Thiền cho tuổi thơ

 

Tuổi thơ

Thiền cho tuổi thơ là em hãy sống vui, sống cho mạnh khỏe. Sống vui là nếp sống lành mạnh, trong sáng và yêu thương. Tuổi thơ là tuổi hồn nhiên và vô tư. Thiền cũng là hồn nhiên và vô tư. Nhìn bông hoa, thấy bông hoa. Ăn cơm thì cảm thấy ngon. Uống nước thì nếm được vị ngọt. Đau nhức biết đau nhức. Giận hờn biết giận hờn. Vui biết vui. Buồn biết buồn… Sống hồn nhiên, sống thật lòng, không làm bộ, không che dấu là lối sống tuổi thơ. Cho nên, tuổi thơ là thiền. Thiền là tuổi thơ. Ai giữ được sự hồn nhiên thì người ấy có thiền, có niềm vui và có hạnh phúc. Thiền giúp tuổi thơ thông minh hơn, sáng suốt hơn và mạnh khỏe hơn. Các em thân mến! Bây giờ, chúng mình cùng nhau khám phá vẻ đẹp của thiền, tức là sống vui, sống khỏe, biết chơi, biết thương, biết cảm, biết buồn, biết vui… Chúc các em thành công.

Chúng mình đi chơi

Các em thương mến! Hôm nay là ngày đẹp. Chúng mình đi chơi nha. Đi chơi vui lắm! Các em không cần suy nghĩ gì cả! Các em chỉ đi chơi thôi. Đi cho vui, đi cho khỏe, đi cho thoải mái, đi cho an nhàn. Chúng mình học cách đi của con mèo nhé. Bước chầm chậm, đi uyển chuyển, dáng thong dong, mà vẻ oai hùng. Chúng mình chú ý tới mặt đất, có mặt cho đôi bàn chân. Có mặt nghĩa là chúng mình để sự chú ý, cẩn trọng và yêu thương tới đối tượng, mà đối tượng của chúng mình ở đây là đôi bàn chân, là mặt đất… Bây giờ, chúng mình thử đi chơi với nhau nhé.

Thở vào, bước này thảnh thơi.

Thở ra, bước này mỉm cười.

Thở vào, thảnh thơi.

Thở ra, mỉm cười.

Thở vào, thảnh thơi.

Thở ra, mỉm cười.

“Từng bước chân thảnh thơi,

mặt trời như trái tim đỏ tươi.

Từng đoá hoa mỉm cười

nụ cười tươi thắm trên làn môi…”

Các em thấy gì?

– Ôi! Thoải mái ghê! Bước chân thật nhẹ. Thảnh thơi vô cùng. Hai bàn chân dễ thương. Hai bàn chân mạnh khỏe đưa chúng em đi chơi mỗi ngày. Xin cảm ơn đôi bàn chân nhiều lắm. Và, thật tình xin lỗi hai bàn chân một ngàn lần, bởi chúng em nhiều lần quên đi sự có mặt của em. Chúng em cứ bước đi, cứ chạy chơi, cứ nhảy múa mà không hay biết rằng đôi chân rất quý.

Hay quá! Các em thấy gì nữa?

– Ồ! Chúng em thấy được dấu chân của mình trên mặt đất. Dấu chân sao thân thương và xinh đẹp quá! Dấu chân này giống hệt dấu chân của mẹ. Hạnh phúc quá! Cám ơn dấu chân đưa chúng em về gặp mẹ.

–  Xem kìa! Chúng em thấy đàn kiến. Đàn kiến oai phong ghê! Đàn kiến đi một hàng dài vô tận.

–  Chào các anh kiến! Các anh làm gì mà đi có hàng, có lối như thế?

–  Chào các em! Chúng tôi đang tha thức ăn về tổ.

–  Các anh biết lo xa đấy. Các anh thông mình và giỏi giang quá chừng. Chúng em phục các anh hết sức.

Các em còn thấy gì nữa?

– Chúng em thấy lá xanh óng lên màu của nắng. Đẹp vô cùng!

– Lá ơi! Chúng em chào lá. Cám ơn sự mát mẻ của lá nhé. Suốt mùa hạ, lá thường che nắng cho chúng em. Lá thở ra dưỡng khí cho chúng em đưa vào hai buồng phổi để dòng máu nuôi dưỡng chúng em thêm tươi. Lá không làm gì hết, vậy mà lá thật giỏi, thật dễ thương. Lá nuôi dưỡng chúng em từng giây phút. Ai có thể ngờ lá quan trọng đến thế!

– Cám ơn mặt trời gởi nắng xuống cho lá thêm xanh, giúp lá thở nhiều khí ôxy cho trái đất không khí trong lành. Ban đêm khi mặt trời đi ngủ, dường như tất cả lá trong vườn biến thành màu đen. Trái đất tối âm u. Dễ sợ quá! Sợ bóng đêm, nên chúng em cũng đi ngủ như mặt trời và lá. Nhờ mặt trời đi ngủ cho nên chúng em được yên giấc. Mỗi sớm mai, chúng em thức dậy cùng mặt trời, cùng cây lá trong vườn. Thật sung sướng vô cùng!

–  A, xem bên kia! Có vài chị bướm vàng đang lượn tung tăng trên cành cây. Chào các chị bướm. Chúng em đang đi chơi đây. Các chị có muốn đi chơi không? Cám ơn các chị đã tô đẹp cho cuộc đời bằng đôi cánh mong manh mà rực rỡ của các chị. Vườn hoa thiếu hình bóng các chị thì mất đẹp biết chừng nào. Các chị là những bông hoa tuyệt vời. Hoa biết bay mới lạ lùng chứ.

– Ồ! Không khí sớm mai sao thật trong lành. Thở ngon và khỏe ghê! Có lần đi phố với mẹ, chúng em thở toàn khói xe nên không cảm thấy dễ chịu chút nào. Cám ơn không khí nhá. Không khí nuôi dưỡng, không khí trị liệu. Không có không khí thì làm sao chúng em thở để duy trì sự sống mầu nhiệm này! Chúng em thương không khí lắm.

Bây giờ chúng mình dừng lại. Lang tập cho các em hát bài “Từng bước chân thảnh thơi” của chị Tịnh Thủy nhé.

“Từng bước chân thảnh thơi

Mặt trời như trái tim đỏ tươi

Từng đóa hoa mỉm cười

Ruộng đồng xanh mát như biển khơi

Cùng gió ca lời chim

Từng bước chân thảnh thơi

Đường dài em bước như dạo chơi.

Từng bước chân thảnh thơi

Nụ cười thắm trên làn môi

Từng đám mây ngang trời

Là dòng sông chảy ra biển khơi

Nguồn khổ đau dịu vơi

Từng bước chân thảnh thơi

Cùng người em bước đi mọi nơi.”[1]

Vui quá. Hãy nở một ngàn bông hoa bằng hai bàn tay! Các em hát hay lắm.

– Tại sao chúng mình không vỗ tay, hởi anh Lang?

Đưa hai bàn tay lên, xoay qua xoay lại, như hai bông hoa đang nở là vỗ tay rồi đấy. Vỗ tay kiểu này thanh thoát và yên tỉnh hơn. Hơn nữa, chúng mình đâu có muốn làm các bông hoa tím ở dưới hồ Sao Mai giật mình.

[1] Mở thêm rộng lớn con đường — Tịnh Thủy

(Còn tiếp)

Nguồn: Phù sa

Một lần đau răng

Từ nhỏ tới lớn con chưa bao giờ bị đau răng, nên cái cảm giác đau răng con chưa có cơ hội được thử một lần. Thầy cũng đã dạy nhiều lần về cái hạnh phúc khi không bị đau răng, tuy vậy con cũng thường hay quên và ít khi để ý đến điều ấy.

Cuối năm 2009, theo lời chỉ dạy của Đại chúng, con rời Việt Nam để sang Thái Lan nhập Chúng tu học. Lúc đầu trung tâm chưa có ai chăm sóc cho vấn đề y tế nên con đã tình nguyện học và làm công việc này. Con được đi học thêm về cách sử dụng thuốc tại bệnh viện của xã, và bắt đầu từ đó con vào ban y tế.

Thời gian lặng lẽ trôi qua, con chịu trách nhiệm chăm sóc ban y tế xuyên suốt trong ba năm cho tới lúc con chuyển trung tâm. Trong những năm tháng đó, con đã có được cơ hội tiếp xúc và chăm sóc nhiều sư anh, sư em bị bệnh, trong đó có vấn đề đau răng, nhưng vì chưa bao giờ bị đau răng nên con không biết cảm giác của anh em như thế nào.

Đôi lúc có anh em đau răng không ăn được mà chỉ uống nước thôi, nhưng con lại nghĩ “có đau răng thôi mà sao phải làm dữ vậy nhỉ” và con thầm mong có một lần thử bị đau răng để biết cái cảm giác đó như thế nào. Con vẫn còn ấn tượng nhất là thầy Pháp Đàm -một sư em của con- bị đau răng và có báo cho con biết nhiều lần để sắp xếp đi nha sĩ. Nhưng con đã quên và lo không được chu đáo lắm nên làm cho thầy phải chờ đợi nhiều ngày liền, cho đến khi bị xưng lên không ăn được nữa mà chỉ uống sữa thôi, cuối cùng thầy cũng được về Việt Nam để làm lại bốn chiếc răng mới. Khi trở qua lại Thái Lan, thấy thầy hạnh phúc và cười tươi để khoe những chiếc răng mới làm cho con cũng hạnh phúc lay và cũng thấy có lỗi với thầy.

Cuối mùa An Cư năm 2013, con rời đại chúng Thái Lan để sang Làng tu học, con đến Làng vào những ngày đầu của mùa Đông nên trời mưa nhiều và thời tiết rất lạnh. Ở xóm Thượng được một tuần thì ước nguyện lúc trước của con được toại nguyện. Tự nhiên con mọc răng khôn, chiếc răng bên phải bắt đầu vươn lên và cơn đau nhức cũng biểu hiện ra. Vì trời rất lạnh nên cơn đau được tăng thêm sức để hành hạ, con đau buốt cả hàm răng. Rồi nửa đầu bên phải của con đau nhức kinh khủng, con không ăn gì được, chỉ nằm đó và cảm nhận cơn đau trong từng giây phút.

Con không thể ngủ được vào buổi tối và phải uống thuốc giảm đau liều lượng cao. Đôi khi thiu thiu ngủ được một chút thì giấc mơ đến, trong mơ con cũng cảm giác được sự đau nhức đó đang hành con. Cơn đau bám theo con suốt ba ngày và con không thể tham dự được thời khóa nào, đến cuối ngày thứ ba thì anh chàng đau nhức có dấu hiệu thuyên giảm, con vui quá và tưởng chừng đã thoát được nạn rồi. Nhưng không! Cái răng bên trái bắt đầu vươn lên để chào đời, lần này con chỉ im lặng và chờ đợi chuyện sắp đến.

Thay vì đau một bên trái thì lần này cả hai bên cùng hẹn nhau để làm đau một lần. Như vậy là sự đau nhức cũng biết chờ đợi nhau, cả răng bên phải và bên trái đều cùng đau một lúc. Con tiếp tục hứng chịu những trận đòn từ hai chiếc răng, trán bắt đầu nóng lên và thay vì đau một bên đầu thì lần này con đau cả đầu luôn. Con nằm đó và nhớ về những cảm giác của các anh em ngày trước từng bị đau răng mà con chưa quan tâm chăm sóc kỹ. Con hối hận và hình như có vài giọt nước mắt chảy xuông gối. Con cũng thầm cảm ơn hai chiếc răng đã cho con thực chứng được như thế nào là đau răng, và từ đây con tự nói với chính mình: sau này trở về lại Thái Lan, nếu còn cơ hội làm lại con sẽ chăm sóc anh em tốt hơn.

Sự đau nhức của hai chiếc răng tiếp tục làm cho con bị viêm họng, cái này nối tiếp cái kia trong bốn ngày liền. Và cuối cùng con phải đi gặp nha sĩ để nhổ hai cái răng này đi, nhưng nha sĩ không chịu nhổ mà chỉ đưa thuốc giảm đau và kháng sinh về uống. Cuối cùng con cũng hết đau răng, một hạnh phúc tràn trề trong con! Con nhìn cái gì cũng đẹp, cái gì cũng dễ thương, thay vì trong những ngày đau răng, con nhìn cái gì cũng thấy xấu. Bây giờ đây con đổi thay một cách lạ kỳ!

Bảy ngày để cảm nhận sự đau đớn đã dạy cho con thêm một kinh nghiệm sống là phải đặt chính mình vào vị trí của những người đang đau khổ. Con đã gọi điện về Thái Lan để gặp sư em Pháp Đàm. Con chia sẻ với sư em về những ngày đau răng  của con và con cũng nói với sư em là “ nếu sau này về lại Thái Lan mà có cơ hội làm lại ban y tế, mình sẽ chăm sóc cho thầy tốt hơn”. Con không biết sư em cảm nhận như thế nào, nhưng trong con có một nguồn năng lượng biết ơn vì con đã được một lần đau răng. Và có lẽ chỉ những người đã từng bị đau răng mới cảm nhận được niềm hạnh phúc thực sự khi không bị đau răng…

 

Tâm Nhuận Dụng

Điều có thật

 

Buổi sinh hoạt tại Chùa Mai Hoa- Xóm Trung

 

Các bạn thương mến!

Mình hạnh phúc được chia sẻ với các bạn…

Các bạn thương mến, ở Làng Mai mình đã thấy bạn khóc. Mình cũng vậy, mình cũng đã khóc rất nhiều. Mình biết rằng đó không phải là những giọt nước mặt của niềm đau nỗi khổ mà đó là nước mắt của hạnh phúc bởi vì chúng ta ở bên nhau. Chúng ta được lắng nghe, được chia sẻ và thực sự có mặt cho nhau.

Mình đã bật khóc khi nghe các sư cô hát bài Sống vui. Mình bật khóc khi lần đầu tiên được nghe cả tăng đoàn niệm danh hiệu đức Bồ Tát Quán Thế Âm (Avalokiteshvara). Mặc dù, mình đã nghe qua trên internet nhiều lần trước đó. Vậy mà mình cũng đã khóc, khóc bởi đất nước của chúng ta đã trải qua quá nhiều đau khổ vì chiến tranh, vì sự áp bức hay vì sự đô hộ kéo dài trên mảnh đất thương yêu…

Hôm nay, mình lại khóc bởi vì mình có cơ hội được nhận diện một cách sâu sắc hơn những niềm đau nỗi khổ của bản thân. Mình cảm thấy đau vì mình cảm nhận được sâu sắc niềm đau và nỗi khổ của bạn, những người bạn sống quanh mình. Mình đã khóc vì mình có cơ hội được chia sẻ với các bạn rằng khi mình vượt qua được những nỗi khổ niềm đau cỏn con của mình thì mình gặp phải một niềm đau lớn hơn nhiều lần. Đó là  thiên nhiên vạn vật  và môi trường bị tàn phá, cảnh đói nghèo vẫn diễn ra…Mình tin rằng có rất nhiều bạn chia sẻ và đồng cảm với mình về những điều chúng ta trông thấy trong sự sống hằng ngày.

Chúng ta là những người con Việt Nam, gia đình, bạn bè, tổ quốc đất mẹ chính là gốc rễ vững chắc mà là nơi để chúng ta quay về nương tựa. Nếu không có nền tảng của gốc rễ thì chúng ta không thể lớn khôn lên được. Nền tảng văn hóa của đất nước là cái móng nhà vững chắc của chúng ta. Và mình cũng cảm nhận rằng: Nếu chúng ta không giữ gìn được những nét đẹp văn hóa và nền tảng gia đình… thì chúng ta sẽ như “kẻ khờ dại xây nhà trên cát”. May thay, tất cả những nền móng  những vẻ đẹp đó mình lại tìm thấy nơi này và mình được có thời gian để trải nghiệm và cảm nhận trong hai tuần qua tại Làng Mai.

John Lennon của nước Anh, qua bài hát Imagine đã phải mơ, phải tưởng tượng ra một thế giới sống trong hòa bình. Trịnh Công Sơn (người mà thỉnh thoảng mình có gọi là John Lennon của Việt Nam) đã phải kêu gọi mọi người sống yêu thương nhau. Nhưng mình biết là mình tìm thấy thế giới đó ở đây. Mình không phải sử dụng trí tưởng tượng siêu việt để vẽ ra bức tranh về một thế giới đó. Thế giới đó là sự thật, là có thật ở Làng Mai.

Thế giới đó không phải là một vùng đất không tưởng. Bất cứ cái tên gì ta có thể gọi đó là nước Chúa, là thiên đường trên trái đất. Một điều mình biết rằng đó là sự thật – một thế giới xây dựng bởi các bạn và mình, với nền móng là tình bằng hữu, yêu thương và từ ái.

Mình đang không sống ở Việt Nam và nơi mình ở không có chùa hay tăng thân nào thực tập. Nhưng mình có một cộng đồng online cùng thực tập Tư duy tích cực với các bạn người Việt ở khắp nơi trên thế giới với những giá trị của khiêm tốn – không tôi, thành thật, yêu người vô điều kiện.

Mình đã học được rằng sẽ có rất nhiều điều mình gặp phải trong cuộc sống mà nằm ngoài tầm tay của mình, nhưng sẽ luôn luôn có một điều mà mình sẽ làm được đó là rèn luyện. Không chỉ khi đến Làng Mai mình mới nhận ra điều này, nhưng được thực tập với cộng đồng tại Làng Mai đã trợ giúp và tiếp thêm sức mạnh cho niềm tin và thực tập của mình được vững chắc hơn. Và mình tin rằng các bạn cũng sẽ có cảm nhận như vậy khi bạn tìm thấy chính mình với gia đình tâm linh từ trong tâm bạn.

Làng Mai là nơi tiếp thêm niềm tin và sự vững chãi vào tư duy tích cực mà mình đang thực hành để thấy rằng: cuộc sống của mình, đất nước mình và thế giới thực sự cần một trái tim nhân từ, chứ không chỉ là một bộ não hay một cơ thể. Bộ não của mình, tài năng hay bất cứ điều gì mà cơ thể của mình có đều do tổ tiên và nhận thức của cả xã hội và môi trường xung quanh mang lại cho mình. Nó chỉ có thể thực sự được hữu dụng và phát triển dựa trên sự thực tập Niệm- Định- Tuệ.

Các bạn thương mến!

Là một người trẻ, mình thực sự hạnh phúc khi thấy càng ngày có nhiều bạn trẻ tới tu tập ở những nơi như Làng Mai để được nuôi dưỡng sự tươi mát, thư giãn, bình an hay được tiếp xúc với nếp sống tỉnh thức, để mỗi bước đi không như những bóng ma.

Tất cả các bạn, những người mình đã gặp hay sẽ gặp, hay chỉ trao đổi bằng nụ cười và ánh mắt, các bạn thực sự đều là những bông hoa rất đẹp. Các bạn tràn đầy năng lượng để giúp chính mình, giúp cho cộng đồng đất nước mình và chuyển hóa thế giới này trở thành một nơi tốt đẹp hơn.

Các bạn trẻ người Việt Nam thương mến. Chúng ta đều biết rằng chúng ta có một đất nước tuyệt đẹp và linh thiêng. Hãy cùng nhau xây dựng một đất nước bằng sức trẻ, bằng tình yêu và lòng nhân ái của chúng ta để biến giấc mơ Việt Nam trở thành hiện thực như là Thầy. Người đã chưa bao giờ ngừng không chỉ mơ ước mà là xây dựng nó.

Mình biết một sự thật là mình không cô đơn, và các bạn cũng vậy. Mình không đi một mình. Mình biết là các bạn đang đi cùng mình. Các bạn đang cùng bước đi với mình cho một tương lai về một thế giới sống trong hòa bình và nhân ái.

Thưa Thầy, thưa các sư cô sư thầy, con hạnh phúc và biết ơn vì được thấy sự có mặt của Thầy, của các sư cô, sư thầy và món quà vô giá mà con được trao tặng.

Các bạn thương mến, hãy cùng nhau bước đi như ta được tái sinh lần nữa. Dành tặng các bạn một đài hoa sen và một nụ cười.


 

Về Ăn Cơm

“Trong ta ai cũng có một em bé, nếu biết trở về với em bé chính mình, ta sẽ có cơ hội được trị liệu”.

Những ai xa quê, sẽ nhiều lần thao thức một khoảng trời bao la rộng lớn. Trong đôi mắt bé thơ ngày nào, những cánh đồng bát ngát, những con sông lượn vòng phù sa vun đắp, những cánh diều no gió, những cánh cò lả lơi mất dấu nơi chân trời xa thẳm…Chốn thị thành đông đúc; đôi khi thèm tiếng sáo diều, tiếng à ơi. Khói bụi lấm lem thêm chút choáng váng của sự náo nhiệt sẽ làm mình mệt nhoài. Trời đất! Có những bữa cơm vội nơi hè phố thèm làm sao bữa cơm mẹ nấu. Có những hôm, mưa như trút nước. Trú ngoài hiên cửa hiệu, tôi nhớ cái thời lưng trần chạy rong tắm mưa. Cả bọn trong xóm kéo nhau chạy vòng quanh, vật lộn rồi té nhào xuống mương. Thả thuyền giấy để xem chiếc nào sẽ cặp bến trước. Rồi những hôm đi bắt dế, bắt cua đồng…

Ngày trước cứ nô đùa với đám bạn đâu biết chi giờ giấc. Tới bữa ăn là, “Tý ơi, Tèo ơi về ăn cơm con!” nhiều khi kéo cả bọn con nít về ăn chung cho vui. Tình quê là thế ấy. Chiều nay, bụng đói meo, dừng bên quán nhỏ ven đường, ăn dĩa cơm vội mà tôi nhớ da diết bếp hồng quê nhà.

Đôi khi trên bàn cơm chỉ có rau luộc, hay canh lá me, với trứng dầm tương, ấy vậy mà ngon lạ. Chỉ chừng ấy thôi cũng đủ là thiên đường của bọn tôi rồi. Có những lúc nhà không có tiền để mua gạo nấu cơm, phải ăn cháo đỡ lòng. Nhưng tuổi mới lớn, thay vì ăn một nồi cơm tôi ăn hai nồi cháo. Thế là cầm lòng không được, mẹ phải đi vay tiền đắt đỏ trong khi đợi lương của ba.

Vừa đói, vừa ăn, vừa nhớ, nhớ quá đi thôi. Không biết tự khi nào nước mắt thành canh, chan hòa với dĩa cơm đỡ lòng. Tôi nhớ mùi khói bếp trong từng hạt gạo thơm nồng. Tôi biết khói bếp đã nhiều lần làm mắt mẹ cay cay. Có lẽ chiều nay trong bữa cơm chiều đôi mắt mẹ vẫn xốn xang.

Rồi chợt! Từng giọt nước mắt rơi. Buông đôi đũa xuống, thở dài: “Không biết giờ này con Hai, thằng Ba sao rồi? Làm việc cả ngày cả đêm mà vẫn không đủ sống. Nơi thành phố đầy cạm bẫy, tôi lo quá ông à!” Rồi mẹ bật khóc. Ba từ tốn: “Không sao đâu bà tụi nó, sẽ ổn thôi!”

Bất chợt trong đầu tôi vang lên khúc nhạc: “Sáng sớm đi bắt cua đồng, đi thả diều, huýt sáo nô đùa bên đám bạn, nơi lũy tre chơi trốn tìm. Khói bếp cay mắt mẹ già bên bếp lò, cơm nấu xong rồi, mấy đứa về ăn bữa cơm.”Điệp khúc cất cao và mênh mang như con diều no gió. Nó vang vọng, réo rắt như tiếng sáo giữa cánh đồng bất tận. Có lẽ đã là cao trào của cảm xúc. Vừa ăn vừa nghèn nghẹn nơi cổ.

Ngày nào chỉ biết rong chơi với đám bạn, đâu lo lắng gì, tới bữa chỉ đợi “về ăn cơm đi con.” Vậy mà giờ đây phải lo lắng, tính toán đủ mọi bề. Nhiều căng thẳng, khổ đau, lo lắng và thất bại trong dòng mưu sinh chợt vỡ òa một khi tôi hiểu được nỗi vất vả của ba mẹ đã hy sinh cho con lớn khôn. Chỉ có hiểu thật sự rồi, tôi mới thương ba mẹ nhiều như thế. Nói sao cho cạn lời.

Tôi còn nhớ, tết nào mẹ tôi cũng mua một vài chậu vạn thọ để trong nhà. Không phải là để trang trí mà để cho vui, cho ấm cúng, cho đỡ nhớ con. Hơn mười một năm xa quê, tôi chỉ ăn tết với gia đình một lần.

Có nhiều loài hoa đẹp để đón tết nhưng tôi thích nhất là hoa vạn thọ. Vì thế mẹ tôi luôn xem, có hoa vạn thọ là có sự có mặt của tôi trong nhà. Nhìn bông hoa mà nhớ đến tôi, biết tôi có đó cho ba mẹ. Vậy tại sao mình lại không thấy ba mẹ trong chén cơm. Ngày xưa mỗi khi dùng bữa đều phải mời ba mẹ ăn cơm trước khi mình ăn cơm. Tối nay, tôi bắt đầu đặt bút và viết đôi dòng gửi mẹ.

Mẹ kính yêu!

Mẹ ạ! Con biết bếp nhà mình vẫn ấm. “Về ăn cơm đi con” vẫn vang vọng trong con. Tiếng gọi ấm áp của mẹ đã làm con thức tỉnh trước vòng đời đua chen. Đã bao ngày con vật lộn, con chơi trò trốn tìm với chính con. Giờ đây con đã thật sự về đây ăn cơm với mẹ với ba rồi.

Con cũng biết rằng khi con dừng lại thì khung trời hạnh phúc sẽ rộng mở đón con. Ngày xưa khi ăn cơm, ba mẹ luôn nhắc con: “Ăn kỹ no lâu, cày sâu lúa tốt.” Vì thế con tự hứa với mình mỗi ngày, ít nhất một buổi sẽ ngồi ăn cơm thảnh thơi. Không vội vã nữa. Không để vòng xoáy cuộc đời nó đánh bật con đi. Tay bưng chén cơm con nói thầm: “Đây là giây phút ấm cúng của gia đình mình.

Mời ba mẹ ăn cơm với con.” Như thế, con thấy ba mẹ có mặt đó cho con. Con buông dần lo lắng, suy tư. Trong từng hạt cơm, con thấy chan chứa không biết bao nhiêu tấm lòng của những người tạo ra nó. Con cũng thấy được hương lúa, hương mạ non, nắng vàng, mưa và đất trời cao rộng.

Con thưởng thức từng muỗng cơm, từng cộng rau, con nhai chậm rãi và bắt đầu có hạnh phúc. Con thấy gia đình mình không tách rời nhau. Con là sự tiếp nối của cha mẹ. Tấm lòng con mở ra, con biết ơn vô cùng người đã nấu cho cơn dĩa cơm này. Khoảng cách giữa người bán và kẻ mua đã mất.

Mỗi lần con gặp các bác bán cơm là con luôn mỉm cười với niềm biết ơn và kính trọng sâu sắc. Không biết có phải do tấm lòng mình như thế mà bữa nào dĩa cơm của con cũng đầy “tình thương”. Con thương các bác như mẹ. Chỉ biết cười và nói vài câu gì đó cho vui, để giúp các bác vơi đi những nỗi nhọc nhằn theo năm tháng.

Giờ đây con thấy rõ con là người có gốc rễ, có cha mẹ tổ tiên trong con. Con không cảm thấy cô đơn, lo lắng gì nữa. Mẹ ạ! Chiều nay con đã về ăn cơm với mẹ với ba thật rồi!

PHƯƠNG PHONG

con có phước mới có được má như má

Niềm vui mới

Con chào cả nhà!

Hôm nay lại một lần nữa con đến muộn và không được nghe pháp thoại của Thầy nhưng con đến vừa kịp lúc thiền hành. Con có nhiều cảm xúc muốn chia sẻ cùng cả nhà cho vui.

Bình an trong từng hơi thở

Hơn một năm rồi con không uống bia và ăn đồ mặn. Vậy mà hôm qua con đi “nhậu” với bạn bè. Lúc ấy, không hiểu tại sao con lại nghĩ thôi hôm nay mình uống bia xem thế nào! Bình thường, khi đi chơi với bạn bè con thường là ăn kem hay tự mang trà đi uống thay bia. Con mừng là thấy mình rất hoan hỷ, thoải mái khi từ chối bia và đồ ăn mặn. Vì ngày xưa con rất thích uống bia nên lần này con uống giống như là gặp lại người bạn cũ. Cũng may con không có cảm giác gì và không bị bia lôi kéo để uống cho nhiều, cho vui. Quả là khả năng làm chủ bản thân của con có tăng lên một chút.

Hội bạn của con uống rất nhiều bia, rượu. Con thích chơi với các bạn vì chúng con cùng học kỹ thuật với nhau, có những điểm chung, có thể nói chuyện và có thể hiểu nhau. Mỗi người đều có những điểm đặc biệt mà con ưa thích. Nhưng càng ngày, con càng thấy mình xa các bạn hơn, vì chúng xon đã rẽ sang hai hướng khác nhau. Các bạn thích được vui chơi hết mình, thích quậy, thích “nhậu”, thích bùng nổ, vì đó là tuổi trẻ. Còn con thì thích tĩnh lặng hơn. Con thấy mình rất tách biệt. Mỗi khi các bạn uống nhiều bia rượu vào, những câu chuyện cười đùa của các bạn bỗng trở nên xa lạ với con.

Mặc dù con vẫn rất yêu quý các bạn, rất thích được tụ tập, gặp gỡ bạn bè, nhưng con dần thấy mình đứng ở ngoài. Hôm qua con có tâm sự với em Linh về hai cái vui. Trước đây con chỉ mới biết một, đó là khi tụ tập bạn bè ăn uống, cười đùa, con có niềm vui khi nhìn các bạn quậy, kể chuyện tếu, làm trò hài hước, trêu trọc nhau hay khi uống bia vào thì thấy hưng phấn. Bây giờ con đã biết thêm một niềm vui khác, đó là khi được chơi cùng tăng thân tu học. Con công nhận cả hai đều vui, nhưng hoàn toàn khác nhau. Con nghĩ cũng không cần phải kể ra làm gì, vì có lẽ mọi người đều biết nó khác nhau thế nào.

Đêm qua khi đã xong xuôi ai về nhà nấy, con thấy trong lòng có gì đó nằng nặng. Con biết các bạn con “hạnh phúc” với lối sống hiện tại. Nhưng con ước gì các bạn có thể nếm trải qua một lần cái hạnh phúc nhẹ nhàng, lành mạnh và bền lâu, hơn là những phút cười đùa ngặt nghẽo, hay là cảm giác hưng phấn của rượu bia. Khi đi cùng các bạn, con đã thường xuyên nhắc nhở mình trở về với chánh niệm và bình an. Mỗi khi đi, con thực tập thiền hành, con dừng lại mỗi khi có ý niệm gì đó nhảy ra trong đầu. Con vẫn thấy vui khi có các bạn ở xung quanh, nhưng đồng thời con thấy buồn khi nhìn các bạn uống hết chai này đến chai khác, nói những câu chuyện không nuôi dưỡng.

Sáng nay con đến muộn, nhưng từ khi bước chân ra khỏi nhà đến khi bước chân lên thiền đường, con thấy nhẹ nhõm dần. Con biết con đang đến với nguồn nước mát lành. Hôm nay con có thêm một cảm giác mới, đó là cảm giác an toàn. Con không giải thích được cảm giác này. Chỉ biết khi đến nơi (thiền đường Hơi Thở Nhẹ), con thấy an tâm lắm. Con thấy mình được bảo bọc, mình đã an toàn rồi, buông bỏ hết được rồi. Giống như vừa đi một quãng đường đầy ổ voi, ổ gà, mưa sa gió táp mà được trở về nhà, an toàn ấm áp, không phải cố gắng gì nữa cả, thả mình xuống mà nghỉ ngơi. Con thấy rõ hơn hai hoàn cảnh con đang sống khác nhau lắm.

Con biết ơn nhân duyên và phước đức đã cho con biết được Thiền đường Hơi Thở Nhẹ, biết được tăng thân và con đường đi. Trước đây, đôi khi con cứ sợ mình yêu thích Làng Mai có phần là do quá khích, là do mình tự huyễn hoặc bản thân, hay như chiều nay chú Minh nói là mình đã thần tượng hoá. Nhưng đến bây giờ thì con đã thấy rõ đây là đường đi của hạnh phúc. Đơn giản chỉ có vậy.

Con cảm ơn vì con thấy mình may mắn, may mắn hơn rất rất nhiều người.

Tâm Hòa Ái.

Hạnh buông bỏ

Xóm Hạ, ngày 20 tháng 9 năm 2013

Các bạn thương mến,

Khi tôi viết thư này cho các bạn thì xóm Hạ cũng vừa bắt đầu khóa tu mùa thu. Những chiếc lá bạch dương vàng ươm đang chao liệng theo làn gió nhẹ. Cơn mưa đầu thu đang tắm mát những đám cỏ khô héo vì nắng cháy của mùa hè. Đó cũng là lúc các sư chị sư em tôi cùng nhau lấy những chiếc mũ len và khăn quàng ấm áp ra dùng.

Thầy vẫn đang trong chuyến hoằng pháp bên Mỹ, nên xóm Hạ lúc này rất yên tĩnh. Mỗi tuần chỉ có khoảng 10 thiền sinh đến tu tập thôi (so với con số 220 vào cao điểm của khóa tu mùa hè). Chúng tôi rất hạnh phúc được bắt đầu thời khóa mới cho khóa tu mùa thu sau nhiều tháng bận rộn với các khóa tu đông thiền sinh đến dự như khóa tu mùa hè, khóa tu dành cho người trẻ, khóa tu sức khỏe …

Tôi là một “sư cô trẻ”* (baby nun), xuất gia trong gia đình cây Đỗ Quyên 18 tháng trước đây (vào ngày 4.7.2012). Mặc dù là người Anh nhưng tôi lại sống ở Pháp hơn nửa số tuổi của mình. Chính ở đó, tôi đã gặp được pháp môn thực tập chánh niệm của Làng Mai. Trong 14 năm, tôi đã cùng thực tập với tăng thân cư sĩ, trước tiên là với tăng thân Pháp, và 2 năm cuối cùng trước khi đi xuất gia là với tăng thân Hampshire, Anh Quốc. Suốt thời gian ấy, tôi đến Làng rất thường xuyên và cuối cùng thì quyết định “nhảy” vào trong dòng sông của tăng thân xuất sĩ, một nơi diệu kỳ mà giờ đây tôi đang bơi lội tung tăng như một em bé sơ sinh, thỏa thích chơi đùa và tu tập.

Chắc các bạn sẽ thắc mắc không biết giai đoạn chuyển tiếp từ cư sĩ sang xuất sĩ của tôi đã diễn ra như thế nào. Và lá thư này là cơ hội để tôi chia sẻ với các bạn những gì mà tôi đã quán chiếu được trong giai đoạn còn là một “sư cô trẻ” mới xuất gia.

Tôi xuất gia vì yêu thích pháp môn, thích khám phá tâm mình và áp dụng sự thực tập để chuyển hóa khó khăn. Khi hiểu được tâm mình hơn và có thể chuyển hóa được khổ đau của tự thân, tôi hy vọng sẽ có thể giúp những người khác làm được như vậy.

Trước khi đi tu, cuộc sống của người xuất sĩ là một sự bí ẩn đối với tôi. Lúc ấy thậm chí tôi không bao giờ muốn nhắc đến hai từ “nữ tu” vì nó gợi lại cho tôi rất nhiều tiêu cực trong văn hóa Tây Phương có liên quan đến hai từ đó. Trong cách nói của Làng Mai, hai chữ “xuất sĩ” dễ chấp nhận hơn.

Là một người có tuổi đời khá lớn so với phần lớn các vị xuất sĩ khác trong tăng thân, làm thế nào tôi có thể thay đổi những tập khí đã huân tập trong cả một quãng đời dài như vậy?

Nhiều năm về trước, lần đầu tiên tôi gặp Ani Lodron (một Giáo thọ người Scotland) tại Làng Mai. Khi ấy Ani vẫn còn là một sư cô trong truyền thống Tây Tạng. Ani chia sẻ: “Tất cả những thực tập mà Thầy dạy có thể được gói gọn trong hai từ: buông bỏ.” Cám ơn Ani, tôi không bao giờ quên những lời cô đã chia sẻ. Những lời này thường vang lên bên tai tôi bất cứ khi nào tôi gặp phải khó khăn.

Thế nhưng, có lẽ đó lại chính là điều mà tôi nên buông bỏ! Tri kiến là cái mà tôi cần buông bỏ nhất … Mặc dù vậy, tôi thấy cần phải nói thêm là trong tư cách là một người xuất sĩ, tôi đã phải buông bỏ rất là nhiều thứ khác rồi (quý sư cô lớn thường thường chỉ giữ lại vật dụng cần thiết đủ để bỏ vào một cái va li mà thôi.)

Trước khi xuất gia, tôi tưởng là (tưởng cũng là một cái rất cần buông bỏ) cuộc sống tập thể sẽ là một thử thách lớn nhất mà mình phải đương đầu. Bởi vì khi còn là cư sĩ tôi đã quen sống một mình và rất thích cuộc sống đó. Mình có thể làm bất cứ điều gì mình thích, bất cứ khi nào mình muốn và theo ý mình!

Tuy nhiên, tôi cũng đã từng sống chung với một người bạn trai và hai đứa con của anh ấy. Tôi cũng rất thích cuộc sống đó, tuy là không gian dành cho riêng mình bị hạn chế hơn. Dù vậy, việc phải sống chung phòng với 2 sư cô, và dùng chung một phòng học với 11 sư cô nữa cũng không phải là chuyện dễ, tôi nghĩ vậy.

Nhưng thực tế diễn ra lại khác hẳn, rất dễ chịu! Ở chung phòng thật vô cùng ấm cúng, lúc nào cũng có một sư chị hay sư em để mình chia sẻ khi buồn hoặc khi gặp khó khăn. Lúc nào cũng có một ai đó ôm mình an ủi, vỗ về. Mình sẽ không còn cơ hội để trốn chạy khi cơn giận hoặc sự bực bội nổi lên (đó là điều mà tôi hay làm khi còn nhỏ). Phải thực tập thôi! Sống chung gần gũi như vậy còn giúp cho mọi người thật sự tiếp xúc với chính mình bởi vì những người khác chính là tấm gương phản chiếu lại cảm xúc và tâm hành của mình. Vì vậy đó là một nơi thật tuyệt vời để thực tập. Không chạy trốn vào đâu được!

Nhớ lại những tuần đầu tiên ở chung phòng sau khi xuất gia, có rất nhiều cái, hay đúng hơn là những tham đắm, mà tôi nên buông bỏ – thí dụ như thèm được ngủ một mạch 8 tiếng liền không bị quấy rầy (đồng hồ báo thức cứ thi nhau reo vào sáng sớm, người ta có thể cho rằng ở Làng Mai thức dậy lúc 5 giờ sáng là sớm nhất, nhưng rất nhiều sư cô còn thức dậy sớm hơn nhiều!), thèm được ngủ trong một căn phòng tối, không có ánh đèn, hoặc thèm được chọn cái giường hoặc bàn học mà mình thích (thông thường sư em nhỏ nhất là người chọn sau cùng).

Mười tám tháng đã trôi qua, giờ đây tôi nhận ra rằng sự huấn luyện đó đã giúp tôi trở nên bớt đòi hỏi, biết buông bỏ nhiều hơn, nhờ đó tôi có thể phó thác mình cho tăng thân. Tôi thấy mình mỗi ngày càng có thêm niềm tin vào tăng thân. Tăng thân thật sự cho tôi tất cả những gi tôi cần, luôn quan tâm săn sóc cho tôi. Đây chính là mảnh đất mầu mỡ nhất để tôi có thể lớn lên.

Sống trong đại chúng, tôi không bao giờ bị lẻ loi bởi vì có rất nhiều sư chị sư em cùng chia sẻ, đi dạo và uống trà với tôi. Tăng thân có khả năng lắng nghe và hiểu biết rất lớn (chẳng phải đó chính là lý do mà chúng tôi có mặt ở đây hay sao?) Tôi đang thật sự sống trong một tăng thân yêu dấu – gia đình xuất sĩ của tôi. Càng ngày tôi càng thấy rằng sống một cuộc sống tri túc trong tăng thân đã giúp chữa lành những vết thương quá khứ mà tôi đã gánh chịu trong gia đình huyết thống. Ba mẹ tôi luôn bận rộn và thường xuyên bị trấn ngự bởi những khó khăn của chính họ. Họ không có may mắn được học cách đối trị với những cảm xúc mạnh của chính mình, nói gì đến việc chăm sóc tinh thần cho các con!

Trong 18 tháng sống cuộc đời của một người xuất sĩ, không biết bao nhiêu là thử thách đã đến để kiểm tra xem tôi có thực sự có khả năng buông bỏ hay không. Hạnh phúc thay, những thử thách này đã đưa tôi đến một thực tập rất căn bản và sâu sắc, đó là nuôi dưỡng lòng từ bi đối với chính mình. Bất cứ khi nào có thể được, tôi đều cho phép mình có đủ thời gian để thực tập buông bỏ mà không quá ép mình, không bạo động đối với chính mình. Tôi thích hình ảnh của một trái chín cây. Khi nó chín đủ thì tự nó sẽ lìa cuống mà rơi xuống. Tôi cho phép mình tự chín, và đó chính là lúc tôi cần trở lại với hơi thở để có thể mở lòng nhìn rõ hoàn cảnh, nhìn rõ cảm thọ của mình. Có khi tôi cần một vài tuần hay một vài tháng để thực tập. Dần dần tôi đã có thể kiên nhẫn hơn và tự chăm sóc chính mình.

Vì tôi là loại “học sinh gương mẫu” nên sau khi xuất gia tôi đã cố gắng thực tập để không phụ “lòng mong đợi” của mọi người. Thật là sai lầm không thể tả! Cố gắng để làm hài lòng mọi người không phải là một cách thực tập tối ưu, bởi vì mình sẽ bị kiệt sức và trở nên tuyệt vọng, có khi còn khiến cho mình không thích thực tập nữa. Từng chút từng chút một, giống như một em bé đang bước những bước đầu chập chững, tôi đã dần dần nhận ra rằng tôi phải sống thật với con người mình, với tất cả những khiếm khuyết của mình. Một trong những châu báu quý giá nhất mà tôi tìm được khi sống với tăng thân là ở đây hoàn toàn không có sự trách móc hay phán xét. Tôi thấy tôi được chấp nhận để là chính mình. Hơn thế nữa, tôi thấy dù tôi có như thế nào thì mọi người vẫn cứ thương tôi. Thật là một món quà vô giá!

Gần đây, trong một buổi sáng làm biếng (không có thiền tọa, ăn sáng lúc 8 giờ, có thể ngủ “nướng” được) , khoảng 3 giờ rưỡi sáng tôi đã bị đánh thức bởi tiếng đồng hồ báo thức. Vẫn còn đang ngái ngủ, tôi mở mắt nhìn “thủ phạm” một cách bực bội. Tôi thấy sư chị yêu quý ở chung phòng đang ngồi trên giường, loay hoay để tắt báo thức trong chiếc I-pod mới mua và cười một mình trước âm thanh của món đồ chơi mới đó. Khi ấy, tôi thấy mình có hai chọn lựa, hoặc là bực bội càu nhàu, hoặc là thấy sự việc thật đáng tức cười, bởi vì hình ảnh sư chị ngồi cười một mình trong một buổi sáng tinh mơ như vậy thật sự rất dễ thương. Tự dưng tôi mỉm cười, xoay người và ngủ trở lại ngay lập tức. Cũng có tiến bộ đấy chứ!

Cảm ơn tất cả các bạn đã yểm trợ cho tôi. Hãy đến tu tập với chúng tôi thường xuyên và đó là sẽ cơ hội cho các bạn cùng đi với chúng tôi như một dòng sông trong tăng thân tứ chúng.

Thương tặng các bạn một giỏ sung chín mùa thu!

Sư cô Chân Trăng Tam Muội (Sister Samadhi)

*Ở Làng Mai, thông thường thì giới hạn độ tuổi để xin tập sự xuất gia (bước đầu tiên trước khi gia nhập chúng xuất sĩ) là 50. Tuy nhiên, tôi lại viết thư xin tập sự vào độ tuổi 55. Tôi thật vô cùng tri ân tăng thân đã làm một ngoại lệ khi chấp nhận tôi.

(BBT chuyển ngữ từ nguyên bản tiếng Anh).

Em hạnh phúc là chị vui

22.8.2013

Bạn thân mến,

Tôi sống ở Làng Mai đã được vài năm nhưng mới chỉ xuất gia hồi năm ngoái. Sau khi xuất gia hơn một năm, tôi được tăng thân cho phép về thăm gia đình và để dự đám cưới của em gái ở Toronto, Canada. Đó cũng là lần đầu tiên hầu hết mọi người trong gia đình gặp lại tôi trong chiếc áo người tu. Chuyến về thăm đó rất dễ thương và tôi muốn chia sẻ cùng bạn.

Ai cũng thấy hai chị em tôi có nụ cười và cung cách giống nhau nhưng trong mỗi chúng tôi cũng có rất nhiều điểm khác nhau. Khi còn nhỏ, hai chị em hay muốn thay đổi tính cách của người này theo ý mình. Nhưng rồi  mong muốn ấy  không có  tác dụng tí nào. Sau khi tôi vào đại học, cả hai chị em đều nhận ra rằng mình cần học cách làm bạn của nhau. Dần dần chúng tôi đã biết chấp nhận và trân quý nhau mà không bắt người kia phải thay đổi theo ý của mình nữa. Từ đó tình bạn đẹp đẽ giữa hai chị em tôi đã phát triển và càng ngày càng lớn mạnh. Tình bạn này đã nuôi dưỡng chúng tôi rất nhiều và giúp chúng tôi đi qua nhiều khó khăn thử thách. Tôi rất hạnh phúc vì có em gái đến dự lễ xuất gia của tôi tại Pháp hồi năm ngoái. Và bây giờ việc tôi có thể về dự đám cưới và yểm trợ em tôi là một việc rất có ý nghĩa đối với cả hai chị em.

Một trong những điểm khác nhau giữa hai chúng tôi là em gái tôi ăn mặn và dùng rượu. Đương nhiên là em tôi cũng sẽ đãi khách thức ăn mặn trong đám cưới của mình. Chuyện đó rất bình thường, hầu như ai cũng làm như vậy ở Canada. Còn tôi thì ăn chay từ hồi còn ở tuổi thiếu niên, và tôi cũng không uống một giọt rượu nào trong nhiều năm trước khi đi xuất gia, vì vậy gia đình tôi đã quen với việc tôi không ăn thịt và không uống rượu. Cho nên, tôi tin chắc rằng em gái mình sẽ không bao giờ làm một cái đám cưới không rượu không thịt và không có những thứ khác… chỉ vì tôi. Thường thường tôi không bao giờ ép em làm việc gì mà em tôi không muốn, chuyện đám cưới cũng không ngoại lệ. Tuy nhiên vì tôi là một người xuất gia, tôi không muốn tham gia vào một buổi tiệc như thế. Chúng tôi đã trao đổi khá nhiều về việc này và cuối cùng đi đến thỏa thuận là tôi sẽ ngồi cùng bàn với hai người khách cũng ăn chay, và chúng tôi yêu cầu những người đó không dùng rượu. Sau khi ăn xong, tôi rời phòng tiếp tân, ra bên ngoài để gặp gỡ, thăm hỏi bạn bè và người thân. Tôi cảm thấy đây là một sự sắp xếp tương đối hợp tình hợp lý. Dù vậy, tôi không chắc là trong tương lai mình có muốn tham dự thêm một cái đám cưới nào nữa hay không.

Trong khi tiệc chiêu đãi chẳng dính líu tí gì tới Phật pháp thì phần nghi thức hôn lễ là lúc tôi có thể chia sẻ về sự thực tập mà mình đang hành trì. Tôi dùng lời giới thiệu của Thầy trong cuốn sách “Khu vườn của thương yêu” (Love’s Garden: A Guide to Mindful Relationships – Tác giả Peggy Rowe) để nói về sự thực tập tưới tẩm có chọn lọc (chỉ tưới những hạt giống  lành), chăm sóc khu vườn của chính mình trước khi chăm sóc khu vườn của người khác, về bốn tâm vô lượng (Từ, Bi, Hỷ, Xả) và sự không kỳ thị. Thật là đơn giản mà lại đẹp đẽ vô cùng. Tôi rất vui khi thấy mình có thể chia sẻ những điều này không chỉ cho em gái, em rể mà còn cho tất cả những ai có mặt trong lễ cưới. Thật hạnh phúc vì khi ấy tôi đã là một biểu hiện của Thầy.

 

Sư cô Trăng Hải Ấn trong lễ cưới của em gái

Làng Mai còn biểu hiện qua nhiều hình thái khác trong chuyến về thăm nhà lần này của tôi. Em gái tôi đã sắp xếp cho bữa ăn tối truyền thống trước ngày cưới (rehearsal dinner) và buổi ăn ngoài trời (picnic) cả gia đình cùng có mặt nhưng không có thịt và rượu mà chỉ có thức ăn chay. Tôi nghe nói có vài người bà con đã không ăn một chút gì trong những lần họp mặt ấy vì thức ăn “hơi lạ” cho họ. Nhưng ít nhất là họ đã tới tham dự và không phàn nàn gì hết. Vậy là hay rồi. Trong buổi ăn tối truyền thống trước ngày cưới, tôi có nghe nói: “Tưởng tượng xem, cả buổi tối không có chút rượu và thịt, vậy mà mình vẫn vui được!” Họ nói mà không biết có tôi ở đó. Chỉ là một nhận xét nho nhỏ thoáng qua thôi nhưng lại vô cùng ý nghĩa đối với tôi. Tôi thấy thật rõ ràng là dù tôi không cần nói gì hết người ta cũng có thể tiếp xúc được với một phần nào đó của tăng thân và văn hóa của người tu. Vậy là họ đã thưởng thức nó một cách vô tư. Nếu tôi cố gắng giải thích tại sao việc không uống rượu là vô cùng quan trọng đối với chúng ta ở Làng Mai thì có lẽ tôi đã không chia sẻ được như tôi đã chia sẻ trong lễ cưới, và người nêu nhận xét đó đã không có được một kinh nghiệm thực tế như vậy. Thầy đã nói rất nhiều lần là những người mới xuất gia cũng có thể chia sẻ giáo pháp được qua sự có mặt của mình, họ không cần đợi đến lúc trở thành giáo thọ. Kinh nghiệm của tôi đã chứng minh lời Thầy nói là đúng.

Một điều thú vị nữa là tôi không biết phải giới thiệu tôi với mọi người trong đám cưới như thế nào. Ở Làng Mai dĩ nhiên là tôi dùng pháp danh của mình bằng tiếng Việt – Chân Trăng Hải Ấn. Với những thiền sinh chỉ đến Làng một thời gian ngắn và không nói được tiếng Việt, tôi dùng “Sister Ocean” để giới thiệu tên mình. Bạn bè người thân trong gia đình thì vẫn quen gọi tôi là Melina. Thật lòng mà nói, tôi thích cả hai tên. Tên khai sinh đã được ba mẹ tôi đặt cho, và vì cả hai người đều đã qua đời, tên của tôi mang theo tình thương đặc biệt của ba mẹ dành cho tôi. Trong khi đó, tên xuất gia của tôi lại là một tứ thơ tuyệt đẹp mà thầy tôi đặt cho tôi. Nó đã đi vào trái tim tôi một cách sâu sắc dù tôi vẫn chưa hoàn toàn hiểu hết ý nghĩa của nó. Cái tên này đã mở cánh cửa để tôi bước vào một khung trời mầu nhiệm. Khi dịch ra tiếng Anh, tên tôi mang một ý nghĩa rất giản đơn nhưng lại vô cùng mạnh mẽ khơi dậy trong tôi một nguồn cảm hứng như đang đứng trước một đại dương mênh mông. Mỗi cái tên đều chứa đựng rất nhiều hạnh phúc và niềm vui.

Tôi biết một vài người trong gia đình và vài người bạn thân sẽ cố gắng để học cái tên mới của tôi, và nếu họ có quên mất cái tên mới này thì họ cũng không lấy gì làm lo lắng. Có lẽ phần đông cũng không buồn nhớ tới việc tôi có một cái tên mới. Một vài người chỉ biết tôi là Melina thôi, nếu tôi nói cho họ biết cái tên mới của mình thì chắc sẽ làm họ rối thêm lên. Do đó, sau khi suy nghĩ cặn kẽ, tôi tự giới thiệu mình trong lễ cưới là: “Tôi là Melina Bondy, chị của cô dâu, và tên xuất gia của tôi là Sư cô Hải Ấn.” Khi có ai hỏi là họ nên gọi tôi là gì, tôi nói “Hải Ấn” và bảo nếu họ không nhớ thì có thể gọi tôi là Melina cũng được.

Ép buộc mọi người phải dùng một cái tên ngoại quốc để gọi mình thì hơi cứng nhắc, còn nếu chỉ dùng tên khai sinh thì có vẻ như mình hơi coi nhẹ chuyện mình đã là một người xuất gia. Tôi cảm thấy đời sống của người tu đã đem đến cho tôi rất nhiều niềm vui nên tôi không thể không chia sẻ nó cho người khác được. Vì vậy, tôi cho họ biết cả hai tên để tùy họ chọn. Cuối cùng rất nhiều người đã gọi tôi là Sr. Ocean vì họ đã cố gắng học tên mới của tôi nhưng lại không tài nào nhớ nổi bằng tiếng Việt. Họ rất vui vì thấy có một cái tên bằng tiếng Anh dễ nhớ và dễ hiểu. Tôi rất cảm động khi thấy sự cố gắng đó của họ. Tôi biết gia đình của một số huynh đệ không bao giờ gọi họ bằng tên xuất gia, vì vậy tôi càng cảm thấy tri ân những người đã gọi tôi bằng tên xuất gia. Họ thấy hạnh phúc chỉ vì chúng tôi có cơ hội gặp mặt, còn tên của tôi là gì thì không quan trọng lắm.

Ngoài ra chuyến về thăm nhà làm tôi càng cảm thấy trân quý hơn cuộc sống của mình khi là một sư cô ở Làng Mai. Khi lái xe trong dòng xe cộ hối hả ngược xuôi ở Toronto, hơn lúc nào hết tôi thấy thật biết ơn việc mình đang được sống ở một miền quê thanh tịnh, không có nhiều xe cộ. Nhìn mọi người bận rộn trang điểm để đi dự lễ cưới, tôi thấy tri ân bộ áo nâu giản dị của người tu và một cái đầu cạo sạch. Khi mua sắm chút đồ gì đó ở siêu thị, tôi có cơ hội để thấy rằng trong thời hiện đại này người ta thật dễ bị sự tiêu thụ lôi cuốn. Tiêu thụ, tiêu thụ và tiêu thụ nhiều hơn. Tôi cảm thấy rất nhiều lần mình đã bị cuốn đi. Nhớ lại hồi xưa, những thứ cuốn mình đi có vẻ như rất tự nhiên: công việc, những sinh hoạt, quảng cáo, điện thoại di động … Rồi những thứ khác nữa, lúc nào cũng có sẵn và nhiều vô số kể. Trở lại Làng Mai, tôi vô cùng biết ơn sự thực tập giới luật. Vì sự thực tập giới luật giúp tôi có thể dễ dàng có một cuộc sống giản dị, đồng thời giúp tôi chế tác được niềm vui và sự bình an mỗi ngày .

Vào cuối chuyến thăm gia đình, một chuyện có lẽ là thú vị nhất đã xảy ra. Tôi đến gặp Eva Gold, một bà thầy trị bệnh bằng nhân điện mà cả gia đình tôi vẫn đến trị bệnh xưa nay. Eva hay sử dụng phương pháp “thử bắp thịt” bằng cách đặt câu hỏi rồi quán sát câu trả lời từ cơ thể của bệnh nhân. Bạn chìa một cánh tay ra, lắng nghe câu hỏi, rồi Eva sẽ dùng lực đẩy cánh tay của bạn, bạn phải dùng lực để cưỡng lại. Thông thường bạn sẽ bắt đầu bằng: “Tôi tên là…” với  tên thật của mình. Sau đó bạn sẽ được mời nói một cái tên khác, thí dụ như: “Tôi tên là Chuột Mickey.” Thường thường khi bạn nói tên thật, cánh tay bạn sẽ mạnh hơn khi nói tên giả vì cơ thể bạn “biết” sự thật sâu sắc hơn tri giác. Khi tôi đến đó, Eva cũng làm thí nghiệm này với tôi, và khi Eva hỏi tên, tôi không biết phải dùng tên nào để trả lời. Do vậy tôi đã sử dụng cả ba tên, và một tên giả. Điều tuyệt vời nhất là cánh tay tôi đã mạnh đồng đều với cả ba tên, và khi nói tên giả thì cánh tay lại yếu hơn. Đó là một sự khẳng định thật đẹp cho tôi. Tôi biết là tôi yêu thích tất cả những cái tên của mình nhưng lại không chắc cơ thể mình sẽ trả lời như thế nào. Cuối cùng thì tất cả đã được khẳng định cho tôi.

Tôi thấy sự kiện mang tính biểu tượng của đám cưới và của toàn bộ chuyến viếng thăm đã làm rõ hơn những gì tôi đã biết.. Tôi không cần phải xóa bỏ quá khứ để trở thành người hoàn toàn mới. Tôi vẫn là một người phụ nữ Canada với tất cả những kinh nghiệm và tên gọi mà tôi có, tôi đồng thời cũng là một sư cô trẻ với rất nhiều điều cần học hỏi. Tôi vẫn là tôi ngày xưa, nhưng tôi cũng rất khác với ngày xưa. Không có gì cần phải lo lắng, và cũng không có gì cần phải xóa đi. Tôi chỉ cần đem giáo pháp vào tim, lắng nghe thật sâu sắc để có mặt và uyển chuyển trong mọi tình huống, và tin vào trực giác của chính mình. Và còn nữa… tin vào sự thực tập … sự thực tập này có một cái tên …Chánh niệm!!!

Sư cô Chân Trăng Hải Ấn

Sư cô Chân Trăng Hải Ấn hiện đang sống và thực tập tại Chùa Cam Lộ, Xóm Hạ, Làng Mai Pháp Quốc. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hoa Đỗ Quyên (Azelia)

 

 



Thần chú

Cách đây hai năm một thiền sinh trong giờ sinh hoạt pháp đàm của từng nhóm phát biểu: ”Tôi nghĩ Phật Pháp là một triết lý cao siêu chứ đâu có phải là cứ thở ra hít vào mà hiểu được..” Trong một lần khác một thiền sinh Tây phương cũng nói: ”Tôi dự và xem sách, DVD, lúc nào Thầy cũng nói về hơi thở, chẳng có gì mới lạ..” (Everywhere, book, DVD… he says same thing, Mindful Breathing. I see nothing new). Tôi mỉm cười và định trả lời: “Tại mình thực tập chưa đúng mức cho nên chưa thấy mới lạ.”

Năm nay tôi được may mắn trở lại Lộc Uyển tham dự khóa tu. Buổi pháp thoại ngày đầu tiên cũng một đề tài như những năm trước: Thiền thở và Thiền đi. Tôi nhìn quanh thiền đường một vòng xem thử có khuôn mặt nào tỏ phản ứng “đề tài lặp lại”” không? Thiền đường thật lặng im. Tôi nghe nói rằng trên sáu trăm người tham dự khóa này. Tôi được hưởng lây cái năng lượng chánh niệm trong thiền đường. Tôi nghĩ phần lớn những người có mặt hôm nay ít nhất họ đã một lần tham dự khóa tu như thế này, cho nên họ biết giữ im lặng tuyệt đối.

 

 

Cái mới lạ đến với tôi cách đây hai mươi năm. Trong một khóa tu đầu tiên tôi dự tại Camp des Sommets gần Montreal, Canada. Một bữa sáng bước chân vào phòng ăn, tôi thấy trước cửa có treo một tấm bìa viết ”Thở đi con” (Breathe my dear). Tôi khựng lại một chút nhủ thầm lâu nay mình quên là mình đang thở. Trong khoá tu năm đó Thầy dạy nhiều về hơi thở chánh niệm, kỹ thuật thở có ý thức. Thở khi đi, khi ngồi khi nằm khi ăn… Vì chưa quen nên cảm thấy mệt. Tuy mệt nhưng cái cảm giác lạ đầu tiên vẫn còn mãi trong tôi trong suốt mấy ngày tu tập đó. Rồi tiếp theo những khóa tu tôi có dịp tham dự, Thầy luôn nhắc đến chánh niệm và phương pháp hay nhất để duy trì năng lượng chánh niệm là hơi thở.

Từ đó đến nay con đường thiền tập của tôi là nương theo hơi thở. Cái lạ là mình càng cố gắng nương theo nó thì hình như nó hành mình. Làm như nó là ông chủ của mình, nhiều lúc không theo nó thì bị nó “trừng phạt”. Sau buổi ngồi thiền với nhiều tạp niệm, trong ngày nói năng nhiều khi không ái ngữ với người thân, suy nghĩ miên man từ chuyện này đến chuyện khác không đầu không đuôi… Những lúc như thế đó tôi chợt sực nhớ là mình không về với hơi thở chánh niệm. Rồi bực tức, rồi tự trách mình đã mấy chục năm theo Thầy mà vẫn chứng nào tật nấy. Đó là những lúc bị nó trừng phạt. Cho nên với tôi “Breathe my dear” là câu thần chú.

Thở đi con, lúc đầu xem như là lời của Thầy mình nhắc nhở mình giữ lấy hơi thở chánh niệm, dần dần tôi thấy ra là chính tôi nhắc tôi và có nhiều lần tôi lại thấy không phải “thở đi con” mà là “thở thở”; không còn người nhắc nhở và người được nhắc nhở; hai ta đã là một. Những lúc như thế tôi thấy tôi rất rõ, thân tâm tôi chỉ toàn là hơi thở đều hòa, nhẹ nhàng, sâu lắng. Tôi muốn duy trì cảm giác này thật lâu thì tôi bị phản hồi ngay, càng muốn kéo dài tự nhiên tôi cảm nhận được cái tôi và hơi thở của tôi. Thất vọng. Vừa chớm thất vọng thì câu thần chú đến ngay “thở đi con”. Tôi mỉm cười trong bóng tối của phòng thiền (mà tôi gọi là phòng thở) và cái trình tự Thầy nhắc tôi thở, tôi tự nhắc tôi thở, và toàn thân tâm tôi là hơi thở trở lại.

Tôi không thèm mong cầu kéo dài sự nhẹ nhàng của cảm giác mình vậy mà nó kéo dài hơn. Có lúc tôi mở to đôi mắt vẫn cảm thấy mình nhẹ thênh thang. Nhiều khi tôi thấy một sự tiếp nối miên mật của hơi thở, tôi không tìm ra cái bắt đầu của hơi thở cũng như cái cuối cùng của nó; bắt đầu của hơi thở vào chính là cái cuối cùng của hơi thở ra trước đó. Và cái cuối cùng của hơi thở ra chính là cái bắt đầu của hơi thở kế tiếp. Và quán sâu hơn nữa hơi thở vào và hơi thở ra chỉ là một, và trong cái một đó là một chuỗi của bắt đầu và cuối cùng. Trong cái bắt đầu đã có cái cuối cùng, trong cái cuối cùng đã có bóng dáng của bắt đầu. Sự quán sát đó đưa tôi về với chính tôi, tôi là hơi thở, tôi tan loãng trong hơi thở, hiện tại tôi đang thở…không có một chút cố gắng, tôi nhẹ nhàng.

Nếu tôi đem cái kinh nghiệm đó ra giải bày cho bất cứ ai, thì họ chỉ mỉm cười, hay tỏ vẻ có gì đâu đáng nói. Bởi họ không thể biết được cái hương vị tôi được nếm. Nhiều người biết tôi đang thực tập thiền họ hỏi cùng một câu giống nhau: “Anh thấy gì khi ngồi thiền?” Và lúc nào tôi cũng chỉ trả lời được một câu: “Tôi thấy tôi.” Tôi không biết trả lời gì khác hơn bởi vì tôi kinh nghiệm được là tôi thấy tôi rất rõ khi ngồi thiền hay khi trở về với hơi thở. Nhiều người thất vọng với câu trả lời đơn giản đó. Có người nghĩ tôi không muốn trả lời cho họ nhiều hơn, hoặc nghĩ tôi “chưa đạt đạo”.

Tại sao người ta hay thích những cái cầu kỳ để tìm cách lý giải như lý giải một đề tài trong khi thực tế vấn đề đơn giản. Nếu tôi lặp lại câu của các vị tổ “bản lai diện mục”, “nhất tâm nhất Phật” v.v và v.v thì họ sẽ trố mắt ra suy nghĩ và phục tôi lắm. Nếu tôi cứ đem kinh Kim Cang, Hoa Nghiêm tuôn ra bất tận thì nhiều người ngồi nghe thích thú. Nhưng khi tôi đề nghị trước khi ăn cơm mình để ra ít phút nắm lấy hơi thở nhìn vào thức ăn để nhận diện và quán “Thức ăn này là tặng phẩm của đất trời, là công phu lao tác…” thì có người làm theo nhưng không thích mấy. Tôi nói với họ “lời quán này là một trời Hoa Nghiêm, trùng trùng duyên khởi”. Có người giật mình, thì ra mình đang sống giữa thế giới của Hoa Nghiêm mà không nhận ra, cứ đi tìm ở nơi khác. Chỉ cần một hơi thở nhận ra được cái mầu nhiệm. Còn nhiều vô số những cái “nho nhỏ” như hơi thở giúp mình đi vào thế giói kinh điển và áp dụng được kinh điển vào đời sống mà mình không thấy bởi vì mình không nương hơi thở về với thực tại.

Tôi hay chia sẻ với các bạn đồng tu rằng hãy thực tập (tu) những cái nho nhỏ hằng ngày mình hay làm: đi ra đi vào, mở cửa, ăn cơm, đi cầu… Những công việc đó nếu mình làm với hơi thở chánh niệm thì mình sẽ thấy được những cái “tinh vi hơn”. Không có một cử động nào là đơn thuần, giản dị. Tất cả toàn thể thân hình mình cùng làm việc nhịp nhàng cùng một lúc trong một cử động đơn giản. Tôi đi không phải chỉ có đôi chân bước mà toàn thân làm việc: bắp thịt cử động, thần kinh ra lệnh, máu tuần hoàn để duy trì năng lượng nuôi dưỡng, ý chí muốn đi và nhiều yếu tố khác trùng trùng cùng làm việc trong từng sát na hiện tại. Quán sát từng bước đi mình khám phá một điều: đi là hành động vừa ý thức vừa vô ý thức. Ý thức là mình muốn đi vô thức là phản xạ của cơ thể giữ thăng bằng cho khỏi ngã. Cơ thể ở thế thăng bằng chân không thể bước tới được. Một bước chân bước tới cơ thể phải nghiêng qua một bên làm toàn thân mất thăng bằng và để giữ lại thăng bằng chân kia phải bước tới. Cứ thế hai chân tự động bước nhịp nhàng, mình không cần điều khiển hai chân. Đi là một chuỗi dài hành động làm mất thăng bằng và giữ thăng bằng. Đi có chánh niệm mình khám phá ra cái lý Duyên khởi: cái này có (sự mất thăng bằng của cơ thể) vì cái kia có (sự giữ thăng bằng cơ thể). Và cái lý nhân quả. Nhân (làm cho thân mất thăng bằng) Quả (bước tới cho thân được thăng bằng). Cuối cùng mình tìm không ra ai đang bước đi, và bước đi hôm nay của tôi đã có từ ngàn xưa nơi tổ tiên, và còn tiếp nối bởi con cháu (không sanh không diệt). Điều này không phải do học thuộc những gì thầy mình nói mà do chính mình cảm được.

Tụng Bát Nhã Tâm Kinh mình tụng và hiểu cái vượt thoát của Không. Nhưng nếu đi trong chánh niệm thì cảm được cái Chân Không. Từ hiểu đến cảm là đoạn đường cách nhau khá xa. Cầm ly nước cũng thấy được vũ trụ. Uống một hớp nước cũng thấy được cơ mang yếu tố vận hành của cơ thể để cho hớp nước đi vào cơ thể và tác dụng vào cơ thể. Mà nếu đem những yếu tố đó ra kể thì cần nhiều thời gian, đem viết ra thì cần nhiều trang giấy. Nhưng với chánh niệm khi uống hớp nước thì chỉ trong một khoảnh khắc hiện tại cũng cảm được tất cả. Chỉ cần một hơi thở nhẹ bao nhiêu mầu nhiệm bày ra.

Cảm là hiểu vấn đề bằng trái tim chứ không phải bằng lý trí. Hiểu bằng lý trí của bộ óc là thường bị ý niệm và lý giãi chi phối. Lý giải một hồi làm mình mệt có khi lạc đề. Còn hiểu bằng trái tim không cần lý giải, chỉ mỗi môt mình mình cảm không thể đem lý giải cho ai hoàn toàn theo ý của mình. Tụng Tâm kinh phải làm sao cảm được Tâm Kinh. Có ai hỏi mùi vị của trái sầu riêng. Thơm thơm thum thủm, ngọt ngọt bùi bùi…cả ngày cứ tả thì người nghe cũng chỉ có chút ý niệm về sầu riêng. Cách hay nhất là mời người hỏi nếm một múi.

Nhưng vấn đề không đơn giản nếu người hỏi “anh thấy gì trong khi ngồi thiền?” Mời người ta cùng ngồi thì không dễ. Mời người ta ngồi xuống thở với mình ít phút cũng khó. Hãy sống tự nhiên (be yourself). Đó là cách tôi hay trả lời. Như vậy giữa người tập thiền và người không tập thiền có khác gì đâu. Thật ra có khác. Bởi vì mình không thực tập quay về với chính mình cho nên không thấy khác. Trong đời sống hàng ngày mỗi người đều mang nhiều mặt nạ khác nhau. Vì hoàn cảnh vì công việc vì lợi vì tâm lý và ngay cả vì mình là người đang tu học mình cũng phải đeo mặt nạ. Có khi mình không muốn nhưng có khi do thói quen. Đi với Bụt mặc áo ca sa, đi với ma mặt áo giấy. Lột cho được mặt nạ không phải dễ, phải thực tập nhiều. Khi đã thoát ly được các mặt nạ rồi, mình chính là mình, mình thực sự là con người Vô Sự của tổ Lâm Tế. Không còn có gì để ràng buộc mình phải đeo cái mặt nạ. Cái mặt nạ mình đeo có khi mình quên vì nó là thói quen. Những lúc biết mình đang đeo mặt nạ chính là lúc mình thực sự về với chính mình. Kéo dài sự nhận diện càng lâu càng tốt. Với người thân thương trong gia đình đừng tưởng mình không đeo mặt nạ. Mình giận mà nói không giận, trách móc mà nói không trách móc. Chỉ cần đi lửng thửng vài bước thở vào thở ra. Hoặc vào phòng ngồi thở vài ba phút là cảm thấy nhẹ ngay, và tất cả được xí xóa.

Theo tôi miên mật là mình kéo dài giây phút chánh niệm lâu chừng nào tốt chừng đó. Bất cứ lúc nào, nơi nào trong ngày cũng thực tập được. Đâu có phải cần hạ thủ công phu ngồi bất động từ giờ này qua giờ khác. Thời gian mới thực tập ai cũng vướng vào thói quen chung là ngồi cho lâu. Đo lường công phu bằng thời gian ngồi kiết già. Gặp nhau chỉ hỏi một câu: ”Anh ngồi được bao lâu trong một thời” và sẽ được định công bằng độ dài thời gian. Tâm đang bất an, nhiều lo lắng, nhiều dự tính thì không nên ngồi thiền mà nên quay về hơi thở, đi thiền hành. Lúc đó mà nghĩ rằng ngồi thiền để cho nhẹ bớt sự đè nén trong não thì không giúp được gì mà mình thêm trạo cử, ngồi không yên được. Hơi thở có chánh niệm là thiền, thiền hành là thiền, nhận diện hiện tại là thiền. Tu mà không tu. Khi tất cả các mặt nạ đều biến mất thì con người thật của tổ Lâm Tế bày ra. Chỉ một hơi thở có ý thức, trong một thoáng ngắn ngủi mình đi từ con người giả (với mặt nạ) đến con người thật. Nhưng thực ra không đi đâu hết, không tìm đâu hết.

Thầy Tăng Hội tả về cái tâm: trong một cái búng tay tâm có chin mươi bốn ngàn lần chuyển niệm, tâm như tấm gương đầy bụi bám vào. Nắm lấy hơi thở, đếm hơi thở, theo dõi hơi thở tâm dần dần sáng ra như một tấm gương được phủi bụi. Nếu đem tấm gương đó đặt dưới ánh mặt trời tấm gương sẽ phản chiếu đi khắp nơi và không cõi nào mà không hiện rõ. (Trích Thiền Sư Tăng Hội của Thích Nhất Hạnh)

Thiện Tài đệ tử của ngài Văn Thù. Sau nhiều năm làm đệ tử hầu hạ thầy mình cảm thấy không bằng lòng. Xin thầy cho đi tìm đạo. Thầy vui lòng cho đi. Đi đến nước nào cũng gặp được một vị đại trí thức, từ bi dạy cho những giáo lý uyên nguyên, nhìn được thâm sâu vận hành vũ trụ, hiểu được tiếng của muôn chim cầm thú, thâm hiểu cặn kẻ tam tạng kinh điển…Học được ở 52 vị đại trí thức, đạt đến 52 pháp môn vi diệu. Học xong vị nào cũng bảo Thiện Tài “pháp môn của ta chưa phải là rốt ráo. Con nên đến thầy kia..” Thiện Tài vâng lời làm theo. Đến vị đại trí thức thứ 52, ngài cũng cho Thiện Tài biết giáo pháp của ngài cũng chưa rốt ráo. Thiện Tài buồn bã, thất vọng quay về nhà với Thầy mình. Ngài Văn Thù biết trước, biết từ khi trò mình muốn ra đi, nên ra tận cửa đón trò mình với nụ cười và cái nhìn từ bi. Nhìn trò Thầy bảo: Thở đi con. Thiện Tài bừng tỉnh như chưa bao giờ tỉnh.

Chuyện như hoang đường nhưng có thật, bởi vì Thiện Tài và Văn Thù đang có trong ta.

 

    Chân Tính Hải.

Nguồn: Phù sa online

Cháu thích bùn

Tôi dẫn cháu tôi đi chơi. Cháu rất thích bông sen đẹp. Cháu rất muốn có bông sen này. Tôi bảo cháu lội xuống hái. Cháu nói bùn bẩn lắm. Xuống hái sẽ bẩn chân.

Tôi hỏi cháu, sen mọc từ đâu lên. Cháu trả lời rất rõ rằng từ bùn. Tôi hỏi cháu, nếu không có bùn, liệu có sen không. Cháu khẳng định không có bùn thì sen không lớn được. Nghĩ giây lát, rồi cháu bảo tôi rằng cháu đã hiểu rằng hàng ngày cháu ăn cơm còn sen ăn bùn. Cháu đã hiểu rằng bùn của sen ngon như thức ăn cháu vẫn ăn mỗi ngày.

Tôi hỏi cháu có thích thông minh, học giỏi không. Cháu bảo rất thích. Cháu còn nói rằng cháu muốn có trí tuệ như Phật. Tôi bảo cháu ngồi thiền. Cháu bảo nhưng còn bé quá, sau có thể thiền được. Tôi mang ảnh 1 em bé khác, thậm chí là phương tây, đang ngồi thiền. Thế là cháu ngồi xuống nghe tôi hướng dẫn theo dõi hơi thở. Vào, ra. Khỏe, nhẹ. Vui, cười. Cháu thích lắm.

Cách đây chục năm, tôi hay hỏi cháu tôi học có giỏi không, hôm nay được mấy điểm. Cháu nhiều khi không muốn trả lời hay tránh đi. Ngày nay khi gọi điện hỏi thăm một đứa cháu khác, tôi hỏi đi học có vui không. Cháu khoe vui và thể là kể về những niềm vui trên lớp học. Tôi nhận ra, những câu hỏi của mình bây giờ hay quá. Cháu tôi rất thích đi học. Ngày nào cũng muốn đi học. Năm nay cháu lên lớp 3.

Một em bé luôn nhận những hạt giống trao truyền từ người lớn: ông bà, cha mẹ, cô dì chú bác, nhà trường, hàng xóm…Những hạt giống mà các cháu nhận được hàng ngày thông qua 6 căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Mỗi em bé có tính di truyền từ tổ tiên nhưng cũng nhận hạt giống mỗi ngày từ xung quanh bé. Nếu chúng ta hiểu rõ điều này thì luôn nhắc mình gieo vào trong tâm các bé những hạt giống tốt.

Bạn ngồi thiền, Minh Anh cũng ngồi thiền

Một cháu bé không biết hát. Ta hát đi hát lại bài hát vài lần rồi cháu sẽ thuộc và hát theo. Một cháu có thể chưa hiểu giá trị của bùn nên ta cần giải thích, để cháu nắm được gốc rễ của vấn đề. Ngay cả về đồng tiền hay thức ăn mà cháu ăn hàng ngày cũng vậy. Nếu người lớn không biết gieo vào tâm con trẻ những hạt giống tốt, không biết tưới tẩm thì sao có được vườn hoa, rừng hoa. Vì hoa sen có được là nhờ bùn.

Nguyễn Mạnh Hùng

Nguồn: http://phathocdoisong.com/news/chau-thich-bun.d-3014.aspx