Be Happy

Chị Thu Hằng là một người Việt sống ở Thuỵ Sĩ. Chị đã đến Làng Mai thực tập trong tuần vừa qua (27/2-5/3/2026), với chủ đề của khoá tu là “Nghệ thuật thư pháp”. BBT đã có buổi ngồi trò chuyện với chị. Dưới đây là phần tường thuật tóm tắt buổi trò chuyện. Kính mời đại chúng cùng tham gia vào không gian của buổi chuyện trò thân mật này.

 

BBT: Chào chị. Cảm ơn chị đã nhận lời ngồi chơi với BBT. Trước tiên xin được hỏi nhân duyên gì đã đưa chị đến với Làng ạ?

 

Chị Hằng: Dạ nói về nhân duyên, thực ra mình nghe đến Làng Mai rất nhiều dù không nhớ rõ lần đầu tiên là khi nào. Chỉ biết là nghe rất nhiều, từ dì, từ cháu, mọi người đi Làng Mai rất nhiều mà mình thì biết vậy thôi. Thế rồi một lần không hiểu nhân duyên đưa đẩy thế nào khi thấy tên Làng Mai trên mạng xã hội, bỗng chốc trong mình có thôi thúc muốn đi. Vậy là mình rủ một cô bạn đi cùng và đến Làng ở một tuần. Nói chung rất là thích, rất nhiều cảm nhận. Từ đó mình luôn có mong muốn quay lại Làng Mai. Cái thôi thúc rất đơn giản là muốn quay lại để được gặp các Sư cô, và gặp lại cộng đồng (tăng thân tu tập).

 

BBT: Ấn tượng ban đầu hoặc là điều gì chị thấy ấn tượng nhất khi tới Làng ạ?

 

Chị Hằng: Hôm đó ông xã đưa mình tới bằng ô tô. Đi một quãng đường dài, và ngay khi bước chân qua cánh cổng của Xóm Mới, tự nhiên mình cảm nhận một nguồn năng lượng gì đó khó tả lắm. Nó tràn ngập trong mình và mình cảm thấy có một cái gì đó rất kỳ lạ như cảm giác trở về nhà. Trở về với một điều gì rất thiêng liêng. Đó là ấn tượng đầu tiên. Sau đó có một Sư cô tới hỏi: “Cô ăn gì chưa? Mời cô vào ăn cơm!” Thế là mình “dạ dạ vâng vâng” rồi theo vào. Không hiểu sao lúc đó mình lại không bảo ông xã cùng vào. Chắc vì mình cứ nghĩ là mình đi vào một chốn tu hành, rất là khổ hạnh. Đến lúc vào thấy đồ ăn ngon quá, xong cứ tiếc mãi, không bảo ông vào trước khi ông đi đường dài trở về {cười}.

Một tuần ở Làng Mai lần đó, mình được sống trong một thế giới khác. Trước kia trong tâm tưởng của mình khi nghĩ về một chốn tu hành, nó có nghĩa là cái gì đó rất ép xác. Nhưng khi đến đây mình cảm nhận được rất nhiều tình thương, rất nhiều sự hài hước, rất nhiều những gì là cuộc sống đời thường. Nhóm mình đã làm một bài hát, cùng hát với các Sư cô, rồi có cả một Sư cô cũng đánh đàn nữa. Tức là mình thấy không có gì là quá xa cách với cuộc sống đời thường. Có chăng là về đây trong một thế giới mà nó giúp mình có chánh niệm hơn, để tu dưỡng và quay trở lại với chính mình.

 

BBT: Qua hai lần đến Làng, chị có thấy điều gì khác giữa hai lần đó không ạ?

 

Chị Hằng: Hai địa điểm khác nhau, lần trước mình ở Xóm Mới và lần này là Xóm Hạ, nhưng đều có cảm nhận chung là như mình được trở về nhà. Mình ngẫm nghĩ tại sao có một tuần nghỉ lễ thay vì mình có thể đi đến những nơi giải trí, đi bãi biển, đi đánh gôn mà mình lại nghĩ về Làng Mai? Mình đến với Làng Mai lần này trong tâm thế hơi khác lần trước, là một kỳ đi nghỉ thay vì một kỳ đi học. Và thứ hai là, mình đến như kiểu “đi để trở về”. Mình rất thích thú với câu này, nó cứ lui tới trong tâm trí mình. Mình đi đến Làng Mai như là cơ hội được trở về với cội nguồn, được trở về với chính mình, sống với chính mình, cảm nhận chính mình, để thấy rõ hơn mình thật sự muốn gì.

 

BBT: Từ trải nghiệm của một kiều bào sống xa quê hương, chị thấy môi trường tu học của Làng có giúp ích nhiều cho những người cũng có hoàn cảnh như mình không?

 

Chị Hằng: Dạ có chứ. Trong những buổi pháp đàm, mình cũng đặt ra một câu hỏi. Mọi người đến thường có những khổ đau và đến đây để chữa lành, còn mình sao mình thấy mình không có nỗi đau nào cả. Nhưng khi càng nghe, càng nhìn những hiện tượng thì mình nhận ra rất nhiều thứ. Thực ra là mình có, những thứ nó nhỏ, chỗ này chỗ kia tích tụ lại. Những thứ từ môi trường làm việc, khác ngôn ngữ, khác văn hoá, hiểu lầm nhau cho đến trong gia đình, ông xã, trẻ con. Những áp lực từ xã hội rồi khi mình về mình lại xả nó lên cho những người thân, những người xung quanh mình. Bình thường mình không nhận ra, không để ý đến những sự tích tụ này. Khi về Làng, mình có thời gian tĩnh lặng, một tuần ở Làng mình thấy giá trị có thể bằng cả năm vì nó là một khoảng thời gian giúp mình nhìn lại mình và cảm nhận đúng là mình có những vấn đề đang diễn ra như vậy và mình phải xử lý nó như thế nào. Khi mình là một kiều bào, sống xa quê hương, xa môi trường văn hoá của mình, không có nhiều người thân, cha mẹ ở gần, không có bà con cô bác để tâm sự nhiều thì môi trường ở Làng rất hữu ích. Chính một tuần ở Làng giúp mình nhìn lại, giúp cho mình nghe, học hỏi thêm, và để mình trở về hoà nhập vào cộng đồng tốt hơn.

 

BBT: Hay quá! Khoá tu tuần này có chủ đề là “Nghệ thuật thư pháp”. Chị có viết thư pháp nhiều không?

 

Chị Hằng: Thực ra trước đây mình chưa bao giờ viết thư pháp. Nhưng hồi xưa đi học, mình cũng thích viết chữ đẹp. Lần này sang chủ đề này cũng làm mình rất thích thú và viết cũng được khá nhiều.

 

BBT: Có câu thư pháp nào mà chị thấy nó đánh động vào mình nhiều hoặc sẽ mang nó như một hành trang khi trở về?

 

Chị Hằng: Ừm câu hỏi hay ghê!… Thực ra lúc ban đầu, đầu tiên hết mình chọn viết tên mình vì mình muốn để mình trân trọng mình. Mỗi lần viết tên mình, “Hằng”, thì mình nghĩ mình là mình, mình happy, mình có rất nhiều giá trị, mình rất là tốt. Sau đó mình viết tên mình và tên ông xã vì mình rất thương ông xã và cảm thấy rất gắn bó và sau đó lại muốn viết tên các con mình. Và hôm nay, được Sư cô phát cho một tờ giấy để viết cái gì đó mang về làm quà tặng. Mình nghĩ không biết viết cái gì vì có rất nhiều từ đi lên trong mình. “Joy” (niềm vui), “Breathe” (thở), “Calm” (tĩnh lặng),… tất cả những cái đấy đều quan trọng. Cuối cùng mình chọn viết “Be happy”. Be happy với mình có nghĩa là hài lòng, lúc nào cũng mỉm cười với chính mình. Và mình định tặng nó làm quà sinh nhật cho cô con dâu. Vừa là cho mình, vừa là cho cô ấy. Bởi vì cô ấy sẽ treo nó lên và mỗi lần qua thì mình sẽ nhìn thấy. Ví dụ khi mình sang mà mình thấy nhà cửa bừa bộn, cô ấy không chăm sóc tốt cho con mình thì mình cũng happy {cười} bởi vì con mình happy. Mình nhớ hôm trước trong bài pháp thoại Sư cô nói: món quà lớn nhất mà mình để lại cho con cái, cho người thân xung quanh là mình hạnh phúc. Be happy để con mình nó cũng hạnh phúc cùng với mình.

 

BBT: Hay quá! Cảm ơn chị rất nhiều. Chị cười rất là đẹp.

 

Chị Hằng: Vậy ạ? Dạ phải thường xuyên cười hơn. Lần trước mình có mua vài bức thư pháp, tình cờ nhìn lại thấy câu nào cũng toàn là “smile”, tiếng Anh rồi tiếng Pháp. Một bức treo ở nhà, một bức để ở văn phòng làm việc, nhắc nhở mình nhớ cười mỗi ngày. Hy vọng có dịp lại qua Làng, và lần sau có thể rủ thêm ông xã cùng đi. Chắc là ông ấy sẽ rất thích ở đây.

 

BBT: Hy vọng sẽ lại được đón chị cùng anh nhà tiếp tục sang Làng thực tập. Và cũng chúc chị sẽ mang những bình an, hạnh phúc, và những niềm vui và những nụ cười những ngày ở đây về với gia đình cũng như những người thân yêu xung quanh. Cảm ơn chị đã dành thời gian ngồi chuyện trò với BBT.

 

BBT: Dạ cảm ơn Sư cô. Chúc quý Sư cô cũng tiếp tục hành trình của mình vui vẻ và tiếp tục gieo mầm những yêu thương và bình an đến cho mọi người đến đây tu tập.

 

Lễ tưởng niệm Thầy 2026

Tại Tổ đình Từ Hiếu – Ni xá Diệu Trạm:

Tại Tu viện Vườn Ươm, Làng Mai Thái Lan:

Tại Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu, Đức

Tại Tu viện Lộc Uyển, Hoa Kỳ

Tại Tu viện Bích Nham, Hoa Kỳ:

Tại Làng Mai, Pháp:

Tại Tu viện Nhập Lưu, Úc:

Lối ra tuỳ thuộc đường vào nội tâm

 

Tp Hồ Chí Minh, ngày 24/1/2026

Sư Ông thương kính!

Như một người con cháu nhớ về ông bà tổ tiên, những ngày này, càng đến gần ngày giỗ của Sư Ông, con lại nhớ về Người và tăng đoàn Làng Mai. Bất giác hình ảnh Bụt Thích Ca Mâu Ni và tăng đoàn của Bụt hiện lên trong tâm trí con, và con mỉm cười. Những năm trước, khi đến ngày Tiểu Tường, Đại Tường và ngày giỗ Sư Ông, con lại mong được về Chùa Tổ thắp nén tâm hương lên Sư Ông. Nhưng năm nay con sẽ chỉ ở nhà, ngồi yên tưởng nhớ đến Sư Ông. Con sẽ học theo Sư Ông, bày soạn một bàn trà và kính thỉnh Người cùng uống trà với con, kính thỉnh Sư Ông có mặt với con bởi con tin lời dạy của Người: “nếu gọi tên Thầy, con sẽ tự khắc thấy Thầy ngay”.

Con kính thưa Sư Ông, năm 2025 con tự lên công án cho mình – thực tập phá chấp. Ôi chao ơi, ba tháng đầu con hoảng lắm khi con nhận thấy con toàn nhìn thấy người khác yếu kém vụng về trong sự thực tập pháp môn. Thật may mắn, con ngay lập tức nhận ra tâm phán xét của mình đang trồi lên mạnh mẽ, và con thấy mình đang “dán nhãn” khái niệm thực tập, tu tập là phải thế này thế kia. Vậy là con mỉm cười với tâm hành phán xét và tự nói: Dừng lại đi, chưa đủ mệt à! Bạn có thật sự hiểu họ không? Bạn có thực tập tốt đẹp không? – Ồ chưa tốt đẹp, nếu tốt đẹp bạn đã không phán xét họ như thế. Nếu biết thực tập, bạn đã biết thở nhẹ khi tiếp xúc với xung quanh. Và thế là con trở về với hơi thở. Thật khó để theo dõi hơi thở và đi theo hơi thở sau những lần như thế bởi hình ảnh người đó, lời nói của người đó cứ đi lên trong con. Con thấy con có phước đức ông bà tổ tiên đã gieo trồng trong con, và con nhận thấy đó cũng là niềm trông chờ của tổ tiên nơi con. 

Con quay về nương tựa năng lượng của Sư Ông và quý Thầy quý Sư Cô mà tu tập – những lúc ngồi không yên, con nương vào pháp thoại 16 phép quán niệm hơi thở mà Sư Ông đã dạy. Có lúc đang ngồi an yên hạnh phúc, tâm con lại vui chơi rong ruổi chuyện này rồi việc kia; con nhận ra mình đang rơi vào cái bẫy hạnh phúc. Đến khi nghe tiếng Sư Ông nói “nó tốt đừng tìm cách kéo nó tới, nó xấu đừng tìm cách đẩy nó đi – cái đó gọi là nhận diện đơn thuần” thế là con lại đưa tay đặt lên bụng để nhận diện hơi thở phồng xẹp mà đưa tâm về với thân. Con thực tập 16 hơi thở từ lần đầu về Tu Viện Vườn Ươm tháng 6/2022. Tuy đến giờ con vẫn chưa thể thực tập được cả 16 hơi thở trong một lần ngồi thiền nhưng con hạnh phúc lắm bởi con đang thấy con mỗi ngày. Con thấy tập khí đòi hỏi, mong cầu hoàn hảo khiến con thường rơi vào tình trạng bất như ý và gây ra sự bất hòa trong con – con đã học cách mỉm cười với những tập khí của mình và thầm nói “thấy rồi nhé”. Nhớ lời Sư Ông dạy “cởi trói cho tâm” nên con nhắc nhở mình chuyển hóa tri giác sang tùy thuận và tùy duyên. 

 

Một buổi sáng ngồi thiền, con thầm gọi “Sư Ông ơi, Sư Ông ngồi thiền với con ạ” mà không cần phải mở pháp thoại của Sư Ông. Con ngồi an yên được ngay. Thân tâm con nhẹ nhàng và những nụ cười cứ thế đến. Bất giác lòng biết ơn trào dâng và con đã khóc. Trước kia khi đọc câu : “nếu gọi tên Thầy, con sẽ tự khắc thấy Thầy ngay”, con đọc như là một câu văn hay thôi chứ không biết có thật là như vậy hay không, và con cũng chấp vào chữ Thầy ở đây nghĩa là “Sư Ông đang nói với quý Thầy quý Sư Cô – chứ không phải nói với mình, mình phải gọi là Sư Ông chứ không được gọi là Thầy”. Buổi sáng hôm đó thật là một buổi khai thiên lập địa đã đập tan cái chấp trước trong con và hai chữ Phá Chấp đi lên cho con thấy con phải thực tập sâu sắc với tập khí này. Con hạnh phúc nhớ lại hơn 10 năm trước khi nghe Đường Xưa Mây Trắng, con đã học thuộc câu “muôn vật tự duyên sinh lại tự duyên mà diệt, Bậc Giác Ngộ tuyệt vời đã từng như vậy thuyết” nhưng chưa bao giờ biết tùy duyên tùy thuận. Thế là sau buổi ngồi thiền hôm ấy, con nhắc mình nhớ về điều này. Thực tập nó giúp con nhẹ nhàng trong tâm hồn, con đã bớt dần phán xét mỗi khi ngồi pháp đàm hay gặp mặt tăng thân. Con học theo quý Thầy quý Sư Cô tưới tẩm hạt giống lành cho người đối diện – đó cũng là tự tưới tẩm cho mình. Dần dần, cái khuôn mẫu mà con đã đặt sẵn cho người thực tập pháp môn Làng Mai, cho người Tiếp Hiện, cho Ban chăm sóc, cho người đi trước… đã được gỡ ra. Khi nhận ra những cái nhãn mác được tháo rớt xuống rồi, con biết ơn sự thực tập của mình – điều mà trước đây con không bao giờ nhìn đến. Con thường ngại nói về mình, và thấy những điều mình làm không đáng gì – chính điều đó làm con hay có mặc cảm mình làm chưa tốt và từ đó cũng đòi hỏi mình hơn, đòi hỏi người khác nhiều hơn. Bây giờ, con đã biết tùy duyên và tùy thuận hơn rồi ạ. 

Con giữ mình không bị cuốn vào những cuộc tranh luận trong và ngoài tăng thân bằng cách thở và mỉm cười. Mỗi khi thấy mình trong hoàn cảnh của một cuộc tranh luận và nếu tâm phán xét đi lên, con lại thầm nhắc mình nương tựa vào năng lượng của Sư Ông, năng lượng của quý Thầy quý Sư Cô mà thở cho an. Con biết niềm tin của con không phải là sự tôn thờ mù quáng mà dựa trên những kinh nghiệm thực tập những pháp môn Sư Ông để lại và quý Thầy quý Sư Cô trao truyền, dù rằng thực tập để nếm được pháp vị không hề dễ. Những lần đầu thực tập thiền hành, con không đi được. Mỗi bước chân đặt xuống là con loạng choạng muốn té ngã và trong đầu đi lên bao nhiêu điều. Con đã từng căng thẳng đấu tranh nên đi hay không đi, một khóa tu bảy ngày mà hết ba ngày con đấu tranh để bỏ trốn thời khóa thiền hành. Nhưng rồi cuối cùng con vẫn tham gia vào thời khóa. Phước đức tổ tiên đã hun đúc cho con sự dũng mãnh đối diện với nỗi sợ của mình. Con đã tự tập thiền hành một mình và dần dần con cảm nhận được công năng của thiền hành giúp con biết nương tựa Đất Mẹ và cho con thấy Đất Mẹ không phải chỉ là mảnh đất con đang sống, đang đi. Từ đó, thời khóa thiền hành không còn làm khó được con, nay con đã biết thiền hành trong cuộc sống, trong công việc. Con biết ơn quý Thầy quý Sư Cô đã chỉ điểm cho con trong từng giai đoạn phù hợp với tâm hành, căn cơ của con. Thấy được điều đó, con nhận ra rằng quý vị đã tu học chân chính và quán chiếu sâu sắc để có thể tùy duyên mà hóa độ nhân gian. Bất giác con cười với chính mình khi thấy mình cũng là một chúng sinh can cường nhờ ơn Bụt Tổ, nhờ ơn Sư Ông và ơn quý Thầy quý Sư Cô mà con được giáo hoá, con được học thở học cười, học hiểu học thương, và niềm thương kính Sư Ông, thương kính quý Thầy quý Sư Cô dâng lên trong con. 

Nhờ giữ sự thực tập hàng ngày không chỉ trong thời khóa công phu mà ngay trong lúc làm việc, khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi ăn, khi nói chuyện, con nhận thấy pháp môn nhẹ nhàng nhưng không dễ để duy trì được chánh niệm. Đôi khi người ta chưa thực tập được bao nhiêu, mới nghe thôi thì thấy dễ dàng lắm. Một lần, có người gửi cho con những clip người ta bài xích về Sư Ông, về pháp môn và tăng thân Làng Mai và khuyên con nhìn lại niềm tin của mình. Con nhận thấy tâm con bất động và vững chãi lắm. Con không giận họ, cũng không lo sợ hay có bất cứ một chút mặc cảm nào. Con mỉm cười với con và nói với em ấy: chị tu học pháp môn Làng Mai vì thấy phù hợp với chị, pháp môn giúp chị có khả năng nương tựa vào chính mình, biết khởi niệm thương trước những hoàn cảnh của người lạ dù là họ ghét hay thương mình, chị không tôn thờ và cũng không theo Làng Mai vì sự nổi tiếng của Sư Ông… Thế nhưng con cũng nhận thấy mình đang rơi vào cái bẫy giải thích.  Thế là con dừng lại, không nói nữa, chỉ thở thôi để cho em ấy có thể nói ra hết những gì em ấy muốn nói. Hơn một tiếng đồng hồ duy trì hơi thở, nụ cười, và thỉnh thoảng con chỉ nói “thế à, vậy hả”. Cuối cùng em ấy bảo: chỉ có những người thực tập pháp môn Làng Mai mới có thể ngồi yên lắng nghe mà không ngắt lời, tranh cãi, nhưng hiện tại em thấy chưa phù hợp với em… Con nói cảm ơn em đã nói ra và cho mình cơ hội được nghe em nói. Sau buổi nói chuyện đó, con nhận ra mình đã tiến bộ trong công trình phá chấp. Bởi trước đó, con cũng cho pháp môn mình đẹp và hay hơn pháp môn khác. Và tuy không nói ra nhưng con nhận thấy trong tâm mình đã muốn em ấy thực tập pháp môn mình nên mới xảy ra cuộc tranh luận này chứ không phải vô cớ mà vậy. Từ đó con tập mở lòng ra nghe về pháp môn khác mà không phán xét. Con cũng hiểu được lời dạy của Sư Ông về bảo vệ tăng thân bằng sự thực tập có phẩm chất của mình chứ không phải bằng tranh luận. 

Con nguyện thực tập để có thể duy trì chánh niệm trong mỗi lời nói việc làm của con, để không phụ ân đức Sư Ông và tăng thân và cũng để nuôi dưỡng các đức Từ – Bi – Hỷ – Xả trong con, để con có thể là một sự tiếp nối đẹp mà làm giàu thêm gia tài do Sư Ông để lại.

Con, 

Nguyên Diệu Hiền – Chân Đức Như 

Cùng đi trên đường vui

Sư cô Chân Đức

Sư cô Chân Đức là vị đệ tử xuất gia Tây phương đầu tiên của Sư Ông Làng Mai. Sư cô là người Anh, được Sư Ông làm lễ xuất gia và truyền giới Tỳ kheo ni vào năm 1988 tại núi Linh Thứu. Sư cô từng được Sư Ông cử làm Khoa trưởng phụ trách thực tập (Dean of Practice) tại  Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu (EIAB), Đức, trong nhiều năm. Dưới đây là những dòng tâm tình mà Sư cô muốn gửi đến các bạn Tiếp Hiện trẻ, được dịch từ nguyên bản tiếng Anh. 

 

Các bạn Tiếp Hiện trẻ thân mến,

Chúng tôi, thế hệ Tiếp Hiện đi trước, biết các bạn đang có đó và chúng tôi cảm thấy rất hạnh phúc! Chúng tôi cần các bạn. Nếu có thể yểm trợ được chút gì cho các bạn, chúng tôi rất sẵn sàng. Các bạn có biết tại sao chúng tôi hạnh phúc khi biết các bạn đang có đó không? Đó là vì năng lượng trẻ trung và khả năng đem từ bi vào hành động một cách sáng tạo của các bạn. 

Một số bạn ở Hoa Kỳ đã rất sẵn sàng yểm trợ hai vị giáo thọ Chân Đại Âm (Larry Ward) và Chân Bản Nguyên (Peggy Rowe Ward) đến Làng Mai tham dự khóa tu dành cho các vị Tiếp Hiện vào tháng Sáu 2026. Giờ đây, anh Chân Đại Âm không còn có mặt với chúng ta qua hình tướng quen thuộc nữa, nhưng không vì thế mà anh không thể tham dự khóa tu ấy với chúng ta. Tâm nguyện sâu sắc của các bạn về lòng bao dung và không kỳ thị chính là sự tiếp nối của anh. 

Ở châu Âu và châu Á, những ai đã từng làm việc với giáo thọ Chân Đại Tuệ (Hà Vĩnh Thọ) cũng sẽ tiếp tục nuôi dưỡng tâm nguyện của anh, đó là: làm sao cho Tổng chỉ số Hạnh phúc Quốc gia trở thành thước đo cho mọi việc chúng ta làm, và những thầy cô giáo hạnh phúc có thể làm thay đổi thế giới. Nếu các bạn có mặt trong khóa tu tháng Sáu năm 2026, các bạn cũng sẽ mang theo tâm nguyện ấy. 

Các bạn Tiếp Hiện trẻ thân mến, các bạn có biết những nguyên tắc hướng dẫn chúng ta trong khi phụng sự, học tập, tu tập và thư giãn là gì không? Các nguyên tắc ấy là:

– Phá chấp (破執)

– Khế cơ (契機)

– Thực nghiệm (實證)

– Phương tiện (方便)

Phá chấp

Phá chấp có nghĩa là chọc thủng bức màn của kiến chấp – cách ta nhìn sự việc, sự vật và quan niệm của chính ta. Nó cũng có nghĩa là ta luôn mở lòng để học hỏi những điều mới mẻ. Để làm được như vậy, ta cần tập luyện để có khả năng lắng nghe sâu, nhất là lắng nghe những người mà ta có quan điểm bất đồng. Ta không tranh cãi đúng sai về những điều lặt vặt. Ví dụ, có người nói: “Chủ nhật tuần trước Sư cô Hội Nghiêm cho pháp thoại”, và ta nói: “Hình như là Sư cô Lăng Nghiêm cho”. Tới đây, ta nên dừng lại. Đừng nên tiếp tục chứng minh là ta đúng. Ta chấp nhận có những khác biệt trong tri giác của mình. Tại sao ta lại phí thì giờ và năng lượng để cãi vã về những chuyện nhỏ nhặt? Ta có thể tự nhủ: “Ồ, có thể mình sai”. Dĩ nhiên, nếu đó là một việc quan trọng, liên quan đến chuyện sống chết, ta cần cố gắng giải thích cho người kia hiểu vì sao ta lại có tri giác ấy, bằng phương tiện đối thoại từ bi.

Khế cơ

Đối thoại từ bi gắn liền với sự khế cơ. Khế cơ liên quan đến cách ta chia sẻ giáo pháp của Đức Thế Tôn cũng như những lời dạy của Sư Ông Làng Mai với người khác. Ta tự hỏi mình: “Có phải đây là thời gian và nơi chốn thích hợp để nói pháp hay không? Giáo pháp ta chia sẻ có đáp ứng nhu cầu và hạnh nguyện của những người trong thính chúng hay không?”. Trước khi chia sẻ, ta nên tìm hiểu thính chúng. Người dân ở nước đó hiện đang trải qua những khó khăn hay khổ đau nào?

Thực nghiệm 

Thực nghiệm nghĩa là ta phải có sự chứng nghiệm trực tiếp trong việc áp dụng giáo pháp. Khi tán dương pháp, ta dùng từ ehipassiko, nghĩa là đến để mà tự thấy một cách trực tiếp tính chân thực và hiệu nghiệm của giáo pháp. Người khác có thể chỉ mặt trăng cho ta, nhưng ta phải tự mình nhìn thấy mặt trăng mà không bị kẹt vào ngón tay chỉ mặt trăng. Ta dựa vào Tam học (Niệm – Định – Tuệ) để chứng nghiệm sự thật. Điều này cũng có nghĩa là ta cần áp dụng một cách tinh tấn các pháp môn thiền thở, thiền đi, và làm tất cả mọi hoạt động khác trong chánh niệm suốt cả ngày.

Phương tiện quyền xảo

Phương tiện quyền xảo bắt nguồn từ ước nguyện giúp người bớt khổ và làm cho thế giới này có thêm an lạc. Ta hành động không chỉ bằng trí năng, mà còn bằng trái tim và trực giác của mình. Và để có thể kiểm nghiệm lại trực giác ấy, ta luôn cần những thiện tri thức – những người bạn đồng tu tinh tấn – giúp ta thấy những phương tiện mà ta đang dùng để truyền trao giáo pháp có thật sự là thiện xảo hay không.

Ban Tiếp Hiện Thanh niên và Ban Tiếp Hiện Cao niên

Có những lúc các bạn Tiếp Hiện trẻ tuổi muốn cùng tu tập với chúng tôi – những người Tiếp Hiện trung niên hoặc cao niên, và cũng có những lúc các bạn cần tự lực trong việc chia sẻ về những vấn đề liên quan trực tiếp đến độ tuổi của các bạn. 

Lý tưởng nhất là Dòng tu Tiếp Hiện thành lập một Ban Tiếp Hiện Thanh niên song song với một Ban Tiếp Hiện Cao niên. Chúng tôi mong sẽ có một vài bạn sẵn sàng đứng vào trong Ban Tiếp Hiện Thanh niên để làm việc sát cánh với các thành viên cao niên. Được như thế, chúng ta sẽ có nhiều năng lượng sáng tạo hơn khi đổi mới các quy chế của Dòng tu.

Tiếp Hiện 

Trong tiếng Việt, Tiếp (接) có nghĩa là tiếp nhận, tiếp xúc, tiếp nối. Ta tiếp nhận sự trao truyền từ tổ tiên huyết thống và tâm linh. Chúng ta là con cháu của tông Lâm Tế và phái Liễu Quán. 

Tổ Liễu Quán đã làm cho giáo pháp của Tổ Lâm Tế trở nên khế cơ, khế lý trong thời đại của ngài ở miền Trung Việt Nam. Ngày nay, chúng ta cũng muốn tiếp tục làm cho giáo pháp ấy trở nên khế cơ, khế lý trong thời đại và nơi chốn mà chúng ta đang sống.

Tổ Lâm Tế đã không bị kẹt vào hình thức của sự thực tập. Thay vì nương vào một vị Bụt ở bên ngoài, Tổ muốn ta nương vào bản tính tỉnh thức có sẵn nơi tự tâm của mỗi người bằng cách sống sâu sắc trong giây phút hiện tại, qua bất kỳ việc gì mà chúng ta làm. Sư Ông Làng Mai đã nhắc chúng ta rất nhiều lần câu nói của Tổ: ”Phép lạ là đi trên mặt đất” (địa hành thần thông).

Chữ Hiện (現) có nghĩa là hiện tại, hiện pháp, thực hiện và hiện đại hóa. Ta phải có khả năng tiếp xúc với thực tại và thực chứng được giáo pháp. Ta tiếp nối sự trao truyền từ tổ tiên tâm linh và làm cho giáo pháp trở nên phù hợp với thời đại của chúng ta.

Trong tiếng Anh, nghĩa của chữ Order of Interbeing không giống với nghĩa của chữ Tiếp Hiện trong tiếng Việt. Vì vậy, các bạn không nói tiếng Việt cần học nghĩa của hai chữ Tiếp Hiện trong tiếng Việt. Bên tiếng Anh, ta không thể tìm từ tương đương để dịch một cách chính xác được. 

Sư Ông Làng Mai sáng tạo ra từ interbeing (tương tức) vào năm 1983, trong một khóa tu tại trung tâm Thiền tập Tassajara ở California, Hoa Kỳ. Sư Ông giải thích rằng tương tức nghĩa là ta không thể nào tồn tại một cách biệt lập và cũng không thể làm cho bất cứ cái gì có mặt một cách biệt lập. Chúng ta có trong nhau, chúng ta là nhau. Tương tức – con đường Trung đạo giữa không, đã trở thành một trong những trụ cột của giáo lý mà Sư Ông trao truyền. 

Là thành viên của dòng tu Tiếp Hiện, chúng ta cần ý thức rằng tương tức không phải là một lý thuyết. Ta cần chứng nghiệm giáo lý tương tức trong đời sống hằng ngày, trong cách ta liên hệ với nhau và với cuộc đời. 

Hy vọng nhiều bạn Tiếp Hiện trẻ sẽ có thể đến Làng Mai vào tháng Sáu 2026 để mừng 60 năm thành lập dòng tu Tiếp Hiện. 

 

 

Có mặt đích thực cho sự sống

(Phỏng vấn thầy Pháp Ấn)

Thầy Pháp Ấn là một sư anh lớn trong tăng thân Làng Mai, và hiện là Viện trưởng Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) tại Đức. Ban Biên Tập (BBT) đã có dịp ngồi chơi và lắng nghe thầy chia sẻ về đạo Bụt ứng dụng, hạnh nguyện của Sư Ông trong việc xây dựng EIAB, cũng như kinh nghiệm tu học của chính thầy. Dưới đây là phần trích từ buổi chia sẻ ấy.

 

Nền tảng của hành động

BBT: Thưa thầy, giữa bối cảnh bất ổn về chính trị, xã hội, kinh tế và môi trường trên toàn cầu, nhiều thành viên Tiếp Hiện mong muốn dấn thân để góp phần tạo nên sự thay đổi trong xã hội, nhưng đồng thời cũng dễ cảm thấy tuyệt vọng trước thực tại đầy bạo động và chia rẽ. Theo thầy, làm thế nào để một vị Tiếp Hiện có thể dấn thân mà vẫn giữ được sự vững chãi và một trái tim rộng mở?

Thầy Pháp Ấn (PA):  

Một tháng trước, PA cũng có một buổi trò chuyện cùng với tăng thân Tiếp Hiện bên Ý. Họ cũng đặt câu hỏi tương tự. 

Trong đạo Bụt dấn thân, mọi hành động cần dựa trên nền tảng của bình an và thương yêu. Mỗi hành động của ta đều tác động đến mạng lưới sự sống rộng lớn. Vì vậy, khi muốn hành động vì hòa bình, ta cần tự hỏi: mình đang đứng trên nền tảng nào? Nền tảng của bình an và lòng từ bi trong chính ta? Điều này không có nghĩa là ta phải hoàn toàn bình an mới được hành động, nhưng ta cần quán chiếu động cơ của mình.

PA nhớ ngày xưa khi được tham dự một khóa tu do Sư Ông hướng dẫn ở bên Mỹ cho những người làm trong lĩnh vực thi hành luật (law enforcement) – như luật sư, thẩm phán, quản giáo, và nhiều người làm việc liên quan đến tội phạm trong xã hội. Cuối khóa tu có một anh cảnh sát hỏi: Nếu có một người đang cầm súng bắn vào người dân vô tội, mình phải làm sao với vai trò một người bảo vệ an ninh xã hội? Nếu không bắn anh ta thì người dân sẽ chết, vậy phải làm sao?

Trong câu trả lời, Sư Ông nói rằng chắc chắn là mình phải hành động. Mình không thể ngồi yên khi chuyện đó xảy ra. Nhưng mình phải hành động dựa trên căn bản của tình thương, nghĩa là mình thương cả hai: người đang bắn súng và những nạn nhân. Vì người đang bắn súng cũng là người đau khổ. Chỉ khi nào trong lòng có quá nhiều khổ đau, tràn ngập đến mức mờ mắt, người ta mới có thể nhẫn tâm bắn người khác. Không có khổ đau thì không ai có thể làm như vậy.

Cho nên trước tiên, mình phải tập nhìn để thấy được nỗi khổ của cả hai bên. Khi mình có tình thương, và hành động dựa trên tình thương, thì tự nhiên mình cũng giảm thiểu được khổ đau. Mình có thể phải nổ súng, nhưng nổ súng như thế nào đó để không phải là giết người, mà là giảm thiểu khổ đau tối đa. Ví dụ bắn vào tay, vào chân, hoặc bộ phận nào để người đó ngã xuống và không tiếp tục gây hại nữa. Căn bản của hành động phải là tình thương, chứ không phải phản ứng từ một nền tảng bạo động. Điều đó rất quan trọng.

Khi dấn thân trong bối cảnh xã hội hiện nay, mình cần làm tất cả trong khả năng của mình. Ngày xưa, Sư Ông đi kêu gọi hòa bình vì hoàn cảnh lúc đó khác: thế giới gần như không biết gì về chiến tranh Việt Nam, không biết tình trạng tại Việt Nam, xã hội lại rối loạn. Còn bây giờ là thời đại thông tin, thông tin tràn ngập và nhiễu loạn khiến mình không biết đâu là sự thật.

Trong mỗi hoàn cảnh, mình vẫn hành động, nhưng theo các cách khác nhau. Ví dụ như khi chiến tranh giữa Nga và Ukraine bùng nổ, PA đã viết thư cho Tổng thống Zelensky và cho Tổng thống Putin, xin hai vị cùng nhìn lại. Ngoài ra, PA còn gửi kèm DVD về cuộc đời Sư Ông và một lá thư ngỏ kêu gọi hai bên dừng lại, chấm dứt cuộc chiến, đừng tạo thêm khổ đau. Đó là những gì trong khả năng mà PA có thể làm.

Dĩ nhiên mình có quyền lên tiếng. Đi diễu hành, đi biểu tình cũng để tạo áp lực chính trị lên các nhà lãnh đạo. Nhưng hiện nay chính trị thế giới vô cùng phức tạp, liên hệ chặt chẽ toàn cầu. Tất cả gắn với nhau trong một mạng lưới rất phức tạp.

Trong hoàn cảnh như vậy, với tư cách một tăng thân, mình cần đóng góp bằng năng lượng tu học, chia sẻ cho mọi người cách chế tác bình an. Khi tâm lắng xuống, mình mới có thể tìm được giải pháp hay nhất để góp phần chấm dứt chiến tranh.

Hay ví dụ như ngay sau khi nhận được tin về xung đột Israel và Palestine, khi đó PA đang có khóa tu tại Tyrol, nước Áo. PA đã cho nhiều bài pháp thoại trong khóa tu đó xoay quanh việc làm sao thực tập bình an trong một xã hội đầy khủng hoảng.

Sau đó, khi đến Sicily, Ý, PA viết một lá thư gửi Tổng thống Biden, kèm theo bản chép lại toàn bộ pháp thoại của khóa tu về thực tập bình an, và kêu gọi chính quyền Mỹ tìm mọi cách chấm dứt chiến tranh giữa Israel và Palestine càng sớm càng tốt, cũng như đem thực phẩm cứu trợ vào khu vực Gaza. Mình tìm cách gửi thư và hồ sơ đó qua Tòa Đại sứ Mỹ tại Việt Nam.

Tòa đại sứ Mỹ ở Việt Nam còn gọi điện mời PA tới chia sẻ một bài pháp thoại ngay tại tòa đại sứ và muốn tổ chức một ngày quán niệm cho nhân viên, vì tình hình lúc đó rất khủng hoảng. Nhưng lúc ấy PA đang ở Ý nên không về được. PA nhờ họ chuyển lá thư và toàn bộ hồ sơ — hơn mười trang — đến Tổng thống Biden.

Khi hành động như một người Tiếp Hiện, điều quan trọng nhất là nuôi dưỡng lòng từ bi thật lớn, đủ lớn để ôm trọn cả hai phía: bên nạn nhân và bên gây khổ đau. Mình giúp họ đi đến hòa giải. Đó là con đường của đạo Bụt: bất bạo động và hòa giải, không đứng về phe nào.

 

Là một với sự sống

BBT: Thưa thầy, trên hành trình dấn thân, có khi nào thầy thấy nản lòng không? Khi rơi vào những thời điểm như vậy, điều gì đã giúp thầy khơi lại ngọn lửa và tiếp tục đi tới cho đến hôm nay?

Thầy Pháp Ấn:
Thật ra nói nản lòng hay không, thì PA không có chuyện đó. Với PA, tất cả các pháp đều do duyên sinh. Sự thực tập của mình là có mặt trọn vẹn trong giờ phút hiện tại. Khi thật sự có mặt, mình tự biết cái gì nên làm và cái gì không. Đó là thực tập căn bản. Công việc đến thì làm thôi, không phân biệt lớn hay nhỏ, không so đo tính toán. 

Nhưng trong chiều sâu, bản chất của PA là người thích ở yên. Không phải kiểu một vị Bồ Tát xông xáo đâu. Thật ra PA thích nghiên cứu, đào sâu con đường tâm linh, kinh điển. Nhưng việc cần làm thì vẫn làm.

Tánh PA là đụng chuyện thì làm: rửa chén cũng làm, đào đất cuốc cỏ cũng làm. Điều quan trọng là có mặt đích thực cho sự sống. Sự sống đến thì mình đáp ứng. Khi mình thật sự có mặt, mình biết mình cần làm gì, không nên làm gì. Tâm của người Bồ Tát là tâm thương yêu và phụng sự, và khi có mặt thật sự, tình thương tự biểu hiện thành hành động. 

Ví dụ thấy một đứa bé té. Nếu mình có mặt, tình thương phát khởi ngay và khiến mình hành động. Nếu mình không thật sự có mặt, mình sẽ dửng dưng. Sự thực tập của mình là trở thành một với sự sống trong giây phút hiện tại. Khi sống được như vậy, mình tự biết phải hành động thế nào.

Chuyện đi qua Đức để thành lập Viện Phật học cũng vậy. Lúc đó, tu viện Bát Nhã còn chưa yên; tài chánh thì không, nhân sự thì thiếu, giáo thọ cũng không có. Thành lập một Viện Phật học – Viện Phật học Ứng dụng châu Âu – đâu phải chuyện nhỏ. Viện Phật học không chỉ cho Đức hay Pháp, mà là của cả châu Âu. Nếu mình là người có trách nhiệm, nghe cái tên đó cũng phải suy nghĩ chứ. PA có thưa với Sư Ông nhiều lần: “Con nghĩ bây giờ khoan làm đã, mình phải dồn sức cho Bát Nhã, cho Việt Nam trước”.

Nhưng Sư Ông có cái thấy của Sư Ông. Rõ ràng, nếu Sư Ông muốn thực hiện Viện Phật học đó mà không làm ngay thì đâu biết đến khi nào mới thực hiện được, cuộc đời rất vô thường. Thành ra Sư Ông quyết định phải làm. Là đệ tử, bổn phận của mình là trình bày cái thấy và đóng góp ý của mình. Nhưng Thầy Tổ quyết định sao thì mình đi theo vậy. PA chưa từng có ý chống đối hay không yểm trợ Sư Ông. Nhiệm vụ của người học trò là nói lên cái thấy thật của mình. PA nói với Sư Ông: “Đó là những gì con suy nghĩ, và con biết cái thấy của con còn thiển cận. Sư Ông có cái thấy khác. Nhưng Sư Ông quyết sao thì con yểm trợ hoàn toàn”. 

Mùa hè 2008, bữa đó ở cốc Ngồi Yên, Sư Ông gọi thị giả mời PA vào. Đó là tuần cuối khóa tu mùa hè. PA còn nhớ rất rõ: Sư Ông ngồi tựa lưng vào cửa sổ – chỗ bây giờ mình đặt bàn thờ Bụt. Sư cô Chân Không hỏi đi hỏi lại: “Thầy Pháp Ấn, thầy có chắc chắn là thầy chịu qua Đức để làm Viện Phật học không?”. PA thưa: “Con thì cái gì cần nói con nói thôi. Sư Ông dạy thì con làm, con không có vấn đề gì hết”. 

Sư Ông nói: “Thôi, về chuẩn bị đi. Tháng sau qua Đức. Bây giờ thầy đi mở khóa tu ở Ireland (Ái Nhĩ Lan). Khi về sẽ ký giấy tờ mua chỗ đó. Con chuẩn bị sang Đức”. 

Khi PA sang tới nơi, tối hôm đó Sư Ông dạy sư cô gọi điện hỏi: “Pháp Ấn thấy tòa nhà lớn vậy có sợ không?” PA chỉ cười. Thật ra mình làm vì tăng thân. Tất cả tăng thân gom tay gom sức, đâu phải vì một cá nhân. Mình cứ làm theo sức của mình. Làm được tới đâu hay tới đó. PA chưa bao giờ đối diện một hoàn cảnh mà có sợ hãi. PA làm được gì thì cứ làm, hoàn toàn không có sợ hãi, vì biết những gì mình làm không phải vì mình, không vì mục đích riêng tư. Mình làm vì tăng thân, vì Sư Ông và vì cuộc đời. Đời người tu là cống hiến cho nhân loại. Vậy thì có gì để sợ? 

 

Đạo Bụt ứng dụng

BBT: Thưa thầy, thầy có thể chia sẻ với chúng con những điều mà Sư Ông gửi gắm khi Sư Ông cử thầy sang EIAB để xây dựng Viện Phật học? 

Thầy Pháp Ấn:
Theo PA hiểu, ngày xưa khi thành lập Viện Đại học Vạn Hạnh, Sư Ông đã xây dựng theo mô hình của phương Tây. Tại Viện Đại học Vạn Hạnh,  sinh viên được học nhiều môn theo các chứng chỉ (credit), trong đó có môn Phật học. Một sinh viên ra trường vừa có kiến thức phổ thông, vừa có kiến thức Phật học.

Sau này, khi sang Tây phương, Sư Ông thấy các chương trình Phật học rất sâu và rất hay. Đến khi về Việt Nam, Sư Ông cũng có dịp đến thăm các Phật học viện ở các thành phố lớn. Sư Ông nhận thấy một hạn chế lớn đó là: sinh viên có thể có kiến thức Phật học, rất giỏi về lý thuyết, thậm chí có bằng tiến sĩ, nhưng không biết cách xử lý những tâm hành buồn giận, khổ đau của chính mình.

Sư Ông nói rằng mình có những trung tâm tu học như Làng Mai, và cũng có những trung tâm nghiên cứu Phật học như ở Berkeley, Oxford; khoảng giữa hai nơi đó, mình cần có một mô hình kết hợp được cả nghiên cứu lẫn thực tập trong đời sống hằng ngày. Đó là lý do Sư Ông muốn thành lập Viện Phật học Ứng dụng châu Âu: một mô hình mới, nơi người học vừa nghiên cứu, vừa hành trì, và đưa đạo Phật vào đời sống thực, chứ không chỉ nằm trên lý thuyết.

PA nghĩ mình đã thực hiện được một phần nào. Ví dụ, những khóa tu cuối tuần được tổ chức tại EIAB: thiền sinh đến vào tối thứ Năm thường với tâm trạng rất mệt mỏi, chán chường, trầm cảm, có vấn đề gia đình, mất hướng đi… Nhưng đến Chủ nhật, khi họ ra về, họ như trở thành một con người khác. Trong suốt 17–18 năm nay, khóa tu nào cũng thành công theo nghĩa: khi họ đi về, họ tươi mát hơn, bình an hơn, hạnh phúc hơn. Đó là ý nghĩa của Viện Phật học Ứng dụng: người bước vào như thế nào không quan trọng; khi bước ra, họ phải là một con người đã chuyển hóa. 

Công trình của Viện Phật học nằm ở hai mặt: 

Thứ nhất là có một tăng thân tu học vững chãi. Tăng thân làm yếu tố nền tảng, để khi thiền sinh đến tu học, họ được tiếp xúc và được thừa hưởng từ nguồn năng lượng vững chãi đó. Vì vậy, PA luôn khuyến khích quý thầy, quý sư cô ra sinh hoạt với thiền sinh: có mặt với họ trong bữa ăn, tham dự thiền hành, làm việc chung, ngồi thiền… để họ thật sự tiếp xúc với tăng thân. Chính cách đi – đứng – nằm – ngồi, cách nói năng, uy nghi của các thầy, các sư cô đóng góp phần rất lớn vào sự chuyển hóa của thiền sinh. Nếu Viện Phật học chỉ là nơi đến học như các trường Phật học khác thì sẽ không thành công, vì thiếu nền tảng tăng thân.

Ở Học viện, mình không tách nội viện – ngoại viện, mà sinh hoạt chung bởi vì hiểu rằng tăng thân chính là nền tảng để giúp thiền sinh thay đổi. Thiền sinh nào cũng chia sẻ rằng: bên cạnh việc học, chính nhờ thấy quý thầy, quý sư cô đi đứng, cười nói nhẹ nhàng mà họ tươi lên, vui lên. Và điều đó chứng tỏ tuệ giác của Sư Ông rất đúng. 

Thứ hai là trong các khóa học, mình phải trao truyền pháp môn và giúp họ hành trì. Và hành trì rất nhiều. Ví dụ trong các khóa học do PA hướng dẫn, họ được yêu cầu giữ im lặng hùng tráng từ 9h30 tối đến sau giờ ăn sáng. Tức là gần 11 tiếng rưỡi. Thêm bữa trưa ăn trong im lặng khoảng 45 phút đến một tiếng; buổi tối lại thêm một tiếng nữa. Tổng cộng khoảng 13 tiếng rưỡi. Rồi ngồi thiền hướng dẫn một tiếng, thiền buông thư nữa. Ở đây thiền sinh hành trì 15–16 tiếng mỗi ngày; chưa kể pháp thoại, pháp đàm nữa thì tới 16–17 tiếng. Trong 24 giờ, 17 tiếng hành trì thì tâm làm sao loạn được. Chắc chắn tới Chủ nhật là tâm yên. Đó chính là Phật học ứng dụng: đem đạo Bụt vào thực tập trong đời sống.

 

Tình thầy trò

BBT: Tới bây giờ, mỗi lần nghĩ đến Sư Ông thì điều gì đi lên trong thầy đầu tiên?

Thầy Pháp Ấn: Cách Sư Ông dạy mình đôi khi rất mạnh, nhưng trong mối quan hệ thầy trò, lúc nào Sư Ông cũng nhẹ nhàng. Làm gì cũng từ từ, nói rất dịu dàng. Đó là hình ảnh đọng lại trong PA nhiều nhất. Còn chuyện bị “ăn gậy” của Thiền sư thì tất nhiên có, nhưng cái đó PA lại không nhớ; hoàn toàn không ở lại trong lòng. Điều PA nhớ là sự nhẹ nhàng nơi Sư Ông, chất giải thoát, thiền vị. Và trong cái thiền vị, cái nhẹ nhàng đó, PA thấy có một tình thương rất lớn.

Làm thầy thì phải dạy học trò, có những lúc phải cứng rắn khi học trò không biết đường đi, phải chỉ cho nó thấy đường. Nhưng trong liên hệ thầy trò, PA luôn cảm nhận được tình thương rất lớn nơi Sư Ông. Tình thương đó không chỉ dành cho riêng PA mà cho tất cả mọi người, cho cả cỏ cây hoa lá. Cách Sư Ông chăm cây, tưới cây, hay nâng niu một cành hoa… mình thấy rõ Sư Ông như thuộc về một thế giới khác — thế giới của những bậc đã giác ngộ, đã giải thoát, đã tiếp xúc được với bản môn.

PA thấy rất khó để tìm được một người có cái thấy và cách sống như Sư Ông. Khó lắm. Ngay cả cách đi của Sư Ông thôi, PA nghĩ mình học bao nhiêu đời cũng không đi được như vậy. Đi rất nhẹ nhàng, không vội, không hấp tấp. Khi cần đi nhanh thì đi nhanh, nhưng không hề có cái tâm khẩn trương. Việc cần thì mình làm, nhưng ngay trong đó vẫn có sự nhẹ nhàng, thanh thoát. Đó là những hình ảnh còn đọng lại trong PA về Sư Ông. Sư Ông là một người thầy rất vĩ đại.

Nụ tâm xuân

Ni sư Thích nữ Chân Như Minh

 

Chúa xuân đã đến bên thềm

Mai vàng nở rộ trên triền núi xanh

Xuân về báo hiệu điềm lành

Cỏ hoa tươi thắm, lá cành đong đưa

Bao ngày đông giá gió mưa

Bình minh ló dạng, đón chờ tin xuân

Chúc nhau mọi việc tốt lành

Tâm an, thân khỏe, đón xuân vui hòa

Trở về nhìn lại trong ta

Tâm xuân hé nụ, nở hoa chân thường

Hương từ bi tỏa muôn phương

Bồ đề tâm mãi miên trường ngàn sau. 

 

Chỉ thương thôi

(Trò chuyện với chị Anh Hương – Chân Ý)

Được thọ giới Tiếp Hiện vào năm 1981 và nhận đèn truyền đăng từ Sư Ông Làng Mai vào năm 1992, chị Chân Ý (Anh Hương) luôn mang trong mình ngọn lửa phụng sự và nhiệt huyết xây dựng tăng thân. Chị cùng người bạn đời, anh Chân Trí, đã thành lập Trung tâm Thực tập Chánh niệm Fairfax tại Virginia vào năm 1998 và hướng dẫn rất nhiều khóa tu cho cả người Việt lẫn người nước ngoài trong hơn ba mươi năm qua. Nhân dịp chị về Làng tham dự khóa tu dành cho các vị Tiếp Hiện vào tháng 5 năm 2025, Ban Biên tập (BBT) đã có dịp trò chuyện với chị. Dưới đây là phần trích dẫn từ buổi trò chuyện đó.

 

——-

 

BBT: Kể từ khi Sư Ông rời Việt Nam năm 1966, chị là người đầu tiên được Sư Ông truyền giới Tiếp Hiện tại Tây phương. Chị có thể kể lại hoàn cảnh mà Sư Ông truyền giới cho chị và cảm nhận của chị trong buổi lễ ấy?  

Chị Anh-Hương: Năm 1981, Anh-Hương cùng em trai là Đức được sang Pháp thăm Sư Ông (Ba của Anh-Hương là anh ruột của Sư Ông). Hai chị em ở Phương Vân Am chơi mấy ngày, rồi sau đó cô Phượng (sau là Sư cô Chân Không) lái xe đưa Sư Ông và hai chị em về Sơn Cốc. Mình ngồi trên xe mà trong đầu tò mò không biết nơi Sư Ông ở ra sao, đi bao lâu nữa mới về tới Sơn Cốc. Bây giờ nhớ lại thấy thương cô Phượng ghê, đi đường xa mà cả ba thầy trò còn lại không ai biết lái xe để lái phụ cho cô. Mỗi khi cô buồn ngủ, cô hát ngân nga cho đỡ buồn ngủ. Trong xe có một chai coca-cola, và một thanh bánh mật. Anh-Hương ngồi băng ghế phía sau, thỉnh thoảng lại nghe tiếng cô Phượng: “Xin Thầy cho con chút cò lá (coca-cola)”. Cô nói khi nào hát mà vẫn còn buồn ngủ thì uống chút “cò lá” là hết buồn ngủ! 

Về tới Sơn Cốc, hai chị em đang theo Sư Ông vào nhà thì Sư Ông quay lui nhìn hai đứa và nói : “Quê nội các con!”. Mình thầm “Dạ” và cảm thấy nóng nơi mắt. Chiều hôm đó Sư Ông tự tay đong gạo và vo gạo nấu cơm. Cái nồi cơm điện có chút xíu mà cũng nấu đủ cho bốn người ăn! Cô Phượng làm món nấm kho tiêu rất đậm đà. Một tháng trời ở Sơn Cốc, bữa cơm nào cũng ngon, cũng tràn đầy hạnh phúc. 

Tối hôm đó Sư Ông bảo hai chị em đi đánh răng rồi đi ngủ cho sớm. Sư Ông dẫn hai đứa vô phòng, che cửa sổ lại, đợi hai đứa nằm xuống rồi Sư Ông mới tắt đèn và đóng cửa phòng lại. Sư Ông ra khỏi phòng không lâu thì Anh-Hương ngồi dậy.  Có một nguồn năng lượng gì rất mạnh đang trồi lên, buộc mình phải ngồi dậy. Không gian Sơn Cốc bình yên, mát mẻ, thân thương và dễ chịu quá. Một lúc sau mình nằm xuống lại và thiếp đi lúc nào không biết. Khi thức dậy trời còn tối hù mà mình cảm thấy rất là tỉnh táo. Ngay lúc đó trong mình dấy lên một niềm vui mênh mông khó tả, và mình nằm đó cho tới khi trời lờ mờ sáng thì lò mò xuống bếp. Sư Ông đang nấu nước pha trà. Sư Ông hỏi “Ngủ được không con?”. “Dạ được, thưa Sư Ông”. Bây giờ nhớ lại mình hơi tiếc đã không kể hết cho Sư Ông nghe những gì xảy ra trong lòng mình đêm hôm đó. Hồi đó mình đã 19 tuổi, vậy mà khi ở cạnh Sư Ông, mình cảm thấy đầy đủ và vui sướng như một đứa trẻ Chẳng suy nghĩ gì và cũng không có gì để nói. Sư Ông nói gì mình cũng thích và lắng nghe chăm chú. Sư Ông hỏi thì mình trả lời chứ mình ít khi kể chuyện cho Sư Ông nghe. 

Về đến Sơn Cốc hôm trước thì hôm sau Sư Ông mở tuyển tập thơ Hồng bay mấy lá của nhà xuất bản Lá Bối và chọn cho mỗi đứa một bài để đọc, đọc giọng Bắc trước rồi sang giọng Huế. Anh-Hương và Đức sinh ra và lớn lên ở Nha Trang, nói giọng Nha Trang chứ chưa bao giờ đọc thơ giọng Bắc hay giọng Huế nên hai chị em chần chừ. Sư Ông nói: “đọc đi con! Thử đọc đi con!” Hai chị em thay phiên nhau đọc. Thầy trò đều không thể nhịn cười!

Một hôm Sư Ông đưa cho Anh-Hương tập nhạc mười bài Tâm ca do chính Sư Ông in lại để mấy cô cháu hát chung cho vui. Thế là ngày nào hai cô cháu cũng nghêu ngao mấy bài Tâm ca. Có những buổi chiều hay buổi tối, mấy thầy trò ngồi trong bếp văn nghệ rất vui.  Sư Ông cũng hát chung với mình và nhịp tay nữa.

Cô Phượng làm việc suốt ngày và thức khuya lắm. Sau khi mọi người đi ngủ rồi mà cô còn làm việc, tiếng máy đánh chữ lóc cóc vang ra từ phòng làm việc của cô. Ngày nào mấy cô cháu cũng được Sư Ông rủ ra ngoài đi dạo nhiều lần. Hai chị em đã được hái đào, mận, lê, sung với Sư Ông và thưởng thức ngay tại chỗ. Sư Ông pha trà nhiều lần trong ngày, và mỗi lần có bình trà mới là Sư Ông mời hết mấy cô cháu ngồi uống trà, chơi với Sư Ông. 

Sáng nào mấy thầy trò cũng ra sau nhà làm vườn, hạnh phúc lắm! Những ngày ở Sơn Cốc mình thấy Sư Ông làm đủ thứ hết: trồng rau, tưới hoa, cắt cỏ, bửa củi, phơi củi, mang củi khô chất cạnh lò sưởi trong bếp để đốt củi vào những buổi sáng sớm hay buổi tối trời lạnh. Ở Sơn Cốc có một cái máy in. Sư Ông viết lách, tự tay in sách và đóng sách lấy. 

Khoảng một tuần trước ngày Anh Hương và Đức trở về Mỹ, sau khi Sư Ông nghỉ trưa,  Sư Ông gọi Anh-Hương ngồi xuống bên cạnh, đưa cho Anh-Hương mấy trang giấy in khổ lớn và bảo: “Con đọc cái này đi!. Anh-Hương “dạ” rồi cầm lấy đọc từ đầu đến cuối. Đó là văn bản của 14 giới Tiếp Hiện. Sư Ông ngồi yên như quả núi. Vài phút sau, Sư Ông hỏi: 

– Được không con?

– Dạ hay, thưa Sư Ông

Bây giờ nhớ lại, Anh-Hương tự hỏi sao mình không thưa “Dạ được” mà lại nói “Dạ hay”?  Sư Ông đã đánh động tâm bồ đề nơi mình, mở lối cho mình bước tới trên con đường phụng sự của dòng tu Tiếp Hiện. Sau vài phút yên lặng, Sư Ông kể sơ về lịch sử dòng tu Tiếp Hiện rồi hai thầy trò ra ngoài đi thiền hành. Có gì rất mới lạ đang xảy ra trong mình.

Sáng hôm sau, trời còn mờ sương, Sư Ông khoác thêm áo len ra ngoài áo vạt hò, tay cầm theo cái kéo và đẩy cửa bước ra ngoài. Anh-Hương đi theo coi Sư Ông làm gì. Sư Ông cắt một bông hồng làm bình hoa đặt lên bàn thờ. Sau đó, Sư Ông gọi cô Phượng vào và nói: “Hôm nay Anh Hương thọ giới Tiếp Hiện”. Trong buổi lễ, Sư Ông lần lượt tuyên từng giới với câu hỏi: “Con có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì giới đó hay không?” Anh Hương trả lời: “Dạ có”. Hôm đó là ngày 20 tháng 8 năm 1981. Sư Ông nhanh lắm, có ý gì là Sư Ông làm liền. Buổi lễ vừa xong, Sư Ông bảo: 

– Cô Phượng, nấu gì ăn cho vui.

– Dạ, xôi bắp hả Thầy?

Cô Phượng nấu rất nhanh, một loáng là xong. Mấy thầy trò ăn sáng xôi bắp mới nấu, thêm chút hành phi rất thơm. Sư Ông dùng hết chén xôi bắp thì múc thêm vào bát cho từng người, để lại chút xíu cho Sư Ông. Ăn xong Sư Ông cười và nói: “Vui quá!” rồi Sư Ông đứng dậy pha trà. Không khí Sơn cốc vui như Tết! Ngồi chơi được một lúc, Đức đẩy xe cút kít đi theo Sư Ông mang củi vào chất đầy bên lò sưởi trong bếp. Sau mấy chục năm sống xa quê hương, Sư Ông hạnh phúc được sống lại không khí gia đình.

BBT: Chuyện chị thọ giới Tiếp Hiện đã “ly kỳ” như vậy rồi, chắc sau đó còn nhiều chuyện “hấp dẫn” hơn phải không chị? Chị đã tiếp nhận những bài học gì từ Sư Ông? 

AH: Anh Hương qua Làng lần đầu vào tháng 7 năm 1984, và gặp nhiều người trẻ ở Làng, trong số đó có anh Thư (Chân Trí). Lúc ấy cô Phượng chưa xuất gia. 

Trong khóa tu mùa hè năm ấy, có một buổi lễ tụng giới Tiếp Hiện ở thiền đường Yên Tử, xóm Thượng. Mọi thứ đã được chuẩn bị sẵn sàng và thiền sinh cũng đã vào thiền đường đông đủ mà sao Sư Ông chưa tới? Anh Hương buộc phải đứng dậy đi lên phòng Sư Ông. Lúc đó Sư Ông đang nằm nhắm mắt trên tấm nệm đặt trên sàn gỗ. Sư Ông mở mắt khi thấy Anh-Hương bước vào. Anh Hương thưa với Sư Ông sáng nay có buổi tụng giới Tiếp Hiện, và mọi người đang đợi Sư Ông. Sư Ông nói: “Con làm đi”. Anh Hương nghĩ bụng: “Sư Ông ơi! Sư Ông có dạy con gì đâu mà Sư Ông biểu con làm!” Mình đứng đó như pho tượng không nói được gì, kể cả câu “Dạ con không biết làm”. 

Sau đó Sư Ông quay mặt vô tường rồi nói thêm: “Làm đi con. Đi đi con”. Anh Hương đoán Sư Ông bị đau bụng và tối qua Sư Ông không ngủ được. Một mặt thương Sư Ông đau bụng và biết Sư Ông cần nghỉ ngơi. Mặt khác thì không biết phải làm gì trong tình huống này! 

Mình chưa bao giờ hướng dẫn một buổi lễ tụng giới, huống gì tụng giới bằng tiếng Anh. Sư Ông bảo đi thì mình đi. Vô tới thiền đường rồi sao nữa? Tuy đã 22 tuổi, Anh Hương thấy mình vẫn còn bé trong không khí trang nghiêm của một buổi tụng giới mà trước đó Sư Ông luôn là vị chủ lễ.  Mình cũng chưa bao giờ dâng hương trước tăng thân! Nhìn quanh không có ai để cầu cứu nên mình phải ngồi vào chỗ Sư Ông thôi! Rồi buổi tụng giới hôm ấy cũng đã hoàn tất. Lòng mình cảm thấy nhẹ và vui. Có lẽ hồi đó mình còn trẻ nên học gì cũng nhanh. Sư Ông thấy mình rõ hơn là mình thấy mình, và Sư Ông đã “đẩy” mình đi. Chưa bao giờ Sư Ông “đẩy” mà mình “té”. Vấn đề là mình có chịu đi hay không. Sau những lần “bị” Sư Ông “đẩy” như vậy, Anh Hương thấy mình có “lớn” ra – không phải lớn tuổi đời hay tuổi đạo, mà lớn hơn bản thân mình, lớn hơn cái mình tưởng là mình, vì trong mình còn có đất Mẹ, có Bụt, Sư Ông, có tổ tiên tâm linh và huyết thống.

Một buổi chiều trong khóa tu mùa Hè ở Làng Hồng năm 1991, Anh Hương và anh Thư vào chơi với Sư Ông ở cốc Hoa Cau, Xóm Hạ. Lúc đó Sư Ông đang nằm võng. Mình đang nói chuyện vui, tự dưng Sư Ông nói: “Năm sau các con về nhận truyền đăng”. Cả hai đều giật mình khựng lại: “chưa được đâu, thưa Sư Ông”. Trong đầu mình nghĩ truyền đăng là phải giảng dạy, mà mình biết gì mà dạy. Sư Ông cười qua ánh mắt sáng trong, hiền hòa và tràn ngập tình thương, rồi Sư Ông hỏi: 

– Con có hạnh phúc không?

– Dạ có chứ Sư Ông

– Về đây con có vui không?

– Dạ, vui lắm.

– Vậy con nhận đèn thôi. 

– Dạ nhưng mà con không biết dạy.

– Đâu cần dạy, con vui thì con chia sẻ hạnh phúc của con thôi.

Mình  có ý muốn phân bua gì đó nhưng biết Sư Ông “đẩy” thì mình “đi” thôi, không thưa thêm gì nữa. Mùa Hè năm sau, 1992, Anh Hương và anh Thư trở về Làng để được Sư Ông truyền đăng. Để Anh Hương chia sẻ bài kệ truyền đăng Sư Ông trao cho mình:

 

 

 

Chân tâm ươm hạt quý

Ý vun bón vườn nhà

Thanh thản cùng năm tháng

Lòng đất tự đơm hoa.

 

 

 

Sau phần truyền đăng sáng hôm đó, Sư Ông dẫn đại chúng đi thiền hành xuống đồi mận. Mình được ăn trưa với Sư Ông và Sư cô Chân Không ở cốc Hoa Cau. Sư Ông vui và đói bụng nên dùng bữa trưa khá lắm. 

Vài hôm sau, mình đang ngồi chơi, uống trà với Sư Ông trong cốc Ngồi Yên ở Xóm Thượng, có cả anh Arnie Kotler (Chân Đắc) từ nhà xuất bản Parallax Press, Sư Ông đứng dậy lấy giấy và viết để thầy trò cùng thảo một tờ giới thiệu cho khóa tu (flyer) do mình hướng dẫn. Sư Ông mới truyền đăng xong là “bắt” mình làm khóa tu liền! Lúc đó, Anh Hương đang làm khảo cứu ở trường Đại học Georgetown, anh Thư thì làm việc ở một hãng công nghệ thông tin. Sư Ông gấp tờ giấy làm ba rồi giao cho anh Arnie làm phần còn lại. Cuối cùng mình có tờ flyer mẫu mang về Mỹ để in. Khóa tu diễn ra vào tháng 12 năm 1992 ở West Virginia với chủ đề Touching Peace.  Chân Ý và Chân Trí nhìn vào mấy tờ rơi giới thiệu khóa tu vừa được in ra trên giấy màu mà lòng đã thấy vui rồi. Vui vì biết mình đang được tiếp nối Sư Ông trên con đường tu tập giúp đời. 

Khóa tu bắt đầu vào chiều thứ sáu. Từ trong phòng ngủ trên lầu nhìn xuống, Anh Hương có thể thấy thiền sinh đang kéo va-li từ bãi đậu xe tiến về phía bàn ghi danh nhận phòng. Có những người dáng dấp như cầu thủ đá banh, có những người độ tuổi cô chú hoặc ông bà của mình. Anh Hương cảm thấy bé bỏng và bắt đầu thấy hơi run: “Thôi chết rồi, mình đang ngồi trên lưng cọp!” Thiền sinh đến ngày càng đông. Càng nhìn mình càng run, nhưng vì tò mò nên vẫn cứ nhìn. Mình đã đi kinh hành trong phòng cho tới giờ vô thiền đường để cho hướng dẫn tổng quát. Tối đó mình bỏ ăn luôn.

Từ trong phòng bước xuống cầu thang đi vào thiền đường, một bên mình nắm tay Sư Ông, bên kia nắm tay Bụt. Từng bước một, mình xin Bụt và Sư Ông dẫn dắt mình bước đi như một em bé. Chỉ đi thôi, không suy nghĩ gì cả, không phải làm gì hết. Bụt và Sư Ông làm hết cho mình. Trong mình bắt đầu cảm thấy nhẹ nhàng, dễ chịu và hạnh phúc! Trong thiền đường, mọi người đang ngồi yên lặng và trang nghiêm. Mình bước đến chỗ ngồi đã sắp sẵn rồi cùng ngồi xuống với Bụt và Sư Ông. 

Năm 1980, lần đầu Sư Ông qua thăm nhà ở New Jersey, sáu tháng sau khi cả nhà vượt biên sang Mỹ. Một hôm Sư Ông gọi: “Anh Hương, con vô nằm đây. Để tay lên bụng. Con thở đi. Con thấy bụng phồng lên, bụng xẹp xuống không?” Rồi Sư Ông bước ra khỏi phòng. Chỉ có mấy câu nhưng bài học đó đã giúp Anh Hương qua được khóa tu lịch sử này. Từ đó tới giờ, lúc nào mình cũng có Bụt và Sư Ông ngồi hai bên khi mình cho pháp thoại. 

BBT: Sau đó chị Anh Hương có kể cho Sư Ông nghe không?

AH: Dạ Anh Hương có kể. Sư Ông cười và nói: “Thầy bậy quá!” (và cười). Có điều này rất vui mà không mấy ai biết: lúc đó Bảo Tích đang nằm trong bụng Mẹ và đã cùng Mẹ trải qua khóa tu đầu đời!

BBT: Hơn 40 năm tu học, chị cảm nhận như thế nào về dòng tu Tiếp Hiện và đạo Bụt dấn thân? Theo chị, Sư Ông muốn mình tiếp nối điều gì?

AH: Theo mình thì đạo Bụt dấn thân, thể hiện qua dòng tu Tiếp Hiện, là con đường hiểu thương vô tận. Năng lượng để đi tới trên con đường bồ tát này được làm bởi Giới, Niệm, Định và Tuệ. Tu tập như đào giếng, đào trúng mạch nước thì ta có luôn cả một giếng nước để sử dụng. Mạch nước tình thương khơi mở rồi thì ta trở thành bàn tay, con mắt và trái tim của bồ tát Quan Thế Âm. 

Sư Ông rất vui khi thấy các học trò của Thầy đang tu tập hết lòng để chữa lành thương tích, xây đắp tình huynh đệ và xây dựng tăng thân khắp nơi. Có lần Sư Ông nói: “các con đều là tiếp nối của Thầy. Các con đang đưa Thầy đi về tương lai, làm gì cũng có Thầy bên cạnh và làm chung với các con.” Nơi nào có tăng thân là nơi đó có Bụt, có Pháp và có Thầy.

Mười bốn giới Tiếp Hiện được làm bởi chất liệu của hiểu và thương. Khi năng lượng chánh niệm còn yếu ớt, một bức xúc có thể dẫn mình vô vòng phân tích, lý luận, có khi còn dùng cả giới luật để chứng minh ai phải ai trái. Khổ đau không phải vấn đề cần giải quyết, mà là vết thương cần được chăm sóc bằng linh dược của hiểu và thương. Khi bị kẹt vào giới thì giới trở thành chướng ngại, bít lấp con đường lý tưởng từ bi và giải thoát. Khi cái hiểu về tương tức còn nằm trên bình diện trí năng thì tuệ giác tương tức vẫn còn như một trái đào xanh. Năng lượng niệm và định dồi dào thì trái đào tuệ giác sẽ chín. Lúc đó tình thương cam lộ ứa ra như dòng suối thấm mát thế gian. 

Dạo này tăng thân mình thực tập câu thần chú “Chỉ thương thôi!” Ta không cần phải gồng mình hay phải làm gì nữa để thương. Hiểu đã là thương rồi! 

BBT: Có bao giờ chị cảm thấy ba chữ “Chỉ thương thôi” khó không?  Có lúc nào chị cảm thấy rất khó thương mà vượt qua được không?

AH: Dạ, có chứ. Là học trò Sư Ông, mình nguyện học hiểu, học thương vì biết tình thương là phương thuốc mầu nhiệm trị liệu khổ đau cho mọi người. Tuy nhiên có lúc mình cảm thấy sao người kia khó thương quá. Mà người kia ở đây cũng có khi là chính mình! Mình kiên nhẫn và cố gắng nhiều nhưng tình trạng dường như không chuyển đổi, và mình cảm thấy không còn sức để thương. Có khi mình nghĩ: “Thôi, chịu thua. Ai cũng có chỗ đứng của họ trong trời đất, có gì mà lo.”

Đó là khi mình chưa hiểu đủ để thấm thía cái khổ trong lòng người. Cái mình gọi là quán chiếu khổ đau có thể chỉ là suy tư quanh quẩn từ trí năng, thiếu sự cảm nhận. Cái mình gọi là tuệ giác cũng chỉ là một khám phá, tuy có mới, nhưng mới chỉ là một góc của thực tại! Tình thương phát xuất từ cái thấy nhỏ bé đó không đủ để ôm trọn những tình huống thật sự khó khăn. Nếu không có những vị Bồ Tát, những vị thầy giỏi khai thị thêm cho mình thì làm sao ta có thể hiểu hết gốc rễ của khổ đau trong mình và người? Mình tự hỏi quán chiếu khổ đau đến bao giờ mới đủ hiểu sâu để mà thương lớn, phải đợi đến bao giờ mới khơi được suối yêu thương ở trong lòng? “Chỉ thương thôi” là pháp môn tối hậu khi ta không biết phải làm gì nữa. Mình buông thanh gươm trí năng, vất đi cái áo giáp bản ngã. Ba chữ “Chỉ thương thôi” là câu thần chú giúp ta đi thẳng vào bản môn trong khi hai chân đang dẫm trên bùn đất của tích môn. Tình thương sẽ mang nhiều chất liệu tự do và giải thoát hơn. Con đường Bồ Tát sẽ rộng mở – ta giúp đời mà cảm thấy như ta không phải làm gì hết. Ta sẽ có rất nhiều năng lượng. Mình buông hết cho tuệ giác vô ngã dẫn đường mình đi. 

BBT: Chị có ước mong gì muốn gửi gắm đến gia đình Tiếp Hiện nhân dịp kỷ niệm 60 năm? 

AH: Các tăng thân Tiếp Hiện giống như những ốc đảo giữa sa mạc nóng bức. Tăng thân là nơi chốn quay về của tất cả chúng ta. Hôm nay Anh Hương có dịp chia sẻ với các em Tiếp Hiện trẻ trong khóa tu này: “Xây dựng tăng thân, bước đi trên con đường Bồ tát, là dấn thân rồi. Cánh cửa bước vào tăng thân chưa bao giờ khép lại. Tăng thân không loại trừ ai, không phân biệt mầu da, tôn giáo hay khuynh hướng chính trị nào.” 

Chỗ mình ở, có người hàng xóm phản đối chuyện kỳ thị. Trên sân cỏ nhà họ có cắm tấm bảng “Hate doesn’t have a home here”, nghĩa là “Hận thù không có chỗ trên đất nhà tôi”. Anh Hương nói với các bạn trong tăng thân là tâm thù hận cũng có chỗ ở trong tăng thân. Điều đó không là lý thuyết mà là bầu không gian an toàn, năng lượng chánh niệm và tình thương mà mọi người cảm nhận được khi về với tăng thân. Xây dựng tăng thân vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh cho con đường lý tưởng, con đường dấn thân của dòng tu Tiếp Hiện. 

Tâm bồ đề là niềm ao ước mãnh liệt được đem hết năng lực và thì giờ mình có để tu tập và giúp cho mọi người tu tập. Mười bốn giới Tiếp Hiện là thể hiện của bồ đề tâm. Tăng thân là mảnh đất nuôi dưỡng và bảo vệ bồ đề tâm của mình. Nhưng để thật sự quy tụ được năng lượng đi về chiều hướng dấn thân, trong cuộc sống hỗn độn với nhiều thử thách về mọi mặt, Anh Hương mong ước các anh chị em Tiếp Hiện mình không quá bận rộn để chúng ta có đủ thì giờ và năng lượng để về với nhau, xây dựng tình huynh đệ và chăm sóc cho gia đình Tiếp Hiện. Ngoài chuyện tụng giới chúng ta cần có những sinh hoạt khác để tạo nên một không gian dễ thương, nơi mà mọi người đều có thể thư giãn, nghỉ ngơi và hồi phục. Hiện nay tình trạng thế giới rất bất ổn. Một tăng thân đích thực sẽ giúp chúng ta thực tập ái ngữ và lắng nghe. Ai cũng cảm thấy an toàn đủ để chia sẻ cái thấy của mình, có khi đối nghịch với những thành viên khác về những chuyển biến về chính trị, kinh tế, xã hội, khí hậu và nhiều vấn đề khác của thời đại. 

Chúng ta nguyện thường xuyên làm mới tăng thân. Hạt giống bồ đề tâm dù có mạnh cách mấy mà đất không mầu mỡ, cung cấp đủ chất bổ dưỡng thì hạt giống ấy không thể nứt mầm được và sẽ khô héo đi. Nếu tăng thân èo uột và có nhiều khó khăn, phần lớn là từ những tranh luận đúng sai, thì chúng ta cần nhìn kỹ để thấy tranh luận đó không bao giờ giúp mình mở lòng ôm ấp được cái khổ đau chung của huynh đệ. Câu thư pháp của Sư Ông: “Lối ra tùy thuộc đường vào nội tâm” (The Way Out Is In) nhắc cho chúng ta gốc rễ khổ đau của mình luôn nằm sẵn trong mình, và thiền tập là quay về bên trong để lắng nghe và chăm sóc lấy mình. Thực tập làm mới được với chính mình là mình cũng bắt đầu làm mới với huynh đệ và với tăng thân cùng một lúc. Sư Ông từng dạy nếu chúng ta muốn tu tập thành công, chúng ta phải tìm cách thực tập để sống hòa ái với nhau, kể cả với những người khó tính. 

Suốt cuộc đời Sư Ông, ngay cả thời gian khi Sư Ông bị đột quỵ cho tới những giây phút cuối ở chùa Tổ, không ngày nào Sư Ông không bồi đắp tình thầy trò và tình huynh đệ. Sư Ông từng nói: “Các con mỗi đứa đều là sự tiếp nối của Thầy. Anh chị em các con đang thương yêu, chăm sóc và nâng đỡ cho nhau là các con đang nuôi Thầy.” 

Mình đang để lại gì cho thế hệ sau? Con cháu đang nhìn cách mình đối xử với nhau. Mình sống như thế nào để mai sau con cháu mình nhớ đến mình như tổ tiên tâm linh  của chúng. Mình tu tập như thế nào để là sự tiếp nối đích thực của Thầy, tiếp tục khơi suối yêu thương. Ngày trước mình đến với Thầy thì tình thương của Thầy đánh động đến trái tim mình như thế nào thì giờ đây mình tu tập làm sao để các thế hệ trẻ có thể gần gũi mình như thế đó.

Tết Bính Ngọ 2026

VÈ TẾT LÀNG
 
Vè vẻ vè ve
Nghe vè kể chuyện
Bính Ngọ xuân sang
Cả Làng mở hội
Ăn Tết đông vui.
 
Bánh tét bánh chưng
Nấu đêm hăm sáu
Bốn nồi đỏ lửa
Mưa tạt bạt lều
Mà chẳng đánh xiêu
Tiếng đàn tiếng hát.
 
Thuỷ tiên vàng rực
Nở sáng núi đồi
Mai trắng, mận hồng
Đào thẫm, tầm xuân
Cùng nhau dâng sắc.
 
Một cành cúng Bụt
Một nhánh dâng Thầy
Chị em cùng nhau
Sửa sang phòng ốc
Dán câu đối đỏ
“Vững chãi núi xanh
Thảnh thơi mây trắng”
Sửa soạn bánh mứt
Thiết khách viếng nhà.
 
Giao thừa bình thơ
Sư cô Định Nghiêm
Kể chuyện Tết Làng
Sáu giờ tối điểm
Không giờ Việt Nam
Bát Nhã rền vang
Chuông trống trầm hùng
Hồn thiêng đất Á
Vang giữa trời Âu
Giờ thiêng đã điểm!
Lòng dạ chí thành
Hướng lời khấn nguyện
Đại chúng đồng thanh
Chắp tay đọc tụng
“Bài kinh Đất Mẹ”
Hải triều uy hùng
Mừng khắc Nguyên Đán.
Văn nghệ miệt vườn
Chung vui đầm ấm.
 
Mồng một múa lân
Lạy nhau đầu năm
Bói Kiều mấy quẻ
Xóm Thượng mở cửa
Đón khách viếng phòng
Trà, mứt, hạt dưa
Quây quần thăm hỏi.
 
Mồng hai Xóm Hạ
Lân lại tưng bừng
Nhảy điệu “Xuân ơi”
Rước khách chung vui
Đào hồng nở thắm
Bánh chưng dưa món
Ai cũng tấm tắc
“Ngon!”.
Rồi đến Xóm Mới
Ngày hội ẩm thực
Bánh đúc, gỏi cuốn
Nem nướng thơm lừng
Bắc, Nam, Trung đủ
Mùi vị hương sắc
Lại thêm bàn giấy
Bên nghiên bút mực
“Ông đồ” cho chữ.
Xuân lai xuân khứ
Niềm vui không tuổi
Tiếng cười trong vắt
Ánh mắt trẻ thơ
Nắng xuân lấp lánh
Mái tóc bạc phơ
Ông tiên truyện cổ.
 
Về ăn Tết Làng
Bạn ơi xuân sang
Về ăn Tết Làng
Nhớ đến, nhớ đến
Là lá là la…
 
Chúc đồng bào trên khắp mọi miền đón một năm mới bình an, hạnh phúc!
“Vững chãi như núi xanh
Thảnh thơi dường mây trắng”.