Giảng Kinh Phước Đức (phần 3)

(Đây là bài pháp thoại Sư Ông giảng ngày 10.12.2009 tại chùa Từ Nghiêm, Xóm Mới trong khóa An Cư Kiết Đông 2009 – 2010)

Sự thực tập tại Làng Mai là sự thực tập dừng lại. Dừng lại để có thể sống được những giây phút sâu sắc, tại vì trong chúng ta có một tập khí, nó xô đẩy chúng ta đi tới. Chúng ta giống như người đang đi tìm kiếm một cái gì, đang lo lắng về một chuyện gì đó, thành ra chúng ta không thật sự có mặt trong giây phút hiện tại. Sự tìm kiếm đó, sự lo lắng đó đã trở thành một thói quen và thói quen này không cho phép chúng ta có mặt thật sự để sống sâu sắc trong giây phút hiện tại. Chỉ cần nhìn một người đang ngồi, đang đi hay đang ăn cơm một hai giây là mình có thể biết được rằng người đó có mặt hay không có mặt trong giây phút hiện tại liền, rất là dễ. Người đó tuy thân hình đang có đó nhưng không thật sự có mặt, tại vì có một sức mạnh, có một tập khí, một năng lượng đang đẩy người đó đi, kéo người đó ra khỏi giây phút hiện tại. Nhưng với sự thực tập của mình, mình có thể giúp cho người đó dừng lại. Người đó đang theo đuổi một ý tưởng, đang bị vướng vào một sự lo lắng, bị kẹt trong quá khứ, trong tương lai, trong sự buồn khổ, lo lắng…, người đó không thật sự có mặt. Là một người tu, bằng cách đi, đứng, nằm, ngồi của mình, mình có thể giúp cho người đó dừng lại, tại vì sự thực tập trước hết là dừng lại. Dừng lại cái gì? Dừng lại sự quên lãng, dừng lại sự đánh mất tự thân. Những phép tu mà Làng Mai cống hiến có tác dụng giúp cho ta có thể dừng lại được, ví dụ như hơi thở và bước chân.

Mình đang thở vào và mình biết rằng đây là hơi thở vào
Mình đang thở ra và biết rằng đây là hơi thở ra

Nếu mình biết mình có hạnh phúc trong khi thở vào thì mình ở lại với hơi thở vào của mình, lúc đó là mình đang an trú trong hiện tại. Trong khi ngồi, trong khi đi hay trong khi làm việc mình đều có thể thở vào được cả. Nếu để tâm vào hơi thở vào mà thấy mầu nhiệm và thích thú trong hơi thở vào thì đó là mình dừng lại được rồi. Đang đi mà mình ý thức được bước chân, thấy rằng mình đang bước một bước và mình dẫm lên trên hành tinh mầu nhiệm gọi là trái đất này thì đó là phép lạ. Mình thấy mình đang còn sống và đang bước lên hành tinh này thì tự nhiên cái thấy đó giúp cho mình dừng lại. Khi nghe tiếng chuông mình cũng có cơ hội dừng lại sự suy nghĩ, sự lo lắng, dừng lại sự chạy trốn để tiếp xúc với sự sống mầu nhiệm trong giây phút hiện tại.

Mình phải thiết kế, tổ chức và tu tập như thế nào để cho khung cảnh của Làng Mai có khả năng giúp được cho các bạn của mình mỗi khi tới Làng đó là có thể dừng lại được dễ dàng. Với cách mình đi, mình đứng, mình làm việc, mình nói cười có thể giúp cho người bạn của mình dừng lại được để người đó cũng có thể có mặt thật sự trong giây phút hiện tại. Các vị giáo thọ có thể giúp các bạn mới tới làm được như vậy. Mình tuy không phải giáo thọ, mình chỉ mới tu thôi nhưng khi thấy một người mới tới không biết hưởng sự tu tập thì rất là uổng. Mình có thể tới hỏi thăm: bạn đã được ai hướng dẫn về cách thở, cách đi, cách ngồi thiền chưa? Nếu người ấy chưa được hướng dẫn hoặc là hướng dẫn chưa đầy đủ thì mình có thể giúp đỡ nếu người ấy muốn. Mình không dẫm chân lên các vị giáo thọ nhưng tất cả những người đến với mình đều là huynh đệ của mình trong sự thực tập, đều là pháp huynh, pháp đệ, anh em trong đạo, cho nên mình có bổn phận phải giúp người đó. Khi thấy người ấy đi hấp tấp thì mình thấy uổng cho người đó, tại vì tới Làng Mai là mình có thể có hạnh phúc, có thể enjoy, thưởng thức từng bước chân của mình. Mỗi hơi thở là một cơ hội, mỗi bước chân là một cơ hội, mình phải nắm lấy cơ hội đó và giúp cho người kia đừng đánh mất cơ hội, đừng đánh mất sự sống.

Bài kệ 10
Trì trai tu phạm hạnh 持 齋 修 梵 行
Thường dục kiến hiền minh  常 欲 見 賢 明
Y phụ minh trí giả  依 附 明 智 者
Thị vi tối cát tường  是 為 最 吉 祥

Dịch nghĩa:
Biết ăn chay, biết tu theo phạm hạnh
Có hạnh phúc khi gặp các hiền đức
Biết nương vào các bậc có trí sáng
Đó là điềm lành lớn nhất.

Trì trai tu phạm hạnh: Nguyên văn trong chữ Hán là trai. Trì trai tức là ăn chay chứ không ăn mặn. Nhưng chữ trai này có nghĩa khác hơn, sâu hơn nữa, khi tham cứu nguyên bản bằng tiếng Pali thì chữ trai này ngày xưa người ta sử dụng để dịch chữ thanh lọc (purification). Ngày xưa người ta dùng chữ trai chung với chữ giới, gọi là trai giới, nghĩa là ăn chay và giữ giới. Đây không phải là vấn đề riêng của người xuất gia mà đây cũng là sự thực tập của người tại gia, tức là phải khổ hạnh một chút xíu, phải tiết chế, không được hưởng thụ nhiều để có thể thanh lọc được thân và tâm. Trai giới để cho thân và tâm được nhẹ nhàng, thân tâm nhẹ nhàng thì hạnh phúc sẽ dễ dàng có được, còn thân hoặc tâm quá nặng thì hạnh phúc sẽ ít hơn. Vì vậy không những người xuất gia giữ trai giới mà người tại gia cũng nên giữ trai giới.

Ngày xưa những ông vua ở các nước Á Đông lâu lâu cũng thực tập trai giới. Trước khi đăng đàn làm lễ tế trời đất thì các ông vua phải trai giới ít nhất là ba ngày, vua cũng phải ăn chay, nằm đất để thanh lọc cơ thể, để khi làm lễ trời đất thì mới có hiệu quả. Văn hóa Đông phương bắt buộc như vậy, bên Trung Quốc hay Việt Nam thì cũng đều làm như thế, dù mình là người Phật tử hay không phải Phật tử. Ví dụ như trong nước bị mất mùa, bị hạn hán, hay thiên tai thì người ta tin rằng tại vì ông vua thiếu đức, thiếu tu. Vì vậy các quan nói rằng : tâu bệ hạ, bệ hạ nên trai giới một thời gian để cầu nguyện và ông vua cũng chấp nhận điều đó. Ông vua ăn chay và không nằm trên giường ngự nữa mà đi tìm chiếc chiếu, xuống nằm dưới đất và nhất là không ngủ với các cung phi mỹ nữ, xa lìa các cung phi mỹ nữ.

Biết ăn chay, biết tu theo phạm hạnh
Có hạnh phúc khi gặp các hiền đức

Phạm hạnh (brahmacarya) có nghĩa là không có liên hệ tình dục. Người xuất sĩ thực tập phạm hạnh là điều đương nhiên rồi, nhưng người cư sĩ cũng phải nên thực tập phạm hạnh. Thỉnh thoảng các vị cư sĩ nên để ra một khoảng thời gian để trai giới, tránh có sự chung đụng. Có một thiền sinh Tây phương tới báo cáo với sư cô Chân Không là bà ta trai giới được một tháng rồi, trong một tháng đó bà không có liên hệ tới tình dục. Người xuất gia thì phải kiêng cữ suốt đời, còn người tại gia thì thỉnh thoảng cũng phải có những giai đoạn như vậy, mình phải trai, phải giới, phải tu phạm hạnh. Lâu lâu phải ăn chay, ăn đơn giản để thanh lọc thân tâm của mình.

Tại Làng Mai thỉnh thoảng có khóa tu sức khỏe, trong khóa tu mọi người ăn rất ít, không những ăn chay mà ăn rất là ít, uống nước rất nhiều, tập thể thao rất nhiều, súc ruột (nhịn ăn) để thanh lọc thân thể. Khi thân nhẹ nhàng thì tâm cũng nhẹ nhàng, mình cũng làm thế nào để cho những lo lắng, buồn phiền, tham đắm nhẹ bớt. Mình được tham dự một khóa tu, được nghe pháp thoại, được thực tập thiền tọa, thiền hành, và đi bộ một ngày mấy giờ đồng hồ, và cố nhiên là mình không có liên hệ tình dục thì thân tâm của mình được thanh lọc. Đây không phải chỉ là thực tập của những người xuất gia mà là cả của người tại gia. Nếu biết cách thực tập thì trong giai đoạn đó mình có hạnh phúc liền, còn bị bắt buộc phải làm thì mình không có hạnh phúc lắm.

Trong nguyên văn tiếng Phạn có chữ tapas có nghĩa là khổ hạnh, tiết chế, thanh lọc. Khổ hạnh (duskaracarya) tức là thực tập tiết chế. Trì trai và giữ giới, chữ trai dịch nguyên văn từ chữ tapas, tức là tiết chế khổ hạnh. Người cư sĩ cũng nên có những giai đoạn thực tập như vậy để thanh lọc thân và tâm của mình. Giữ giới là không gần gũi, chung chạ về vấn đề sắc dục. Cho nên phạm hạnh (brahmacarya) không phải chỉ cho người xuất gia mà người tu tại gia thỉnh thoảng cũng nên làm như vậy.

Bản dịch của kinh Phước Đức là biết tinh cần, tỉnh thức. Tinh cần ở đây tức là tinh cần thanh lọc. Thành ra mình phải sửa cho gần với nguyên văn hơn. Biết ăn chay, biết tu theo phạm hạnh mình nên dịch là biết tinh cần thanh lọc thân tâm và tu theo phạm hạnh thì hay hơn dịch là ăn chay. Ăn chay ở đây có nghĩa là thanh lọc thân, thanh lọc tâm, khổ hạnh một chút xíu để cho nhẹ nhàng. Trong bản dịch từ tiếng Pali mình cũng phải sửa lại là sống tinh cần, tỉnh thức. Tinh cần ở đây là chuyên cần thanh lọc thân tâm cho thường, chứ đừng có lâu lâu mới làm một lần mà mỗi năm phải làm nhiều lần. Đi một khóa tu sức khỏe, một khóa tu bảy ngày hay hai mốt ngày để thanh lọc thân tâm và tu theo phạm hạnh

Trong truyền thống Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Trung quốc, mỗi gia đình Phật tử đều có ăn chay ít nhất là ngày rằm hay mồng một. Quý vị là Phật tử, quý vị phải chấp nhận Năm Giới và phải ăn chay ít nhất là ngày rằm và ngày mồng một hàng tháng. Tối thiểu là ngày rằm và ngày mồng một quý vị tắm gội sạch sẽ, đi chùa, tu phạm hạnh, ăn chay, không uống rượu, không ăn thịt cá, không có liên hệ tình dục. Ngày đó là ngày linh thiêng của Phật tử tại gia. Phần lớn các cư sĩ đều thực tập thập trai, tức là mỗi tháng ăn chay mười ngày. Ở Việt Nam, trên lịch người ta luôn luôn nhắc rằng ngày hôm nay là ngày trai thành ra mình đi chợ mình không mua cá, mua thịt. Cố nhiên có một số Phật tử ăn chay trường, tức là ăn chay luôn ba muơi ngày một tháng.

Theo sự gởi gắm của Ủy Ban Nghiên Cứu Liên Hiệp Quốc thì muốn cứu trái đất khỏi tình trạng ô nhiễm, khỏi bị hâm nóng thì ít nhất phải ăn chay mười lăm ngày một tháng, tức là công nghệ chăn nuôi phải giảm thiểu 50%, tại vì công nghệ chăn nuôi đã phá rừng, đốn cây để làm đồng cỏ cho bò ăn, gây ô nhiễm sinh môi rất nhiều. Cách đây ba năm tôi kêu gọi Phật tử cố gắng ăn chay ít nhất là mười lăm ngày trong tháng, tức là thập ngũ trai. Đối với Phật tử Việt Nam thì không khó bao nhiêu, tại vì chỉ từ mười ngày lên mười lăm ngày và nếu có thể được ăn chay được luôn ba mươi ngày thì càng tốt. Thập trai là danh từ rất thông dụng và bây giờ mình làm thập ngũ trai. Cái này là làm theo lời khuyên của Ủy Ban Liên Hiệp Quốc: Vì thương trái đất mà ăn chay. Nếu biết cách nấu thì ăn chay cũng ngon lắm. Các thầy các sư cô nấu rất ngon. Chắc là mình phải mở một khóa tu để học nấu chay, cố nhiên là khóa tu đó mình sẽ nấu những món rất ngon và khóa tu đó chắc chắn là sẽ khác với khóa tu sức khỏe. Khóa tu sức khỏe thì không nên nấu ăn ngon, mùi thơm của thức ăn sẽ làm cho mình mất thanh tịnh, mất an lạc.

Ăn chay là phương tiện hữu hiệu nhất để cứu hộ cho trái đất. Các nhà khoa học đã nói rằng nếu mình mua một chiếc xe hơi chạy bằng điện hoặc bằng dầu để cho bớt ô nhiễm, như chiếc hybrid của hãng Honda, nó chế tác rất ít khí CO2. Nhưng không bằng ăn chay, ăn chay lời hơn, hữu hiệu hơn là mua một chiếc xe.

Tại Làng Mai chúng tôi thực tập mỗi tuần một ngày không sử dụng xe, tại Xóm Mới thì thực tập thêm mỗi tuần một ngày không sử dụng điện (trừ những ngày mùa đông) và ở đây ăn chay luôn 365 ngày trong một năm. Thực tập như vậy chúng tôi thấy trong lòng nhẹ nhàng. Tại vì làm được chuyện đó nên chúng tôi khuyên được các bạn của mình làm theo. Năm ngoái các thầy, các sư cô ở tu viện Lộc Uyển đã kêu gọi các bạn cư sĩ bên Hoa Kỳ thực tập ngày không xe (no car day). Các bạn thực tập được góp chung lại là 100.000 (một trăm ngàn) ngày không chạy xe. Rất là hay. Chúng ta có thể giúp cứu được hành tinh của chúng ta bằng cách thực tập câu này trong Kinh Cát Tường (Kinh Điềm Lành). Biết ăn chay, biết tu theo phạm hạnh, mình có thể dịch:

Thường tinh cần, thanh lọc thân tâm, tu theo phạm hạnh
Có hạnh phúc khi gặp các hiền đức

Thường dục kiến hiền minh: Có nhu yếu muốn được gặp các bậc hiền minh. Những người hiền có nghĩa là những người bạn, những bậc thầy có tu, có học. Mỗi khi nghĩ tới họ thì mình có ước muốn được gặp họ, đó là điềm lành.

Biết nương vào các bậc có trí sáng tức là người có trí tuệ vì những người có trí tuệ có thể giúp mình thoát ra khỏi những tình huống khó khăn, khổ đau, những lo lắng ưu sầu. Những khó khăn của mình nhờ lưỡi gươm của trí tuệ mà được cắt đứt. Nếu trí tuệ của mình còn thiếu thì mình phải gần gũi với các bậc hiền đức, các bậc có trí tuệ để họ soi sáng cho mình. Đôi khi khó khăn của mình mình phải loay hoay từ tuần này sang tuần khác mà không vượt thoát được tình trạng đó, gặp bậc có trí tuệ họ soi sáng cho mình một cái là mình thoát ra khỏi liền lập tức. Người kia nói cho mình có mấy câu thôi mà mình ra được. Rất là hay.

Y phụ minh trí giả: Biết nương vào những bậc có trí tuệ sáng suốt. Minh trí là trí tuệ sáng suốt. Đó là dấu hiệu của sự may mắn. Nếu một người biết trì trai, biết tu phạm hạnh, nếu người đó có nhu yếu muốn đi gặp những bậc hiền, nếu người đó biết nương vào những người có trí tuệ thì đó là dấu hiệu tốt lành mà mình có thể nhận diện được.

 

Bài kệ 11
Dĩ tín hữu đạo đức  已 信 有 道 德
Chánh ý hướng vô nghi  正 意 向 無 疑
Dục thoát tam ác đạo  欲 脫 三 惡 道
Thị vi tối cát tường   是 為 最 吉 祥

Dịch nghĩa:
Có niềm tin, có một đời sống tâm linh
Tâm ý ngay thẳng, không bị hoài nghi che lấp
Có quyết tâm lánh xa ba nẻo về xấu ác
Đó là điềm lành lớn nhất

Dĩ tín hữu đạo đức: Tín tức là niềm tin và niềm tin này không phải là niềm tin nơi một đấng thần linh mà nơi một con đường. Tín là một năng lượng, khi mình có năng lượng của niềm tin thì mình có sức mạnh, và có hạnh phúc. Trong đạo Bụt có nói tới năm nguồn năng lượng gọi là ngũ lực (panca balani): tín, tấn, niệm, định, tuệ. Tín là năng lượng của niềm tin, chính nó tạo ra những năng lượng khác; tấn là sự chuyên cần, chuyên cần tu học, thực tập; niệm tức là năng lượng của sự có mặt đích thực; định là năng lượng của sự tập trung; những năng lượng này đưa tới trí tuệ, mà trí tuệ là lưỡi gươm có khả năng chặt đứt những sợi dây sầu khổ, lo lắng, tham đắm v.v… Năm nguồn năng lượng đó tạo ra bậc trí sáng, những bậc hiền nhân.

Dĩ tín hữu đạo đức: Hữu đạo đức là có một đời sống tâm linh. Không có một đời sống tâm linh thì mình không có năng lượng để đối diện, để tháo gỡ những khó khăn trong nội tâm của mình. Đời sống tâm linh được làm bằng năm nguồn năng lượng (tín, tấn, niệm, định, tuệ) và tu tập là để chế tác năm nguồn năng lượng này.

Chánh ý hướng vô nghi: Ở đây tôi dịch là tâm ý ngay thẳng, nhưng mình nên dịch lại là hướng về sự thực tập chánh kiến (right view). Chánh ý tức là chánh kiến mà chánh kiến là yếu tố đầu của Bát Chánh Đạo. Chánh kiến tức là tuệ. Khi có được chánh kiến rồi thì mình không nghi ngờ, không thắc mắc nữa, đó gọi là chánh ý hướng vô nghi. Hướng về phía thực hiện được chánh kiến để đi đến chỗ không ngờ vực, không thắc mắc nữa nghĩa là nó đi đôi với con đường tâm linh. Con đường tâm linh là con đường Bát Chánh Đạo, nó bắt đầu từ chánh kiến rồi tới chánh tư duy. Chánh ý cũng có nghĩa là chánh tư duy (right thinking). Chánh kiến và chánh tư duy đều được bao gồm trong danh từ chánh ý.

Dục thoát tam ác đạo: Có nhu yếu không muốn đi về ba nẻo tối tăm: địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.
Theo cái thấy của đạo Bụt Đại thừa thì thế giới của địa ngục, thế giới của ma đói và thế giới của súc sanh không phải là ở một thế giới khác mà nó nằm ngay trong thế giới loài người. Trong con người có niết bàn, tịnh độ mà cũng có địa ngục. Mình đã sống như thế nào để niết bàn được biểu hiện? Hoặc mình đã sống như thế nào đó thì địa ngục có thể mở ra ngay trong lòng mình. Địa ngục hay niết bàn vốn nằm trong tâm của mình chứ không phải ở một cõi nào đó xa xôi. Có ba nẻo đường đen tối là: địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Nhưng ba con đường ấy không phải là ở một cõi khác trong tương lai mà nó có thể có ngay trong hiện tại. Súc sanh tức là chỉ biết sống theo bản năng ham muốn mà không màng gì tới tình thương, hiểu biết và giải thoát. Đường về gọi là thú, đạo cũng là thú, tam thú, ác thú. Tam ác đạo là ba nẻo về xấu ác. Trong đời sống hàng ngày mình không muốn để cho ba con đường xấu ác đó biểu hiện, nếu có quyết tâm ấy thì đó là điềm lành. Mình là người thực tập, là một hành giả mình không muốn đi về ba nẻo đường đó, cho nên mình tới với nhau để nương vào nhau. Có nhiều người không biết nên nhiều khi họ dìu nhau đi về hướng địa ngục, về cõi ma đói, về cõi xúc sanh chỉ biết thỏa mãn những thú tánh mà thôi.

Bài kệ 12
Đẳng tâm hành bố thí   等 心 行 布 施
Phụng chư đắc đạo giả   奉 諸 得 道 者
Diệc kính chư thiên nhân   亦 敬 諸 天 人
Thị vi tối cát tường   是 為 最 吉 祥

Dịch nghĩa:
Biết bố thí với tâm niệm bình đẳng
Biết phụng sự những bậc đắc đạo
Biết tôn quý những kẻ đáng tôn quý trong hai giới nhân và thiên
Đó là điềm lành lớn nhất.

Đẳng tâm hành bố thí: Đẳng tâm là tâm niệm bình đẳng, biết phụng sự những bậc đắc đạo, biết tôn quý những bậc đáng quý trong hai giới trời và người, đó là điềm lành lớn nhất. Đẳng tâm là tâm niệm không kỳ thị, coi tất cả mọi loài đều bằng nhau. Khi cứu giúp người thì mình không kỳ thị, không phân biệt chủng tộc, màu da, tôn giáo. Giúp là giúp thôi, tại người ta khổ nên mình giúp đó gọi là đẳng tâm hành bố thí.

Bố thí là một phép thực tập, nó đem lại cho mình hạnh phúc, nó là một trong sáu sự thực tập có thể đưa mình từ bến bờ khổ đau, hệ lụy đi sang bến bờ thảnh thơi, an lạc, gọi là Lục Ba La Mật (Six Paramitas). Lục Ba La Mật  là sáu phương pháp thực tập đưa mình từ bờ bên này sang bờ bên kia gồm: bố thí, trì giới, tinh tấn, thiền định, nhẫn nhục và trí tuệ. Phép thứ sáu có liên hệ với nguồn năng lượng thứ năm, gọi là tuệ. Phép thứ năm, nó liên hệ tới nguồn năng lượng thứ tư là định. Trì giới cũng liên hệ ít nhiều tới niệm định tuệ và có khi là giới định tuệ. Niệm và giới liên hệ mật thiết đến nỗi không phân biệt được, đó là trái tim của sự thực tập đạo Bụt, gọi là niệm định tuệ hay là giới định tuệ nó còn được gọi là tam vô lậu học, tức là ba sự rèn luyện, ba sự thực tập, nó giúp cho mình không rơi rụng trong thế giới của hệ lụy, sầu khổ. Vô lậu tức là không có rạn nứt, không rơi rớt xuống. Bố thí là hiến tặng, là phân phát, là chia sẻ. Sự thực tập đó có thể đưa từ thế giới của hận thù, của khổ đau, của hệ lụy đi sang thế giới của giải thoát, của an lạc, của tình thương. Khi giận ai thì mình không muốn cho người đó cái gì hết, để dành cho người khác, nhưng nếu mình nói, thôi cho người đó đi thì tự nhiên mình hết giận liền. Đó là một đề nghị của đức Thế Tôn.

Người mình thương, lâu lâu mình giận người đó, biết trước như vậy thì bây giờ khi chưa giận mình lo mua quà trước cất trong tủ, giữ cho kỹ, để khi nào mình giận mà tháo gỡ không được thì mình nhớ lời Bụt dạy, đi kiếm món quà tặng cho người đó : anh có món quà cho em, chỉ cần nghĩ tới vậy là mình hết giận liền, rất là hay. Bố thí không phải chỉ đối trị với sự ích kỷ, tham lam mà còn đối trị luôn với sân và si, nó đối trị cả tam độc. Khi mình biết rằng khổ đau của người đó tức là khổ đau của mình, làm cho  người đó hạnh phúc thì mình được hạnh phúc hơn, đó là vô si, là trí tuệ, mà có trí tuệ thì hết khổ. Vì vậy bố thí không phải chỉ là đối trị với sự bỏn sẻn, tham lam, ích kỷ mà nó còn chuyển hóa luôn cả cái sân hận và cái si mê, cho nên gọi là Bố Thí Ba La Mật (Dana Pamarita). Vị Bồ Tát mà thực tập bố thí thì phải bố thí một cách bình đẳng, nghĩa là không phân biệt, không kỳ thị. Bố thí có nhiều loại, ở đây chúng ta chỉ nói tới ba loại là : tài thí, pháp thí và vô úy thí.
– Tài thí tức là bố thí tài vật như : tiền bạc, nhà ở, cơm áo, thuốc men…,
– Pháp thí là chỉ cho người kia phương pháp để người ấy thoát khổ. Mình biết con đường Bát Chánh Đạo nên biết cách tháo gỡ, hòa giải được cho họ, giúp họ vượt thoát buồn lo, sợ hãi. Thành ra không cần giàu có mới bố thí được, mình có trí tuệ  là có thể bố thí được rất nhiều, mình có giáo pháp, mở khóa tu là pháp thí
– Thứ ba là vô úy thí tức là hiến tặng sự không sợ hãi, người kia sợ chết, người kia sợ đói, người kia sợ cô đơn. Cái sợ của người kia làm cho họ co rúm lại, khiến họ không thể có được hạnh phúc trong đời sống  hàng ngày

Trên thế giới bây giờ cái sợ rất lớn, các nước đều sợ mà sợ những cái rất hão huyền, vì sợ cho nên phải mua súng, mua bom, vì sợ cho nên phải bỏ hết tiền ra để mà trang bị quân đội, không có tiền đủ để cung cấp lương thực cho dân. Thế giới bây giờ được vận hành trên cái sợ, vì sợ cho nên có nhu yếu muốn mua vũ khí mà nhiều người vì tham cho nên đã chơi trên cái sợ của người khác. Họ chế tạo vũ khí, họ nói nếu anh không mua cái này, mai mốt nó đánh anh, anh ráng chịu. Vì vậy mình biết rõ ràng rằng cái tham và cái sợ đi đôi với nhau. Vô úy thí là trao tặng sự không sợ hãi, mà muốn trao tặng sự vô úy thì chính mình phải có sự vô úy. Mình có trí tuệ, mình không sợ chết, không sợ đói, không sợ nghèo và khi mình có cái vô úy đó rồi thì mình mới có thể hiến tặng cho người khác được. Nhờ có trí tuệ mà mình không sợ hãi, còn nếu không có trí tuệ thì sợ hãi rất nhiều. Cái sợ đó đưa tới sự chia rẽ, bạo động, đưa tới nghi ngờ, đưa tới khủng bố và chống khủng bố. Vì vậy bố thí là một trong sáu phương pháp thực tập để đưa mình từ bờ của khổ đau, của hệ lụy đi sang bờ của giải thoát, của an lạc, của tình thương, của hạnh phúc. Bồ Tát Quan Thế Âm là một vị bồ tát chuyên môn ban tặng sự không sợ hãi.

Biết phụng sự những bậc đắc đạo: Đây là vấn đề đầu tư. Mình biết bố thí một cách bình đẳng không kỳ thị rồi nhưng mình cũng biết đầu tư nữa. Những bậc đắc đạo, những người có trí sáng thì sự có mặt của những vị đó rất có lợi cho quần chúng, cho nhân gian, tại vì có mặt của những người đó là có nhiều ánh sáng, có nhiều trí tuệ vì vậy giúp người ta sẽ không đi lầm đường, lạc lối, xuôi về ba nẻo xấu ác. Do đó mình phải đặc biệt yểm trợ những bậc đắc đạo, mình không kỳ thị, nhưng mình đặc biệt chú trọng tới các vị ấy, đó là vấn đề đầu tư. Đây là giá trị đạo đức, giá trị trí tuệ. Ở trong kinh Tứ Thập Nhị Chương có một đoạn khi mình mới nghe thì giống như là bố thí không có bình đẳng, đoạn đó nói rằng cho một người ác ăn cơm, không có công đức bằng cho một người hiền ăn cơm. Tại vì cho người hiền ăn cơm tức là đầu tư vào người hiền, người hiền đó có thể giúp được rất nhiều người. Cố nhiên là người ác khi đói cũng khổ, cho nên cũng cho họ ăn cơm, nhưng nếu mình có cơ hội cho người hiền ăn cơm thì công đức còn nhiều hơn nữa. Nó có nghĩa không phải là mình không cho người ác ăn cơm, nhưng trong khi bố thí thì có sự đầu tư vào trong đó. Thành ra hai cái không chống đối với nhau, nó có thể đi đôi với nhau, một bên là tâm không kỳ thị, một bên là ý hướng muốn đầu tư, nó tế nhị lắm.

Biết tôn qúy những kẻ đáng tôn qúy trong hai giới nhân và thiên: Nó cũng nằm trong tinh thần đó, nghĩa là mình phải có sự đối xử đặc biệt, tôn kính đối với người đáng tôn kính, tại vì những người đó có đạo hạnh, họ có trí tuệ. Mình yểm trợ cho những người đó thì nó có lợi lạc nhiều cho thế giới của mình. Tôn kính bậc đáng kính, cái này cũng có trong bản chữ Pali.

Giảng Kinh Phước Đức (phần 2)

(Đây là bài pháp thoại Sư Ông giảng ngày 03.12.2009 tại chùa Từ Nghiêm, Xóm Mới trong khóa An Cư Kiết Đông)

Bài kệ 5
Khứ ác tùng tựu thiện  去惡從就善 
Tị tửu tri tự tiết  避酒知自節
Bất dâm ư nữ sắc  不婬於女色
Thị vi tối cát tường  是為最吉祥

Dịch nghĩa:
Biết bỏ ác theo lành
Không uống rượu, biết tiêt chế
Không đắm trong sắc dục
Đó là điềm lành lớn

Khứ ác tùng tựu thiện: Bỏ những điều ác và theo hướng lành.
Tị tửu tri tự tiết: Không uống rượu, lánh xa chuyện say sưa. Trong Kinh Pali có từ tapa, có nghĩa là khổ hạnh, không ăn chơi, biết tiết chế, tiếng Anh là self restrain. Đối với thức ăn hoặc sự chơi bời, tiêu thụ thì chúng ta phải biết luật tiết chế (law of moderation). Nếu không biết tiết chế thì sẽ có khổ đau, đổ vỡ trong thân và trong tâm. Sự tiết chế rất quan trọng. Giới luật và uy nghi có thể giúp mình thực tập sự tiết chế. Khi được sống trong môi trường tốt của tăng thân thì mình thực tập rất dễ dàng vì những người xung quanh đều thực tập như vậy.

Bất dâm ư nữ sắc: Không đắm trong sắc dục, tức giữ cho mình được trong sáng, tiếng Phạn là brahma-carya (phạm hạnh). Người xuất gia giữ phạm hạnh được rồi mà người tại gia cũng có thể giữ phạm hạnh, tức không nên có sự chung đụng bậy bạ.

Bài kệ 6
Đa văn như giới hành 多聞如戒行
Pháp luật tinh tấn học 法律精進學
Tu kỷ vô sở tranh  修己無所爭
Thị vi tối cát tường  是為最吉祥

Dịch nghĩa:
Học rộng biết trì giới
Siêng năng tu tập theo giáo pháp và luật nghi
Biết tu dưỡng thân tâm, không vướng vào các cuộc tranh chấp
Đó là điềm lành lớn nhất

Đa văn như giới hành: Đa văn là học rộng, mỗi ngày chúng ta phải học thêm, già rồi cũng vẫn phải học. Nếu cái học có tính cách nuôi dưỡng thì mình sẽ thích học chứ không phải bị bắt buộc học. Học sẽ là một niềm vui nếu cái học ấy giúp cho mình thấy rõ được con đường. Học không phải chỉ là để mở rộng kiến thức, để chứng tỏ ta biết hết mọi chuyện, mà học là để thấy được sự thật, thấy được con đường và phương pháp hành trì rõ ràng hơn để giúp cho chính mình và giúp cuộc đời. Cái học đó là một nhu yếu có thật của con người. Khi học với tinh thần đó thì chúng ta cảm thấy rất thích thú. Người tu phải có cái thích thú được học đừng để rơi vào tình trạng bị bắt buộc học để có bằng cấp.

Như giới hành là biết hành trì theo giới. Mình giữ 5 giới, giữ 10 giới, 250 giới …
Pháp luật tinh tiến học: Siêng năng tu tập theo pháp của luật nghi. Tinh tiến là siêng năng. Chữ học ở đây có nghĩa là thực tập, thực tập pháp và luật. Pháp là giáo pháp của Bụt dạy và luật là giới luật uy nghi.

Giới luật và uy nghi có công dụng giúp mình tiết chế, bảo tồn được tự do của mình. Giới luật và uy nghi được tiếp nhận từ Bụt không phải để làm cho mình mất hết tự do. Nếu thấy những giới luật và uy nghi như những gì làm giới hạn tự do thì chúng ta chưa thấy được bản chất của nghi giới. Bản chất của giới là đem lại tự do cho mình. Giới có thể gọi là “xứ xứ giải thoát, biệt biệt giải thoát„. Có giới thì đi tới đâu cũng có tự do. Khi mình nghiện rượu hay vướng vào vòng ma túy thì mình đánh mất tự do. Không có tiền mua rượu, mua ma túy thì phải đi ăn trộm, ăn cướp, bị cơn nghiện sai sử thì mình đánh mất tự do trong tâm, bị rơi vào vòng tù tội thì mình đánh mất tự do trong thân. Đối với rượu mà mình nhìn với con mắt đó và mỉm cười với nó thì rượu không thể cám dỗ được mình. Đối với ma túy, mình cũng nhìn như vậy và nói: Thank you! I don’t need you (cảm ơn nhé, tôi không cần). Đó là tự do.

Giới và luật là để bảo tồn tự do chứ không phải để làm mất tự do của mình. Khi tiếp thọ giới mình thấy, đây là “bước tới thảnh thơi“, bước vào tự do (stepping into Freedom). Mỗi giới cho mình tự do riêng. Có 10 giới là có 10 thứ tự do, có 250 là có 250 thứ tự do. Biệt biệt giải thoát, xứ xứ giải thoát. Freedom wherever you are. Đi đâu mình cũng có tự do nếu mình mang theo giới luật và uy nghi. Chúng ta phải cầu giới, giới tử là những người cầu giới.

Tu kỷ vô sở tranh: Biết tu dưỡng thân tâm, không vướng vào những cuộc tranh chấp, không vướng vào những chuyện hơn thua, không tranh biện để chứng tỏ tôi đúng anh sai. Người ta mất rất nhiều thì giờ vì chuyện “tôi đúng anh sai”. Trong bài kệ hô canh buổi chiều có câu: Ba nghiệp lắng rồi, hết thị phi, nghĩa là không nghĩ đến chuyện đúng sai nữa. It’s nomore about thinking right or wrong. Đó là tự do. Còn vướng vào sự tranh chấp, vướng vào sự suy nghĩ “người nào đúng, người nào sai”, cố tranh chấp cho được thì mình vẫn chưa có giải thoát. Khi ngồi xuống bồ đoàn rồi thì phải buông tất cả. Nếu đang ở trong một cuộc tranh chấp thì mình nên biết, cuộc tranh chấp đó làm mình mất thì giờ, mất năng lượng, mình không có cơ hội để sống đời sống của mình cho đàng hoàng. Khi ấy phải tìm cách thoát ra khỏi sự tranh chấp càng sớm càng tốt, nói lời ái ngữ là cách thoát khỏi tranh chấp nhanh nhất, đó cũng là điều mà kinh Phước Đức dạy

Bài kệ 7
Cư hiếu sự phụ mẫu  居孝事父母
Trị gia dưỡng thê tử  治家養妻子
Bất vi không phạp hành 不為空乏行
Thị vi tối cát tường 是為最吉祥

Dịch nghĩa:
Là người con hiếu thảo, có cơ hội phụng dưỡng mẹ cha
Biết chăm sóc gia đình, giữ cho trong nhà êm ấm
Không để cho lâm vào cảnh nghèo đói
Đó là điềm lành lớn nhất

Cư hiếu sự phụ mẫu. Trị gia dưỡng thê tử : Là người con có hiếu với cha mẹ và nuôi được vợ con. Nếu là người nữ thì nuôi chồng con (dưỡng phu tử), Ngày xưa ở Việt Nam, các cô gái chuyên nuôi chồng tại vì anh chàng đang đi học. Anh chàng chỉ lo học, học ngày học đêm hy vọng thi đậu được làm quan nên người vợ thời xưa phải tần tảo gánh gạo buôn bán để nuôi chồng.
Đảm đang xuôi ngược sớm chiều
Lòng mơ một chiếc võng điều mai sau

Chồng thi đậu thì người vợ được người ta rước ngồi võng điều (võng màu đỏ). Đó là giấc mơ của các cô thiếu nữ ngày xưa. Tết Nguyên Đán này, tôi sẽ đọc thơ nói về giấc mơ của các cô thiếu nữ và các chàng trai thời của tôi ngày xưa. Bây giờ các cô gái, các chàng trai có giấc mơ rất khác. Hồi xưa khi chồng thi đậu thì các cô được ngồi trên chiếc võng màu đỏ, được lính hầu rước về làng và được làm quan. Đó là giấc mơ của các cô gái cho nên phải gánh gạo nuôi chồng.

Bất vi không phạp hành
Thị vi tối cát tường
Không phạp là thiếu thốn, nghèo đói. Đừng để cho gia đinh bị thiếu thốn, nghèo đói.
Là người con hiếu thảo, có cơ hội phụng dưỡng mẹ cha, biết chăm sóc gia đình, giữ cho trong nhà êm thấm, không để lâm vào cảnh nghèo đói. Đó là điềm lành lớn nhất. Có một chút khác biệt, bên kinh Điềm Lành là không để cho gia đình rơi vào nghèo đói thiếu thốn, còn trong kinh Phước Đức là yêu thương gia đình mình.

Bài kệ 8
Bất mạn bất tự đại  不慢不自大
Tri túc niệm phản phúc  知足念反覆
Dĩ thời tụng tập kinh  以時誦習經
Thị vi tối cát tường  是為最吉祥

Dịch nghĩa:
Không kiêu mạn, không cho mình là hơn người
Biết tri túc, biết xét suy
Có thì giờ đọc tụng và thực tập kinh điển
Đó là phước đức lớn nhất

Bất mạn bất tự đại: Không cho mình là giỏi, là quan trọng. Trong đạo Bụt, chữ mạn có một ý nghĩa rất đặc biệt. Thấy mình hơn người thì gọi là mạn, có mặc cảm thua người cũng gọi là mạn mà thấy mình bằng người cũng là mạn. Nghe thế, những người bạn Tây phương hỏi: Tại sao thấy mình bằng người cũng là một cái lỗi? Tại Làng Mai, mỗi khi chúng tôi tụng kinh trước pháp thoại chúng tôi thường đọc lời quán nguyện : xin đọc tụng như một cơ thể, lắng nghe như một cơ thể, vượt thoát những mặc cảm hơn người, thua người hoặc bằng người, thì có nhiều vị thiền sinh cười: Tại sao lại có mặc cảm bằng người? Theo sự tin tưởng của đa số thì mọi người sinh ra trên trái đất đều bằng nhau. Bằng người là một sự thật. Nhưng nhìn cho kỹ chúng ta thấy, con người sinh ra không bằng nhau. Người sinh ra ở nuớc Mỹ, người sinh ra ở Phi Châu, hai người sinh ra ở hai hoàn cảnh đã không bằng nhau. Sinh vào một môi trường có cơ hội và sinh vào một môi trường ít có cơ hội hơn đã là một sự bất bình đẳng. Sinh ra trong một gia đình giàu có hay trong một gia đình nghèo khổ là đã có sự bất công. Sinh ra trong một gia đình có giáo dục hay trong một gia đình không có giáo dục cũng có sự bất công. Khi sinh ra người ta không bình đẳng đâu. Nhưng chữ mạn ở đây được hiểu theo tinh thần của đạo Bụt. Đạo Bụt nói không có ngã. Có tôi trong anh và có anh trong tôi, tôi là anh mà anh cũng là tôi, đó là vô ngã. Khi là vô ngã thì không còn sự so sánh, mà khi không so sánh thì không thấy hơn người, thua người hay bằng người.

Tâm lý trị liệu Tây phương hay nói người ta bệnh là do mặc cảm tự ti. Muốn trị hết bệnh thì phải xóa bỏ mặc cảm tự ti: Tôi không có giá trị gì hết, tôi chẳng làm được trò trống gì, tôi luôn luôn thua kém người. Do mặc cảm tự ti mà sinh ra bệnh tâm thần, cách trị liệu là làm cho người ta bỏ mặc cảm đó đi. Nhưng chúng ta không biết mặc cảm tự tôn (high self-estime) cũng là bệnh. Người cho mình hơn người cũng bị bệnh, họ khó chịu vô cùng, dương dương tự đắc, ở đây gọi là tự đại. Bất mạn, bất tự đại, đừng nên thổi phồng mình lên quá lớn như con cóc, có ngày sẽ nổ.

Trong ánh sáng giáo lý đạo Bụt, chúng ta thấy mặc cảm tự ti là bệnh, mặc cảm tự tôn là bệnh và mặc cảm bằng người cũng là bệnh tại vì thấy mình bằng người tức là còn có sự so sánh. Nếu thấy mình với người đó là vô ngã, khổ đau của người đó cũng làm mình khổ đau, hạnh phúc của người đó cũng là hạnh phúc của mình, người đó thành công thì mình cũng thành công, thấy được tính vô ngã giữa cha và con, vợ và chồng thì tự nhiên ba cái mạn không còn nữa và hạnh phúc sẽ có thật.Trong chúng, nếu có một người tu giỏi và thành công thì tất cả mọi người đều được hưởng. Nếu có một người yếu kém thì tất cả mọi người đều chăm lo cho người đó vững lên tại vì người đó cũng là mình. Như vậy mới đúng theo nguyên tắc vô ngã.

Tri túc niệm phản phúc: Tri túc là biết mình có đủ, có dư điều kiện hạnh phúc. Mình không cần đi tìm những điều kiện hạnh phúc nào khác. Khi mình thở trong chánh niệm, đem tâm trở về với thân và có mặt trong giây phút hiện tại thì mình khám phá ra mình có biết bao nhiêu điều kiện để có thể có hạnh phúc ngay bây giờ. Mình có thể thực tập câu thần chú thứ năm: Sướng quá! Hạnh phúc quá! Mình không cần phải bỏ hiện tại, chạy về tương lai để đi kiếm tìm hạnh phúc. Đó là phép tri túc, tiếng Phạn là samtustah, tiếng Pali là santutthi, dịch ra tiếng Anh là: You have already enough conditions to be happy, you don’t need to look for more.

Chỉ cần có chánh niệm thì tự nhiên hạnh phúc có mặt ngay trong giây phút hiện tại. Đức Thế Tôn nói: Pháp môn “Hiện pháp lạc trú”, ai cũng có thể thực tập được. Hiện pháp lạc trú là có hạnh phúc liền bây giờ, Dristadharmasukhavihara. Chúng ta nên nhắc nhau, trước khi hô canh chúng ta có thể thực tập: Kính thưa đại chúng, đây là giây phút hạnh phúc.  Mỗi người tiếp xúc được với điều kiện hạnh phúc mình đang có thì tự nhiên có hạnh phúc liền. Trước khi ăn cơm hay chấp tác với nhau, mình nhìn sư anh nói: Sư anh ơi! Đây là giây phút hạnh phúc, mình được làm việc chung với nhau.

Tri túc không có nghĩa là khổ hạnh, chịu đựng. Tri túc là ý thức rằng mình có đủ điều kiện hạnh phúc và hạnh phúc liền. Đó là hạnh phúc rất lớn, mình là người tu thì phải có cái khôn ngoan đó. Phản phúc là lật ngược trở lại để xem xét cho cẩn thận. Niệm là nhớ nghĩ, có ý thức, biết suy xét. Niệm phản phúc là phải xét đi xét lại cho kỹ lưỡng, đừng nóng nảy, bộp chộp, biết xét suy cho thấu đáo. Chữ phản phúc trước cũng có nghĩa lật lọng, trắng thành đen, sấp thành ngửa. Nhưng chữ phản phúc ở đây có nghĩa là suy xét cho kỹ phía trên phía dưới, lật hòn đá ra xét trên dưới cho rõ ràng.

Dĩ thời tụng tập kinh: Có thì giờ đọc tụng kinh điển. Tụng là đọc, tập là thử đem ra áp dụng, ví dụ như phải đem ra áp dụng câu thần chú thứ năm. Mình học được cái gì thì phải đem ra áp dụng. Tập là thực tập, mình tụng kinh và phải áp dụng những gì mình học trong kinh. Có cơ hội phụng dưỡng mẹ cha, biết tri túc, biết suy xét cho thấu đáo, có thì giờ để đọc tụng và thực tập theo kinh điển, đó là điềm lành lớn nhất.

Bài kệ 9
Sở văn thường dục nhận   所聞常欲忍
Nhạo dục kiến sa môn  樂欲見沙門
Mỗi giảng tiếp thính thọ 每講輒聽受
Thị vi tối cát tường  是為最吉祥

Dịch nghĩa:
Biết nhẫn nhục khi nghe điều bất như ý
Có hạnh phúc mỗi khi được gặp người xuất gia
Mỗi khi nghe pháp hết lòng tiếp nhận để hành trì
Đó là điềm lành lớn nhất

Sở văn thường dục nhận: Nghe điều gì bất như ý thì phải biết kiên nhẫn, mình phải học hạnh lắng nghe. Dù người kia nói những câu không dễ chịu thì mình cũng phải lắng nghe. Đây là sự thực tập lắng nghe với tâm từ bi (the practice of deep listening, compassionate listening). Mình đừng phản ứng liền, phải lắng nghe để hiểu, có hiểu mới thương, mới giúp người kia được.

Nhạo dục kiến sa môn: Có sự thích thú muốn được gặp những người xuất gia, với điều kiện là người xuất gia đó dễ thương, là người tu thật. Theo nguyên tắc, người xuất gia là người có học hỏi chánh pháp, là người có hành trì đàng hoàng, nếu gặp được người đó là có lợi. Còn nếu gặp, người đó chỉ nói chuyện buôn bán thị phi thì không phải là sa môn, mà là giả sa môn. Trong kinh dạy: vui mừng khi được gặp các thầy các sư cô vì mỗi khi gặp các thầy, các sư cô thì mình thấy trong người khỏe nhẹ, được học hỏi nhiều điều hay bởi các thầy, các sư cô đại diện cho sự tu tập, cho trí tuệ, cho tình thương.

Mỗi giảng triếp thính thọ: Mỗi khi nghe pháp thì hết lòng tiếp nhận để hành trì. Triếp có nghĩa là thường thường, lập tức. Mỗi khi nghe giảng thì liền tiếp nhận và đem ra hành trì. Đó là điềm lành lớn nhất.

Giảng Kinh Phước Đức (phần 1)

(Đây là bài pháp thoại Sư Ông giảng ngày 29.12 tại chùa Cam Lộ – Xóm Hạ trong thiền đường Hội Ngàn Sao trong mùa An Cư 2009-2010)

 

Trong sách Nhật Tụng Thiền Môn, chúng ta có Kinh Phước Đức, một Kinh nói về đề tài hạnh phúc. Kinh được dịch từ tạng Pali và nằm trong bộ Kinh Tiểu Bộ (Khuddhaka-nikāya). Chúng ta có Trường Bộ (Dīgha-nikāya), Trung Bộ (Majjhima-nikāya), Tương Ưng Bộ (Samyutta-nikāya), Tăng Chi Bộ (Anguttara-nikāya). Ngoài ra chúng ta còn có một bộ nhỏ gọi là Tiểu Bộ, trong Tiểu Bộ có một tập gọi là Kinh Tập (Sutta-nipāta). Đó là một bộ Kinh rất cổ xưa và rất nguyên chất về văn ngữ cũng như về ý. Kinh Thương Yêu (Metta-sutta) và Kinh Phước Đức được lấy từ Kinh Tập.

Trong Tạng Kinh chữ Hán này chúng ta tìm được trong Kinh Pháp Cú và Kinh Pháp Cú Thí Dụ một Kinh tương đương với Kinh Phước Đức. Trong Kinh Pháp Cú nguyên bản bằng tiếng Pali không có Kinh Phước Đức, nhưng trong Kinh Pháp Cú Hán Tạng thì có Kinh này.
Hôm nay chúng ta học Kinh Phước Đức trong Hán Tạng để so sánh với Kinh Phước Đức của Tạng Pali.

Bài kệ 1
Phật tôn quá chư thiên 佛尊過諸天
Như Lai thường hiện nghĩa 如來常現義  
Hữu phạm chí đạo sĩ 有梵志道士
Lai vấn hà cát tường 來問何吉祥 

Bụt được tôn quý hơn cả trong hai giới trời và người
Vì Người thường có khả năng đưa ra vị những giáo nghĩa mầu nhiệm của một bậc Như Lai
Một ngày kia, có một vị đạo sư Bà la môn tới hỏi:
Cái gì mới thật là điềm lành lớn nhất?

Phật tôn quá chư thiên: Bụt được tôn quí hơn tất cả các chư thiên. Trong bản dịch của tôi có thêm chữ người, Bụt được tôn quý hơn cả trong hai giới trời và người, như vậy thì phù hợp với văn nghĩa trong toàn thể Kinh Phật (thiên nhân chi đạo sư). Bụt là thầy dạy cả hai giới chư thiên và con người.
Như Lai thường hiện nghĩa: Chữ Bụt có nghĩa là người tỉnh thức (the enlightend one, the awakend one). Chữ Như Lai (Tathagata) có nghĩa là từ chân như tới. Thường có nghĩa là luôn luôn. Tôi dịch là: Vì Ngài có khả năng đưa ra những nghĩa lý mầu nhiệm của một vị Như Lai (The Buddha has the capacity to expound the wonderful Teaching of the Tathagata).

Câu thứ hai là lý do của câu thứ nhất: Tại vì Đức Thế Tôn có khả năng đưa ra những giáo nghĩa mầu nhiệm của Đức Như Lai cho nên Ngài được tôn quý trong cả cõi trời và cõi người.

Hữu phạm chí đạo sĩ, lai vấn hà cát tường: Có một vị đại sĩ bà là môn tới hỏi, cái gì mới thật là điềm lành lớn nhất? Kinh Phước Đức, trong bản chữ Hán có tên là Kinh Cát Tường, cát tường có nghĩa là điềm lành. Thí dụ thấy mây năm sắc là một điềm lành. Kinh này chúng ta có thể dịch ra tiếng Việt là Kinh Điềm Lành. Chữ cát tường tiếng Pali là mangala, dấu hiệu của sự may mắn. Maha mangala là điềm lành lớn, maha-mangala-sutta là Kinh Điều May Mắn Lớn Nhất.

Hôm ấy có một vị đạo sĩ tới hỏi Bụt: Điềm lành nào là điềm lành lớn nhất trong tất cả các điềm lành? Vị đạo sĩ Bà La Môn này là một vị phạm chí (brahmana). Kinh Pháp Cú Thí Dụ nói rất rõ: vị phạm chí này là một ni kiền. Ni kiền là tiếng gọi tắt của nirgrantha, một giáo phái có mặt từ thời Đức Thế Tôn. Giáo phái này sống lõa thể, họ không mặc áo quần, những nhà tu hành này muốn trình bày hết những cái thật của họ: Tôi là vậy đó, tôi không che dấu gì hết! Thời Đức Thế Tôn còn tại thế, các vị xuất sĩ cũng đã từng gặp những phạm chí thuộc giáo phái lõa thể này, họ tu rất gắt. Có nhiều khi đi trên đường, để tránh sát sinh, họ cầm theo cây chổi, quét một lát chổi rồi mới bước một bước chân để chắc chắn rằng mình không dẫm đạp lên các loài chúng sinh. Có khi họ đeo khẩu trang để khi mở miệng ra những con côn trùng không bay vào và chết trong miệng họ. Hiện nay ở Ấn Độ vẫn còn những người thuộc giáo phái này. Có một điều đặc biệt là đạo Bụt đã từng bị gián đoạn ở Ấn Độ nhưng đạo Nirgrantha (Kỳ Na giáo) thì chưa bao giờ bị gián đoạn. Giáo chủ của Kỳ Na giáo là Mahavīra, là một nirgrantha-jaina-putra.

Đạo sĩ Bà La Môn kể trên là một người thuộc về Kỳ Na giáo, người có 500 đệ tử. Các vị đệ tử được học hỏi và tu tập rất nhiều. Có một hôm họ đến ngồi bên bờ sông, đàm luận về vấn đề điềm lành. Họ nói với nhau rằng, ở mỗi quốc gia, người ta có cái thấy khác nhau về những điềm lành. Họ đặt ra vấn đề, so sánh những điềm lành của các quốc gia thì điềm lành nào là điềm lành lớn nhất? Đoạn đầu của Kinh Pháp Cú kể rằng: Trong thời gian lưu trú tại La Duyệt Kỳ, trên núi Kỳ Xà Quật, Bụt đã vì các giới trời, người, rồng và quỷ mà diễn bày pháp Tam Thừa. Tam Thừa là Thanh Văn Thừa, Duyên Giác Thừa và Bồ Tát Thừa. Núi Kỳ Xà Quật là núi Thứu và La Duyệt Kỳ là thành Vương Xá (Rājagraha).

Lúc ấy, cư trú bên bờ sông Hằng, phía nam núi Kỳ Xà Quật có một vị đạo sĩ Bà La Môn biết nhiều, hiểu rộng, thông suốt chuyện xưa nay. Ông giáo hóa, chỉ dạy cho 500 đệ tử. Đệ tử của ông ai nấy đều tinh thông: thiên văn, địa lý, tinh tú, nhân sự, lành dữ, họa phúc, được mùa, mất mùa, không việc gì mà không nghiên cứu thấu đáo. Một hôm các đệ tử của vị đạo sĩ này đến gần chỗ Bụt đắc đạo trước kia, ngồi bên sông (có lẽ là sông Ni Liên Thuyền) bàn luận với nhau về vấn đề điềm lành. Họ đặt vấn đề: Dân chúng ở các quốc gia trên thế giới cho cái gì là điềm lành lớn nhất? Không tìm ra được câu giải đáp, họ đi tìm hỏi thầy của mình. Sau khi đảnh lễ thầy họ chắp tay hỏi:

– Chúng con học đã lâu, biết cũng đã nhiều, nhưng vẫn chưa biết được trong các quốc gia khác nhau, người ta cho cái gì là điềm lành lớn nhất?
Vị phạm chí Ni Kiền trả lời:
– Câu hỏi của các vị rất hay! Ở xứ Diêm Phù Đề này có 16 nước lớn và 8400 nước nhỏ. Dân chúng mỗi nước đều có cái thấy khác nhau về điềm lành. Có người cho sự xuất hiện của vàng bạc, thủy tinh, lưu ly là điềm lành. Có người cho sự xuất hiện của trăng sáng, thần châu, voi ngựa, ngọc nữ, san hô, đá quí, phượng hoàng, khổng tước là điềm lành. Có người lại cho sự xuất hiện của tinh tú, bình báu, bốn loại người hiền từ hoặc đạo sĩ là điềm lành. Nhưng cái nhìn của mỗi giống dân mỗi khác.
Các vị đệ tử lại hỏi:
– Vậy thì điều gì có thể báo cho ta biết chắc chắn ta sẽ có hạnh phúc trong khi đang sống và chắc chắn ta sẽ sinh lên cõi trời sau khi chết?
Đó là câu hỏi chính. Có nhiều điềm lành, nhưng điềm lành nào quan trọng nhất, hay nhất vì nó báo cho ta biết trong kiếp này mình có hạnh phúc và sau khi chết mình sẽ được sinh lên cõi lành.
Vị đạo sĩ Bà La Môn trả lời:
– Các bậc tiền bối từ trước đến nay, chưa có ai dạy điều này và trong sách vở cũng không thấy ghi chép. Tôi chịu thua!
Các vị đệ tử nói:
– Mới đây chúng con nghe nói có một người họ Thích xuất gia tìm đạo, ngồi thiền sáu năm, hàng phục được ma quân, chứng thành quả Bụt, đạt được tam minh. Hay là chúng ta tìm đến đó để học hỏi thêm?
Tam minh là túc mạng minh tức là thấy rõ về chuyện sống chết trong quá khứ, thiên nhãn minh tức là thấy được cái sống và cái chết trong hiện tại của các loài chúng sinh và lậu tận minh tức là gột sạch hết tất cả những phiền não. Dấu hiệu của người chứng ngộ hoàn toàn là tam minh tức ba cái thấy.
Thầy trò hơn 500 người vượt núi, băng rừng đến nơi Bụt ở. Sau khi đảnh lễ Bụt vị đạo sĩ chắp tay hỏi:
– Bạch Đức Thế Tôn, mỗi quốc gia trên thế giới đều có cái nhìn khác nhau về điềm lành. Vậy theo Ngài, cái gì mới là điềm lành thật sự lớn nhất?
Bụt nói:
– Trong cái nhìn của thế gian, cái gì người ta thấy thuận theo điều mình ước muốn thì cho đó là điềm lành, cái gì không thuận  thì cho là điềm không lành. Nhưng những cái mà người ta cho là điềm lành không đủ để cứu độ tâm linh của mình, không giúp mình vượt qua được khổ nạn. Theo tôi điềm lành thật sự là những gì có khả năng đem lại hạnh phúc thật sự trong đời sống hàng ngày, là những gì có khả năng giúp chúng ta ra khỏi ba cõi và chứng nhập Niết Bàn.
Ba cõi là cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc. Tiếp theo đó Đức Thế Tôn dạy những bài kệ sau đây. Có tất cả 16 bài kệ, nhưng trong bản Pali chỉ có 12 bài kệ.

Bài kệ 2
Ư thị Phật mẫn thương 於是佛愍傷   
Vị thuyết chân hữu yếu 為說真有要
Dĩ tín lạc chánh pháp 已信樂正法
Thị vi tối cát tường 是為最吉祥

Dịch nghĩa:
Ngay lúc đó với lòng xót thương. Bụt đã thuyết giảng về những gì thiết yếu và chân thật.
Ngài dạy: Có niềm tin nơi chánh pháp và có hạnh phúc trong khi học hỏi giáo pháp, đó là điềm lành lớn nhất.

Trong khi học Kinh Cát Tường chúng ta nên luôn luôn trở về so sánh với Kinh Phước Đức. Kinh Phước Đức (Maha-mangala) được dịch là The greatest Blessings. Chữ điềm lành có thể dịch là good omen, có người dịch là Supreme luckbringer. Chúng ta dịch ra tiếng Việt là điềm lành lớn nhất.

Y thị Phật mẫn thương
Vị thuyết chân hữu yếu

Khi đó Bụt có lòng thương các vị phạm chí, nên nói những lời thiết yếu chân thật. Câu Bụt nói đầu tiên là: Dĩ tín lạc chánh pháp: Theo bản chữ Hán, điềm lành lớn nhất là có được một con đường.

Trong Kinh Phước Đức có câu:

Lánh xa kẻ xấu ác
Được gần gũi người hiền
Tôn kính bậc đáng kính
Là phước đức lớn nhất

Đó là khúc đầu của bản Pali, còn bên phẩm Cát Tường của Kinh Pháp Cú chữ Hán là:

Dĩ tín lạc chánh pháp

Chữ lạc trong văn mạch ở đây chúng ta phải đọc là nhạo, có nghĩa là muốn, thích. Trong Kinh chữ nhạo thường được lặp lại nhiều lần như trong câu: Duy nhiên, Thế Tôn! Nguyện nhạo dụ văn (dạ vâng, Đức Thế Tôn! Chúng con muốn được nghe). Sau này có những chữ lạc khác chúng ta phải sửa lại là nhạo.

Nếu người đó có niềm tin và sự yêu thích chánh pháp tức là có con đường, thì đó là điềm lành lớn nhất. Tín là tin, lạc là hạnh phúc. Khi đọc câu này tôi nhớ hồi còn là sa di, lúc ấy tôi mới có mười sáu tuổi, tôi có đọc trong Luật Giải tức là một bộ luật rất dày giải thích về luật sa di: Làm thân con lạc đà hay con lừa chuyên chở nặng nhọc, đó chưa gọi là khổ. Ngu si không biết hướng đi, đó mới thật là khổ. Đi vào những nẻo đường tối tăm, xấu ác, đem lại đau khổ cho mình và cho người, đó mới là khổ. Điều may mắn nhất là mình có một con đường, tin vào con đường và có hạnh phúc trong khi đi trên con đường đó. Phẩm Cát Tường bắt đầu bằng dấu hiệu ấy. Mỗi người trong chúng ta phải tự hỏi mình là mình đã có con đường chưa? Do you have a spiritual path? Do you enjoy taking the path? Nếu đã có rồi thì mình nên hạnh phúc đi! Nói theo danh từ thời đại là: Quý vị đã có một con đường tâm linh chưa? Nếu không có một chiều hướng tâm linh thì mình làm sao đối diện và giải quyết được những khó khăn và khổ đau trong đời sống hàng ngày? Mình phải có một bình diện tâm linh (spiritual dimension)!

Trong thời đại toàn cầu hóa của chúng ta, người ta đặt câu hỏi: Chúng ta có cần theo một tôn giáo không? Có thể có một đời sống tâm linh mà không cần tôn giáo hay không? Is this spiritual path possible without religion? Có thể không cần tin vào một Thượng đế hay một vị thần linh mà vẫn có thể có một con đường tâm linh không? (spituality without God, without religion).

Hiện nay có nhiều nhà nhân bản cho rằng: Ta có thể có một con đường tâm linh mà không cần tin vào một tôn giáo  hay một thần linh nào. Như vậy chúng ta có thể có được một nền tâm linh toàn cầu. Global spirituality is something possible. Trong đạo Bụt thì đây không phải là một điều khó khăn tại vì đạo Bụt thật ra không phải là một tôn giáo. Đạo Bụt không bắt ta tin vào một vị thần linh hay tin vào những giáo điều cứng ngắc. Đạo Bụt có rất nhiều tự do. Đứng trên phương diện Phật tử thì chấp nhận chuyện đó là một điều dễ dàng.

Hạnh phúc chính là con đường

Vấn đề hạnh phúc có liên hệ tới con đường. Con đường đưa tới hạnh phúc hay hạnh phúc chính là con đường? Nếu có một con đường và tin vào con đường đó thì mình có hạnh phúc liền chứ không cần phải đi cực khổ trên con đường bao nhiêu năm mới có hạnh phúc. Mỗi người trong chúng ta phải tự hỏi: Mình có con đường chưa? Mình có hạnh phúc với con đường đó không? Nếu có rồi thì đó là một điềm lành lớn. Khi đọc bài kệ tiếp chúng ta thấy ý đó rõ ràng hơn.

Bài kệ 3
Nhược bất tùng thiên nhân 若不從天人
Hy vọng cầu kiểu hạnh 希望求僥倖
Diệc bất đáo thần từ  亦不禱神祠 
Thị vi tối cát tường 是為最吉祥

Dịch nghĩa:
Không chạy theo các giới trời và người,
để cầu mong ban phúc và tránh họa,
cũng không đến cầu đảo ở các đền miếu,
đó là điềm lành lớn nhất.

Diệc bất tùng thiên nhân
Hy vọng cầu kiểu hạnh

Cầu kiểu hạnh là cầu may. Xét theo tình trạng cách mình sống và làm việc thì mình không có được kết quả đó nhưng mình cứ hy vọng, mong cầu nó sẽ xảy ra cho mình

Diệc bất đảo thần từ
Thị vi tối cát tường

Không đi cầu khẩn ở các đền miếu, không đi theo các giới trời và người để hy vọng người ta ban bố cho mình một hạnh phúc nào đó. Chúng ta thêm vào chữ tránh họa cũng hay. Người ta đi cầu đảo như cúng sao giải hạn, một phần là để cầu phúc, một phần là để tránh tai họa có thể xảy đến cho họ. Không chạy theo các giới trời và người để cầu mong được phúc và tai họa, cũng không có nhu yếu tới cầu đảo ở các đền miếu, đó là điềm lành lớn nhất.

Đạo Bụt vốn không phải là một tôn giáo của sự thờ cúng, tín mộ (devotion), nhưng người ta đã biến đạo Bụt thành ra một tôn giáo của sự thờ cúng. Phần này không được nói rõ ràng trong Kinh Nam Tông Tích Lan, ý không cần cầu đảo ở các đền miếu, chỉ có trong bản chữ Hán. Ở đây nói rất rõ là chúng ta không cần một tôn giáo, không cần một đức tin mà vẫn có thể có được một con đường tâm linh. Đạo Bụt không hề mê tín dị đoan, đạo Bụt ở đây rất khoa học.

Có những người theo đạo Bụt, nhưng khi vào trong các đình, chùa họ đem tiền lẻ ra cúng, rồi nhét những đồng bạc lẻ ấy vào tay của Bụt, của Bồ Tát, của tổ sư để cầu buôn bán thành công, làm ăn phát đạt, đi thi đậu, tình duyên không bị trắc trở. Đó không phải là điềm lành theo tinh thần của Kinh, đó là họ chưa có một con đường tâm linh. Chúng ta không mê tín dị đoan không cầu đảo, cúng bái, mà chúng ta có một con đường tâm linh. Chúng ta phải tin vào con đường và phải có hạnh phúc trong khi thực tập con đưòng đó.

Bài kệ 4
Hữu hiền trạch thiện cư  友賢擇善居 
Thường tiên vi phúc đức  常先為福德
Sắc thân thừa trinh chánh   勅身承貞正
Thị vi tối cát tường  是為最吉祥

Giải nghĩa:
Chọn được môi trường tốt,
có nhiều bạn hiền, có dịp làm những việc phúc đức,
giữ lòng cho trinh bạch và chân chánh,
đó là điềm lành lớn nhất.

Hữu hiền trạch thiện cư: Trạch là chọn. Thiện là lành mạnh, không bạo động, không đam mê. Cư là môi trường nơi cư trú. Trong tiếng Pali môi trường tốt có nghĩa là Patirupa desa Vaso; patirupa là tốt, dễ chịu; vaso là chỗ (cư). Đây là sự căn dặn, gửi gắm của Bụt, Người dạy: Khi sống, chúng ta phải biết chọn một môi trường tốt cho chính mình và cho các con cháu của mình. Sống trong một môi trường lành mạnh, có tình thương thì đứa trẻ lớn lên sẽ trở thành một người hữu ích cho xã hội, còn nếu sống trong môi trường chứa đầy những bạo động, thèm khát thì lớn lên chúng sẽ hư hỏng. Không chỉ chọn một môi trường tốt mà chúng ta còn phải cùng nhau có ý thức tạo ra một môi trường tốt để người khác cũng được nương nhờ. Khi quý vị có cơ hội được tham dự một khóa tu, quý vị thấy môi trường của khóa tu rất tốt, ở đây quý vị cảm thấy thân tâm mình khỏe nhẹ và hiền hậu hơn, nên khi về lại thành phố của mình quý vị mang theo quyết tâm tạo ra một môi trường tu tập nhỏ mời bạn bè tới sinh hoạt chung. Như vậy là không chỉ quý vị được hưởng, con cháu quý vị được hưởng mà bè bạn xung quanh cũng được hưởng lây. Đó chính là lời nhắn nhủ của Đức Thế Tôn. Mình phải chọn môi trường tốt và phải đóng góp vào việc tạo ra môi trường tốt đó.

Có được môi trường tốt rất quan trọng. Những ý này có đầy đủ trong Kinh Phước Đức. Nếu đem hai Kinh so sánh với nhau ta thấy tổng thể gần như nhau, cấu trúc của hai kinh có khác nhau và có thêm vài sai khác nhỏ nữa.

Trong Kinh Phước Đức nói rõ: Lánh xa kẻ xấu ác, gần gũi người hiền, tôn kính bậc đáng kính. Tuy trong Kinh không dùng chữ môi trường, nhưng chúng ta phải hiểu đó cũng là môi trường. Vấn đề môi trường là một vấn đề rất lớn. Các sư cô, sư chú ở Bát Nhã dù có khó khăn, có hiểm nguy đến mấy vẫn không chịu đi chỗ khác vì các sư cô, sư chú thấy được rằng, môi trường tăng thân là quan trọng nhất. Đánh mất môi trường tăng thân là đánh mất tất cả. Tìm ra được một môi trường tốt là một dấu hiệu đại cát tường.

Trong giáo lý Tứ Thực tức Bốn loại thức ăn thì lý tưởng của mình là một loại thức ăn. Là một người xuất sĩ, chúng ta có lý tưởng. Chừng nào lý tưởng còn thì mình còn hạnh phúc, chừng nào mình cảm thấy chán, mình đánh mất tâm ban đầu thì chừng đó hạnh phúc không còn nữa. Lý tưởng là nguồn thực phẩm đầu tiên gọi là tư niệm thực. Mình phải nuôi mình bằng chất liệu lý tưởng. Có chất liệu lý tưởng thì hai mắt mình sáng, bước chân mình vững chãi, mình biết mình đang đi về đâu vì mình đã có đường đi. Mình cứ tâm tâm niệm niệm rằng mình có một lý tưởng và mình phải giữ cho lý tưởng, cho tâm ban đầu đó sống mạnh hoài thì mình mới có hạnh phúc.

Nhưng làm sao cho lý tưởng được sống mãi, sống hoài? Làm sao để mình đừng chán, đừng nửa chừng bỏ dở, tại vì mất lý tưởng là mất hết hạnh phúc. Câu trả lời là phải có một môi trường, tại vì môi trường là chỗ để nuôi dưỡng lý tưởng. Vì vậy chúng ta phải chọn cho được một môi trường, chúng ta phải có tăng thân bên cạnh. Khi biết lánh xa kẻ xấu ác, thân cận người hiền, tôn kính bậc đáng kính thì tự nhiên mình có môi trường tốt, đó là tâm thức cộng đồng, là nguồn thực phẩm thứ hai: thức thực. Mỗi sáng được ngồi thiền với nhau là mình đang tiêu thụ nguồn thực phẩm đó. Hai trăm người cùng ngồi với nhau, người nào cũng thở, người nào cũng làm lắng dịu thân tâm, buông bỏ những giận hờn, lo lắng, chế tác được chất liệu hỷ và lạc. Trong khi ngồi thiền mình ăn thực phẩm đó, mình để cho năng lượng rất hiền, rất lành của đại chúng thấm sâu vào thân tâm mình. Ngồi thiền không phải là ngồi trong một ốc đảo có bao nylon bọc kín xung quanh, không đi ra đi vào được. Ngồi thiền phải giống như một giọt nước trong dòng sông, để dòng sông đưa mình đi. Vì vậy khi ngồi xuống hành giả phải lập tức mở lòng ra để cho đại chúng ôm lấy mình, để tiếp nhận năng lượng chánh niệm to lớn từ đại chúng.

Chúng ta hãy tưởng tượng có một nhóm người bị cơn nghiện sai khiến, sắp sửa đi đánh cướp để có tiền mua ma túy. Năng lượng đó rất xấu, nó vừa thèm khát vừa bạo động, vừa hung dữ và mù quáng. Nếu mình ở trong nhóm người như vậy thì mình đang hấp thụ những loại thực phẩm rất độc hại, do đó mình phải lánh xa kẻ xấu ác, phải thân cận người hiền, phải tôn kính những bậc đáng kính. Nếu không thì cả thân lẫn tâm của mình sẽ mang bệnh. Muốn có sức khỏe thì phải có thực phẩm tốt, thực phẩm cho thân và thực phẩm cho tâm. Mình phải tìm một môi trường lành, môi trường tăng thân, trong đó mọi người đều có hướng đi, có lý tưởng tốt. Ở trong môi trường đó thì tự nhiên thực phẩm mà mình tiêu thụ sẽ trở nên hiền lành. Sống trong tăng thân thì lúc đi, đứng, nằm, ngồi, ăn cơm, quét tước, dọn dẹp, mình đều được bảo bọc bởi năng lượng hiền lành ấy. Đó là thức thực, là năng lượng tập thể rất lành. Khi chấp tác với tăng thân, khi đi thiền hay ngồi thiền với tăng thân thì quí vị phải biết tiêu thụ năng lượng tập thể đó. Mỗi người trong chúng ta đều có lý tưởng, có niềm vui và khi đi chung hay ngồi chung với nhau chúng ta sẽ tạo ra một năng lượng tập thể rất tốt lành, rất bổ dưỡng. Khi đi vào trong đại chúng mình phải mở lòng ra, mở hình hài ra để tiếp nhận năng lượng tốt đó. Đó là nguồn thực phẩm thứ hai gọi là thức thực. Tuy chưa tu nhưng tới ngồi đó mình đã thấy khỏe nhờ có năng lượng rất lành. Mình phải cảm thấy sự có mặt của sư chị, sư anh, sư em ở xung quanh và mình cũng hiến tặng năng lượng lành của mình cho sư chị, sư anh, sư em. Phía trước có sư chị, sư anh, sư em, phía sau, bên trái, bên phải cũng có sư chị, sư anh, sư em, phải thấy rõ ràng như vậy. Và mình cảm thấy hạnh phúc được ngồi để thở và tiêu thụ không khí trong lành của tăng thân. Không khí đó do chính mình chế tác, năng lượng tốt đó do mình tạo ra với nhau, mình được hưởng thụ và các bạn thiền sinh tới với mình cũng được hưởng thụ.

Khi lập Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu bên Đức chúng ta biết viện là một trường học. Nhưng Viện Phật Học của mình không giống một trường học tại vì trong viện có một tăng thân. Khi trình bày với báo chí, chúng tôi có cắt nghĩa cho họ về sự khác biệt: Không phải chúng tôi chỉ có một trường học và những giáo sư giảng dạy, mà chúng tôi còn có một tăng thân thường trú. Tăng thân thường trú là một cơ thể đêm ngày chế tác ra năng lượng lành. Những người tới tu học cũng được hưởng năng lượng lành này. Họ được ngồi thiền, được đi thiền, được nghe Pháp, được ăn cơm với tăng thân. Đó là một tư lương. Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu khác với những trường học đại học khác tại vì nó có năng lượng sẵn đó để mình được hưởng mỗi khi tới học một khóa. Chúng tôi cung cấp hai loại thực phẩm, thứ nhất là lý tưởng và thứ hai là môi trường.

Trong thế giới hiện nay có quá nhiều bạo động, quá nhiều thèm khát, nhiều kỳ thị và giận hờn. Nếu không biết giữ gìn thì mình sẽ bị năng lượng đó thấm vào và
mình cũng sẽ bị sự bạo động, thèm khát tàn phá sức khỏe và tàn phá sự tươi mát lành mạnh của mình và cả con cháu mình. Khi các em bé được gửi trong một môi trường có thèm khát, bạo động thì em bé sẽ hư. Năng lượng của sự bạo động, thèm khát, kỳ thị sẽ đi vào trong em bé. Mình phải làm thế nào để cung cấp cho em bé một môi trường tốt. Hiện nay trong học đường có rất nhiều bạo động, kỳ thị cho nên nhiều bậc cha mẹ không muốn gửi con mình tới trường mà trái lại muốn làm ra một ngôi trường để con mình tới học. Họ bàn với nhau thành lập nên ngôi trường hiền lành cho con mình đi học. Điều đó thuộc về vấn đề thực tập chế tác môi trường.

Khi lấy thức ăn, đi vào thiền đường, ngồi xuống ăn cơm với đại chúng thì mình tiếp nhận nhiều nguồn thực phẩm: Thực phẩm trong bát là đoàn thực (edible food). Còn những sư anh, sư chị, sư em và những bạn tu đang ngồi thở, mỉm cười hạnh phúc và cảm thấy có hỷ có lạc, là thức thực. Mình không chỉ tiêu thụ thức ăn trong bát mà còn tiêu thụ tình anh chị em đó là năng lượng lành mạnh và thánh thiện của tăng thân. Một bữa ăn như vậy không phải chỉ là ăn cơm mà còn có những món ăn tinh thần rất bổ dưỡng. Đi thiền hành cũng là ăn năng lượng của tăng thân, đi như một dòng sông. Ngồi thiền chung cũng là một sự tiêu thụ. Đừng tự bỏ đói mình, đi ngồi thiền là đi ăn, là đi tiếp nhận thực phẩm. Mỗi chúng ta phải có cái nhìn như vậy về sự thực tập. Tại sao lại trốn ngồi thiền, trốn thiền hành? Tại sao lại bỏ đói chính mình? Mình cần những thức ăn bổ dưỡng đó. Mỗi khi gần đến giờ ngồi thiền mình phải tới ngồi trước năm mười phút tại vì nó rất lành mạnh và bổ dưỡng cho tâm hồn. Mình phải thấy niềm vui trong khi thực tập thiền đi, thiền ngồi, thiền thở. Trong truyền thống của chúng ta, thực tập thiền tức là nuôi dưỡng. Niềm vui, hạnh phúc của sự thực tập thiền là thức ăn (thiền duyệt vi thực).

Sở dĩ trong thời khóa có giờ ngồi thiền, giờ đi thiền là để mình ăn. Chính lúc chấp tác cũng vậy, khi chấp tác mình có thức ăn của tình huynh anh chị em. Chính mình chế tác ra thức ăn đó, thức ăn này không phải được mua ngoài chợ. Thức ăn này chính do mình tự chế tác ra cũng như rau do tự mình trồng.

Thường tiên vi phúc đức: Trong bản tiếng Việt chúng ta có câu: Thường tạo tác nhân lành. Trong bản chữ Hán cũng như trong bản Pali có ý: Trong quá khứ đã có cơ hội tạo tác nhân lành. Chữ tiên ở đây có nghĩa như vậỵ Chúng ta nên sửa lại là: Đã có dịp gieo trồng những hạt giống tốt và đã làm những việc phúc đức, cho đúng với nguyên văn. Quý vị hãy ngồi hồi tưởng lại xem trong quá khứ mình đã có cơ hội gieo trồng hạt giống lành hay chưa? Quý vị đã tụng bài:

Các Đức Thế Tôn thường trú trên đời, xin thương xót con.
Nếu con đã từng bố thí, dù chỉ là một nắm cơm.
Nếu con đã từng từng cứu độ chúng sanh, dù chỉ là vài con sâu con kiến.
Nếu con đã từng nói lời dễ thương, dù chỉ một vài câu làm cho người bớt khổ.

Nếu ngồi nhớ ra rằng mình đã từng gieo những hạt giống như vậy trong quá khứ thì mình nên mừng vì đó là điềm lành. Trong Kinh Pháp Hoa có nói: Có những nhân thấy rất nhỏ, nhưng chính những nhân đó đưa chúng ta tới kết quả rất lớn. Có một người đi vào trong tháp hay trong miếu tự nhiên thốt ra: nam mô A Di Đà Phật, chỉ cần nói một câu nhưng chính nhờ hạt giống nhỏ xíu ấy mà sau này người đó thành Phật (Nhất sinh nam mô Phật, da dĩ thành Phật đạo). Mình đã từng phát khởi được tâm niệm lành, đã từng nói được lời lành và đã từng làm được điều lành thì tất cả những điều lành trở thành vốn liếng của mình. Sau này mình thành công được là nhờ vốn liếng đó. Mình đã tạo tác những nhân lành trong quá khứ và trong giây phút hiện tại mình có thể làm thêm.

Sắc thân thừa trinh chánh: Chữ sắc 勅 ở đây không có nghĩa là hình sắc mà có nghĩa là giữ gìn cẩn thận. Trong chữ sắc có chữ lực 力 tức là công phu lao tác. Sắc có nghĩa là giữ gìn để bảo hộ. Có khi chữ sắc cũng được dùng như chữ sức 飾 tức đồ trang sức. Chữ sắc chúng ta có thể hiểu như chữ sức tức là làm đẹp cho tự thân. Thân là tự thân. Trinh là sự trong sáng không chung chạ bậy bạ. Chánh là thẳng, không nghiêng, là đoan chính, không có tâm tà, không đi quyến rũ người, không lẳng lơ, giữ cho thật thẳng, thật trong sáng.

Sắc thân thừa trinh chánh, chữ thừa ở đây có nghĩa là đảm đang, nắm lấy tình trạng, chịu trách nhiệm về cái đó. Thừa là tiếp nối, nhận lấy trách nhiệm. Mình phải chịu trách nhiệm về việc làm đẹp cho tự thân bằng sự trinh bạch và chân chính.  Câu này chúng ta có thể dịch như sau: Biết làm đẹp cho tự thân bằng sự trinh bạch và chân chính. Giữ thân cho trinh bạch và chân chính, đó là điềm lành lớn nhất.

Chúng ta đã từng nghe pháp thoại về đau khổ và hạnh phúc. Khổ đau và hạnh phúc tương tức với nhau cũng như sen và bùn. Trong vị ngọt của hạnh phúc có vị đắng của khổ đau. Chúng ta biết gốc rễ của các cảm thọ nằm ở sắc, hành và tưởng. Sắc, thọ, tưởng và hành là bốn dòng sông. Những lạc thọ, khổ thọ và xả thọ đều có gốc rễ ở sắc uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn. Chúng ta đã học rằng, xử lý khổ đau cũng là tạo dựng hạnh phúc. Mỗi giây phút là một cơ hội cho mình xử lý khổ đau và là một cơ hội cho mình tạo dựng hạnh phúc.

Người hành giả phải có khả năng của người làm vườn tức là phải chuyển hóa được rác và chế tác ra hoa. Chúng ta chỉ có thể nhận diện lạc thọ một cách rõ ràng trên bối cảnh của khổ đau. Nhờ có khổ đau mà mình nhận diện được hạnh phúc. Vì vậy chúng ta không nên đàn áp khổ đau, không nên chạy trốn khổ đau. Chúng ta có thể sử dụng khổ đau để làm nổi bật lên hạnh phúc. Chúng ta không đàn áp, không chạy trốn khổ thọ, phải ôm lấy khổ thọ để nhận diện hạnh phúc đang có.
Có một điều mà chúng ta cần phải học là những cái gọi là xả thọ đều có thể được hành giả biến thành lạc thọ. Cái mà ta gọi là xả thọ, chính nó là một an thọ. Đau răng là khổ thọ, không đau răng là xả thọ. Nhưng thật ra không đau răng có thể là lạc thọ (feeling of well-being). Một neutral feeling có thể biến thành một feeling of well-being.

Trong dòng sông cảm thọ của chúng ta có rất nhiều giọt nước khổ thọ, nhưng cũng có một số giọt nước lạc thọ và rất nhiều giọt nước xả thọ. Nhưng đối với người tu tất cả xả thọ đều có thể biến thành lạc thọ. Khi biết đem chánh niệm soi vào thì xả thọ sẽ thành lạc thọ. Không đau răng là một hạnh phúc, không bệnh tật là một hạnh phúc, sự vắng mặt của đam mê, của giận hờn có thể trở thành hạnh phúc. Chúng ta có quyền thực tập câu linh chú thứ năm: Đây là giây phút hạnh phúc (This moment is a happy moment). Bất cứ giây phút nào chúng ta cũng có thể đọc câu linh chú này, trước khi làm việc, trong khi làm việc, trước khi ăn cơm, trong khi ăn cơm. Khi ta có chánh niệm thì giây phút đó trở thành ra lạc thọ.

Giảng kinh Chiếc Lưới Ái Ân

Đây là bài Pháp thoại Thiền sư giảng vào ngày 02 tháng 5 năm 2010, tại thiền đường Trăng Rằm, chùa Từ Nghiêm, xóm Mới, Làng Mai.

Kinh “Chiếc lưới ái ân” được dịch từ kinh Pháp Cú, Hán tạng. Chữ “ái ân” nằm ngay trong bài kệ thứ ba của kinh, câu “Nhân vi ân ái hoặc”. Trong kinh có sử dụng hình ảnh chiếc lưới để ví với sự mất tự do của một người khi bị vướng vào ái dục. Chữ “lưới” được lặp lại hai lần (ái võng và dục võng), vì vậy ý niệm về chiếc lưới chúng ta có thể thấy rất rõ trong kinh. Mới đọc qua, chúng ta có cảm tưởng kinh được dạy riêng cho người xuất gia; nhưng nghiên cứu kỹ, chúng ta thấy những người tại gia cũng có thể thừa hưởng rất nhiều từ kinh này. Những người tại gia, dù sống đời sống lứa đôi, dù đã có vợ, có chồng, nhưng vẫn có thể bị sa vào lưới ân ái rồi gây khổ đau và làm tan nát gia đình của mình và gia đình người khác.

Đứng về phương diện hành trì, người xuất gia dễ thực tập hơn người tại gia, vì người xuất gia sống trong một môi trường rất thuận lợi cho sự thực tập. Những vị xuất gia tại Làng Mai, vì không xem truyền hình, không đọc tiểu thuyết tình cảm, nên không thấy những hình ảnh khêu khợi ái dục trong phim ảnh hay sách báo, do đó hạt giống ái dục không bị tưới tẩm. Trong khi đó, người tại gia sống ngoài đời, phải tiếp xúc, chung đụng, lại không có những giới luật và uy nghi bảo hộ, nên những hạt giống của ái dục rất dễ bị tưới tẩm. Đứng về phương diện này, đúng là tu tại gia và tu chợ khó hơn tu chùa. Con đường xuất gia vốn là con đường dễ nhất. Hành trì với tính cách cư sĩ khó hơn. Vì vậy, ban đầu đức Thế Tôn có ý dạy kinh này cho những người xuất gia, nhưng những người tại gia cũng phải nên học.

Ngày hôm qua, các thầy, các sư cô có trách nhiệm dịch kinh ra tiếng Anh và tiếng Pháp hơi băn khoăn, không biết nên dịch chữ “ái dục” như thế nào. Mình có thể dịch chữ ái là love. Ái, không phải chỉ là tình cảm giữa nam và nữ, nó còn có nghĩa khác là lòng nhân ái, là tình người, tình yêu nhân loại. Yêu nước là ái quốc. Ái nhân như ái thân (thương người như thể thương thân). Chữ ái không có nghĩa là vướng mắc, mà có nghĩa là thương yêu.

Chữ dục, đứng riêng thì có nghĩa là khao khát, thèm muốn, mình có thể dịch là desire. Khi hai chữ đứng riêng ra thì rất dễ dịch: một bên là tình thương (ái) và một bên là ham muốn (dục). Nhưng khi gộp hai chữ lại thành chữ ái dục thì hơi khó dịch, vì trong ái có dục. Giới thứ ba của Năm Giới có nói: Tình yêu và tình dục là hai cái khác nhau. Khi văn bản của Năm giới tân tu mới ra đời, các vị có gốc Tây phương tiếp nhận liền không một chút khó khăn. Các bạn chấp nhận một cách dễ dàng câu: Tình yêu và tình dục là hai cái khác nhau.

Tên của kinh, trong nguyên văn là Ái Dục Phẩm, mình có thể dịch là “Sensual love”, “L’amour sensuel”. Ở Tây phương, có thứ tình yêu gọi là tình yêu suông (amour platonique), tức là tình yêu không có sự chung đụng xác thịt. Thi sĩ Pháp Félix Arvers có làm một bài thơ rất nổi tiếng, tên “Sonnet d’Arvers” nói về tình yêu không có xác thịt:

Lòng ta chôn một khối tình

Tình trong giây phút mà thành thiên thâu

Tình tuyệt vọng nỗi thảm sầu

Mà người gieo thảm như hầu không hay.

Đọc bài thơ của thi sĩ Arvers, ta thấy trong đó chất chứa một khối khổ đau. Mình yêu người đó, nhưng người đó không biết và mình vẫn cứ âm thầm yêu. Yêu mà mang một nỗi thảm sầu, thì tình yêu ấy chẳng vui vẻ, hạnh phúc gì. Tình yêu suông (l’amour platonique ) cũng đem lại biết bao nhiêu khổ đau, vì trong đó có sự vướng mắc; vướng vào đó rồi, mình đánh mất tự do. Tình yêu ấy không nằm trong Tứ vô lượng tâm (từ, bi, hỷ và xả).

Hỡi ơi người đó ta đây

Sao ta thui thủi đêm ngày chiếc thân?

Dẫu ta đi trọn đường trần

Chuyện riêng dễ dám một lần hé môi

Người dù ngọc nói hoa cười

Nhìn ta như thể nhìn người không quen.

Đường đời lặng lẽ bước tiên

Ngờ đâu chân đạp lên trên mối tình.

Một niềm tiết liệt đoan trinh

Xem thơ nào biết có mình ở trong.

Lạnh lùng lòng sẽ hỏi lòng:

Người đâu tả ở mấy dòng thơ đây?

Người dịch bài thơ này là nhà văn Khải Hưng. Bài thơ của Félix Arvers rất nổi tiếng, người Pháp hầu như ai cũng thuộc bài thơ này. Thi sĩ sống vào nửa đầu thế kỷ thứ 19 và làm bài thơ này lúc 25 tuổi.  Dưới đây là nguyên văn tiếng Pháp của bài thơ:

Mon âme a son secret, ma vie a son mystère

Un amour éternel en un moment conçu:

Le mal est sans espoir, aussi j’ai dû le taire,

Et celle qui l’a fait n’en a jamais rien su.

Hélas! j’aurai passé près d’elle inaperçu,

Toujours à ses côtés et pourtant solitaire;

Et j’aurai jusqu’au bout fait mon temps sur la terre,

N’osant rien demander et n’ayant rien reçu.

Pour elle, quoique Dieu l’ait faite douce et tendre,

Elle ira son chemin, distraite et sans entendre

Ce murmure d’amour élevé sur ses pas.

l’austère devoir pieusement fidèle,

Elle dira, lisant ces vers tout remplis d’elle:

“Quelle est donc cette femme ?” Et ne comprendra pas!

Bản kinh mà chúng ta đang học được trích trong kinh Pháp Cú Hán tạng, phẩm thứ 32. Kinh Pháp Cú Hán tạng là kinh số 210 trong Đại Tạng Taisho, có tất cả 39 phẩm và 752 bài kệ. Kinh Pháp Tập Yếu Tụng là kinh số 213 trong Đại Tạng Tân Tu và có 32 phẩm. Cuối cùng, chúng ta có Dhammapada (kinh Pháp Cú) của tạng Pali, có 26 phẩm và 403 bài kệ. Kinh Pháp Cú Hán tạng được dịch vào thế kỷ thứ ba, kinh Pháp Tập Yếu Tụng được dịch vào thế kỷ thứ mười; nên kinh trước có sớm hơn kinh sau khoảng 700 năm.

Chúng ta có ba kinh nói về ái dục, một kinh bằng tiếng Pali và hai kinh bằng chữ Hán. Khi nghiên cứu ba kinh, tôi thấy bài kinh trong kinh Pháp Cú Hán tạng là hay nhất. Kinh được dịch vào khoảng năm 225, tức nửa đầu thế kỷ thứ ba. Phẩm Ái Dục còn có trong kinh Pháp Tập Yếu Tụng, hình như được dịch vào thế kỷ thứ 10, lời văn chải chuốt hơn, nhưng không hay và không đầy đủ bằng bản trước. Bản văn chúng ta đang học hay hơn cả bản văn trong tạng Pali, nên tôi chọn bản này. Khi học, có thể quý vị sẽ thích thú khi so sánh bản văn này với bản văn tạng Pali và với phẩm Ái Dục của kinh Pháp Tập Yếu Tụng.

Chúng ta hãy cùng đọc bản văn bằng tiếng Việt:

1. Tâm ý đi về hướng ái dục thì cây ái dục sẽ đâm chồi trổ nhánh rất mau. Tâm ý phân tán vì đối tượng ái dục sẽ làm cho lửa ái dục bừng cháy trong ta. Kẻ đi tìm ái dục cũng giống như một con vượn chuyền cành tìm trái, từ cành này sang cành khác.

2. Ái dục buộc mình phải gánh chịu khổ đau.
Ái dục làm cho mình bị vướng mắc vào cuộc sống trần tục. Những lo lắng và hoạn nạn do ái dục đưa tới cứ tăng trưởng đêm ngày, mọc kín như cỏ tranh.

3. Bị ái ân mê hoặc người ta sớm muộn gì cũng sẽ bị vướng vào dục tình. Cái lo lắng kia càng ngày càng lớn, giống như dòng nước rỉ, rỉ mãi cũng đầy hồ.

4. Ở đời có nhiều thứ lo lắng và đau buồn, nhưng không có thứ lo buồn nào lớn hơn cái lo buồn do ái dục đem lại.
Buông bỏ được ái dục mới hết lo buồn.

5. Muốn tâm ý được an vui thì phải quyết tâm dứt bỏ ái ân. Không ân ái thì không còn phải đi vòng quanh trong cõi luân hồi, không còn phải mang nặng ưu tư, không còn thấp thỏm mong cầu những gì ô nhiễm. Không còn ái nhiễm thì sẽ được thực sự an vui.

6. Ân ái thâm trọng thì đến giờ lâm chung, bao quanh bởi những người thân thuộc, sẽ thấy con đường của lo lắng và sầu khổ dài như thế nào. Cái khổ do ân ái gây nên thường đưa ta tới những hoàn cảnh không an toàn, đầy tai ách.

7. Là người tu đạo, ta không nên đi về hướng ái dục.
Phải bắt đầu bằng cách tìm diệt tận gốc cái cây ái dục để cho những cái rễ của nó không còn có thể đâm chồi lên được. Đừng làm như cắt cỏ lau, để sau khi được cắt rồi lau lại mọc lên như cũ.

8. Gốc cây ái dục sâu và vững. Tuy cây đã bị đốn, nhưng cành lá vẫn có thể sinh ra trở lại. Tâm ái dục chưa dứt trừ thì theo lẽ thường cái khổ do ái dục đem tới vẫn còn trở lại như thường.

9. Như con vượn nhảy ra khỏi cây này thì lại nhảy vào cây khác, người đời cũng thế, ra khỏi được một ngục tù ái dục này rồi lại lao mình vào một ngục tù ái dục khác.

10. Tâm ái dục là một dòng chảy thường xuôi theo dòng tập khí và dòng kiêu mạn. Những tư duy và nhận thức của ta đều có thể được tô điểm theo màu sắc ái dục và do đó chính mình tự che lấp sự thật và không thấy được sự thật.

11. Dòng suối tâm ý ấy cứ mặc tình trôi chảy khiến cho những nút thắt ái dục đan kết lại với nhau chằng chịt.
Chỉ có tuệ giác chân thực mới có khả năng phân biệt và thấy rõ được điều này và giúp ta đoạn trừ được căn nguyên của nó nơi tâm ý.

12. Dòng suối ái dục thấm vào tư duy và nhận thức để lớn mạnh và quấn vào nhau. Nguồn suối ái dục sâu không đáy kia làm cho cái già và cái chết tăng trưởng một cách rất mau chóng.

13. Những cành nhánh của cây ái dục cứ tiếp tục sinh trưởng không dừng nghỉ cũng bởi vì chúng được nuôi dưỡng bằng thực phẩm ái dục. Thực phẩm này nuôi dưỡng oán hận, un thành gò thành đống. Người thiếu trí tuệ thì cứ nôn nóng đi về hướng ấy.

14. Trong ngục thất có gông có cùm, nhưng người có trí tuệ không thấy những dụng cụ này là thứ gông cùm vững chắc nhất. Cái loại gông cùm ái nhiễm cột người ta vào vòng hệ lụy mới thật là loại gông cùm kiên cố.

15. Người có trí tuệ thấy ái dục là một thứ ngục tù kiên cố, khó thoát ra khỏi. Người ấy biết rõ rằng phải đoạn trừ ái dục thì mới thực sự được an vui.

16. Thấy sắc mà bị mê hoặc, đó là vì không biết quán vô thường. Kẻ u mê tưởng rằng cái sắc ấy là một cái gì lành và đẹp, không biết rằng cái bóng dáng bên ngoài kia không chứa đựng được một cái gì bền bỉ chắc thật bên trong nó.

17. Tự nhốt mình trong sắc dục thì cũng như con tằm kéo chiếc kén để tự mình giam hãm lấy mình.
Bậc trí giả có khả năng đoạn trừ và buông bỏ dục tưởng, không thiết tha gì đến những đối tượng ái dục, cho nên mới tránh thoát khỏi mọi khổ nạn.

18. Kẻ có tâm ý phóng đãng khi nhìn vào một đối tượng ái dục thì có thể cho đó là một cái gì tinh khiết,
không biết rằng sự tăng trưởng lớn mạnh của ái ân sẽ đem tới bao nhiêu hệ lụy tù ngục sau này.

19. Những ai thực tập chánh niệm sẽ có khả năng thấy được rằng cái đối tượng của ái dục kia là bất tịnh,
do đó diệt trừ được dục ý, ra khỏi ngục tù và thoát khỏi tai nạn già và chết.

20-21. Tự quấn lấy mình trong chiếc lưới ái dục, tự che mình bằng chiếc dù ái dục là tự trói mình trong vòng hệ lụy như con cá tự chui vào trong một chiếc nơm, bị cái già và cái chết bắt theo và luẩn quẩn bên cạnh đối tượng ấy như một con bê đi tìm vú mẹ. Lìa bỏ được dục, không đi theo vết xe của ái, thì có thể vượt thoát ra ngoài chiếc lưới ái ân, không còn bị bất cứ một cái gì làm hại nữa.

22. Đi trọn được con đường, cởi bỏ được mọi ràng buộc hệ lụy, giải phóng được mọi phân biệt kỳ thị,
vượt qua được các ý niệm lưỡng nguyên, đó mới thật là bậc xuất sĩ đại trí.

23. Đừng thân cận với những kẻ đi ngược chánh pháp, cũng đừng bị lôi kéo theo con đường ái nhiễm.
Nếu chưa vượt thoát được thời gian, thì hành giả vẫn còn bị kẹt vào cái thấy nhị nguyên.

24. Thấy và hiểu được tự tánh các pháp, không còn bị vướng vào một pháp nào, biết cách gỡ ra được mọi sợi dây ái dục trong tâm ý, như thế là đã nắm được ý chỉ của Bụt.

25. Trong các thứ hiến tặng, hiến tặng chánh pháp là quý hơn cả. Trong các mùi hương, hương đạo đức là thơm tho hơn hết. Trong các thứ hạnh phúc, được sống trong chánh pháp là hạnh phúc lớn nhất. Không có phương pháp nào chiến thắng được khổ đau một cách tận cùng bằng sự thực tập chấm dứt ái dục.

26-27. Người u mê thường lấy sợi dây tham dục để tự trói mình. Người ấy chưa có ước mong vượt sang bờ bên kia. Tham dục gây bại hoại, đem lại tai họa cho mình và cho kẻ khác. Tâm tham dục là ruộng đất, tham sân si là hạt giống. Đối với người có khả năng bố thí và độ đời thì những phúc đức thu hoạch được không thể đo lường.

28. Người đồng hành thì ít, hàng hóa chuyên chở thì nhiều, kẻ thương nhân lâm vào trạng thái lo lắng kinh sợ. Biết rằng cái đam mê dục lạc là tên giặc, có thể làm tổn hại thân mạng của mình, bậc trí giả không còn chạy theo tham dục.

29. Năm thứ tham dục phát sinh khi tâm mình cảm thấy có sự khả ý. Mau chóng chấm dứt được cả năm thứ tham dục, đó mới thật là người dũng sĩ.

30. Hết tham dục thì không còn sợ hãi. Lúc ấy ta mới được thảnh thơi an lạc. Dục hết thì kiết sử cũng hết, do đó hành giả ra khỏi được vực sâu.

31. Này ái dục ta ơi, ta biết gốc gác của mi rồi: Dục ý là từ ước muốn và nhận thức sai lầm mà phát khởi.
Nay ta không còn ước muốn và nhận thức sai lầm về mi thì làm sao mi còn có thể phát sinh?

32. Đốn cây ái dục mà không tận gốc thì cây ái dục sẽ mọc trở lại. Đốn cây ái dục mà tận gốc thì vị xuất sĩ đạt tới Niết Bàn.

33. Nếu không chịu chặt cây ái dục thì cành lá ái dục ít nhiều vẫn còn phát sinh. Tâm còn vướng vào ái dục thì người ta vẫn còn như một con bê phải luôn luôn cần đến vú mẹ.

 

Trong bài kệ 26 có câu: Người u mê thường lấy sợi dây tham dục để tự trói mình và trong bài kệ thứ 20 nói: Mình tự quấn lấy mình trong chiếc lưới ái dục. Không phải người khác tới bắt mình nhốt vào, mà chính mình tự nhốt mình. Trong kinh có sử dụng hình ảnh con cá tự chui vào trong chiếc nơm, con tằm tự kéo kén để nằm trong đó. Cái nơm nhốt con cá, chiếc kén giam hãm con tằm. Đó là do chính mình làm ra, đó là vì mình muốn như vậy chứ không ai bắt ép mình.

Trong truyện Kiều, lúc sư Giác Duyên tham vấn với đạo cô Tam Hợp để hỏi về tương lai của Kiều, đạo cô nói rằng Kiều sẽ còn phải khổ đau nhiều lắm, vì Kiều còn vướng vào lưới tình. Đạo cô nói:

Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan

Vô duyên là phận hồng nhan đã đành.

Lại mang lấy một chữ tình

Khăng khăng mình buộc lấy mình vào trong.

Vậy nên những chốn thong dong

Ở không yên ổn ngồi không vững vàng.

Ma đưa lối quỷ dẫn đàng

Lại tìm những chốn đoạn tràng mà đi.

Kinh nói rất rõ: tại mình chứ không phải tại người khác. Trong đạo Bụt, Bụt dạy rất nhiều về vấn đề thương yêu. Chúng ta đã có một cuốn sách tựa là “Teaching on love” (Thương yêu theo phương pháp Bụt dạy). Thương yêu có thể đem lại rất nhiều hạnh phúc và bình an cho con người. Nhưng thương yêu và ái dục có khác nhau, thương như thế nào để đừng làm ra một chiếc lưới tự nhốt mình và nhốt người kia, thương như thế nào để đừng gây khổ đau cho mình và cho người kia. Thương như vậy mới đúng là thương, cho nên Tứ vô lượng tâm là con đường thương yêu của Bụt dạy mà mình phải học.

Trong phòng khách của chùa Tây Thiên ở Huế, có một câu đối, trong đó các thầy dùng chữ rất táo bạo:

Bất tục tức tiên cốt 不 俗 即  仙 骨
Đa tình thị Phật tâm
多 情 是  佛 心

Bất tục tức tiên cốt: Bất tục là không có trần tục. Cốt là xương, người có cốt của tiên thì nhẹ nhàng, không có tục lụy, không có cái thô tháo của trần tục. Xương của tiên không có mùi tục lụy, nếu muốn làm tiên thì phải rời xa tục lụy.

Đa tình thị Phật tâm: Trái tim của Bụt có rất nhiều tình (đa tình). Tình mà Bụt dạy là cái tình rộng lớn. Câu đối này nói, Bụt là một người đa tình, là người có tình thương rất lớn. Nhờ có tình thương lớn, Bụt ôm trọn được thế gian. Tâm bảo thái hư là tấm lòng ôm trọn cả thế gian.

Chúng ta là con cháu của tổ Lâm Tế. Tổ dạy: Hễ là con người thì mình có thể thành Bụt, người nào cũng có thể thành Bụt. Nhưng khi thành Bụt rồi, mình vẫn tiếp tục được làm người; có nghĩa là thành Bụt rồi, không phải là hết được làm người, mình vẫn là một con người. Điều kiện để thành Bụt trước hết phải là một con người, cho nên chúng ta có giáo lý Phật sanh bất nhị (the non duality of Buddhas and human beings).

Đã là con người, thì phải có hạt giống của tình dục. Con người được làm bằng năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), con người có hình hài, có cảm thọ. Nếu nhìn Bụt như một con người thì chúng ta thấy rõ là trong con người của Bụt cũng có hạt giống của tình dục. Sách “Đường xưa mây trắng” giúp chúng ta nhìn Bụt như một con người mà không phải là một vị thần linh. Bụt đi xuất gia năm 29 tuổi và thành đạo năm 35 tuổi, mới có 35 tuổi là còn rất trẻ, nên năng lượng tình dục vẫn còn trong con người đó. Bụt vẫn còn là con người như mình. Nhưng tại vì khi thành Bụt rồi, mình có đủ trí tuệ, có đủ thương yêu, đủ tinh thần trách nhiệm, đủ tuệ giác, nên mình biết xử lý năng lượng tình dục của mình một cách dễ dàng.

Ai nói Bụt không có yêu thương? Bụt yêu thương rất nhiều, tim Bụt vốn đa tình. Mình phải thấy rằng, hễ là con người thì có hạt giống của tình dục. Tình yêu phần nào có gốc rễ trong tình dục, chúng ta phải công nhận chuyện đó. Sự khao khát có cơ hội để thương yêu và được thương yêu có mặt trong tất cả mọi người chúng ta. Tu tập không phải là để quét sạch, để lấy đi hết những thứ đó; lấy đi hết những thứ đó thì mình không còn là con người nữa. Mình tu tập là để có đủ khả năng đối phó với những thứ đó, cười với nó, khiến nó không làm gì được mình. Hễ là con người, có một hình hài thì còn những hạt giống tình dục. Thỉnh thoảng khi nó trở về, mình có chánh niệm, có tuệ giác, mình mỉm cười với nó và mình được tiếp tục làm người. Bụt đã thành Phật rồi mà vẫn tiếp tục làm một con người, nhờ vậy mình mới tới được gần Bụt. Nếu Bụt là một vị thần linh thì làm sao mình tới gần được? Và nếu Bụt xử lý được năng lượng tình dục, thì chắc chắn mình cũng làm được như Bụt.

Khi đã chọn con đường xuất gia, mình phải khép lại cánh cửa ái ân. Như vậy không có nghĩa là mình cho ái ân là một tội ác, nhưng vì có nhiều con đường và mình đã chọn một con đường, con đường đó là con đường thương yêu lớn, con đường thương yêu của Bụt, con đường không bị hệ lụy. Con đường này không làm mình khổ và đem lại niềm vui cho rất nhiều người khác. Sau khi lựa chọn rồi, mình phải đóng cánh cửa kia lại; mình không thể bắt cá hai tay, vừa muốn làm cái này, lại vừa muốn làm cái kia.

Mình thương mẹ, nhưng mình có lý tưởng xuất gia, nên mình phải xuất gia thôi, mình không thể ở nhà để ăn chuối ba hương, ăn xôi nếp một, ăn đường mía lau. Ở đời luôn luôn phải có sự chọn lựa, đã chọn lựa rồi, mình phải đi con đường đó chứ đừng thụt tới thụt lui để cuối cùng cũng không đi được tới đâu. Mình có quyền làm người, Bụt có quyền làm người. Nhờ cách học làm người cho đàng hoàng, nên mình có thể thành Bụt.

Kinh này có những bài kệ rất sâu, chúng ta sẽ cùng nhau học từ từ.

Đọc kinh cẩn thận, mình thấy Bụt chỉ cho mình nguồn gốc của ái dục, gọi là dục ý 欲  意. Dục ý là cái tâm muốn đi về hướng đó, khi có dục ý rồi thì mình không còn bình an nữa. Thi sĩ Xuân Diệu làm một bài thơ bốn câu để giải nghĩa tình yêu là gì:

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu?

Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt

Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu

Tự nhiên mình có một cảm giác nhớ nhung và thiếu vắng, đó là định nghĩa của Xuân Diệu về tình yêu. Hễ yêu là thấy nhớ nhung, thấy thiếu vắng. Mình đổ lỗi tại nắng nhạt, mây nhẹ và gió hiu hiu; nhưng khi có người khác đứng cạnh mình, cho dù trời có nắng nhạt, mây nhẹ và gió hiu hiu thì người ta có làm sao đâu. Thế nên, trước đó đã có cái gì rồi, chứ không phải là tự dưng.

Theo sự phân tích của Bụt, ban đầu phải có xúc, sparśa (contact), xúc giữa mắt và hình ảnh, xúc giữa lỗ tai với âm thanh. Xúc đi với tác ý (attention), manaskara. Tại sao mình không chú ý tới cái khác, mà lại chú ý tới cái đó? Có nhiều loại tác ý, có loại tác ý có lợi cho sự tu tập của mình như khi nghe tiếng chuông mình để tâm vào tiếng chuông. Đó gọi là như lý tác ý, để tâm vào tiếng chuông thì tự nhiên tâm mình lắng lại. Chính đối tượng của tác ý quyết định là mình có bình an hay không có bình an. Mỗi ngày, người tu phải học như lý tác ý, để tâm tới những cái không làm cho mình mất bình an. Thọ (vedanā) là cảm thọ, cảm thọ khó chịu hay dễ chịu. Mình thấy một hình ảnh, nghe một âm thanh và mình có một tri giác (một nhận thức) về cái đó. Tri giác đó gọi là tưởng (samjñā), nó tùy thuộc nơi thọ. Khi tiếp xúc với một cái gì đó và có một cảm thọ, tự nhiên mình có tưởng (tri giác). Mình cho cái đó là xấu hay đẹp, là dễ chịu hay không dễ chịu. Có cảm giác dễ chịu là có lạc thọ, có cảm giác không dễ chịu là có khổ thọ. Mình tiếp xúc với một đối tượng và cho đối tượng đó là thường, là lạc, là ngã, là tịnh. Nếu có chánh niệm và trí tuệ, mình biết đối tượng đó là vô thường và nó có thể đem lại khổ đau cho mình. Nếu có trí tuệ, mình thấy nó là trống rỗng, nó không có chủ thể bền chắc lâu dài và nó là bất tịnh. Lúc đó, cái tưởng của mình không phải là một vọng tưởng mà là một nhận thức đúng đắn. Mình sẽ không bị nội kết. Nội kết đó gọi là, volition (cetana). Tư là một nhớ tưởng, một mong cầu.

Một tia nắng nhạt, một đám mây nhè nhẹ, một cơn gió hiu hiu làm cho mình cảm thấy thiếu vắng một cái gì, mình mong cầu một cái gì đó. Đó gọi là tư, là nhớ mong (cái gì như thể nhớ mong). Tư do cái tưởng sinh ra. Sau khi có xúc, tác ý và thọ thì mình có một nhận thức về đối tượng đó. Nếu mình cho đối tượng đó là tịnh, là lạc, là ngã, là thường thì mình có một nội kết êm ái. Nội kết êm ái sinh ra tư, cái tư đó là cái thiếu vắng, cái nhớ mong bồn chồn không quên được. Tư là tư niệm thực, tức nguồn thực phẩm thứ ba trong bốn loại thực phẩm. Tư là nghĩ tới nó và cứ muốn ao ước nó.

Trong kinh này có nói về nội kết, về tư và về tưởng. Trong bài kệ thứ 31 có nói: Này ái dục ta ơi, ta biết gốc gác của mi rồi. Dục ý là từ ước muốn và nhận thức sai lầm mà phát khởi. Chữ ước muốn được dịch từ chữ và chữ nhận thức sai lầm được dịch từ chữ tưởng. Bụt chỉ cho mình rất rõ ràng gốc rễ của ái dục. Vọng tưởng đưa tới tư niệm, tư niệm làm cho mình thiếu thốn, đau khổ, bất an. Và tư đưa tới những phiền não như lo lắng, sợ hãi, buồn phiền, giận hờn, v.v…  Với chánh niệm, mình để ý tới xúc, tác ý, thọ và khi đi tới tưởng mình sẽ không bị vọng tưởng. Mình thấy đối tượng kia là vô thường có thể đem lại khổ đau, nó không có gì chắc thực ở bên trong và nó là bất tịnh; lúc đó tự nhiên mình không có vọng tưởng và không có vọng tưởng thì mình sẽ không có nội kết êm ái, sẽ không bị “mây nhè nhẹ gió hiu hiu” bắt cóc đi.

Bài kệ 1

Tâm phóng tại dâm hành              心  放  在  婬  行
Dục ái tăng chi điều                       欲  愛  增  枝  條
Phân bố sanh sí thạnh                    分  布  生  熾  盛
Siêu dược tham quả hầu                超  躍  貪  果  猴

 

Tâm ý đi về hướng ái dục thì cây ái dục sẽ đâm chồi trổ nhánh rất mau. Tâm ý phân tán vì đối tượng ái dục sẽ làm cho lửa ái dục bừng cháy trong ta. Kẻ đi tìm ái dục cũng giống như một con vượn chuyền cành tìm trái, từ cành này sang cành khác.

 

Tâm phóng tại dâm hành: Phóng là đi tới. Dâm hành là hướng của ái dục. Tâm ý đi về hướng của ái dục.

Dục ái tăng chi điều: Cây ái dục tăng thêm cành thêm nhánh.

Phân bố sanh sí thạnh: Sí thạnh là cháy bùng lên. Tâm ý phân tán vì đối tượng ái dục sẽ làm cho lửa ái dục bừng cháy trong ta.

Siêu dược tham quả hầu: Tham quả là ham đi tìm trái cây. Hầu là con khỉ. Con khỉ đi tìm trái cây, nhảy nhót từ cây này sang cây khác.

Ngay trong bài kệ này chúng ta đã thấy đây không phải chỉ là giáo lý cho người xuất gia. Người tại gia cũng rất cần, vì người tại gia sống trong một hoàn cảnh có rất nhiều cơ hội bị vướng mắc. Sống trong chùa mình được nhắc nhở, được thực tập và mình có tăng thân. Sống ngoài đời, mình đi tới sở làm gặp gỡ người này người khác, nên người tại gia rất dễ bị kéo theo bởi hoàn cảnh. Mình đã có vợ, có chồng, có con rồi; nhưng mình vẫn bị kéo theo ái dục, mình vẫn muốn bỏ người này để đi theo người kia. Trong kinh dùng hình ảnh của một con vượn nhảy từ cành này sang cành khác để tìm trái cây. Nó ăn một trái rồi, nhưng còn thèm nên đi tìm trái khác. Ở ngoài đời, chuyện ngoại tình xảy ra rất nhiều; sự thực tập đối với người cư sĩ khó hơn đối với người xuất sĩ. Cho nên, đi xuất gia là con đường dễ nhất và mình đừng đợi đến lúc già rồi mới xuất gia.

Kinh hay ở chỗ là đưa ra rất nhiều hình ảnh, có trên mười hình ảnh và những hình ảnh tự nó đã nói ra được giáo lý.

 

Bài kệ 2

Dĩ vi ái nhẫn khổ                            以  為  愛  忍  苦
Tham dục trước thế gian               貪  欲  著  世  間
Ưu hoạn nhật dạ trưởng               憂  患  日  夜  長
Diên như mạn thảo sanh               莚  如  蔓  草  生

 

Ái dục buộc mình phải gánh chịu khổ đau, ái dục làm cho mình bị vướng mắc vào cuộc sống trần tục. Những lo lắng và hoạn nạn do ái dục đem tới cứ tăng trưởng đêm ngày, mọc kín như cỏ tranh.

 

Bài kệ này cũng để dành cho người cư sĩ. Các vị xuất gia đừng tưởng ở ngoài đời thì khỏi phải hành trì. Ở ngoài kia mà không hành trì thì sẽ khổ lắm.

Dĩ vi ái nhẫn khổ: Ái dục buộc mình phải gánh chịu khổ đau.

Nhẫn là chịu đựng, nhẫn khổ là chịu đựng nhiều khổ đau. Trong chúng ta có người đã nếm được vị này.

Tham dục trước thế gian: Vướng mắc vào vòng ái dục là vướng mắc vào thế giới của trần lụy, không giải thoát được. Thế gian là cuộc sống trần tục.

Ưu hoạn nhật dạ trưởng: Những lo lắng và hoạn nạn do ái dục đem tới cứ tăng trưởng đêm ngày.

Ưu là lo lắng, hoạn là tai nạn. Đó là hai cái đi đôi với ái dục. Làm tổng thống như ông Bill Clinton hay ông Sarkozy cũng khổ vì ái dục. Bên Do Thái, có một vị tổng thống vì bị vướng vào ái dục mà phải bỏ chức tổng thống. Các vị nguyên thủ quốc gia phải học kinh này, vì mỗi khi bị vướng mắc, trong lòng mình sẽ có những lo lắng, buồn phiền và sợ hãi. Khi ấy làm sao mình có đủ minh mẫn, có đủ thông minh để giải quyết những vấn đề trọng đại của quốc gia; làm sao có thể dẫn dắt cả một dân tộc cho đàng hoàng được. Kinh này không phải chỉ dành cho người xuất gia mà còn dành cho người tại gia, những vị có duyên tới Làng Mai tu học, nhất là các nhà chính trị, các nhà doanh thương.

Nhật dạ là ngày đêm. Nhật dạ trưởng là tăng trưởng ngày đêm.

Diên như mạn thảo sanh: Rễ đan chằng chịt với nhau như cỏ tranh. Mạn thảo là cỏ tranh, trong bản Pali, cỏ là Birana, rễ của nó đan chằng chịt với nhau và hình như nó có chất ngọt nên có người muốn đào. Vì vậy nên tôi dịch mạn thảo là cỏ tranh, vì nước của rễ cỏ tranh uống vào hơi ngọt ngọt. Trong bản Pali nói, nếu tưới thì cỏ đó sẽ mọc lên chằng chịt, phải tìm cách đào cho hết thì nó mới không mọc lên nữa.

Trong tự điển, mạn thảo là Andtropogon muricatus và tự điển của Phạm Hoàng Hộ gọi là hồng thảo chứ không phải mạn thảo, chữ Sanskrit là Birana.

 

Bài kệ 3

Nhân vi ân ái hoặc                         人  為  恩  愛  惑
Bất năng xả tình dục                      不  能  捨  情  欲
Như thị ưu ái đa                            如  是  憂  愛  多
Sàn sàn doanh vu trì                      潺  潺  盈  于  池

 

Bị ái ân mê hoặc người ta sớm muộn gì cũng bị vướng vào dục tình.

Cái lo lắng kia càng ngày càng lớn giống như dòng nước rỉ, rỉ mãi cũng đầy hồ.

Nhân vi ân ái hoặc: Khi con người bị mê hoặc. Hoặc là bị cám dỗ, bị hớp hồn. Khi con người bị cám dỗ bởi ân ái thì Bất năng xả tình dục, không thể buông bỏ được tình dục, thế nào cũng đi tới chuyện tình dục và rốt cuộc cũng sẽ đi tới chỗ chung đụng xác thịt.

Thi sĩ Félix Arvers nói “l’amour platonique” (chỉ yêu suông thôi), nhưng nếu hoàn cảnh thuận tiện thì dù yêu theo cách đó nhưng thế nào người ta cũng sẽ phạm giới. Thái Hư đạo sư nói: Tình yêu, nếu cứ tăng trưởng thì chắc chắn sẽ đưa tới tình dục và đưa tới tình dục thì sẽ làm tan vỡ tất cả, nhất là đối với người xuất gia. Vì vậy, mình không thể coi thường, mình đừng tưởng là yêu suông thì không. Chúng ta phải cẩn thận ngay từ lúc ban đầu.

Nếu đó là tình huynh đệ thì không sao cả, nhưng nếu nó có hơi hướng của ái dục thì mình phải biết là nó sẽ đẩy mình tới tình dục. Chuyện này đã có xảy ra trong đại chúng, đồng tính cũng như dị tính. Một sư chú với một sư cô và hai người đã rủ nhau đi. Vì vậy, mình phải thấy cho rõ, đây có phải là tình huynh đệ hay không? Nếu nó có màu sắc của ái dục, mình phải cẩn thận, nếu để cho nó lớn thì sẽ đưa tới sự gần gũi. Đây chỉ là vấn đề con người, nhưng vì mình đã xuất gia, đã có chí nguyện đi theo sự nghiệp của đức Thế Tôn nên mình phải chọn lựa. Muốn thành công mình phải làm như vậy, phải thường xuyên nhắc nhở nhau. Khi người khác nhắc mình thì mình phải chắp tay lại cám ơn. Mình không nên nói: “có gì đâu!”  Những vị đã bỏ đi, ngày xưa cũng đã từng nói như vậy.

Như thị ưu ái đa: Cái lo lắng kia càng ngày càng lớn. Mình phải cẩn thận lắm mới được. Ở dưới mặt đất, cỏ mọc rất mau, nó mọc chằng chịt vướng vào nhau, cho nên đức Thế Tôn nói nó mọc chằng chịt như cỏ tranh. Bụt dạy mình đừng nghĩ rằng đó là chuyện không quan trọng.

Sàn sàn doanh vu trì: Nó là dòng nước rỉ, nhưng mai mốt sẽ đầy hồ, và khi hồ đầy rồi thì nước sẽ tràn ra. Đây là hình ảnh thứ ba trong kinh. Hình ảnh đầu là con vượn chuyền cành, hình ảnh thứ hai là cỏ tranh mọc kín, hình ảnh thứ ba là nước rỉ đầy hồ.

Đây là bài Pháp thoại ngày 06 tháng 05 năm 2010, tại thiền đường Nước Tĩnh, chùa Pháp Vân, xóm Thượng, Làng Mai.

Bài kệ 4

Phù sở dĩ ưu bi                               夫  所  以  憂  悲
Thế gian khổ phi nhất                    世  間  苦  非  一
Đãn vi duyên ái hữu                      但  為  緣  愛  有
Ly ái tất vô ưu                                離  愛  則  無  憂

Ở đời có nhiều thứ lo lắng và đau buồn, nhưng không có thứ lo buồn nào lớn hơn cái lo buồn do ái dục đem lại. Buông bỏ được ái dục mới hết lo buồn.

Phù sở dĩ ưu bi: Câu này nói tới cái lo lắng và cái ưu buồn khi vướng vào ân ái. Người nào đã đi “qua cầu” thì sẽ có kinh nghiệm ấy. Khi vướng vào một ai đó, mình luôn lo sợ người kia bỏ mình, phản bội mình. Những tri giác sai lầm sẽ khiến cho mình thường xuyên rơi vào sự ghen tuông, tuyệt vọng và khổ đau.

Thế gian khổ phi nhất: Thế gian khổ là những cái khổ trong cuộc đời. Phi nhất có nghĩa là không phải là một cái. Những đau khổ trong thế gian không phải chỉ một thứ.
Đãn vi duyên ái hữu: Phần lớn những đau khổ trong cuộc đời là do ái dục sinh ra. Duyên ái hữu là có gốc rễ từ ái dục.

Ly ái tất vô ưu: Xa lìa được ái dục thì không còn lo lắng nữa.

Bài kệ 5

Dĩ ý an khí ưu                                 己  意  安  棄  憂
Vô ái hà hữu thế                             無  愛  何  有  世
Bất ưu bất nhiễm cầu                     不  憂  不  染  求
Bất ái yên đắc an                            不  愛  焉  得  安

Muốn tâm ý được an vui thì phải quyết tâm vứt bỏ ái ân. Không ân ái thì không đi vòng quanh trong cõi luân hồi, không còn phải mang nặng ưu tư, không còn thấp thỏm mong cầu những gì ô nhiễm, không còn ái nhiễm thì sẽ được thật sự an vui.

 

Dĩ ý an khí ưu: Muốn cho tâm ý được an vui thì phải bỏ đi những ưu tư lo lắng.

Vô ái hà hữu thế: Không có ái dục thì không còn quanh quẩn trong cõi luân hồi. Thế là thời gian, là sự đi vòng quanh trong cõi luân hồi.

Bất ưu bất nhiễm cầu: Không lo lắng, không tìm cầu những chuyện ô nhiễm.

Bất ái yên đắc an: Không có ái dục thì sẽ đạt tới an lạc.

Trong bài kệ tương đương của văn hệ Pali, có một hình ảnh mà trong bài kệ này không có, đó là hình ảnh một lá sen. Không có ái dục thì sẽ có an vui. Những giọt nước rơi xuống lá sen không thấm được vào trong lá. Người tu tập giống như một lá sen, ái dục không thấm vào được mình, nên mình giữ được sự an vui và tươi mát của mình.

 

Bài kệ 6
Hữu ưu dĩ tử thời                          有  憂  以  死  時
Vi trí thân chúc đa                         為  致  親  屬  多
Thiệp ưu chi trường đồ                  涉  憂  之  長  塗
Ái  khổ thường đọa nguy              愛  苦  常  墮  危

 

Ân ái thâm trọng thì đến giờ lâm chung bao quanh bởi những người thân thuộc sẽ thấy con đường của lo lắng và sầu khổ dài như thế nào. Cái khổ do ân ái gây nên thường đưa ta tới những hoàn cảnh không an toàn, đầy tai ách.

 

Hữu ưu dĩ tử thời: Tử thời là giờ lâm chung. Ái ân thâm trọng thì đến giờ lâm chung,

Vi trí thân chúc đa: bao quanh bởi những người thân thuộc. Đa là nhiều.

Thiệp ưu chi trường đồ: sẽ thấy con đường của lo lắng và sầu khổ dài như thế nào. Trường đồ là con đường dài. Ưu là lo lắng.

Ái khổ thường đọa nguy: Cái khổ do ân ái gây nên sẽ đưa ta tới những hoàn cảnh không an toàn, đầy tai ách.

Tên của kinh dịch ra tiếng Anh là “The net of love sutra”. Chữ “love” trong này mang ý nghĩa hơi tiêu cực. Vướng vào tình yêu như một con cá mắc phải lưới rất bức bách, mất tự do. Tuy nhiên, chữ “love” có thể có một nghĩa rất đẹp, đó là tình thương. Học Năm giới trong Giới bản tân tu, chúng ta thấy con đường hành trì Năm giới đúng là con đường của thương yêu đích thực (true love). Giới thứ nhất là sự thực tập thương yêu, giới thứ hai cũng là sự thực tập thương yêu, giới thứ ba, giới thứ tư và giới thứ năm cũng vậy. Vì vậy, chữ thương yêu này có ý nghĩa rất tích cực. Giáo lý Bụt dạy về thương yêu rất rõ ràng. Chúng ta không thể nói đạo Bụt không phải là đạo thương yêu. Đạo Bụt là đạo thương yêu, nhưng thương theo nghĩa của Tứ vô lượng tâm, của đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả. Đó là sự thương yêu đích thực.

Chữ love (yêu) trong kinh này có nghĩa là sensual love tức là một thứ tình có dục ở trong mà không phải là sự thương yêu đích thực. Vì vậy, trong “Giới bản tân tu” có câu: Tình yêu và tình dục là hai cái khác nhau. Ngoài “The net of love sutra” (Kinh Chiếc lưới ái ân) mình cũng có “The sutra on love” (Kinh Thương yêu) và chữ love ở đây có nghĩa là true love.

Bài kệ 7
Vi đạo hành giả                              為  道  行  者
Bất dữ dục hội                                不  與  欲  會
Tiên tru ái bổn                                先  誅  愛  本
Vô sở thực căn                                無  所  植  根
Vật như ngải vi                              勿  如  刈  葦
Lệnh tâm phục sanh                      令  心  復  生

 

Là người tu đạo ta không nên đi về hướng ái dục, phải bắt đầu bằng cách tìm diệt tận gốc cái cây ái dục để cho những cái rễ của nó không còn có thể đâm chồi lên được. Đừng làm như cắt cỏ lau để sau khi được cắt rồi, lau lại mọc lên như cũ.

Vi đạo hành giả: Một người đang đi trên con đường đạo.
Bất dữ dục hội: Không nên đi về hướng ái dục. Hội là cộng trú, là ở chung, là associated with.

Tiên tru ái bổn: Bắt đầu bằng cách tìm diệt tận gốc cây ái dục.

Tiên là trước hết. Tru là diệt đi. Ái bổn là gốc rễ của ái dục. Ái dục không chỉ ở cành lá, ái dục chính là gốc rễ. Nó là tập khí, là mặc cảm của mình.

Vô sở thực căn: để cho những cái rễ của nó không còn đâm chồi lên được.

Vật như ngải vi: đừng làm giống như cắt cỏ lau.
Lệnh tâm phục sanh: sau khi cắt rồi tâm ái dục mới sinh ra trở lại.

Có một vị thiền sinh nhạc sĩ, đã từng làm trong một hộp đêm nhiều năm có nhận xét rằng: Trong hộp đêm người ta nghe nhạc, uống rượu và khiêu vũ. Lúc ban đầu người ta vui vẻ, cởi mở, cười nói với nhau. Nhưng càng về khuya, người ta càng khép kín. Người ta không để ý tới nhau nữa mà chỉ để ý tìm một người để chung chạ trong đêm đó. Âm nhạc, rượu và thức ăn đã tưới tẩm hạt giống ái dục trong họ. Ban đầu, mọi người đều cởi mở, vui tươi chơi với nhau; nhưng càng về khuya, người ta càng khép kín và chỉ nghĩ tới chuyện ái dục. Sáng mai thức dậy, họ nhìn người mà đêm qua mình đã gần gũi như nhìn một người xa lạ. Họ chào nhau rồi chia tay, không nhớ đêm qua mình đã chia sẻ hết những gì sâu kín nhất của thân thể và tâm hồn của mình cho người ấy. Vị thiền sinh kia thấy rõ trong hành động đó chỉ có sự thèm khát tình dục mà không phải là tình yêu. Tuần sau tới hộp đêm, họ có thể lặp lại chuyện đó với một người khác. Cứ như vậy từ người này tới người khác, từ đam mê này tới đam mê khác, từ sự thèm khát này tới sự thèm khát khác, nó làm tiêu hoại thân tâm của mình cho đến khi thức tỉnh mới thấy rằng mình cần đi tìm một sự thương yêu đích thực. Đó là ý kiến đóng góp trong buổi pháp đàm vừa qua; nó cho chúng ta thấy, tình dục tiêu hoại thân tâm và không đem lại sự thỏa mãn, an lạc, hạnh phúc.

Một vị thiền sinh khác nói cô có rất nhiều khó khăn trong khi chung sống với người chồng và hai đứa con. Bây giờ cô đã ly dị, mỗi người có một đời sống riêng. Cô thấy tâm hồn mình nhẹ nhàng, thanh thản hơn, cũng là lúc cô cảm thấy thương chồng con nhiều hơn. Bây giờ mới thật sự là thương yêu, vì những hệ lụy kia không còn nữa. Cái gọi là love không còn, thì mới bắt đầu thật sự có true love. Bây giờ cô bắt đầu thương, hiểu và chăm sóc chồng con nhiều hơn.

Đây là bài Pháp thoại ngày 09 tháng 05 năm 2010, tại thiền đường Hội Ngàn Sao, xóm Hạ, trong khóa tu mùa Xuân.

Hôm nay, chúng ta có một bản dịch mới của sư cô Chân Đức vừa gửi từ Viện Phật Học qua, thay vì “The net of love”, sư cô dịch là “The net of attachment”.

 

Bài kệ 8
Như thọ căn thâm cố                     如  樹  根  深  固
Tuy tài do phục sinh                      雖   猶  復  生
Ái ý bất tận trừ                               愛  意  不  盡  除
Triếp đương hoàn thọ khổ             輒  當  還  受  苦

 

Gốc cây ái dục sâu và vững, tuy cây đã bị đốn nhưng các cành lá vẫn có thể sinh ra trở lại. Tâm ái dục chưa dứt trừ thì theo lẽ thường cái khổ do ái dục đem tới vẫn còn trở lại như thường.

 

Như thọ căn thâm cố: Thọ căn là gốc rễ của cây. Thâm là sâu, cố là vững chãi. Gốc của cây ái dục rất sâu và vững.

Tuy tài do phục sinh: Tài là cắt. Phục sinh là sinh ra trở lại. Tuy bị cắt đứt rồi nhưng cây có thể sinh ra trở lại.

Ái ý bất tận trừ: Tận là hết. Ái ý là tâm ý vướng vào ái dục. Nếu ái dục trong tâm ý chưa dứt trừ hoàn toàn thì

Triếp đương hoàn thọ khổ: theo lẽ thường mình phải trở lại để chịu đựng khổ đau. Triếp có nghĩa là thường thường, luôn luôn như vậy.

Bài kệ này nhấn mạnh về tầm quan trọng của sự đoạn trừ ái dục trong tâm ý. Năng lượng tình dục có thể còn, bởi vì nó là bản năng tự nhiên của con người. Nhưng khi tâm ý được nhiếp phục, thì ta không những không bị lôi kéo bởi năng luợng tình dục, mà ngược lại ta còn có thể sử dụng nó như một nguồn năng lượng tốt cho những mục tiêu hướng thượng. Đào gốc ái dục không có nghĩa là phải làm cho hết năng lượng tình dục trong con người. Vấn đề là phải chuyển hóa cái tâm, chứ không phải đày đọa và làm tiêu ma cái thân. Một khi trong tâm mình có đủ tuệ giác và từ bi, thì tuệ giác và từ bi ấy sẽ tự khắc điều phục và xử lý được năng lượng kia.


Bài kệ 9

Viên hầu đắc ly thọ                        猨  猴  得  離  樹
Đắc thoát phục thú thọ                  得  脫  復  趣  樹
Chúng nhân diệc như thị              眾  人  亦  如  是
Xuất ngục phục nhập ngục           出  獄  復  入  獄

 

Như con vượn nhảy ra khỏi cây này thì lại nhảy vào cây khác, người đời cũng thế, ra khỏi được ngục tù ái dục này rồi lại lao vào ngục tù ái dục khác.

 

Viên hầu đắc ly thọ: Viên hầu là con khỉ, con vượn. Đắc là được. Ly thọ là rời khỏi cái cây. Con vượn có cơ hội rời khỏi cái cây.

Đắc thoát phục thú thọ: Vừa mới thoát ra khỏi cái cây này thì lại nhảy vào một cây khác, nghĩa là lại có một đối tác mới.

Chúng nhân diệc như thị: Người đời cũng như vậy.

Xuất ngục phục nhập ngục: Ra khỏi một ngục tù thì lại vào rơi trở vào một ngục tù khác.

Trong con người chúng ta có một tập khí và nếu tập khí đó chưa được chuyển đổi thì ra khỏi ngục tù này mình sẽ lại tự giam mình vào một ngục tù khác. Theo thói thường của người ngoài đời, khi gặp khó khăn và khổ đau với một người, họ luôn tin rằng chỉ cần ly dị và thoát khỏi người đó thì họ sẽ có tự do, bởi vì họ nghĩ người kia là nguyên nhân của những khó khăn và khổ đau mình. Nhưng sự thật là sau khi ly hôn, ly thân với người ấy rồi, tuy mình có khỏe hơn thật, nhưng mình sẽ lại đi tìm một đối tác khác để vướng vào. Dính vào người thứ hai, tuy người này là người mới, nhưng mình cũng lại hành xử y hệt như với người trước. Họ hành xử như vậy, bởi vì họ là nạn nhân của tập khí của chính họ. Đây là một ví dụ cụ thể cho những gì đã được nêu trong bài kệ thứ 9. Cách mình suy tư, nói năng và tiếp xử không hề thay đổi, những gì mình đã làm để gây đau khổ cho người trước bây giờ mình cũng lại làm y như vậy để gây đau khổ cho người mới và vì vậy mình tạo ra một địa ngục thứ hai. Mình không biết rằng khổ đau không phải tới từ người này hay tới từ người kia, mà tới từ chính mình. Nếu mình không chuyển hóa được tập khí của mình và lề thói ứng xử của mình, thì với ai mình cũng có thể làm cho họ đau khổ và làm cho mình đau khổ. Đây không phải là vấn đề với đối tác, mà là vấn đề với tập khí của chính mình.

 

Bài kệ 10
Tham ý vi thường lưu                    貪  意  為  常  流
Tập dữ kiêu mạn tinh                    習  與  憍  慢  并
Tư tưởng ỷ dâm dục                      思  想  猗  婬  欲
Tự phú vô sở kiến                          自  覆  無  所  見

 

Tâm ái dục là một dòng chảy thường xuôi theo dòng tập khí và dòng kiêu mạn. Những trông cầu và nhận thức của ta đều có thể được tô điểm theo màu sắc ái dục và do đó chính mình tự che lấp sự thật và không thấy được sự thật.

 

Tham ý vi thường lưu: Tham ý là ý niệm hay tâm ý của tham dục. Thường lưu là chảy hoài. Tâm ý của tham dục như một dòng chảy cứ chảy hoài.

Tập dữ kiêu mạn tinh: Tập là thói quen, là tập khí. Tinh là cùng đi với. Kiêu mạn cùng đi đôi với tập khí.

Tư tưởng ỷ dâm dục: Những mong cầu và nhận thức của ta đều có thể được tô điểm theo màu sắc ái dục.

Tự phú vô sở kiến: Phú là che. Vô sở kiến là không thấy được. Tự mình che mình và không thấy được sự thật.

Trong Duy Biểu Học, chúng ta được biết tới năm tâm hành thường xuất hiện cùng nhau, gọi là Năm tâm sở biến hành. Chúng là: xúc (sparśa), tác ý (manaskara), thọ (vedanā), tưởng (samjña) và tư (cetana).

Giác quan của chúng ta tiếp xúc với một cái gì đó, mình để ý tới nó và tự nhiên mình có một cảm thọ có thể là dễ chịu hoặc khó chịu. Cảm thọ đó cho mình một tri giác, tri giác này có thể đúng hay sai. Nếu thấy cái đó không khả ái, mình không muốn chấp nhận, mình muốn xua đuổi; ngược lại nếu nhận ra cái đó là khả ái, thì mình muốn nắm giữ. Cái ý muốn xua đuổi hay nắm giữ ấy chính là (volition).

Trong câu kệ thứ ba có chữ và chữ tưởng. Tư tưởng, trong văn mới có nghĩa là tư duy (thinking). Nhưng chúng ta phải hiểu kinh theo nghĩa của chữ cổ. Tưởng là tri giác hay nhận thức (perception). Trong chữ tưởng 想, ở trên có chữ tướng 相 và ở dưới có chữ tâm 心 , có nghĩa là tâm nắm bắt tướng và làm phát sinh ra một tri giác, một nhận thức.

Chữ ở đây không nên dịch là tư duy, dịch là tư duy thì có nghĩa, nhưng e rằng không chắc lắm. Chữ (cetana) là sự ước mong, sự trông cầu, động lực để nắm bắt hay xua đuổi những đối tượng của nhận thức, như nghĩa của tâm hành trong năm tâm sở biến hành. Chúng ta nên dịch là “những trông cầu và nhận thức của ta” thay vì “những tư duy và nhận thức của ta”. cũng là tư niệm thực, nguồn thực phẩm thứ ba được giảng bày trong kinh Bốn Loại Thức Ăn. Trong tình yêu, chúng ta có chữ tương tư và nó được xem như một chứng bệnh gọi là “bệnh tương tư”, mình cứ nhớ tới một bóng hình nào đó hoài, không quên được.

Quân tại Tương giang đầu

Thiếp tại Tương giang vĩ

Tương tư bất tương kiến

Đồng ẩm Tương giang thủy

Đó là những câu thơ rất nổi tiếng trong Khúc Trường Tương Tư của nàng Ý Nương đời Hậu Chu, một người đang mắc bệnh tương tư trầm trọng. Tạm dịch là:

Chàng ở đầu sông Tương,

Thiếp ở cuối sông Tương,

Nhớ nhau mà không gặp

Cùng uống nước sông Tương.

Chữ đó có nghĩa là nhớ, tưởng, mong ước một cái gì đó, một người nào đó. Khi bị vướng vào lưới ái dục rồi thì sự nhớ mong và nhận thức của mình đều bị nhuộm màu sắc của ái dục. Đi cũng nghĩ tới chuyện đó, ngồi cũng nghĩ tới chuyện đó. Thấy mặt trăng cũng nhớ tới chuyện đó, thấy đám mây cũng nhớ tới chuyện đó.

Đọc kỹ, chúng ta thấy bài kệ này rất sâu sắc. Tâm ái dục là một dòng chảy, nó không phải là một cục, một khối. Trong chuyện Trương Chi, khối tình của Trương Chi là một khối không tiêu, đến khi chết rồi cái khối đó vẫn còn nguyên; nhưng trong kinh nói ái dục không phải là một khối, mà là một dòng chảy. Vì là một dòng chảy nên nó cuốn theo tất cả, những tư duy, những nhận thức, những hành động hàng ngày đều bị dòng chảy đó kéo theo.

Hay nhất là câu “xuôi theo dòng tập khí và dòng kiêu mạn”, tại sao trong tình dục lại có tập khí và kiêu mạn?

Tập khí là một cái gì lâu đời mà mình mang theo trong con người của mình. Dù mình không muốn nó nhưng nó đã có sẵn đó, nó là hạt giống do tổ tiên, ông bà, cha mẹ trao truyền lại. Trước tiên, chúng ta nên biết rằng trong con người mình luôn có thiên chức làm cha, làm mẹ, làm chồng, làm vợ. Tình dục có liên hệ tới gốc rễ đó và là một năng lượng rất tự nhiên. Thứ hai là do những hạt giống lâu đời của ông bà tổ tiên để lại vẫn còn trong mình, đến khi chúng phát hiện ra thì chúng làm cho mình lao đao, khốn khổ và cho dù không muốn mình cũng là nạn nhân của nó. Đó gọi là tập khí. Tập khí không phải là cái được un đúc ngay trong đời của mình, mà nó có thể có từ trước, từ đời ông bà tổ tiên.

Một sư cô có viết thư cho thầy và nói rất rõ: “Con có khuynh hướng muốn người khác vướng vào con. Con rất ghét chuyện đó, nhưng con cũng lại thấy thích thú khi người khác vướng vào con. Tại sao con lại có cái tật muốn người khác phải bị vướng vào mình?”

Khi người ta vướng vào mình, mình biết là khổ, nhưng tại sao mình lại cảm thấy thích thú khi người ta vướng vào mình? Điều này cũng xảy ra ở bên phía người con trai, người con trai cũng có ý muốn người con gái vướng vào mình.

Ngày xưa, có một sư cô, khi còn dưới 20 tuổi thì sống rất hạnh phúc, rất trong sáng và một lòng tu tập. Không có vấn đề gì về tình cảm. Nhưng khi sư cô quá tuổi 20 thì hạt giống nào đó trong sư cô bắt đầu phát triển, có thể đó là hạt giống do tổ tiên để lại. Tự nhiên sư cô đó thấy có sự thích thú khi thấy người này hay người kia vướng vào mình và sư cô đó đã gây đau khổ cho những người con trai khác. Rốt cuộc, sư cô đã được gửi về nhà không cho tu nữa. Khi thầy quán sát và nhận thấy như vậy, thầy rất thương. Đôi khi, đương sự không muốn như vậy, nhưng vì tập khí quá mạnh nên người đó không cưỡng lại được. Điều này cũng đúng cho phía con trai. Đó là vấn đề tập khí, vấn đề hạt giống. Khi gặp một người như vậy, mình phải phát khởi lòng từ bi; tuy mình buộc lòng phải gửi người đó về nhà, không cho tu nữa, nhưng mình không giận vì mình đã hiểu dòng ái dục luôn đi chung với dòng tập khí. Tu được hay không tu được là vấn đề phước đức của tổ tiên để lại, phước đức ở chỗ mình có được trao truyền những hạt giống tốt hay không.

Trong truyền thống Làng Mai, ngày Tết chúng ta làm lễ địa xúc để bày tỏ chí nguyện thực tập giới luật và uy nghi để tự bảo vệ cho mình và bảo vệ cho người kia (người xuất gia khác phái) và mong muốn người đó cũng thực tập uy nghi và giới luật hết lòng để tự bảo vệ cho người đó và bảo vệ cho mình. Chúng ta phải nhớ như vậy. Đừng nên có bất cứ cử chỉ hay lời nói nào làm cho người khác vướng vào mình mà tội nghiệp cho mình và tội nghiệp cho người đó. Mỗi khi tập khí muốn người khác vướng vào mình nổi dậy, mình phải trở về với hơi thở và thấy rằng điều này là không đúng. Lời Bụt dạy rất đúng đó là dòng ái dục chảy cùng với dòng tập khí, mình phải thấy được như vậy.

Kiêu mạn cũng là một dòng chảy, trong đó chứa đựng ý niệm về “ngã”. Khi một người vướng vào mình, mình có cảm tưởng tự ái được thỏa mãn. Mình phải có giá trị nào đó, có sắc đẹp nào đó, có sự tốt đẹp nào đó, cho nên người kia mới vướng vào mình. Vì vậy, kiêu mạn liên đới với tình dục. Đôi khi, chúng ta có mặc cảm là mình không có đủ tài năng, không đủ xinh đẹp và mình đau khổ. Nhiều người con gái có cảm tưởng đó và nhiều người con trai cũng nghĩ như vậy. Nghĩ mình không đủ đẹp, mình không có đủ tài năng. Vì vậy, trong ý hướng chinh phục một người nữ hay chinh phục một người nam, có yếu tố của mặc cảm chi phối. Khi chinh phục được người khác, mình có cảm tưởng mình có một giá trị nào đó, mình không phải là một con số không. Trong ái dục có mạn (mặc cảm):

–    Mình có mặc cảm mình có tài năng, mình có sắc đẹp.

–    Mình có mặc cảm mình không có tài năng, mình không có sắc đẹp và mình muốn chinh phục để không còn mặc cảm đó nữa.

–    Nếu không có mặc cảm hơn người hay thua người, thì mình có mặc cảm bằng người, mặc cảm là mình không thua ai.

Ba thứ mặc cảm đó có dính líu rất mật thiết tới chuyện tình dục. Đây là cái nhìn của đức Thế Tôn. Ngài thấy rất rõ, rất sâu: Ái dục không phải chỉ là vấn đề thèm khát, ái dục là vấn đề tập khí, là vấn đề mặc cảm sâu sắc. Kinh dạy rất “cạn tàu ráo máng” và đi rất sâu. Phải quán chiếu thật kỹ để thấy rằng sự thèm khát, tập khí và mặc cảm tô màu cho những tư duy, những mong muốn và những nhận thức của mình.

Trong đại chúng của mình có rất nhiều sư cô, sư chú xinh đẹp. Một hôm, một sư cô tới kể với thầy rằng có một sư anh tới tâm sự với sư cô là bây giờ sư anh đã trên 30 tuổi rồi, sư anh phải nghĩ tới tương lai của mình. Mình phải làm gì cho xứng đáng với lý tưởng của một người xuất gia có định hướng trong cuộc đời và sư anh muốn hỏi ý kiến của sư em. Sư em có ý kiến gì về tương lai của sư anh hay không? (Có thể sư anh đã hỏi ý kiến của thầy và của các sư anh khác rồi, nhưng vì thấy sư em xinh đẹp dễ thương, nên tới hỏi sư em). Sư cô chưa trả lời ngay mà nói mình cần phải suy nghĩ, rồi sẽ trả lời sư anh sau. Sư cô đó đã kể lại với thầy: “Bây giờ con đã có câu trả lời cho sư anh rồi. Con có thể tới nói trực tiếp hoặc gởi e-mail cho sư anh. Câu trả lời của con như thế này: cái quan trọng nhất mà sư anh cần phải làm là đào cho tận gốc ái dục trong bản thân.”

Thầy rất hạnh phúc vì trong chúng của mình có những sư em như vậy, có khả năng giúp được cho sư anh mình. Dù sư em chưa học kinh này, nhưng đã trả lời đúng vào một bài kệ trong kinh. Việc đầu tiên phải làm trên con đường thực hiện lý tưởng là đào được tận gốc ái dục trong con người của mình. Khi có được một sư em hay một sư anh có tuệ giác như vậy, mình phải tự hào là trong chúng của mình có những vị Bồ tát thực tâm tu học.

Chỉ với bài kệ thứ 10, chúng ta biết cái thấy của Bụt rất sâu sắc, mình phải quán chiếu và pháp đàm về bài kệ này. Tâm ái dục không phải là một cái khối bất động như khối tình Trương Chi, mà là một dòng chảy xuôi theo dòng tập khí và kiêu mạn. Chúng ta không thể coi thường. Nếu có chánh niệm, mình thấy những gì sẽ xảy ra. Như trong câu chuyện trên, sư em thấy sư anh muốn khoe với mình và muốn gây ấn tượng tốt đẹp nơi mình bằng một câu hỏi, tưởng chừng là hay ho, và sư em đã hành xử như đức Bồ Tát Quan Thế Âm, giúp cho sư anh thấy rõ được con đường của sư anh.

Bài kệ cho thấy rõ cái ngã chấp của mình là nguồn gốc của tất cả mọi mặc cảm. Vì thấy mình là một cái ta riêng biệt, nên mình mới so sánh mình với người để thấy hoặc mình hơn, hoặc mình thua, hoặc mình bằng người khác. Rất ít người biết phân tích tình yêu và sự luyến ái dưới góc độ của vô ngã. Đức Thế Tôn là người đầu tiên đưa ra vấn đề này. Phân tích tình yêu dưới góc độ của vô ngã, ta sẽ khám phá ra được những điều rất mầu nhiệm. Chứng được vô ngã, ta thấy mình có trong người kia và thấy người kia cũng có trong ta. Lúc đó mình thấy rất khỏe nhẹ và hạnh phúc. Sư anh của mình cũng là mình, sư em của mình cũng là mình, sư chị của mình cũng là mình. Chê hay khen người đó cũng là chê khen mình, nên mình không còn là nạn nhân của sự khen chê nữa. Vô ngã là một tuệ giác, khi có tuệ giác này rồi thì tất cả các vấn đề đều được giải quyết, trong đó có vấn đề ái dục, vấn đề tình yêu. Phương thuốc mà đức Thế Tôn đưa ra là phương thuốc trị tận gốc, không phải là chối bỏ thương yêu, mà là thương yêu trong ánh sáng của tuệ giác Vô Ngã. Thương, theo đúng ý nghĩa chân thực của nó, là không còn sự phân biệt, là phải có yếu tố xả (equanimity), một trong bốn yếu tố mà Bụt gọi là thương yêu không bờ bến (Tứ Vô Lượng Tâm). Xả là sự vắng mặt của ba loại mặc cảm, không còn phân biệt, kỳ thị, ôm lấy tất cả và không có khổ đau. Khi trong tình thương mà vắng mặt sự phân biệt, kỳ thị thì tình thương ấy cũng vắng mặt luôn cả khổ đau. Mình phải thương theo hướng đó.

Chúng ta nên dành thời gian để pháp đàm sâu sắc về hai gốc rễ của ái dục là tập khí và mặc cảm.

 

Bài kệ 11
Nhất thiết ý lưu diễn                      一  切  意  流  衍
Ái kết như cát đằng                       愛  結  如  葛  藤
Duy tuệ phân biệt kiến                   唯  慧  分  別  見
Năng đoạn ý căn nguyên              能  斷  意  根  原

 

Dòng tâm ý tham dục ấy cứ mặc tình trôi chảy khiến cho những nút thắt ái dục đan kết lại với nhau chằng chịt. Chỉ có tuệ giác chân thật mới có thể có khả năng phân biệt và thấy rõ điều này, giúp ta đoạn trừ được căn nguyên của nó nơi tâm ý.

 

Nhất thiết ý lưu diễn: Nhất thiết là tất cả. Ý là tâm ý. Tất cả dòng tâm ý chảy tràn (lưu diễn).

Ái kết như cát đằng: Kết là những nút thắt, được dịch từ chữ samyojana, tiếng Anh là fetters. Trong bản tiếng Pali có chữ sanyojana, sanyojana và có cùng nghĩa như samyojana, tức là những sợi dây ràng buộc. Ngoài ra, còn có chữ sanga, sanga có nghĩa là trước 著, tức sự vướng mắc. Vô trước (asanga) là không vướng mắc. Asanga là tên một thầy lớn, anh ruột của thầy Vasubandhu (Thế Thân). Trong bản Pali có hai chữ dùng để chỉ sự ràng buộc, vướng mắc: chữ sanyojana (kết) và chữ sanga (trước), dịch ra tiếng Anh là bonds. Cát đằng là những dây leo, tiếng Anh là creeper, tiếng Phạn là lata. Chữ lata đồng thời cũng có nghĩa là tham dục. Lata là một épithète của chữ tanha, tanha là dục.

Cả dòng tâm ý chảy mạnh làm cho những nút thắt và những vướng mắc của ái dục kết thành những dây leo chằng chịt.

Duy tuệ phân biệt kiến: Chỉ có tuệ giác mới có thể thấy, có thể phân biệt được

Năng đoạn ý căn nguyên: và đoạn trừ được nguồn gốc của tâm ý tham dục. Ý là ái ý, dục ý. Đoạn là cắt đứt.

Vấn đề giải thoát không phải là ép xác cho khô để hết năng lượng tình dục. Giải thoát là vấn đề có tuệ giác. Có tuệ giác và tình thương rồi, thì tuy năng lượng tình dục còn có đó, nhưng mình có thể xử lý nó dễ dàng. Đó gọi là đào tận gốc. Có đủ trí tuệ và tình thương nên mình thấy rõ rằng, mình không được làm chuyện đó, vì nó sẽ đưa tới khổ đau cho chính mình và cho người khác. Ví dụ, có một người có khuynh hướng muốn lạm dụng tình dục một em bé. Có thể người đó đã được sinh ra với tập khí này từ tổ tiên để lại. Dù cho có đi xuất gia làm một ông thầy hay một ông cha, thì tập khí đó vẫn còn. Dù người này không muốn lạm dụng tình dục của trẻ em, nhưng tiềm tàng trong con người họ vẫn có hạt giống đó. Khi bắt đầu thấy được điều đó, thì sự giận dữ, sự thù hận của mình đối với những người lạm dụng tình dục trẻ em sẽ bớt đi nhiều lắm. Và mình sẽ thấy xót thương cho cả hai bên, vì kẻ phạm tội cũng là một nạn nhân của tập khí. Con đường giải thoát cho người đó không phải là hủy hoại thân thể. Có nhiều người rất tức giận, vì trong họ cái tập khí đó hơi mạnh; họ không muốn như vậy, nên họ tự hủy hoại thân thể của mình. Trong truyền thống Tây phương cũng như Đông phương, có người đã lấy dao tự cắt bộ phận sinh dục của mình, gọi là đoạn âm, bởi vì họ không chấp nhận năng lượng đó của họ. Họ không muốn như vậy! Thi sĩ Huy Cận hỏi tại sao Thượng đế sinh ra cơ thể con người kỳ cục như vậy?

Thân quá nặng nên hồn sa xuống thấp

Chớ giận chi những kẻ mất thiên đường.

Thi sĩ trách tại sao Thượng đế lại sinh ra cơ thể con người quá nặng nề như vậy. Mình không muốn, nhưng cơ thể mình muốn như vậy. Ngày xưa, trong giáo đoàn của Bụt có người đã tự đoạn âm và bị Bụt la rầy, Bụt nói: “Đoạn âm không bằng đoạn tâm” (đoạn âm bất như đoạn tâm), cắt đứt cái tâm chứ không nên cắt đứt cái thân.

Ta phải tìm phương pháp để đối xử với năng lượng đó, chứ tự hủy hoại thân thể thì không giải quyết được vấn đề. Phương pháp Bụt đưa ra là phải có tuệ giác, có tuệ giác là có từ bi. Nhìn một em bé, mình có thể có khuynh hướng muốn lạm dụng nó, nhưng nếu có đủ trí tuệ, mình sẽ thấy nếu mình làm chuyện đó là mình làm hỏng cả cuộc đời của nó và làm hỏng luôn cả cuộc đời mình. Đứa bé ấy nó mới có sáu, bảy tuổi, nếu bị lạm dụng tình dục thì vết thương sẽ đi theo nó khiến nó đau khổ suốt đời. Thấy được như vậy, tự nhiên mình có từ bi. Chính trí tuệ và từ bi cứu mình và cứu em bé. Muốn làm được chuyện đó, mình phải có Bụt, có Pháp, có Tăng hộ niệm và yểm trợ. Làm một mình rất khó, nhất là khi sống một mình, không có sự hướng dẫn của thầy, của bạn, của giáo pháp. Có những trường hợp tập khí quá nặng, người đó phải được đặt trong một hoàn cảnh có sự giữ gìn của một đoàn thể những người hiểu biết phương pháp. Nếu thả lỏng người đó vào trong hoàn cảnh tự do, người đó sẽ gây tàn hại cho những em bé khác và cho chính họ. Đó mới gọi là thương.

Theo tuệ giác của Bụt, có bốn cái thấy sai lạc gọi là Tứ điên đảo (viparyasa). Điên đảo có nghĩa là đảo lộn trật tự (upside down). Có bốn cái thấy trái ngược với sự thật, mình phải làm sao cho bốn cái thấy đó đúng trở lại:

1. Thường (nitya): Sự vật là vô thường (anitya) mà mình thấy là thường (nitya). Đó là đệ nhất điên đảo, một trong bốn cái thấy đảo lộn.

2. Lạc (sukha): Đó là khổ mà mình tưởng là lạc. Ví dụ như mình đi tìm hạnh phúc trong ma túy, trong tửu sắc. Những thứ đó không phải là lạc (sukha), nó là khổ (dukha).

3. Ngã (atma): Bông hoa không có chủ thể riêng biệt, con người không có chủ thể riêng biệt, cha không có chủ thể riêng biệt mà con cũng không có chủ thể riêng biệt. Cha có trong con và con có trong cha, đám mây có trong bông hoa và bông hoa có trong đám mây. Thấy được điều đó là thấy vô ngã, thấy được vô ngã thì không có mặc cảm. Chưa thấy được vô ngã thì cái thấy của mình còn đảo ngược. Mình phải tu tập như thế nào để có chánh kiến, có cái thấy chân thật (right view).

4. Tịnh (suddhi): Tịnh là tinh khiết. Nó không tinh khiết mà mình cho là tinh khiết. Nó là ái nhiễm (unhealthy, unsane) mà mình cho là tinh khiết. Đó gọi là điên đảo.

Thường – lạc – ngã – tịnh, đó là bốn cái thấy đảo ngược, gọi là Tứ điên đảo. Khi quán chiếu thấy được nó là tà kiến (wrong view), chúng ta đạt tới tuệ giác. Nhìn vào đối tượng của ái dục, thấy được bản chất của nó không phải thường, không phải lạc, không phải ngã, không phải tịnh, nó gây khổ đau cho mình và cho người kia trong tương lai, tự khắc chúng ta có tuệ giác. Có tuệ giác là có từ bi, có khả năng thấy và phân biệt được. Chỉ khi có tuệ giác rồi, ta mới đoạn trừ được cái nguồn và cái gốc của dục ý mà thôi.

Chúng ta phải cùng nhau đặt ra những câu hỏi rất thực tế, để cùng quán chiếu và đi tới tuệ giác, đó là: Trong cuộc phiêu lưu ân ái vướng mắc này, mình sẽ đi về đâu và người kia sẽ đi về đâu? Nếu tiếp tục đi sâu vào sự liên hệ đó, thì ngày mai mình sẽ đi về đâu trong cuộc đời người tu của mình và người kia sẽ đi về đâu? Nếu tiếp tục đi vào chuyện vướng mắc, mình và người kia sẽ trở thành ra cái gì? Trong giây phút hiện tại, mình đã có thể thấy được tương lai.

Câu hỏi thứ hai là: Chí nguyện của mình là gì? Mình có thật sự muốn thực hiện chí nguyện đó hay không? Nếu mình thật sự muốn hoàn thành chí nguyện lớn lao đó, thì tại sao mình lại còn muốn đi vào con đường này? Con đường ngược lại với chí nguyện ban đầu của mình, nó làm cho mình không còn năng lượng để có thể tu học và độ đời.

Câu hỏi thứ ba là: Nếu ta để cho sự kiện vướng mắc đó đưa ta và người kia đi xa, ta không muốn nghe lời khuyên nhủ và giáo giới của tăng thân thì ta sẽ đi tới đâu? Ta nói mình có đủ tuệ giác để tự lo cho mình thì mọi người trong tăng thân sẽ đối xử với ta như thế nào? Chúng ta có thể có câu trả lời là mình sẽ trở thành đối tượng “khó gần” của tăng thân, vì tăng thân thấy không thể tới chuyện trò được với mình, không thể tới chơi được với mình. Lúc ấy, mình sẽ thấy mình như một kẻ lưu lạc và mọi người đang nhìn mình bằng con mắt khác. Khi đó mình là một giọt dầu trong bát nước của tăng thân. Nếu mình vẫn cứ tiếp tục đi về hướng đó, chắc chắn một ngày nào đó mình sẽ từ bỏ con đường hiện giờ mình đang đi và mình sẽ đánh mất tăng thân. Có những người ngoan cố đi con đường mà tăng thân không ngăn cản được, nên đã đánh mất tăng thân và không trở về được với tăng thân nữa.

Tất cả dòng suối tâm ý tuôn chảy tạo ra những nút thắt, những ràng buộc khiến cho cây ái dục đan vào nhau chằng chịt. Trong trường hợp đó, chỉ có tuệ giác mới giúp cho ta thấy và phân biệt được rõ ràng cái gì đang xảy ra, giúp ta chấm dứt được dục ý, chấm dứt được cái nguồn và cái gốc của ái dục.

Đây là bài Pháp thoại ngày 13.05.2010, tại thiền đường Trăng Rằm, chùa Từ Nghiêm, xóm Mới, Làng Mai.

Chúng ta cùng đọc lại những bài kệ đã học:

1. Tâm ý đi về hướng ái dục thì cây ái dục sẽ đâm chồi, trổ nhánh rất mau. Tâm ý phân tán vì đối tượng ái dục sẽ làm cho lửa ái dục bừng cháy trong ta. Kẻ đi tìm ái dục cũng giống như một con vượn chuyền cành tìm trái, chuyền  từ cành này sang cành khác.

2. Ái dục buộc mình phải gánh chịu khổ đau, ái dục làm cho mình bị vướng mắc vào cuộc sống trần tục. Những lo lắng và hoạn nạn do ái dục đem tới cứ tăng trưởng đêm ngày, mọc kín như cỏ tranh.

3. Bị ái ân mê hoặc người ta sớm muộn gì cũng bị vướng vào dục tình. Cái lo lắng kia càng ngày càng lớn giống như dòng nước rỉ, rỉ mãi cũng đầy hồ.

4. Ở đời có nhiều thứ lo lắng và đau buồn, nhưng không có thứ lo buồn nào lớn hơn cái lo buồn do ái dục đem lại. Buông bỏ được ái dục mới hết lo buồn.

5. Muốn tâm ý được an vui thì phải quyết tâm vứt bỏ ái ân. Không ân ái thì không đi vòng quanh trong cõi luân hồi, không còn phải mang nặng ưu tư, không còn thấp thỏm mong cầu những gì ô nhiễm. Không còn ái nhiễm thì sẽ được thật sự an vui.

6. Ân ái thâm trọng thì đến giờ lâm chung bao quanh bởi những người thân thuộc, sẽ thấy con đường của lo lắng và sầu khổ dài như thế nào. Cái khổ do ân ái gây nên thường đưa ta tới những hoàn cảnh không an toàn, đầy tai ách.

7. Là người tu đạo ta không nên đi về hướng ái dục, phải bắt đầu bằng cách tìm diệt tận gốc cái cây ái dục để cho những cái rễ của nó không còn có thể đâm chồi lên được. Đừng làm như cắt cỏ lau để sau khi được cắt rồi thì lau lại mọc lên như cũ.

8. Gốc cây ái dục sâu và vững, tuy cây đã bị đốn nhưng các cành lá vẫn có thể sinh ra trở lại. Tâm ái dục chưa dứt trừ thì theo lẽ thường cái khổ do ái dục đem tới vẫn còn trở lại như thường.

9. Như con vượn nhảy ra khỏi cây này thì lại nhảy vào cây khác, người đời cũng thế, ra khỏi được ngục tù ái dục này rồi lại lao vào ngục tù ái dục khác.

10. Tâm ái dục là một dòng chảy thường xuôi theo dòng tập khí và dòng kiêu mạn. Những mong cầu và nhận thức của ta đều có thể được tô điểm theo màu sắc ái dục và do đó chính mình tự che lấp sự thật và không thấy được sự thật.

11. Dòng tâm ý ái dục ấy cứ mặc tình trôi chảy khiến cho những gút thắt ái dục đan kết lại với nhau chằng chịt. Chỉ có tuệ giác chân thật mới có thể có khả năng phân biệt và thấy rõ điều này, giúp ta đoạn trừ được căn nguyên của nó nơi tâm ý.

 

Bài kệ 12
Phù tùng ái nhuận trạch                夫  從  愛  潤  澤
Tư tưởng vi tư mạn                       思  想  為  滋  蔓
Ái dục thâm vô để                          愛  欲  深  無  底
Lão tử thị dụng tăng                      老  死  是  用  增


Dòng suối ái dục thấm vào tư duy, mong cầu và nhận thức để lớn mạnh và quấn vào nhau. Nguồn suối ái dục sâu không đáy kia làm cho cái già và cái chết tăng trưởng một cách rất là mau chóng.


Phù tùng ái nhuận trạch
: Theo lẽ thường thì dòng ái dục kia thấm vào trong dòng sông (tâm thức) của mình và làm cho

Tư tưởng vi tư mạn: những tư duy, mong muốn và nhận thức (nhiễm màu của ái dục) lớn lên (tư) và quấn vào nhau (mạn).

Ái dục thâm vô để: Ái dục sâu và không có đáy.

Lão tử thị dụng tăng: Do ái dục mà cái già và cái chết tới rất mau.

 

Bài kệ 13
Sở sinh chi bất tuyệt                       所  生  枝  不  絕
Đãn dụng thực tham dục              但  用  食  貪  欲
Dưỡng oán ích khưu trủng           養  怨  益  丘  塜
Ngu nhân thường cấp cấp            愚  人  常  汲  汲


Những cành nhánh của cây ái dục cứ tiếp tục sinh trưởng không ngừng nghỉ cũng bởi vì chúng được nuôi dưỡng bằng thực phẩm ái dục. Thực phẩm này nuôi dưỡng oán hận, un thành từng gò từng đống, người thiếu trí tuệ thì cứ miệt mài đi về hướng ấy.


Sở sinh chi bất tuyệt
: Những cành nhánh sinh ra không chấm dứt

Đãn dụng thực tham dục: Tại vì được chăm bón và nuôi dưỡng bằng nguồn thực phẩm tham dục nên cành lá của cây ái dục càng ngày càng vươn lớn.

Dưỡng oán ích khưu trủng: Ích là làm cho lớn lên. Khưu là đồi đất, đống đất. Trủng hay chủng là những gò mả. Ái dục nuôi dưỡng oán hận thành gò thành đống.

Ngu nhân thường cấp cấp: Ngu nhân là người không có trí tuệ. Cấp cấp là miệt mài, bận rộn. Những người không có trí tuệ cứ miệt mài, bận rộn đi về phía đó.

Bài kệ mô tả ái dục như một loài cây. Nhờ nguồn thực phẩm tham dục nên cây ái dục cứ tiếp tục lớn lên và không ngớt sinh ra những cành nhánh mới và vì vậy những khổ đau, oán hận cũng càng ngày càng chất chồng như những gò đống. Ấy vậy mà những người không có trí tuệ vẫn cứ miệt mài đi về hướng đó.

 

Bài kệ 14
Tuy ngục hữu câu diệp                  雖  獄  有  鉤  鍱
Tuệ nhân bất vị lao                        慧  人  不  謂  牢
Ngu kiến thê tử tức                        愚  見  妻  子  息
Nhiễm trước ái thậm lao               染  著  愛  甚  牢


Trong ngục thất có gông có cùm. Nhưng người có trí tuệ không thấy những dụng cụ này là thứ gông cùm vững chắc nhất. Cái loại gông cùm ái nhiễm cột người ta vào hệ lụy mới là loại gông cùm kiên cố.


Tuy ngục hữu câu diệp
: Câu là móc làm bằng đồng, bằng sắt. Chữ diệp có thể là chữ tỏa 鎖 viết nhầm, tỏa có nghĩa là cái khóa.

Tuệ nhân bất vị lao: Những người có trí tuệ không cho đó là những thứ kiên cố nhất.

Ngu kiến thê tử tức: Ngu chỉ những người không có trí tuệ. Thê tử là vợ con, ý nói tới vòng hệ lụy, ái dục. Tức là bị chặn đứng lại.

Nhiễm trước ái thậm lao: Nhiễm trước là vướng vào và bị ô nhiễm, thậm là rất (very), lao là kiên cố (solid). Vướng vào ái dục, đó mới thực là vướng vào thứ gông cùm kiên cố.

Bài kệ thứ 14 đã ví ái dục như những gông cùm và móc khóa khóa chặt con người. Những thứ gông, thứ khóa này các bậc thức giả thấy rằng chúng còn kiên cố hơn cả những dụng cụ kiềm tỏa trong lao tù. Chúng là những vòng luẩn quẩn của vợ con, thân quyến và ái tình mà bao nhiêu người không có trí tuệ đang bị vướng vào. Khi người ta đã bị giam cầm bởi chúng thì bao nhiêu chí khí đều bị tiêu tán hết, chí nguyện cũng xa rời, mà con đường lý tưởng cũng không thể đi tiếp được. Mình không dám nói, không dám làm vì nếu mình nói, mình làm thì mình sợ sẽ động tới an nguy của vợ con hoặc chồng con mình, của những người mình thương. Lúc đó, khác nào mình đang bị bịt miệng, còng tay và trói chặt bằng những cái gông cùm còn vững chắc hơn cả những cái gông bằng đồng, bằng sắt. Chính vì vậy, những người làm cách mạng thường sống độc thân để hoạt động; vì khi sống độc thân, họ có can đảm nói và làm những điều họ cho là đúng để đem lại giải phóng và an vui cho đất nước. Cuộc sống độc lập đó cho phép họ sống thực sự là một đấng hào kiệt, tự do tung hoành mà không bị vướng bận bởi vợ chồng, con cái hay ái tình.

Những người ngoài đời muốn làm cách mạng còn phải xa lìa ái dục, huống chi là người có chí hướng độ đời như Siddharta?

 

Bài kệ 15
Tuệ thuyết ái vi ngục                     慧  說  愛  為  獄
Thâm cố nan đắc xuất                   深  固  難  得  出
Thị cố đương đoạn khí                   是  故  當  斷  棄
Bất thị dục năng an                        不  視  欲  能  安


Người có trí tuệ thấy ái dục là một ngục tù kiên cố khó thoát ra khỏi. Người ấy biết rõ rằng, phải đoạn trừ ái dục thì mới thật sự được an vui.


Tuệ thuyết ái vi ngục
: Những người có trí tuệ nói rằng ái dục là ngục tù.

Thâm cố nan đắc xuất: Nó sâu vững khó mà đi ra khỏi.

Thị cố đương đoạn khí: Vì vậy cho nên phải chấm dứt, phải buông bỏ.

Bất thị dục năng an: Không vướng vào ái dục thì mới thật sự có an vui.

Bài kệ này tiếp nối bài kệ trên với hình ảnh ái dục như ngục tù sâu vững, những người muốn đạt tới giải thoát, an vui cần tìm cách thoát ra khỏi nó. Bài kệ nhắc tới sự thực tập đoạn khí, tức là chấm dứt và buông bỏ những đối tượng của dục vọng.

 

Bài kệ 16
Kiến sắc tâm mê hoặc                    見  色  心  迷  惑    
Bất duy quán vô thường                不  惟  觀  無  常
Ngu dĩ vi mỹ thiện                         愚  以  為  美  善
An tri kỳ phi chân                          安  知  其  非  真


Thấy sắc mà bị mê hoặc, đó là vì không biết quán vô thường. Kẻ u mê tưởng rằng cái sắc ấy là một cái gì lành và đẹp, không biết rằng cái bóng dáng bên ngoài kia không chứa đựng được một cái gì bền bỉ và chắc thật bên trong nó.


Kiến sắc tâm mê hoặc
: Nếu thấy sắc mà tâm của mình bị mê hoặc, bị cuốn theo là tại vì

Bất duy quán vô thường: Mình không có tuệ giác vô thường.

Ngu dĩ vi mỹ thiện: Ngu là những người không có trí tuệ.  Những người thiếu trí tuệ cho đó là đẹp, là lành.

An tri kỳ phi chân: Không biết nó không phải là cái gì chân thật.

Trong bài kệ 11 chúng ta đã học rằng chỉ có tuệ giác mới giúp mình đào được gốc rễ của cây ái dục. Tuệ giác này là tuệ giác vô thường, vô ngã, khổ và bất tịnh. Nếu không có tuệ giác thì cái thấy của mình là vọng tưởng, là cái thấy đảo ngược (perverted view). Mình thấy là thường, là ngã, là lạc, là tịnh trong khi chúng là vô thường, là vô ngã, là khổ, là bất tịnh. Với bài kệ thứ 16, chúng ta học sâu hơn về tuệ giác vô thường để đoạn trừ ái nhiễm.

Văn dịch rất hay, bài kệ có chứa cả ba chữ: Chân (the truth), Thiện (the good) và Mỹ (the beauty). Còn hay hơn nữa khi bài kệ cho ta một cái thấy rằng bởi vì cái sắc (đối tượng của ái dục) là không thật (phi chân) như những ý niệm thường, lạc, ngã, tịnh của ta, nên nó cũng không đẹp (mỹ) và lành (thiện). It’s not true, it’s not good either and it’s not beautiful either.

Sắc có thể dịch là nhan sắc, tức là vẻ đẹp bề ngoài, vẻ đẹp có thể quyến rũ và mê hoặc tâm mình. Người có trí tuệ thấy nó là cái cần phải xa lìa và buông bỏ, nhưng hầu hết con người của xã hội này đang đua nhau chạy theo nó. Chỉ cần nhìn vào các thành phố là mình thấy rõ điều đó ngay. Sản phẩm làm đẹp cho đàn bà và đàn ông đang bán rất chạy. Khắp nơi nơi, những tiệm bán mỹ phẩm mọc lên như nấm. Chúng ta hãy tưởng tượng tới sự nực cười của nước hoa. Mình rất hôi, nhưng nếu rải vào vài giọt nước hoa thì nó sẽ át mùi hôi đi và mình tưởng rằng mình thơm thật. Khoa giải phẫu thẩm mỹ cũng đang rất thịnh hành, bao nhiêu người đang tới đó để bơm chất hóa học vào trong ngực, trong mặt cho phình lên, cho đẹp và nhờ dao kéo gọt tỉa, chỉnh trang những khiếm nhã trên thân thể.

Người nào cũng muốn trang điểm cho vẻ ngoài thêm hấp dẫn, nhưng bên trong thì không có gì thật cả. Đó gọi là phi chân, là không có thật mà mình tưởng là nó thật, nên mình tin là nó lành và đẹp. Bài kệ thứ 16 nhắc nhở chúng ta về sự thực tập quán vô thường. Hình dáng bên ngoài đó không chắc thật, mai mốt nó sẽ không còn như vậy nữa, vì vậy cho nên ta không nên vướng vào nó. Vô thường là một trong bốn phép quán quan trọng, chúng ta cần thực tập sâu sắc để thực sự vượt thoát được ngục tù của ái dục.

Cái gì thật sự Mỹ, thật sự Thiện thì trong đó phải có Chân.

Bài kệ 17
Dĩ dâm lạc tự lý                              以  婬  樂  自  裹
Thí như tàm tác kiển                      譬  如  蠶  作  繭
Trí giả năng đoạn khí                     智  者  能  斷  棄
Bất hễ trừ chúng khổ                     不  盻  除  眾  苦


Tự nhốt mình trong sắc dục thì cũng như con tằm kéo chiếc kén tự mình giam hãm lấy mình. Bậc trí giả có khả năng đoạn trừ và buông bỏ dục tưởng, không thiết tha gì đến cái đối tượng ái dục cho nên mới tránh thoát khỏi mọi khổ nạn.


Dĩ dâm lạc tự lý
: Dâm lạc là lạc thú của dâm dục. Tự lý là tự nhốt mình. Lấy lạc thú của dâm dục mà tự nhốt mình vào.

Thí như tàm tác kiển: Tàm là con tằm. Kiển là cái kén. Tự nhốt mình vào dâm dục cũng giống như con tằm làm ra cái kén để tự giam mình.

Trí giả năng đoạn khí: Trí chỉ những người có trí tuệ. Đoạn là cắt đứt, khí là buông bỏ. Những người có trí có khả năng cắt đứt và buông bỏ.

Bất nghễ trừ chúng khổ: Chữ 盻 có thể đọc là nghễ hay hễ. Nghễ có nghĩa là nhìn trừng trừng, nhìn chăm chăm, nhìn một cách tức  giận. Kẻ trí giả không nhìn chăm chăm vào chuyện đó, nên có thể diệt trừ được tất cả mọi khổ nạn (trừ chúng khổ).

Đặc điểm của kinh là sử dụng nhiều hình ảnh rất tuyệt diệu. Một trong số đó là hình ảnh con tằm kéo cái kén làm thành tù ngục để tự giam hãm nó. Khi nghiên cứu và so sánh với bản tiếng Pali, chúng ta thấy trong bản Pali không dùng hình ảnh của con tằm với cái kén, mà dùng hình ảnh con nhện với cái lưới của nó. Lưới nhện là makkataka-jala (jala là cái lưới), kén tằm là kosa-kimi. Có lẽ dịch giả muốn sử dụng một hình ảnh thân thuộc với người Trung quốc hơn, vì vậy hình ảnh cái lưới nhện được thay thế bằng hình ảnh cái kén tằm. Tuy nhiên, cả hai hình ảnh đều cùng diễn tả một hành động của kẻ thiếu trí tuệ, đó là tự giam mình trong tù ngục của dâm dục, cái nhà tù do chính họ tự tạo ra mà không phải ai khác.

Người trí thì có khả năng chấm dứt và buông bỏ, không đoái hoài tới sắc dục cho nên có thể diệt trừ được tất cả khổ nạn.

 

Bài kệ 18
Tâm niệm phóng dật giả                心  念  放  逸  者
Kiến dâm dĩ vi tịnh                        見  婬  以  為  淨
Ân ái ý thịnh tăng                          恩  愛  意  盛  增
Tùng thị tạo ngục lao                     從  是  造  獄  牢


Kẻ có tâm ý phóng đãng khi nhìn vào một đối tượng ái dục thì có thể cho đó là một cái gì tinh khiết, không biết rằng sự tăng trưởng lớn mạnh của ái ân sẽ đem tới bao nhiêu hệ lụy, tù ngục kiên cố sau này.

Tâm niệm phóng dật giả: Giả là những người. Những người có tâm niệm phóng dật, buông lung, phóng đãng.

Kiến dâm dĩ vi tịnh: Kiến là thấy là cho rằng, dâm là những đối tượng của ham muốn. Họ cho rằng những hình ảnh, những đối tượng của ham muốn là những cái gì trong sạch.

Ân ái ý thịnh tăng: Ân ái ý là tâm niệm ân ái. Thịnh tăng là tăng trưởng mạnh mẽ. Vì thấy đối tượng của dâm dục là trong sạch nên tâm ân ái càng ngày càng lớn mạnh.

Tùng thị tạo ngục lao: Từ nguyên do đó mà chế tác ra ngục tù kiên cố sau này. Nhà tù đó, không phải do người khác mà do chính mình làm ra, giống như con tằm làm ra cái kén, hay như con nhện làm ra chiếc lưới để tự giam mình.

Với bài kệ thứ 16, chúng ta được học về phép quán vô thường, bài kệ thứ 18 tiếp tục đưa chúng ta đi tới phép quán bất tịnh. Tuệ giác về tính chất bất tịnh cũng giúp chúng ta phá trừ được vòng vây của ái dục.

Những người có tâm niệm phóng đãng luôn thấy đối tượng ái dục là một cái gì trong sạch nhưng nếu nhìn cho kỹ thì không có gì là tinh khiết hết. Mình có ảo tưởng là đối tượng kia sạch và đẹp bởi vì có thể nó đang mang trên mình một cái vỏ sạch và đẹp nhưng kỳ thực bên trong nội dung thì không có gì được gọi là sạch và đẹp cả. Lột trần mọi lớp vỏ che đậy ra để thấy được sự thật, để không bị đánh lừa bởi hình thức giả dối bên ngoài, đó là phương pháp quán bất tịnh.

 

Bài kệ 19
Giác ý diệt dâm giả                         覺  意  滅  婬  者
Thường niệm dục bất tịnh             常  念  欲  不  淨
Tùng thị xuất tà ngục                     從  是  出  邪  獄
Năng đoạn lão tử hoạn                  能  斷  老  死  患

Những ai thực tập chánh niệm sẽ có khả năng thấy được rằng cái đối tượng ái dục kia là bất tịnh, do đó diệt trừ được dục ý, ra khỏi ngục tù và thoát khỏi tai nạn già và chết.


Giác ý diệt dâm giả:
Giác có nghĩa là tỉnh thức, cư sĩ Chi Khiêm đã dịch từ chữ sati. Sati có nghĩa là chánh niệm (smrti). Giả là những người. Những người thực tập chánh niệm có thể diệt trừ được ái dục.

Thường niệm dục bất tịnh: Thường nhớ rằng đối tượng ái dục kia là bất tịnh.

Tùng thị xuất tà ngục: Nhờ đó mà ra khỏi địa ngục của hệ lụy, của tà ma.

Năng đoạn lão tử nạn: Có khả năng chấm dứt được tai nạn của già và của chết.

Quý thầy trong khi pháp đàm đã tìm ra được những điều khá hay. Các thầy thấy rằng những sư anh hay sư em nào đã đào được gốc ái dục, không còn suy nghĩ hay vương vấn về chuyện đó, thì những người ấy có rất nhiều hạnh phúc, có tiến bộ đều đều trong sự tu học và các anh em khác có thể đặt niềm tin vào họ.

Có thầy nói nhu yếu muốn được người khác phái thương yêu có thể được thay thế khi anh chị em cùng chơi với nhau, sinh hoạt chung với nhau trong chúng. Khi mình xây dựng được tình anh chị em đích thực, thì tình anh chị em đó có khả năng thay thế được nhu yếu kia và mình không cần phải hướng tâm tới người khác phái nữa.

Đời sống của người xuất gia dễ dàng hơn đời sống của người cư sĩ. Người cư sĩ, tuy có vợ có chồng, nhưng họ có một đời sống rất khó khăn. Không phải có lứa đôi rồi là họ không còn vấn đề, mà có thể khi lấy nhau rồi họ còn có nhiều vấn đề hơn nữa. Con đường dễ đi là con đường xuất gia rộng lượng, nói như vậy không có nghĩa là ai cũng phải đi xuất gia. Tuy kinh này là kinh Bụt dạy cho người xuất gia, nhưng ngay buổi đầu, chúng ta đã đồng ý với nhau là người tại gia cũng có thể học được rất nhiều từ những lời dạy của kinh. Chúng ta phải nghiên cứu làm sao để có thể áp dụng được kinh này cho những người thực tập với hình thức cư sĩ. Thực tập trong một tăng đoàn xuất gia có Thầy, có sư anh, sư chị, sư em luôn nhắc nhở và giữ gìn cho nhau thì rất dễ. Là một cư sĩ tại gia, không được sống trong tăng thân, mình phải cố gắng và khéo léo lắm mới có thể thành công.

Những buổi pháp đàm rất quan trọng. Chúng ta thường pháp đàm chung, nhưng đôi khi cũng nên tổ chức pháp đàm riêng theo từng độ tuổi. Những người trẻ thỉnh thoảng cũng phải ngồi riêng, tại vì khi ngồi với nhau, người trẻ có thể nói ra những điều họ ngần ngại không muốn nói trước những người lớn tuổi hơn mình. Những người lớn tuổi cũng nên làm như vậy, nói với nhau những điều mà mình nghĩ những người trẻ chưa chấp nhận được. Người cư sĩ pháp đàm chung với người xuất sĩ, nhưng nhiều khi cũng phải pháp đàm riêng để tìm ra những phương pháp, đường lối thực tập phù hợp với đời sống tại gia của mình.

Vấn đề ái dục là vấn đề muôn đời. Chúng ta thấy đức Thế Tôn đã đi rất sâu vào trong vấn đề này. Ngài đã đưa ra những gốc rễ rất sâu sắc, Ngài nói rõ là dòng ái dục đi đôi với dòng tập khí và dòng mặc cảm. Mình gây hệ lụy cho mình và cho người khác, vì mình có mặc cảm. Mình muốn chứng tỏ mình là ai đó, mình có một giá trị nào đó và do đó mình đưa người ta vào nỗi khổ niềm đau của sự vướng mắc, rất là tội nghiệp. Sự phân tích của đức Thế Tôn quả là sâu sắc, chúng ta phải để hết tâm ý tiếp nhận cho thấu đáo và hành trì cho hết lòng!

 

Đây là bài Pháp thoại Thiền sư giảng vào ngày 16 tháng 5 năm 2010, tại thiền đường Nước Tĩnh, chùa Pháp Vân, xóm Thượng.

Sáng nay khi đi thiền hành, tôi thấy hành tinh của chúng ta là một cái gì rất hiếm trong vũ trụ. Trong khoảng không gian bao la mà có được một sự biểu hiện như trái đất là một điều rất mầu nhiệm. Các nhà thiên văn học dùng kính viễn vọng để quan sát vũ trụ mà chưa tìm ra được một chỗ nào giống như hành tinh của chúng ta. Trong kinh có nói đến những cõi nước khác. Những cõi nước khác ấy chắc là có đó, nhưng chúng ở rất xa và cho tới bây giờ các nhà thiên văn học vẫn chưa tìm ra được một hành tinh nào giống như trái đất của mình cả. Vì vậy, sự sống trên trái đất rất là quí giá. Người ta nói trên mặt trăng có nước đá, nhưng trên mặt trăng cũng không có sự sống. Nếu một ngày nào đó có người báo cáo có cỏ mọc trên mặt trăng thì đó là một tin động trời. Cỏ mà mọc trên mặt trăng là một chuyện rất lạ! Nếu có cỏ mọc trên mặt trăng thì những hãng bất động sản sẽ tìm cách lên đó để xây cất. Điều này chưa xảy ra, nhưng khoa học đang tìm cách làm cho trên mặt trăng có dưỡng khí.

Sáng nay, tôi nói với sư chú Pháp Thệ: “Trái đất của mình là một điều mầu nhiệm. Đi thiền hành trên trái đất cũng giống như là đang tiêu thụ trái đất. Mỗi bước chân của mình là để thưởng thức, để tiếp xúc với đất. Nếu mình có chánh niệm thì mỗi bước chân đem lại hạnh phúc, đem lại sự trị liệu và nuôi dưỡng.”

Thứ năm vừa rồi tại xóm Mới, tôi đi thiền hành với bài kệ:

Mỗi bước chân là phép lạ

Mỗi bước chân là trị liệu

Mỗi bước chân là nuôi dưỡng

Mỗi bước chân là thảnh thơi

Là hành giả, mình phải có khả năng đi một cách có hạnh phúc. Nếu có năng lượng của chánh niệm trong bàn chân, nếu ý thức được sự tiếp xúc của bàn chân với trái đất, mình sẽ có sự thích thú trong khi đi. Và khi ấy, mỗi bước chân thực sự là một phép lạ. Tổ Lâm Tế nói: Mỗi bước chân là thần thông. Địa hành thần thông. Mình có thể làm phép thần thông bằng hai chân của mình. Ai nói là mình không thể làm phép thần thông? Tổ Lâm Tế nói tất cả chúng ta đều có thể thi thố thần thông, mà phép lạ đầu tiên là đi trên mặt đất. Bước đi tâm không bận tới quá khứ, tới tương lai và không bị những dự án, những lo lắng kéo đi. Mỗi bước chân có thảnh thơi, có sự buông thư thì mỗi bước đưa tới sự trị liệu, sự chuyển hóa; là nuôi dưỡng và chuyển hóa cho mình và cho cả trái đất.

 

Bài kệ 20
Dĩ dục võng tự tệ                           以  欲  網  自  蔽
Dĩ ái cái tự phú                               以  愛  蓋  自  覆
Tự tứ phược ư ngục                       自  恣  縛  於  獄
Như ngư nhập cú khẩu                 如  魚  入  笱  口

 

Tự cuốn lấy mình trong chiếc lưới ái dục, tự che mình bằng chiếc dù ái dục là tự trói mình trong vòng hệ lụy như con cá tự chui vào trong một chiếc nơm.

 

Dĩ dục võng tự tệ: Võng là cái lưới, tệ là che lấp. Lấy cái lưới dục vọng mà tự che lấp mình.

Dĩ ái cái tự phú: Cái là cái ô. Phú là phủ lên, là che lấp. Lấy cái ô tham ái mà tự che đậy mình.

Tự tứ phược ư ngục: Tứ là phóng túng, phược là trói lại. Tự mình phóng túng, tự mình trói mình lại trong ngục thất.

Như ngư nhập cú khẩu: Như con cá đi vào miệng nơm. (có thể đọc là cẩu) là cái nơm. Nơm là một cái bẫy để bắt cá, đan bằng tre có hai cửa, cá đi vào rất dễ nhưng không đi ra được.

Bài kệ 21
Vi lão tử sở tứ                                 為  老  死  所  伺
Nhược độc cầu mẫu nhũ               若  犢  求  母  乳
Ly dục diệt ái tích                           離  欲  滅  愛  迹
Xuất võng vô sở tệ                         出  網  無  所  弊

 

Bị cái già và cái chết bắt theo và lẩn quẩn bên cạnh đối tượng ấy như một con bê đi tìm vú mẹ. Lìa bỏ được dục, không đi theo vết xe của ái thì có thể vượt thoát ra ngoài chiếc lưới ái ân, không còn bị bất cứ một cái gì làm hại mình nữa.

 

Vi lão tử sở tứ: Vi là bị. Tứ có nghĩa là hầu hạ, là đi theo không rời. Bị cái già và cái chết thăm hỏi, đi theo sát nút.

Nhược độc cầu mẫu nhũ: Nhược là giống như. Độc là con bê (con bò con). Cầu là đi tìm. Mẫu nhũ là sữa mẹ. Khi bị lọt vào lưới ái ân rồi thì mình đi quanh quẩn xung quanh đối tượng giống như một con bê đi tìm vú mẹ, không thể đi xa được.

Ly dục diệt ái tích: Khi thoát ly được ái dục và xóa được vết tích của nó (diệt ái tích).

Xuất võng vô sở tệ: Xuất võng là ra khỏi lưới, Tệ là tệ hại, là hệ lụy. Vô sở tệ là không có gì làm mình hệ lụy, không có gì che lấp được mình nữa.

Các bài kệ 20 và 21 có thể được xem như là trung tâm điểm của kinh. Cụm từ  “chiếc lưới ái ân” được lấy ra từ bài kệ thứ 20 để làm tên kinh. Chúng ta có thể gọi kinh này là Ái Võng Kinh 愛 網 經, kinh Chiếc Lưới Ái Ân (The net of love sutra). Khi mình đã lấy cái lưới tham dục tự quấn mình, đã lấy chiếc ô ái ân tự che mình rồi, thì mình buông lung và tự đưa mình vào tù ngục như con cá đi vào miệng chiếc nơm. Khi bị lọt vào lưới ái ân rồi, mình bị cái già và cái chết dõi theo như con bê đi tìm cầu sữa mẹ, không cách gì thoát ra được. Đây là những hình ảnh rất hay, đầy chất thi ca! Thi ca được làm bằng hai yếu tố: hình ảnh và âm điệu. Kinh kệ cũng vậy, cũng là thi ca, bởi vì trong đó có rất nhiều hình ảnh và âm điệu tuyệt vời. Theo dõi kinh chúng ta thấy khi nói về ái dục, Bụt đã đưa ra rất nhiều hình ảnh sinh động và thực tế, nào là cái cây, con vượn, dây leo, dòng nước lũ, con bê tìm vú mẹ, con cá chui vào nơm v.v… Và chúng ta đã chọn hình ảnh chiếc lưới đại diện cho các hình ảnh ấy để làm tên kinh.

Chỉ khi nào lìa xa được ái dục, xóa hết những vết tích của nó thì khi đó mình mới thực sự ra khỏi được cái lưới, không còn bị bất cứ một cái gì gây hệ lụy và làm hại được nữa.

Mình là chàng dũng sĩ, là người có chí nguyện thực tập, mình phải dũng mãnh dang tay xé toạc lưới ái ân. Mỗi vị xuất sĩ và mỗi vị cư sĩ nên viết một chứng từ thuật lại kinh nghiệm của mình về ái ân, viết cho thật, thì tự nhiên sẽ hay. Chúng ta hãy đọc lại bản dịch:

Tự cuốn lấy mình trong chiếc lưới ái dục, tự che mình bằng chiếc dù ái dục là tự trói mình trong vòng hệ lụy như con cá tự chui vào trong một chiếc nơm.

Bị cái già và cái chết bắt theo và lẩn quẩn bên cạnh đối tượng ấy như một con bê đi tìm vú mẹ. Lìa bỏ được dục, không đi theo vết xe của ái thì có thể vượt thoát ra ngoài chiếc lưới ái ân, không còn bị bất cứ một cái gì làm hại mình nữa.

Bài kệ 22
Tận đạo trừ ngục phược                盡  道  除  獄  縛
Nhất thiết thử bỉ giải                      一  切  此  彼  解
Dĩ đắc độ biên hành                       已  得  度  邊  行
Thị vi đại trí sĩ                                 是  為  大  智  士

Đi trọn được con đường, cởi bỏ được mọi ràng buộc hệ lụy, giải phóng được mọi phân biệt kỳ thị, vượt qua được các ý niệm lưỡng nguyên, đó mới thật là bậc xuất sĩ đại trí.

 

Tận đạo trừ ngục phược: Đạo là con đường. Tận đạo là đi cho hết con đường, không bỏ dở nửa chừng. Trừ ngục phược là cắt đứt, diệt trừ những sợi dây ràng buộc vào chốn ngục tù.

Nhất thiết thử bỉ giải: Thử là cái này, bỉ là cái kia, chỉ cho sự phân biệt kỳ thị (discrimination), cái này không phải là cái kia, cái kia không phải là cái này. Giải là thấu suốt và cũng có nghĩa là cởi trói.  Hiểu thấu và cởi trói tất cả mọi ý niệm phân biệt, kỳ thị.

Dĩ đắc độ biên hành: Độ là vượt thoát, biên là một bên, biên hành là vướng mắc vào một bên. Vượt thoát sự vướng mắc vào một bên.

Thị vi đại trí sĩ: Đó mới thật là bậc đại sĩ có trí tuệ lớn.

Chân lý là cái này nằm trong cái kia, không thể lấy cái này ra khỏi cái kia. Trái và phải dường như đối lập nhau, nhưng nếu không có trái thì không có phải và không có phải thì không có trái. Cha và con cũng vậy, nếu không có cha thì không có con và không có con thì không có cha. Người đàn ông đó nếu không có đứa con thì ông ta không thể được gọi là cha và đứa con cũng vậy, cũng nhờ có cha mà nó được gọi là con. Cha và con không thể tách rời nhau được. Nếu thấy được như vậy tức là ta đã có thể  Nhất thiết bỉ thử giải, hiểu được và cởi trói cho tất cả mọi sự phân biệt, kỳ thị.

Nếu bị kẹt vào những quan niệm như “cái này không phải là cái kia”, “cha và con là hai cái khác nhau”, “vật thể và tâm thức là hai cái khác nhau”, “sinh-tử là hai cái khác nhau”, “có-không là hai cái khác nhau” thì đó là bị vướng vào cái thấy lưỡng nguyên (dualistic view), vướng vào biên hành. Trong truyền thống Cơ Đốc giáo, chúng ta quan niệm rằng có một Thượng đế tạo ra thế giới và có thế giới này là do Thượng đế tạo ra, Thượng đế và thế giới là hai cái khác nhau. Đó là một cách nhìn lưỡng nguyên. Chúng ta hãy thử đặt lại một câu hỏi là nếu không có tạo vật thì làm sao có thứ gọi là tạo hóa? Trả lời được câu hỏi đó rồi thì ta còn có thể thấy Đấng Sáng Tạo và vật được sáng tạo là hai thực tại đứng ngoài nhau không?

Con đường của đạo Bụt là con đường Trung Đạo (The Middle Way), không vướng vào bờ nào và vượt thoát mọi ý niệm phân biệt. Cũng như một khúc gỗ trôi trên một dòng sông, khúc gỗ đó muốn đi tiếp để trôi ra biển, nó phải không bị vướng vào một trong hai bờ, nó phải đi con đường Trung Đạo; bằng không, nó sẽ không bao giờ ra biển được.

Khoa học bây giờ cũng bắt đầu thấy được những gì đức Thế Tôn đã khám phá từ rất lâu. Họ đã nhận ra rằng tâm thức quán sát và thế giới được quán sát dính chặt vào nhau, không thể tách riêng ra được. Khi lấy tâm quán sát một đối tượng thì đối tượng đó bị thay đổi bởi sự quán sát kia. Khi một lượng tử (quantum) không bị quán sát, nó rất tự do, nó có mặt khắp nơi; nhưng khi mình quán sát nó, nó bắt đầu có vị trí trong không gian và thời gian. Vì vậy, các nhà khoa học đã bắt đầu đi tới kết luận là đối tượng quán sát và tâm thức quán sát không phải là hai cái riêng biệt tách rời nhau. Các nhà khoa học bây giờ đang vùng vẫy trong cái lưới nhị nguyên.

Chúng ta may mắn được là học trò của Bụt, vì vậy chúng ta phải tinh chuyên đi con đường của Bụt để trở thành một con người tự do, một bậc đại sĩ có trí tuệ lớn. Muốn được như vậy, mình phải làm ba điều:

  1. Phải cởi được sợi dây ái dục để đi trọn vẹn con đường.
  2. Không kỳ thị “cái này” và “cái kia”.
  3. Không bị vướng vào cái nhìn lưỡng nguyên.

Bài kệ thứ 22 rất là sâu, nó là hạt giống của giáo lý Trung Đạo sau này. Chúng ta có Đại Trí Độ Luận, Trung Quán Luận, những bộ luận lớn đó được đặt nền móng trên những câu kinh này. Những tư tưởng vĩ đại của Đại Thừa không phải là những cái gì mới, mà đã có sẵn trong đạo Bụt nguyên thỉ. Bài kệ thứ 22 đủ để chứng minh cho điều đó.

 

Bài kệ 23
Vật thân viễn pháp nhân              勿  親  遠  法  人
Diệc vật vi ái nhiễm                       亦 勿  為  愛   染
Bất đoạn tam thế giả                      不  斷  三  世  者
Hội phục đọa biên hành                會  復  墮  邊  行

Đừng thân cận với những kẻ đi ngược chánh pháp, cũng đừng để bị lôi kéo theo con đường ái nhiễm. Nếu chưa vượt thoát được thời gian thì hành giả vẫn còn bị kẹt vào cái thấy nhị nguyên.

 

Vật thân viễn pháp nhân: Vật là đừng, là không nên. Thân là gần gũi, kết bạn. Viễn pháp nhân là những người đang đi ngược với chánh pháp. Đừng gần gũi với những người đi ngược với chánh pháp, tức là những người đang có đam mê, vướng mắc và cứng đầu, không chịu nghe lời nhắc nhở của những bạn đồng tu.

Diệc vật vi ái nhiễm: Diệc là cũng. Nhiễm là dính vào (infected). Ái là ái dục. Câu này nghĩa là cũng đừng dính vào ái dục.

Bất đoạn tam thế giả: Tam thế là quá khứ, hiện tại và vị lai, ý chỉ cho ý niệm thời gian. Nếu chưa vượt thoát được ý  niệm về thời gian thì…

Hội phục đọa biên hành: vẫn còn bị rơi vào cái nhìn lưỡng nguyên. Đọa là rơi xuống.

Vật thân viễn pháp nhân

Diệc vật vi ái nhiễm

Ta không nên thân cận với những người đi ngược với chánh pháp, bởi vì nếu gần họ, ta sẽ bị ảnh hưởng, sẽ bị kéo theo. Người đó có thể nói những câu khiến cho mình thoái thất Bồ đề tâm để họ có thêm đồng minh đi với họ trên con đường họ muốn. Ta chỉ nên thân cận với những người thực tập giới luật và uy nghi vững chãi, có niềm vui trong sự tu học. Trong đại chúng, có thể có một hay hai người “viễn pháp nhân”, mình phải tìm cách giúp họ. Nếu mình quá yếu không giúp được, mình phải xa lìa người đó và nhờ đại chúng giúp cho họ.

Bất đoạn tam thế giả

Hội phục đọa biên hành

Chúng ta sống trong thế kỷ thứ 21, thế kỷ mà trong khi các nhà khoa học còn đang tìm hiểu về những hiện tượng bên ngoài như khoa học lượng tử hay khoa thiên văn học, thì đồng thời họ cũng muốn gõ cửa, muốn chạm tới cái gọi là chân lý tối hậu (the ultimate), tức là bản môn. Khoa học muốn biết nguồn gốc của thực tại, của sự sống. Khoa thiên văn học và khoa vật lý học cũng muốn đi tìm cái nguyên thủy của thực tại. Các nhà khoa học đang gõ cửa bản thể học (the door of ontology, the door of metaphysics). Nhà khoa học đang nói: “Vừng ơi, mở ra! Sésame, ouvre toi!”

Các nhà thiên văn học đã nói tới hiện tượng “Big Bang”, tức là cái nguyên thủy của vũ trụ. Theo cái thấy của họ, thuở ban đầu chưa có vũ trụ, chỉ có một điểm rất nhỏ. Trong khi quán sát vũ trụ, nhà thiên văn học thấy các tinh hà mỗi ngày mỗi rời xa nhau với tốc độ rất lớn và vũ trụ đang phình ra (expansion). Họ đã đồng ý với nhau là thời gian và không gian bắt đầu có từ giây phút gọi là “Big Bang”, còn trước đó không có không gian và thời gian. Các nhà thiên văn học nói rằng trước khi có vũ trụ thì chưa có thời gian và không gian.

Các nhà khoa học lượng tử, khi đi vào trong “cái vô cùng nhỏ” thì thấy rằng quan niệm về thời gian của chúng ta không còn chính xác nữa. Trong thế giới hàng ngày, thời gian là một mũi tên đi về một hướng, nhưng khi đi vào thế giới lượng tử thì họ thấy các lượng tử có thể đi ngược lại. Các nhà khoa học bắt đầu thấy rằng một lượng tử không chỉ có mặt ở một chỗ mà nó có thể có mặt khắp nơi và họ bắt đầu thấy được, hình như thời gian và không gian là những sáng tạo của tâm thức.

Cả khoa học vĩ mô (tức khoa thiên văn học) và khoa học vi mô (tức khoa lượng tử học) đều công nhận rằng tâm của chúng ta tạo ra thời gian và không gian. Thời gian và không gian là do vật thể và tốc độ mà có. Nếu không có vật thể và tốc độ thì không có khái niệm về thời gian và không gian, vì thời gian và không gian là tương tức (inter-being).

Nếu các nhà khoa học không buông bỏ được ý niệm về thời gian và không gian, họ vẫn bị kẹt vào cái thấy lưỡng nguyên. Họ đòi hỏi phải có cái bắt đầu, nên mới đi tìm cái gọi là “Big Bang”. Và vì có “cái đầu” nên sẽ có “cái đuôi”, một ngày nào đó sẽ có cái gọi là “Big Crunch”. Các nhà khoa học có thể bị kẹt vào khái niệm thời gian là một cái gì có thật như một thực tại ở ngoài, cho nên họ đòi hỏi phải có một bắt đầu và một chung cục. Ngược lại, với cái nhìn của đạo Bụt, chúng ta thấy rằng không có cái gì là “cái đầu” và cũng không có cái gì là “cái đuôi” (vô thủy vô chung) và ý niệm về “bắt đầu” và “chung cục” chỉ là những ý niệm được sáng tạo bởi tâm thức con người.

Theo đạo Bụt, cánh cửa bí mật mà các nhà khoa học đang cố công tìm vào đã được mở từ lâu rồi (the door is already opened). Thực ra, nó chưa bao giờ từng bị đóng. Vấn đề là nhà khoa học có thể đi vào được hay không thôi. Nhà khoa học có trí năng của mình, nhưng trí năng đó không chắc đã đủ để đưa nhà khoa học đi vào thế giới của bản môn. Họ có thể có những đau buồn, những lo lắng, những sợ hãi, những khổ đau che lấp tâm tư của mình. Tâm của nhà khoa học có thể đang trĩu nặng hành trang của những cái thấy, những cái biết; những cái thấy biết còn mang màu sắc lưỡng nguyên. Nếu chưa vượt thoát được ý  niệm thời gian, họ vẫn còn bị rơi vào vòng lẩn quẩn của nhị nguyên. Đó chính là những chướng ngại ngăn không cho họ đi vào cánh cửa mầu nhiệm của thực tại.

Có hai chướng ngại lớn, đó là phiền não chướng và sở tri chướng. Phiền não chướng tức là những vui, buồn, giận, ghét, thất vọng, đam mê v.v… Tâm thức của mình cũng như tâm thức của nhà khoa học đều đang bị những phiền não che lấp và vì vậy không đi vào được thế  giới của bản môn. Nhà bác học Einstein rất thông minh, nhưng trong đời sống cá nhân, ông đã có rất nhiều khổ đau và khó khăn với gia đình. Ông đã ly dị và khổ đau. Nếu Einstein không có những phiền não đó chắc là ông đã đi xa hơn rất nhiều.

Chúng ta cũng vậy, chúng ta có thể là nhà khoa học hay không phải là nhà khoa học, có thể là nhà Phật học hay không phải là nhà Phật học; nhưng nếu có phiền não chướng trong tâm, thì dù cho cửa bản môn có mở, mình cũng không đi vào được.

Sở tri chướng là phiền não thứ hai. Sở tri là những cái mình biết, mình hiểu, những cái thấy của mình. Nếu mình còn bị kẹt vào ý niệm thời gian, còn thấy tâm thức và vật thể là những cái biệt lập, chủ thể và đối tượng là không tương quan với nhau, Thượng đế và tạo vật là hai cái khác nhau, tách rời nhau; thì những cái thấy nhị nguyên đó ngăn không cho mình đi vào được thế giới của bản môn, thế giới của Niết Bàn.

Đức Thế Tôn đã chỉ cho chúng ta phương pháp diệt trừ phiền não chướng và sở tri chướng để chúng ta có thể đi vào được trong bản môn. Mình không cần gõ cửa, mình chỉ cần thực tập niệm, định và tuệ (smrti, samādhi, prajña) gọi là Tam vô lậu học, tức là ba môn học đưa tới sự giải thoát. Đây là khoa học của Bụt (the Triple Science of the Buddha). Khoa học của Bụt không cần có những dụng cụ máy móc tối tân như kính viễn vọng, hay máy gia tốc (accélérateur)… mà dụng cụ duy nhất cần được sử dụng chỉ là tâm thôi. Và thành công là khi mình diệt trừ được phiền não chướng và sở tri chướng để tâm có đủ sáng suốt mà quán sát thực tại. Buông bỏ đi hết những hành lý của phiền não và ý niệm lưỡng nguyên, mình có đủ tự do đi vào bản môn. Nhà khoa học có đủ tự do đó hay không? Những kiến thức khoa học có giúp cho nhà khoa học đạt tới tự do hay không? Khoa học có thể giúp cho kỹ thuật phát triển, nhưng trong khi đó nhiều người trong chúng ta vẫn bị cuốn theo những tham giận, kiêu căng và vì vậy khổ đau của chúng ta càng ngày càng lớn.

Trong kho tàng đạo Bụt, có những kinh như kinh Rohitassa, kinh Kalama, đó là những kinh mà Bụt dạy cho chúng ta cách đi vào thế giới bản môn mà con đường là sử dụng tâm như một dụng củ để thể nghiệm thực tại. Mình phải dùi mài, phải làm sáng cái tâm, thì mới có thể thành công được. Khóa học 21 ngày sang năm có thể sẽ có chủ đề “Khoa học của Bụt” (The sciences of the Buddha) và mình sẽ nói về sự liên hệ giữa đạo Bụt và khoa học. Mình có thể mời vài nhà khoa học lượng tử và khoa học thiên văn tới nói chuyện, nhưng chúng ta sẽ trình bày con đường của Bụt như một ngành khoa học. Khoa học này không chỉ dùng trí năng, dùng trí năng thôi thì chưa đủ. Trong đạo Bụt, ngoài trí năng (ý thức, mind-consciousness) còn có tàng thức (store-consciousness) và chỉ khi nào chuyển hóa được tàng thức thì mới có Đại Viên Cảnh Trí, thứ trí tuệ được miêu tả là sáng trong và chân thực như một tấm gương lớn, thứ trí tuệ giúp ta đi vào thế giới của không sinh, không diệt (xin tham khảo giáo lý chuyển hóa tám Thức thành bốn Trí).

Xin đọc một lá thư từ một sư cô trẻ viết cho tôi, đề cập tới vấn đề ân ái:

Con xin thành kính tri ân Sư Ông đã sinh ra những thầy, những sư chú quá sức dễ thương để cho con thương với một tình thương trong sáng, tình huynh đệ. Đối với con, tình thương đó linh thiêng và cao quí lắm, cho nên con không bao giờ dám làm hoen ố từ ngày con xuất gia cho đến bây giờ. Con thấy mình được an ninh bởi sự bảo hộ của tăng thân. Nếu ở ngoài đời chắc con sẽ còn lận đận và khổ sở lắm với cái tình thế gian đó. Thương yêu nhau mà biết thực tập giới luật và uy nghi, biết tôn kính lẫn nhau thì tình thương ấy rất đẹp và đưa mình đi rất xa.

Trịnh Công Sơn có nói: “May thay trong đời ngoài tình yêu còn có tình bạn. Tình bạn thường có khuôn mặt thật hơn là tình yêu. Sự bội bạc trong tình bạn cũng có, nhưng không nhiều. Tôi thấy tình bạn quí hơn tình yêu vì tình bạn có khả năng làm hồi sinh được một cơn hôn mê và làm phục sinh một cuộc đời tưởng rằng không còn tái tạo được nữa.”

Đây là những lời của Trịnh Công Sơn dùng để ca ngợi tình bạn mà sư cô đã trích ra. Sư cô viết tiếp:

Thật vậy, tình bạn đã đưa con đi xa và bây giờ tình huynh đệ còn đưa con đi xa hơn nữa. Thương nhiều người với tấm lòng rộng mở như vậy, con tin là sẽ không bao giờ len lỏi một bóng hình nào trong trái tim mình.

Có người nói, nhìn vào người mình vướng mắc, quán bất tịnh thì sẽ trừ được tham dục. Riêng bản thân con thì con tập quán những cái thiện, cái mỹ của người đó mà thôi, bởi vì những vị đó rất đẹp và dễ thương, làm sao con có thể quán cái không đẹp và không dễ thương nơi vị đó được? Con nhìn vị đó đẹp quá, con thương quá và con không muốn cái đẹp đó mất đi. Lý tưởng của quí vị đang bừng cháy trong quí vị và lý tưởng của con cũng đang bừng cháy trong con thì tại sao con lại dám làm cho ngọn lửa ấy tắt lịm đi bằng sự mê mờ thiếu sáng suốt của mình.

Cũng giống như một bông hoa, chính vì nó đẹp, chính vì nó tươi mát, luôn làm đẹp cho cuộc đời cho nên mình phải tôn trọng và trân quí nó. Nó phải ở đúng vị trí của nó thì nó mới đẹp và mọi người được chiêm ngưỡng. Còn nếu như thấy đẹp mà chiếm làm của riêng cho mình thì tội nghiệp quá, cái đẹp đó sẽ không còn tồn tại được nữa.

Con nghĩ cái khổ của sự nghèo đói, thiếu thốn chắc có lẽ cũng không bằng cái khổ của một người vướng vào chiếc lưới kia. Nó có thể giết chết cuộc đời mình bằng những sợi dây nhợ đan dính vào nhau và đan luôn cả tuổi trẻ với bao nhiêu ước mơ và hy vọng, càng vùng vẫy thì càng cuốn quanh không tìm được lối thoát. Cái khổ này cũng giống như một người bị bệnh nan y, cho dù có thầy giỏi, thuốc hay cũng không thể nào chữa lành.

Con không biết trước được là sau này sẽ như thế nào, nhưng từ khi xuất gia cho đến nay, con thấy với con như vậy là đủ lắm rồi và con rất hài lòng với tình thương con đang có. Tình thương đó cũng xứng đáng để cho con đi xuất gia, để cho con vứt bỏ mọi thứ để đến với con đường này và để học được chữ thương. Thương như thế con thấy khỏe và tự do lắm. Với tình thương này con không cảm thấy có sự sợ hãi, bởi vì con thấy được sự an toàn cho con và cho đối tượng thương yêu của con. Tình thương này rất đẹp, đã đem đến cho con sự quân bình và con cảm thấy mình đã đủ, không còn gì cần phải tìm cầu rong ruổi nữa.

Nếu học được nghệ thuật thương thì tình thương đó sẽ làm thăng hoa đời sống và trưởng dưỡng tâm bồ đề để cùng nhau thực hiện chí nguyện độ sinh và phụng sự Tam bảo.

Bức thư này được viết bởi một sư cô, nhưng bức thư này cũng có thể được viết bởi một thầy hay một sư chú. Sư chú cũng có thể viết:

Con xin thành kính tri ân Sư ông đã sinh ra những sư cô quá sức dễ thương để cho con thương với một tình thương trong sáng, tình huynh đệ. Đối với con tình thương đó linh thiêng và cao quí lắm, cho nên con không bao giờ dám làm hoen ố từ ngày con xuất gia cho đến bây giờ. Con thấy mình được an ninh bởi sự bảo hộ của tăng thân. Nếu ở ngoài đời chắc con sẽ còn lận đận và khổ sở lắm với cái tình thế gian đó. Thương yêu nhau mà trong đó có chất liệu của sự thực tập giới luật và uy nghi, biết tôn kính lẫn nhau thì tình thương ấy rất đẹp và đưa mình đi rất xa.

 

Đây là bài pháp thoại Thiền Sư giảng vào ngày 20 tháng 5, năm 2010, tại thiền đường Hội Ngàn Sao, chùa Cam Lộ, xóm Hạ, trong khóa tu mùa Xuân.

 

Bài kệ 24

Nhược giác nhất thiết pháp       若  覺  一  切  法

Năng bất trước chư Pháp           能  不  著  諸  法

Nhất thiết ái ý giải                          一  切  愛  意  解

Thị vi thông thánh ý                      是  為  通  聖  意

 

Thấy và hiểu được tự tánh các pháp, không còn bị vướng vào một pháp nào, biết cách gỡ ra mọi sợi dây ái dục trong tâm ý, như thế là đã nắm được ý chỉ của Bụt.

Nhược giác nhất thiết pháp: Nếu giác ngộ được bản tính của tất cả các pháp.

Năng bất trước chư pháp: và có khả năng không bị dính vào các pháp.

Bất trước là không bị kẹt vào. Sở dĩ mình bị kẹt vào là tại vì mình chưa hiểu nó, mình chưa thấy được chân tướng của nó. Nếu hiểu được chân tướng của nó thì mình sẽ không bị kẹt vào nó. Nó có trở thành một cái bẫy hay một nhà tù hay không là do mình có thấy được nó hay không? Chúng ta thấy rất rõ: Sự giải phóng, sự cứu chuộc không phải do ân huệ của một vị thần linh ban tới mà do trí tuệ của mình.

Giác là trí tuệ, là sự tỉnh thức (enlightenment). Thấy được chân tướng của đối tượng đó, mình sẽ không trở thành nô lệ của nó. Mình không trở thành nạn nhân của nó và nó không trở thành tù ngục của mình.

Nếu thấy được bản chất của tất cả các pháp thì sẽ có khả năng không bị dính vào những pháp ấy.

Nhất thiết ái ý giải: Ái ý là dục ý, là tâm ái dục, tâm ham muốn của mình. Giải là cởi ra. Chữ giải cũng có nghĩa là hiểu, nhưng ở đây có nghĩa là thoát ra. Tất cả dục ý đều được cởi bỏ. Ái ý là một sợi dây, trong truyện Kiều có câu: “Lại mang lấy một chữ tình. Khăng khăng mình buộc lấy mình vào trong”. Giải là cởi trói, cởi bỏ sợi dây ái ý.

Thị vi thông thánh ý: Như thế là đã hiểu được lời dạy của Đức Thế Tôn. Thánh là bậc thánh nhân, là đức Thế Tôn. Thông là hiểu được.

 

Bài kệ 25

Chúng thí Kinh thí thắng              眾  施  經  施  勝

Chúng vị Đạo vị thắng                  眾  味  道  味  勝

Chúng lạc Pháp lạc thắng             眾  樂  法  樂  勝

Ái tận thắng chúng khổ                 愛  盡  勝  眾  苦

 

Trong các thứ hiến tặng, hiến tặng chánh pháp là quí hơn cả. Trong các mùi hương, hương đạo đức là thơm tho hơn hết. Trong các thứ hạnh phúc, hạnh phúc được sống trong chánh pháp là hạnh phúc lớn nhất. Không có phương pháp nào chiến thắng được khổ đau một cách tận cùng bằng sự thực tập dứt trừ ái dục.

Chúng thí Kinh thí thắng: Chữ 施 còn được đọc là thi, thi có nghĩa là làm (thi hành). Nhưng chữ 施 ở đây được đọc là thí, tức là hiến tặng. Trong các loại hiến tặng, hiến tặng Kinh là quí hơn hết. Chữ Kinh không có nghĩa là cuốn kinh mà thôi, mà còn có nghĩa là giáo pháp của Bụt dạy. Chỉ cho người thoát ra khỏi tình trạng hệ lụy, gọi là pháp thí.

Có ba loại bố thí: tài thí, pháp thí và vô úy thí. Tài thí là cho tiền bạc, cơm ăn áo mặc để bớt nghèo khổ. Pháp thí là cho một con đường để thoát khỏi tình huống bế tắc, khổ đau. Trong ba loại hiến tặng thì pháp thí là quí hơn cả. Thắng là thù thắng.

Chủng vị Đạo vị thắng: Trong các loại vị ngon ngọt, hương vị của đạo đức là ngon ngọt hơn hết.

Chủng lạc Pháp lạc thắng: Trong tất cả các niềm vui, niềm vui của sự thực tập giáo pháp là lớn hơn cả. Được có cơ hội để thực tập giáo pháp với những người bạn tu của mình là một niềm vui rất lớn, nhưng mình lại bỏ đi niềm vui đó (pháp lạc, dharma-sukha) thì rất uổng. Trong các thứ hạnh phúc, hạnh phúc thực tập chánh pháp là hạnh phúc lớn nhất. Theo nguyên tắc, mình là người hạnh phúc nhất trên đời vì mình đang có pháp lạc.

Ái tận thắng chúng khổ: Chúng khổ là tất cả mọi khổ não. Muốn vượt thắng được mọi khổ não, phương pháp hay nhất là chấm dứt ái nhiễm. Chính ái nhiễm đem tới khổ đau nhiều nhất. Chấm dứt ái nhiễm là phương pháp diệt trừ khổ đau hay nhất.

Ở đây đưa ra ba ví dụ (bố thí, hương vị và giáo pháp) để kết luận rằng trong những phương pháp diệt khổ thì chấm dứt ái dục là phương pháp hay nhất.

 

Bài kệ 26

Ngu dĩ tham tự phược                   愚  以  貪  自  縛

Bất cầu độ bỉ ngạn                          不  求  度  彼  岸

Tham vi bại xứ cố                           貪  為  敗  處  故

Hại nhân diệc tự hại                      害  人  亦  自  害

 

Người u mê thường lấy sợi dây tham dục để tự trói mình, người ấy chưa có ước mong vượt sang bờ bên kia. Tham dục gây bại hoại, đem lại tai họa cho mình và cho kẻ khác.

Ngu dĩ tham tự phược: Tham là tham dục. Tự phược là tự trói mình. Giải là mở trói. Người u mê (không thông minh) thường lấy sợi dây tham dục để tự trói mình.

Bất cầu độ bỉ ngạn: Không có sự mong ước đi qua bờ bên kia. Bờ bên kia là bờ của an vui, của tự do, của thảnh thơi. Nhưng người này không có tư niệm thực đó, rất là tội nghiệp.

Người tu phải bắt đầu bằng ý nguyện muốn vượt thoát bờ bên này để đi sang bờ bên kia. Ước nguyện đó rất quý, vì không có chí nguyện thì đời đời kiếp kiếp mình sẽ ở trong trầm luân khổ ải. Người không có trí tuệ lấy sợi dây tham dục để tự trói mình và không có nhu yếu đi sang bờ bên kia. “Cho tôi suốt đời được làm một tên nô lệ“, đó là ý muốn của người đó, người đó không muốn có tự do. Là người xuất gia, mình nói ngược lại: “Tôi chỉ muốn một cái, đó là tự do!“

Tham dục vi xứ cố: Tham dục đưa mình tới hoàn cảnh bại hoại.

Hại nhân diệc tự hại: Tham dục làm hại cuộc đời của mình và làm hư cả cuộc đời của người khác. Khi bị vướng vào sợi dây tham dục, mình gây khổ đau cho người khác, mình lạm dụng tình dục của trẻ em, mình lạm dụng tình dục của người lớn, mình làm tan nát gia đình và cuộc sống của họ, đồng thời mình cũng làm tan nát cuộc đời của chính mình.

 

Bài kệ 27

Ái dục ý vi điền                              愛  欲  意  為  田

Dâm oán si vi chủng                      婬  怨  癡  為  種

Cố thí độ thế giả                             故  施  度  世  者

Đắc phước vô hữu lượng              得  福  無  有  量

 

Tâm tham dục là ruộng đất, tham sân si là hạt giống, đối với người có khả năng bố thí và độ đời thì những phước đức thu hoạch được không thể đo lường.

 

Ái dục ý vi điền: Điền là ruộng. Tâm ái dục là một thửa ruộng,

Dâm oán si vi chủng: trong thửa ruộng đó, mình gieo hạt giống tham, sân và si. Chủng là  hạt giống. Dâm là tham dục, oán là sự giận hờn, si là sự u mê. Ái dục, oán hờn, si mê, ba loại hạt giống đó mình đã gieo vào trong miếng đất của tâm ý.

Cố độ thí độ giả: Cho nên những người biết thực tập bố thí và độ đời,

Đắc phước vô hữu lượng: phước đức không thể nào đong được. Đắc phước là phước đức thu hoạch được.

Trong bản tiếng Pali, phước là thu hoạch lớn (maha-phala), great harvest. Phala là hoa trái. Những người biết thực tập bố thí và độ đời thì gặt hái được những hoa trái không thể đo lường.

Chúng ta có thể tập hợp hai bài kệ 26 và 27 thành một bài kệ cho sát với bài kệ thứ 356 trong Dhammapada tạng Pali:

 

Ngu dĩ tham tự phược                   愚  以  貪  自  縛

Bất cầu độ bỉ ngạn                          不  求  度  彼  岸

Ái dục ý vi điền                              愛  欲  意  為  田

Dâm oán si vi chủng                      婬  怨  癡  為  種

Tham vi bại xứ cố                           貪  為  敗  處  故

Hại nhân diệc tự hại                      害  人  亦  自  害

Cố thí độ thế giả                             故  施  度  世  者

Đắc phước vô hữu lượng              得  福  無  有  量

 

Người u mê thường lấy sợi dây tham dục để tự trói mình, người ấy chưa có ước mong vượt sang bờ bên kia. Tâm tham dục là ruộng đất, tham sân si là hạt giống. Cái tham dục đó gây bại hoại cho mình và cho người khác. Trái lại, đối với người có khả năng bố thí và độ đời thì những phước đức thu hoạch được không thể đo lường.

Bài kệ 28

Bạn thiểu nhi hóa đa                      伴  少  而  貨  多    

Thương nhân truật dịch cụ           商  人  怵  惕  懼

Thị dục tặc hại mạng                     嗜  欲  賊  害  命

Cố tuệ bất tham dục                       故  慧  不  貪  欲

 

Người đồng hành thì ít, hàng hóa chuyên chở thì nhiều, kẻ thương nhân lâm vào trạng thái lo lắng, kinh sợ. Biết rằng cái đam mê dục lạc là tên giặc có thể làm tổn hại thân mạng của mình, bậc trí giả không còn chạy theo tham dục.

Bạn thiểu nhi hóa đa: Bạn là người đồng hành. Người đồng hành thì ít, mà hàng hóa thì nhiều. Đây là những người đi buôn, đi qua những khu rừng vắng hay những sa mạc rất nguy hiểm. Họ có thể bị cướp và mất mạng như chơi.

Đi buôn rất nguy hiểm! Nếu mình chở hàng hóa nhiều mà số lượng người cùng đi với mình ít thì có thể bị cướp chặn đường lấy hàng hóa và giết mình.

Thương nhân truật dịch cụ: Thương nhân là người đi buôn. Truật là sợ hãi. Dịch là kinh hoàng. Cụ là sợ.

Hàng hóa thì nhiều mà người đồng hành thì ít, người thương nhân lâm vào hoàn cảnh hoảng sợ, kinh hoàng.

Thị dục tặc hại mạng: Thị là ham thích, tham đắm. Ham thích ái dục là những tên cướp làm hại tính mạng của mình. Đó là những tên cướp chặn đường lấy đồ và giết hại thương gia, cho nên mình phải sợ những tên giặc đó. Những tên giặc đó là ai? Những tên giặc đó, tên của nó là ái dục. Sự ham thích ái dục là những tên giặc chặn đường ám hại mình.

Cố tuệ bất tham dục: Cho nên những người có tuệ giác không vướng vào tham dục.

Trong bản tiếng Pali nói: Mình sợ hãi giống như một con thỏ sợ bị người ta bắt.

Đây là bài pháp thoại Thiền Sư giảng vào ngày 23 tháng 5 dương lịch năm 2010, tại thiền đường Trăng Rằm, chùa Từ Nghiêm, xóm Mới.

 

Hôm nay chúng ta học những bài kệ cuối của kinh Chiếc Lưới Ái Ân.

 

Bài kệ 29

Tâm khả tức vi dục                        心  可  則  為  欲

Hà tất độc ngũ dục                        何  必  獨  五  欲

Vi khả tuyệt ngũ dục                      違  可  絕  五  欲

Thị nãi vi dũng sĩ                            是  乃  為  勇  士

Năm thứ tham dục phát sinh khi tâm mình cảm thấy có sự khả ý. Phải mau chóng chấm dứt cả năm thứ tham dục, đó mới thật là người dũng sĩ.

Tâm khả tức vi dục: Khả có nghĩa là dễ chịu, ví dụ như khả ái là dễ thương, vừa ý mình. Tâm khả là tâm ưa thích. Nhìn cái vẻ bề ngoài hấp dẫn, lôi cuốn, mình bị đánh lừa và cho nó là khả ý và vướng vào nó. Một khi đã vướng vào rồi, mình sẽ đau khổ vô cùng. Trong kinh có một ví dụ rất dễ hiểu: Có một người rất khát nước, khát tới cháy cổ, người ấy thấy có một cốc nước màu hồng trông rất đẹp, vừa thơm vừa mát, người ấy nghĩ nếu mình được uống cốc nước đó vào thì sẽ dễ chịu vô cùng. Nhưng nhìn kỹ thì thấy có một tờ giấy dán trên cốc: “Nước có thuốc độc, uống vào nếu không chết thì cũng ngất ngư“.  Mình cũng có một chút trí tuệ nên thấy rằng: không nên uống nước này, thứ nước này rất nguy hiểm, nếu uống vào mình có thể chết hoặc ngất ngư. Nhưng vì mình đang khát quá, mà cốc nước kia lại có một bề ngoài rất khả ý nên mình liều nói: “Thôi kệ! Mình cứ uống, có chết thì chết!“ Đó là tâm lý của rất nhiều người. Biết là chết mà vẫn uống. Trong khi đó, mình có thể đi thêm một đoạn nữa để tìm ra được một nguồn nước trong lành, hoặc có thể tìm ra một vài phương pháp giải khát khác, nhưng mình không chịu bởi vì cốc nước đó có một bề ngoài khả ý quá.

Giống như một con cá đang bơi lội trong hồ nước, nó trông thấy một con mồi rất ngon, nó liền lao tới muốn đớp. Một con cá khác khuyên: “Đừng đớp! Trong con mồi đó có lưỡi câu. Nếu ngươi đớp nó, ngươi sẽ lãnh đủ. Chính ta đã từng đớp mồi, từng bị móc họng lên may mà ta rớt xuống”. Trong con mồi ngon mắt ấy có một lưỡi câu! Nhưng con cá kia còn trẻ, còn thiếu kinh nghiệm nên nó nói: “Tại sao lại không đớp, nó ngon như vậy cơ mà?“ và nó cắn. Cố nhiên là nó bị lưỡi câu móc lên. Phía trong cái hấp dẫn ẩn chứa một tai nạn, đó là một lưỡi câu. Đối tượng của dục cũng vậy, nó rất hấp dẫn, nhưng ẩn bên trong đó là một lưỡi câu, mình cắn vào thì bị móc họng. Đó gọi là khả ý. Nếu tâm thấy đó là khả ý thì dục mới sinh khởi. Một người có trí tuệ, nhìn vào cốc nước thì nói: “Nước đó uống vào chỉ thấy dễ chịu trong vài phút, rồi sau đó mình sẽ ngất ngư và có thể chết luôn, vậy mình uống làm gì?“ Trí tuệ đó đủ để che chở mình. Sự giải thoát do trí tuệ mà có. Người có trí tuệ thì được cứu thoát bởi trí tuệ của mình. Trong đạo Phật, sự cứu rỗi không do nơi một vị thần linh mà là do trí tuệ. Khi tâm của mình thấy một đối tượng ưa thích, mình bị cái dục kéo theo tức thì.

Hà tất độc ngũ dục: Có năm thứ dục mà những người chạy theo năm thứ dục ấy sẽ khổ ngất ngư, đó là: giàu sang, sắc dục, danh vọng, thức ăn ngon và ngủ nghỉ vô độ. Những thứ ấy mình biết rằng ăn vào thì sẽ đau khổ, nhưng không ăn không chịu nổi. Mình nghĩ cứ ăn đi rồi sau đó tìm thuốc uống sau.

Vi khả tuyệt ngũ dục: Vi là đi ngược lại, tuyệt là chấm dứt. Thấy được sự giả dối của đam mê thì sẽ chấm dứt được đam mê.

Thị nãi vi dũng sĩ: Cái đó mới đích thực là một chàng dũng sĩ.

Người tu là một chiến sĩ, người chiến sĩ ấy tuy hiền nhưng có sức mạnh. Chiến thắng được tham dục là chiến thắng lớn lao nhất. Chiến thắng được ham muốn của mình và đạt tới tự do thì gọi là một người dũng sĩ. Là người tu mình phải trở thành một dũng sĩ và thanh gươm của người dũng sĩ là thanh gươm trí tuệ, lưỡi gươm cắt phăng mọi phiền não và tham dục.

Trong mỗi người cũng có một nhà tu sĩ. Dù là trai hay gái, dù già hay trẻ đều có trong mình một nhà tu sĩ muốn tu tập để trở thành người tốt. Đó là Phật tính. Ai cũng muốn tu để trở thành người hiền, nhưng sở dĩ không tu được là vì không có điều kiện, chứ không phải vì mình không muốn tu. Và trong mỗi người cũng đều có một nhà nghệ sĩ có khả năng thưởng thức những cái hay, cái đẹp. Con người nghệ sĩ trong ta chưa bao giờ chết. Khi mình ngồi ngắm một buổi bình minh sáng đẹp, đó là người nghệ sĩ trong ta đang hành động. Trong mỗi chúng ta đều phải có một người chiến sĩ. Muốn chiến thắng, trước hết là chiến thắng những yếu kém và khổ đau của mình. Người chiến sĩ đi đôi với người tu sĩ; người chiến sĩ đi đôi với người nghệ sĩ. Mình phải cho người chiến sĩ trong mình một cơ hội. Thanh gươm của người chiến sĩ là thanh gươm trí tuệ cắt đứt được hết mọi phiền não.

Này gươm trí tuệ mài đây

Bao nhiêu phiền não cắt ngay cho rồi

Không đợi tới ngày mai, mình phải cắt đứt phiền não ngay ngày hôm nay, để không bị dây dưa, bị trói buộc vào tình trạng hệ lụy. Con người chiến sĩ trong mình rất muốn vượt thoát, con người tu sĩ trong mình rất muốn vươn lên; nhưng mình cứ để tình trạng đó kéo dài chưa chấm dứt được. Người chiến sĩ trong ta chưa hành động, chưa có quyết tâm cao nên người tu sĩ trong ta vẫn còn bị giam cầm. Người chiến sĩ phải tranh đấu để giải phóng cho người tu sĩ trong mình. Chuyện này cần phải làm ngay trong giây phút hiện tại. Không đợi tới chiều, mà là ngay bây giờ, ta phải quyết tâm không đi theo con đường đó nữa. Ta đã bị thói quen nghiện ngập, rượu chè, ma túy hay sắc dục kéo đi từ bao nhiêu năm tháng. Ta không muốn kéo dài nữa, ta phải lấy thanh gươm trí tuệ cắt đứt chúng ngay bây giờ. Đó là tiếng nói của chàng dũng sĩ trong ta. Phải cho chàng dũng sĩ một cơ hội, phải để chàng dũng sĩ rút gươm ra ngay trong giây phút hiện tại.

Trong nhà thiền có câu dục an đắc an (muốn bình an thì được bình an). Nhưng sao mình muốn có sự bình an trong lòng mà lại chưa có bình an? Tôi muốn được giải thoát, được thảnh thơi, tôi muốn không còn bị lệ thuộc vào nó, tôi muốn không còn bị nô lệ vào nó. Nó có thể là đối tượng của ái dục, là ma túy hay rượu. Nó là những sợi dây ràng buộc tôi từ lâu mà tôi không thoát ra được, cho nên tôi khao khát tự do, tôi mong muốn an bình. Vấn đề là mình có muốn thực sự hay không, và ước muốn có đủ mạnh hay chưa. Chìa khóa ở chỗ là mình có ước muốn thật sự, muốn 100% hay trên nữa, thì mới thành công; nếu chỉ mới muốn 90% thì cũng chưa được.

Cái muốn là một loại thực phẩm, gọi là tư niệm thực. Đó là một nguồn năng lượng rất lớn. Hễ khi mình đã muốn thì chắc chắn mình sẽ đi về hướng đó, nếu chưa đi được về hướng đó là tại vì mình muốn còn hơi ít. Mình muốn sự trị liệu, sự thảnh thơi. Mình phải muốn rất nhiều, muốn cho đến độ nếu không làm được thì thà là mình chết còn hơn. Cũng như khi mình muốn đi xuất gia, không đi xuất gia thì mình chịu không nổi. Phải muốn trên 100% thì mới đi xuất gia, chỉ muốn 99% là hỏng; phải muốn 110% là ít nhất, thì mới được cho xuất gia.

Trong trạng huống bị hệ lụy, bị vương vấn, mất tự do và mình muốn thoát ra. Nhưng cái muốn đó có lớn đủ hay không? Nếu cái muốn đủ lớn thì mình sẽ thoát ra được, ngược lại nếu cái muốn chưa đủ lớn thì mình sẽ còn lặn lội trong đó không biết bao giờ mới ra. Chìa khóa là do mình có muốn hay không. Cái muốn đó từ sự tỉnh thức mà có. Tại sao có sự tỉnh thức? Tại vì mình đã đau khổ lâu ngày, mình đã chán, mình không muốn tiếp tục như vậy một ngày nào nữa. Đó là sự tỉnh thức, đạo Phật là đạo tỉnh thức. Bắt đầu từ sự tỉnh thức đó mình muốn thoát ra. Cái muốn rất quan trọng, gọi là Bồ đề tâm (the mind of enlightenment). Một khi năng lượng của Bồ đề tâm đủ mạnh, nó đủ sức đẩy mình lên một hỏa tiễn vượt không gian, thoát khỏi bầu khí quyển của địa cầu bay lên tới mặt trăng. Đó là nhờ một nguồn năng lượng rất lớn gọi là cái muốn, là Tâm bồ đề. Khi đã có Tâm bồ đề, mình phải làm cho Tâm bồ đề kiên cố, làm cho nó còn hoài để làm nguồn năng lượng cho mình. Vì vậy mình cần có tăng thân, tăng thân là chỗ cho mình nương tựa. Mình đã có giác ngộ, có cái muốn, nhưng mình cần sự yểm trợ của một đoàn thể để mình có thể thành công. Mình cần phải tìm một khung cảnh thích hợp để nuôi dưỡng cái muốn, làm cho cái muốn đó càng ngày càng lớn. Trong đạo Bụt có sự thực tập gọi là “Nương tựa Tăng” (I take refuge in the Sangha).

Ở Tây phương có tổ chức gọi là “Anonymus” để giúp những người nghiện rượu, đó là một tăng thân. Người ta biết một mình họ sẽ không thoát được. Phải có một đoàn thể yểm trợ, thực tập chung thì người ta mới thoát được. Đó gọi là tăng thân. Trên thế giới có những hoàn cảnh rất tiêu cực mà mình cứ ở trong đó thì mình sẽ bị kéo theo. Mình phải tìm một hoàn cảnh tích cực, một hoàn cảnh thuận lợi trong đó mình nuôi dưỡng được cái muốn để có thể thoát ra. Trong đạo Phật nói rất rõ: Nếu muốn thành công thì phải nương tựa vào tăng thân, đó là quy y Tăng. Quy y Tăng không phải là vấn đề tín ngưỡng, mà là vấn đề hành động. Chúng ta phải thật sự ở trong một cộng đồng giúp cho chúng ta đi tới. Phải bám víu vào cộng đồng đó, phải đặt hết thân mạng của mình vào trong cộng đồng đó để nó đưa mình đi, giống như mình đặt mình trong chiếc thuyền để nó đưa mình đi. Tăng thân là một chiếc thuyền, không có thuyền thì mình sẽ chìm xuống biển. Tăng thân là một chiếc thuyền tại, và mọi người trong tăng thân đều thực tập. Tăng thân nâng đỡ, soi sáng và chuyên chở mình đi. Muốn thoát mình phải nương vào tăng thân và mình phải có cái muốn. (If you want peace, you have peace right away. If you want healing, you have healing right away.) Khi có sự giác ngộ và có cái muốn thì sự trị liệu đã bắt đầu. Muốn sự trị liệu được tiếp tục mình phải ở trong một hoàn cảnh thuận lợi. Mình là một anh hùng, nhưng một anh hùng cũng cần một tăng thân để tiếp tục làm anh hùng, nếu không thì chỉ là một anh hùng trong chốc lát.

Khi đã tìm ra con đường, tìm ra tăng thân thì tự nhiên mình có bình an. Cái an đó bắt đầu phát triển, lớn lên và mình có cảm giác thoải mái. Mình đã tìm ra mình, mình đã tìm ra con đường của mình. Khi đã đặt mình vào trong tăng thân và được tăng thân chuyên chở thì mình có an. Nếu trong lòng mình còn do dự, không biết nên đi tới hay đi lui, sang trái hay sang phải thì mình nên biết con đường của mình là phải bám lấy tăng thân. Khi đã tìm thấy sự thoải mái, an lạc trong tăng thân thì mình đúng là một chàng dũng sĩ. Nếu mình còn chân trong chân ngoài, còn muốn rời tăng thân để đi nhập thất một mình thì là hỏng, vì mình chưa có được sự thoải mái trong tăng thân. Có được sự thoải mái trong tăng thân, mình sẽ không còn tâm niệm đó nữa.

 

Bài kệ 30

Vô dục vô hữu úy                          無  欲  無  有  畏

Điềm đạm vô ưu hoạn                   恬  惔  無  憂  患

Dục trừ sử kết giải                          欲  除  使  結  解

Thị vi trường xuất uyên                 是  為  長  出  淵

 

Hết tham dục thì không còn sợ hãi, lúc ấy ta mới được thảnh thơi an lạc. Dục hết thì kết sử cũng hết, do đó hành giả ra khỏi được vực sâu.

Vô dục vô hữu úy: Không còn đam mê thì không còn sợ hãi. Không sợ hãi, vô úy (abhaya) là nền tảng của hạnh phúc. Chừng nào còn sợ hãi thì hạnh phúc chưa có thật. Còn chạy theo đối tượng của đam mê thì mình vẫn còn sự sợ hãi. Cái sợ đi đôi với sự đam mê, buông bỏ được đam mê là buông bỏ được sợ hãi. Đây là tâm lý học có chiều sâu (deep psychology). Đôi khi mình sợ mà mình không biết mình sợ cái gì và tại sao mình sợ? Đức Thế Tôn nói: Cái sợ đi đôi với cái đam mê. Nếu buông bỏ được đam mê, thì không lý do gì mình cần phải sợ.

Điềm đạm vô ưu hoạn: Điềm đạm là thảnh thơi, không sôi nổi, không vụt chạc, không nóng nảy. Điềm đạm là sự thanh tịnh, sự an lạc. Khi buông được đam mê, trong lòng mình có liền sự thảnh thơi, không nôn nóng, không vụt chạc, hấp tấp nữa. Mình có cảm tưởng mình đã về đã tới.

Vô ưu hoạn là không có sự lo lắng và tai nạn. Hễ còn đam mê là còn hoạn nạn, hễ còn đam mê là còn lo lắng, hễ còn đam mê là còn lo sợ. Buông bỏ đam mê là thoát khỏi sợ hãi, đạt được an lạc, thoát khỏi lo lắng tai ương.

Dục trừ sử kết giải: Khi đã buông bỏ được đam mê (dục trừ) thì sử và kết được mở ra. Kết là những gút thắt, những nội kết (samnyojana). Giải là tháo ra, gỡ ra. Những phiền não như đam mê, giận hờn, si mê, ganh tị, tuyệt vọng được gỡ ra. Sử là sai sử, là cái sai sử mình. Đôi khi mình không muốn làm, không muốn nghĩ, không muốn nói như vậy; nhưng có một lực lượng nào trong người xúi mình, sai mình nói như vậy, làm như vậy, nghĩ như vậy. Đó là những cái sử. Những phiền não, những tập khí, thói quen thúc đẩy mình suy nghĩ những điều rất kỳ, nói những lời rất bậy, hay làm những chuyện có hại cho mình và cho người khác. Đó là sử, là xúi dại. Có mười sử và mười kết gọi là thập triền thập sử. Khi buông bỏ được đam mê, cởi bỏ được những sử và kết thì

Thị vi trường xuất uyên, lúc đó mới thật sự ra khỏi vực sâu. Vực sâu là cái lâu nay mình ngụp lặn trong đó chưa ra khỏi. Ra khỏi được vực sâu thì rất khỏe!

 

Bài kệ 31

Dục ngã tri nhữ bổn                       欲  我  知  汝  本

Ý dĩ tư tưởng sanh                         意  以  思 想  生

Ngã bất tư tưởng nhữ                   我  不  思  想  汝

Tức nhữ nhi bất hữu                      則  汝  而  不  有

 

Nầy ái dục ta ơi, ta biết gốc gác của mi rồi! Dục ý là từ ước muốn và nhận thức sai lầm mà phát khởi. Nay ta không còn ước muốn và nhận thức sai lầm về mi thì làm sao mi còn có thể phát sinh.

Chúng ta đã được học điều nầy trong bài kệ trước, dưới một hình thức hơi khác.

Dục ngã tri nhữ bổn: Đam mê của ta ơi! Ta biết được gốc gác của mi rồi, mi không làm gì được ta đâu.

Trong kinh thường nói tới Ma vương, Ma vương hiện ra để đánh lừa Bụt, đánh lừa mình. Mỗi khi Ma vương hiện ra nói những câu rất ngọt, Bụt nhận ra được Ma vương, Bụt nói: “Tôi biết anh rồi!“ thì Ma vương chịu thua. Sau khi Bụt thành đạo, Bụt về thăm thành Ca Tỳ La Vệ, thấy tình trạng trong nước bê bối Ngài hơi buồn. Vua cha thì bất lực và các quan đại thần trong triều không có ai giỏi. Ngài vào ngồi thiền trong một khu rừng gần đó, Ma vương tới nói:

–          Đức Thế Tôn là một nhà chính trị đại tài. Nếu Ngài chịu khó ra làm chính trị thì thế nào cũng giải quyết được vấn đề của đất nước.

Bụt nói:

–          Ta đã biết anh! Anh còn xúi dại ta nữa hả?

Ma vương mắc cỡ biến mất. Đó là những cái sai khiến mình, hấp dẫn mình, đánh vào tự ái của mình. Bụt nói:

–          Ta muốn làm thầy tu, chứ không muốn làm chính trị. Ta đã bỏ ngôi vua, bây giờ không có lý ta lại trở lại làm vua. Làm thầy tu sướng hơn và ta giúp được nhiều người hơn. Anh không đánh lừa ta được đâu!

Ma vương thất vọng quá biến mất. Thỉnh thoảng Ma vương cũng hiện ra dưới hình thức nầy hoặc dưới hình thức khác. Cái dục là Mara tới quyến rũ sư chú, sư cô:

–          Cái đó hay lắm, dễ thương lắm, tốt lắm!

Mình nhìn nó rồi nói:

–          Ta biết mi rồi! My dear, Mara!

Mỗi chúng ta đều có Mara, nó cứ theo dụ mình. Mình phải nói chuyện với nó: “Mara yêu quí của ta ơi! Ta biết mi rồi, mi không làm gì ta được đâu!” Đó gọi là nhận diện đơn thuần. Chỉ nhận diện đơn thuần là đã có tự do rồi.

Ý dĩ tư tưởng sanh: Tâm ý ái dục từ tư và tưởng mà sanh. (cetana) là ước muốn (volition). Tưởng (samjñā) là nhận thức (perception).

Có tà tư (ý muốn sai lạc) và vọng tưởng (nhận thức sai lạc) thì mới sanh dục. Dục ý là do tư duy và tri giác mà sanh ra.

Ngã bất tư tưởng nhữ: Nay ta không có ước muốn và tư duy sai lầm về ngươi

Tức nhĩ nhi bất hữu, dù ngươi còn đó nhưng cũng như ngươi không có, ngươi không làm gì được ta. Bất hữu là không có.

Khi con cá biết con mồi làm bằng plastic và có lưỡi câu ở trong thì con cá không dại gì cắn vào con mồi. Không có ước muốn và nhận thức sai lầm thì con cá tự do bơi lội. Ăn thua là nhận thức của mình cả.

Bài kệ 32 và 33 lặp lại ý mình đã học:

Bài kệ 32

Phạt thọ hốt hưu                            伐  樹  忽  休

Thọ sanh chư ác                             樹  生  諸  惡

Đoạn thọ tận chu                           斷  樹  盡  株

Tỳ-kheo diệt độ                               比  丘  滅  度

 

Đốn cây ái dục mà không đốn tận gốc thì cây ái dục sẽ mọc trở lại. Đốn cây ái dục mà tận gốc thì vị xuất sĩ đạt tới Niết Bàn.

Phạt thọ hốt hưu

Thọ sanh chư ác

Nếu đốn cây không tận gốc thì cây sanh trở lại những cái ác.

Đoạn thọ tận chu

Tỳ kheo diệt độ

Nếu đốn cây tận gốc thì vị Tỳ Kheo đạt tới Niết Bàn. Diệt độ là Niết Bàn.

Bài kệ 33

Phu  bất phạt thọ                            夫  不  伐  樹

Thiểu đa dư thân                            少  多  餘  親

Tâm hệ ư thử                                  心  繫  於  此

Như độc cầu mẫu                          如  犢  求  母

Nếu không chịu chặt cây ái dục thì cánh lá ái dục ít nhiều sẽ còn phát sinh. Tâm còn vướng vào ái dục thì người vẫn còn như một con bê, luôn luôn cần đến vú mẹ.

Phu bất phạt thọ

Thiểu đa dư thân

Nếu không đốn cây ái dục thì nó ít hay nhiều vẫn còn phát sinh ra.

Tâm hệ ư thử: Tâm mình còn bị ràng buộc vào nơi đó thì

Như độc cầu mẫu, cũng giống như con bò con không có tự do chỉ quanh quẩn đi theo bò mẹ. Mình đi quanh quẩn theo đối tượng ái dục của mình mà không thoát ra được. Đối tượng đó có thể là ma túy, là rượu chè, là ái dục. Mình không phải là một bậc trượng phu, mình không phải là anh hùng tại vì mình không biết cách sử dụng thanh gươm hay nếu có cũng chỉ dùng thanh gươm bằng gỗ. Làm sao có thể đoạn đứt mọi não phiền!

 

Giảng kinh

An cư kiết đông 2013-2014

Nhấp chuột phải vào liên kết, chọn “Save Link As…” để tải về

 Ngày – DateNội dung – Title
________________________________________
mp3 FileVideo
YouTube
012013-11-17The First Dharma Talk of the Winter Retreat (Pháp Thoại bằng tiếng Anh)Thông dịch Tiếng Việt mp3
Xem
022013-11-21Mở đầu Duy Biểu ứng dụngNghe mp3Xem
032013-11-24Mối liên hệ giữa ý, mạc na và thứcNghe mp3Xem
042013-11-28Năm tâm sở biến hànhNghe mp3Xem
052013-12-01Sinh Phật bất nhị – bài kệ thứ 3Nghe mp3Xem
062013-12-05Những đặc tính của chủng tửNghe mp3Xem
072013-12-08Sự khế cơ và làm mới đạo BụtNghe mp3Xem
082013-12-12Tính chất hữu cơ (vô kí, y tha) của chủng tửNghe mp3Xem
092013-12-15Không trong cũng không ngoàiNghe mp3Xem
102013-12-19Những công dụng của tàng thứcNghe mp3Xem
112013-12-22How to enjoy the practice

(Pháp thoại bằng tiếng Anh)

Thông dịch Tiếng Việt mp3Xem
122013-12-24What do you want to do with your life

(Pháp thoại bằng tiếng Anh)

Thông dịch Tiếng Việt mp3Xem
132013-12-29The living Dharma is in the Shangha

(Pháp thoại bằng tiếng Anh)

Thông dịch Tiếng Việt mp3Xem
142013-12-31Xmas-Eve-DharmaTalk

(Pháp thoại bằng tiếng Anh)

Thông dịch Tiếng Việt mp3Xem
152014-01-05Thảnh thơi, tự do và tình huynh đệNghe mp3Xem
162014-01-09Để pháp thân tỏa sángNghe mp3Xem
172014-01-12Đối tượng của tàng thức là tánh cảnhNghe mp3Xem
182014-01-16Tính tương đãiNghe mp3Xem
192014-01-19Tam cảnh, tam lượngNghe mp3Xem
202014-01-23Sự tích cây nêu – Những tính chất của chủng tửNghe mp3Xem
212014-01-26Những tính chất của chủng tử (tt)Nghe mp3Xem
222014-01-30Bình thơ đêm giao thừaNghe mp3Xem
232014-02-06Mạc na là TìnhNghe mp3Xem
242014-02-09Con đường thực tậpNghe mp3Xem

Tài liệu

Tóm lược những ý chính của Khóa tu Mùa Đông 2013 – 2014
51 Tâm hành .PDF.DOC
30 Bài tụng Duy Thức .PDF.DOC
50 bài tụng Duy Biểu .PDF .DOC
50 Verses on the Consciousness .PDF.DOC
50 verses in chinese (唯表五十頌) .PDF.DOC

 


 

Tham dự pháp thoại trực tuyến:
http://www.youtube.com/plumvillage

Để xem lại các pháp thoại đã phát xin vào:

Youtube Ban Biên Tập Làng Mai  (Pháp thoại Tiếng Việt các khoá giảng từ năm 1997 đến 2005 của Sư Ông Làng Mai)
https://vimeo.com/thuvienlangmai (ngôn ngữ gốc)
http://vimeo.com/plumvillage/videos (thông dịch sang tiếng anh)

Pháp thoại năm 2013

Nhấp chuột phải vào liên kết, chọn “Save Link As…” để tải về.

 

Khoá tu tại Thái Lan 2013

Pháp thoại ngày 24 tháng 04 năm 2013.  <<.mp3>> <<Xem Video>>

Pháp thoại ngày 25 tháng 04 năm 2013.  <<.mp3>> <<Xem Video>>

Pháp thoại ngày 26 tháng 04 năm 2013.  <<.mp3>> <<Xem Video>>

 

Pháp thoại Xóm Trung khoá tu Mùa Hè tại Làng Mai 2013

Pháp thoại ngày 28 tháng 07 năm 2013. <<.mp3>> <<Xem Video>>

 

Chuyến hoằng Pháp tại Mỹ năm 2013

Pháp thoại 18-08-2013: Đại học Brock, Mỹ. <<.mp3>><<Xem Video>>

Tu viện Mộc Lan <<Xem toàn bộ Video khoá tu>>

NgàyNội dungMp3 FileXem Video
19-09-2013Hướng dẫn tổng quátNghe mp3Xem
20-09-2013Bước Chân màu nhiệmNghe mp3Xem
21-09-2013Xử lý khổ đauNghe mp3Xem
22-09-2013Tiếng chuông huyền diệu- Vượt thoát khổ đauNghe mp3Xem

Tu viện Lộc Uyển  <<Xem toàn bộ Video khoá tu>>

NgàyNội dungMp3 FileXem Video
04-10-2013Hướng dẫn tổng quátNghe mp3Xem
05-10-2013Nghệ thuật hạnh phúcNghe mp3Xem
06-10-2013Trở về với hạnh phúcNghe mp3Xem
07-10-2013Vấn đápNghe mp3Xem
08-10-2013Tự tánh của mâyNghe mp3Xem

 

Pháp thoại 27-10-2013 Tu viện Kim Sơn, Mỹ. <<.mp3>> <<Xem Video>>

 

Ngày – DateNội dung – Title
________________________________________
Mp3 FileXem Video
2013-11-07Tổ Nhất ĐịnhNghe mp3Xem
2013-10-31– Bụt có trong xe không?
– Thầy kể về chuyến hoàng hóa tại Mĩ 2013
Nghe mp3Xem

 

Tham dự pháp thoại trực tuyến:
http://www.youtube.com/plumvillage

Để xem lại các pháp thoại đã phát xin vào:
https://vimeo.com/thuvienlangmai (ngôn ngữ gốc)
http://vimeo.com/plumvillage/videos (thông dịch sang tiếng anh)

 

An cư kiết đông 2012-2013 – Tri kỷ của Bụt

Nhấp chuột phải vào liên kết, chọn “Save Link As…” để tải về.

 Ngày – DateNội dung – Title
________________________________________
Flie mp3
012012-11-08Tứ Tất Đàn và Tứ Y CứNghe mp3
022012-11-11Phương pháp học PhậtNghe mp3
032012-11-15Quán hữu vô phẩm đệ thập ngũ 01Nghe mp3
042012-11-18Quán hữu vô phẩm đệ thập ngũ 02Nghe mp3
052012-11-22Kinh Chiên ĐàNghe mp3
062012-11-2512 Nhân duyênNghe mp3
072012-12-02Quán hữu vô phẩm đệ thập ngũ 03Nghe mp3
082012-12-06Niết bàn chính là con đườngNghe mp3
092012-12-09Quê hương chính là con đườngNghe mp3
102012-12-16Kinh Tuỳ Thuận Nhân DuyênNghe mp3
112012-12-20Kinh A Nậu La ĐộNghe mp3
122013-01-06Mỗi bước là trị liệu mầu nhiệmNghe mp3
132013-01-10Kinh Như Thị NgữNghe mp3
142013-01-13Năm quán yếu chỉNghe mp3
152013-01-17Kinh Sa Môn QuảNghe mp3
162013-01-20Kinh Người Áo TrắngNghe mp3
172013-01-24– Kinh Người Áo Trắng (02)
– Kinh Giáo Hoá Người Bệnh
Nghe mp3
182013-01-275 Giới – Con đường đưa tới Niết bànNghe mp3
192013-01-31Kinh Sự Thực Tập Của Một Vị Chuyển Luân Thánh VươngNghe mp3
212013-02-032 sự quyến rũ lớn trong Đạo BụtNghe mp3
222013-02-09Giao thừa- Bình thơ Phạm DuyNghe mp3

Tham dự pháp thoại trực tuyến:

http:// youtube.com/langmai

Để xem lại các pháp thoại đã phát xin vào:
https://vimeo.com/thuvienlangmai (ngôn ngữ gốc)
http://vimeo.com/plumvillage/videos (thông dịch sang tiếng anh)

An cư kiết Đông 2010-2011 (Học tiếp Kinh Nghĩa Túc)

Tải về dạng mp3

28.11.2010 Kinh Rong chơi trời phương ngoại (phần 7)
02.12.2010 Kinh Rong chơi trời phương ngoại (phần 8)
05.12.2010 Kinh Rong chơi trời phương ngoại (phần 9)
09.12.2010 Kinh Rong chơi trời phương ngoại (phần 10 hết)

12.12.2010 Kinh Nơi an ổn tuyệt vời – phần 1 (Pháp Tập yếu Tụng Kinh, Viên Tịch Phẩm Đệ Nhị Thập Lục)
16.12.2010 Giáo lý cơ đốc cần vượt thoát nhị nguyên
19.12.2010 Kinh Nơi an ổn tuyệt vời – phần 2

06.01.2011 Kinh Nơi an ổn tuyệt vời – phần 3
09.01.2011 Kinh Nơi an ổn tuyệt vời – phần 4
13.01.2011 Kinh Nơi an ổn tuyệt vời – phần 5
16.01.2011 Kinh Nơi an ổn tuyệt vời – phần 6
20.01.2011 Kinh Nơi an ổn tuyệt vời – phần 7
23.01.2011 Kinh Nơi an ổn tuyệt vời – phần 8

27.01.2011 Chánh Niệm-thuốc an thần tốt nhất; Sự tích ông Táo, cây nêu
30.01.2011 Nhu yếu hiểu – nhu yếu thương
02.02.2011 Bình thơ giao thừa

10.02.2011 Kinh Nơi an ổn tuyệt vời – phần 9

13.02.2011 Kinh Hương Hoa – phần I  văn bản: Kinh Hương Hoa
17.02.2011 Kinh Hương Hoa – phần 2