Khoá tu nấu ăn "Thưởng Thức Cuộc Sống" tại xóm Mới năm 2025

   “Thưởng Thức Cuộc Sống – Savor Life” là chủ đề của khoá tu nấu ăn trong chánh niệm năm nay diễn ra từ ngày 26.09 – 03.10.2025 tại xóm Mới đã thu hút hơn 120 vị thiền sinh đến tham dự. Mặc dù với chủ đề về nấu ăn nhưng các vị thiền sinh không chỉ đã được học cách nấu những món ăn ngon, học cách chế tác niềm vui trong khi làm bếp mà còn là những sự thực tập cần thiết, học cách đem chánh niệm, lòng biết ơn, sự có mặt trọn vẹn trong từng khoảnh khắc để tạo nên một đời sống lành mạnh, hạnh phúc cho bản thân, gia đình và xã hội.

Dưới đây là một vài khoảnh khắc được ghi lại: Một tuần trọn vẹn với sự thực tập chánh niệm, trong một năng lượng cộng đồng tràn đầy niềm vui, sáng tạo và mỗi khoảnh khắc đều là một lời mời gọi sống chậm lại, kết nối và trân trọng sự sống.  Kính mời đại chúng cùng thưởng thức và tận hưởng những niềm vui từ khoá tu:

 

 

Ngày Tiếp nối của Thầy – Viết tiếp giấc mơ Thầy

(Tường thuật ngày Tiếp nối của Thầy, 11 tháng 10 năm 2025, tại Làng Mai Pháp và Diệu Trạm – chùa Tổ)

Gió thu khẽ lùa qua những hàng cây, mang theo hơi lạnh đầu mùa. Màu vàng, màu đỏ, màu cam dần xuất hiện trên những tán lá xanh, như lời nhắn rằng đất trời đang chuyển mình. Trong tiết thu ấy, tất cả những người đệ tử – xuất gia cũng như tại gia – đều hướng về Thầy, nhân Ngày Tiếp Nối của Người.

Trước đây, Thầy chưa từng quen với việc được tổ chức sinh nhật. Thế nhưng, đứa con nào của Thầy cũng đều mong được có mặt bên Thầy trong ngày đặc biệt ấy. Vì vậy, Tăng thân đã âm thầm tổ chức Ngày Tiếp Nối cho Thầy lần đầu tiên khi Người tròn 80 tuổi vào năm 2006. Từ đó, Ngày Tiếp Nối của Thầy đã trở thành một dịp để Thầy trò được quây quần bên nhau, cùng tận hưởng những phút giây ấm áp của tình thầy trò và tình huynh đệ. Đó cũng là những khoảnh khắc mà chúng con luôn thầm hỏi:  “Chúng con đã tiếp nối Thầy như thế nào trong đời sống của mình?”

 

 

Chúng con cùng ngồi lại kể cho nhau nghe những kỷ niệm về Thầy. Ân tình Thầy trao đã thấm nhuần nơi mảnh đất tâm của chúng con, nuôi lớn thêm sắt son và bền bỉ chí nguyện độ đời và những bàn tay phụng sự. Mỗi mẩu chuyện là một gia tài vô giá, nhất là với những sư em chưa từng có cơ hội gần Thầy. Từ những tình cảm chân thành, ấm áp của các sư cha, sư mẹ, sư anh, sư chị dành cho Thầy mà các em tiếp xúc được với hình dáng Người rõ nét hơn. Như ngày xưa, Thầy đã kể cho chúng con nghe về Sư Cố, về chùa Tổ để hàng con cháu chúng con tiếp xúc được với gốc rễ của mình.

Thầy đang thở bằng hai lá phổi của con
Thầy đang đi bằng đôi chân của con

Từng bước chân thiền hành trở nên cẩn trọng, chậm rãi và trọn vẹn. Chúng con thật hạnh phúc vì luôn có Thầy đồng hành, đưa đường dẫn lối trong đời sống tâm linh. Chỉ cần bước một bước chân chánh niệm, chúng con biết Thầy đang có mặt trong con, rằng:“Thầy chưa bao giờ bỏ mặc con đâu.”

Tất cả hoa trái của sự thực tập là món quà quý báu nhất mà chúng con dâng lên Thầy. Và Thầy đang mỉm cười khi thấy chúng con – tương lai của Thầy – đang cùng đi như một dòng sông, có  hòa hợp và thương yêu.

Ở chốn Tổ, nhớ về một giai đoạn trong cuộc đời Thầy, Tăng thân Từ Hiếu – Diệu Trạm đã cùng tìm hiểu những ngày ban sơ của Làng qua vở kịch “Làng Hồng ở đâu?” trong không khí thân tình và ấm áp với sự có mặt của Chư Tôn Đức: Hòa thượng trước Giác sau Quang (Trú trì Tổ đình Bảo Lâm), Thượng tọa trước Từ sau Đạo (Giám tự Tổ đình Từ Hiếu), Ni trưởng trước Như sau Minh (Trú trì chùa Pháp Hỷ), Ni trưởng trước Diệu sau Đạt (Trú trì chùa Đông Thuyền), Ni trưởng trước Từ sau Nhu (Trú trì chùa Từ Đức). Quý ngài là những tấm lòng tri kỷ của Thầy và cũng là những bàn tay che chở yêu thương cho tất cả chúng con.

Những dòng chia sẻ và cảm nhận của các sư em Diệu Trạm sau khi có mặt trong buổi sinh hoạt mừng Ngày Tiếp Nối của Thầy đã nuôi dưỡng chúng con rất nhiều.

“Năm nay, với mong ước được tiếp nối công trình xây dựng Tăng thân của Sư Ông, chúng con đã cùng tìm về gốc rễ của Làng Mai, về những ngày đầu thành lập Làng. Những câu chuyện nhỏ đã được chúng con khám phá và góp nhặt từ những cuốn sách, bài giảng và tài liệu thời đó như: Phép lạ của sự tỉnh thức, Tý – Cây tre triệu đốt & Chiếc lá ổi non, Tuổi trẻ, tình yêu & lý tưởng, Tương lai văn hóa Việt Nam, Về Việt Nam, Lá thư Làng Hồng,… Tất cả tạo cho chúng con rất nhiều hứng thú để tái hiện lại khung cảnh Làng Hồng.

Trong bài pháp thoại chủ đề “Về Việt Nam” tại Làng Hồng, Sư Ông từng dạy: “Nếu chưa tiếp xúc được với gốc rễ, căn cước và bản sắc của ta thì ta vẫn còn cảm giác bơ vơ lạc lõng và vẫn còn lận đận đi tìm một quê hương để về”. Chúng con đã mượn câu chuyện có thật của Châu Như Sa – sư em Chân Bổn Hạnh – người Đức gốc Việt để qua đó thể hiện giấc mơ của Sư Ông về việc xây dựng một quê hương tâm linh cho người con Việt Nam xa xứ trở về nương tựa. Làng Hồng thuở đó đã có những sinh hoạt hướng về tâm linh và dân tộc giúp cho người lớn và đặc biệt là các em thiếu nhi được tiếp xúc, bồi đắp và gìn giữ gốc rễ văn hóa Việt Nam của mình. Vì vậy, lớp học văn hóa thiếu nhi, các buổi lễ Mừng Trăng Lên, lễ Cúng Gia Tiên được sống lại với trọn vẹn nguồn gốc và ý nghĩa qua các hoạt cảnh ngày hôm ấy.

 

 

Đại chúng hòa vào không khí Làng Hồng năm 1986. Mọi người cùng cười rộ lên khi nghe tiếng rao hàng của “cô Chín” ở quán Cây Sồi, khi những thiếu nhi như “Tý ba chỏm” cùng Miêu, Trang, Thơ,… xuất hiện trên sân khấu. Nhiều người đã xúc động khi nghe lời khấn nguyện của Bác Cả cùng hình ảnh những người dân Làng đồng loạt lạy xuống trước bàn thờ Tổ Tiên. Và không ít giọt nước mắt đồng cảm của những bạn trẻ thấy hình bóng mình trong những xung đột, chấp nhận và chuyển hóa của Như Sa.

Để từ đó, hành trình trở về không phải chỉ dành riêng cho những người con xa quê hương, dân tộc mà còn dành cho cả những con người đang bơ vơ trong những cuộc kiếm tìm, tìm về nhà, tìm về nơi mình cảm thấy an toàn, nơi mình không còn có cảm giác là một đứa con đi hoang nữa. Chỉ từ giấc mơ bình dị ban đầu, Làng Hồng đã như đóa bồ công anh bay xa với những cánh dù tinh khôi. Làng Hồng đã lên đường và hóa thân trở thành rất nhiều mảnh đất thân thương mà nơi đó mọi người có thể trở về để tìm lại chính mình, để chuyển hóa khổ đau và chế tác hạnh phúc. Làng Hồng đang có mặt ở nơi đây, ngay giờ phút này.

 “Chúng con rất hạnh phúc vì sáng hôm đó có sự hiện diện của Chư Tôn Đức – quý ngài đã luôn có mặt, hộ trì và làm nơi nương tựa cho chúng con, để chúng con có thể bước tiếp được con đường mà Sư Ông đã khai sáng. Chư Tôn Đức đã kể cho chúng con nghe những câu chuyện ấm áp ngày xưa với Sư Ông, nhắc lại những lời dạy sâu sắc của Sư Ông và dạy chúng con phải biết tiếp nhận và làm giàu thêm những vốn liếng ấy. “Sư Ông ở trong chính quý vị”- khắc ghi lời dạy ấy, chúng con xin nguyện tu học và thực tập cho đàng hoàng, nguyện cùng nhau nuôi dưỡng niềm tin và hạnh phúc, nguyện tiếp nối con đường của Sư Ông để có thể làm nơi trở về cho nhiều người. Chúng con kính cầu nguyện Chư Tôn Đức có thật nhiều sức khỏe và bình an, có mặt lâu dài với chúng con, để làm nơi nương tựa cho chúng con và cho muôn người.

 “Để có được không khí ngày Tiếp Nối Sư Ông hôm đó, các sư chị sư em chúng con đã cùng chơi và làm việc với nhau trong suốt nhiều ngày. Chúng con ai cũng muốn được dâng lên Sư Ông những bông hoa thơm thảo nhất. Tình thương của quý sư mẹ dành cho Sư Ông đã truyền cho chúng con rất nhiều cảm hứng và niềm vui trong khi chuẩn bị. Thiền đường Hương Cau đã chứa đựng một Làng Hồng thu nhỏ. Bất kỳ ai có kỷ niệm với Làng Hồng, hay đã từng nhìn thấy tấm ảnh có bảng tên “Làng Hồng – Xóm Hạ” đều xúc động khi bước vào thiền đường trong những ngày ấy. Mô hình “Sư Ông và thiếu nhi” là một nét đặc biệt khi được tạo nên từ những chiếc lá đầu thu khắp núi đồi Dương Xuân. Sắc vàng, sắc nâu mộc mạc của những chiếc lá đùng đình, lá sen, lá tre, lá mít, vỏ thông,… đã được những bàn tay khéo léo của các sư chị, sư em vẽ thành một bức tranh hài hòa, thân thương. Bên một góc nhỏ, bộ ảnh “Thức dậy giữa Làng Hồng” đã có thể giúp đại chúng về đặt chân lên những con đường thiền hành cũng như cảm nhận được năng lượng sinh hoạt đầy thanh tịnh và an lạc của dân Làng. Không còn khoảng cách không gian và thời gian, tất cả mọi người như đang thực sự có mặt nơi Làng Hồng.”

Thầy kính thương, giờ phút này lòng chúng con ngập tràn hạnh phúc và biết ơn khi chúng con đang được che chở trong vòng tay của Thầy và Tăng thân. Chúng con là sự tiếp nối của giấc mơ làng Hồng và cũng là tương lai của giấc mơ ấy. Chúng con đang thở cho Thầy, chúng con như đang cảm nhận Thầy đang ân cần đặt bàn tay của Thầy vào trong bàn tay nhỏ bé của chúng con, như một sự tin cậy, như một lời gửi gắm và hộ trì. Chúng con sẽ bước tiếp con đường này, dù còn nhiều vụng về yếu kém, nhưng làm chung với nhau, chúng con tin rằng mình có thể đem Thầy đi về tương lai.

“Mình sẽ cùng nhau trăm ngàn đời nữa

Thành ngân hà sáng ngời giữa không gian

Còn gì cao quý hơn tình yêu ấy

Cùng trời cuối đất rọi khắp mọi nơi

Chiều chiều sớm sớm muối dưa chay lòng

Thầy mãi cùng con mơ giấc Đại Đồng.”

(Thầy mãi cùng con mơ giấc đại đồng –  Chân Pháp Cẩn).



Lắng nghe tiếng gọi của Đất Mẹ

(Trích từ chương “Trái đất là một vị Bồ Tát” trong  sách Tâm tình với đất Mẹ của Thiền sư Thích Nhất Hạnh)

Mặt trời là một pháp, hành tinh trái đất cũng là một pháp. Nếu mặt trời là một vị Bồ tát thì hành tinh của chúng ta cũng là một vị Bồ tát, Đất Mẹ là một vị Bồ tát. Là những người hành trì, chúng ta phải bắt đầu nhìn trái đất như một vị Bồ tát, một vị Bồ tát rất xinh đẹp. Các nhà khoa học đã dùng kính viễn vọng để tìm kiếm, nhưng cho tới nay họ chưa tìm được một hành tinh nào xinh đẹp như trái đất. Chiếc áo khoác lên người của Đất Mẹ là một chiếc áo rất xinh đẹp, chiếc áo có màu xanh của đại dương, màu xanh của cây cỏ. Nhìn cho kỹ, ta thấy có biết bao nhiêu mầu nhiệm biểu hiện trên mặt đất, trong đó có con người. Con người tự hào mình giỏi về toán học, nhưng khi nhìn một cánh hoa anh đào hay nhìn một vỏ ốc thì con người phải cúi đầu khâm phục. Phải rất giỏi toán mình mới làm ra được một cánh hoa anh đào hay một vỏ ốc như vậy. Muốn xây một ngôi nhà hay một cây cầu vững chãi, chúng ta phải nhờ kiến thức của toán học. Đất Mẹ cũng là một nhà toán học tài tình, đã tạo ra những cái rất mầu nhiệm.

Những nhạc sĩ đã tạo ra những bản nhạc rất hào hùng. Nhưng nếu lắng nghe tiếng hải triều, tiếng gió, tiếng chim, tiếng thông reo thì chúng ta sẽ thấy rằng Bồ tát Thanh Lương Địa của chúng ta là một nhạc sĩ rất tài tình. Không bản nhạc nào hào hùng hơn bản nhạc của đất trời, của mưa, của gió, của hải triều sớm tối. Các họa sĩ đã sáng tạo ra những bức tranh thật tuyệt vời, nhưng không họa sĩ nào có thể sáng tạo ra những bức tranh tuyệt vời như Đất Mẹ. Buổi sáng khi mặt trời lên, đứng trên núi nhìn xuống, chúng ta thấy bức tranh mà trái đất thực hiện đẹp hơn những bức tranh của con người rất nhiều.
 
 
Không hẳn chỉ con người mới được gọi là Mẹ. Ta có thể nhìn trái đất như một vị Bồ tát, gọi là Bồ tát Thanh Lương Đại Địa. Ta có thể chắp tay lại niệm: Nam mô Bồ tát Thanh Lương Đại Địa. Vị Bồ tát này là Mẹ của muôn loài, có khả năng chuyên chở, nuôi dưỡng và trị liệu. Mỗi khi đau ốm, ta đánh mất mình thì ta phải trở lại với bà Mẹ này để được nuôi dưỡng, trị liệu. Vì vậy, thiền hành là một phương pháp thực tập rất hay để chúng ta có thể trở về tìm sự nuôi dưỡng và trị liệu từ Đất Mẹ. Tuy không mang hình thức của một con người, nhưng Đất Mẹ đích thực là một vị Bồ tát, tại vì Đất Mẹ có những đức tính rất lớn như vững chãi và kiên nhẫn. Trong kinh Địa Tạng có câu: Địa ngôn kiên hậu quảng hàm tàng (có nghĩa là đất kiên cố, dày dặn và cất chứa được rất nhiều). Đất có khả năng nuôi dưỡng, che chở, trị liệu và có khả năng cho ra đời biết bao nhiêu là mầu nhiệm. Nhiều vị Bụt và Bồ tát đã được đất sinh ra. Chính Chúa Kitô cũng do đất sinh ra. Ta không biết Chúa Kitô có phải do Thượng đế sinh ra thật hay không, nhưng ta biết chắc Chúa Kitô do trái đất sinh ra. Có những lúc ta lao đao, cô đơn, lạc hướng hay ốm đau thì ta phải trở lại Đất Mẹ để được nuôi dưỡng.

 

Bồ tát là một sinh vật có hạnh phúc, có giác ngộ, có chánh niệm, có hiểu và có thương. Bất cứ sinh vật nào có sự tỉnh thức, có bình an, có hiểu và thương thì được gọi là một vị Bồ tát. Không phải chỉ có con người mới làm được Bồ tát. Trong những câu chuyện tiền thân, có khi Bồ tát là một con nai, một con khỉ, một tảng đá hay một cây xoài, tại vì nhìn vào cây xoài đó ta thấy có hạnh phúc, có sự tươi mát. Cây hiến tặng cho đời vẻ đẹp của nó và nuôi dưỡng sự sống, làm chỗ nương tựa cho bao nhiêu chim muông. Ta có thể thấy cây là một vị Bồ tát, vì vậy Bồ tát không hẳn phải là con người.

 Bồ tát không phải là cái gì xa xôi ở trên mây, mà là những cái ở ngay chung quanh mình. Một người trẻ hơn ta nhưng có tình thương, có sự hiểu biết, có sự tươi mát và hiến tặng cho ta nhiều niềm vui thì người đó là một vị Bồ tát. Cây thông ngoài vườn có thể tạo cho ta nhiều niềm vui, hiến tặng cho ta dưỡng khí và làm đẹp cho cuộc đời. Cây thông đó là một vị Bồ tát.

 

Vì vậy, chúng ta có thể nói trái đất của chúng ta là một vị Bồ tát. Đích thực địa cầu là một vị Bồ tát rất lớn. Địa cầu có nhiều đức tính rất tốt. Trước hết là sự vững chãi. Đất chuyên chở ta, đất có sức chịu đựng rất lớn, rất kiên nhẫn. Đất không kỳ thị. Ta có đổ nước thơm, hương hoa hay đổ phân, nước tiểu xuống, đất cũng chấp nhận được. Đất hiến tặng cho ta không biết bao nhiêu là phẩm vật. Đất đưa ta ra đời, nuôi nấng ta, cho ta không khí để thở, cho ta nước để uống. Như vậy rõ ràng đất là một vị Bồ tát. Khi bước trên mặt đất là ta tiếp xúc với một vị Bồ tát.

Tuy Đất Mẹ có sự vững chãi, có tài ba, có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu nhưng có khi Đất Mẹ cũng đau khổ. Cũng như bà mẹ của mình, tuy có rất nhiều tình thương nhưng có khi mẹ cũng đau khổ. Hành tinh đất cũng có khi đau khổ giống như một bà mẹ, vì vậy có khi có núi lửa phun ra, có khi có bão tố, địa chấn hay hải chấn. Ta rất đau khổ mỗi lần xảy ra như vậy và ta cho đó là trời phạt. Nhưng thật ra chúng ta cũng có phần trách nhiệm về những gì xảy ra cho trái đất.

Ví dụ như trong vùng đất này gần cả năm không có mưa, chúng ta than phiền tại sao Đất Mẹ không cho mưa; còn ở Thái Lan thì mưa đến ngập lụt khiến cho 500-600 người chết. Chúng ta trách trời trách đất tại sao bất công như vậy. Đó là tại vì cái nghiệp, tại hành động của chúng ta đã làm mất đi thế cân bằng. Hôm trước có một vị đề nghị chúng ta nên gửi năng lượng để cầu mưa cho vùng này. Chúng ta cầu mưa không phải bằng cách hướng về một vị thần ở đâu đó. Tôi nghĩ cầu mưa ở đây cũng rất khoa học: Chúng ta ngồi đây như một tăng thân, tập trung tâm ý và gửi năng lượng tập thể cho Đất Mẹ. Trong năng lượng tập thể có chất liệu của từ bi, của tuệ giác, ý thức được rằng con người đã làm mất đi sự cân bằng và có tâm niệm muốn hối cải, muốn sống lành mạnh. Khi chúng ta ngồi với nhau và gửi năng lượng tới Đất Mẹ thì Đất Mẹ có thể sắp đặt trở lại để mưa có thể rơi xuống vùng này của trái đất. Chuyện đó có thể xảy ra được. Lực lượng tâm ý của chúng ta cũng là một năng lượng có thể làm thay đổi cục diện. Cầu mưa không phải mê tín mà có thể rất khoa học, tại vì tâm của mình có thể thay đổi được tình trạng. Tâm mà có từ bi, có tuệ giác, có năng lượng an lành thì tâm có khả năng chữa trị, thay đổi. Nếu tâm có hận thù, bạo động, tuyệt vọng thì sẽ tạo ra những khổ đau trên thế giới.

 
Đây là lời cầu nguyện:
“Lạy Mẹ, Bồ tát Thanh Lương Đại Địa! Có những lúc chúng con đau khổ thật nhiều vì thiên tai xảy ra. Chúng con ý thức rằng trong lúc chúng con khổ thì Mẹ cũng đang khổ. Có khi chúng con hướng về Mẹ và hỏi: Chúng con có thể trông cậy và nương tựa vào Mẹ hay không? Nhưng lúc ấy Mẹ không trả lời ngay cho chúng con. Sau đó Mẹ nhìn chúng con bằng con mắt xót thương và nói: Cố nhiên là các con có thể nương tựa vào Mẹ, tại vì Mẹ sẽ luôn luôn có mặt đó cho các con, nhưng các con cũng nên tự hỏi câu hỏi này: Liệu Mẹ có thể tin tưởng và trông cậy vào các con hay không?
 

Lạy Mẹ! chúng con đã thức nhiều đêm không ngủ vì cái công án đó. Và bây giờ đây, với những khuôn mặt đầm đìa nước mắt, chúng con đến quỳ dưới chân Mẹ và dâng lên Mẹ câu trả lời chân thành này: Mẹ từ bi và thánh thiện của chúng con ơi, Mẹ có thể trông cậy và tin tưởng ở chúng con.”

Hướng về vùng bão lụt miền Bắc, Việt Nam – tháng 10 năm 2025

Kính thưa đại chúng,Những ngày qua tại tu viện chúng con, mỗi người đều đang trở về nội tâm để nhìn lại con đường và hạnh nguyện của Thầy như một món quà dâng lên Thầy nhân ngày tiếp nối lần thứ 99 của Thầy vào ngày 11-10. Mỗi bước đi trong cuộc đời của Thầy chưa bao giờ tách rời với những lúc hạnh phúc hay khổ đau của thế hệ trẻ và của dân tộc. Từ khi Thầy còn là một người tu trẻ 20, 30 tuổi đến những ngày cuối cùng của cuộc đời, thông điệp của Thầy là sự dấn thân của đạo Bụt đi vào cuộc đời. Chúng con ý thức rất rõ rằng khi tiếp nối con đường của Thầy nghĩa là chúng con tiếp nối hạnh nguyện ấy của Thầy.

Chúng con nhớ lại năm 2020, vào những ngày này miền trung oằn mình trong cơn bão lũ. Thầy đang ở tại Tổ đình Từ Hiếu để dưỡng bệnh. Khi ấy chứng kiến những làng mạc điêu tàn sau sạt lở của vùng Hướng Hoá, Dakrong, Nam Trà My, Quảng Bình… Thầy và Sư cô Chân Không, cùng quý thầy quý sư cô lớn ở khắp nơi đã dạy cho chúng con ý thức rằng mình cần phải đi vào từng nơi khó khăn và khổ đau ấy. Bóng dáng của những người tu sĩ cùng với cái nắm chặt tay và ánh nhìn trong tình cảm thông ấm áp cùng sự trợ giúp lúc cần thiết nhất chính là sự dấn thân và lòng tri ân của chúng con hướng vào cuộc đời. Năm 2020 là năm mà mỗi anh chị em của chúng con đã học đươc bài học về lòng khiêm hạ, nếp sống tri túc khi chứng kiến những người ông, người bà đang ngâm mình trong nước lụt, những em bé đang cần từng hộp sữa, cái chăn, những người mẹ cần từng miếng bánh, gói cơm…

Dù đến những vùng rất nguy hiểm, nhưng được cầm tay những người chịu cảnh thiên tai, hỏi han dựng lại mái nhà, căn bếp, thắp nén nhang cho người không may trong lũ lụt đã thức tỉnh rất lớn tình thương trong chúng con. Chúng con ý thức mỗi phút giây hàng ngày chính là công phu thiền tập để nuôi lớn tình thương yêu và tấm lòng phụng sự của chúng con.

Những ngày này, được biết thông tin và hình ảnh về những cơn bão lũ, sạt lở chồng chất lên miền Bắc, tuy chúng con chưa trực tiếp có mặt, nhưng mỗi hơi thở, bước chân của chúng con đều mang theo sự tĩnh lặng để cầu nguyện cho các ông bà, bố mẹ, anh chị em đồng bào trong mưa lũ cũng nhờ ân nghĩa phước đức của Tổ tiên đất nước mà bình an đi qua được những khốn khó, sống cuộc sống bình an. Mỗi ngày khi bưng bát cơm trên tay, chúng con ý thức rằng chúng con cần chia sẻ bữa cơm này cho rất nhiều người đang ngâm mình trong mưa lũ, những người mất đi người thân, mái nhà, vật dụng.. và cho cả các anh chị em chính quyền, quân đội, thiện nguyện đang ngày đêm túc trực. Chúng con xin hướng về cả trái tim và xin cúi đầu tri ân những cánh tay nối dài bằng tình thương của quý vị. Chúng con thở theo từng nhịp thở khó khăn của những vùng lũ lụt và nguyện sẽ có mặt để sẻ chia những gian nan mà anh chị em đang đi qua.

Chúng con cũng xin kêu gọi tăng thân cư sĩ cùng hướng về cầu nguyện, lời nguyện cầu có thể là sự tĩnh lặng trong buổi ngồi thiền, thiền hành, cũng có thể là việc trồng thêm một cái cây trong vườn nhà và bớt đi một ly trà sữa, một vật dụng tiêu thụ không cần thiết, một chút tiền sắm thêm đôi giày.. Số tiền nhỏ ấy có thể góp phần cho nhiều mái nhà, mái trường thân quen được dựng lại, một cây cầu được nối lại, nhiều nụ cười trẻ thơ hồn nhiên trong trẻo vang lên, nhà nhà sẽ sum họp với khói bếp chiều trong không gian ấm áp. Chúng ta sẽ an lòng biết bao khi nghĩ về sự ấm áp và tình thuơng được thắp lên giữa những vùng bão lũ ấy vì ai cũng được thương yêu, ai trong lúc gian nan cũng được hướng về. Ai cũng là một phần máu thịt, là đồng bào của chúng ta. Sự đói khổ, sự mất mát ly tán của người khác cũng chính là của mình. Hạnh phúc và đủ đầy của người khác cũng là hạnh phúc và đủ đầy của chính mình.

Chúng con, một nhóm quý thầy quý sư cô đại diện tăng thân xuất sĩ Làng Mai cùng với các anh chị em tăng thân cư sĩ sẽ có mặt trực tiếp tại các địa phương vùng bão lũ để chia sẻ tình thương cũng như san sẻ một phần nào về mặt vật chất. Mỗi sự đóng góp của các anh chị em là một món quà mà chúng con sẽ mang đi trong tâm niệm biết ơn và yêu thương. Mỗi một vật chất được gửi vào tay người dân sẽ là một sự ấm áp trong mùa bão lũ này. Chúng con nguyện đi với một trái tim mở rộng và nguyện nuôi dưỡng tình thương của chư Bụt, của Bồ tát Quán Thế Âm, của Thầy và của tất cả quý vị trong mỗi phút giây.

Chúng con xin gửi các thông tin và số điện thoại quý thầy quý sư cô có trách nhiệm để quý vị mong muốn đóng góp có thể liên lạc, cũng như các anh chị em vùng lũ lụt có thể truyền thông.

Cố vấn: Thầy Từ Hải : 0948559228

Điều phối về tài chính, hàng hoá, nhân sự và liên lạc địa phương :
Thầy Mãn Thành, Thầy Trời Tương Lai
Sư cô Chân Tâm: 0869080586
Sư cô Hoàn Nghiêm: 0703959387

 

Thủ quỹ, kế toán:
Sc Trú Nghiêm: 0379931984
Sc Huệ Nghiêm: 0344913695

 

Số tài khoản:
VND: 4011205133623 – Lê Bích Chi (Sư cô Trú Nghiêm)
Tại Agribank Trường An Huế
Nội dung: Cứu trợ miền Bắc
Swift code: VBAAVNVX540

 

Truyền thông và hình ảnh: Ban biên tập trang nhà Làng Mai

Chúng con kính biết ơn sự đồng hành bằng sự thực tập, hay tịnh tài, hàng hoá của đại chúng hướng về miền Bắc.

Chúng con, đại diện tăng thân xuất sĩ từ thiện tại miền Bắc.

Về các hoạt động cứu trợ của Làng Mai, chúng con sẽ đăng chính thức trên Trang nhà Làng Mai và Facebook Làng Mai. Để yểm trợ chương trình, quý vị có thể Share (chia sẻ) bài từ Facebook Làng Mai. Kính cám ơn sự yểm trợ của tất cả mọi người.

(Ghi chú: Nguồn hình từ phóng viên Bùi Tùng- thường trực tại Thái Nguyên)

Tưởng nhớ anh Hà Vĩnh Thọ – Chân Đại Tuệ

Tiến sĩ Hà Vĩnh Thọ – Chân Đại Tuệ là một vị giáo thọ cư sĩ theo truyền thống Làng Mai, được Thiền sư Thích Nhất Hạnh truyền đăng năm 2001. Ông từng làm việc cho Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế (ICRC), phụ trách chương trình giáo dục và phát triển, trước khi trở thành Giám đốc Chương trình của Trung tâm Hạnh phúc Quốc gia ở Bhutan. Ông là người sáng lập Học viện Eurasia về Hạnh phúc và An sinh, đồng sáng lập Hiệp hội Eurasia (1999 đến nay) – một tổ chức phi chính phủ chuyên triển khai các chương trình giáo dục cho thanh thiếu niên khuyết tật cũng như phát triển các dự án sinh thái ở Việt Nam trong 20 năm qua. Ông có bằng Tiến sĩ Tâm lý học và Giáo dục của Đại học Geneva. Ông đã từng nghiên cứu về ngành trị liệu sức khỏe cơ thể qua giọng nói (Eurythmy and Curative Eurythmy) tại Dornach, Thụy Sĩ và là một nhà diễn thuyết quốc tế, tác giả của nhiều đầu sách, bài viết.     

 

                       Lời chia buồn từ tăng thân Làng Mai

Anh Chân Đại Tuệ kính quý,

Đại chúng Làng Mai đang cùng thở với anh và cho anh. Trong mỗi hơi thở, ai cũng cảm nhận niềm tri ân sâu sắc đối với tấm lòng phụng sự chân thành và những đóng góp của anh cho đạo Bụt dấn thân – sự nghiệp mà người thầy thương kính của chúng ta, Sư Ông Làng Mai, đã trao truyền lại cho anh.

Chúng tôi đều ý thức rằng “không đi đâu, cũng không cần đến”; công trình tuyệt vời mà anh đã thực hiện ở Bhutan, ở Việt Nam, ở châu Âu và nhiều nơi khác với tư cách là một vị giáo thọ Làng Mai sẽ không bao giờ bị mai một. Công trình ấy là ánh sáng soi đường cho hạnh phúc đích thực trong thế giới đầy những đau thương và xung đột này.

Chúng tôi nguyện sẽ tiếp công trình mà anh đã khơi mở, để giúp “các thầy cô giáo hạnh phúc” cùng nhau làm thay đổi thế giới.

Với lòng biết ơn sâu sắc và cầu nguyện cho anh được tiếp nối trong sự nghiệp mà anh đã để lại cho tất cả chúng tôi.

Sư cô Chân Đức (thay mặt cho Ni Trưởng Chân Không và đại chúng Làng Mai).

 

 

Để tưởng niệm đến anh Chân Đại Tuệ, Ban biên tập Trang nhà Làng Mai xin được đăng lên bài viết “Được gặp Thầy tôi” của anh viết về người Thầy tâm linh kính quý – Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Bài viết được BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh trích trong Kỷ yếu Đến Đi Thong Dong – Tăng thân Làng Mai biên soạn.  

 

      Tưởng niệm người con lỗi lạc của Việt Nam -Thiền sư Thích Nhất Hạnh

                                                                             Chân Đại Tuệ – Hà Vĩnh Thọ

Tôi được sinh ra từ một người cha Việt Nam và mẹ là người Pháp. Tôi lớn lên và sống qua nhiều quốc gia, nhưng hầu hết là tại châu Âu. Lần đầu tiên tôi về thăm Việt Nam với cha tôi là vào năm 1982, lúc ấy tôi đã 31 tuổi.

Tuy trưởng thành ở nước ngoài, tôi vẫn cảm thấy mối liên kết với quê cha đất tổ, dù có giới hạn là lúc nhỏ tôi đã không được học tiếng Việt và mẹ tôi cũng không nói được tiếng Việt. Chú tôi, ông Hà Văn Lâu, từng là đại sứ Việt Nam tại Pháp và sống ở Paris. Mỗi khi đến hội họp tại Liên Hiệp Quốc ở Geneva, chú thường đến thăm gia đình tôi vì chúng tôi sống ở gần đấy.

Lúc ấy gia đình chúng tôi sống trong một cộng đồng nơi có người chăm sóc cho các trẻ em thiểu năng trí tuệ và chú tôi từng nói rằng chúng ta cũng nên tạo ra một chương trình tương tự để giúp đỡ các trẻ em khuyết tật tại Việt Nam. Trong chuyến viếng thăm Việt Nam lần đầu, tôi đã gặp được nhiều người thân trong gia đình, trong đó có một người chú là nhà điêu khắc Phật giáo nổi tiếng và con trai của chú là một họa sĩ. Hai cha con đều là đệ tử của Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong thập niên 1960 và cả hai hỏi tôi rằng đã có cơ hội gặp Thiền sư lúc ấy đang sống tại Pháp chưa. Tôi đã rất xấu hổ khi phải thú nhận rằng tôi chưa từng nghe qua về Người. Vào thời gian đó, Sư Ông chưa được biết đến nhiều tại châu Âu. 

Khi về lại châu Âu, tôi đã viết một lá thư gửi Sư Ông để xin phép đến thăm. Đệ tử thân tín của Người là Sư cô Chân Không đã viết một lá thư rất thân thiện mời chúng tôi đến thăm một trung tâm mới mở tại miền Tây Nam nước Pháp tên là Làng Mai. Sư cô cũng gửi tặng quyển Phép lạ của sự tỉnh thức bằng tiếng Anh. Tôi đã đọc quyển sách ấy với tất cả sự hào hứng, nhưng vì một lý do nào đó phải sau nhiều năm thì vợ tôi, Lisi và tôi mới đến thăm được Làng Mai lần đầu vào cuối thập niên 1980.

Khi đến Làng, chúng tôi lập tức được mời dùng trà với Sư Ông và Sư cô Chân Không. Lúc ấy chúng tôi nghĩ rằng sự kiện này chắc thường xảy ra cho mọi người mới đến Làng, là được mời vào cốc của Thiền sư. Thật ra, Sư Ông đã quen biết nhiều người thân của tôi vì gia quyến tôi cũng ở Huế, quê của Sư Ông. Một trong những người chú của tôi và con trai của ông là đệ tử thân tín của Sư Ông và đã từng minh họa một số sách của Sư Ông. Thêm vào đó, Lisi có một người bà con Thuỵ Sĩ mà Sư Ông đã từng gặp trong thập niên 1960 tại Mỹ, ông ấy thuộc về nhóm người Tây phương đầu tiên trở thành tu sĩ theo phái thiền tại thiền viện San Francisco do Thiền sư Suzuki sáng lập ở California. Vì vậy, tuy đến Làng Mai lần đầu nhưng tôi có cảm tưởng như là được về họp mặt thân quyến.

Lần đầu tiên nghe Sư Ông cho pháp thoại, tôi xúc động lắm. Đã hơn một lần tôi nhận ra mình đang khóc trong khi nghe pháp thoại. Không phải vì tôi buồn, mà vì lời dạy của Sư Ông đánh động vào tim tôi một cách quá sâu sắc. Tôi biết, cho đến lúc ấy sự hiểu biết của tôi về lòng Từ bi vẫn còn nông cạn và quá lý thuyết, nhưng khi tiếp xúc trực tiếp với Sư Ông, tôi đã hiểu ra được thực chất sống động của lòng Từ bi kết hợp với năng lượng Trí tuệ rộng lớn cho nên Sư Ông đã có thể diễn bày giáo pháp với vài lời đơn giản mà không đánh mất ý nghĩa thâm sâu.

 

Tôi biết tôi đã gặp được Thầy của mình. Từ đó trở đi, chúng tôi đi khóa tu thường xuyên tại Làng Mai, và cùng với các con, chúng tôi có cơ hội thiết lập được sự liên hệ sâu sắc với Sư Ông. Đối với tôi, đó cũng là một cơ hội mầu nhiệm để kết nối lại với gốc rễ Việt Nam của mình. Sư Ông đã chia sẻ được với thế giới những gì đẹp nhất của văn hóa Việt Nam, và qua Người, rất nhiều người Việt cảm thấy tự hào về gốc rễ của họ và có thể chia sẻ lại cho con cháu họ để nhắc nhở con cháu về nguồn gốc tổ tiên của chúng dù chúng đang sinh sống ở nước ngoài. Những người đệ tử nước ngoài của Sư Ông cũng thiết lập được niềm kính ngưỡng sâu đậm về những nét đẹp và chiều sâu của văn hóa và tâm linh người Việt.

Khi tôi còn nhỏ, trong nhà chúng tôi có bàn thờ tổ tiên nhưng điều đó đã không gợi được ý nghĩa gì nhiều trong tôi. Sau khi viếng thăm Làng Mai và được nghe lời giảng của Sư Ông về tính cách quan trọng của cả hai truyền thống tâm linh và huyết thống, sự thờ cúng tổ tiên đã trở nên rất có ý nghĩa đối với tôi. Cho đến bây giờ tôi vẫn luôn bài trí một bàn thờ tổ tiên trong nhà, và mỗi sáng tôi đều thắp hương, dâng trái cây và trà.

Chúng tôi là một trong những nhóm đệ tử đầu của Sư Ông có được cơ hội về Việt Nam trong thời điểm mà ít người nước ngoài được về. Sư Ông đã rất vui khi nhận được tin tức và hình ảnh từ quê hương và nhất là từ Huế, chùa Tổ Từ Hiếu và từ những đệ tử và bạn của Sư Ông. Khi nhóm chúng tôi trở lại châu Âu, chúng tôi đã tặng Sư Ông một quyển sách với nhiều hình ảnh chúng tôi chụp được những cảnh thân quen mà Sư Ông từng biết đến.

Trong những bài pháp thoại của mình, Sư Ông thường kể những chuyện gần gũi trong dân gian Việt Nam như truyện Kiều, những nhân vật lịch sử như vua Trần Nhân Tông trở thành một nhà sư Phật giáo và các vị đại sư của Việt Nam như Tổ sư Tăng Hội. Qua đó, song song với việc học về đạo Bụt, các đệ tử của Sư Ông cũng được học rất nhiều về văn hóa và lịch sử Việt Nam.

Sư Ông đã khuyến khích chúng tôi thiết lập các dự án giáo dục tại Việt Nam; trước nhất cho các trẻ em khuyết tật và sau đó mở rộng thêm ra. Đây là lý do vợ chồng tôi, với sự trợ giúp của vài người bạn trong ngành giáo dục, đã sáng lập Tổ chức Tài trợ Âu Á (Eurasia Foundation). Và hai vị yểm trợ chúng tôi từ buổi đầu là nhà Đại sứ Hà Văn Lâu và Thiền sư Thích Nhất Hạnh.

Nhìn lại những năm qua với cơ hội được gặp và tiếp nhận giáo pháp từ Sư Ông, trong tôi dâng đầy niềm tri ân sâu sắc. Sư Ông chưa từng đòi hỏi chúng tôi điều gì, để chúng tôi tự do hoàn toàn, nhưng luôn có mặt đó cho chúng tôi. Sư Ông là hiện thân của những điều Người dạy. Tôi đã có nhiều cơ hội gặp Sư Ông thường xuyên trong nhiều bối cảnh khác nhau nhưng Người vẫn vậy, không thay đổi. Sư Ông không đối xử khác khi gặp một người nổi tiếng hoặc quan trọng so với khi gặp một người bình thường đơn giản. Sư Ông đặc biệt thích sự có mặt của các em nhỏ xung quanh và mỗi khi đi thiền hành, Người thường nắm tay các em cùng đi. Sư Ông hiến tặng cho mọi người sự quan tâm đầy từ bi và trọn vẹn như nhau.

Tôi rất ấn tượng cách Sư Ông làm một “Đại sứ” cho Việt Nam. Đối với mọi người trên thế giới, Sư Ông là đại diện đích thực cho văn hóa Việt Nam. Khi tôi chuyển qua Bhutan để làm việc tại Trung tâm Hạnh phúc Quốc gia (Gross National Happiness Centre), tôi muốn thỉnh Sư Ông đến thăm đất nước ấy. Tôi đã thảo luận dự án này với Thủ tướng Bhutan, ông Jigmi.Y Thinley. Ông rất yểm trợ cho dự án này và muốn nó trở thành một chuyến viếng thăm chính thức cấp chính phủ. Tôi cũng có cơ hội tặng quyển Quyền lực đích thực được Thầy ký tên đến Vua đời thứ năm của Bhutan. Đức vua cho tôi biết rằng Ngài đã từng đọc nhiều lần quyển Đường xưa mây trắng: Theo dấu chân Bụt của Sư Ông, thuộc lòng vài đoạn văn trong sách và rất kính quý Sư Ông.

Tiếc thay, chuyến viếng thăm Bhutan của Sư Ông đã không xảy ra. Đầu tiên chúng tôi phải hoãn lại vì có đợt bầu cử toàn quốc, rồi khi Bhutan có thể tổ chức được thì sức khỏe của Thầy lại không cho phép nữa. Tuy vậy, những lời dạy và pháp môn thực tập của Sư Ông đã có những ảnh hưởng quan trọng trong cách chúng tôi hướng dẫn các chương trình Hạnh phúc Quốc gia. Do đó, dù Sư Ông không đến Bhutan bằng hình hài mình, Pháp thân của Sư Ông cũng đã có mặt ở đó và vẫn đang còn có mặt ở đó, vì hầu hết phương pháp chúng tôi điều hành chương trình Hạnh phúc Quốc gia đều liên kết sâu sắc với giáo lý Sư Ông dạy.

 

Tôi xin chia sẻ hai giai thoại để diễn tả cách Sư Ông dạy chúng tôi ngoài các bài pháp thoại và những buổi thiền tập chính thức.

Một lần nọ, tôi đang đi bộ với Sư Ông tại Thụy Sĩ. Tôi mới từ Việt Nam trở về và đang kể về chuyến viếng thăm chùa Từ Hiếu. Lúc ấy Sư Ông chưa được về và tôi tin chắc rằng Người sẽ vui khi nghe kể về chùa Tổ và quả đúng như thế; nhưng tôi đoán là tôi đã quá trớn và không thực sự có chánh niệm về nơi mình đang có mặt, ngay nơi ấy và lúc ấy. Vì vậy, một lúc sau, Sư Ông dừng lại và bảo tôi đứng yên. Sư Ông mỉm cười và chỉ xuống mặt đất ngay dưới chân Người và tôi, rồi dạy: “Từ Hiếu đang ở đây và ngay bây giờ”, rồi hai Thầy trò tiếp tục đi. 

Một lần khác, khi dùng cơm chiều với Sư Ông cùng Sư cô Chân Không, tôi kể về các dự án giáo dục nhóm chúng tôi đang thực hiện tại Việt Nam. Tôi say mê kể và chắc là không có chánh niệm về những gì mình đang ăn. Nên một lần nữa, Sư Ông mỉm cười, nhẹ nhàng ra dấu tay để dừng tôi lại và hỏi: “Con đang ăn các dự án hay con đang ăn cơm vậy?”. Tôi thấy hơi mắc cỡ, nhưng rất biết ơn được nhắc nhở để thực sự sống trong giờ phút hiện tại. Là một vị Thiền sư đích thực, Sư Ông luôn để tâm giúp chúng ta sống đời sống chánh niệm trong mỗi giây phút của cuộc sống, và Người luôn giúp một cách nhẹ nhàng, với tính hài hước và lòng từ bi.

Khi nghe tin về sự ra đi của Sư Ông, thực sự tôi không cảm thấy buồn, tôi cảm nhận một niềm biết ơn và một tình thương sâu thẳm. Tôi ý thức được việc gặp một bậc thầy lớn trong đời thực sự là một đặc ân. Tôi không cảm nhận là Sư Ông đã ra đi, Sư Ông đang hiện hữu trong những lời dạy và trong vô số đệ tử của Người. Sư Ông có một sức ảnh hưởng to lớn trên hành tinh này. Người đã mang nhiều tuệ giác, tình thương và giá trị luân lý đến cho mọi người khắp nơi trên thế giới. Tinh thần và ý chí của Sư Ông đang có mặt rõ ràng hơn bao giờ hết, và người Việt Nam có thể hãnh diện đã sản sinh ra một người con lỗi lạc, đóng góp và làm rạng danh hồn thiêng nước Việt trong khắp mười phương.

                                                                  Palézieux, Thụy Sĩ, ngày 27 tháng 01 năm 2022

 

 

  • Một số chia sẻ của anh Hà Vĩnh Thọ cùng các nhà hoạt động xã hội và môi trường trong khoá tu Giữ Gìn Đất Mẹ vào tháng 06 năm 2023 tại Làng Mai, Pháp.

              Câu trả lời là tình thương – phần I

              Câu trả lời là tình thương – phần II

 

 

 

 

 

 

 

 

Bồi đắp gốc rễ tâm linh, khai thông suối nguồn huyết thống

( Trích từ Pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 15/01/2005 )

Mỗi chúng ta đều có hai gia đình. Một gia đình là gia đình huyết thống. Gia đình huyết thống có ông bà, có cha mẹ, có con cháu. Và mỗi chúng ta cũng có một gia đình tâm linh. Tổ tiên tâm linh của chúng ta là Đức Thế Tôn, là các vị Bồ Tát và các vị Tổ sư. Tổ tiên huyết thống trao truyền cho chúng ta huyết thống. Tổ tiên tâm linh trao truyền cho chúng ta trí tuệ và nếp sống tâm linh.

Hạnh phúc không thể chỉ có được khi có nhiều tiền bạc, danh vọng và quyền hành. Có nhiều người rất giàu, rất có uy quyền nhưng rất đau khổ vì họ không có một nếp sống tâm linh, một gia đình tâm linh. Và khi mình tu tập như một người cư sĩ hay người xuất gia thì mình có cái gia đình thứ hai đó là gia đình tâm linh. Và tổ tiên của gia đình tâm linh của chúng ta cũng có mặt trong chúng ta, trong từng tế bào cơ thể. Chúng ta đã tiếp nhận cái tuệ giác và hạnh phúc của Đức Thế Tôn, của các vị Bồ Tát và các vị Tổ sư. Chúng ta phải nuôi dưỡng cái gia tài đó trong cơ thể và tâm hồn của chúng ta.

Nếu chúng ta là một đứa con có hiếu thì chúng ta phải giữ gìn thân mạng  này cho nguyên vẹn. Đừng để cho ma tuý, rượu bia, cho sự trác táng nó làm hư. Nếu chúng ta là một đứa con có hiếu đối với gia đình tâm linh thì chúng ta phải trì giới, phải thực tập. Chúng ta phải làm cho dòng tâm linh sống dậy và truyền đạt cái giá trị tâm linh đó cho các thế hệ con cháu. Khi mình làm được việc đó rồi thì hạnh phúc của mình rất lớn.

Trong một buổi sáng ngồi thiền, tôi có hạnh phúc rất nhiều. Tại vì tôi đã giữ được hình hài của tôi, của gia đình huyết thống nguyên vẹn. Tôi đã không uống rượu, không sử dụng ma tuý, không trác táng. Và đến tuổi này tôi vẫn còn leo núi được, vẫn còn đi thiền hành và ngồi thiền mỗi ngày. Còn đứng về phương diện tâm linh tôi nghĩ tôi cũng là một đứa con có hiếu. Tại vì tôi đã tiếp nhận giáo lý mầu nhiệm của Đức Thế Tôn, của các vị Bồ Tát và các vị Tổ sư. Tôi đã học hỏi, đã thực tập và truyền trao lại gia tài tâm linh đó cho rất nhiều đệ tử của tôi, xuất gia cũng như tại gia. Và vì vậy nếu mình là đứa con có hiếu mình phải tiếp nhận tất cả gia tài của cả hai bên gia đình tâm linh và huyết thống.

 

 

Khi mình nắm vững được pháp môn thở trong chánh niệm, đi trong chánh niệm, làm việc trong chánh niệm, uống trà trong chánh niệm, ăn cơm trong chánh niệm thì mình có khả năng hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Mà sống trong giây phút hiện tại rồi mình mới có khả năng giúp người khác. Còn trong giây phút hiện tại mình đang đau khổ, mình đang bơ vơ, mình đang ốm yếu thì làm sao giúp được người khác. Vì vậy cái điều kiện quan trọng nhất để giúp được người khác là mình phải có hạnh phúc. Mình hãy đặt câu hỏi mình có hạnh phúc chưa ?

Mà hạnh phúc không phải là cái gì chúng ta tìm kiếm trong tương lai, hạnh phúc có mặt trong giây phút hiện tại. Và vì vậy viên sỏi đầu tiên là “Đã về, đã tới”. Con đã về giây phút hiện tại rồi, con đã tới giây phút hiện tại rồi, con đã tiếp xúc với những mầu nhiệm của giây phút hiện tại rồi, con không còn rong ruổi nữa. Đó là sự thực tập dừng lại. Dừng lại tiếng Phạn là Samatha , nó có nghĩa là chỉ. Thiền tập có hai phần chỉ và quán. Chỉ là  dừng lại để tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống trong giây phút hiện tại. Những mầu nhiệm đó có khả năng làm cho cuộc đời mình đẹp lên, nó có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu.

Và khi mình tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống đó thì cái thiên đường, cái Phật quốc, cái Tịnh độ có mặt ngay trong hiện tại cho mình. Viên sỏi thứ hai nó là anh em với viên sỏi đầu, nó cũng nói như vậy. Tên của nó là “Bây giờ, ở đây”. Nó là địa chỉ của sự sống, là địa chỉ của chư Bụt, chư Bồ Tát và địa chỉ của tịnh độ.

Nếu quý vị có học di truyền học thì các vị biết rằng tổ tiên và ông bà đã trao truyền tất cả các tinh hoa của họ cho mình và mình đang mang các thế hệ tổ tiên đi về tương lai. Vì vậy muốn gặp tổ tiên thì chỉ cần trở về là thấy thôi. Khi mình làm một cái bàn thờ của ông bà và mình để cái bài vị của bát hương, mình có thể nghĩ rằng tổ tiên ngồi ở trên cái bàn đó. Kỳ thực tổ tiên không ngồi trên đó, đó là cái biểu tượng thôi, tổ tiên ở trong  con người của mình. Người Việt Nam có tuệ giác rất lớn, người Việt Nam nói con cháu ở đâu thì ông bà ở đó, điều này rất đúng, rất là khoa học. Tại vì trong mỗi tế bào của mình có sự có mặt của các thế hệ tổ tiên ở trong đó. Và khi mình cười được một cái thì tổ tiên của mình cười được. Và khi mình đau khổ là tổ tiên đau khổ hết. Cho nên mình phải biết trách nhiệm. Nếu mình tu tập mà có giải thoát, nhẹ nhàng thì tổ tiên của mình cũng vậy. Đó là nói về tổ tiên huyết thống.

Tổ tiên tâm linh cũng vậy. Đức Thế Tôn cũng vậy, ngài không có đi đâu hết. Mình đã tiếp nhận Đức Thế Tôn. Ngài là cha sinh mình ra trong đạo pháp. Mình quy y với thầy mình và thầy mình cũng là con của Thế Tôn. Cho nên khi mình quy y và thọ năm giới là mình đang tiếp nhận Đức Thế Tôn qua thầy của mình. Và vì vậy cho nên Đức Thế Tôn có ở trong mình.


 

Hạt sỏi thứ ba là vững chãi, thảnh thơi. Vững chãi thảnh thơi là điều kiện của hạnh phúc. Vững chãi nghĩa là thế nào? Nghĩa là không bị quá khứ lôi kéo, không bị tương lai nó thu hút. Mình an trú trong hiện tại, mình vững như trái núi gọi là vững chãi, thảnh thơi. Đức Thế Tôn có hai đặc tính đó, đại hùng đại lực, vững chãi, thảnh thơi, bất động. Danh từ trong kinh gọi là Bất Động Tôn. Tức là Đức Thế Tôn không bị một cái gì xô đẩy được hết. Quá khứ không lôi kéo được Đức Thế Tôn, tương lai không xua đuổi được. Đức Thế Tôn ngồi vững, đứng vững như trái núi. Vì và vì vậy mình là con cháu của Thế Tôn mình phải có hai chất liệu vững chãi và thảnh thơi. Tuy rằng cái vững chãi và thảnh thơi của mình không lớn bằng Đức Thế Tôn mà là con của Thế Tôn mình có một phần nào cái vững chãi, thảnh thơi đó. Và hạnh phúc càng lớn khi vững chãi, thảnh thơi càng lớn.

Hạt sỏi thứ tư là quay về nương tựa. Mình quay về nương tựa nơi Tam Bảo. Mà Tam bảo ở đâu? Tam bảo ở địa chỉ bây giờ và ở đây. Không phải tới chùa mới có Tam Bảo. Nếu mình là người tu vững thì mình đi vào siêu thị mình vẫn có Tam Bảo. Nếu có Tam Bảo trong người mình, có vững chãi thảnh thơi rồi thì khi vào siêu thị mình sẽ không mua những thứ mình không cần. Mình chỉ mua cái cần thiết thôi nên siêu thị cũng không hấp dẫn được mình, không lôi kéo được mình. Và vì vậy mình thấy đâu cần có nhiều tiền mới hạnh phúc.

Thật sự là vững chãi và thảnh thơi là hai điều kiện lớn nhất của hạnh phúc. Nếu quý vị chưa có hạnh phúc là vì quý vị thiếu hai tính chất đó. Mà nếu muốn có vững chãi và thảnh thơi phải thực tập quay về nương tựa. Quay về nương tựa là quy y. Quy là quay về, y là nương tựa, nương vào. Quay về đâu? Quay về giây phút hiện tại và nương tựa trên Bụt, trên Pháp và trên Tăng.

Trở về nhà

Xóm Mới, ngày 18 tháng 11 năm 2024

Bạch Thầy kính thương,

Bây giờ đã là cuối tháng mười một ở Làng. Mỗi buổi sớm trong lành yên ả, con vẫn còn được nghe tiếng chim hót ríu rít giữa những tầng không. Nắng vẫn còn vàng tươi, giòn rụm. Trên những con đường thiền hành hay góc này, góc kia trong xóm, con vẫn còn được thấy những cụm hoa vàng, hoa tím… nở ra rực rỡ. Rừng thu vẫn đang thay áo mới, tươi thắm từng ngày. Con nghe mọi người nói, mùa thu năm nay có vẻ ấm áp hơn những năm trước. Thỉnh thoảng, khi một sư chị thấy con đứng nhìn những bông hoa hay sắc lá rực rỡ ngoài kia, con nói với sư chị là con đang cất giữ tất cả những màu sắc tươi đẹp này để dành cho mùa đông. Vì con biết, sắp tới đây, những màu sắc này sẽ ẩn tàng trong một thời gian.

Bạch Thầy, mỗi buổi sáng trong lành, thanh khiết như thế, con lại có dịp trở về trong căn nhà thân thuộc của mình, thắp lên một ngọn đèn ấm và an bình ngồi ngắm từng gương mặt thân quen ở đó. Từ bao giờ mà con đã không còn chạy trốn khỏi căn nhà của mình nữa nhỉ? Con bắt đầu có thể trở về ngồi chơi thật yên bên những người bạn quen thuộc đã cùng mình đi qua bao tháng năm. Con chợt nhớ có ngày, một sư chị tới kể với con thật hào hứng : “Em biết không! Mỗi ngày chị lại thấy rõ chị hơn một chút. Có khi đang giặt áo, có khi đang rửa bát, có khi đang quét nhà, chị lại bất chợt thấy và hiểu chị ra thêm. Và chị cười được với chị!”. Rồi hai chị em con bật cười thật tươi, có vẻ rất đắc thắng với “thành tích” mới này của mình. Đúng như vậy phải không thưa Thầy? Bao năm tháng Thầy đã trao truyền cho chúng con bài học đó. Mình sẽ chẳng thể thấy mình, hiểu mình ở đâu khác nữa, ngoài chính trong những lúc giặt áo, nấu cơm, quét nhà,… như thế.

Nhiệm mầu thay tôi bổ củi
Nhiệm mầu thay tôi gánh nước
 

Chính nhờ “gánh nước, bổ củi” mà con trở về sống được với ngôi nhà của mình. Trở về rồi thì ngôi nhà sẽ từ từ ấm áp và thân thương hơn.

Khi nghĩ về tăng thân, con hay nghĩ tới hình ảnh ngôi nhà của mình đang nằm giữa một mặt hồ yên bình, phẳng lặng. Tăng thân là mặt nước thật trong, thật sáng đó, nơi con soi vào và thấy được những gì trong ngôi nhà của mình được phản chiếu lên thật rõ. Và trải qua thời gian, giờ đây con thấy mình đã trở nên một người chủ nhà hiếu khách hơn. Con thôi không còn phân biệt, lựa chọn hay tránh né những người bạn tới chơi trong căn nhà của mình nữa. Không còn đặt câu hỏi: “Tại sao bạn lại có mặt trong nhà của tôi? Tôi chỉ muốn chơi với người này mà không phải người kia…” Người bạn nào có mặt trong căn nhà đều có vị trí của họ, và mỗi ngày con tập để dành đủ sự tôn trọng, tình thương và kiên nhẫn cho những người bạn ấy. Nhờ vậy mà khi ngó lại, hình như căn nhà của con đã rộng rãi ra thêm, đủ chỗ cho nhiều người bạn cùng tới chơi và sống hòa bình với nhau hơn rồi, thưa Thầy.

Con vẫn thường hay nghĩ tới lời dạy của Thầy: Nếu chúng con có thể dừng lại và nhìn sâu hơn một chút, chúng con sẽ thấy được những gì chúng con đang làm cho nhau, những gì chúng con nói với nhau, những gì chúng con nghĩ về nhau sẽ đều ảnh hưởng trở lại chính chúng con và ảnh hưởng đến cả thế giới, bây giờ và mai sau. Sống giữa tăng thân, con dần hiểu hơn lời dạy ấy của Thầy. Không có gì quan trọng hơn những gì mình đang thực sự có thể dành cho nhau, nghĩ về nhau trong mỗi giây phút của đời sống. Bởi mỗi một ý niệm nhỏ nhất phát sinh trong mình đều có giá trị thật vô cùng. Và nếu con không trở về chăm sóc cho ngôi nhà của mình, để nơi đó có thể đón mời thêm thật nhiều những người bạn quý, như tha thứ, bao dung, chấp nhận, thương yêu…  thì dường như con chẳng có gì để thật sự hiến tặng.  

 

 

Thầy ơi, khi con nhìn vào mỗi anh chị em trong tăng thân, con thấy mỗi người cũng đều đang trở về chăm sóc lại căn nhà của mình, thắp lên một ngọn đèn ấm như thế. Có thể có những ngọn đèn đang tỏa chiếu rất rực rỡ, cũng có những ngọn đèn còn đang yếu ớt,… nhưng khi đứng bên nhau, từ từ ánh sáng ấy cũng sẽ lan toả và căn nhà nào cũng sẽ đều có thể trở nên ấm áp, tươi vui. Bởi vậy, khi nhìn vào bức tranh tăng thân, con dường như đang thấy hình ảnh của một ngôi làng nhỏ ấm cúng với những căn nhà đã sáng đèn đang đứng gần bên nhau. Cảnh tượng ấy thật vui và đầm ấm. 

Trong ngày tiếp nối của Thầy năm nay ở Làng, con được nghe lại lời Thầy từ nhiều năm trước, rằng “Thực tại đẹp hơn bất cứ giấc mơ nào mà mình có thể mơ tưởng”. Chúng con là những người may mắn, chúng con đang được sống trong chính hiện tại mà Thầy đã tạo dựng với tất cả lòng kiên nhẫn và tình thương. Thầy đã phải đi qua thật nhiều thăng trầm, tháng năm để thấy được không còn giấc mơ nào đẹp hơn hiện tại mà mình đang có. Còn chúng con, chúng con đã được Thầy đưa thẳng từ những giấc mơ để về tới với hiện tại đẹp đẽ, nhiệm mầu này. Và bên nhau, chúng con vẫn đang được là hiện tại thật đẹp của Thầy. 

Thầy biết không, mùa thu đang phô bày lặng lẽ và ngọt ngào mỗi ngày. Mỗi khi có thể ngắm nhìn những bức tranh thiên nhiên đang biểu hiện đẹp đẽ như thế bằng một đôi mắt mới, trong trẻo và tinh khôi hơn là một lần con lại thấy biết ơn Thầy thật nhiều. Con biết rằng Thầy vẫn đang ở ngay đây, ngắm nhìn những vẻ đẹp và những nhiệm mầu của đất trời cùng với tất cả chúng con bằng đôi mắt đẹp nhất, bằng nụ cười thênh thang nhất. 

Viết thư cho Thầy chưa khi nào là một việc khó khăn cả. Nếu con không biết mình nên viết về điều gì thì con chỉ cần nghĩ rằng con lại viết thư cho Thầy, và con sẽ nói được những gì con muốn nói. Thầy đọc thư con thật vui, Thầy nhé!

Con của Thầy,
Trăng Sáng Tỏ.



Khoá tu xuất sĩ 2025 “Quê hương đích thực – Tự do đích thực”

         Khoá tu xuất sĩ năm nay với chủ đề “Quê hương đích thực – Tự do đích thực” diễn ta từ ngày 12.09 – 21.09.2025 đã hội tụ về chùa Pháp Vân xóm Thượng gần hai trăm vị xuất sĩ đến từ các trung tâm thiền tập Làng Mai tại châu Âu như quý sư cô ở xóm Hạ, xóm Mới, quý sư cô ở thiền đường Hơi Thở Nhẹ và quý thầy ở tu viện Suối Tuệ – Paris, cũng như đại chúng từ Phật học viện EIAB – Waldbröl, Đức. Những tà áo nâu từ khắp nơi trở về trong rộn ràng tiếng cười mừng gặp nhau, thân thương trải khắp những con đường huyền thoại trên mảnh đất Thệ Nhật thiêng liêng!

         Con đã về rồi đó. Con đã tới thật rồi, Thầy ơi!

Con về chỉ để thả mình hoà vào trong vòng tay lớn ấm áp của Tăng thân, để được nuôi dưỡng trong tình Thầy và tình huynh đệ!

          Nhớ trong kinh Người Xuất Sĩ, Bụt đã từng dạy rằng:

“Người xuất sĩ dù là còn trẻ nhưng hết lòng thực tập Phật pháp thì cũng giống như một mặt trăng soi sáng thế gian trong khung trời không có mây ám.”

Thật may mắn khi được làm một người xuất sĩ trẻ trong Tăng thân. Chúng con có minh sư hướng dẫn, có bạn hiền cùng đi trên con đường hành trì tốt đẹp, có niềm vui trong đời sống tu tập và cống hiến những hoa trái của sự thực tập chế tác hạnh phúc, chuyển hoá niềm đau đến với mọi người trong giây phút hiện tại. Chí nguyện và đức tin là những hành trang mà chúng con đang được vun bồi từng ngày để không còn lo sợ trước những khó khăn trên con đường học đạo, con đường trở về quê hương đích thực, tự do đích thực!

 

 

 

Chăm tâm như chăm vườn

(Sư cô Lộc Nghiêm viết
Nương theo ánh sáng của Tứ Chánh Cần)

Đây là những điều tôi được nghe vào một buổi sáng đầu hạ. Tôn giả Mṛgāvataṃsakā ngồi với những người bạn đang chuẩn bị bước vào con đường Phụng Sự bên hồ sen thanh khiết cạnh đảo Bồ đề tại tu viện Stimitāraṇya an tĩnh. Trời xanh trong, ánh nắng ban mai dịu dàng như hơi thở trong khu vườn xanh tươi đầy hoa thơm mát. Có tiếng chim hót xa xa, có tiếng lá rơi rất nhẹ. Tôn giả Mṛgāvataṃsakā nhìn các bạn với ánh mắt lân mẫn, rồi chậm rãi nói:

Này các bạn, trong mỗi người chúng ta có một khu vườn. Khu vườn ấy không nằm ngoài ta, nó chính là Tâm ta. Nó nằm trong từng suy nghĩ, lời nói và hành động. Trong khu vườn ấy, mỗi ngày ta gieo xuống và tưới tẩm biết bao nhiêu hạt giống, có hạt lành thiện, có hạt bất thiện, có hạt đưa ta tới bình an, có hạt dẫn ta vào khổ đau.

 

 

Là người thực tập sống tỉnh thức, ta không bỏ mặc khu vườn ấy. Ta chính là người làm vườn. Người làm vườn biết trở về nhận diện, thấy rõ và chăm sóc từng mầm non, bụi cây, vạt cỏ, khóm hoa, vườn trái…. Không có gì bị bỏ rơi, không có gì bị ghét bỏ.

Này các bạn, tâm là đất. Tất cả các hạt giống đều nằm trong mảnh đất đó. Hạt giống của hiểu biết, thương yêu, tha thứ, an vui… đều có mặt. Hạt giống của giận hờn, đố kỵ, lo lắng, sợ hãi… cũng có mặt. Đất Tâm có khả năng ôm chứa tất cả. Không hạt giống nào mất đi. Hạt nào được tưới tẩm sẽ biểu hiện. Hạt nào không được tưới, thì nằm yên trong chiều sâu. Người làm vườn giỏi là người có đầy đủ đức tin nơi khu vườn của mình, nơi khả năng chuyển hóa của đất để cho ra những hoa trái ngọt ngào. Người làm vườn giỏi sẽ biết cách chăm sóc khu vườn của mình để mỗi ngày là một ngày nắng đẹp. Vậy nên ta cần học cách khéo léo tưới tẩm, vun bồi cho những hạt giống lành thiện trong ta biểu hiện và phát triển xanh tốt. Này các bạn, thế nào là một người làm vườn giỏi.

Người làm vườn giỏi là một người biết rõ về khu vườn của mình từ những đặc tính của đất đến khí hậu và cả những loại cây trồng thích hợp. Biết giữ gìn môi trường trong sạch, không để những dơ bẩn rác rưởi làm ảnh hưởng khu vườn và có trách nhiệm bảo vệ khu vườn. Cũng vậy, là người thực tập sống tỉnh thức ta cần biết rõ trong đất tâm của mình có những tâm hành nào và những điều kiện nào sẽ làm cho các tâm hành đó biển hiện. Ý thức được rằng nếu ta xem một bộ phim bạo động, nghe những câu chuyện kích động, hoặc đọc một tin tức gây thù ghét, thì ta sẽ tưới tẩm hạt giống tiêu cực. Nên ta cần thực tập chánh niệm trong việc tiêu thụ hàng ngày từ cách ta nhìn, từ những câu chuyện ta nói, nghe để không tạo điều kiện thuận lợi cho những hạt giống của sợ hãi, giận dữ, si mê, ganh ghét… biểu hiện.

Không tưới hạt giận hờn
Không nuôi mầm sân hận
Mỗi cái nhìn, lời nói
Đều là giọt nước tưới.

Người làm vườn giỏi là một người biết làm đất, ủ phân, khéo léo chăm sóc, siêng năng tưới tắm cho những hạt giống hoa trái nảy mầm xanh tươi. Là người thực tập sống tỉnh thức ta cần biết tạo điều kiện thuận lợi cho những hạt giống lành thiện trong ta có cơ hội biểu hiện. Đọc một lời thơ đẹp, xem một bộ phim hay nghe một bài nhạc nuôi dưỡng, nói chuyện với một người bạn hiền, thực tập thiền đi, ăn cơm trong chánh niệm,…chính là cơ hội cho những hạt giống của hiểu, thương,của an vui , hạnh phúc nảy mầm. Nên ta cần khéo léo sắp xếp đời sống hàng ngày, tập trở về với giây phút hiện tại để cho ta cơ hội tiếp xúc nhiều hơn với những yếu tố lành mạnh, tươi mát cho những hạt lành trong ta thức tỉnh.

Một lời khen chân thật
Một ánh mắt dịu dàng
Là nắng xuân đầu mùa
Cho hạt lành tỉnh giấc.

 

 

Người làm vườn giỏi là một người biết các chăm sóc cho khu vườn thường xanh mát, ngọt lành. Người ấy hiểu rõ về những loại hoa trái trong vườn, biết được các mùa trong năm, nắm vững phương pháp chăm bón, tưới tắm. Là người thực tập sống tỉnh thức cũng vậy. Ta cần biết những gì đang xảy ra trong mình và xung quanh mình. Chánh niệm giúp ta nhận diện được những hạt giống lành thiện như biết nói lời thương yêu, chăm sóc, biết sẻ chia lân mẫn, biết tri túc an vui,…mà ta đã may mắn tiếp nhận từ gia đình dòng họ, nơi thầy cô, bè bạn, hay do ta tự tập luyện mà thành. Ta cần siêng năng đều đặn giữ gìn thói quen lành mạnh như: ngồi yên mỗi ngày để cây tĩnh lặng trong ta thêm vững chãi, biết nhận diện những điều
kiện hạnh phúc mà ta đang có để nuôi dưỡng hoa trái thương yêu, biết ơn làm cho khu vườn tâm luôn tươi đẹp.

Hạt lành đang biểu hiện
Nuôi lớn bởi bình an
Hơi thở hương sen mới
Vườn tâm đượm nắng hồng.

Người làm vườn giỏi là người biết cách sử dụng những rác hữu cơ trong vườn làm phân bón nuôi cây. Biết quán sát các mùa trong năm để học cách chăm vườn đúng tiết thời. Khi có sâu bệnh biết cho phân thuốc, cắt tỉa để cây khỏe mạnh. Là người thực tập sống tỉnh thức ta nhận diện được những tâm hành tiêu cực đang biểu hiện trong ta, không phủ nhận, chạy trốn, đàn áp hay khỏa lấp. Ta thực tập dừng lại và thở thật sâu, thật chậm để cho những cảm xúc đang có mặt ấy từ từ lắng xuống. Học cách quán chiếu để thấy rõ đâu là điều kiện làm cho tâm hành tiêu cực ấy biểu hiện và ngưng lại được những nguyên do ấy. Ví như khi buồn giận biểu hiện, ta tập dừng lại những suy nghĩ, nói năng và hành động. Thở và yên lại để thấy rõ nguồn cội là gì. Có thể từ một sự hiểu lầm, một lời nói vô ý, một vết thương trong quá khứ,… Ý thức được như vậy ta không còn bị dẫn dắt bởi những tâm hành tiêu cực và dừng lại được những lề thói tư duy, nói năng và hành động đưa ta về nẻo khổ.


Buồn giận vừa hé lên
Tôi dừng lại thở nhẹ
Không nói lời làm khổ
Không bước về lối quen.

Này các bạn, làm vườn như vậy cũng giống như rèn luyện một môn nghệ thuật. Người làm vườn không cực nhọc nhưng không mong cầu có kết quả ngay. Người ấy trở về với mảnh đất, chuyên cần chăm bón, với tất cả sự yêu thương và nhẫn nại. Người làm vườn không đợi mùa gặt mới hạnh phúc. Người ấy hạnh phúc ngay khi thấy một hạt lành hé nụ, thấy đất mềm sau cơn mưa, thấy chim về làm tổ. Cũng vậy, là người thực tập tỉnh thức không chờ giác ngộ mới mãn ý. Ta mỗi ngày sống yên vui tỉnh thức, mỗi bước chân gieo bình an, mỗi hơi thở đưa ta trở về với giây phút hiện tại nhiệm mầu.

Là người thực tập tỉnh thức và đang đi trên con đường phụng sự. Ta hiểu được rằng ta không thể mang lại bình an cho ai, nếu trong lòng không có bình an. Ta không thể chuyển hóa ai, nếu chưa bắt đầu từ chính mình. Muốn độ người, phải độ lấy tâm mình trước. Ta trở về chăm sóc vườn tâm của ta, làm cho khu vườn xanh tươi, nhiều bóng mát và thường có hoa trái ngọt lành. Khu vườn ấy sẽ trở thành nguồn vui và tạo cảm hứng cho những khu vườn xung quanh.

Này các bạn, đó là những phương pháp chăm sóc vườn tâm mà một người thực tập sống tỉnh thức nên học hỏi và rèn luyện.

Sau khi nghe Tôn giả Mṛgāvataṃsakā nói, những người đang chuẩn bị bước vào con đường Phụng Sự hoan hỷ, thấy được con đường và nguyện thực tập theo.

Xin em hãy là đoá hoa

 

(Trích từ sách Quyền lực đích thực của thiền sư Thích Nhất Hạnh)

Khi chạy theo quyền lực giả tạo, hay chạy theo đối tượng của thèm khát, ta sẽ đánh mất một điều tối ư cần thiết cho hạnh phúc – đó là tình yêu thương. Nhờ tuệ giác vô thường, vô ngã và tương tức, ta sẽ có cơ hội tìm thấy tình yêu thương chân thật. Văn hào Pháp Antoine de Saint-Exupéry nói rằng yêu không phải là ngồi nhìn nhau mà là cùng nhìn về một hướng. Theo tôi, thì tất cả chúng ta phải quay về nhìn lại cuộc đời của mình thật sâu sắc để xem thử, bằng kinh nghiệm bản thân, câu nói này có đúng không, và nếu đúng thì đúng tới mức nào.

Mỗi chúng ta đều có nhu cầu và ước muốn, vì vậy khi thương yêu ai, ta có khuynh hướng nhìn vào người đó và hy vọng thấy được nơi người ấy những gì là chân, thiện, mỹ mà ta hằng tìm kiếm. Ta khao khát những gì chân thật. Ta mong cầu những gì thánh thiện, đẹp đẽ, tốt lành. Nhiều người trong chúng ta tin rằng nếu tìm thấy những phẩm chất ấy nơi người kia thì ta không còn thiếu thốn gì nữa và sẽ bớt cô đơn. Tất cả chúng ta đều mong đợi thấy được những đức tính đẹp đẽ đó nơi người khác. Chúng ta thường tin rằng rất ít người hội đủ những đức tính ấy, nên khi thấy những đức tính ấy nơi một người nào đó, ta liền đem lòng thương yêu người đó, bởi vì ta nghĩ rằng ta đã khám phá ra những gì là chân, thiện, mỹ. Phải cẩn thận trong cách tìm kiếm bởi vì tri giác ta có thể sai lầm. Đôi khi những gì ta nghĩ là chân thật chưa chắc thật sự chân thật, những gì tốt lành chưa chắc thật sự tốt lành, những gì là đẹp đẽ chưa chắc thật sự đẹp đẽ. Tình yêu của ta có thể đã dựa trên những tri giác sai lầm để rồi sau một thời gian, ta khám phá ra rằng ta đã nhầm, bởi vì người ấy không phải là hiện thân của chân, thiện, mỹ như ta đang trông đợi, và ta cho rằng người kia đã phản bội, đã làm khổ ta. Ta đi tìm một người khác. Ta có thể thất bại nhiều lần như thế, hết người này đến người khác, rồi ta đâm ra mệt mỏi, thất vọng, chán chường. Cứ như thế, suốt đời ta rong ruổi đi tìm một người trong mộng.

Vì mơ ước có được chân, thiện, mỹ mà ta cố gắng chứng tỏ là ta có chân, thiện, mỹ, dù chỉ ở bề ngoài. Trong thâm tâm, ta vẫn nghĩ rằng ta không thực sự thánh thiện, thực sự đẹp đẽ, cho nên ta tìm cách “cải thiện” bề ngoài của ta bằng mỹ phẩm, y phục, ăn kiêng hay giải phẫu thẩm mỹ. Rồi ta học hỏi nghiên cứu này nọ, hoặc làm những việc khác thường để được tiếng là một người có uy tín, có hiểu biết rộng. Rồi ta tự trang điểm bằng những danh hiệu và bằng khen.

Chúng ta đang lừa dối nhau. Tự đáy lòng, ta cảm thấy ta chẳng có gì thánh thiện, đẹp đẽ, nhưng đồng thời ta lại cố chứng tỏ với mọi người rằng ta là hết mực thánh thiện, hết mực đẹp đẽ, hết mực đáng tin cậy. Cứ như vậy tập khí được trao truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác. Và trong khi lừa dối những người khác thì ta lại bị người khác lừa dối. Chúng ta là nạn nhân của nhau. Ta trang điểm để che bớt những cái xấu của mình và người khác cũng làm y vậy.

Khám phá ra rằng trong ta có đủ những hạt giống của chân, thiện, mỹ, ta sẽ ngưng rong ruổi tìm cầu. Ta sẽ không còn đi lang thang với mặc cảm thấp kém. Ta sẽ không còn phải lừa dối nhau, không cần trang điểm bởi vì ta đã khám phá ra chân, thiện, mỹ ngay trong ta.

Trên đời này, ai cũng đầy đủ tính chân – thiện – mỹ dù là đàn ông hay đàn bà, giàu hay nghèo, sang hay hèn, có học thức hay không học thức, mạnh khỏe hay ốm đau. Vậy thì đâu phải tìm kiếm ở bên ngoài nữa, vì những gì ta tìm kiếm vốn sẵn có trong ta rồi. Tất cả chúng sinh đều có sẵn tự tính giác ngộ thanh tịnh, tròn đầy. Chỉ cần trở về tự thân để tiếp xúc với những gì là chân, thiện, mỹ, khi đó ta sẽ chấm dứt bao nhiêu kiếp rong ruổi tìm cầu. Ta sẽ có niềm tin vững chắc nơi ta và sẽ được hạnh phúc, sẽ có bình an.

Bụt dạy rằng trong mỗi chúng ta đều có sẵn bản tính thiện nhưng ta khó chấp nhận sự thật ấy nếu trong gia đình hay ở chỗ làm ta phải chứng kiến những điều trái tai gai mắt. Phần đông chúng ta tin rằng ít có sự bình an ở nơi làm việc. Ta sợ mình không được thừa nhận. Ta không dám là chính mình. Ta thay đổi cách hành xử theo môi trường để được thừa nhận. Nếu hạnh phúc của ta hoàn toàn tùy thuộc vào quan điểm của những người khác, ta đâu còn tự tin. Và khi không được người khác thừa nhận, ta sẽ đau khổ. Đây là lý do khiến cho ta muốn trở thành một cái gì khác, một người nào khác. Đây chính là gốc rễ của đau khổ.

Một bông hoa không có nỗi lo sợ ấy. Nó cùng vươn lên với những bông hoa khác, hoa tím, hoa vàng, hoa đơn, hoa kép, nhưng bông hoa ấy không bao giờ có ý bắt chước những bông hoa khác. Xin đừng là một bông hoa nào khác. Xin đừng là một người nào khác. Không cần phải giải phẫu thẩm mỹ. Cả vũ trụ đã đến đây góp mặt để bạn biểu hiện ra như thế, đẹp đẽ như thế. Bạn như chính bạn là đẹp lắm rồi. Bạn không cần phải được những người khác thừa nhận. Bạn cần chấp nhận chính mình. Là hoa sen thì hãy cứ đẹp như hoa sen, đừng cố đẹp giống hoa mai. Nếu cứ cố gắng thay đổi mình để mong được mọi người thừa nhận, bạn sẽ suốt đời đau khổ. Hạnh phúc chân thật, quyền lực chân thật là tự hiểu mình, chấp nhận mình, có niềm tin nơi chính mình.