Bình thơ Thế Lữ – Giây phút chạnh lòng

Bài thơ Giây Phút Chạnh Lòng của Thế Lữ được viết năm 1936 để tặng cho Nhất Linh, tác giả tiểu thuyết Đoạn Tuyệt. Tôi nhớ bài thơ này được in vào đầu trang tiểu thuyết Đoạn Tuyệt.

Trong cuộc sống hàng ngày lâu lâu tâm mình hơi chùng xuống một chút, yếu đi một chút, mất đi một ít năng lượng, giây phút ấy gọi là giây phút chạnh lòng.

Anh đi đường anh, tôi đường tôi,
Tình nghĩa đôi ta có thế thôi.
Đã quyết không mong sum họp mãi.
Bận lòng chi nữa lúc chia phôi?

Đó là lời của một người con gái nói với một người con trai trong giờ phút người con trai từ giã để lên đường phụng sự lý tưởng của mình. Chuyện xảy ra đã nhiều năm trước và hôm nay người con trai đang ngồi hồi tưởng lại.

Đất nước hồi đó còn nằm dưới sự đô hộ của người Pháp. Những người thanh niên Việt Nam lớn lên bắt đầu có ý thức rằng đất nước mình không phải là một đất nước độc lập cho nên tâm tư họ có những xao xuyến, thao thức: làm thế nào để giành lại độc lập cho đất nước mình, tự mình làm chủ lấy mình?

Trong khi đó guồng máy công an, cảnh sát dưới sự cai trị của người Pháp rất hùng hậu, vững mạnh. Họ tìm mọi cách để người Việt không có cơ hội đứng dậy giành lại chủ quyền. Nhưng những thanh niên tân học thấy rõ ràng rằng người dân của một nước mà không làm chủ được đất nước của mình là chuyện rất nhục nhã, không những đối với quốc dân trong giờ phút hiện tại mà còn đối với tổ tiên, tại vì tổ tiên của mình cũng đã từng tranh đấu để quốc gia có chủ quyền, có độc lập. Trung Quốc đã từng chiếm cứ đất nước Việt Nam đến một ngàn năm. Việt Nam trở thành lãnh thổ, một tỉnh của Trung Quốc. Việt Nam trong thời kỳ ấy hoàn toàn bị mất chủ quyền đối với người Trung Quốc.

Khi Thế Lữ viết bài này thì Việt Nam đã bị Pháp đô hộ gần một trăm năm. Thế Lữ cũng như một số các bạn đã từng có cơ hội đi sang Pháp du học, đậu bằng cử nhân khoa học. Vì vậy những người đó biết thế nào là một quốc gia có chủ quyền, nên khi về nước họ rất thao thức, muốn kết hợp bạn bè, tìm mọi cách để có cơ hội giành lại độc lập cho tổ quốc.

Người Pháp không cho phép ra những tờ báo hay in những cuốn sách và thành lập những tổ chức với mục đích gây ý thức cho quốc dân nhằm khôi phục lại nền độc lập. Nhưng các thanh niên đó đã tìm đủ mọi cách khéo léo để xuất bản những tờ báo, lập những nhà xuất bản sách để truyền bá gián tiếp những tư tưởng đó cho quốc dân. Họ chỉ cần một tờ báo thôi, một nhà xuất bản thôi, vậy mà trong vòng sáu năm, bảy năm họ đã gây được ý thức trong quốc dân và ảnh hưởng của họ đối với quốc dân rất lớn. Nhất Linh là một người đã từng bí mật tổ chức những đảng chính trị để hoạt động, đã từng bị người Pháp bắt bỏ vào tù và đã từng trốn qua Trung Quốc để lánh nạn nên những điều mà Nhất Linh nói, những điều Thế Lữ nói là những điều phát xuất từ kinh nghiệm của chính mình.

Anh đi đường anh, tôi đường tôi.
Tình nghĩa tôi ta có thế thôi.
Đã quyết không mong sum họp mãi.
Bận lòng chi nữa lúc chia phôi?

Người con gái nói với người con trai: Anh đi cứu nước đi, em sẽ ở nhà. Người con gái này tên là Loan và người con trai tên là Dũng. Loan sinh trưởng trong một gia đình phong kiến, có những lề thói không còn phù hợp với nếp sống mới nữa và nhất là tình trạng mẹ chồng nàng dâu đã làm Loan rất khổ sở. Loan là người đã từng được đi học trường Tây và đã học hết bằng trung học Pháp. Loan đã bị ảnh hưởng tư tưởng Tây phương về tình yêu tự do và không muốn bị ràng buộc vào đại gia đình. Nhưng vì hoàn cảnh, Loan bắt buộc phải lấy Thân mà không được lấy người mình yêu là Dũng. Tại vì Dũng có những tư tưởng cách mạng nguy hiểm nên cha mẹ Loan cấm không cho phép Loan yêu Dũng, lấy Dũng mà bắt Loan phải lấy Thân, một người con trai rất tầm thường.

Hai vợ chồng Loan có một đứa con nhưng chẳng may đứa bé đó chết và bà mẹ chồng nghĩ rằng vì Loan không thể sinh đẻ được nữa nên đã bắt ép Loan phải đồng ý cho Thân cưới một người vợ lẽ. Loan là một thiếu nữ được học trường Tây, cô mang trong mình tư tưởng tự do cá nhân của Tây phương mà phải sống trong khung cảnh gia đình phong kiến với những lề thói ép buộc như vậy thì rất là đau khổ, cho nên Loan thường hay nhớ tới người yêu xưa là Dũng. Còn Dũng thì thấy mình không còn có cơ duyên nào nữa để có thể cưới Loan nên quyết tâm đi kháng chiến, đi làm cách mạng.

Có một nguyên do thầm kín nữa là mẹ của Loan có mắc nợ mẹ của Thân nên phải hứa gả Loan cho Thân. Điều này Loan chỉ khám phá ra sau khi sự việc bị đổ vỡ. Trong một cuộc xung đột, khi Thân xông tới để đánh Loan thì tai nạn xảy ra. Thân vấp té vào lưỡi dao Loan đang cầm để rọc giấy, lưỡi dao đó đâm vào bụng Thân và Thân chết. Lúc ấy báo chí Hà Nội loan tin: Cô Loan giết chồng! Cô Loan giết chồng! Rốt cuộc nhờ một cặp vợ chồng người bạn vận động các luật sư giỏi để cãi cho Loan nên cuối cùng thì Loan được tha bổng vì đây là trường hợp tai nạn chứ không phải là tội cố ý giết chồng. Lúc đó Dũng đang hoạt động cho cách mạng, bí mật đi công tác về thành phố và đã nghe tin có buổi xử án như vậy.

Đêm đó là một đêm giao thừa, và người con trai không có gia đình đã bôn ba nhiều năm, sống rất vất vả, khó khăn, trong khi về công tác ở thành phố và được nghỉ ngơi một vài ngày trước khi tiếp tục lên đường thì nghe tin tòa xử trắng án cho Loan. Dũng nhớ tới ngày xưa khi hai người yêu nhau, và có ý muốn rằng bây giờ Loan được tự do rồi, thì mình sẽ tìm cách liên lạc với Loan để nối lại tình yêu ngày xưa. Dũng nhờ hai vợ chồng cô giáo Thảo liên lạc để dò xem ý của Loan như thế nào? Đây là những ý tưởng tới với Dũng khi Dũng nằm trên căn gác một mình lạnh lẽo chiều cuối năm và nhớ lại những điều ngày xưa Loan đã nói với Dũng lúc hai người chia tay nhau:

Anh đi đường anh, tôi đường tôi,
Tình nghĩa đôi ta có thế thôi.

Lúc ấy giọng điệu Loan rất cứng cõi, mạnh mẽ để giúp Dũng phấn chấn lên đường, có thêm  nghị lực mà hoàn thành công việc.

Nàng còn nói: Duyên của chúng ta không thuận lợi thì em đi lấy chồng, anh đi làm cách mạng. Tại sao phải vương vấn với nhau cho nó khổ? Anh cứ đi đi và em sẽ âm thầm yểm trợ.

Đã quyết không mong sum họp mãi.
Bận lòng chi nữa lúc chia phôi?

Tại sao phải bịn rịn, anh cứ đi, em không sao đâu!

Non nước đang chờ gót lãng du
Đâu đây vẳng tiếng hát chinh phu
Lòng tôi phơi phới quên thương tiếc
Đưa tiễn anh ra chốn hải hồ

Nước non đang cần những người con trai như anh. Anh hãy đi đi. Chinh phu là những người con trai đi đánh trận, đi làm cách mạng đánh đuổi quân ngoại xâm.

Em có thương, có tiếc thật nhưng vì lý tưởng mà em đành để cho anh đi và em thúc đẩy cho anh đi, anh là con trai, anh không nên bịn rịn.

Đưa tiễn anh ra chốn hải hồ.

Hải hồ tức là sông biển, nơi người con trai có không gian thênh thang để tung hoành. Ý nói rằng tình là cái vướng víu, nếu anh có chí hướng cao cả, anh phải giật đứt sợi giây tình để anh có không gian thênh thang mà thực hiện chí hướng của người con trai.

Anh đi vui cảnh lạ, đường xa,
Đem chí bình sinh dãi nắng mưa,
Thân đã hiến cho đời gió bụi
Đâu còn lưu luyến chút duyên tơ?

Anh đang đi trên con đường rất đẹp, con đường của cách mạng, con đường đem lại độc lập tự do cho đất nước. Anh đã có chí bình sinh, có tình yêu đối với tổ quốc, anh sẽ không sợ nắng mưa, khó khăn. Cuộc sống của anh đã hiến tặng cho lý tưởng phụng sự đất nước, tại sao anh còn bịn rịn?

Đâu còn lưu luyến chút duyên tơ?

Người con gái đem chút duyên tơ, sự thông minh và thiện chí của mình để giúp người con trai ra đi, rất vững vàng. Nhưng sức người có hạn, cô chỉ nói được như thế trong mười hai câu thôi, đến câu thứ mười ba thì người con gái chùng xuống.

Rồi có khi nào ngắm bóng mây,
Chiều thu đưa lạnh gió heo may.
Dừng chân trên bến sông xa vắng,
Chạnh nhớ tình tôi trong phút giây.

Trong bốn câu này, tâm tình của Loan bắt đầu chùng xuống và tất cả những thiện chí được diễn tả trong mười hai câu trên do đó đã tan thành mây khói. Trên con đường anh đi, có khi nào anh dừng lại ngắm một bóng mây ở chân trời? Và một buổi chiều nào lành lạnh có gió heo may, đứng trên bờ sông xa vắng thì xin anh nhớ lại một chút là ngày xưa chúng ta đã từng yêu nhau.

Dừng chân trên bến sông xa vắng
Chạnh nhớ tình tôi trong phút giây,

Như vậy là chết rồi !

Xin anh cứ tưởng, bạn anh tuy
Giam hãm thân trong cảnh nặng nề.
Vẫn để hồn theo người lận đận,
Vẫn hằng trông đếm bước anh đi.

Anh nên nhớ bạn của anh tuy đang bị kẹt trong một hoàn cảnh nặng nề, khó thở, nhưng mà trái tim của người đó vẫn luôn luôn theo dõi bước chân anh và cầu nguyện anh đạt thành chí nguyện. Đó là những lời mà cô nàng đã nói nhiều năm về trước và bây giờ anh chàng nhớ lại. Anh cảm thấy cô độc, cảm thấy cuộc đời của người chinh phu lạnh lẽo, có những giây phút nhớ nhà, có những giây phút cần có sự ấm cúng, có những giây phút cần sự có mặt của một người thương. Giây phút đó là giây phút chạnh lòng.

Lấy câu khẳng khái tiễn đưa nhau,
Em muốn cho ta chẳng thảm sầu.
Nhưng chính lòng em còn thổn thức,
Buồn kia em giấu được ta đâu?

Chàng trai ngay từ lúc đó đã biết rằng tuy cô gái đang dùng những lời khẳng khái để động viên mình nhưng kỳ thực trái tim của nàng đang còn thổn thức lắm.

Lấy câu khẳng khái tiễn đưa nhau,
Em muốn cho ta chẳng thảm sầu,

Là sự vuốt ve, là lòng tốt của người con gái.

Nhưng chính lòng em còn thổn thức

Anh biết rằng trái tim của em đang thổn thức, nỗi buồn ấy của em, làm sao giấu được anh?

Em đứng nương mình dưới gốc mai,
Vin ngành sương đọng, lệ hoa rơi,
Cười nâng tà áo đưa lên gió,
Em bảo: hoa kia khóc hộ người.

Khi hai người chia tay, họ đứng ở dưới một gốc mai. Loan vịn vào cành mai và có những hoa mai rơi rụng xuống. Hoa khóc chứ em đâu có khóc, Loan đã nói như vậy.

Rồi bỗng ngừng vui cùng lẳng lặng,
Nhìn nhau bình thản lúc ra đi.
Nhưng trong khoảnh khắc thờ ơ ấy,
Thấy cả muôn đời hận biệt ly.

Hai người nói nói, cười cuời nhưng tới giây phút biệt ly, người con trai phải đi thôi. Hai người không còn nói nữa, họ im lặng, họ im lặng trong chốc lát rồi người con trai bước đi. Giây phút đó là giây phút khó khăn nhất của cả hai người vì không có hy vọng gì để trong tương lai hai người có thể đoàn tụ với nhau được.

Anh đi đường anh, tôi đường tôi

Đất nước đang lâm nguy, lại thêm ảnh hưởng nặng nề của chế độ phong kiến, nên đã gây ra không biết bao nhiêu mất mác, chia ly đau thương. Ta có thể thấy, hai vấn đề lớn của đất nước vào những năm 30 :

–  Vấn đề thứ nhất : đất nước không có chủ quyền.

–  Vấn đề thứ hai : xã hội đang bị chìm đắm, ràng buộc trong những lề lối phong kiến, xưa cũ.

Dân trí chưa mở và những tập tục phong kiến chưa thể tháo được là hai trở lực mà cả hai người đang phải chịu đựng. Người con trai ra đi hoạt động để thay đổi tình trạng, còn người con gái ở nhà có thể làm được gì hay chỉ tiếp tục làm nạn nhân cho những tập tục phong kiến của gia đình cô?

Nhất Linh sinh vào năm 1905 và viết cuốn tiểu thuyết này lúc 31 tuổi. Cuốn sách có tựa là « Đoạn Tuyệt », muốn đoạn tuyệt với tất cả những cái gì cổ hủ, phong kiến của xã hội, của gia đình, nó đã trói buộc tự do của con người. Thế Lữ đã viết bài thơ « Giây Phút Chạnh Lòng » này để tặng cho Nhất Linh cũng vào năm đó, tức là năm 1936.

Hồi đó họ chỉ là một nhóm nhỏ có khoảng sáu bảy người gọi là « Tự Lực Văn Đoàn ». Họ sinh ra vào đầu thế kỷ hai mươi, khoảng năm 1905, 1906 và 1907. Họ có cơ duyên được đi học và được ảnh hưởng tư tưởng tự do dân chủ của Tây phương nên họ quyết định phải làm một cái gì cho đất nước. Một mặt họ muốn tổ chức những hội kín để vận động quần chúng đi tới chuyện lật đổ chánh quyền Pháp, một mặt họ biết rằng mật thám Pháp có khắp nơi, trong đó có rất nhiều người Việt đi theo Pháp để làm tay sai, để do thám họ vì vậy công việc của họ rất khó khăn. Biết bao nhiêu người đã bị bắt, bị ở tù, bị xử tử vì đã muốn đứng dậy để làm cách mạng đánh đuổi Pháp.

Năm 1932, có một tờ báo sắp chết tên là Phong Hóa, nhóm văn sĩ ấy xin lại giấy phép của tờ báo đó và với tài năng của mình, họ làm cho tờ báo đó trở thành một tờ báo rất nổi tiếng trong quốc dân. Họ viết những truyện ngắn, những truyện dài, họ làm những bài thơ, họ viết những bài khảo luận đánh động vào tâm trí của giới trẻ và tức khắc rất nhiều thanh niên trong toàn quốc đã trở thành độc giả của báo Phong Hóa (Bộ mới 1932, số 13).

Nhất Linh tên thật Nguyễn Tường Tam có người em trai tên là Nguyễn Tường Long lấy bút hiệu Tứ Ly. Tứ ly là giờ xấu nhất trong ngày (người ta thường kiêng làm những chuyện quan trọng vào giờ này), và Tứ Ly đã thật sự là một cây bút châm biếm tài tình. Tất cả những gì cổ hủ, lỗi thời, tất cả những gì lố bịch, ông ta đều dùng ngòi bút để châm biếm và cây bút Tứ Ly đã làm cho chính quyền, nhất là chánh quyền Pháp, rất sợ hãi và đến năm 1936 chính quyền Pháp bắt buộc phải đóng cửa tờ Phong Hóa.

Chưa chịu thua, nhóm Tự lực văn đoàn đã tìm cách cho ra đời một tờ báo khác với tên gọi « Ngày Nay ». Kỳ này, Nguyễn Tường Long bỏ bút hiệu Tứ Ly, lấy bút hiệu mới là Hoàng Đạo –Hoàng đạo là giờ tốt nhất trong ngày. Với những bài khảo luận, truyện ngắn, truyện dài, họ giúp mở dân trí, và chỉ trong vòng bảy tám năm, họ đã giúp thay đổi được suy nghĩ của cả một thế hệ thanh niên trong nước. Tôi lớn lên trong hoàn cảnh ấy và đã bị ảnh hưởng tư tưởng và văn chương của Tự Lực Văn Đoàn khá nhiều.

Một người con trai lớn lên trong không khí, trong hoàn cảnh ấy, rõ ràng chỉ có hai cách lựa chọn : một là vâng lời cha mẹ đi cưới vợ và sống trong môi trường cũ ; hai là bỏ nhà đi làm cách mạng. Một là làm như Loan, lập gia đình, sanh ra vài ba đứa con, cho nó đi học rồi chịu đựng tất cả những tập tục cổ hủ; hai là làm Dũng, cương quyết bỏ ra đi làm cách mạng. Nếu không có nhân duyên trở thành người xuất gia, chắc tôi cũng đã đi vào một trong hai con đường ấy, và hôm nay, tôi đã không ngồi đây.

Thời đó ảnh hưởng của Tự Lực Văn Đoàn rất lớn, thơ của Thế Lữ, của Xuân Diệu và tiểu thuyết của Khái Hưng, của Nhất Linh ảnh hưởng đến tuổi trẻ rất nhiều. Thơ của Nguyễn Bính, những câu thơ rất đơn giản cũng đã ảnh hưởng sâu sắc tới tôi. Xin đọc lại vài câu để xem có thầy cô nào nhớ nhà không?

Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Ôi, chị một em, em một chị
Trời làm xa cách mấy con sông
………………………………
Cột nhà hàng xóm lên câu đối
Em đọc tương tư giữa giấy hồng
Gạo nếp nơi đây sao trắng quá
Mỗi ngày phiên chợ lại thêm đông

Tôi đọc những dòng này hồi mười mấy tuổi mà tới bây giờ vẫn còn thuộc.

Gạo nếp nơi đây sao trắng quá
Mỗi ngày phiên chợ lại thêm đông
……………………………
Đêm nay em thức thi cùng nến
Ai biết tình em với núi sông

Lớn lên, đêm giao thừa nào, tôi cũng ưa ngồi một mình, đốt đèn bạch lạp, và đọc thơ, chỉ vì chịu ảnh hưởng vỏn vẹn hai câu thơ của Nguyễn Bính. Và khi trở thành một ông thầy tu trẻ, tôi vẫn còn thói quen đó, cũng tìm ba ngọn bạch lạp, cũng đem thơ của thi sĩ mình yêu thích ra đọc. Bây giờ, tôi bỏ cái tật ấy rồi, đêm giao thừa ngồi chơi với đệ tử thôi.

Ngày xưa có cái mốt là những người trí thức văn nghệ sĩ tới giờ giao thừa là phải đốt nến, đốt trầm lên để đọc thơ, nhất là nến bạch lạp (đèn cầy trắng) và thơ phải in trên giấy thật tốt tức là giấy bản trắng. Đọc thơ Đường in trên giấy lụa dưới ánh sáng của bạch lạp là một hình ảnh đẹp. Hồi đó chưa có đèn điện, mà thắp đèn dầu mờ mờ thì đọc thơ không được rõ lắm. Vì vậy thắp lên một ngọn bạch lạp, thắp lên hai ngọn bạch lạp, hoặc thắp lên ba ngọn bạch lạp để đủ ánh sáng mà đọc thơ.

Cách đây mấy hôm, tôi thấy có một vị trên xóm Thượng đọc tiểu thuyết của Minh Đức Hoài Trinh, tôi nói thôi đừng có đọc cái này. Tại vì tôi biết hơn ai hết, mình đọc cái gì thì sẽ thường chịu ảnh hưởng cái đó. Vì vậy phải rất cẩn thận với nội dung văn nghệ mà mình tiêu thụ. Trong luật nói rằng, vị sa di, sa di ni muốn đọc sách gì thì phải hỏi y chỉ sư, điều này rất đúng. Vì nếu rủi mình đọc lỡ những cuốn có chất độc, thì nó hại mình lâu lắm.

Hồi còn làm học tăng tại Phật học đường Báo Quốc, tất cả các tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn chúng tôi đều không được đọc. Có mấy chú học tăng « ăn gian », làm một thư viện bí mật, mua những cuốn tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn, đem giấu lên trên một cây nhãn, nếu chú nào muốn đọc thì chỉ cần ra leo lên cây nhãn mà đọc, ở dưới dù các thầy cứ đi ngang qua mà không biết rằng trên đầu mình học tăng đang đọc tiểu thuyết. Mình tưởng như vậy là mình khôn ranh lắm, mình qua mặt được mấy thầy, ai dè làm như vậy là tự đầu độc mình. Dầu đã là Tỳ kheo, Tỳ kheo ni rồi, mình cũng phải cẩn thận lắm mới được, chỉ nên đọc những cuốn sách nào, và thưởng thức những tác phẩm văn nghệ nào mà không đem lại độc hại cho trái tim của mình mà thôi.

Năm 1935 Hội Phật Giáo Bắc Kỳ xuất bản một tạp chí Phật học tên là tờ Đuốc Tuệ. Sự kiện của tờ Đuốc Tuệ, đã cứu được tôi. Nếu chỉ có Tự Lực Văn Đoàn thì một là tôi làm Loan và hai là làm Dũng. Nhưng nhờ có Đuốc Tuệ nên tôi đã làm Phùng Xuân. Tuy đã là Phùng Xuân rồi nhưng Loan, Dũng vẫn cứ đi bám lấy tôi. Tại vì những hạt giống mình đã gieo trước đó vẫn tiếp tục đi theo mình. Nhưng hạt giống của Đuốc Tuệ rất mạnh nên nó có thể ôm được cả hai hạt giống kia mà không sao cả. Tờ Đuốc Tuệ có những bài viết về Nhân Gian Phật Giáo, tức là về đề tài Phật Giáo Đi Vào Cuộc Đời. Và mầm móng về ước nguyện đem đạo Phật nhập thế trong tôi đã có từ đó.

Tờ Đuốc Tuệ có nhiều bài viết nói đến các thiền sư Việt Nam trong quá khứ và hạnh nguyện của các ngài trong việc giúp dân, giúp nước. Điều này giúp tôi thấy được, đạo phật có thể đóng một vai trò rất lớn trong công cuộc xây dựng đất nước và cứu độ con người. Con đường phục vụ đất nước theo tinh thần đạo phật nhập thế đã mở ra cho tôi một chân trời mới rất rộng lớn.

Tại thư viện quốc gia Pháp ở Verseille, quý vị có thể tìm được những tờ Đuốc Tuệ ngày xưa, vì mỗi số Đuốc Tuệ được phát hành, thì phải đem nộp lưu chiểu một bản. Và người Pháp đã đem về nước đầy đủ các ấn bản đã được phát hành từ số đầu –khoảng nam 1935, đến số báo cuối, khoảng nam1945, và lưu trữ nó tại thư viện quốc gia Pháp. Tờ Đuốc Tuệ chỉ được lưu hành khoảng mười năm. Nếu không có tờ Đuốc Tuệ và không có mười năm đó, đã không có tôi đang ngồi đây. Do vậy, những cái mà quí vị đang làm như Lá Thư Làng Mai, nhà xuất bản Parallax, nhà xuất bản Lá Bối, những khóa tu được tổ chức khắp nơi sẽ có ảnh hưởng rất lớn trong các thế hệ. Có thể trong vòng năm năm hay mười năm nữa, mình sẽ có thể tạo ra được một thế hệ mới, mình có thể làm nên lịch sử. Mình nên biết, mình đang nắm giữ lịch sử trong tay.

Ngày xưa nhóm Tự Lực Văn Đoàn chỉ tồn tại dưới mười năm, nhưng đã làm được chuyện rất lớn. Chúng ta với tư cách là một tăng thân, nếu ý thức được con đường mình đi thì trong mười năm chúng ta cũng có thể làm được lịch sử.

Năm năm theo tiếng gọi lên đường,
Tóc lộng tơi bời gió bốn phương,
Mấy lúc thẫn thờ trông trở lại,
Để hồn mơ tới bạn quê hương.

Cuộc sống của người chiến sĩ, của người đang ở chiến khu rất cực nhọc, không có sự an ủi, thiếu thốn tình thương nên thỉnh thoảng trong lòng hay nhớ lại người yêu cũ. Đây là một điểm yếu, và người con trai biết rằng nếu muốn thành đạt chí nguyện thì mình phải cương quyết đi tới, đừng để cho tâm hồn chùng lại, đừng để cho lòng mình có những giây phút trầm lắng xuống. Nhưng đã sinh ra làm con người thì làm sao tránh thoát khỏi những giây phút gọi là chạnh lòng đó? Vì vậy lòng mình, nhiều khi tự nhiên bất chợt yếu đi.

Ta muốn lòng ta cứ lạnh lùng,
Gác tình duyên cũ thẳng đường rong.
Song le hương khói yêu đương vẫn,
Phảng phất còn vương vấn cạnh lòng.

Người con trai nào lớn lên hoặc người con gái nào lớn lên mà không khao khát thương yêu? Dù lý tưởng của mình có vĩ đại cách mấy, dù Bồ Đề Tâm của mình có vững chãi cách mấy thì sự khao khát ấy cũng luôn luôn còn đó. Trên bước đường phụng sự, trên bước đường cách mạng, trên bước đường lý tưởng nếu có xảy ra những giây phút Phảng phất còn vương vấn cạnh lòng cũng là chuyện bình thường thôi. Tôi đã quán chiếu và đã thấy trong trường hợp của một nhà cách mạng và trong trường hợp của một người tu, có sự khác nhau.

Có một bài thơ khác của Thế Lữ có thể giúp mình hiểu được thêm về bài Giây Phút Chạnh Lòng này, đó là bài Tiếng Gọi Bên Sông. Tôi xin đi lạc đề một chút để đọc bài thơ này.

Ta là một khách chinh phu,
(một người đi làm cách mạng, một chiến sĩ)
Dấn bước truân chuyên khắp hải hồ.
Mũ lượt bốn bề sương nắng gội,
Phong trần quen biết mặt âu lo.

Vất vả bao từng, chi xá kể?
Gian lao như lửa rèn tâm trí,
Bấy lâu non nước mãi xông pha,
Chưa phút dừng chân, chưa lúc nghỉ.

Trong thuở bình sinh đôi mắt ta
Không hề cho đẫm lệ bao giờ.

(tôi chưa bao giờ khóc)
Cười theo thất bại, khinh nguy hiểm,
Nện gót vang đường nhịp khúc ca.

Đang độ nam nhi vui trẻ hoài,
Sầu tư bi thiết, gác bên tai.
Trái tim chỉ rộn khi căm tức,
Ghét lũ vô minh, giận nỗi đời.

Vì bất bình, vì muốn có tự do dân chủ và bình đẳng xã hội mà đi làm cách mạng vậy thôi.

Trong khi lật đật nẻo sông Mê,
Trận gió heo may đuổi nhạn về.
Bụi cuốn đường xa, chinh khách mỏi,
Bỗng nghe tiếng hát vẳng bên kia.

Cố nhiên trên bước đường của người chiến sĩ, lâu lâu cũng có những giờ phút mỏi mệt và trong những giờ phút ấy nếu có một tiếng hát rất trong trẻo vẳng lên thì lòng người chinh khách sẽ bị chùng lại:

Tiếng hát trong như nước ngọc tuyền,
Êm như hơi gió thoảng cung tiên,
Cao như thông vút, buồn như liễu,
Nước lặng, mây ngừng, ta đứng yên.

Một người đi đường trường từ ngày này sang ngày khác, hai chân đã mỏi, mồ hôi đầm đìa, khát nước, cổ cháy khô mà tự nhiên thấy được một dòng nước trong, nghe được tiếng suối reo thì không dừng lại sao được? Trong lúc mệt mỏi lại được nghe một tiếng hát vẳng bên đường.

Chinh phu trong dạ dường tê tái,
Quay gót ta buồn trông trở lại.
Đường vẫn còn xa, còn phải đi,
Song le tiếng hát bên sông gọi.

Người thiếu nữ bên sông nói rằng anh đi đâu mà vội mà vàng, anh hãy ngừng ở lại đây, và cái đó đánh động tới sự khao khát yêu thương của người con trai.

Tiếng ái ân kia réo rắt hoài,
Mà lời mây nước giục bên tai.

Có hai khuynh hướng chống đối nhau, một bên là tiếng hát của ái ân, cứ tiếp tục réo rắt; một bên là lời mây nước giục bên tai, anh phải đi, anh phải đi, tại vì chí nguyện anh buộc anh phải dứt khoát lên đường.

Tiếng ái ân kia cứ réo rắt hoài,
Mà lời mây nước giục bên tai.
Đau lòng dứt mối tơ vương vấn,
Nước mắt đầu tiên lã chã rơi.

Người con trai vừa khóc vừa bước đi vì không thể nào dừng lại được nữa, tại vì dừng lại là phản bội chí nguyện của mình. Có cái thế tương phản ở trong lòng làm người con trai phải khóc.

Đau lòng rứt mối tơ vương vấn,
Nước mắt đầu tiên lã chã rơi.

Đây là lần đầu tiên người con trai khóc.

Trong thuở bình sinh, đôi mắt ta,
Không hề cho đẫm lệ bao giờ,

Tôi chưa bao giờ khóc hết, tôi chỉ :

Cười theo thất bại, khinh nguy hiểm,
Nện gót vang đường nhịp khúc ca.

Bây giờ, tôi khóc, vì có sự mâu thuẫn trong lòng. Mâu thuẫn giữa sự khao khát yêu thương và chí nguyện muốn thành tựu. Là con trai mới lớn, mình khao khát yêu thương như bất cứ người con trai nào. Nhưng non sông mờ cát bụi, nếu mình vướng víu vào chuyện tình duyên, làm sao mình có thể đạt thành chí nguyện? Cần phải dứt khoát, và lần đầu tiên nước mắt rơi xuống.

Ta muốn lòng ta cứ lạnh lùng.

Đó là cái lý trí.

Gác tình duyên cũ thẳng đường trông
Song le hương khói yêu đương vẫn
Phảng phất còn vương vấn cạnh lòng

Không đuổi nó đi được, nó vẫn còn nằm trong trái tim.

Hôm nay tạm nghỉ bước gian nan
Trong lúc gần xa pháo nổ ran
Rũ áo phong sương trên gác trọ
Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang

Đây là một đêm giao thừa, là giờ phút người con trai chùng chân mỏi gối, là giờ phút người con trai nhớ về người yêu cũ và cảm thấy rất cô đơn và rất khao khát thương yêu.

Ta thấy xuân nồng thắm khắp nơi

Ai cũng đang lo chuẩn bị đón giao thừa. Ở Việt Nam có tám chục triệu người, ở Trung quốc có một tỷ hai trăm ngàn người đang chuẩn bị đón giao thừa. Nhà nào cũng có một cành mai, cũng có một cành đào, cũng có năm bảy cái bánh chưng, cũng có một phong pháo, chỉ có một mình là không có gì cả, ngoài một cái áo, một đôi giầy đầy bụi đường. Khi mùa xuân về và mọi người đang được đoàn tụ thì mình – thân chiến sĩ cô đơn trong cuộc đời, mình thấy mệt mỏi và khát khao.

Ta thấy xuân nồng thắm khắp nơi,
Trên đường rộn rã tiếng đua cười,
Động lòng nhớ bạn xuân năm ấy,
Cùng ngắm xuân về trên khóm mai.

Ta tìm thấy ba chữ xuân trong bốn câu thơ này : xuân nồng thắm khắp nơi, xuân đã về, bạn xuân năm ấy. Loan và Dũng cũng từng ngắm xuân về trên khóm mai. Ngày chia ly của hai đứa là một ngày xuân. Hôm đó, Loan mặc áo dài, tay vịn vào cành mai, nói những lời tiễn biệt. Loan làm rung cành mai, những cánh mai rơi xuống, và Loan nói, cây mai khóc dùm em, chớ em đâu cần khóc, em bảo hoa kia khóc hộ người.

Lòng ta tha thiết đượm tình yêu.
Như cảnh trời xuân luyến nắng chiều,
Mắt lệ đắm trông miền cách biệt,
Phút giây chừng mỏi gót phiêu lưu…

Cuộc sống của người chiến sĩ quá kham khổ, quá khắt khe, thiếu vắng những cái vỗ về và nuôi dưỡng cho nên ý tưởng muốn bỏ cuộc đời chiến sĩ nó hấp dẫn, nó cứ tới ám ảnh hoài.

Cát bụi tung trời – Đường vất vả
Còn dài – Nhưng hãy tạm dừng chân.

Chàng chiến sĩ ấy cho phép lòng mình chùng xuống trên căn gác trọ phong sương đó.

Tưởng người trong chốn xa xăm ấy
Chẳng biết vui buồn đón gió xuân?

Không biết Loan còn nhớ mình hay không? Loan còn thương mình hay không? Dũng rất cần tình thương đó.

Đêm hôm ấy liên lạc được với vợ chồng cô giáo Thảo, Dũng biết là Loan được tha bổng, Loan bây giờ có tự do rồi. Dũng có thể trở về với Loan như một cặp thanh niên tự do, không còn bị lề lối phong kiến ràng buộc nữa. Loan có thể xin đi dạy học hay đi làm nghề nào đó, Dũng cũng có thể đi kiếm một việc làm, hai người có thể kết hợp lại thành một gia đình. Trong căn gác đó Dũng lấy cây viết chì và một tờ giấy viết thơ cho Loan: Nếu em còn thương anh thì chúng ta hãy nghĩ tới chuyện trở về với nhau.

Nếu chuyện này xảy ra thì không biết rằng lý tưởng của anh chàng sẽ đi tới đâu? Nếu hai người cưới nhau, hai người cần làm việc để kiếm sống thì lý tưởng của người chiến sĩ, người chinh phu đâu còn giữ được nữa? Vì vậy coi như con đường của Dũng bị thất bại.

Quí vị nào chưa từng có cơ hội nghiên cứu về lịch sử của đất nước, chưa biết những gì đã xảy ra cho những thế hệ con trai và con gái sinh ra từ đầu thế kỷ thứ hai mươi thì đây là sự mời gọi, quí vị phải tạo ra cơ hội để làm chuyện đó.

Quán chiếu thì chúng ta sẽ thấy con đường cách mạng cứu nước là một con đường rất hấp dẫn đối với thanh niên và con đường làm cách mạng xã hội để giải thoát thân phận của con người cũng là một con đường rất hay và những thanh niên sinh ra từ đầu thế kỷ thứ hai mươi đã dấn thân vào một trong hai con đường đó.

Khi đem vào tình trạng một chiều thứ ba, tức chiều tâm linh, chúng ta thấy rằng chúng ta có thể có một bức tranh khác. Tờ Đuốc Tuệ đã đem tới một chiều thứ ba trong không gian của tôi và trong lòng người con trai mười lăm tuổi hồi đó đã mở ra được một hướng đi.

Bây giờ nhìn lại, tôi thấy một cách rất rõ rệt là khi mình đi tu, cũng giống như mình đi làm cách mạng, tại vì hành động cạo đầu của mình đích thực là một hành động rất cách mạng. Hủy hình phi pháp phục, tức là hủy cái đẹp hình thức, mặc cái áo thầy tu là hành động can đảm. Cát ái từ sở thân, cắt đứt những dây lưu luyến ràng buộc với những  người thân, đó là quả thực là một hành động cách mạng.

Hủy hình phi pháp phục
Cát ái, từ sở thân

Bỏ cái đẹp hình thức, mặc vào chiếc áo thầy tu, xa lìa những người thân yêu để đi theo lý tưởng độ chúng sanh, đó là nội dung phần đầu bài kệ được đọc lên khi đưa mái tóc cho thầy cạo. Đó là con đường lớn của cách mạng.

Xuất gia cũng là làm cách mạng, đích thực làm cách mạng, nhưng người xuất gia có một mái nhà gọi là gia đình tâm linh, có những giới luật, có sự tu tập.

Khi làm cách mạng, mình chia sẻ với những người đồng chí lý tưởng cách mạng, tức là phục hồi độc lập quốc gia, thực hiện dân chủ. Mặc dù có chung lý tưởng nhưng phương tiện dùng để đi đến mục tiêu đó khác nhau. Đơn cử như việc thành lập rất nhiều đảng trong hoàn cảnh ấy :Quốc Dân đảng, Đại Việt đảng, đảng Cộng Sản,…và những đảng này có thể không hài hòa nhau, có thể chống đối nhau, loại trừ nhau.

Nếu có cơ hội, mình nên đọc lại lịch sử của đất nước giai đoạn này. Mình biết được, giữa đảng Quốc Dân, đảng Đại Việt, đảng Cộng Sản và những đảng khác có những bất hòa nào? Có ý hướng loại trừ nhau, tiêu diệt nhau, ám sát nhau như thế nào? Những chuyện này gây ra niềm đau rất lớn cho những thanh niên đi làm cách mạng. Bởi cùng làm cách mạng, nhưng nếu không cùng đảng, bắt buộc họ phải lên án lẫn nhau, thậm chí còn bắt cóc, ám sát nhau.

Trong môi trường của người tu thì không có chuyện đó xảy ra. Trong tăng thân mình đã có giới luật, mình đã có lý tưởng, mình đã có nguyên tắc Lục Hòa, mình đã có những phương pháp thực tập và vì vậy cho nên dầu người kia theo Tịnh Độ, dầu người kia theo Thiền, dầu người kia theo những tông phái khác thì không có lý do gì mình phải chống đối. Đạo Phật có tới tám vạn bốn ngàn pháp môn và tinh thần của đạo Phật là tinh thần của sự bao dung cho nên những người xuất gia không bao giờ nghĩ đến chuyện thủ tiêu nhau, tiêu diệt nhau. Đó là một sự khác biệt rất lớn giữa những người đi xuất gia với những người đi làm cách mạng.

Điều khác biệt thứ hai, khi làm cách mạng, mình có thể thấy con đường quá dài. Có khi sống hết cuộc đời rồi, mà vẫn chưa thấy được cụ thể một kết quả nào của cách mạng mang lại. Hoặc đảng của mình, đường lối của mình đôi khi bị tiêu diệt, bị đàn áp đến nỗi không còn có thể phục hồi được. Có khi hai mươi năm, ba mươi năm, năm mươi năm vẫn không thấy được một kết quả nào cụ thể mà sự tổn thất về nhân mạng vẫn tiếp tục xảy ra.

Trong khi đó, nếu mình tu tập nghiêm chỉnh với tăng thân thì trong vòng vài ba tháng, mình đã thấy an lành, mình có thể bắt đầu độ được người. Nếu các thiền sinh từ xa tới thấy các sư cô, các sư chú –dù họ chỉ thực tập được sáu tháng hay một năm –đi đứng trong chánh niệm, có oai nghi, có nụ cười, có sự tươi mát, họ có niềm tin nơi chánh pháp, và họ đã đỡ khổ rất nhiều.

Ngày xưa, khi số lượng các thầy, các sư cô ở Làng còn ít, tôi hay đi hướng dẫn các khóa tu một mình. Tuy những khóa tu đó rất thành công, nhưng không thể so sánh được với những khóa tu sau này. Khi tôi đem tới khóa tu ba mươi vị xuất gia hay năm mươi vị xuất gia, các thiền sinh thấy các vị xuất gia đi theo đều biết đi, đứng, nằm, ngồi trong chánh niệm, nói cười trong chánh niệm. Điều này đã mang lại cho họ niềm tin về chánh pháp. Rõ ràng, không cần phải tu năm mươi năm hay sáu mươi năm mới có thể mang lại hạnh phúc cho người khác, chỉ cần hành trì giới luật, uy nghi và chánh niệm có nội dung trong vòng ba tháng, năm tháng hay sáu tháng, mình có thấy được hiểu quả của con đường xuất gia.

Trong khi đó người thanh niên đi làm cách mạng có thể thấy con đường dài hun hút, tổn thất có thể tới hàng ngày mà sự ích lợi thiết thực của con đường lý tưởng chưa thấy đâu cả?

Mình không cần phải đợi khi nào trở thành giáo thọ rồi mới bắt đầu độ đời. Ngay trong ngày đầu tiên, giờ đầu tiên, nếu mình có hạnh phúc, mình thực sự nương tựa vào tăng thân thì niềm hạnh phúc đó được biểu hiện ngay trong lời nói, tiếng cười, dáng đi của mình, và như thế, mình bắt đầu làm hạnh phúc cho tăng thân và cho những người tới với mình.

Điểm khác giữa người tu với người làm cách mạng là thấy được kết quả của những hành động của chính mình. Bởi giáo lý đạo Bụt là giáo lý vượt thoát thời gian, đến để mà thấy, có hiệu lực ngay trong giây phút hiện tại, nếu bắt đầu thực tập thì thấy có kết quả ngay lập tức, dù kết quả còn khiêm nhường.

Điểm khác biệt thứ ba, những người đi làm cách mạng ít được hưởng tình huynh đệ, tình gia đình, cuộc sống của họ phong sương rất nhiều, còn sự tập mỗi ngày của người tu hướng đến tình huynh đệ, thực tập như thế nào để sư anh, sư chị, sư em của mình trở thành những người thương thật sự của mình, thực tập như thế nào để mỗi ngày có cơ hội để thương và được thương, thực tập như thế nào để xây dựng không khí đầm ấm của một gia đình tâm linh và do đó chúng ta có cơ hội mỗi ngày để thương và để được thương.

Người tu sĩ không thiếu thốn tình thương như người chiến sĩ, vì mỗi ngày, ta đều thực tập hiến tặng tình thương theo tinh thần tứ vô lượng tâm –thứ tình thương không bi lụy, không vướng mắc, không đánh mất tự do của mình và người kia. Ta hiến tặng tình thương ấy cho những người bạn tu của ta, cho những người đến tu học với ta. Do vậy, ta không bị lâm vào tình trạng của Dũng

Đọc bài thơ này, ta thấy thương cho những người con đã ra đi để tranh đấu cho chủ quyền quốc gia, bình đẳng xã hội. Lý tưởng đó rất đẹp, lý tưởng đó không thua gì lý tưởng của một vị Bồ Tát, nhưng tổ chức cách mạng có thể đã không nuôi dưỡng được người cách mạng như tăng thân nuôi dưỡng được những người xuất gia.

Một đảng chính trị, một đảng cách mạng, một hội cách mạng có thể áp dụng những phương thức để nuôi dưỡng những thành viên của họ. Nhưng cho đến bây giờ, chúng ta vẫn chưa thấy được dấu hiệu rõ rệt nào chứng tỏ điều đó. Còn với đạo Bụt, qua hơn 2500 năm lịch sử, chúng ta thấy rất rõ, chúng ta có đủ những lề lối, những phương thức, những pháp môn áp dụng để có thể đi trọn được con đường tu tập của chúng ta với tư cách một vị Bồ Tát. Và đức Thế Tôn mong muốn rằng, chúng ta trở thành những vị Bồ Tát có thể giúp được mình và giúp được người.

Chúng ta xuất gia là phát nguyện dấn thân vào một cuộc cách mạng lớn. Chúng ta có nhiều cơ hội thành công cuộc cách mạng này, vì chúng ta có tăng thân và có pháp môn rất rõ ràng, rất thực tế. Vấn đề bây giờ là khả năng nắm lấy cơ hội đó nơi mỗi người. Nếu khéo léo thực tập mỗi ngày để được nuôi dưỡng và nuôi dưỡng đến các thành viên khác của tăng thân thì thành công là vấn đề nằm trong tầm tay của mình. Và mình sẽ có rất ít những giây phút chạnh lòng. Giả sử, nếu có xảy ra những giây phút như vậy, mình vượt qua rất mau. Vì mình có tình thương của thầy, tình thương của anh, tình thương của chị, tình thương của em, tình thương của Bụt nên mình sẽ không lâm vào tình trạng của Dũng trong bài thơ này.

Bài thơ này nói về tình yêu lứa đôi, nhưng nếu đọc thơ với con mắt của chánh pháp, mình có thể sử dụng những yếu tố không phải phật pháp để làm thành phật pháp. Phật pháp tức Thế gian pháp, đó là điều mình đã được học. Đọc thơ với sự quán chiếu sâu sắc, tình thương trong mình sẽ trào dâng. Mình thương cho Loan, mình thương cho Dũng, mình thương cho biết bao thế hệ thanh niên đã có một tấm lòng, đã có chí nguyện thương nước, thương dân và cải tạo xã hội. Nhưng vì chưa có những điều kiện thuận lợi để thực hiện chí nguyện ấy nên không biết bao nhiêu người đã ngã gục.

Tôi đã có nói với quý vị, chúng ta đang nắm lịch sử trong tay. Bởi chúng ta đã và đang có rất nhiều cơ hội góp phần vào việc tạo nên một thế hệ mới lành mạnh. Ngày xưa, nhóm Tự Lực Văn Đoàn hoạt động chưa tới mười năm. Hơn nữa lại hoạt động trong tình cảnh rất khó khăn. Nhưng họ đã rất thành công trong sự nghiệp của mình.

Ngày xưa, Hoàng Đạo, em ruột của Nhất Linh, đã lấy bút hiệu là Tứ Ly viết một tác phẩm với tựa là Mười Điều Tâm Niệm. Mười Điều Tâm Niệm kêu gọi thanh niên đi làm cách mạng. Chúng ta nên đọc nó và quán chiếu bằng con mắt trạch pháp, xem thử điều nào có thể chấp nhận được, điều nào hơi quá đà.

Theo giáo lý Tứ đế, chúng ta cần nhìn sâu vào khó khăn, đau khổ của tình trạng hiện tại để hiểu được nguyên nhân đưa đến những khó khăn, khổ đau đó –Nhìn vào khổ đế thấy được Tập đế. Thấy được Tập đế, chúng ta sẽ khai mở con đường Đạo đế để đi tới kết quả là Diệt đế.

Tất cả những gì ta làm, ta nói, ta viết đều có tác dụng mở rộng con đường cho những thế hệ tương lai. Nhóm Tự Lực Văn Đoàn tồn tại rất ngắn, chúng ta có thể may mắn hơn họ. Những gì chúng ta đang làm như mở những khóa tu cho người Việt, cho người Mỹ, người châu Âu, cho người Nhật, cho những nhà tâm lý trị liệu, cho giới văn nghệ sĩ, cho giới thương gia, cho giới bảo vệ môi trường, cho những thầy giáo, cô giáo,…là những phương tiện, những cơ hội hướng dẫn cho thế hệ tương lai con đường của chuyển hóa, con đường của trị liệu. Chúng ta đang thật sự làm một cuộc cách mạng, chúng ta phải ý thức điều đó. Chúng ta không làm như những cá nhân, chúng ta làm với tư cách một tăng thân.

Chúng ta phải biết trân quí thời gian của mình. Trong mỗi giờ, mỗi phút, chúng ta phải nắm tay nhau, chúng ta phải thấy được lý tưởng vĩ đại, cao đẹp của chúng ta, chúng ta phải làm cho được, thực hiện cho được chí nguyện lớn của chúng ta trong thế kỷ hai mươi mốt này.

Còn khoảng một giờ đồng hồ nữa, chúng ta sẽ bước sang một năm mới. Đây là năm đầu của thiên năm đầu của thế kỷ mới, của thiên niên kỷ mới. Đọc bài thơ này, chúng ta phải ý thức rằng, chúng ta đang có may mắn được cùng sống với nhau như một tăng thân, chúng ta có lý tưởng, đường hướng và phương tiện để hoàn thành cuộc cách mạng của chúng ta. Thế giới hôm nay cần cuộc cách mạng đó, vì có rất nhiều người đang chìm đắm trong đau khổ, trong hận thù, trong đam mê. Chúng ta sẽ thành công như một tăng thân, chúng ta sẽ thành công như một dòng sông mà không phải là những giọt nước.

Trong giờ giao thừa, chúng ta sẽ tụng chung với nhau bài tụng Hạnh Phúc để chúng ta biết rằng, mình đang có nhau, đang cùng đi trên cùng một con đường. Nếu chúng ta ý thức được điều này, hạnh phúc của chúng ta sẽ tăng tiến rất mau chóng, và năng lượng đó sẽ giúp chúng ta thành đạt được lý tưởng mà chúng ta đã nguyện đi theo.

Hủy hình phi pháp phục
Cát ái, từ sở thân
Xuất gia hành Phật đạo
Nguyện độ nhất thiết nhân

Đó là giây phút mà ta nói lên lời cam kết, lời thề của tất cả những người xuất gia.

 

 

Giây phút chạnh lòng

Tặng tác giả “Đoạn Tuyệt”

“Anh đi đường anh, tôi đường tôi,
Tình nghĩa đôi ta có thế thôi.
Đã quyết không mong xum họp mãi.
Bận lòng chi nữa lúc chia phôi?

“Non nước đang chờ gót lãng du,
Đâu đây vẳng tiếng hát chinh phu,
Lòng tôi phơi phới quên thương tiếc
Đưa tiễn anh ra chốn hải hồ.

“Anh đi vui cảnh lạ, đường xa,
Đem chí bình sinh dãi nắng mưa,
Thân đã hiến cho đời gió bụi
Đâu còn lưu luyến chút duyên tơ?

“Rồi có khi nào ngắm bóng mây
Chiều thu đưa lạnh gió heo may
Dừng chân trên bến sông xa vắng,
Chạnh nhớ tình tôi trong phút giây;

“Xin anh cứ tưởng bạn anh tuy
Giam hãm thân trong cảnh nặng-nề,
Vẫn để hồn theo người lận đận;
Vẫn hằng trông đếm bước anh đi.”

Lấy câu khẳng-khái tiễn đưa nhau,
Em muốn cho ta chẳng thảm sầu.
Nhưng chính lòng em còn thổn-thức,
Buồn kia em giấu được ta đâu?

Em đứng nương mình dưới gốc mai,
Vin ngành sương đọng, lệ hoa rơi,
Cười nâng tà áo đưa lên gió,
Em bảo: hoa kia khóc hộ người.

Rồi bỗng ngừng vui cùng lẳng lặng,
Nhìn nhau bình-thản lúc ra đi.
Nhưng trong khoảnh khắc thờ-ơ ấy,
Thấy cả muôn đời hận biệt-ly.

Năm năm theo tiếng gọi lên đường,
Tóc lộng tơi bời gió bốn phương.
Mấy lúc thẫn thờ trông trở lại,
Để hồn mơ tới bạn quê hương.

Ta muốn lòng ta cứ lạnh lùng
Gác tình duyên cũ chẳng đường trông.
Song le hương khói yêu đương vẫn
Phảng phất còn vương vấn cạnh lòng.

Hôm nay tạm nghỉ bước gian nan.
Trong lúc gần xa pháo nổ ran.
Rũ áo phong sương trên gác trọ.
Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang.

Ta thấy xuân nồng thắm khắp nơi,
Trên đường rộn rã tiếng đua cười,
Động lòng nhớ bạn xuân năm ấy.
Cùng ngắm xuân về trên khóm mai.

Lòng ta tha thiết đượm tình yêu,
Như cảnh trời xuân luyến nắng chiều,
Mắt lệ đắm trông miền cách biệt,
Phút giây chừng mỏi gót phiêu lưu…

Cát bụi tung trời – Đường vất vả
Còn dài – Nhưng hãy tạm dừng chân,
Tưởng người trong chốn xa xăm ấy
Chẳng biết vui buồn đón gió xuân?


Thế Lữ (1936)

Thế Lữ tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, còn có bút danh Lê Ta, sinh ngày 6 tháng 10 năm 1907, tại ấp Thái Hà, Hà Nội trong một gia đình Ki tô giáo. Ông quê ở làng Phù Đổng, huyện Tiên Du (nay là Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Ông theo người nhà lên sống ở Lạng Sơn từ nhỏ cho đến năm 11 tuổi. Năm 1918, Thế Lữ về sống ở Hải Phòng và từ năm 1925 đến năm 1928 học thành chung ở trường Bonnal (ở địa điểm nay là trường Ngô Quyền). Học đến năm thứ ba thành chung, ông thôi học lên Hà Nội học Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, sau đó một năm (1930), ông bỏ học. Năm 1932, Thế Lữ bắt đầu tham gia Tự Lực Văn Đoàn và là một trong những cây bút chủ lực của báo Phong hóa, Ngày nay, Tinh hoa. Ông mất tại Sài Gòn ngày 3 tháng 6 năm 1989, để lại cho đời nhiều tác phẩm: Mấy vần thơ, Vàng và máu, Bên đường Thiên Lôi, Gió trăng ngàn, Trại Bồ Tùng Linh, Ba hồi kinh dị, Con quỷ truyền kiếp, Lê Phong phóng viên, Gói thuốc lá, Đòn hẹn, ,

*Gồm 7 người là Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ, và Xuân Diệu.

Trái tim thiền tập

Thiền tập không nằm ngoài xã hội, không trốn tránh xã hội mà là chuẩn bị để đi vào lại xã hội. Ta gọi là đạo Bụt nhập thế, hay đạo Bụt dấn thân. Khi đến một trung tâm tu học nào đó, có thể ta có cảm tưởng là mình bỏ lại mọi thứ sau lưng, như gia đình, xã hội, bỏ lại tất cả những vấn đề rắc rối liên quan đến gia đình và xã hội. Mình đến thực tập với tính cách cá nhân để tìm kiếm an lạc. Nghĩ như vậy đã là vô minh rồi, bởi vì trong đạo Bụt không có cái gì là cá nhân cả.

Cũng giống như tờ giấy là hoa trái, là sự kết hợp của nhiều yếu tố mà ta có thể gọi những yếu tố ấy là những yếu tố không phải giấy. Cá nhân được làm bằng những yếu tố không phải là cá nhân. Nếu là nhà thơ chúng ta sẽ thấy được đám mây đang trôi nổi bồng bềnh trong tờ giấy. Không có mây thì sẽ không có mưa, không có mưa thì sẽ không có nước, không có nước cây sẽ không lớn lên được, và không có cây chúng ta không thể nào làm ra giấy. Vì vậy mây có mặt trong tờ giấy. Sự có mặt của tờ giấy phụ thuộc vào sự có mặt của đám mây. Giấy và mây rất gần gũi thân thiết với nhau. Chúng ta hãy nghĩ về những thứ khác như ánh nắng mặt trời. Ánh nắng mặt trời rất quan trọng vì rừng cây không thể lớn lên mà không có ánh nắng mặt trời. Con người chúng ta cũng vậy, chúng ta không thể lớn lên mà không cần ánh nắng mặt trời. Vì vậy người tiều phu cần mặt trời để có cây đốn củi, cây cũng cần ánh nắng mặt trời để được làm cây. Cho nên nhìn vào tờ giấy chúng ta thấy ánh nắng mặt trời. Nếu nhìn sâu hơn nữa với con mắt của các vị Bồ tát, con mắt của những người tỉnh thức, chúng ta thấy không chỉ có mây và ánh nắng mặt trời trong tờ giấy mà tất cả mọi thứ đều nằm trong tờ giấy. Lúa mì để làm nên bánh mì cho người tiều phu ăn, ba mẹ người tiều phu cũng có mặt trong tờ giấy.

Kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka) nói rằng chúng ta không thể tìm ra một thứ gì mà không liên quan đến tờ giấy. Vì vậy, ta nói giấy được làm bằng những yếu tố không phải giấy. Mây là một yếu tố không phải giấy. Rừng cây là một yếu tố không phải giấy. Ánh nắng mặt trời là một yếu tố không phải giấy. Giấy được làm bằng tất cả những yếu tố không phải là giấy. Nếu chúng ta nhìn rộng hơn, trở về những yếu tố không phải giấy cho đến nguồn gốc của những yếu tố không phải giấy ấy, như từ đám mây đến bầu trời, từ ánh nắng mặt trời đến mặt trời, từ người tiều phu đến cha mẹ của người tiều phu thì tờ giấy là không. Không cái gì? Không có một thực thể riêng biệt. Nó được làm bằng những yếu tố vô ngã, những yếu tố không phải giấy, và nếu lấy tất cả những yếu tố không phải giấy ra thì tờ giấy thực sự không có. Tờ giấy không có một cái ngã riêng biệt. Không trong trường hợp này nghĩa là không có một cái ngã riêng biệt. Giấy có đầy đủ mọi thứ, có cả toàn thể vũ trụ nhưng không có một cái ngã riêng biệt. Sự có mặt của một tờ giấy nhỏ cho thấy sự có mặt của toàn thể vũ trụ.

Cũng vậy, một cá nhân được làm bằng những yếu tố không phải cá nhân. Làm sao các bạn nghĩ là mình có thể bỏ lại mọi thứ sau lưng khi đến một trung tâm tu học được? Nỗi khổ đau mà các bạn mang trong mình cũng là của xã hội. Các bạn mang nỗi khổ đau trong mình cũng là mang xã hội trong mình. Các bạn mang tất cả chúng tôi trong các bạn. Khi thiền tập, các bạn không chỉ thiền tập riêng cho cá nhân các bạn mà cho toàn xã hội. Các bạn tìm phương án giải quyết cho những vấn đề của các bạn cũng không phải là cho cá nhân của các bạn mà cho tất cả mọi người.

Người ta hay xem thường lá, cho lá là con của cây. Đồng ý lá là con của cây, được sinh ra từ cây, nhưng lá cũng là mẹ của cây. Lá tổng hợp nhựa nguyên, nước, chất khoáng, chất khí cùng với ánh nắng mặt trời, chuyển thành nhựa luyện để nuôi cây. Như thế thì lá trở thành mẹ của cây. Tất cả chúng ta đều là con của xã hội nhưng chúng ta cũng là mẹ của xã hội. Nếu chúng ta bị bứng văng ra khỏi xã hội thì chúng ta không thể biến xã hội thành một nơi có thể chúng sống được cho chúng ta và cho con cháu chúng ta.

Tôi đã làm vườn nhiều năm và tôi biết có những loại cây rất khó để cấy ghép. Muốn cấy ghép ta phải dùng thuốc kích thích để giúp chúng đâm rễ dễ dàng. Tôi tự hỏi liệu trong thiền tập có thể tìm thấy một loại năng lực, sức mạnh nào có thể giúp cho những người bị mất gốc (bị bứng văng ra khỏi xã hội) cắm rễ lại vào xã hội được hay không? Thiền tập không phải là chạy trốn khỏi xã hội. thiền tập là để trang bị cho mình khả năng hội nhập lại với xã hội.

Trong các trung tâm thiền tập có những vấn đề mà chúng ta cần quan tâm, ví dụ như một số người trẻ thấy mình không thoải mái khi sống với xã hội, vì vậy họ vào chùa tu. Họ không biết một sự thật rằng là họ không thể đến trung tâm tu học với tính cách cá nhân. Đến trung tâm tu học với nhau, họ hình thành một xã hội khác. Là một xã hội  (dù ở trong trung tâm tu học) thì nó cũng có những vấn đề như những xã hội khác. Trước khi đến một trung tâm tu học, họ hy vọng tìm thấy được sự bình an trong thiền tập. Nhưng giờ đây, khi thực tập và hình thành một xã hội mới, họ vỡ lẽ ra rằng cái xã hội này thậm chí còn khó hơn cái xã hội lớn bên ngoài nữa. Toàn là những người xa lạ. Sau vài năm họ thấy thất vọng, tình trạng còn tệ hơn trước khi đến trung tâm tu học. Điều này xảy ra là do ta hiểu lầm thiền tập, do ta hiểu lầm mục đích của thiền.

Thiền là cho tất cả mọi người mà không phải chỉ cho những người thực tập. Đưa trẻ em đến trung tâm tu học là điều rất tự nhiên. Ở Làng Mai, trẻ em thực tập chung với người lớn. Thỉnh thoảng Làng mở cửa cho thiền sinh mang theo con cái đến thực tập chung với nhau. Chúng ta chăm sóc trẻ em rất đặt biệt. Khi trẻ em hạnh phúc, người lớn cũng hạnh phúc. Có ngày tôi nghe các em nói chuyện với nhau: “Sao ở đây ba mẹ mình dễ thương quá vậy?”. Có người thực tập được 14 năm rồi mà chưa bao giờ chỉ cho con cái thực tập. Chúng ta không thể thực tập một mình. Chúng ta phải thực tập chung với con cái chúng ta. Nếu con ta không hạnh phúc, không thể cười được thì ta cũng không thể cười được. Khi chúng ta bước được một bước chân an lạc thì bước chân ấy không chỉ cho ta mà còn cho con cháu ta và cho cả xã hội.

Tôi nghĩ rằng sống ngoài xã hội rất khó. Nếu không cẩn trọng, ta có thể bị văng ra khỏi xã hội và một khi bị văng ra khỏi xã hội thì ta không thể làm gì được để giúp thay đổi tình trạng xã hội, không thể biến xã hội thành một nơi để có thể dễ dàng chung sống với nhau được. Thiền tập là một phương pháp giúp ta có mặt cho xã hội. Điều này rất quan trọng. Chúng ta đã chứng kiến những người thấy mình bị lẻ loi, xa cách với xã hội và không thể hội nhập được với xã hội. Điều này cũng có thể xảy ra với tất cả chúng ta nếu ta không cẩn thận.

Tôi biết nhiều người thực tập đạo Bụt ở Mỹ rất trẻ và có trí thức. Họ đến với đạo Bụt không phải bằng tín ngưỡng mà bằng cánh cửa tâm lý. Nhiều người ở Tây phương khổ đau nhiều vì tâm lý, chính vì vậy mà họ đã trở thành Phật tử, thực tập thiền để giải quyết những vấn đề tâm lý ấy. Nhiều người vẫn sống với xã hội, nhưng một số thì bị văng ra khỏi xã hội. Sống khá lâu trong xã hội này, chính bản thân tôi cũng thấy khó sống, không thể đi theo xã hội được. Nhiều thứ xảy ra khiến tôi không muốn làm gì cả, chỉ muốn rút về trong cái vỏ của mình. Nhưng sự thực tập giúp tôi tiếp tục duy trì, tiếp xúc với xã hội bởi vì tôi ý thức rằng nếu từ bỏ xã hội thì tôi sẽ không có khả năng giúp thay đổi tình trạng. Hy vọng rằng những ai đang thực tập đạo Bụt thành công, có khả năng đứng vững trên đôi chân của mình thì ở lại với xã hội. Đó là niềm hy vọng của chúng ta cho sự an lạc và hòa bình thế giới.

Cách đây hơn 30 năm, lúc đó tôi khoảng 27,28 tuổi, tôi có làm một bài thơ về một thầy tu rất đau khổ đã từ bỏ xã hội để đến trung tâm thiền tập. Vì chùa là cửa từ bi nên mọi người ai cũng tiếp đón thầy. Khi một ai đó có nhiều khổ đau, họ tìm đến chùa chiền hoặc trung tâm tu học. Trước hết là để được xoa dịu và an ủi. Những người trong chùa có đủ từ bi để cho họ đến, cho họ một nơi để khóc. Người đó cần bao lâu, bao nhiêu năm để khóc? Chúng ta không biết. Nhưng cuối cùng họ nương tựa vào chùa, vào trung tâm tu học và không muốn trở lại xã hội nữa. Đã quá đủ cho thầy ấy. Thầy nghĩ là thầy đã tìm thấy được một ít an lạc. Nhưng một ngày nọ tôi đến châm lửa đốt cái thất nhỏ, nơi trú ngụ cuối cùng của thầy. Theo thầy thì thầy không có gì khác ngoài cái chòi tranh đó. Thầy không có một nơi nào để đi bởi vì xã hội không phải của thầy. Thầy nghĩ thầy phải đi tìm giải thoát cho riêng mình. Nhưng dưới ánh sáng của đạo Bụt thì không có một cái ngã cá nhân như thế. Như chúng ta đã biết , khi đến một trung tâm tu học chúng ta mang theo tất cả những thương tích, những vết thẹo từ xã hội và chúng ta cũng mang theo cả xã hội. Trong bài thơ này tôi là người thầy tu trẻ đó và cũng là người đến châm lửa đốt chòi tranh.

 

TÔI SẼ XIN RẰNG TẤT CẢ

Nếu hỏi rằng “người muốn bao nhiêu”
tôi sẽ xin rằng “tất cả”
tôi tham lam hơn ngày xưa, tham lam tột độ,
cả ngài, cả tôi
cả người thiên hạ
xuôi về, sáng hôm nay, trong duy nhất nhiệm mầu.
ôi những mảnh rời nhau, khổ đau.
tách rời ngoài đại thế !
đã từ lâu, ngàn vạn đời,
chúng tôi tự tìm, sờ soạng, trong ngục tù giả trá an vui
sáng hôm nay em tôi trở về quỳ dưới Phật đài
mắt đầm đìa lệ,
ôi những linh hồn đi tìm bến đỗ
(hình bóng của tôi xưa
phiêu lưu ngàn năm, một hôm sầu khổ, khao khát bến bờ)
hãy để yên cho em quỳ lâu trên điện Phật
cho lệ em thầm lặng chảy
cho lệ em mặc sức tràn trề
hãy để yên cho quỳ lâu thêm nữa
đủ thì giờ cho lệ em khô ráo
bởi vì người ơi, một sáng mai kia,
tôi sẽ đến châm lửa vào túp lều nho nhỏ của em ở ven đồi
túp lều duy nhất còn lại của đời em
cho lửa cháy lên cao
cho tan hoang tất cả
cho chỗ nương tựa cuối cùng tan rã
cũng như chiếc bè, trên đại dương, tan rã
để vỏ cứng hồn em, trong hỗn độn nhiệm mầu,
sẽ vỡ toang, tràn trề ánh sáng!
tôi sẽ gặp em, bên ánh lửa hồng cháy rực của túp lều
nước mắt sung sướng chan hoà
tôi nhìn em
và khi cầm tay em, tôi hỏi rằng: “em muốn bao nhiêu ”
tất nhiên em sẽ cười và sẽ xin rằng “tất cả ”

Đối với tôi, trung tâm thiền tập phải là nơi mà ta có thể trở về với chính mình để hiểu rõ mình, hiểu rõ thực tại và làm lớn mạnh thêm hiểu biết thương yêu trong ta, chuẩn bị để trở lại xã hội. Nếu không thì đó không phải là một trung tâm tu học đích thực. Khi chúng ta đạt được sự hiểu biết đúng đắn thì chúng có thể trở lại xã hội và đóng góp đích thực cho xã hội. Trong đời sống hàng ngày, chúng ta có nhiều hình thức sinh hoạt khác nhau. Có khi ngồi thiền, có khi không ngồi thiền. Hai thời điểm này rất khác nhau nhưng liên quan mật thiết với nhau. Ta thường nghĩ rằng khi ngồi thiền là mình thực tập chuyên sâu (intensive) còn khi không ngồi thiền là mình không thực tập chuyên sâu. Kỳ thực thì chúng ta có thể thực tập cái không thực tập một cách chuyên sâu. Đó là “tu vô tu tu”. Chúng ta đã tạo ra một bức tường ngăn cách giữa thực tập và không thực tập. Thực tập chỉ dành cho những thời công phu như ngồi thiền, đi thiền, tụng kinh… còn lại thì chúng ta không thực tập. Làm sao để ta có thể hòa trộn hai thời điểm này lại với nhau? Làm sao để ta có thể đem thiền ra khỏi thiền đường? Đem thiền vào nhà bếp và văn phòng? Làm thế nào để thời gian ngồi thiền ảnh hưởng tốt đến suốt thời gian còn lại trong ngày của ta, ảnh hưởng đến những lúc ta không ngồi thiền? Khi bác sĩ chích thuốc cho ta thì không những thuốc ảnh hưởng lên cánh tay ta mà nó còn ảnh hưởng lên toàn bộ cơ thể. Nếu trong ngày ta thực tập một giờ ngồi thiền thì một giờ đó phải ảnh hưởng lên 24 giờ mà không phải chỉ ảnh hưởng trong giờ ngồi thiền thôi. Một nụ cười, một hơi thở phải mang lại lợi ích cho ta cả ngày mà không phải chỉ có lợi ngay lúc thở và lúc cười. Chúng ta phải thực tập như thế nào để lấy đi ranh giới giữa thực tập và không thực tập.

Khi đi trong thiền đường, ta bước những bước chân thật chậm rãi và cẩn trọng. Còn ở phi trường thì ta bước nhanh hơn, ít chánh niệm hơn. Làm thế nào để ta có thể thực tập được lúc ở phi trường và ở chợ? Đó là đạo Bụt nhập thế, hay đạo Bụt dấn thân. Đạo Bụt nhập thế không chỉ có nghĩa là xử dụng đạo Bụt để giải quyết những vấn đề chính trị, xã hội, để chống lại những trái bom nguyên tử hay những bất công xã hội mà trước hết là để giải quyết những vấn đề trong đời sống hàng ngày. Vì vậy chúng ta phải mang đạo Bụt vào trong đời sống hàng ngày của ta. Tôi có một người bạn thực tập hơi thở ý thức khi gọi điện thoại, điều đó giúp cô ấy rất nhiều. Một người khác thì đi thiền hành từ điểm hẹn này đến điểm hẹn khác, bước những bước chân chánh niệm từ dãy nhà này sang dãy nhà khác trong khu thương mại ở Denver. Khách qua đường nhìn ông mỉm cười, những cuộc gặp gỡ của ông dù với những người khó tính đến mấy cũng biến thành vui vẻ và thành công.

Chúng ta nên đưa sự thực tập trong thiền đường vào trong đời sống hàng ngày. Thực tập như thế nào để hiểu được cảm thọ, tri giác của mình. Chúng ta không chỉ xử lý cảm thọ, tri giác trong lúc ngồi thiền mà phải xử lý chúng suốt ngày. Chúng ta phải pháp đàm với nhau làm thế nào để thực hiện được điều đó. Chúng ta có thực tập hơ thở ý thức khi gọi điện thoại không? Chúng ta có mỉm cười khi lặt rau, làm bếp không? Chúng ta có thực tập buông thư sau mỗi giờ làm việc biết ứng dụng đạo Bụt vào bữa cơm tối, vào thời gian rảnh rỗi và ngủ nghỉ thì đạo Bụt sẽ đi vào đời sống hàng ngày của ta. Và như vậy sẽ có những ảnh hưởng lớn đến những mối quan tâm của xã hội. Bụt, Pháp, Tăng trở thành những vấn đề hàng ngày của ta trong mỗi giây, mỗi phút mà không phải là những lời giảng giải xa xôi.

 

Tìm Niết bàn trong sinh tử

 

Sinh Phật bất nhị

Những người Cơ đốc giáo thường đặt vấn đề: Thượng đế có phải là một con người hay không? Nếu Thượng đế không phải là một con người thì làm sao chúng ta có thể cầu nguyện? Đây là một vấn đề rất lớn trong Cơ đốc giáo. (God is a person or is not a person?)

Vào hạ bán thế kỷ thứ 20, những nhà thần học cho rằng: Tuy Thượng đế không phải là một con người nhưng Ngài cũng không ít hơn một con người. (God is not a person but is not less than a person). Người ta đi tới quan niệm: Thượng đế không phải chỉ là một con người. Đó là một bước tiến rất lớn!

Trong đạo Bụt chúng ta có quan niệm chúng sinh và Bụt. Chúng sinh là những người mê mờ đang đau khổ và Bụt là một người giác ngộ không còn đau khổ. Chúng ta thường phân biệt chúng sinh khác với Bụt. Ta thường có khuynh hướng nghĩ rằng khi đã thành Bụt thì không còn là chúng sinh nữa. Nhưng quan niệm đó không đúng với cái thấy của Phật giáo đại thừa. Theo cái thấy của Phật giáo đại thừa, nếu không có chúng sinh thì không có Bụt. Đó là lý thuyết: Sinh Phật bất nhị 生 佛 不 二, tức Bụt và chúng sinh không phải là hai cái riêng biệt. Cái này không thể có ngoài cái kia. Chúng sinh và Bụt không phải là hai thực thể riêng biệt. Sở dĩ có Bụt là nhờ có chúng sinh, không có chúng sinh thì không bao giờ có Bụt. Bụt và chúng sinh là một cặp, tuy bề ngoài có vẻ như đối lập nhau nhưng phải nương nhau mà thành. Cũng như bùn và sen, không có bùn thì ta không thể có sen.

Theo giáo lý duyên khởi thì tất cả đều là duyên sinh. Nhìn vào con người ta thấy những yếu tố không phải con người như đất đá, cây cỏ, cầm thú. Những yếu tố như đất, nước, lửa, gió lâu ngày có đủ điều kiện thì sinh ra cây cỏ và những loài chúng sinh, rồi từ những loài chúng sinh phát sinh ra con người. Nếu lấy những loài khoáng chất, cây cỏ và cầm thú ra khỏi con người thì con người không còn nữa. Vì vậy con người cũng là đất đá, cây cỏ và cầm thú. Ta không thể cho rằng khi trở thành con người rồi thì ta không còn là đất đá, cây cỏ và cầm thú nữa. Ta vẫn tiếp tục làm đất đá, cây cỏ và cầm thú tại vì những yếu tố không phải con người vẫn còn trong ta. Tuy đã là Bụt rồi nhưng những yếu tố không phải Bụt vẫn còn trong Bụt. Trong Bụt có những yếu tố như: chúng sinh và những khổ đau, những phiền não, những si mê đã được chuyển hóa. Nhìn vào sen ta thấy những yếu tố không phải sen như là bùn. Nếu muốn tiếp tục làm bông sen thì sen phải sử dụng chất bùn để làm ra sen. Ta đã là con người, nhưng nếu không có đất đá, cây cỏ và cầm thú thì ta không thể tiếp tục làm con người. Vì vậy con người và cái gọi là sinh môi không phải là hai cái khác nhau, hai cái phải dựa trên nhau mà có. Chừng nào không còn chúng sinh thì cũng không còn Bụt. Chừng nào không còn đất đá, thảo mộc, cầm thú thì không còn con người. Vì vậy ta đừng nên hy vọng hão huyền là khi thành Bụt rồi thì ta vĩnh biệt chúng sinh. Sinh Phật bất nhị là cái thấy bất nhị (non dualistic) và cái thấy này phải được áp dụng cho tất cả mọi trường hợp như tay trái và tay phải, chừng nào có tay phải thì có tay trái. Tay phải không thể có mặt một mình mà không cần tay trái. Phật và chúng sinh hay con người và đất đá, cỏ cây, cầm thú cũng như vậy: không có cái này thì không có cái kia. Đó gọi là duyên sinh, là tương đãi.

Thành Bụt rồi có còn thực tập nữa không?

Trong Bụt có hạnh phúc, có tuệ giác, có bồ đề. Bồ đề ngược lại với phiền não, tuệ giác ngược lại với si mê và hạnh phúc ngược lại với khổ đau. Nhưng theo tuệ giác mà ta có được do sự quán chiếu thì tất cả đều vô thường. Không phải chỉ có khổ đau là vô thường mà hạnh phúc cũng vô thường. Không phải chỉ có phiền não là vô thường mà bồ đề cũng vô thường. Tuy có bồ đề nhưng nếu ta không tiếp tục tu thì bồ đề của ta cũng hao mòn. Ta đừng tưởng một khi có bồ đề rồi thì ta sẽ có nó mãi mãi, tại vì bồ đề cũng vô thường. Có khi ta có giác ngộ nhưng vì ta không biết nuôi nấng nên giác ngộ đó lu mờ và ta không sử dụng được. Điều này ta thấy rất rõ: Có nhiều cái ta đã biết rồi nhưng ta không đem ra sử dụng, ta hành xử giống như ta không có tuệ giác.

Bụt cũng vô thường, vô ngã. Nếu muốn tiếp tục làm Bụt thì ta phải tiếp tục sử dụng chất liệu khổ đau, phiền não và si mê để chế tác hạnh phúc, bồ đề và tuệ giác. Chúng ta thường đặt câu hỏi: “Thành Bụt rồi có còn thực tập nữa không?” Câu hỏi này rất đơn sơ nhưng cũng rất quan trọng. Phần lớn trong chúng ta, có thể nói là 99% thường nghĩ rằng: Khi đã thành Bụt rồi thì ta khỏi tu nữa, tại vì thành Bụt là có bồ đề, có tuệ giác, có hỷ lạc. Sự thật là Đức Thế Tôn vẫn đi thiền hành, vẫn ngồi thiền, vẫn thực tập An ban thủ ý. Hạnh phúc, bồ đề, tuệ giác đều vô thường. Nếu muốn nuôi dưỡng nó thì Đức Thế Tôn phải tiếp tục thực tập và Ngài cũng sử dụng khổ đau, phiền não, si mê để tạo ra hạnh phúc, bồ đề và tuệ giác. Bông sen, tuy đã thành bông sen nhưng vẫn không thể nhảy ra khỏi bùn. Muốn tiếp tục làm bông sen nó phải ở với bùn và tiếp tục sử dụng bùn.

Có thể nhận diện được Bụt qua những hình thái khác hay không?

Bụt Thích Ca có hình dáng của một con người. Ta biết rằng con người là một sinh vật sinh sau đẻ muộn, xuất hiện rất trễ trên địa cầu này, trễ hơn tất cả những chủng loại khác trên trái đất. Như vậy trước khi có Bụt thì không có tuệ giác, không có bồ đề, không có hạnh phúc hay sao? Trước khi có Bụt vẫn có tuệ giác, vẫn có bồ đề, vẫn có hạnh phúc, nhưng dưới hình thức khác. Bây giờ ta đặt một câu hỏi rất đơn sơ: “Có thể nhận diện được Bụt qua một hình thức khác, nghĩa là qua một hình thức không phải con người hay không?” Kinh Kim Cương nói rất rõ: “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng.” Nếu bị mắc kẹt vào tướng con người thì ta không thể thấy được Bụt. Bụt không phải chỉ là con người. Nếu đi tìm Bụt qua hình tướng, âm thanh thì sẽ không tìm ra được.

Nhược dĩ sắc kiến ngã
Dĩ âm thanh cầu ngã
Thị nhân hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai

Ai đi tìm Bụt qua hình sắc, âm thanh thì người đó đang đi trên con đường tà và ít có cơ hội thấy được Như Lai. Vì vậy chúng ta đừng kẹt vào tướng Bụt là một con người. Bụt có thể là một hành tinh như trái đất. Trái đất của chúng ta là một vị Bụt. Trong trái đất có tuệ giác, có bồ đề, có hạnh phúc và nhiều đức tính khác. Vị Bụt này là một bà mẹ, Bụt không phải chỉ là đàn ông. Trong Cơ đốc giáo người ta thường nghĩ Thượng đế là đàn ông, Thượng đế không thể nào là đàn bà. Nhưng trong đạo Bụt thì có Phật bà. Trái đất là Phật bà, là một bà mẹ. Mẹ của ai? Mẹ của những vị Bụt dưới hình thái con người và mẹ của những vị Bụt dưới hình thái khác. Một cây thông hay một bông hoa hồng cũng là Bụt. Không những con người thành Bụt thuyết pháp mà cây thông cũng đang thuyết pháp, bông hoa cũng đang thuyết pháp. Nó thuyết pháp về cái gì? Nó thuyết về vô thường, vô ngã, Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề phần. Nhìn với con mắt của Phật giáo đại thừa ta thấy Bụt khắp nơi. Ta thấy Bụt nơi một đóa hồng, nơi một cây thông. Thấy được như vậy ta sẽ không có khó khăn để nhận diện trái đất là một vị Đại Bồ tát gọi là Bồ tát Thanh Lương Đại Địa, hay nhận diện mặt trời là một vị Bụt gọi là Bụt Đại Nhật Như Lai. Không bị kẹt vào cái tướng thì ta nhận diện được Bụt dễ dàng hơn.

 

 

Chúng ta hay có tính kỳ thị. Nói tới bùn và sen thì ta thích sen, không thích bùn, ta kỳ thị bùn. Nhưng nếu không có bùn thì sẽ không có sen. Vì vậy không những trong sen có Phật tánh mà trong bùn cũng có Phật tánh. Trong kinh Bát Nhã có nói Phật tánh đó không dơ cũng không sạch, không thêm cũng không bớt. Ta phải có con mắt vô tướng, (animitta) thì mới có thể nhận diện được sự có mặt của Bụt. Bụt không chỉ có hình thức của một con người. Bụt có thể là một hành tinh, một bông hoa hay một viên sỏi. Vì vậy trong kinh nói: Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Ta phải lấy đi cái ranh giới giữa Bụt và chúng sinh.

Bụt có trong ta, ta có trong Bụt

Trước khi lạy Bụt, ta được dạy phải quán chiếu tính duyên sinh của Bụt. Ta đọc bài “Năng lễ sở lễ tính không tịch.” Đứng trước tượng Bụt ta nói:

Bạch Đức Thế Tôn, Ngài cũng duyên sinh như con vậy. Tự tánh của Ngài cũng là Không. Ngài được làm bằng những yếu tố không phải Ngài. Nhờ có phiền não, khổ đau mà Ngài có thể thành Bụt cũng như bông sen nhờ có bùn mới thành ra sen. Con thấy Ngài như vậy nên con thấy con trong Ngài.

Nhìn vào Bụt ta thấy tính Không (the nature of Emptiness) của Bụt. Ta thấy Bụt chứa đựng tất cả chứ không phải chỉ có trí tuệ, từ bi, bồ đề, hạnh phúc mà thôi. Nhìn lại mình, ta thấy mình không chỉ là chúng sinh, ta cũng có Phật tánh. Trong Bụt có ta và trong ta có Bụt. Thấy được như vậy rồi thì ta mới nên lạy xuống, lạy xuống như vậy mới có sự truyền thông. Nếu Bụt chỉ là Bụt và ta chỉ là ta thì không có sự truyền thông đích thực. Lấy đi ranh giới giữa ta và Bụt thì lạy Bụt mới có hiệu quả. Bụt không phải ở ngoài ta, Bụt ở trong ta, vì vậy khi lạy Bụt ta tiếp xúc được với Phật tánh trong mình. Nếu cho rằng Bụt khác với ta thì vĩnh viễn ta chỉ có thể là ta và Bụt chỉ là Bụt. Bụt không bao giờ trở thành ta và ta không bao giờ trở thành Bụt và không có sự thông cảm giữa Bụt và ta. Cảm ứng đạo giao nan tư nghì có nghĩa là sự cảm thông giữa Bụt và chúng sinh khó có thể diễn tả được, tại vì ta thoát khỏi cái thấy lưỡng nguyên phân biệt.

Trong kinh Kim Cương nói rất rõ: Ta có một ý niệm về ngã 我 , về nhân 人, về chúng sinh 眾生, đó là ba ý niệm mà ta cần phải vượt thắng. Nhìn vào ngã ta phải thấy vô ngã, nhìn vào con người ta phải thấy những yếu tố không con người, nhìn vào chúng sinh ta phải thấy Bụt. Kinh Kim Cương dạy ta phải lấy đi bốn ý niệm là: ngã, nhân, chúng sinh và thọ mạng. Thọ mạng là đời sống của con người, lấy đi ý niệm về thọ mạng thì ta trở thành bất tử. Ta không chỉ có mặt ở đây trong 100 năm.

Không có ranh giới đích thực giữa hữu tình và vô tình

Ta cần phải thoát khỏi một ranh giới khác nữa, đó là ranh giới giữa hữu tình và vô tình. Hữu tình là chúng sinh, vô tình là những cái không phải chúng sinh như đất, nước, lửa, gió, khoáng vật. Vô tình, tiếng Anh là inanimate things). Một thi sĩ người Pháp đã hỏi: Objets inanimés, avez  vous donc une âme? Hỡi các vật vô tri kia, chúng bây có một linh hồn hay không? Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng có một câu tương tự: Làm sao em biết bia đá không đau? Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau. Những vật vô tri đều có tình trong nó nên không thể gọi chúng là vô tình. Học về lịch sử của trái đất, ta thấy lúc bắt đầu chỉ có các loại vô tình. Trong nước cháo thời nguyên thỉ (primordial soup) từ từ sinh ra các loại hữu tình đơn tế bào. Những sinh vật đơn tế bào sinh ra những sinh vật đa tế bào. Những sinh vật này từ dưới nước bò lên trên đất và trở thành rong rêu, cây cỏ, các loại cầm thú và thành con người. Vì vậy không có ranh giới giữa các vật vô tình và hữu tình.

Hiện nay khoa học khám phá ra những vật mà ta cho là vô tình như những quang tử, những điện tử rất là thông minh. Nó có cái biết ở trong, ví dụ như nhìn vào một hột bắp ta không thể nói hột bắp là vô tình. Trong hột bắp có thức, có tài năng, có cái biết trong đó. Ta chỉ cần gieo hột bắp xuống đất thì nội trong bảy ngày nó biết nẩy mầm thành cây bắp con rồi tiếp tục làm lá, làm hoa và làm trái bắp. Hột bắp không vô tình, nó cũng là hữu tình.

Chúng ta được làm bằng những chất liệu vô tình. Giữa vô tình và hữu tình không có ranh giới đích thực. Vì vậy cho nên đất đá cũng có Phật tánh. Trong Thiền người ta thường hỏi: “Con chó có Phật tánh hay không?”. Không những con chó có Phật tánh mà cục đá kia cũng có Phật tánh.

Chúng ta phải tìm cách vượt thoát ý niệm: Bụt chỉ là một con người. Chúng ta có một bài thiền hướng dẫn: Mời Bụt thở, mời Bụt ngồi. Bài tập rất hay và tôi đã thực tập rất nhiều. Khi ngồi xuống ta nói:

Mời Bụt thở nhẹ,
mời Bụt ngồi yên

Bụt ở đây không phải là một thực tại ở ngoài mình. Ta nói: “Lạy Đức Thế Tôn, xin Ngài hãy dùng lưng của con để ngồi, xin Ngài hãy dùng phổi của con để thở”. Bụt không phải là một cái ngã. Mỗi khi thở có an lạc, hạnh phúc, bình an là có Bụt. Mỗi khi ngồi có vững chãi, thảnh thơi là có Bụt. Bụt không phải chỉ là người, đồng nhất Bụt với con người là sai. Hễ có vững chãi, an lạc, thảnh thơi là có Bụt. Ta biết rằng Bụt không ngồi thì thôi, nếu ngồi thì Ngài ngồi rất thẳng và thoải mái; Bụt không thở thì thôi, nếu thở thì Ngài thở nhẹ và có ý thức. “Mời Bụt thở, mời Bụt ngồi”, ta đưa hai lá phổi cho Bụt thở, ta đưa lưng cho Bụt ngồi. Khi đó ta bắt đầu vượt thoát ý niệm: Bụt là một thực thể ở ngoài mình. Nếu Bụt thở bằng phổi của mình và ngồi bằng lưng của mình thì Bụt và mình rất là gần.

Bụt đang thở nhẹ, Bụt đang ngồi yên
Mình được thở nhẹ, mình được ngồi yên

Bụt đang dùng phổi của mình để thở, đang dùng sống lưng của mình để ngồi. Nếu Ngài đang thở nhẹ và đang ngồi yên thì mình cũng được thở nhẹ và cũng được ngồi yên. Ta không còn thấy Bụt là một cái gì ngoài mình nữa. Nếu ta thấy nhẹ và yên thì cứ như vậy mà thở. Bài tập này đưa tới thoải mái, hạnh phúc rất nhiều. Ta tiến thêm một bước nữa với bài tập thứ ba:

Bụt là thở nhẹ, Bụt là ngồi yên
Mình là thở nhẹ, mình là ngồi yên

Ta không thể tìm một vị Bụt ở ngoài “thở nhẹ và ngồi yên”. Là Bụt thì phải biết thở nhẹ và ngồi yên. Không biết thở nhẹ và ngồi yên thì không phải là Bụt. Bụt không phải là một hình hài, Bụt là sự có mặt của hơi thở nhẹ nhàng và dáng ngồi bình yên. Ta đi tìm Bụt ở đâu nữa? Ta thấy hơi thở đang nhẹ và dáng ngồi bình yên tức là đã có Bụt ngay trong giây phút hiện tại. Đó là cái nhìn vô tướng về Bụt. Mình cũng vậy, mình không có cái ngã riêng biệt. Mình là thở nhẹ, mình là ngồi yên. Vì vậy cái ranh giới giữa mình và Bụt được xóa liền lập tức.

Bụt là hơi thở nhẹ, Bụt là thế ngồi yên. Mình là hơi thở nhẹ, mình là thế ngồi yên. Như vậy ta và Bụt là một, ta vượt thoát cái nhị nguyên. Đi tới một bước nữa ta đốn ngã cái cây ngã chấp với bài tập thứ tư:

Chỉ có thở nhẹ, chỉ có ngồi yên
Không ai thở nhẹ, không ai ngồi yên

Đó là vô ngã. Có Bụt và có ta, nhưng ta và Bụt đều là hơi thở nhẹ, đều là dáng ngồi yên. Không cần phải có một chủ thể, một cái ngã. Với bài tập thứ tư ta vượt thoát ý niệm về một cái ta đang thở nhẹ và đang ngồi yên. Chỉ có sự thở nhẹ và sự ngồi yên đang xảy ra, mà không cần có một cái ta đang thở nhẹ hay đang ngồi yên.

Chúng ta thường nói: “Gió thổi” hay “Mây bay” hay “Mưa rơi”. Gió đã là thổi rồi, là gió thì không cần phải thổi nữa, nếu không thổi thì không phải là gió. Mưa mà không rơi thì không phải là mưa. Nhìn kỹ ta không thấy có một cái ngã chủ trương thổi hay chủ trương rơi. There is no blower, no rainer, there is only the wind and the rain. Không có Bụt và không có ta như những cái ngã, chỉ có thở nhẹ, chỉ có ngồi yên.

Nhìn về địa cầu của chúng ta, ta thấy địa cầu cũng đang thở nhẹ, cũng đang ngồi yên. Ta không cần phải tưởng tượng Bụt dưới hình dáng một con người. Khi có sự yên tĩnh và an lạc thì có Bụt. Bụt không phải là một chủ thể. Đi tới bài tập thứ năm ta thấy rất rõ:

An khi thở nhẹ, lạc khi ngồi yên
An là thở nhẹ, lạc là ngồi yên

Có an và lạc là tại vì có thở nhẹ và ngồi yên. Không cần phải có người an và người lạc mà vẫn có thể có an lạc. Không cần phải có cái ngã rồi mới có an lạc.

 

 

Nói tóm lại chỉ có thở nhẹ, ngồi yên và nhờ vậy có an và có lạc. Không cần có Bụt, không cần có ta mà an lạc vẫn có. Muốn tìm Bụt ta không cần phải trở về Ấn Độ của 2600 năm trước. Ta cũng không cần phải đi vô chùa, tại vì vô chùa ta chỉ thấy tượng Bụt bằng cẩm thạch hay bằng đồng. Nếu thấy Bụt bắt buộc phải là một con người có 80 vẻ đẹp và 32 tướng tốt là ta bị kẹt vì ta đi tìm Bụt qua hình tướng và âm thanh. Nếu ta ngồi yên, thở nhẹ, chế tác hỷ lạc và giải thoát thì ta thấy được Bụt thật mà không phải là Bụt bằng đồng hay bằng đá.

Xử lý phiền não là chế tác hạnh phúc

Chính nhờ những phiền não, bất an, lăng xăng, rối loạn nên ta mới có khuynh hướng đi tìm Bụt. Từ những bức xúc, khổ đau, buồn tủi đó ta chế tác ra chất thảnh thơi, an lạc cũng như nhờ bùn mà ta làm ra được bông sen. Vì vậy ta đừng nên chạy trốn phiền não, khổ đau. Nếu biết cách thì ta có thể sử dụng những phiền não, khổ đau để chế tác ra hạnh phúc, bồ đề và tuệ giác.

Câu hỏi “Thành Bụt rồi có cần tu nữa hay không?” rất là hay. Thành Bụt là có hạnh phúc, bồ đề, tuệ giác. Nhưng dù có rồi mà nếu ta không thực tập thì hạnh phúc, bồ đề, tuệ giác cũng đi mất từ từ. Vì vậy ta phải nuôi dưỡng nó bằng sự thực tập. Ta phải sử dụng khổ đau, phiền não và si mê để chế tác hạnh phúc, bồ đề và tuệ giác.

Trong Phật giáo đại thừa nói rất rõ: Phiền não tức bồ đề, Niết bàn là sinh tử. Niết bàn và sinh tử là một cặp bài trùng, không có cái này thì không có cái kia, cũng như mặt trái và mặt phải là một cặp bài trùng, không có trái thì không có phải. Nghĩ rằng khi có Niết bàn rồi thì không còn sinh tử nữa là ta bị kẹt vào cái thấy lưỡng nguyên. Một người đệ tử hỏi một vị thiền sư:

Con phải đi tìm Niết bàn ở đâu?
Thiền sư trả lời:
Con đi tìm nó ngay trong sinh tử!

Nó là sinh tử, nhưng nhìn cho sâu thì nó cũng chính là Niết bàn. Sự thực tập hàng ngày của chúng ta phải thực tế. Với những bước chân, những hơi thở, những lời nói, ta phải tạo ra bình an, hỷ và lạc từ những chất liệu không bình an, không hỷ và không lạc. Ta phải luôn luôn sử dụng bùn để làm thành sen, sử dụng phiền não để chế tác bồ đề. Đó là công việc của chúng ta. Công việc chế tác hạnh phúc có liên hệ tới công việc xử lý phiền não. Xử lý được phiền não là chế tác được hạnh phúc. Hai công việc đó tuy hai nhưng thật ra là một. Ta đừng nên chạy trốn khổ đau, ta phải nắm lấy khổ đau và tìm cách chuyển nó thành ra hạnh phúc. Ta ngã ở đâu thì chống ở chỗ đó mà đứng dậy.

 

Thiết kế Tăng Thân

Tự nuôi dưỡng mình là nuôi dưỡng tăng thân

Sáng nay, khi ngồi thiền, thầy đã quán tưởng về hình ảnh một tế bào trong tăng thân. Thầy thấy mình là một phần của tăng thân, mình chịu trách nhiệm về sự an toàn, sự hài hòa, hay sự bất an của tăng thân. Thầy thấy rất rõ rằng tự nuôi dưỡng mình cũng là đang nuôi dưỡng tăng thân. Giờ phút nào mà mình tự nuôi dưỡng được mình bằng bước chân, bằng hơi thở, bằng nụ cười, bằng sự vững chãi, bằng sự thảnh thơi thì giờ phút đó mình đang nuôi dưỡng tăng thân. Và chừng nào mình không tự nuôi dưỡng mình được thì tăng thân cũng không được nuôi dưỡng, tăng thân bị bỏ đói.

Thầy cũng thấy rằng khi nào mình có tình thương, mình chăm sóc, mình nuôi dưỡng tăng thân thì tuy là mình không có ý muốn nuôi dưỡng mình mà kỳ thực lúc đó mình cũng đang được nuôi dưỡng. Chẳng hạn khi thấy một sư anh, sư chị hay sư em đang có vấn đề mà mình khởi lòng lân mẫn để tìm tới, và bằng thân hoặc bằng lời, mình chăm sóc cho người đó, thì tuy rằng mình đang nuôi dưỡng tăng thân mà kỳ thực mình cũng đang nuôi dưỡng mình. Tự nuôi dưỡng mình tức là nuôi dưỡng tăng thân, và nếu mình đang nuôi dưỡng tăng thân thì đồng thời mình cũng đang nuôi dưỡng chính mình. Giữa hai cái đó không có sự phân biệt, vì vậy mình có thể thấy được tính vô ngã một cách rất rõ ràng.

Thầy cũng thấy rằng khi mình không thật sự ở trong tăng thân, khi lòng mình không phải là lòng của tăng thân thì mình không phải là dòng sông mà chỉ là một giọt nước, và mình sẽ thấy bơ vơ, lạc lõng trong tăng thân. Tuy mình đang ở trong tăng thân nhưng kỳ thực mình không ở trong tăng thân. Mình đang nghĩ tới một tương lai riêng, một sự nghiệp riêng, không dính líu tới tương lai và sự nghiệp chung của tăng thân, vì vậy mình không nuôi dưỡng được mình và mình cũng không nuôi dưỡng được tăng thân. Trong trường hợp đó, sự có mặt của mình trong tăng thân chỉ có tính hình thức và không thể nào kéo dài được, thế nào mình cũng sẽ bị văng ra. Mình không nhận được chất dinh dưỡng từ tăng thân và mình cũng không có khả năng nuôi dưỡng tăng thân. Sự có mặt của mình chỉ là một sự có mặt hình thức.

Tuệ giác tập thể – phép lạ của tăng thân

Khi nhìn vào một cơ thể, chúng ta thấy trong cơ thể có nhiều tế bào, và mỗi tế bào có thể là một cái ngã riêng. Tế bào này không phải là tế bào khác, tế bào não không phải là tế bào phổi, tế bào ruột không phải là tế bào gan, tế bào gan không phải là tế bào tim, tế bào tim không phải là tế bào não.Thoạt nhìn, các tế bào có sự khác nhau, có sự phân biệt, có tên gọi riêng. Nhưng nhìn kỹ thì tất cả tế bào trong cơ thể có chung một trí tuệ: Chúng làm việc hài hòa với nhau, nuôi dưỡng nhau và nuôi dưỡng cơ thể. Khi có vi khuẩn đột nhập vào cơ thể thì không phải là bộ óc hay tư tưởng ra lệnh chống cự, mà trong cơ thể có một phản ứng rất tự nhiên. Khi đó, cơ thể tự động tạo ra những kháng thể (anti-body) và kéo tới bao quanh con vi khuẩn mới xâm nhập, không để cho nó sinh sôi nảy nở và đi vào cơ thể, cho đến khi con vi khuẩn đó không hoạt động gì được và biến thành chất protein nuôi cơ thể. Không ai ra lệnh cho cơ thể làm điều đó. Cơ thể tự động biết phải làm gì, rất là mầu nhiệm.

Trong cơ thể không có một tế bào nào đóng vai trò chỉ huy để ra lệnh các tế bào khác. Không có một ông vua, một bà hoàng hay một tổng thống trong cơ thể. Ngay trong bộ não của mình cũng vậy, không có tế bào não nào làm lãnh đạo, và sự hài hòa, thông thương giữa những tế bào tạo ra một loại trí tuệ. Nhờ trí tuệ đó mà cơ thể biết cần phải làm gì để đối phó với những bất trắc xảy ra.

Trong một tổ ong, chúng ta nói tới con ong chúa, và chúng ta có thể nghĩ một cách sai lầm rằng con ong chúa điều động hết tất cả mọi việc trong tổ ong. Điều đó không đúng. Ong chúa không làm gì hết, ong chúa chỉ đẻ mà thôi. Tất cả các con ong trong tổ ong sống một cách rất hòa hợp, giống như những tế bào trong cùng một cơ thể. Chúng nâng đỡ nhau, đưa đường chỉ lối cho nhau tìm tới những chỗ nào có nhiều hoa để lấy mật. Sự thật là trong thiên nhiên, mình cũng không thấy một vị chúa tể, một vị lãnh đạo.

Ngày xưa đức Thế Tôn đã thấy được điều đó. Ngài đã không đóng vai trò của một người lãnh đạo mà chỉ đóng vai trò một thành phần của tăng thân, một thành phần có tuệ giác, có thương yêu. Khi Ngài lớn tuổi, có nhiều thầy hỏi rằng sau khi đức Thế Tôn nhập diệt thì ai là người thay thế đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã trả lời rằng Ngài chẳng cần ai thay thế, và Ngài chưa bao giờ chỉ định một người thay thế. Điều đó có nghĩa là tất cả chúng ta đều có nhiệm vụ như nhau, và chúng ta phải vận hành như một cơ thể.

Những phương pháp sinh hoạt theo giới luật đã phản chiếu được tinh thần đó. Tất cả các quyết định đều do pháp Tăng già yết ma tạo ra, và tất cả thành viên của tăng thân đều phải nương theo quyết định của pháp yết ma ấy mà hành trì. Khi các thành phần của tăng thân ngồi lại, tăng thân có cơ hội truyền thông với nhau, và trong sự thực tập truyền thông đó, tuệ giác tập thể được phát sinh. Tuệ giác tập thể đó chính là yếu tố chỉ đạo chứ không phải là sự chỉ đạo của một người. Có thể trong tăng thân có những người thông minh hơn, có nhiều kinh nghiệm hơn những người khác, nhưng không phải vì vậy mà những người đó lãnh đạo những thành phần khác. Những người thông minh, có nhiều kinh nghiệm đó cũng là những thành phần của tăng thân và họ đóng góp trí thông minh cũng như kinh nghiệm của họ cho tăng thân. Những thành phần khác của tăng thân cũng có người thông minh và có kinh nghiệm. Sự góp lại của những thông minh và kinh nghiệm đó trở thành tuệ giác chung. Chính tuệ giác chung đóng vai trò lãnh đạo tăng thân, chứ không phải là cá nhân.

Khi tăng thân ngồi chung để cùng quán chiếu và khám phá ra tuệ giác cần thiết, đó không phải là sự cộng lại của những kinh nghiệm hay những cái thấy của từng người. Tuệ giác tập thể không phải là một phép tính cộng. Anh có hai phần tuệ giác, tôi có một phần tuệ giác, hai cái đó cộng lại thành ba, không phải như vậy. Mỗi người trong khi làm vườn, tưới rau… đều có những cái thấy mà tăng thân cần đến để xây dựng tăng thân. Nhưng khi chúng ta họp lại, không phải là chúng ta góp nhặt những cái thấy riêng để làm thành một cái thấy chung. Không phải như vậy! Không phải đem cộng cái này với cái khác để thành cái thấy chung. Tại vì nhiều khi có những cái thấy rất khác nhau, đứng về phương diện hình thức thì nó chống trái nhau, nếu cộng chung lại thì thành một mớ hổ lốn rất lộn xộn.

Khi tăng thân họp lại, với niệm và định, sẽ xảy ra rất nhiều điều bất ngờ. Tuệ giác tập thể sẽ sinh ra những cái thấy mà không cá nhân nào có được. Đó là tài ba của tăng thân. Khi một cá nhân đưa ra cái thấy của mình thì phải ý thức rằng những người khác trong tăng thân đều có cái thấy riêng của họ, cái thấy của mình sẽ tới với cái thấy của họ, và sự va chạm đó làm nứt rạn cái thấy của mọi người. Cái thấy của mọi người đi qua một quá trình gọi là hóa thân (métamorphose), được thoát xác và đi lên. Chính mình cũng vậy, sau khi đã nói ra cái thấy của mình, đã tạo ra sự rúng động, nứt rạn trong cái thấy của người khác thì khi mình nghe một người khác nói ra cái thấy của họ, chính cái thấy của mình cũng bị va chạm, cũng bị nứt rạn. Khi ấy mình thoát ra được cái thấy của mình và đi tới một cái thấy cao hơn. Vì vậy trong buổi họp của tăng thân, điều mầu nhiệm có thể xảy ra, nhưng đó không phải là sự góp nhặt của tất cả những cái thấy, mà đó là làm cho một cái thấy siêu việt được thoát hình. Cái thấy đó thực sự là cái thấy của tăng thân, chứ không phải là cái thấy của từng người, hoặc gom góp tất cả cái thấy của mọi người. Cũng như trong vật lý nguyên tử, khi một chất điểm va chạm với một chất điểm khác sẽ tạo ra một chất điểm mới, cái đó gọi là sự va chạm giữa các chất điểm (collision between particles). Chỉ có trong những buổi gặp gỡ của tăng thân, với tinh thần mà trong truyền thống gọi là kiến hòa đồng giải, thì mới có thể xảy ra phép lạ đó mà thôi.

Tăng thân – một sáng tạo phẩm của tâm thức cộng đồng

Tăng thân là gì? Tăng thân là một sáng tạo phẩm của tâm ta, một sáng tạo phẩm chung của tất cả chúng ta. Tăng thân đó hùng tráng hay không, hạnh phúc hay không là do chúng ta. Vì vậy chúng ta phải có bổn phận sáng tạo và thiết kế một tăng thân cho thập đẹp, thật hùng, thật sáng. Bổn phận thiết kế, sáng tạo đó là bổn phận của mỗi người trong tăng thân, dù người ấy đang còn rất trẻ. Thiết kế tăng thân là công việc của chúng ta! Đức Thế Tôn dạy: “Tâm là họa sư”, họa sư có thể họa ra được tất cả mọi cái mà người ấy muốn. Tăng thân là một tác phẩm mà tâm ta sáng tạo, thiết kế. Chúng ta đã có những phương pháp thiết kế được trao truyền từ truyền thống và chúng ta phải tiếp tục sáng tạo thêm.

Thầy đã tham dự những buổi họp của tăng thân để thiết kế các khóa tu. Thầy đã ngồi như vậy ở xóm Thượng, xóm Hạ, xóm Mới, xóm Vững Chãi… và thầy thấy tăng thân làm việc rất đẹp. Có một cái bảng rất lớn và một người phụ trách viết bảng, trong buổi họp, từng người trong tăng thân đưa ra cái thấy của mình. Những cái thấy đó được ghi lên bảng, rồi những cái thấy khác tới và làm thay đổi cái thấy ấy. Khi ấy, những cái đã được viết trên bảng được xóa đi và được thay bằng những cái thấy mới. Nhưng không có nghĩa là cái thấy mới ấy sẽ đứng yên hoài cho tới cuối buổi họp, tại vì sau đó còn có thể có những cái thấy khác cao hơn, tốt hơn, sáng hơn. Rồi thì vị ghi bảng phải lấy khăn lau đi những cái đã viết lên bảng lần thứ ba, thứ tư ấy và từ từ như vậy, buổi họp đi tới một cái thấy chung của tăng thân và cái thấy đó giúp cho tăng thân thiết kế được khóa tu như là tăng thân thấy. Chúng ta đã làm như vậy, chúng ta đang làm như vậy và chúng ta sẽ tiếp tục làm như vậy. Càng ngày chúng ta sẽ càng làm hay hơn. Cho dù là một người thông minh, một người có kinh nghiệm, ta không thể nào tự mình thiết kế một khóa tu. Muốn thiết kế một khóa tu, ta phải nương vào tuệ giác của tăng thân.

Sống và thực tập như một cơ thể

Là những tế bào của cơ thể tăng thân, mỗi người trong chúng ta đều có một phận sự, đều có một niềm vui để đóng góp vào hạnh phúc, vào sự vững chãi của tăng thân, cũng như vào sự thành tựu ý nguyện của tăng thân. Sự thật là nếu chúng ta không sống được như một cơ thể tăng thân đích thực thì chúng ta không đi xa được trong sự nghiệp chuyển hóa tự thân, xây dựng tăng thân và phụng sự xã hội.

Tăng thân của chúng ta không phải là một trường đại học, nơi mà người ta tới ở một thời gian bốn năm, năm năm, sáu năm để được đào tạo, rồi sau đó mỗi người đi một phương để làm sự nghiệp riêng, để lo một tương lai riêng. Nếu chúng ta thiết kế một tăng thân như vậy thì chúng ta không đi xa được.

Chúng ta phải làm như thế nào để tăng thân trở thành một cơ thể, để chúng ta tiếp tục được nuôi dưỡng và ta cũng nuôi dưỡng được những người anh, người chị, người em của chúng ta. Nếu chúng ta có thể làm nên lịch sử, có thể nối tiếp được sự nghiệp cao quý của đức Như Lai là do chúng ta có thể sống, có thể thực tập được như một cơ thể tăng thân. Sống và thực tập như vậy, chúng ta thực hiện được những điều mà đức Thế Tôn mong ước, đó là vượt thoát cái vỏ bản ngã. Thực chứng được vô ngã là đạt tới tuệ giác, là hạnh phúc lớn nhất của người tu.

Tập thấy, tập hiểu những khổ đau của sư anh, sư chị, sư em của mình và giúp chữa trị những vết thương ấy, giúp cho người đó cười lên được, vui lên được, đó không phải là chuyện độ đời, giúp người, mà là chuyện đem lại hạnh phúc cho chính mình, chuyển hóa chính mình. Mình làm được như vậy là vì mình đã thấy được tính vô ngã của mình và những thành phần khác của tăng thân. Chính nhờ xây dựng tăng thân mà ta diệt trừ được ngã chấp. Đứng trên cái ngã riêng để diệt trừ ngã chấp thì không bao giờ chúng ta diệt trừ được ngã chấp.

Nếu chúng ta có những buổi pháp đàm trong khóa tu, chúng ta nên đề cập tới đề tài: “Thiết kế, nuôi dưỡng và làm mới tăng thân”, nghĩa là làm thế nào để sống cuộc sống hàng ngày, để tu tập và xây dựng tăng thân, để làm thỏa mãn nhu cầu hiểu biết và thương yêu trong ta với tư cách một cơ thể và bằng tuệ giác của một cơ thể, của một dòng sông.

 

Cô Hạnh Phúc

Đi tìm hạnh phúc

Có một bài thơ của Xuân Diệu có lẽ ít người biết đến, nói về hạnh phúc. Hạnh phúc được diễn tả bằng một cô gái trẻ: Cô Hạnh Phúc (Mademoiselle Bonheur). Những câu cuối của bài thơ như thế này:

Cô Hạnh Phúc, gớm, đợi chờ cô mãi

Chữ gớm ở đây có nghĩa là: Trời đất ơi, mèn đét ơi, ối giời ơi, dữ không, tức là chờ hoài chờ mãi.

Xây dựng cô sứt mẻ những bàn tay

Xuân Diệu là nhà thơ của tình yêu. Bao nhiêu bàn tay đã sứt mẻ vì cố công xây dựng hạnh phúc!

Trật bả vai, rỏ máu những lông mày

Đi kiếm hạnh phúc gian nan, bị thương tích rất nhiều.

Nhưng cô đến, cả huy hoàng trên trán

Cô đến là đến chứ không phải do ta đi tìm hay xây dựng. Ta hình dung cô Hạnh Phúc xuất hiện, trán phóng hào quang.

Dẫu đã muộn rồi, hãy còn sớm chán

Cô đến hơi trễ, bây giờ răng tôi đã long, đầu tôi đã bạc, chân tôi đã yếu. Thấy như là đã hết hy vọng. Nhưng nghĩ cho cùng, may mà có cô tới trước khi mình thở hơi thở cuối cùng.

Hội loài người hỷ lạc lắm hôm nay

Tôi sẽ xin Đời về một buổi mai

Đời là sự sống với tất cả những mầu nhiệm của nó, nhưng ta quá bận rộn nên không có thì giờ để tiếp xúc. Được ra đời và đáng lý được sống một cuộc đời, nhưng con người không có cơ hội, con người quá bận rộn nên không được sống cuộc đời của mình. Trong lo toan, chạy chọt, tìm kiếm, chúng ta đánh mất sự sống, đánh mất cuộc đời. Bây giờ xin lại, dầu là hơi trễ, nhưng cũng chưa trễ lắm. Buổi mai ở đây là một buổi mai hồng.

Cũng bởi vì tôi nhớ tôi mong

Một sớm mai hồng tôi sẽ lên đường trở lại

Trở lại đâu? Trở lại sự sống đích thực mà chúng ta đã đi lạc, đã nhầm lẫn, đã đánh mất. Sự sống đẹp đẽ, mầu nhiệm là cái ta nhớ, ta mong. Và vì còn nhớ mong nên ta còn có cơ hội để trở về.

Rất nhiều người đang trên hành trình đánh mất tự thân và đánh mất luôn sự sống mầu nhiệm. Ta bị những danh vọng, quyền hành, tiền bạc, sắc dục kéo đi mà tưởng chúng là hướng của hạnh phúc. Nhưng cái thật sự sâu thẳm ta mong muốn là sự sống mầu nhiệm. Cái mong muốn đó vẫn còn trong con người của ta, cho nên ta đi xuất gia. Bồ đề tâm, tâm ban đầu đó vẫn còn sống. Đó là một khối lửa, là một nguồn năng lượng có khả năng giúp cho người xuất gia sống trọn đời tu của mình và có hạnh phúc trong từng phút từng giây. Đó là bồ đề tâm, là tâm ban đầu, là cái nhớ mong sâu nhất mà không phải là những cái nhớ mong tầm thường. Người xuất gia không nhớ mong những tiện nghi vật chất, những tiện nghi tình cảm. Người xuất gia nhớ mong cái lý tưởng, lời đại nguyện phát ra khi quỳ xuống để thầy cắt tóc chấp nhận ta trở thành một sư chú, một sư cô. Tâm ban đầu, khối lửa lúc ban đầu đó là cái nhớ, cái mong.

Cũng bởi vì còn cái nhớ, cái mong đó nên chúng ta có cơ hội quay ngược trở lại (U-turn) để tìm sự sống đích thực. Ta đã đánh mất hầu hết cuộc đời của mình, tại vì ta tìm theo ảo ảnh của hạnh phúc. Có khi đã sứt mẻ hai bàn tay, đã trầy hai vai và đã rỏ máu trên lông mày mà vẫn chưa thấy có hạnh phúc. Chỉ cần có sự tỉnh thức thì hạnh phúc tới rất huy hoàng. Cái người tu cần không phải là tiền bạc hay địa vị, dù là địa vị trong giáo hội, mà là sự tỉnh thức. Tỉnh thức là đủ để cho ta trở về và trở về rồi thì ta liền có hạnh phúc rất lớn. Tự nhiên cô Hạnh Phúc đến.

Xuân Diệu nói: “Thầy ơi, tôi dùng chữ vui vẻ chứ đâu có dùng chữ hỷ lạc trong thơ, tại sao thầy cho vào trong đó?”. Vui tức là hỷ. Bây giờ chúng ta trả lại chữ của Xuân Diệu cho Xuân Diệu:

Hội loài người vui vẻ lắm hôm nay

Ta nên trở về với sự sống đích thực của mình, nếu không trở về được thì thật đáng tiếc! Một ngày nào đó ta sẽ nằm trên giường bệnh và lúc ta sắp thở hơi thở cuối cùng thì mọi thứ đã trễ quá rồi, không thể nói “hãy còn sớm chán“ được nữa. Khi đó, cho dù có muốn đứng dậy để đi một bước thiền hành cũng không được. Trong Quy Sơn cảnh sách, Thiền sư Quy Sơn đã gióng lên một tiếng chuông: “Nhất triêu ngọa tật tại sàng, chúng khổ oanh triền bức bách” (Một mai nào đó ta nằm hấp hối trên giường, tất cả những khổ đau bao vây chung quanh). Lúc ấy dù có muốn trở về cũng không còn kịp nữa, có muốn tìm hỷ lạc trong một bước chân cũng không còn được nữa. Bấy giờ, khi đã không còn đủ sức để ngồi dậy hay bước một bước chân, ta mới nuối tiếc rằng tại sao cả một cuộc đời chưa bao giờ ta thử đi một bước chân mà trong bước chân đó có hỷ và lạc. Tại sao? Có phải tại vì thầy không cho đi, hay tại chùa cấm không cho ta đi những bước thảnh thơi. Mới đi khóa tu về, ta tập đi những bước thảnh thơi nhưng thầy nói: “Đi gì mà như người thất tình vậy! Không được đi như vậy, phải đi cho xăng xái! Công việc thì nhiều mà đi rờ rờ như vậy thì làm sao được?”. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta không có cơ hội. Nếu khéo léo, chúng ta có thể đem năng lượng của khóa tu về chùa.

Tôi đã từng viết nhiều truyện ngắn như: Bưởi, Tố, Hồng v.v. Một câu chuyện tôi đã có ý lâu rồi nhưng chưa viết ra, đại ý như thế này:

Trong một ngôi chùa đó có hai thầy trò. Chú tiểu rất thông minh. Nếu có được một đệ tử thông minh thì người thầy cảm thấy rất may mắn. Một đệ tử thông minh, rất muốn tu và nhất là hiểu được thầy, đó là niềm vui rất lớn cho một vị thầy.

Ngôi chùa nằm dưới chân núi. Một hôm hai thầy trò đi lên núi. Thầy khám phá ra một vùng đẹp kỳ lạ trên sườn núi. Khoảng đất rất thanh thoát và xanh tốt. Có tiếng chim hót hết sức mầu nhiệm. Hai thầy trò thường đi thiền lên đó, ngồi xuống và không làm gì hết. Một hôm người thầy tâm sự với đệ tử:

– Này con, chùa của thầy là ở đây chứ không phải ở dưới kia!

Ở dưới đó bổn đạo tới đòi hỏi cái này, cái kia. Họ đòi hỏi sự chú ý, họ muốn chụp hình với thầy. Người nào cũng muốn chụp hình riêng với thầy, muốn uống một ly trà với thầy, muốn thầy cho họ thì giờ. Họ đòi hỏi rất nhiều. Họ đóng góp vào chuyện xây chùa, chuyện trả tiền điện, nước, telephone, tiền rau đậu nên họ nghĩ họ có quyền.

Chú tiểu rất thông minh, hiểu được câu nói của thầy. Đây mới đích thực là chùa của thầy, nơi không có ai tới quấy rầy hay đòi hỏi gì cả. Nhiều hôm thầy lên trên núi ngồi rất lâu. Sáng hôm đó trời sương mù, có một ông bổn đạo tới tìm thầy. Sư chú gặp ông ở cội tùng ngoài sân. Ông hỏi, hình như có chuyện gì gấp gáp lắm:

– Sư chú, thầy ở đâu?

Sư chú nói:

– Thưa, thầy con đang ở trên chùa.

Và sư chú tiếp tục quét lá. Ông bổn đạo đi lên chùa mà không thấy thầy, ông đi tìm quanh nhà khách, tới tăng phòng, lên chánh điện cũng không thấy thầy. Ý của sư chú là thầy đang ở trên chùa thật kia, đang thảnh thơi ngồi thiền chứ không phải dưới chùa giả này. Ông khách hình như là trưởng ban quản trị của chùa.

– Chú nói thầy ở trên chùa, tại sao tôi lên tìm không ra? Thầy ở đâu vậy chú?

Sư chú đáp:

– Từ sáng sớm thầy đi vào núi hái thuốc. Tôi cũng ráng tìm thầy nhưng tôi nghĩ khó mà tìm được, sương mù nhiều quá, làm sao mà tìm thầy được.

Câu chuyện đó tôi lấy cảm hứng từ bài thơ Tầm ẩn giả bất ngộ của thi sĩ Giả Đảo đời Đường:

Tùng hạ vấn đồng tử

Ngôn sư thái dược khứ

Chỉ tại thử sơn trung

Vân thâm bất tri xứ.

Dịch là:

Dưới cội tùng chú bảo

Thầy vừa đi hái thuốc

Chỉ tại núi này thôi

Mây mù không thấy được.

Chú nói: “Thầy con đi hái thuốc. Chắc cũng quanh quẩn trong núi này thôi, không xa đâu. Nhưng mây mù như vậy làm sao mà tìm cho được”. Đó là cách sư chú bảo vệ thầy mình, không để thầy bị quấy rầy nhiều quá. Nhu yếu của thầy cũng là nhu yếu của sư chú. Thương thầy nên sư chú muốn bảo hộ cho thầy.

Tiếp xúc với hạnh phúc thật sự

Khi học hỏi kinh điển và giáo lý, ta sử dụng rất nhiều khái niệm như giác ngộ, giải thoát, niệm, định và tuệ. Tuy vậy, thường thì đó chỉ là những danh từ và ý niệm. An lạc hay Tịnh độ có thể cũng chỉ là những ý niệm mà chưa phải là thực tại. Ta nói tới trái kiwi, nhưng có thể chỉ là cái tên và một ý niệm về nó chứ chưa bao giờ nếm trái kiwi, chưa bao giờ biết mùi vị của nó. Khi mới học những khái niệm ấy, chúng ta hồ hởi, phấn khởi, muốn tiếp cận, muốn có kinh nghiệm về những thực tại đó. Nhưng thật ra chúng có thể chỉ là những danh từ hay những ý niệm không thật, trong đó có Tịnh độ hay Phật. Phật đối với ta có thể chỉ là danh từ và ý niệm. Ý niệm về Phật không phải là Phật, ý niệm về Tịnh độ không phải là Tịnh độ, cũng như ý niệm về trái kiwi không phải là trái kiwi.

Sáng nay chúng ta đã tụng Bài Bốn phép tùy niệm, trong đó có đoạn:

Tự thân của đức Như Lai, người từ chân như tới, thầy của chúng con

Là bậc xứng đáng nhất để được cúng dường

Là bậc có trí giác chân thực và toàn diện

Là bậc có đầy đủ công hạnh và tuệ giác

Là bậc đã qua tới một cách nhiệm mầu

Là bậc hiểu thấu thế gian

Là bậc nhân sĩ cao tột có khả năng điều phục con người

Là bậc thầy của cả hai giới thiên và nhân

Là bậc tỉnh thức toàn vẹn

Là bậc được tôn sùng quý trọng nhất trên đời.

Chúng ta ca ngợi Bụt đêm ngày, tán dương Bụt bằng những bài tán rất hay. Rồi ta lạy Bụt rất nhiều, lạy 108 lạy và thỉnh thoảng còn thực tập nhất bộ nhất bái, đi 300 cây số. Có thể ta làm như vậy trong mười năm, hai mươi năm mà vẫn chưa tiếp xúc được với Bụt bởi vì đối với ta, Bụt vẫn còn là một ý niệm, một danh từ. Chúng ta sống bằng danh từ. Hầu hết chúng ta đều sống với danh từ, với ý niệm. Giải thoát, giác ngộ, an lạc là những danh từ đầu môi chót lưỡi. Chúng ta chưa có khả năng tiếp xúc với những thực tại ấy. Như nói cam mà chưa bao giờ được ăn cam, nói lê mà chưa bao giờ được ăn lê. Mỗi ngày chúng ta tôn kính, gọi Hồng danh của Bụt một trăm lần, một ngàn lần. Chúng ta gọi tên Ngài ra rả mà không tiếp xúc được với Ngài. Chúng ta không cho mình có cơ hội để tiếp xúc đích thực với Bụt, với Tịnh độ, với an lạc, trong khi Bụt, Tịnh độ hay an lạc đã có sẵn và có thật. Nếu biết cách, ta có thể tiếp xúc được với Bụt bây giờ và ở đây mà không cần phải kêu tên hay lễ lạy. Tịnh độ cũng vậy, ta có thể tiếp xúc được ngay bây giờ và ở đây mà không cần phải cầu xin đi sang bên đó. Chính giải thoát, an lạc cũng có mặt bây giờ và ở đây. Phải có khả năng lột hết và liệng đi những danh từ, những ý niệm thì lúc đó chúng ta mới có thể tiếp xúc được với những cái mình đang đi tìm, trong đó có Bụt hay Tịnh độ.

Trong khi sư chú đi thiền thì mỗi bước chân là một cơ hội để Bụt được biểu hiện trong tự thân của sư chú, và để cho hỷ, lạc, giải thoát được biểu hiện ngay trong giây phút hiện tại.

Nguyện thấy được tịnh độ dưới mỗi bước chân mình

Nguyện tiếp xúc bản môn trong mỗi khi hành xử

Bước trên thật địa

Thở giữa chân không

Đó là chuyện ta có thể làm được bây giờ và ở đây mà không cần phải đợi năm năm, tám năm, mười năm hay hai mươi năm mới làm được. Chỉ cần nhìn sư chú bước đi một bước, tôi có thể thấy được trong bước chân của sư chú có an, có lạc, có tiếp xúc với những mầu nhiệm của Tịnh độ hay không. Những mầu nhiệm được diễn tả trong kinh A Di Đà như những đóa sen lớn, những hàng cây phát ra âm thanh vi diệu trong đó có thể nghe được Tứ đế, Bát chánh đạo, Ngũ căn, Ngũ lực… đều có thể tiếp xúc được ngay bây giờ và ở đây. Sư chú chỉ cần bước một bước, và nếu bước chân ấy chế tác được năng lượng của niệm, của định, tiếp xúc được với thực tại bây giờ và ở đây thì sư chú đang an trú trong Tịnh độ hiện tiền, hỷ lạc hiện tiền. Đức A Di Đà, đức Thích Ca đều hiện tiền trong bước chân đó. Nhưng có thể sư chú đã không cho Bụt, không cho Tịnh độ, không cho hỷ và lạc một cơ hội. Sư chú đi như bị ma đuổi. Ta không cho Bụt có cơ hội biểu hiện mà cứ gọi tên Ngài nhiều lần trong ngày và có khi còn lạy tới sói đầu. Ta có thể đang làm những chuyện ngược lại với mong muốn của ta ngày xưa.

Trong bài thơ, Xuân Diệu nói: Không trễ lắm đâu!

Dẫu đã muộn rồi, hãy còn sớm chán

Hai chân ta còn khỏe, mỗi bước chân có thể giẫm vào Tịnh độ. Nếu có niệm và định thì chắc chắn là ta giẫm được vào Tịnh độ ngay trong phút giây hiện tại. Chúng ta không cần phải cầu xin được sinh về Tịnh độ và cũng không cần phát tâm nhàm chán cõi Ta bà, mà mỗi hơi thở chính là một cơ hội, mỗi bước chân cũng chính là một cơ hội. Ta đòi hỏi gì nữa? Tại trung tâm tu học, chúng ta được ngồi, được thở. Ông trưởng ban quản trị không thể cấm ta thở, không thể cấm ta ngồi. Giáo hội cũng không thể cấm ta thở, cấm ta ngồi, cấm ta nghe chuông. Đảng cũng không thể cấm ta thở, cấm ta ngồi hay cấm ta nghe chuông. Mỗi người tu phải có cơ hội để đi những bước chân như vậy, thở những hơi thở như vậy, ngồi những buổi ngồi như vậy. Mỗi hơi thở, mỗi lúc ngồi, mỗi bước chân là một cơ hội để ta tiếp xúc với cái mà ta đang tìm. Đó là hạnh phúc chân thật, là cô Hạnh Phúc. Trán cô rất huy hoàng, cô có sẵn đó, không cần phải đi tìm, không cần phải xây dựng hay lao động khó nhọc.

Hôm qua, một vị đã phát biểu rằng, pháp môn này chỉ có thể tu tập với tính cách cá nhân thôi, chứ mang về chùa chắc chắn là không tu được. Phải chăng trong chùa đó mọi người không được đi thảnh thơi, không được ngồi thảnh thơi? Phải chăng trong chùa ấy mọi người không được thở, không được nghe chuông hay ăn cơm chánh niệm? Một ngôi chùa lập ra là để làm những chuyện đó chứ không phải để cấm người ta làm chuyện đó. Nếu không được thực tập những pháp môn ấy thì người ta phải viết lên bảng: “Chùa này cấm đi thảnh thơi, cấm nghe chuông và cấm mỉm cười”. Có danh sách những điều cấm như thế trong chùa, có nghĩa là cấm Bụt không được ở chùa, cấm đạo Bụt không được thực tập ở chùa.

Câu chuyện được tiếp tục thế này:

Một hôm có một vị khách tăng tới chùa của hai thầy trò. Vị khách tăng này không đòi gặp thầy. Sư chú ra thưa:

– Để con đi tìm thầy.

Khách tăng nói:

– Thôi khỏi. Tôi tới đây để tham quan, lễ Phật và đi thiền.

Vị đó không cần đón tiếp, không cần chào hỏi. Vị ấy thảnh thơi đi thiền lên núi và tình cờ gặp thầy ở đó. Cuộc gặp gỡ là cái duyên để thầy trụ trì học được phương pháp thiền đi. Hôm sau là ngày rằm, trước khi lên khóa lễ, thầy nói ra ước muốn của thầy với đạo tràng, thầy mong người nào cũng nếm được pháp lạc khi đi thiền. Và thầy dạy cho đạo tràng đi thiền lần đầu tiên trong chùa. Nhờ sự viếng thăm của vị khách tăng thảnh thơi kia mà thầy trụ trì biết cách chuyển hóa một ngôi chùa thực tập tín mộ trở thành một ngôi chùa thực tập đích thực, có thể mang lại hỷ, lạc, hạnh phúc, Tịnh độ hiện tiền, không phải chỉ cho người xuất gia mà cho tất cả mọi người.

Đó là nội dung của truyện ngắn tôi muốn viết mà chưa viết được. Những người viết văn hay, xin viết thành truyện đàng hoàng giùm tôi.

Mỗi bước chân là một bài pháp thoại

Chúng ta có nói rằng mỗi bước chân cũng là pháp thoại. Đây là quà tặng cho các vị giáo thọ tập sự, các vị giáo thọ đã được trao đèn và cả các vị giáo thọ lớn hơn. Trong khi đi mà mỗi bước chân tiếp xúc được với Tịnh độ thì ta không cần phải sinh qua bên đó, bởi vì Tịnh độ đã có bên này. Cõi này là Tịnh độ hay Ta bà đều do mình. Nếu tâm tư còn đầy lo lắng, buồn khổ và sợ hãi thì cõi này là cõi Ta bà. Nhưng nếu ta có vô úy, giải thoát, tự do thì cõi này là Tịnh độ. Tịnh độ không phân chia Nam Bắc, không phân chia Đông Tây. Tịnh độ ở phương Tây chỉ là một cách nói. Bởi vì nếu Tịnh độ chỉ có ở phương Tây thôi thì ở phương Đông không có Tịnh độ hay sao? Bụt A Súc ở phương nào? Đó là giáo lý vô đắc, không cần phải đi tìm một cái gì nữa cả, tất cả đều có đó. Vấn đề là chúng ta có tiếp xúc được hay không mà thôi. Cũng không có gì khó lắm và hãy còn sớm chán! Những ngày còn lại của đời ta, mỗi ngày có thể là một ngày hạnh phúc, mỗi giờ có thể là một giờ hạnh phúc, mỗi giây phút có thể là một giây phút hạnh phúc.

Khi ấy, nếu có khổ đau thì chúng ta cũng không sợ, bởi vì đã biết thực tập thì ta sẽ xử lý khổ đau rất dễ dàng. Khổ đau rất cần thiết. Cũng như bùn rất cần thiết để chế tác ra sen, khổ đau là chất liệu cần thiết để chế tác hạnh phúc. Chúng ta là chủ chứ không phải khổ đau là chủ, ta biết cách không để khổ đau tràn ngập. Chúng ta sử dụng khổ đau để chế tác hạnh phúc như người nông phu sử dụng bùn đất để chế tác hoa màu. Khi đi một bước chân chánh niệm thì trong bước chân đó có đủ cả, có Tịnh độ, có Bụt A Di Đà, có Bụt Thích Ca, có tất cả các vị Bụt trong quá khứ, có hỷ, có lạc, có giải thoát.

Đây là hai câu sau cùng trong bài tụng cuối của Duy thức tam thập tụng:

An lạc giải thoát thân

Đại Mâu Ni danh pháp

Mỗi người có nhục thân, tức hình hài bằng xương, bằng thịt. Nhưng nếu là người tu thì phải có an lạc thân và giải thoát thân, và các thân này sinh ra từ sự thực tập. Đi đến đâu người tu cũng đem thân đó theo. Người tu không chỉ đem theo thân xương thịt mà còn đem theo cả thân an lạc, thân giải thoát. Nếu thân giải thoát mà ốm yếu, èo uột thì nó không đủ nuôi chính ta, nói gì tới chuyện nuôi được người khác. Ta phải làm cho thân giải thoát lớn lên, nghĩa là phải có nhiều tự do hơn.

Chúng ta có được bao nhiêu tự do? Đó là vấn đề. Chúng ta có rất nhiều ràng buộc, không những bị ràng buộc bởi vật chất bên ngoài mà còn bị ràng buộc bởi sự sợ hãi, lo lắng, giận hờn. Chúng ta thiếu không gian, thiếu tự do, thiếu giải thoát. Giải thoát của chúng ta èo uột, ốm yếu. Vì vậy mỗi bước chân, mỗi hơi thở là để nuôi lớn thân giải thoát, để có thêm tự do. Tự do không phải là một ý niệm. Người đời nói tới tự do như một ý niệm, nhưng là người tu thì ta phải có tự do thật sự. Khi ta mỉm cười được trước một nghịch cảnh thì ta thấy rõ ràng là ta đang có thân giải thoát, có tự do, có không gian trong lòng. Những nghịch cảnh, những thách đố có thể làm cho người khác khổ nhưng không thể làm cho ta khổ. Ta có tự do với những bực tức, bất mãn và lo sợ trong ta.

Người tu phải chế tác tự do, nhưng chế tác bằng cách nào? Khi bước một bước chân thì bước chân đó phải giúp ta buông xuống những lo lắng, buông hết quá khứ, buông hết tương lai, buông hết những dự án. This is it, tức là cái ta tìm kiếm, cái mà Xuân Diệu gọi là Đời, là Cô Hạnh Phúc, đang có ngay trong mỗi bước chân. Bước chân như thế có công năng nuôi dưỡng đời tu, tháo gỡ những ràng buộc và cho ta thêm tự do. Đó gọi là thân giải thoát. Thân giải thoát đi đôi với thân an lạc. Không thể nào có an lạc nếu không có giải thoát. Freedom is the foundation of happiness and peace. Đi được những bước chân như vậy, thở được những hơi thở như vậy, quán chiếu được những giờ phút như vậy thì ta có an lạc và giải thoát. Đó là mục đích của giáo pháp mà bậc thầy chúng ta (Mahamuni) trao truyền lại. Muni nghĩa là ông thầy tu tĩnh lặng, là danh hiệu đẹp nhất của đức Thích Ca. Mahamuni là Đại Muni, tức ông thầy tu có tĩnh lặng lớn. Tôi thấy gọi đức Thích Ca là Ông Thầy Tu Tĩnh Lặng hay hơn là gọi Pháp Vương hay đức Thế Tôn. Chính Ngài cũng muốn làm một ông thầy tu bình thường và tĩnh lặng mà thôi. Muni là ông thầy tu không ồn ào, không khoa trương.

Mỗi bước chân như vậy đích thực là một bài pháp thoại. Dù ta không nói gì và chỉ đi thôi thì bài pháp thoại đó cũng làm chấn động những người chung quanh. Đi ở phi trường, ở bờ sông hay đi trên hè phố, cách mình đi có thể làm thay đổi cả thế giới, làm thay đổi những người chung quanh. Lúc tăng thân 300 người về Hà Nội, chúng ta có tổ chức một buổi thiền hành quanh hồ Hoàn Kiếm. Lần đầu tiên trong lịch sử 1000 năm Thăng Long, có một đoàn người đi như vậy quanh bờ hồ Gươm. Xuất sĩ và cư sĩ, người nào cũng đi thảnh thơi, an lạc. Đó là một cống hiến của Làng Mai cho thủ đô. Ta không đem về tiền bạc hay danh vọng mà đem về năng lượng của hạnh phúc, tự do.

Vì vậy mỗi bước chân là một bài pháp thoại. Sư chú, sư cô đang nói pháp thoại một cách hùng hồn trong khi bước đi. Và không đợi tới ngày mai mà chính ngay hôm nay, sư chú, sư cô đã có thể làm được. Nếu có niệm và định hùng hậu thì mỗi bước chân của ta sẽ tỏa ra năng lượng thảnh thơi, giải thoát, an lạc và bước chân ấy sẽ nuôi được thân giải thoát, thân an lạc của ta. Là một vị sư trưởng, ta phải cho đồ chúng một cơ hội được thực tập. Dù ta ăn ít hơn, ở nghèo nàn hơn, nhưng ta phải được thực tập đầy đủ bởi vì đó chính là cái ta mong muốn nhất. Ngày xưa, mỗi buổi sáng các thầy chỉ đi khất thực, khỏi phải đi chợ nấu cơm nên có thì giờ để thực tập đi như vậy, ngồi như vậy. Chúng ta cần phải tổ chức đời sống trong chùa như thế nào để có thể nối tiếp được người xưa. Nếu ta quá bận rộn đến nỗi không có thì giờ để đi những bước thảnh thơi, không có thì giờ để ngồi trong yên lặng, không có thì giờ để nghe chuông và chế tác hỷ lạc thì đó không phải là bản hoài của đức Thế Tôn.

Mỗi bước chân là tình thương

Mỗi bước chân là pháp thoại, mỗi bước chân là tình thương. Người thầy nào cũng muốn đệ tử của mình đi được những bước chân như vậy. Nếu thương thầy thì ta phải đi như vậy. Và đại chúng cũng muốn ta đi như vậy. Thầy và đại chúng trông chờ ta đi những bước chân như là pháp thoại, đầy đủ tình thương. Vì thương thầy nên ta đi như vậy và đi như vậy thì tự nhiên ta thương luôn cả mình, thương cả Bụt, thương cả cha mẹ. Cha mẹ để ta đi tu nên ta phải biết ơn. Nếu không thành công được trong những bước chân thì ta không có hiếu với cha mẹ.

Trong mỗi bước chân có tình thương, có sự hiếu đễ, có ân nghĩa. Tôi nhớ có lần người ta dành cho tăng thân một đại lộ vinh dự nhất trong buổi thiền hành ở New Dehli. Tôi đã đi cho Sư Ông, cho Sư Cố, mỗi bước chân tràn đầy tình thương và Sư Ông đã đi bằng hai chân của tôi trên đại lộ Maharaja ấy. Rồi tôi đi cho mẹ. Mẹ của tôi đã đi bằng hai chân của tôi. Tôi cũng đã đi cho cha, đi cho tổ tiên và đi cho các vị đệ tử. Mỗi bước chân tràn đầy tình thương. Mỗi bước chân tràn đầy nuôi dưỡng. Chuyện này không khó.

Khi nghĩ tới mẹ suốt đời tất tả ngược xuôi, không có những giờ phút thảnh thơi, lo cho chồng, lo cho con những lúc con ốm không có thuốc, ta thấy thương quá. “Mẹ ơi, con đang đi cho mẹ. Mời mẹ đi với con, mẹ đi cho thảnh thơi”. Sự thật rất rõ ràng là mẹ đang có trong từng tế bào cơ thể của mỗi chúng ta. Chúng ta tưởng mẹ đã qua đời, nhưng kỳ thực mẹ đang còn sống trong từng tế bào cơ thể ta. Vì vậy mỗi bước chân là đi cho mẹ, cho cha. Lúc thực tập, ta có thể thấy mẹ mỉm cười trong mỗi tế bào của ta. Mẹ được đi thiền. Trong khung cảnh mầu nhiệm đó, ta trở thành một đứa con có hiếu nhất trong những đứa con có hiếu. Ban đầu vì thương thầy mà đi, nhưng sau một lúc thì tình thương lớn lên và ta ôm được cả tổ tiên, cha mẹ cùng các thế hệ tương lai trong mỗi bước chân của ta.

Chế tác năng lượng của niệm, định và tuệ

Niệm, định và tuệ là trái tim của sự thực tập đạo Bụt. Trong chúng ta có người không thật sự biết niệm là gì. Ta có một ý niệm về nó, ta biết danh từ niệm nhưng ta không thấy được sự mầu nhiệm của năng lượng đó. Bằng mỗi hơi thở, bằng mỗi bước chân chúng ta có thể chế tác năng lượng niệm. Khi uống nước, chúng ta phải uống với năng lượng niệm. Uống trong niệm là như thế nào? Trước hết chúng ta phải có mặt. Có thể là ta đang suy nghĩ tới chuyện quá khứ, chuyện tương lai hay đang băn khoăn về những dự án chưa thực hiện được. Tâm của chúng ta không có đó. Ta cần mang tâm về với thân, để tâm nơi hơi thở và bắt đầu thở vào. Chỉ trong vòng hai hay ba giây đồng hồ, ta liền đem được tâm về với thân, không để cho tâm rong ruổi nữa. Tâm ta như con khỉ chuyền từ cành này sang cành khác không bao giờ ngừng nghỉ. Ta cũng thế, phiêu lưu, trôi lăn, rong ruổi suốt ngày. Dù đang nằm trên giường hay ngồi trên ghế ta cũng rong ruổi, cũng trôi lăn trong cõi thất niệm, cõi quên lãng. Với hơi thở chánh niệm, xin mọi loài từ bỏ cõi lãng quên. Chỉ trong hai hay ba giây đồng hồ, ta có thể đem tâm trở về với thân, khiến cho tâm được giải thoát khỏi những lo lắng, sợ hãi về tương lai hay những ưu sầu, tiếc nuối về quá khứ.

Giải thoát không phải là chuyện của mười năm, hai mươi năm sau. Giải thoát có thể có được bây giờ, ở đây, và một hơi thở có thể đem tới giải thoát. Khi hoàn toàn nương vào hơi thở, tâm ta buông xuống hết những cái khác, lúc ấy, đối tượng duy nhất của tâm là hơi thở, những cái khác tan rã ra và ta có tự do, tự do trong một tích tắc. Tự do là giải thoát, giải thoát trong giây phút đó. Nếu giỏi thì ta có thể duy trì giây phút giải thoát ấy liên tục hơn. Khi thân và tâm hợp nhất thì ta mới có mặt. Đó là năng luợng của niệm. Niệm là năng lượng giúp ta có mặt bây giờ và ở đây. Mỗi hơi thở, mỗi bước chân trong chánh niệm đều có khả năng đưa ta trở về với chính ta. Khi thực tập nghe chuông ta cũng có thể đưa thân tâm về một mối, có mặt bây giờ và ở đây. Khi có mặt bây giờ và ở đây, tự nhiên ta nhận diện được sự có mặt của ly trà. Ta có mặt thì những mầu nhiệm của sự sống cùng có mặt. Lý như vậy và sự cũng như vậy. Ta có mặt thì mây trắng, trời xanh, thông reo, chim hót là của ta. Có mặt là một sự thực tập. Ta có mặt cho ai? Ta có mặt cho sự sống. Có mặt là tự do, không còn bị giam hãm bởi quá khứ hay bị lôi cuốn theo tương lai.

Giải thoát là vấn đề bây giờ và ở đây chứ không phải là vấn đề tương lai. Không phải tu mười năm hay hai mươi năm mới có giải thoát. Khi ta thật sự có mặt thì cái kia cũng thật sự có mặt. Cái kia là sự sống, là Cô Hạnh Phúc, là đời sống mầu nhiệm. Không còn là một ý niệm, một bóng ma, ta là một thực tại mầu nhiệm. Tự nhiên ly trà trong hai tay cũng là một thực tại mầu nhiệm. Sự tiếp xúc giữa người uống trà với ly trà là một sự tiếp xúc mầu nhiệm. Một thực tại tiếp xúc với một thực tại. Ly trà không phải là một ảo tưởng, một hình ảnh trong giấc mơ. Nếu bị cuốn theo những suy tư, lo lắng thì ly trà, dù là trà Cao Sơn, cũng chỉ là một ảo ảnh, một bóng ma.

Chánh niệm giúp cho ta có thật và giúp cái trước mặt ta có thật, như trời xanh, mây trắng. Trong giây phút đó sự sống có mặt thật sự. Cử chỉ uống trà là một cử chỉ chánh niệm. Chánh niệm làm cho sự sống có thật và giúp ta sống sâu sắc từng giây phút của đời sống hàng ngày. Không có chánh niệm thì ta sống như những bóng ma, ta đi như người mộng du. Ta không sống được cuộc đời của ta. Chánh niệm là năng lượng có thể chế tác được bất cứ lúc nào trong đời sống hàng ngày. Khi rửa bát, ta cũng có thể chế tác được năng lượng chánh niệm và ngay khoảnh khắc ấy, có thể tìm thấy niềm vui và an lạc. Rửa bát trở thành một cái gì thiêng liêng chứ không phải chỉ có thắp hương cắm lên bàn thờ, hay tụng kinh mới là thiêng liêng. Rửa bát, lau bàn mà có chánh niệm thì đều trở thành thiêng liêng. Không có cái gì quí hơn cái gì. Tất cả đều quí như nhau. Đi tiểu hay đi cầu mà có chánh niệm thì cũng là những giây phút linh thiêng. Chính vua Trần Thái Tông, vị vua đầu tiên của nhà Trần cũng nói rằng đi tiểu, đi cầu đều là Phật pháp. Không phải ngồi nghe pháp thoại hay tụng kinh mới là Phật pháp. Chúng ta có những người cha, người anh giỏi như vậy thì không lý do gì mà ta không làm được như cha anh của mình.

Niệm không nên chỉ là một danh từ suông. Danh từ không nuôi cuộc đời mình được. Danh từ có thể làm cho ta hồ hởi, phấn khởi một lúc nhưng sau đó ta thấy chúng chỉ là những danh từ. Ta vẫn đói tự do, đói hạnh phúc, đói tình huynh đệ. Trong Kinh Bách dụ có câu chuyện rất hay.

Có một người bị bệnh, ông thầy thuốc rất giỏi nói với người đó:

– Bệnh của anh chỉ cần ăn cháo chim trĩ là lành. Con chim này có dược tính rất hay.

Ông thầy có rất nhiều chuyện phải làm nên nói như vậy rồi đi. Người bệnh hiểu lầm, suốt ngày chỉ ngồi lặp lại hai chữ “chim trĩ”. Anh ta có lặp lại 100 lần, 1000 lần, 100000 lần cũng không lành được bệnh. Hôm đó có một anh bạn tới thăm, thấy anh kia cứ ngồi nói “chim trĩ”, “chim trĩ” giống như sắp bị bệnh tâm thần nên hỏi:

– Tại sao anh cứ ngồi lặp đi lặp lại hai chữ “chim trĩ” như vậy?

– Ông thầy đó nói chim trĩ mới chữa được bệnh, vì vậy tôi phải lặp đi lặp lại hai chữ đó.

Cũng giống như người ta lặp đi lặp lại Hồng danh của chư Bụt, chư Bồ tát bên đạo Bụt, hay lặp đi lặp lại Hồng danh của mẹ Maria và chúa Kito bên đạo Chúa, gọi là trì danh niệm Phật, trì danh niệm Chúa.

Anh bạn nói:

– Không phải thế. Chim trĩ không phải là một danh từ mà là một thực tại. Tôi sẽ vẽ cho anh coi con chim trĩ như thế nào.

Rồi anh bạn, là họa sĩ, vẽ ra một con chim trĩ giống như thật. Anh bạn đi rồi, anh kia nghĩ:

– Mình ngu quá! Cái này mới thật là chim trĩ.

Anh ta liền lấy kéo cắt hình chim trĩ ra, nhai và nuốt vào bụng. Thấy chưa lành, anh ta thuê thợ tới vẽ thêm nhiều chim trĩ nữa. Mỗi ngày anh ta ăn chim trĩ giấy nhưng cũng không thấy lành bệnh.

Ta đừng nên cười anh chàng này vì có thể chúng ta cũng đang làm giống như anh. Chúng ta tưởng cái đó sẽ đưa tới giải thoát, ta cứ lặp đi lặp lại những cái mà người ta bảo mình phải làm.

May cho anh chàng là có một người bạn thứ hai tới thăm. Thấy anh cứ nhai chim trĩ giấy hoài nên nói:

– Anh làm trò gì thế? Sao lại có người cứng đầu như vậy? Anh đi với tôi!

Người bạn dắt anh ta ra chợ mua một cặp chim trĩ, nấu cháo và bắt anh ta ăn trước mặt mình. Anh chàng lành bệnh.

Đây là một trong 100 chuyện hài hước mà đức Thế Tôn đã dùng để dạy các đệ tử. Chúng ta đừng nghĩ làm sao mà có người ngu đến mức đó? Sự thật là ở trên đời có rất nhiều người như vậy. Dù biết niệm, định và tuệ là hạt nhân của sự tu tập, nhưng có thể đối với ta chúng chỉ mới là những ý niệm, là những danh từ suông, là những ảo ảnh mà chưa phải là năng lượng thật. Trong khi đó người tu có thể chế tác được năng lượng niệm trong khi đi, trong khi ngồi, trong khi uống nước, trong khi rửa bát. Người có thực tập thì biết niệm quan trọng ra sao. Người nào cũng có hạt giống niệm trong lòng, thực tập ba bốn ngày thì hạt giống đó sẽ lớn lên và chế tác thành năng lượng chánh niệm.

Hễ có niệm là có định. Định là chuyên chú vào một đối tượng và kéo dài sự chuyên chú ấy. Định là đẳng trì, tức là làm cho kéo dài. Đẳng là đều đều, trì là giữ, đẳng trì là giữ mãi trên bình diện của sự chuyên chú. Khi thở vào và để ý trọn vẹn nơi hơi thở vào thì gọi là niệm hơi thở. Ý thức được hơi thở vào, hơi thở ra, và nếu duy trì được ý thức ấy từ đầu tới cuối thì niệm sinh ra định. Ta không những ý thức được sự có mặt của hơi thở vào mà còn chuyên chú vào hơi thở vào. Định chính là niệm được thực hiện sâu sắc và liên tục.

Hễ có niệm và định là có tuệ. Tuệ không phải là vấn đề tương lai. Tuệ có thể có ngay lập tức. Ví dụ câu “Breathe, you are alive” (Thở đi, anh đang còn sống). Đó là tuệ, tức cái thấy có khả năng chuyển hóa, khai phá, giải phóng, đó là Bát nhã (prajña). Người tu có thể chế tác tuệ mỗi ngày nhiều lần, trong từng giây phút. Tuệ không phải là cái hy vọng đạt được ở tương lai. Trong khi thở vào, nếu thật sự để ý và tập trung nơi hơi thở thì chúng ta khám phá ra rất nhiều chuyện, trong đó có chuyện chúng ta đang có mặt ở đây, trên thế giới này. Đó là chuyện tương đối dễ làm, tại vì ai cũng biết rằng, người đã chết thì không làm sao thở vào được nữa. Đang thở vào thì rõ ràng là đang còn sống. Đang còn sống là một phép lạ! Có phép lạ nào mầu nhiệm hơn phép lạ là ta đang có mặt và đang sống đây không? Một người đã chết thì dù có 100 triệu dollars hay có quyền hành trên tổng thống đi nữa, họ cũng không thể thở vào, dù chỉ một hơi. Đang thở vào là một phép lạ, là một sự mầu nhiệm mà ta phải hết sức trân quý. Chỉ cần một hơi thở vào trong ba giây là ta có thể đạt tới cái thấy đó, một cái thấy hết sức đơn giản: “Ta đang còn sống và ta đang phung phí sự sống. Ta không biết sống, ta không biết trân quý giây phút của sự sống!”. Thở vào và biết ta đang có mặt, đang có tuổi trẻ, có hai chân khỏe, có hai mắt sáng. Cái thấy đó đều là tuệ. Tuệ đưa tới hạnh phúc ngay lập tức.

Pháp thừa tự

Niệm, định, tuệ là ba loại năng lượng có thật mà người tu phải chế tác mỗi ngày. Chế tác được ba loại năng lượng này thì ta sẽ có hỷ, có lạc, có hạnh phúc và giải thoát. Không có gì thần bí, không cần phải cầu nguyện, không cần phải lạy sói trán mà ta vẫn có thể có được hỷ lạc, hạnh phúc và giải thoát. Nếu sự thực tập hàng ngày của ta chế tác được hỷ lạc và giải thoát, tức là nếu có thân an lạc và thân giải thoát thì ta trở thành một người rất giàu có, có rất nhiều cái có thể để lại cho con cháu. Vũ Hoàng Chương có viết một bài thơ bắt đầu bằng câu: “Ta còn để lại gì không?”.

Là những người tu, chúng ta có thể hỏi câu hỏi đó: “Ta còn để lại gì không?”. Có, chúng ta để lại kho tàng giải thoát, an lạc mà ta chế tác trong suốt một đời tu. Chúng ta để lại thân an lạc, thân giải thoát. Thân thể xương thịt này của ta sẽ tan biến, nhưng thân an lạc và thân giải thoát của ta sẽ được truyền lại cho con cháu, cho các thế hệ tương lai. Trong kinh có danh từ Pháp thừa tự. Thừa tự là tiếp nhận gia tài của ông, của cha, của anh. Pháp thừa tự, tiếng Phạn là Dharmadayada. Bụt rất giàu, Ngài là một bậc cự phú đứng về phương diện hạnh phúc và tự do. Chúng ta là những đứa con rất may mắn được tiếp nhận gia tài vô tận của an lạc và giải thoát ấy. Chúng ta đi tu không phải để tiếp nhận ngôi chùa từ bổn sư của mình. Đó không phải là thừa tự! Chùa không phải là gia sản của thầy để lại. Thầy để lại một cái gì lớn lao hơn nhiều, đó là thân an lạc, thân giải thoát của thầy mà người học trò giỏi phải kế thừa cho được. Nếu không, ta chỉ là một kẻ cùng tử đi xin chút hạnh phúc từ chỗ này tới chỗ kia. Tại sao là con nhà giàu mà ta lại cư xử như một tên cùng tử, đi ăn mày hạnh phúc?

Pháp thừa tự là chữ mà chính đức Thế Tôn đã dùng. Kinh Hải đảo tự thân, đức Thế Tôn nói: “Trong đại chúng có người rất giàu, ví dụ như thầy Xá Lợi Phất, thầy có một gia tài kếch sù để lại cho con cháu gọi là pháp tài”. Tài là tài sản. Tài sản ở đây không phải là dollar, euro hay pound mà là an lạc, là giải thoát. Cũng trong kinh này, Bụt lại dạy: “Người đi tìm sự giàu sang về chánh pháp thường hay tới các thầy lớn như thầy Xá Lợi Phất, thầy Mục Kiền Liên, thầy Phú Lâu Na”.

Nhờ có phước đức lớn và nhân duyên lớn ta mới được làm người xuất gia cho nên mỗi sư chú, mỗi sư cô phải biết rằng mình là con nhà giàu, mình xứng đáng để thừa tự cái gia tài vô tận ấy, đó chính là pháp thừa tự.

Không có gì quý hơn tình huynh đệ

Chánh niệm là suối nguồn của hạnh phúc

Có một lần tôi đi xem một cuộc triển lãm xác chết ở San Diego. Người ta ướp những xác chết của hàng trăm người trẻ nam và nữ, và trình bày trong một chỗ giống như chỗ thực tập thiền quán. Người ta ướp rất khéo nên giữ lại được những nét đẹp của người trẻ. Có một xác đang đứng trong tư thế đánh golf rất hùng tráng nhưng cứng đơ. Trong khi xem triển lãm chúng ta thấy đời là vô thường. Là người trẻ chúng ta cũng có thể chết như những người trẻ này. Vì vậy trong khi ta còn hình hài, còn sức khỏe; trong khi ta còn đi đứng được, còn cúi xuống được thì ta phải có hạnh phúc. Đợi đến khi hình hài ta cứng đơ như vậy thì đã hơi trể rồi.

Niệm là nhớ, nhờ có chánh niệm nên ta mới biết trân quý những gì ta có trong giây phút hiện tại. Hạnh phúc có được là nhờ ta có chánh niệm, cho nên ở Làng Mai chúng ta thường nói: chánh niệm là suối nguồn của hạnh phúc. Chúng ta không đi tìm hạnh phúc nơi tiền bạc, danh vọng, quyền hành, sắc dục mà chúng ta tìm hạnh phúc ở chánh niệm. Chánh niệm là một nguồn suối hạnh phúc bất tận chúng ta có thể chế tác ra trong khi đi, đứng, nằm, ngồi.

Thực tập thiền đi một trăm phần trăm

Ngày hôm qua trong buổi lễ đối thú an cư chúng ta đã đồng ý với nhau rằng trong khóa an cư này chúng ta sẽ thực tập nghiêm chỉnh thiền đi. Chúng ta cũng biết rằng nếu ta thực tập 100% thì rất dễ, còn nếu ta chỉ thực tập nửa vời thì sẽ không thành công. Và nếu thực tập thành công thiền đi thì chúng ta sẽ thực tập những chuyện khác dễ dàng hơn.

Xuất sĩ cũng như cư sĩ, chúng ta đã quyết định phải thực tập thiền đi 100%, có nghĩa là hễ bước chân đi là phải có chánh niệm. Muốn có chánh niệm thì chúng ta phải ngưng sự suy nghĩ, tại vì tư duy làm chúng ta bay bổng lên không trung, hay kéo ta đi về quá khứ hoặc đi đến tương lai. Tư duy, tuy đôi khi cũng hay nhưng rất có hại. Thường thì nó kéo ta về hướng thất niệm. Tâm trí ta bị phân tán, ta suy nghĩ lung tung. Phương cách hay nhất để làm ngưng lại sự suy nghĩ là cột tâm vào hơi thở, dùng hơi thở làm đối tượng duy nhất của tâm gọi là tâm nhất điểm. Tâm nhất điểm là định. Tâm ta chỉ để ý tới hơi thở và ta phối hợp hơi thở đó với bước chân. Hơi thở vào đi theo với một hay hai bước chân, hơi thở ra đi theo với một, hai, ba hay bốn bước. Khi ta cột hơi thở vào bước chân thì tự nhiên tư duy sẽ ngưng lại. Tùy theo ta muốn ta có thể an trú trong “không tư duy” đó trong thời gian 10, 15 hay 20 phút.

Trong thiền phái Tào Động có nói: Tư duy cái mà ta không tư duy được thì làm sao mà tư duy? lương cá bất tư lương để, bất tư lương để như hà tư lương? How can you conceive of something that cannot be conceived? Not thinking, not conceiving is the secret of meditation. Tư là tư duy, lương (hay hượng) là đo lường. Thực tại không thể nắm được bằng tư duy. Trong khi đi chúng ta phải thực tập phi tư lương 非 思 量. Ta cột tâm vào hơi thở, vào bước chân. Đó là niệm và định. Niệm là nhớ hơi thở, nhớ bước chân. Định là ở với hơi thờ, ở với bước chân. Có niệm và định thì ta tiếp xúc được với tuệ: ta đang còn sống, ta đang đi trên Đất Mẹ mầu nhiệm. Mỗi bước chân có thể có hỷ, lạc và tự do. Đó là thảnh thơi. Chữ thảnh thơi (moksa, vimukti) có nghĩa là tự do (freedom), là không bị ràng buộc, lôi kéo, đè ép. Có thảnh thơi thì ta mới có hạnh phúc.

Trở về giây phút hiện tại

Trong chúng ta có những người bị ràng buộc bởi quá khứ, họ không thể quên được quá khứ. Họ có những đau buồn trong quá khứ và cứ trở về quá khứ để nhai lại đau buồn đó mà không thoát ra được. Họ không có thảnh thơi, không có tự do. Ví dụ một thiếu nữ bị hãm hiếp trong thời còn thơ ấu, và nỗi đau buồn đó còn hằn trong thân và tâm của cô. Hằng ngày cô không có khả năng sống trong giây phút hiện tại. Cô không thấy trời xanh rất đẹp, cô không thấy được mây trắng rất xinh, cô không thấy được hoa nở, cô không nghe được tiếng chim hót và tiếng thông reo. Người đó bị quá khứ trấn ngự. Muốn đừng bị quá khứ trấn ngự nữa thì người đó phải phá bỏ ngục tù quá khứ và trở về giây phút hiện tại. Cô có thể nhờ một người khác nhắc cô rằng chuyện bị hãm hiếp đã xảy ra trong quá khứ. Chuyện đó bây giờ không còn nữa, bây giờ cô đang có an ninh, cô phải tự nhắc mình: Bây giờ không có chuyện đó nữa, nó đã là quá khứ. Nhưng tại vì quá khứ đó giống như một cuốn phim quay ở dưới tiềm thức và mình cứ chui vào để xem cuốn phim đó để đau khổ rồi khóc. Đó không phải là sự thật, nó chỉ là những cuốn phim. Trong khi đó thì hiện tại là sự thật. Trời xanh, mây trắng, chim hót, thông reo, hoa nở là những chuyện có thật. Mình không có khả năng sống với những sự thật đó mà cứ chui vào trong hầm tối để coi lại cuốn phim, coi lại và coi lại nữa. Mình không có thảnh thơi, không có tự do.

Khi thở một hơi kéo dài chừng ba hay bốn giây mà mình để hết tâm vào trong hơi thở thì trong thời gian ba hay bốn giây đó mình buông được quá khứ và mình có tự do. Tâm nhất điểm (one pointed mind) có nghĩa là tâm chỉ có một đối tượng là hơi thở vào. Nếu trong hơi thở vào đó có niệm và định, mình hoàn toàn chuyên chú vào hơi thở thì trong bốn giây đó mình có tự do tại vì mình buông bỏ được quá khứ.

Tương lai cũng vậy, nó cũng ràng buộc mình. Mình không biết ngày mai ra sao? Có ai để cho mình nương tựa không? Cái gì sẽ xảy ra cho mình? Mình buồn khổ cho tương lai, tương lai trở thành tù ngục cho dù nó chưa tới và mình sợ hãi tương lai. Quá khứ hay tương lai đều là những sợi dây ràng buộc. Khi mình bắt đầu thở và chỉ chú tâm vào hơi thở thì trong một, hai, ba hay bốn giây đó mình buông hết quá khứ. Mình chỉ ở trong giây phút hiện tại, tại vì hơi thở vào đó đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Mà nếu có được tự do trong bốn giây thì mình sẽ có được tự do trong tám giây, tại vì khi thở ra mình cũng chú tâm vài hơi thở ra và không để tâm trở về quá khứ hay đi tới tương lai. Tư duy thường kéo mình về quá khứ hay tương lai nên mình phải chấm dứt tư duy.

Khi có tự do thì ta có hạnh phúc. Hạnh phúc là tiếp xúc được với những cái hay, cái đẹp, cái mầu nhiệm, cái tươi mát, cái nuôi dưỡng đang có trong giây phút hiện tại. Mỗi người trong chúng ta là một chiến sĩ. Ta phải dùng gươm trí tuệ để chặt đứt những sợi dây ràng buộc ta với quá khứ hay cột ta vào tương lai. Tự do là sự thực tập của chúng ta. Không phải sau khi thực tập mười năm thì chúng ta mới có tự do. Tự do đó, tuy còn ít, nhưng chúng ta có thể có liền được. Ngồi một mình ta có thể nói chuyện với em bé trong mình. Em bé đó muốn ta chú ý tới, nó hay kéo ta trở về quá khứ để gặm nhấm lại những đau thương. Ta phải trở về với em bé đó để nói chuyện với nó: Em bé ơi, tôi biết là em đang có đó trong tôi. Vì em đòi sự chú ý nên tôi đã trở về với em đây. Em bị thương rất nặng. Nhưng em nên nhớ rằng tôi cũng là em và em đã trưởng thành. Chuyện đau buồn của em là chuyện quá khứ. Hiện tại rất đẹp, có trời xanh, mây trắng, thông reo, hoa nở. Em phải cầm tay tôi ra khỏi quá khứ và đi vào trong giây phút hiện tại.

Tăng thân, những người tu với mình, giúp mình làm chuyện đó. Chúng ta giúp nhau đi ra khỏi ngục tù của quá khứ hay sự lo lắng về tương lai để an trú trong hiện tại. Mỗi hơi thở, mỗi bước chân đều có khả năng đem lại sự giải thoát, đem lại tự do. Niệm, định, tuệ là một thanh gươm rất sắc có thể chặt đứt những sợi dây. Hơi thở hay bước chân của mình có thể là những lưỡi gươm cắt đứt những sợi dây ràng buộc mình với quá khứ hay với tương lai.

Nếu nói chuyện trong khi đi là mình để câu chuyện hay sự suy tư kéo mình về quá khứ, kéo mình tới tương lai. Mình không có cơ hội để tranh đấu cho tự do. Có thảnh thơi, tự do rồi thì mình mới có an lạc, hạnh phúc. An lạc không phải là cái xa vời mình đạt được sau sáu năm thực tập. Mỗi hơi thở mà có chánh niệm và chánh định đều đem tới an lạc, tại vì mình tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống trong giây phút hiện tại.

Không có gì quý hơn tình huynh đệ

Ở Việt Nam người ta nói rằng ba thứ mà chúng ta đi tìm là độc lập, tự do và hạnh phúc. Chúng ta có thể hiểu ba chữ đó theo kiểu tu tập của chúng ta. Độc lập là không bị nô lệ cho quá khứ, cho tương lai, cho những đam mê của mình. Đó là những điều kiện căn bản để có tự do. Ta không tùy thuộc vào một cái khác hay là tùy thuộc vào một người khác. Chúng ta không cho rằng nếu không có cái đó hay không có người đó thì ta không có hạnh phúc. Chúng ta hãy tự hỏi: Tôi có độc lập không? Tôi có cần đòi hỏi phải có một người khác hay có cái này, cái kia thì tôi mới có hạnh phúc không? Có độc lập rồi thì tự nhiên ta có tự do, ta không vướng bận, ta không bị ràng buộc bởi quá khứ, bởi tương lai. Ta thênh thang tiếp xúc được với những điều kiện hạnh phúc có đầy trong mình và chung quanh mình. Đó là độc lập, tự do, hạnh phúc.

Ở Pháp người ta có ba chữ: liberté, fraternité, égalité. Những chữ này hiểu theo pháp môn của chúng ta cũng rất hay. Liberté là thảnh thơi, tự do, tự do đối với những đam mê, giận hờn, tuyệt vọng, đau thương của quá khứ và đối với những lo lắng về tương lai. Ta đã có tự do đó chưa hay là ta đã tranh đấu cho tự do nào ở bên ngoài? Tự do ở đây không phải là tự do chính trị mà là tự do tâm linh thật sự trong đời sống hằng ngày. Ta có được bao nhiêu tự do đối với những phiền não của mình? Ta phải tự hỏi như vậy. Ta có bị ràng buộc bởi cái lo, cái giận hay bởi sầu khổ của quá khứ và lo lắng cho tương lai không? Nếu không có tự do thì làm sao ta có hạnh phúc? Mà tự do là sự thực tập chứ không phải là món quà được gửi tới bằng bưu điện.

Fraternité hay tình huynh đệ rất hay. Nhưng ở Pháp các nhà chính trị, nhà giáo dục, nhà khoa học có xây dựng tình huynh đệ hay không? Chúng ta ở Làng Mai biết rằng tình huynh đệ là quan trọng nhất. Nếu không có tình huynh đệ thì không có gì nuôi dưỡng để mình có thể thực hiện được ước mơ của mình. Ở Làng Mai, tất cả những gì mình làm, mình nói đều phải có mục đích xây dựng tình huynh đệ. Có tình huynh đệ thì có tất cả, không có tình huynh đệ thì không có gì hết.

Năm 2005 tôi được về Việt Nam lần đầu sau 40 năm lưu đày. Các nhà báo hỏi tôi ngay ở phi trường Charles de Gaulle và khi tới Việt Nam họ vẫn tiếp tục hỏi:

– Thầy có muốn nói gì không? Xin thầy cho biết ý kiến về tình trạng ở Việt Nam.

Tôi nói:

– Tôi mới chân ướt chân ráo về tới đây. Tôi đã thấy gì đâu mà nói. Tôi phải ở lâu ngày, phải trải nghiệm rồi mới nói được. Nhưng hình như có một cái tôi nói được, đó là “tình huynh đệ là cái cao quý nhất“. Bác Hồ nói "không có gì quý hơn độc lập tự do“, còn tôi thì nói “không có gì quý hơn tình huynh đệ“.

Đó là kinh nghiệm của đời mình, nếu không có tình huynh đệ thì không làm được gì hết. Nếu ở Làng Mai mà không có tình huynh đệ giữa các thầy, các sư cô và các phật tử cư sĩ thì thử hỏi chúng ta có làm được gì không? Chúng ta không thể tổ chức được cả khóa tu. Không có tình huynh đệ thì làm sao có độc lập tự do? Có tình huynh đệ mới có đoàn kết, có tình thương yêu để nuôi dưỡng mình. Khóa tu đầu tiên cho người xuất sĩ tại chùa Từ Hiếu ở Huế có đề tài là “Xây dựng tình huynh đệ".

Tình huynh đệ là bản chất của một đoàn thể tu học. Nhìn lại đoàn thể tu học mà Bụt đã xây dựng thì chúng ta thấy có tình huynh đệ trong đó. Các thầy lớn luôn luôn chăm sóc cho các thầy trẻ. Điều này làm cho Bụt rất hạnh phúc.

Chữ fraternité (brotherhood) cũng có nghĩa là tăng thân, là một đoàn thể tu học. Khi một số các cha, các thầy ở với nhau để cùng tu học thì đoàn thể đó được gọi là la fraternité. Phật giáo có chữ lục hòa trong một đoàn thể hòa hợp hạnh phúc. Ba chữ liberté-fraternité-egalité rất hay nhưng hình như nó chỉ còn là chữ thôi mà không còn có ý nghĩa thực tế nữa. Các nhà chính trị la ó tấn công khi họ nói về nhau cho chúng ta thấy không còn chút gì là fraternité cả. Họ lên án, bêu xấu nhau ngay trong cùng một đảng phái. Chúng ta phải làm thế nào để phục hồi tình huynh đệ (fraternité) ngay trong những tổ chức chính trị.

Giấc mơ nhỏ bé: bình đẳng cơ hội

Egalité là công bằng, là bình đẳng. Người ta thường nói chúng ta sinh ra bình đẳng với nhau, nhưng sự thật thì không như vậy. Nếu ta có một bà mẹ nghèo thì ta đã không có bình đẳng rồi. Có những đứa con có cơ hội đi học đến tốt nghiệp đại học và có những đứa con không bao giờ được học hơn cấp tiểu học. Vì vậy chúng ta sinh ra là đã không bình đẳng, nói rằng ta sinh ra bình đẳng là không đúng với sự thật.

Chữ bình đẳng ở đây không có nghĩa là có tài năng như nhau hay có sự hưởng thụ bằng nhau. Sự thật là chúng ta nhìn thấy có những người quá giàu và có những người quá nghèo. Mục đích của chủ nghĩa cộng sản là: tất cả đều là của chung. Nhưng các ở nước cộng sản hiện nay như Việt Nam hay Trung Quốc thì người giàu lại quá giàu và người nghèo thì lại quá nghèo. Đứng về phương diện cơ hội thì chúng ta không có égalité.

Chữ égalité ở đây chúng ta phải hiểu là có cơ hội bằng nhau. Dù sinh ra ở miền Nam hay miền Bắc, dù có một bà mẹ da đen hay da trắng, dù sinh ra trong một gia đình công nhân hay gia đình triệu phú thì ta phải có được cơ hội bằng nhau. Ta phải được nuôi dưỡng, phải được uống sữa. Ở nhiều nước trẻ con không có sữa uống. Nếu bà mẹ không có sữa thì em bé hoàn toàn không có cơ hội và không lớn lên được.

Hiện nay ở Việt Nam, Làng Mai đang có những tác viên xã hội mà mục đích là vào thôn quê để giúp cho bất cứ trẻ con nào mỗi ngày ít nhất phải có được một ly sữa. Giấc mơ của Làng Mai rất nhỏ bé: Làm sao để mỗi em bé mỗi ngày có được một ly sữa. Chữ bình đẳng ở đây chúng ta phải hiểu như một cơ hội: một em bé sinh ra phải có được cơ hội như những em bé khác. Đó là giấc mơ của chúng ta: em bé nào sinh ra cũng có sữa uống, cũng được nuôi dưỡng đàng hoàng, cũng có cơ hội học tiểu học, học trung học, học đại học.

Nhưng tất cả những giấc mơ đó làm sao có nếu chúng ta không có tình huynh đệ. Có tình huynh đệ thì chúng ta mới có sức mạnh để tu tập, để tranh đấu. Tu tập, tranh đấu để có tự do ở ngoài và ở trong ta, tự do ở trong đối với những phiền não, tuyệt vọng, đối với những ngục tù của quá khứ hay những lo lắng về tương lai.

Quyết định trong tự do

Trong đời sống hằng ngày chúng ta thường bị đặt trước tình trạng phải đi đến quyết định và chúng ta quyết định một cách rất hấp tấp. Chúng ta quyết định trong tình trạng không có tự do. Nếu ta đi đến quyết định trong khi tâm ta không nhẹ nhàng, thanh thản thì quyết định đó sẽ đưa tới khổ đau cho ta và cho người khác. Khi đang giận mà ta quyết định thì quyết định đó đang bị sự giận hờn chế ngự. Khi quyết định trong lúc ta đang lo lắng, bất an thì quyết định đó không thể nào sáng suốt tại vì ta không có tự do. Mình quyết định tự tử là tại vì mình đang bị tình trạng tuyệt vọng hay giận hờn trào lên. Đôi khi mình tự tử là để trừng phạt người kia.

Sự thực tập của chúng ta là sự thực tập tự do (the practice of freedom). Khi thở vào mà mình chuyên tâm đi theo hơi thở vào thì tự nhiên mình buông bỏ quá khứ, lo lắng và mình có được một chút tự do. Và thở ra được với chánh niệm thì mình nuôi dưỡng tự do lớn lên. Thực tập trong năm, bảy phút thì tự nhiên mình có đủ tự do để đi đến một quyết định. Nguyên tắc là: khi không có tự do thì chúng ta đừng quyết định. Dù cho mọi người nói mình phải quyết định liền nhưng mình phải từ chối tại vì mình không có tự do, không có thảnh thơi, bình an để quyết định. Đi tới một quyết định sai lầm thì mình sẽ đau khổ suốt đời và làm cho người kia đau khổ suốt đời, cho nên tự do là một yếu tố rất quan trọng của hạnh phúc.

Chúng ta đã quyết định trong mùa An Cư Kiết Đông năm nay mình sẽ thực tập thiền đi rất đúng mức. Trong khi đi mình phải ngưng sự suy nghĩ, sự nói năng. Mình phải cột tâm vào hơi thở, vào bước chân. Mình không khổ trong khi thực tập. Nếu thật sự có niệm, định, tuệ thì mình sẽ tiếp xúc với trời xanh, mây trắng, với những mầu nhiệm của sự sống trong mình và chung quanh mình. Mỗi bước chân phải có thảnh thơi và an lạc. Sự thực tập của quý vị là đi như thế nào để mỗi bước chân có thể chế tác được an lạc, tự do. Khi ta cảm thấy được mỗi bước chân cho ta an lạc, hạnh phúc tức là ta đang thực tập đúng. Cái thảnh thơi, an lạc đó là sự bắt đầu của Niết bàn. Trong kinh Niết bàn được định nghĩa là sự thảnh thơi, an lạc, là sự vắng mặt của những phiền não như giận, buồn, tuyệt vọng, lo lắng. Chúng ta đừng nghĩ Niết bàn là cái gì xa xôi, ảo tưởng. Nó là tự do mà mình có thể đạt được bằng bước chân và bằng hơi thở. Khi cần nói mình có thể ngừng lại nói cho đã, nói xong thì mình đi tiếp. Chúng ta chỉ làm một chuyện thôi, đừng nên bắt cá hai tay. Khi thấy một hành giả quên thực tập thì mình dừng lại nhìn, mỉm cười và xá để nhắc người đó nhớ thực tập. Chúng ta phải giúp nhau.

Xem pháp thoại này: https://vimeo.com/55095965

2012.11.08.LH.VN.DT-H.264 – Webcasting widescreen copy from vimeo.com/thuvienlangmai on Vimeo.

 

Người yêu ơi, em là ai?

Con nuôi mẹ

Trước giờ khai mạc khóa tu ở Hòa Lan ngày 28.4.2000, phóng viên nhật báo Trow đã phỏng vấn tôi. Câu hỏi như thế này: “Đã trên bảy mươi tuổi, Thầy còn muốn làm gì trước khi tịch?” Nếu đây là câu hỏi của một vị thiền sinh thì câu trả lời sẽ rất dễ dàng. Nhưng vì đây là câu hỏi của một nhà báo, chưa hiểu Phật pháp nên tôi thấy khó trả lời. Tôi đã có thể trả lời: “Tôi đâu có chết”, nhưng như vậy thì nhà báo sẽ không hiểu được. Cho nên tôi đã nói: Tôi có muốn làm gì trước khi tôi chết đâu! Rồi tôi mỉm cười nói tiếp: “Tôi đã đi tới bản môn rồi, giây phút nào tôi cũng làm cái tôi thích cả, tôi có chết đâu mà phải hối hả làm một cái gì?”

Tôi không ráng tìm cách để giải thích cho nhà báo đó hiểu một chút về tâm tư của mình. Tại vì người đó chưa từng nghe Phật pháp, chưa bao giờ được thực tập pháp môn, vì vậy họ khó mà chấp nhận được những điều ta nói. Nếu nhìn lại, ta có thể tự đặt câu hỏi: “Bây giờ đây ta bao nhiêu tuổi?” Và thử trả lời: Bảy mươi hay bảy mươi lăm? Hay là mới có năm mươi? Hoặc mới có hai mươi lăm? Không chắc chắn là người bảy mươi tuổi sẽ chết sau người hai mươi lăm tuổi! Người hai mươi lăm tuổi có thể bị tai nạn mà chết trước người bảy mươi lăm tuổi. Câu hỏi này mỗi người nên tự đặt để tự mình trả lời. Giả dụ tuần sau ta chết, thì ta muốn làm cái gì trước ngày chết đó? Có thể có người sẽ trả lời rằng trước khi chết, tôi muốn đất nước tôi trở thành một đất nước có dân chủ. Có thể có người sẽ trả lời rằng trước khi chết, tôi muốn các con tôi thành lập gia đình đàng hoàng, có việc làm, để tôi có thể chết an tâm hơn. Sẽ có nhiều những câu trả lời khác nhau.

Là người tu, chúng ta sẽ trả lời câu hỏi kia như thế nào? Chúng ta có còn muốn thực hiện cái gì trước khi chết hay không? Có phải là một cái chùa cần xây cho xong, hay là một tu viện, hoặc là một cái gì đặc biệt khác nữa? Đây là một sự thỉnh mời quán chiếu. Nếu ngồi xuống và quán chiếu về điều này thì chúng ta có thể tìm ra được những cái rất hay. Tôi có nói với nhà báo là: “Những điều tôi muốn làm, tôi đã làm và đang làm. Đó là những điều rất nhỏ thôi. Từ hồi còn là một thầy tu trẻ cho đến bây giờ, tôi đã từng làm chuyện đó và chưa bao giờ tôi ngưng làm chuyện đó, những chuyện rất nhỏ. Vì vậy tôi không thấy có chuyện gì đặc biệt muốn làm cho xong trước khi tôi chết”.

Chúng ta thấy rằng khi rễ cây hút nước đưa lên cho lá cây thì đó mới chỉ là nhựa nguyên, nhựa nguyên chưa đủ sức để nuôi lá và nuôi cây, cho nên chiếc lá phải tiếp thu ánh sáng mặt trời, tiếp thu những chất hơi ở trong không gian và biến nhựa nguyên thành nhựa luyện. Khi nhựa nguyên đã được biến thành nhựa luyện thì mới có chất dinh dưỡng và chiếc lá gửi nhựa luyện trở lại để nuôi thân cây và nuôi những cành cây. Tất cả những chiếc lá đều có phận sự tự nuôi mình và đồng thời nuôi mẹ, nuôi cha và nuôi ông bà của chiếc lá, tức là nuôi cả thân cây và rễ cây. Thường thường ta cứ nghĩ là thân cây nuôi lá cây và rễ cây, nhưng kỳ thực nhìn cho kỹ, chúng ta thấy lá cây cũng nuôi thân cây, rễ cây và cành cây. Không những mẹ nuôi con mà con cũng nuôi mẹ. Điều này cũng đúng trong trường hợp của tôi. Tôi có nhiều đệ tử. Tôi thấy đệ tử nuôi tôi rất nhiều và cho tôi rất nhiều niềm vui mỗi ngày. Các học trò của tôi nếu thực tập sống cho có hạnh phúc, làm hạnh phúc cho nhiều người và giúp nhiều người bớt đau khổ, đó cũng là thực phẩm cho tôi hằng ngày. Sự thật là lá cây và cây nuôi dưỡng lẫn nhau. Lá cây nuôi cây từ hồi nào? Không phải là sau khi đã lớn lên lá cây mới nuôi cây mà đã nuôi cây ngay từ thời còn ấu thơ.

Con đã đi tìm Thế Tôn, từ hồi còn ấu thơ.
Con đã nghe tiếng gọi của Thế Tôn
từ khi mới bắt đầu biết thở.

Khi nghe lời đức Thế Tôn để thực tập thì chúng ta đã bắt đầu nuôi dưỡng giới thân, huệ mạng của mình, nhưng đồng thời chúng ta cũng nuôi dưỡng Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn là cây và chúng ta là những chiếc lá. Nếu Đức Thế Tôn còn tồn tại được trên đời và tiếp tục giáo hóa là cũng do chúng ta, những đệ tử của Ngài.

Mỗi giây phút ta thở có chánh niệm, bước đi có chánh niệm đều là những giây phút để nuôi mình và nuôi Đức Thế Tôn. Giáo pháp của Đức Thế Tôn còn trường cửu được và đi về tương lai được để độ được nhiều người là do sự sống hàng ngày của chúng ta. Chúng ta thường gọi giáo pháp của Đức Thế Tôn là sữa, là pháp nhũ. Chúng ta nghĩ Đức Thế Tôn là mẹ, là cha, nhưng chúng ta chưa biết rằng chính chúng ta cũng là mẹ, là cha. Thực tập thiền hành, thiền tọa, mỉm cười, chuyển hóa thân tâm và độ đời tức là ta đang nuôi dưỡng Đức Thế Tôn. Con nuôi mẹ, nuôi cha. Từ khi còn ấu thơ, từ khi xuất gia cho đến bây giờ, không có ngày nào chúng ta không làm chuyện đó. Và để trả lời câu hỏi mình muốn làm cái gì trước khi chết, thì ta sẽ nói là tất cả những điều ta muốn làm ta đã bắt đầu làm từ lâu rồi, không có một cái gì đặc biệt khác nữa cần phải làm trước khi chết. Từ đây cho đến khi chết ta cũng tiếp tục làm chuyện đó, nghĩa là nuôi mình và nuôi Đức Thế Tôn.

Nuôi Đức Thế Tôn nghĩa là nuôi cuộc đời. Cuộc đời có nhiều đau khổ, có nhiều nứt rạn, có nhiều đổ vỡ. Sự nghiệp của Đức Thế Tôn là hàn gắn, chữa trị và nuôi dưỡng cuộc đời. Chúng ta là sự tiếp nối của Đức Thế Tôn, chúng ta cũng làm những việc đó, nghĩa là cũng làm công việc hàn gắn, chữa trị và nuôi dưỡng cuộc đời. Và đó không phải là việc ta chưa làm. Đó là việc ta đã từng làm trong quá khứ. Nếu còn sống được một năm thì ta làm thêm một năm, nếu còn sống hai năm thì ta làm thêm hai năm. Không có việc gì đặc biệt khác mà ta phải làm trước khi chết. Những việc ta phải làm, ta đã làm, đang làm và sẽ làm cho tới khi không còn làm được nữa. Khi mình không trực tiếp làm được nữa thì các con các cháu của mình sẽ tiếp tục làm cho mình. Nhìn cho sâu, mình là các con mình, mình là đệ tử của mình và như vậy mình không chết, mình không bao giờ chết. Mình đã đi vào trong các đệ tử của mình rồi, và đệ tử mình sẽ mang mình đi vào tương lai và do đó công việc hàn gắn, nuôi dưỡng và chữa trị kia mình sẽ tiếp tục làm sau khi mình chết, làm với hai bàn tay của con mình, của cháu mình, của đệ tử mình. Như vậy, tôi có thể đã nói là tôi sẽ không chết, nhưng nhà phóng viên kia vì chưa học Phật pháp nên sẽ không hiểu được câu đó. Tu học cho đàng hoàng, quán chiếu cho sâu sắc, thì ta sẽ thấy được bản chất của ta là vô sinh và bất diệt. Sinh diệt là cái bề ngoài mà thôi.

Mặt mũi đích thực

Trong truyền thống Thiền, công tác căn bản của người tu là phải tìm cho ra được mặt mũi đích thực của chính mình. Mặt mũi đích thực của chính mình là dịch từ chữ Hán bản lai diện mục. Mục tức là con mắt. Diện tức là khuôn mặt. Diện mục tức là mặt mũi của mình. Bản lai là từ xưa cho tới nay. Trong bài hô canh buổi chiều có câu: Rõ soi diện mục thoát bờ mê. Quán chiếu để thấy được mặt mũi chân thật của mình, và khi thấy được là giải thoát, là không còn sợ hãi và khổ đau nữa. Nếu chưa thấy được mặt mũi đích thực của ta, thì ta chưa thành đạt được chí nguyện của người tu. Mục đích của người tu không phải là để xây một ngôi chùa rất lớn, hay là thành lập một trung tâm tu học phồn thịnh, hay là để làm hòa thượng, làm pháp chủ, hay làm một vị tam tạng pháp sư nổi tiếng. Mục đích của người tu không phải là những cái đó. Mục đích đích thực của người tu là phải tìm ra cho được mặt mũi chân thật của mình. Tôi là ai? Đó là công án. Đó là câu hỏi.

Phần lớn trong chúng ta không biết mình là ai và sống để làm gì. Nếu ta là bác sĩ thì mỗi ngày đi tới phòng mạch, là nhà buôn thì mỗi ngày mở cửa tiệm và ngày nào ta cũng làm công việc đó. Ta không có cơ hội để tự hỏi là chúng ta làm như vậy để làm gì cho đến khi nằm xuống. Có người sẽ trả lời: “Chúng ta phải làm ăn, nếu không làm thì không có ăn”. Nhưng mục đích của sự sống có phải là để làm ăn hay không, hay còn là một cái gì cao siêu hơn và cần thiết hơn. Nếu sống chỉ là để sống sót, đừng bị lạnh, đừng bị đói, đừng bị cô đơn, thì như vậy mục đích của sự sống quá nhỏ hẹp. Chúng ta có cơ hội, có thì giờ để tự đặt cho mình câu hỏi này hay không? Ta có mặt để làm gì? Có phải là để thỏa mãn những đòi hỏi về danh, về lợi, về tài, về sắc hay về thân xác hay không? Câu hỏi đó động tới bồ đề tâm của ta, động tới niềm thao thức sâu sắc nhất của ta. Ta phải có thì giờ để đặt câu hỏi đó: “Mục đích tối hậu của sự có mặt của ta là cái gì?” Nói theo danh từ Phật học là cái mặt mũi đích thực của mình là gì? Ta là ai? Tới đây để làm gì? Rốt cuộc ta sẽ đi về đâu? Những câu hỏi đó, người đời thấy giống như là vô ích, không đem lại tiền bạc gì hết, nhưng đó là những câu hỏi chính của một kiếp người.

Giới triết học và thần học hay dùng chữ Ultimate Concern. Thiền sư Lâm Tế có một lần khai thị như thế này: “Này các vị Phật tử, trong mỗi chúng ta có một con người thật không có vị trí (vô vị chân nhân), thường hay đi ra đi vào trên cái đống thịt đỏ au này. Các vị muốn biết con người thật không có vị trí đó là ai thì hỏi lão tăng đây”. Đó là một công án của thiền sư Lâm Tế. Đống thịt đỏ au là cái xác thân này. Vô vị tức là không có vị trí nhất định. Chân nhân là con người thật. Con người thật không có vị trí, không có hình tướng. Ngôn ngữ thiền hơi đặc biệt. Khai thị về đề tài vô vị chân nhân, rồi lại hỏi nếu ai không biết cái đó là cái gì thì hỏi lão tăng đây! Đó là cái bẫy của thiền sư đang giăng ra! Cái vô vị chân nhân đó, con người thật đó không phải do giải thích mà thấy được. Ta phải tìm kiếm, phải quán chiếu, phải hạ thủ công phu mỗi ngày thì mới tìm ra được. Nếu có kinh nghiệm thì ta biết đây là cái bẫy rồi. Nhưng cũng đã có người mắc bẫy. Vị đó đứng dậy hỏi: “Bạch thầy, con người thật không có vị trí đó là ai vậy?” Lúc đó thiền sư thất vọng vô cùng. Ông nói: “Vô vị chân nhân là gì hả? Là giấy vệ sinh trong nhà cầu chứ là gì!”. Đó là chuyện được ghi lại trong Lâm Tế Ngữ Lục.

Ta không biết ta đích thực là ai. Khi có ai xin ta cái hình, ta cố tìm một cái hình nào hồi ta còn trẻ và đẹp để đưa cho người đó và nói: “Đây là tôi”. Những cái hình xấu hơn hoặc già hơn thì ta cho rằng không phải ta. Như vậy, tôi là cái hình đó hả? Tôi, là khi mình còn là một chàng thanh niên hai mươi hai tuổi, hay một cô thiếu nữ hai mươi tuổi xinh đẹp. Đó có phải là mặt mũi đích thực của chúng ta không? Không phải! Nếu đó là mặt mũi đích thực của chúng ta thì tại sao nó chỉ được như vậy vài năm thôi rồi đổi thành những mặt mũi khác? Chúng ta đã biết rằng hình ảnh chàng trai hay cô thiếu nữ xinh đẹp hồi hai mươi tuổi đó không phải là mặt mũi đích thực của mình. Hình ảnh đích thực của chúng ta khác lắm! Nó vượt thoát tất cả những bóng dáng bên ngoài.

Ngày trước có một bà người Anh, tên là Ethelwin Best, theo đạo Anh quốc giáo, rất ưa thích hoạt động cho hòa bình. Bà tới làm việc tự nguyện trong văn phòng của phái đoàn Phật Giáo Việt Nam tại Paris. Bà làm văn thơ tiếng Anh rất giỏi. Lúc đó, bà đã hơn bảy mươi tuổi nhưng sức khỏe của bà còn rất khá. Mỗi ngày bà leo lên tới tầng lầu thứ năm, nơi văn phòng làm việc để giúp cho chúng tôi. Bà có một niềm tin là hễ bà chết là thế nào bà cũng đi vào thiên đường. Niềm tin rất đơn giản, rất chắc nịch. Bà còn tin là khi vào thiên đường bà sẽ gặp ông trở lại. Ông mất vào lúc ông hai mươi ba tuổi. Như vậy, bà vẫn còn giữ được hình ảnh rất đẹp của ông hồi còn trai trẻ. Bây giờ thì bà trên bảy mươi. Có một hôm, lấy tư cách của một thiền sư tôi hỏi bà: “Này Ethelwin, khi bà chết, đi vào thiên đường và gặp lại ông, thì bà muốn gặp ông lúc ông bao nhiêu tuổi? Hai mươi tám tuổi hả? Bây giờ bà già quá rồi mà gặp một người trẻ như vậy thì đâu có xứng đôi vừa lứa nữa”. Câu hỏi đó làm bà giật mình. Hay là khi chết, đi vào thiên đường thì mình trẻ lại? Mà trẻ lại chừng bao nhiêu? Bà hơi lúng túng là vì niềm tin của bà rất đơn sơ. Bà nghĩ rằng khi lên thiên đường thì sẽ gặp lại người cũ, trong khi đó bà đã là một bà già rồi. Có lẽ đêm hôm đó bà mất ngủ, vì chưa bao giờ bà biết đem niềm tin của mình ra để đặt câu hỏi.

Mặt mũi đích thực của mình là ai? Trong thiền môn đôi khi người ta đưa ra những công án để quán chiếu, như là: “Cái mặt mũi của anh ra sao trước khi bà nội, bà ngoại anh ra đời”. Nó có nghĩa là lúc đó anh đã có mặt chưa? Nếu anh có mặt thì anh đã có mặt dưới hình thức nào? Những câu hỏi như vậy rất điển hình trong thiền môn. Đó là những lời mời gọi để cho chúng ta khởi hành đi tìm chính mình. Tu hành, nhất là trong truyền thống thiền, là lên đường để đi tìm chính mình. Còn tất cả những việc khác như làm chùa, xây dựng tu viện, đi hoằng pháp, viết sách, dạy học…, tất cả đều là phương tiện. Mục đích chính là khám phá ra được cái bản lai diện mục của mình. Nếu ta không thành công trong việc này thì những người ở ngoài đời bận bịu công ăn việc làm, làm sao mà thành công được? Những người sáng đi, tối về, bận bịu nơi công sở, về nhà còn phải lo nấu cơm cho con, chăm sóc cho chồng thì làm sao có thì giờ để làm những chuyện ấy?

Là người tu chúng ta làm gì hàng ngày? Buổi sáng thức dậy đi ngồi thiền lúc năm giờ. Trên gối ngồi thiền, chúng ta làm cái gì? Chúng ta có cơ hội buổi sáng được ngồi thiền, buổi chiều được ngồi thiền, là để làm gì? Nếu không phải là để tìm ra cái mặt mũi đích thực của mình? Chúng ta phải sử dụng thì giờ đó để làm công việc mà đa số trên cõi đời này không có cơ hội để làm. Khi đi xuất gia là ta có nhiều cơ hội hơn những người ở ngoài đời. Tất cả những điều kiện thuận lợi được cung cấp bởi nếp sống trong tu viện là để cho chúng ta có thể làm được công việc đó. Trong tu viện, ta có được cơ hội rửa chén trong im lặng, làm vườn, chấp tác trong im lặng, có cơ hội ngồi thiền và đi thiền hành. Đó là những cơ hội rất lớn để chúng ta có thể làm được công việc quan trọng nhất của mình, là tìm cho ra được cái bản lai diện mục, thấy được cái tự tánh của mình, tức là kiến tánh. Thấy được tự tánh thì tự nhiên ta đạt tới tự do, tự do đối với sống chết, tự do đối với sự sợ hãi. Kiến tức là thấy. Tánh tức là tự tánh. Nếu người tu mà không thành công được thì khi chết cũng trở thành cô hồn như bất cứ ai. Trong thập loại cô hồn có loại cô hồn thầy tu. Cô hồn thầy tu nghĩa là thầy tu không thành công.

Chúng ta được đức Thế Tôn dạy là thọ mạng của một đức Như Lai là vô lượng, tức là Như Lai không chết. Đức Di Đà cũng có thọ mạng vô lượng, và tên của ngài là A Di Đà có thể được dịch là Vô Lượng Thọ. Vô Lượng Thọ tức là sống hoài không chết. Nếu chúng ta đọc kinh Kim Cương một cách sâu sắc thì sẽ thấy rằng không những thọ mạng của các Đức Như Lai là vô lượng, mà thọ mạng của mỗi chúng ta cũng là vô lượng. Vì không biết điều đó cho nên ta cứ nghĩ rằng ta chỉ sanh ra trong năm đó, sẽ chết vào năm kia và thọ mạng của chúng ta chỉ có mấy chục năm, nhiều lắm là 100 năm.

Kinh Kim Cương dạy cho chúng ta là phải vượt thoát bốn ý niệm. Ý niệm thứ nhất là ý niệm về Ngã. Ngã ở đây ngược với phi ngã. Đây là tôi, còn tất cả những cái khác không phải là tôi. Những người khác, những hiện tượng khác như cây cối, đất đai, chim chóc, thú vật, người nước này, người nước khác đều không phải là tôi. Ý niệm thứ hai là ý niệm về người. Người là đối với những hiện tượng khác không phải người như cầm thú, cỏ cây và đất đá. Thứ ba là ý niệm về chúng sanh, ngược với ý niệm phi chúng sanh tức là các loại vô tình. Chúng sanh tức là các loài hữu tình, tức là có thọ, tưởng, hành và thức. Còn ngược lại là những loài vô tình như cỏ cây và đất đá. Và ý niệm thứ tư mà mình phải vượt cho thoát ý niệm thọ mạng, tức là ý niệm ta sanh ra, có mặt trên cuộc đời này một thời gian nào đó thôi, sau đó ta sẽ không còn nữa, sẽ không có mặt nữa. Ngược lại với ý niệm thọ mạng là ý niệm vô lượng thọ, thọ mạng vô lượng. Kinh Kim Cương giúp chúng ta có một dụng cụ để đi tìm chúng ta. Kinh Kim Cương dạy chúng ta nhìn thật kỹ vào cái gọi là ta để thấy được những cái không phải là ta trong đó.

Tại Làng Mai thì chúng ta hay nói là nhìn vào trong chiếc lá thì thấy những cái không phải là lá nằm trong đó. Đạo Bụt không nói triết lý vẩn vơ. Chúng ta có những phương pháp rất cụ thể để đi tìm. Ta nói đây là chiếc lá. Thường thường cái ta gọi là lá thì không phải là hoa, không phải là cây, không phải là đất, không phải là đá. Nhưng kỳ thực nhìn kỹ vào trong chiếc lá thì chúng ta sẽ thấy rằng nó có đủ những yếu tố không phải lá. Ví dụ như đám mây. Trong chiếc lá có đám mây, tại vì nếu không có đám mây thì không có mưa, không có mưa thì không có lá. Vì vậy cho nên lá cũng có nghĩa là mây. Những cái không phải là lá nó nằm ngay trong lá. Những cái không phải là ta nằm ngay trong ta. Mặt trời cũng vậy, mặt trời không phải là lá, nhưng nếu lấy ánh sáng mặt trời ra khỏi lá thì lá không thể nào tồn tại được. Lá được làm bằng ánh sáng mặt trời. Vì vậy nhìn kỹ trong cái ta, ta sẽ thấy cái không phải là ta trong đó. Nếu không biết nhìn theo phương pháp này thì không bao giờ ta tìm thấy được cái bản lai diện mục của mình.

Trong ta, ta thấy có cha mẹ, có ông bà và tổ tiên. Ta thấy văn hóa, ta thấy nền giáo dục, ta thấy tổ tiên huyết thống, tổ tiên tâm linh và con cháu… Nhìn vào ta cho thật kỹ, thì tự nhiên ta biết ta là ai. Cái đó là cái bản lai diện mục của mình. Ví dụ như đợt sóng trên biển cả. Nhìn cạn cợt bên ngoài thì thấy rằng có một lúc nó biểu hiện, vươn lên rồi đổ xuống, có lúc giống như là nó không còn nữa. Nhìn như vậy ta thấy có sanh, có diệt, có cao, có thấp, có có có không. Nhưng nhìn cho kỹ, nhìn cho thật sâu trong đợt sóng thì ta thấy sóng được làm bằng nước. Thời gian biểu hiện cũng như thời gian không biểu hiện, tầm to lớn, chiều cao của con sóng được hoàn toàn điều kiện hóa bởi những đợt sóng khác và bởi nước. Nếu quán chiếu cho kỹ lưỡng thì chúng ta sẽ thấy rằng một đợt sóng đã được làm bằng tất cả những đợt sóng khác. Nhìn vào trong một đợt sóng thì thấy được tất cả các đợt sóng khác, và thấy được nước. Khi đợt sóng thấy được rằng mình là tất cả các đợt sóng khác, là nước thì nó có thể vượt thoát được tất cả các ý niệm sanh, diệt, có, không, cao, thấp, lớn, nhỏ, trước, sau, tới và đi. Lúc đó đợt sóng tìm ra được mặt mũi chân thật của nó và nó không còn sợ hãi nữa. Đợt sóng không còn bị điều kiện hóa, không bị kẹt vào sanh, vào tử, không phải vì sanh mà nó có, không phải vì tử mà nó không. Đó cũng là chuyến đi quan trọng nhất của đời mình. Một chuyến đi để tìm ra con người thật của mình, và kinh Kim Cương là một trong những kinh có thể làm tư lương cho chúng ta để lên đường.

Tư lương tức là lương thực, những điều kiện để mình đi. Kinh Kim Cương là một thứ tư lương mà chúng ta mang theo để có thể thành công trong chuyến đi tìm chính mình; đi tìm chính bản thân ta. Ngày xưa, có những hành giả đi từ núi này sang núi khác, từ tỉnh này sang tỉnh khác tìm đạo. Những hành giả đó mang một đôi giày rất cũ, chiếc áo thì bạc màu. Họ không bằng lòng với sự sống tiện nghi ở trong chùa. Ngày nào cũng được ăn sáng, ăn trưa và ăn chiều, có phòng riêng, có phòng tắm, có cầu tiêu, có đủ thứ, nhưng họ không bằng lòng với những thứ đó. Họ muốn đi tìm cái gì quan trọng cho đời họ, vì vậy họ trở thành một vị du tăng, vân thủy. Vân thủy là danh từ Phật học, danh từ thiền. Vân là mây, thủy là nước. Chỉ vì muốn đi tìm cái quan trọng nhất cho nên mình đã trở thành một người vân thủy. Vân thủy là ông thầy tu đi tìm đạo. Cái áo nâu bạc phếch, cái nón lá tả tơi, đôi dép đã cũ mòn, nhưng trong cái túi mà ông mang theo đôi khi lòi ra một mẩu bìa và người ta đọc được: Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh. Nhiều vị vân thủy ngày xưa thường đem theo cuốn kinh Kim Cương. Kinh Kim Cương là tư lương của họ, đi tới đâu xin ăn chỗ đó và dùng cuốn kinh Kim Cương làm cái cuốc để đào lên giếng nước thơm trong ở trong trái tim của mình mà đạt tới sự giác ngộ. Ngày xưa có những bậc du tăng như thế, họ tự gọi họ là vân thủy, là mây là nước. Mây nước thì không dừng lại ở bất cứ chỗ nào, không bị trói buộc bởi những tiện nghi hàng ngày. Cũng vì lý do đó mà kinh Kim Cương có một địa vị rất quan trọng trong truyền thống thiền. Kinh Kim Cương hay là kinh Bát Nhã đều là những dụng cụ rất bén nhạy giúp cho chúng ta tìm lại chính mình.

Trăng trong mây bạc

“Mê nghe kinh trọn kiếp
Ngộ, chỉ một sát na”.

Mỗi người chúng ta đều có ba thân: thân Bụt, thân Pháp và thân Tăng. Chúng ta phải nhận diện cho được Phật thân, Pháp thân và Tăng thân của chúng ta. Chính nhờ tiếp xúc được với thân Bụt, thân Pháp và thân Tăng của ta trong đời sống hàng ngày mà ta tìm được chính ta. Báo thân còn có nghĩa là Pháp thân, Báo thân và Ứng thân (Hóa thân). Chúng ta phải tiếp xúc cho được pháp thân của mình. Mỗi người trong chúng ta, dù mới đi tu, cũng có pháp thân của mình. Nếu không có pháp thân thì ta đâu phải là người tu nữa. Biết đi thiền hành, biết thở chánh niệm, biết ăn cơm im lặng, biết lắng nghe với chánh niệm thì ta đã bắt đầu có pháp thân. Mà pháp thân thì bất diệt. Nếu biết cách thì ta sẽ làm cho pháp thân đó hiển lộ, càng ngày càng sáng rõ. Pháp thân đó không phải là do thầy mình trao cho mình, không phải do Bụt trao cho mình, pháp thân đó có sẵn trong ta và nhờ hào quang của Bụt mà nó biểu hiện ra được. Ta phải thức dậy để thấy được nó.

Cũng như một đợt sóng, vì đợt sóng nghĩ là nó có sinh có diệt, có cao có thấp, nên nó buồn sợ và đi tìm cái không cao thấp, không sinh diệt, đi tìm nước. Nhưng nó đâu cần phải đi tìm nước, tại vì nó đã chính là nước rồi. Đợt sóng không cần phải chết đi mới thành nước. Trong khi đợt sóng là đợt sóng thì nó cũng đã là nước. Đợt sóng không biết điều đó nên mới lo sợ, mới ganh tỵ Chúng ta cũng vậy. Chúng ta đã là pháp thân rồi, thế nhưng chúng ta không biết. Đức Thế Tôn đã chỉ dạy để chúng ta thấy được chúng ta đã là pháp thân ngay trong giây phút hiện tại. Đức Thế Tôn đã chỉ dạy để chúng ta sống như thế nào, thở như thế nào và đi như thế nào để cho pháp thân biểu hiện. Tiếp xúc được với pháp thân thì ta có vững chãi và thảnh thơi do đó ta không còn sợ hãi. Món quà lớn nhất của người tu là thấy được pháp thân.

Báo thân là hình hài đẹp nhất của chúng ta. Khi có báo thân rồi thì tất cả những biểu hiện của chúng ta đều trở nên đẹp đẽ: sinh cũng đẹp, trú cũng đẹp, dị cũng đẹp mà diệt cũng đẹp… Như chiếc lá, khi sinh ra còn nhỏ xíu, nó đã đẹp, lớn lên nó cũng đẹp và khi trở nên vàng, đỏ, nó cũng đẹp, cho đến khi rụng xuống nó cũng đẹp. Báo thân của ta không phải là cái hình chụp được khi ta còn trẻ và đẹp. Ta đẹp hai mươi bốn giờ một ngày, đẹp từ kiếp này đến kiếp khác: đó gọi là báo thân. Ta phải thấy cho được báo thân của ta. Nếu tiếp xúc được với pháp thân thì ta thấy được báo thân của ta khắp nơi, đẹp đẽ vô cùng, tại vì nó là biểu hiện của pháp thân. Khi thì một đóa hoa vàng hé nở, khi thì một cành trúc tím xuất hiện; lúc này thì mây bạc bay qua, lúc kia thì trăng trong xuất hiện… Tất cả những cái đó đều là biểu hiện của pháp thân.

Chữ Pháp thân (dharmakaya) lúc đầu chỉ có nghĩa là thân giáo pháp. Đức Thế Tôn có nói rằng sau khi nhục thân của Ngài tan rã thì pháp thân của Ngài vẫn còn tồn tại với chúng ta. Pháp thân của Ngài tồn tại mãi, không những trong tam tạng kinh điển mà còn ở trong những người đệ tử của Ngài, tại vì các thầy, các sư cô và các Phật tử vẫn tiếp tục sống và thực tập theo pháp. Sau đó pháp thân còn có nghĩa là tự tánh, vì khi tiếp xúc được với pháp thân thì ta tiếp xúc được với tự tánh của mình. Giống như đợt sóng tiếp xúc được với nước là tiếp xúc được với tự tánh của đợt sóng. Tự tánh của nước là không cao không thấp, không sinh không diệt, không có ta cũng không có không ta. Pháp thân là cửa ngõ để cho chúng ta đi vào tự tánh. Nhờ pháp thân mà ta tiếp xúc được với tính bất sinh bất diệt, không đến không đi, không còn không mất, không có không không của mình. Trong cửa thiền, chúng ta thường nghe những câu như: hoa nở, trăng trong, mây bạc và tuyết rơi đều là những biểu hiện của pháp thân. Vì vậy nếu nhìn hoa đào, nhìn tuyết trắng, nhìn trăng trong hay mây bạc cho kỹ, chúng ta sẽ thấy tính bất sinh bất diệt của chúng. Đừng nghĩ rằng hoa đào là mong manh, ánh trăng trong là mong manh.

Tự tánh của chúng là bất sinh bất diệt, vì trăng trong mây bạc hiện toàn chân. Nguồn thi ca trong cửa thiền vốn rất sâu thẳm, rất mầu nhiệm và khởi thủy từ pháp thân. Trong bài thơ Bướm Bay Vườn Cải Hoa Vàng, hay bài Trường Ca Avril ta cũng thấy được pháp thân và những biểu hiện của pháp thân như là bông hoa, trăng trong và mây trắng. Tử trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh, bạch vân minh nguyệt hiện toàn chân, nghĩa là trúc tím, hoa vàng không phải là cái gì khác với pháp thân mà chính là biểu hiện của pháp thân. Pháp thân là tự tánh bất sinh bất diệt và mục đích của người tu là làm thế nào để tiếp xúc được với tự tánh ấy.

Hóa thân vô lượng

Chúng ta đi tìm chính mình và đồng thời cũng đi tìm thầy của chúng ta, bởi vì chúng ta ai cũng có thầy và biết thương thầy của mình. Và khi tìm được chính mình thì cũng đồng thời ta tìm được thầy của mình. Thầy của chúng ta là Đức Thế Tôn và là vị bổn sư đã truyền giới cho ta. Khi ta thương một ai thì đó là cơ hội để ta đi tìm người đó, nếu không tìm cho ra thì chỉ là thương cái bóng dáng, cái hình ảnh của tâm thức mà thôi, chứ chúng ta chưa thật sự thương người đó. Con đã đi tìm Thế Tôn, từ hồi còn ấu thơ. Thế Tôn không phải là một cái tượng bằng đồng hay bằng ngọc thạch trên bàn thờ, đó chỉ là một biểu hiệu. Nếu Thế Tôn chỉ là người con trai sinh ra ở thành phố Ca-tỳ-la-vệ, lớn lên lập gia đình, có con nhỏ rồi đi xuất gia, thành đạo, hành đạo trong bốn mươi mấy năm và nhập diệt ở Kusinagara, thì đó chưa hẳn là Đức Thế Tôn. Đó chỉ là hình bóng của Đức Thế Tôn biểu hiện cũng như hình bóng của trăng trong, mây trắng, chưa phải là pháp thân. Nếu bị kẹt vào cái tướng đó, cho rằng đó là Đức Thế Tôn thì ta sẽ đánh mất bản tánh của Đức Thế Tôn, không thấy được Đức Thế Tôn. Trong kinh Kim Cương có câu: “Nếu tìm ta qua hình sắc, kiếm ta qua âm thanh thì ngươi đang đi trên con đường tà, sẽ không bao giờ thấy được ta (nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai).

Khi tìm ra được pháp thân của Đức Thế Tôn thì ta sẽ không còn đồng nhất Thế Tôn với con người đó, cái tên đó, xứ sở đó và như vậy ta tìm ra được pháp thân của chính mình. Hình dáng người con trai thành Ca-tỳ-la-vệ chỉ là một hóa thân của Bụt mà thôi. Tiếp xúc được với một hóa thân, đó chính là cơ hội để ta tiếp xúc được với pháp thân. Trong bài Tìm Nhau có câu: Thế Tôn là tình yêu đầu, Thế Tôn là tình yêu tinh khôi. Cuộc đi tìm đó là mục đích chính của đời ta, bởi vì tìm ra được Thế Tôn là ta tìm ra được chính ta. Con đã tìm ra Thế Tôn, con đã tìm ra con. Hai câu đó đi liền với nhau, nếu không có câu thứ hai ta sẽ không hiểu được câu thứ nhất. Nói ngược lại cũng đúng. Con đã tìm ra con, tức là con đã tìm ra Thế Tôn. Khi thương ta có thể bị đánh lừa. Nếu ta bị kẹt vào trong một hình bóng nào đó, thì khi hình bóng không còn biểu hiện nữa ta sẽ than khóc, ta sẽ khổ đau, ta sẽ còn mãi mãi đi tìm cái hình bóng đó. Ta không biết rằng những người thương đang có mặt trong biểu hiện mới mà bởi vì bận đi tìm hình bóng cũ nên ta đi ngang qua mà ta không nhận biết, ta làm lơ. Kỳ thực Đức Thế Tôn đang biểu hiện dưới nhiều hình thức cho ta, chỉ tại ta bị kẹt vào âm thanh, vào hình sắc nên không thấy được.

Trong kinh Pháp Hoa có một chương rất hay, đó là chương Bảo Tháp của Bụt Đa Bảo. Đức Thế Tôn đang thuyết kinh Pháp Hoa thì tự nhiên ở giữa hư không xuất hiện một cái tháp rất lớn, lơ lửng trên trời và trang điểm rất lộng lẫy. Từ trong Bảo Tháp có tiếng rất thanh tao phát ra: “Mầu nhiệm quá! Mầu nhiệm quá! Bụt Thích Ca Mâu Ni đang nói kinh Pháp Hoa, mầu nhiệm quá!”. Tất cả đại chúng trên núi Linh Thứu đều nhìn lên và nói: Lạ quá! Có một bảo tháp hiện ra giữa trời, rất lộng lẫy và lại có tiếng nói rất thanh tao từ trong tháp vọng ra. Tất cả đại chúng đều muốn hỏi Bụt Thích Ca lý do gì mà có bảo tháp này. Tất cả đều quay về Đức Thế Tôn, về Thầy mình (đối tượng của tình thương của mình) mà hỏi. Bụt Thích Ca mới nói: “Này các con, có một vị Bụt tên là Bụt Đa Bảo ngồi trong bảo tháp đó. Đây là một vị Bụt đã có mặt từ lâu lắm rồi. Một trong những lời nguyện của vị Bụt này là mỗi khi trên thế gian xuất hiện một vị Bụt và vị Bụt đó bắt đầu giảng kinh Pháp Hoa thì tôi nguyện sẽ hiện tới với bảo tháp và sẽ mở lời ca ngợi. Cho nên hôm nay, khi Thầy bắt đầu giảng kinh Pháp Hoa thì Bụt Đa Bảo hiện tới. Tiếng nói thanh tao ca ngợi Thầy và ca ngợi kinh Pháp Hoa đó là âm thanh của Bụt Đa Bảo”.

Trong khi đó thì cửa tháp đóng kín, ai nấy đều muốn thấy mặt của Bụt Đa Bảo nhưng họ không biết làm sao, họ chỉ biết trông cậy vào thầy của họ mà thôi. Tất cả đều hướng về Bụt Thích Ca Mâu Ni và nói: “Thầy ơi, bạch Thầy, làm sao cho con thấy được mặt của Bụt Đa Bảo con mới thỏa”. Đức Thế Tôn lắc đầu. Điều này hơi khó. Nhưng nếu ta cố gắng thì cũng có thể tạm giúp các con được. Mở cửa Bảo Tháp ra để mọi người thấy được mặt mũi của Bụt Đa Bảo, đức Bụt ngàn xưa đã lập lời nguyện lớn là mỗi khi có một đức Thế Tôn xuất hiện ở đời và nói kinh Pháp Hoa thì sẽ xuất hiện để mở lời ca ngợi. Tất cả các vị đệ tử thanh văn, duyên giác, bích chi và bồ tát đều chắp tay lại hướng về phía Đức Thế Tôn, chờ đợi và cầu khẩn. Đức Thế Tôn nói: Cửa tháp này chỉ có thể mở ra được khi mà tôi gọi được tất cả các hóa thân của tôi về đây. Lúc đó các đệ tử mới bắt đầu thấy và biết được là Đức Thế Tôn còn nhiều hóa thân lắm. Thân hình ngồi trên tảng đá núi Linh Thứu này chỉ là một hóa thân trong số đó mà thôi. Lúc đó, Đức Thế Tôn dùng ánh sáng trên trán và quét một vòng xung quanh tam thiên đại thiên thế giới. Tức thì tất cả các hóa thân của Bụt Thích Ca đang hành đạo từ các cõi nước đều trở về. Hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn, hàng triệu hóa thân của Bụt Thích Ca đang trở về. Tất cả mọi người đều ngạc nhiên. Lâu nay ai cũng tưởng rằng Thầy của mình chỉ là con người đó, với cặp mắt đó và khuôn mặt đó. Có người bị kẹt vào hình ảnh đó, bị vướng vào hình hài đó của Thầy mình và tưởng rằng Thầy mình chỉ là cái đó thôi, không ngờ Thầy mình có mặt khắp trong hoàn vũ, có bao nhiêu là hóa thân đang làm việc độ sinh trong vũ trụ. Lúc đó các đệ tử Bụt mới buông bỏ được hình ảnh Thầy mình chỉ là hình hài mình quen biết. Nếu chúng ta không đọc kinh Pháp Hoa bằng trí tuệ, bằng định lực của mình thì chúng ta sẽ không thấy được điều này. Đức Thế Tôn đã làm đủ mọi cách để lấy ra khỏi các đệ tử cái quan điểm nhỏ bé của họ về Thầy họ, về Bụt. Thầy của họ vĩ đại hơn cả triệu lần. Mời quý vị đọc lại kinh Pháp Hoa.

Đi tìm thầy

Khi thương một người nào, ta phải nên cẩn thận. Ta có một cơ hội để tìm ra người đó là ai. Khi tìm ra được chân tướng của người đó và pháp thân của người đó thì đồng thời ta cũng tìm ra được ta. Nếu không, ta vẫn quanh quẩn trong khung cảnh nhỏ hẹp của một kiếp người. Trong truyền thống Tây Tạng có một tín ngưỡng rất dễ thương là sau khi thầy mình chết rồi nội trong vài ba năm mình có thể tìm thấy thầy mình trở lại ở dưới hình thức của một chú bé. Vài năm sau các đệ tử đi tìm, đem theo những dụng cụ mà thầy mình đã dùng trong quá khứ và trộn lẫn với những dụng cụ khác, nếu chú bé nhận ra được những cái mà thầy mình đã dùng ngày xưa thì họ cho rằng đây đích thực là hậu thân của thầy mình. Sau đó họ tìm cách đưa chú bé về chùa và tôn lên làm thầy kế tiếp của họ. Cái ý đó cũng rất cảm động, rất nên thơ. Nhưng như vậy là ta chỉ thấy người thương của mình theo một đường thẳng, chỉ thấy thầy mình đi về một hướng trong thời gian thôi, mà không thấy được thầy mình trong cả không gian. Ý niệm dễ thương và nên thơ đó cũng còn bị kẹt vào ý niệm chấp ngã. Sự thật là không có một cái gì chỉ đi đường thẳng. Tất cả đều đi khắp hết không gian và thời gian.

Nhìn vào cây chuối, ta thấy rằng lá chuối chị từ khi sinh ra đời, đã bắt đầu phô bày cái đẹp của nó, nó mở lòng ra hứng nắng, hứng mưa, tiếp nhận chất nước từ dưới lòng đất đưa lên. Nó là một lá chuối rất đẹp. Đừng nghĩ rằng nó chỉ sống cho một mình nó, mà nó đồng thời sống cho cây chuối và cho các lá chuối em, lúc đó chưa biểu hiện. Nó và các em nó là một. Những chất dinh dưỡng nó làm ra được là để nó tự nuôi nó nhưng đồng thời cũng là để nuôi cây chuối và nuôi các lá chuối em đang còn cuộn tròn trong thân chuối. Vào một ngày nào đó, lá chuối đầu (lá chuối chị) sẽ rách tơi tả, héo úa rồi vàng khô. Nhưng bao nhiêu năng lượng của nó đã được dồn hết cho cây chuối, dồn hết cho những đứa em của nó, lá chuối thứ ba, lá chuối thứ tư, lá chuối thứ năm và có thể còn là buồng chuối, trái chuối nữa. Nhìn vào lá chuối chị, ta thấy lá chuối em, và nhìn vào lá chuối em, ta thấy lá chuối chị. Như vậy, bản chất của lá chuối là vô sinh và bất diệt. Nhìn ngoài bề mặt thì dường như có sinh có diệt, nhưng nhìn vào bên trong thì lá chuối này không sinh không diệt. Nhìn vào lá chuối thứ ba, lá chuối thứ tư, v.v.. ta thấy lá chuối đầu. Không những nó chỉ nuôi một lá chuối em mà còn nuôi tất cả những lá chuối sau này. Chính nó đang tiếp tục nuôi những bông chuối và những trái chuối mới.

Bụt là ai, ta là ai?

Trở lại với câu hỏi của nhà báo: “Thầy muốn làm cái gì trước khi chết?”. Câu trả lời là: Tôi không muốn làm một gì khác! Tôi chưa bao giờ từng ngưng làm điều tôi muốn làm cả. Đó là tôi nuôi tôi, nuôi tổ tiên tôi, nuôi cha mẹ tôi, nuôi thầy và nuôi con cháu của tôi. Đó là bổn phận của chúng ta. Chính nhờ có tuệ giác và nếp sống đó mà chúng ta trở thành vô sinh và bất diệt. Có điều khác với ý niệm dễ thương trên kia là với cái thấy này ta không cần phải chết đi rồi mới tái sinh được. Trong giờ phút này tôi đã tái sinh rồi. Nếu nhìn cho kỹ, quý vị sẽ thấy tôi đang ở khắp nơi. Không cần đợi tôi chết rồi, ba năm sau mới đi kiếm một chú bé để nhận ra hậu thân của tôi. Tại vì hậu thân của tôi đã có kia rồi, đã có ngay trong giây phút hiện tại. Những điều này rất rõ. Tìm Thầy phải đi tìm như vậy.

Hậu thân đó tương đương với những hóa thân của Bụt Thích Ca Mâu Ni. Những cuốn sách của tôi đã được in ra. Trong những nhà tù đã có nhiều người đọc và đã bắt đầu thực tập thiền tọa, bắt đầu thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười. Đó cũng là pháp thân của tôi đang sống ở trong tù. Sách được in ra rất nhiều thứ tiếng, có những cuốn sách đi vào trong những tu viện kín của các vị tu sĩ Công giáo. Họ không có cơ hội gặp Thầy, nhưng trong tu viện kín họ đã đọc sách, họ đã hiểu thêm được sâu sắc về đạo Bụt, họ đã hiểu thêm được về giáo lý Cơ Đốc. Nụ cười và hóa thân của tôi cũng có mặt trong những tu viện kín ấy. Mắt phàm của chúng ta không thấy được nhưng mắt thánh của chúng ta có thể thấy được. Đó gọi là Phật nhãn. Hóa thân là những cuốn sách, những cuộn băng, những người học trò xuất gia, những người học trò tại gia đang hành đạo và làm tỏa sáng pháp thân của Bụt khắp nơi khắp chốn. Không thể thấy hết được hằng hà sa số hóa thân đó! Nếu nói rằng ba năm nữa hay mười năm nữa tôi chết thì điều đó không đúng. Câu trả lời đúng là tôi chưa bao giờ từng sinh và sẽ không bao giờ từng diệt.

Khi thương Thầy ta phải đi tìm Thầy và phải thấy cho được chân tướng của Thầy như vậy. Và đến khi hóa thân này ẩn đi thì ta không buồn gì cả, tại vì ta có thể thấy Thầy đang có mặt dưới vô số hóa thân khác, đồng thời ta cũng thấy được pháp thân, báo thân và hóa thân của ta. Pháp thân của ta cũng vô sinh bất diệt như pháp thân của Thầy, hóa thân của ta cũng vô lượng vô số như hóa thân của Bụt hay của Thầy vậy. Phải thấy được như thế, thì tình thương của ta mới là tình thương của tự do, mới là thứ tình thương trong chánh pháp. Còn nếu ta bị kẹt vào một hình bóng, còn sợ hãi, còn khóc than thì ta chưa tiếp xúc được với pháp thân, chưa tiếp xúc được với vô số những hóa thân của ta và của Thầy ta. Chúng ta phải quán chiếu để thấy rõ điều này.

Trong cửa thiền có những dụng cụ gọi là công án. Công án dịch ra tiếng Anh là public cases. Đó là những dụng cụ để tiếp xúc được với chân tính của mình. Ví dụ như câu: “Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ?” (Cái tất cả quay trở về cái một, vậy thì cái một đó quay về cái gì?). Đó là một lời mời gọi để chúng ta đi tìm cái bản lai diện mục của mình. Hiện bây giờ ở các thiền viện Trung Quốc có một công án khác rất nổi tiếng đó là: “Niệm Phật thị thùy?” (Ai là người đang niệm Phật?). Trong niệm Phật đường ngày nào người ta cũng niệm Bụt A Di Đà. Thiền sư đi vào và hỏi: Ai đang niệm Phật đó? Cái gì là chủ từ của động từ niệm Phật? Đó cũng là một sự mời gọi. Có hàng trăm, hàng ngàn, hàng triệu hành giả đang hành theo phương pháp niệm Bụt. Ta cứ tin rằng ta là người niệm Phật, nhưng ta là ai?

Có hai đối tượng: một là Bụt và hai là người niệm Bụt. Bụt là ai mà ta niệm? Ta là ai mà niệm Bụt? Ta nghĩ rằng ta biết Bụt là ai rồi, ta biết ta là ai rồi, nhưng cái biết chắc mẻm đó là nền tảng sai lầm của sự thực tập. Trong khi đó thì ta chưa biết Bụt là ai, ta cũng chưa biết ta là ai. Cho nên ta phải đi tìm cho ra cái bản lai diện mục của Bụt, để tìm ra bản lai diện mục của mình; hoặc tìm ra bản lai diện mục của mình thì đồng thời ta cũng tìm ra được bản lai diện mục của Bụt. Con đã tìm ra Thế Tôn, con đã tìm ra con. Vì thương Bụt, nhớ Bụt, cần Bụt cho nên ta mới niệm, nhưng nếu đối tượng của cái niệm trong ta chỉ là ý niệm thì đó không phải là tự thân của Bụt. Vì vậy sự thực tập căn cứ trên ý niệm là sự thực tập chưa sâu sắc. Nếu biết được chân tướng, bản chất của Bụt thì lúc đó ta biết được chân tướng, bản chất của mình, và như vậy Tịnh Độ tông sẽ không có khác gì với Thiền tông.

Công án “Niệm Phật thị thùy” (Người niệm Bụt là ai?) là một cái cầu nối liền giữa tịnh và thiền, nó làm cho không có khoảng cách nào nữa giữa thiền và tịnh. Nếu người Tịnh Độ tông mà giải quyết được công án đó thì sẽ trở thành thiền sư. Ta phải tự hỏi mình là ai? Đôi khi ta nghĩ đó là một câu hỏi triết học rất uyên áo. Nhưng không khó khăn lắm đâu, chúng ta hãy thực tập theo lời Bụt dạy, hãy sử dụng vô thường quán và vô ngã quán thì sẽ thấy rõ. Vô thường quán và vô ngã quán là hai chìa khóa rất mầu nhiệm có thể mở cửa thực tại và giúp ta tiếp xúc được với pháp thân. Nhìn sâu vào trong ta thì ta thấy rõ ràng: A! Mình cũng là cha mình, mình cũng là mẹ mình. Sự thật rất khoa học là: ta chính là cha ta, là mẹ ta, là thầy ta, là con, là cháu ta, là Đức Thế Tôn. Quan niệm của ta về chính ta thường là một quan niệm sai lầm. Ta là người thương hay ta là người được thương? Tất cả những ý niệm đó cần phải được quán chiếu. Chừng nào thấy rõ ràng tính bất nhị giữa ta và người ta thương thì lúc đó ta sẽ có tự do rất lớn.

Sự thực tập trong đạo Bụt đưa ta tới tự do lớn để ta có hạnh phúc, thứ hạnh phúc vĩ đại nhất mà có thể đạt tới được. Còn nếu không thì ta chỉ tìm sự trú ẩn trong những tình thương nho nhỏ cho đỡ cô đơn, đỡ bơ vơ một cách nhất thời mà thôi. Mục đích của chúng ta không phải là đi tìm một chỗ trú ẩn nho nhỏ để cho bớt bơ vơ, lạc lõng trong một thời gian. Sứ mạng của chúng ta là đi tìm tự do lớn. Đi tìm cái thực chất, cái bản tánh, cái con người thật của mình. Sự thực tập nằm gọn trong hai chữ kiến tánh. Kiến tánh đưa tới sự thỏa mãn tuyệt đối cái khao khát lớn. Khao khát chỉ có thể thỏa mãn được khi ta đạt tới tự tánh vô sinh bất diệt của mình.

Tự tánh không có ta, không có không ta. Như vậy, với một mũi tên ta đạt tới hai cái đích, tức là vừa tìm ra được ta mà vừa tìm ra được Đức Thế Tôn (đối tượng thương yêu của ta). Con đã tìm ra Thế Tôn, con đã tìm ra con. Nếu hai câu đó không đi đôi với nhau thì có thể có sự hiểu lầm, nhưng nhờ chúng đi đôi với nhau cho nên không thể có sự hiểu lầm nữa. Chúng ta đi tu không phải là để đi tìm những tiện nghi nhất thời mà phải có can đảm vượt qua những tiện nghi nhất thời đó để đi tìm tự do lớn. Ngày xưa, Tất-đạt-đa đã thành công. Trong số những người học trò của Ngài qua các thời đại có những người đã thành công và đạt tới tự do lớn. Bây giờ đến thế hệ chúng ta, chúng ta cũng phải thành công. Đó là món quà lớn nhất mà chúng ta có thể hiến tặng cho Bụt, cho chư tổ và cho con cháu chúng ta trong tương lai.

Ước mơ của Thầy là gì?

Rong chơi trong hạnh phúc

Ngày hôm kia, các sư cô xóm Hạ lên đây làm việc và thấy các thầy, các sư chú chơi bóng chuyền trong tình huynh đệ rất vui. Chơi thể thao là một phương pháp để xây dựng tình huynh đệ. Chúng ta chơi không phải để ăn thua nhau như ở ngoài đời. Ở Hy Lạp, trong một cuộc đấu người ta đã nổi giận và đánh lộn với nhau, có 74 người chết và 1000 người bị thương. Chơi như vậy thì đầy sự tranh chấp và hận thù, trong khi đó thì các thầy và các sư chú chơi với nhau rất vui. Không những mình vui trong khi chơi mà đi ngồi thiền với nhau mình cũng rất vui. Ngồi chung với nhau trong thiền đường là một chuyện rất hy hữu và rất đẹp, mình thấy mình có mặt cho nhau. Đi nghe pháp thoại với nhau cũng rất vui, mình tới để nghe thầy trao truyền giáo lý của Bụt. Khi nghe tiếng chuông mình họp nhau lại cũng rất vui, vì vậy sự tu tập đem lại cho mình niềm vui trong từng giây phút của sự thực tập.

Nếu trong khi ngồi thiền, đi thiền, trong khi ăn cơm im lặng hay tham dự pháp đàm mà mình cảm thấy mỏi mệt, không có hạnh phúc là mình không thấy được giá trị của sự thực tập. Sự thực tập luôn luôn đem lại niềm vui và hạnh phúc. Khi đi thiền hành mỗi bước chân phải đem lại cho mình niềm vui, hạnh phúc và sự buông thư. Trong chúng ta có người có thể đi được như vậy. Mỗi bước chân là một niềm vui, là hạnh phúc, là sự buông bỏ. Mỗi bước chân là sự ăn mừng sự sống. Nếu ngồi thiền hay đi thiền mà mình đau khổ, mình bị áp lực hay bị bắt buộc thì mình sẽ không thành công. Đây không phải là chuyện mơ tưởng mà là chuyện mình thực hiện mỗi ngày. Trong khi tu tập mình xây dựng được tình huynh đệ thì tình huynh đệ đó có khả năng nuôi dưỡng mình.

Tới với Làng Mai, với tăng thân không phải là bị đi đày mà là mình được tới một núi châu báu, nếu có túi thì mình sẽ lượm châu báu chất đầy cả túi. Hơn nữa, mình không cần phải lượm làm gì, tại vì châu báu chỗ nào cũng có. Mỗi hơi thở, mỗi bước chân, mỗi nụ cười đều là hạnh phúc. Mình tới ngọn núi đó để rong chơi hạnh phúc chứ không phải để khổ đau. Tới Làng Mai là để được thừa hưởng  điều đó. Mỗi giây phút ở trong đại chúng là một niềm hạnh phúc. Mỗi hơi thở, mỗi bước chân phải trở thành một viên ngọc trong trái tim của mình. Từ cư xá tới thiền đường có tới mấy trăm bước, mỗi bước là một viên ngọc, mình đi làm sao để thấy hạnh phúc trong từng bước chân, đó gọi là công phu.

Hạ thủ công phu: Linh đan đổi cốt mới ra về

Người Tây phương hiểu chữ công phu là martial art (võ thuật), thực ra chữ công phu có nghĩa là sự thực tập hằng ngày. Một ngày hai lần thực tập chung gọi là nhị thời công phu.

Đi học trường dược, trường y hay trường kỹ sư mình cũng phải công phu mới thành công. Tu cũng phải có công phu nhưng mình không bắt buộc phải tới lớp học hay tới phòng thí nghiệm. Giáo lý của đạo Bụt rất mầu nhiệm. Khi mình áp dụng được là mình đỡ khổ và có hạnh phúc liền lập tức. Với mỗi bước chân, mỗi hơi thở, mỗi nụ cười, mỗi giờ ngồi thiền mình đều có thể có hạnh phúc. Nếu chưa có hạnh phúc trong khi ngồi thiền, đi thiền hành hay nghe pháp thoại là  vì mình chưa biết cách ngồi thiền, chưa biết cách đi thiền hành, chưa biết cách nghe pháp thoại, mình chưa biết thế nào là công phu. Những buổi công phu nuôi dưỡng mình rất nhiều.

Ngày xưa, có một thầy là thiền sư Chân Không thuộc phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, ngài tu tập ở núi Từ Sơn. Có một lần một đệ tử hỏi ngài:

–  Tu là gì?

Ngài trả lời bằng hai câu rất dễ thương:

Đến được động tiên sâu thẳm ấy

Linh đan đổi cốt mới ra về

Có nghĩa là khi tới được chỗ của chư tiên tức là tới được xứ của những người bất tử thì mình phải học cho được phép tu tiên để trở thành bất tử như các vị đó. Chư tiên có phép tu chế tạo ra được những viên thuốc tiên, họ sử dụng thuốc tiên đó và từ từ họ thay đổi con người của họ, gọi là hoán cốt. Hoán cốt là đổi xương. Xương của mình là xương người phàm tục cho nên thế nào mình cũng phải chết (mortal), còn tiên là bất tử (immortal). Mình nhất định không ra về, sư anh có đuổi thì đuổi, mình vẫn ở lại như thường. Mình hết lòng tu tập thì làm sao sư anh đuổi, làm sao sư chị không cho mình ở? Chỉ khi nào mình không biết trân quý sự thực tập thì người ta mới không cần mình. Mình tới và đem hết tấm lòng để tu tập thì người ta còn cầu mình ở lại thêm. Mình ở lại để hạ thủ công phu, để đổi xương của mình từ xương của người phàm tục thành xương của các vị bất tử. Đến được động tiên sâu thẳm ấy là chuyện rất khó. Nhờ duyên kiếp từ lâu đời nên hôm nay mình mới tới được đây thì mình dại gì mà bỏ đi. Mình phải quyết ở lại và luyện tập để đổi bộ xương của kẻ phàm phu tục tử thành bộ xương của các vị tiên bất tử. Linh đan đổi cốt mới ra về.

Thiền sư Chân Không sống vào khoảng thế kỷ thứ 11, Ngài tịch năm 1100, tức vào đầu thế kỷ thứ 12. Làng Mai chúng ta nghĩ khác hơn, đổi cốt rồi thì mình ở lại luôn để tổ chức độ đời. Nhiệm vụ của mình là được ở chung với nhau ba tháng, hoặc ba năm, hoặc năm năm, hoặc mười năm, hoặc suốt đời. Mỗi ngày tu tập là chế tác được hạnh phúc, niềm vui. Trong con người của mình có nỗi khổ, niềm đau, nhưng khi mình chế tác được niềm vui thì những nỗi khổ, niềm đau kia sẽ từ từ mòn đi.

Ngủ đi nỗi khổ, niềm đau

Chúng ta có hai cách để trị liệu nỗi khổ, niềm đau:

Cách thế gian thường dùng là lôi nỗi khổ niềm đau đó lên để chữa trị. Nỗi khổ, niềm đau có thể nằm trong chiều sâu tâm thức và nó âm thầm điều khiển mình. Mình nghĩ, nói và làm theo chiều hướng của nó. Vì vậy cho nên phương pháp chữa trị là thò tay sâu xuống, nắm cổ nó lên, nhìn vào mặt nó và nói: “Mi là nỗi khổ niềm đau của ta. Ta phải lấy mi ra khỏi ta. Ta phải mửa mi ra thì ta mới khỏe được”. Nỗi khổ, niềm đau là kẻ thù của mình, là một chai chứa đựng những độc tố, mình phải mửa nó ra ngoài thì mới khỏe được, giống như mình có một ung nhọt và mình phải lấy kéo cắt bỏ nó đi. Phương pháp trị liệu ngoài đời là như vậy, là một loại phẫu thuật.

Ngày xưa tôi đã từng đi qua giai đoạn này. Từ lúc bị lưu đày khi đi kêu gọi hòa bình, tôi có rất nhiều nỗi nhớ, niềm thương: nhớ nhà, nhớ chùa, nhớ tăng thân. Tất cả những người mình thương, tất cả những công việc của mình đều ở bên đó. Sang bên này không có gì quen thuộc, cây cối cũng khác, chim chóc cũng khác, thức ăn cũng khác, tiếng nói cũng khác, không có gì giống như bên nhà. Nỗi xót xa phải xa quê hương, bạn bè, xa những người thương. Nhưng mình phải chấp nhận điều đó, và tôi bắt đầu phương pháp thực tập làm quen với những cái bên này như thực tập chơi với con nít người Pháp, con nít người Đức, con nít người Anh; thực tập chơi với mấy ông mục sư, mấy ông linh mục, thực tập chơi, đọc thơ với các sinh viên và tìm niềm vui ngay trong giây phút hiện tại. Mình không biết là mình bị lưu đày bao nhiêu năm, sự thật là tôi đã bị lưu đày tới 40 năm. Nếu cứ chờ đợi thì 40 năm là quá dài, vì vậy sự thực tập của tôi là làm quen với giây phút hiện tại và ở đây, và tìm niềm vui trong những công việc đó. Tôi từ từ làm việc với giới trẻ, giới tôn giáo, giới nhân bản, chơi với con nít ở đây và thành lập tăng thân bên này.

Trong những năm đầu, nhiều đêm tôi nằm mơ thấy mình trở về quê hương, điển hình nhất là giấc mơ thấy mình trở về một ngọn đồi rất đẹp và bắt đầu leo lên ngọn đồi đó với hy vọng là lên tới đó mình sẽ bắt gặp tất cả những gì mình thương yêu, mình trông chờ, mong ước. Giấc mơ đó cứ lặp đi lặp lại rất nhiều lần, mỗi lần cứ leo được tới nửa chừng đồi thì tôi lại thức dậy. Giấc mơ đó cứ trở đi trở lại tại vì lòng ước mong trở về quê để gặp lại những người mình thương, lòng mong muốn được sống lại trong hoàn cảnh thân thuộc, thương yêu ngày xưa. Tôi nằm mơ thấy trở về chùa Tổ rất nhiều lần, lần nào cũng có Sư Ông ngồi đó để chờ mình. Đã tu, đã xuất gia rồi mà sự nhớ thương còn nhiều như vậy. Nhưng với sự thực tập thì từ từ những giấc mơ đó ít lại và cuối cùng thì nó biến mất, tại vì mình đã chấp nhận hành tinh này là quê hương của mình thì chỗ nào cũng là quê hương của mình. Tôi đã được chữa trị. Điều này chứng tỏ rằng muốn chữa trị không hẳn là phải lôi niềm đau nỗi khổ đó ra để quán chiếu hay cắt nó vứt ra ngoài. Mình có thể ru cho nó ngủ, mỗi khi nó phát hiện thì mình nhận diện và mỉm cười rồi mình trở lại với sự thực tập hiện pháp lạc trú của mình.

Trong các vị, nếu có những chuyên gia tâm lý trị liệu thì hãy suy nghĩ về vấn đề này, chúng ta có thể có nhiều cách trị liệu. Công phu là gì? Công phu là phương pháp thứ hai. Mình ngồi thiền làm sao mà mỗi giây phút ngồi thiền mình đều có được niềm vui. Trên đời này có bao nhiêu người được ngồi yên mỗi ngày ít nhất là hai lần, có bao nhiêu người được đi thiền hành mỗi ngày chung với đại chúng và được khuyến khích nên bước đi trong chánh niệm và dẫm vào Tịnh độ? Đây là một khung cảnh quá lý tưởng. Người ta đã không cấm mà còn khuyến khích mình ngồi cho có hạnh phúc, đi cho có hạnh phúc, ăn cơm cho có hạnh phúc. Sáng nay ăn cơm với hai thầy thị giả tôi thấy rất rõ mỗi miếng là một huyền thoại, dù thức ăn không có gì sang trọng. Tùy theo cách của mình, mỗi giây phút của đời sống là một giây phút mình ăn mừng sự sống, mình thấy nhiệm mầu của sự sống. Đó là công phu. Nếu mình cảm thấy bị áp lực đi ngồi thiền, đi thiền hành, đi nghe pháp thoại thì đó là một bi kịch.

Nếu thầy trò mình được quy tụ 300 người và tu chung trong ba tháng thì đó là một hạnh phúc rất lớn. Nhờ Đức Thế Tôn, nhờ truyền thống và những điều kiện thuận lợi nên mình mới làm được điều này. Có mấy người có được cơ hội này mà mình lại không biết trân quý thì rất uổng. Biết đâu sang năm mình không làm được nữa, vì vậy mình phải lợi dụng hết những điều kiện để sang năm, mình có thể quy tụ về dưới một mái nhà tu tập trong ba tháng, tại vì mình làm hạnh phúc cho mình và làm chỗ nương tựa cho không biết bao nhiêu người khác.

Thầy ơi, Thầy còn mơ ước gì không?

Ngày xưa, cách đây độ 10, 15 năm, có một cô thiền sinh hỏi tôi một câu:

–  Thầy ơi, thầy đã lớn tuổi rồi, thầy đã gần 80 tuổi rồi, thầy còn có mơ ước gì không trước khi thầy tịch?

Tôi trả lời:

–  Tôi nghĩ là tôi không còn ước mơ gì nữa.

Có người nói trong đời của một con người thì mình phải có ước mơ nào đó. Nghe câu hỏi đó tôi tìm xem thì thấy mình không có ước mơ nào cả, hay nói một cách khác là cái mình ước mơ đang xảy ra trong giây phút hiện tại.

Hồi còn là vị xuất gia trẻ, tôi có một ước mơ làm sao xây dựng được một đoàn thể tu học trong đó có tình huynh đệ, những người trong đó biết thương nhau, làm việc với nhau và chế tác niềm vui trong sự tu học. Tôi mang hoài bão đó rất lâu. Đến năm 1954, tức là vào khoảng giữa thế kỷ 20 thì tôi có cơ hội làm chuyện đó.

Hồi đó đất nước bị chia đôi, một nửa là cộng sản, một nửa là quốc gia và có một sự khủng hoảng tâm lý trong nước, nhất là trong giới trẻ. Người trẻ không biết là mình sẽ đi về đâu? Đất nước bị chia làm hai, một bên có khuynh hướng theo chủ nghĩa cộng sản vô thần, không tin vào tôn giáo; một bên có khuynh hướng hữu thần, tư bản, dựa vào Tây phương, nhất là dựa vào nước Mỹ. Việt Nam trở thành hình ảnh của sự đối lập trên thế giới, hai phe chống đối nhau: một phe yểm trợ chủ nghĩa cộng sản trong đó có Nga và Trung Quốc, một phe yểm trợ chế độ tư bản trong đó có Mỹ và các nước Tây phương.

Người trẻ không biết mình nên đi hướng nào, tại vì ít nhất mình phải có một hướng đi. Suốt trong cuộc chiến ở Việt Nam đã xảy ra chuyện khổ đau, dân Việt Nam đã chết vào khoảng 6 triệu người. Đó là một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, người trong một nước đã sử dụng ý thức hệ từ bên ngoài đưa vào, ý thức hệ cộng sản và ý thức hệ tư bản, một bên là chủ thuyết Marx-Lenin và một bên là chủ nghĩa nhân vị do những người thiên chúa giáo chủ trương. Không những người Việt bị bắt buộc phải sử dụng những ý thức hệ mà còn phải sử dụng vũ khí của người ngoại quốc để chống đối nhau. Vũ khí miền Bắc sử dụng được nhập từ Trung Quốc và Nga, còn vũ khí miền Nam sử dụng được nhập từ các nước Tây phương, nhất là từ Mỹ. Những người trẻ Việt Nam phải sử dụng những ý thức hệ ngoại quốc và những vũ khí ngoại quốc để giết nhau. Đó là một bi kịch rất lớn. Dân tộc này có một đường hướng nào khác hơn là đường hướng đó hay không? Tại sao lại phải chấp nhận một cuộc chiến huynh đệ tương tàn, lấy ý thức hệ và súng ống của ngoại bang để giết nhau. Có những người trẻ thấy được điều vô lý đó, trong đó có tôi, năm 1950 tôi còn trẻ lắm. Mình nghĩ tới con đường thứ ba, con đường thoát khỏi sự tranh chấp đó, mình phải có một hướng đi và hướng đi đó mình phải tìm trong đạo Bụt tại vì đạo Bụt không chấp nhận chiến tranh.

Tôi nhớ hồi đó tâm tư của người Việt rất hoang mang, giới trẻ cũng rất hoang mang. Gần một triệu người di cư từ miền Bắc vào miền Nam và vài trăm ngàn người tập kết từ miền Nam ra miền Bắc. Lúc đó có một nhà báo tên Vũ Ngọc Cát, ông làm chủ nhiệm tờ nhật báo Dân Chủ, ông tới chùa Ấn Quang, lúc đó chùa chưa được  xây dựng đồ sộ như bây giờ. Tôi là một trong những người đầu tiên lập ra chùa Ấn Quang cùng với thầy Trí Hữu, lúc chùa còn là một am tranh lợp lá dừa. Tôi là người dạy lớp học tăng đầu tiên ở chùa Ấn Quang. Ông Vũ Ngọc Cát nói:

–  Thầy ơi, thầy viết bài nói về đạo Phật như một con đường thoát, tại vì không lý nào mình lại đi theo một trong hai con đường dẫn tới chiến tranh? Mình phải có một con đường khác.

Tôi đã chấp nhận và đã viết cho tờ báo một loạt 10 bài mang tựa đề: “ Đạo Phật qua nhận thức mới“. Ông đã đăng loạt bài đó ở trang đầu, tựa bài được in bằng chữ đỏ, rất lớn. Báo bán rất chạy vì dân chúng đang hoang mang tìm một hướng đi. Trong loạt bài đó mình nói phải sử dụng tư tưởng của Phật giáo, tư tưởng không hận thù và có tình huynh đệ, tư tưởng hòa giải, vượt khỏi sự tranh chấp. Vì vậy trong suốt thời gian kéo dài của cuộc chiến mình có phong trào chống đối chiến tranh và những người trẻ đã tham dự vào rất nhiều. Họ biết con đường của họ không phải là con đường huynh đệ tương tàn mà là con đường hòa giải. Trong số người đó có thi sĩ Trụ Vũ. Trụ Vũ là một thi sĩ trẻ mà tôi đã khám phá ra cùng với thi sĩ Quách Thoại ở chùa Giác Nguyên. Đó là năm 1949, tôi vừa xuất bản tập thơ đầu ở Sài Gòn mang tên “Tiếng địch chiều thu“ với nhà xuất bản Long Giang. Trụ Vũ đọc được tập thơ đó, tập thơ có những bài thơ mới cảm hứng với đạo Bụt, và thi sĩ muốn tìm tác giả. Trụ Vũ tới nhà xuất bản hỏi thăm và cuối cùng tìm ra chùa Ấn Quang. Ở Sơn Hạ, trong thiền đường Thánh Mẫu Maya có bút tích của thi sĩ Trụ Vũ. Anh đã qua Làng Mai, đã có mở một cuộc triển lãm thư pháp và đã để lại cho mình Tâm Kinh Bát Nhã do chính anh viết treo trong thiền đường Thánh Mẫu Maya. Trụ Vũ làm nhiều bài thơ đi về hướng đó, bài thơ đầu tiên Trụ Vũ viết về đạo Bụt là do cảm hứng khi đọc “Tiếng địch chiều thu“. Đọc xong tập thơ anh mang vào vườn Tao Đàn, nằm xuống và làm một bài thơ tên là “Thi Tứ”, có nghĩa là ý thơ, bên dưới có đề: tặng thầy Nhất Hạnh để bắc cầu thông cảm giữa đạo và thơ, (làm như là đạo và thơ là hai cái khác nhau và phải bắc cầu môi giới để đưa đạo vào thơ!!!).  Các thiền sư Việt Nam đã làm thơ từ thời khởi thủy. Bây giờ các thầy, các sư cô cũng phải làm thơ, nếu không thì làm sao làm kệ truyền đăng cho đệ tử?

Ta gối đầu ta lên mộng ảo
Ta gói hồn thơ thiên địa ảo
Ta nằm giữa lá thu rơi
Mặt đất dâng cao thấu tận trời
Ai để mùa thu lên viễn vọng
Trong tiếng ca nào đang lên khơi
Ai đem mây xám vẽ lên không
Một lá vàng rơi xao xuyến lòng
Ta nắm trong tay mùa tạo vật
Đi vào kết bạn cùng trời đất
Cuộc đời say ngủ dưới chân ta
Chôn chặt thân ngươi mảnh đất già
Đây gió ngàn phương trời với biển
Thổi cánh chim trần về cao viễn
Ta về hòa hợp giữa hư không

Thi tứ ngàn năm thường hiển hiện.

(Thi Tứ -Trụ Vũ)

Trụ Vũ đã đem bài thơ lên chùa Ấn Quang tặng cho tôi. Nhờ mối duyên gặp gỡ đó mà thi sĩ đã viết nhiều bài thơ yểm trợ cho con đường Phật giáo xóa bỏ hận thù trong đó có bài thơ ”Bà mẹ Việt Nam”:

Thương bà mẹ già như đời dân tộc
Hình hài gầy đét Việt Nam
Đôi mắt nhỏ màu nâu long lanh hạt ngọc
Trán ai cày luống đất khai hoang
Thương bà mẹ già mảnh lòng xẻ nửa
Nửa gửi thằng hai nửa gửi thằng ba
Bà đâu biết đứa con nào cộng sản
Bà đâu biết đứa con nào quốc gia
Lệ tình yêu giăng màn che kín
Bà không nhìn thấy màu đỏ màu xanh
Bà chỉ thấy buổi chiều rất tím

Máu thằng em cũng đỏ như máu thằng anh

Bài thơ rất đơn sơ và nói rất đúng. Bà mẹ có hai đứa con, một đứa là cộng sản, một đứa là quốc gia và hai đứa đang giết nhau, trong khi đó đứa nào máu cũng đỏ, cũng là con của bà. Đó là tâm trạng của người trẻ thời đó. Trụ Vũ cũng có làm một bài thơ về giấc mơ:

Giấc mơ bé nhỏ vô cùng
Một căn nhà lá ba vồng khoai lang
Thế thôi mà lạy mười phương

Ba mươi năm lẻ chưa tròn giấc mơ

Vì chiến tranh nên giấc mơ đó không thành tựu được. Chỉ có một căn nhà lá và ba vồng khoai lang thôi, mà lạy mười phương ba mươi năm vẫn chưa thành tựu được.

Năm đó tôi được các thầy giao cho một trách nhiệm, tại vì tư tưởng của những người tu trẻ lung lay cực độ, họ không biết hướng đi. Làm sao họ có thể đi theo chủ nghĩa cộng sản hay theo chủ nghĩa tư bản được? Phải có một con đường đi và con đường đó phải được tìm trong gốc rễ của dân tộc. Tôi bắt buộc phải đứng ở chỗ vạch ra một con đường đi cho tuổi trẻ. Phong trào hòa bình chống chiến tranh hình thành từ sự kiện đó, trong phong trào có những người như Nguyễn Đắc Xuân, v.v… và chính sư cô Chân Không cũng đã tham dự vào. Hồi đó cuốn “Hoa sen trong biển lửa” được in chui ở Việt Nam. Đó là một áng văn chương nói về con đường hòa bình của Phật giáo, nó phải thoát ra khỏi quỹ đạo của cộng sản và tư bản. Sư cô Chân Không đem sách ra Huế bị công an bắt giải về khám Chí Hòa. Sự thật là thế hệ của tôi đã như vậy và thế hệ sau này cũng muốn đi vào con đường đó. Sư anh Nhất Trí đi về nông thôn làm công tác xã hội đã bị mất tích. Biết bao nhiêu người trẻ, xuất gia hay không xuất gia, chỉ vì muốn làm công việc thương yêu, hòa giải mà bị bên này hoặc bên kia ám sát. Hồi đó tôi thành lập Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội để đào tạo những cán bộ xuất gia và tại gia đi vào nông thôn, đem thông điệp của thương yêu tới giúp nông thôn tổ chức lại đời sống và hàn gắn lại vết thương chiến tranh. Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội không phải là lý thuyết mà là một cánh tay. Chị Nhất Chi Mai là một trong 6 người Tiếp Hiện đầu tiên, chị đã tự thiêu cho hòa bình và là một trong những cánh tay đắc lực của phong trào. Mình có những người anh, người chị rất xứng đáng, họ đã mở cho mình con đường đi về hướng tình huynh đệ, về hướng thương yêu và hòa giải.

Trong tình trạng hoang mang đó tôi được các thầy lớn trong ban giám đốc Phật học đường Ấn Quang mời tới, tại vì họ biết chỉ có tôi mới ủy lạo được giới tăng ni trẻ tuổi. Tôi đã về chùa Ấn Quang và bắt đầu xây dựng tăng thân theo cái thấy của tôi. Sư bà Phước Hải, một vị tôn túc sắp sang đây dự Đại Giới Đàn, là học trò của tôi hồi đó, hòa thượng Minh Cảnh cũng là một vị học trò của tôi hồi đó. Lần đầu tiên tôi có cơ hội tạo dựng được một tăng thân có tình huynh đệ, có hạnh phúc. Năm nay chúng ta đã cố mời càng nhiều vị càng tốt sang tham dự Đại Giới Đàn, nhưng chỉ có một số đi được mà thôi. Câu hỏi là:

–  Thầy ơi, thầy có ước mơ gì chưa thành hay không? Thầy muốn thấy nó trước khi chết hay không?

Tôi trả lời rằng:

–  Tôi không còn một ước mơ nào nữa. Ước mơ xây dựng được một tăng thân đã thành công rồi.

Uớc mơ đó thành công hay không và nó có được tiếp tục hay không là do sự tu tập của mình. Mỗi khi thấy một sư chú đi một bước chân an lạc, thảnh thơi, hạnh phúc thì tôi thấy ước mơ của mình đang trở thành sự thật. Khi thấy một số anh em ngồi uống trà với nhau để bàn chuyện giúp đời thì đó là hạnh phúc rồi. Những chuyện đó xảy ra hằng ngày. Ngày nào cũng được đi những bước chân như vậy, ngày nào cũng được ngồi với tăng thân như vậy, ngày nào cũng hướng tâm mình về phía đó, như vậy là đẹp lắm rồi, không cần phải đi tìm gì nữa, giấc mơ đã trở thành hiện thực. Đó là công phu của mình. Nếu mình không có hạnh phúc là mình rất dại, tại vì mình có đủ điều kiện để có hạnh phúc. Mình có tăng thân, có pháp môn, không ai có thể làm cho niềm tin của mình nơi pháp môn bị lung lay tại vì mình đã chứng thực được mỗi khi thở, mỗi khi đi, mỗi khi ngồi là có hạnh phúc liền. Ai lấy được niềm tin đó ra khỏi mình, tại vì niềm tin đó tới từ những kinh nghiệm trực tiếp của mình mà không phải do một người khác nhờ họ nói năng có tính cách thuyết phục. Niềm tin của mình không phải do người khác đưa tới mà do chính mình, vì vậy cho nên mình phải nhớ hai câu này:

Đến được động tiên sâu thẳm ấy

Linh đan đổi cốt mới ra về

Làm sao mà đổi xương? Mình đổi xương bằng từng bước chân, từng hơi thở. Mình đã học rất kỹ lưỡng là phải thở như thế nào để có hạnh phúc liền trong giây phút hiện tại, phải đi như thế nào để có hạnh phúc liền trong giây phút hiện tại. Mình không cần phải lôi nỗi khổ niềm đau ra đối diện mới có thể chữa trị được.

Để Bụt thở, để Bụt đi

Phương pháp niệm Bụt và phương pháp quán tưởng

Trong các phương pháp thực tập của chúng ta có phương pháp Niệm Bụt (the collection of the Buddha). Chúng ta có bài tụng “Tam Quy“:

Đoạn thứ nhất:

Con về nương tựa Bụt

Người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời

Đoạn thứ hai:

Đã về nương tựa Bụt

Đoạn thứ ba:

Về nương Bụt trong con

Trong truyền thống Nam Tông thì chỉ đọc: Con về nương tựa Bụt, và vì thấy quá ngắn nên các thầy đọc ba lần”con về nương tựa Bụt. Nhưng ở Làng Mai thì có ba đoạn khác nhau và nhất là có câu: Về nương Bụt trong con. Bụt không phải là một thực thể ngoài mình, Bụt có ở trong mình. Có nhiều phương pháp niệm Bụt, trong đó có phương pháp gọi là ”trì danh”nghĩa là gọi tên, ví dụ như: Nam mô Bụt Thích Ca Mâu Ni, Nam mô Quan Thế Âm bồ tát. Nhưng nếu không khéo thì miệng của mình đọc tên nhưng tâm của mình lại nghĩ tới chuyện khác.

Không những trong đạo Bụt mà trong các tôn giáo khác cũng có phương pháp trì danh như gọi tên Chúa, tên mẹ Maria, tên prophet Mohammed, v.v…Đó là trì niệm (anusmrti). Chúng ta gọi danh hiệu như thế nào mà trong khi gọi hạt giống của giác ngộ, giải thoát, hạnh phúc được tưới tẩm trong ta thì phương pháp trì danh mới có hiệu nghiệm. Nói “Nam mô A Di Đà phật” mà tâm của ta nghĩ tới chuyện khác thì chẳng khác nào như đọc 1, 2, 3, 4, không có ích lợi gì.

Trong đạo Bụt cũng như trong đạo Chúa chúng ta có tràng hạt, mỗi khi niệm một câu như “nam mô A Di Đà Phật” thì mình lần một hạt để đừng quên. Nhưng nếu không khéo thì tay mình sẽ lần hạt như cái máy và miệng của mình cũng phát âm như cái máy. Như vậy thì mình chỉ làm hình thức mà không có nội dung. Phương pháp trì danh có tất cả trong các truyền thống. Mình gọi tên như thế nào mà Bụt có thể biểu hiện ra trong mình,  còn nếu gọi tên hay lần tràng hạt như cái máy thì không có hiệu quả gì cả.

Phương pháp thứ hai là Quán Tưởng (visualize). Mình hình dung ra được Bụt là một người thánh thoát, nhẹ nhàng, tươi cười, mát mẻ và từ bi. Hoặc ngồi, hoặc đứng hoặc đi, mình hình dung ra một người đi, đứng, nói năng, hành xử rất chánh niệm và đầy từ bi. Đó là phương pháp quán tưởng.

Bụt và chúng sanh tương tức

Chúng ta đã học rằng Bụt và người dính với nhau, không có người thì không có Bụt, không có Bụt thì không có người. Đó là nhận thức bất nhị. Trong kinh Kim Cương có nói: Phải lấy đi ý niệm chúng sanh là ngược lại với Bụt, tại vì chúng ta thường hay so sánh đã là Bụt thì không thể là chúng sanh, mà là đã chúng sanh thì không thể là Bụt. Chúng sanh   (living being) có khi còn được gọi là hữu tình 有 情, tiếng Phạn là sattva, phiên âm là tát đỏa. Theo định nghĩa thì Bụt là một loài hữu tình có giác ngộ, giải thoát gọi là boddhisattva (bồ tát). Bồ tát là tên gọi tắt của chữ bồ đề tát đỏa, có nghĩa là giác hữu tình, là một con người đã giác ngộ.

Khi đã giác ngộ thì một chúng sanh trở nên có giá trị, trở thành một bậc đại nhân (great being). Boddhisattva is a great being. Trong một vị bồ tát có sự vĩ đại của một bậc giác ngộ nên chúng ta có chữ mahasattva. Maha là lớn, sattva là hữu tình, mahasattva là đại hữu tình. Bồ tát ma ha tát là boddhisattva mahasattva, khi một chúng sanh giác ngộ thì trở thành một con người lớn gọi là mahasattva, và con người lớn đó có thể gọi là boddhisattva nên chúng ta dùng chữ boddhisattva mahasattva.

Nhưng nếu không có người thì làm sao có bậc giác ngộ? Bậc giác ngộ từ người mà ra, vì vậy giữa người và bậc giác ngộ có sự liên hệ. Bụt không thể có mặt ngoài chúng sanh và chúng sanh không thể có mặt ngoài Bụt; cũng như bên trái và bên phải, nếu không có trái thì không có bên phải và không có bên phải thì không có bên trái. Đó gọi là tương tức, là tương đãi. Theo giáo lý của đạo Bụt thì trong chúng sanh có Phật tánh (Buddha nature), có hạt giống của Bụt. Hễ là chúng sanh là có Phật tánh tức là có khả năng giác ngộ, khả năng có niệm, định và tuệ. Chúng sanh nào cũng có khả năng có niệm-định-tuệ, cũng có khả năng giác ngộ.

Trong các tôn giáo khác sự liên hệ giữa Thượng đế và con người có như vậy hay không? Có những nhà mystic nói rằng Thượng đế cũng có ở trong ta, nhưng không phải tất cả mọi người đều nghĩ như vậy. Trong đạo Bụt nói rất rõ muốn tìm Bụt thì phải đi tìm trong chúng sanh, ngoài chúng anh thì không có Bụt. Không biết bên Cơ Đốc giáo có nói như vậy không: Muốn đi tìm Chúa thì phải nhìn vào con người, không có con người thì không thể tìm ra Thượng đế. Trong đạo Bụt thì Bụt và chúng sanh tương tức (inter-are), cũng như mặt trời và mình, mặt trời và mình tuy là hai nhưng là một. Mình có mặt trời trong con người của mình, tại vì những gì mình ăn là do mặt trời làm ra. Vì vậy mặt trời không chỉ có ngoài mình mà còn có trong mình.

Có tuệ giác bất nhị khi niệm Bụt, khi quán tưởng hay khi lạy Bụt

Phương pháp niệm Bụt là một phương pháp rất sâu.Mỗi khi lạy xuống, mình đọc bài:

Năng lễ sở lễ tánh không tịch

Người lạy và người được lạy không phải là hai thực thể riệng biệt nhau. The one who bows and the one who is bowed to are both empty of separate self. Trong Bụt có mình và trong mình có Bụt. Trước khi lạy xuống mình phải quán chiếu: Bụt ơi, con biết Ngài không ở ngoài con, Ngài đang ở trong con và con đang ở trong Ngài. Phải thấy được điều đó thì khi lạy xuống mình mới tiếp xúc được với Phật tánh trong mình. Nếu nghĩ Bụt là một cái gì hoàn toàn khác với mình và mình là một cái gì hoàn toàn khác với Bụt thì mình sẽ không có sự liên hệ (connnection) đó. Có được tuệ giác bất nhị “Bụt và chúng sanh không phải là hai thực thể riêng biệt, Bụt có trong chúng anh và chúng sanh có trong Bụt“ thì khi niệm Bụt hay lạy Bụt mới có kết quả. Nếu nghĩ Bụt là một vị thần linh hoàn toàn không phải là mình, mình chỉ toàn là xấu xa, yếu đuối, hèn kém còn Bụt là tất cả những cái gì tốt đẹp, giống như đêm với ngày không thể đi đôi với nhau thì đó là có sự kỳ thị, mình có cái thấy nhị nguyên giữa mình và Bụt. Trong kinh Kim Cương có nói: Phải lấy đi ý niệm chúng sanh là một cái gì ngược lại với Bụt. Đó là nguyên tắc đầu để phương pháp niệm Bụt được thành công. Khi gọi tên Bụt, quán tưởng Bụt, hay lạy Bụt thì mình phải có tuệ giác,phải có cái thấy là giữa Bụt và chúng sanh có sự liên hệ rất mật thiết. Ngoài chúng sanh không có Bụt và ngoài Bụt không có chúng sanh.

Là người thực tập mình phải thấy được trong mình có hạt giống của bồ đề, trong mình có hạt giống của niệm, định và tuệ. Đó là Bụt, vì vậy khi niệm Bụt hay khi lạy Bụt là mình phải làm thế nào cho hạt giống đó biểu hiện trong mình, hạt giống đó được tưới tẩm thì mình mới thành công. Chúng ta không gọi tên một vị thần linh để thần linh đó tới bảo vệ cho mình. Đọc cuốn“ Đường xưa mây trắng“, mình phải đọc mấy ngày mới xong. Theo hình thức thì đó không phải là niệm Bụt. Nhưng thật ra khi đọc“Đường xưa mây trắng“ thì mình tưới tấm hạt giống của trí tuệ, thương yêu và hạnh phúc. Như vậy đọc mình“ Đường xưa mây trắng“ là mình đang niệm Bụt mà mình không biết. Trong quá trình đọc thì niệm-định-tuệ và Bụt đã hiện ra rõ ràng trong mình, vì vậy đọc“Đường xưa mây trắng“ là một hình thái niệm Bụt. Nghe một bài pháp thoại, tuy mình không niệm“Nam mô A Di Đà Phật hay nam mô Bụt Thích Ca Mâu Ni“, nhưng những hạt giống của niệm, của định và của tuệ trong người mình được tưới tẩm thì đó là niệm Bụt. Mình phải hiểu niệm Bụt theo tinh thần đó chứ không phải niệm Bụt là gọi tên Bụt.

 

Để Bụt làm, để bồ tát làm

Nếu thực tập khá thì Bụt ở bên mình suốt cả ngày không rời, tại vì Bụt không phải là một thần linh ở ngoài mà Bụt là một năng lượng có trong mình.Quí vị hãy thử phương pháp này, tôi thấy nó rất hay, rất dễ. Khi đánh răng mình nói: Bụt đang chải răng, mình để Bụt chải răng cho mình. Khi Bụt chải răng thì Bụt không hấp tấp, Bụt làm rất thảnh thơi. Mình chải răng như thế nào để Bụt có cơ hội dùng bàn tay của mình, dùng bàn chải của mình để chải răng. Mỗi khi chải răng mình đừng làm với tư cách một sattva, mà mình chải răng với tư cách một boddhisattva, tức là chải răng có chánh niệm. Khi anh chải răng có chánh niệm tức là anh chải răng mà biết là mình đang chải răng, trong khi chải răng anh có thảnh thơi, không hấp tấp thì đó chính là Bụt đang chải răng và lúc đó anh đang niệm Bụt. Mình có hai cách chải răng: hoặc là mình để cho chúng sanh chải, hoặc là mình để cho Bụt chải. Chúng sanh có trong mình và Bụt cũng có trong mình. Tùy theo cách mình chọn, để cho Bụt hay bồ tát chải răng thì mình có hạnh phúc hơn.

Khi nâng ly trà lên, mình mời Bụt uống giùm cho mình, tại vì Bụt uống trà rất hay. Bụt nâng ly trà nhẹ nhàng, có chánh niệm và Bụt uống trà rất hạnh phúc. Vì vậy trong khi uống trà là mình niệm Bụt. Bụt đang có mặt trong giây phút đó, Bụt hiện ra với niệm, định và tuệ.

Hồi nãy đi từ Thất Ngồi Yên ra đây, tôi đã để cho Bụt đi trên tuyết. Bên Ấn Độ có ít tuyết, cho nên bây giờ Bụt đi trên tuyết rất vui. Chúng sanh không đi, chúng sanh nhường chỗ cho Bụt đi. Trong con người mình có sattva và boddhisattva, một là mình để cho sattva đi, hay là mình để cho boddhisattva đi, mà để cho boddhisattva đi thì thế nào mình cũng có hạnh phúc hơn. Tại sao mình không để cho hữu tình đi, để cho Bồ Tát đi thì phải có hạnh phúc hơn hay không?

Khi nấu cơm cho đại chúng mình đừng nên làm một cách hấp tấp. Làm với niềm vui và tình thương thì lúc đó là boddhisattva đang nấu cơm. Vì vậy niệm Bụt có thể xảy ra trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày.

Đi tiểu, đi cầu là một việc rất dễ chịu. Mình để cho boddhisattva đi tiểu, đi cầu một cách nhẹ nhàng. Tại sao mình lại hấp tấp. Mình phải chọn để sattva đi tiểu hay để cho Bụt đi tiểu; để cho Bụt đi tiểu thì mình sẽ khỏe, sẽ nhẹ nhành và hạnh phúc hơn nhiều.

Trong đời sống hằng ngày hay trong thời gian ở Làng mình nên mời boddhisattva làm tất cả. Để boddhisattva làm, tại vì sattva và boddhisattva cộng trú trong con người của mình. Cũng lá phổi đó, cũng lổ mũi đó mà khi boddhisattva thở thì rất hạnh phúc, mà khi chúng anh thở thì không hạnh phúc bằng. Khi thở, chúng sanh không để ý tới hơi thở, không thưởng thức được hơi thở

Theo đạo Bụt, Phật và chúng sanh không phải là hai thực thể riêng biệt, Phật và chúng sanh cộng trú trong con người của mình. Mình phải chọn lựa, mình nên sống như một người tỉnh thức hay như một người mê ngủ, mình nên đi như một người tỉnh thức hay đi như một người mộng du, và hạnh phúc có liền lập tức mà mình không cần phải đi tìm ở chỗ khác.

Chỉ cần chải răng, uống trà, bước những bước trên tuyết, trên cỏ hay nấu ăn sáng cho đại chúng là mình có hạnh phúc. Phương pháp đó không khó, vấn đề là mình có muốn hay không muốn làm mà thôi. Chúng ta không coi Bụt là một thần linh mà ta gọi tên để tới giúp đỡ, cứu độ chúng ta mà Bụt có mặt trong ta dưới dạng năng lượng (năng lượng niệm, năng lượng định và năng lượng tuệ). Nếu biết sử dụng ba dạng năng lượng đó để chải răng, để đi cầu, v.v… thì tự nhiên ta có hạnh phúc. Chúng ta đừng sử dụng thì giờ một cách vô ích, đừng đi tìm giác ngộ, giải thoát, đừng đi tìm Bụt ở một chỗ khác trong một thời gian khác.

Quí vị thử niệm Bụt theo phương pháp này, để cho Bụt có mặt trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày, để Bụt thở, để Bụt đi, để Bụt ngồi, để Bụt chải răng là chuyện chúng ta có thể làm được tại vì tất cả chúng ta đều có khả năng có chánh niệm. Chúng ta có thể chải răng có chánh niệm, đi cầu có chánh niệm, giặt áo có chánh niệm và mỗi giây phút đem lại sự thảnh thơi, đem lại niềm vui . Như vậy mỗi giây phút có mặt trên trên trái đất này là một giây phút hết sức mầu nhiệm: Mặt trời lặn cũng đẹp, mặt trời lên cũng đẹp, mưa cũng đẹp mà tuyết cũng đẹp. Giây phút nào cũng mầu nhiệm và ta nên có mặt thật sự để sống mỗi giây phút cho đàng hoàng. Nếu mình làm được một ngày thì đã có sự khác biệt rất lớn.