Tung cánh đại bàng

Hòa thượng Thích Phước Tịnh

(Trích pháp thoại ngày 28.3.2025 của HT. Phước Tịnh trong Đại Giới Đàn Nước Tĩnh tại Làng Mai, Pháp)

 

Về Làng

Tôi nhớ lần đầu tiên đến Làng Mai vào năm 2001. Khi ấy, tôi chỉ là đến Làng, chứ chưa phải là về Làng. Trong tiếng Việt, hai từ này mang những nội hàm rất khác nhau. “Đến” là ghé qua rồi đi, còn “về” là trở lại một nơi đã gắn bó, trở thành một phần của xương thịt và tâm hồn.

Làng Mai không chỉ là một địa điểm. Làng là ngôi nhà tâm linh, là bến đỗ của đời sống tinh thần, là nơi có thể chắp cho ta một đôi cánh để bay cao, bay xa. Điều này đúng với người cư sĩ về tu học, và lại càng đúng hơn đối với người xuất gia.

Sư cô Chân Không từng chia sẻ một câu có thể ứng dụng cho tất cả các thầy, các sư cô, cũng như các vị giáo thọ và Tiếp Hiện cư sĩ: “Sư Ông và đại chúng đã chắp cho các vị mỗi người một đôi cánh. Các vị có quyền bay vào một không gian rất mênh mông. Nếu năng lực tu tập và khả năng học hiểu Phật pháp dâng đầy nơi thân tâm, thì chắc chắn chúng ta sẽ là những con đại bàng bay rất cao”.

Khi một người phát nguyện xuất gia và thọ pháp với Sư Ông, người ấy được Sư Ông và tăng thân tặng cho một đôi cánh. Tuy nhiên, bay cao hay thấp, bay vào vùng trời nào, lại tùy thuộc vào nội lực và bản hoài tu tập của mỗi người. Nếu chỉ biết chắp cho mình đôi cánh của loài quạ thì dù bay tới đâu cũng chỉ thấy những gì thấp kém. Nếu chắp cho mình đôi cánh của phượng hoàng, nơi đậu sẽ là cành ngô đồng. Và nếu có được đôi cánh của đại bàng, vùng trời bay vào sẽ là không gian bát ngát. Khi ấy, không cần chứng minh mình là đại bàng; phẩm chất nhân cách, cách nói năng và lối hành xử tự nhiên sẽ ngày càng cao rộng.

Tôi xin được bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến Sư Ông và tăng thân Làng Mai. Gần một phần tư thế kỷ nhìn lại, mới thấy chúng ta là những người vô cùng may mắn. Chúng ta được sinh ra, được nuôi dưỡng trong vòng tay thương yêu của Sư Ông và tăng thân. Đó là một món quà hết sức lớn lao. Trân quý ân đức ấy không nhất thiết là phải làm thêm điều gì lớn lao. Chỉ cần sống cho xứng đáng: sống gắn bó, sống thương yêu, sống biết nuôi dưỡng tự thân, để thành tựu được phần nào bản hoài của người đã dốc trọn tâm từ và trí tuệ vào đời sống của chúng ta.

 

Công trình hoằng pháp tại Tây phương

Về Làng lần này, tôi có cái nhìn rất nể phục và ngưỡng mộ đối với những sinh hoạt do các thầy, các sư cô tổ chức. Sự viên mãn của Đại giới đàn Nước Tĩnh khiến người ta dễ nghĩ rằng sự kiện này được tổ chức bởi những vị thầy có tuổi đạo cao hoặc đã tu học nhiều năm. Nhưng thực tế không phải vậy; phần lớn công việc lại được đảm trách bởi những thầy, những sư cô còn rất trẻ. 

Nếu đại chúng có dịp quan sát sinh hoạt tôn giáo lễ nghi ở nhiều nơi — nhất là trong Phật giáo truyền thống, đại chúng sẽ dễ nhận ra những điểm nổi bật: sinh hoạt của Làng Mai giản dị nhưng trang nghiêm, có năng lượng tâm linh và có sự yểm trợ hùng hậu của tập thể Tăng già. Chưa kể đến sự có mặt của các Phật tử, các thiền sinh tới hộ niệm cho chúng ta.

Trong các buổi truyền đăng, khi một thiền sinh được nhận đèn, những lời giáo giới và chia sẻ của các thầy, các sư cô giáo thọ rất tuyệt vời. Tôi cũng lắng nghe những bài thơ, kệ kiến giải của các thiền sinh đến từ nhiều quốc gia khác nhau như Ireland, Indonesia, Hoa Kỳ, Pháp, Ý… Những bài kiến giải ấy đều cho thấy chất liệu tu tập tâm linh và khả năng biểu đạt rõ ràng tâm nguyện mà Sư Ông đã trao truyền.

Điều này cho thấy công trình hoằng pháp của Sư Ông đã mang lại những lợi ích sâu rộng, vượt ra ngoài biên giới văn hóa và địa lý, lan tỏa tới nhiều vùng đất và cộng đồng khác nhau trên thế giới.

Để hoằng pháp thành công và gieo được hạt mầm Phật pháp vào lòng người Tây phương không phải là điều dễ dàng. Trước hết, người đó phải am tường văn hóa Tây phương. Kế đến, phải có chiều sâu vững chắc trong đạo Bụt Đông phương. Và quan trọng không kém, phải hình thành được một mô hình sinh hoạt tổ chức giúp tăng đoàn có đời sống thực tập vững chãi, nhưng vẫn đủ cởi mở để người trẻ có thể đến tu học. Từ những điểm đó, chúng ta có thể nhận ra rằng không dễ có một vị thầy hội đủ khả năng đem đạo Bụt đến vùng đất Tây phương như Sư Ông đã làm.

 

Nhìn lại công trình hành đạo của Sư Ông, chúng ta có thể thấy rằng nếu không có sự hộ niệm của thập phương Tam bảo, sự gia trì của lịch đại Tổ sư, cùng với bản hoài vô cùng lớn lao là đem đạo Bụt hiến tặng cho nhiều người đến tu học, thì chắc chắn Sư Ông không thể tạo nên bước đột phá quan trọng như đã làm: đặt nền tảng cho đạo Bụt có mặt nơi Tây phương, để người Tây phương có thể đến thọ nhận và thực tập giáo pháp. 

Điều tuyệt vời là, dường như Sư Ông không đặt nặng tính ràng buộc về tổ chức, không bắt những thiền sinh đến tu tập phải hoàn toàn tuân phục hình thức như những truyền thống tâm linh khác. Họ có quyền ứng dụng nội dung giáo lý vào đời sống, làm cho đời sống bản thân thay đổi, thăng hoa, làm cho hạnh phúc có mặt nơi chính mình, có mặt nơi thế hệ con em và hiến tặng điều tuyệt vời này cho xã hội là đủ, không nhất thiết phải trở thành Phật tử. Với cái nhìn độ lượng, một tâm thái của bậc đạo sư như vậy nên Sư Ông đã làm mới lại chánh pháp của Bụt để tặng cho người Tây phương. Và thành quả như chúng ta thấy hiện nay là rất nhiều người từ nhiều quốc gia khác nhau có thể đến với các trung tâm thực tập của Làng Mai, xem Làng Mai là nơi để trở về. 

Gần một phần tư thế kỷ trôi qua, nhìn lại, tôi thấy các sư anh, sư chị lớn ở đây đều rất trưởng thành. Không chỉ có khả năng dắt dẫn một Đại giới đàn rất toàn mỹ, các thầy các sư cô lớn còn có cách cư xử, nói năng, truyền đạt rất đẹp và nhân cách rất tuyệt vời. Chỉ cần làm ngần ấy việc để làm chỗ nương tựa, không phải chỉ cho đại chúng xuất gia mà còn cho rất nhiều người cư sĩ Tây phương đến với Làng để tu tập, như vậy là các vị đã xứng đáng với công trình Sư Ông đã gầy dựng mà mình đang được thừa hưởng. 

 

Bồ đề tâm – Nền tảng tâm linh

Điều tiếp theo tôi muốn trình bày với đại chúng, đó là không phải tự nhiên hay đơn giản mà chúng ta có được một đoàn thể lớn mạnh, đẹp, hào hùng và rất bền chặt như vậy. 

Nền tảng đầu tiên là công trình pháp hành trì và pháp học mà Sư Ông đã gầy dựng. Nếu không có nền tảng này, chắc chắn chúng ta không thể có được sự phát triển như các xóm Thượng, xóm Hạ, xóm Mới hôm nay.

Nền tảng thứ hai vô cùng quan trọng chính là nội lực của mỗi người chúng ta. Khi nội lực tu không có, dù cho Sư Ông và tăng thân có chắp cho ta đôi cánh thiên thần, ta cũng không bay lên được. Vì vậy, sự phát triển bền vững con đường tu của mỗi người là rất quan trọng. Sự phát triển này được hình thành bởi nhiều yếu tố: 

Yếu tố đầu tiên ta muốn vững chắc trên đường tu đó là tâm bồ đề đủ vững, đủ sâu và chắc. Tu không thể theo thời thượng hay cảm tính: nay siêng tu rồi mai buồn, chán đạo. Một khi đã phát nguyện đi vào đời sống tu tập là dâng hiến trọn vẹn thân tâm này cho Tam bảo. Những bậc đạo sư lớn, những bậc thầy thật sự có được năng lực giác ngộ nhất định đều như vậy. Không có con đường khác, một là tu, hai là chết – không có đường lui. 

Yếu tố thứ hai là tâm bồ đề không phải chỉ phát một lần là đủ, mà cần được nuôi dưỡng từng ngày. Sự nuôi dưỡng gần nhất là tình huynh đệ, không gian sống và môi trường sinh hoạt. Tại Làng Mai, các vị có một không gian rất tuyệt vời, được sống trong một cộng đồng pháp lữ gồm những người đồng tu, đồng phạm hạnh, nói theo cách đời thường là những người dễ thương. Các vị còn được thừa hưởng một nếp sinh hoạt rất ổn định, được thiết kế bởi chính đạo sư của mình là Sư Ông. Vì vậy, việc nuôi dưỡng tự thân tùy vào mức độ siêng năng hay lười biếng của mỗi người. Chúng ta có quyền nuôi mình để chắp cánh bay tới trời cao, chứ không phải để bay vào đời sống phàm thường. Do vậy, nếu nơi tâm thức của chúng ta, chất liệu tâm bồ đề còn rất tốt đẹp thì chúng ta phải tự biết cách nuôi dưỡng mình, chứ không một ai có thể giúp ta tự giỏi, tự thăng hoa và tu hành tiến bộ được. 

Yếu tố thứ ba của sự phát triển tâm linh bền vững, đó chính là pháp học và pháp hành. Khi pháp học được tăng trưởng, thì pháp hành của các vị tự nhiên thành đạt. Khi hiểu được chánh pháp, quan sát, ý thức được đời sống này có những bất trắc, không toại ý và vô vàn điều chực chờ đánh phá ta – trong khi quỹ tuổi thọ không cho phép ta sống nhàn nhã qua ngày. Khi ý thức được điều này, ta nhận ra rằng năng lực học hiểu chánh pháp làm đời sống mình thăng hoa, nó đến với ta từng ngày chứ không phải là tính từng tháng hay từng năm. Và khi năng lực học hiểu chánh pháp đủ giàu, đủ vững, tự nhiên các vị đi vào pháp hành một cách rất nhẹ và làm thay đổi được thân tâm. Pháp hành – pháp học không phải là món quà tự nhiên của trời ban, mà là kết quả của nội lực tu tập và nỗ lực kiên cường của mỗi người trên con đường hành trì.

Khi pháp học tăng trưởng, pháp hành tự nhiên đầy. Pháp hành đầy, không phải là tu căng thẳng, khô cứng mà lúc đi đứng, nói cười, nâng bát, rót nước, đặt dép… trong mọi sinh hoạt đều trú được trong trạng thái tâm an định, luôn có chánh niệm để phòng hộ. Đây là người thành đạt được pháp hành sâu sắc nhất. Đời sống, nhân cách của người đó sẽ tự tỏa sáng và tự biểu hiện thành đạo đức vô hành. Người đó nghiễm nhiên hoàn thiện về nhân cách tu, cách ứng xử, nói năng khi giao tiếp với người. Khi tiếp xúc với thiền sinh mà có phẩm chất của sự tu học, người đó tự nhiên đã trở thành một vị giáo thọ đích thực mà không nhất thiết nhận đèn giáo thọ. Không nhất thiết các vị phải là một giáo thọ uy tín, giảng dạy cho hàng ngàn người hay phải làm cho muôn người kính phục. Hãy là một người bình thường, sống lặng lẽ giữa đại chúng. Có những người cảm ân đức của chư tăng không phải vì chư tăng nói hay, mà vì về đến chùa được nhìn thấy các thầy, các sư cô đi, đứng, nói, cười bình an và tĩnh tại. Đôi khi những lời nói của mình theo gió mây bay nhưng những việc làm, những cử chỉ nhỏ của mình tạo thành ấn tượng khiến một đời người ta không quên. 

Nếu nền tảng ta không vững, đôi khi mình tu nhưng không có niềm vui. Khi niềm vui tu học – pháp hành không có, chắc chắn sẽ có những khoảng trống của tâm hồn, khát khao về đời sống hướng ngoại và chúng ta rất dễ đánh mất đời tu. Ngược lại, nếu nền tảng tu ta thiết lập vững chắc, trên nền tảng bồ đề tâm, trên nền tảng pháp học và pháp hành, chúng ta tự nhiên hiến tặng được hoa trái của công phu tu tập tự thân đến với muôn người. Không cần phải chứng minh điều gì cả.  

 

Dòng tu Tiếp Hiện và nền tảng thiền tập Làng Mai

Từ thập niên 1960, Sư Ông đã viết cuốn“Đạo Phật Hiện Đại Hóa”, trong đó có đề xuất hai dòng tu: Thể Nhập và Tiếp Hiện.  

Tiếp Hiện là dòng tu đóng vai trò gạch nối giữa cư sĩ và xuất sĩ. Các vị Tiếp Hiện có trách nhiệm làm cho chánh pháp của Như Lai sáng bừng trong nhân gian bằng chính đời sống tu tập của mình mà không phải chỉ là nhận đèn hay khoác lên người chiếc áo Tiếp Hiện. Ta phải nếm cho được hương vị pháp, làm cho thân tâm yên vui rồi đem niềm hỷ lạc đó cống hiến cho gia đình, xã hội và lấy tâm vị tha làm thành nền tảng của đời sống tu tập. “Vị tha” trước hết là vị tha với chính bản thân, rồi mở rộng ra người thân, hàng xóm và xã hội. 

Là người cư sĩ Tiếp Hiện, không làm cho đời sống mình hạnh phúc là điều sai căn bản. Điều sai thứ hai là không nuôi dưỡng được hạnh phúc của gia đình và của bạn đồng tu. Sai lầm thứ ba là, nếu sống trong môi trường đa văn hóa, đa chính kiến mà thiếu bao dung, không hòa hợp được để thực tập và giúp người hạnh phúc thì cũng chưa làm tròn vai trò Tiếp Hiện. Trong sách Đạo Phật hiện đại hóa, Sư Ông còn dạy rằng các cư sĩ Tiếp Hiện mỗi năm cần trở về an cư ba tháng với chư tăng để thực tập. Tăng sĩ dành một đời người học pháp vẫn chưa thấy đủ. Người cư sĩ mỗi ngày ngoài đối diện với vấn đề cơm ăn áo mặc, với những xao động bất an của cơ chế chính trị – xã hội, còn trách nhiệm mang đạo vào đời. Nếu không có gốc rễ tâm linh vững vàng, ta dễ bị tiêu hao rồi tự làm khổ mình trước khi giúp được ai.

Điều này đối với cộng đồng Tiếp Hiện Tây phương, tôi nghĩ các vị đã ứng dụng được ít nhiều. Mỗi năm các vị đều tìm cách về Làng để tu tập. Mỗi hai năm lại có khóa tu Tiếp Hiện vào tháng 6 tại Làng Mai Pháp. Dù thừa hưởng vô vàn phước điền từ Sư Ông trao truyền nhưng chúng ta cũng cần làm tốt hơn. Phần lớn những người Tiếp Hiện đều ở tuổi thất thập cổ lai hy, chưa thấy nhiều người trẻ. Có thể chúng ta còn cứng nhắc trong những hình thức Tiếp Hiện mà chưa thể linh hoạt giống Sư Ông. Chúng ta chưa biết làm thế nào ứng dụng được nội dung Phật pháp vào đời sống mà không bị hình thức bên ngoài cản trở. 

Tiếp Hiện có vai trò lớn trong sự hưng thịnh của Phật pháp và trong việc đền ơn Sư Ông đã khai mở dòng tu này. Đối với Tăng thân xuất sĩ, con đường tu không thể dừng lại, không có dấu chấm. Mỗi thành công chỉ là dấu phẩy để tiếp tục đi tới. Xã hội luôn vận động và biến chuyển không ngừng: hôm nay là vấn đề này, ngày mai đã là một thách thức khác. Để khế hợp với thời đại, Làng Mai chúng ta cần phải có được tuệ giác ở chiều cao để có thể đưa cánh tay ra giúp cho xã hội ổn định.

Nếu người tu không có tầm hiểu biết và chín chắn hơn nhân gian thì không thể là người dắt dẫn con đường tâm linh. Do vậy, một tu sĩ không có quyền dừng lại trong công trình phát triển tri thức, trí tuệ, công phu tu, và nhất là nội điển. Chúng ta không thể nghĩ rằng đã học với Sư Ông ngần đó, đã thừa hưởng sự tổ chức và nếp sống, văn hóa của Làng Mai là đủ. 

 

Từ Như Lai Thiền đến Thiền Đốn ngộ

 

Trên phương diện Phật học, Sư Ông truyền đạt pháp cho người Tây phương dựa trên nền tảng thiền Như Lai, tức là Tứ niệm xứ. Nhưng khi nhìn vào các bài giảng của Sư Ông trong bộ Truyền thống sinh động của thiền tập đạo Bụt, chúng ta nhận ra rằng Sư Ông còn giảng dạy thiền Đại thừa, qua đốn ngộ rồi đến thiền Việt Nam. Sư Ông đi ngang qua cả một chiều dài thiền tập, khéo léo dung hợp tinh hoa của các dòng thiền lại, “nấu” thành một loại thức ăn và giúp cho con người nếm được pháp lạc và có đời sống hạnh phúc.  

Nhìn cho sâu, ta thấy các dòng thiền trong đạo Bụt có liên hệ chặt chẽ với nhau. Như Lai thiền hay kinh tạng Nikaya là nền tảng cho thiền Đại thừa phát triển. Nếu chúng ta muốn hiểu được kinh tạng Nam truyền thì chúng ta phải thâm nhập vào kinh văn Đại thừa. Và muốn thâm nhập vào Như Lai thiền – thiền Tứ niệm xứ thì chúng ta phải đi ngược từ truyền thống thiền tập Việt Nam, ngược lại dòng chảy Đại thừa, trở về nguồn của Nguyên thủy để chạm tay vào những chữ “thở vào – thở ra”.

Thở vào, biết mình đang thở vào; thở ra, biết mình đang thở ra. Hơi thở căn bản này tưởng như đơn giản nhưng là nền tảng để đi vào thiền Đốn ngộ một cách dễ dàng. Trong thiền Đốn ngộ, có một công án nổi tiếng khi Tổ Đạt Ma chỉ dạy cho Tổ Huệ Khả: “Ngươi đem cái bất an đó ra đây, ta an cho”. Tổ đã trao cho ngài Huệ Khả phương pháp quay ngược về đối diện với cái tâm bất an, nhìn xem nỗi bất an đang ở đâu nơi tâm thức, cũng tương đương với Tứ niệm xứ: quay về quan sát cái đang xảy ra. Dù là hơi thở hay cảm giác bất an, chỉ cần nhìn thấy chúng như khách đến rồi đi, ta trở về với người quan sát. Tâm quan sát ấy chính là bản tính sáng ngời, vô niệm, là trí tuệ Bát Nhã, là chân thân, là Niết bàn, là “người thật” chưa từng sinh diệt. Khi an trú trong tâm ấy, không buồn vui hay phiền não nào có thể khuấy động; mọi ý nghĩ đều được ánh sáng tâm chiếu rọi và tan biến. Trong kinh văn Nikaya, Đức Thế Tôn gọi tâm ấy là tuệ tri, Sư Ông gọi là hiện pháp lạc trú.

Mỗi người đều có món quà quý: hình hài, tâm thức và khả năng tư duy. Tuy nhiên, ta làm đầy chúng bằng gì là sự lựa chọn của ta: đầy giận hờn, ganh tị thì đau khổ; đầy yêu thương, nhân hậu và trách nhiệm thì trở thành món quà cho đời. Khi đã xuất gia, ta được đồng đẳng từ mảnh y đến thời gian tu học; nếu biết làm đầy tâm thức bằng pháp lạc thì đời sống trở nên phong phú, thi vị. Nếu không khéo, ta tự hủy hoại đời mình và làm khổ bạn đồng tu. Tâm chứa gì thì đời sống hiện đúng điều ấy. Đời tu là một thử thách tuyệt vời nhưng cũng như một trò chơi: sau bao năm tu tập để tìm vô ngã, cuối cùng mới nhận ra vô ngã vốn đã có sẵn từ đầu.

Tu không phải là chuyện nhọc nhằn. Chỉ cần sống được như các thầy, sư cô – đi đứng thong dong, ăn trong chánh niệm, ngồi trong thảnh thơi – là đã có cái đẹp của đời sống tu rồi. Điều ấy đến khi ta thật sự nếm được hương vị của pháp.

 

 

Xuôi dòng về biển lớn

Sư Ông Làng Mai

(Trích pháp thoại của Sư Ông tại chùa Từ Nghiêm, xóm Mới, Làng Mai vào ngày 8.6.2002 trong khóa tu 21 ngày. Pháp thoại được dịch từ nguyên bản tiếng Anh.) 

 

 

Trở thành một với tăng thân

Nương tựa Tăng là một pháp môn rất thâm diệu. Ta đặt hết niềm tin vào tăng thân. Ta trở thành một với tăng thân. Là một giọt nước, ta sẽ không chắc là mình có khả năng ra tới đại dương hay không. Nhưng nếu là dòng sông, ta sẽ không cần lo lắng gì nữa cả. Chắc chắn là ta sẽ ra tới biển. Vấn đề là ta muốn làm một giọt nước hay trở thành dòng sông?

Ở Làng Mai, chúng ta thực tập coi tăng thân như là thân thể của chính mình; ta trở thành một với tăng thân. Chúng ta không muốn là một giọt nước mà muốn là dòng sông. Thực tập như một dòng sông, chúng ta sẽ bớt khổ rất nhiều. Nỗi khổ niềm đau của một cá nhân có thể được chuyển hóa rất dễ dàng khi ta cùng chia sẻ những thao thức của tăng thân, niềm vui của tăng thân và hạnh nguyện của tăng thân.

Đó là lý do vì sao, khi chúng ta cùng đến với nhau, ngồi với nhau, đi với nhau, ăn với nhau và làm việc cùng nhau, thì trong ta phát khởi một nguồn năng lượng hùng hậu. Năng lượng đó là năng lượng của chánh niệm, giúp ôm ấp nỗi khổ niềm đau trong ta, giúp ta nhìn sâu để hiểu và đi tới một cái thấy có thể làm chuyển hóa nỗi khổ niềm đau ấy. 

Trên phương diện cá nhân, thao thức sâu sắc nhất của mỗi người trở thành đối tượng thực tập của người đó, đối tượng của chánh niệm. Trong thiền tập, cái đó gọi là công án; chữ Hán là 公案 (kung-an). Đó là thao thức sâu sắc nhất. Công án phải là điều quan tâm sâu sắc nhất của ta. 

Công án và sức mạnh của tăng thân

Chúng ta muốn hiểu, muốn chuyển hóa. Cũng tương tự như khi ta bị một mũi tên bắn trúng và ghim vào da thịt. Chúng ta mang theo mũi tên ấy bất kể lúc đứng, lúc ngồi, còn thức hay là đang ngủ. Công án cũng như vậy. Trong đời sống hàng ngày, ta hoàn toàn tập trung vào chuyện đó. Công án ấy hút hết năng lượng, sự chú tâm, niệm và định của ta. Ta ôm ấp nó ngày cũng như đêm, nhìn sâu vào nó. Và một ngày nào đó, tuệ giác sẽ bừng nở. Ta sẽ thấu hiểu và ta sẽ được giải thoát.

Công án có công năng thu hút tất cả định lực của ta vào đó. Nếu không như vậy, ta sẽ không thể có sự đột phá. Khổ đau ở Trung Đông chẳng hạn, là một công án cho cả nhân loại chứ không chỉ cho người Do Thái hay người Palestine. Nhưng với tư cách là một gia đình nhân loại, chúng ta quá bận rộn. Chúng ta chưa phải là một tăng thân. Chúng ta không có đủ chánh niệm, không đủ định lực; vì vậy, ta không thể làm cho khổ đau đó trở thành một công án được. Chúng ta chú ý tới vấn đề này, rồi sau đó chúng ta không để ý tới nó nữa mà lại chuyển sự chú ý tới những vấn đề khác. Đó là lý do tại sao nó chưa trở thành một công án của gia đình nhân loại. 

Khi một vị thầy hiểu được những khó khăn và nỗi khổ niềm đau của đệ tử, vị thầy ấy sẽ ra một công án cho người đệ tử. Thí dụ như: “Thế nào là tiếng vỗ của một bàn tay?”. Thông thường cần phải có hai bàn tay mới làm nên tiếng vỗ. “Làm sao để có tiếng vỗ chỉ với một bàn tay?”. Đó là phương tiện quyền xảo để giúp người đệ tử tìm hướng đi ra khỏi những bế tắc của mình. Còn người đệ tử thì không thể dùng trí năng để giải một công án được. Trí năng chỉ là một phần của chúng ta, bởi vì ta còn có cả một tàng thức nằm sâu bên dưới. Vì vậy, khi tiếp nhận công án mà một vị thầy trao truyền, ta không nên tiếp nhận chỉ bằng trí năng. Nó cần được vùi sâu vào trong thân tâm ta. Và trong đời sống hằng ngày, ta phải mang công án theo mình, ngày cũng như đêm. Ăn, ngủ, làm việc, ta đều ôm ấp nó, không lúc nào buông lơi. 

Nỗi khổ niềm đau hay hoàn cảnh bế tắc không có đường ra, đó chính là công án của ta. Ta cần có khả năng huy động tất cả sức mạnh, chánh niệm và định lực của mình, để ôm ấp thật sâu sắc khó khăn ấy, hoàn cảnh ấy, nỗi khổ sâu dày ấy. Ngày cũng như đêm, từng giây từng phút, việc duy nhất mà ta làm là ôm ấp nó thật sâu, thật nhẹ nhàng. Với sự yểm trợ của tăng thân, một ngày nào đó ta sẽ có một sự đột phá.

Tuệ giác có thể đến từ chính ta. Tuệ giác cũng có thể đến từ tăng thân. Tuệ giác của ta có thể có được nhờ sự yểm trợ của tăng thân. Nó cũng có thể là sự biểu hiện của tuệ giác cộng đồng, bởi vì thực tế là ta sống trong tăng thân. Tăng thân làm việc với ta, yểm trợ ta, cùng nhìn sâu vào hoàn cảnh mà ta đang bị kẹt vào. Nếu cả tăng thân ngày đêm giúp ta ôm ấp nỗi khổ và nhìn sâu vào niềm đau của ta bằng năng lượng của niệm và định thì sự chuyển hóa và trị liệu sẽ đến rất mau chóng. Tuệ giác sẽ bừng nở để giúp ta vượt khỏi khổ đau, giúp ta thấy được con đường giải thoát và đem lại sự chuyển hóa. Đây là cách thức thực tập không những cho cá nhân mà cho cả tăng thân. Tôi muốn đưa ra một ví dụ, đó là dòng tu Tiếp Hiện. 

Dòng tu Tiếp Hiện – Một cơ thể sống

Dòng tu Tiếp Hiện ra đời trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam vào năm 1966, với các thành viên vừa cư sĩ vừa xuất sĩ. Tăng thân có hai chúng: chúng chủ trì và chúng đồng sự. Chúng chủ trì gồm những người đã nhận 14 giới Tiếp Hiện. Còn chúng đồng sự gồm những người chưa chính thức nhận 14 giới Tiếp Hiện nhưng tham gia vào tất cả mọi sinh hoạt của tăng thân.  

Vì là một cộng đồng nên chúng ta cần có một sự tổ chức nhất định. Nhưng chúng ta cũng ý thức rằng nếu quá thiên về tổ chức thì không tốt. Ta cũng thấy được sự khác biệt giữa một tổ chức (organization) và một cơ thể sống (organism).

Là một cơ thể sống, dĩ nhiên trong đó cần có một vài sự tổ chức để có thể vận hành tốt, nhưng sự tổ chức ấy không cần phải cố ý. Nếu có sự hòa hợp, có sự hiểu biết thì ta không cần tổ chức, mà sự tổ chức sẽ tự diễn ra một cách rất hay. Nhìn vào một tổ ong, ta không thấy có ai đó ra lệnh: “anh làm cái này, anh làm cái kia, anh điều phối cái nọ”. Bởi vì tổ ong là một cơ thể sống. Và yếu tố của sự “cùng nhau” (“togetherness”) có mặt. Lý do tồn tại của cộng đồng là để được “sống cùng nhau”. Khi ta đến với nhau như một cơ thể sống, đột nhiên tuệ giác bừng lên và ai cũng sẽ biết mình phải làm gì. Khi đó mọi việc sẽ được tổ chức rất hay mà không cần phải cố gắng mệt nhọc. Rất nhiều người trong chúng ta đang làm công việc xây dựng tăng thân. Chúng ta cần để ý tới điều này.

Có khi chúng ta càng tổ chức thì càng phát sinh nhiều phiền phức. Chính phẩm chất có mặt của chúng ta mới có thể mang lại hạnh phúc cho cộng đồng. Sự thực tập niệm, định, tuệ và từ bi chính là công việc tổ chức. Trước khi nhập Niết bàn, khi được hỏi về việc chỉ định ai thay thế Ngài lãnh đạo tăng đoàn, Bụt đã trả lời: “Không, chúng ta không cần người lãnh đạo”. Bụt rất ý thức rằng tăng thân là một cơ thể sống. Nếu tăng thân tu tập đàng hoàng thì mọi thứ sẽ ổn. Chúng ta hoàn toàn không cần một người lãnh đạo. Bụt chưa bao giờ coi mình là một nhà lãnh đạo. Bụt rất vui lòng làm một ông thầy tu. Bụt ôm bát đi khất thực như tất cả những vị khất sĩ khác. Bụt ngồi thiền dưới gốc cây như tất cả các vị khất sĩ khác.

Bụt là nguồn cảm hứng lớn lao cho cả tăng đoàn. Đó là điều chúng ta nên học hỏi nơi Bụt, để ta cũng có thể làm nguồn cảm hứng cho tăng thân, qua cách hành xử có hòa hợp và từ bi. Khi tăng thân đến với nhau như một cơ thể sống, tăng thân sẽ biết làm như thế nào. Nền tảng của hành động (to do) là có mặt (to be). Nếu ta thực sự có mặt thì tự nhiên ta sẽ không cần phải lo lắng về chuyện hành động nữa. Có mặt chính là nền tảng của hành động (hay nói cách khác, “hành” phải dựa trên “vô hành”). 

Nhiều vị Tiếp Hiện trong chúng ta nghĩ rằng ta cần phải tổ chức, bởi vì Tiếp Hiện là một dòng tu. Nhưng chúng ta không muốn dòng tu Tiếp Hiện trở thành một tổ chức quy mô với sự cứng ngắc, bó buộc. Điều ta mong muốn là dòng tu Tiếp Hiện vận hành như một cơ thể sống. Chúng ta không muốn có bất kỳ ai làm lãnh đạo, làm ông bà chủ hay giám đốc. Ban đầu, một vài người có thể thắc mắc: làm sao chúng ta có thể sống còn nếu không có sự sắp xếp, tổ chức? Nhưng theo thời gian, họ đã nhận ra rằng chúng ta chỉ cần có mặt thực sự (to be), và điều đó sẽ lo liệu mọi thứ. Tăng thân cùng đến với nhau trong sự hòa điệu là đủ. Ta chỉ cần cư xử như những con chim bay trong đàn của chúng. Chúng không bay với tư cách một cá nhân mà bay như một đàn chim – rất đẹp và rất dũng mãnh. Tăng thân cũng như vậy đó. 

Làm thế nào để dòng tu Tiếp Hiện có thể gây cảm hứng cho xã hội? 

Câu hỏi này là một công án. Ta không thể trả lời câu hỏi này chỉ bằng trí năng mà thôi. Khi ta cùng đến với nhau để bàn thảo về vấn đề tổ chức, ta sử dụng trí năng. Nhưng khi chúng ta đến với nhau để cùng thực tập thiền tọa, cùng thở vào – thở ra, chúng ta trở thành một cơ thể sống. Và câu hỏi được đặt ra: “Làm sao để dòng tu Tiếp Hiện trở thành một nguồn cảm hứng và là nơi nương tựa cho thế gian?”, trở thành một công án. Chúng ta chỉ cần có mặt như một cơ thể sống và nhẹ nhàng ôm lấy câu hỏi, hay ôm công án ấy trong tâm thì tuệ giác sẽ phát sinh. Không phải nhờ tư duy thật nhiều hay tổ chức thật giỏi là ta tìm ra lời giải đáp, mà nhờ ta có mặt, chế tác năng lượng của niệm, định và tuệ; từ đó, chúng ta có sự sáng tỏ, sáng tạo và chế tác năng lượng của sự hòa hợp, của sự “cùng nhau”. Trên nền tảng đó, tuệ giác sẽ phát sinh để chỉ cho ta con đường trở thành nguồn cảm hứng như một cơ thể sống. 

Cách sống, cách vận hành này hơi khác lạ. Nhưng đây là cách của tăng thân. Năng lượng của chánh niệm và hòa hợp sẽ làm nên tất cả. Ta không cần phải có kế hoạch năm năm hay cái gì tương tự. Điều quan trọng là tăng thân có thể đến với nhau và có mặt như một cơ thể sống hay không? Toàn bộ vấn đề là ở chỗ đó. Sắp xếp thế nào để tăng thân có thể thường xuyên đến với nhau, nhiều thật nhiều. Đó là mối quan tâm duy nhất. Bởi vì sự đến với nhau của tăng thân có thể đem lại rất nhiều hạnh phúc, rất nhiều sự khỏe nhẹ, sự chuyển hóa và niềm tin. 

Tăng thân luôn luôn chế tác niệm, định và tuệ. Tăng thân mang trong lòng mình chất thánh, nhờ sự thực tập chánh niệm. Thật là đẹp khi nhìn thấy một tăng thân tĩnh lặng, đi trong tĩnh tại và hòa điệu. Họ tổ chức mà không có vẻ gì là đang tổ chức cả, như một đàn ong. Không ai ra lệnh cho ai cả. Người này nhìn người kia, ý thức về sự có mặt của nhau và về tình trạng đang diễn ra; một cách thật tự nhiên, tình trạng sẽ thay đổi theo hướng như họ mong muốn. 

Học hỏi từ thiên nhiên

Có bài học nào ta muốn dạy cho loài ong, loài mối, loài chim hay loài cá hay không? Trái lại, có rất nhiều điều mà ta có thể học hỏi từ các loài động vật. Các nhà khoa học trong thời đại ngày nay bắt đầu nói về văn hóa loài vật. Loài vật có nền văn hóa của chúng. Mỗi loài đều có tuệ giác và cách sống của riêng mình.

Trong cộng đồng loài người, chúng ta có rất nhiều nỗi khổ niềm đau. Xã hội chúng ta dường như khổ hơn xã hội của loài vật. Chủ nghĩa cá nhân chiếm ưu thế. Chúng ta đang bị chia rẽ nặng nề. Chúng ta ghét bỏ nhau, sợ hãi nhau. Các loài ong, loài cá cũng như loài chim không hề có vấn đề này. Cho nên, chúng ta có thể học được rất nhiều điều từ chúng. Và đây cũng là đường hướng xây dựng tăng thân: đi với nhau như một dòng sông.

 

                                                                                



Chương trình tu học trực tuyến Thiền và Nghệ thuật bảo Bảo hộ Hành tinh (ZASP)

 
 
Chương trình tu học trực tuyến kéo dài bảy tuần với chủ đề “Thiền và Nghệ thuật bảo hộ hành tinh” (“Zen and the Art of Saving the Planet”, gọi tắt là ZASP)
 
 
 
 
 
 
Thời gian: Chương trình tu học bắt đầu từ ngày 1.3.2026 đến 19.4.2026 (7 tuần).
Ngôn ngữ: Các hướng dẫn hoàn toàn bằng tiếng Anh, nhưng các nhóm pháp đàm có thể bằng tiếng Việt và theo múi giờ Việt Nam.
Đặc biệt Học bổng Tết Bính Ngọ: Chương trình có dành một số học bổng cho đồng bào người Việt tham gia chương trình học trực tuyến ZASP 🌱
 
Mời các bạn đăng ký ngay hôm nay để trải nghiệm và cùng tham gia tu tập với hơn 6000 người ở khắp nơi trên thế giới. 👣:
🪷 Các sinh hoạt truyền trực tiếp & thực tập cùng với các thầy, sư cô Làng Mai
🪷 Pháp đàm bằng tiếng Việt trong một cộng đồng toàn cầu của những người đang góp phần chuyển hóa xã hội
🪷 Những bài giảng của Sư Ông Làng Mai được tuyển chọn.
 
Xin bấm vào đây để đăng ký và điền đơn xin học bổng:
Ở phần ” €0 – €60 | Scholarships”, bấm vào “Read more and apply” để điền đơn xin học bổng.
 

Bấm vào ảnh phía dưới để xem thêm giới thiệu của thầy Pháp Hữu, John Bell, …

 

 

 

 

Vè Tết Làng

 

 

Vè vẻ vè ve

Nghe vè kể chuyện

Bính Ngọ xuân sang

Cả Làng mở hội

Ăn Tết đông vui.

 

Bánh tét bánh chưng

Nấu đêm hăm sáu

Bốn nồi đỏ lửa

Mưa tạt bạt lều

Mà chẳng đánh xiêu

Tiếng đàn tiếng hát.

 

Thuỷ tiên vàng rực

Nở sáng núi đồi

Mai trắng, mận hồng

Đào thẫm, tầm xuân

Cùng nhau dâng sắc.

Một cành cúng Bụt

Một nhánh dâng Thầy

Chị em cùng nhau

Sửa sang phòng ốc

Dán câu đối đỏ

“Vững chãi núi xanh

Thảnh thơi mây trắng”

Sửa soạn bánh mứt

Thiết khách viếng nhà.

 

Giao thừa bình thơ

Sư cô Định Nghiêm

Kể chuyện Tết Làng

Sáu giờ tối điểm

Không giờ Việt Nam

Bát Nhã rền vang

Chuông trống trầm hùng

Hồn thiêng đất Á

Vang giữa trời Âu

Giờ thiêng đã điểm!

Lòng dạ chí thành

Hướng lời khấn nguyện

Đại chúng đồng thanh

Chắp tay đọc tụng

“Bài kinh Đất Mẹ”

Hải triều uy hùng

Mừng khắc Nguyên Đán.

Văn nghệ miệt vườn

Chung vui đầm ấm.

 

Mồng một múa lân

Lạy nhau đầu năm

Bói Kiều mấy quẻ

Xóm Thượng mở cửa

Đón khách viếng phòng

Trà, mứt, hạt dưa

Quây quần thăm hỏi.

 

Mồng hai Xóm Hạ

Lân lại tưng bừng

Nhảy điệu “Xuân ơi”

Rước khách chung vui

Đào hồng nở thắm

Bánh chưng dưa món

Ai cũng tấm tắc

“Ngon!”.

 

Rồi đến Xóm Mới

Ngày hội ẩm thực

Bánh đúc, gỏi cuốn

Nem nướng thơm lừng

Bắc, Nam, Trung đủ

Mùi vị hương sắc

Lại thêm bàn giấy

Bên nghiên bút mực

“Ông đồ” cho chữ.

 

Xuân lai xuân khứ

Niềm vui không tuổi

Tiếng cười trong vắt

Ánh mắt trẻ thơ

Nắng xuân lấp lánh

Mái tóc bạc phơ

Ông tiên truyện cổ.

Về ăn Tết Làng

Bạn ơi xuân sang

Về ăn Tết Làng

Nhớ đến, nhớ đến

Là lá là la…

 

Chúc đồng bào trên khắp mọi miền đón một năm mới bình an, hạnh phúc!

“Vững chãi như núi xanh

Thảnh thơi dường mây trắng”.

 

 

Lời khấn nguyện đầu năm

 

Kính lạy chư vị Tổ tiên tâm linh và huyết thống của chúng con!

Trong giờ phút linh thiêng khởi sự cho Năm Mới, chúng con tập hợp lại đây như một gia đình tâm linh để cùng dâng lên chư vị lòng biết ơn và nguyện ước sâu sắc của chúng con. 

Dù còn là một tăng thân non trẻ và chưa hoàn hảo, ai trong chúng con cũng đến đây với ước muốn tu học, bồi đắp tình thương và trái tim phụng sự.

Kính bạch chư vị Tổ tiên!

Chư vị đã dạy chúng con không được quên lãng chính mình. Dù những gì chúng con muốn làm có mục đích cao cả đến đâu đi nữa, chúng con cũng cần quay về với tự thân qua mỗi hơi thở, mỗi bước chân chánh niệm, cũng như dành thì giờ thưởng thức những nhiệm mầu của sự sống như trăng sao, chim hót, thông reo, hoa nở, để nuôi dưỡng và trị liệu cho thân tâm. Chúng con vô cùng biết ơn những lời dạy quý báu ấy của chư vị. Đã có đường đi rồi, chúng con không còn gì để lo sợ nữa.

Nhìn lại những gì mà gia đình nhân loại đã đi qua trong năm qua, chúng con thấy những sang chấn tâm lý chưa được chữa lành, nỗi sợ hãi và tư tưởng phân biệt, kỳ thị vốn ăn sâu trong tim óc chúng con tiếp tục gây nên những tổn hại cho mỗi cá nhân nói riêng và cho trái đất nói chung.

Chúng con nguyện chuyển hóa tận gốc rễ những nguyên nhân gây ra chiến tranh, thù hận và bạo động bằng cách chế tác năng lượng bất bạo động, không kỳ thị trong cách suy nghĩ, nói năng và hành động của mình trong đời sống hàng ngày. Chúng con sẽ tiếp tục thách thức chính mình bằng câu hỏi: Liệu chúng con có đủ tuệ giác và dũng khí để tha thứ cho những ai đã gây tổn hại cho mình không? Chúng con ý thức rằng chỉ khi nào buông bỏ được những hiềm hận trong quá khứ, chúng con mới có thể cùng nhau đi tới và gia đình nhân loại mới có một tương lai mà thôi.

Kính bạch chư vị Tổ tiên, chư vị đã dạy chúng con rằng tiền bạc, quyền hành không thể nào bảo đảm cho ta có hạnh phúc, an ninh và bình an thật sự. Sự an ninh và chủ quyền đích thực của chúng ta nằm ở khả năng thương yêu và sống hạnh phúc trong giờ phút hiện tại, bây giờ và ở đây. Chúng con xin nguyện hết lòng nuôi dưỡng lòng hảo tâm và tinh thần hợp tác để giúp xây dựng một nếp sống mới: nếp sống giản đơn, sẻ chia và tin tưởng lẫn nhau.

Trước thực trạng tuyệt vọng và chia rẽ đang trấn ngự trên thế giới, chúng con xin nguyện luôn đứng bên nhau, làm nơi nương tựa cho nhau, và tiếp tục chung sức để xây dựng cho tăng thân thêm vững mạnh, đồng thời góp phần chuyển đổi tâm thức cộng đồng đi về hướng xây dựng một thế giới có nhiều bình an và từ bi hơn.

Kính xin liệt vị tiếp thêm năng lượng tuệ giác, từ bi và chứng minh cho chúng con khi chúng con dâng lời phát nguyện này. Chúng con kính dâng lên liệt vị hương hoa, quả phẩm và lòng hiếu thảo của tất cả chúng con.

 

 

Thầy ơi, con đã về! – Phần II

THẦY VỀ TRONG CON

Sau những ngày đầu của Tuần lễ Tưởng niệm, khi đại chúng đã bắt đầu trở về với hơi thở, với bước chân chánh niệm và những nụ cười nhận ra nhau, không khí tưởng niệm càng lúc càng lắng sâu. Ai cũng cảm nhận rằng trở về dự Giỗ Thầy là cơ hội quý để được sống trọn vẹn bên nhau và thấy Thầy vẫn đang được tiếp nối trong Tăng thân.

Những ngày trước lễ giỗ chính, Tổ đình Từ Hiếu – Diệu Trạm tiếp tục đón từng dòng người lặng lẽ trở về. Có người mới đến lần đầu, cũng có người đã về đây qua nhiều mùa giỗ. Có người từ trong nước, có người từ phương trời xa. Dù đến từ đâu, trong lòng mỗi người đều có chung ước mong được trở về nơi có dấu chân Thầy, được sống trong nếp sống chánh niệm mà Thầy đã trao truyền.

Mọi người gặp nhau bằng nụ cười, bằng cái chắp tay, bằng những bước chân chậm lại trên lối đi rợp bóng cây. Ai cũng ý thức mình đang có mặt không chỉ cho Thầy, mà cho chính mình và cho nhau. Sự đoàn tụ ấy như mưa xuân, thấm vào đất và làm dịu lòng người.

 

 

Ký ức về Thầy không chỉ được nhắc lại qua lời kể, mà còn được chạm tới qua những điều rất bình dị: bước chân thiền hành quanh đồi Dương Xuân, bên hồ Bán Nguyệt; tiếng chuông ngân giữa núi đồi; những bữa cơm im lặng cùng tăng thân… Trong không gian ấy, ta chợt nhận ra: tưởng niệm không phải là quay về quá khứ, mà là sống sâu sắc hơn trong giây phút hiện tại — nơi Thầy vẫn đang có mặt.

Đại chúng đã có một đêm ngồi lại bên nhau tại thiền đường Hương Cau – Diệu Trạm để nghe những câu chuyện và kỷ niệm về Thầy trong bầu không khí ấm áp, thân tình. Những vần thơ, những bài hát khẽ cất lên giữa tĩnh lặng khiến nhiều người cảm nhận sâu sắc rằng:

“Một lá ngô đồng rơi, Thầy vẫn cùng chúng con leo đồi thế kỷ.
Ngàn hoa thủy tiên hé, đất cứ theo trời hát khúc vô sinh.”

Đại chúng cũng được nghe lại một lá thư Thầy viết cho đệ tử, kể về một giấc mơ rất đơn sơ: vài huynh đệ mới về, một nồi cơm nấu để đãi nhau, vài chậu lan, khóm trúc ngoài sân chùa — tất cả có mặt bên nhau. Vậy mà niềm vui lớn đến thế. Hạnh phúc không nằm ở điều lớn lao, mà ở chỗ ta thấy được nhau và biết rằng ta còn có nhau.

Ngồi trong thiền đường đêm ấy, nhiều người nhận ra Thầy không chỉ ở trong ký ức. Thầy đang có mặt trong tăng thân, trong sự yên lặng rất sống động này.

Ngày giỗ chính – có mặt thật sự cho nhau

Sáng ngày giỗ chính, không khí chùa Tổ như lắng lại. Có rất nhiều chư tôn đức trở về tham dự, mang theo tình thương và sự nâng đỡ cho hàng hậu thế, đệ tử của Thầy. Đông đảo quý thầy, quý sư cô và cư sĩ, thiền sinh cùng trở về. Nhưng điều chạm đến trái tim nhiều người không chỉ là sự đông đủ, mà chính là năng lượng an lành và vững chãi của đại chúng. Ai cũng hiểu rằng tưởng niệm sâu sắc nhất là khi ta đi bên nhau trong an lạc và tình huynh đệ.

 

 

Đại chúng còn có dịp lắng nghe chia sẻ từ quý thầy, quý sư cô lớn — những người học trò gần gũi của Thầy. Những câu chuyện về hạt giống đẹp được Thầy tưới tẩm, về cơ duyên chọn con đường xuất gia và phụng sự, cùng những bài học thân thương, những kinh nghiệm được truyền trao trong đời sống tu học… giúp mọi người chạm tới một điều rất giản dị: ai cũng được thương.

Tuần lễ được khép lại bằng một ngày quán niệm dành cho đại chúng. Mọi người cùng nghe pháp thoại “Thầy ơi, con đã về”, cùng thiền hành, ăn cơm trong im lặng và chia sẻ về ước mong tiếp nối Thầy bằng đời sống chuyển hóa khổ đau, nuôi lớn hạnh phúc cho mình và cho cuộc đời.

Trong khi Từ Hiếu – Diệu Trạm là nơi nhiều người tìm về cội nguồn, thì ở khắp nơi trên thế giới, tăng thân Làng Mai cũng đồng thời hướng về Thầy qua những khóa tu, ngày quán niệm và lễ tưởng niệm thấm đượm tình thương và lòng biết ơn. Dù ở đâu, đại chúng cũng chung một tâm nguyện: tiếp nối Thầy bằng đời sống chánh niệm và tình huynh đệ.

 

 

Tuần lễ tưởng niệm lặng lẽ đi qua, nhưng sự thực tập vẫn tiếp tục trong từng bước chân và hơi thở. Thầy không còn trong hình hài quen thuộc, nhưng Thầy có mặt trong tăng thân, trong cách ta sống giây phút này. Chỉ cần dừng lại, thở và mỉm cười, ta biết mình vẫn đang đi cùng Thầy. Con đường Thầy mở ra vẫn còn đó, rất gần.

 

Dưới đây mời đại chúng cùng xem thêm những bức hình nhân ngày tưởng niệm Thầy được tổ chức ở các trung tâm Làng Mai trên thế giới.

Có Thầy

 

 

Tu viện Nhập Lưu, 19 tháng Chạp năm 2026

Thầy kính thương, hôm nay là ngày giỗ bốn năm Thầy thành mây. Con biết, giờ phút này, ở chùa Tổ Từ Hiếu và ni xá Diệu Trạm, chư Tôn đức, anh chị em xuất sĩ và tăng thân cư sĩ tề tụ về rất đông. Nhiều trung tâm của Làng khắp nơi đại diện để về thăm Thầy ở chùa Tổ, và cũng là cơ hội để huynh đệ được gặp nhau. Đây đúng là một món quà quý mà Thầy để dành cho các học trò mỗi năm. Được trở về gốc rễ tâm linh, được bước chân trên mảnh đất thiêng, nơi mà thời còn là một chú điệu mới vào chùa cho đến những năm cuối đời, Thầy có biết bao nhiêu kỷ niệm đẹp. Ở tu viện Nhập Lưu, Úc châu, chúng con cũng dâng lên Thầy lòng biết ơn với không gian triển lãm “Có Thầy”. Con muốn kể cho Thầy nghe về sự kiện này.

Thầy ơi, cốc Hương Đất là tên gọi chúng con đặt để thay cho tên Farm house. Đây là ngôi nhà mà vách được làm bằng đất trộn với rơm để trét kín những viên đá vốn có tại địa phương. Ông chủ nhà trước đây từng ghé thăm và cho biết ngôi nhà này đã được chính ông xây dựng 50 năm trước, với rất nhiều tâm huyết và tình thương. Một thời gian ngôi nhà được sử dụng như cái kho chứa không biết bao nhiêu thứ. Chính tăng thân đã chung tay sửa chữa lại để cốc Hương Đất đẹp như hôm nay. Mỗi lần nhìn cốc Hương Đất, con đều thấy nơi đó thấp thoáng dáng dấp của thất Da Cóc tại chùa Sơn Hạ, xóm Thượng, Làng Mai. Con biết Thầy thương thất Da Cóc lắm, nên thế nào Thầy cũng sẽ rất thương cốc Hương Đất. Cốc Hương Đất, có nét gì đó rất giống cách Thầy từng nói về thất Da Cóc: Cái thất ở chùa Sơn Hạ, nơi Thầy hay đốt lửa trong lò sưởi để tiếp các vị Tôn túc về dự Đại giới đàn trong các khóa tu Kiết đông, ngày xưa là nhà ở của gia đình tá điền. Bề ngoài ngó xấu xí nhưng bên trong đã được sửa sang lại rất xinh xắn và có đầy đủ tiện nghi, nhất là có lò sưởi đốt bằng củi nơi phòng khách. 

Cái thất ở Sơn Hạ ấy, Thầy định đặt cho nó một cái tên, bề ngoài có thể không chải chuốt, nhưng bề trong lại rất hay. Đó là cái tên “Thất Da Cóc”. Đúng rồi da của con cóc, peau de grenouille, hay là frog skin. Da cóc thì xù xì ngó không đẹp mấy, nhưng bên trong có thể là rất đẹp. Chú Dũng, ba của thầy Pháp Đôn, lần đầu được thầy đưa vào thất đã khen: “Ngoài da cóc, trong ngọc vàng”. Các con có biết câu ấy không? Đó là vế đầu của câu đố: Ngoài da cóc, trong ngọc vàng, đi ngoài đàng, thơm lừng lựng. Đó là trái gì? Đó là trái mít chín. Bên ngoài thì da mít xù xì như da con cóc. Nhưng bên trong có những múi mít chín vàng rực thơm lừng, đó là ngọc là vàng, và khi đi qua một quãng đường có một trái mít chín thì mình nghe “thơm lừng lựng”. Câu đó có thể đã xuất phát từ miền Huế, tại vì có ba chữ “thơm lừng lựng”. (Trích Con đường huyền thoại, thư Thầy).

Cốc Hương Đất cũng có một lò sưởi đốt bằng củi, có nhiều cửa kính để nhìn ra những cây thông cao vút bên ngoài mà vào ban đêm, con có cảm giác như đang nhìn ra một dãy núi uy hùng. Tường cốc cũng đầy dấu vết “da cóc” nhưng ai bước vào cũng thương, cũng có cảm giác tĩnh lặng hơn, được trở về.

Từ lâu, chúng con đã nuôi ước nguyện làm một cái gì đó ở cốc Hương Đất. Con thấy cốc Hương Đất như là trái tim của mảnh đất Nhập Lưu trong hiện tại. Thế là ý tưởng tổ chức triển lãm được thành hình.

Bốn năm Thầy thành mây, và cũng để ghi dấu 100 năm ngày đất Mẹ đưa Thầy biểu hiện, chúng con đã chuẩn bị cho triển lãm trong một niềm vui rất sâu, một niềm vui phát xuất từ lòng biết ơn. Từng góc trưng bày pháp khí, thư pháp, sách, bàn viết thư pháp, góc nghỉ ngơi, những bức ảnh về Thầy, góc bếp, góc các loại rau thơm hương vị quê nhà,… cứ như thế, cuộc đời Thầy được kể lại bởi những hình ảnh. Như góc hương vị quê nhà, ở đó có bao nhiêu là loại rau thơm quê hương như tía tô, rau răm, ngò, húng, ngò gai, diếp cá,… chúng con giới thiệu với các bạn thiền sinh rằng:

Năm 1974, trong một lá thư Thầy viết cho các tác viên trường Thanh niên Phụng sự xã hội, có đoạn: “Các em tìm cho ra một nơi có đất tốt, cây xanh, có đá, có nước. Tôi mê những thứ đó. Cây đá và nước là những thứ đẹp nhất: những thứ đó chữa lành thương tích của chúng ta. Và các em hãy cho tôi một lô đất trong làng ấy nhé. Tôi sẽ làm nhà, và xung quanh tôi sẽ trồng rau và rất nhiều rau thơm như ngò, tía tô, kinh giới, bạc hà, tần ô, lá lốt, thì là, vân vân. Khi em đến chơi thế nào tôi cũng đãi em một bát canh có rau thơm rắc lên trên mặt bát.

Mỗi năm, ta có ít nhất một tháng tĩnh tu tại làng, không hoạt động gì hết. Cả ngày ta đối diện với đá, với nước, với cây; cả ngày ta đối diện với chính ta. Trồng rau, tỉa đậu, chơi với các cháu nhà bên, ta tìm lại ta, chữa lành thương tích, trang bị thương yêu để sẵn sàng trở lại môi trường phụng sự. Tôi về thì tôi sẽ ở giữ làng cho các em. Tôi sẽ ra cổng làng đón từng em, tôi sẽ ngồi lắng nghe các em than thở, phân trần. Rồi tôi sẽ đưa các em về nhà em. Và chiều hôm đó tôi sẽ mở hội mừng em, mời trẻ em trong xóm đến ca hát. Tôi sẽ đọc cho em những bài thơ mà tôi viết để ca tụng tình thương và những bàn tay cần mẫn của các em, cùng những hoa lá các em làm xanh tốt trên mọi nẻo đường.”

Những thứ rau thơm mộc mạc của quê hương đã nhiều lần giúp Thầy an trú trong giây phút hiện tại, thoát được những suy tư về chiến tranh và sự thống khổ trên quê hương Việt Nam. Những năm tháng sinh sống ở nước ngoài, Thầy luôn có những vòng đất nhỏ trong vườn để trồng các loại rau thơm, để trồng những luống cải, xà lách. Có người đã bảo Thầy đừng trồng rau nữa, hãy dành thời gian đó để làm thơ. Thầy mỉm cười trả lời, nếu Thầy không trồng rau cho có chánh niệm thì Thầy sẽ không làm thơ. Và chúng ta thấy rằng, nhiều bài thơ của Thầy thấp thoáng bóng dáng khu vườn rau thơm chân tình ấy.

Nhìn sâu vào những luống rau thơm, hít một hơi hương vị từng hương rau ấy, chúng ta có thể tiếp xúc được với tình thương và niềm vui giản đơn mà Thầy có thể chế tác được trong đời sống hằng ngày.

Hay góc nghỉ ngơi của Thầy, nhìn vào, các bạn sẽ thấy: Góc nghỉ ngơi của Thầy bao giờ cũng vậy, đơn sơ, mộc mạc, nhưng rất thiền vị và nghệ thuật. Một chiếc giường thấp với một tấm ván sát nền. Một kệ nhỏ, trên đó có sách, những vật trang trí nhỏ, và tượng Bụt, thêm một chậu hoa tươi. Một chiếc tủ nhỏ với cái máy cassette để Thầy thỉnh thoảng nghe tụng kinh và thở. Thầy thường bị gió, vì thế trên tủ không thể thiếu những thứ dầu và cái muỗng sứ dùng để cạo gió.

Nhiều người, khi đến thăm phòng Thầy nghỉ ngơi đã rất ngạc nhiên và cảm động trước sự đơn sơ, mộc mạc đó, bởi họ đã nghĩ trong đầu rằng một người nổi tiếng như Thầy chắc hẳn phải ở một nơi rất đầy đủ tiện nghi. Vậy đó, mà căn phòng nhỏ của Thầy luôn luôn là một nơi rất giàu có, vì ở đó có tiếng cười, có bước chân và hơi thơ chánh niệm, có bóng hình của một vị Thầy khiêm cung, đức độ và tuệ giác, có chén trà thơm, có tình Thầy trò và tình huynh đệ.

Thầy ơi, từ tình thương của Thầy, từ tình thương nơi mỗi bàn tay và trái tim của tăng thân khắp chốn đã hình thành nên không gian Có Thầy. Ba hôm trước, con có viết một lá thư cho cư dân Nhập Lưu để chia sẻ một vài hạnh phúc trong quá trình tổ chức triển lãm. Con xin đọc lại lá thư này cho Thầy nghe để dừng lá thư của con ở đây. Chúng con nguyện là sự tiếp nối đẹp của Thầy trong hiện tại và cả trong tương lai.

 

Cốc Hương Đất, ngày 03 tháng 02 năm 2026

Các cư dân Nhập Lưu thương quý,

Mấy hôm nay, con cứ ngắm nhìn rất kỹ từng góc của cốc Hương Đất, nơi đâu cũng thấy có bàn tay của tăng thân đóng góp, từ bàn tay của những người mà sự lanh lợi bắt đầu giảm bớt vì tuổi tác, đến bàn tay của những người bố, người mẹ, những người trẻ, cho đến bàn tay tỉ mỉ nắn nót từng con chữ, tượng hình từng nét vẽ, cẩn thận xếp từng cuốn sách của các cháu. Dọc hành lang, trần nhà, nền nhà, cửa kính, nhà vệ sinh, mảnh vườn, góc bếp,… đâu đâu cũng được làm chung với tình tăng thân để cho từng pháp khí, từng khung thư pháp, từng cái bàn chiếc ghế, từng bóng điện, từng khung gỗ kệ sách, từng bồn hoa, từng chậu rau thơm hương quê nhà, từng gốc trầu bà, bồ đề, sen đá, chuối, bắp,… được hiến tặng sự có mặt của mình cho Tam Bảo, cho Thầy, cho Tăng thân. Mỗi bàn tay, mỗi tấm lòng, mỗi sự có mặt của cư dân đã trở thành một pháp khí.

Câu “Mỗi bàn tay, mỗi tấm lòng, mỗi sự có mặt của cư dân đã trở thành một pháp khí” là con nói theo cách mà chú Hào đã nói khi ghé thăm không gian triển lãm. Chú nói: “Triển lãm pháp khí, mà thực ra trong lúc tăng thân làm công việc triển lãm thì tăng thân đã là một pháp khí rồi.” Câu nói đó con nghe vào một buổi trưa rất nắng, lúc mọi người đang rộn rịp hoàn tất các công việc cuối cùng cho giờ mở cửa diễn ra chiều hôm đó, con đã rưng rưng cảm động vì lòng biết ơn các cư dân Nhập Lưu dâng tràn trong con.

Rồi một hôm con ngồi nhớ Thầy, nên con đã gợi ý là mời cư dân nấu món canh mít lá lốt (ở cái xứ này thì không đào đâu ra lá sân huyền thoại) và kho măng tươi để cúng dường lên Thầy. Hôm Chủ nhật, thầy Đồng Trí dẫn đoàn lên cốc Hương Đất cho lần mở cửa triển lãm Có Thầy tiếp theo, con đã đứng sửng sốt một hồi vì trước mắt con, một mâm cơm nhiều món được đặt tươm tất, và con nhìn thấy món măng tươi kho được bày trên dĩa. Nước mắt con cứ chực trào ra (viết đến đây thì đúng ra nước mắt trào ra thiệt). Con đã đứng yên lặng ngắm nhìn mâm cơm và thở thật sâu trong khoảnh khắc đó. Con biết, trong cái thố nhỏ kia, thế nào cũng là món canh mít lá lốt.

Chúng ta đã làm việc hết lòng. Có thể sẽ có những chuyện chưa vui lắm xảy ra trong thời gian này, nhưng những chuyện đó, làm sao có thể đủ sức ngăn cản được niềm vui mà chúng ta vừa dâng lên cúng dường Thầy được, phải không các cư dân đất Nhập Lưu. Cái cảnh 19:30 mở cửa triển lãm mà hơn 17:00 vẫn còn thấy cư dân dọn dẹp sạch vườn hoa, dọn dẹp sạch quanh không gian Có Thầy, 18:30 vẫn còn chạy lại đường dây điện cho phòng sách, thật cảm động. Mọi người còn khất thực cho con một phần thức ăn chiều, dù con biết con sẽ không ăn kịp, nhưng tự nhiên mà cũng không còn thấy đói, thấy mệt. Điều đó đã được chứng minh suốt thời gian con chia sẻ về tinh thần triển lãm Có Thầy, cách thức thưởng lãm cho có phẩm chất của sự thực tập, chia sẻ về những nội dung không gian triển lãm,… với một giọng đầy khoẻ khoắn và biết ơn.

Khi chúng con vừa mới chân ướt chân ráo qua Nhập Lưu, chúng con đã vào thăm cốc Hương Đất, và ý tưởng sử dụng cốc cho một chương trình triển lãm thì sẽ ý nghĩa lắm được sơ khởi, để từ đó anh chị em tiếp tục nuôi ước nguyện này cho đến khi ước nguyện thành sự thật. Cũng trong thời gian đó, các cư dân Nhập Lưu đến thực tập và cũng tỏ vẻ quý mến không gian cốc Hương Đất, điều này cũng đóng góp năng lượng cho Có Thầy biểu hiện. Con biết ơn thầy Đồng Trí, sư cô Tự Nghiêm, sư cô Sinh Nghiêm, sư cô Hiệp Nghiêm đã có mặt xuyên suốt quá trình thành hình triển lãm với tài năng trang trí đầy chất thiền. Con cảm ơn quý thầy, quý sư cô và tăng thân đã âm thầm đóng góp nhiều cái thấy, công sức và nhiều ý tưởng cho triển lãm. Trong thời gian chuẩn bị trang trí triển lãm, nhiều vị khác cũng đã âm thầm yểm trợ để cho chúng con có không gian và thời gian hoàn thiện.

Viết đến đây, con nhớ câu thơ của Vũ Hoàng Chương:

“Ba kiếp lang thang, ngồi chụm lại,

Chúng ta mất hết, chỉ còn nhau.”

Đúng rồi, còn nhau là còn đi tới, là còn chấp nhận, tha thứ, bao dung, yểm trợ, và nhờ đó, ta dừng được một đời lang thang nhờ tình thương, sự hiểu biết, có nhau. Là những kẻ đồng hành trên con đường giác ngộ, chúng ta sẽ tiếp tục thực tập và phụng sự để giây phút hiện tại mãi mãi là giây phút của sự tiếp nối đẹp.

 

Thương quý và tin cậy,

Con kính biết ơn Thầy

Con của Thầy

nguyên tịnh