊN CHIA SẺ KHÓ KHĂN CỦA MÌNH
Trích từ buổi thực tập lắng nghe sâu trong khóa tu do Thiền sư Thích Nhất Hạnh hướng dẫn
Tôi là một giáo viên dạy lớp 3 và lớp 4 sống tại Brooklyn, New York. Tôi rất lo lắng cho các học sinh của mình. Các em rất hay lo và suy nghĩ quá nhiều. Còn tôi thì không thấy có cách nào để giúp các em đi ra khỏi những sợ hãi và lo lắng ấy.
Những khi lớp học cực kỳ mất trật tự và lộn xộn, tôi chỉ cần dừng lại và nói với các em: “Chúng ta cần dừng lại một chút”. Tôi tắt hết đèn trong lớp rồi hỏi: “Có chuyện gì vậy các em? Tại sao các em lại ồn ào quá như vậy?”. Khi đó các em sẽ cho tôi biết: “Đêm qua, em không ngủ được bao nhiêu”; “Khu chung cư của em thật ầm ĩ”; “Em thức chờ mẹ. Đến tận nửa đêm mẹ mới đi làm về”; “Sáng nay, em chưa ăn sáng”. Trò chuyện với các em về những chuyện đó thật sự hữu ích và sau đó lớp học trở lại bình thường… Tôi nhận ra rằng nếu tôi bỏ qua, không để ý gì đến sự bất an của các em, hoặc chỉ nói: “Chúng ta phải học cho xong tiết toán này đi đã” thì tiết học cũng sẽ chẳng được gì, mà cơ hội để hiểu thêm về các em cũng trôi đi.
Các bậc phụ huynh thân mến, tôi mong rằng quý vị có thể dành thời gian nhiều hơn cho con cái. Là một giáo viên, tôi nghĩ rằng điều hay nhất phụ huynh có thể làm để giúp đỡ học sinh là lắng nghe một cách tận tường những gì đang xảy ra cho các em. Các em rất lo lắng cho cha mẹ và cho chính bản thân. Chúng ta, phụ huynh và giáo viên cần phối hợp để cùng nhau dạy dỗ các em. Chúng ta nên tạo điều kiện để các em có thể bộc lộ cảm xúc của mình. Phương pháp thực tập lắng nghe sâu chính là một lối thoát.
Lớp học là một gia đình
Thiền tập không còn là sự thực tập của một cá nhân. Chúng ta cần thực tập chung với nhau như một tăng thân hay một đoàn thể. Năm phép thực tập chánh niệm (hay còn gọi là “Năm Giới”[1] trong đạo Bụt) cần được thực tập chung trong tinh thần của một quốc gia. Trong lớp học, giáo viên cần có thời gian lắng nghe những khổ đau và khó khăn của học sinh. Khi được lắng nghe, các em sẽ thấy nhẹ lòng hơn và nhờ đó mới có tinh thần để học tập và tiếp thu những gì ta muốn trao truyền. Các em cũng cần có cơ hội tìm hiểu những nỗi khổ tâm và khó khăn của thầy cô giáo. Giáo viên nên chia sẻ những khó khăn cũng như những ước nguyện sâu sắc của mình với học sinh. Một giáo viên hay một học sinh lớp lớn có thể đóng vai trò người điều phối để tổ chức một buổi chia sẻ và lắng nghe sâu. Bằng cách này chúng ta có thể biến lớp học thành một tăng thân, một cộng đồng, một gia đình.
Giáo viên và học sinh có thể tổ chức những buổi sinh hoạt trong đó thầy trò chơi với nhau, cùng thưởng thức âm nhạc, đi bộ, hoặc ăn chung như trong một gia đình. Chúng ta có khả năng tổ chức để biến lớp học thành một gia đình. Trong không khí gia đình đó ta mới có thể tạo điều kiện để mọi người hiểu và cảm thông sâu sắc cho nhau. Niềm đau nỗi khổ trong mỗi người nhờ đó mà được vơi nhẹ đi. Điều này sẽ làm cho việc dạy và học trở nên vui vẻ hơn. Dù lương tháng chẳng là bao nhưng sự nghiệp trao truyền tuệ giác và tình thương của một nhà giáo mang lại cho chúng ta rất nhiều hạnh phúc, rất nhiều niềm vui.
Chúng ta cần phải làm gì để giáo viên và học sinh cảm thấy hạnh phúc trong lớp học? Đây là công án, là đề tài thiền quán cho mỗi người – làm sao để các em cảm thấy hạnh phúc mỗi khi nghĩ đến trường lớp? Làm sao để giáo viên cảm thấy hứng khởi khi nghĩ đến lớp học của mình? Giáo viên có thể vận dụng tài năng và sức sáng tạo của mình, kết hợp với tài năng và sức sáng tạo của học sinh để làm cho lớp học trở thành một môi trường tuyệt diệu cho cả thầy lẫn trò. Điều này chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện được.
Nhóm tương thân tương ái
Trong lớp học, nếu các em có nỗi khổ nào đó thì giáo viên có thể giúp các em thành lập các nhóm tương thân tương ái để tìm hiểu và giúp chuyển hóa khổ đau đó. Giáo viên cùng các em học sinh có thể chọn 2 – 5 học sinh vào nhóm. Mục đích của nhóm là thực tập bình an để làm cho tất cả các học sinh và các thầy cô giáo hạnh phúc. Sau khi nhóm khởi đầu đã có một vài kinh nghiệm thực tập lắng nghe sâu, những em khác có thể thay phiên nhau tham gia vào nhóm để học hỏi phương pháp thực tập này. Rất nhiều khổ đau của các em là do hiểu lầm mà ra. Vì vậy, thường thường các em cảm thấy người khác không nghe mình, không hiểu mình. Qua sự thực tập lắng nghe sâu và nhìn sâu, con đường thoát khổ sẽ tự hiển bày. Sự thực tập lắng nghe và nhìn sâu vào bản chất của khổ đau có thể làm cho lớp học trở nên hạnh phúc và hòa hợp.
Để chuyển hóa những khó khăn trong lớp học, nhóm tương thân tương ái có thể tổ chức một buổi thực tập lắng nghe sâu với tâm thương yêu. “Thưa thầy/cô, chúng em muốn tổ chức một buổi thực tập lắng nghe sâu để mọi người có thể nói ra tất cả những khổ đau, khó khăn của mình. Nhiều bạn có khổ đau trong gia đình, nhiều bạn gặp khó khăn trong lớp học, chúng em rất mong được thầy/cô hiểu những khổ đau, khó khăn của chúng em”. Đây là một yêu cầu rất chính đáng. Khi bạn lắng nghe những tâm tư tình cảm của học sinh là bạn đã thực tập lời Bụt dạy: nhìn sâu vào bản chất của khổ đau. Ban giám hiệu nên cho phép giáo viên tổ chức những buổi lắng nghe như thế để giáo viên ngồi lắng nghe thật hết lòng những khổ đau, khó khăn của học sinh mình.
Trong một khóa tu mùa hè tại Làng Mai, có một em gái khoảng 7, 8 tuổi. Em khóc rất nhiều. Em không biết tại sao mỗi ngày thầy/cô của em lại làm khổ em nhiều như thế; em không biết tại sao thầy/cô ấy lúc nào cũng nhắm vào em, và em không biết làm sao để thầy/cô ấy đừng làm như vậy nữa. Em không muốn đến lớp chút nào, nhưng em vẫn phải đi học mỗi ngày. Khi tăng thân nghe em kể, nhiều người, kể cả người lớn đã khóc. Nhiều người trong chúng ta đã phải trải qua những khổ đau tương tự.
Nếu trong lớp học bạn phụ trách có một nhóm tương thân tương ái thì những em trong hoàn cảnh khó khăn tương tự như em gái này có thể đến chia sẻ với nhóm, “Mình khổ quá, các bạn giúp mình với”. Cả nhóm sẽ ngồi lại và nói: “Chúng mình rất sẵn lòng nghe bạn nói. Có chuyện gì vậy?”. Và tất cả mọi người lắng nghe câu chuyện của em ấy.
Nhóm tương thân tương ái có thể tìm cách giúp cho nỗi khổ của bạn mình vơi nhẹ. Nhóm có thể đề cử một hay hai thành viên đến gặp thầy/cô giáo có liên quan để nói cho thầy/cô giáo ấy biết về khó khăn của bạn mình. “Thưa thầy/ cô, chúng em không biết tại sao ngày nào bạn ấy cũng khóc, bạn ấy cho chúng em biết là thầy/cô làm bạn ấy khổ. Bạn ấy thật sự là rất khổ, bạn ấy không hề có ý trách móc thầy/cô, bạn ấy chỉ không muốn khổ như vậy nữa mà thôi. Xin thầy/ cô chỉ dạy cho chúng em cách giúp bạn ấy bớt khổ”. Khi nhóm tương thân tương ái đến thưa với thầy/cô giáo như vậy, tôi tin là thế nào giáo viên ấy cũng sẽ tìm cách thay đổi tình trạng.
Dĩ nhiên nếu em học sinh có đủ can đảm thì em có thể đến nói chuyện trực tiếp với thầy/cô giáo. “Thưa thầy/cô, em không biết tại sao thầy/cô lại tập trung vào em mỗi ngày làm em rất khổ sở. Em không biết mình đã làm gì sai. Nếu em có điều gì làm cho thầy/cô không vui, xin thầy/cô cho em biết, em sẽ cố gắng hết sức để thay đổi”. Học sinh có thể chia sẻ bằng những lời dễ thương như vậy. Trong trường hợp, học sinh không đủ tự tin để chia sẻ trực tiếp với thầy/cô giáo thì nhờ nhóm tương thân tương ái giúp. Đó là một cách xử lí rất hòa ái.
Giáo viên cũng nên nói cho học sinh biết là mình cũng có những nỗi khổ riêng trong gia đình và nếu có thêm những nỗi khổ trong lớp học thì có thể hơi quá sức cho mình. Nếu trong lớp có một Nhóm tương thân tương ái thì các em học sinh nên tìm cách động viên thầy cô giáo của mình nói ra được những khó khăn trong lòng. Khi các em đã hiểu những khó khăn của thầy cô giáo thì các em sẽ hành xử dễ thương hơn, sẽ hợp tác và biết cách yểm trợ cho thầy cô giáo.
Nếu giáo viên và học sinh không bắt được nhịp cầu cảm thông sâu sắc cho nhau thì cả thầy lẫn trò không thể nào có hạnh phúc. Thầy cô chẳng có hứng thú giảng dạy mà trò cũng chẳng có hứng thú để học.
HOẠT CẢNH VỀ GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN
Mời một em kể chuyện về mâu thuẫn nào đó từng xảy ra giữa em với người khác. Nếu thấy câu chuyện phù hợp, bạn cho các em khác diễn lại câu chuyện này. Sau đó, cho các em thảo luận để tìm ra cách giải quyết mâu thuẫn đó một cách hài hòa và có chánh niệm hơn.
Nhắc các em quay về với hơi thở và ý thức về cảm xúc của mình. Khuyến khích các em rời khỏi nơi xảy ra mâu thuẫn càng sớm càng tốt nếu có thể, trước khi sự việc trở nên trầm trọng. Hoặc nên rời khỏi khi các em cảm thấy hơi nguy hiểm. Khi các em có đủ bình tĩnh để chia sẻ với người kia về những khó khăn của các em, dạy các em dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (con, tôi, mình, em…) để các em có trách nhiệm hơn về cảm xúc của mình. Tránh nói với ý than phiền, trách móc hay lên án người kia. Khuyến khích các em miêu tả cụ thể hành động và lời nói nào của người kia đã làm em buồn[2]. Ví dụ, em thấy tổn thương và giận vì chị đã hứa cho em chơi chung đồ chơi với chị nhưng sau đó chị lại nuốt lời. (Thay vì các em nói: chị là kẻ nói xạo, chị chỉ biết hứa suông mà không làm!)
Cho các em diễn lại cảnh xung đột này một lần nữa. Lần này các em sử dụng những phương pháp mà các em đã nghĩ ra ở trên. Nếu có nhiều ý hay thì có thể tổng hợp lại thành một màn kịch để biểu diễn.
Hoạt cảnh về giải quyết mâu thuẫn cũng có thể rất hữu ích khi có sự tham gia của cha mẹ và con cái, hoặc giáo viên với học sinh. Diễn cảnh xung đột thật trước (ví dụ cảnh thức các con dậy vào buổi sáng để đi học, cảnh giáo viên tìm cách làm học sinh tập trung khi các em liên tục nói chuyện trong lớp học), sau đó diễn lại cùng hoàn cảnh nhưng cách xử lí đã khác hơn khi cả hai bên đã hiểu được những nhu yếu của nhau. Nhiều khi để cho người khác diễn vai về mình trong hoàn cảnh khó khăn lại giúp cho ta hiểu thêm được vấn đề.
Có khả năng lắng nghe chính mình và lắng nghe người khác là một điều rất quan trọng. Chỉ khi nào chúng ta có thể thực sự lắng nghe bản thân thì chúng ta mới có thể lắng nghe người khác. Lắng nghe bản thân có nghĩa là gì?
[Lắng nghe cơ thể của chúng ta, khi mệt thì phải lên giường nghỉ ngơi, không ép uổng thân thể mình, tôn trọng giới hạn của bản thân…]
Lắng nghe người khác thật sâu sắc chính là món quà đích thực có tác dụng trị liệu rất lớn. Các em có nhớ những lần các em được ai đó thật sự lắng nghe mình hay không? Các em cảm thấy thế nào khi được lắng nghe như vậy? Làm thế nào các em biết là người kia thực sự lắng nghe các em? Người ấy đã tỏ lộ sự cởi mở và tiếp nhận những gì các em chia sẻ ra sao?
Viết lên bảng những phẩm chất của lắng nghe sâu mà các em định nghĩa. Ngoài ra, có một số phẩm chất quan trọng như: không ngắt lời người khác, lắng nghe bằng cả tấm lòng, không phê phán hoặc so sánh, không nhận xét, liên tưởng này nọ trong đầu khi nghe những điều người kia nói. Nếu không nghe các em nhắc đến các phẩm chất này thì gợi ý và nói cho các em biết tầm quan trọng của những điều đó. Nhắc các em rằng trong việc lắng nghe sâu, chúng ta lắng nghe với một mục đích duy nhất là giúp cho người kia cảm thấy được lắng nghe và chấp nhận.
Để giúp cho các em thực tập lắng nghe, cho các em bắt cặp với nhau. Chỉ định em nào nói trước. Bạn có thể viết ba đề tài lên bảng để các em chọn một. Ví dụ: các em có thể nói về một khó khăn gần đây; hoặc các em đang háo hức chờ đợi một điều hay một sự kiện gì đó sắp xảy ra; hoặc ngay bây giờ các em cảm thấy thế nào. Hướng dẫn các em:
Bây giờ, chúng ta sẽ chia sẻ thật lòng, cố gắng không cần che giấu điều gì. Các em nghĩ như thế nào thì chia sẻ như thế về đề tài mà em chọn. Mỗi em có từ hai đến ba phút. Trong khi em thứ nhất chia sẻ thì các em khác chỉ cần lắng nghe thật hết lòng, bỏ qua những suy nghĩ hay nhận xét đi lên trong đầu để có mặt hoàn toàn cho bạn kia. Thỉnh chuông để bắt đầu và kết thúc. Bây giờ hãy đổi vai với nhau.
Khi cả hai bên đã chia sẻ, mời các em trở lại nhóm lớn để chia sẻ trải nghiệm của các em khi thực tập lắng nghe và chia sẻ. Đối với các em, lắng nghe và chia sẻ khó hay dễ? Các em có cảm thấy mình thật sự được lắng nghe không? Nếu được lắng nghe thật sự, các em cảm thấy như thế nào trong thân và trong tâm?
Trị liệu trong môi trường học đường
Có thể chúng ta cần tổ chức những buổi lắng nghe sâu ở phạm vi rộng hơn chứ không chỉ trong lớp học. Giáo viên lắng nghe học sinh của mình, và nếu một buổi lắng nghe không đủ thì chúng ta tổ chức buổi thứ hai, thứ ba để lắng nghe tất cả những gì học sinh cần chia sẻ. Chúng ta có thể mời những giáo viên khác tham gia và thực tập nghệ thuật lắng nghe sâu với học sinh. Chúng ta cũng có thể mời hiệu trưởng đến để cùng chúng ta lắng nghe các em học sinh.
Học sinh cần phải chuẩn bị kỹ càng để diễn đạt ý mình một cách rõ ràng, mạch lạc. Các em cần cảm thấy đủ an toàn để nói ra tất cả những nỗi khổ của các em ở nhà và ở trường. Nếu các em cảm thấy có quá nhiều bài tập về nhà, các em nên nói ra cho thầy cô giáo và những người khác đang lắng nghe biết. Trọng tâm của giáo dục không nên hy sinh hiện tại để đạt được một điều gì đó trong tương lai, mà làm sao cho giáo viên và học sinh có niềm vui ngay trong giây phút hiện tại. Nếu ta không có hạnh phúc trong hiện tại thì tương lai cũng khó có thể hạnh phúc. Trách nhiệm của giáo viên là hiểu được những khó khăn, khổ đau và nguyện vọng của học trò. Có thể giáo viên cần tổ chức nhiều buổi thực tập lắng nghe mới có thể hiểu hết học sinh của mình. Và ban giám hiệu nên cho giáo viên thời gian để làm chuyện đó. Đây đích thực là đạo đức của nghề giáo.
Các em học sinh cũng nên bày tỏ nguyện vọng được lắng nghe thầy cô giáo của mình bởi vì giáo viên cũng có nỗi khổ trong gia đình và trong trường học. Nhiều giáo viên đã phải rơi nước mắt vì học sinh quá ngỗ ngược. Nhiều em có năng lượng bạo động rất lớn và hiếp đáp bạn bè mình để tiêu khiển. Đôi khi các em này cũng làm như thế với thầy cô giáo của mình. Nếu các em thấy được yếu điểm của giáo viên thì các em càng thích chí trong việc gây khó dễ. Đó là lý do tại sao nhiều buổi lắng nghe sâu cần được tổ chức để lắng nghe nỗi khổ, niềm đau của cả thầy lẫn trò.
Chia sẻ
TẠO MÔI TRƯỜNG AN TOÀN VÀ TIN CẬY TRONG LỚP HỌC
Chia sẻ của cô Bonnie Sparling và cô Uri Wurtzel, giáo viên trường Paideia, Hoa Kỳ
Lớp học của chúng tôi là lớp tổng hợp gồm 30 học sinh, trong đó một số có trình độ lớp Bảy và một số khác trình độ lớp Tám. Ngày nào chúng tôi cũng dạy từ 3 đến 4 tiếng cho 30 em học sinh đó. Triết lý dạy học của chúng tôi là mọi chương trình học đều lấy học sinh làm trọng tâm, từ đó xây dựng các chủ đề giúp các em có cái thấy rộng hơn, sâu hơn về chính mình. Dù chủ đề là gì – văn học, xã hội học, đạo đức hoặc viết lách – chúng tôi muốn các em tự cảm thấy việc học môn đó là quan trọng và có ý nghĩa cho chính mình.
Các học sinh tìm thấy ý nghĩa khi tự điều động cuộc thảo luận, và hỏi nhau những câu hỏi vừa có tính cách chất vấn phản biện vừa có tính cách riêng tư. Các em công khai thảo luận về vấn đề bắt nạt học đường do ham muốn nổi tiếng trong trường. Các em cùng nhìn xem những ai có khả năng/quyền lực làm cho người khác sợ hãi, và thảo luận để tìm ra phương pháp đối trị một cách có đạo đức.
Gia đình, đời sống xã hội và nhu yếu khẳng định bản sắc cá nhân là những mối quan tâm hàng đầu của các em độ tuổi thiếu niên. Do đó, các em đặt những đề tài này vào phần trọng tâm trong chương trình học. Qua nhiều năm, các em phát triển chương trình viết và hệ thống tòa án lớp học giúp các em làm sáng tỏ nhiều phương diện trong đời sống; đạt được một cách giải quyết mâu thuẫn giúp các em hạnh phúc hơn.
Chương trình viết tập trung chủ yếu vào những câu chuyện cá nhân của từng học sinh, đòi hỏi sự thành thật trong cảm xúc và ý hướng muốn trưởng thành của chính các em. Các em viết câu chuyện về chính cuộc đời của mình để chia sẻ cho nhau biết mình là người như thế nào. Bởi vì khổ đau và mâu thuẫn thường là những nhân tố giúp trưởng thành và có ý thức hơn, cho nên các em đã tổ chức những buổi chia sẻ với giáo viên hoặc với các bạn mà các em tin tưởng để công khai đối diện với những cảm xúc của mình. Những chiếc mặt nạ phòng thủ của các em bắt đầu rơi xuống. Đằng sau gương mặt giận dữ là sự tổn thương. Và tổn thương được chuyển hóa thành tình thương. Những buổi chia sẻ này giúp các em có được một cái nhìn mới và sáng tỏ về điều mà trước đó có thể bị che lấp dưới những cảm xúc hỗn độn.
Khi viết xong, những câu chuyện của các em được đọc lên cho cả lớp nghe trong không khí ăn mừng nhiệt liệt. Sau đó, các em thảo luận về câu chuyện vừa được chia sẻ và những gì trong câu chuyện mà các em cảm thấy gần gũi với chính mình. Sinh hoạt theo cách thức như vậy giúp các em xây dựng được một đoàn thể trong đó có sự tin tưởng lẫn nhau và hiểu nhau hơn.
Để các em cảm thấy đủ an toàn đối với những bạn đồng trang lứa mà mở lòng ra chia sẻ, các em phải xây dựng niềm tin đối với nhau. Trong việc này, các em đã xây dựng những quy định, luật lệ và một hệ thống xét xử để giúp các em chịu trách nhiệm với nhau trong trường hợp niềm tin bị rạn nứt. Các em giúp nhau tìm hiểu động cơ phía sau các hành vi gây rạn nứt niềm tin, rồi cùng tìm ra cách giải quyết. Hệ thống xét xử này hoạt động như một công cụ đắc lực để bảo đảm an toàn và công bằng, san bằng mọi khác biệt về “địa vị” và sự “nổi tiếng” giữa các học sinh.
Không hành xử thô tháo trong lớp học, không nói những lời làm người khác tổn thương, và không vi phạm nguyên tắc bảo mật thông tin là ba trong hai mươi điều luật mà các em học sinh đã đề ra và tuân theo rất nghiêm túc. Các em rất cố gắng giữ gìn hệ thống này, để bảo vệ lẫn nhau, không để cho bất cứ một hành vi nào có thể làm cho các bạn trong lớp cảm thấy mất an ninh mà từ đó không dám chia sẻ với các bạn khác về những vấn đề mà các em đang phải vật lộn. Khi một em nào đó bị cáo buộc là đã vi phạm điều luật, em đó có thể công nhận hay không công nhận mình phạm lỗi. Sau đó bị cáo và công tố viên sẽ ra trước hội đồng xét xử do một số các em học sinh đảm trách. Cả lớp sẽ ngồi lắng nghe hai phía trình bày và đặt câu hỏi để tìm hiểu rõ ràng động cơ và gốc rễ của tình trạng xung đột. Thường thì sự thật phía sau một mâu thuẫn phức tạp và có nhiều sắc thái hơn ta tưởng lúc ban đầu. Có thể một câu nhận xét không dễ thương của một em gái trong tiết học Đại số bắt nguồn từ mặc cảm kém toán của chính em. Hoặc một học sinh nam tẩy chay một bạn chăm học trong lớp bởi vì chính em ấy đã bị tẩy chay khi mới vào tiểu học.
Khi các thành viên trong lớp học hưởng được sự an ninh, tin cậy và cơ hội do hệ thống này mang lại, các em không còn nhìn nó như một sự trừng phạt từ bên ngoài nữa, mà là một công cụ giúp cho các em cảm thấy cởi mở, thoải mái và gần gũi. Thật tuyệt khi được chứng kiến ý thức cộng đồng, sự tự do thể hiện con người thật của mình, cơ hội để vui vẻ với nhau và sức mạnh của lòng cảm thông mà các học sinh đạt được qua thời gian.
Đối với nhiều em học sinh, tuổi dậy thì đồng nghĩa với những biến động. Nhưng vì các em học sinh tự tạo ra chương trình học nên rất nhiều vấn đề đi kèm với lứa tuổi này đã được giải quyết. Đây là một minh chứng về những gì mà các em thật sự quan tâm: phát triển tính trung thực, tinh thần trách nhiệm, kỹ năng giải quyết xung đột, tinh thần chia sẻ và gần gũi, có đầu óc nhạy bén, muốn tìm hiểu, và làm việc với một tinh thần đạo đức nghiêm túc nhưng cũng rất tự nhiên.
Khi học sinh đến tuổi lên trung học, chúng tôi rất hãnh diện và mừng cho các em. Các em có một tinh thần vững vàng hơn về chính bản thân, có khả năng yêu thương, mạnh mẽ và thoải mái khi đối diện với những gì dễ tổn thương. Ngoài ra, các em còn có một sự liên hệ sâu hơn, có chánh niệm hơn với các bạn học của mình.
Chia sẻ
TỪ ÁI TRONG LỚP HỌC
Chia sẻ của cô giáo Susanna Barkataki, trường Sequoyah, Hoa Kỳ
Đây là cách tôi bắt đầu một ngày dạy học cho các em học sinh lớp Năm và lớp Sáu của mình. Tôi bắt đầu bằng việc quay về với hơi thở. Sau đó, tôi hình dung mình đang cắm rễ thật vững vàng và định tĩnh vào lòng đất, đầu chạm bầu trời xanh vô tận và tiếp xúc với năng lượng yêu thương từ vũ trụ. Tôi cảm thấy tĩnh lặng, tự do, biết ơn và tràn đầy hạnh phúc. Sau đó, tôi gửi năng lượng này đến các em học sinh của mình. Tôi nhìn các em, thầm gọi tên các em và gửi đến các em những lời nói từ ái. Tôi áp dụng các câu thực tập lòng từ ái truyền thống mà tôi đã học được, đôi khi tôi cũng sửa lại một chút cho phù hợp với hoàn cảnh khi cần thiết: “Mong cho Miro hạnh phúc. Mong em khỏe mạnh. Mong em có tự tin. Chúc em chiều nay chơi bóng rổ vui”. Tôi đem sự chú tâm của mình đến từng em một: “Mong cho Latika được hạnh phúc. Mong em không còn khổ đau và tìm lại được bình an trong tâm hồn”.
Khi thực tập như vậy trong lớp học, tôi luôn nở một nụ cười với từng em. Thường thì các em có vẻ cảm được năng lượng này và mỉm cười đáp lại dù tôi chỉ nói những lời ấy trong tâm mà thôi. Ở nhà, tôi thường không thể ngăn được nụ cười khi hình dung lại từng gương mặt của học trò. Tôi cứ mong tới lúc quay lại lớp. Đôi lúc tôi bị căng thẳng hoặc buồn, khi ấy sự thực tập có khó hơn. Vì vậy, tôi quay lại gửi năng lượng thương yêu đến chính mình trước. Nếu tôi không thể chế tác được đủ niềm vui để đi ra khỏi tình trạng thì tôi biết mình cần phải nghỉ ngơi và chăm sóc thêm cho bản thân.
Sự thực tập gửi năng lượng thương yêu đến các em học sinh giúp tôi nhớ vai trò chính yếu của mình với tư cách một giáo viên và giúp tôi bước vào một ngày mới với năng lượng thương yêu, chăm sóc. Học sinh cũng có khả năng hiến tặng tình thương. Tôi đã chứng kiến các em trở nên tươi tắn và mạnh mẽ khi các em liên hệ với nhau trong tinh thần thương yêu. Tất cả chúng ta đều có thể hiến tặng tình thương và niềm vui như thế cho chính mình, rồi từ đó chia sẻ với người khác cũng như mở lòng ra để đón nhận tình thương.
Chia sẻ
ÔM ẤP NHỮNG HỌC SINH CÁ BIỆT
Angela Bergmann, Đức
Lớp học nào cũng có vài em cá biệt, và chúng ta phải luôn tìm cách để giúp các em. Tôi đã tìm ra hai phương pháp hữu hiệu cho mình:
Trước hết, tôi tìm ra một điểm mà tôi thích nơi em học sinh đó: một điều mà em ấy có khả năng, hoặc một điểm nào đó giống tôi. Nói chung là bất cứ một điểm gì giúp tôi kết nối với em. Tôi thấy nếu tôi tìm ra được điểm đó thì thế nào tôi cũng có thể tạo được sự liên hệ với em. Tôi cố gắng kết hợp điểm nối kết đó vào phương pháp giảng dạy của mình. Ví dụ tôi và một em học sinh cùng gu âm nhạc, do đó tôi khuyến khích em mang âm nhạc ( những loại nhạc được phép chơi tại trường học) vào mở trong giờ thể thao, để giờ học trở nên thú vị hơn.
Điều thứ hai, tôi tìm một nhân viên trong trường thực sự thương em học sinh đó để tìm hiểu thêm những tính cách tích cực của em. Nếu vị này đồng ý thì tôi mời vị ấy đến lớp để giúp tôi hướng dẫn cho em. Điều này có thể làm thay đổi cảm giác của học sinh khi ở trong lớp học. Các em học sinh có thể nhận ra mỗi khi tôi gặp khó khăn với các em, và điều này tạo ra căng thẳng ở cả giáo viên lẫn học sinh. Việc mời một người thích em học sinh ấy đến và tham gia với lớp mang đến cho chúng tôi một cách làm việc mới với nhau.
Chia sẻ
KHI MỌI VIỆC TRỞ NÊN KHÓ KHĂN
Tineke Spruytenburg, Hà Lan
Bất cứ ai đã từng làm việc với trẻ em đều có thể nhớ lại một số em không dễ cho chúng ta hướng dẫn. Dưới đây là một vài ý tưởng có thể giúp các bạn trong những trường hợp như thế.
Duy trì tâm từ bi: Không có học sinh khó, chỉ có học sinh trong tình trạng khó khăn mà thôi. Hoàn cảnh riêng của các em trong quá khứ hoặc hiện tại khiến các em trở nên sợ hãi và căng thẳng, khó cho các em nghe lời chỉ dạy và tham gia cùng các bạn.
Tạo cho học sinh cảm giác thuộc về: Thường thường chỉ cần gọi em đến ngồi gần bên, trong khi đặt tay lên vai hay lưng của em đã đủ để tạo nên một cảm giác an ổn; hơi thở chánh niệm và những lời an ủi của bạn là đã đủ. Những em đang gặp khó khăn thường có tâm lý muốn tìm một nơi nương tựa. Bạn hãy giao các em làm một công việc đặc biệt – ví dụ như thỉnh chuông – để các em cảm thấy mình được trân quý, hữu dụng và được chấp nhận.
Sử dụng câu khẳng định: Chúng ta rất hay nhắc nhở các em không được làm cái này hay cái khác. Và trong rất nhiều trường hợp, các em không chịu thực hiện những việc giáo viên yêu cầu. Có thể là do các em không rõ chúng ta muốn các em làm gì.
Cho nên, thay vì yêu cầu các em không được leo tường, ta có thể yêu cầu các em đứng yên trên mặt đất. Cần một thời gian thực tập thì ta mới quen với cách sử dụng ngôn ngữ như thế này, nhưng hiệu quả của nó thì rất lớn.
Khen ngợi công khai, phê bình riêng tư: Khi cần sửa lỗi của học trò, chúng ta nên có thái độ khách quan và công bằng. Cho các em cơ hội để giải thích nguyên nhân dẫn đến sự việc đó. Thông thường, các em có thể tự mình nhận lỗi và sửa lỗi. Khi các em có trách nhiệm với những hành động của mình, chúng ta nên có lời khen đồng thời tìm cách giúp các em giải hòa với những người đã làm em tổn thương.
Đối với nhóm học sinh gây mất trật tự, hãy công nhận cảm giác không thoải mái của các em và nhờ các em cùng giúp cải thiện tình hình: Chúng ta có thể yêu cầu các em nghĩ ra một sinh hoạt khác mà các em thích. Tôi còn nhớ lần đó trong chương trình trẻ em tại Làng Mai. Ngày đầu, cả nhóm ngồi trong phòng sinh hoạt để chia sẻ và chơi một vài trò nhẹ nhàng như: làm tóc cho nhau, hát, vẽ, tô màu… Một nhóm các bạn nữ không thèm tham gia. Những tình nguyện viên trong chương trình không có cách gì để làm cho các em hứng thú với sinh hoạt của nhóm. Các em này cũng biết được là các tình nguyện viên không cảm thấy thoải mái với cách hành xử của các em. Hai ngày sau, một sư cô (có trách nhiệm hướng dẫn chương trình thiếu nhi) vào phòng sinh hoạt của các em trong giờ nghỉ ngơi buổi chiều vì sư cô biết là thế nào các em nữ cũng đang chơi trong phòng. Sư cô tham gia làm đồ trang sức với các em, sư cô vừa chơi vừa chia sẻ cho các em biết cảm nhận của mình và mời các em chia sẻ cảm giác của các em về những sinh hoạt trong mấy ngày qua. Sau buổi chia sẻ đó, các em nữ đã có thể hòa chung với mọi người để tập một màn văn nghệ cho buổi tối Tết Trung Thu.
[1] Đây là một trong Năm Giới – năm phép thực tập chánh niệm theo truyền thống đạo Bụt. Có thể xem nội dung của Năm Giới tại đường link này: https://langmai. org/phat-duong/tung-gioi/van-ban-5-gioi-tan-tu/
[2] Có thể tìm đọc thêm những tác phẩm về Giao tiếp bất bạo động với trẻ em của tác giả Marshall Rosenberg.
[3] Đây là bài thực tập rất tốt cho các em thiếu niên, chúng ta cần điều chỉnh cho phù hợp với trẻ em độ tuổi dưới 12.
CHÚNG TA THƯỜNG BỊ KẸT vào một ý niệm nhất định về hạnh phúc. Ta nghĩ rằng nếu không đạt được, hay thay đổi được cái này hay cái kia thì mình không thể nào hạnh phúc được, và vì thế hạnh phúc sẽ mãi mãi không đến được. Chính vì bị kẹt vào ý niệm về hạnh phúc ấy mà chúng ta không an. Ta cứ cố gắng làm cái này, thực hiện cái kia, nhưng có thể hạnh phúc đã sẵn có rồi. Tất cả những điều kiện để bạn hạnh phúc đã có sẵn đây rồi. Bạn chỉ cần nhận diện chúng mà thôi. Nhưng làm thế nào để nhận diện chúng nếu bạn không thực sự có mặt và tỉnh thức?
Có thể bạn không nhận ra rằng mặt trời trên không là một điều kiện cho hạnh phúc của bạn. Chỉ cần một giây để nhìn thôi, bạn sẽ thấy rằng sự sống trên Trái đất có được là nhờ ánh nắng Mặt trời. Tất cả thức ăn đều nhờ ánh nắng, nhờ Mặt trời mới có được. Và khi bạn nhìn Mặt trời như vậy, bạn sẽ thấy rằng Mặt trời chính là cha, là mẹ của bạn, đang nuôi dưỡng bạn mỗi ngày. Mặt trời luôn có mặt đó cho bạn. Có thể bạn nghĩ rằng: “Chẳng ai quan tâm đến mình, chẳng ai thương mình cả”, nhưng sự thật là Mặt trời đang nuôi dưỡng bạn trong từng giây, từng phút. Đất đai, cây cối, nước, không khí, người nông dân, chim muông, côn trùng, tất cả đều đang có mặt đó cho bạn.
Người nào biết cách dừng lại và an trú trong giây phút hiện tại sẽ có thể tiếp xúc với những điều kiện hạnh phúc sẵn có, bây giờ và ở đây. Chúng ta nhận ra rằng mình không cần gì thêm nữa, vì những điều kiện này quá đủ để cho ta có hạnh phúc. Sự thực tập dừng lại rất quan trọng. Chừng nào chúng ta còn rong ruổi thì khó mà có hạnh phúc. Dừng lại thì thân tâm ta sẽ được nghỉ ngơi. Dừng lại, ta sẽ nhận diện được những điều kiện hạnh phúc đang có sẵn.
Thực tập chánh niệm giúp ta sống hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây. Chúng ta không cần phải chờ đợi mười năm sau mới có hạnh phúc. Ngay khi ta thở vào trong chánh niệm, ta sẽ cảm thấy an tĩnh, tươi mát và vững chãi tức thì. Ta không cần chờ đợi. Chánh niệm giúp ta có hạnh phúc ngay bây giờ, ngay hôm nay.
Gieo trồng hạnh phúc
CHO HẠNH PHÚC MỘT CƠ HỘI ĐỂ LỚN LÊN
DỤNG CỤ: Chuẩn bị cho mỗi em: 1 hũ trong, có miệng rộng hoặc một ly nhựa trong (hoặc cắt ngang, bỏ ¼, chỉ lấy phần dưới của một chai nhựa trong đựng nước), 1 cái khăn giấy, đất và 8 hạt đậu trắng lớn; 1 cây bút lông (loại không phai màu) cả lớp dùng chung[1].
Hôm nay, chúng ta sẽ cùng gieo những hạt đậu này.
Lưu ý: Hướng dẫn và giúp đỡ các em làm theo chỉ dẫn sau:
Chúng ta hãy đặt tên cho những hạt đậu của mình. Một số hạt đậu sẽ là những Hạt đậu Hạnh phúc; các em sẽ đặt tên cho các hạt đậu theo những gì làm cho các em thật sự hạnh phúc. Ví dụ như khi người khác mỉm cười với em, em có hạnh phúc không? Khi em mỉm cười với người khác, em có hạnh phúc không? Nếu có, em có thể đặt tên cho một hạt đậu của em là “Cười!” Những hạt khác có thể là Chánh niệm, Rộng lượng, Tự do, An toàn, Thương yêu, Hy vọng hoặc Chia sẻ.
Điều gì làm các em thực sự hạnh phúc?
[Khi chơi với chú chó cưng của em, lúc chơi với bạn bè, chia sẻ, hoa diên vĩ (Iris)]
Những hạt đậu còn lại sẽ là những Hạt đậu Không Hạnh phúc; các em sẽ đặt tên các hạt đậu ấy theo những gì làm các em không vui. Ví dụ, em có thấy không hạnh phúc khi bị một người quen nổi giận với em không? Nếu cái giận làm em không hạnh phúc, em có thể đặt một hạt đậu tên là “Giận”. Em có thể đặt tên cho những hạt Không Hạnh phúc khác là Ích kỷ, Sợ hãi, Buồn, Thiếu kiên nhẫn, Vội vã và Ganh tỵ.
Điều gì làm em không hạnh phúc?
[Đánh nhau, Chiến tranh, Trộm cắp, Không sẻ chia]
Lót mặt trong của ly bằng khăn giấy. Cẩn thận cho đất vào ly, trong lòng khăn giấy, khoảng 3/4 ly. Đặt 4 hạt đậu vào khoảng giữa khăn giấy và thành ly. Nhớ chừa khoảng cách rộng rãi giữa những hạt đậu. Cũng giống như chúng ta, các hạt đậu cũng thích được tự do.
Lưu ý: Dùng ly nhựa trong và khăn giấy để các em có thể quan sát hạt đậu nảy mầm và lớn lên như thế nào.
Dùng bút lông viết bên ngoài thành ly tên của những hạt đậu.
Trong tất cả chúng ta, ai cũng có những hạt giống của hạnh phúc và ai cũng có những hạt giống của giận hờn, ích kỷ, sợ hãi, thiếu kiên nhẫn, vội vã, hiếu chiến, trộm cắp và ganh tỵ (cùng rất nhiều những hạt giống không hạnh phúc khác!). Ta không cần phải phán xét hay xua đuổi chúng đi mà chỉ cần nhận diện và ý thức về chúng một cách đơn thuần.
Khi điều kiện thuận lợi thì những “hạt giống” của ta cũng sẽ lớn lên. Cũng như những hạt đậu, nếu ta cung cấp cho hạt giống hạnh phúc đủ đất, không khí, ánh sáng và nước thì chúng sẽ lớn lên. Dĩ nhiên nếu ta cung cấp cho những hạt giống không hạnh phúc những cái chúng cần thì chúng cũng lớn lên. Cũng như những hạt đậu, chính ta là người quyết định cho hạt giống nào lớn lên hay không lớn lên trong ta.
Cung cấp không khí cho hạt giống trong ta, nghĩa là gì? [Tự do, không gian, thời gian]
Cung cấp ánh sáng cho hạt giống trong ta, nghĩa là gì?
[Để ý đến các hạt giống, soi ánh sáng vào nó]
Bằng những cách nào chúng ta có thể tưới tẩm (và không tưới tẩm) những hạt giống trong ta?
Sau khi được hướng dẫn, các em đã chia sẻ một số thực tập để tưới tẩm hoặc không tưới tẩm các hạt giống như sau:
THỰC TẬP: “Một cách để tưới tẩm hạt giống tươi cười là thường xuyên mỉm cười.”
Ý THỨC: “Tưới tẩm hạt giống hào phóng bằng cách khi nào mình hào phóng, mình ý thức là mình đang hào phóng.”
KHÔNG ĐỂ TÂM: “Một cách để không tưới tẩm hạt giống giận là biết mình đang giận nhưng không để tâm vào cơn giận.”
KIỂM TRA LẠI NHẬN THỨC CỦA MÌNH: “Tự hỏi ‘mình có chắc không?’ khi bắt đầu thấy mình ganh tỵ với bạn. Có chắc rằng mình muốn có cái bạn mình đang có hay không?”
DỄ THƯƠNG: “Muốn tưới tẩm hạt giống thương yêu, mình có thể nói cho các bạn mình biết là mình rất thương các bạn.”
ĐỌC KỆ: “Để tưới tẩm hạt giống biết ơn, ta có thể đọc Lời quán nguyện trước khi ăn.” (xin xem trang 201)
THỞ VÀO VÀ THỞ RA: “Một cách để không tưới tẩm hạt giống sợ hãi là để ý đến hơi thở vào ra.”
KHÔNG XEM CÁC CHƯƠNG TRÌNH TI-VI, VIDEO HOẶC KHÔNG NGHE NHẠC KÉM LÀNH MẠNH TRÊN ĐÀI PHÁTTHANH: “Một cách để không tưới tẩm hạt giống không dễ thương là chỉ xem những chương trình dễ thương và lành mạnh.”
TẬP HIỂU: “Khi bắt đầu cảm thấy bực bội với gia đình, em cố gắng tìm hiểu xem cái gì đã khiến cho em bực bội.”
BA BƯỚC THỰC TẬP ĐỂ KHÔNG TƯỚI TẨM HẠT GIỐNG BUỒN:
Tận hưởng những gì đang làm em hạnh phúc.
Ý thức rằng em đang buồn.
Khi đã hết buồn, suy ngẫm về điều làm em buồn, cố gắng tìm hiểu để nếu nó xảy ra trong tương lai thì sẽ không bị nó làm buồn nữa.”
Dạy các em bài hát Hạnh phúc bây giờ (Bạn có thể tìm thấy trên Trang nhà Làng Mai hoặc quét QR-code phía dưới):
Cho các em mang các hạt giống đã gieo về nhà để chăm sóc.
ĐIỀU GÌ LÀM CHO MÌNH HẠNH PHÚC?
DỤNG CỤ: Tạp chí cũ có hình, kéo, keo dán, bút chì màu, bút viết bảng, phấn màu hoặc màu vẽ, và mỗi em vài tờ giấy.
Có thể nói rằng trên đời có hai loại hạnh phúc: hạnh phúc đến từ bên ngoài và hạnh phúc đến từ bình yên bên trong. Loại đầu tiên đến từ các phần thưởng bên ngoài, chẳng hạn như đồ chơi mới hoặc một miếng bánh. Loại hạnh phúc thứ hai đến từ một tâm trí hoàn toàn bình yên, như khi các con cảm thấy mình được người lớn yêu thương.
Loại hạnh phúc đầu không thật vì nó không kéo dài, và có khi cuối cùng nó còn mang lại đủ thứ phiền phức. Loại hạnh phúc thứ hai chân thực, rộng và sâu hơn, giống như một đại dương.
Cắt hình từ tạp chí và dán thành một bức tranh tổng hợp bao gồm những điều làm các em hạnh phúc, ví dụ như ăn kem hoặc ôm những người thân trong gia đình. Nếu các em không tìm được bức hình thích hợp, các em có thể tự vẽ. Các em có thể tô màu cho nền của bức tranh với những kiểu trang trí vui tươi hạnh phúc.
Khi các em đã hoàn tất bức tranh, hãy làm hai danh sách: niềm vui ngắn hạn và niềm vui dài hạn. Hạnh phúc của em thuộc vào danh sách nào? Sử dụng một tờ giấy mới và vẽ lên đó một bức hình lớn hơn để diễn tả niềm hạnh phúc mà em thích nhất.
Dạy cho các em bài hát Cười với thênh thang (Great Big Smile) (Bạn có thể tìm thấy trên Trang nhà Làng Mai hoặc quét QR-code phía dưới):
SỰ MÃN NGUYỆN
DỤNG CỤ: Chuẩn bị cho mỗi em một miếng trái cây, một ly nước nhỏ, giấy và bút chì.
Mãn nguyện nghĩa là gì? Mãn nguyện nghĩa là mình cảm thấy thỏa mãn và biết ơn với những gì mình đang có. Có sự mãn nguyện, ta có thể thong thả thưởng thức những điều rất đơn sơ; ví dụ như thưởng thức một ly nước lọc như thể đang uống một thứ nước ngon lành và đắt tiền nhất trên đời.
Còn ngược lại với sự mãn nguyện là bất mãn. Là khi mình luôn muốn có nhiều hơn nữa, giống như khi mẹ đã kể cho em nghe hai câu chuyện rồi, nhưng em lại muốn mẹ kể thêm câu chuyện thứ ba. Hoặc khi em đã được cho một miếng bánh sô cô la ngon tuyệt mà em lại muốn đòi thêm.
Hãy ăn một miếng trái cây thật chậm rãi và cẩn trọng, để ý đến hương vị, hình dáng và màu sắc của miếng trái cây. Khi uống một ly nước, cũng thực tập tương tự như vậy. Sau đó, hãy viết xuống trải nghiệm của em.
Khi đã viết xong, các em hãy làm một bài thơ, trong đó có dùng chữ “mãn nguyện” và một vài từ trong bài viết miêu tả trải nghiệm của em.
HẠNH PHÚC BỀN LÂU VÀ SỰ TỈNH THỨC
DỤNG CỤ: Giấy trắng cho mỗi em, bút chì, bút bi, bút viết bảng, bút chì màu hoặc màu vẽ, kéo và giấy thủ công bìa cứng để làm huy hiệu (không bắt buộc).
Tất cả chúng ta – bạn, tôi, mọi người, và ngay cả một chú côn trùng nhỏ xíu – cũng đều có cơ hội nuôi dưỡng cho hạnh phúc bền lâu. Ai cũng có thể trở thành một vị Bụt bởi vì ai cũng có tính Bụt – hạt giống tỉnh thức trong tâm.
Vẽ một số hình dạng và hoa văn tượng trưng cho “tính Bụt” trong em, đó là những gì tốt đẹp nhất trong em như: sự rõ ràng, sự có mặt, tình thương, sự bình an (dù nhiều khi mình quên là mình có những phẩm chất ấy). Sau đó, các em cũng có thể dựa trên bức vẽ, thiết kế một huy hiệu đeo trên áo để tự nhắc nhở là mình có tính Bụt trong lòng!
Chia sẻ
LÒNG BIẾT ƠN
Eric Reed
Tôi là một tình nguyện viên chương trình thiếu nhi trong một khóa tu mùa hè tại Làng Mai. Hôm đó, một em gái khoảng 7 tuổi xin phép lên thiền đường để ngồi thiền thay vì ra chơi với các bạn. Tôi đồng ý. Khoảng nửa giờ sau, em quay trở lại, tinh thần rạng rỡ. Tôi hỏi em đã làm gì trong thời gian lâu như thế. Em nói rằng em đã ngồi và gọi tên tất cả những gì mà em cảm thấy biết ơn. Tôi hỏi em đã dùng toàn bộ thời gian vắng mặt để làm việc ấy có phải không. Em thưa phải và bắt đầu chia sẻ với tôi về tất cả những gì mà em thấy biết ơn. Tôi cảm thấy xúc động vô cùng.
Ôm ấp khổ đau
Trong rất nhiều kinh, Bụt dạy rằng hoa sen chỉ có thể nở trên bùn. Nhìn vào một hoa sen đẹp, thơm và tinh khiết, ta có thể thấy bùn. Chúng ta không thể trồng sen trên cẩm thạch. Ta cần bùn để trồng sen. Cũng như thế, bạn có thể sử dụng những yếu tố tiêu cực trong tâm thức của mình để nuôi dưỡng tâm từ bi và thương yêu. Đây là cách nhìn của đạo Bụt. Nếu bạn chưa bao giờ bị đói, bạn sẽ không thể nào trải nghiệm được niềm vui khi có một cái gì đó để ăn. Nếu bạn chưa bao giờ bị khổ đau, làm thế nào bạn có thể nhận diện niềm vui và hạnh phúc khi chúng có mặt? Vì vậy, khổ đau đóng một vai trò rất quan trọng trong hạnh phúc của bạn. Nhờ khổ đau mà chúng ta có thể phát triển được hiểu biết và thương yêu trong ta. Nếu bạn chưa bao giờ đau khổ, bạn sẽ không có khả năng thấu hiểu được khổ đau của con người và bạn không thể nào có được tư bi.
Chúng ta không nên quá sợ hãi khổ đau, mà nên biết cách học hỏi từ khổ đau. Như thế ta sẽ biết cách giữ gìn, không để cho khổ đau nhấn chìm mình. Có khổ đau thì mới có hiểu có thương. Bụt nói “Cái này có vì cái kia có”. Nếu không có trái thì không thể có phải. Nếu không có bùn thì không thể có sen. Thật ngây thơ nếu ta muốn tìm một nơi không có khổ đau. Thiên quốc hay Tịnh độ không phải là một nơi không có khổ đau, mà chính là một nơi có tình thương và hiểu biết. Mà nếu có hiểu, có thương thì ắt phải có sự hiện diện của khổ đau. Nếu không thì đối tượng của hiểu biết và thương yêu là gì?
Sở dĩ tôi có thể chế tác tự do, thương yêu, hiểu biết là vì tôi đã từng khổ đau. Nếu chưa từng biết khổ, tôi sẽ không có tự do, hiểu biết và thương yêu như bây giờ. Và tôi sẽ không thể có gì để dạy lại cho các đệ tử của mình. Vì vậy, ta hãy nhìn sâu vào bản chất của khổ đau chứ không nên sợ hãi. Khổ đau có thể dạy cho chúng ta rất nhiều và giúp ta vun trồng hiểu biết thương yêu. Chúng ta đừng trốn chạy khổ đau. Tất cả những người làm vườn giỏi đều biết là họ cần phân hữu cơ để trồng hoa và trồng rau. Cho nên nếu có khổ đau, ta biết là ta đang có điều kiện cơ bản để làm nên hạnh phúc.
Hạnh phúc vẫn có thể hiện diện ngay khi tinh thần ta đang u ám. Điều này cũng đúng đối với thân thể, bởi vì chúng ta không bao giờ có một sức khỏe hoàn hảo về thể chất và tinh thần. Thậm chí khi có bệnh về thân hay về tâm, chúng ta vẫn có thể sống hạnh phúc với căn bệnh ấy. Khi ném một hòn đá xuống sông, dù hòn đá có nhỏ đến đâu, nó cũng sẽ chìm xuống đáy. Nhưng một chiếc thuyền có thể chở nhiều tảng đá nặng mà không bị chìm. Chiếc thuyền của ta chính là một cộng đồng, một đoàn thể tu học và nó chứa đựng sự thực tập của từng cá nhân. Nếu chúng ta thực tập tốt, sự thực tập của chúng ta có thể ôm ấp và chuyên chở khổ đau.
Khi còn là một giáo thọ trẻ ở Việt Nam trong thời gian đất nước đang có chiến tranh, ngày nào tôi cũng bị sốt mà không hề có thuốc men để chữa trị. Vậy mà tôi chưa bao giờ bỏ một buổi dạy nào. Lúc ấy tôi dạy cho các tăng ni trẻ. Mong ước sâu sắc nhất của tôi là xây dựng một thế hệ tăng ni trẻ có khả năng cung cấp cho xã hội một đạo Bụt mới mẻ, thiết thực hơn để đối trị hiệu quả hơn với những khổ đau hiện thực trên đất nước.
Tôi rất vui khi dạy những thầy, những sư cô trẻ ấy. Dù bị sốt, tôi vẫn có thể dạy. Hạnh phúc của tôi đủ lớn để ôm ấp cơn bệnh. Cho nên dù đang bị khổ mà có niềm vui của sự thực tập và có sự nâng đỡ của tăng thân, ta có thể “nổi trên mặt nước” cả về tinh thần lẫn thể chất. Ta không sợ bị chìm xuống đáy.
Hãy cho phép khổ đau có mặt trong mình. Đừng vội xua đuổi nó. Ta chỉ cần nhận diện và cho phép nó có mặt đó trong khi ta nuôi dưỡng một sự thực tập và hạnh phúc mới. Rồi một ngày nào đó, khi sự thực tập và hạnh phúc của ta đủ mạnh, ta sẽ lấy lại được thăng bằng. Ban đầu có thể hơi khó một chút nhưng với sự yểm trợ của tăng thân, dần dần chúng ta sẽ cảm thấy dễ dàng hơn. Ta có thể xin tăng thân giúp ôm ấp nỗi khổ, niềm đau và sự u ám trong tâm. Một ngày kia, ta sẽ lấy lại cân bằng. Cả hai loại cảm giác tích cực và tiêu cực đều có tính chất hữu cơ. Do đó, sự phát triển của cái này nghĩa là sự yếu đi của cái kia. Chỉ cần nuôi lớn những điểm tích cực một cách đơn thuần mà không cần phải cố gắng thay đổi những điểm tiêu cực, sự chuyển hóa sẽ xảy ra.
Chia sẻ của học sinh về hạnh phúc và lối sống đơn giản:
“Hạnh phúc không nhất thiết phải dựa trên của cải vật chất. Bằng lối sống đơn giản, chúng ta cũng có thể thư giãn và tận hưởng cuộc sống.”
“Em có thể sống với rất ít thiết bị điện tử.”
“Các nguồn tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận; chúng ta cần bảo vệ hành tinh của mình.”
“Chúng ta không cần phức tạp hóa cuộc sống; ta có thể cho dành cho bản thân nhiều thời gian tĩnh tâm để suy ngẫm về cuộc sống.”
“Ta có thể giảm thiểu việc sử dụng những đồ dùng gây ô nhiễm môi trường.”
“Sống đơn giản chính là hạnh phúc đích thực.”
Chia sẻ
VỮNG CHÃI NHƯ NÚI XANH
Terry Cortes-Vega, Master School, Hoa Kỳ
Trong một khóa tu cuối tuần, anh Chân Huy, một giáo thọ của Làng Mai, ngồi trước mặt 60 người lớn và 6 thiếu nhi lứa tuổi từ 2 đến 14.
“Các con đến ngồi đây.” Anh nói và ra hiệu mời các em nhỏ với một nụ cười. Các em đến ngồi quanh anh trong tiếng cười khúc khích.
“Hôm nay các con có vui không?”, Chân Huy hỏi.
“Có tuyết!”, bé Julia Kate 6 tuổi, hăng hái báo tin này cho anh. “Con gọi cái đó là tuyết sao?”, Chân Huy cười, “Ít quá!”
“Nhưng nó là tuyết đấy ạ”. Bé Julia khăng khăng, “Con đã nặn một cục tuyết để ném Alex đấy.”
“Ồ, vậy à”. Chân Huy cười với các em và hỏi: “Hôm nay các con có câu hỏi nào cho chú không?”
“Con muốn biết”, bé ngần ngừ một chút rồi nói tiếp, “Mình phải làm sao khi bị người ta chế giễu về văn hóa của mình?”. Anh Chân Huy nhìn bé, im lặng một hồi lâu.
“Chú đang cố nhớ lại lần cuối cùng chú bị chế giễu”, Chân Huy lên tiếng. Các em ngồi yên lặng, nhìn vào mắt anh và kiên nhẫn chờ cho anh nhớ lại.
Một lát sau Chân Huy nói: “Chú không nhớ ra lần cuối cùng chú bị chế giễu là hồi nào. Nhưng các bạn chọc ghẹo con như thế nào?”, Chân Huy hỏi Eliana. Em kéo xếch hai đuôi mắt lên. “Như thế này ạ”, em thì thầm. Những người lớn có mặt trong phòng cảm thấy lòng se lại.
“Con làm gì khi bị các bạn chế giễu như vậy?”, Chân Huy hỏi. “Con cố gắng không để ý đến”, em bé nói, “nhưng không dễ tí nào ạ.”
“Hmmm”, Chân Huy ngừng lại một chút rồi hỏi tiếp: “Bây giờ, con đang ở trong khóa tu, con nghĩ con sẽ phản ứng ra sao nếu các bạn chế giễu về văn hóa của con?”
Eliana suy nghĩ một hồi. Những người lớn chúng tôi cũng suy nghĩ. Tôi nên làm gì để giúp em bé dễ thương này? Tôi nên khuyên em điều gì? Cả căn phòng im lặng để tìm kiếm một câu trả lời từ trái tim.
Và rồi Eliana nói thật nhỏ nhẹ, “Con nghĩ con sẽ hát bài Thở vào, thở ra”. Những người lớn thở phào nhẹ nhõm. Vài người cố cầm nước mắt.
“Vậy bây giờ con có muốn hát bài đó không?”, Chân Huy nhẹ nhàng hỏi. Eliana gật đầu. Chân Huy tháo chiếc micro nhỏ đang đeo trên ngực áo và rồi giữ nó trước miệng em bé. Em bắt đầu hát. Những người lớn hát theo nho nhỏ để yểm trợ cho em.
Vấn đáp với thiền sư
HÃY LÀ ĐÓA HOA: Giúp các em đối trị khi bị chế giễu và hiếp đáp
CÂU HỎI CỦA CÁC EM: Thưa Sư Ông, chúng con nên làm gì khi bị các bạn chế giễu?
SƯ ÔNG: Có rất nhiều cách để thực tập. Nếu con là một người thực tập giỏi thì con có thể trở về với hơi thở và chỉ mỉm cười với người bạn đang đùa giễu mình. Con không nổi giận, con chỉ nhìn bạn ấy và nở một nụ cười. Làm như vậy, con cho bạn ấy biết là con không bị ảnh hưởng bởi cách hành xử của bạn ấy. Dù con không nói gì nhưng thông điệp của con rất rõ ràng: Tôi có bình an trong tâm, tôi không nổi giận đâu. Và đó cũng là một bài học cho bạn ấy. Con chỉ có thể làm được điều này nếu con đã biết thực tập từ trước. Ở nhà, nếu có ai làm gì khiến con bực bội, con trở về với hơi thở. “Thở vào, mỉm cười. Thở ra, lắng dịu”. Con chỉ nhìn người kia và thầm nói, “Tại sao bạn lại làm như vậy?”. Con không cần nói lớn câu này. Con chỉ nhìn và mỉm cười với người đó, trong lòng con có tình thương. Con sẽ thấy rằng vì người kia không hạnh phúc cho nên người ấy tìm cách để xả cái bực bội và bạo động ra ngoài. Những người có hạnh phúc không làm cho người khác khổ đau.
Mỗi khi thấy trong lòng bực bội, con đừng nói gì và làm gì cả. Chỉ trở về với chính con và thực tập hơi thở chánh niệm. “Thở vào, tôi thấy an tĩnh. Thở ra, tôi không nổi giận đâu”. Con hãy mỉm cười như một đóa hoa và người kia sẽ từ bỏ ý định khiêu khích hay chọc ghẹo của mình. Người ấy sẽ học hỏi từ cách hành xử của con. Hãy là một đóa hoa!
Khi con chọc tức một đóa hoa, khi con gọi đóa hoa bằng những từ không đẹp, đóa hoa sẽ làm gì? Nó sẽ tiếp tục mỉm cười với con. Hãy là một đóa hoa! Khi có ai đó chọc phá con, con chỉ cần thực tập: “Thở vào, tôi là hoa tươi mát. Thở ra, tôi là núi vững vàng”. Trong con có hoa và có núi.
Tất nhiên là ai cũng bị tổn thương khi người khác nói những lời không dễ thương với mình. Đó là một chuyện tự nhiên. Hãy tận dụng các phẩm chất của hoa và núi trong con, con sẽ không bị ảnh hưởng bởi những lời nói của người khác. Nếu con bắt đầu thực tập điều này từ khi còn nhỏ, con sẽ trở thành một người thực tập giỏi trong tương lai, và con sẽ có thể giúp được cho rất nhiều người, trong đó có con cháu của con nữa.
Đương nhiên giữ sự bình an không có nghĩa là mình không biết chăm sóc hay không biết cách bảo vệ bản thân. Trái lại, con nên chăm sóc và bảo vệ cho chính mình. Một điều quan trọng là nếu con sợ hãi khi ở trường, con bị ai đó đe dọa hoặc đụng chạm thân thể con một cách bất thường thì con phải hành xử khác hơn là chỉ yên lặng thở! Con cần phải được an toàn và biết tự chăm sóc cho bản thân dù bất cứ nơi nào. Quan trọng là con phải biết bảo hộ cho chính mình, ví dụ như là chạy đến một nơi an toàn và báo ngay cho người lớn biết chuyện gì đã xảy ra. Nói chuyện với người lớn mà con tin cậy để được giúp đỡ.
Giấc ngủ bình an
CÂU HỎI CỦA CÁC EM: Con có hai câu hỏi. Con phải làm gì khi gặp ác mộng và con rất sợ phải ngủ lại? Câu thứ hai là nhiều lúc con nằm mãi mà không ngủ được?
SƯ ÔNG: Sư Ông có vài đề nghị, tuy nhiên câu trả lời chưa được hoàn chỉnh lắm. Khi con thức dậy vì một cơn ác mộng, con không nên ngủ tiếp mà nên ngồi dậy để xoa bóp một chút. Hoặc là con đứng dậy tập vài động tác chánh niệm để máu lưu thông rồi hãy đi ngủ lại. Con cũng có thể uống một ly nước nóng.
Con nên cẩn thận khi xem truyền hình. Rất nhiều hình ảnh trên truyền hình có thể gây ra ác mộng. Do đó, chúng ta cần cẩn thận khi chọn chương trình truyền hình để xem. Ngoài ra, ta cũng không nên nghe những câu chuyện chứa nhiều sợ hãi, bạo động dễ gây ác mộng.
Đề nghị thứ ba là con nên học cách buông thư trước khi ngủ. Nằm xuống, theo dõi hơi thở, thở theo bài hát Thở vào, thở ra để cho toàn thân được thư giãn. Đó là phương pháp gửi tình thương đến cho thân và tâm của mình.
Một đề nghị nữa là người lớn có thể sắp xếp cuộc sống hàng ngày như thế nào để có thể thư giãn hơn trong cách nói năng, hành xử. Nếu trẻ em được sống trong một môi trường an lành, yêu thương và không bị tiếp xúc với các yếu tố bạo động và sợ hãi trên ti-vi, trong sách báo, truyện, chuyện trò thì phẩm chất giấc ngủ của các em sẽ tăng lên.
Ôm ấp cảm xúc
NHẬN DIỆN CẢM XÚC
Người hướng dẫn bắt đầu bằng những câu sau đây và các em lần lượt điền vào các chỗ trống để hoàn thành bài tập.
Giây phút hạnh phúc nhất của em trong ngày hôm nay là… Nếu có ai đó viết thư cho em, người đó sẽ là… Em hạnh phúc khi… Em buồn khi… Em biết ơn khi… Em giận khi… Em bình an khi… Em sợ hãi khi…
NHỮNG TẤM THẺ DIỄN TẢ CẢM XÚC
DỤNG CỤ: Chuẩn bị 8 – 15 tấm thẻ nhỏ làm bằng bìa cứng, bút chì màu, bút màu sáp, bút viết bảng hoặc bút bi.
Trên một mặt của tấm thẻ, các em vẽ một hình miêu tả một cảm xúc. Mỗi em có thể chọn một cảm xúc để vẽ: hạnh phúc, nỗi buồn, sự ngạc nhiên, sợ hãi, tổn thương, tò mò, trầm tĩnh… (Tốt nhất là nên có bảng danh sách những loại cảm xúc để các em tham khảo). Sau khi các em vẽ xong, thu những tấm thẻ lại.
Mỗi em nhận một tấm thẻ và diễn tả bằng điệu bộ cho cả nhóm đoán đó là cảm xúc gì. Hoặc mỗi em chọn một tấm thẻ và giải thích vì sao em chọn tấm thẻ đó. Có thể là hôm nay em đang cảm thấy như vậy. Người hướng dẫn cũng có thể đọc từng tấm thẻ và yêu cầu tất cả các em cùng diễn tả cảm xúc đó.
Chăm sóc “cái thất” của mình
Tôi sống trong một cái thất nhỏ ở miền quê nước Pháp. Một buổi sáng, tôi quyết định đi chơi trong cánh rừng gần đó trọn một ngày. Thế là tôi chuẩn bị một cái bánh mì sandwich, một chai nước lọc, một cái mền nhỏ để làm gối ngồi thiền. Trước khi đi, tôi mở tất cả các cửa sổ và cửa chính với hy vọng là ánh nắng mặt trời sẽ làm cho mọi thứ trong thất được khô ráo. Tôi đã thưởng thức cả buổi sáng hôm đó trong rừng. Nhưng khoảng ba giờ chiều, trời bỗng nổi gió và mây đen bắt đầu vần vũ.
Tôi biết là mình phải về thất gấp vì cửa chính và cửa sổ đều đang mở. Vừa về tới nơi, tôi thấy cái thất của mình đang ở trong một tình trạng thật là thê thảm. Gió đã thổi giấy tờ trên bàn bay đi tứ tung. Không khí trong thất lạnh ngắt, tối thui, rất khó chịu. Nhưng tôi không hề lo lắng. Tôi biết rất rõ mình cần làm gì. Trước hết, tôi đi đóng cửa chính và tất cả các cửa sổ lại. Để có ánh sáng, tôi thắp cây đèn dầu lên bởi vì trong thất không có điện. Tôi nhóm lò sưởi và thu nhặt những tờ giấy nằm vương vãi xung quanh rồi đặt chúng ngay ngắn lên bàn.
Khi tôi quay lại lò sưởi thì lửa đang cháy thật đẹp. Cái thất bây giờ ấm áp và thật dễ chịu. Tôi ngồi yên trước lò sưởi, thưởng thức hơi thở. Ngoài trời gió vẫn thổi mạnh, những hàng cây ngả nghiêng trong gió, nhưng bên trong thất, tôi cảm thấy ấm cúng, dễ chịu và hạnh phúc.
Có những ngày chúng ta cảm thấy lòng không ấm áp, không vui, giống như ta đang ở trong cái thất bị gió thổi vào làm mọi thứ bên trong vung vãi khắp nơi. Ta muốn nói cái gì đó để cải thiện hoàn cảnh nhưng lại làm cho tình trạng xấu thêm. Ta nghĩ: “Hôm nay xui xẻo quá”.
Giống như những gì tôi đã làm khi trở về thất của mình trong cơn bão, sự thực tập của chúng ta cũng vậy: phải khép tất cả các cửa sổ và cửa chính lại. Các cửa sổ chính là đôi mắt, đôi tai, cái miệng. Phải đóng tất cả lại. Khi nào cảm thấy khổ sở, bạn hãy làm như tôi đã thực tập với cái thất của tôi. Bạn cần khép tất cả các cửa sổ của mắt, của tai lại. Đừng nhìn, đừng nghe hay làm gì nữa. Rồi thắp lên một ngọn đèn, ngọn đèn của ý thức, của chánh niệm. Thở vào, thở ra. Chánh niệm là một ngọn đèn mà ta có thể thắp sáng trong chính tự thân mình. Có thể bạn cũng thích nhen một bếp lửa ở bên trong để sưởi ấm. Ai trong chúng ta cũng có một cái thất, đi bất cứ nơi nào ta cũng có thể mang cái thất đó đi theo. Khi ta cảm thấy khổ sở, ta thực tập trở về với cái thất, chăm sóc nó. Đóng tất cả các cửa sổ và cửa chính. Nhen lửa và dọn dẹp.
Chúng ta có thể tìm lại bình an và hạnh phúc bằng hơi thở chánh niệm và bước chân ý thức. Thành công được một lần, ta sẽ có tự tin và lần tới ta sẽ không bị rơi vào trạng thái đó nữa, ta sẽ biết phải làm gì để vui hơn và thoải mái hơn. Hình hài của ta chính là cái thất. Tâm của ta cũng là cái thất. Sẽ thật đáng tiếc nếu ta không biết cách sử dụng cái thất ấy để bảo hộ, trị liệu và thưởng thức.
Thở bụng
Khi cảm giác buồn, tuyệt vọng và giận khởi lên, chúng ta nên dừng lại cái ta đang làm để trở về ngôi nhà của tự thân và chăm sóc chính mình. Ta có thể ngồi hoặc nằm xuống và bắt đầu thực tập hơi thở chánh niệm. Thực tập hơi thở mỗi ngày có thể rất hữu ích. Một cảm xúc mạnh giống như một cơn bão. Và khi bão sắp nổi lên, chúng ta phải chuẩn bị đối phó với nó. Ta không ở trên đầu – trên bình diện suy tư – mà nên đem sự chú tâm xuống bụng. Ta có thể thực tập thở bằng chánh niệm và để ý đến sự phồng xẹp của bụng. Thở vào, ý thức bụng đang phồng lên; thở ra, ý thức bụng xẹp xuống. Phồng, xẹp. Ta ngưng sự suy tư lại vì suy tư làm cho cảm xúc càng mạnh hơn.
Ta nên biết cảm xúc chỉ là một cảm xúc mà thôi; nó đến, trụ lại một thời gian, rồi sẽ đi. Giống như cơn bão. Ta không nên chết chỉ vì một cảm xúc. Chúng ta nên nhắc nhở những người trẻ điều này. Chúng ta là một cái gì đó lớn hơn những cảm xúc và ta có thể chăm sóc chúng dù cho đó là cảm xúc giận dữ hay tuyệt vọng. Ta không suy nghĩ nữa mà để hết 100% sự chú ý vào sự phồng lên, xẹp xuống của bụng. Làm được như vậy thì trong giây phút đó ta sẽ được an toàn. Cảm xúc của ta có thể kéo dài khoảng 5 hay 10 phút, nhưng nếu ta tiếp tục thở vào, thở ra, ta sẽ được an toàn bởi vì ta được bảo hộ bởi năng lượng chánh niệm. Chánh niệm chính là đức Bụt trong ta, giúp ta thực tập hơi thở bụng.
Chúng ta giống một cái cây trong cơn bão. Nếu nhìn lên ngọn cây, ta sẽ có cảm tưởng là cái cây có thể thổi bay đi hoặc các cành cây có thể bị gãy bất cứ lúc nào. Nhưng nếu đem sự chú ý xuống thân cây và ý thức là rễ cây đang cắm sâu vào lòng đất, ta thấy được sự vững vàng của cây. Tâm ta là ngọn cây cho nên đừng trụ nơi đó, hãy đem tâm ta xuống thân cây. Bụng ta chính là thân cây cho nên phải trụ nơi đó, thực tập thở sâu với chánh niệm thì cảm xúc sẽ dần tan đi. Khi bạn đã vượt qua được một cảm xúc, bạn sẽ biết làm gì trong lần tới khi có một cảm xúc mạnh phát khởi. Bạn sẽ lại vượt qua. Nhưng đừng đợi đến khi có một cảm xúc mạnh đi lên mới thực tập. Thực tập hơi thở chánh niệm hàng ngày rất quan trọng. Sau khoảng hai mươi mốt ngày thực tập, khi có một cảm xúc mạnh đi lên, ta sẽ nhớ thực tập một cách rất tự nhiên.
Nếu như ta trao truyền sự thực tập này cho một người trẻ thì có khả năng ta cứu vớt được cuộc đời của họ. Nếu các thầy cô giáo biết cách xử lí cảm xúc thì các thầy cô giáo có thể giúp cho học sinh xử lí cảm xúc của các em. Một số học sinh bị những cảm xúc đau buồn chiếm ngự nên không học được. Hướng dẫn các em một buổi buông thư trong lớp, dạy phương pháp thở bụng và giúp các em học cách đối phó với cảm xúc rất là thiết yếu. Tôi hy vọng rằng sự thực tập này có thể được nhân rộng trong hệ thống giáo dục.
Chia sẻ của học sinh về chăm sóc cảm xúc mạnh:
“Em học được cách thư giãn đầu óc, giải tỏa căng thẳng và năng lượng tiêu cực, em thấy phấn chấn hơn.”
“Khi cảm xúc không ổn định, em sẽ nhớ thực tập thở thật sâu và trở về với chính mình.”
“Em có thể cười thoải mái mỗi ngày để thư giãn thân tâm”. “Em học cách biết ơn để có thể hạnh phúc.”
“Khi tức giận, em sẽ tìm đến một nơi yên tĩnh và nhắm mắt lại, thả lỏng tâm trí cũng như cơ thể mình và nhìn lại những gì vừa xảy ra.”
“Em tự tin hơn vào bản thân. Mỗi khi mệt mỏi hoặc ưu phiền, em có thể lấy lại bình tĩnh
và để ý đến hơi thở của mình.”
THỰC TẬP THỞ BỤNG THEO CẶP
Bằng cách diễn đạt của mình, bạn hãy chia sẻ với các em cách chăm sóc “cái thất” của mình và cách thở bụng như
trên. Sau đó, bạn hỏi các em: “Các em đã từng trải qua cơn bão
cảm xúc mãnh liệt như vậy bao giờ chưa? Các em đã xử lí nó như thế nào? Đã bao giờ các em chứng kiến người khác trải qua một cơn bão cảm xúc chưa? Họ đã đối phó với nó như thế nào? Bây giờ, chúng ta sẽ học cách thở để làm lắng dịu các cảm xúc mạnh trong ta nhé”.
Cho các em thực hành theo cặp. Một em nằm xuống, em kia ngồi gần bên, nhẹ nhàng đặt tay lên bụng của bạn mình. Hai em cùng nhận diện hơi thở vào – ra, có thể đếm hơi thở đến một con số nhất định. Sau đó, hai em đổi vị trí
cho nhau. Khi hai em đã hoàn thành, hỏi “Các em cảm thấy như thế nào khi thở theo cách này?”.
Bây giờ, mời các em nằm xuống, đặt tay lên bụng mình để có thể cảm nhận sự phồng xẹp của bụng rõ ràng hơn. Hoặc các em có thể đặt một quyển sách hay một vật nặng tương đương để cảm nhận vật ấy, và cả sự phồng xẹp của bụng trong khi thở. Sau vài phút, cho các em ngồi dậy. Hỏi
“Các em có thể duy trì sự chú tâm nơi bụng và ý thức về hơi thở không? Có gì khác nhau khi thực tập với một người bạn?”.
Nếu các em thực tập hơi thở bụng thường xuyên, khi cảm xúc mạnh biểu hiện, các em sẽ thực tập một cách dễ dàng hơn.
Theo sự quan sát của tôi trong những năm gần đây thì nhiều trường học theo Cơ đốc giáo chỉ cung cấp cho học sinh kiến thức tôn giáo mà không chú ý mấy đến khía cạnh tâm linh của giáo viên và học sinh. Do đó, vào năm 2008, trung tâm nghiên cứu Cơ đốc giáo (Centre for Catholic Studies) đã yêu cầu tôi tiến hành nghiên cứu về mặt giáo dục tâm linh. Tôi nghĩ, tại sao chúng ta không tận dụng cơ hội này để bồi dưỡng giáo viên và học sinh bằng cách giới thiệu những phương pháp thực tập có khả năng biến đổi giáo dục tôn giáo?
Tôi tiến hành đề án bằng cách giới thiệu trước tiên ba truyền thống chiêm nghiệm của Cơ đốc giáo (dòng Thánh Francis, dòng Thánh Benedict và dòng thánh Ignatius). Sau đó, tôi trình bày phương pháp tu tập chánh niệm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Có khoảng 30 giáo viên tham dự nửa ngày, trọn một ngày, hoặc ở lại qua đêm. Họ đã có cơ hội thư giãn, chiêm nghiệm và được nuôi dưỡng về tâm linh. Sự thực tập gây cảm hứng cho các thầy cô giáo và họ đã học phương pháp áp dụng sự thực tập vào trong trường học của họ.
Hai năm sau, chúng tôi thấy đề án này đã cho hoa trái. Trong năm học 2009-2010, đã có thêm tám trường (Tin Lành, Cơ đốc giáo và một số phi tôn giáo khác) tham gia. Hơn 40 giáo viên mới được huấn luyện. Đề án càng lúc càng phát triển.
Christine Cheung, giáo viên của một trong các trường Cơ đốc giáo, người giới thiệu về chương trình giáo dục tâm linh này đã viết như sau:
“Chúng tôi nhận thấy các em học sinh có thể lắng lại và thích sự yên tĩnh hơn. Cả giáo viên lẫn học sinh đều rất cần những giây phút thảnh thơi và vô sự như vậy. Người trẻ sử dụng phần lớn thời gian rảnh rỗi của họ trên các thiết bị điện tử làm cho cả thân lẫn tâm của các em rất mệt mỏi. Chương trình này đã cho các em cơ hội nghỉ ngơi và tiếp xúc với tâm hồn mình.
Trong các buổi sinh hoạt, chúng tôi không giảng dạy, cũng không hề có các tài liệu học thuật. Chính học sinh là tài liệu giảng dạy. Chúng tôi giúp cho các em ý thức về hơi thở, thân thể, bước chân, lời nói và cảm xúc. Sau đó, chúng tôi cho các em không gian để cảm nhận trạng thái buông thư, thoải mái và bình an. Sự chuyển hóa đến từ sự tự ý thức. Nhiều học sinh chia sẻ rằng sau khi tham dự chương trình, các em đã biết là nên đi ngủ sớm và thức dậy sớm; học cách buông thư và phương pháp giảm thiểu những lời nói có tính tiêu cực.”
Trong buổi thực tập “Buông thư và giảm áp lực căng thẳng” đầu tiên có 120 học sinh, với sự hỗ trợ của thầy cô giáo, các em đã có thể tìm thấy sự tĩnh lặng và thư thái. Các em đề nghị trường học tổ chức những buổi thực tập như vậy thường xuyên hơn. Trong nhật ký của học sinh viết cho chương trình, chúng ta có thể thấy ước vọng sống có ý nghĩa của các em[3].
[1] Nếu không tìm được các hạt đậu thật thì bạn có thể cho các em vẽ các hạt đậu ra giấy. Mỗi em sẽ cần một tờ giấy và một cây viết. Cho các em vẽ một vòng tròn biểu tượng cho tâm của các em và vẽ các hạt giống bên trong vòng tròn đó biểu tượng cho các cảm xúc. Sau đó, các em có thể đặt tên cho các hạt giống. Bạn có thể linh hoạt điều chỉnh bài tập này cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế.
[2] Cha Kwan là một linh mục Cơ đốc giáo tại Hồng Kông. Sau khi tu tập ở Làng Mai, trở lại Hồng Kông, Cha đã bắt đầu dạy cho các tín đồ Cơ đốc trong giáo phận của Cha về sự thực tập chánh niệm, cũng như đem sự thực tập này vào trường học.
[3] Nhiều chia sẻ của các học sinh tham gia Chương trình Giáo dục Tinh thần tại Hồng Kông được trích dẫn trong sách này.
CHÚNG TA CÓ THỂ DẠY CHÁNH NIỆM cho trẻ em ở độ tuổi rất nhỏ. Ta có thể hướng sự chú ý của các em vào những gì đẹp, tươi mát và có tính trị liệu. Nếu chúng ta thật sự có chánh niệm và chú tâm vào một cái gì đó, các em sẽ làm theo và cũng hướng sự chú tâm của các em vào đó.
Trẻ em có khả năng thấy được vẻ đẹp của một bông hoa, một giọt sương, hoặc một chiếc cầu vồng. Các em dễ có mặt ở hiện tại hơn người lớn. Các em không suy nghĩ quá nhiều về tương lai hoặc quá khứ như chúng ta, vì thế chúng ta có thể dễ dàng hướng sự chú ý của các em vào một cái gì đó trong hiện tại. Bạn có thể nắm tay con mình và hướng sự chú ý của bé vào hai bàn tay đang nắm chặt vào nhau đó. Bàn tay bạn có thể to hơn rất nhiều và bàn tay của bé thì nhỏ xíu. Bạn và bé có thể chỉ cần thích thú ngắm nhìn bàn tay của hai mẹ con hay hai cha con thôi.
Tổ chức trò chơi
Trò chơi là phần rất căn bản trong bất kỳ chương trình trẻ em nào. Điều mà các trung tâm thực tập chánh niệm của chúng tôi thường chú ý đến là làm thế nào để nuôi dưỡng trẻ em thông qua các trò chơi, mang lại cho các em niềm vui, sự kết nối, sự nhẹ nhàng và tinh thần sẻ chia. Chúng tôi không quan tâm nhiều đến sự thắng thua và cạnh tranh quyết liệt. Trước khi chơi, chúng tôi tập hợp các em lại và nhấn mạnh đến mục đích của trò chơi là để cho vui, để phát triển kỹ năng và thưởng thức sự có mặt của nhau.
Khi chuẩn bị các trò chơi, bạn có thể chọn những hoạt động mà bạn thích thú phù hợp với năng lượng của các em lúc ấy. Nên uyển chuyển, linh động và chuẩn bị khoảng ba hoặc bốn trò chơi, dù cho sau đó bạn chỉ chọn một trò để sử dụng. Như thế bạn có thể chọn trò chơi nào thích hợp nhất tùy theo thời điểm. Đừng ngần ngại điều chỉnh cho phù hợp với nhóm trẻ của bạn. Hãy đặt các em và nhu cầu của các em lên hàng đầu trong bất kỳ hoạt động nào. Đôi khi, lắng nghe sâu và nói lời yêu thương, sự quan tâm và tử tế còn mang nhiều lợi ích hơn là trò chơi.
Các trò chơi tập thể
CÁC TRÒ CHƠI ĐỂ NHỚ TÊN NHAU
DỤNG CỤ: Một quả bóng nhỏ hoặc một cuộn dây.
KHOAI TÂY NÓNG: Đi quanh vòng tròn và yêu cầu mỗi người nói tên của mình. Sau đó, đưa ra một quả bóng, nói rằng nó là một củ khoai tây nóng. Lượt chơi đầu tiên, bạn phải nói tên mình và ném quả bóng đến cho người khác càng nhanh càng tốt, ai bắt được nó phải nói tên mình ra và chuyền đi, cũng càng nhanh càng tốt. Khi tất cả mọi người đều đã có một lượt chơi, bạn phải làm trò chơi khó lên bằng cách nói tên của người mà bạn ném quả bóng đến, người đó bắt bóng và phải ném đi thật nhanh đến người khác và nói tên người đó ra. Phải đảm bảo là mỗi người đều có một lượt chơi.
LUYỆN TRÍ NHỚ: Lần lượt từng người trong vòng tròn nói tên của mình và một thứ mà mình thích có cùng chữ cái đầu tiên với chữ cái trong tên của bạn, ví dụ “Tôi tên là Nga và tôi thích ngô”.
Bây giờ, thì sẽ chơi trò chơi luyện trí nhớ, người sau sẽ dựa trên cái mà người trước nói để lặp lại tên của tất cả mọi người và những gì họ thích. (Ví dụ “bạn ấy tên Nga và bạn ấy thích ngô. Bạn ấy tên Trung và bạn ấy thích trứng. Bạn ấy tên Hương và bạn ấy thích hoa)”.
TRÁI BÓNG TƯỞNG TƯỢNG
Mời các em đứng thành vòng tròn. Các em có một trái bóng tưởng tượng, một trái bóng năng lượng có thể biến thành bất cứ một cái gì mà các em muốn. Người quản trò bắt đầu bằng cách giữ trái bóng năng lượng trong hai tay và biến đổi nó thông qua chuyển động và cử chỉ thành bất cứ cái gì mà người đó thích (ví dụ như đang chơi một nhạc cụ, chơi thể thao, làm một con thú nào đó hay đang làm một hoạt động mà mình yêu thích). Trong khi làm những hành động, dấu hiệu, người đó không được nói. Sau đó, người quản trò chuyển cái mà mình thích trở lại thành trái bóng năng lượng, giữ nó trong hai tay và ném nó cho người kế tiếp trong vòng tròn, người này phải bắt trái bóng và sau đó lại chuyển nó thành cái mà người đó thích. Người này lại chuyền nó cho người kế tiếp cho đến khi tất cả mọi người đều có lượt. Trò chơi này được chơi trong yên lặng. Chúng ta chỉ thể hiện qua cử chỉ mà không phải qua lời nói.
SUY NGẪM: Các em cảm giác thế nào khi “chụp” được “quả bóng” của người khác và biến hóa nó thành cái mà mình yêu thích?
CHÂN DUNG GIA ĐÌNH
Đây là trò chơi có thể giúp mọi người hiểu hơn về gia đình của nhau. Đề nghị các em hồi tưởng về thời điểm hạnh phúc nhất của các em với gia đình và chụp một tấm ảnh về giây phút đó trong tâm trí. Sau đó, em nhờ các em khác lần lượt đóng lại vai của những người trong bức ảnh. Em đó sẽ chọn một em làm cha, một em làm mẹ, các em khác làm anh chị em, và một em khác nữa làm chính mình trong bức ảnh. Mỗi em sẽ đứng yên trong một tư thế để thể hiện hoạt động mà người trong gia đình thật đang làm tại thời điểm đó. Khi bức tranh đã hoàn thành, em đó có thể chia sẻ với mọi người trong nhóm về khoảnh khắc hạnh phúc nhất của em. Phải bảo đảm là tất cả các em đều có cơ hội làm điều này.
SUY NGẪM: Cảm giác của em thế nào khi đóng vai gia đình của người khác? Và em cảm thấy thế nào khi nhìn hình ảnh gia đình mình qua sự diễn đạt của các bạn?
LĂN BI
DỤNG CỤ: Lõi giấy vệ sinh cho mỗi em; mỗi nhóm có một hòn bi.
Các em đứng thành hàng, gần với nhau. Mỗi em cầm trên tay một lõi giấy vệ sinh. Em đứng ở đầu hàng đặt viên bi vào trong lõi giấy và nghiêng nhẹ nó sao cho viên bi lăn vào lõi giấy của em đứng cạnh. Mục đích là để cố gắng di chuyển viên bi từ người đầu hàng đến người cuối hàng mà không làm rơi viên bi. Không được phép dùng tay để bắt! Nếu ai đó đánh rơi viên bi, các em phải bắt đầu lại từ đầu hàng.
SUY NGẪM: Điều gì giữ cho viên bi tiếp tục lăn? Điều gì làm cho viên bi ngừng lăn?
Tập trung mọi giác quan
Những trò chơi và suy ngẫm sau đây giúp phát triển chánh niệm và sự tập trung.
TÔI LÀ AI?
Chia các em ra thành hai hoặc nhiều nhóm, mỗi nhóm có 3-5 em. Một nhóm đứng phía sau rèm. Một em trong nhóm chỉ để lộ ra bàn tay, hoặc một ngón tay, hoặc một nắm tay, hoặc các ngón chân, hoặc chỉ nói một từ. Em ấy cũng có thể hát một câu, hoặc huýt sáo, hoặc vỗ tay. Những em ở phía ngoài rèm phải đoán xem em nào “đang diễn”. Những em khác đứng sau rèm lần lượt làm như vậy. Sau đó, các nhóm đổi chỗ cho nhau.
SUY NGẪM: Làm sao các em biết bạn nào đang diễn phía sau rèm? Các em đã sử dụng giác quan nào để khám phá ra điều này? Các em có thể nhận ra đó là bạn nào khi nghe giọng nói của bạn ấy không? Các em có thể nhận biết đó là ai khi chỉ nghe bạn đó huýt sáo hoặc hát không?
BẠN LÀ AI?
DỤNG CỤ: Một tấm vải bịt mắt.
Một em bị bịt mắt. Những em khác đứng yên ở một nơi nào đó gần bên. Em bé bị bịt mắt di chuyển chậm rãi trong phòng cho đến khi chạm được ai đó. Em chỉ được dùng tay để cảm nhận và đoán bạn đó là ai.
SUY NGẪM: Giác quan nào giúp em nhận ra người bạn mình đang chạm vào? Em cảm thấy thế nào về trò chơi này?
MÁY ẢNH BẰNG NGƯỜI
Cho các em ghép cặp với nhau: Một em làm máy ảnh, một em làm nhiếp ảnh gia. Nhiếp ảnh gia đi phía sau “máy ảnh” của mình, đặt tay lên vai của “máy ảnh” trong khi máy ảnh nhắm hai mắt lại. Nhiếp ảnh gia hướng dẫn đường đi cho “máy ảnh” một cách cẩn trọng. Em sẽ có cơ hội chụp ba tấm ảnh. Em có thể hướng dẫn “máy ảnh” của mình đứng vào đúng điểm chụp, bằng cách chỉnh đầu “máy ảnh” lên hoặc xuống để lấy đúng góc chụp. Khi đã sẵn sàng để chụp hình, em siết nhẹ vai của người bạn cùng chơi. Người bạn có thể mở mắt ra và có thể “chụp ảnh”. Sau đó “máy ảnh” phải nhắm mắt lại ngay. Sau 3 kiểu chụp, các em đổi vai cho nhau.
SUY NGẪM: Các em đã chụp hình những gì? Các em cảm giác như thế nào khi được làm nhiếp ảnh gia hay khi làm máy ảnh? Vai nào các em thích nhất? Tại sao?
THIỀN ĐÁM MÂY
Nằm trên đất và ngắm nhìn mây trôi. Thong thả ngắm, không cần vội. Sử dụng trí tưởng tượng và sáng tạo của mình. Tưởng tượng đến các nhân vật và các cuộc phiêu lưu.
SUY NGẪM: Các em nhìn thấy gì? Câu chuyện nào nảy ra trong tâm trí các em? Các em có cảm thấy như mình đang bước vào một thế giới khác không? Đám mây giữ được hình dạng đó trong bao lâu? Thư giãn và thở sâu xuống bụng. Hãy cảm nhận sự nâng đỡ của mặt đất dưới lưng các em, hãy nghĩ xem em có phải là một phần của đám mây, của đất, của tất cả mọi thứ ở xung quanh em không.
DỤNG CỤ: Những viên đá có kích cỡ tương đương nhau, sao cho mỗi em được một viên (kích cỡ các viên đá nên vừa lòng bàn tay của các em).
Cho các em ngồi thành vòng tròn, bảo các em nhắm mắt lại, sau đó đưa cho mỗi em một viên đá để các em cảm nhận viên đá trong lòng bàn tay khoảng một phút. Hết một phút, bạn thu hồi các viên đá lại, trong khi các em vẫn đang nhắm mắt. Bạn đặt tất cả các viên đá vào chính giữa vòng tròn. Bây giờ, các em được phép mở mắt ra và đi tìm viên đá của mình.
Biến thể: Sau khi các em đã có một phút để cảm nhận viên đá của mình, thu hồi các viên đá lại trong khi các em vẫn còn nhắm mắt. Bắt đầu chuyền các viên đá quanh vòng tròn để các em cảm nhận trong khi mắt vẫn nhắm cho đến khi tìm thấy viên đá của mình.
SUY NGẪM: Các em cảm thấy thế nào khi chơi trò này? Làm thế nào các em nhận ra hoặc không nhận ra hòn đá của mình? Bàn tay của các em cảm thấy thế nào?
EM NHÌN THẤY GÌ?
DỤNG CỤ: Khay, khăn giấy hoặc khăn nhỏ, 10 – 15 vật dụng nho nhỏ hàng ngày, dễ nhận diện.
Tập hợp các vật dụng như kéo, cuộn băng keo, đĩa CD, đồng hồ đeo tay, cái ly, cái nĩa, trái cây, kẹp giấy, cây thước, bông hoa, hoặc một túi trà lọc. Bỏ tất cả lên khay và dùng khăn đậy lại.
Khi các em đã sẵn sàng, bỏ khăn ra trong vòng 20 – 30 giây (tùy thuộc vào số lượng đồ vật trên khay và vào độ tuổi của các em). Sau đó, phủ khay trở lại và xem mỗi em nhớ được bao nhiêu vật. Trò này cũng có thể chơi theo đội. Mỗi đội viết xuống các món đồ mà các em nhớ được, cố gắng nhớ càng nhiều món càng tốt.
SUY NGẪM: Các em sử dụng những cách thức nào để nhớ các món đồ? Cách nào có hiệu quả, cách nào không hiệu quả?
EM NGỬI THẤY GÌ?
DỤNG CỤ: Một khay nhỏ; năm hoặc sáu món có mùi hương ví dụ như một thanh quế, một quả chanh, lá bạc hà và những thứ rau thơm có mùi mạnh hay các loại hương liệu; khăn bịt mắt cho mỗi em.
Bịt mắt các em lại và đặt một món có mùi hương trên khay rồi chuyền theo vòng tròn. Các em chỉ được cầm khay mà không được nhặt món đó lên (trừ khi đó là hương liệu được bỏ trong lọ). Yêu cầu các em đoán thầm trong đầu xem món đồ đó là gì mà không tháo khăn bịt mắt. Khi ai cũng đều được chuyền khay, các em có thể cho nhau biết mình đoán gì. Sau khi tất cả các món có mùi hương đều đã được chuyền, các em có thể tháo khăn bịt mắt ra.
SUY NGẪM: Các em đã nhận diện ra những món nào? Các em có cảm giác thế nào khi ngửi mà không nhìn thấy?
EM CHẠM ĐƯỢC GÌ?
DỤNG CỤ: Vài đồ vật với kết cấu bề mặt khác nhau, ví dụ: cuộn bông, quả thông, giấy nhám, hòn đá nhẵn; khăn bịt mắt cho mỗi em.
Bịt mắt các em lại và chuyền quanh một trong những vật đó, bắt đầu bằng một vật mềm, ví dụ như cuộn bông. Yêu cầu các em đoán xem đó là gì. Sau đó, chuyền quanh một vật có gai như quả thông, rồi đến một vật thô như giấy nhám.
Cuối cùng, chuyền đến một vật nhẵn như miếng gỗ đã bào, hay hòn đá. Yêu cầu các em đoán thầm xem đó là gì khi các em sờ vào đồ vật, nhưng không tháo khăn bịt mắt ra. Khi đồ vật đã được chuyền hết vòng tròn, các em có thể chia sẻ về thứ các em đoán ra. Khi tất cả các vật đã được chuyền hết vòng tròn, tháo khăn bịt mắt ra và cho phép các em thấy những phỏng đoán của các em có khớp với thực tế không.
SUY NGẪM: Các em cảm thấy thế nào? Các em làm thế nào để đoán ra?
EM NẾM THẤY GÌ?
DỤNG CỤ: Nhiều loại trái cây khác nhau được cắt thành miếng nhỏ.
Chuẩn bị những loại trái cây khác nhau, với số lượng đủ để chia cho các em. Cho các em ăn trái cây khi đang bị bịt mắt hay chỉ cần nhắm mắt. Sau khi tất cả các em đều được ăn trái cây, yêu cầu các em đoán xem đó là loại trái cây nào.
SUY NGẪM: Các em có ngạc nhiên không? Các em có thấy sự khác biệt nào so với khi ăn mà mở mắt không?
EM NGHE THẤY GÌ?
DỤNG CỤ: Sưu tập nhiều loại đồ vật khác nhau mà bạn có thể tạo nên những âm thanh nghe vui tai, ví dụ như chuông và dùi, còi, hòn đá dùng để ném xuống nước, một tấm bảng dùng để cào lên, hai mảnh giấy nhám dùng để chà vào nhau, một cái búa để đóng đinh; khăn bịt mắt cho mỗi em (không bắt buộc).
Yêu cầu các em nhắm mắt (hoặc bịt mắt các em), sau đó tạo ra âm thanh bằng một trong những đồ vật đã chuẩn bị. Yêu cầu các em nhận diện xem đó là tiếng gì. Sau khi tạo ra âm thanh của vài đồ vật, bạn hãy tự tạo ra một vài âm thanh, như vỗ tay, hắng giọng, ho, chép miệng hoặc huýt sáo. Các em nhận diện âm thanh, sau đó bắt chước tạo ra âm thanh tương tự. Một em có thể tạo ra âm thanh cho các em khác nhận diện.
SUY NGẪM: Âm thanh nào các em dễ đoán ra? Âm thanh nào các em khó đoán ra?
NHÌN! NGHE! NGỬI! CHẠM! NẾM!
Cho các em ngồi yên vài phút. Yêu cầu các em để ý xem có bao nhiêu thứ mà trong một phút các em có thể nhìn, nghe, chạm, nếm, hoặc ngửi được. Sau một phút, yêu cầu các em chia sẻ kinh nghiệm của mình. Các em cũng có thể viết lại kinh nghiệm của mình.
SUY NGẪM: Các em chú ý đến những gì? Các em có nhận thấy là một giác quan của mình trội hơn các giác quan khác hay không?
ĐẾM TỚI 10
Cho các em ngồi hoặc đứng thành vòng tròn. Các em đếm từ 1 đến 10. Bất cứ em nào cũng có thể nói ra một con số, nhưng nếu hai em cùng lúc nói cùng một con số thì tất cả phải chơi lại từ đầu. Có thể trò này sẽ hơi khó chơi, nhưng nếu kiên trì có thể giúp rèn luyện khả năng tập trung, hòa hợp và chú ý đến nhau. Đây cũng là một trò chơi rất tốt để giúp các em yên lại. Đôi khi trò chơi sẽ dễ chơi hơn nếu bạn cho các em đứng trong một vòng tròn sát nhau, vai kề vai và nhắm mắt lại.
SUY NGẪM: Các em học được gì qua trò chơi này? Chiến thuật nào giúp chúng ta đếm được đến 10?
Kết nối với thiên nhiên
TRUY TÌM KHO BÁU
Sinh hoạt này có thể được thực hiện theo cá nhân, theo nhóm, hoặc trong gia đình. Đưa cho mỗi người, một nhóm, hoặc một gia đình một xấp thẻ nhỏ trên đó có viết sẵn những cặp đối lập. Ví dụ như: mềm và cứng; mới và cũ; hoang dã và thuần hóa; quen và lạ; tối và sáng;… Yêu cầu người chơi đi tìm những món tương ứng với tấm thẻ. Khuyến khích tất cả mọi người – cha mẹ và con cái – cùng chia sẻ về món đồ mình tìm được.
Trong buổi thiền hành, hoặc buổi đi bộ, mời các em tìm một chỗ ở ngoài trời mà các em thấy thích. Yêu cầu các em tiến lại gần nơi đó trong im lặng và xin phép được ngồi hoặc có mặt ở đó. Các em lắng nghe xem thiên nhiên trả lời thế nào. Câu trả lời có thể là “được” hoặc “không”. Nếu câu trả lời là “không”, các em có thể tìm một địa điểm khác và xin phép lại. Bạn có thể giải thích cho các em rằng thiên nhiên đôi khi cho chúng ta câu trả lời “không” vì nơi đó không an toàn cho chúng ta, hoặc ở đó có một cái gì cần được bảo vệ. Nếu các em nhận được câu trả lời “được”, các em ngồi im lặng trong vài phút ở nơi mà các em đã chọn. Tập hợp các em lại và mời các em chia sẻ về trải nghiệm của mình. Điều gì đã thu hút các em đến với nơi đó? Làm thế nào các em cảm nhận được câu trả lời của thiên nhiên?
Một số dấu hiệu thể hiện câu trả lời “được” của thiên nhiên theo lời chia sẻ của các em là một làn gió nhẹ, tiếng chim hót, hoặc cảm giác ấm áp trong lồng ngực. Những người khác cho biết thiên nhiên trả lời “không” là vì có một âm thanh chói tai hay một tiếng động đột ngột, hoặc cơ thể có một cảm giác không thoải mái như bị cỏ ngứa chích hay bị gai đâm. Không có kinh nghiệm nào là đúng hay sai. Sinh hoạt này chỉ đơn giản là để xây dựng ý thức và trau dồi tinh thần tôn trọng thiên nhiên, đồng thời cũng giúp ta nhận ra rằng chúng ta là một phần của thiên nhiên chứ không phải là chủ nhân của nó.
Đưa trẻ em đến một địa điểm ngoài trời và yêu cầu các em nhìn xung quanh để tìm ra những gì các em cảm thấy đẹp. Mời các em chọn một thứ trong không gian đó – có thể là một cái cây, quả thông, ngọn núi, đám mây, một con thú, một người, hay một làn gió mà các em trân quý.
Đưa cho mỗi em một mẩu giấy nhỏ và một cây bút. Mời các em viết xuống: “Em thích… [cái ở ngoài thiên nhiên mà các em chọn] bởi vì…”. Hoặc “… [cái ở ngoài thiên nhiên mà các em chọn] đẹp vì…”. Các em có thể viết một hoặc hai câu rất đơn giản. (Ví dụ: “Em yêu cây bách vì nó khỏe mạnh, có hương thơm, hùng dũng và cảm thấy thoải mái với chính nó”).
Khi các em đã viết xong, yêu cầu các em lật qua mặt giấy bên kia và viết lại một câu y hệt vậy, chỉ thay thế điều mà em chọn ngoài thiên nhiên bằng “chính em” (vậy câu ở trên có thể viết lại là “Em yêu chính em vì em khỏe mạnh, có hương thơm, hùng dũng và cảm thấy thoải mái với chính mình”). Sau đó, các em có thể suy ngẫm về cảm giác của mình khi nhận ra trong mình những phẩm chất mà các em trân quý ở thiên nhiên.
Đây có thể là một đề tài rất hay để ta suy ngẫm và thấy được mối liên hệ tương tức, không thể tách rời giữa ta với thiên nhiên.
BÀN THỜ THIÊN NHIÊN
Cùng các em đi dạo và đề nghị các em nhặt lên một thứ từ thiên nhiên mà các em cảm thấy thích, hoặc đối với em, vật đó tượng trưng cho cái đẹp, sự vững chãi, hay cái thiện lành. Đó có thể là một hòn đá, chiếc lá, quả thông, bông hoa, hay bất cứ vật gì từ thiên nhiên. Sau khi trở lại phòng sinh hoạt, mời các em chia sẻ lý do các em nhặt vật đó và ý nghĩa của nó đối với các em. Sau đó, các em có thể đi một cách chánh niệm đến bàn thờ và đặt các vật đó lên. Nên chia sẻ một chút về ý nghĩa hay mục đích của một bàn thờ và hỏi xem các em có bàn thờ ở nhà không. Từ nay, mỗi khi các em bước vào phòng sinh hoạt (phòng học), các em có thể chắp tay xá trước bàn thờ và cảm thấy được truyền cảm hứng bởi vật mà các em đã đặt lên bàn thờ.
TÌM CÁI CÂY ĐẶC BIỆT CỦA MÌNH
Cùng đi dạo ngoài thiên nhiên với các em, nhìn ngắm tất cả cây cối trong khu vực. Đề nghị mỗi em tìm một cây đặc biệt đối với mình. Khi các em đã tìm được cây đặc biệt cho mình, các em tự giới thiệu mình với cây đó, và cho cây biết vài phẩm chất đặc biệt của em. Sau một lúc, các em có thể nói với cây những phẩm chất đặc biệt của cây mà các em nhận thấy. Sau đó, các em có thể chia sẻ lại với các bạn. Khuyến khích các em nương tựa vào cái cây đó bất cứ khi nào các em cần và đến thăm cây hàng ngày. Đó là một nơi an toàn để các em có thể là chính mình, thư giãn và trở về với tự thân.
CÂY THÂN MẾN, TÊN BẠN LÀ GÌ?
Lắng nghe và nhìn một cách sâu sắc, có mặt với cái cây, thấy được tất cả những phẩm chất tuyệt vời của nó, sau đó các em hãy yên lặng xem cái cây có cho em biết nó tên gì hay không. Hoặc các em có thể đặt tên cho cây. Sau đó, các em có thể mời một người bạn đến để làm quen với cây. Các em có thể chia sẻ (với người bạn ấy) tất cả những phẩm chất tốt của cây và tại sao các em lại thích nó.
CÂY THÂN MẾN, BẠN ĐÃ NÓI GÌ?
DỤNG CỤ: Giấy và bút chì cho mỗi em.
Mời các em ngồi ở gốc cây đặc biệt của mình, lắng nghe thông điệp từ cây và từ những viên đá, côn trùng, rêu, vỏ cây và những chiếc lá xung quanh. Các em viết thông điệp này lên một mảnh giấy, hoặc vẽ ý nghĩa của thông điệp. Sau đó, các em đi truyền thông điệp này đến cho cái cây của bạn mình.
ĐỨNG NHƯ MỘT CÁI CÂY
Thực tập tư thế cái cây như trong yoga. Đứng thẳng người trên một chân, chân kia cong gập lại, bàn chân đặt lên phần đùi của chân còn lại; chắp tay lại và đặt trước ngực, hoặc nếu có thể giữ thăng bằng được thì đưa lên phía trên đầu. Lưu ý đến sự khác biệt khi bàn chân cắm rễ vào mặt đất (thậm chí nếu các em chỉ tưởng tượng nó thôi).
Lưu ý xem chuyện gì xảy ra khi mắt em nhìn tập trung vào một điểm cố định ở phía trước. Em nào không thể đứng trên một chân có thể đưa hai cánh tay cao lên, hai bàn tay chắp lại phía trên đầu và hình dung mình là một cái cây. Chuyện gì xảy ra khi các em tập trung vào hơi thở hay vào vùng bụng? Khi nào thì các em giữ thăng bằng tốt nhất?
CÁC HOẠT ĐỘNG DẠO CHƠI TRONG THIÊN NHIÊN
ĐI PICNIC: Tất cả mọi người mang một phần nhỏ để góp thành buổi picnic.
CUỘC DẠO CHƠI KỂ CHUYỆN: Mời một người có khả năng kể chuyện cùng đi và thường xuyên cho nhóm dừng lại để nghe một phần chuyện kể. Hoặc dừng lại chỉ một lần lâu hơn để kể cho các em toàn bộ câu chuyện. Hoặc cho các em kể câu chuyện về thiên nhiên mà các em đã chuẩn bị sẵn mỗi khi dừng lại.
ĐI BỘ VÀ THU NHẶT: Đi dạo và thu thập những vật đặc biệt từ thiên nhiên để trang trí cho bàn thờ thiên nhiên, hay cho một tấm panô, để làm thiệp hay để vẽ đá.
ĐI DẠO BỊT MẮT: Một em mở mắt dẫn một em đang bị bịt mắt. Sau đó, các em đổi vai cho nhau. (Hướng sự chú ý của các em vào ánh sáng và bóng tối; phương hướng, lên và xuống dốc,…) Người dẫn đường cũng có thể dẫn người bạn đang nhắm mắt chạm vào một vật trong thiên nhiên và đoán xem đó là gì trong khi vẫn đang nhắm mắt.
LẮNG NGHE: Tất cả cùng đứng im, nhắm mắt và lắng tai. Các em nghe thấy gì? Sau đó, hãy tạo lại âm thanh mà mình đã nghe được – tiếng xe cộ, bò, quạ, ong, chim, tiếng người, tiếng gió…
ĐI CHÂN TRẦN: Đi chân trần và để ý đến lòng bàn chân mình tiếp xúc với mặt đất. Đây là cách rất vui để giới thiệu cho các em về thiền hành.
NHỮNG VÒNG TRÒN MẠN ĐÀ LA THIÊN NHIÊN:Đi dạo và chọn một nơi để ngồi xuống. Chú ý đến mọi thứ xung quanh. Sau một lúc, hãy tạo thành một vòng tròn mạn đà la (mandala) sử dụng những vật thiên nhiên xung quanh: đá, lá cây, hoa, cỏ và đất. Khi mọi người đã hoàn tất, mời các em đi một vòng để xem các tác phẩm nghệ thuật của những em khác. Hoặc cho tất cả các em cùng làm một vòng tròn mandala lớn, chia vòng tròn thành các phần nhỏ để mỗi em có thể trang trí một phần, sử dụng các vật liệu từ thiên nhiên.
Nói lời tạm biệt
MẠNG LƯỚI CUỘC SỐNG
DỤNG CỤ: Một cuộn len.
Cho các em ngồi thành một vòng tròn. Bạn giữ cuộn len trong tay, rồi chia sẻ một điều quan trọng nuôi dưỡng bạn trong thời gian sinh hoạt cùng nhau. Rồi bạn ném cuộn len cho một em trong vòng tròn nhưng tay bạn vẫn giữ mối dây. Em đang giữ cuộn len sẽ bắt đầu chia sẻ. Tiếp tục như thế đến em cuối cùng. Khi tất cả mọi người đều đã nắm trong tay mối len, người hướng dẫn sẽ nói một vài câu, ví dụ như:
Dù cho tất cả chúng ta đều trở về nhà, chúng ta sẽ vẫn tiếp tục kết nối với nhau giống như sợi dây đang kết nối chúng ta trong giây phút này. Chúng ta sẽ mang thời gian có nhau này về nhà, về trường và mỗi người trong chúng ta sẽ tạo nên một mạng lưới của sự thực tập trong gia đình. Vì vậy, từ mạng lưới lớn này những mạng lưới nhỏ hơn sẽ hình thành từ mỗi chúng ta.
Sau đây là một số đề tài chia sẻ khác có thể sử dụng trong buổi sinh hoạt cuối cùng: Một chuyện vui mà em từng có là… Em nhớ khi… Em rất biết ơn vì…
Sẽ rất tuyệt vời khi các em chia sẻ về những điều các em thích và không thích trong chương trình để chúng ta có thể rút kinh nghiệm. Bạn cũng có thể yêu cầu các em chia sẻ cái mà các em sẽ mang theo khi trở về nhà, những thực tập nào hoặc những điều gì các em đã học được. Bạn có thể kết thúc bằng một cái ôm tập thể và cùng hát với nhau một bài.
[1] Tham khảo trong sách Everyone Wins!: Cooperative Games and Activities, tác giả Josette Luvmour.
[2] Hoạt động này được trích từ sách The Web of Life Imperative: Regenerative Ecopsychology Techniques that Help People Think in Balance with Natural Systems, tác giả Michael J. Cohen.
[3] Hoạt động này được trích từ sách The Web of Life Imperative: Regenerative Ecopsychology Techniques that Help People Think in Balance with Natural Systems, tác giả Michael J. Cohen.