Ở miền Bắc Việt Nam có tượng Quan Âm nghìn tay nghìn mắt rất đẹp. Nghìn tay nghĩa là hoạt động nhiều cách vì tình thương phải được thể hiện ra bằng nhiều cách. Khi thương, người ta muốn có mặt, muốn nâng đỡ, muốn giải quyết khổ đau cho người mình thương. Nếu người mình thương đông quá thì mình phải có mặt nhiều nơi và mình phải có nhiều tay.

Tinh thông nghìn mắt nghìn tay,
cũng trong một điểm linh đài hóa ra.
Đó là hai câu thơ trong tác phẩm Nam Hải Quan Âm, bằng chữ Nôm. Hai câu đó chứng tỏ rằng cái thương phải được thực hiện bằng hành động. Vì vậy phải có cánh tay để duỗi tới, để vươn tới. Thành ra trong đức Bồ tát Quan Âm có đức Phổ Hiền, tức là hành động, là đại hạnh. Do đó chúng ta thấy cái chân lý của Pháp Hoa, của Hoa Nghiêm nó thấm nhuần vào tất cả các hình ảnh. Bồ tát Quan Thế Âm mang trong tự thân cánh tay của Bồ tát Phổ Hiền.
Nghìn mắt là cái để đi với hành động, tức là nhận thức, là hiểu biết. Một con mắt là để thấy và để hiểu. Con mắt tượng trưng cho Bồ tát Văn Thù Đại Trí. Con mắt là để nhìn sâu, nhìn kỹ, để phát hiện ra sự thật, cái chân tướng của sự vật, gọi là thiền quán. Vì vậy con mắt là tượng trưng cho thiền quán, Vipassanā. Như vậy trong Bồ tát Quan Thế Âm có con mắt của Bồ tát Đại trí Văn Thù. Trong Bồ tát Văn Thù mình cũng thấy trái tim của Quan Thế Âm và cánh tay của Phổ Hiền. Cho nên một vị Bồ tát chứa đựng tất cả các vị Bồ tát khác. Đó là chân lý của Hoa Nghiêm.
Tinh thông ngàn mắt ngàn tay,
cũng trong một điểm linh đài hóa ra.
Xem trong biển nước Nam ta,
Phổ Môn có đức Phật Bà Quan Âm.
Tại sao lại một ngàn? Một ngàn có nghĩa là rất nhiều. Thiên thủ thiên nhãn.
Bàn tay mà không có con mắt là nguy hiểm vô cùng. Hành động mà không đi theo với sự hiểu biết thì hành động đó sẽ đem lại đau khổ cho người mình thương, chứ đừng nói là người mình không thương. Tình thương mà không có sự hiểu biết thì chưa hẳn là tình thương và nó có thể gây đổ vỡ dù mình có đầy thiện chí. Thiện chí chưa phải là tình thương. Cái ý chí muốn thương chưa phải là thương. Cái khả năng thương là khả năng thấy và khả năng hiểu. Cho nên nhìn vào trong mỗi bàn tay của Bồ tát Quan Âm mình thấy được cái con mắt ở trong đó.
Và sự tu hành của mình, nói tóm lại, là để đặt vào trong lòng bàn tay của mình một con mắt. Chừng nào mình đặt được một con mắt vào trong lòng bàn tay thì bất cứ hành động nào của mình cũng sẽ đem lại sự an ủi, hạnh phúc cho người và cho chính mình. Còn nếu không có con mắt ở trong lòng bàn tay, hoặc là chưa có thì chúng ta phải cẩn thận. Và tu quán là để có con mắt, gọi là mắt tuệ, tuệ nhãn. Có tuệ nhãn thì dầu muốn hay không cũng sẽ có từ bi. Tại vì cái thấy nó đưa tới cái thương, cái hiểu nó đưa tới cái thương. Và mình không thể nào không hành động được.
Trong chúng ta, người nào cũng đã có những giây phút kinh nghiệm về hiểu, về thương và về một cái ước muốn hành động. Khi chúng ta có cái hiểu đó, thấy được, thương được và muốn hành động là chúng ta biết rằng hình ảnh của Đức Quan Thế Âm đã ngự trong trái tim của chúng ta rồi. Và chúng ta cứ tiếp tục như vậy thì không có lý do gì mà Đức Quan Thế Âm, cái tin lực của Đức Quan Thế Âm không tiếp tục tuôn tràn vào trong trái tim của chúng ta.
Vì vậy những người niệm Quan Thế Âm phải niệm một cách thông minh và phải biết rằng khi nào niệm bằng phương pháp nào thì nó có kết quả. Mình phải giúp cho những người xung quanh đừng để cho họ niệm một cách mê tín, đừng để cho họ niệm một cách sai lạc. Niệm Đức Quan Thế Âm như là một vị thần linh chỉ biết ăn hối lộ. Cúng chuối, cúng xôi, cúng nhang thật nhiều thì tự nhiên là Đức Quan Thế Âm sẽ về phe mình và đánh dẹp cái phe kia. Niệm như vậy ngàn đời Đức Quan Thế Âm Bồ tát cũng không có hiện thân ở trong trái tim của chúng ta. Tại vì Bồ tát Quan Thế Âm là hiện thân của hiểu, của thương và của hành động.
Mình đừng phân biệt rằng Đức Bồ tát Quan Thế Âm là một thực tại hoàn toàn ở ngoài mình.
Khi thấy được sự tiềm phục của Bồ tát Quan Thế Âm trong ta thì tự nhiên ta có sự cung kính đối với chính ngũ uẩn của chúng ta. Tại vì ngũ uẩn của chúng ta có chứa đựng Bồ tát Quan Thế Âm. Chúng ta sẽ không chê trách, mắng nhiếc, hay khinh lờn đối với ngũ uẩn của chúng ta. Đồng thời chúng ta cũng không chê trách, khinh lờn, hay đối xử tệ bạc với những hợp thể ngũ uẩn xung quanh, tức là những người bạn tu của chúng ta. Những người xung quanh chúng ta đều có đức Quan Thế Âm ở trong đó cả. Vì chúng ta chưa biết cách cho nên chưa có đánh động và làm sống dậy được Bồ tát Quan Thế Âm ở trong những người đó. Có thể ta nghĩ người đó không có tình thương, không có hiểu biết, không có hành động, không biết lo cho những người cùi, những người đói hay là những em bé mồ côi. Người đó giống như là không có trái tim. Điều đó không có đúng.
Điều đó chỉ chứng tỏ một điều là đức Quan Âm ở trong người đó đang ở trong thế tiềm phục và chúng ta chưa đủ khả năng để tháo gỡ giùm cho người đó, để cho người đó được hưởng cái chất liệu cam lồ tiết ra từ cái hình ảnh Quan Thế Âm ở bên trong. Cho nên khi chúng ta biết lễ lạy đức Quan Thế Âm ở trong ta thì ta cũng biết lễ lạy đức Quan Thế Âm của người khác.
Và tu học tức là dùng những biện pháp rất là quyền xảo, phương tiện. Đôi khi mình nói một câu mà có thể tháo gỡ được tình thương ở trong người đó. Mình có thể tháo gỡ được sự hiểu biết trong người đó. Và người đó chuyển hóa. Không cần làm nhiều, chỉ cần làm đúng.
(Lược trích từ pháp thọai tại xóm Thượng của Sư Ông Làng Mai ngày 13 tháng 1 năm 1992)










































