Cỏ hoa còn thơm ngát

bóng dáng tiền trần vừa thôi xuất hiện

gió thoảng đêm hiền

ánh trăng khuya mát lạnh

gương nga lặng lẽ

bên ấy trời sáng chưa

để bên này tôi ngủ

đầu gối lên đêm

cỏ hoa còn thơm ngát

buổi mai buổi trưa buổi chiều

giờ nào em lắng nghe tiếng gọi?

nhìn vào đâu cũng thấy nụ tinh khôi

 

Bóng dáng tiền trần tức là những hình ảnh trong độc đầu ý thức, các bạn có học Duy Thức Học chắc còn nhớ. Tôi nhận thấy trong thơ, thầy ít dùng danh từ Phật học theo kiểu này. Tôi thấy đó là một điều may. Những cuốn sách dễ đọc nhất. Tôi ưa cuốn Nói Với Tuổi Hai Mươi cũng vì thế

Khi nhìn con voi mà thấy con voi thì hình ảnh voi trong ý thức không phải là bóng dáng tiền trần. Khi không nhìn voi mà vẫn có hình ảnh con voi thì hình ảnh này mới là tiền trần. Xin “gà” cho các bạn  chưa từng biết Duy Thức Học.

Chân dung

gió sớm mai hồng lật những trang ngà

tập thơ thời gian vô cùng dệt bằng tơ lụa không gian, đóng bìa xanh rừng thẳm

nhng trang thơ mênh mang lòng đại dương bát ngát

tôi tìm bài thơ chân dung em, nét chữ lung linh sắc hoa mầu lá

trời cao đã cho đại dương sâu ngôi sao đẹp nhất của mình

muôn đời mắt em ngời sáng

trùng điệp sóng dồn về cát trắng

trinh nguyên vừng trán phương Đông.

gió mai thoảng về hơi thở

cành lá thì thầm để rơi những giọt sương trời lác đác

y phương da trời là suối, những sợi tơ chiều vén gọn, để cho trăng nở tuyệt vời

mưa, ôi những sáng tuôn mưa – trời đất chuyển mình, dồn dập thét gào, những đọt cau xa oằn oại, những con chim trong màn mưa bạc,

tôi quỳ xuống rưng rưng, tiếng gọi của em từ bản thể vọng về, tôi gục đầu lắng hết tâm tư, mắt đẫm lệ nhớ

trưa, ôi những buổi trưa lắng vào tuyệt đối – trời cao xanh ngắt, bâng khuâng nghe tiếng gọi tôi về

tiềm thức dâng tràn u hoài của thăng trầm mấy kiếp

lá đón nắng hồng mai đến: chiếc áo avril nhẹ sắc thoáng hương kỳ ảo mùa xuân

em khắp nơi

và đôi bàn tay em, đôi bàn tay, hoa nở tuyệt vời trên sự sống

phép mầu hiển hiện khi những ngón tay ngà hé mở:

chim bồ câu xòe cánh trắng

cao vút trời xanh hòa bình tỏa rạng – tiếng ngợi ca vẳng lại tự những tinh cầu xa…

đêm bình yên. trời cao.

biển dâng từng đợt sóng và đợt sóng cao, to

hào hùng hơn cả

đang vươn mình tìm tới tận chân trời.

 

nét chữ trăng sao trên tờ thơ mầu nhiệm

em về: hoa hồng hé cánh

tia nắng đầu reo vui trên mầu hoa đại

còn đẫm ướt sương khuya

nụ cười tới trên cánh hồng sen úp mi, hé nở:

bờ xanh xanh, hương xa gọi về muôn huyễn tượng

long lanh mặt trời chói rạng trong ngàn sương đọng giọt.

mt mờ hoen lệ

trước nhiệm mầu biểu hiện

tôi mỉm cười nhìn mây nước:

bài thơ em hé vườn sáng chân như.

Thiên nhiên chiếm một vị trí rất lớn trong thơ của thầy Nhất Hạnh. “Thiên nhiên là một biểu hiện của chân như”, Thầy thường nói. Có một lần tại Sorbonne, tôi nhớ Thầy đã giảng tương tợ như sau: “Phật giáo Tiểu Thừa nhấn mạnh đến tính cách khổ đau của cuộc đời, còn Phật giáo Đại Thừa nhấn mạnh tới tính cách mầu nhiệm của cuộc đời. Vị A La Hán là hình ảnh của Phật giáo Tiểu Thừa, còn vị Bồ tát là hình ảnh của Đại Thừa”. Trong Nẻo về của Ý, Thầy cũng nói: các vị Bồ tát thường ăn mặc đẹp đẽ như trẻ em ngày Tết để làm đẹp cho cuộc đời. Trong bài thơ trên, tôi thấy Thầy đồng nhất thiên nhiên với chân như và chân như với hòa bình. Khát vọng hòa bình như là khát vọng về nguồn, và sự hé mở của chân như là sự hé mở của đôi cánh bồ câu:

phép mầu hiển hiện khi những ngón tay ngà hé mở:

chim bồ câu xòe cánh trắng              

cao vút trời xanh hòa bình tỏa rạng

tiếng gợi ca vẳng lại tự những tinh cầu xa

Bài này đã được Thầy phổ nhạc. Lời cao vút, trang trọng. Tôi đã tập hát, nhưng lâu tôi lại quên và hát sai giọng.

Trời phương ngoại

người đi trên đất mắt nhìn trời

chim liệng từng không mây trắng bay

mt bàn tay đưa cho nắng ngọt

mt bàn tay giữ con đường mây

lá xanh tháng Tư mặt trời lọc

đi qua rừng cây mà không hay

búp tay hoa sen vừa hé mở

vũ trụ sáng nay đã ngất ngây

trà khuya bay khói, thơ không chữ

thơ chở trà lên tận đỉnh mây

núi cao mưa tạnh vùng biên ải

vi vút sau đèo gió gọi cây

đỉnh tuyết trời quang bừng cõi mộng

giác ngộ tung về đóa mãn khai

đt xa mầu nhiệm thơm tình mẹ

hoa nở trần gian ước kịp ngày.

thương bé bơ vơ mùa loạn lạc

sen vàng bướm gửi khắp trời Tây

tờ hoa nhạc hội bừng chuông trống

xóm dưới thôn trên dán chật đầy

mắc nối đường dây trăm xứ lạ

ân nghĩa bên trời mãi dựng xây

ngục thất ba trăm còn tuyệt thực

mòn chân du thuyết hết đêm ngày.

tháng Tư đồng nội trăm hoa nở

mong ước ôm đầy hai cánh tay

sắc xuân rực rỡ trời phương ngoại

thơ hát yêu thương rộng tháng ngày

gối mộng mây xa về lối cũ

ngược dòng sông lạ đến tìm ai.

Một lần tôi hỏi tác giả tại sao đi qua rừng cây mà không hay? Có phải là rừng đẹp quá làm ta quên quán niệm không? Thầy nói: “Không phải. Những khoảng rừng lá non có mặt trời lọc xuống như thế tạo nên một khung cảnh trang nghiêm và mầu nhiệm quá đỗi thành thử cảnh vật giống như cảnh vật ở nơi thiên tiên nào hoặc ở chốn thủy cung nào ấy, khiến cho mình không nhận ra đây là khu rừng mình thường đi qua trong mùa hè và đông nữa”. Có thể nói là thầy Nhất Hạnh rất say mê thiên nhiên Tây phương vào khoảng tháng Tư, khi lá non vừa lớn kịp và khi vạn vật đang chuyển mình trong mùa tuôn dậy (Thầy dịch tiếng spring). Xin các bạn đọc lại bài Trường ca Avril. Tại quê hương, ít khi lá cây được xanh mướt cả rừng như vậy, nhất là ở miền Nam. Bài thơ này viết vào tháng 4 năm 1974, hồi chúng tôi thường tổ chức các đại nhạc hội để giúp các em cô nhi ở Việt Nam:

tờ hoa nhạc hội bừng chiêng trống

xóm dưới thôn trên dán chật đầy

Chúng tôi cũng cho ra tờ Le Lotus đặc biệt in trên giấy vàng kêu gọi người đỡ đầu cho cô nhi chiến nạn:

thương Bé bơ vơ mùa loạn lạc

Sen Vàng bướm gửi khắp trời Tây

Hồi ấy tại khám Chí Hòa có ba trăm tăng sĩ tuyệt thực để gây áp lực trên Hòa hội Paris; chúng tôi cũng được Thầy phái đi các nước Hoa Kỳ, Đan Mạch, Ý Đại Lợi, Anh Cát Lợi… để vận động yểm trợ cho cuộc tuyệt thực này;

mắc nối đường dây trăm xứ lạ

ân nghĩa bên trời mãi dựng xây

ngục thất ba trăm còn tuyệt thực

mòn chân du thuyết hết đêm ngày.

Tôi còn nhớ tại Rome có ba trăm linh mục đi diễu hành mỗi vị đeo trên ngực bảng tên của một tăng sĩ Việt Nam tại khám Chí Hòa. Tinh thần liên đới quả thật rất đẹp. Hedi Vaccaro và mấy người bạn Ý của Phái đoàn đã vất vả trong lần tổ chức cuộc diễn hành này.

Sinh tử không hoa

đêm nghe mưa gội

linh hồn thức dậy

trời thế gian ngập lụt

biển sóng gầm ảo tượng

trong phút giây chập chờn

đường nét hôm nay

ra vào thấp thoáng

đưa anh về đâu?

không

mu nhiệm trong giây lát

ht mưa cười

nghiêng đổ u sầu.

Tôi nhớ hình như bài này Thầy có gửi tặng cho một người bạn làm linh mục ở Việt Nam. Alfred Hassler, bạn của tác giả, một hôm nghe bài này đã thốt lên: “Nghe được một tiếng cười trong hạt mưa, Thầy quả có một cái nhìn rất lạ!”.

Ước nguyện

(đoan cư ba thượng tuyệt trần ai)

một sẽ luân hồi thành ba thành bốn thành năm

cng tôi sẽ trở lại hoài

chúng tôi sẽ trở lại hoài.

hạt mưa đêm nay thánh thót

y ngồi trên những ngọn sóng này

dạo chơi biển mang mang tiềm thức

chập chùng chập chùng đồi núi

vào ra sông biển

cánh hải âu vờn nắng

trắng muốt màu tuyết sáng

môi bé thơ xin đừng ngưng hát ca

Đoan cư ba thượng tuyệt trần ai” là một câu trong bài kệ bát cú thường dùng để khen ngợi Bồ tát Quán Thế Âm. Câu này có nghĩa là đứng vững vàng đẹp đẽ trên một làn sóng, hoàn toàn không dính một mảy bụi đời. Theo tôi, tác giả muốn cho thấy rằng Quan Thế Âm không phải chỉ là một người: tâm từ bi như một bó đuốc có thể chuyển thành trăm ngàn bó đuốc; tuy đứng trên trầm luân mà vẫn trở lại mãi trong cõi trầm luân để sống giữa con người.

Bài này Thầy có dịch ra Anh ngữ và được anh Võ Đình minh họa đen trắng rất đẹp. Tờ Fellowship ở Hoa Kỳ đã lấy bức họa làm bìa số tháng 6 năm 1975.

Một mũi tên rơi hai cờ ảo tưởng

“cũng như dòng suối về gặp đại dương

ngày mai ra đi anh nhớ hát lên khúc ca mùa mới

tiếng hát kia vẳng lại để đủ sức tiễn tôi trên một đoạn đường”

i sẽ không ra đi.

hoặc sẽ ra đi nhưng không bao giờ tôi đến.

nơi khởi hành có trăng mây gió nước, và nơi tôi đến, đón chờ cũng sẽ có hoa vàng trúc tím

là lá là hoa, em đã có tôi từ vô thỉ

và mầu xanh trời cao trong mắt em sẽ còn mãi mãi, nhưng vì không thấy, thương tôi, em đã bao lần nhắc chuyện ra đi,

sáng nay thức giấc ngủ trăng sao, vũ trụ làm rơi những giọt nước mắt trong như pha lê,

êm dịu sương khuya, hãy khóc cho hồn ngươi thêm đẹp

nước mắt sẽ biến hồn hoang vu thành nơi vườn quê tươi sáng, thanh lương thấm lòng trái đất, nâng niu lộc mướt chồi non,

ngày xưa những khi ngồi nhìn em khóc, tôi cũng đã ưng khóc để được dỗ dành.

ôi thiên nhiên

bà mẹ tóc xanh, xanh mướt đất trời, nụ cười đem về đầy bướm chim hoa lá,

là lá là hoa, em đã có tôi từ vô thỉ

và trong nhận thức mong manh em, tôi thực chưa bao giờ từng hiện hữu tử sinh.

 em có nhớ ngày đầu tiên khi mẹ đưa tôi về, nhờ năm nhóm nhiệm mầu, em mới trông thấy bóng hình tôi hiển lộ?

ngày mai bóng hình mất đi

em hãy mỉm cười

và bình thản tìm tôi trở lại

tìm tôi qua thanh sắc đã sinh và đã mất

để thấy rằng tôi vẫn còn chân thực

chưa bao giờ đi

chưa bao giờ đến

qua thời gian, qua nhận thức, qua chủ khách tồn sinh

tìm tôi và tiện dịp em tìm em

t khám phá nguyên sơ

chỉ cho em thấy rằng em là bất diệt

em sẽ thấy

không có gì đi, mất

và với một mũi tên thôi, em bắn rơi một lần hai lá cờ huyễn tượng

chân như sẽ xuất hiện mầu nhiệm nơi tử sinh.

tôi đang mỉm cười an nhiên trong phút giây hiện tại

nụ cười nở mãi trong bài ca mùa xuân bất tận

trong nụ cười kia em cũng sẽ thấy em còn mãi

bởi vì em quả thực chưa từng bao giờ hiện hữu trong ảo tưởng tồn sinh.

nụ cười hôm nay, ta sẽ nhìn thấy ngày mai

tận cuối đường ảo tượng

không có gì đã qua và đã mất

không có gì sẽ qua và sẽ mất

và suối chim khuyên em hôm nay

“hãy vẫn cứ là bông hoa hát ca.”

Theo tôi, bài này sở dĩ Sở Kiểm duyệt Sài Gòn bỏ là vì những người trong Sở Kiểm duyệt nghĩ tác giả đang tuyên truyền cho lập trường trung lập. Sự thật bài này không dính líu gì tới chính trị. Bài thơ này chỉ diễn tả cái thấy của tác giả về chân như và sinh diệt. Đây là một trong những bài mà Thầy vừa ý nhất. Hồi đầu năm nay, tôi có được Thầy cho đọc bản thảo truyện Tố của Thầy mới viết và tôi thấy nếu ta muốn thấu triệt những ý tưởng và hình ảnh trong bài thơ này thì chúng ta phải đọc truyện Tố; không biết bao giờ Thầy mới cho Lá Bối in tập truyện ấy.

Truyện Tố kể về chuyện một em bé gái chín tuổi bị mù vì thuốc khai quang và một em bé trai tên Thạch Lang từ một mỏm đá sanh ra, nghe tiếng sáo của Tố mà tìm xuống và hai đứa trở thành đôi bạn. Có Thạch Lang một bên, Tố không có mắt mà cũng như có mắt, bởi vì Thạch Lang nhìn và nói cho Tố nghe tất cả những gì nó thấy. Sau cùng, Thạch Lang tìm ra được nước Cam Lộ trên mỏm đá rửa mắt cho Tố khiến cho mắt Tố sáng lại như xưa. Lúc đó Thạch Lang đã trở về mỏm đá. Thạch Lang nói với Tố: “Trong Tố có anh rồi, và từ nay đi đâu Tố cũng có anh bên mình”.

Những biểu tướng sanh và diệt, tự và tha đều chỉ là những biểu tướng, một khi thực chứng được chân như thì những ràng buộc của sanh diệt không còn. Nếu Tố thấy được Thạch Lang là bất sanh bất diệt thì Tố cũng thấy được chính bản thân Tố là bất sanh bất diệt. Phép thiền quán này là một mũi tên mà bắn rơi được một lần hai lá cờ huyễn tượng tức là ảo tượng về sự sanh diệt của Thạch Lang và ảo tượng về sự sanh diệt của Tố. Năm nhóm trong bài thơ vốn là từ chữ ngũ uẩn, tức là sắc thân, cảm thọ, tư duy, hành nghiệp và nhận thức, những yếu tố phối hợp thành “ngã”.

Bắc một chiếc cầu

Tng Jacques Gasseau

có cây ngô đồng cho chim phượng đậu

có người đứng đó cho tình thương sâu

lut lệ nhiều khi như màn lưới sắt

giam người trong kiếp trầm luân thương đau

nhưng lòng nhân ái như bàn tay Phật

phá tan địa ngục đập nát u sầu

thành phố sáng nay nắng lên bát ngát

có chim bồ câu bay liệng trời cao

tôi nhớ tới người tấm lòng cương trực

nụ cười mát dịu như nước nhiệm mầu

trẻ thơ nhớ người như hoa nhớ nắng

như nước nhớ nguồn, như trăng nhớ sao

tâm đã quyết rồi hiềm gì bạo lực

thân đi vào đời cưỡi trên ba đào

bắc một cây cầu từ hang địa ngục

lên tới cõi trời, mở hội ngàn sao.

 

Tôi có biết Jacques Gasseau. Ông là một ông đại sứ nhưng không phải là một ông đại sứ như các ông đại sứ khác. Với những phương tiện do lòng thương người thúc đẩy, ông đã thực hiện được bao nhiêu phép lạ, giúp đỡ được rất nhiều người tị nạn đường biển vào được đất Pháp, vượt được cả những tấm lưới sắt tưởng không bao giờ vượt được. Bài này Thầy viết vào tháng 2 năm 1977 trên vịnh Xiêm La.

Lòng không bận về

ngi đây lắng tiếng chim bay

ba ngàn thế giới không đầy tấc gang

phương Tây vừa khuất quạ vầng

phương Đông thỏ ngọc đã ngang đỉnh đồi

trước sau có một mình tôi

nghe như có tiếng đất trời gọi nhau.

xut thiền lặng lẽ giây lâu

lá xanh rèm liếp bên lầu sáng trăng

sông xưa thuận nẻo dương trần

gió theo tám hướng, lòng không bận về.

Cái ô ram

nhiều người ở trại Xông La [1]

hoặc ở Xí Khíu hay là Liễm Xinh [2]

bởi chưng hải tặc hoành hành

bạc tiền mất hết thân hình xác xơ

ly tiền đâu mua tem thơ

để mà liên lạc cậy nhờ thân nhân

Ô Ram một cái năm đồng [3]

chy lui chạy tới vẫn không có tiền

nhắn với Phật tử dưới trên

cùng nhau đóng góp của riêng ít nhiều

nhịn ăn, bớt chút chi tiêu

sao cho mua được thật nhiều Ô Ram

gi về các trại Thái Lan

công đức vô lượng còn đang đợi người.

Đây là một bài thơ kêu gọi Phật tử đóng góp để mua aérogramme tặng cho đồng bào tị nạn tại các trại Songkhala, Sikkiu, Leam Sing và N.W.9 tại Thái Lan, đăng ở các báo Phật giáo Việt Nam (Los Angeles) và Hoằng Pháp (Paris). Ô-ram là tiếng của đồng bào tị nạn dùng để gọi aérogramme, thư máy bay nhẹ, giá năm bath một cái. Nhiều đồng bào tị nạn tới được bến với hai bàn tay trắng bởi vì tất cả tiền bạc áo quần và vật dụng đáng giá đều bị hải tặc lấy hết; muốn có một cái “ô-ram” để viết thư cầu cứu với bạn bè thân nhân ở nước ngoài mà “chạy lui chạy tới vẫn không có tiền”. Tại Phái đoàn Phật giáo Việt Nam, chúng tôi nhận được rất nhiều thư của đồng bào tị nạn từ các trại Thái Lan, Mã Lai Á và Nam Dương, nói rõ tất cả những khổ cực và gian nguy của những chuyến đi lánh nạn. Với sự góp sức của giới bạn hữu của Phái đoàn, trong những năm qua, chúng tôi đã giúp được một số đồng bào tị nạn từng lâm vào những tình cảm ngặt nghèo éo le nhất, bằng cách gửi tặng những số tiền nho nhỏ. Anh em trong Phái đoàn nhịn ăn mỗi tuần hai bữa chiều để biểu lộ tình liên đới và góp vào quỹ cứu trợ. Chúng tôi cũng đã in và gửi đến các trại những sách Đàm thoại Anh – Pháp – Việt để đồng bào học thêm sinh ngữ.

Bài “Cái Ô Ram” làm tôi nhớ tới bài thơ của Tản Đà đăng báo để quảng cáo văn phòng lý số Hà Lạc của ông tại Hà Nội, sau khi báo An Nam đình bản, thi sĩ đói và phải trở nghề bói số cho độc giả. Tôi nhớ mấy câu sau đây:

Nguyễn Khắc Hiếu Tản Đà

nay mai sắp ở Hà

Hà Lạc đoán Lý Số

đàn ông và đàn bà…

gần xin đến hỏi,

thơ gởi, người ở xa

còn như tiền đặt quẻ

nhiều 5, ít có 3 ($)

nhiều ít tùy ở khách

hu bạc, kể chi mà!

Không biết bài “Cái Ô Ram” có thành công hơn bài quảng cáo Số Hà Lạc của Tản Đà không? Và các báo Phật giáo Việt Nam Hoằng Pháp có thu được nhiều tiền để mua aérogramme tặng người tị nạn không? Tôi phải hỏi thăm thầy Mãn Giác (Los Angeles) và thầy Giác Hoàn (Paris) mới được. Nhân nói chuyện về danh từ “ô-ram”, tôi nhớ lại một danh từ khác cũng được đồng bào dùng rất nhiều tại các trại. Đó là danh từ “áp-ru”. Áp-ru tức là được một nước chấp nhận cho đi định cư tại nước của họ. Tiếng Anh là approved. Những lần đầu đọc thư đồng bào chúng tôi không hiểu. Nhưng sau đó chúng tôi hiểu, và từ đó danh từ áp-ru cũng được chúng tôi dùng với nhau trong văn phòng để có cảm giác gần gũi với đồng bào tị nạn các trại.

[1] Trại tị nạn Songkhla, Thái Lan.

[2] Trại tị nạn Sikkhiu và trại Leam Sing, Thái Lan.

[3] Năm đồng tiền Thái thời đó bằng 0,25 Mỹ kim hay 1,25 quan Pháp.

Mây trắng thong dong

nhớ thuở xưa – khi ngươi còn là đám bạch vân bay thong dong

ta theo nguồn múa ca đi về đại dương mênh mông.

ngươi lưu luyến chốn đỉnh cao, lắng tiếng reo cười ngàn thông

ta nhấp nhô trên sóng bạc, lên xuống vào ra muôn trùng

kịp đến khi thấy trần gian quằn quại lệ chảy thành dòng

thì ngươi biến thành mưa, nhỏ giọt tuôn tràn đêm đông

y đen mịt mờ một phương chừ, mặt trời hấp hối

ngươi gọi ta về, cùng nhau giăng tay nổi trận cuồng phong.

lòng thảnh thơi đâu, khi hoa ngàn cỏ núi còn rên siết hận bất công,

ngươi đưa hai tay thiên thần, quyết tâm tháo bỏ cùm gông.

trong khi bóng tối phủ đầy, họng súng đen ngòm bạo lực

xương dồn thành gò cao chừ, trong khi máu đã chảy dài thành sông

 

hai bàn tay ngươi giập nát, thương ôi, xích xiềng vẫn chưa tháo được,

ta gọi sấm sét về bên ngươi, quyết cùng bạo lực mở cuộc thư hùng.

gan dạ hơn người, trong đêm ngươi hóa thành Sư Vương rống lớn

hàng vạn loài ma quái nghe ngươi, đã cầm cập run trong đêm sương

hiên ngang không lùi bước chừ, dù phía trước dày đặc hầm chông,

ngươi thản nhiên đưa mắt nhìn bạo lực chừ, như nhìn vào khoảng không

Sống Chết là chi chừ, ép uổng nhau sao được?

ngươi gọi tên ta mà cười chừ, không một lời rên siết, dù tra tấn cùm gông

y giờ thoát đi, xiềng xích chẳng còn buộc nổi chân thân,

ngươi trở về kiếp xưa mây trắng, thảnh thơi trên bầu trời mênh mông;

Đến, Đi tự ngươi – đỉnh cao nào thích thú thì ngươi dừng lại,

cưỡi trên sóng bạc đầu chừ, ta hát ru ngươi khúc hát bi hùng.

Nguyệt san Phật giáo Việt Nam xuất bản tại Los Angeles, Hoa Kỳ do thầy Mãn Giác chủ trương đã in bài này trong số đặc biệt Mây trắng thảnh thơi bay kỷ niệm Thích Thiện Minh (số 18 và 19, tháng 12 năm 1979). Thầy Thiện Minh là một trong những vị cao tăng Việt Nam hiện đại, đã từng đóng góp lớn lao cho phong trào phục hưng Phật giáo từ 1949 đến 1974. Là một người túc trí và can trường, Thầy đã từng bị ám sát và sau đó bị chính quyền ông Nguyễn Văn Thiệu kết án mười lăm năm khổ sai, sau đó lại bị chính quyền Hà Nội giam giữ trong trại học tập và cuối cùng đã bị bức tử vào ngày 18 tháng 10 năm 1978.

Tại Pháp, thầy Nhất Hạnh được điện báo về hung tin này ngày 21 tháng 10 năm 1978; Thầy đã chỉ thị cho chúng tôi trong Phái đoàn làm ngay một bản tin gửi tới các hãng thông tấn quốc tế tại Paris. Bài thơ được làm ngay tối đó.

Trong tờ Phật giáo Việt Nam in tại Los Angeles, những chữ ngươi đã được in lầm thành chữ người vì vậy hùng khí của bài thơ bị giảm đi khá nhiều. Nay xin trích lại theo nguyên văn trong Dấu chân trên cát.