- Thở chánh niệm
- Ngồi thiền để làm gì?
- Mỉm cười chánh niệm
- Để Bụt thở
- Nghe chuông
- Thiền đi
- Ăn cơm chánh niệm
- Thiền buông thư
- Thiền điện thoại
- Thiền lái xe
- Thiền tắm
- Thiền sỏi
- Thiền Quýt
- Thiền trà Làng Mai
- Thiền ôm với cây
- Nghỉ ngơi và dừng lại
- Im lặng hùng tráng
- Chăm sóc em bé trong tự thân
- Mười động tác chánh niệm
- Làm mới
- Sử dụng ái ngữ và lắng nghe sâu
- Bốn câu linh chú
- Điều phục cảm xúc mạnh
- Hiệp ước sống chung an lạc
- Thực tập Làm Mới giữa cha mẹ và con cái
- Viết thư cho người thương
- Ngày của Hôm nay
- Ngày làm biếng
Sao cho muôn dặm một nhà
Câu hỏi: Con muốn hỏi cụ Nguyễn Du là ước muốn lớn nhất trong cuộc đời của con và ước muốn của mọi người trong gia đình con năm nay có thực hiện được hay không? Năm nay con có một gia đình nhỏ của riêng con, con xin cụ Nguyễn Du là gia đình nhỏ của con có thể có thêm một thành viên mới hay không?
Cụ Nguyễn Du cho chị câu 81:
Sao cho muôn dặm một nhà
Mười lăm năm ấy bây giờ là đây
Sư Ông giải Kiều:
Mình nghĩ là có một đứa con thì mình sẽ rất hạnh phúc. Đó chỉ là ý nghĩ, là ý niệm của mình về hạnh phúc. Mình tự thuyết phục mình. Mình nghĩ rằng cái mà mình đang có bây giờ chưa đủ hạnh phúc. Có một đứa con thì mình mới thực sự hạnh phúc. Đó chỉ là một ý nghĩ.

Có khi đứa con có đó rồi nhưng chưa chắc nó đã đồng ý biểu hiện liền. Đôi khi bố mẹ và đại gia đình chưa sẵn sàng. Mình là một con chim thì mình chỉ muốn đến với một khu vườn có trái ngọt, cây lành. Tôi cũng là một con chim như tất cả những con chim khác, suốt đời muốn tìm tới một khu vườn có trái ngọt cây lành. Thành ra vấn đề chính là mình phải làm cho khu vườn của mình thành một khu vườn rất đẹp, có trái ngọt, cây lành thì con chim sẽ tới, còn nếu không thì con chim đó sẽ nói: Con chưa có tới, con muốn chờ đợi, con chưa sẵn sàng.
Vì vậy sao cho muôn dặm một nhà nghĩa là làm sao để cho trong đời sống lứa đôi có sự đồng tâm nhất trí, thuận vợ thuận chồng. Buổi sáng cũng có niềm vui, buổi trưa cũng có niềm vui, buổi tối cũng có niềm vui và hai vợ chồng có cùng chung một lý tưởng chứ không phải chỉ làm đủ tiền để trả tiền nhà, tiền điện, tiền nước. Những cái đó không đủ. Những tiện nghi về vật chất, tình cảm chưa đủ. Phải có một lý tưởng làm chất keo sơn để hai người làm thành một.
Khi mình đi lấy chồng hay lấy vợ, mình không còn tương lai riêng nữa, mình phải có tương lai chung. Mình đã có tương lai chung chưa? Mình đã đồng ý với nhau về giấc mơ chung của hai người chưa, hay mỗi người có một giấc mơ riêng? Nếu thầy là một con chim thì thầy không có muốn đến một khu vườn như vậy. Thầy sẽ tìm đến một khu vườn nào có trái ngọt cây lành, có sự hòa thuận, có hạnh phúc thực sự. Em bé luôn luôn có đó nhưng đôi khi nó chờ. Vậy nên cụ Nguyễn Du có dặn là trước tiên gia đình mình phải sống như thế nào để có hạnh phúc, có sự hòa hợp. Mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút đều có lý tưởng và mình làm cho đại gia đình cũng có được cái đó. Đó là chuyện quan trọng nhất.
Ngày xuân lắm lúc đi về với xuân
Câu hỏi: Cũng như nhiều bạn trẻ, con đang đứng trước ngưỡng cửa của chuyện lập gia đình hay đi xuất gia. Nếu con chọn con đường lập gia đình thì con có tu thành đạo được như con đường xuất gia hay không?

Cụ Nguyễn Du cho anh câu 202:
Thấy nhau mừng rỡ trăm bề
Ngày xuân lắm lúc đi về với xuân.
Sư Ông giải Kiều:
Câu thứ hai tuy vậy mà khó. Khó ở từ lắm lúc đi về. Lắm lúc là nhiều khi. Chữ lắm lúc có vẻ như tiêu cực chứ không phải là tích cực. Trong những ngày xuân, nếu tuổi trẻ không biết chăm sóc năng lượng của tuổi trẻ thì có thể sẽ bị nhiều dằn vặt, đau khổ. Mình có tuổi trẻ nhưng nếu mình không tu thì mình sẽ có vấn đề với tuổi trẻ, vì tuổi trẻ có nhiều bồng bột, nóng nảy, thiếu tự giác, thiếu bình tĩnh. Mình đang có tuổi trẻ. Tuổi trẻ rất quý nhưng có biết bao nhiêu người trẻ làm hư tuổi trẻ của chính mình, khổ đau với tuổi trẻ.
Lắm lúc đi về với xuân là nhiều khi cũng cực với tuổi trẻ. Lắm lúc đi về với xuân còn có nghĩa là quá mệt. Có tuổi trẻ mà không biết chăm sóc năng lượng tuổi trẻ là mệt chết với tuổi trẻ. Tuổi trẻ rất quý nhưng nếu ta không biết chăm sóc thì tuổi trẻ cũng là một vấn đề. Đó là ý của câu thứ hai. Còn tuổi già? Tuổi già cũng có cái hay của tuổi già. Tuổi già có sự đằm của tuổi già. Tuổi già giống như một dòng sông lớn đi chầm chậm, chầm chậm. Tuổi trẻ còn bồng bột nên có những khó khăn, bức xúc của tuổi trẻ.
Đi tu hay không đi tu, đó không phải là vấn đề lớn nhất. Vấn đề lớn nhất là mình phải học cách sống. Trong mỗi con người của mình đều có một ước muốn là mình gặp được người có thể hiểu được mình, thương được mình. Đó là ước muốn của mình. Nếu có nhiều người hiểu mình, thương mình thì quý rồi nhưng ít nhất phải có một người. Có những người suốt đời không có bạn, đi tìm mà không có được một người bạn. Đó là những người vô phước. Thấy nhau ở đây là gặp được một người bạn có thể hiểu mình, thương mình, có thể đi với mình suốt đời. Phải có phước đức gì đó thì mình mới gặp người bạn như vậy. Người bạn đó là người bạn thiệt. Với người đó thì mình mới không đau khổ. Có những người kết bạn với nhau nhưng sau sáu tháng hay một năm thì họ đau khổ và họ bỏ người bạn đó để đi tìm một người bạn khác. Cứ thay bạn như thay áo. Điều đó sẽ đưa đến tình trạng Ngày xuân lắm lúc đi về với xuân. Đau khổ vô cùng. Thay đổi bạn như thay đổi người yêu, như thay áo. Câu này của cụ Nguyễn Du rất sâu sắc.
Nhờ phước đức ông bà mà mình có thể gặp được, thấy được người bạn lý tưởng của mình. Cố nhiên là có những người cư sĩ tu rất giỏi, có khi giỏi hơn cả người xuất gia. Mình không kỳ thị người cư sĩ. Người cư sĩ cũng có thể tu thành được. Nhưng phải công nhận một điều là người cư sĩ tu khó hơn người xuất gia. Ở Việt Nam có câu: khó nhất là tu tại gia, khó nhì tu chợ, khó ba tu chùa. Tu chùa rất dễ vì hoàn cảnh trong chùa rất dễ cho mình tu. Có tăng thân lo cho mình, bao bọc, che chở cho mình nên tu rất dễ.
Đi xuất gia cũng giống như lập gia đình. Bên kia là lập gia đình với một người còn bên này lập gia đình với cả một đoàn thể lớn. Nhau ở đây có thể là một người mà cũng có thể là một đoàn thể lớn. Nhưng không phải chùa nào cũng có tăng thân. Có những người họ đi từ chùa này sang chùa khác, bảy, tám chục chùa mà không tìm thấy một tăng thân nào thích hợp với mình. Và cuối cùng thì tìm thấy một tăng thân thích hợp. Đó là tìm được nhau, đó là những người may mắn. Cho nên chuyện thấy nhau là một phước rất lớn. Mình gặp được người tri kỷ, gặp được người cùng lý tưởng với mình rồi thì đó là hạnh phúc lớn nhất trên đời, là mừng rỡ trăm bề. Chưa gặp thì chưa có cái đó mà hễ gặp rồi là có cái đó. Nhưng gặp rồi mà không nắm lấy cơ hội thì ôi thôi…
Vậy cho nên mình phải dùng trí thông minh của mình, mình phải nhìn lại cho kỹ. Mình phải nhìn lại những người bạn của mình, họ sống như thế nào, họ đi kiếm người tri kỷ như thế nào, họ lên xuống như thế nào. Vậy nên khi đi xuất gia cũng giống như mình lập gia đình. Mình lập gia đình với một đoàn thể và mình cam kết suốt đời không phản bội. Cụ Nguyễn Du không hề thành kiến. Cụ không nói rằng người tại gia không tu được. Người tại gia tu được chứ không phải là không. Nhưng sự thực là tu xuất gia thì dễ hơn. Vậy cho nên mình phải chọn lựa.
Ngày xuân bói Kiều
Bói Kiều là tham khảo ý kiến cụ Nguyễn Du, ni sư Giác Duyên và đạo cô Tam Hợp về tình trạng hiện tại của mình và để biết cách tu tập, tiếp xử như thế nào cho có hạnh phúc và thành công trong năm tới. ‘Thác là thể phách, còn là tinh anh’, tuy hình hài cụ Tiên Điền không còn, nhưng tinh anh của thi hào vẫn còn mãi mãi trong ta, chung quanh ta và trong sức sống của dân tộc. BBT xin được trích đăng một số câu bói Kiều trong dịp Tết Giáp Ngọ tại Làng Mai.
Tài liệu Bói Kiều >>Xem Thêm<<
Khóa tu 21 ngày 2014
Nhấp chuột phải vào liên kết, chọn “Save Link As…” để tải về.
| Ngày – Date | Nội dung – Title ________________________________________ | Ngôn ngữ gốc Original | Thông dịch Translation | Xem video YouTube |
| 2014-06-03 | Dharma talk 01 | ENG.mp3 | VN.mp3 – FR.mp3 | Xem |
| 2014-06-05 | Dharma talk 02 | ENG.mp3 | VN.mp3 – FR.mp3 | Xem |
| 2014-06-06 | Dharma talk 03 | ENG.mp3 | VN.mp3 – FR.mp3 | Xem |
| 2014-06-07 | Dharma talk 04 | ENG.mp3 | VN.mp3 – FR.mp3 | Xem |
| 2014-06-08 | Dharma talk 05 | ENG.mp3 | VN.mp3 – FR.mp3 | Xem |
| 2014-06-10 | Dharma talk 06 | ENG.mp3 | VN.mp3 – FR.mp3 | Xem |
| 2014-06-12 | Dharma talk 07 | ENG.mp3 | VN.mp3 – FR.mp3 | Xem |
| 2014-06-13 | Dharma talk 08 | ENG.mp3 | VN.mp3 – FR.mp3 | Xem |
| 2014-06-14 | Dharma talk 09 | ENG.mp3 | VN.mp3 – FR.mp3 | Xem |
| 2014-06-15 | Dharma talk 10 | ENG.mp3 | VN.mp3 – FR.mp3 | Xem |
| 2014-06-17 | Dharma talk 11 | ENG.mp3 | VN.mp3 – FR.mp3 | Xem |
| 2014-06-19 | Dharma talk 12 | ENG.mp3 | VN.mp3 – FR.mp3 | Xem |
| 2014-06-20 | Dharma talk 13 | ENG.mp3 | VN.mp3 – FR.mp3 | Xem |
| 2014-06-21 | Dharma talk 14 | ENG.mp3 | VN.mp3 – FR.mp3 | Xem |
Nơi gửi gắm niềm tin
Người nghệ sĩ ngoài đời sáng tác ra những bài thơ bản nhạc vì họ có những niềm đau nỗi nhớ trong lòng. Khi một bài thơ đẹp hay một bản nhạc hay của người nghệ sĩ được sáng tác ra thì sẽ có nhiều tâm hồn đồng cảm mượn nó để ru những niềm đau nỗi nhớ của mình. Ai mà không có những nỗi nhớ niềm đau? Cho nên người ta tiêu thụ thơ và nhạc nhiều lắm.
Trịnh Công Sơn từng viết nhiều bản tình ca rất hay, khiến cho bao người sử dụng để vỗ về niềm đau của họ. Nếu mình không thích nhạc Trịnh Công Sơn nghĩa là mình không có những nỗi nhớ niềm đau ấy trong lòng. Trịnh Công Sơn đã trải qua nhiều nỗi đau. Những mối tình của ông thường rất ngắn ngủi. Đối với Trịnh Công Sơn thì tình yêu vốn mong manh sương khói và dễ chết yểu, trong khi đó thì tình bạn lại bền vững, đem đến cho mình niềm vui và sức khỏe. Niềm vui của Trịnh Công Sơn là được ngồi hát cùng bạn bè. Cái mà ông được thừa hưởng trong cuộc đời chính là tình bạn. Trịnh Công Sơn cũng từng có cơ hội được gần gũi với các vị xuất gia, từng được nghe kinh nên thỉnh thoảng trong nhạc Trịnh có phảng phất âm hưởng của tiếng kinh.
Thời bấy giờ, người thanh niên Việt Nam có những thao thức mà không nói lên được. Đó là ước muốn chấm dứt cuộc chiến tranh vô nghĩa mà trong đó người Việt phải buộc lòng giết nhau bằng ý thức hệ và vũ khí nước ngoài. Trong số những người thanh niên ấy có Trịnh Công Sơn. Thỉnh thoảng Trịnh Công Sơn cũng nói ra được một vài điều, do đó có khi nhạc của ông được gọi là “nhạc phản chiến”.
Những bài nhạc nổi tiếng thời tiền chiến như bài “Bến xuân” của Văn Cao, cũng là để ru những nỗi nhớ niềm đau của mình. Trong bài “Bến xuân”, Văn Cao tưởng tượng mình có một ngôi nhà bên bờ suối và có người yêu đến thăm mình. Chuyện này chưa từng xảy ra. Ao ước trong đời thực không được thỏa mãn nên nhạc sĩ phải đưa nó vào thi ca. Khi bài hát này ra đời, có rất nhiều người sử dụng để ru những ước vọng của mình. Người thanh niên nào lớn lên mà không khao khát yêu thương và được yêu thương? Nhưng người có hạnh phúc trong tình yêu thì ít mà người gặp khổ đau trong tình yêu thì lại rất nhiều, tại vì cả mình và người kia đều chưa biết cách yêu thương.
Hãy nghe bài thơ sau đây của nhà thơ Đàm Thị Lam Luyến:
Nếu ta gửi tình yêu vào một nơi chân thật
Thì tình yêu của ta sẽ thành hương thành mật
Gửi tình yêu vào đất được hoa trái đầy cành
Gửi lên trời cao rộng sẽ được ngọn gió xanh
Ta trao cả cho anh một tình yêu cháy bỏng
Như một cánh buồm xinh hiến mình cho biển rộng
Ta đã gửi cho anh cả con tim dào dạt
Và anh trả cho ta nỗi buồn đau tan nát
Ta muốn ôm cả đất, ta muốn ôm cả trời
Mà sao không ôm trọn trái tim một con người?
“Nếu ta gửi tình yêu vào một nơi chân thật”: Yêu nghĩa là đầu tư trái tim của mình vào một nơi, nếu mình đầu tư lầm thì mình mất hết vì mình chỉ có một trái tim. Bài thơ này đã được nhà thơ Thuận Yến phổ nhạc.

Đây là một bài thơ khác của nhà thơ Trần Quang Quý. Anh chàng này may mắn hơn, không bị người yêu phụ bạc nhưng vẫn thấy tình yêu đó không đủ cho mình. Là một chàng trai trẻ anh cần có không gian lớn hơn để vẫy vùng và anh thấy tình yêu của mình giống như cái mạng nhện và con nhện chỉ đi quanh quẩn trong mạng nhện đó mà không ra khỏi được, dù cái mạng nhện có trung kiên với mình. Anh là người may mắn trong tình yêu nhưng anh vẫn chưa thỏa mãn với tình yêu ấy:
Lối về nhỏ căn nhà ta bé nhỏ
Một tiếng guốc khua cũng đủ chật rồi
Em nấu bếp nhìn anh trong mắt ướt
Thế là chiều Hà Nội bớt lang thang.
Có lẽ là cô nàng đang nấu bếp và khói làm cho mắt ướt chứ không phải là cô khóc. Mình là một trong số những người may mắn vì mình đang có một tổ ấm, có một nơi để về, có một trái tim chờ đợi mình ở nhà. Nhưng điều ấy đã đủ chưa?
Đâu những tòa nhà cao ánh đèn cao áp
Mái nhà con vừa khép đủ chúng mình
Ta bỗng thấy thương hơn từng con nhện
Đi suốt đời một mảnh tơ riêng
Em vất vả, gầy hơn, đêm ít ngủ
Lo cho anh chi chút lúc lên đường
Một viên thuốc năm ba lần căn dặn
ốm đau tan từ một lời thương
(Người vợ này rất chăm lo cho chồng, cô dặn đi dặn lại anh nhớ phải uống viên thuốc này nhé, dặn tới năm lần. Có lẽ hết bệnh không phải nhờ viên thuốc mà là nhờ cái ân cần của người kia.)
Anh nghèo lắm có gì đâu ngoài sách
Có gì đâu gia tài chẳng ngoài em
Ô cửa hẹp mặt trời thăm thẳm quá.
Một ngôi sao thả lỏng giữa xa mờ
Và đây, hai câu thơ cuối giống như một sự quyết định, không biết cái gì sẽ xảy ra:
Anh bất chợt nhìn em bất chợt
Ô cửa này rộng mở anh đi.
Trong bài thơ của Đàm Thị Lam Luyến, mình cần ghi nhớ rằng mình chỉ có một trái tim, làm sao để mình gửi trái tim ấy vào đúng nơi đúng chỗ, tại vì thương yêu là một sự đầu tư lớn, đầu tư nhầm chỗ là mình sạt nghiệp, thế nên phải cẩn thận lắm. “Nếu ta gửi tình yêu vào một nơi chân thật”, nhưng biết đâu là nơi chân thật? Đôi khi lời nói kia rất đường mật nhưng có sự giả dối. Anh chàng có thể đã nói điều đó với nhiều cô rồi, nhưng mình không biết, lại cứ tưởng mình là người duy nhất được nghe câu nói đó.
Người đi xuất gia cũng muốn tìm nơi gửi gắm trái tim của mình. Bài thơ “Tìm Nhau” cũng nói về tình yêu. Đi tìm ở đây là sự đi tìm chính mình. “Con đã đi tìm Thế Tôn”, nhưng kỳ thực là con đã đi tìm chính con. Mình chưa biết mình là ai. Đây là một quá trình đi tìm kiếm. Khi mình biết được mình là ai thì mình có bình an, hạnh phúc. Trong bài thơ có câu “Con đã tìm ra Thế Tôn. Con đã tìm ra con” có nghĩa là vậy. Khi mình tìm ra được mình là mình tìm ra được Bụt và khi mình tìm ra được Bụt thì mình tìm ra được mình “Thế Tôn với con đã từng là một”, đây không phải là sự tìm kiếm bên ngoài mà là sự tìm kiếm bên trong.
Đất Mẹ nhiệm mầu
Vào năm 1969, lần đầu tiên mọi người thấy được hình ảnh của địa cầu nhìn từ mặt trăng tuyệt đẹp. Phi thuyền Apollo đưa ba phi hành gia lên trên mặt trăng, giữa đường các phi hành gia đã nhìn về địa cầu và chụp ảnh trái đất. Phi hành gia người Mỹ đầu tiên đặt chân lên mặt trăng là Neil Armstrong. Khi ông đặt bước đầu tiên xuống mặt trăng thì ông rất ý thức. Ông đã nói: “Đây là một bước nhỏ của con người nhưng là một bước rất lớn của nhân loại.” Sau khi được nhìn thấy bức ảnh về trái đất này, tôi đã làm một bài thơ:
An tịnh tâm hành
Trên đường lên nguyệt cầuQuay nhìn lại
Tôi thấy em
Và tôi không ngừng kinh ngạc :
Em xinh đẹp quá chừng
Em là một chiếc bong bóng nước
Nổi trên biển không gian mông mênh
Em là đại địa
Em là hành tinh xanh
Hiển nhiên và mầu nhiệm
Nhưng rất đỗi mong manh.
Tôi thấy tôi trong em
Đang bước đi những bước chân ý thức
Trên con đường đất
Hai bờ cỏ xanh
Chân nói lời nguyện ước với đất
Mắt ôm lấy bình minh
An trú trong giờ phút
Lá thu rơi, ngập cả nẻo thiền hành.
Có con sóc thập thò
Sau gốc cây
Nhìn tôi
Với một chút ngỡ ngàng trong ánh mắt
Rồi leo lên thoăn thoắt
Và ẩn mình sau một cụm lá xanh.
Tôi thấy dòng nước trong
Đang len chảy giữa khe đá trắng
Suối cười reo
Thông vi vút
Cùng ngợi ca một buổi sáng thanh bình.
Tôi cũng thấy những vùng đau nhức
Nơi con người đang kẹt thế giao tranh
Chúng ta đang làm khổ nhau
Và vung vãi tang thương trên đất
Kỳ thị
Hận thù
Tham lam
Tạo thành bao thảm khốc
Gà một nhà đã rủ nhau bôi mặt
Tiếng kêu gào thảm thiết nạn đao binh
Đại địa quê hương ta chính là ta
Này các anh các chị
Quê hương ta xinh đẹp quá chừng
Tôi muốn ôm cả vì sao xanh
Áp vào lồng ngực nhỏ
Chúng ta hãy cùng nhau hòa nhịp thở
An tịnh tâm hành
Loài người chúng ta hãy chung lưng góp sức
Chấp nhận nhau
Thương yêu nhau
Vì ta cùng thương yêu trái đất
Bởi ta biết rằng
Tình ta là tất cả
Tình ta không phải chỉ là một mảnh nhỏ
Ta là những kẻ chịu chung trách nhiệm về hành tinh xanh.
Anh chị em ơi
Sáng nay hãy truyền được cho nhau
Cái Thấy
Làm sao cho
Tình yêu lớn tượng hình.
Chủ nghĩa dân tộc đã trở thành rào cản, sự đấu tranh của các dân tộc với nhau không cho phép chúng ta có thời gian và năng lượng để thay đổi sự sống và bảo vệ hành tinh này. Thế nên bài thơ này có câu: “Tình ta không phải chỉ là một mảnh nhỏ. Ta là những kẻ chịu chung số phận của hành tinh xanh”. Mỗi nước đều coi đất nước của mình là một bà mẹ. Ở Việt Nam ta nói là Mẹ Việt Nam. Ở bên Pháp nói là La Mère Patrie. Nhưng những bà mẹ đó chỉ là một mảnh nhỏ trong khi bà mẹ lớn của chúng ta là trái đất. Hiện bây giờ các bậc thiện tri thức trên thế giới đã thấy rõ rằng sự tranh chấp giữa các nước với nhau là một rào cản lớn khiến cho chúng ta không có cơ hội bảo vệ cho hành tinh của chúng ta. Vì muốn bảo vệ nước mình nên mình cũng muốn nước mình có bom nguyên tử. Vì muốn bảo vệ nước mình nên mình cũng muốn khai thác cho đất nước mình giàu mạnh để chống lại những nước khác, vì vậy cho nên mình đang đi trên một con đường không thuận lợi cho việc cứu hộ hành tinh.
Học hạnh của đất
Có một lần Đức Thế Tôn dạy chú tiểu La Hầu La: “Con hãy học theo những đức tính của đất thì con sẽ có hạnh phúc.” Đất có tính kiên trì, bền vững, luôn trung kiên mà không phản bội. Đất không kỳ thị, đất thương yêu và ôm lấy tất cả mọi loài dù những đứa con mà trái đất sinh ra có thế nào đi nữa thì đất mẹ vẫn luôn luôn đưa hai tay đón lấy khi nó trở về. Đất có năng lực sáng tạo. Đất đã sáng tạo ra sự sống với sự hợp tác của mặt trời. Ta tự hào có biết bao vị anh hùng, nhưng đất là vị anh hùng lớn nhất đã phải chịu đựng hàng tỉ năm để tạo nên sự sống. Ta tự hào là có những nhạc sĩ tài ba, nhưng đất là nhạc sĩ tài ba nhất, những tiếng hải triều là âm nhạc, tiếng gió, tiếng mưa, tiếng lá xào xạc, tiếng chim líu lo đều là âm nhạc tuyệt vời. Chúng ta tự hào rằng có những họa sĩ tài ba, nhưng chính đất đã tạo ra những bức họa đẹp nhất. Đông sang tuyết phủ, xuân tới trăm hoa đua nở, có liễu lục đào hồng; hạ đến cây cối xanh tươi; thu về lá rực rỡ muôn màu. Rõ ràng Bồ Tát Thanh Lương Đại Địa là một họa sĩ lớn.
Vật chất và tinh thần
Trước đây khoa học cho rằng sự sống, trí tuệ và ý thức là do vật chất sinh ra. Vật chất làm ra sự sống và sự sống làm ra trí tuệ nhưng bây giờ khoa học lượng tử (quantum science) không còn thấy đất là vật chất nữa. Có những nhà khoa học nói rằng: “Ý niệm trước đây của chúng ta về vật chất là một sai lầm.” Người ta đã khám phá ra rằng vật chất là năng lượng, nó là những đợt sóng và chính tâm thức của mình cũng là năng lượng, là những đợt sóng. Tâm thức có sức mạnh rất to lớn.
Nhà bác học Albert Einstein không tin vào một đấng thượng đế đứng trên trời điều khiển và kiểm soát những gì xảy ra dưới mặt đất. Ông nói rằng: “Là một nhà khoa học tôi không tin rằng có một Thượng Đế đứng ở trên kia điều khiển nhân sự dưới này. Nói như vậy không có nghĩa là tôi không cảm động khi nhìn vào vũ trụ.” Ông nói rằng mỗi khi nhìn vào vũ trụ thì ông thấy một sự hòa điệu, một vẻ đẹp tuyệt vời khiến cho ông rung động. Ông nói: “Nếu trong tôi có một cái gì có tính cách tôn giáo thì chính là sự kính ngưỡng và rung động đó. Nếu trong tương lai có một tôn giáo mà mọi người có thể theo được thì đó không phải một tôn giáo thờ phụng một vị thần linh, sáng tạo ra vũ trụ mà đó là một tôn giáo có tính cách vũ trụ, trong đó những gì mình tin phải được chứng thực bởi những xét nghiệm của khoa học.”
Tịnh Độ hiện tiền
Tại Làng Mai chúng ta có thực tập pháp môn Tịnh Độ nhưng đối với chúng ta thì Tịnh Độ là Tịnh Độ bây giờ và ở đây. Tịnh Độ là trái đất vì khi ta lấy kính viễn vọng để soi chiếu thì chúng ta chưa tìm thấy được ở đâu một tinh cầu đẹp đẽ như trái đất, thế nên chúng ta không dại gì bỏ trái đất để đi tìm một Tịnh Độ vu vơ nào đó ở nơi khác mà chúng ta không biết có thật hay không. Tịnh Độ của Làng Mai là bây giờ và ở đây. Nếu mình biết thở, biết đi thiền hành, thì mỗi hơi thở và bước chân như vậy đem mình về với giây phút hiện tại để khám phá ra bao điều kỳ diệu. Chánh niệm là ý thức mình đang có mặt để biết những gì đang xảy ra trong ta và xung quanh ta, đó là Tịnh Độ Hiện Tiền. Nói rằng Tịnh Độ Hiện Tiền nằm ngay trên trái đất thì khoa học có thể chấp nhận được. Không ai có thể phủ nhận điều đó.
Chúng ta là một mầu nhiệm và tất cả những gì bao quanh chúng ta đều là mầu nhiệm. Những mầu nhiệm đó là do đất Mẹ sinh ra. Chúng ta đều là con của Mẹ. Các vị Bụt, các vị Bồ Tát cũng là con của trái đất. Chúng ta ai cũng có một bà mẹ đã sinh ra ta thì người mẹ ấy cũng là con của trái đất, chúng ta có một người cha sinh ra ta thì người cha ấy cũng là con của trái đất. Chúng ta có một vị thầy thì vị thầy ấy cũng là con của trái đất. Chúng ta có một vị Bụt thì vị Bụt ấy cũng là con của trái đất. Vì vậy chúng ta phải công nhận trái đất là người mẹ chung của chúng ta. Đó là Bồ Tát Thanh Lương Địa, một vị Bồ Tát rất xinh đẹp và mầu nhiệm.
Mỗi khi lao đao, hốt hoảng, buồn khổ chúng ta có thể trở về tiếp xúc với đất Mẹ, đất Mẹ sẽ ôm lấy và truyền lại năng lượng cho chúng ta. Nếu chúng ta quán chiếu cho giỏi thì chúng ta sẽ vượt thoát được sinh tử, chúng ta sẽ không bao giờ chết. Khi quán chiếu thì chúng ta sẽ thấy đất Mẹ ở trong ta và có ta trong Mẹ. Nếu Mẹ là vô sinh bất diệt thì ta cũng là vô sinh bất diệt. Chúng ta từ Mẹ mà được biểu hiện ra, rồi chúng ta sẽ trở về với Mẹ, sau đó Mẹ lại đưa chúng ta ra đời trở lại nên không có gì phải lo sợ. Quay về nương tựa trái đất là một pháp môn rất thích hợp với Phật giáo. Albert Einstein cũng nói rằng nếu có một tôn giáo có thể đóng vai trò một tôn giáo vũ trụ căn cứ trên những bằng chứng xác thực có thể đi đôi với khoa học thì đó là đạo Bụt.
Ở Làng Mai có một bài kinh mới: “Kinh ca tụng Đất Mẹ”. Bài này không những Phật tử mà cả những người không phải Phật tử cũng có thể tiếp nhận được và thấy đây là một sự thật. Khi quán chiếu ta thấy đất Mẹ có trong ta và ta có trong đất Mẹ. Ta phải thay đổi cách sống thì mới cứu được bà mẹ của chúng ta.
Có một vị vua như thế
Ở Việt Nam có phái thiền Trúc Lâm, nguồn gốc từ núi Yên Tử. Vị Tổ đầu tiên là Trúc Lâm Đại Sĩ, tức là Vua Trần Nhân Tông. Sau khi đánh tan quân xâm lăng phương Bắc, vua Trần Nhân Tông lên núi Yên Tử xuất gia, Ngài từng du hành qua rất nhiều nơi trên đất nước để gặp gỡ dân chúng. Nhà vua đi chân đất viếng thăm các miền quê để khuyên dân bỏ những tục lệ mê tín dị đoan quay về thực tập theo chánh pháp. Dân chúng biết vị xuất gia này trước đây là vua của mình nên rất cung kính và hết lòng nghe lời. Trong lúc vua con làm chính trị thì vua cha làm đạo đức. Hai cha con phụng sự đất nước bằng hai cách khác nhau. Đó là thời kỳ huy hoàng nhất trong lịch sử Việt Nam, nhân dân sống có đạo đức nên đất nước được thái bình hạnh phúc.
Nếu vị nào đã đọc sử Việt Nam hoặc đọc cuốn “Am Mây Ngủ” thì đã biết rằng vua Trần Nhân Tông có một cô công chúa tên là Huyền Trân. Để giải quyết tranh chấp biên giới với nước Chàm, vua đã đi bộ sang làm thượng khách của vua Chàm và đã hứa gả con gái cho vua Chàm. Khi ấy công chúa mới có 14 tuổi.
Hồi đó trong triều có một vị quan rất giỏi về văn học tên là Lý Đạo Tái có tài ngoại giao và ứng đối rất giỏi nhờ văn chương lỗi lạc của mình. Lý Đạo Tái làm quan được hai ba năm thì đi xuất gia làm đệ tử của thầy Bảo Phác với pháp hiệu là Huyền Quang. Thầy Bảo Phác cũng là đệ tử của vua Trần Nhân Tông. Thầy rất yêu quý Huyền Quang, đi đâu cũng cho đi. Một hôm thầy Bảo Phác cho thầy Huyền Quang cùng đi theo mình nghe vua Trần Nhân Tông giảng pháp. Nhà vua nhận ra thầy Huyền Quang trước đây là Lý Đạo Tái nên đã đề nghị thầy Bảo Phác cho Huyền Quang ở lại để vua nhờ biên tập những kinh điển và tác phẩm mà vua muốn để lại cho hậu thế, nhờ vậy thiền sư Huyền Quang được ở lại với vua Trần Nhân Tông, sau này trở thành tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm.
Thiền sư mê hoa cúc
Về già thầy Huyền Quang lên an dưỡng ở Côn Sơn. Lúc ấy thầy đã 77 tuổi. Thầy không thích đi giảng dạy trong dân chúng mà chỉ thích giảng dạy cho người xuất gia. Có lúc hàng ngàn tu sĩ tới theo học với thầy. Thầy Huyền Quang rất yêu hoa cúc. Ngày xưa thầy Huyền Quang trồng nhiều hoa cúc tại Côn Sơn. Trong lịch sử văn chương có những người thích hoa lan, có người thích hoa mai, có người thích trúc, v.v… nhưng thầy Huyền Quang thì lại thích hoa cúc hơn cả. Thiền sư Huyền Quang có làm một bài thơ về hoa cúc. Ông nói tuổi lớn rồi không thấy có gì hấp dẫn hết. Ngoài thì giờ ngồi thiền, tụng kinh, thổi sáo, đi chơi thì thầy trồng cúc, trồng khắp nơi, sân trước, sân sau, trên lầu, dưới lầu. Sau mỗi buổi ngồi thiền, việc đầu tiên là ra thăm vườn cúc. Mỗi khi nghĩ tới cúc là trong lòng ông rộn ràng như khi nghĩ tới người yêu vậy.
Đường nhà Tưởng Hũ tre reo gió
Vườn cảnh Tây Hồ đẹp nét mai
Nghĩa khí chẳng đồng tình chẳng hợp
Cúc hoa nở sáng khắp vườn ai
Ngàn sông không đủ thấm lòng già
Bách vịnh mai hoa vẫn kém xa
Đầu bạc ngâm hoài vần chưa ổn
Thấy hoa cúc nở rộn lòng ta.
Quên thân, quên thế, thảy đều quên
Thiền tọa giờ lâu, lạnh thấm giường
Trong núi năm tàn, không có lịch
Thấy hoa cúc nở biết Trùng dương.
Năm năm nở đúng tiết thu qua
Gió dịu trăng thanh ý mặn mà
Cười kẻ không hay hoa huyền diệu
Khi về mái tóc giắt đầy hoa.
Người ở trên lầu, hoa dưới sân
Vô ưu ngồi ngắm khói trầm xông
Hồn nhiên người với hoa thành một
Một đóa hoa vàng chợt nở tung.
Phương phi xuân sắc, trắng hay vàng
Thời tiết tùy loại, hợp sắc hương
Khi mọi loài hoa rơi chật đất
Dậu Đông, hoa Cúc vẫn chưa tàn.
I am in love with Mother Earth
Tôi cũng hơi giống thầy Huyền Quang ở điểm là rất yêu hoa cúc. Tuổi của tôi bây giờ lớn hơn tuổi của thầy Huyền Quang, nhưng đọc bài thơ này tôi thấy rất hợp ý. Có những lúc trên Xóm Thượng, hay khi ở Phương Khê, làm việc một hồi chợt nhớ tới ở ngoài kia có trăng, có trúc, có con đường thiền hành thì trong lòng rộn lên, tôi đặt bút xuống, choàng áo và đi ra ngoài. Giây phút ấy đem lại cho tôi rất nhiều hạnh phúc. Mỗi buổi sáng thức dậy, sau khi rửa mặt, mặc áo khoác lên rồi đi bộ từ thất Ngồi Yên lên thiền đường, mỗi bước chân như vậy giúp mình tiếp xúc với thiên nhiên, trăng sao, cây cối, hạnh phúc vô cùng. Tôi có viết một bức thư pháp: “I am in love with Mother Earth” (Tôi yêu Đất Mẹ). Giống như một chàng trai trẻ khi nghĩ tới người yêu thì lòng rộn ràng lên, tôi cũng vậy, tôi đầu tư vào trái đất. Bồ Tát Thanh Lương Đại Địa đã đem đến cho tôi biết bao hạnh phúc. Đầu tư vào vị đại Bồ Tát này là chắc ăn nhất.
Chúc các vị trong tăng thân một năm mới đầy bình an và hạnh phúc.
Ngỡ bây giờ là bao giờ

Tiếp xúc với cội nguồn
Chúng ta rất may mắn được ngồi với nhau như một gia đình tâm linh trong giờ phút cuối năm này. Chúng ta ngồi với nhau trong tình huynh đệ. Tết là một dịp để ta kết nối lại với tổ tiên. Cây có cội, sông có nguồn và con người thì có tổ tiên. Trong buổi thiền tọa hôm nay chúng ta đã kết nối được với tổ tiên. Chúng ta biết tổ tiên đang có mặt trong từng tế bào cơ thể. Một người mất gốc, một người bị cắt đứt liên hệ với tổ tiên không thể là một người có hạnh phúc. Cũng như cây không có gốc rễ thì cây không thể sống, nếu chúng ta không tìm tới gốc rễ thì chúng ta không sống được. Tết là một dịp để chúng ta tìm về nguồn và tiếp cận được với gốc rễ của mình.
Thắp hương trên bàn thờ tổ tiên không phải là một hành động mê tín
Ở các nước Á Châu cũng như ở Tây phương, người ta nghĩ có hai cõi: Một cõi gọi là cõi âm, là nơi mà những người đã chết đang sống (the Nether World) và một cõi gọi là cõi dương, là nơi chúng ta đang sống bên này. Hình như đây là một tín ngưỡng có tính cách phổ quát trên thế giới. Hầu hết chúng ta đều nghĩ có một cõi mà trong đó chúng ta đang sống và sau khi chết thì chúng ta đi sang cõi kia gọi là cõi âm. Và chúng ta tìm đủ mọi cách để thiết lập sự liên lạc giữa cõi dương và cõi âm.
Người Á Châu gọi cõi âm là cửu tuyền hay chín suối (the World of Nine Sources). Người ta cũng gọi nơi đó là suối vàng, và chúng ta thao thức muốn thiết lập liên hệ với cõi đó để có thể nói chuyện với tổ tiên, với ông bà cha mẹ đã khuất.
Ở Việt Nam, chúng ta có phong tục thờ cúng tổ tiên. Mỗi nhà, dù có nghèo đế đâu đi nữa thì cũng có một bàn thờ để thờ ông bà. Trên bàn thờ có một bình hương, và có thể cũng có hình ảnh của một người đã khuất bóng như là ông nội, ông ngoại, bà nội, bà ngoại, người đại diện cho cõi âm. Từ mấy ngàn năm nay chúng ta thực tập tiếp xúc với cõi đó bằng cách là mỗi ngày chúng ta tới trước bàn thờ tổ tiên, đốt một cây hương và cắm lên bát nhang. Công việc này mất khoảng một hay hai phút, nhưng ngày nào chúng ta cũng dâng một cây hương lên bàn thờ. Trong giờ phút đó chúng ta có cơ hội tưởng nhớ và thiết lập liên hệ giữa chúng ta với ông bà tổ tiên ở cõi bên kia.
Có một lần tôi thuyết trình ở Học Viện Chính Trị Hồ Chí Minh. Trong số người tham dự có rất nhiều nhà khoa học và lý thuyết gia Marxist. Tôi nói rằng: Hành động tới trước bàn thờ đốt một cây hương, tiếp xúc với tổ tiên không phải là một hành động mê tín mà là một hành động rất khoa học. Trong khi chúng ta lau bụi trên bàn thờ tổ tiên, trong khi chúng ta đốt một cây hương và cắm vào bát hương thì lòng của chúng ta hướng về tổ tiên. Như vậy chúng ta làm cho vững mạnh sự liên hệ của của mình với tổ tiên. Sức khỏe của con người, nhất là sức khỏe tâm thần tùy thuộc ở chỗ ta có gốc rễ hay không. Con người không có gốc rễ là một con người không lành mạnh. Vì vậy mỗi ngày ta để một hay hai phút tiếp xúc với tổ tiên là để củng cố và làm vững chãi lại sự liên hệ giữa ta và tổ tiên. Đó là một hành động rất khoa học giúp ta giữ vững được sức khỏe tâm thần. Vì vậy các ngài đừng cho đó là một hành động mê tín.
Đốt vàng mã không phải là một hành động mê tín
Một nhà khoa học nói: Chuyện đốt vàng mã quả thật là mê tín!
Tôi nói: không phải! Có một tâm tình nào đó nằm dưới hành động đốt vàng mã, tiền bạc, nhà cửa, xe hơi, máy tính để những người bên cõi âm có mà sử dụng. Bề ngoài trông như mê tín nhưng bên trong có chứa một tâm tình rất đẹp. Tại sao người ta làm như vậy? Tại vì người ta tưởng nhớ, thương tiếc những người thương đã qua đời. Đó là phương cách để biểu hiện những tâm tình rất tốt đẹp như sự hiếu thảo, sự thương nhớ. Những đức tánh đó rất là quí mà nếu để mất đi thì con người không còn văn minh nữa và đau khổ rất nhiều. Vì vậy hành động bề ngoài trông như mê tín dị đoan như đốt vàng mã, đốt tiền giấy đó chất chứa một cái gì rất là cao đẹp của truyền thống. Đó là sự tưởng nhớ tổ tiên, cội nguồn.
Vì vậy trong khi chưa tìm ra được phương pháp khác mà quí vị lại bắt người ta bỏ phương pháp đốt vàng mã thì đồng thời quí vị cũng làm cho người ta bỏ đi những cái đẹp trong tâm hồn của họ.
Tìm những phương thức để thay thế
Năm 1962 tôi viết đoản văn “Bông hồng cài áo”. Những sinh viên của các trường đại học Sài Gòn đã tổ chức lễ “Bông hồng cài áo” đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Đó là một hành động rất đẹp! Chúng ta làm một cái lễ rồi mời bố mẹ tới và tỏ bày lòng hiếu thảo của mình. Mỗi người sẽ được cài lên hai bông hoa, nếu bố mẹ còn sống thì mình được cài hai bông hoa màu hồng, nếu một trong hai người đã chết thì mình được cài một bông màu hồng và một bông màu trắng, và nếu hai người đều mất rồi thì mình được cài hai bông màu trắng. “Bông hồng cài áo” cũng là một nghi lễ nhưng không có vẻ mê tín. Từ năm 1962 đến nay cũng đã nửa thế kỷ rồi, lễ “Bông hồng cài áo” đã thay thế được một phần nào cho tục đốt vàng mã, v.v…
Tôi nói với các nhà khoa học và các lý thuyết gia Marxist tại Học Viện Chính trị Hò Chí Minh: “Chừng nào quí vị chưa tìm ra được những phương thức mới để nuôi dưỡng những tình cảm đẹp đẽ đó thì quí vị đừng nên bài bác những cái mà dân chúng đang làm”. Và các vị đã thấy được điều này. Trước đó các quan chức rất sợ đốt nhang, sợ người ta thấy mình đang khấn vái trước bàn thờ. Nhưng sau buổi gặp gỡ đó thì các nhà chính trị ở Việt Nam bắt đầu công khai thờ cúng tổ tiên và thắp hương trước quần chúng. Rất là hay! Khi dự hội đền Hùng, Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ đều đứng ra thắp hương một cách thoải mái mà không sợ người ta cho là mê tín dị đoan. Đó là một trong những đóng góp của chuyến về năm 2005 của Thầy và tăng đoàn Làng Mai.
Hai cõi chỉ là một
Tại Làng Mai, chúng ta đi sâu vào trong giáo lý đạo Bụt. Chúng ta đã khám phá ra rằng hai cõi đó, cõi âm và cõi dương, thật ra chỉ là một cõi mà thôi. Có một dòng sông, nhưng không có sự chia cách. Nếu biết cách ta có thể tiếp xúc với người thương, cha mẹ, tổ tiên ngay trong giây phút này mà không cần phải đi qua cõi kia. Khoa học cũng đi trên con đường đó. Khoa học cũng tìm cách để nối lại những hố ngăn cách. Ngày xưa người ta tưởng vật chất và năng lượng là hai cái khác nhau và vật chất không phải là năng lượng, năng lượng không phải là vật chất. Nhưng bây giờ khoa vật lý học đã tìm ra sự thật, đã nối kết được và nói rằng: Vật chất và năng lượng không phải là hai cái tách rời nhau ra mà có. Năng lượng có thể trở thành vật chất và vật chất có thể trở thành năng lượng. Đó là luật bảo tồn năng lượng của nhiệt động học. Như vậy là không còn ranh giới giữa năng lượng và vật chất. Khoa học đã có cái nhìn bất nhị (non-dualistic) giữa vật chất và năng lượng.
Khoa học cũng đã khám phá ra rằng giữa từ (magnétisme) và điện (électricité) cũng không có ranh giới. Từ chính là điện và điện chính là từ. Hai cái là hai mặt của cùng một thực tại. Có một dòng sông, nhưng không có ranh giới giữa bên này và bên kia. Âm thanh và không khí cũng không phải là hai cái khác nhau. Khi những phân tử của không khí rung động thì tạo nên âm thanh, vì vậy âm thanh và không khí là một. Sức nóng và vật chất cũng vậy, những phân tử của vật chất di động mạnh tạo thành sức nóng. Khi chúng ta nấu nước trong microwave thì những phân tử nước di động rất mau, chạy như điên nên tạo ra sức nóng. Vì vậy sức nóng và vật chất là một thứ.
Khoa học đang đi trên con đường thống nhất và lấy ra rất nhiều ranh giới giữa cái này và cái kia. Xưa nay từ mấy ngàn năm chúng ta cứ tưởng trời và đất là hai thực tại khác nhau. Ta tưởng tượng trên trời có một triều đình, triều đình đó lo chuyện trên trời nhưng đồng thời cũng lo chuyện dưới đất. Thiên (trời) và địa (đất) khác nhau. Nhưng khi tìm ra được luật “hấp dẫn phổ biến” (gravitation universelle) thì chúng ta biết rằng cả trời và đất đều bị luật đó cai quản. Chúng ta tìm ra sự thật là trời ở ngay dưới đất và đất ở ngay trong trời. Trời là một phần của đất và đất là một phần của trời. Hãng Air France có câu quảng cáo rất hay, không biết do thi sĩ nào đã làm ra: Faire du ciel le plus bel endroit de la terre. Làm cho trời trở thành một nơi đẹp nhất của đất. Như vậy đất và trời không phải là hai cái, đất và trời là một, không có ranh giới giữa đất và trời.
Nếu học Phật và đi cho sâu thì chúng ta thấy không có ranh giới giữa cõi âm và cõi dương. Nhìn kỹ cõi dương ta thấy cõi âm nằm ngay trong đó, và ta có thể sờ mó, liên hệ hay nói chuyện được với những người ở cõi âm.
Có bao giờ quí vị đã nhìn kỹ một đám mây chưa? Đám mây có màu vàng, màu hồng, màu trắng hay màu đen. Một lúc nào đó đám mây biến thành một cơn mưa, và chúng ta nói rằng đám mây chết. Ta nói đám mây chết tại vì chúng ta không còn thấy đám mây trên trời nữa. Nhưng đám mây thật sự không bao giờ chết. Đám mây chỉ trở thành tuyết hay thành mưa mà thôi. Đám mây đi luân hồi. Nhìn cho kỹ chúng ta có thể nói chuyện với đám mây: " Đám mây ơi, ta biết nhà ngươi sẽ không chết! Nhà người sẽ trở thành tuyết, thành mưa, thành nước đá, nhưng nhà ngươi không bao giờ có thể chết được. Ngày mai nếu nhà ngươi không có mặt trên trời thì ta cũng sẽ không than khóc tại vì ta biết nhà ngươi không bao giờ chết, và ta có thể tìm ngươi trong hình thức mới là tuyết hay là mưa hay là dòng sông". Đó là sự quán chiếu.
Các nhà khoa học cũng biết như vậy. Họ đã tìm ra luật bất sinh bất diệt của vật chất và năng lượng. Luật thứ nhất của nhiệt động học nói rằng chúng ta không thể nào sáng chế ra hay tiêu diệt được năng lượng và vật chất. Vật chất có thể trở thành vật chất khác, vật chất có thể trở thành năng lượng, năng lượng có thể trở thành năng lượng khác và năng lượng có thể trở thành vật chất nhưng bản chất của năng lượng và vật chất là không sinh cũng không diệt. Đó là điều chúng ta đọc trong Tăm Kinh Bát Nhã: Tự tánh của các pháp là không sinh không diệt, không thêm không bớt. Điều này rất là khoa học!
Cầu cơ, lên đồng
Ở Việt nam, tại vì chúng ta rất thương tiếc những người đã khuất nên ta tìm đủ mọi cách để liên lạc và nói chuyện với những người đã khuất. Chúng ta dùng nhiều phương pháp, trong đó có phương pháp cầu cơ và phương pháp lên đồng.
Trong truyền thống lên đồng có nhiều cái hay và có nhiều tính chất nghệ thuật. Lên đồng, tiếng Anh là going into trance, đã có cả ngàn năm ở Việt Nam. Chúng ta muốn liên hệ với bà mẹ núi rừng. Ở Việt nam người ta tin có một Đức Mẹ, Đức Mẹ này không phải là mẹ của chúa Jésus. Đức Mẹ này là mẹ của chúng ta lúc từ trên rừng gọi là Mẹ Thượng Ngàn hay Mẫu Thượng Ngàn (la mere savrée des forêts). Chúng ta cũng có một bà mẹ khác ở dưới nước. Không có rừng thì làm sao chúng ta sống mà không có nước thì chúng ta cũng không sống được. Vì vậy nước là một bà mẹ gọi là bà Mẹ Thoải hay Mẫu Thoải. Thoải là thủy, tức là nước. Bà mẹ rừng khi hiện ra thì luôn mặc áo màu xanh, còn bà mẹ nước thì mặc áo trắng. Ở Việt nam có nhiều đền chùa thờ hai bà mẹ đó: Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải. Nhiều khi chúng ta cầu mẹ về dạy cho ta phải sống như thế nào để có an lạc, hạnh phúc trong gia đình và trong xã hội. Vì vậy chúng ta có những cậu đồng và những cô đồng.
Người lên đồng phải ăn chay nằm đất nhiều ngày, tắm gội sạch sẽ cho thật tinh khiết để Mẫu Thượng Ngàn hay Mẫu Thoải nhập vô. Mẫu có thể ca hát, nhảy múa, ban ra những lời khuyên nhủ cho chúng ta. Chúng ta rất khao khát được nghe những lời khuyên nhủ đó. Những người khuất mặt có thể trở về để dạy cho chúng ta.
Sư cô Chân Không kể chuyện là một hôm trong gia đình tổ chức cầu cơ, cầu bố của sư cô về để nói chuyện với những thành phần trong gia đình. Sư cô hỏi bố:
– Không biết ba cất giấy khai sinh của con ở đâu mà con tìm hoài không thấy?
Bố cô trả lời và cô đi tìm được giấy khai sinh đó.
Dân Việt nam chúng ta có khuynh hướng muốn tiếp xúc với những người thương đã mất để nói chuyện.
Mỗi người tới dự buổi hầu đồng phải tắm gội sạch sẽ, mặc quần áo rất đẹp, ngồi im lặng và bắt đầu nghe nhạc. Những bài chầu văn làm cho mọi người buông bỏ hết những vướng bận của đời sống hàng ngày để tập trung tư tưởng vào thế giới huyền bí. Mọi người đều lâng lâng, và trong khung cảnh đó năng lượng tập thể làm cho thần linh nhập vào con người của cậu đồng hay của cô đồng và người đó sẽ đứng dậy múa, hát hay ban bố những đạo từ để giúp cho ta sống như thế nào để có hài hòa trong gia đình và trong xã hội. Lên đồng, tuy rằng có mê tín nhưng mà cũng có những cái đẹp, những cái hay, có đạo đức trong đó. Vì vậy quí vị đừng vội lên án những phương thức đó!

Bói Kiều ở Làng Mai
Hôm nay chúng ta nói về những kỷ niệm và hạnh phúc. Ở Làng Mai trong ba ngày Tết chúng ta có bói Kiều. Cụ Nguyễn Du, tuy không lên đồng, không nhập vào người nhưng cụ nhập vào những quẻ. Chúng ta sẽ hỏi cụ về tương lai, về hiện tại của chúng ta. Nếu ở lại Làng được ngày mồng một, mồng hai, mồng ba thì quí vị có khả năng được bói một quẻ.
Còn nhiều nợ lắm sao đà thác cho
Hồi đó Thúy Kiều được về ở với Thúc Sinh. Thúc Sinh là con quan và đã có vợ. Nhưng vì mê Kiều quá nên Thúc Sinh đem hết tiền mua Kiều về từ chốn thanh lâu để hai người được sống chung. Họ sống với nhau rất hạnh phúc được nửa năm. Ban đầu ông bố của Thúc Sinh không đồng ý, nhưng sau thấy Kiều nết na dễ thương nên ông cũng đồng ý và cuối cùng thì Kiều đã chinh phục được trái tim của ông. Hai người sống như vậy và biết rằng mình không thể nào giữ được bí mật hoài, một ngày nào đó bà vợ cả sẽ biết nên Thúy Kiều to nhỏ với Thúc Sinh:
– Anh về nói sự thật cho chị biết đi, em bằng lòng làm vợ lẻ. Anh nên về nói hết sự thật với chị cho rồi, nếu không thì sẽ không yên đâu!
Thúc Sinh nghe lời Kiều đi về nhà. Trong khi đó thì bà vợ cả đã biết, bà tìm cách bắt cóc Kiều về để làm tình làm tội. Bà sai hai tên du côn tới chỗ Kiều ở, đi rất mau bằng đường thủy. Tới nơi ban đêm chúng đốt nhà, bắt cóc Kiều bỏ lên thuyền chở về, rồi lấy một tử thi bên sông liệng vào đám cháy để gây sự nghi ngờ là Kiều đã bị chết cháy. Khi người nhà dập tắt lửa và đi tìm thì thấy một thân xác bị cháy đen. Mọi người đều tin rằng Kiều đã chết, trong khi đó thì Kiều đang còn sống. Thúc Sinh đi về thăm vợ cả và không ngờ rằng người yêu của mình đã chết. Thúc Sinh về nhà thấy vợ im lặng không nói gì cả thì nghĩ tại sao mình phải nói sự thật ra làm gì. Và Thúc Sinh cũng không nghe lời Kiều khuyên nên nói sự thật cho vợ biết. Khi Thúc Sinh quay trở lại thì thấy Kiều không còn nữa, người ta đã làm bàn thờ cho Kiều, Kiều đã đi sang thế giới bên kia. Nỗi đau của Thúc Sinh như thế nào, chúng ta có thể tưởng tượng được. Hai người mới ở với nhau được nửa năm. Sau này với Từ Hải, Thúy Kiều cũng chỉ ở được nửa năm mà thôi. Thúy Kiều cũng có những ngày tháng hạnh phúc chứ không phải không có. Thúy Kiều có được nửa năm với Thúc Sinh, người thật sự thương Kiều và Kiều cũng có được nửa năm với Từ Hải là người đàn ông thứ hai đã thương Kiều thật sự.
Thúc sinh về tới nơi nghe Thúy Kiều đã chết thì đau xót quá chừng. Kiều chết đi mà không để lại một lời nên Thúc Sinh rất khao khát muốn hỏi Kiều một câu: “Tại sao em đi mà không để lại một lời nào hết?”
Trong chúng ta cũng có người ở trong trường hợp của Thúc Sinh. Ta có một người thương tự nhiên bỏ ta đi mà không nhắn lại một lời nào. Thúc Sinh nghe đồn rằng trong vùng có một ông lên đồng, một đạo nhân có pháp thuật rất lớn. Khi nhập định ông có thể xuất hồn đi vào cõi âm để tìm linh hồn Kiều mà hỏi, và ông sẽ về báo cáo lại câu trả lời của Kiều cho Thúc Sinh. Tốn biết bao nhiêu là công sức Thúc Sinh mới mời được ông đạo nhân. Ông lập một đàn, làm phép, phủ phục, đội một cái khăn rồi xuất hồn đi vào cõi âm. Chưa tàn một cây hương ông đã trở về và báo cáo:
– Tôi đi khắp cõi âm mà vẫn không tìm được mặt mũi của Thúy Kiều. Tôi đã đi khắp nơi ở cõi âm, tôi đã điều tra mà không thấy Thúy Kiều ở đâu cả. Tôi đã tra xét thì người ta nói cho tôi biết là người này chưa chết. Người này còn tai nạn rất nhiều.
Người này nặng kiếp oan gia
Còn nhiều nợ lắm sao đà thác cho
Mệnh cung đang mắc nạn to
Một năm nữa mới thăm dò được tin
Người này dễ dầu gì mà chết, vì còn rất nhiều oan trái. Đương sự đang bị tai nạn rất lớn. Sự thật là đương sự đang bị người ta bắt về đánh đập và buộc làm đầy tớ hầu hạ trong nhà.
Cụ Nguyễn Du viết như thế này:
Gần miền nghe có một thầy
Phi phù trí quỷ cao tay thông huyền
Trên tam đảo dưới cửu tuyền
Tìm đâu thì cũng biết tin rõ ràng
Sắm sanh lễ vật rước sang
Xin tìm cho thấy mặt nàng hỏi han
Đạo nhân phục trước tỉnh đàn
Xuất thần giây phút chưa tàn nén hương
Trở về minh bạch nói tường
Mặt nàng chẳng thấy việc nàng đã tra
Người này nặng kiếp oan gia
Còn nhiều nợ lắm sao đà thác cho
Mệnh cung đang mắc nạn to
Một năm nữa mới thăm dò được tin
Trên tam đảo là ở cõi trời, dưới cửu tuyền là dưới cõi âm. Ông thầy đã nói đúng, người này chưa chết. Nhưng gia đình không tin nên vẫn tiếp tục cúng 49 ngày.
Đoạn tràng cho hết kiếp này mới thôi
Kiều chết lần thứ hai ở sông Tiền Đường. Nhiều người tưởng Kiều đã chết nhưng thật ra Kiều còn sống. Đang còn sống là một phép lạ! Thúy kiều vẫn đang còn sống, đó là một phép lạ rất lớn. Ta đang ngồi đây với thầy, với bạn. Ta đang còn sống tại vì ta đang còn thở.
Khi Thúy Kiều bị ép phải lấy ông thổ quan địa phương thì Kiều chịu không nổi nên nhảy xuống sông Tiền Đường tự tử để giữ tròn khí tiết với Từ Hải. Tuy Kiều biết là mình không có ý giết Từ Hải, mình chỉ muốn cho chiến tranh chấm dứt và trăm họ được yên vui nên mới xui Từ Hải về hàng. Nhưng Hồ Tôn Hiến là người không có đạo đức, người đã ra hàng mà còn tìm cách sát hại. Khi Thúy Kiều gặp lại Kim Trọng thì có làm 10 bài thơ, trong đó có một bài nói rằng khuyên Từ Hải ra hàng là hành trì theo chánh đạo để chấm dứt nạn đao binh chứ không phải có ý muốn giết Từ Hải. Nhưng một người mà giết kẻ đã chịu ra hàng là một người không có đạo đức. Đó là Thúy Kiều lên án Hồ Tôn Hiến. Mục đích của Kiều không phải là giết Từ Hải mà là cứu dân, nhưng vì vậy mà Từ Hải phải chết. Tuy mình không có ý giết nhưng người kia đã chết vì mình. Bài thơ đó như thế này:
Khuyên hàng là việc phải
Trong nguyên văn là chữ chánh đạo. Truyện Kiều được viết dựa trên một bản văn xuôi của Thanh Tâm Tài Nhân mà khi đọc thì ta thấy có những chi tiết không có trong Truyện Kiều. Mười bài thơ Kiều làm để tặng Kim Trọng khi hai người gặp lại nhau là một trong những tư liệu mà ta không tìm thấy trong Truyện Kiều.
Giết hàng là bất nhân
Mình làm việc phải nhưng Hồ Tôn Hiến giết người quy hàng là việc bất nhân.
Em làm theo chánh đạo
Ai ngờ chàng mệnh vong
Mình chỉ làm theo tiếng nói của lương tâm để cho dân bớt khổ, nhưng chính vì vậy mà Từ Hải phải chết. Vì vậy mặt mũi nào mà sống với người chồng khác nên Kiều chết ở sông Tiền Đường để giữ thanh danh và tỏ lòng trung kiên với Từ Hải. Khi Kiều gieo mình uống sông Tiền Đường thì tất cả mọi người đều nghĩ là Kiều đã chết. Chỉ có một người biết là Kiều chưa chết, đó là một vị sư cô tên Giác Duyên.
Lúc Từ Hải thành công Kiều có mời những vị ân nhân của mình tới để tạ ơn. Trong những vị ân nhân đó có sư Giác Duyên. Sau khi từ giã Kiều sư Giác Duyên có gặp một đạo cô tu theo đạo Lão và đạo cô này có khả năng thấy được tương lai. Sư Giác Duyên hỏi đạo cô về tương lai của Thúy Kiều. Ngày xưa Thúy Kiều đã từng xuất gia dưới pháp danh là Trạc Tuyền và được ở chùa cùng sư Giác Duyên một thời gian. Hai người rất thương nhau. Nhưng sau vì tai nạn nên Kiều bị rơi vào thanh lâu một lần thứ hai và cuối cùng thì gặp được Từ Hải. Khi được sư Giác Duyên hỏi về tương lai của Thúy Kiều thì Tam Hợp đạo cô có một bản phân tích về Kiều rất hay:
Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan
Vô duyên là phận hồng nhan đã đành
Vô duyên là không có may mắn. Thúy Kiều đẹp, thông minh nhưng không có những điều kiện may mắn.
Lại mang lấy một chữ tình
Khăng khăng mình buộc lấy mình vào trong
Đó là lời phán quyết của một đạo sư. Vì vướng víu vào chữ tình cho nên không ai trói buộc mình mà chính mình tự lấy dây trói mình mà thôi.
Vậy nên những chốn thong dong
Ở không yên ổn ngồi không vững vàng
Những chỗ thong dong là những chỗ chùa, thiền đường hay Làng Mai. Trong khi mọi người đi đứng thong dong thì mình đi như bị ma đuổi.
Ma đưa lối quỷ dẫn đàng
Lại tìm những chốn đoạn tràng mà đi
Hết nạn ấy đến nạn kia
Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần
Kiều phải làm gái giang hồ hai lần và làm đầy tớ hai lần.
Oan kia theo mãi với tình
Một mình mình biết một mình mình hay
Cái khổ đau đó không nói được với ai.
Làm cho sống đọa thác đày
Đoạn tràng cho hết kiếp này mới thôi
Đó là lời phán quyết của số mạng.
Ngày xưa Phạm Duy có viết mấy câu hơi giống như vậy:
Trăng ơi yên lặng suốt đời
Mà sao ta vẫn đứng ngồi không yên
Đứng không yên mà ngồi cũng không yên tại vì mình không có sự bình an trong lòng. Muốn có được sự bình an trong lòng là phải tu. Ta phải biết thực tập hơi thở và bước chân để làm lắng dịu những cảm xúc, những nỗi khổ niềm đau trong lòng để tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống và được nuôi dưỡng bằng những mầu nhiệm của sự sống hầu tìm ra được một hướng đi. Nếu không thì mình đi không yên mà ở cũng không yên. Ma đưa lối quỷ dẫn đàng, ma là những sầu khổ, bực tức trong ta.
Ni sư Giác Duyên nghe vậy hoảng hồn:
Giác Duyên nghe nói rụng rời
Một đời nàng hỡi thương ôi còn gì
Như vậy thì còn gì là một cuộc đời nữa? Còn gì cho mình và còn gì cho người kia, còn gì cho nhau? Nhưng đạo cô Tam Hợp nói không sao, tuy vậy nhưng trong lòng của Kiều cũng còn những hạt giống tốt, còn những thiện căn tức những gốc rễ lành mạnh mà cha ông để lại. Chính những hạt giống tốt mà tổ tiên trao lại cho Thúy Kiều sẽ cứu được Kiều.
Xét trong tội nghiệp Thúy Kiều
Mắc điều tình ái khỏi điều tà dâm
Lấy tình thâm trả nghĩa thâm
Bán mình đã động hiếu tâm tới trời
Tuy vướng vào tình ái nhưng không phạm giới tà dâm, Thúy Kiều có những điểm tích cực. Trong buổi đầu gặp gỡ, Kim Trọng muốn ép duyên nhưng Thúy Kiều nhất định không chịu. Thúy Kiều theo đúng đạo lý cổ truyền, nếu mình không giữ mình thì tình yêu không còn là tình yêu mà chỉ là nhục dục mà thôi. Sexual desire is not love, đó là giới thứ ba trong năm giới tại Làng Mai. Trong giới thứ ba của năm giới của Làng Mai nói rất rõ là tình yêu không phải là tình dục. Đêm hôm đó Thúy Kiều đã giữ được giới này và do đó Kim Trọng đã giữ được một hình ảnh rất đẹp của Thúy Kiều.
Thúy Kiều đã bán mình để lấy 300 lượng vàng chuộc cha ra khỏi vòng tù tội. Đó là chữ hiếu (lấy tình thâm trả nghĩa thâm). Kiều đã hy sinh chuyện tình để làm tròn chữ hiếu, biết rằng mình sẽ phản bội Kim Trọng nhưng Kiều phải cứu cha trước.
Hại một người, cứu muôn người. Tuy Từ Hải chết nhưng cứu được bao nhiêu ngươi khỏi phải chết vì chiến tranh. Do đó nghiệp của Thúy Kiều sẽ nhẹ đi và Kiều sẽ bắt đầu có hạnh phúc trở lại, đó là lời nói của Tam Hợp đạo cô.
Đạo cô biết trước rằng Thúy Kiều sẽ tự tử ở sông Tiền Đường và khuyên sư Giác Duyên nên tới sông Tiền Đường chực sẵn. Chỉ năm năm nửa thôi thì Thúy Kiều sẽ tự tử ở đó và Giác Duyên sẽ có cơ hội cứu được Thúy Kiều. Sư Giác Duyên tới bên sông Tiền Đường lập một cái am và thuê hai người đánh cá (Giác Duyên có một số tiền mà Thúy Kiều đã tặng ngày xưa) giăng lưới, không phải để bắt cá mà để chờ Trạc Tuyền.
Thúy Kiều đi thuyền tới chỗ đó thì sóng nổi lên đùng đùng, hỏi ra mới biết đó là sông Tiền Đường. Kiều nhớ lại trong giấc mơ ngày xưa mình gặp Đạm Tiên và Đạm Tiên đã nói rằng sau này hai người sẽ gặp lại nhau ở sông Tiền Đường. Thúy Kiều nghĩ rằng bây giờ chắc là đến lúc mình phải chết nên làm một bài thơ để lại và nhảy xuống sông tự tử. May thay lúc đó có hai ngư phủ vớt Kiều lên. Sau khi cứu được Trạc Tuyền sư Giác Duyên đưa nàng về chùa, cho xuất gia thọ 10 giới và làm sư cô trở lại. Hai người sống với nhau ở đó, bên sông Tiền Đường.
Một nhà vinh hiển riêng oan một nàng
Chỉ vài tháng sau thì gia đình của Kiều đi ngang qua đó. Họ biết tin chiến tranh đã chấm dứt và muốn tới tận chỗ để tìm hỏi tin tức của Thúy Kiều. Người ta cho biết rất rõ là Thúy Kiều có công lao như vậy mà không được đền trả còn bị ép gả cho một ông quan địa phương vùng núi. Vì vậy Thúy Kiều đã nhảy xuống sông tự tử. Gia đình của Kiều đau đớn vô cùng. Lúc này Kim Trọng đã làm quan và đã cưới Thúy Vân. Vương Quan, em trai Thúy Kiều cũng đã làm quan và cưới vợ.
Hàng Châu tới đó bây giờ
Thật tin hỏi được tóc tơ rành rành
Hàng Châu là chỗ Thúy Kiều đã tự tử. Người ta cho biết sự thật với rất nhiều chi tiết.
Rằng ngày hôm nọ giao binh
Thất cơ Từ đã thu linh trận tiền
Nàng Kiều công quả chẳng đền
Lệnh quan lại bắt ép duyên thổ tù
Nàng đà gieo ngọc trầm châu
Sông Tiền Đường đó ấy mồ hồng nhan
Sông Tiền Đường là mộ của Thúy Kiều.
Than ôi không hợp mà tan
Một nhà vinh hiển riêng oan một nàng
Lúc đó gia đình Kiều lập một đàn tràng, làm một đại trai đàng trên bờ sông để cầu siêu cho Kiều. Trong nguyên lục có một bài văn chiêu hồn rất là thấm thiết. Trong khi thầy đang lập trai đàn cúng tế thì ni sư Giác Duyên đi ngang qua. Ni sư vào xem thì thấy trên linh vị đề tên Vương Thúy Kiều. Ni sư nói:
– Quí vị là ai? Người ta đang còn sống sờ sờ mà sao lại làm trai đàn cúng người ta?
Cơ duyên đâu bỗng lạ sao
Giác Duyên đâu bỗng tìm vào tới nơi
Trông lên linh vị chữ bài
Thất kinh mới hỏi: Những người đâu ta?
Với nàng thân thích gần xa
Người còn sao bỗng làm ma khóc người?
Đây là lần thứ hai người ta cầu siêu cho Kiều trong khi nàng vẫn còn sống. Hôm nay chúng ta ngồi thiền và nói “tôi biết là tôi vẫn còn sống“ là để nhắc cho mình biết biết rằng mình vẫn còn sống và sự kiện này là một phép mầu nhiệm. Ta còn sống và đang ngồi đây với thầy, với bạn là một sự mầu nhiệm. Ta phải ăn mừng mới được!
Ngỡ bây giờ là bao giờ
Lúc đó gia đình Kiều nói với Giác Duyên:
– Ni sư ơi, đây là cha của Kiều , đây là mẹ của Kiều, đây là em gái, đây là em trai của Kiều, đây là em dâu của Kiều và đây là người yêu cũ của Kiều.
Này chồng, này mẹ, này cha
Này là em ruột, này là em dâu
Ni sư Giác Duyên nói:
– Tôi có tình bạn với Thúy Kiều, vì vậy khi Kiều tự tử thì tôi đã rước về. Chùa ở gần đây lắm, chỉ có hai cây số mà thôi. Nếu quí vị muốn tôi có thể dẫn quí vị đi gặp Kiều lập tức.
Đó là một tin quá sức là mừng, không thể nào tưởng tượng được. Bao nhiêu chuông, mõ, xôi, chuối, hương, đèn đều bỏ đi và tất cả mọi người đều theo ni sư về chùa tìm Kiều.
Quanh co theo dải giang tân (giang tân là bờ sông)
Khỏi rừng lau đã tới sân Phật đường
Giác Duyên lên tiếng gọi nàng
Buồng trong đã dạo sen vàng bước ra
Trông xem đủ mặt một nhà
Xuân già còn khỏe huyên già còn tươi
Hai em phương trưởng hòa hai
Đó chàng Kim đó là người ngày xưa
Ngỡ bây giờ là bao giờ
Rõ ràng trước mắt còn ngờ chiêm bao
Câu hay nhất là câu: ngỡ bây giờ là bao giờ. Mình không chờ đợi một giờ phút như ngày hôm nay. Hiện tại đẹp quá chừng, đẹp cho đến nỗi mình tưởng nó không có thật. Mười lăm năm, đêm nào cũng tưởng nhớ, đêm nào cũng tuyệt vọng, bữa nay tự nhiên thấy được tất cả những người mình thương đang có trước mặt.
Câu “ngỡ bây giờ là bao giờ” là một câu siêu tuyệt! Tôi đề nghị quí vị nên viết câu này treo lên tường, tại vì ta không biết trân quí những gì ta có. Ta đang sống mà không biết trân quí sự thật là mình đang còn sống. Ta cứ để phiền não, tham sân, giận hờn, tuyệt vọng chiếm ngự mình. Ta không thật sự sống được giây phút mà cuộc đời ban cho ta. Ta không có khả năng sống cái bây giờ, ta luôn nhớ tiếc cái quá khứ hay lo lắng cho cái tương lai, mà cái bây giờ rất là mầu nhiệm. Ta cứ nghĩ tới một tương lai nào đó. Bao giờ mà tôi có cái đó, bao giờ mà tôi làm được chuyện đó, bao giờ mà tôi có bằng cấp đó, bao giờ mà tôi cưới được người đó, bao giờ mà tôi có được cái nhà như vậy, bao giờ mà tôi có công ăn việc làm đó thì tôi mới có hạnh phúc. Cái “bao giờ” đó có thể không bao giờ tới. Trong khi đó thì ta hy sinh cái “bây giờ” cho cái “bao giờ”.
Cái “bây giờ” là cái rất quí báu. Với một hơi thở ta trở về với hình hài của mình và thấy hình hài này là một tặng phẩm quí giá của tổ tiên. Ta có biết trân quí hình hài này không hay ta đày đọa nó? Nếu đày đọa hình hài thì ta đày đọa cả bố mẹ mình vì bố mẹ mình cũng ở trong đó. Nếu ta đày đọa tấm thân thì ta cũng đày đọa tổ tiên vì tổ tiên cũng nằm trong đó.
Thở vào tôi biết là tôi có một hình hài, chính trong cái “bây giờ” ta biết là mình có một hình hài và ta mang theo cha mẹ, ông bà, tổ tiên trong hình hài của mình. Ta hy sinh cái “bây giờ” để đi tìm cái “bao giờ” trong tương lai, một ảo ảnh của hạnh phúc. Ở Làng Mai, luôn luôn bằng bước chân và bằng hơi thở chúng ta trở về cái “bây giờ” để chăm sóc và trân quí cái “bây giờ”, tại vì sự sống chỉ có mặt trong cái “bây giờ”. Quá khứ đã đi qua và tương lai chưa tới, sự sống chỉ có thể có mặt trong cái “bây giờ”. Vì vậy tại Làng Mai, mỗi hơi thở, mỗi bước chân phải có công dụng đem ta trở lại cái “bây giờ”.
Ngỡ bây giờ là bao giờ
Rõ ràng trước mắt còn ngờ chiêm bao
Ngày hôm nay ta đang còn sống, ta đang ngồi với người thương của mình. Ta đang có thầy, ta đang có bạn. Ta còn đòi gì nữa, tại sao ta không có hạnh phúc ngay trong giây phút này.
Bây giờ rõ mặt đôi ta
Ngay đêm đầu tiên mà Kiều và Kim Trọng gặp nhau thì Nguyễn Du đã có tuệ giác cái “bây giờ” là cái quan trọng nhất. Ngày hôm đó gia đình Kiều đi ăn giỗ bên quê ngoại. Thúy Kiều lấy cớ nhức đầu hay đau bụng gì đó để ở nhà. Khi gia đình đi rồi Thúy Kiều ra rút vài cây ở hàng rào để lẻn qua thăm Kim Trọng. Hai người chơi với nhau một thời gian, thấy đã chiều rồi nên Thúy Kiều tạm biệt Kim Trọng để về xem gia đình đã về nhà chưa. Về nhà thấy gia đình chưa về nên Thúy Kiều tiếc, đi sang trở lại. Lúc đó trăng đã bắt đầu lên. Hai người đã sống với nhau những giờ phút rất căng thẳng. Hai người đã chờ đợi lâu lắm mới có giây phút này nên mỗi giây phút đều rất khẩn trương. Kim Trọng mệt quá tại vì sống với Kiều 7, 8 giờ đồng hồ rất khẩn trương, cho nên khi Kiều trở về nhà thì Kim Trọng mệt quá gục đầu xuống ngủ. Khi Kiều trở qua thì trăng mới lên, tiếng chân Kiều bước lên sỏi làm Kim Trọng thức giấc. Nhưng trong trạng thái nửa thức nửa ngủ đó ngẩn lên nhìn thì Kim Trọng không biết có phải thật là Kiều không hay đây chỉ là một hình ảnh trong giấc mơ?
Sinh vừa tựa gối thiêu thiêu
Giữa chiều như tỉnh giữa chiều như mê
Tiếng sen sẻ động giấc hòe
Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần
Bâng khuâng đỉnh giáp non thần
Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng
Kim Trọng hỏi:
– Có phải thật là em trở lại đó không hay đây chỉ là hình ảnh trong giấc mơ của anh?
Kiều trả lời rất hay, câu này là tuệ giác của Nguyễn Du. Trong Truyện Kiều cũng có khi thi hào Nguyễn Du thuyết pháp, nhất là trong đoạn đầu và đoạn cuối. Nhưng thi hào mà thuyết pháp thì thuyết rất dỡ. Nhưng đến khi thi hào làm thơ thì rất hay, trong đó có nhiều pháp rất thâm diệu. Nguyễn Du không muốn thuyết pháp mà chỉ muốn làm thơ thôi nhưng trong thơ có những bài pháp rất tuyệt diệu. Thúy Kiều đã trả lời như thế này:
Nàng rằng khoảng vắng đêm trường
Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa
Bây giờ rõ mặt đôi ta
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao
Hai câu sau rất là thần diệu. Bây giờ rõ mặt đôi ta, tức trong giây phút hiện tại này tôi nhìn thấy anh và anh nhìn thấy tôi. Chúng ta có cơ hội để nhìn rõ mặt nhau thì chúng ta phải nhận diện sự có mặt của nhau là một điều rất là quí giá. Nếu không thì những gì xảy ra hôm nay sẽ trở thành chiêm bao mà thôi.
Người thương của ta là bố ta, mẹ ta, người bạn hôn phối của ta hay con của ta. Ta đang được sống với người đó, nhưng hôm nay ta bận rộn quá chừng, ta không có thì giờ để nhìn mặt người đó. Lúc ăn sáng ta không có thì giờ để nhìn người đó, buổi chiều đi làm về cũng không có thì giờ để nhìn người đó. Ta không có thì giờ để nhìn mặt nhau. Sống như vậy đâu có thể gọi là sống văn minh? Ta sống quá bận rộn!
Bí quyết ở chỗ là ngày hôm nay ta có thì giờ để thấy nhau, để nhìn được mặt nhau và thấy được sự có mặt của người kia là rất quí giá. Nếu hôm nay ta không làm được chuyện đó thì ngày mai tất cả đều trở thành một giấc mơ mà thôi. Như vậy thi hào Nguyễn Du khuyên ta nên trở về với giây phút hiện tại để nhận diện những gì quí giá mà hiện giờ ta đang có. Những gì ta đang có là hình hài này chưa đến nỗi dị lắm, hai mắt ta còn sáng để có thể ngắm trăng sao, hai chân ta còn khỏe có thể đi thiền leo núi với thầy. Biết bao nhiêu mầu nhiệm như vậy mà ta không nhận diện. Người thương của ta còn đó, ta có thể điện thoại hỏi thăm, ta có thể thực tập câu linh chú thứ nhất: I am here for you. Je suis là pour toi chéri. Nhưng ta không làm như vậy tại vì ta không biết được sự quí giá của “bây giờ”. Như vậy cái “bây giờ” sẽ đi qua như một giấc mộng và ngày mai chỉ còn lại giấc mơ thôi.
Bây giờ rõ mặt đôi ta
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao
Khi Nguyễn Du không thuyết pháp mà chỉ làm thơ thôi thì ông thuyết pháp rất hay. Nhưng khi thi sĩ thuyết pháp thì lại thuyết pháp rất dỡ.
Nạn xưa trút sạch làu làu
Khi Giác Duyên cứu được Thúy Kiều và hai người tu chung với nhau thì họ có một thời gian rất hạnh phúc. Cụ Nguyễn Du đã viết ra những câu rất thần diệu.
Khi vớt được Thúy Kiều lên thuyền người ta đã làm đủ cách để Thúy Kiều tỉnh dậy. Thúy Kiều tỉnh dậy thấy mình đang ngồi trên thuyền với người bạn tu là ni sư Giác Duyên.
Thấy nhau mừng rỡ trăm bề
Dọn thuyền mới rước nàng về thảo lư
Thảo lư là ngôi chùa bằng lá.
Một nhà chung chạ sớm trưa
Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng
Một nhà chung chạ sớm trưa tức buổi sáng anh cũng có em với anh, buổi sáng con có bố, có mẹ với con. Ta ý thức rằng ta đang được ở chung với nhau. Ta đang còn có nhau, đó là một hạnh phúc rất lớn.
Muối dưa chay lòng là ăn uống một cách đơn giản nhưng rất là hạnh phúc, tại vì sống nếp sống đơn giản thì ta có thì giờ để thương nhau, lo lắng cho nhau. Còn nếu muốn có đồng ra đồng vào thật nhiều thì ta làm gì có thì giờ để nhìn mặt người thương? Muối dưa chay lòng là một bí quyềt: Sống đơn giản lại để đừng mất thì giờ nhiều quá thì tự nhiên ta có “gió trăng mát mặt”. Ban đêm thì có trăng, nếu ta ở thành phố thì làm gì thấy được trăng? Hơn nữa ta bận rộn quá làm gì có thì giờ ngắm trăng? Ta không hưởng được ngọn gió tới mơn trớn mặt của mình. Thiên nhiên là một kho tàng của hạnh phúc, có trăng, có gió, có sao, có trời. Nhưng nếu ta bận rộn quá thì ta đánh mất thiên nhiên và không hưởng được những mầu nhiệm của thiên nhiên. Lòng ta đơn giản, không có lo lắng, sầu khổ tại vì ta không tham lam kiếm cho được nhiều tiền (muối dưa chay lòng).
Bốn bề bát ngát mênh mông
Tức là có rất nhiều không gian và thời gian để sống và để cho nhau.
Triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau
Mỗi buổi chiều được nghe tiếng hải triều rất hùng vĩ, mỗi buổi sáng được thấy mây dàn trước ngõ. Như vậy hai người sống rất hạnh phúc.
Chỉ có điều là Kiều nhớ nhà. Tôi nghĩ thế nào Giác Duyên cũng biết tâm trạng của Kiều. Bây giờ Thúy Kiều có tự do, được cứu sống rồi, được tu học với người sư chị một cách hạnh phúc nhưng có một điều là Thúy Kiều nhớ nhà quá. Tôi nghĩ thế nào Giác Duyên cũng giúp cho Kiều thỏa mãn được điều này. Giác Duyên là một ni sư rất giỏi, là một du tăng, vì vậy thế nào Giác Duyên cũng nói với Thúy Kiều:
– Em đừng lo, một ngày nào đó chị sẽ tổ chức để hai chị em đi du hóa và từ từ mình đi về Bắc kinh để tìm ra gia đình của em.
Chắc chắn là Giác Duyên có nói câu đó với Thúy Kiều, nhưng chưa thực hiện được thì Giác Duyên đã khám phá ra sự có mặt của gia đình Kiều bên bờ sông và hai bên đã đoàn tụ.
Nạn xưa trút sạch làu làu
Duyên xưa chưa dễ biết đâu chốn này
Tất cả những tai nạn xưa bây giờ không còn nữa.
Để trước sau như một
Hôm qua tôi có ngồi xuống dịch lại mười bài thơ mà Thúy Kiều đã làm cho Kim Trọng khi hai người gặp lại nhau sau 15 năm xa cách.
1. Nhớ năm xưa gặp chàng
Chưa biết gì về sống
Chỉ biết là nữ tính
Thì cũng có nữ tình
Nhớ lại năm xưa khi mới gặp Kim Trọng thì Thúy Kiều chưa biết gì về bản chất của sự sống, thế nào là sống và thế nào là chết. Thúy Kiều chỉ biết được một chuyện: mình là một người con gái thì tình của mình phải là nữ tình, đó cũng là điều kiện của con người (condition humaine)
2. Chiều chàng đủ mọi cách
Chỉ trừ chuyện gối chăn
Sợ rằng chỉ không thể
Tình chỉ chuyện ăn nằm
Trong buổi gặp gỡ đầu tiên Kim Trọng đòi cái gì Kiều cho cái đó. Trên tường có bức họa một cây thông mà Kim Trọng vừa vẽ xong và Kim Trọng xin Kiều làm một bài thơ đề lên bức họa thì Thúy Kiều cũng chiều ý. Khi Kim Trọng muốn Thúy Kiều đàn cho mình nghe thì Kiều cũng chiều theo Kim Trọng. Nhưng khi Kim Trọng đòi chuyện ăn nằm với nhau thì Kiều nhất định cự tuyệt. Kiếu nói: “Tình yêu không phải là nhục dục. Nếu mình làm chuyện đó thì tình yêu sẽ tan vỡ.”
Cách đây vài tuần có một ông bộ trưởng, có lẽ là bộ trưởng bộ văn hóa Ấn Độ, tuyên bố rằng: “Có liên hệ tình dục trước đám cưới là chuyện phi đạo đức". Ở Á Châu đây là một vấn đề quan trọng! Ngày xưa lễ giáo dạy chúng ta phải làm như vậy, tại vì nếu mình dễ dàng quá thì người kia sẽ khi dễ mình. Kiều đã làm được điều đó, Kiều nhất định không cho Kim Trọng đụng tới, tuy Kiều chiều tất cả mọi điều Kim Trọng yêu cầu. Kiều nói: “Nếu mình làm chuyện đó thì tình yêu tan nát và không còn sự kính nể nhau nữa. Rồi mình sẽ không nuôi dưỡng tình yêu được lâu dài.”
3. Thân này hứa cho chàng
Làm sao phản lời nguyện
Nhưng hoàn cảnh ngang trái
Vì hiếu phải phụ chàng
Một lời mình đã hứa rằng đời mình sẽ dâng cho người yêu của mình thì làm sao mình có thể đi ngược lại lời hứa đó. Nhưng vì hoàn cảnh ngang trái nên phải bán thân để cứu cha, vì vậy nên phải phụ chàng.
4. Bỏ mình để cứu cha
Cha cứu nhưng mình mất
Dù muốn vẹn khí tiết
Thì tiết có nghĩa không
Trong nguyên văn có hai chữ thân, chữ thân đầu là thâm tình, là cha còn chữ thân thứ hai là hình hài của mình. Cứu được thâm tình thì đánh mất hình hài của mình. Một bên là tiết, một bên là nghĩa. Khi bị Mã Giám Sinh làm nhục Kiều đã toan lấy dao tự tử. Nhưng tự tử lúc đó thì giữ được tiết của mình nhưng sẽ gây tai họa cho gia đình, tại vì mình cần một số vàng để chuộc cha ra khỏi tù tội. Nếu mình tự tử ngay lúc đó thì cha sẽ bị liên lụy, có tiết thì không thể có nghĩa . Vì vậy Kiều đã không tự tử lúc đó.
5. Bao năm tháng lênh đênh
Lạc loài trăm xứ lạ
Chết giữ được thanh danh
Nhưng chết nào quí hóa
6. Chốn thanh lâu ẩn nhẫn
Vui gì với bạo cường
Nếu chẳng biết chịu đựng
Thì thù xưa sao báo
7. Khuyên hàng là việc phải
Giết hàng là bất nhân
Mình làm theo chánh đạo
Ai ngờ chàng mệnh vong
Khuyên Từ Hải ra hàng là việc nên làm, là đúng với đạo lý, đúng với tâm từ bi. Nhưng khi người đã ra hàng mà mình vẫn giết người thì đó là việc làm vô đạo. Đó là lỗi của Hồ Tôn Hiến chứ không phải là lỗi của Thúy Kiều. Mình làm theo trái tim của chánh đạo nhưng tại vì người ta vô đạo nên Từ Hải phải chết.
8. Nào có ý giết chàng
Nhưng vì em chàng chết
Vì vậy sông Tiền Đường
Em quyên sinh giữ tiết
Đến sông Tiền Đường thì mình phải chết để giữ khí tiết của mình
9. Tự cam chịu phận mỏng
Trả xong nợ đoạn trường
Nhờ đức Bụt từ bi
Thân này còn giữ được
Cố gắng mà sống để trả xong nợ đoạn trường này. Nhưng nhờ ơn từ bi của đức Phật nên hình hài này chưa mất.
10. Hôm nay gặp lại chàng
Tử sinh em đã biết
Xin chàng hãy định tâm
Để trước sau như một
Em đã có kinh nghiệm, em biết thế nào là sống và thế nào là chết. Đứng về phương diện kinh nghiệm thì Thúy Kiều dày dặn, khôn ngoan hơn Kim Trọng rất nhiều. Thúy Kiều đã trải qua biết bao là khó khăn, khổ đau và đã học biết được thế nào là cái chết và cái sống.
Đêm đó là đêm oanh liệt nhất của Thúy Kiều, tại vì Thúy Kiều đã dạy cho Kim Trọng. Thúy Kiều hành động giống như đêm đầu. Cái gì Thúy Kiều cũng chiều Kim Trọng. Dù không muốn đàn nữa nhưng khi Kim Trọng muốn thì Thúy Kiều cũng đàn. Thúy Kiều làm tất cả những gì mà Kim Trọng yêu cầu trừ chuyện ngủ với Kim Trọng. Thúy Kiều nói:
– Thà chết thì thôi chứ em không thể nào ngủ với anh được. Như vậy thì sẽ giữ được tình yêu, còn nếu không thì anh sẽ trở thành kẻ thù của em. Nếu anh ép em phải ngủ với anh thì anh không phải là người thương của em nữa. Em đã đạt tới sự thanh tịnh. Tuy bây giờ em không tu dưới hình thức của một sư cô nhưng em tu dưới hình thức của một cư sĩ. Em phải giữ giới. Sở dĩ em được trong sáng, thanh tịnh trở lại là nhờ giới luật. Đứng về phương diện hình thức thì mình là vợ chồng cũng không đến nỗi nào, nhưng trong phương diện nội dung thì nếu làm chuyện đó thì mình thành kẻ thù của nhau. Anh phải chọn lựa!
Bài thơ cuối là một tối hậu thư:
– Ngày đầu gặp nhau như vậy thì hôm nay gặp nhau cũng như vậy. Như vậy thì mình có thể sống với nhau lâu dài.
Và khi nghe những lời đó thì Kim Trọng hoảng hồn nói:
– Như vậy thì em đâu phải là một người đàn bà tầm thường? Em là một vị nữ hào kiệt! Lâu nay anh đi tìm em đâu phải vì những chuyện trăng hoa mà là vì tình nghĩa.
Khi Kim Trọng chấp nhận điều đó thì Kiều đứng dậy sửa khăn áo và lạy xuống nói:
– Cám ơn anh, anh đúng là người tri kỷ của em!
Nghe pháp thoại qua youtube:
Dấu hỏi vây quanh kiếp người – Vũ Hoàng Chương
Có một bài thơ của Vũ Hoàng Chương có lẽ ít người biết đến. Đây là một trong những bài thất ngôn tứ tuyệt.
“Dấu hỏi vây quanh trọn kiếp người
Sên bò nát óc máu thầm rơi
Chiều nay một dấu than buông dứt
Đinh đóng vào săng tiếng trả lời.”
Người miền Nam và miền Trung có lẽ chưa biết chữ “săng” này. Săng có nghĩa là hòm, là cái quan tài. “Dấu hỏi vây quanh trọn kiếp người” Nếu là con người thì có tư duy. Ở Tây phương, người ta thường ví con người là cây sậy biết suy tư. Cây sậy rất yếu đuối, dễ bị tai nạn, dễ bệnh, dễ chết nhưng nó có khả năng tư duy. Trừ khi ta quá bận rộn lo làm ăn, còn lại ta thường đặt ra những câu hỏi như “ta từ đâu đến?” “Tại sao ta đến đây?” và “Sau này ta sẽ đi về đâu?” Những câu hỏi đó thường ám ảnh ta. Bao nhiêu nhà triết học, bao nhiêu nhà thơ cũng đã từng đặt ra những câu hỏi như thế, nhưng vì họ làm việc bằng trí năng nên đã không tìm ra được câu trả lời thỏa đáng. Với người có suy tư và biết nhìn sâu thì đặt ra không biết bao nhiêu câu hỏi về thân phận con người. “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi?” Rất nhiều những câu hỏi như vậy vây quanh chúng ta. Đi cũng bị chúng vây bủa, đứng cũng bị chúng vây bủa, và nằm ngủ cũng bị chúng bủa vây, vì con người là cây sậy biết tư duy. Những câu hỏi đó là những dấu hỏi bám vào óc mình như những con sên. Vì theo thi sĩ hình ảnh dấu hỏi là hình ảnh của những con sên. “Sên bò nát óc”. Trong não bộ của mình có những con sên hình dấu hỏi đang bò đi để tìm hiểu. Đó là hình ảnh của thi ca. Khi làm thơ chúng ta phải mượn hình ảnh chứ không được tuyên bố bằng những danh từ trừu trượng. Ví dụ khi buồn ta nói mây sám giăng trong hồn tôi chứ không được nói tôi buồn, nói tôi buồn thì không phải là thơ.
“Dấu hỏi vây quanh trọn kiếp người
Sên bò nát óc máu thầm rơi”.
Mẫu người tư duy thường đưa ra những câu hỏi rất dễ sợ, trong bộ não ta có những con sên đang bò suốt ngày đêm để tìm kiếm. “Sên bò nát óc máu thầm rơi”, nát óc là không tìm ra được câu trả lời. Đó là vấn đề sống chết của con người. Không phải nước mắt mà là máu, tức là chúng ta đã làm việc quá nhiều. “Máu thầm rơi”. Thấy được nỗi khổ niềm đau của con người, chúng ta muốn biết được sự thật, muốn tìm ra câu trả lời cho kiếp người, nhưng không tìm ra được, điều đó đã trở thành nỗi khổ niềm đau. Nỗi khổ niềm đau không phải chỉ của các nhà triết học, mà là của tất cả chúng ta. Và cứ như vậy mà ta sống hết ngày này qua ngày khác vẫn không tìm ra được câu trả lời cho câu hỏi nát óc đó. Cho đến một ngày kia
“Chiều nay một dấu than buông dứt
Đinh đóng vào săng tiếng trả lời”
Chết rồi nằm trong quan tài nhưng vẫn chưa có câu trả lời. Và dấu than đối lại với dấu hỏi. Dấu than không phải là hình con sên mà là hình của cây đinh đóng vào quan tài của mình. “Đinh đóng vào săng tiếng trả lời”, xác của mình đã nằm trong quan tài rồi và người ta đã đóng lại. Tiếng “binh, binh” đó là tiếng trả lời. Nói tóm lại là không có tiếng trả lời cho những câu hỏi như vậy. “Tại sao ta có mặt ở đây? Ta từ đâu tới? Ta sẽ đi về đâu? Tại sao ta phải hứng chịu tất cả những hệ lụy của kiếp người? Tại sao có quá nhiều đau khổ trong một kiếp người?” Và dụng cụ đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi đó chỉ là não bộ, là trí năng của mình. Siddhattha ngày xưa cũng đã từng đi tìm và ban đầu Siddhattha đi tìm bằng trí năng. Nhưng sau đó Siddhattha biết rằng không thể đi tới và tìm ra được câu trả lời bằng trí năng nên Siddhattha phải sử dụng cả con người của mình. Khi tu thiền chúng ta phải biết rằng ý thức không đủ để giải quyết vấn đề mà phải dùng cả tàng thức, cả thân và tâm của mình. Cho nên đi tìm câu trả lời bằng con đường của trí năng thì không thể đạt tới được, và cuối cùng chỉ có những cây đinh đóng vào săng mà thôi. Có một bài thơ trong thi phẩm Rừng Phong của Vũ Hoàng Chương là “Bài Ca Siêu Thoát”, nhưng không được siêu thoát lắm vì ông chưa tìm ra được câu trả lời mà cứ hy vọng rằng mình sẽ tìm ra và đã tìm ra.
“ Trải mấy hoang mang tìm kiếm
Lòng sao khát mái chưa vừa”
Đôi lẽ có không mầu nhiệm,
Đêm đêm ta hỏi người xưa”
Tức là ta tư duy về vấn đề hữu thế và vô thế. Đây là đề tài để suy nghĩ, ta thực sự có mặt đây hay ta đang không có mặt. Hầu hết nhà triết học nào cũng bắt đầu bằng câu hỏi này
“ Trải mấy hoang mang tìm kiếm
Lòng sao khát mái chưa vừa”
Đôi lẽ có không mầu nhiệm,
Đêm đêm ta hỏi người xưa”
Người xưa là những người đã suy tư về vấn đề có và không. Người xưa đã cống hiến kết quả suy tư của mình trên những trang giấy trắng hoặc bằng chữ Hán, hoặc bằng chữ Hy Lạp, chữ La tinh và ta chong đèn lên mỗi đêm để đọc sách triết học, đọc sách người xưa, hy vọng tìm ra được câu trả lời.
“ Đôi lẽ có không mầu nhiệm,
Đêm đêm ta hỏi người xưa”
Ban ngày ta bận rộn, ban đêm chong đèn lên để tìm kiếm.
“ Đuốc kim cổ, đây lòng ta thành kính
Hội trầm luân cùng ý thức huyền vi
Mà sáu nẻo hôn mê còn chữa định
Ta về đâu, kìa ngươi đến làm chi”.
Đuốc kim cổ là bó đuốc ngày xưa và bây giờ dùng để soi sáng cho mình. Ta sử dụng với tất cả sự thành kính của ta. Cùng thuyền, cùng hội cùng trầm luân với nhau, và cùng có ý thức đi tìm lẽ huyền vi của cuộc đời.
“Mà sáu nẻo hôn mê còn chữa định
Ta về đâu, kìa ngươi đến làm chi”
Sáu nẻo hôn mê ở đây tác giả muốn nói đến sáu đường: thiên, nhân, Atula, địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Sáu nẻo đều hôn mê hết chưa tìm thấy con đường. Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh không thấy đã đành mà con người cũng không thấy được con đường. Không những Atula mà chư thiên ở trong tam giới cũng chưa thấy được con đuờng. Ta chưa tìm ra được câu trả lời “ta sẽ đi về đâu” thì ngươi đến để làm chi? Ngươi sinh ra làm chi cho khổ? Sinh ra làm chi để cho ta phải đặt câu hỏi
“Tại sao ta phải sinh ra?
ta sinh ra để làm gì ?
Ta sẽ đi về đâu?
Ta về đâu kìa ngươi đến làm chi”
Tức là có đến và đi. Sau khi có vấn đề “hữu và vô” thì có vấn đề khứ và lai, đó là những đề tài của triết học. “Mà sáu nẻo hôn mê còn chữa định”chữa tức là chưa “ta về đâu, kìa ngươi đến làm chi”, câu hỏi đặt ra rất rõ ràng. Anh từ đâu tới và tôi sẽ đi về đâu? Tại sao chúng ta phải có mặt ở đây?
“Phải chăng muôn kiếp nặng nề
Từ hư không tới lại về không hư”
Có phải mình từ hư không tới và mình sẽ trở về hư không hay không? Lần trước chúng ta cũng nghe Trịnh Công Sơn nói tương tự như vậy, mình từ hư không tới rồi mình sẽ trở về hư không. Đó là do mình chưa tiếp xúc được với tuệ giác đạo Bụt. Tuệ giác của đạo Bụt thì không có cái gì từ không mà trở thành có và cũng không có cái gì từ có mà trở thành không. Như đám mây, đám mây không phải từ không mà trở thành có và đám mây cũng không bao giờ từ có mà trở thành không. Vì vậy tuệ giác đạo Bụt vượt thoát Hữu và Vô. Nội câu này thôi cũng đã chứng tỏ rằng trong khi viết bài thơ này tác giả chưa tiếp xúc được với nguồn tuệ giác của đạo Bụt,
“Phải chăng muôn kiếp nặng nề
Từ hư không tới lại về không hư
Lẽ nào mộng cả thôi ư,
Người ơi giọt bệ, chứa dư tan điền”
Ruộng dâu biến thành bãi biển. Rồi bãi biển trở thành đất liền. Đất liền trở thành ruộng dâu. Rồi ruộng dâu trở thành bãi biển. Đó là vô thường. Hôm nay thế này, ngày mai thế kia. Hôm nay có, ngày mai không. Hôm nay không, ngày mai có. Có phải là từ không trở thành có? Hôm nay ta có mặt ở đây nghĩa là ta có. Ngày mai ta không có mặt ở đây nữa có phải là từ có trở thành không?
“Sông ôm bóng nguyệt không mà có
Hay có mà không nhỉ gã say?
Người vừa ôm ấp trong tay
Nhạc dợn đêm nào vạn cổ
Sau trước cùng chung niềm tính mộ
Đâu lẽ có chiều qua mà không sáng nay”
Người mình ôm trong tay để khiêu vũ theo tiếng nhạc trên sàn gỗ bây giờ không còn nữa. Có phải sự thật người đó đã từng có mà bây giờ thành không hay không? Đó là câu hỏi được đặt ra nhưng chưa có câu trả lời. Hồi còn trẻ tôi thích đọc thơ, những bài thơ của Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận… tôi đã đọc thuộc lòng. Bài thơ “Trước Cảnh Cao Rộng” nói lên tâm trạng của tác giả đứng trên bãi biển nhìn không gian mênh mông, bỗng cảm thấy con người mình quá bé nhỏ và không biết tại sao mình có mặt ở đây. Sự có mặt của một sinh vật nhỏ bé như mình có ý nghĩa gì không?
“ Tôi rộng trong ra bốn phía xa khơi
Cảnh mênh mông riêng có một mình tôi
Đang thơ thẫn với nỗi lòng bát ngát
Như kẻ bộ hành ngơ ngác
Lạc vào nơi đồng đất hoang vu
Ta mang theo một khối tình u
Tìm mà chẳng thấy lẽ uyên thâm trong tạo vật
Ngừng bước nản tôi trông mây, trông nước
Trông bầu xanh trong nét mặt u trầm.
Hỏi có nghe thấy tiếng ta chăng
Nghe thấy tiếng một tâm hồn đau khổ
Ta muốn biết lẽ nhiệm mầu trong vũ trụ
Nhưng than ôi, tạo vật vẫn làm thinh
Ngàn muôn năm giữ vẻ mặt vô tình
Và lãnh đạm cao siêu huyền bí”.
Trời đất rất vô tình lãnh đạm, cao siêu huyền bí. Đó là Thế Lữ. Còn Chế lan Viên thì sao? Ghê rợn hơn nữa. “Sao ở đâu mọc lên trong đáy giếng” tưởng tượng tâm hồn mình là một đáy giếng rất sâu, sâu thăm thẳm và có một ngôi sao mọc lên từ đó.
“Sao ở đâu mọc lên trong đáy giếng
Lạnh như hồn u tối vạn yêu ma.
Hồn của ai trú ẩn ở đầu ta
Ý của ai trào lên trong đáy óc
Để bay đi theo tiếng cười nhịp khóc”
Những câu đó rất đau khổ.
“Biết làm sao giữ mãi ta đây
Thịt cứ chìu theo thú dục chua cay
Máu cứ nhảy theo nhịp cuồng kẻ khác
Mắt theo dõi tinh hoa bao màu sắc
Đau đớn thay cho đến cả linh hồn
Cứ đi tìm chán nản với u buồn
Để đỉnh sọ trơ vơ tràn ý thịt
Mà phải đâu đã đến ngày tiêu diệt
Ai bảo dùm ta có có ta không?
Là học trò của Siddhattha chúng ta có cơ hội vì chúng ta biết rằng nếu ta đi tìm bằng con đường năng trí thì chúng ta sẽ thất bại.
“Dấu hỏi vây quanh trọn kiếp người
Sên bò nát óc máu thầm rơi
Chiều nay một dấu than buông dứt
Đinh đóng vào săng tiếng trả lời”
Vì vậy khi đến chùa là ta đã có cơ hội, ta phải tìm cách tiếp xúc cho được phương pháp thực tập, để có thể cung cấp cho mình những câu trả lời, mà đừng đi tìm những tiện nghi nhỏ nhặt. Khi tới chùa nếu được gặp thầy, gặp bạn, thì phải nhớ mục đích mình tới chùa để làm gì. Không phải bỏ thời gian để nói chuyện này, chuyện nọ. Không khí ở chùa là không khí trong đó mình có thể đi tìm những câu trả lời. Còn nếu mình để thì giờ để nói chuyện kinh tế, chính trị, chuyện công ăn việc làm, chuyện chùa này chùa khác thì uổng lắm. Khi được ngồi với các thầy, các sư cô, các đạo hữu đã tu học lâu hơn mình, thì phải biết lợi dụng các cơ hội đó mà học hỏi các phương pháp quán chiếu để trả lời các câu hỏi kia. Làm sao để có niệm, có định để rồi có tuệ? Vì chỉ có tuệ mới đưa đến câu trả lời, mới giải phóng mình ra khỏi vùng vô minh, hắc ám đã bao phủ mọi người.“Dấu hỏi vây quanh trọn kiếp người” tức là màn vô minh.
Trong thi phẩm Rừng Phong xuất bản tại Sài Gòn năm 1954, có bài thơ “Nguyện cầu” in ở trang đầu tiên, như một bản tuyên ngôn của tác giả. Tập thơ này do Đinh Hùng trình bày, Đinh Hùng cũng là một thi sĩ. Khi đọc bài này ta có thể thấy được tâm trạng của Vũ Hoàng Chương 50 năm trước vẫn chưa thấy được đạo. “Ta còn để lại gì không?” Câu hỏi đặt ra là sau khi chết mình để lại gì cho cuộc đời. Các nhà tư tưởng, các nhà nghệ sĩ, các nhà chính trị muốn để lại sự nghiệp của mình cho đời. Vì người nào cũng có khuynh hướng, có ước muốn đi tìm cái bất tử. Tu theo đạo Lão, người ta muốn làm thế nào để thành trường sinh bất tử, và tu theo đạo Bụt người ta cũng muốn đạt đến cái vô sanh bất diệt. Và câu hỏi “Ta con để lại gì không?” cũng biểu lộ cái khuynh hướng và ước muốn đó.
“Ta còn để lại gì không
Kìa non đá lỡ, này sông cát bồi”
Núi đá thì lỡ ra mà dòng sông thì cát bồi, có những con sông bị cát bồi dần dần thành dòng sông cạn.
“Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước xa xôi dặm về”.
Tác giả đã sử dụng từ luân hồi của đạo Bụt nhưng thực chất tác giả chưa hiểu được luân hồi là gì, “U minh nẻo trước” tức là mình không thấy rõ con đường trước mặt. Và con đường trở về quê hương đích thực của mình cũng còn rất xa. Cho nên bài “Nguyện cầu” này cũng là một câu hỏi.“Lang thang từ độ luân hồi” có một giai đoạn nào đó mình bị đi luân hồi, trước đó mình rất an lành nhưng vì mắc phải lầm lỗi nào đó nên bị đày xuống trần gian “ U minh nẻo trước xa xôi dặm về”, phía trước thì u minh đen tối, phía sau con đường trở về thì mịt mờ, không biết đi đâu. Rất tội nghiệp! “Trông ra bến hoặc bờ mê”, nhìn ra thì thấy toàn là bến bờ mê hoặc, toàn là vô minh, không có gì sáng sủa, không có gì là sự thật cả. Trong danh từ Phật học chữ “hoặc” có nghĩa là phiền não, đây là từ chuyên môn của đạo Bụt.
“Trông ra bến hoặc bờ mê
Nghìn thu nửa chớp bốn bề một phương”
Nghìn thu là nghìn năm, chỉ ngắn bằng nửa cái chớp, rất vô thường! “Nghìn thu nửa chớp bốn bề một phương” nghĩa là tuy nói bốn phương nhưng kỳ thực không đi xa được, nó cũng chỉ là một phương thôi. Điều mà thi sĩ thấy được là tính vô thường của thực tại. Tuy nhiên thi sĩ không đi xa hơn cái thấy vô thường đó, bởi vì trong sự tu học nếu biết đào sâu vào vô thường thì chúng ta mới tìm thấy vô ngã. Nhưng thi sĩ không được ai trao truyền những dụng cụ để đào sâu vào sự thật vô thường. Vì vậy thi sĩ chưa bao giờ khám phá được sự thật vô ngã. Có rất nhiều người nói đến vô thường. Heraclitus cũng nói đến vô thường, và đức Khổng Tử cũng nói đến vô thường. Heraclitus nói: “không ai có thể tắm hai lần dưới một dòng sông”. Đó là vô thường. Dòng sông phút sau không còn là dòng sông của phút trước nữa. Người tắm cũng vậy, người tắm xuống rồi lên lại là đã trở thành người khác rồi. Vì vậy trong câu nói đó chứa đựng tuệ giác vô thường. Còn đức Khổng Tử đứng trên bờ sông nhìn xuống thì than rằng “Cứ chảy mãi như thế này sao, ngày đêm không ngưng nghỉ”. Tức là ngài nói đến sự vô thường. Bụt cũng nói về vô thường, nhưng vô thường của Bụt khác, vô thường của Bụt không phải là lời than thở, mà là một phép quán. Ta phải sử dụng định vô thường, tam muội vô thường như là một dụng cụ, một cái cuốc để đào bới. Vì vậy vô thường không phải để thở than. Vô thường không phải là một triết thuyết, nó không mang tính chất triết học. Vô thường là một dụng cụ, là một phép quán, nhờ dụng cụ vô thường đó mà mình biết đào xới thực tại và nhờ thế mới phát hiện ra viên ngọc Vô ngã. Vô ngã sẽ trở thành một dụng cụ khác để đào xới và làm phát khởi sự thật tương tức, vô sinh bất diệt. Các thi sĩ, các nhà triết gia sử dụng trí năng của họ để suy tư. Nhưng ở đây không phải là vấn đề suy tư mà là vấn đề thực tập.
Trong thiền Tào Động, Tào Động Tông là một trong năm tông phái thiền, có một thiền ngữ như thế này: “Tư lương cá bất tư lương để, bất tư lương để như hà tư lương, phi tư lương thị thiền chi yếu giả”. Tư lương đọc là tư lượng. Tư lượng tức là suy tư, tư duy. Lượng là đo là cân. Tư lượng tức là cân nhắc, đo lường. “Tư lương cá bất tư lương để” là suy tư cái không thể suy tư. Trong danh từ đạo Bụt có từ “Bất khả tư nghì ”, nghì là bàn luận. Cái gì không suy tư không bàn luận được? Cái gì mà nói ra là trật, không thể tư duy được? Cái gì mà mầu nhiệm vậy? Cái mà không thể suy tư, không thể tìm tới bằng con đường suy tư, không thể diễn tả bằng lời nói gọi là“ bất khả tư, bất khả nghì” Cái không thể suy tư làm sao mình suy tư được? Cái không thể tư lượng làm sao tư lượng được? Đó là hiệu lệnh của thiền Tào Động. Vì vậy con đường tư duy không đưa tới kết quả. Khi học tổ Lâm Tế ta nghe tổ dạy, mình cần phải đoạn cảnh, cần phải cắt đứt đường rày của tư duy, vì tư duy là cứ chạy quanh. “Sên bò nát óc máu thầm rơi”. Tư lượng về cái không thể tư lương là vô nghĩa vì cái không tư lương thì làm sao tư lương được. Vì vậy cái không tư duy là yếu chỉ của thiền Tông. Đó là trực giác, là Bát Nhã. Chỉ có cái đó mới khám phá, khơi mở, diễn bày sự thật mà thôi. Trí tuệ giác Bát Nhã không phải là tư duy. Ví dụ như quý vị đã từng ăn sầu riêng, bây giờ muốn giúp cho một người Tây Phương chưa bao giờ ăn sầu riêng, chưa biết sầu riêng là gì, quý vị giải thích sầu riêng là như thế này, sầu riêng là như thế kia, và dù quý vị có làm cho họ tư duy cách mấy đi nữa họ cũng không thể nào hiểu được về trái sầu riêng là gì. Sầu riêng là cái không thể tư duy được. Chỉ có một cách giúp họ là đút một miếng sầu riêng vào miệng họ. Cái đó gọi là trực giác. Phải chấm dứt tư duy để đi tìm trực giác. Vì vậy ngồi thiền không phải để tư duy, ngồi thiền là để sử dụng tuệ giác trực tiếp của mình.
“Ta còn để lại gì không
Kìa non đá lỡ, này sông cát bồi
Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước xa xôi dặm về
Trông ra bến hoặc bờ mê
Nghìn thu nữa chớp bốn bề một phương”
Đã thấy được tính vô thường nhưng không biết sử dụng vô thường như là một dụng cụ để đào bới, để tìm kiếm. Do đó tác giả chưa bao giờ khám phá được vô ngã mà vô ngã thực ra nằm sát ngay sau lưng vô thường. Thấy được vô thường là thấy được vô ngã. Các nhà triết học kia kể cả Khổng Tử, Heraclitus chưa thực sự thấy được vô thường. Vì thấy được vô thường sâu sắc thì thấy được vô ngã, vì vô thường là mặt khác của vô ngã. Vô thường là đứng về phương diện thời gian mà diễn bày, còn vô ngã là đứng về phương diện không gian mà nhìn nhận. Thực sự, thấy được vô thường thì thấy được vô ngã. Chưa thấy được vô ngã thì chưa thấy được vô thường.
“Trông ra bến hoặc bờ mê
Nghìn thu nửa chớp bốn bề một phương
Ta vang cát bụi trên đường
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này.
Trong tư duy của thi sĩ vẫn còn có dấu tích của truyền thống Á đông. Những con người đặc biệt có tài năng, và hầu hết chúng ta cũng vậy đều có tư tưởng chúng ta là Trích Tiên, tức là vị tiên sống trên thượng giới nhưng vì bị lầm lỡ gì đó nên Ngọc Hoàng đày chúng ta xuống trần gian, và chúng ta phải sống bao nhiêu kiếp đó cho đến khi chuộc được lỗi lầm thì ngài cho trở về thượng giới. Và ta đang sống ở cảnh giới mà Tây Phương gọi là rơi xuống bị đọa đày, Adam và Eva bị rớt xuống trần gian. Thượng đế tạo ra hình ảnh vì không nghe lời thượng đế ăn trái cấm và đã cứu chuộc hơn 2500 năm mà vẫn chưa lên trở lại được. Trong sâu thẳm tâm hồn, chúng ta nghĩ rằng, ngày xưa chúng ta ở một nơi rất nhiệm mầu rất an ổn, không tư lượng, không lo lắng gì cả, tự nhiên bây giờ sinh ra làm một kiếp người, phải lo lắng quá nhiều, phải suy tư quá nhiều. Vì thế bây giờ ta mong ước trở lại chỗ ngày xưa, nơi mà ta hoàn toàn an ổn, không cần phải lo lắng cho tương lai hay hối hận gì về quá khứ. Không phải chỉ có các nhà triết học, các nhà thi sĩ mới có khuynh hướng như vậy mà tất cả chúng ta đều có cảm tưởng như thế. Nghĩa là chúng ta tới từ một chỗ rất yên ổn, rất an lành và chúng ta đang khổ đau vì bị luân hồi, vì bị làm một vị Trích Tiên ở hạ giới. Chúng ta nghĩ rằng khi ta đền hết tội thì ta sẽ được trở về nơi khung trời an lành của ta ngày xưa. Người nào cũng cho mình là một vị Trích tiên, một vị tiên bị đọa xuống trần gian.
“Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước xa xôi dặm về”.
Đó là cái thấy của tác giả, cái thấy của chúng ta. Thật ra nếu nhìn sâu một chút chúng ta sẽ thấy rằng chúng ta đã từng sống qua cảm giác yên ổn đó rồi, đó là khoảng thời gian chúng ta ở chín tháng trong bụng mẹ, bụng mẹ là cung điện của người con (gọi là tử cung). Chúng ta ở đó yên lành không phải lo lắng gì cả, cái gì cũng có mẹ lo. Không cần phải lo ăn, lo uống, lo thở, không cần phải đối phó gì hết. Chín tháng trong bụng mẹ là hoàn toàn vô ưu. Siddhattha đã sinh ra dưới cây vô ưu. Nhưng dù sinh ra dưới cây vô ưu, Siddhattha cũng ưu tư rất nhiều. Ưu tư quá nhiều đến nỗi phải bỏ nhà, bỏ cung điện đi tu. Vì không thể trốn thoát được những câu hỏi đó nên phải đi tìm. Và cứ nghĩ rằng mình đi luân hồi mấy kiếp để trả nợ, đền hết tội rồi mới được trở về chỗ an lành đó. Tản Đà cũng có một bài thơ nói chuyện này, ngày xưa mình cũng là Trích Tiên ở trên thượng giới bị đày xuống trần gian làm thi sĩ rất cực. Bán một bài thơ được mấy chục đồng thôi, lại có khi bán không chạy và không có tiền để tiếp tục làm thơ nên phải đình bán. Đó là số kiếp của Tản Đà, Nguyễn Khắc Hiếu. Có một đêm, Tản Đà mơ thấy chư thiên trên trời xuống mời lên đọc thơ cho thượng đế nghe. Sau khi đọc thơ, chư thiên và Ngọc Hoàng rất thích. Ngọc Hoàng nói rằng ngày xưa con cũng ở đây làm chư thiên, nhưng vì con lầm lỡ nên bị đày xuống trần gian. Con ráng truyền bá lý thuyết nhân bản, mai mốt đền được tội thì Ngọc Hoàng sẽ cho con trở về thượng giới. Đó là bài thơ của Tản Đà.
“Ta vang cát bụi trên đường
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này
Để ta tròn một kiếp say
Cao xanh liều một cách tay níu trời
Nói chi thua được với đời
Quản chi những tiếng ma cười đêm thâu
Tâm hương đốt nén linh sầu
Nhớ quê dằng dặt ta cầu đó thôi”
Ta không thuộc về thế giới này, ta là vị tiên, vì vậy ta không muốn dính vào những cát bụi, ganh tị, đố kỵ, tham lam. Ta không muốn dính vào hệ lụy đó. Ta muốn mai mốt ta sẽ trở về chỗ của ta trên kia. Đó là tư duy của vị Trích Tiên.
Bài thơ “Nguyện cầu” này nhớ về cõi mà mình đã ra đi và mình hoàn toàn không muốn dính líu, không muốn để lại sự nghiệp gì ở đây hết. “Ta còn để lại gì không?” Ta không còn thuộc về thế giới này nữa, ta thuộc về thế giới khác. Trong khi đó đạo Bụt nói rằng Niết Bàn và thế gian là một. Muốn đi tìm Niết Bàn phải đi tìm ngay trong thế gian. Ta Bà chứa đựng Tịnh Độ. Và Bồ Đề được tìm ngay trong phiền não. Điều này tác giả chưa tiếp xúc được, chưa có kiến thức Phật học, chưa có thực tập.
“Nói chi thua được với đời
Quản chi những tiếng ma cười đêm thâu
Tâm hương đốt nén linh sầu
Nhớ quê dằng dặt ta cầu đó thôi
Đêm nào ta trở về ngôi
Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian”
Ta đâu muốn có sự nghiệp gì ở cõi đời này. Ta không cần gì hết. Về trên kia ta để lại cái này cho các ngươi, muốn tranh dành bao nhiêu thì tranh dành.
“Đêm nào ta trở về ngôi
Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian
Một phen đã nến cung đàn
Nghĩ chi còn mất hơi tàn thanh năm”.
Một phen mà tôi không còn làm thơ nữa thì tôi không nghĩ rằng thơ tôi có người đọc hay không có người đọc. Tôi không bận tâm về điều đó. Đây là tuyên cáo của Vũ Hoàng Chương. Nhưng từ năm 1963 Vũ Hoàng Chương đã đổi khác.
Vũ Hoàng Chương sinh năm 1916 đậu tú tài Tây, sau đó học luật. Nhưng chán không thích luật nên bỏ học, làm phó giám đốc cho sở hỏa xa. Làm ở sở hỏa xa cũng chán nên ông đi về học toán. Học toán cũng không thích cuối cùng ông làm thơ. Năm 1945 ông tham gia kháng chiến, năm 1950 bỏ kháng chiến. Không tìm thấy hạnh phúc trong ngành luật, toán học, hỏa xa, kháng chiến. Nên năm 1951 ông di cư vào miềm Nam. Năm 1963 khi Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu cho nhân quyền Việt Nam thì Vũ Hoàng Chương xúc động vô cùng và ông đã viết bài thơ Lửa Từ Bi mà nhiều người Phật tử đã thuộc lòng. Hành động tự thiêu của Hòa thượng Quảng Đức đã làm chấn động tâm can Vũ Hoàng Chương, đã biến Vũ Hoàng Chương thành một con người khác và Vũ Hoàng Chương đã thấy rằng mục đích của con người là để xây dựng tình huynh đệ. Trong bài thơ Lửa Từ Bi có chữ tình huynh đệ. Tôi thích nhất là câu“ Ôi đích thực hôm nay trời có mặt” đó là giây phút hòa thượng tự thiêu. “Giờ là giờ hoàng đạo nguy nga” giờ hoàng đạo là 12 giờ trưa.
“ Ôi đích thực hôm nay trời có mặt
Giờ là giờ hoàng đạo nguy nga
Muôn vạn khối sân si vừa mở mắt,
Nhìn nhau tình huynh đệ bao la”.
Chỉ khi nào có tình thương lớn người ta mới có hành động như vậy. Hành động hoàn toàn vị tha, hoàn toàn hy sinh cho sự sống, cho tình huynh đệ.
“Ngọc hay đá tượng chẳng cần ai tạc
Lụa hay tre nào hiến bút ai ghi
Chỗ người ngồi một thiên thu tuyệt tác
Trong vô hình sáng chói nét từ bi”
Hành động tự thiêu đó mục đích không phải để có danh, không phải là để lại cho đời một cái gì mà hoàn toàn là do từ bi, do tình huynh đệ, không cần người ta tạc hình thành ngọc thành đá, không cần ai ghi tên mình vào sử sách. Đó là hành động rất trong sáng, đó là tình huynh đệ. “Chỗ người ngồi một thiên thu tuyệt tác”, chỗ ngồi đó là một tác phẩm lớn, mình không thấy gì cả nhưng nhờ có con mắt tuệ nên ta thấy chỗ đó là cái ngai của Từ Bi.
“Rồi mai sau còn chi
Ngọc đá cũng thành tro
Lụa tre dần mục nát
Với thời gian lê vết máu qua đi”.
Tất cả những cái đó ngọc đá, lụa tre… sẽ qua đi chỉ còn một chữ ở lại mãi mãi đó là chữ Trái tim Bồ Tát .
“Còn trái tim Bồ Tát xuống tận ngục A Tỳ
Ôi ngọn lửa huyền vi
Thế giới ba ngàn phút giây ngơ ngát”
Tất cả địa cầu chấn động vì tình thương đó
“Từ cõi vô minh hướng về cõi cực lạc
Vần điệu của thi nhân chỉ còn là rơm rác.
Và chí nguyện được làm rơm rác
Thơ cháy lên với lời kinh tụng
Cho nhân loại thanh bình
Trước sau bền vững tình huynh đệ này”.
“Tình huynh đệ ” được dùng lại lần thứ hai. Có thể nói bài thơ này thực chất là ca ngợi tình huynh đệ. Hòa thượng Thích Quảng Đức là biểu tượng của tình huynh đệ. Có tình huynh đệ là đời sống của mình có ý nghĩa. Cho nên nếu một ngày nào còn sống, còn xây dựng tình huynh đệ là ngày đó đời còn có ý nghĩa. Và bản chất của đạo Bụt là Từ Bi, Từ bi chính là tình huynh đệ. Vì chữ Maitri (Từ) bắt nguồn từ chữ Mitra mà ra, nghĩa là huynh đệ. Và chữ “Từ” dịch cho đúng là tình huynh đệ, tình anh em, tình chị em.
“Từ cõi vô minh hướng về cõi cực lạc”. Đó là nhờ tình huynh đệ. Vừa mới sân si đó, vừa mới kỳ thị đó mà khi thấy được một hành động không kỳ thị thì tác giả lập tức chọc thủng được vô minh, thấy được cõi cực lạc. Tức là cõi của tình thương. “Vần điệu của thi nhân chỉ còn là rơm rác” Tôi muốn ca ngợi Hòa thượng Quảng Đức, nhưng vần điệu thơ của tôi không đủ sức để ca ngợi hành động đẹp đẽ đó.
“Và chí nguyện được làm rơm rác
Thơ cháy lên với lời kinh tụng
Cho nhân loại thanh bình
Trước sau bền vững tình huynh đệ này”.
Từ đó trở về sau Vũ Hoàng Chương sử dụng thơ của mình để xây dựng tình huynh đệ.
Bài thơ này ra đời sau bài Lửa Từ Bi, tựa đề là Nổi Lửa Từ Bi. Bài này Vũ Hoàng Chương nói đến Đại Hùng Đại Lực của Từ Bi. Từ Bi có sức mạnh rất lớn, sức mạnh này sẽ thắng được lửa của bom, của đạn. Đứng đầu của một chế độ là ông vua, ông chúa có khi gọi là Tổng Thống, ngôi chúa tức là vương vị, là ngai vàng, là ghế của Tổng Thống. Ngôi chúa thì có quyền hành, có quân đội, có cảnh sát, có công an. Nhưng cuối cùng cũng thua một ngôi khác, là ngôi chùa, ngôi chùa tượng trưng cho sức mạnh của tình thương. Tình thương, tình huynh đệ và lòng từ bi sẽ chiến thắng tất cả.
“Lẽ thường ngôi chúa dựng trên súng,
Sẽ tiêu tan dưới đạn
Chỉ còn lại tinh thần nhân bản
Vằng vặt dưới sông chót vót ngôi chùa
Cuộc tranh đấu vượt ra ngoài giới hạn tử sinh
Lửa tử sinh mầu nhiệm pháp vô biên.
Suối Hùng Lực mấy thu chẳng cạn
Nước cành dương tẩy xóa mọi oan khiên”.
Chỉ có Từ Bi mới đáp ứng được hận thù của sinh tử. Không phải vì tôi muốn sống mà tôi tranh đấu. Sống tôi cũng tranh đấu. Chết tôi cũng tranh đấu. Chết và sống chỉ là sự tiếp nối nhau. Chết để mà sống, sống để mà chết. Nên cuộc tranh đấu vượt ra ngoài giới hạn của tử sinh, của lo sợ.
“Lẽ thường ngôi chúa dựng trên súng,
Sẽ tiêu tan dưới đạn
Chỉ còn lại tinh thần nhân bản
Vằng vặt dưới sông chót vót ngôi chùa
Cuộc tranh đấu vượt ra ngoài giới hạn tử sinh
Lửa tử sinh mầu nhiệm pháp vô biên”
Đây là chân lý của Đông phương cũng như Tây phương, nếu dùng gươm mình sẽ chết vì gươm, dùng súng thì sẽ chết vì đạn. Đó là trường hợp của ngôi chúa, của những vị vua, tổng thống đã sử dụng bom đạn và chính mình sau này sẽ chết vì bom đạn.
“Lẽ thường ngôi chúa dựng trên súng,
Sẽ tiêu tan dưới đạn
Chỉ còn lại tinh thần nhân bản
Vằng vặt dưới sông chót vót ngôi chùa”
Trong bài thơ này Vũ Hoàng Chương đã sử dụng ngôi chúa và ngôi chùa. Nghĩa là nếu đất nước còn có ngôi chùa thì còn tình huynh đệ, còn đức Từ bi. Từ bi thế nào cũng vượt thắng, cũng hóa giải được hận thù. Súng đạn sẽ rơi xuống thành cát bụi, chúng ta không cần phải lo lắng gì cả. Hãy tin ở hùng lực của Đại Từ, Đại Bi, của tình huynh đệ. Đó là niềm tin của Vũ Hoàng Chương. Từ năm 1953 cho đến 1967, tức là 15 năm Vũ Hoàng Chương đã làm ra những bài thơ rất anh hùng, rất can trường, rất vững mạnh, không như bài thơ trước.
“Lũ chúng ta lạc loài năm bảy đứa
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh
Biển vô tận xá gì phương hướng nữa
Thuyền ơi thuyền theo gió hãy lênh đênh”.
Không còn những bài chán đời như vậy nữa. Vũ Hoàng Chương đã thức dậy tham dự vào cuộc tranh đấu. Tuy bị chế độ chính trị bạc đãi nhưng nhờ có đại hùng nên Vũ Hoàng Chương không còn đau khổ nữa. Khi chị Nhất Chi Mai tự thiêu, Vũ Hoàng Chương cũng có làm một bài thơ để ca ngợi, chị Nhất Chi Mai là một trong những người thọ giới tiếp hiện đầu tiên. Trước khi tự thiêu chị có viết cho thầy một bức thư “ Thầy ơi, thầy đừng lo chắc chắn sẽ có hòa bình”. Vũ Hoàng Chương rất cảm động và làm bài thơ ca ngợi Nhất Chi Mai.
“Vừa mới hôm nào lửa Yến Phi
Bay lên nối cảnh lửa từ bi
Giờ đây là nỗi lòng dân Việt
Đau xé trời nam lửa Nhất Chi
Ba dịp cháy lên thông điệp đó
Đêm sao đêm cứ đặc như chì
Đốt cho bom đạn tan thành lệ
Đôi ngã sông sầu hãy nguyện đi”.
Nhất Chi Mai là người thứ ba tự thiêu. Người thứ hai là Đào Thị Yến Phi.
Mình tranh đấu cho hòa bình không phải bằng súng đạn mà bằng quyết tâm của lòng từ bi
“Hãy nguyện cho màu tang trở gió
Trên đầu thiếu phụ với cô nhi
Mẹ ơi tóc hãy làm giông tố
Màu tóc màu tang có khác gì.
Vành khăn tang trên đầu thiếu phụ, vành khăn tang trên đầu cô nhi.
“Trắng một vòng bao quanh trái đất.
Nối dài thông điệp lửa uy nghi”
Không chỉ có thiếu phụ và cô nhi đeo khăn tang mà cả trái đất đều có vành khăn tang.
“Sáng trưng hóa lạnh Bồ Câu trắng
Sẽ đốt thời gian mở lối về”.
Thế nên lửa Nhất Chi Mai giống như hỏa lệnh, một hiệu lệnh bằng lửa để cho chim Bồ Câu trở về. Đó là thông điệp của Vũ Hoàng Chương. Và từ đó về sau Vũ Hoàng Chương tập ngồi thiền, đi thiền hành và ăn chay.
Đầu năm 1976, có một bữa nọ, năm sáu xe công an một lực lượng vũ trang hùng hậu đến vây quanh nhà Vũ Hoàng Chương. Tại sao chỉ có một thi sĩ ốm yếu trói gà cũng không chặt mà phải dùng tới năm sáu xe công an và một lực lượng vũ trang hùng hậu như thế. Vì họ rất sợ sức mạnh của tình thương, của tình huynh đệ, sẵn sàng chết bất cứ lúc nào cho lý tưởng hòa bình và tình huynh đệ. Khi Vũ Hoàng Chương nghe tiếng xe, tiếng công an đập cửa, Vũ Hoàng Chương bảo bà Chương đừng sợ hãi mà cũng đừng nói nói năng gì cả và ông leo lên sạp gỗ ngồi thiền, tập thở. Đó là phương pháp hay nhất để đối trị với công an. Họ đập cửa vào, lục soát quăng hết tất cả những tài liệu trong hộc tủ, trong tủ áo ra ngoài. Giấy tờ văng ra đầy hết nhưng Vũ Hoàng Chương vẫn ngồi thiền không nói một lời nào. Họ lục soát khắp nơi nhưng không tìm ra được một tài liệu nào chống đối cách mạng, hay chính quyền cả. Tuy thế họ vẫn có bản văn tuyên án cho là Vũ Hoàng Chương đã phản cách mạng, đã làm cái này cái kia, vì vậy hôm nay phải bị bắt đi cải tạo. Đọc xong họ hỏi Vũ Hoàng Chương, anh có nghe chưa ? Vũ Hoàng Chương nhúng vai một cái. Đó là những gì Vũ Hoàng Chương tiếp đón và trả lời cho công an và họ bắt Vũ Hoàng Chương đi học tập cải tạo. Khi tình trạng sức khỏe của Vũ Hoàng Chương đến mức nguy ngập họ mới cho về nhưng đã quá trể. Bà Vũ Hoàng Chương nấu một nồi bún bưng lên cho chồng ăn, nhưng không ăn được đành bỏ xuống. Đây là lời Sư cô Chân Không viết lại trong cuốn “Thử tìm dấu chân trên cát”. Chỉ một hôm sau khi được chính quyền phóng thích thì thi sĩ mất, ngày anh ấy về, chị Vũ Hoàng Chương nấu một nồi bún cho chồng nhưng anh chỉ lùa được vài cọng bún. Chị thuật lại rằng “Đầu năm 1976, ngày mà cán bộ, công an đến bắt anh có đến năm sáu xe và một lực lượng vũ trang hùng hậu vây quanh nhà. Biết trước cớ sự anh Vũ Hoàng Chương bảo chị yên lặng, rồi anh ngồi lên trong tư thế kiết già trong khi cán bộ và công an vào nhà, đập cửa lục soát không sót một ngõ ngách nào và quăng bừa bãi tất cả những đồ đạc lấy ra từ các tủ. Suốt thời gian họ lục soát anh vẫn ngồi bất động không nói năng gì. Cuối cùng khi người chỉ huy đọc bản cáo trạng, Vũ Hoàng Chương lắng nghe, nghe xong anh chỉ khẻ nhún vai. Họ bắt anh từ đó, và trong trại giam sức khỏe của anh đã tàn lụi dần. Có lẽ trong trại giam anh Vũ Hoàng Chương đã thiền tọa rất nhiều”. Được tin Vũ Hoàng Chương mất thầy Nhất Hạnh rất thương cảm và đã dùng nhiều từ ngữ từ trong thơ của Vũ Hoàng Chương để làm một bài thơ ca ngợi ông. Nếu quen thuộc với thơ Vũ Hoàng Chương chúng ta sẽ nhận ra được tất cả những từ ngữ đó.
Đây là bài thơ thầy viết sau khi nghe Vũ Hoàng Chương mất.
“Đêm này dù đã về ngôi
Hồn thơ vẫn cứ luân hồi thế gian
Bút hoa ngàn kiếp không tàn
Đuốc thơ còn cháy trên trang sử người
Có không mù mịt biển khơi
Nẻo về đã rạng chân trời thênh thang
Tĩnh say vẫn một cung đàn
Lửa anh hào đốt cháy tan đêm sầu
Thơ lên bay vút bồ câu
Triều âm chấn động phương nào cũng nghe
Giấc mơ hồ điệp đi về
Biển đông sóng vỗ kình nghê vẫn còn”.
Tuy Vũ Hoàng Chương đã mất nhưng anh vẫn còn đó với tinh thần bất khuất. Mình mời Sư cô Chân Không thắp nhang cho Vũ Hoàng Chương. Người đã tranh đấu không bằng súng bằng đạn, mà bằng những bài thơ từ bi của mình. Từ người say sưa, chán nản nhưng nhờ giọt nước cam lồ của Đức Thế Tôn đã trở thành người có đại hùng đại lực.
Ta để lại gì cho đời? – Vũ Hoàng Chương

Ta còn để lại gì không?
Ngày hôm qua có một số người trẻ đi tắm hồ đã chứng kiến cái chết của một em bé 19 tuổi. Em bị chết đuối. Cái chết có thể đến với ta, đến với người ta thương bất cứ lúc nào. Nếu không chuẩn bị chúng ta sẽ không có khả năng đối phó với những biến cố lớn đó. Chúng ta quá bận rộn, không có cơ hội học cách đón nhận và có thể mỉm cười khi cái chết đến với chúng ta. Chúng ta phải học hỏi và sống như thế nào để chấp nhận được cái chết của bản thân mình cũng như cái chết của người ta thương.
Chúng ta nên đặt câu hỏi là khi chết chúng ta để lại gì cho đời? Lúc 19 tuổi chết thì mình để lại gì? 25 tuổi chết thì để lại gì? 35 tuổi chết để lại gì? Và 60, 80 tuổi chết thì để lại gì? Câu hỏi đó rất hay. Ai để lại? Để lại cái gì? Và để lại cho ai? Nếu trả lời được những câu hỏi đó thì chúng ta hiểu được đạo Bụt. Hiểu được đạo Bụt chúng ta sẽ biết cách làm thế nào để sống cũng đẹp, mà chết cũng đẹp, và như thế ta vượt thoát được sự sợ hãi, lo lắng về cái chết và cái sống.
Tuệ giác của đạo Bụt là tuệ giác vô ngã. Vì vậy chúng ta phải đi tìm câu trả lời theo hướng vô ngã. Phần lớn người ta căn cứ trên ý niệm ngã để trả lời những câu hỏi này, cho nên họ không tìm ra được. Chúng ta nghĩ mình là một thực thể bất biến có một cái ngã tồn tại độc lập. Khi chết đi, cái ngã đó không còn nữa. Nhưng kỳ thực, chúng ta để lại sau lưng một cái gì đó, có thể xấu, có thể tốt, hoặc có thể không có nghĩa lý gì cả – không xấu cũng không tốt. Để lại cho ai? Có thể để lại cho con cháu ta, mà cũng có thể để lại cho đời.
Lúc còn trẻ thi sĩ Vũ Hoàng Chương ăn chơi say sưa nhưng khi lớn tuổi thì ông trở về tu học. Trong bài thơ “Nguyện cầu” đăng ở trang đầu của tập thơ Rừng Phong, có câu “Ta còn để lại gì không?”. Một câu hỏi rất trực tiếp. Tập thơ xuất bản vào khoảng năm 1954 – 1956 khi đất nước đang chia đôi, thi sĩ di cư từ miền Bắc vào miền Nam, làm nghề nhà giáo văn chương. Vũ Hoàng Chương lúc trẻ đã đi nhảy đầm, hút thuốc phiện và đã xuất bản tập thơ Say.
“Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió
Không thấy nữa màu xanh hay sắc đỏ”.
Nhảy đầm trong khi say thì đâu còn thấy gì nữa. Và Vũ Hoàng Chương nổi tiếng bởi tập thơ Say đó. Nhưng trong cuộc tranh đấu Phật giáo cho nhân quyền năm 1963 thì trong Vũ Hoàng Chương có sự chuyển đổi rất lớn. Hồi đó, Tổng thống của chúng ta là người Cơ Đốc giáo. Anh trai của Tổng thống làm Tổng Giám mục. Ông có ý muốn Thiên Chúa hóa đất nước Việt Nam. Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng có một người anh làm cố vấn chính trị cho mình là Ngô Đình Nhu. Trong sự nôn nóng muốn phát triển Thiên chúa giáo Việt Nam nên đã có những chính sách đàn áp Phật giáo. Một trong những điều quá rõ ràng là ngày Phật Đản không được công nhận là ngày nghỉ chính thức của toàn dân như trước nữa. Trong một nước mà đa số là Phật giáo mà không cho nghỉ ngày Phật đản, thì cũng giống như ở Tây Phương, ngày Noel không được coi là ngày nghỉ của toàn dân vậy. Vì thế Phật tử bắt đầu phản đối. Khi Phật tử đứng dậy biểu tình phản đối thì họ dùng quân đội để đàn áp, bắt các thầy, các sư cô, và phật tử bỏ tù. Chính vì lý do đó nên phong trào tranh đấu vùng dậy. Một phong trào tranh đấu dân quyền không vụ lợi.
Tranh đấu không phải vì muốn tranh đoạt quyền hành hay muốn giành lấy chính quyền, mà tranh đấu để chống lại sự độc tài, vi phạm nhân quyền. Đó là cuộc tranh đấu của phật tử Việt Nam năm 1963-1964, là một cuộc tranh đấu rất thẳng thắn với một trái tim trong sáng. Trước tình hình đó, thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã có cảm hứng. Vì vậy với tư cách là một thi sĩ, ông đã làm những bài thơ phổ biến rất rộng rãi trong quần chúng và những bài thơ đó đã nung nấu tâm chí chiến đấu của toàn dân. Thi sĩ không tranh đấu bằng súng đạn hay bằng tổ chức chính trị mà bằng những bài thơ của mình. Những bài thơ của Vũ Hoàng Chương đem lại rất nhiều hào khí, cảm hứng cho dân chúng. Trong quá trình đóng góp vào cuộc tranh đấu, Vũ Hoàng Chương đã học hỏi và thực tập thêm nên đã có nhiều chuyển hóa.
Ví dụ như bài “Lửa từ bi” đã được làm ra sau khi Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu. Đó là vào năm 1963 Hòa thượng Thích Quảng Đức ra ngồi ở ngã tư Phan Đình Phùng, đổ lên mình một thùng xăng, rồi châm lửa và nhập định. Ngài ngồi rất yên. Các nhà báo bao quanh rất đông. Hòa thượng Thích Quảng Đức tự đốt mình như vậy để báo động cho thế giới biết là ở Việt Nam đang có một chế độ độc tài và chúng tôi đang đau khổ. Mấy giờ đồng hồ sau, tất cả các báo chí, đài truyền hình trên thế giới đều đăng tin và hình Hòa thượng Thích Quảng Đức đang ngồi yên trong lửa đỏ. Đó là một thông điệp rất hùng hồn. Cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức đã làm cho phong trào tranh đấu nhân quyền lên cao, và quốc tế cũng bắt đầu yểm trợ ta. Sau đó chính quyền Ngô Đình Diệm bị sụp đổ. Lửa Từ bi là bài thơ đầu tiên của Vũ Hoàng Chương đóng góp vào phong trào rất hay. Trong bài thơ đó Vũ Hoàng Chương không hề có ý niệm tưới tẩm hạt giống của căm thù. Trái lại bài thơ chỉ tưới tẩm hạt giống của tình huynh đệ.
“Ôi ngọn lửa huyền vi
Thế giới ba ngàn
Phút giây ngơ ngác
Từ cõi nhân gian hướng về cực lạc
Vần điệu thi nhân chỉ là rơm rác
Mà cũng chỉ nguyện được làm rơm rác
Thơ cháy lên theo lời kinh tụng
Cho đất nước thanh bình
Trước sau bền vững tình huynh đệ này”.
Bài “Nguyện cầu” được làm trước đó không lâu, nên bài thơ tuy hay vẫn chưa có tuệ giác của một người giác ngộ. Có dịp mình sẽ đọc thêm thơ của Vũ Hoàng Chương sau khi ông đã giác ngộ, đã hiểu Phật pháp. Hôm nay chúng ta chỉ đọc một bài thơ có liên hệ đến cái chết, đó là bài Nguyện cầu, mở đầu bằng câu“Ta còn để lại gì không”.
Ở Đông Phương ngày xưa, rất nhiều người, đặc biệt là những người có tài năng tin rằng mình là một vị tiên ở trên trời, vì phạm một lầm lỗi gì đó mà bị thượng đế đày xuống trần gian. Sau khi trả nợ dưới trần gian này rồi thì được trở về tiên giới lại. Thi sĩ Tản Đà – tác giả bài thơ “Thề non nước” cũng tin như vậy. Ngày xưa mình là nam tào hoặc bắc đẩu trên trời, vì uống trà không chánh niệm, nên đã làm rớt chén ngọc của Thượng đế và bị đày xuống nhân gian sống một, hai đời rồi mới được trở lên lại thượng giới.
Ta còn để lại gì không? Là câu đầu tiên của bài Nguyện Cầu được mở đầu trong tập thơ Rừng Phong. Đây là suy tư của một người chưa biết nhiều về đạo nhưng có kiến thức về văn hóa Á Đông. Nghĩ rằng mình có một cái ta và cái ta đó từ trên trời đi xuống. Trong thời gian sống ở hạ giới, mình làm chuyện này chuyện nọ, sau khi chết mình lên trên trời và sẽ để lại hạ giới một cái gì đó. Ta là ai? Là vị Trích tiên. Để lại cái gi? Ta để lại tác phẩm thơ văn. Để lại cho ai? Để lại cho cuộc đời này. Để lại rồi ta không để ý tới nữa, ta lên trên trời trở lại. Câu trả lời rất đơn giản. Ta là một vị Trích tiên, ta để lại công trình nghệ thuật cho cuộc đời, cho trần gian dưới này còn ta lên trời.
“ Ta còn để lại gì không
Kìa non đá lở này sông cát bồi”.
Trong câu thứ hai, ta thấy tác giả tuy chưa học Phật sâu sắc nhưng đã thấy rõ là vạn vật vô thường. Đời sống của một vị Trích tiên dưới trần gian này tuy là một trăm năm, nhưng cũng vô thường, bay vèo qua như một giấc mộng. Ngày xưa núi rất cao nhưng đá đã lỡ. Sông thì sâu nhưng bị cát bồi nên sông cạn, “sông cạn đá mòn”.
Lang thang từ độ luân hồi
“Lang thang từ độ luân hồi”. Chữ luân hồi ở đây được hiểu theo kiểu là có cái ngã bất biến. Ngày sanh xuống trần gian, gọi là luân hồi. “U minh nẻo trước xa xôi dặm về.” Đây là sự thực, tuy chưa có tuệ giác của đạo Bụt nhưng những yếu tố của tuệ giác đã có sẵn. Chính những yếu tố đó sau này sẽ làm ra tuệ giác. Đi lang thang trong cuộc đời nhưng không có con đường sống, trước mặt chỉ thấy mù mịt không có hướng đi. Trong văn Cảnh sách của Thiền sư Quy Sơn cũng có câu như vậy “Tiền lộ man man bất tri hà vãng” tức là con đường phía trước mờ mờ, ảo ảo không biết mình đang đi về đâu. Người chưa học đạo, chưa có con đường tâm linh thì luôn luôn thấy phía trước mình mờ mịt. Ví dụ như hôm qua có một em bé hỏi: “Con sống trong cuộc đời này để làm gì? Có ích lợi gì cho ai không? Cuộc sống có nghĩa lý gì không?” . Hỏi như thế là vì chưa thấy được con đường của mình.
Không những chỉ có những em bé mười chín, hai mươi tuổi chưa thấy con đường, mà người lớn bốn mươi, năm mươi tuổi vẫn chưa thấy con đường, vẫn không biết mình đang đi đâu, không biết con đường trước mặt mình là con đường nào, nên cứ đi vòng quanh cho đến lúc chết. Vì vậy kiến đạo rất quan trọng, kiến đạo là biết được mình đang đi đâu. Người nào biết mình đang đi đâu thì người đó có hạnh phúc. Không còn phải sợ hãi, không còn hoang mang nữa “đã có đường đi rồi, con không còn lo sợ”. Vì vậy tất cả chúng ta đều phải kiến đạo, phải thấy được con đường mình đang đi. Không biết mình đang đi về đâu là mình vẫn còn đi trong bóng đêm. “Tiền lộ man man bất tri hà vãng.”
Ở đây thi sĩ nói là “ U minh nẻo trước”, u minh là tối tăm, mù mịt, không biết mình đang đi về đâu. Có thể mai mốt bước xuống hố thẳm rồi bị chôn vùi trong đó. U minh nẻo trước là không có đuốc sáng, không có đèn pha, không có đạo sư. “Xa xôi dặm về”, về là về đâu? Về thiên giới, nơi mà mình đã rời bỏ kể từ ngày bị đày xuống trần gian. Biết bao giờ có thể trở về ngôi vị ngày xưa của mình? Vì Ngọc Hoàng đày xuống dưới này, nên phải sống cuộc đời đày đọa của con người. Phải sinh, lão, bệnh, tử, phải đi vòng quanh trong sáu nẻo hôn mê và trong ba giới. Đường trước mịt mờ cũng khổ mà đường về xa xôi càng khó. Cuộc đời một vị Trích tiên cũng chẳng sung sướng gì. Mình không phải là tiên nhưng cũng cảm thấy mỏi mệt như một vị Trích tiên. “U minh nẻo trước xa xôi dặm về”. Đường về xa lắc xa lơ, không biết bao giờ mới trở về nguyên quán? Nếu biết được con đường thì tốt biết mấy. Mình sẽ biết được còn bao lâu nữa thì trở về ngôi nhà của mình.
“Trông ra bến hoặc bờ mê”. Nhìn ra chỉ thấy bến bờ của sự mê hoặc. Mê tức là vô minh, hoặc tức là phiền não. Bến hoặc tức là bến phiền não. Trông ra chỉ thấy bến bờ của phiền não, vô minh mà không thấy bờ giác.
Trong đạo Bụt có câu “ Khổ hải man man hồi đầu thị ngạn”. Nghĩa là biển khổ mênh mông nhưng nếu biết quay lại thì sẽ thấy bờ ngay, bờ đó là bờ giải thoát. Đó là kiến đạo. Biển khổ tuy mênh mông nhưng nếu biết hướng về bờ giác thì sự mênh mông đó sẽ tan biến, sẽ không còn mênh mông nữa, và bờ giác sẽ không cách xa ta. Vũ Hoàng Chương thấy được tất cả điều đó.
“Trông ra bến hoặc bờ mê
Nghìn thu nửa chớp bốn bề một phương ”
Hai câu thơ này đã bắt đầu có yếu tố của tuệ giác. Trong một tích tắc, một sát na mà chứa đựng được cả thời gian vô cùng. Nghìn thu là một ngàn năm, ngàn năm đem đặt gọn vào trong một tích tắc gọi là nghìn thu nửa chớp. Nửa chớp chứ không phải một chớp, một chớp là còn dài. Đây là tinh thần của kinh Hoa Nghiêm. Khi xây dựng bản môn thì một tích tắc, một sát na cũng chứa đựng cả thời gian vô cùng. Trong giới thi văn, giới lãng mạn cũng dùng tuệ giác này nhưng không đúng lắm. “Tình trong giây phút mà thành thiên thu”. Nếu anh “fall in love”, nếu anh yêu chỉ một giây phút thôi nhưng anh sẽ khổ suốt đời. Thiên thu được chứa đựng trong một giây phút. Thành ra tuy trăm năm nhưng có nghĩa lý gì đâu, nó chỉ là một giấc mộng thôi. Một nghìn năm cũng vậy, chỉ dài bằng một nửa tia chớp. Ở đây ta thấy được giá trị của thời gian. Và không gian cũng thế “bốn bề một phương”, không gian mênh mông nhưng một phương cũng có thể chứa đựng được cả bốn phương. Tuy trời đất bao la rộng lớn như vậy nhưng nhìn vào hạt bụi ta thấy hạt bụi chứa đựng tất cả đất trời trong đó. “Càn khôn tận thị mao đầu thượng” tức là tất cả trời đất càn khôn có thể đem đặt lên trên đầu một sợi lông. Đó là câu thơ của một thiền sư Việt Nam.
“Càn khôn tận thị mao đầu thượng
Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung”.
Ta có thể đem mặt trời, mặt trăng đặt vào trong một hạt cải. Đó là cách nói của thiền sư. Còn ngôn ngữ của thi sĩ thì “Nghìn thu nửa chớp, bốn bề một phương”.
“Ta van cát bụi bên đường
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này”.
Tác giả ý thức được mình là một vị Trích tiên, và không muốn vướng vào bất cứ một thứ gì ở cõi trần, dù những thứ đó đẹp hay không đẹp, sạch hay không sạch. Nghĩ mình trong sạch và không muốn dính tới chuyện đời đó là cái nhìn rất tách biệt giữa mình và đời, đời là một chuyện, mình là một chuyện khác. Đó là do không thấy được mình là cuộc đời, cuộc đời là mình, do không có cái nhìn tương tức của đạo Bụt. Sợ bị vướng mắc dù là vướng mắc vào cái dơ hay cái sạch, đều là quan điểm nhị nguyên, nghĩ mình là một thực thể có thể tồn tại độc lập ngoài những cái dơ sạch của cuộc đời. Ai biết được rằng mình với cuộc đời không phải là hai cái khác nhau. “Ta van cát bụi bên đường”, chữ “van” ở đây là cầu xin, van xin. Trong sự cầu xin có ẩn chứa sự sợ hãi. Sợ bị đày đọa, bị bó buộc bởi những hệ lụy trong cuộc đời. Và vì thế mình muốn tách riêng ra khỏi cuộc đời.
“Ta van cát bụi bên đường
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này
Để ta tròn một kiếp say”
Trong thời gian làm nghệ sĩ ở cõi trần ta chỉ muốn làm nghệ sĩ thôi. Sau đó ta sẽ đi, ta không muốn vướng mắc với các ngươi. Kiếp say là kiếp của thi sĩ, vì thi sĩ đã xuất bản tập thơ Say.
“Cao xanh liều một cánh tay níu trời”
Trời cao và xanh, chỗ đó là quê hương của ta. Chân ta đang dẫm lên cuộc đời ô trược, phiền não và ta không muốn dính vào đó. Ta muốn đưa tay lên cao với lấy trời xanh làm chỗ nương tựa để ta đừng bị hệ lụy và bó buộc vào cuộc đời này. Điều đó nghĩa là tịnh độ là một nơi nào khác, quê hương là một nơi nào khác, còn chỗ này là cõi tạm. Đó là quan điểm lưỡng nguyên của những người chưa thấy đạo.
“Ta van cát bụi bên đường
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này
Để ta tròn một kiếp say
Cao xanh liều một cánh tay níu trời
Kể chi thua được cuộc đời”.
Đời là một cuộc tranh đấu, là một ván bài. Người nào cũng muốn thắng, không ai muốn thua cả. Ban đầu ta không muốn dính tới những chuyện được thua đó, nhưng rốt cuộc vẫn tham dự vào cuộc tranh đấu Phật giáo cho nhân quyền. Mình muốn coi cuộc đời là một cái gì không dính líu tới mình, mình chỉ bị bắt buộc ở đây thôi. Nên không muốn dấn thân vào những cuộc tranh chấp. Mình nghĩ mình khác, đời khác.
“ Nói chi thua được với đời
Ngại chi những tiếng ma cười đêm thâu”
Rất rùng rợn! “Ma cười đêm thâu”. Trong đêm đen có những con ma đang cười nói với mình. Đó là linh hồn của những người trong cuộc được thua đang mang nhiều đau khổ. Ta nghe tiếng cười của các loài ma quái. Tuy nói không muốn dính líu tới cuộc được thua, không muốn dính líu tới đời sống của các loài ma quái, nhưng ta bắt buộc phải sống chung với những người đang tranh đấu trong cuộc được thua đó. Lập trường của tác giả rất rõ là tôi không muốn dính líu tới cuộc đời này, cuộc đời này không phải là quê hương của tôi. Quê hương của tôi là tiên giới.
“Ngại chi những tiếng ma cười đêm thâu
Tâm hương đốt nén linh sầu
Nhớ quê dằng dặt ta cầu đó thôi”.
Ta làm thơ, viết nhạc chẳng qua đó là lời cầu nguyện chứ không phải ta tham dự vào cuộc tranh dành của quý vị. Ta không mua danh bán lợi, không tham dự vào cuộc được thua của quý vị. Ta làm thơ xuất bản, ngâm thơ, phổ nhạc là để cầu nguyện thôi. Mục đích của ta là cầu nguyện với quê hương của ta. Ta nhớ quê hương ngày đêm “ Nhớ quê dằng dặt ta cầu đó thôi”. Đừng tưởng ta làm những bài thơ này để ca tụng cuộc đời, để mua danh bán lợi. Ta làm những bài thơ này để cầu nguyện trong khi nhớ quê hương.
Chúng ta có những người tu theo Tịnh độ, nhưng vì họ mới bắt đầu tu nên họ có quan niệm đây không phải là quê hương của mình. Ta bà là chốn mình phải phát tâm chán ghét và Tịnh độ là chốn mà mình phải phát tâm mong cầu. Tìm cầu một cái và chán ghét một cái. Tâm trạng này cũng giống như thi sĩ. Ta không đầu tư vào cõi Ta bà này mà ta đang đầu tư vào cõi Tịnh độ nên mỗi ngày ta đều niệm Bụt. Thay vì làm thơ ta niệm “Nam mô A Di Đà Phật”. Đó cũng là sự cầu nguyện của ta. Tu Tịnh độ theo kiểu này thì cũng không khác gì mấy với làm thơ.
Trong khi Làng Mai chúng ta tu Tịnh độ một cách khác, chúng ta nói “Tịnh độ là đây, đây là Tịnh độ”. Ta phải biến nơi này thành cõi Tịnh độ. Vì vậy không có thái độ chán ghét một cái và tìm cầu một cái khác. Chư Tổ cũng đã khẳng định với chúng ta rằng “Tịnh độ ở trong tâm con người” ( duy tâm tịnh độ) đó là chiều sâu của đạo Bụt. Các vị thiền sư cũng đã nói muốn tìm giải thoát thì phải tìm ngay trong cõi sinh tử, chứ không phải từ bỏ sinh tử mà có giải thoát. Muốn tìm nước thì phải tìm ngay trong những con sóng, nếu bỏ sóng đi làm sao có nước? Đó là cái thấy bất diệt mà lúc bấy giờ thi sĩ chưa có được.
“ Tâm hương đốt nén linh sầu
Nhớ quê dằng dặt ta cầu đó thôi
Đêm nào ta trở về ngôi
Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian”
Ta có một ngôi vị ở trên thiên giới, có thể là Nam tào hoặc Bắc đẩu. Nếu ta trở về thì những lời cầu nguyện đâu còn ích lợi gì nữa “Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian”
Vì vậy “Một khi đã tắt cung đàn
Kể chi còn mất hơi tàn thanh âm”
Chúng ta thấy thi sĩ là một nhạc sĩ. Cung đàn đó là cung đàn muôn điệu. Thơ cũng là cung đàn. Khi đã làm xong phận sự nghệ sĩ rồi thì ta trở về ngôi vị của ta. Ta không để ý những bài thơ ta làm, những cung đàn ta đã hiến tặng cho đời còn hay không. Câu trả lời của thi sĩ là tôi đâu cần để lại gì và đâu cần để lại cho ai đâu. Thơ của tôi còn hay mất, người ta thích hay không thích, chuyện đó tôi không quan tâm. Vì tôi đã sinh ra trong cuộc đời này như một nghệ sĩ thì tôi đóng vai trò người nghệ sĩ. Vậy thôi! Làm xong, tôi đi. Người ta thích hay không thích, thơ tôi còn được truyền tụng hay không, tôi không cần biết. Trả lời cho câu hỏi “để lại cho ai” là không để lại cho ai cả và tôi không để lại gì cả.Vì tôi bị đày xuống dưới trần gian này nên tôi phải sống cuộc đời của một nghệ sĩ, xong xuôi tôi trở về quê hương của tôi. Đó là câu trả lời, đó là cái thấy của thi sĩ.
Hai chữ có không mầu nhiệm
Mình là người tu, đã học giáo lý rồi mình thấy như thế nào? Mình có phải là một cái ngã không? Khi sống với cuộc đời, cái ngã của mình có dính líu gì với cuộc đời không? Khi lìa đời có phải mình mang theo cái ngã của mình đi không? Mình có để lại gì không? Đó là những câu hỏi rất thực tế. Ví dụ cô Tám, anh Tám, cô Thái, cô Bảy, anh Thiều… khi họ đặt những câu hỏi này thì mình trả lời ra sao? Ta là ai? Ta đang làm gì ở đây? Ta muốn để lại gì không? Ta để lại cho ai? Những câu hỏi đó rất cần thiết cho tất cả chúng ta. Ta đã để lại gì? Những gì ta để lại có đẹp không, có giá trị nào không để đóng góp cho cuộc đời? Ta để lại cho con cháu ta, bạn bè ta hay để lại cho muôn đời sau?
Bây giờ chúng ta phải trở lại ba câu hỏi lúc ban đầu. Ta là ai? Ta để lại gì? Ta để lại cho ai? Trả lời được ba câu hỏi đó ta sẽ thấy khỏe nhẹ. Mỗi người phải tự đặt những câu hỏi đó cho mình. Sanh ra là sự biểu hiện. Chết đi là ẩn tàng. Có thể chúng ta nghĩ rằng trước khi sanh ra mình chưa có, và sau khi chết đi mình không còn nữa. Quan điểm đó gọi là đoạn kiến. Trước khi sanh mình chưa có, sau khi sanh mình bắt đầu có, rồi khi chết đi mình trở lại không có. Như vậy là mình bị kẹt vào cái thấy gọi là hữu vô, đoạn kiến.
Ví dụ điểm S là thời gian tôi bắt đầu sinh ra và tôi sẽ chết đi vào điểm T. Trước điểm S tôi không có, bắt đầu từ điểm S trở đi tôi có, sau điểm T tôi lại không có. Từ không trở thành có, từ có trở thành không. Đó là quan điểm của rất nhiều người, trong đó có một số nhà khoa học. Trong bài thơ “Bài ca dị hóa” trong tập thơ Rừng phong, Vũ Hoàng Chương cũng có đặt câu hỏi đó và đã bắt đầu thấy được vấn đề.
“Trải mấy hoang mang tìm kiếm
Lòng sao khát mãi chưa vừa
Hai chữ có không mầu nhiệm
Đêm đêm ta hỏi người xưa”.
Tác giả chưa thỏa mãn được sự khao khát hiểu biết của mình nên thao thức muốn đi tìm kiếm về ý nghĩa của chữ “có” và “không”. “Hai chữ có không mầu nhiệm. Đêm đêm ta hỏi người xưa” Người xưa tức là cổ nhân đã có kinh nghiệm, đã từng sống qua, đã từng có tuệ giác rồi. Tuệ giác đó đã được ghi chép lại trong kho tàng kinh sách của đạo Nho. Đêm đêm thắp đèn lên đọc sách của người xưa, xem kinh nghiệm của họ để giải quyết vấn đề “có – không”. Đó là bốn câu đầu của bài “Bài ca dị hóa”. Chúng ta cũng nên tìm đọc bài thơ đó cho vui. Trong bài đó cũng có mấy câu rất hay.
“Biển đông mờ mịt không mà có
Hay có mà không dị biểu ơi”
Có một câu mà mình phải nhớ là “Đâu lẽ có chiều qua mà không sáng nay”. Thấy em bé 19 tuổi chết đuối vì đi bơi hồ, ta tưởng là ngày hôm qua em có mà hôm nay tự nhiên không có. Đâu thể từ có mà trở thành không một cách dễ dàng như vậy được. Vì vậy đặt câu hỏi: Từ cái “không” có thể trở thành cái“có” được hay không? Hoặc từ cái “có”có thể trở thành cái “không” được hay không? Đó là câu hỏi rất thông minh. Nếu quan sát kỹ ta sẽ thấy được rằng không bao giờ từ “không” mà trở thành “có” và cũng không bao giờ từ “có” mà trở thành “không”.
Ví dụ đám mây bay trên trời có phải từ không trở thành có không? Đứng về phương diện khoa học mà xét thì đám mây không phải từ không mà trở thành có. Vì trước khi là đám mây thì nó đã là những cái khác rồi. Nó là hơi nóng, là nước hồ, nước sông… Vì vậy ta không thể nói rằng đám mây từ “không” mà trở thành “có”. Đám mây chẳng qua là sự tiếp tục mà thôi. Thế nên ý niệm về “không” và “có” cần phải được xét lại. Ngày hôm qua có mưa dông, nhìn lên trời ta không thấy đám mây nữa, như vậy đám mây có thể từ “có” trở thành “không” được không? Không thể nào được, đám mây không thể chết được, không thể nào trở thành không được. Đám mây chỉ có thể trở thành mưa, trở thành sông ngòi, ao hồ. Đám mây không thể trở thành “không” được. Thi sĩ đã đặt câu hỏi rất thông minh “đâu lẽ có chiều qua mà không sáng nay?” Chính nhờ câu hỏi đó mà sau này tác giả có thể thức tỉnh lại được, thấy được đạo lý vô sinh và bất diệt.
Chúng ta là những người có cơ hội tiếp xúc với giáo lý mầu nhiệm của đạo Bụt. Chúng ta có cơ hội ngồi thiền, đi thiền, tại sao ta không dùng thời gian đó để quán chiếu sâu sắc mà cứ tiếp tục làm nạn nhân cho sự sợ hãi, làm nạn nhân cho con người sai lầm về ý niệm“có” và “không”. Em bé hôm qua hỏi sau khi chết thì điều gì sẽ xảy ra. Ta có thể trả lời cho bé không? Vì khi 12 tuổi, có thể mình cũng đã bắt đầu có những thắc mắc như vậy. Khi em bé thấy một con chim chết, không còn bay, không còn hót nữa, bé liên tưởng đến bản thân và đặt hỏi điều gì xảy ra khi mình chết? Có phải mình từ “có” trở thành “không” hay không? Ta phải đặt câu hỏi đó để quán chiếu. Tại sao em bé 12 tuổi có nhu yếu đó mà ta là người lớn lại không có nhu yếu đó? Tại sao ta lại để cho mình bận rộn suốt ngày từ chuyện này sang chuyện khác mà không có thời gian để quán chiếu? Chúng ta để cho những buồn vui nho nhỏ lôi kéo làm mất hết ngày, hết tháng, hết cả cuộc đời ta.
“Đâu lẽ có chiều qua mà không sáng nay”. Một câu hỏi như vậy thôi, cũng đủ cho chúng ta thấy được bản chất vô sinh bất diệt của chúng ta mà vượt thoát sợ hãi. Chúng ta biết rằng hôm nay mình phải làm gì để hiến tặng cái đẹp nhất cho đời. Đức Thế Tôn đã chỉ cho ta một con đường, một phương pháp quán chiếu để đừng bị kẹt vào ý niệm sinh và tử, có và không, ngã và phi ngã. Lúc đó thi sĩ Vũ Hoàng Chương nghĩ rằng mình có một cái ngã. Cái ngã đó có thể không dính líu gì đến cuộc đời. Nhưng khi quán chiếu sâu sắc ta thấy rằng cái gì cũng liên quan mật thiết với tất cả những cái khác mà không có một cái ngã tồn tại biệt lập.

Ta để lại chính ta trong cuộc đời này
Chúng ta thường có ý nghĩ rằng mình để lại cho đời một đứa con. Ví dụ như chú Thư và chị Hạnh Hương để lại Bảo Tích; và rồi mình hỏi anh chị để lại cho ai? Để lại cái gì? Để lại Bảo Tích. Để lại cho Sư Ông. Nhưng sự thực là mình để lại chính mình. Con của mình chính là sự tiếp nối của chính mình. Quý vị không cần phải làm đám cưới mới có con. Chúng ta có con trong từng giây từng phút. Mỗi giây phút ta đều suy nghĩ, tư duy. Những tư tưởng của chúng ta có thể là hận thù, độc hại, oán hờn, đen tối… và như thế mỗi giây phút hằng ngày ta đều để lại những thứ đó. Tuy nhiên ta cũng có thể để lại những tư tưởng đẹp đẽ như những ý tưởng tràn đầy lòng yêu thương và sự hiểu biết đó gọi là chánh tư duy, là tặng phẩm ta hiến tặng cho đời. Nói là hiến tặng cho đời nhưng sự thực là hiến tặng cho ta.
Những tư tưởng mà ta phát ra trong từng giây phút của đời sống hằng ngày là ý nghiệp của ta, là sự tiếp nối của ta, là con của ta. Đó chính là chúng ta. Những câu nói mà mình phát ra cũng là những hiến tặng của chúng ta trong giây phút hiện tại. Nó là con của chúng ta và nó sẽ tiếp nối ta đi về tương lai. Những hành động trong đời sống hằng ngày của mình cũng vậy, nếu là sát, đạo, dâm thì hành động đó là sự tiếp nối xấu xa của chúng ta. Đó cũng là quà tặng của ta cho chính ta và cho cuộc đời. Vì vậy trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày, ta đều hiến tặng những hành động của thân, khẩu, ý. Đó là con, là gia tài của ta, ta không thể nào tránh thoát được.
Trong kinh cũng có dạy là khi chết chúng ta đem theo tất cả những nghiệp thân, khẩu, ý của mình. Đó là sự tiếp nối của mình. Những nghiệp đó nếu đẹp thì ta đem theo cái đẹp, nếu xấu thì ta đem theo cái xấu. Những điều ta suy tư, nói năng và hành động không mất đi đâu cả, chúng tiếp nối ta dài dài. Sau khi chết ta không đem theo gia sản, danh vọng, quyền hành hay địa vị… mà đem theo tất cả nghiệp của ta. Khi chết, tôi sẽ không đem theo được gì hết ngoài những nghiệp của ta. Nghiệp đó có thể là nghiệp tốt hoặc nghiệp xấu. Vì vậy những gì mình đang suy tư, nói năng, hành động là gia tài mà sau này mình sẽ đem theo. Đó là mình. Bảo Tích chẳng qua chỉ là một trong những thứ mình hiến tặng thôi, mình còn hiến tặng những thứ khác nữa trong đời sống hằng ngày. Vì ngày nào mình cũng tư duy, nói năng, hành động. Đó là tác phẩm của mình, là con của mình, là chính mình.
Khi tôi dạy cho một sư cô hay một sư chú, tôi trao truyền cho sư cô, sư chú đó những gì mà tôi nghĩ là đẹp nhất, hay nhất của tôi. Tức là tôi hiến tặng chính tôi, tôi để lại chính tôi cho cuộc đời. Tôi không nói như thi sĩ là không muốn dính líu gì tới cuộc đời. Vì cuộc đời là chính mình. Tất cả những gì mình nói, làm, suy nghĩ đều là để đầu tư vào tương lai. Mình thấy được sư cô, sư chú là sự tiếp nối của mình. Vì vậy trong giây phút hiện tại mình phải làm thế nào để những gì mình để lại là những cái đẹp, lành và tốt. Mình không muốn để lại những cái gì xấu xa, hận thù, nhỏ mọn, đen tối. Nếu lỡ trong quá khứ chúng ta đã để lại những điều tiêu cực xấu xa, đen tối, hận thù và chúng đã lên đường rồi làm sao ta chạy theo kịp để sửa nó, để kéo nó về?
Lời nói một khi đã phát ra thì xe bốn ngựa cũng không chạy theo kịp để đem nó về lại cho mình “tứ mã nan truy”. Vì vậy ta phải cẩn thận. Một tư tưởng đã phóng đi, thì dù máy bay trực thăng cũng không đuổi kịp để kéo nó lại.Vì vậy ta phải cẩn thận trong từng giây, từng phút đối với tư duy, ngôn ngữ, hành động của ta. Làm thế nào để ta có thể cải biến được nghiệp xưa? Chúng ta có một nẻo thoát. Cũng giống như ta fax cho người bạn một tờ fax, trong bản fax đó vì tư duy sai lầm, nên mình đã lên án, la mắng, trách móc người bạn đó, và mình biết rằng tờ fax đó sẽ gây ra những đổ vỡ trong lòng mình và bạn. Vì vậy mình viết một tờ fax thứ hai để xin lỗi, để trung hòa tờ fax ban đầu. Mình nói rằng trong giây phút hấp tấp, giận dỗi, mình đã phát ra những tư tưởng, lời nói như vậy, mình rất xấu hổ, mình xin bạn tha thứ cho mình. Tờ fax thứ hai sẽ trung hòa hóa được trình trạng trong quá khứ của mình, mình có thể chuyển đổi nghiệp bằng cách đó.
Trong chúng ta ai mà không có những lầm lỗi trong quá khứ; ta đã nghĩ, nói, làm những điều không có giá trị, những điều không có chất liệu của hiểu biết và thương yêu. Tuy nhiên chúng ta vẫn đang còn đây, chúng ta có cơ hội và có khả năng làm mới trở lại. Khi làm mới chúng ta có thể chuyển đổi được tất cả. Hay như vậy đó! Đạo Bụt mở ra cho chúng ta những hướng đi rất mầu nhiệm. Chúng ta có thể ôm được quá khứ, có thể thay đổi được quá khứ bằng cách hành xử của chúng ta trong giây phút hiện tại. Bắt đầu quán chiếu là ta đã thấy được vấn đề “ta là ai?” “Ta đã để lại gì?”
Ta có thể nói ta là cuộc đời, ta được làm bằng những yếu tố không phải là ta; ta được làm bằng tổ tiên, cha mẹ, ông bà, đất nước, giáo dục, kinh tế, xã hội. Ta là như vậy. Rất khoa học. Ở đây không mang tính chất siêu hình. Khi nhìn vào bản thân với con mắt quán chiếu ta thấy được rằng ta là sự tiếp nối của cha mẹ, tổ tiên, ông bà, của nền văn hóa dân tộc, văn hóa thế giới, của hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội… Ta có thể thay đổi ta, để có thể cống hiến cho tương lai những cái đẹp hơn mà ta đã tiếp nhận. Ta có thể làm hay hơn cha mẹ, tổ tiên. Đó là nhờ Pháp của Bụt. Cha mẹ, tổ tiên trong ta sẽ rất hài lòng về ta. Đó là câu trả lời cho câu hỏi đầu “ta là ai?” Không phải siêu hình gì cả, rất rõ ràng và khoa học. Ta là cha mẹ, tổ tiên, ông bà, xã hội. Ta có thể chuyển hóa ta để làm cho ông bà, cha mẹ, và tổ tiên ta đẹp hơn.
Câu hỏi thứ hai “ta để lại gì ?” Câu trả lời là không nên kẹt vào lưỡng nguyên, có người để lại và vật để lại. Người để lại và vật để lại là một, ta để lại chính ta trong cuộc đời này. Cũng như chúng ta nói cha mẹ trao truyền hình hài này cho mình. Cha mẹ là người trao truyền, hình hài này là vật trao truyền và mình là người tiếp nhận hình hài này. Trong sự trao truyền có ba yếu tố: người trao truyền, vật trao truyền và người tiếp nhận sự trao truyền. Đức Thế Tôn đã dạy rất rõ ràng là ba yếu tố đó không có thực thể riêng biệt. Khi nhìn sâu vào vật trao truyền ta thấy người trao truyền là cha mẹ. Cha mẹ trao tuyền chính con người cha mẹ cho mình, vì trong mỗi tế bào cơ thể mình ta thấy được sự có mặt của cha mẹ với tất cả khổ đau và hạnh phúc của cha mẹ. “Ta còn để lại gì không?". Có. Ta để lại ta một cách toàn vẹn với tất cả thân, khẩu, ý của ta. Ta trao lại cho Bảo Tích nhưng ta cũng trao lại cho cuộc đời. Bảo Tích cũng là ta, cuộc đời cũng là ta. Thành ra người trao truyền và vật trao truyền không phải là hai thực thể cách biệt, người tiếp nhận trao truyền cũng đồng thời là vật trao truyền và người trao truyền. Bảo Tích là chú Thư, là chị Hạnh Hương, là ông nội, ông ngoại… Đó là sự tiếp nối.
Trao truyền cũng cần phải có nghệ thuật. Làm thế nào để ta chỉ trao truyền những cái đẹp mà đừng trao truyền những cái xấu. Như thế chúng ta sẽ có một tương lai tươi sáng. Vì vậy khi thấy được giáo lý Tam luân không tịch này thì ta bắt đầu trả lời đúng câu hỏi mà ta nêu ra lúc đầu: Ta là ai? Ta trao truyền gì? Ai là người tiếp nhận sự trao truyền? Ta thấy ba cái đó không phải là ba cái tách biệt nhau. Thấy được điều đó, ta sẽ vượt thoát ý niệm ta từ “không” mà trở thành “có” và từ “có” trở thành “không”.
Ta thấy bài này là một lời mời mọc. Nếu giảng hết bài này thì không đủ thời gian đi thiền hành, đi picnic nên mình phải chấm dứt tại đây. Đây là sự mời mọc để quý vị đặt lại ba câu hỏi. Nếu đặt được ba câu hỏi này rồi thì con đường trước mặt mình rất xán lạn. Quý vị biết mình phải làm gì ngày hôm nay và không còn có cảm giác là con đường phía trước mờ mờ, ảo ảo và mình không biết đi về đâu. Con mắt mình được mở ra và mình biết sống như thế nào cho có nghệ thuật, có hạnh phúc để mỗi giây phút của đời sống hằng ngày, mình có thể hiến tặng được cho mình, cho tổ tiên, cho con cháu mình những gì đẹp nhất mà mình có thể hiến tặng dưới ba dạng tư duy (chánh tư duy), lời nói (chánh ngữ) và hành động (chánh nghiệp). Đó là ba then chốt của con đường Bát chánh đạo.
Ngắt một cành hoa làm bút yêu thương
Vũ Hoàng Chương bị đi học tập cải tạo, phải can thiệp lắm mới được thả ra. Khi thả ra thì ông rất ốm yếu, sức khỏe không còn nữa. Từ Pháp chúng tôi đã gởi thuốc, quà cho bà Vũ Hoàng Chương để có thể nuôi ông trong trại học tập cải tạo. Tất cả chúng ta – những người Phật tử, từng tham dự trong cuộc tranh đấu chống lại chế độ độc tài để khơi mở, bồi dưỡng tình huynh đệ, đều thấy rằng Vũ Hoàng Chương với tư cách một thi sĩ đã đóng góp rất nhiều cho cuộc tranh đấu đó. Những lời thơ ông nói ra thấm nhuần Phật Pháp và không mang chất liệu của hận thù.
Nếu có cơ hội mình sẽ đọc thêm vài bài nữa của Vũ Hoàng Chương. Khi nghe tin Vũ Hoàng Chương mất, Thầy có làm một bài thơ, Thầy dùng những danh từ trong thơ của Vũ Hoàng Chương để ca ngợi Vũ Hoàng Chương giờ phút chót đã thấy được đạo, biết được con đường trở về, đã để lại cho đời rất nhiều cái đẹp, biết ngắt một cành hoa làm bút yêu thương viết lên những bài thơ tràn đầy tính chất bất bạo động và lòng thương yêu:
“Đêm này dù đã về ngôi
Hồn thơ vẫn cứ luân hồi thế gian
Bút hoa ngàn kiếp không tàn
Đuốc thơ còn cháy trên trang sử người
Có không mù mịt biển khơi
Nẻo về đã rạng chân trời thênh thang
Tĩnh say vẫn một cung đàn
Lửa anh hào đốt cháy tan đêm sầu
Thơ lên bay vút bồ câu
Triều âm chấn động phương nào cũng nghe
Giấc mơ hồ điệp đi về
Biển đông sóng vỗ kình nghê vẫn còn”.
Thông điệp thương yêu của NS. Trịnh Công Sơn
Phiên tả từ pháp thoại của Thầy Làng Mai ngày 01-02-2004 tại tu viện Lộc Uyển
Hôm nay chúng ta sẽ được nghe quý thầy, quý sư cô hát nhạc Trịnh Công Sơn. Bây giờ mời đại chúng nghe Sư cô Chân Không hát bài Nắng Thủy Tinh.
“Màu nắng hay là màu mắt em, mùa thu mưa bay cho tay mềm, chiều nghiêng nghiêng bóng nắng qua thềm, rồi có hôm nào mây bay lên (…) ngàn cây thắp nến nến hai hàng, để nắng đi vào trong mắt em”.
Trịnh Công Sơn sinh năm Kỷ Mão, 1939. Thân phụ là một người yêu nước, đã tham gia kháng chiến chống Pháp nên đã bị cầm tù nhiều năm ở Lao Thừa Phủ, vì vậy Trịnh Công Sơn được tiếp nhận hạt giống yêu nước và dũng cảm từ ba mình.
Sở dĩ Trịnh Công Sơn dám nói những gì mình nghĩ qua những bài hát ông sáng tác là nhờ Trịnh Công Sơn có sự can đảm, có lòng yêu nước, yêu dân. Có nhiều người cũng có cùng cảm nghĩ như Trịnh Công Sơn nhưng không dám nói ra. Thế nên có những bài hát của ông được gọi là phản chiến, phản chiến nhưng kỳ thực không phải là phản chiến. Những lời nói của ông là những lời nói rất trung thực. Thấy những người anh em của mình, anh em miền Nam cũng như miền Bắc, chết mỗi ngày, Trịnh Công Sơn rất đau khổ nên đã nói ra sự thực đó.
Yêu nước, yêu dân, can đảm, đó là những hạt giống chúng ta có thể nhận thấy trong Trịnh Công Sơn. Trong mỗi con người chúng ta cũng vậy, cũng có hạt giống yêu nước thương dân. Vì vậy nghe Trịnh Công Sơn, chúng ta có cảm nhận như Trịnh Công Sơn đang nói dùm cho ta.
Mẹ của Trịnh Công Sơn là một người mẹ kiểu mẫu, một phật tử rất thuần thành, đi chùa thường xuyên, có lòng từ bi rất lớn, đã chịu đựng bao nhiêu khó khăn, gian khổ để nuôi con. Thân phụ của Trịnh Công Sơn bị tai nạn mất năm Trịnh Công Sơn mới 15 tuổi, bà phải một mình vừa làm cha, vừa làm mẹ nuôi tám đứa con. Đã có rất nhiều người đàn bà đi ngang qua cuộc đời của Trịnh Công Sơn, nhưng không có ai ở lâu với Trịnh Công Sơn cả, chỉ có một người duy nhất ở lâu với Trịnh Công Sơn đó là mẹ ông. Trịnh Công Sơn luôn luôn quay về nương tựa mẹ, một tình mẫu tử rất bền bỉ. Lớn rồi mà vẫn thấy mình là đứa con nít cần có mẹ. “Mẹ bỏ con đi, mẹ bỏ con bơ vơ một mình”. Trịnh Công Sơn có lần than thở, có lần ký thác tâm sự của mình rằng đứng trước một xác chết, một thây người vừa ngã xuống vì súng đạn, Trịnh Công Sơn không nghĩ đó là ta hay địch, cộng sản hay quốc gia. Trịnh Công Sơn chỉ biết đó là một người đồng bào, một người anh em vừa mới chết, là nạn nhân của một cuộc chiến tranh thảm khốc vô nghĩa. Đây là nguyên văn của Trịnh Công Sơn:
“Khi tôi đứng bên một xác người, tôi không nghĩ đó là ta hay là địch, mà đó là một thân phận chịu đựng sự vô nghĩa của chiến tranh”.
Thấy người nào chết cũng thương hết vì người nào cũng là đồng bào của mình. Hát và nói ra như vậy rất nguy hiểm. Chúng tôi cũng đã làm những bài thơ như vậy, những bài thơ nói về kháng chiến, nói về sự vô lý của chiến tranh và nói rằng anh em một nhà không nên bôi mặt đá nhau. Những bài thơ đó được xuất bản trước những bản nhạc của Trịnh Công Sơn vài năm, được đăng trên các tờ báo Hải Triều Âm và Thiện Mỹ nhưng người ta gọi đó là thơ phản chiến. “Anh nhân danh ai, em nhân danh ai, mà giết nhau?” và tôi kêu gọi hai bên đều trở về quỳ dưới chân mẹ sám hối. Những bài thơ đó, nếu quý vị muốn đọc lại thì tìm trong cuốn “Thơ Từng Ôm Và Mặt Trời Từng Hạt”.
Mẹ của Trịnh Công Sơn đã trao cho Trịnh Công Sơn những hạt giống rất lành và rất đẹp, đầy tình người, đầy tình thương yêu. Trịnh Công Sơn là người thực tập giới thứ nhất rất tốt, bởi vì nhận thức của Trịnh Công Sơn về sinh mạng con người rất phù hợp với nhận thức của Đức Thế Tôn. Trịnh Công Sơn nói rằng không ai có quyền quyết định sinh mạng của con người, không ai có quyền cho người này chết hay người kia sống. Tôi xin đọc nguyên văn của Trịnh Công Sơn để quý vị có thể thấy rõ điều này:
“Chúng ta là một con người, chúng ta không phải là thượng đế, chúng ta không có quyền định đoạt số phận của người khác. Ta không thể nói người này đáng được sống, người kia đáng giết. Mình không có quyền cho phép ai chết cả, ngay cả giải quyết số phận của một ngọn cỏ cũng phải suy nghĩ, ngắt đi một bông hoa bên vệ đường cũng phải suy tư, huống chi số phận con người quá lớn và chúng ta không có quyền quyết định số phận con người”.
Đó là giới thứ nhất, bảo vệ sinh mạng. Lời nói này là lời nói của Bụt, của Đức Thế Tôn. Trịnh Công Sơn đã đại diện Đức Thế Tôn để nói lên điều này. Vì vậy Trịnh Công Sơn không tham dự vào cuộc chiến, đó cũng là chuyện đương nhiên. Hạt giống của nhân ái, của từ bi mà mẹ nhạc sĩ đã trao cho nhạc sĩ được thấy rất rõ trong những bài hát của Trịnh Công Sơn. Những bài hát chuyên chở lòng nhân ái và tình người đó, chúng ta có thể hát để tưới tẩm hạt giống từ bi và để làm tan rã những chất liệu hận thù trong ta. Những bài hát củaTrịnh Công Sơn nói về tình người giống như những bài kinh mà ta có thể tụng được. Tôi bắt đầu thương Trịnh Công Sơn khi nghe Khánh Ly hát bài Tình ca của người mất trí.
“Tôi có người yêu chết trận Plei-me
Tôi có người yêu ở chiến khu "Đ"
Chết trận Đồng Xoài, chết ngoài Hà Nội
Chết vội vàng dọc theo biên giới
Tôi có người yêu chết trận Chu Prong
Tôi có người yêu bỏ xác trôi sông
Chết ngoài ruộng đồng
Chết rừng mịt mùng mình cháy như than…”
Người yêu, người thiếu nữ đó là ai? Là bất cứ người nào. Họ là người Nam. Họ là người Trung, tất cả đều là người yêu của tôi và họ chết thì tôi điên. Tôi muốn yêu anh, yêu Việt Nam và tình yêu này là tình yêu đối với một người, mà cũng là tình yêu chung cho cả dân tộc. Nghe bài này chúng ta thấy rất rõ, rằng người yêu trong bài hát đó là tất cả những người con trai Việt Nam, những người con trai sinh ra ở miền Bắc, những người con trai sinh ra ở miền Nam, và những người con trai sinh ra ở miền Trung. Vì cuộc chiến tương tàn mà những người này phải chết, thế nên ta thương hết tất cả những người này, vì tất cả là người yêu của mình.
Thiền là chánh niệm, chánh niệm là khả năng nhận biết những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Có những người muốn làm lợi trên chiến tranh, có những người muốn bưng bít sự thật đang xảy ra, sự thật đang xảy ra là anh em một nhà đang giết nhau, thảm kịch đang xảy ra cho đất nước, mà chúng ta không được phép nói lên. Khi Trịnh Công Sơn hát lên và nói lên niềm đau đó của dân tộc, của người trẻ tức là Trịnh Công Sơn đang thực tập thiền, “anh có biết, chị có biết những gì đang thực sự xảy ra không?” Đó là những chuyện ta đang giết nhau. Chúng ta đang chết vì một cuộc chiến tranh, chiến tranh vì ý thức hệ với vũ khí của ngoại ban. Lời hát đó một mặt nói lên được lòng yêu nước, yêu dân, một mặt nói lên được sự can trường của nhạc sĩ, nói lên được lòng từ bi và ý nguyện bảo vệ sự sống, bảo vệ giống nòi. Đó là hạt giống tốt mà Trịnh Công Sơn đã tiếp nhận từ ba và từ mẹ.
Nếu biết ơn Trịnh Công Sơn đã viết cho mình những bài ca rất đẹp đó thì mình phải biết ơn ba mẹ Trịnh Công Sơn. Bởi vì chúng ta, người nào cũng có cội nguồn, gốc rễ và cội nguồn, gốc rễ của chúng ta là ba mẹ, ông bà chúng ta. Chúng ta thấy rằng tình yêu trong bản tình ca đó, không phải là một cá nhân, mà cả một thế hệ thanh niên Việt Nam đã ngã gục trong chiến tranh ý thức hệ, rất tàn ác. Năm 15 tuổi, thân phụ Trịnh Công Sơn bị tai nạn chết, tất cả mọi người đều lên chùa Phổ Quang để làm lễ cầu siêu, thầy trụ trì chùa Phổ Quang hồi đó là hòa thượng Chánh Pháp. Hòa thượng là một vị kinh sư nổi tiếng ở Huế, tụng kinh rất hay, âm nhạc Phật Giáo rất giỏi. Có nhiều ngày, vì nỗi đau mất cha, Trịnh Công Sơn đã ở luôn trong chùa từ sáng đến tối. Ở lại chùa nghe kinh, kệ và gần gũi quý thầy cho niềm đau lắng xuống. Chùa Phổ Quang ở gần Bến Ngự và nhà của Trịnh Công Sơn cũng ở gần đó, nên Trịnh Công Sơn thường thích qua chùa.
Trịnh Công Sơn cũng đã quy y với Hòa thượng chùa Phổ Quang với pháp danh là Nguyên Thọ. Nguyên là suối nguồn, Thọ là trao truyền, được trao truyền từ suối nguồn. Trao truyền cái gì? Trao truyền lòng nhân ái, từ bi và dũng cảm. Nếu không thấy được gốc rễ của Trịnh Công Sơn thì chúng ta chưa thấy Trịnh Công Sơn một cách sâu sắc. Bổn sư của Trịnh Công Sơn là Hòa thượng Chánh Pháp. Hòa thượng là người quen của thầy Nhất Hạnh. Làng Mai chúng ta cũng có một cuốn băng tụng kinh của Hòa thượng tụng với sư anh của thầy Nhất Hạnh là Thượng tọa Chí Niệm ở chùa Linh Mụ và trong cuốn băng ấy có cả công phu sáng mà hầu hết quý thầy, quý sư cô Làng Mai đều đã được nghe. Tiếng của hai thầy rất hay. Chắc chắn Trịnh Công Sơn đã nghe quý thầy tụng rất nhiều lần, và âm nhạc của kinh kệ đã đi vào trong máu huyết củaTrịnh Công Sơn, cho nên sau này âm nhạc của Trịnh Công Sơn có âm hưởng của kinh kệ.
Hoàng Phủ Ngọc Tường là một người bạn rất thân của Trịnh Công Sơn kể lại rằng Trịnh Công Sơn cũng hay tới Chùa Hiếu Quang. Quý vị có biết chùa Hiếu Quang là chùa nào không? Chùa Hiếu Quang là chùa có vị kinh sư rất giỏi mà tiếng tụng kinh của ngài có thể nói là hay bậc nhất ở Huế, đó là một trong ba vị kinh sư nổi tiếng nhất ở Huế, có giọng tụng cao nhất. Bây giờ ta cũng đang có cuộn băng những bài xướng, tán, tụng và hô canh của hòa thượng Hiếu Quang. Trịnh Công Sơn cũng đã được nghe hòa Thượng Hiếu Quang tán tụng.
Hôm qua Ni sư Như Minh có điện thoại về Huế, thượng tọa Phước Toàn và thượng tọa Hải Ấn cho biết vào khoảng năm 1955 đến 1958 Trịnh Công Sơn đi chùa rất nhiều. Nhiều khi ở luôn trong chùa và ngủ lại qua đêm. Thường là lên chùa Hiếu Quang và chùa Phổ Quang. Lúc đó hòa thượng Hiếu Quang có mở một lớp dạy tán tụng tại chùa Phổ Quang và Trịnh Công Sơn đã tham dự vào lớp học đó, đã học tụng kinh và học tán với hòa thượng Hiếu Quang và Bổn sư của mình. Theo thượng tọa Huệ Ấn, đương kim trụ trì chùa Phổ Quang, là đệ tử thầy Chánh Pháp, cho biết tuy thầy Huệ Ấn là người xuất gia nhưng là em của Trịnh Công Sơn, Trịnh Công Sơn tuy là cư sĩ nhưng là anh đồng sư của thầy Huệ Ấn vì Trịnh Công Sơn quy y trước.
Trịnh Công Sơn thông minh và có năng khiếu tán tụng. Trong khi cùng học chung với các sư chú khác, các sư chú tán chưa được thì Trịnh Công Sơn đã tán được rồi, Trịnh Công Sơn học rất mau. Vì thế ta biết rằng Trịnh Công Sơn nắm được kỹ thuật tán tụng từ trong nhà chùa. Thượng tọa Chân Thức (ngày xưa là thị giả của đức Tăng Thống Thích Tịnh Khiết) Thượng tọa Phước Toàn, Thượng tọa Huệ Ấn cũng đã từng chơi với Trịnh Công Sơn. Điều này chứng tỏ Trịnh Công Sơn đã được nuôi dưỡng nhiều ngày, nhiều năm trong không khí thiền môn và cũng đã nghe âm nhạc Phật giáo rất nhiều.
Có rất nhiều bản nhạc của Trịnh Công Sơn vừa có thể hát được vừa có thể tụng được. Giữa âm nhạc của nhà chùa và âm nhạc Trịnh Công Sơn có một sự tiếp nối rất lạ kỳ. Chúng ta sẽ nghe tụng bài “Quy y Phật” bằng chữ Hán, rồi nghe tụng bài “quay về nương tựa” bằng tiếng Việt và sau đó nghe tụng bài “Đại bác ru đêm”, ta sẽ thấy được đều đó. Hôm nay Trịnh Công Sơn đang có mặt với chúng ta, đang tu với chúng ta, đang nghe pháp thoại với chúng ta.
“Đại bác đêm đêm dội về thành phố
Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe,
Đại bác qua đây đánh thức mẹ dậy
Đại bác qua đây con thơ buồn tủi
Nửa đêm sáng chói, hỏa châu trên núi
Đại bác đêm đêm dội về thành phố
Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe
Từng chuyến bay đêm, con thơ giật mình
Hầm trú tang hoang ôi da thịt vàng
Từng đêm trông sáng, làm mát quê hương
Đại bác đêm đêm dội về thành phố
Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe
Đại bác đêm đêm tương lai rụng vàng
Đại bác như kinh không mang lời nguyền
Trẻ thơ quên sống từng đêm nghe ngóng
Đại bác đêm đêm dội về thành phố
Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe .
Đại bác đêm đêm ru da thịt vàng
Đại bác nghe quen như câu dạo buồn
Trẻ thơ chưa lớn để thấy quê hương .
Hàng vạn tấn bom trút xuống đầu làng
Hàng vạn tấn bom trút xuống ruộng đồng
Cửa nhà Việt nam cháy đỏ cuối thôn.
Hàng vạn chuyến xe claymore, lựu đạn ,
Hàng vạn chuyến xe mang vô thị thành
Từng vùng thịt xương có mẹ có em”.
Trong truyền thống đạo Bụt, chúng ta được học rằng, trong tâm thức có nhiều hạt giống. Chúng ta có hạt giống của thương yêu, của tha thứ, của hy vọng, nhưng chúng ta cũng có những hạt giống của giận hờn, của tuyệt vọng, của khổ đau. Những bài kinh có tác dụng tưới tẩm những hạt giống tốt đẹp, hạt giống hiểu biết, hạt giống thương yêu. Một số bài hát của Trịnh Công Sơn cũng có tác dụng tưới tẩm những hạt giống hiểu biết và thương yêu trong ta và những bài hát đó người tu có thể hát được.
Trịnh Công Sơn có rất nhiều tuệ giác của đạo Bụt. Nghe cho kỹ, chúng ta có thể nhận diện được tuệ giác đó trong nhạc Trịnh Công Sơn. Ở Làng Mai chúng ta thực tập an trú trong giây phút hiện tại, không để tâm buồn khổ về những chuyện quá khứ, không để tâm lo lắng về những sợ hãi trong tương lai. Bụt dạy chúng ta trở về giây phút hiện tại để sống với giây phút đó cho sâu sắc. Giáo lý đó gọi là hiện pháp lạc trú. Trong giây phút hiện tại có đủ những mầu nhiệm của sự sống, nếu chúng ta biết trở về với sự sống hiện tại thì chúng ta có thể tiếp xúc được với sự sống và chúng ta được nuôi dưỡng bằng sự sống đó. Nhờ vậy chúng ta có đủ bình an và vững chãi để chuyển hóa được những nỗi khổ, niềm đau trong ta. Trịnh Công Sơn cũng có được tuệ giác này. Tuệ giác của hiện pháp lạc trú. Đức thế Tôn luôn luôn khuyên chúng ta trở về sống với giây phút hiện tại mà đừng đi tìm hạnh phúc ở tương lai. Hạnh phúc đã có mặt sẵn trong giây phút hiện tại rồi.
Trong cuộc phỏng vấn với nhà báo, phóng viên hỏi Trịnh Công Sơn thế nào về chủ nghĩa hiện sinh, Trịnh Công Sơn nói: “hiện sinh chân chính không phải là xấu”. Hiện sinh có nghĩa là phải để ý tới giây phút hiện tại. Hiện là bây giờ, sinh là sự sống, sự sống trong giây phút hiện tại. Trịnh Công Sơn nói rằng“ Bụt là nhà hiện sinh” vì Ngài khuyên chúng ta trở về sống với giây phút hiện tại, và Bụt Thích Ca là bậc thượng thừa, bậc thượng thừa của chủ nghĩa hiện sinh. Đây là nguyên văn của Trịnh Công Sơn:
“Hiện sinh chân chính đâu phải là xấu, mình cho rằng bậc thượng thừa của hiện sinh chính là ông Phật. Tại vì Phật dạy ta phải thức tỉnh trong từng sát na của cuộc sống”.
Trịnh Công Sơn đã đưa ra ví dụ là khi tôi và anh uống một ly bia , thì chúng ta hãy hưởng trọn vẹn sự sung sướng của ly bia, hoặc khi ăn cơm mình hãy tập trung vào chén cơm và thức ăn đưa vào miệng. Tức là ăn cơm có chánh niệm, có ý thức; nghĩa là khi ăn chỉ nghĩ đến chuyện ăn thôi mà đừng nghĩ đến chuyện khác. Thực tình, khi con người tỉnh thức trong từng sát na một thì chủ nghĩa hiện sinh không còn là gì cả. Sống nếp sống tỉnh thức trong từng giây phút là điều Trịnh Công Sơn hướng tới. Người này sống bình tĩnh trong từng sát na chứ không sống vội vàng. Chúng ta thấy rằng Trịnh Công Sơn đã nắm được giáo lý hiện pháp lạc trú.
Có điều, Trịnh Công Sơn không có tăng thân cho nên Trịnh Công Sơn không được bảo hộ và sống đúng theo tuệ giác này. Mặc dù có tuệ giác nhưng bạn bè cứ mời đi uống rượu, mời đi chơi hằng ngày thì làm sao sống được với tuệ giác ấy. Chúng ta thật may mắn là chúng ta làm được những gì mà Trịnh Công Sơn muốn làm. Ông đã đưa được tuệ giác này vào trong bài hát “ Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui”.
“Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui
Chọn những bông hoa và những nụ cười
Tôi nhặt gió trời, mời em giữ lấy
Để mắt em cười tựa lá bay.
Và như thế tôi sống vui từng ngày
Và như thế tôi đến trong cuộc đời,
Đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi.
Mỗi ngày tôi chọn đường mình đi
Đường đến anh em, đường đến bạn bè
Tôi đợi em về, bàn chân quen quá
Thảm lá me vàng lại bước qua.
Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui
Cùng với anh em tìm đến mọi người
Tôi chọn nơi này cùng nhau ca hát
Để thấy tiếng cười rộn rã bay.
Mỗi ngày tôi chọn một lần thôi
Chọn tiếng ru con nhẹ bước vào đời,
Tôi chọn nắng đầy, chọn cơn mưa tới
Để lá reo mừng tựa vẫy tay.
Mỗi ngày tôi chọn ngồi thật yên,
Nhìn rõ quê hương và nghĩ lại mình
Tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống
Vì đất nước cần một trái tim.”
Nếu sống được như tuệ giác của bài hát này thì chúng ta có khả năng mang lại hạnh phúc cho rất nhiều người. Cho nên có thể nói Trịnh Công Sơn đã kiến đạo, kiến đạo tức là thấy đạo, thấy con đường để trở về sống sâu sắc từng giây từng phút của cuộc sống hằng ngày. Kiến đạo rồi ta phải tu đạo nữa thì mới chứng đạo được. Muốn tu đạo, phải có tăng thân, có bạn đồng hành cùng có chung tuệ giác với mình. Ba bốn người, năm sáu người bạn quyết tâm sống theo cái thấy này thì chúng ta có hạnh phúc rất rộng lớn và có thể làm chỗ nương tựa cho nhiều người. Cho nên nếu có khả năng, có điều kiện may mắn, chúng ta nên thành lập một nhóm gồm những người bạn cùng chung tuệ giác, để cùng nâng đỡ nhau, cùng nhau sống theo tuệ giác ấy. Nhóm người đó gọi là tăng thân.
Tăng thân là yếu tố căn bản che chở, bảo hộ, giúp mình có thể sống được với tuệ giác của mình. Mình phải nương vào tăng thân, vào nhóm người đó để có thể sống vui vẻ, hạnh phúc và khi nương vào nhóm người đó thì gọi là quy y Tăng, hay nương tựa Tăng. Trong chúng ta, người nào có tăng thân để nương tựa thì người đó có cơ hội rất lớn để sống với cái thấy của mình. Vì kiến đạo là mới thấy đạo thôi, còn muốn chứng được đạo thì phải tu đạo. Chúng ta rất tiếc là Trịnh Công Sơn không có tăng thân. Có lần Vĩnh Trinh than phiền với bạn: “Anh ơi, anh khuyên anh của em dùm một chút, ảnh uống rượu nhiều quá, sáng giờ là ba chai rồi đó”. Những người kia không khuyên được vì họ cũng là những người uống rượu. Do đó mình cần phải có tăng thân để dìu dắt, nâng đỡ và bảo hộ cho mình. Cho nên quý vị nào có tuệ giác, muốn sống đúng theo tuệ giác của mình, sống vững chãi, thảnh thơi và làm chỗ nương tựa cho người khác thì phải có tăng thân để quay về nương tựa. Người nào chưa có tăng thân thì người đó vẫn mồ côi như thường.
Trịnh Công Sơn có nhiều bạn bè rất nổi tiếng, và tài ba của Trịnh Công Sơn rất được nhiều người thán phục, nhưng Trịnh Công Sơn vẫn cô đơn. Trịnh Công Sơn cũng than thở là có những giờ phút Trịnh Công Sơn rất đau khổ. Dù dưới sân khấu có hàng ngàn thính chúng vỗ tay tán dương, nhưng trên này Trịnh Công Sơn vẫn đau khổ như thường. Thỉnh thoảng Trịnh Công Sơn cũng thấy rằng mình cần rút lui để có sự tĩnh lặng, nhưng Trịnh Công Sơn chưa được học phương pháp thiền tọa, thiền hành, cho nên nhiều khi ông cảm thấy rất cô đơn. Trong tuyển tập những bài ca “không năm tháng” do nhà xuất bản Âm Nhạc ấn hành năm 1998, có một bài của Trịnh Công Sơn mà tôi đọc thấy rất thương. Bài đó nói lên những giây phút đau khổ nhất của Trịnh Công Sơn, những giây phút ấy thường rơi vào trước giấc ngủ.
“Tôi thường rơi vào một cơn hôn mê trước giấc ngủ. Ở biên giới đó tôi hốt hoảng thấy mình lơ lững giữa sự sống và cái chết. Những giây phút như thế vồ chụp lấy tôi mỗi đêm khi quanh tôi mọi người đã ngủ yên và tôi đau đớn nhận ra rằng có lẽ cuộc đời đã cho ta lắm ngày bất hạnh”.
Có nhà phê bình nói rằng người tình đầu tiên và cuối cùng của Trịnh Công Sơn là cô đơn, dù Trịnh Công Sơn có nhiều người bạn biết thưởng thức và công nhận tài ba của ông. Chúng ta phải tìm hiểu tại sao Trịnh Công Sơn không giải tỏa được niềm cô đơn đó. Có lần Trịnh Công Sơn nói rằng tình yêu không bằng tình bạn, trong tình yêu không có cái vĩnh cữu. Nói cái tuyệt đối trong tình yêu chẳng qua là phóng đại cho lãng mạn lên thôi, thực sự không có sự tuyệt đối trong tình yêu. Tình yêu sinh ra rồi chết đi, tình yêu đôi khi tạo cho mình những nỗi thất vọng, có khi dẫn đến tuyệt vọng. Trịnh Công Sơn có viết một câu rất ngộ nghĩnh:
“Với tôi trong tình yêu không có sự bất tử, người ta chỉ muốn lãng mạn hóa nó mà thôi. Nhưng tuy như vậy trong sự bất tử có thể có tình yêu.”
“Trong tình yêu không có sự bất tử, nhưng trong sự bất tử lại có tình yêu”. Đọc tới đây tôi hiểu liền lập tức. Người yêu đích thực của mình là người có khả năng tháo gỡ được cho mình ra khỏi trình trạng tuyệt vọng, khó khăn. Khi thấy được tính chất đó trong người yêu thì mình biết là trong tình yêu có sự bất tử.
Trịnh Công Sơn nói rằng: “may thay trong đời người ngoài tình yêu còn có tình bạn”. Nói đến Trịnh Công Sơn, chúng ta không thể không nói đến tình yêu. Nhưng Trịnh Công Sơn được nuôi dưỡng bằng tình bạn nhiều hơn và Trịnh Công Sơn có nói rằng sở dĩ Trịnh Công Sơn có viết những bài tình ca hay là nhờ mình bị phụ tình. Đây là lời của Trịnh Công Sơn chứ không phải do tôi đặt ra. “ Cái may ở đời là bị phụ tình”.
Nếu Trịnh Công Sơn không bị cô Diễm cho leo cây thì Trịnh Công Sơn đâu viết được bài “Diễm xưa”, cho nên mình phải cám ơn cô Diễm và những cô khác nữa. Trong chúng ta ai cũng có hạt giống của tình thương yêu, ai cũng khao khát muốn yêu và muốn được yêu. Trong chúng ta lại có những người đã từng bị phụ bạc cho nên bài hát của Trịnh Công Sơn đã ru nỗi niềm đó trong lòng chúng ta, “ Ru ta ngậm ngùi”. Trịnh Công Sơn nói gì về tình bạn? “Tình bạn thường có khuôn mặt thật hơn tình yêu”. Có một chỗ nào đó Trịnh Công Sơn nói: “Tôi với Khanh Ly giống như hai người bạn trai, chia cho nhau những dĩa cơm, những miếng bánh”. Trịnh Công Sơn được nuôi bằng tình bạn chứ không phải tình yêu. Tình yêu chỉ giúp cho Trịnh Công Sơn viết thành những ca khúc mà thôi. “Tình bạn thường có khuôn mặt thật hơn tình yêu”.
Trong đạo Bụt chữ Từ Bi là thương yêu bắt nguồn từ chữ Maitri và Karuna (tiếng Phạn). Maitri là Từ, Karuna là Bi. Mà Maitri có nguồn gốc từ Mitra, có nghĩa là bạn. Người yêu của mình phải là bạn mình, phải hiểu mình và mình phải hiểu người đó. Hai người đi như một đôi bạn thì mình mới có hạnh phúc. Nếu hai người không hiểu nhau, không có sự thông cảm nhau, nếu tôi không thể hiểu em, em không thể hiểu tôi thì cái đó có thể tạm gọi là tình yêu, nhưng trong đó không có tình bạn, mà không có tình bạn thì không phải là tình yêu đích thực. Vì vậy ai đang yêu thì nên đặt câu hỏi: “Trong tình yêu này có tình bạn không?” Nếu không có tình bạn thì tình yêu này chưa phải là tình yêu đích thực.
“Tình bạn có bộ mặt thật hơn tình yêu, trong tình bạn sự bội bạc có, nhưng không nhiều. Tôi thấy tình bạn quý hơn tình yêu, vì tình bạn có khả năng làm hồi sinh một cơn hôn mê và phục sinh lại một cuộc đời tưởng rằng không còn tái tạo được nữa.”
Tình bạn có công năng cứu chữa. Đúng vậy! Một người bạn có thể cứu chữa cho ta mặc dù đã có lúc ta có rất nhiều lầm lỡ. Dù ta đã sa vào hầm hố của khổ đau, người bạn của ta cũng có thể kéo ta ra khỏi hầm hố đó. Có khi mình nằm trong vực sâu đen tối và người bạn đó tới thả một chiếc thang dài xuống cho ta leo lên vùng chan hòa ánh sáng để tìm lại được màu trời xanh và tiếng suối, tiếng chim. Khả năng cứu chữa đó là tình bạn. Và Đức Bụt Thích Ca cũng có tình bạn, tình bạn rất lớn, tình bạn đó có khả năng cứu chúng ta ra khỏi những trạng huống khó khăn tuyệt vọng. Nếu học theo được tình bạn này thì chúng ta là sự nối tiếp của Đức Thế Tôn, và chúng ta có khả năng đưa cách tay của tình bạn ra để cứu giúp những người khác. Những giờ phút có thể nói là hạnh phúc nhất của Trịnh Công Sơn là giờ phút ngồi với bạn, vì ngồi như vậy thì không cần phải đối phó, không cần phải nói gì, không cần phải làm gì hết. Sự có mặt của bạn bên mình đem đến cho ta sự an ủi, không cần phải giữ gìn, không cần phải đối phó. Nếu anh có một người bạn như vậy thì quá quý. Trịnh Công Sơn có một số người bạn như vậy nhưng sao anh lại cô đơn? Vì giây phút đó ít quá, Trịnh Công Sơn đã nói như thế này:
“Trong âm nhạc có những dấu lặng, tức dấu nghỉ không có âm thanh, nếu không có những dấu lặng đó thì là một tai họa. Âm nhạc mà không có khoảng cách im lặng thì chẳng qua đó là sự rối loạn mà thôi”.
Trịnh Công Sơn nói, khi ngồi bên cạnh một người bạn yên lặng không nói gì hết cũng giống như một dấu lặng trong âm nhạc. Không nói gì mà hay hơn nói. Đoạn đó rất hay, tôi muốn đọc lại cho quý vị nghe:
“Có những sự có mặt của bạn bè tương đương với một dấu lặng trong âm nhạc, nên sự có mặt đó thường có khả năng mang đến cho ta sự thoải mái, thảnh thơi tựa hồ như là niềm hoan lạc. Đó là những trường hợp ta không cần phải đối phó, không cần phải lấp đầy khoảng trống bằng câu chuyện gắng gượng và nhạt nhẽo”.
Trịnh Công Sơn đã có những giây phút đó, giây phút ngồi với bạn mà không cần làm gì cả, chỉ để được nuôi dưỡng bằng tình bạn. Tất cả chúng ta đều rất cần tình bạn như vậy. Sự ồn ào làm cho Trịnh Công Sơn mệt mỏi dù sự ồn ào đó là để tán thưởng hay ca ngợi mình, cho nên Trịnh Công Sơn rất cần những giờ phút yên lặng. Tuy nhiên Trịnh Công Sơn chưa học được cách ngồi một mình để hưởng sự yên lặng, nên Trịnh Công Sơn cần một người bạn ở bên cạnh, để cảm thấy mình hưởng được sự yên lặng. Chúng ta cũng vậy, chúng ta đã học ngồi thiền, nhưng ngồi thiền một mình chưa thấy vui lắm. Ngồi thiền thì đâu được nói chuyện thế mà ngồi ba bốn người vẫn vui hơn. Có phải như vậy không?
Trong khi ta ngồi yên như thế, sự có mặt của nhau nuôi dưỡng được tất cả mọi người trong đó. Có một lần ở tu viện Cấp Cô Độc, trong khi các thầy đang chuẩn bị khóa an cư mùa mưa, thì có khoảng ba bốn trăm thầy từ Kosambi tới. Gặp lại các huynh đệ mừng quá, nên các thầy nói chuyện rất ồn ào. Ngồi trong phòng nghe ồn, Bụt hỏi thầy Xá Lợi Phất: “Có chuyện gì mà ồn như cái chợ vậy? Thầy xá Lợi Phất trả lời: “Có một số huynh đệ từ Kosambi tới; gặp nhau, mừng quá nên họ cười nói ồn ào, mất hết uy nghi, xin Đức Thế Tôn tha lỗi cho họ.” Đức Thế Tôn bảo: “Không được, làm ồn như thế thì phải đi chỗ khác tu học, không thể ở đây, tôi không thể ở chung với những người ồn ào như vậy.” Ta thấy trong lòng đức Thế Tôn chủ yếu muốn dạy cho những người đó nên Đức Thế Tôn nói không thể ở đây, phải đi chổ khác tu học. Sau đó thầy Xá Lợi Phất ra báo tin cho các huynh đệ là “Đức Thế Tôn không muốn cho quý vị ở đây, vì từ đầu giờ vào đây quý vị ồn quá làm mất không khí thanh tịnh của nhà thiền.” Nghe thế quý thầy yên lặng, quyết định đi tới một địa phương khác gần đó để an cư.
Trong suốt mùa an cư đó, các thầy nhớ lời Bụt dạy không nói chuyện, không cười giỡn, người nào cũng hạ thủ công phu, cho nên cuối mùa an cư họ chuyển hóa rất nhiều, mặt người nào cũng sáng rực ra, nụ cười nào cũng rất tươi tắn. Sau mùa an cư họ muốn đến cám ơn Đức Thế Tôn đã quở trách họ và nhờ lời quở trách đó mà họ tinh tấn hơn, nên đã thành công trong tu tập. Thầy Xá Lợi Phất vào thưa với Bụt: “Bạch Đức Thế Tôn, các thầy đã an cư xong rồi và họ muốn vào chào Đức Thế Tôn”. Đức Thế Tôn cho quý thầy vào. Lúc đó khoảng 7 giờ chiều. Đức Thế Tôn chắp tay chào các thầy. Ba trăm thầy đó với hai trăm thầy ở địa phương cùng ngồi với Đức Thế Tôn trong thiền đường rất lớn. Thầy trò ngồi với nhau như vậy từ 7 giờ tối cho tới 12 giờ khuya. Ngồi yên lặng không nói gì hết.
Thầy Anan, thị giả của Bụt, tới gần Bụt và bạch: “Bạch Đức Thế Tôn, gần tới nửa đêm rồi, Đức Thế Tôn có dạy gì cho các thầy không?” Đức Thế Tôn vẫn ngồi yên và thầy trò ngồi yên như thế cho tới 3 giờ sáng. Ngồi yên bên nhau, không nói gì hết, thầy Anan lại nóng ruột nên đến bạch với Đức Thế Tôn một lần nữa:“ Ba giờ sáng rồi, Ngài có muốn khai thị cho các thầy điều gì không?” Đức Thế Tôn vẫn ngồi yên với các thầy cho đến 5 giờ sáng. Lúc này thầy Anan tới “Bạch Đức Thế Tôn, trời rạng đông rồi, Ngài có muốn nói gì với các thầy không?” Đức Thế Tôn nói: “Thầy muốn tôi nói gì nữa. Thầy trò ngồi với nhau như vậy chưa đủ hay sao.”
Thầy trò huynh đệ ngồi với nhau, thấy được và trân quý sự có mặt của nhau là một hạnh phúc rất lớn, rất được nuôi dưỡng. Tuy không có âm thanh nhưng giá trị bằng 10 lần âm thanh. Trong tác phẩm “Tỳ Bà Hành” cũng có một câu nói tương tự “Thử thời vô thanh thắng hữu thanh.” Người nữ đó đàn tỳ bà, có lúc nàng im bặt và trong thời gian im lặng đó, giữa hai nốt nhạc rất hùng hồn, rất thấm thía. Còn hay hơn có âm thanh nữa.“Thử thời vô thanh thắng hữu thanh.” Thử thời là bây giờ, vô thanh là không có âm thanh. Không có âm thanh mà hay hơn là có âm thanh. Trịnh Công Sơn đã thấy được điều đó. Ngồi với bạn bè không cần nói năng gì, chỉ cần có sự thông cảm và hưởng sự có mặt của nhau là đủ rồi. Tôi nghĩ sự an ủi lớn nhất của Trịnh Công Sơn là những giờ phút ngồi với bạn bè. Nhưng nếu bạn không biết ngồi chỉ biết uống rượu thôi thì những giây phút đó không còn quý nữa.
Chúng ta nghe lại bài “Tình ca của người mất trí”
Tôi có người yêu, chết trận Pleime
Tôi có người yêu ở chiến khu Đ
Chết trận Đồng Xoài, chết ngoài Hà Nội
Chết vội vàng dọc theo biên giới
Tôi có người yêu chết trận Chu Prong
Tôi có người yêu bỏ xác trôi sông
Chết ngoài ruộng đồng chết rừng mịt mù
Chết lạnh lùng mình cháy như than
Tôi muốn yêu anh yêu Việt Nam
Ngày gió lớn tôi đi môi gọi thầm
Gọi tên anh tên Việt Nam
Gần nhau trong tiếng nói da vàng.
Tôi muốn yêu anh yêu Việt Nam
Ngày mới lớn tai nghe quen đạn mìn
Thừa đôi tay dư làn môi
Từ nay tôi quên hết tiếng người
Tôi có người yêu, chết trận A Sao
Tôi có người yêu nằm chết cong queo
Chết vào lòng đèo, chết cạnh gầm cầu
Chết nghẹn ngào mình không manh áo
Tôi có người yêu, chết trận Ba Gia
Tôi có người yêu vừa chết đêm qua
Chết thật tình cờ chết chẳng hẹn hò
Không hận thù nằm chết như mơ.
Trịnh Công Sơn bị ám ảnh bởi cái chết. Chúng ta và nhiều người khác cũng thế. Vì sống trong hoàn cảnh đó, chúng ta đã chứng kiến không biết bao nhiêu bạn bè, bao nhiêu người trẻ, bao nhiêu đồng bào của mình chết. Trịnh Công Sơn là người rất yêu đời và không muốn chết, nhưng ông biết rất rõ rằng một ngày nào đó mình sẽ chết. Có lần một ký giả phỏng vấn ông: “Nhạc sĩ có dự án nào cho tương lai không? Những ngày sắp tới, nhạc sĩ sẽ làm gì?” Trịnh Công Sơn trả lời: “ Sắp tới tôi phải làm việc nhiều hơn để lẫn trốn sự ám ảnh về cái chết”. Cái chết ám ảnh nhạc sĩ và ông nghĩ rằng để đừng bị cái chết làm ám ảnh mãi thì phải làm việc thật nhiều. Và Trịnh Công Sơn nghĩ rằng mình có sứ mạng là phải chuyển tới những người thương, những người hâm mộ mình một thông điệp, thông điệp của tình thương, của lòng nhân ái. Đó là lời nguyện của Trịnh Công Sơn.
Nếu lời nguyện của Đức Bồ Tát Địa Tạng là đi vào địa ngục để cứu độ chúng sanh, lời nguyện của Đức Bồ Tát Quan Thế Âm là lắng nghe tiếng kêu đau thương của muôn loài để tìm tới cứu khổ, thì lời nguyện của Trịnh Công Sơn là gởi tới những thính giả của mình thông điệp của tình yêu thương, tức là tưới tẩm hạt giống thương yêu và tha thứ nơi mọi người. Trong cuộc đời mà ai cũng được dẫn đạo bằng hướng đi như vậy thì thật là quý hóa. Tuy Trịnh Công Sơn đã được tiếp nhận hạt giống thương yêu từ mẹ, từ chùa nhưng chưa có cơ hội học hỏi và thực tập về phương pháp thiền quán để có thể tiếp xúc được với tự tính vô sinh bất diệt của mình. Vì vậy cho nên Trịnh Công Sơn chưa vượt thoát được nỗi ám ảnh của cái chết.
Tôi không bị ám ảnh bởi cái chết vì tôi có tuệ giác về sống chết, tôi đã thiền quán và tôi đã tiếp xúc được với tính vô sinh bất diệt của mình. Quý vị hãy nhìn lên đám mây trên bầu trời. Đám mây đó chiều nay hoặc ngày mai sẽ biến thành mưa. Đám mây đó từ đâu mà có? Có phải từ không mà trở thành có hay không? – Không. Đám mây đó từ nước ao hồ, sông biển do sức nóng mặt trời bốc hơi lên ngưng tụ mà thành. Đám mây không phải từ không mà trở thành có. Có lần Trịnh Công Sơn nói rằng, chúng ta từ hư vô tới và chúng ta sẽ trở về hư vô. Nói như vậy tức là chưa có tuệ giác của người tu thiền. Chúng ta không phải từ hư vô tới và chúng ta cũng không đi về hư vô.
Trong Thánh Kinh có nói chúng ta từ hạt bụi tới và chúng ta sẽ trở về cát bụi. Trịnh Công Sơn cũng có cùng quan điểm đó “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi.” Hạt bụi không phải hư vô, hạt bụi cũng không đủ để hóa kiếp thân tôi. Nhiều nhân, nhiều duyên kết hợp lại tôi mới biểu hiện, chứ một nhân, một duyên thì tôi không thể nào biểu hiện được. Theo đạo Cơ Đốc thì Thượng Đế là nhân và là nhân duy nhất để có hiện hữu, nhưng trong đạo Bụt ý niệm về nguyên nhân duy nhất là vô lý. Không có cái gì có thể phát sinh ra từ một nhân duy nhất. Ví dụ như bông hoa này, phải có hạt giống của hoa, phải có đất, có phân, có ánh sáng mặt trời, phải có đám mây biến thành nước mưa… tức là nhiều nhân, nhiều duyên mới có thể làm cho bông hoa biểu hiện được. Thành ra ý niệm một nguyên nhân duy nhất không phù hợp với sự thật. Sự thật là đa nhân đa duyên “trùng trùng duyên khởi”.
Rất tiếc là Trịnh Công Sơn trong những năm tháng đó đã không có cơ hội lên chùa để học hỏi thêm về thiền quán. Trịnh Công Sơn có gởi cho tôi một tập nhạc đề là “Tặng thầy Nhất Hạnh”. Bây giờ tôi vẫn còn giữ. Tôi cũng có viết thư cho Trịnh Công Sơn yêu cầu Trịnh Công Sơn phổ nhạc dùm một số bài kinh. Vì tôi biết rằng nếu Trịnh Công Sơn phổ nhạc những bài kinh này thì Phật tử đọc, tụng, hát sẽ hay lắm, sẽ được nhiều lợi lạc. Thế nhưng thư của tôi bi thất lạc, đến khi Trịnh Công Sơn nhận được thư đó thì ông đã bị bệnh nặng nên không làm được. Thật đáng buồn! Nhưng Trịnh Công Sơn vẫn đang còn đó. Trịnh Công Sơn đang nghe lời tôi nói, mai mốt Trịnh Công Sơn sẽ sáng tác những bài thơ, bài nhạc, bài kinh theo tinh thần của Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn đang ở đây, đang ở trong quý vị. Trong số các thượng tọa, ni sư từ Việt Nam sang có Trịnh Công Sơn trong đó. Đừng tưởng Trịnh Công Sơn chết rồi. Trịnh Công Sơn đang sống hùng mạnh hơn bao giờ hết. Đám mây kia không phải từ hư vô tới và nó cũng không phải trở thành hư vô. Mai mốt nó sẽ biến thành mưa. Nó chỉ biến đổi hình thức thôi.
Bây giờ xin quý vị quán chiếu với tôi: giả dụ 2/3 đám mây kia gặp khí lạnh trở thành mưa, rơi xuống, một phần biến thành dòng, thành khe, một phần đi vào trong ruộng lúa xanh tươi. Đứng trên cao, đám mây kia nhìn xuống và nhận ra mình đang ở dưới đó. Một phần của mình biến thành ruộng lúa xanh tươi, một phần biến thành dòng suối. Rồi đám mây nói:“Chào em, tôi biết em là tôi, em là sự tiếp nối của tôi”. Như vậy đám mây kia đâu chết, khi không còn hình thức của đám mây nữa thì nó biến thành một hình thức khác, hình thức của dòng suối hay hình thức của đám mạ xanh tươi. Thế nên trong đạo Bụt nói bản tánh của chúng ta là “vô sinh bất diệt”, chúng ta chỉ thay đổi hình thức thôi. Tự tánh của đám mây cũng vô sinh bất diệt. Trịnh Công Sơn cũng vô sinh bất diệt.
Nếu ta có con mắt của Bụt, nếu ta có con mắt của thầy thì ta có thể thấy Trịnh Công Sơn có mặt một cách rất đích thực ngay trong thính chúng này. Quý vị có thấy được Trịnh Công Sơn trong trái tim mình hay không? Ngày hôm qua thầy nghe thầy Thông Hội hát nhạc Trịnh Công Sơn. Người ta thường hỏi: “Sau khi chết ta sẽ đi về đâu?” Câu hỏi đó làm tốn rất nhiều bút mực và nước bọt để giải thích. Thông thường muốn trả lời câu hỏi đó phải trả lời một câu hỏi khác là “Trong giây phút hiện tại chúng ta đang đi về đâu?” Chúng ta tưởng rằng sau khi thân xác này tàn hoại chúng ta mới đi, nhưng kỳ thực bây giờ chúng ta đang đi, chúng ta đang trở thành một cái khác.
Hãy tưởng tượng Trịnh Công Sơn lúc 5 tuổi và Trịnh Công Sơn lúc 25 tuổi, hai người rất khác nhau, và khi Trịnh Công Sơn 45 tuổi thì lại khác nữa. Chúng ta chuyển biến, sinh diệt trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. Đứng về phương diện năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) ta so sánh ta trước khi vào đây và ta bây giờ là đã có sự khác nhau rồi. Bao nhiêu sinh diệt, bao nhiêu biến chuyển đã đi qua trong chúng ta và chúng ta luôn luôn được tiếp nối. Nước mưa tiếp nối đám mây, sương mù cũng tiếp nối đám mây. Khi chúng ta nâng một tách trà lên để uống, nếu có chánh niệm, có tuệ giác của Bụt, thì chúng ta thấy rằng mây đang nằm đây trong ly trà này. Thay vì đang uống nước chúng ta đang uống mây. Đây là một sự thật rất khoa học. Nó không phải chỉ là thi ca mà thôi.
Tôi đang uống mây và đám mây chiều nay có thể trở thành một bài thơ, hay ngày mai mây trở thành bài pháp thoại. Mây biến hóa vô cùng. Cho nên ta phải có khả năng nhận diện sự có mặt của Trịnh Công Sơn dưới những hình thái biểu hiện khác của Trịnh Công Sơn. Thế nên ta không thể nói Trịnh Công Sơn chết được. Vì sự thực không có cái gì chết đi cũng không có cái gì sanh ra. Chết nghĩa là từ có trở thành không, Trịnh Công Sơn không phải từ có trở thành không. Đã không có từ không mà trở thành có thì cũng không thể nào từ có mà trở thành không được. Nếu quý vị vừa mới mất một người thân mà quý vị tưởng người thân đó không còn nữa là quý vị lầm. Người thân đó bây giờ đang biểu hiện dưới một hình thức khác. Nhìn cho kỹ ta sẽ thấy được người thân của mình và ta nói: “Chào em, chị rất hạnh phúc nhận ra em dưới một hình thức mới”. Đó là diệu dụng của thiền quán.
Trong những năm 80, 90 nếu Trịnh Công Sơn có được tuệ giác đó thì Trịnh Công Sơn sẽ không bị ám ảnh bởi cái chết, vì Trịnh Công Sơn biết rõ mình không bao giờ chết cả. Trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày, mình đã hiến tặng những lời nói, những lời ca, những tư duy và những hành động của mình cho đời và đó là sự tiếp nối của mình. Đó gọi là ba nghiệp. Ba nghiệp là thân, khẩu, ý. Cũng như cây đèn cầy, khi được thắp sáng lên thì trong mỗi giây phút nó đều hiến tặng ánh sáng, sức nóng và hương thơm. Con người cũng vậy, trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày, chúng ta đã hiến tặng tư duy, lời nói và hành động của ta. Nếu tư duy của ta đầy tham, sân, si thì những hiến tặng của ta sẽ không có giá trị, chúng sẽ làm hư xấu cuộc đời, như thế chúng ta sẽ không có sự tiếp nối đẹp đẽ. Còn nếu tư duy của ta có lòng thương yêu, có lòng nhân ái, có tha thứ, bao dung thì sự tiếp nối của ta sẽ đẹp đẽ.
Trịnh Công Sơn đã hiến tặng tư duy của mình qua nhiều hình thái khác nhau. Hình thái mà ta dễ thấy nhất là những ca khúc của ông. Trịnh Công Sơn đã cống hiến những ngôn từ, hành động, cử chỉ biết thương yêu, chăm sóc, biết tha thứ, bao dung. Có lần ngồi chơi với Hoàng Phủ Ngọc Tường trong một quán cà phê ở Huế, cô bé bán quán bưng tới cho Trịnh Công Sơn một ly cà phê, nhưng vô tình, bé làm đổ hết ly cà phê vào chiếc áo vest của Trịnh Công Sơn, bé sợ xanh mặt, bà chủ tới la bé rất dữ dội. Cô bé sợ quá co rúm người lại. Rất tội nghiệp! Trịnh Công Sơn thấy vậy thương quá, liền nói: “Không phải nó làm đổ đâu, chính tôi làm đổ đó”. Và Trịnh Công Sơn móc túi lấy tiền ra trả cho ly cà phê ấy để cho bà chủ đừng la bé. Sau khi trả tiền Trịnh Công Sơn đứng dậy, nháy mắt cô bé đó rồi ra đi. Đó là một hành động biểu dương lòng tốt của tình thương trong Trịnh Công Sơn. Những cái đó không bao giờ mất đi cả. Đó là nghiệp. Chúng ta đừng hiểu nghiệp là xấu. Nghiệp có thể xấu mà cũng có thể là tốt. Nghiệp xấu gọi là ác nghiệp, nghiệp tốt gọi là thiện nghiệp.
Trịnh Công Sơn đã làm ra những thiện nghiệp và những thiện nghiệp ấy đang tiếp tục đi về tương lai. Chúng ta có thể nhận diện sự có mặt của Trịnh Công Sơn qua những thiện nghiệp mà Trịnh Công Sơn đã tạo tác ra qua những tư duy, lời nói và hành động của ông. Trịnh Công Sơn chưa bao giờ giết người. Trịnh Công Sơn không kỳ thị, Trịnh Công Sơn có can đảm dám nói ra sự thật, yêu nước, yêu dân. Ba mẹ Trịnh Công Sơn phải hãnh diện về điều đó.
Quý vị đã nghe và đã thấy Trịnh Công Sơn có mặt trong mình và bây giờ tôi muốn chia sẻ để quý vị thấy mình cũng có mặt trong Trịnh Công Sơn. Có một lần Trịnh Công Sơn được nhà báo hỏi: “Anh có bao giờ hình dung ra thân xác và tâm hồn mình lúc ở bờ bên kia chưa?”– “Chưa! Đó là tại do lười biếng mà ra.” Do không chịu quán chiếu. Mình có tự do, có thiền đường mà không chịu tham khảo đề tài sống chết, để rồi mai mốt khi nằm trên giường không biết mình đi về đâu. Trịnh Công Sơn công nhận mình làm biếng, không chịu giành thời gian để quán chiếu sâu sắc về vấn đề sinh tử. Các cô, các chú có thấy mình có trong Trịnh Công Sơn không?
Trịnh Công Sơn nói: “… Vì do lười biếng mà ra cả, mình không bao giờ chuẩn bị trước cho mình cái gì hết cho những ngày sắp tới, như thể là khi muốn về Huế là cứ bỏ đồ đạc vào vali mà đi thôi”. Ra Huế thiếu gì thì tính sau. Điều đó rất con người. Và ta thấy sự lười biếng đó nằm trong tất cả chúng ta. Chúng ta giãi đãi, làm biếng, như thể là mình sẽ sống cả ngàn năm và mình có cả ngàn năm để thiền quán, nhưng kỳ thực chúng ta không biết mình sống được bao lâu. Vì vậy chúng ta phải tinh tiến và phải làm thay cho Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn chưa làm được thì mình phải làm cho Trịnh Công Sơn. Thầy cũng đang làm cho Trịnh Công Sơn, các thầy, các sư cô cũng đang làm cho Trịnh Công Sơn. Quý vị cũng phải làm cho Trịnh Công Sơn. Chúng ta phải đưa Trịnh Công Sơn đi tới. Bởi vì Trịnh Công Sơn không phải là Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn là quý vị. Khi người ta hỏi Trịnh Công Sơn: “Không biết có cõi nào mà sau khi chết mình đi về hay không?” Thì Trịnh Công Sơn trả lời:
“Nếu có một sự tiếp nối ở một cõi khác, một thế giới khác thì chắc là vui lắm. Và tôi nghĩ nếu thực sự có một cõi khác với cõi đời này thì tôi hy vọng chúng ta sẽ được rong chơi mãi mãi”.
Rong chơi là từ của Trịnh Công Sơn. Mình ở trên cuộc đời này là để rong chơi, và nếu hết cuộc đời này có một cõi khác, mình cũng sẽ tiếp tục rong chơi. Đó là hy vọng. Cõi đó gọi là thiên quốc hay thiên đường. Nhưng nếu Trịnh Công Sơn nhưng nếu biết quán chiếu sâu hơn thì sẽ thấy được rằng thân xác này chẳng qua là sự chấm dứt của một giai đoạn biểu hiện và mình sẽ được biểu hiện lại dưới một hình thức khác trong giai đoạn kế tiếp. Đám mây khi không còn là hình thức của đám mây nữa thì nó tiếp tục làm con suối hay làm tảng băng. Làm mây bay trên trời cũng vui mà làm mưa rơi xuống ruộng đồng cũng vui. Tại sao phải sợ?
Trịnh Công Sơn có thể rong chơi mãi mãi trên thế gian nầy mà không cần phải giả định có một thế giới khác hay có một cõi nào khác nữa. Không có cái gì tự nhiên mà có, cũng không có cái gì từ có trở thành không. Trịnh Công Sơn là một thực tại. Trịnh Công Sơn là mãi mãi. Trịnh Công Sơn tha hồ rong chơi, nếu không dưới hình thức của một người Huế, thì dưới hình thức của người Thụy Sĩ. Làm người Huế cũng vui mà làm người Thụy Sĩ cũng vui. Làm một bông hoa thủy tiên cũng hay, làm một bông sen cũng hay. Hình thức nào của sự sống cũng đẹp cả.
Khi Trịnh Công Sơn thấy được điều đó thì Trịnh Công Sơn sẽ thấy được tự tánh của mình là vô sinh bất diệt, mình có thể rong chơi mãi mãi hoài hoài. Mong rằng các thầy, các sư cô, các sư chú, các đạo hữu nắm được chân lý này và thấy được tự tánh vô sinh bất diệt của mình. Cho nên đối với tôi, Trịnh Công Sơn chưa bao giờ chết. Nếu thắp một nén hương cho Trịnh Công Sơn thì chúng ta không nên thắp bằng sự tiếc thương mà thắp bằng ý thức là Trịnh Công Sơn đang còn đó với mình và mình có thể mang Trịnh Công Sơn đi về tương lai, để Trịnh Công Sơn có thể tiếp tục sứ mạng của mình, sứ mạng chuyên chở thông điệp thương yêu. Chúng ta hãy cùng hát với nhau bài “Nối vòng tay lớn” để tưới tẩm hạt giống của tình huynh đệ, của hy vọng và của tình thương yêu trong ta.
