Tình thâm vẫn tròn

Phỏng vấn sư cô Chân Túc Nghiêm

Năm 2025 là năm kỷ niệm tu viện Lộc Uyển tròn 25 tuổi (2000-2025), cũng là 25 năm sư cô Túc Nghiêm xuất gia, gắn bó với tăng thân. Sư cô là một trong những vị có mặt ở Lộc Uyển từ rất sớm, cùng đại chúng  chung tay xây dựng và giữ gìn nơi này cho đến hôm nay. Dưới đây là phần trích từ buổi chia sẻ của sư cô Túc Nghiêm tại tu viện Lộc Uyển vào ngày 7.6.2025. 

 

Chỉ cần một hơi thở nhẹ

Sư cô Huệ Tri: 

Ai trong đại chúng cũng thấy sư cô làm mọi việc bằng tất cả tấm lòng.  Góc nào trong ni xá cũng thấy bàn tay của sư cô: từ nhà bếp ra nhà vệ sinh, từ bãi cỏ cho đến con đường sạch lá. Xin sư cô chia sẻ với đại chúng: điều gì trong trái tim làm cho tình yêu của sư cô đối với Lộc Uyển luôn trọn vẹn và tinh khôi như vậy? 

Sư cô Túc Nghiêm:

Con cũng giống như mọi người và các thế hệ tổ tiên của mình, đều có hạt giống tâm linh trong lòng, muốn được giác ngộ, giải thoát và sống hạnh phúc. 

Ngày xưa, Bụt đã nhận ra hạt giống ấy nơi chính mình và đã đi tầm đạo, thiền định để khám phá con đường thực tập vượt thoát khổ đau. Điều may mắn là, dù sinh sau Bụt hơn 2.600 năm, con vẫn còn cơ hội được học hỏi và thực tập. Có môi trường, có pháp môn tu học, tức là con đã có rất nhiều nhân duyên để thực hiện được chí nguyện và nuôi dưỡng hạt giống tâm linh của mình.

Con thấy thật may mắn khi chư Tổ đã thực tập và thành công trong việc duy trì, gìn giữ truyền thống tốt đẹp từ thời Bụt cho đến nay, để thế hệ chúng ta không cần phải tự mình trải qua hành trình tầm đạo như thuở ban đầu.

Vị tổ sư gần nhất của chúng ta là Sư Ông. Sư Ông đã làm mới lại đạo Bụt để chúng ta có đạo Bụt dấn thân. Đạo Bụt dấn thân nghĩa là đạo Bụt không chỉ dành cho những ai bỏ hết gia đình, sự nghiệp, hết thảy những gì liên quan đến thế gian để vào rừng tu tập, mà dành cho tất cả mọi người. Dù là xuất gia hay tại gia, chúng ta cùng được nghe pháp thoại, cùng thực tập pháp môn và cùng có khả năng đạt tới giải thoát. 

 

 

Đối với bản thân con, pháp môn nuôi dưỡng con sâu sắc nhất trên con đường tâm linh này là ngồi thiền. Sau 30 phút hoặc 45 phút ngồi thiền, cảm nhận hơi thở vào ra, con nếm được nguồn an lạc bất tuyệt. Chỉ cần thở và buông thư thôi, ta tiếp xúc được với đất trời và với tổ tiên. Khi ấy, ta thấy mình không chỉ là thân thể này mà còn là đất trời, là tổ tiên, là Bụt, là Thầy, và cả thế hệ tương lai nữa. Con đã tiếp xúc, cảm nhận được mình như một dòng chảy tâm linh và huyết thống đang diễn biến không ngừng.

Nhờ những hơi thở trong thiền định mà con nếm được sự an lạc của giải thoát tâm linh. Con tự nhủ rằng: “Chỉ với hơi thở này thôi, mình có thể dành hết cuộc đời để phụng sự cho tăng thân rồi”. Chỉ cần thở thôi là con thấy mình trọn vẹn. Qua kinh nghiệm của tự thân, con khám phá ra được giá trị của sự thực tập: giá trị của một hơi thở, của những bước chân thiền hành, của những buổi ngồi thiền chung với đại chúng. Con thấy đời sống tâm linh của mình được nuôi dưỡng và dù cho có xả thân này cũng xứng đáng. 

Con đã ở ngoài đời 27 năm, sống thật thà nhưng chưa từng cảm nhận được hạnh phúc lớn lao như vậy. Có lúc rảnh một buổi để đi chùa tụng kinh nhưng rồi cũng phải về. Không có chất liệu của sự vững vàng nên đời sống cứ lên xuống, đầy vơi. Vì vậy khi nếm được sự an lạc của thiền tập, con rất trân quý và tự nhủ mình phải giữ được sự thực tập cũng như giữ gìn môi trường tu học này. Nhờ đó mà tình yêu của con đối với Lộc Uyển luôn trọn vẹn và tinh khôi. 

 

Bền sắt tươi son

Sư cô Huệ Tri:

Giữ cho bền sắt tươi son là một câu thơ rất hay được trích trong bài thơ Tươi son bền sắt mà Sư Ông viết vào khoảng năm 1975. Như câu thơ ấy, bí quyết gì đã giúp sư cô luôn giữ được sự sắt son đối với pháp môn và đối với tăng thân?

Sư cô Túc Nghiêm:

Con xuất gia ở Làng vào năm 2001. Khoảng một năm sau, sư cô trụ trì ở đây – sư cô Trung Chính – về Làng thăm đại chúng và chia sẻ về đời sống ở Lộc Uyển với những khó khăn đang có. Con ngồi nghe và tiếp nhận những lời chia sẻ đó bằng cả tấm lòng.

Điều may mắn là dường như trong con có sẵn những hạt giống liên hệ với mảnh đất này, nên con rất tha thiết muốn đến đây. Rồi nhân duyên tự nhiên đưa đẩy để mong muốn ấy trở thành hiện thực. Khi đặt chân tới, con thấy ngay rằng đây đúng là môi trường của mình. Từ thời tiết khí hậu, đất trời, không gian cho đến con người, tất cả đều khiến con rất dễ chịu. 

Con thấy mình thật may mắn. Dù đi đâu, con vẫn luôn nhớ về nơi này như quê hương đích thực của mình. Nói như vậy không có nghĩa rằng chúng ta không sống được nếu không tìm được một nơi như vậy. Tùy người, tùy duyên. Nếu chưa may mắn tìm được một chỗ thích hợp để sống thì ta phải tự tạo lập bằng những bước chân, bằng việc quét dọn, xây cất. Khi ta làm thành một ngôi nhà, mảnh đất ấy tự nhiên trở thành một phần trong sự sống của mình. Dù chỉ là một hạt cát hay một chiếc lá bé nhỏ, tất cả đều trở thành một phần con người mình, gắn bó với đời sống tâm linh của mình. Sự sắt son đối với Lộc Uyển bắt nguồn từ cảm nhận: nơi này là nhà.

Nguyên do thứ hai là nơi này giúp con thực hiện được chí nguyện và lý tưởng phụng sự của mình. Năng lực của bản thân con có giới hạn, nhưng khi được nương vào và đi cùng đại chúng, con làm được điều mình mong ước. Con thấy rất vui khi cùng đại chúng tổ chức các khóa tu cho các cô bác, anh chị đến đây tu tập. Mọi người đến tu tập là nguồn thức ăn nuôi dưỡng hạnh phúc của con. Và dù chỉ làm được những việc rất nhỏ như nấu cơm, rửa bát, con vẫn cảm thấy thỏa mãn, bởi con biết mình đã cống hiến bằng cả tấm lòng, với tất cả khả năng mình có thể. 

Tăng thân của chúng ta giống như một con ó lớn. Mỗi người đều có thể tìm được cho mình một vị trí thích hợp trên đó. Tùy vào khả năng mà có người làm đầu, có người làm thân, có người làm đuôi. Điều quan trọng là dù ở vị trí nào, ta cũng có thể hạnh phúc. Nếu ai cũng cho rằng phần đầu con ó là quan trọng và đều muốn ở vị trí này thì con ó không thể nào có được sự cân bằng mà bay lên cao được. Tiềm lực của tăng thân rất dồi dào, chỉ cần mọi người đều nhận thức được vai trò của mình, tìm ra được vị trí thích hợp để phát huy khả năng của mình thì tăng thân sẽ ngày càng lớn mạnh. 

 

 

Một trong những thành tựu nữa làm cho con hạnh phúc khi sống ở đây là con có cơ hội thực hiện lời dạy của Sư Ông: “Một vị Bụt là không đủ”. Chúng ta cần nhiều vị Bụt. Điều ấy có nghĩa là mọi việc mình làm, mọi thành tựu mình đạt được đều được xây dựng trên tinh thần tăng thân, chứ không đi theo đường hướng của chủ nghĩa cá nhân, dù cho cá nhân đó là một người rất tài giỏi. 

Điều thứ ba khiến con trân quý nơi này là tình thương giữa người với người. Từ quý thầy, quý sư cô cho đến các vị thiền sinh, dù có những vị chỉ ở với nhau trong vòng năm ngày hay một tuần, đều thực tập hết lòng, rất thương nhau, lắng nghe và cảm thông cho nhau. Nhờ vậy, con thấy được giá trị tâm linh cũng như giá trị đạo đức nơi tăng thân và nơi pháp môn đã giúp mọi người được chuyển hóa.

Nhìn lại những chặng đường đã đi qua, lúc chưa biết đến đạo, con thấy mình quá tham cầu, muốn đạt được hết cái này đến cái khác: muốn giỏi hơn, thành công hơn, muốn người ta thương mình hơn… nhưng nhiều khi càng muốn lại càng không đạt được. Khi nhìn lại, con thấy biết ơn tất cả, vì chính nhờ những khó khăn ấy mà con có mặt ở đây. Nếu đời sống con quá thuận lợi, muốn gì được đó thì chưa chắc con có được một kết quả tốt đẹp. Những chặng đường đã đi qua giúp con thấy rằng đôi khi chính những thiếu sót, những mặt hạn chế của bản thân lại giữ mình ở lại trong đạo và tạo điều kiện cho hạt giống tâm linh trong con  được đơm hoa kết trái.

 

Có nhau ta còn tương lai

Sư cô Huệ Tri:

Thưa sư cô, với cái nhìn của một trong những người có mặt nơi đây từ rất sớm, chứng kiến và đi qua những chặng đường lịch sử của Lộc Uyển, sư cô có thể chia sẻ cảm nhận của mình về sự trưởng thành của đại chúng Lộc Uyển?

Sư cô Túc Nghiêm:

Theo cái nhìn của con, sự trưởng thành của Lộc Uyển là nhờ tấm lòng yêu mến đạo và thương quý Sư Ông của quý thầy, quý sư cô trẻ. Các vị đã tiếp nối Sư Ông trong công trình thực tập, gìn giữ và phát triển Lộc Uyển ngày một lớn mạnh. 

Từ những mầm non ngày nào được quý sư cô chăm sóc ở Bát Nhã, trải qua nhiều đổi thay, các sư em dần lớn lên, ngày càng giỏi hơn như các sư em trong gia đình cây Hướng Dương, Hồng Giòn,… Đến Lộc Uyển, các sư em rất có tinh thần xây dựng chúng, nhờ vậy mà hai xóm làm việc với nhau rất hòa hợp. Những lúc chưa hòa hợp, chúng ta tìm cách hàn gắn để có thể tiếp tục cùng đi với nhau. Tuy nhiên, cũng có những đoạn đường, vì chưa đủ khéo léo nên các anh chị em thiếu sự nhất trí, đồng lòng. 

Dù ở ngoài đời hay trong đạo, đều có lúc hưng thịnh, có lúc đi xuống. Có thời điểm tâm nguyện phụng sự của các anh chị em rất mạnh, ai cũng mong muốn cống hiến hết lòng, từ sự có mặt, thực tập cho đến công việc nhỏ nhất. Mười người là mười tâm nguyện và mỗi người làm một việc: người này rửa chén thì người kia cho pháp thoại… Nhưng có những lúc mọi thứ đi xuống: không ai muốn rửa chén mà cũng chẳng ai muốn cho pháp thoại. 

Trong mỗi con người, ai cũng có những hạt giống rất tốt, nổi trội như hạt giống phụng sự, từ bi, nhưng đồng thời cũng có hạt giống của vướng mắc, đòi hỏi. Khi những hạt giống tốt đang lớn mạnh, ta biết sử dụng những điều kiện thuận lợi để bồi đắp và nuôi dưỡng cho chúng tăng trưởng. Khi những hạt giống xấu biểu hiện, ta tưới tẩm thêm sự hiểu biết, cảm thông và thương yêu để ôm ấp, giúp cho những hạt giống xấu ấy dần dần chuyển hóa. 

Không chỉ đối với tự thân mà đối với những người xung quanh cũng vậy. Khi một người bạn đồng tu đang có tâm bồ đề mạnh mẽ, ta tìm cách có mặt để tiếp nhận năng lượng tích cực và nhiệt huyết nơi người ấy, để sự lan tỏa đó nuôi dưỡng và làm cho hạt giống tâm linh, hạt giống phụng sự trong mình được lớn mạnh. Khi năng lượng của người ấy xuống thấp, ta cần là người đứng lên để giữ vững con thuyền chung.

Khi thấy được quy luật đầy vơi, ta không tuyệt vọng mà cũng không phải chỉ hưởng thụ thôi. Sự để tâm và có mặt của mỗi người sẽ góp phần thiết lập lại sự cân bằng của dòng chảy tăng thân. 

Sự trưởng thành và lớn mạnh của Lộc Uyển là nhờ có những điều kiện tốt đẹp, tích cực nuôi dưỡng. Một trong những điều kiện ấy là sự có mặt vững chãi và từ bi của quý thầy, quý sư cô. Nhưng đến một lúc nào đó các vị cũng phải rời đi, về những trú xứ khác, và những người khác sẽ đến. Chúng ta cần học hỏi, làm quen và lớn lên cùng tăng thân. Nếu muốn duy trì sự trưởng thành và lớn mạnh của Lộc Uyển thì tự thân mỗi người chúng ta phải tiếp tục thực tập. Chúng ta không được buông. Tình thương yêu của quý bác là nguồn động lực để chúng ta giữ vững niềm tin với đạo.

Hôm nay, sự có mặt của chúng ta ở đây – mỗi cái nhìn, mỗi bước đi, một hơi thở hay một buổi ngồi thiền tĩnh tâm – không chỉ là tu cho riêng mình. Nhìn xa hơn, chúng ta thấy mình đang tu cho tương lai nữa. Chúng ta giữ gìn gia sản của Bụt, của Sư Ông, để khi các thế hệ mai sau cần, họ có nơi để quay về nương tựa. Lộc Uyển đã được xây dựng và gìn giữ trong tinh thần đó. Chừng nào chúng ta còn để tâm giữ gìn, chừng đó Lộc Uyển vẫn còn tồn tại. 

Không chỉ gìn giữ, nếu chúng ta làm cho nơi này phát triển mạnh mẽ, cành nhánh lan tỏa đi xa, thì một mai, nếu gốc rễ có bị hư hoại, chính những cành nhánh ấy sẽ quay trở lại nuôi dưỡng gốc rễ.  

Nếu gìn giữ được như vậy, thì dù một ngàn năm sau có sinh trở lại và phát tâm: “Mình phải đi tìm con đường tâm linh”, ta vẫn có thể gặp lại nhau. Ta sẽ tìm lại được nơi này để tiếp tục nương tựa, bởi hạt giống đã được gieo xuống bằng tất cả tấm lòng sẽ còn mãi đến mai sau.

 

Chung một tấm lòng

Sư cô Huệ Tri:

Tuy đến Lộc Uyển chưa lâu nhưng con thấy ở đây, mối liên hệ giữa tăng thân cư sĩ và xuất sĩ rất bền, đẹp và sâu sắc. Những sự kiện lớn nhỏ, các công việc ở tu viện hoặc là những khóa tu, đều có sự góp sức của tăng thân cư sĩ. Các vị đều chung tay, cùng làm với quý thầy, quý sư cô. Con muốn được nghe cảm nhận của sư cô về sự tương giao và yểm trợ của các tăng thân địa phương ở đây dành cho tu viện. 

Sư cô Túc Nghiêm:

Quý cô bác luôn yểm trợ hết lòng cho tu viện Lộc Uyển, đặc biệt là trong thời gian Covid. Khi đó chúng ta phải đối mặt với nhiều khó khăn: không mở được khóa tu, không đi ra ngoài, thậm chí trong tu viện cũng không được ngồi thiền chung với nhau, rồi thêm tác động khó chịu của gió Santa Ana… Trong khung cảnh đó, chúng con rất ấm lòng với những món quà và sự yểm trợ tài chính mà quý cô bác gửi về cho tu viện đúng theo tinh thần “lá lành đùm lá rách”, có gì giúp nấy. 

Sau này, quý cô bác và các tăng thân địa phương tiếp tục yểm trợ việc xây dựng cơ sở hạ tầng của tu viện như thiền đường, ni xá,…để giúp quý thầy, quý sư cô có nơi cư trú yên ổn, cũng như tạo thêm cơ hội cho nhiều thiền sinh đến tu tập hơn. Thiền đường mới hiện đang trong quá trình thiết kế và xây dựng; còn con đường mới đã được hoàn thành trước, vì nhu cầu đi lại của đại chúng rất cấp thiết. Quý cô bác có thể an tâm đi mà không sợ bị té. Con đường đã có rồi, tình thương đã xây dựng xong, giờ chỉ còn việc bước đi thôi. Cả bãi đậu xe bây giờ cũng đã thông thoáng, sạch sẽ. Mọi thứ đã hoàn tất như vậy là nhờ đâu? Đó là nhờ sự có mặt và cúng dường với lòng hoan hỷ của quý cô bác. 

Chúng ta biết mình cúng dường không phải cho ai khác mà là cho giá trị tâm linh, cho sự giác ngộ và chuyển hóa của chính mình, và cho cả tương lai của đạo Bụt. Chúng ta cần có nhau: Tăng thân cần quý cô bác và quý cô bác cũng cần có tăng thân để nuôi dưỡng hạt giống bồ đề tâm. Chúng ta cùng phối hợp để đi về một tương lai chung. Thật ra những gì của tu viện không phải của riêng quý thầy, quý sư cô hay một ai hết. Đó là ngôi nhà chung cho tất cả những ai cần đến: từ xuất sĩ, thiền sinh và các loài khác sống quanh đây như sói đồng cỏ (coyote), sóc, thỏ,… Những bạn sói cũng thực tập. Mỗi khi ta thỉnh chuông, chúng cũng đáp lời. Năng lượng của sự thực tập không chỉ đem lại lợi lạc cho con người mà còn mang lại thêm bình an cho núi đồi nơi đây. 

 

 

Khi đi trên con đường mới, sống trong những căn phòng mới, đại chúng nơi đây luôn nhớ và gửi niềm biết ơn đến quý cô bác. Càng nhớ đến tấm lòng ấy càng làm cho đại chúng tinh tấn hơn.

Tuy vậy, chúng con cũng ý thức rằng mình không nên phụ thuộc quá nhiều, phải biết tự lo. Lúc nào thật sự cần thì mới kêu gọi sự yểm trợ của cô bác. Mỗi khi có sự kiện như Đi bộ đường dài gây quỹ (Hike-a-thon) hay Lễ hội âm nhạc (Music festival), dù bận nhiều việc nhưng quý cô bác vẫn giúp đỡ hết khả năng. Tình yêu của quý cô bác hay của những người xuất sĩ như chúng con, đối với đạo đều trọn vẹn và tinh khôi như nhau. Điều quan trọng là làm sao giữ cho tâm nguyện, cho tấm lòng ấy mãi bền sắt tươi son. 

 

Sư cô Huệ Tri:

Con rất biết ơn sự chia sẻ của sư cô. Những lời chia sẻ ấy đã nói lên tâm tư, tình cảm của tất cả quý thầy, quý sư cô đối với tất cả quý bác, quý cô chú, anh chị – người Việt lẫn Tây phương – đã từng đến tu viện thực tập, đã và đang không ngừng yểm trợ cho sự phát triển của Lộc Uyển. Niềm biết ơn luôn nằm sâu trong trái tim, lắng đọng nơi mỗi người chúng con khi nghĩ về những vị đã đồng hành với Lộc Uyển suốt chặng đường 25 năm qua. 

Trong vòng tay tăng thân

Phỏng vấn thầy Chân Pháp Lưu

Thầy Pháp Lưu, người Mỹ, xuất gia năm 2003 tại Làng Mai và được Sư Ông Làng Mai truyền đăng giáo thọ vào năm 2011. Là một người tu hạnh phúc và có đầy nhiệt huyết, thầy luôn dành nhiều tâm sức để đem chánh niệm vào giáo dục và nhiều lĩnh vực khác. Ban biên tập có dịp phỏng vấn trực tuyến với thầy về con đường của đạo Bụt dấn thân. Dưới đây là phần trích từ buổi phỏng vấn này. Bài viết được dịch từ nguyên bản tiếng Anh.

 

BBT: Điều gì đã khơi dậy cảm hứng cho thầy khi lần đầu tiên thầy tiếp xúc với dòng tu Tiếp Hiện? Sau khi xuất gia, sự hiểu biết và trải nghiệm của thầy về dòng tu này đã thay đổi như thế nào?

Thầy Pháp Lưu (PL): Pháp Lưu được mời tham dự một khóa tu Tiếp Hiện tại tu viện Thanh Sơn (Green Mountain Dharma Center) mùa xuân năm 2003. Lúc đó, PL chưa phải là một thành viên Tiếp Hiện hay thậm chí còn chưa là một tập sự Tiếp Hiện, nhưng PL lại rất say mê với sự thực tập. Khóa tu đã diễn ra trong một không khí rất bình yên. Một số thành viên kỳ cựu nhất của cộng đồng vùng Bờ Đông, bao gồm cô Joanne Friday, cô Sue Bridge, cũng như sư cô Chân Đức – lúc đó là trú trì – đều có mặt.  Điều này khiến PL có cảm giác là dòng Tiếp Hiện có một vị trí khá đặc biệt trong truyền thống Làng Mai.

PL đặc biệt ấn tượng với cô Joanne Friday (Chân Lạc), trong vai trò một vị giáo thọ. Cô đã trải qua rất nhiều khổ đau, vậy mà nơi cô luôn toát lên một năng lượng tươi vui và tự nhiên. Cô không bao giờ than phiền. Cô giống như một “y chỉ sư chui” của PL. Ngay cả khi đã xuất gia, PL vẫn xem cô là một trong những vị thầy của mình. Tinh thần thực tập 14 Giới Tiếp Hiện của cô đã tạo cảm hứng rất nhiều cho PL. 

Mười bốn giới Tiếp Hiện là điển hình rõ rệt nhất của tinh thần đạo Bụt dấn thân. Giới thứ nhất (Thái độ cởi mở) và giới thứ hai (Phá bỏ kiến chấp) đặc biệt gây ấn tượng với PL. Chúng ta được nhắc nhở thực tập “để không bị vướng mắc vào bất cứ một chủ nghĩa nào, một lý thuyết nào, một ý thức hệ nào, kể cả những chủ thuyết Phật giáo”. Giới thứ nhất của dòng tu Tiếp Hiện có thể nói là một tiếng sư tử hống. Giới này giúp ta nhớ rằng: khi đã qua sông rồi, ta không cần phải vác chiếc bè theo nữa.

 

BBT: Dòng tu Tiếp Hiện thường được hiểu là sự kết hợp giữa tu tập chánh niệm và dấn thân vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Dựa trên kinh nghiệm tu tập của bản thân và đời sống trong tăng thân, thầy thấy sự tu tập và phụng sự xã hội có mối liên hệ với nhau như thế nào? 

PL: Sư Ông đã trao truyền Mười bốn giới Tiếp Hiện để giúp chúng ta rèn luyện tâm ý, nói năng và hành xử không bị kẹt vào giáo điều. Sau đó, Sư Ông viết Phép lạ của sự tỉnh thức như một lá thư hướng dẫn cách thực tập hơi thở chánh niệm, bước chân chánh niệm, rửa bát trong chánh niệm… Năm 1997, khi tới Madrid, Tây Ban Nha để dạy tiếng Anh sau khi tốt nghiệp đại học, PL chưa biết gì về những điều ấy. Khi đó, PL dấn thân vào một phong trào xã hội có tên là phong trào Okupa, cùng những người trẻ khác, những người muốn thách thức trật tự xã hội hiện hành bằng chính thân thể và đời sống của mình. PL và những người bạn đã sống trong những tòa nhà bị bỏ hoang, tham gia các hoạt động xã hội trên đường phố để lên tiếng cho người nhập cư không có giấy tờ… 

Trong những cộng đồng đó, PL tiếp xúc rất nhiều với năng lượng giận dữ và khuynh hướng đổ lỗi cho giới cầm quyền. Sau gần hai năm hoạt động trong phong trào, PL không hiểu vì sao mình càng ngày càng giận dữ. Bây giờ nhìn lại, PL nhận ra rằng mình đã ở trong một môi trường không giúp mình chăm sóc và chuyển hóa cơn giận. Năng lượng ấy đã trở nên quá sức chịu đựng, vì vậy khi trở về Mỹ năm 2000, PL rơi vào trầm cảm. Chính trong giai đoạn đó, PL đã khám phá ra pháp môn chánh niệm. PL tự nhủ, “Ít nhất là mình có thể ngồi đây trên bồ đoàn và ôm ấp cơn giận của mình”. Thế là PL tự tập thiền. Nhờ đó, PL thấy nhẹ nhàng hơn và tìm lại được niềm vui sống.

Khi đọc câu chuyện của Sư Ông về tờ báo Phật giáo Việt Nam bị đóng cửa vì mất nguồn tài trợ vào cuối những năm 50, về cảm giác không được các vị lãnh đạo Phật giáo yểm trợ, PL tự hỏi: lúc ấy điều gì đã diễn ra trong thân và tâm của Sư Ông? Cuối năm 1963, khi đang làm công việc nghiên cứu tại Hội Chủng viện thần học (Union Theological Seminary) tại New York, Sư Ông nhận được tin về sự đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm và các cuộc biểu tình ở quê nhà sau lệnh cấm treo cờ trong mùa Phật Đản. Trong hoàn cảnh ấy, Sư Ông có thể làm gì? Sư Ông đã tuyệt thực để cầu nguyện cho Việt Nam và kêu gọi sự chú ý của tổ chức Liên Hiệp Quốc. Và khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, Sư Ông quyết định trở về Việt Nam dù biết rằng mình có thể bị phản bội một lần nữa. Sư Ông đã viết một bài thơ có tên Xin cúi đầu đưa về để nói lên tâm trạng của mình trong giai đoạn ấy. 

“Đây hai bàn tay tôi

Là trái tim

Là khối óc

Là cuộc đời

Là tất cả những gì còn sót lại

Những bàn tay không mang quyền phép lạ

Nhưng đã hơn một lần nhỏ máu trên cung bậc thương yêu.”

(Trích từ bài thơ Xin cúi đầu đưa về, Sư Ông Làng Mai)

 

Khi gặp khó khăn trong sự thực tập, PL thường quán chiếu và hình dung mình là Sư Ông trong những năm ở New York. Tiếp xúc được với những gì Sư Ông đã trải qua giúp PL dễ ôm ấp cơn giận của mình hơn. PL nghĩ đến hình ảnh Sư Ông “xắn tay áo” bắt đầu xây dựng những ngôi làng tình thương (còn gọi là làng hoa tiêu – nền tảng cho việc thiết lập trường Thanh niên phụng sự xã hội (TNPSXH) sau này), làm việc với các sinh viên y khoa để giúp các làng mạc thiết lập những điều kiện vệ sinh căn bản… Thầy không đứng ngoài quan sát mà trực tiếp bước ra, dấn thân để giúp đỡ mọi người.

Chăm sóc tâm ý trong khi làm công việc xã hội đó đòi hỏi kỷ luật và sự rèn luyện. Sau khi đã học hành, tích lũy kiến thức, tham gia hoạt động xã hội và thấy rõ nguy hiểm của việc không chăm sóc tâm, PL cảm thấy Mười bốn giới Tiếp Hiện có một sức hút rất sâu sắc với mình.

Năm 2006, thầy Pháp Hộ và PL được Sư Ông và đại chúng cử đến Lộc Uyển để tu tập và giúp xây dựng tăng thân. Hai anh em đến Sơn Cốc để chào Sư Ông trước khi đi. Một điều Sư Ông dặn dò mà PL nhớ mãi, đó là: nên tránh bị kẹt vào sự phân biệt giữa đời sống tu tập và đời sống dấn thân. “Đừng thấy hai khía cạnh đó riêng rẽ, tách rời; tuy hai mà là một”. 

Tư duy nhị nguyên khiến ta đi tới đi lui giữa hai thái cực – nghĩ rằng mình quá nghiêng về sự tu tập và cần phải dấn thân hơn, rồi lại thấy mình quá dấn thân nên cần trở lại với sự tu tập. Nó cứ lặp đi lặp lại mãi như vậy.

 

 

BBT: Thầy đã đem lời dạy của Sư Ông vào đời sống tu tập và phụng sự của mình như thế nào? Làm sao để thầy không kiệt sức?

PL: PL không để mình bị kiệt sức, bởi vì lúc nào PL cũng quay về với tăng thân. Ở trong tăng thân, ta có thể làm rất nhiều việc. Còn nếu ta cố làm một mình, ta sẽ bị kiệt sức và căng thẳng. Dù nhìn bên ngoài có vẻ như PL làm rất nhiều, nhưng thật ra là tăng thân làm. Khi các nhân duyên trong tăng thân đầy đủ, thì bum! – mọi việc trở nên rất dễ dàng.

Đó là lý do vì sao Sư Ông có thể viết được nhiều sách như vậy. PL đã quan sát cách Sư Ông làm. Khi PL còn là sa di tham gia chuyến về Việt Nam của Sư Ông năm 2005, lúc ở Hà Nội, rất nhiều người trong phái đoàn bị bệnh vì trời lạnh và ẩm ướt. Mỗi ngày, không ai trong đoàn biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. PL nhớ lời của sư anh Pháp Trú nói: “Chỉ cần tập trung vào Sư Ông. Quan sát Sư Ông. Làm những gì Sư Ông làm là sẽ ổn”. Suốt chuyến đi đó, PL đã làm đúng như thế. PL không bị phân tâm bởi những gì các sư anh, sư chị, sư em làm. PL chỉ nhìn Sư Ông: Sư Ông đang làm gì? Sư Ông giữ gìn năng lượng như thế nào? Khi nào Sư Ông nghỉ ngơi? Khi nào Sư Ông giảng dạy?

Một điều hay khi làm người xuất gia là rất khó bị “sa thải”. Nếu ta mắc lỗi hoặc làm một công việc gì không được giỏi lắm cũng không sao. Khi thành công trong một việc gì, có khi ta học được không nhiều. Nhưng khi thất bại, ta lại học được rất nhiều. PL thất bại rất nhiều trong tăng thân và đã học được cách thưởng thức sự thất bại. Nếu ta nhìn thất bại một cách nhẹ nhàng, như một phần tự nhiên của sự học hỏi, ta sẽ không còn bị căng thẳng nữa.

 

BBT: Dòng tu Tiếp Hiện ra đời trong bối cảnh chiến tranh tại Việt Nam. Sau 60 năm, theo thầy thì thách thức nào mà Dòng tu Tiếp Hiện cần đáp ứng một cách cấp thiết nhất hiện nay?

PL: PL nghĩ chúng ta cần học cách linh hoạt và uyển chuyển hơn, để có thể đáp ứng một cách sinh động trước những hoàn cảnh luôn thay đổi. Khó khăn lớn nhất của dòng tu Tiếp Hiện hiện nay là, như bất kỳ tổ chức nào khác, khi phát triển lớn mạnh thì bắt đầu hình thành những cơ cấu cồng kềnh—những cơ cấu được tạo ra vì những lý do chính đáng, nhưng lại làm giảm đi sự linh động và khả năng phản ứng kịp thời.

Điều này có thể thấy rất rõ qua thảm kịch đang diễn ra ở Gaza. Với tư cách là một tổ chức lớn, chúng ta đang gặp nhiều khó khăn trong việc đáp ứng một cách hiệu quả. Điều đó không phải do bất kỳ cá nhân nào, mà đơn giản là vì khi làm việc ở quy mô lớn, với những cơ cấu mà chúng ta đã thiết lập, việc vận hành linh hoạt và kịp thời trở nên rất khó khăn.

Khi Sư Ông thành lập dòng tu Tiếp Hiện, lúc ấy chỉ có sáu thành viên, và rõ ràng Sư Ông là người dẫn đường. Sáu Cây Tùng – sáu thành viên Tiếp Hiện đầu tiên – rất hoan hỷ đi theo sự chỉ dẫn của Sư Ông. Còn bây giờ, chúng ta không còn một vị lãnh đạo duy nhất mà mọi người đều cùng theo. Vì vậy, chúng ta phải làm việc cùng nhau và điều đó đòi hỏi phải có sự truyền thông tốt với nhau.

Đối với PL, giữ cho cánh cửa truyền thông luôn rộng mở là điều vô cùng thiết yếu. PL thấy chúng ta là anh chị em – cả xuất sĩ lẫn cư sĩ. Chúng ta sẽ thất bại nếu sự truyền thông bị cắt đứt. PL học được điều này từ Sư Ông. Sư Ông luôn giữ cho cánh cửa truyền thông được rộng mở. 

PL nhớ năm 2004, có một sư chú ở Lộc Uyển tuyên bố rằng thầy không cần đi nghe pháp thoại của Sư Ông nữa vì sư chú “đã hiểu hết tất cả những gì Sư Ông dạy rồi”. Sư chú nói sẽ dành thời gian thực tập riêng thay vì đi nghe pháp thoại. Phần lớn những người có mặt đều sửng sốt và bất bình khi nghe sư chú nói như thế. 

Sau đó, trong ngày xuất sĩ, Sư Ông đã mời sư chú đó ngồi ngay bên cạnh mình. Lúc ấy, PL không vui và bức xúc: tại sao lại có một người dám nói như vậy về Sư Ông? Nhưng Sư Ông đã ôm ấp sư chú. Đó là một bài học lớn cho PL. PL sẽ không bao giờ quên hình ảnh Sư Ông mời sư chú ngồi bên cạnh và cùng nói chuyện với tăng thân như thể cả hai là một cơ thể. Tinh thần luôn giữ cánh cửa truyền thông mở rộng ấy, Sư Ông đã trao truyền lại cho chúng ta.

 

BBT: Dòng tu Tiếp Hiện đã lan tỏa và phát triển tại nhiều quốc gia và nhiều nền văn hóa. Khi nghĩ về điều này, thầy thấy đâu là những giá trị cốt lõi của dòng tu?

PL: PL nghĩ rằng phản ứng có đạo đức trước bạo lực là điều căn bản. Nếu chúng ta đánh mất sự liêm chính đạo đức của mình, thì chúng ta đánh mất tất cả, và mọi thứ chỉ còn là “ăn miếng trả miếng” – bên này chống bên kia. Hiện nay, chính trị quốc tế đang rơi rất sâu vào kiểu tư duy “được–mất” như vậy.

Điều mà mười bốn giới Tiếp Hiện hiến tặng cho thế giới là cốt lõi đạo đức ấy. Đây  không phải là một hệ thống đạo đức để trưng bày trên kệ sách, mà phải được đem ra áp dụng. Câu hỏi cần được đặt ra là: Bạn sống đời sống hằng ngày của mình như thế nào? Bạn phản ứng ra sao? Bạn thực tập lắng nghe sâu như thế nào, nói lời ái ngữ ra sao, và hành xử bằng bất bạo động – không chỉ trong hành động thân thể, mà cả trong lời nói và trong tư duy?

Để làm được điều này, ta cần có chánh niệm. Ta cần thực tập ý thức về suy nghĩ, lời nói, hành động của mình thì mới có thể chuyển hóa chúng. Giáo lý của Làng Mai nhấn mạnh rằng phương tiện và cứu cánh không tách rời nhau: không có con đường đưa đến Niết Bàn, Niết Bàn chính là con đường. Đó là điều chúng ta có thể cống hiến trong nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế cũng như trong đời sống tâm linh.

 

 

BBT: Khi nhìn lại 60 năm của dòng Tu Tiếp Hiện, điều gì mang lại cho thầy niềm biết ơn lớn nhất?

PL: Đó là tình huynh đệ. Đi đến đâu trên trái đất này, chúng ta đều có gia đình tâm linh, được hình thành và nuôi dưỡng từ sự thực tập giới. Chỉ riêng điều đó thôi cũng đã làm PL tràn đầy biết ơn: biết rằng ở đâu cũng có tăng thân.

PL thấy điều đó rất cụ thể qua các dự án đang khởi sự tại tu viện Lộc Uyển như thành lập trường tiểu học mang tên Thích Nhất Hạnh School of Interbeing, Nông trại Hạnh phúc (Happy Farm), và Bảo tàng Thích Nhất Hạnh (Thích Nhất Hạnh Museum) ở Los Angeles. Không dự án nào có thể thành tựu nhờ vào một cá nhân, tất cả đều phải nương vào tăng thân trong mười phương. 

Tại Lộc Uyển, tăng thân đang duy trì sự nhu nhuyến và khả năng đáp ứng với tư cách của một tăng thân. Điều này nhờ vào cấu trúc làm quyết định mà Sư Ông đã trao truyền: tác pháp Yết ma, hội đồng Tỳ kheo và Tỳ kheo ni làm quyết định tối hậu. PL mong chúng ta đừng bao giờ đánh mất điều đó. Trong mọi tổ chức, luôn có nguy cơ càng ngày càng trở nên thứ bậc, với một nhóm tinh hoa nắm quyền quyết định. Sư Ông đã dạy chúng ta làm quyết định với sự đồng thuận, kết hợp cả hai yếu tố dân chủ và thâm niên. Sư Ông đã rèn luyện chúng ta kỹ càng, và điều đó giúp Lộc Uyển linh hoạt trong sự ứng phó với các tình huống.

Sẽ không thể nào làm quyết định với sự đồng thuận nếu không có tình huynh đệ. Điều làm cho các buổi họp Tỳ kheo hài hòa chính là tình huynh đệ. PL biết ơn tình huynh đệ quốc tế mà Mười bốn giới Tiếp Hiện tạo ra – không chỉ trong tăng thân xuất sĩ mà cả trong tăng thân cư sĩ. Chúng ta cùng đi với nhau như một dòng sông, hòa hợp như sữa với nước.

 

BBT: Ước mong sâu sắc nhất của thầy cho tương lai của dòng tu Tiếp Hiện là gì?

PL: Ước nguyện của PL là mười bốn giới Tiếp Hiện có thể đến với Liên Hợp Quốc và Tòa Hình sự Quốc tế, và thật sự giúp hai cơ quan này trở thành những lực lượng đạo đức hữu hiệu cho thế giới. Cá nhân PL cảm thấy hai cơ quan này thật sự nỗ lực đại diện cho một loại công lý và dân chủ phổ quát trên hành tinh. Tuy nhiên, vì các cường quốc trên thế giới không tôn trọng hoặc không trao quyền cho họ, nên họ chưa thể phát huy hiệu quả đúng theo tiềm năng của mình, ví dụ trong ứng phó với khủng hoảng khí hậu hay sự gia tăng bạo lực và các hoạt động phi pháp trên khắp hành tinh. Mười bốn giới Tiếp Hiện có nhiều thứ để hiến tặng cho những cơ quan ấy và các tổ chức đang làm những công việc to lớn khác như tổ chức Hòa bình xanh (Green peace), tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch), Phong trào Nổi dậy Chống Tuyệt chủng (Extinction Rebellion), và những tổ chức đặt nền tảng trên tinh thần nhân bản sâu sắc.

Khoảng sáu hay bảy năm trước, PL có trao đổi qua điện thoại với một thành viên của Phong trào Nổi dậy Chống Tuyệt chủng. Lúc ấy, họ đang vật lộn với cách liên hệ nội bộ với nhau vì họ tổ chức theo mô hình phi tập trung. Họ trăn trở với câu hỏi:  Làm sao để đưa ra quyết định? PL đã chia sẻ với vị đó những điều tương tự như bây giờ: Chúng ta phải bắt đầu bằng việc tu tập, rèn luyện bản thân. Không thể bắt đầu bằng hành động rồi mới quay ngược lại để lo chuyện tu tập. Ta phải rèn luyện trước, thì mới có khả năng hành động một cách thật sự nhân bản và đạo đức.

 

BBT: Nếu thầy có thể truyền trao một tuệ giác từ hành trình của mình cho thế hệ trẻ đang phát nguyện bước vào dòng tu Tiếp Hiện, thì điều đó sẽ là gì?

PL: Hãy sống trọn với ước mơ của mình. Chỉ có ước mơ thôi thì chưa đủ; bạn phải thực sự sống với nó. Chính bằng cách đó bạn mới học được. Và bạn cần rất nhiều nhẫn nại – nhẫn nại suốt cả một đời, thậm chí nhiều đời.

Khi thực tập để sống với ước mơ của mình, có thể bạn sẽ bị phê phán, bị đánh giá, bị trách móc; người ta có thể biến bạn thành “kẻ đối lập”. Khi ấy, bạn hãy thực tập như Sư Ông: đi trong vô niệm với vô tranh. Chỉ như vậy bạn mới có thể làm nhịp cầu nối liền Đông và Tây. Đó chính là con đường Sư Ông đã đi. Sư Ông không phê phán, không chỉ trích ai; Người chỉ lặng lẽ bước đi trên con đường mà mình đã chọn.

Đây là bài kệ truyền đăng do Sư Cố – Hòa thượng Thanh Quý Chân Thật – trao cho Sư Ông mà PL rất thích. Sư Ông đã thực tập  hết lòng theo bài kệ ấy trong suốt cuộc đời mình:

Đi gặp mùa xuân, bước kiện hành

Đi trong vô niệm với vô tranh

Đèn tâm soi chiếu vào nguyên thể

Diệu pháp Đông Tây ắt tự thành.

 

BBT: Thầy nghĩ Sư Ông sẽ muốn chúng ta nhớ điều gì nhất trong dịp mừng 60 năm dòng tu Tiếp Hiện?

PL: Sư Ông chỉ muốn chúng ta có thể đến với nhau như anh chị em một nhà. Sư Ông rất thích khi tăng thân tụ họp, được chơi với nhau và thật sự có mặt cho nhau trọn vẹn! PL thấy khóa tu Tiếp Hiện sắp tới vào tháng Sáu mang tinh thần ấy. Năm 2014, trong khóa tu tháng Sáu năm ấy, với sự có mặt của đông đảo giáo thọ – xuất sĩ và cư sĩ, Sư Ông dạy: “Chánh niệm là một con đường, không phải một công cụ”. Có thể Sư Ông đã có tuệ giác ấy  từ lâu, nhưng PL cảm nhận rằng chỉ khi tăng thân thật sự tụ họp lại, tuệ giác ấy mới được tỏa sáng trọn vẹn.  

Hiện nay, chúng ta cần trực tiếp gặp nhau nhiều hơn; gặp nhau trực tuyến thôi không đủ. Trong giới luật, Bụt dạy rằng khi tụng giới, ta ngồi như thế nào để có thể vươn tay ra và chạm được vị xuất sĩ bên cạnh. Bụt đã có tuệ giác đó rồi. Hiện tại, khoa học nói rằng “oxytocin tiết ra khi bạn ở bên cạnh người khác và bạn hạnh phúc hơn”. Bụt đã không dùng ngôn ngữ đó, nhưng Ngài biết ta phải ở đủ gần, trong tầm với của tăng thân mình. PL nghĩ điều Sư Ông mong muốn nhất cho tăng thân là tăng thân có thể đến với nhau như một gia đình lớn.

Chùm thơ: Gốc Rễ

Sư cô Chân Trăng Bảo Tích

 

Mùi khói

Mùi ấm nồng

Buổi sáng lạnh sương

Hai trời đông tây cách trở

Tết con không về được

Để cùng ba đốt giấy vàng bạc cúng tổ tiên.

Ra đi

Mang theo mùi khói ấm

Để có chút nức nở mỗi lần lòng giá băng

Hành trang mang trên vai

Tuổi thơ êm đềm và hạnh phúc

Mùi khói của những ngày Tết quê nhà.

Ông bà ơi,

Càng đi

Con càng nhận ra

Là, mình giàu có.

 

Có những linh hồn

Chọn đi qua cuộc đời an yên và bình lặng

Để giữ gìn tinh túy.

Trái Đất –

Cuối cùng là điểm tựa

Của những phi hành.



Dòng sông vẫn chảy

 “Vườn xưa vắng mặt người chăm sóc

Lý trắng đào hồng tự nở hoa.”

 

Con thấy trong con

Khu rừng già ngàn năm cổ thụ

Ruộng đất đã lâu ngày không cày xới

Nhưng dòng chảy vẫn tiếp tục chảy dài, lưu nhuận

Trong từng tế bào huyết quản và tâm thức con

Dòng chảy ngàn năm

Dòng chảy trao truyền và tiếp nối

Ngọn hải đăng

Vẫn ngàn đời

Rực cháy.

 

 

 

Tỉnh giấc

 Một sớm con nghe quả tim mình thức giấc

Bước ra giấc ngủ triền miên quên lãng

Con thấy lại bóng hình khu rừng ngàn xưa

Con thấy lại con

Con thấy con lại đang cùng Thầy đi hái thuốc

Tiếng hồng chung vẫn vang vọng trên đỉnh non xưa

Con về, quỳ dưới chân Thầy

Quỳ dưới chân Bụt Tổ

Con là đứa con

Đi lâu ngày

Giờ thấy nhớ nhà

Muốn trở về lại

Với lượng cả bao dung.

 

 

Ngôi đền thờ

Thức dậy với tình yêu

Nghe mạch sống đang âm thầm tuôn chảy trong từng tế bào

Ngôi đền thờ này

Đang gìn giữ khói nhang cho lớp lớp tổ tiên.

Chỉ cần vẫn còn được sống

Được mở mắt, để nhìn thấy đất trời

Còn đôi tai, để nghe sáng nay mưa đang tuôn từng hạt

Còn đôi tay, để xoa vào nhau và giữ ấm

Cuộc sống thật bình dị

Nhưng chính cái bình dị đó dung chứa trong lòng nó một sự thật tuyệt vời

Cuộc sống đẹp

Và quý giá biết bao nhiêu!

 

Dòng chảy

 Con là dòng chảy

Bao la và hùng vĩ

Không đơn độc.

Dòng chảy đưa con đi về phía trước

Như Đất Mẹ đang nâng đỡ hai bàn chân con.

Dòng chảy lưu nhuận

Dòng chảy hào hùng

Dòng chảy là phù sa mỡ mầu trên những vùng đất mới

Mỗi nơi con đặt chân qua.

 

 

Một đời phụng sự – Lặng lẽ mà sáng ngời

 

Kỷ niệm 60 năm Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội (1965–2025)

  Tăng thân Tiếp Hiện Sài Gòn

 

Sáu mươi năm đã trôi qua kể từ ngày Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội ra đời (1965–2025). Khoảng thời gian ấy đủ dài để một thế hệ trưởng thành, một thế hệ tiếp nối, và nhiều thế hệ cùng nhìn lại con đường đã được khai mở bằng lý tưởng, tình thương và sự dấn thân không mệt mỏi. Ngày nay, nhìn lại, mỗi bước đi ấy vẫn vang vọng trong tâm thức chúng ta, nhắc nhở về trách nhiệm tiếp nối và ý nghĩa bền bỉ của con đường phụng sự.

Giữa những năm tháng khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi nhiều người trẻ đứng trước những ngã rẽ bế tắc: hoặc học để tìm con đường riêng, hoặc cầm súng để tham gia chiến tranh, đối đầu và hủy diệt. Trong hoàn cảnh đó, sự ra đời của Trường đã mở ra một nẻo đường khác– con đường của phụng sự xã hội, của hành động bất bạo động và của thực tập thiền trong cuộc sống. Đó là nơi người trẻ được mời gọi bước ra khỏi bế tắc của thời đại, rời bỏ hận thù và sợ hãi, để đi vào cuộc đời với đôi tay xây dựng và trái tim hiểu biết. Những thanh niên khoác áo nâu năm ấy không chấp nhận làm những hạt nước nhỏ lẻ loi. Họ đã chọn đi như một dòng sông, cùng nhau chảy về phía biển lớn của tình người, mang theo lời thề nguyện năm xưa: đem đạo vào đời, lấy tình thương làm phương tiện.

 

 

Với tinh thần “Hãy bắt đầu bằng những gì mình biết và xây dựng trên những gì mình có”, cùng tình thương và nhiệt huyết của tuổi trẻ, họ triển khai các chương trình phát triển nông thôn. Họ hăng hái đi vào các thôn xóm, vận động sức người sức của tại địa phương, dựng nên trường học giữa làng quê nghèo, chăm sóc trẻ mồ côi, cứu trợ nạn nhân chiến tranh, chích ngừa dịch tả và đậu mùa, xin đất mở đường qua bùn lầy, dựng lại mái nhà sau mưa lũ… Một ngôi trường lá đơn sơ ba gian, ghế bàn xiêu vẹo, được dựng lên từ đất hiến tặng, từ tre được đóng góp, từ mồ hôi và lòng tin của đồng bào và sự yểm trợ của chính quyền địa phương – đó là công trình của cả một cộng đồng. Một con đường lầy lội bao năm không ai làm được bỗng trở thành con đường thông suốt nhờ bàn tay chung sức của dân làng và những người thanh niên phụng sự xã hội. Trong số họ, có những người vừa là thầy tu, vừa là giáo viên, y tá hay cán bộ xã hội. Có những người đi vận động dân làng bằng những câu thơ lục bát mộc mạc, rồi chính tay mình cầm kim tiêm để chích ngừa cho dân. Tuy rằng, họ không có tài chính nhưng họ có tình thương, trách nhiệm và tinh thần tự nguyện – ba nguồn năng lượng mà Sư Ông đã trao truyền. Và chính ba năng lượng ấy đã làm nên những điều tưởng chừng không thể.

Khi nhìn lại hành trình sống cuộc đời phụng sự, các bác Tiếp Hiện đã chia sẻ rằng: “Trong cuộc đời đi làm công tác xã hội, với tư cách một thanh niên phụng sự xã hội thì điều hạnh phúc nhất là đi đâu gặp đồng bào, mình làm việc gì cũng được mọi người hoan hỷ và vui vẻ đón nhận. Việc mình làm vì lợi ích chung nên công việc thường được suôn sẻ, lại được các chính quyền địa phương hồi đó hoan hỷ giúp đỡ, yểm trợ thêm để đồng bào vơi bớt những khổ đau”. Từ đó, các bác nhận ra rằng giá trị cao quý nhất của con người nằm ở tấm lòng cao thượng, và vì thế đã đem trọn sức mình cùng anh em tiếp tục dấn thân, tham gia phụng sự. Các bác cũng nhắc lại lời Sư Ông từng dạy: “Vì bạn đang ngồi thiền, nên bạn rời thiền đường để giúp người bên ngoài, đó gọi là thiền trong hành động”. Chính tinh thần ấy đã trở thành mạch sống của Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội: thiền không rời cuộc đời, phụng sự không rời chánh niệm.

 

Trên con đường ấy, những người trẻ đã sống với ước nguyện giúp đỡ đồng bào, đồng hành cùng dân tộc. Có những con người âm thầm lặng lẽ cống hiến suốt đời, cũng có những con người chọn chối từ bạo động bằng chính thân mạng mình – như quý thầy Thích Thanh Văn, Thích Châu Toàn, Thích Tâm Thể (Nhất Trí), chị Nhất Chi Mai, chị Vui, anh Lành, anh Hy, anh Thơ… Vào ngày 16 tháng 05 năm 1967, chị Nhất Chi Mai – một trong sáu thành viên đầu tiên của dòng tu Tiếp Hiện – đã khiến cả thế giới xúc động trước khí phách bi hùng của người hiến trọn thân mình vì lý tưởng hòa bình. 

Xin đem thân làm đuốc
Xin soi sáng u minh
Xin tình người tỉnh thức
Xin Việt Nam hòa bình.

Lời nguyện của chị đã trở thành biểu tượng cho tinh thần phụng sự và bất bạo động. Dù thời gian trôi qua, ánh sáng của ngọn đuốc ấy vẫn âm thầm cháy trong lòng bao thế hệ Tiếp Hiện tiếp nối. 

Sáu mươi năm nhìn lại, những người đi qua con đường ấy nay tóc đã bạc, nhưng niềm tin yêu cuộc sống và nhiệt huyết phụng sự vẫn vẹn nguyên trong ánh mắt rạng ngời. Có người bắt đầu tham gia vào trường TNPSXH khi mới 22 tuổi, nay đã hơn 80, vẫn thân thương nhắc lại: “Giá trị cao quý nhất của con người là tấm lòng”. Từ trải nghiệm của chính mình, các bác gửi gắm đến thế hệ trẻ hôm nay lời nhắn nhủ tha thiết:

“Hãy tiếp nối con đường phụng sự xã hội – con đường đẹp nhất, bền bỉ nhất. Lý tưởng ấy phải được nuôi sống mãi trong tâm mỗi người. Phụng sự xã hội bằng tâm không vụ lợi, bằng sự hiểu biết và thương yêu. Đi đến đâu, làm với tất cả trái tim thì mọi trở ngại đều có thể vượt qua” 

 

 

Sư Ông đã từng dặn dò:
“Kẻ thù chúng ta không phải con người
Xứng đáng chỉ có tình xót thương” 

Đó không chỉ là thơ, mà là kim chỉ nam cho cả một đời dấn thân.

Hôm nay, trong dịp kỷ niệm 60 năm thành lập Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội (1965-2025), chúng con cúi đầu cảm niệm Thầy, người đã thắp lên ngọn đèn chánh niệm giữa đêm dài. Cảm niệm các cô, các chú, các anh chị đã đi trước – những người khoác áo nâu Tiếp Hiện, bước vào đời bằng đôi chân không sợ hãi, ôm lấy khổ đau và hóa giải bằng tình thương. Nhờ quý vị, hôm nay chúng con có con đường để đi, một tăng thân để trở về. Chúng con biết con đường phía trước không phải lúc nào cũng có hoa vàng rải lối, nhưng chúng con nguyện tiếp bước.

Lặng lẽ ôm khổ đau bằng năng lượng của chánh niệm, của sự hiểu biết và thương yêu đích thực. Thở một hơi thật sâu, nở một nụ cười hiền để tiếp bước, dấn thân. Giữ ngọn lửa không tắt, tiếp nối hạnh nguyện thương yêu, hòa hợp để đứng bên nhau vững chãi giữa cuộc đời. Yêu thương là con đường duy nhất còn lại trong nhau khi tất cả đã đi qua.

Chúng con nguyện là cánh tay nối dài của Tăng thân. Lặng lẽ nhưng bền bỉ, chúng con chưa bao giờ đi một mình. Bên cạnh chúng con luôn là Thầy, là hàng trăm ngàn bước chân thầm lặng của Tăng thân, của bao thế hệ Tiếp Hiện đã và đang thở cùng mình. Những giọt nước mắt rơi không phải vì yếu mềm, mà vì lần đầu chạm vào nỗi khổ của người khác như của chính mình. Và những giọt nước mắt ấy nay đã hóa thành mưa âm thầm tưới mát những hạt giống mà Thầy và các bậc đi trước đã gieo suốt 60 năm qua, để chúng con tiếp tục gìn giữ và bước tới.

Nẻo về ấy vẫn còn đó.
Con đường ấy vẫn đang đi.
Lặng lẽ, mà sáng ngời.

Phương Khê

Sư cô Chân Hội Nghiêm

 

Con về thăm lại Phương Khê

Cỏ cây xanh mướt bốn bề ngát hương

Mùa xuân hoa đẹp lạ thường

Chim ca lảnh lót vấn vương chốn này

Về đây con lại nhớ Thầy

Bẻ từng măng búp, cho đầy nồi kho

Tình huynh đệ, nghĩa thầy trò 

Bữa cơm đạm bạc măng kho nhớ đời

Thầy thường hay mở lời mời

Lên ăn măng, uống trà, chơi với Thầy

Giờ đây hoa lá đủ đầy

Măng thì có đó, Thầy không có nhà

Thầy đi hái thuốc phương xa

Hay là Thầy đã đi qua bến bờ

Nãy giờ con mãi ngồi chờ

Giật mình tỉnh thức nào ngờ Thầy đây

Bóng Thầy thấp thoáng trong cây

Trên con đường nhỏ nơi Thầy đi qua

Góc nào không phải là nhà

Góc nào cũng có tòa nhà Như Lai

Bản môn chốn ấy đâu hai

An nhiên từng niệm khứ lai hiển bày

Con liền nắm lấy tay Thầy

Thong dong từng bước lòng đầy bình an. 

 

Biết nghe, biết lắng, biết thương sâu

Phỏng vấn Sư cô Chân Giác Nghiêm

 

Sư cô Giác Nghiêm xuất gia năm 1999 trong gia đình Cây Anh Đào. Từ khi gặp Sư Ông và sư cô Chân Không lần đầu tiên vào năm 1985, con đường đạo Bụt dấn thân đã trở thành lẽ sống của sư cô. Ban biên tập (BBT) may mắn có dịp ngồi chơi và nghe sư cô chia sẻ về niềm vui cũng như những thử thách mà sư cô đã đi qua trên con đường phụng sự. Dưới đây là phần trích từ buổi ngồi chơi này (được dịch từ nguyên bản tiếng Pháp). 

 

BBT: Thưa sư cô, sau bao nhiêu năm tu học và phụng sự, đạo Bụt dấn thân có ý nghĩa như thế nào đối với sư cô ạ?

Sư cô Giác Nghiêm (GN):

Đó chính là điều đã đưa GN đến với Sư Ông và tăng thân. GN có thể đã chọn con đường tôn giáo chiêm niệm (thiên về cầu nguyện), nhưng đời sống của Sư Ông và sư cô Chân Không, mà GN được gặp lần đầu năm 1985, đã khiến GN chọn con đường này. Lúc ấy, Sư Ông đang giảng pháp lần đầu tại Lyon. Khi tiếp xúc với những lời dạy của Sư Ông, GN tự nhủ: “Mình phải áp dụng ngay những pháp môn này – không chỉ cho riêng mình”. Với GN, đó là ý nghĩa của hai chữ dấn thân.

Thời gian đó, GN đang là chuyên viên vật lý trị liệu trong một bệnh viện, chăm sóc cho những người cao tuổi và người bệnh giai đoạn cuối. GN đã chứng kiến rất nhiều cảnh đau khổ: Họ không biết phải làm sao để đối diện, xử lý những cảm xúc và đau đớn của mình, và không biết làm sao để tiếp tục sống. GN đã đem pháp môn thực tập vào nơi ấy, một cách rất tự nhiên, không hề nói đó là “thiền”. GN thực tập thiền hành khi đi lại dọc hành lang bệnh viện, để giúp cho tâm ý an tĩnh lại. Từ phòng bệnh này sang phòng bệnh khác, GN thực tập hơi thở ý thức. Trước khi bước vào phòng của một bệnh nhân mới, GN buông xuống tất cả những gì người bệnh trước đã chia sẻ, chỉ giữ lại điều thiết yếu nhất để trao đổi với các đồng nghiệp. Sư Ông đã dạy GN như thế.

Khi bước vào phòng, GN nhìn bằng đôi mắt mới – một cái nhìn thật nhanh – để thấy điều gì thật sự quan trọng. Không cần phải nói gì, GN đem thiền tập đến bên giường bệnh – thiền tập về tương tức. Có những người cảm thấy rất cô độc. GN chỉ cho họ tấm vải trải giường và kể cho họ nghe về tất cả những điều kiện hội tụ để tạo nên tấm vải trải giường này: từ cách cây bông được trồng ở châu Phi, người ta tưới từng hạt giống nhỏ, rồi có người dệt vải, người vận chuyển, kể cả mưa, nắng, những chú bướm nhỏ hay những con côn trùng đất…Tất cả đều có mặt trong đó. Đó chính là sự thực tập nhìn sâu. Một cách gián tiếp, mình giúp cho họ thấy rằng họ không cô độc. GN thấy họ nhẹ nhõm hẳn ra.

Với bệnh nhân bị liệt nửa người hoặc bị Parkinson, GN dạy họ thiền hành trong hành lang – nhưng không hề dùng chữ “thiền”. GN cùng bước đi với bệnh nhân một cách chậm rãi, trong im lặng. Khi người bệnh gặp khó khăn khi bước tiếp, nhất là với người bị Parkinson, cả hai đều dừng lại. Họ cố gắng bước tiếp, nhưng GN sẽ nói với họ: “Chúng ta hãy thực tập dừng lại”. Rồi GN sẽ hỏi: “Anh/chị thích cây nào nhất?”. Nếu họ trả lời “Cây anh đào” thì GN sẽ nói: “Vậy bây giờ mình cùng trở thành cây anh đào nở hoa ngay trong hành lang bệnh viện này nhé!”. Thế là nỗi bất lực trong họ được giải tỏa. Đó là một cách để giúp họ thực tập dừng lại và họ rất thích.

Trong não chúng ta có các khớp thần kinh (synapses) – nơi liên kết và dẫn truyền xung động điện giữa hai tế bào thần kinh khác nhau hoặc giữa một tế bào thần kinh và một tế bào cơ. Ở người mắc bệnh Parkinson, ngay cả khi họ đang còn trẻ, dopamine không truyền dẫn một cách dễ dàng, chúng bị cạn kiệt. Khi ta thực tập dừng lại, ta không làm mệt các dây thần kinh nữa, các khe thần kinh có thể được nạp đầy dopamine trở lại và họ lại có thể tiếp tục bước đi.

GN chẳng làm gì đặc biệt, chỉ trợ giúp họ mà thôi. GN trao truyền “thiền bên giường bệnh”, thực tập đặc biệt hữu ích khi thay băng gạc cho những bệnh nhân có vết loét – thường rất đau đớn – cũng như đối với người đã mất trí nhớ hay không còn nhận thức được thế giới xung quanh. GN sẽ tới thăm, hỏi về những điều đẹp đẽ trong đời họ để làm dịu nỗi đau.

GN giúp họ tập dừng lại – thấy và nhận diện thực tại như nó là – rồi nhẹ nhàng “thay chốt” (hay “thay CD”) như Sư Ông hay nói. Khi nghe tiếng xe đẩy bông băng của y tá, họ thường thở dài “Ah!”. GN sẽ nói: “Vâng, xe thay băng tới rồi. Bây giờ bác hãy kể cho tôi nghe về cây sáo mà con trai của bác hay thổi nhé!”. Và như thế đến lúc họ nằm xuống, chúng tôi có thể bắt đầu thay băng trong sự nhẹ nhàng.

GN không phủ nhận sự thật. Khi tháo băng, họ đau lắm, GN nói: “Đúng rồi, đau lắm! Hãy quay về hơi thở, và nhẹ nhàng nói ‘Đau lắm’ trong khi thở chậm rãi”. Rồi GN hỏi: “Cũng có những chỗ khác trên cơ thể anh/chị nữa. Nếu GN đặt tay ở chỗ này, anh/chị thấy ấm hay mát?”. Điều đó giúp họ chuyển hướng sự chú ý. Và nếu cơn đau vẫn còn quá mạnh, hơi thở ý thức và sự có mặt trọn vẹn sẽ khiến nó dễ chịu đựng hơn. Họ không còn la hét vì đau nữa. GN cũng chia sẻ thực tập này với các y tá: “Chúng ta có thể cùng nhau làm được điều này”. Nếu không thì người bệnh sẽ chịu đau đớn khủng khiếp. 

GN cũng giúp “hồi sinh trở lại” cơ thể của người bệnh – những vùng bị lãng quên không hề được chạm tới. GN dạy cho điều dưỡng viên cách tắm rửa bệnh nhân trong chánh niệm – luôn báo trước cho người bệnh những gì họ sắp làm: “Bây giờ tôi nhúng khăn vào nước ấm nhé” (để bệnh nhân có thể ngửi mùi xà phòng và nhận diện hương thơm trước), hoặc “Tôi sắp chạm vào cánh tay của bác, vào khuôn mặt của bác. Bác có cảm nhận được bàn tay tôi không?”. Việc tắm rửa cơ thể theo cách này giúp đánh thức lại hình ảnh cơ thể trong não — khơi dậy những vùng đã bị lãng quên vì quá lâu không được tiếp xúc.

Một ngày nọ, trưởng khoa gọi GN đến và nói: “Cô đã làm việc theo cách này suốt vài tháng rồi. Tôi không biết chính xác cô đang làm gì, nhưng tôi rất cảm ơn cô – nó thực sự có hiệu quả. Cô có toàn quyền thực hiện tiếp như thế nhé!”. Dĩ nhiên, kết quả này không đến từ GN mà là từ sự thực tập!

GN giải thích với vị trưởng khoa lý do mình làm việc theo cách đó, rằng GN thuộc về một cộng đồng thiền tập. GN nói với ông rằng đi cũng là thiền – rằng khi bước vào phòng bệnh nhân với tâm rỗng rang, sáng tỏ, GN mới thấy được thật sự họ cần gì, điều gì ổn và không ổn. 

Đối với GN, đạo Bụt là sự dấn thân vào đời sống ngay trong hiện tại. Dù làm nghề gì, ta cũng có thể tìm ra những pháp môn thiền tập giúp mang lại sự bình an và chữa lành.

 

BBT: Sư cô có kể cho Sư Ông nghe những gì mình áp dụng trong bệnh viện không?

GN: Mỗi khi bắt đầu một cách thực tập mới, GN đều viết thư cho Sư Ông: “Thưa Sư Ông, hôm nay con đã làm thế này…” – nhưng  chưa bao giờ nhận được hồi âm (cười).

Một ngày nọ, khi đang ở Làng Mai, GN bỏ giờ thiền hành. Ngồi dưới gốc cây đoàn ở xóm Thượng, GN viết thư kể Sư Ông nghe về những việc mình đã làm với các bệnh nhân. Sư Ông đi ngang qua, nhẹ nhàng nói: “Sư cô Elisabeth…” – Sư Ông luôn gọi GN như vậy. Sư Ông không nói “Sao sư cô không đi thiền hành?”, Sư Ông chỉ đơn giản hỏi: “Sư cô đang làm gì đó?”

GN thưa: “Dạ, con đang áp dụng lời dạy của Sư Ông trong bệnh viện, và chúng mang lại kết quả rất tốt. Con đang ghi chép lại”. Sư Ông chỉ nói nhỏ: “Mỗi khi sư cô tìm ra cách thực tập mới, hãy gửi cho thầy biết”. Và GN đã làm như thế. 

GN đã áp dụng pháp môn thiền hành rất nhiều – GN muốn nhấn mạnh điều này. Kết quả của đạo Bụt dấn thân rõ ràng đến mức các sinh viên vật lý trị liệu bắt đầu mời GN đến dạy ở trường. Y tá và điều dưỡng cũng mời GN đến nói chuyện tại Khoa Y học phục hồi chức năng. 

Họ vô cùng kinh ngạc trước những kết quả ấy. Không phải nhờ GN, dĩ nhiên rồi, mà nhờ sự thực tập.

 

BBT: Thưa sư cô, trên con đường phụng sự, thử thách lớn nhất của sư cô là gì? Và sư cô đã vượt qua những thử thách ấy như thế nào?

GN: Khó khăn lớn nhất đối với GN có lẽ là nỗi lo lắng, không biết người khác đánh giá thế nào về việc mình đang làm. GN sợ người khác không hiểu.

Thời đó, Phật giáo còn xa lạ. Những bài giảng bằng tiếng Pháp đầu tiên của Sư Ông là vào năm 1984 hay 1985. GN sợ cách dấn thân này có thể bị hiểu lầm – người ta có thể nghĩ mình thuộc “giáo phái” nào đó – và GN có thể bị cấm làm việc ở bệnh viện, dù kết quả rất tích cực. Nhưng khi trưởng khoa nói: “Cô được tự do toàn quyền”, thì mọi sợ hãi tan biến. Chướng ngại của GN ở trong chính mình, chứ không đến từ bên ngoài.

 

BBT: Sau kinh nghiệm chia sẻ chánh niệm trong bệnh viện, đạo Bụt dấn thân tiếp tục biểu hiện trong đời sống hằng ngày của Sư cô như thế nào?

GN: Trong gia đình mình, GN không bao giờ ép buộc việc ngồi yên hay dừng lại bằng tiếng chuông. GN chỉ đơn giản sống như trước, nhưng với sự ý thức và có mặt ngày càng nhiều hơn. Điều đó cũng là đạo Bụt dấn thân.

GN viết những mẩu chuyện nhỏ để kể cho các con nghe – những câu chuyện tưới tẩm hạt giống vô úy và hiểu biết. Khi các con đặt câu hỏi, GN luôn trả lời một cách tự nhiên, đơn giản, để giúp chúng chạm được những tuệ giác sâu sắc mà Sư Ông đã trao truyền. 

Đạo Bụt dấn thân cũng có nghĩa là dám cầm bút viết thư cho các nguyên thủ quốc gia để nói “Điều này không đúng,” nhưng luôn bằng lời từ ái. Khi chiến tranh Nga – Ukraine nổ ra, GN viết thư cho Tổng thống Putin, nói rằng ông đang gửi chính các con mình vào chỗ chết – rằng không có sự khác biệt giữa những người lính Ukraine với những người lính Nga của ông. Đó là những chàng trai trẻ tội nghiệp, có thể sẽ phải bỏ mạng, tàn tật, hay phải mang những vết thương hằn sâu trong trái tim.

GN nói với ông rằng GN biết ông yêu thương gia đình mình, ông trân quý con cái mình. GN viết: “Nếu ông muốn tên mình được lưu truyền đẹp đẽ, ông có thể dừng chiến tranh ngay bây giờ. Ông có thể trở nên nổi tiếng vì hành động đẹp đẽ này”. GN gửi thư bằng tiếng Nga, thẳng tới Kremlin, không ghi địa chỉ người gửi – vì sự an toàn của các sư cô.

GN từng tham gia tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International), ban đầu là với vai trò viết thư, sau đó làm thư ký y khoa. Với GN, đó cũng là đạo Bụt Dấn thân: nhận thư từ tổ chức Ân xá Quốc tế, hồi đáp “Kính gửi Ngài Tổng thống …” và ký tên mình với chánh niệm. Luôn luôn lịch sự, tôn trọng, nhã nhặn, nhưng rõ ràng và thẳng thắn, không che giấu. GN đã làm việc đó nhiều năm. Chúng ta có thể dấn thân bằng rất nhiều cách khác nhau.

GN còn tham gia cùng với các thành viên trong tăng thân ở Saint-Étienne giúp đỡ người vô gia cư: tặng quần áo, tạo một chỗ để tắm rửa, cắt tóc nếu họ muốn, chuẩn bị bữa ăn và tạo nên những khoảnh khắc nhỏ đầy niềm vui. Chúng tôi lắng nghe sâu sắc và trò chuyện với họ bằng sự ấm áp và thấu hiểu. Sư Ông và sư cô Chân Không biết về công việc ấy và luôn bảo hộ cho chúng tôi. Hoạt động này được duy trì liên tục trong suốt mười năm GN ở đó, và sau khi GN rời đi, các bạn tiếp tục duy trì thêm gần mười năm nữa.

 

 

BBT: Ở Thiền đường Hơi Thở Nhẹ (Maison de l’Inspir), sư cô và tăng thân tiếp tục chia sẻ sự thực tập với giới trẻ và các gia đình như thế nào ạ?

GN: Tăng thân ở Thiền đường Hơi Thở Nhẹ đã dấn thân mạnh mẽ và đón tiếp nhiều người trẻ, bao gồm cả các bạn trong tăng thân Wake Up, đến tu học. Trong nhiều năm liền, mỗi hai tuần vào chiều thứ Bảy, tăng thân dành nửa ngày để hướng dẫn tu học cho các gia đình. 

Chúng tôi hướng dẫn cha mẹ học cách tin tưởng vào con cái mình – ngay cả những em rất nhỏ. Chúng tôi để cho các em dẫn thiền hành hay làm thiền trà và thỉnh chuông. Trong lúc thiền hành, cha mẹ sẽ nhắm mắt để con mình dẫn đi. Ai cũng thực sự có mặt trọn vẹn.

Mỗi năm, các cha mẹ còn tự tổ chức một khóa tu 3–5 ngày, cha mẹ và con cái cùng thực tập với nhau.

 

BBT: Sư cô tiếp nối rất đẹp hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm. Sư cô có thể chia sẻ cho chúng con biết điều gì đã truyền cảm hứng cho sư cô trong sự thực tập lắng nghe sâu không ạ?

GN: Phẩm chất này một phần là do di truyền. Mẹ của GN hay lắng nghe người khác. Thỉnh thoảng mẹ hay mang người vô gia cư về nhà. Họ có thể ngủ, tắm rửa và nghỉ ngơi trước khi lại tiếp tục lên đường. Ông bà GN cũng vậy. Lắng nghe sâu là một phẩm chất đã ở trong máu của gia đình, là một phần của cuộc sống gia đình GN rồi. GN không có công lao gì đặc biệt khi lắng nghe như vậy.

Nhưng GN có thể kể một câu chuyện về sự chuyển hóa nhờ vào sự thực tập lắng nghe sâu của tăng thân. 

Một ngày nọ, tại Maison de l’Inspir ở Noisy-le-Grand, có một người đàn ông đến — đi xe mô-tô, người đầy hình xăm, tóc tai rối bời, áo khoác da đen — một rocker chính hiệu. Lúc đó, đâu phải ai cũng có hình xăm như bây giờ! Anh nói: “Tên tôi là François”. Anh lắng nghe pháp thoại, tham dự thiền hành, chia sẻ trong pháp đàm. 

Trong buổi pháp đàm, anh kể mình từng bị bỏ rơi từ nhỏ, sống lang thang, uống rượu từ khi mới lên 10-12 tuổi, rồi nghiện hút. Dù còn rất trẻ, cơ thể anh đã bị tàn phá trầm trọng. Tất cả tăng thân – xuất sĩ và cư sĩ – chỉ ngồi lắng nghe anh. Không ai ngắt lời, không nhận xét, chỉ lắng nghe sâu. Anh nói: “Hôm nay tôi đến đây vì tôi suýt giết người tình của vợ tôi. Tôi đã cầm dao trong tay, sẵn sàng giết hắn – nhưng rồi tôi đã không làm. Tôi nhớ mình đã thấy một cuốn sách có ghi địa chỉ – Noisy-le-grand, Maison de l’inspir – nên tôi đến đây”

Từ hôm đó trở đi, mỗi thứ Năm hàng tuần anh đều đến tham dự ngày Quán niệm, học cách sống, cách lắng nghe, cách thương yêu. Một hôm, anh dẫn con gái đến và nói: “Đây là con gái tôi. Tôi đã xin con tặng tôi một món quà đẹp cho ngày sinh nhật của mình. Con gái tôi nói: ”Điều gì có thể làm cho ba hạnh phúc nhất?”, và tôi nói: “Hãy tặng cho ba một ngày”. Con tôi hỏi ‘ngày nào?’, và tôi đã nói ‘Thứ năm’. Thế là chúng tôi có mặt ở đây. Tôi đến để dành trọn ngày này với con mình”. 

Cùng nhau, trong vòng tay của tăng thân, anh đã sám hối và xin con gái tha thứ. Mọi người đều rơi nước mắt. Thật vô cùng cảm động—nhất là khi biết cuộc đời mà anh đã trải qua. Sau đó, anh cũng làm như vậy với con trai của mình, đưa cậu đến Thiền đường Hơi Thở Nhẹ, để cậu thấy nơi mà cha mình đang nương tựa. Một lần nữa, anh sám hối trước con trai—một chàng trai mười bảy tuổi. Anh đã thay đổi hoàn toàn.

Một ngày nọ, chúng tôi có một nhóm rất nhỏ – chỉ năm người thôi – trong đó có một viên cảnh sát đến để học về bất bạo động và sự định tĩnh. Chúng tôi không hề nói về nghề nghiệp của mình, chỉ giới thiệu tên thôi. Khi đến lượt François, anh nhìn GN với đôi mắt long lanh: 

“Sư cô biết gì không?”

“Không”, GN nói, mỉm cười và khuyến khích anh tiếp tục.

“Tôi đã tìm hết mọi vũ khí có trong nhà”

Ngay lập tức, mặt viên cảnh sát trở nên tái xanh. Có thể anh đang nghĩ “Ôi trời, tôi đang ở đâu thế này?”

François tiếp tục: “Tôi gom tất cả vũ khí trong nhà thành một đống ngay giữa phòng khách – một núi to”. Ta có thể hình dung anh đã mang trong lòng biết bao sợ hãi! 

“Thế anh định làm gì với chúng, François?”, GN hỏi.

Tôi có một ý tưởng, thưa Sư cô Elisabeth. Tôi có một người bạn là thợ rèn. Tôi sẽ mang tất cả tới cho anh ấy. Anh ấy sẽ đúc thành bức tượng của tự do. Không phải tự do ở ngoài kia, mà là tự do ta cảm thấy bên trong mình khi ta thật sự tự do”.

Anh đã ngừng uống rượu, ngừng dùng thuốc, chất kích thích. Anh sống bình an. Anh đã nung chảy hết vũ khí để tạo ra bức tượng của tự do nội tâm.

“Một ý tưởng tuyệt vời, Francois ạ! Anh phải làm thế nhé!”, GN nói. Trong khi đó, gương mặt viên cảnh sát càng tái xanh hơn! 

Rồi anh nhìn GN một cách nghiêm nghị và nói: “Tôi giữ lại một thứ”.

GN cười và nói: “Việc anh buông bỏ hết những thứ khác là rất tuyệt vời rồi. Anh giữ lại thứ gì?”

“Một cái búa – có cán dài – để phòng khi tôi lái xe mô tô mà ai đó tới gần”. Bạn có thể thấy nỗi sợ hãi cũ vẫn đang còn đó.

GN nhẹ nhàng nói: “Anh đã thực hiện một sự hy sinh lớn. Nếu bây giờ anh vẫn cần nó, thì hãy giữ lấy”. Anh sửng sốt.

Giáng sinh đó, GN đang chuẩn bị về thăm mẹ thì thấy anh tới. “Sư cô Elisabeth”, anh nói, “tôi có quà tặng Sư cô!”. Anh đưa GN một vật được gói trong tấm khăn. Đó là cái búa. Anh đã buông bỏ vũ khí cuối cùng của mình, nhờ có tăng thân.

GN nói với anh: “Anh hãy gói lại và đặt lên bàn thờ Bụt trong vòng năm ngày, để nó được tẩy tịnh. Anh dâng lên Bụt và thưa rằng: ‘Đây là vũ khí cuối cùng của con, thưa Bụt’”. 

GN đã kể cho anh nghe câu chuyện về Angulimala. Sau này, anh trở thành nhà làm phim. Anh làm một bộ phim về chính đời mình, trong đó con trai anh đóng vai anh khi còn trẻ – bộ phim rất thành công. Anh rất hạnh phúc. Thật là một sự chuyển hóa kì diệu.

Có rất nhiều trường hợp như thế – hòa giải giữa vợ chồng, giữa bố mẹ và con cái, giữa con người và cuộc đời. Đó chính là bàn tay của Sư Ông vươn ra giúp cho những người đau khổ.

 

BBT: Sư cô muốn nhắn gửi điều gì đến các thành viên trẻ trong dòng tu Tiếp Hiện, để truyền cảm hứng cho các bạn ạ?

GN: Điều đầu tiên: Cuộc đời thật đẹp! Với GN, đó là sự thật.

Điều thứ hai: Các bạn đã chọn con đường đẹp nhất. Hãy nhìn vào mắt GN – đôi mắt tràn đầy yêu thương – các bạn đã chọn con đường đẹp nhất!

Và cuối cùng, ta không thể làm gì trừ khi làm cùng nhau. Cùng nhau, ta có thể làm được mọi thứ. Cùng nhau, ta có thể vượt lên trên mọi khó khăn.



Hạnh môn mở rộng cửa tương lai

Thầy Chân Pháp Ứng

 

Thầy Pháp Ứng xuất gia năm 1993 tại Làng Mai Pháp trong gia đình Con Cá. Vững chãi và thảnh thơi, thầy luôn là nguồn cảm hứng tu học cho cả tăng thân xuất sĩ cũng như cư sĩ. Dưới đây là phần trích từ buổi chia sẻ, tâm tình của thầy với các sư em trong ban biên tập Lá thư Làng Mai. 

 

Gia tài tâm linh

 

Con kính bạch Sư Ông, 

Kính thưa gia đình tâm linh qua nhiều thế hệ, 

Con rất biết ơn và có niềm tin sâu sắc nơi giáo pháp của Đức Thế Tôn — giáo pháp hiện pháp lạc trú mà chư Bụt, chư Tổ đã trao truyền và Sư Ông đã tiếp nối. Đó là cái thấy: Quê hương của mình ở đây; tất cả những gì mình cần đều có sẵn trong tâm. Và tâm thì không bị giới hạn trong thân thể con người này, mà có mặt bàng bạc trong sự sống.

 

Sư Ông đã khai triển mối liên hệ giữa tích môn, bản môn và hạnh môn rất sâu sắc. Con thấy rõ bản môn là nền tảng cho tích môn và hạnh môn; ba bình diện ấy không thể tách rời, chúng liên đới với nhau, tương tức và nâng đỡ nhau.

 

Con cũng rất biết ơn vì từ tuệ giác và kinh nghiệm mà Sư Ông đã chế tác ra những pháp môn rất cụ thể, giúp mình duy trì đời sống tâm linh: sống được với bản môn, chăm sóc được tích môn và dấn thân mà không đánh mất chính mình, không rời quê hương đích thực. Những pháp môn ấy là châu báu, tâm huyết và cốt tủy mà Đức Thế Tôn, chư Tổ và Sư Ông đã trao truyền lại. Nhờ có Bụt, có Tăng và biết bao thế hệ tu tập để mình có được hơi thở – bước chân này hay khả năng ăn cơm, uống trà như vậy. Đó không đơn giản chỉ là những pháp môn phương tiện mà chứa đựng biết bao tình thương và tuệ giác.

 

Con thấy mình rất may mắn khi tiếp nhận được gia tài ấy. Con ý thức rằng mình cần thấy được chiều sâu của những pháp môn tu học để duy trì sự thực tập chánh niệm trong đời sống hằng ngày. Hiện nay, nhu cầu giúp đời rất lớn và cấp bách, nếu mình không biết nuôi dưỡng thì nội lực tu tập sẽ dễ bị hao mòn. Khi đó, mình đánh mất tất cả: bước chân cũng mất, bữa ăn cũng vội, chỉ làm cho xong, rất đáng tiếc. Đó là điểm mà con nghĩ tất cả anh chị em trong tăng thân cần cùng nhau nỗ lực để chúng ta còn được là mình.

 

Trong đời sống, con tìm cách cân bằng ba yếu tố: bản môn, tích môn và hạnh môn. Con cũng ý thức rằng có những lúc mình chạm tới ngưỡng (giới hạn) của mình. Khi đó, con biết là mình cần phải trở về với gốc rễ. Con lạy Bụt, lạy Tổ, lạy Sư Ông để có thêm sức mạnh vượt qua ngưỡng của chính mình và tiếp tục đi tới. Mỗi người trong chúng ta, một mặt cần ý thức được ngưỡng của mình; mặt khác, cũng cần có sự dũng cảm để vượt lên ngưỡng ấy. Hai điều này cần đi đôi với nhau. Giống như một cái cây: có lúc phải đi qua những cơn bão, nhưng chính nhờ vậy mà nó càng cắm rễ sâu hơn, càng nỗ lực bám trụ và tiếp tục đi tới.

 

Đối với con, đời tu là một quá trình đòi hỏi mình phải nỗ lực từng ngày. Con nhớ Sư Ông từng dùng những hình ảnh về đời sống của Bụt để căn dặn chúng con: Thành đạo rồi, Bụt vẫn tiếp tục tu, chứ không dừng lại. Và Bụt bây giờ cũng đang tiếp tục tu với mình.

 

Mình có trong nhau, mình là nhau

 

Với năm tháng tu học, dần dần trong con xuất hiện một nhận thức mới: chuyện giải thoát, chuyện thành công, chuyện phụng sự đều được đặt trên nền tảng là mình vốn đã ổn rồi. Nó lạ như vậy đó! Nó đặt trên nền tảng của đã về, đã tới, của hiện pháp lạc trú, của không tranh cầu, không tranh chấp, không phải cố gắng để trở thành, kể cả trong phụng sự.

 

Khi đó, chuyện giải thoát không còn là chuyện giải thoát cá nhân nữa. Trong tâm thức cộng đồng hiện nay, ý niệm về thành công và giải thoát cá nhân rất mạnh: mình phải đạt cái này, mình phải chuyển hóa cái kia, mình phải. Trong cái “mình” đó đã có sẵn ý niệm về một cái ngã riêng biệt, và đó là một trong những bức tường ngăn cản sự cộng tác, phối hợp, làm thành một thân thể chung. Khi mình chuyển được nhận thức ấy — rằng mình vốn là nhau, mình vốn là sự sống mầu nhiệm, mình có mặt ở đây để hiến tặng tình thương — thì khởi điểm đã khác hẳn. Mình có mặt để nuôi dưỡng và trị liệu, chứ không đặt thêm một mục đích nào khác ngoài những điều đó. 

 

Nhìn Sư Ông, chúng ta thấy Sư Ông làm không biết bao nhiêu việc trong đời mà vẫn thảnh thơi và tự do. Nếu mỗi cá nhân trong chúng ta có được điều đó, thì khi đến với nhau, mọi thứ sẽ rất khác: năng lượng rất nuôi dưỡng, rất hòa thuận. Cái gì cũng có thể làm được, cứ làm là thành công. Con đường Sư Ông đã mở rất rõ rồi. Bây giờ là lúc chúng ta bước tới, thực hiện và tạo cảm hứng cho nhau. Tất cả bắt đầu từ nhận thức. Rồi khi đi vào thực tế, mình bắt tay làm với tất cả sự thực tâm, có va chạm mình mới học được, như viên ngọc được mài dũa mà sáng; hay như bó đũa nhờ chà xát vào nhau mà sạch.

 

Ý thức mình là một gia đình với nhau rất quan trọng, nhất là trong những lúc khó khăn, va chạm — những va chạm có thể tạo ra vết thương dù mình không hề muốn. Chung cuộc, nếu mình lấy tình huynh đệ, tình thương và ước muốn đưa nhau đi tới làm nền tảng thì mọi chuyện sẽ ổn. Còn không, mình mất nhau rất dễ. 

 

Có những niềm đau mang tính bổ ích: Như cái cây muốn lớn lên, thân nó có lúc phải nứt ra. Nó đau chứ. Về phương diện tâm linh cũng vậy: có lúc rất đau để mà lớn. Vì vậy, mình cần phải ý thức khả năng tiếp nhận niềm đau của huynh đệ mình tới đâu. Sự thật lòng của mình cần được kết nối với huynh đệ. Giúp được huynh đệ thì cũng là giúp được mình; còn không giúp được huynh đệ thì mình cũng buồn thôi, vì mình là một với nhau.

 

Có những lúc mình phải dũng cảm “ra chiêu”, nhưng không phải để đối đầu mà xuất phát từ tình thương; muốn huynh đệ hiểu và thoát ra khỏi vòng lặp khổ đau. Bởi vì mình hiểu rằng chuyện của một huynh đệ không phải là chuyện riêng của người đó, mà liên hệ tới cả tăng thân. Khi phải dùng tới những cách mạnh thì cần nội lực, tình thương, tuệ giác và cả phước đức nữa. Việc này đòi hỏi rất nhiều sự cân nhắc, sự hiểu biết tâm lý của huynh đệ, và cả sự cầu nguyện — cầu nguyện Bụt Tổ, cầu nguyện Sư Ông gia hộ, độ trì giúp cho mỗi người đi qua được giai đoạn khó khăn đó. 

 

Cùng nhau đi tới

 

Sống trong tăng thân, mỗi người đều có cái thấy riêng; vì vậy mình cần lắng nghe nhau, phối hợp ý và phối hợp cái nhìn để có được sự hòa thuận, đi tới những quyết định chín chắn, và giúp tăng thân đi như một dòng sông. Đó là một bài học mà con nghĩ ai trong tăng thân cũng đang học và tiếp tục học. Riêng bản thân con, con thấy mình học hỏi được rất nhiều.

 

Trước đây, con rất ngại va chạm. Con hay có khuynh hướng: “Thôi, hòa cho yên, mệt lắm!”.  Nhưng con học được rằng, nếu thấy và biết rõ điều gì cần nói mà chỉ vì ngại, không nói ra, thì vô tình lại tạo thêm vết thương và dễ gây chia rẽ. Lời nói của mình có thể đụng chạm người này vì không như ý họ, đụng chạm người khác vì không như ý người kia, nhưng con chấp nhận điều đó. Vì vậy, dù cho sẽ đụng chạm và khó đến mấy, con cũng ráng nói, với ước nguyện duy nhất là để mang lại hòa thuận, chứ không phải hơn thua, không phải vì quyền lực hay muốn tranh chấp. Nhiệm vụ của mình là ôm mọi người vào lòng và đặt ưu tiên cho sự hòa thuận. Và một khi chia sẻ xong, về phương diện cá nhân, có thể con và người nào đó sẽ không thoải mái; nhưng về phương diện đại chúng, con ý thức rằng mình đã làm hết phần của mình đối với tăng thân và đối với Sư Ông. Những gì xảy ra tiếp theo tùy rất nhiều nhân duyên và con tôn trọng cái thấy của mọi người. 

 

Con hiểu rằng mỗi người đều đã làm hết sức mình vì lợi ích chung, chứ không phải vì lợi ích riêng. Những va chạm, sứt mẻ có thể đến từ những góc nhìn khác nhau. Tuy vậy, sau tất cả, chúng ta vẫn có thể ôm nhau khóc bởi tình anh em đâu phải có được trong ngày một, ngày hai mà được xây dựng qua năm tháng, qua cách sống, cách chơi và cái hiểu về nhau. Vì vậy, trong những giây phút đó, con chọn đặt Sư Ông và đại chúng lên trên, nhưng cũng đồng thời không chọn đối đầu. Con học được bài học rằng khi đối đầu, cho dù nghĩ là mình đúng thì bản thân cũng mệt, người khác cũng mệt và Sư Ông cũng mệt. Rốt cuộc, kết quả có thể thế này hay thế kia, nhưng lại dễ tạo nên sự đổ vỡ trong lòng mỗi người.

 

Là một người sống trong chúng khá lâu, con ý thức rằng mình cần phải rất cẩn trọng với tiếng nói của mình. Tiếng nói ấy có thể được tiếp nhận như tiếng nói của một thành viên trong chúng đang góp ý, nhưng cũng có thể được tiếp nhận như là từ trên dạy xuống, và khi đó sẽ có phản ứng. Hoặc tiếng nói của mình được tiếp nhận theo kiểu ‘thầy đã nói như vậy rồi’, thì không còn không gian cho mọi người chia sẻ nữa. Vì vậy, con không lấy quyền của một thầy lớn để buộc chúng đi theo một hướng. Con chỉ chia sẻ: “Đây là trách nhiệm và cái thấy của con. Con trình bày như vậy thôi nhưng xin tùy thuộc vào đại chúng”. Sư Ông cũng từng nói: “Đây là ý của thầy, nhưng thầy cũng nương tựa vào cái thấy chung của đại chúng”.

 

Con thấy mình cần thực tập và học hỏi, nhất là trong những trường hợp tự thân đang không ổn, trong lòng có nhiều cảm xúc và rất muốn chia sẻ. Khi đó, lời nói của mình có thể trở nên mạnh, dễ bị cho là áp đặt. Nếu cách nói ấy tạo ra một năng lượng không hài hòa, không bình an thì dễ khiến các anh em phản ứng lại. Điều con học được là mình vẫn tập nói, vẫn cùng một ý đó, nhưng nhẹ lại và kết thúc rằng mình nương tựa vào cái thấy của chúng. Đó là những bài học con mang theo, những kinh nghiệm con đã đi qua và vẫn đang thực tập mỗi ngày.

 

Nguyện lực 

 

Con thấy mình rất may mắn khi có một vị thầy như Sư Ông. Sư Ông có khả năng tiếp nối dòng chảy chánh tông của Bụt và chư Tổ, đồng thời làm mới, làm giàu và làm phát triển đạo Bụt. Đó là một gia tài vô cùng quý báu. Chính vì vậy, con nghĩ là tăng thân xuất sĩ cần có những cơ hội đào sâu vào sự thực tập. Nếu không, từ từ mình sẽ đánh mất cái gốc và chỉ còn chia sẻ cái ngọn. Bản thân mỗi người cần tự xác định là mình đang ở đâu; cần đào sâu chỗ nào và thực tập thêm điều gì. Bởi vì hiểu thôi thì chưa đủ. Văn – tư – tu là một hành trình phải thật sự dành thời gian áp dụng, chuyển hóa, để có thực chứng rồi mới chia sẻ được. Khi đó, sự chia sẻ mới đi từ bên trong, từ trái tim đi ra, và mới tiếp nối được Sư Ông, chư Tổ và Đức Thế Tôn. 

 

Con thấy mình như một con rùa: cứ đi chậm chậm, chậm tiêu, mãi tới bây giờ mới hiểu được một chút. Thành ra con mong là mỗi người trong chúng ta đều dấn thân vào chánh pháp. Dấn thân vào công việc hiến tặng thì tăng thân mình đã giỏi rồi, nhưng dấn thân vào chánh pháp mới là cái cốt lõi. Nếu không có chánh pháp thì mình không có nơi nương tựa, cũng không có gì thật sự để cống hiến. Nội lực tu sẽ bị phai mòn, và nếu không khéo thì mình dễ lệch hướng sang danh, lợi,… và đủ thứ trên đời. 

 

Nhìn vào tiến trình tiến hóa của con người và Trái Đất, con thấy tới giai đoạn này, khổ đau ngập tràn khắp nơi. Sư Ông có khả năng gánh được tất cả những khổ đau ấy bằng nguyện lực, sự không sợ hãi, và bằng cả tăng thân. Nếu chúng ta muốn tiếp nối Sư Ông thì mỗi người cần phát khởi nguyện lực để gánh khổ đau — gánh bằng nội lực, bằng không sợ hãi, không tuyệt vọng. Tuy khổ đau không hề ít nhưng, nếu chúng ta gánh chung thì sẽ nhẹ hơn.

 

Tuệ giác đó, Sư Ông đã trao truyền rất rõ: Cái thấy của bản môn chăm sóc được tích môn, rồi từ đó đưa tới hành động. Thành ra, nguyện lực của chúng ta chính là thấy được vai trò và trách nhiệm của mỗi người trong thời đại này và bước tới.

 

Vượt qua sự tuyệt vọng

Cảm giác tuyệt vọng, chán nản, bất lực thường phát sinh khi số lượng khổ đau và thử thách vượt quá ngưỡng giới hạn, quá sức của ta. Khi đó, chúng ta muốn vượt qua cái ngưỡng đó, muốn có thêm sức để đi tiếp. 

Yếu tố đầu tiên trong sự thực tập mà con đã chia sẻ là quay về với cội nguồn của mình: trở về nương tựa, cầu nguyện và mong được tiếp sức.

Yếu tố thứ hai là mình mở cánh cửa của ngưỡng đó. Cái ngưỡng này không cố định và có thể được mở rộng bằng cái thấy của mình. Giống như trong Tứ diệu đế: Khi thấy rõ vấn đề, mình không còn cảm thấy tuyệt vọng. Mình cần có tuệ giác. Mà tuệ giác thì không phải của riêng mình. Việc thực tập, giúp người giúp đời là một quá trình trao truyền và tiếp nối qua không biết bao nhiêu thế hệ. Khi thấy được điều đó, mình không còn thấy đơn độc nữa. Nhờ vậy mà mình đi tới.

Một yếu tố rất quan trọng nữa là khả năng buông. Khổ đau, thử thách có khi trở thành một ngục tù giam hãm mình. Nhưng nhờ sự thực tập hằng ngày — hơi thở, bước chân, trở về với sự sống, với giây phút hiện tại — mà cánh cửa đó được mở ra. Mình không chối từ khổ đau, cũng không đánh phá khổ đau, mà mình ý thức là mình lớn hơn khổ đau đó. Nhờ vào khả năng an trú, mình vẫn có thể nuôi dưỡng mình.

 

Mình nhìn khổ đau theo phương pháp Tứ diệu đế, thấy được gốc rễ của nó để biết mình có thể làm gì. Có khi mình cần phải sống với khổ đau đó, chứ không phải lúc nào cũng có thể chuyển hóa hoàn toàn. Giống như sống với một căn bệnh mãn tính: Nếu thấy rằng vẫn làm được phần cần làm, tức là mình có khả năng thương được khổ đau đó, thoát ra khỏi ngục tù của khổ đau, thì như vậy là được rồi. Khi đó, mình không còn bị trấn ngự bởi tâm hành tuyệt vọng, chán nản hay bất lực.

 

Con có niềm tin vào sự sống. Sự sống mầu nhiệm và kiên cường lắm! Sự sống không chỉ bắt đầu với con người hay với hình hài này, mà là một mạng lưới nhân duyên chằng chịt, trùng trùng duyên khởi. Cho nên, dù khổ đau tràn lấp, sự sống luôn biểu hiện những điều mầu nhiệm, có khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc và giúp vượt thoát khổ đau. Sự sống cũng có những sự hộ niệm vượt ngoài trí năng và tính toán của mình: Đó là những điều thuộc về bản môn, thuộc về tàng thức, thuộc về tổ tiên và thuộc về sự sống.

 

Riêng như vậy thôi là con đã thấy mình có phước mới tiếp cận được nguồn năng lượng ấy của sự sống. Sư Ông dạy: “Để Bụt thở, để Bụt lo”, mà bây giờ con mới bắt đầu hiểu. Nếu thoát ra được ý niệm về một cái ngã riêng biệt — một cái ngã phải đối đầu với rất nhiều khổ đau —  tức là mình mở được cánh cửa tương tức, cánh cửa của Không, thì không còn cái ngã đó nữa. Còn nếu mình cứ bị giam trong ý niệm về ngã, thì mệt lắm. Cái ngã đó là một trong những nguồn gốc chính của khổ đau, thâm căn cố đế cho nên mình phải tu.

 

Khổ đau có đó nhưng cách tiếp nhận và tiếp cận khổ đau là do mình. Có tuệ giác thì nó nhẹ ra, còn không có tuệ giác thì mình lại bắn thêm nhiều mũi tên vào khổ đau đó, khiến nó nặng thêm.

 

Điều may mắn lớn của chúng ta là Sư Ông đã gầy dựng tăng thân. Cùng một khổ đau nhưng có tăng thân thì khác; mà “một mình một ngựa” lại khác. Trong đời sống hằng ngày, nếu mình biết đầu tư vào tăng thân, nương tựa tăng thân thì chính những vốn liếng đó sẽ cứu mình, giúp mình không bỏ cuộc.

 

Mây trắng thong dong

 

Con xin kết thúc chia sẻ của mình bằng một bài thơ đi lên trong con khi Sư Ông gần viên tịch: 

Mây trắng thong dong tự thuở nào

Vào ra sinh tử lẽ tất nhiên 

Không nắm không buông thường tự tại

Đã về đã tới 

Bây giờ ở đây.

 

Khoá tu trực tuyến ''Lắng dịu tâm sợ hãi''

TÔN TRỌNG VÀ BẢO VỆ SỰ SỐNG

“Chúng ta đang sống trong một xã hội còn nhiều bạo động. Bạo động có thể xảy ra ngoài đường phố, trong gia đình, hoặc chỉ cần mở màn hình điện thoại hay bật tivi lên là ta đã tiếp xúc ngay với những tin tức ấy.

Những điều ta nghe, ta thấy và ta đọc có thể gieo vào trong tâm những hạt giống của sợ hãi, hận thù, kỳ thị và bạo động — mà nhiều khi ta không hề hay biết.

Vì vậy, đối với một người thực tập thiền quán, thách thức là làm sao có đủ chánh niệm và tỉnh thức để nhận ra khi những hạt giống ấy đang được tưới tẩm trong tâm. Ta có thể nhận ra được những hành động tưởng chừng nhỏ nhặt trong đời sống hằng ngày của mình — những hành động ấy có thể đang góp phần nuôi dưỡng chiến tranh hay không?

Chúng ta có đang tham dự vào, hoặc đang được hưởng lợi từ, những hệ thống được xây dựng trên bạo động hay không? Ta cần thay đổi điều gì trong cách sống của mình để góp phần xây dựng một nền văn hóa công bằng và có khả năng nuôi dưỡng sự sống — một nền văn hóa biết tôn trọng mọi người và mọi loài?

Sự tôn trọng bắt đầu từ những điều rất căn bản, từ chí hướng nuôi dưỡng tâm không bạo động trong đời sống hằng ngày.

Khi Làng Mai bắt đầu tổ chức những khóa tu trực tuyến vào năm 2020, chúng tôi đã mời các thiền sinh tạo ra một góc nhỏ thiêng liêng trong ngôi nhà của mình, nơi mà họ có thể trở về ngồi yên, lắng dịu thân tâm, nghe pháp thoại, hay ngồi thiền.

Trong thời gian đại dịch, Làng Mai không thể mở cửa đón mọi người tới thực tập. Nhưng chúng tôi vẫn có thể giúp thiền sinh tạo nên một không gian thiêng liêng và nuôi dưỡng ngay trong ngôi nhà hay nơi họ đang ở

Không gian ấy đã trở thành một phần của sự thực tập — một nơi giúp tưới tẩm và nuôi dưỡng những hạt giống bình an và thương yêu tôn trọng ngay trong tâm thức mỗi người.

Bạn có thể đặt vài bông hoa, một cây nến, hoặc một nén hương. Cũng có thể đặt vào đó những món quà nho nhỏ của Mẹ thiên nhiên như một viên sỏi, hay một chiếc lá mùa thu.

Cũng thật đẹp nếu như ta đặt vào góc nhỏ tâm linh ấy vài tấm hình của những người truyền cảm hứng cho ta, hay bức hình của ông bà tổ tiên,

hoặc hình của những nơi chốn mà có ý nghĩa đặc biệt trong lòng ta. Mỗi khi ta cần tiếp thêm hy vọng và chắp cánh ước mơ; hoặc chỉ đơn giản là một nơi để ta thoả lòng được khóc.

Một góc nhỏ như thế có thể giúp ta lắng dịu và chạm tới những gì thiêng liêng và sâu sắc ngay trong đời sống của mình.”

Đoạn chia sẻ trên viết bởi sư cô Hiến Nghiêm và được trích từ cuốn sách “Zen and the Art of Saving the Planet”.

Những lời nhắc nhở rất giản dị nhưng sâu sắc này giúp chúng ta trở về quán chiếu đời sống của mình, để nuôi dưỡng lòng biết ơn và thực tập tâm thương yêu, bất bạo động.

Nhân đây, chúng con cũng xin chia sẻ niềm vui nho nhỏ với đại chúng: Đầu năm nay 2026,

Xóm Hạ- Lang Mai mới tổ chức khóa tu trực tuyến “Lắng Dịu Tâm Sợ Hãi – Calming the Fearful Mind”, dù đại dịch đã kết thúc từ lâu nhưng với mong muốn giúp nhiều người khắp nơi được tiếp cận pháp môn và thực tập ngay trong không gian nhà mình. Khóa tu quy tụ hơn 721 thiền sinh từ nhiều quốc gia tham dự với 3 ngôn ngữ là tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha, trong đó 250 người nhận 5 giới tân tu để thực tập.

Hy vọng rằng chúng ta tự nhắc nhở nhau để tiếp tục chăm sóc đời sống tâm linh của mình, và cùng nhau nuôi dưỡng một nếp sống có hiểu biết, có từ bi, biết trân quý và bảo hộ sự sống trên hành tinh này.

Giới thiệu sách mới “Ngày xuân bói Kiều”

Truyện Kiều: Thi hào Nguyễn Du – Chọn quẻ: Sư Ông Làng Mai

 
 
 

Ngày xuân bói một quẻ Kiều không phải để đoán đúng sai, mà để thấy rõ: mình đang gieo gì và muốn gặt gì. Mỗi quẻ như một tấm gương hiền nhắc mình điều cần giữ, điều cần buông, và một “nhân” nhỏ để bắt đầu lại. Rồi từ đó, năm mới không chỉ là lời chúc, mà là một hướng sống: vững vàng hơn, an lành hơn.

Bộ thẻ “Ngày xuân Bói Kiều” kèm sách hướng dẫn là một nghi thức nhỏ: rút thẻ – đọc chậm – lắng nghe… để mình biết cách sống và tu tập thế nào cho hạnh phúc trong năm mới.

  • 210 quẻ Kiều, mỗi thẻ 2 câu lục bát

  • Gợi mở theo tinh thần nhân – quả (nhân là lời khuyên, quả là điều đang/điều mong)

  • Lời đoán hướng đến an ủi, khuyến khích và soi sáng

Bói Kiều tại Làng Mai được làm mới như một sinh hoạt văn hoá ngày Tết, giàu tính nuôi dưỡng và chuyển hoá.

 
Xin truy cập vào đường link dưới đây để biết thêm thông tin đặt sách: 
 

https://go.thaihabooks.com/ngay-xuan-boi-kieu

Giếng nước thơm trong