Nghìn mắt nghìn tay – Biểu tượng của tình thương và tuệ giác

Ở miền Bắc Việt Nam có tượng Quan Âm nghìn tay nghìn mắt rất đẹp. Nghìn tay nghĩa là hoạt động nhiều cách vì tình thương phải được thể hiện ra bằng nhiều cách. Khi thương, người ta muốn có mặt, muốn nâng đỡ, muốn giải quyết khổ đau cho người mình thương. Nếu người mình thương đông quá thì mình phải có mặt nhiều nơi và mình phải có nhiều tay.

 

 

Tinh thông nghìn mắt nghìn tay,

cũng trong một điểm linh đài hóa ra.

Đó là hai câu thơ trong tác phẩm Nam Hải Quan Âm, bằng chữ Nôm. Hai câu đó chứng tỏ rằng cái thương phải được thực hiện bằng hành động. Vì vậy phải có cánh tay để duỗi tới, để vươn tới. Thành ra trong đức Bồ tát Quan Âm có đức Phổ Hiền,  tức là hành động, là đại hạnh. Do đó chúng ta thấy cái chân lý của Pháp Hoa, của Hoa Nghiêm nó thấm nhuần vào tất cả các hình ảnh. Bồ tát Quan Thế Âm mang trong tự thân cánh tay của Bồ tát Phổ Hiền.

Nghìn mắt là cái để đi với hành động, tức là nhận thức, là hiểu biết. Một con mắt là để thấy và để hiểu. Con mắt tượng trưng cho Bồ tát Văn Thù Đại Trí. Con mắt là để nhìn sâu, nhìn kỹ, để phát hiện ra sự thật, cái chân tướng của sự vật, gọi là thiền quán. Vì vậy con mắt là tượng trưng cho thiền quán, Vipassanā. Như vậy trong Bồ tát Quan Thế Âm có con mắt của Bồ tát Đại trí Văn Thù. Trong Bồ tát Văn Thù mình cũng thấy trái tim của Quan Thế Âm và cánh tay của Phổ Hiền. Cho nên một vị Bồ tát chứa đựng tất cả các vị Bồ tát khác. Đó là chân lý của Hoa Nghiêm.

Tinh thông ngàn mắt ngàn tay,

cũng trong một điểm linh đài hóa ra.

Xem trong biển nước Nam ta,

Phổ Môn có đức Phật Bà Quan Âm.

Tại sao lại một ngàn? Một ngàn có nghĩa là rất nhiều. Thiên thủ thiên nhãn.

Bàn tay mà không có con mắt là nguy hiểm vô cùng. Hành động mà không đi theo với sự hiểu biết thì hành động đó sẽ đem lại đau khổ cho người mình thương, chứ đừng nói là người mình không thương. Tình thương mà không có sự hiểu biết thì chưa hẳn là tình thương và nó có thể gây đổ vỡ dù mình có đầy thiện chí. Thiện chí chưa phải là tình thương. Cái ý chí muốn thương chưa phải là thương. Cái khả năng thương là khả năng thấy và khả năng hiểu. Cho nên nhìn vào trong mỗi bàn tay của Bồ tát Quan Âm mình thấy được cái con mắt ở trong đó.

Và sự tu hành của mình, nói tóm lại, là để đặt vào trong lòng bàn tay của mình một con mắt. Chừng nào mình đặt được một con mắt vào trong lòng bàn tay thì bất cứ hành động nào của mình cũng sẽ đem lại sự an ủi, hạnh phúc cho người và cho chính mình. Còn nếu không có con mắt ở trong lòng bàn tay, hoặc là chưa có thì chúng ta phải cẩn thận. Và tu quán là để có con mắt, gọi là mắt tuệ, tuệ nhãn. Có tuệ nhãn thì dầu muốn hay không cũng sẽ có từ bi. Tại vì cái thấy nó đưa tới cái thương, cái hiểu nó đưa tới cái thương. Và mình không thể nào không hành động được.

Trong chúng ta, người nào cũng đã có những giây phút kinh nghiệm về hiểu, về thương và về một cái ước muốn hành động. Khi chúng ta có cái hiểu đó, thấy được, thương được và muốn hành động là chúng ta biết rằng hình ảnh của Đức Quan Thế Âm đã ngự trong trái tim của chúng ta rồi. Và chúng ta cứ tiếp tục như vậy thì không có lý do gì mà Đức Quan Thế Âm, cái tin lực của Đức Quan Thế Âm không tiếp tục tuôn tràn vào trong trái tim của chúng ta.

Vì vậy những người niệm Quan Thế Âm phải niệm một cách thông minh và phải biết rằng khi nào niệm bằng phương pháp nào thì nó có kết quả. Mình phải giúp cho những người xung quanh đừng để cho họ niệm một cách mê tín, đừng để cho họ niệm một cách sai lạc. Niệm Đức Quan Thế Âm như là một vị thần linh chỉ biết ăn hối lộ. Cúng chuối, cúng xôi, cúng nhang thật nhiều thì tự nhiên là Đức Quan Thế Âm sẽ về phe mình và đánh dẹp cái phe kia. Niệm như vậy ngàn đời Đức Quan Thế Âm Bồ tát cũng không có hiện thân ở trong trái tim của chúng ta. Tại vì Bồ tát Quan Thế Âm là hiện thân của hiểu, của thương và của hành động.

Mình đừng phân biệt rằng Đức Bồ tát Quan Thế Âm là một thực tại hoàn toàn ở ngoài mình.

Khi thấy được sự tiềm phục của Bồ tát Quan Thế Âm trong ta thì tự nhiên ta có sự cung kính đối với chính ngũ uẩn của chúng ta. Tại vì ngũ uẩn của chúng ta có chứa đựng Bồ tát Quan Thế Âm. Chúng ta sẽ không chê trách, mắng nhiếc, hay khinh lờn đối với ngũ uẩn của chúng ta. Đồng thời chúng ta cũng không chê trách, khinh lờn, hay đối xử tệ bạc với những hợp thể ngũ uẩn xung quanh, tức là những người bạn tu của chúng ta. Những người xung quanh chúng ta đều có đức Quan Thế Âm ở trong đó cả. Vì chúng ta chưa biết cách cho nên chưa có đánh động và làm sống dậy được Bồ tát Quan Thế Âm ở trong những người đó. Có thể ta nghĩ người đó không có tình thương, không có hiểu biết, không có hành động, không biết lo cho những người cùi, những người đói hay là những em bé mồ côi. Người đó giống như là không có trái tim. Điều đó không có đúng.

Điều đó chỉ chứng tỏ một điều là đức Quan Âm ở trong người đó đang ở trong thế tiềm phục và chúng ta chưa đủ khả năng để tháo gỡ giùm cho người đó, để cho người đó được hưởng cái chất liệu cam lồ tiết ra từ cái hình ảnh Quan Thế Âm ở bên trong. Cho nên khi chúng ta biết lễ lạy đức Quan Thế Âm ở trong ta thì ta cũng biết lễ lạy đức Quan Thế Âm của người khác.

Và tu học tức là dùng những biện pháp rất là quyền xảo, phương tiện. Đôi khi mình nói một câu mà có thể tháo gỡ được tình thương ở trong người đó. Mình có thể tháo gỡ được sự hiểu biết trong người đó. Và người đó chuyển hóa. Không cần làm nhiều, chỉ cần làm đúng.

(Lược trích từ pháp thọai tại xóm Thượng của Sư Ông Làng Mai ngày 13 tháng 1 năm 1992)

Kệ truyền đăng 20-27.3.2026 tại Làng Mai, Pháp

Lễ truyền đăng năm nay đã diễn ra trong không khí rất đơn sơ, gần gũi, ấm cúng mà không kém trang nghiêm tại Làng Mai. Sư cô Chân Đức và thầy Pháp Ứng đã đại diện Sư Ông và tăng thân Làng Mai truyền đăng cho 21 vị Tiếp hiện, trong đó có một vị xuất sĩ và 20 vị  cư sĩ.  Ngọn lửa chánh Pháp đã được Bụt và nhiều thế hệ cao tăng gìn giữ và trao truyền đã và đang  được tiếp tục gìn giữ và thắp sáng ở những vùng đất khác nhau như Mỹ, Canada, Anh Quốc, Pháp Quốc, … Đặc biệt năm nay, một vị tân giáo thọ có nguồn gốc tổ tiên huyết thống  Zulu (Châu Phi) và Ấn độ.

Dưới đây là những bài kệ truyền đăng trong tuần lễ truyền đăng 20-27.3 2026 tại Làng Mai Pháp:

Ngày 23.03.2026

1. Sư cô Chân Trăng Thường Chiếu 

(Lê Thị Kiều Linh
Tâm Diệu Lạc)

Ánh trăng thường chiếu rèm hiên
Sáng ai tỉnh lặng sen khuya hé nhìn
Nâu sòng bạc ấm con tim
An nhiên thấm đẫm thân tâm nhẹ nhàng

2. True Root of Understanding

(John Hussman
Genuine Friend of the Heart)

The roots of goodness are not hard to find
when understanding and merit go together.
A heart of non-attachment lights up the world,
not attached, not averse and not indifferent.

3. True Lotus Wisdom – Chân Liên Tuệ

(Sita Brand
Compassionate Understanding of the Heart)

True presence is the what the world needs most of all
The wisdom of the lotus knows how to use the mud
Every breath is a miracle healing the world.
Skilful means bring the teachings to many places.

4. True Healing ConfidenceChân Liệu Tín

(Maru Moonlion
Noble Commitment of the Heart)

Healing and injury interare
Like collective and individual.
Confidence in the power of Mother Earth
Cuts through all imaginary boundaries.

5. True Cloud of the Nectar of Immortality – Chân Cam Lộ Vân 

(Lorraine Sherman
Bright Way of the Heart)

The Dharma like a cloud cools the heat of the world.
When transmitted clearly it is healing nectar.
Together with the sangha we face the afflictions.

6. True Garden of Concentration – Chân Định Uyển 

(Sue Rempel
Virtuous Action of the Heart)

We stop and we have concentration;
We have time for the garden of mind.
Running towards and away from ceases.
The Dharma transmits itself with ease.

7. True Deep Source – Chân Thâm Nguyên

(Rehena Harilall
Transforming Love of the Heart)

Deep is the pain but deep also the relief
when touching the source in what is not self.
By healing ourself we learn to heal others
and the other shore is not far away.

8. True Lotus of Peace  – Chân Liên An

(Heather Lyn Mann
Non-Attainment of the Heart)

The jewel is always in the lotus.
Where there is peace, there is happiness.
This is what we offer to all realms.
Wisdom is a grace; grief is transformed.

Ngày 24.03.2026

1. True Fragrant Field – Chân Hương Điền

(Tracey Pickup
Compassionate Patience of the Heart)

The field path wends its way through fresh spring growth
Jasmine fragrance permeates the drone of bees
A cry for succor is relieved by the dew of understanding
The loquats ripen as bird and beast feed freely

2. True Gentle Oak – Chân Sồi Nhẹ Nhàng

(Anthony Leete
Joyful Clarity of the Heart)

In a gentle voice one transmits the Dharma
As leaves that fall from the oak tree in autumn.
As we hold the sangha in our two hands
Our practice repays our great gratitude.

3. True River of Enlightenment – Chân Giác Hà

(Rhonda Fabian
Grateful Nurturance of the Heart)

The river swells with the arrival of spring rain
The shore of enlightenment appears when the morning fog clears
Boundless compassion heals the pain of seven generations
On the forest slope each daffodil blooms an entire universe

Bản dịch của thầy Pháp Dung:

Mưa xuân vừa xuống, dâng đầy
Sương sớm tan rồi, bờ Giác đây
Từ bi vô lượng chữa bảy đời
Sườn rừng hoa thủy tiên nở một vũ trụ

4. True Mountain of Non-Fear – Chân Vô Uý Sơn

(Lauri Bower
Mindful Builder of the Heart)

The highest gift is the  gift of non-fear
A solid-mountain refuge for many.
Not attached to ideas of right and wrong
we build harmony in the sangha.

5. True Source of Virtue – Chân Đức Nguyên

(Nomi Green
Applied Understanding of the Heart)

Virtue shines forth from the field of boundless action
Freedom manifests from the pure source of understanding
Overcoming all hindrance the deer bounds through forest depths
As the fog lifts the sun’s rays illuminate a new world.

Bản dịch của thầy Pháp Dung:

Đức sáng chiếu từ ruộng hành vô lượng
Tự do hiện từ tịnh Nguyên hiểu biết
Không ngăn ngại, nai băng rừng sâu thẳm
Sương tan rồi, nắng mở một trời mới

6. Chân Hành Uyển – True Garden of Practice

(Nguyễn Như Mai
Awakened Dwelling of the Heart)

Chân tâm thanh tịnh, sớm chiều hành,
Chăm vườn tuệ uyển, đẹp công phu.
Chuyển hoá bùn nhơ ra hoa tuệ
Nắng vàng tỏa sáng, khúc xuân ru.

With a joyful heart, I walk on the true path,
Tending the garden of practice, ever fresh and green.
Embracing mud and mire, transforming into flowers,
Golden sunlight radiates, singing a song of spring.

7. True Perfect Wisdom

(Jacquelien van Galen
Mindful Direction of the Heart)

Beyond perfection and imperfection,
Wisdom born from mindfulness
Shines like a lighthouse in the night
A beacon for anyone in need.

8. Chân Nghiêm

(Nguyễn Thị Thanh Yến
Pháp danh: Chơn Minh)

Chân như mây bạc trăng vàng
Nghiêm trang cõi tịnh rõ ràng quê hương
Mỗi hơi thở, vạn niềm thương
Đèn tâm chiếu sáng rõ đường độ sinh

9. Chân Bi Trú – True Compassionate Dwelling

(Karla Johnston
Radiant Understanding of the Heart)

In the heart of compassion flows the nectar of immortality
In peace the sequoia dwells building its girth for millenia
All afflictions transformed a chrysanthemum blooms
Truth not here, not there, radiates everywhere through the cosmos.

Bản dịch của thầy Pháp Dung:

Trong tim Bi chảy cam lồ bất tử
Cây củ tùng an Trú bồi gốc nghìn năm
Phiền não chuyển rồi, cúc vàng khai nở
Chân lý không đây không đó, chiếu cùng pháp giới

Ngày 26.03.2026

1. True Flower of Happiness – Chân Lạc Anh

(Lindsay Catherine Lumsden
Gentle Service of the Heart)

Building sangha is arranging flowers,
Seeing the happiness in everyone,
placing the flowers carefully, wisely
and placing your own flower among them.

2. True Lotus Meditation – Chân Liên Thiền

(Jane Ellen Combelic
Sweet Wisdom of the Heart)

The lotus flower does not need to fear the mud
Meditation teaches us non-duality.
All rivers find their way to the great ocean
Where collective enlightenment is possible.

3. True Pure Peace – Chân Thanh An

(Harry Bradshaw
Joyful Simplicity of the Heart)

Pure and clear is the right view of non-self.
It brings peace to oneself and the world.
Ending complexes of better or worse,
We enjoy true freedom and happiness.

4. True Root of Healing

(Terri Hussman
Forest Insight of the Source)

With roots in blood, spiritual, land ancestors,
we see the path of healing so clearly.
Mindful steps touch the ground of reality,
realising peace for oneself and for the world.

Bấm vào đây để xem album hình ảnh Lễ truyền đăng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Vững một niềm thương

Thầy Chân Pháp Niệm

 

Nếu hỏi Pháp Niệm muốn tiếp nối Sư Ông điều gì nhất, chắc chắn đó là xây dựng tăng thân. Cũng như rất nhiều quý thầy và quý sư cô khác, Pháp Niệm muốn duy trì và phát triển cho tăng thân Làng Mai mỗi ngày mỗi khỏe mạnh hơn và tiếp nối được sự nghiệp tu học và dấn thân mà Sư Ông đã trao truyền. 

 

Những thử thách mới

Trong bối cảnh xã hội bây giờ, xây dựng tăng thân và sống chung với nhau là một thách thức rất lớn. Tăng thân chúng ta đang gặp nhiều thử thách sau khi Sư Ông không còn biểu hiện dưới hình tướng quen thuộc. Thử thách này có nhiều góc độ, không dễ dàng, nhưng chúng ta đang thử nghiệm và quán chiếu. 

Hồi xưa, tất cả xuất sĩ đều hướng về Sư Ông và thiết lập tình thầy trò một cách dễ dàng. Còn bây giờ, tình thầy trò không giống tình thầy trò thời Sư Ông còn tại thế. Sau khi Sư Ông viên tịch, các sư chú, sư cô vào xuất gia là con chung của tăng thân. Đó là một điều hay, nhưng đồng thời cũng là một khác biệt so với thời trước. Hiện nay, các sư em xuất gia và được rất nhiều các thầy, các sư cô làm y chỉ sư luân phiên nhau chăm sóc. Ngày xưa mình cũng làm như vậy, nhưng vẫn có Sư Ông để hướng về như một người cha chung. Ở một góc nhìn mới, điều này có lẽ cũng là một sự cách mạng trong cách tiếp nhận đồ chúng xuất gia để có thể tránh việc “đệ tử người này, đệ tử người kia…”, đặc biệt trong tinh thần sống chung với nhau như một đoàn thể, một tăng thân lâu dài. Khi trong một chúng mà nhiều thầy nhận đệ tử riêng, dù là xuất sĩ hay cư sĩ Năm giới, thì thật khó tránh chuyện phân bì. Trách nhiệm của tăng thân là làm thế nào để đánh thức vị thầy trong chính bản thân của mỗi người. Nói chung, muốn duy trì nếp sống tăng thân như Sư Ông mong muốn, cách tiếp nhận đệ tử xuất sĩ và cư sĩ như hiện nay là tương đối hay. Trên thực tế, có những vị xuất gia có thầy bổn sư hẳn hoi nhưng vẫn không kết nối được sâu sắc với thầy của mình. Vì vậy, điều đó cũng tương đối thôi. Quan trọng là các sư em cảm nhận được tình thương, sự chăm sóc, dạy dỗ và được dẫn dắt rõ ràng, cụ thể, hiệu quả để có thể chuyển hóa, trị liệu được bản thân và trở thành một pháp khí cho đạo pháp. 

Bên cạnh đó, xã hội hiện đại đang có những biến động mạnh mẽ trên nhiều phương diện: kinh tế, chính trị, giáo dục, v.v. Cho nên đó cũng là một thách thức rất lớn trong việc chăm sóc và dạy dỗ các sư em của mình. Hoàn cảnh bây giờ không giống như thời cách đây 15 – 20 năm trước, vì vậy cũng khá thách thức đối với nội chúng. Đối với các thế hệ có nhận thức rất khác như thế hệ Gen Z, Gen Y…, nếu mình vẫn giữ nguyên phương pháp và cách tiếp cận cũ thì chắc chắn là mình sẽ rất khó để tiếp độ được các sư em thế hệ đó. Ngay cả các sư em thuộc thế hệ 9x là đã rất khác rồi.

 

Vai trò của tăng thân

Ai trong chúng ta cũng biết tăng thân có một vai trò rất quan trọng. Sự có mặt của tăng thân tạo ra cảm hứng rất lớn và đem con người lại gần với nhau. Khi một người đến với tăng thân, họ cảm nhận được tình thương yêu, ấm áp – điều rất khác biệt với những gì mà họ tiếp cận thông qua công nghệ, dù là AI.

Tăng thân cũng chính là môi trường mà chúng ta đến với nhau để cùng tu tập và cùng nhau chuyển hóa. Do đó, việc quan trọng của chúng ta là làm sao nuôi dưỡng được tăng thân. Đối với tăng thân xuất sĩ Làng Mai, Pháp Niệm thấy để nuôi dưỡng và gìn giữ được tăng thân, chúng ta cần có sự thay đổi trong tư duy, cách giáo dục, cách mình hiểu anh chị em, và làm thế nào đặt các thành viên trong tăng thân đúng vị trí để phát huy được tài năng, khả năng và đam mê của họ. 

Vì vậy, điều mà Pháp Niệm muốn tiếp nối nhất khi nghĩ tới Sư Ông, chắc chắn đó là tăng thân. Xây dựng tăng thân là tâm huyết cả đời của Sư Ông. Đứng về phương diện thực tập thì tất nhiên mình muốn tiếp nối sự thảnh thơi, an lạc và tình thương của Sư Ông, cách Sư Ông xử lý những chuyện xảy ra trong chúng và dạy dỗ các đệ tử. Mỗi ngày, mình có thể tiếp nối Sư Ông bằng cách hiểu và thương mọi người hơn một chút. 

Xây dựng tăng thân và duy trì nếp sống của tăng thân để có thể phát triển một cách bền vững là một câu hỏi lớn. Điều này cần có sự học hỏi, quán chiếu và cải cách để phù hợp hơn. 

 

Tinh thần cởi mở và đổi mới không ngừng

Theo thời gian, Pháp Niệm được chứng kiến Sư Ông đưa ra rất nhiều sáng kiến đổi mới trong cách thức tu tập và vận hành của tăng thân. Sư Ông bắt đầu từ những sự thực tập nho nhỏ như là đổi phòng ở, thay đổi người ở cùng phòng, đổi đội luân phiên nấu ăn… Sau đó, Sư Ông chế tác thêm những phương pháp như là đệ nhị thân, soi sáng… Trong nếp sống tự viện ngày xưa không có những phương pháp đó. Sư Ông làm cho những sinh hoạt đó trở nên những pháp môn để chúng ta có thể duy trì và nuôi dưỡng sự lành mạnh của tăng thân. 

Trong truyền thống Phật giáo cũng có soi sáng, nhưng mình chỉ tới một vị Hòa thượng rồi tác bạch ngắn gọn. Nhưng tại Làng Mai, huynh đệ được ngồi lại soi sáng cho nhau theo cách Sư Ông hướng dẫn. Đó là những bước đột phá đầu tiên trong nếp sống sinh hoạt tăng thân mà Sư Ông đã tạo dựng.

Khi tăng thân xuất sĩ trở nên lớn mạnh, nhiều người vào xuất gia thì Sư Ông bắt đầu xây dựng hệ thống tổ chức vận hành theo Hội đồng Tỳ kheo và Tỳ kheo ni. Ban đầu, Hội đồng trưởng lão đứng ra chăm sóc cho đại chúng. Sau đó, hình thành một Nhóm quản chúng (committee) bên phía quý thầy trước. Về sau, Sư Ông và tăng thân thành lập ra Ban chăm sóc (Care Taking Council – CTC) để mà thực hành những điều Hội đồng Tỳ kheo/ Tỳ kheo ni đưa ra, rồi thêm Hội đồng Giáo thọ. Cách tổ chức ba ban – gồm Hội đồng Tỳ kheo/Tỳ kheo ni, Hội đồng Giáo thọ và Ban chăm sóc (CTC) – là những bước đột phá vào thời điểm đó, giúp đưa chúng vào nề nếp. Từ năm 1999, cả ba ban bắt đầu chính thức vận hành rất mạnh. Tiếp đến, Sư Ông từ từ đưa ra những vai trò như trụ trì hay các vai trò khác…

Thực ra, cơ cấu này không hẳn là mới; mình có thể thấy Sư Ông quay lại hệ thống tổ chức của một thiền viện, một tu viện nhiều hơn. Vì đại chúng bắt đầu có nề nếp và Sư Ông muốn trao truyền cho các thầy, các sư cô cách vận hành như một tăng thân. Đồng thời, Sư Ông học hỏi thêm những phương pháp của phương Tây, làm mới lại về cách tổ chức, họp hành, cách chia sẻ,…   để áp dụng vào trong đời sống của chúng, bên cạnh  áp dụng những phương pháp có sẵn trong truyền thống.

Khi tăng thân mở những trung tâm mới, Sư Ông luôn thực hiện với tư cách của cả tăng thân, chứ không phải vài cá nhân đi ra để làm riêng. Đó cũng là một sự đột phá so với các phương pháp của truyền thống, khi các chùa chỉ cần một thầy đi ra lập chùa là được. Mong là mình giữ được tinh thần Đi như một dòng sông mà Sư Ông đã dạy. 

Xây dựng tăng thân ở châu Á 

Năm 2006, khi đang ở Lộc Uyển, Sư Ông gọi Pháp Niệm về Từ Hiếu để chăm các sư em. Sư Ông rất thương Việt Nam. Sư Ông có trách nhiệm với những gửi gắm từ Sư Cố, từ liệt vị Tổ sư để phát triển chùa Tổ. Gốc mà mạnh thì ngọn mới khỏe. Vì vậy, Sư Ông luôn hướng về quê hương đất nước, chùa Tổ, để đưa pháp môn trở lại như một hoa trái cúng dường lên Sư Tổ, để mọi người dân Việt Nam được thừa hưởng, đặc biệt là giới trẻ.

Năm 2009, Pháp Niệm trở lại Làng. Đến mùa An cư 2013, Sư Ông dạy Pháp Niệm về Thái Lan. Thời điểm đó, đại chúng ở Thái còn rất mới, sinh hoạt chưa được ổn định. Thầy Pháp Khâm và thầy Trung Hải cũng được cử về để giúp xây dựng. Sư Ông mong muốn xây dựng Làng Mai Thái Lan thành một trung tâm tu học cho cả Đông Nam Á, đặc biệt là nơi nương tựa cho người Việt sang tu học, đóng một vai trò rất quan trọng là tiếp tục gieo hạt giống bồ đề. Có thể với tầm nhìn đó mà Sư Ông lấy tên là tu viện Vườn Ươm – vườn gieo hạt giống bồ đề cho các thầy, các sư cô trẻ người Việt, kể cả cư sĩ. Đúng như dự đoán, sau này người Việt qua tu học rất đông, nhất là các bạn trẻ. 

Sư Ông cũng dạy các anh em là: “Các con ở Thái Lan nhưng thỉnh thoảng nên đi về Việt Nam để tiếp tục gieo trồng hạt giống chánh niệm tại quê hương”. Vì vậy, Pháp Niệm, thầy Trung Hải, thầy Pháp Khâm cùng một số anh em, mặc dù ở Thái Lan nhưng vẫn thường xuyên trở về Việt Nam để hướng dẫn tu học.

 

Chương trình học nội chúng 

Khi về Thái Lan, Pháp Niệm cùng với các anh em tổ chức lại chúng và hệ thống hóa những điều Sư Ông dạy bằng cách mở ra các lớp học giống như trong trường học nhưng không cần thi cử. Tăng thân đã chia chương trình Phật học bốn năm thành chương trình bảy năm, để đơn giản hóa, dễ truyền đạt và phù hợp với trình độ của các sư em nhỏ. Đó là khởi đầu của chương trình giáo dục tại Làng Mai Thái Lan. 

Ngoài Phật học, các sư em còn được học thêm một số môn ngoại điển như lịch sử, văn học, văn hóa, tâm lý học cơ bản, v.v. Khi đó, mình chưa chú trọng vấn đề xây dựng nhà cửa mà chú trọng về giáo dục. Chỗ ở tuy còn chật nhưng đại chúng vẫn vận động xây các lớp học cấp bốn đơn sơ. Đó là những bước đầu tiên, mình chưa nghĩ tới tổ chức các khóa tu, chỉ nghĩ tới chuyện dạy học cho các sư em thôi.

Điều thứ hai, mình cũng nghĩ tới là sau này các thầy, các sư cô sẽ phải giảng dạy. Trước giờ Sư Ông dạy hết nên mình hơi thụ động. Do đó, nếu không bắt đầu tập giảng dạy thì mình sẽ  không biết giảng dạy. Không phải anh chị em xuất sĩ nào cũng có trình độ sư phạm hay ăn nói lưu loát, cũng như số lượng các vị có khả năng đó không nhiều. Thành ra, các vị giáo thọ, tân giáo thọ cũng cần phải được đào tạo và tiếp tục học hỏi. Vì vậy, chương trình giáo dục đó không chỉ để giảng dạy cho các sư em, mà đồng thời là để quý thầy, sư cô đứng lớp rèn luyện cho chính bản thân mình. Chỉ sau một thời gian, các thầy, các sư cô giáo thọ trẻ bắt đầu cảm thấy tự tin hơn để giảng dạy. Đó cũng là một thành công lớn. Chương trình học trong khung cảnh thời khóa, tu học và phụng sự nên rất hài hòa. 

Dần dần, nhiều người bắt đầu tìm tới tu học. Khi Sư Ông về Thái năm 2016, số lượng người đến tu học tăng lên rất nhanh. Có thời điểm, đại chúng hai xóm đã có đến gần 200 vị xuất sĩ.

 

Chánh niệm đi vào xã hội Việt Nam

Năm 2007, trong chuyến về Việt Nam, Sư Ông có một buổi nói chuyện với giới doanh nhân. Năm 2008, khóa tu doanh nhân đầu tiên đã được tổ chức tại Palm Garden Resort, Hội An. Khi đó, Sư Ông chỉ mới tiếp xúc với giới doanh nhân miền Nam. Sau năm 2009, chương trình đưa chánh niệm vào trong giới doanh nhân Việt Nam bị gián đoạn. 

Đến năm 2018, tăng thân được mời về tổ chức khóa tu doanh nhân đầu tiên ở miền Bắc. Ban đầu cũng gặp không ít khó khăn, nhưng sau đó, khóa tu được tổ chức và duy trì đều đặn, liên tục hàng năm cho tới bây giờ. 

Dần dần, các giới khác như y tế, giáo dục cũng tìm đến với tăng thân. Tinh thần của Sư Ông là tạo ra một sự giác ngộ tập thể, theo tinh thần “Một đức Bụt là không đủ” (One Buddha is not enough). Và nguyện ước của tăng thân là đưa đạo Bụt ứng dụng (Applied Buddhism) vào đời sống xã hội.

Ở Việt Nam, hiện nay tăng thân có các khóa tu cho các ngành giáo dục, y tế, khóa tu cho gia đình, cho người trẻ, cũng như khóa tu cho các nhóm công ty, tập đoàn và doanh nhân. Riêng về giới nghệ sĩ, mình chưa tổ chức được khóa tu riêng, nhưng hy vọng trong tương lai có thể thực hiện vì họ cũng rất quan tâm và biết đến pháp môn nhiều lắm. Đó là những điều tăng thân đã làm được trong việc gieo hạt bồ đề tại Việt Nam. 

Tuy nhiên, Pháp Niệm nghĩ rằng tăng thân phải luôn luôn chuẩn bị để “đủ trình” và “đủ chất”. Mình không thể nào tiếp tục mãi theo cách cũ. Qua thời gian quan sát, Pháp Niệm thấy có dấu hiệu “bão hòa” trong một số khóa tu và sinh hoạt mình tổ chức. Có những người tâm huyết sẽ ở lại, nhưng cũng có những người sẽ đi tìm những thức ăn mới, cách thức mới. Cho nên, một trong những điều mình phải nhìn lại bây giờ là làm sao tránh được chuyện “bão hòa”, làm sao trang bị, đào tạo cho các thầy, các sư cô có những hành trang mới phù hợp hơn. 

Bên cạnh đó, Pháp Niệm cũng mong các thầy, các sư cô gìn giữ được những thực tập căn bản, những giới luật và uy nghi để có thể gìn giữ được nếp sống phạm hạnh của mình. Có những thực tập rất hay để bảo hộ cho sự tu học với tư cách của cá nhân và tập thể như phương pháp đệ nhị thân, đi hướng dẫn các khóa tu thì luôn đi như một tăng thân, kể cả việc thành lập một nơi tu học mới cũng vậy. Đó là tinh thần Đi như một dòng sông

Chúng ta đang sống trong thời đại trí tuệ nhân tạo, với nhiều cơ hội hoằng pháp bằng kỷ thuật số và môi trường online. Điều này đúng là một cơ hội lớn, nhưng đồng thời cũng là một thách thức không nhỏ. Vì vậy, tăng thân cần tiếp tục học hỏi và tìm cách hoằng pháp hiệu quả hơn nữa, cũng như vẫn biết cách bảo hộ, giữ gìn được cho nhau trên con đường tu học. 



Hội ngộ ẩn sơn

Sư cô Chân Huệ Tri

 

Con đã về nơi thâm sơn hùng vĩ

Khoác áo mây và tắm nắng hoàng hôn

Tiếng chuông khuya thức tỉnh tận đáy hồn

Mừng hạnh ngộ, lắng yên đời ẩn sĩ. 

 

Con đã đến lạc loài bao thế kỷ

Tìm kiếm hoài, vách đá, am tranh

Mãi loay hoay để thế sự xoay vần

Tâm rong ruổi giữa dòng đời náo nhiệt. 

 

Con đến đây núi đồi tràn bóng nguyệt

Tỉnh giấc khuya, khoác áo ngắm trăng rơi

Đêm thanh vắng, núi đồi thêm diễm tuyệt

Con nhận ra Tịnh độ ở đây rồi. 

 

Từ dạo ấy tâm ruổi rong dừng lại

An trú sâu trong hơi thở tuyệt vời

Chốn yên bình con sống thật thảnh thơi

Tâm bồ đề lớn thêm, rực sáng. 

 

Niềm tin ấy tràn vào tim sáng loáng

Tràn núi xanh in dấu mỗi bước chân

Đến hoa cỏ cũng thêm sắc thêm dáng

Chốn thâm sơn con sống trọn chân tình. 

 



 

 



Giếng nước thơm trong

Hành trình của một tờ Tập san Phật học

Thầy Chân Trời Nguyện Ước

 

Con chim sau khi đã mổ vỏ quả trứng chui ra thì sẽ không thể nào trở lại trạng thái cũ nữa. Đó là hình ảnh ví dụ nổi tiếng của Hermann Hesse trong tác phẩm Demian (1919) nói về sự thức tỉnh của cái tôi, sự vượt thoát khỏi cái vỏ an toàn cũ để bước vào một đời sống mới, nhiều thách thức nhưng cũng đầy những điều mới lạ để chúng ta thỏa sức học hỏi, khám phá và chinh phục. Điều đó đúng với trường hợp khi bạn đã “lỡ” thai nghén trong tâm một ý tưởng, một hoài bão muốn thực hiện, bạn sẽ không thể nào còn “ung dung” được như trước nữa. Bạn sẽ phải bắt đầu suy tư, lên dự tính, lập kế hoạch, đi tìm người cộng tác, đối mặt với những vấn đề hóc búa… Bạn dồn hết sự quyết tâm và lòng nhiệt thành của mình để cho ra đời “đứa con tinh thần” đó. Để rồi bạn vượt ra được những giới hạn an toàn của bản thân, mở toang được cánh cửa vào những khung trời mới, lan tỏa được niềm cảm hứng đến với mọi người. Đây chính xác là những gì mà tôi và các huynh đệ trong Ban biên tập (BBT) tập san Giếng nước thơm trong đã trải qua trong suốt chặng đường khai sinh và phát triển tờ tập san Phật học đầu tiên ở Làng Mai.

 

 

Ngày khai sinh tờ tập san, 22.09.2022, chúng tôi vẫn nhớ như in cái cảm giác hạnh phúc hân hoan khó tả. Xin được mượn lại đây mấy lời của thầy Trời Minh Lượng ghi lại khoảnh khắc đó: 

 

“Buổi sáng hôm ấy, một nhóm quý thầy, quý sư cô đã giới thiệu với tăng thân ấn phẩm mới có tên Giếng nước thơm trong – tập san Đạo Bụt ứng dụng Làng Mai Thái Lan. Trong đó có bài khảo cứu về các câu đối ở Tổ đình Từ Hiếu. Các câu đối này được dùng để trang trí nhiều nơi trong chùa, từ cổng tam quan cho đến chánh điện. Nhưng vì các câu đối được viết bằng chữ Hán nên nhiều quý thầy, quý sư cô không hiểu hết được ý nghĩa.

 

Bài khảo cứu với bản dịch và chú giải rõ ràng đem đến cho người đọc cơ hội được học hỏi và hiểu một cách sâu sắc hơn ý nghĩa của các câu đối. Cặp mắt của người huynh đệ ấy sáng lên khi chia sẻ về bài viết. Mỗi ý lại được nhấn mạnh bởi nụ cười đầy cảm hứng. Bài viết đã giúp cho đại chúng khám phá ra một viên ngọc quý trong kho tàng quý giá của gốc rễ tâm linh Từ Hiếu. Tôi có thể cảm nhận được niềm tự hào và hân hoan nơi người huynh đệ về gốc rễ tâm linh của mình và sự giàu có của truyền thống tâm linh ấy. Làm sao không tự hào, không vui cho được! Có quá nhiều thứ để khám phá về những công trình mà các vị tổ sư đi trước đã khai mở. Ai có thể nói được có bao nhiêu pháp bảo chứa đựng trong những đôi mắt sáng rỡ ấy của đệ huynh?” (Trích Lá Thư Làng Mai số 46).

 

Tuy chính tôi là tác giả của bài nghiên cứu được nhắc đến ở trên, nhưng như đã thỏa thuận từ trước, ngày hôm đó người đứng lên giới thiệu bài viết này lại chẳng phải là tôi; “đôi mắt sáng rỡ” ấy là của một sư cô thành viên tích cực trong BBT! Tôi đã không được cơ hội nhìn thấy đôi mắt đó của người huynh đệ như thầy Trời Minh Lượng; đứng trước đại chúng, tôi nhớ mình chỉ nói được vài câu nghe có vẻ buồn cười thôi. Đại khái như thế này: “Kính thưa đại chúng, bây giờ con nghĩ con đã hiểu cái cảm giác hạnh phúc của một bà mẹ trong khoảnh khắc thấy được đứa con mình mang nặng đẻ đau chào đời”. Nhớ lại quãng thời gian hơn một năm trời ấp ủ cho dự án được thành hình, các anh chị em trong BBT đã làm việc miệt mài và hăng say. Chúng tôi lúc đó người thì ở Thái, người ở Việt Nam, người ở Đức, người ở Mỹ nên các buổi họp cũng như trao đổi thông tin bài viết với nhau đều phải thực hiện online. Ôi cái thời đại dịch ovid giãn cách xã hội đó, chúng tôi cũng làm việc online như bao người! Thật ra trong giai đoạn tượng hình ý tưởng này, điều chúng tôi lo lắng nhất không phải đến từ việc tìm kiếm nội dung bài viết cho tập san, mà chính là sự chần chừ ái ngại không biết tờ tập san ra đời có phù hợp với nhu cầu và được sự đón nhận của mọi người trong tăng thân vốn thường không thích lý thuyết trừu tượng mà chỉ trọng về trải nghiệm thực tế hay không. Và quan trọng hơn hết, chúng tôi – những người tu vốn còn rất trẻ, có đủ sức đứng ra cáng đáng một tờ tập san chuyên về phạm trù tư tưởng và giáo lý Làng Mai hay không? 

Tôi đã dành nhiều thời gian quán chiếu về những mối băn khoăn lớn này, điều mà tôi biết nếu mình không có được câu trả lời thích đáng, dự án của chúng tôi cũng sẽ phải dừng lại giống như biết bao nhiêu ý tưởng khác của huynh đệ vẫn luôn chỉ ngủ yên ở giai đoạn “gieo mầm”. Và rồi sau đó không lâu, tôi nhớ mình đã viết cho thầy Trời Hải Thượng – một thành viên nòng cốt trong BBT: “Cũng có điều này thật xin chia sẻ với Hải Thượng, lúc mới lên ý tưởng tuy rất hào hứng nhưng Nguyện Ước vẫn thấy mình có một sự nghi ngại trong lòng. Mình là ai, xuất gia đã được bấy lâu mà dám đòi làm báo, lại là một tờ báo để nói về chuyện tư tưởng và giáo lý của Làng nữa chứ? Nhưng rồi Nguyện Ước vẫn tiếp tục xây dựng ý tưởng, kêu gọi mọi người cùng đóng góp, để mặc cho mối nghi ngại nằm yên đó. Rồi một sáng nọ thức dậy tự nhiên trong đầu đi lên cái thấy: ‘Thì mình cứ làm thôi, vì đó là cái mình muốn làm mà!’. Hải Thượng nên biết là dự án của mình có thể thành công hoặc thất bại, nhưng giờ đây đối với Nguyện Ước điều đó không còn là vấn đề nữa rồi. Cái quan trọng nhất là mình đã DÁM ước mơ và DÁM LÀM những gì mình ước mơ!”. Và thế là chúng tôi tiếp tục.

Nguyên nhân sâu xa thúc giục tôi có ước mơ xây dựng tờ tập san Phật học này có lẽ đến từ vài năm trước đó. Lần ấy tôi vô tình đọc được bài báo của một thầy trong Làng đăng trên tạp chí Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam. Bài viết thực chất là bài thu hoạch của thầy trong lớp học về Tuệ Trung Thượng Sĩ tại Làng Mai Thái, nói về những cái thấy sâu sắc mà thầy đã học hỏi và chiêm nghiệm được qua tác phẩm Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục. Đọc bài viết tôi nhớ mình có cảm xúc vừa vui vừa băn khoăn. Tôi vui vì lần đầu tiên được đọc một bài nghiên cứu khá kì công và nhiều tâm huyết của huynh đệ mình, điều mà hầu như tôi chưa được thấy qua trong các ấn phẩm báo chí của Làng trước đây. Băn khoăn vì tôi tự hỏi tại sao một bài viết như thế lại không tìm được chỗ đứng trong các ấn phẩm của Làng như Lá thư Làng Mai hay Lá thư Vườn Ươm để huynh đệ cùng được thừa hưởng, mà phải tìm đến một ”sân chơi” khác từ bên ngoài? Mà thực tế là dù cho có được miễn cưỡng đặt vào một tờ “Lá thư” nào đó của Làng đi nữa, nó trông cũng khá lạc lõng và dị hợm so với những bài viết khác. Làng Mai mình hình như vẫn còn thiếu một sân chơi mang tính học thuật cho huynh đệ thì phải. 

 

Nhớ lại thời còn là một vị giáo thọ trẻ, Sư Ông đã để rất nhiều thời gian và tâm huyết xây dựng những tờ báo, tờ tập san để phổ cập kiến thức Phật học cũng như chia sẻ những cái thấy, những phát kiến mới của mình đến mọi người nhằm vận động cho công cuộc làm mới đạo Bụt, đưa đạo Bụt đi vào cuộc đời. Các tờ báo và tập san như Liên Hoa (Đà Lạt), Phật giáo Việt Nam, Giữ thơm quê Mẹ, Hải Triều Âm, Thiện Mỹ… lần lượt ra đời trên tinh thần ấy. Những tờ nội san như Hoa sen, Tiếng sóng, Sen hái đầu mùa… cũng là những sân chơi khác, nơi Sư Ông khuyến khích người xuất sĩ trẻ học hỏi, sáng tạo và chia sẻ ra những cái thấy, lý tưởng, tâm tư tình cảm của mình. Rất nhiều bài viết của Sư Ông trong các tác phẩm báo chí này đã được tập hợp lại thành những cuốn sách quan trọng và mang tính định hướng cho pháp môn Làng Mai sau này. Dĩ nhiên rằng BBT chúng tôi không kham nổi ước vọng cao xa như của Sư Ông, chúng tôi chỉ muốn tạo thêm một sân chơi bên cạnh những sân chơi đã có sẵn xưa nay của Làng mà thôi. Một sân chơi mới trước hết sẽ cho chính chúng tôi, và sau đó thì cho các huynh đệ có cùng cảm hứng trong việc mong muốn trở về tiếp xúc, trau dồi và khám phá thêm chiều sâu của pháp môn. Cái tên Giếng nước thơm trong được chọn vì đã nói lên đầy đủ ước vọng đó: 

Giếng nước thơm trong gợi cho chúng ta nhớ đến câu chuyện thời niên thiếu của Sư Ông khi Người đi tìm ông Đạo trên núi Na, được uống nước trong một cái giếng thiên nhiên bằng đá và có được trải nghiệm tâm linh đầu tiên. Bắt nguồn từ đó, dòng suối tâm linh trong lành tuôn chảy không ngừng qua Sư Ông cho đến những người học trò xuất gia và tại gia, lan tỏa ra khắp năm châu bốn biển cho đến tận hôm nay. Lấy cảm hứng từ câu chuyện ông Đạo và giếng nước thơm trong, tập san này mong muốn góp một phần nhỏ giúp cho những người tu trẻ được trở về tìm hiểu, tắm mát lại nơi mạch nguồn thơm ngọt đó để cùng trau dồi và khơi mở dòng chảy tâm linh của pháp môn Làng Mai.”

(Trích Giếng nước thơm trong số thứ nhất)

Trong bức thư mời một thành viên tham gia vào BBT, tôi đã tâm sự thật lòng như thế này: ”[…] Nguyện Ước nhận thấy rõ rằng không phải là dự án chỉ nhắm đến phục vụ nhu cầu của đại chúng không thôi, mà ngay chính chúng ta – những người cùng xây dựng dự án, là những người được thừa hưởng lợi lạc nhiều nhất. Chúng ta sẽ có cơ hội được trở về để cùng tìm hiểu, cùng quán chiếu, và cùng khám phá những bảo vật trong gia tài của Thầy truyền trao, trong tăng thân và trong mỗi huynh đệ. Ban biên tập thực ra chính là một nhóm tự học đúng nghĩa, và sản phẩm của công trình tự học đó chính là tờ Tập san mà chúng ta sẽ có cơ hội giới thiệu đến đại chúng, không chỉ ở Thái Lan mà còn có thể ở nhiều nơi khác nữa”. 

Thầy Pháp Niệm từng kể rằng Sư Ông thường rất vui mỗi khi nhìn thấy một vị đệ tử nào đó của mình say mê nghiên cứu, tự tìm tòi học thêm về kinh điển và giáo lý. Và thông qua tờ tập san, chúng tôi cũng chỉ mong muốn khơi dậy thêm niềm cảm hứng đó trong huynh đệ mà thôi. Sau hơn ba năm, không rõ tờ tập san đã truyền được cảm hứng thực sự cho bao nhiêu người, nhưng ít nhất tôi biết trong số đó có mình. Tôi có thêm lý do để buông điện thoại xuống, để chấm dứt vài ba câu chuyện phiếm với huynh đệ, để bỏ bớt mấy công việc linh tinh làm mất thời gian… mà ngồi vào bàn học, mà chịu khó viết lách, mà đọc lại mấy cuốn sách và nghe thêm pháp thoại của Thầy, mà lục soạn trong thư viện nhiều hơn… Tờ tập san đã giúp tôi tự chủ động trong việc học và sử dụng hiệu quả hơn thì giờ rảnh rỗi của mình.

Là người khởi đầu của dự án, tôi vì thế bị các huynh đệ gán cho cái mác ”tổng biên tập”. Ngoài lòng hăng hái nhiệt tình có thừa ra, kinh nghiệm làm báo của tôi xưa nay vỏn vẹn chỉ là một con số 0 tròn trĩnh. Và chính tôi cũng tự nhận thấy mình là một ông tổng biên tập tồi. Sau hơn ba năm với sáu số báo phát hành, tờ tập san vẫn chỉ dừng lại ở một phạm vi độc giả khiêm tốn: nó vẫn là một cái gì đó còn khá xa lạ với hầu hết các huynh đệ trong Làng. Tôi không hề biết một chiến lược quảng bá hay phát hành gì hay ho cả. Cho nên hôm nay, vì một nhân duyên đặc biệt, tôi ngồi đây viết xuống đôi lời giới thiệu để nếu hữu duyên, bạn sẽ biết đến về sự tồn tại âm thầm của tờ tập san này. Tiện đây, cũng xin được giới thiệu để bạn biết qua một chút về phong cách và nội dung tổng quát của tờ tập san. Ngay từ buổi ban đầu chúng tôi đã xác định cho nó một hướng đi rõ ràng: 

Tập san sẽ được xây dựng với một phong cách vừa mang tính học thuật, vừa mang tính thực dụng, vừa đi kèm với tính nghệ thuật, sự sáng tạo mới mẻ.  

  1. Tính học thuật: Tập san có thể được xây dựng để trở thành một nguồn tài liệu bổ trợ cho việc học tập, nghiên cứu về giáo lý, pháp môn và tổ chức đời sống Tăng thân. 
  2. Tính thực dụng: thông qua tập san có thể giúp độc giả tự tháo gỡ những vấn đề, những khó khăn còn tồn đọng trong đời sống để hướng đến sự trị liệu, chuyển hóa. 
  3. Tính sáng tạo, nghệ thuật: tập san tạo điều kiện và khơi được nguồn cảm hứng cho những ý tưởng, những quan điểm, những tuệ giác của huynh đệ được trình bày ra; là sân chơi cho những nghiên cứu, những sáng tác mới về thơ, truyện, bình luận, tiểu luận, …

Điều làm được là trong suốt sáu số báo đã ra mắt, chúng tôi vẫn luôn duy trì ba đặc tính nền tảng này. Dựa trên định hướng đó, nội dung của tập san sẽ được chia làm sáu phần với mỗi phần là một số bài viết tập trung vào một khía cạnh nhất định. Phần một khai thác về chủ đề Văn hóa Làng Mai; phần hai là phần Chuyên đề: Thiền tập Làng Mai trong dòng chảy lịch sử Đạo Bụt; phần Luận văn số ba trình bày những góc nhìn đa chiều về các vấn đề giáo lý, sự thực tập và các vấn đề nổi cộm khác trong đời sống tăng thân; những bài nghiên cứu của các huynh đệ sẽ được chọn lọc và đăng tải trong phần Nghiên cứu số bốn; phần Văn nghệ số năm là sân khấu cho những sáng tác thơ, văn, truyện ngắn, những dòng tâm sự…; và cuối cùng, phần Vòng tay nhận thức sẽ là một khung cửa sổ nhìn ra thế giới bên ngoài dưới thế đứng của Làng Mai, trên tinh thần năng-sở, trong-ngoài bất nhị.

BBT chúng tôi cũng cảm thấy may mắn vì trong suốt quá trình làm việc, chúng tôi rất được sự yểm trợ đầy tận tâm của quý thầy quý sư cô trong Ban cố vấn của tờ tập san, bao gồm thầy Pháp Niệm, thầy Pháp Khâm, sư cô Quy Nghiêm và thầy Pháp Anh. Quý vị đã giúp đóng góp bài viết, soi sáng cho những điểm còn thiếu sót hoặc cần điều chỉnh trong các bài viết của huynh đệ gửi về để mỗi ấn bản đến tay người đọc luôn là ấn bản hoàn chỉnh nhất có thể về mặt nội dung. Nếu như không có sự đỡ đầu của quý thầy quý sư cô Ban cố vấn, tờ báo chúng tôi cũng không thể nào thành hình được. Còn nhớ lúc tờ tập san mới chỉ được tượng hình trong ý tưởng, quý vị đã là những người đầu tiên mà chúng tôi tìm đến để chia sẻ. Dù có thể chưa hình dung được tờ báo đó sẽ như thế nào, sẽ có tác động ra sao, nhưng quý vị đều rất hết lòng yểm trợ, khuyến khích và nhiệt tâm giúp đỡ cho dự án không chút do dự. Chính quý vị đã tiếp thêm sự tự tin và là điểm tựa vững chắc cho chúng tôi tiếp tục đi tới. Sẵn sàng trao cho chúng tôi một sân chơi, để cho chúng tôi tự vấp ngã, học hỏi và trưởng thành trong vòng tay bảo hộ của quý vị, đó là một trong những sự yểm trợ tuyệt vời nhất của các bậc anh chị đi trước đã dành cho thế hệ xuất sĩ trẻ chúng tôi.

Hôm nay ngồi đây, nhìn lại chặng đường hơn ba năm phát triển tờ tập san Giếng nước thơm trong, tôi không thể nào diễn tả được hết niềm biết ơn của mình đối với những nhân duyên đã đến và giúp cho ước mơ này được trở thành hiện thực. Tôi biết ơn tăng thân đã là cái nôi nuôi dưỡng lý tưởng của huynh đệ được đơm hoa kết trái mỗi ngày. Tôi biết ơn quý thầy quý sư cô lớn, những bậc đàn anh đàn chị đi trước đã luôn sẵn sàng dang rộng cánh tay để nâng đỡ cho chúng tôi trưởng thành. Tôi biết ơn huynh đệ khắp nơi đã bao dung chấp nhận cho sự ra đời của tờ tập san vốn còn nhiều vụng về và khiếm khuyết, đồng thời tích cực đóng góp các bài viết quý giá cho ấn phẩm. Tôi biết ơn tấm lòng của các vị Phật tử thân tín đã âm thầm đóng góp tài chính cho việc in ấn và phát hành, để tờ báo không tiêu tốn một đồng nào trong ngân quỹ vốn còn hạn hẹp của chúng xuất sĩ. Và đặc biệt, tôi biết ơn những người huynh đệ cùng đồng hành trong BBT, những người đã đến với nhau bằng lý tưởng, bằng cả trái tim trong sáng và đầy nhiệt huyết của mình để cùng nhau biến giấc mơ chung thành hiện thực. Ba năm và sáu số báo chưa thể gọi là nhiều, nếu như không muốn nói là còn quá non trẻ so với những ấn bản báo chí khác của Làng. Những gì mà BBT chúng tôi làm được cũng còn quá khiêm tốn. Vì vậy chúng tôi biết mình luôn cần phải nỗ lực học hỏi, trau dồi nhiều hơn nữa để tờ tập san mỗi ngày mỗi hoàn thiện hơn, và để không phụ tấm lòng của tất cả  những ai đã đặt kỳ vọng vào nó. Nói về tương lai thì ai mà biết được, chính tôi cũng không dám chắc chắn những gì sẽ xảy đến cho tờ báo trong vài năm tới: tiếp tục phát hành, hay dừng lại, hoặc chuyển qua một hình thức mới. Nhưng đối với các anh chị em BBT chúng tôi, tờ tập san vẫn mãi mang một giá trị thiêng liêng, mãi là ”minh chứng cho trái tim, khối óc và bàn tay của những người xuất sĩ trẻ với đầy hoài bão và nhiệt huyết trên con đường lý tưởng xuất gia và phụng sự”. 



Còn hôm nay là còn tất cả

Sư cô Chân Quy Nghiêm

 

5g30 sáng thứ Năm, đại chúng hai xóm Trời Quang và Trăng Tỏ, tu viện Vườn Ươm Thái Lan, cùng ngồi thiền chung với nhau trên sân cỏ trước Cốc Nhìn Xa của Sư Ông. 

Thật là bình yên được ngồi với nhau trong không khí yên tĩnh của buổi sớm mai. Mọi sự có mặt đều rất thầm lặng mà thấy rất gần gũi, rất thân thiết. 

Có lẽ phải ngồi cho yên mới có thể cảm được điều đó. Khi không còn lăng xăng, lao xao nữa, để cho hồ tâm của mình lắng yên lại, không còn gợn sóng, thì mọi cái mới có thể hiển bày một cách tự nhiên và trung thực, rõ ràng, trong trẻo và tươi mới. 

Như khi được nghe Sư Ông đọc bài thơ Tiếng gọi, và thầy Pháp Niệm hát, mình thấy mọi cái trở nên tươi mới và trong trẻo. Mình thấy Sư Ông và thầy Pháp Niệm cũng đang có mặt ở đây, trong giây phút này.

 

 

“Sáng hôm nay

Tới đây

Chén trà nóng

Bãi cỏ xanh

Bỗng dưng hiện bóng hình em ngày trước

Bàn tay gió

Dáng vẫy gọi

Một chồi non xanh mướt

Nụ hoa nào 

Hạt sỏi nào

Ngọn lá nào 

Cũng thuyết Pháp Hoa Kinh.” 

 

 

 

Có em ngày trước là có em hôm nay thôi. Có em hôm nay là có em ngày mai thôi. Đâu có gì đã qua và đã mất, đâu có gì sẽ qua và sẽ mất, như Sư Ông vẫn thường nhắc nhở. 

 

Vì em chính là sự sống luôn biểu hiện rất mầu nhiệm dưới mọi hình thức. Em là nơi quy tụ của vạn pháp, và tất cả đều đồng thời có mặt cùng một lúc. Không có gì có thể tách biệt hay chia cắt, vì đó là bản chất muôn đời của em. 

Cho nên có em là có tôi, có tôi là có em, có tất cả những gì đang có mặt: có đất trời, cỏ cây, hoa lá, có từng phiến đá, từng con đường đi, có bàn tay và tấm lòng của từng huynh đệ. Làm sao mà không thấy được? Chỉ cần ngồi cho yên là thấy được thôi. 

Một thi sĩ người Pháp nào đó đã từng thốt lên:

Em nói không có ai thương em sao?

Em hãy nhìn kỹ đi, tình thương tuôn chảy khắp nơi, len lỏi trong từng ngõ ngách của sự sống.

Em hãy nhìn kỹ đi. 

Cho nên phải ngồi cho yên để có thể nhìn kỹ hơn và sâu hơn: tình thương không bao giờ vắng mặt. Tình thương luôn có mặt, dù rất thầm lặng, để tiếp tục kết nối, giữ gìn và nuôi dưỡng mọi hình thức của sự sống, để làm lớn lên ý nghĩa cao cả của một con người, cũng như của muôn loài. 

Thấy được như vậy, tự nhiên thấy lòng ấm lại và đầy sự biết ơn. Và lúc ấy, mình mới thực sự biết cách giúp mình và giúp người tháo gỡ được những tri giác sai lầm. Phiền não sẽ không còn quấy rầy mình nữa, ngày và đêm. 

 

 

Nụ hoa nào

Hạt sỏi nào 

Ngọn lá nào 

Cũng thuyết Pháp Hoa Kinh.

 

Đâu có gì đã qua và đã mất, 

đâu có gì sẽ qua và sẽ mất…

 

Mình luôn sống trong nhau, 

trùng trùng duyên khởi…

 

Đó là điều Sư Ông vẫn muốn mình nhớ. 

Sư Ông vẫn thường nói rằng đâu phải là chuyện ngẫu nhiên mà mình được gặp nhau hôm nay. Phải vượt qua muôn ngàn sinh diệt mới còn được gặp nhau hôm nay. Cho nên phải biết trân quý nhau và hết lòng yểm trợ nhau. 

Và trong một dịp chúc tết đầu năm, Sư Ông nói:

“Còn hôm nay là còn tất cả.” 

Chúng ta đã hiểu được lời Sư Ông dạy bảo, nên hôm nay chúng ta vẫn còn có mặt cho nhau.

 



Cây mộc già đã nở hoa

  Sư cô Chân Tạng Nghiêm

 

                                                                                            PakChong, cuối thu năm 2025

 

Tự khắc thấy Thầy

Thầy kính thương ơi!

Sáng nay, từng giọt sương vén màn đưa mặt trời dịu dàng lên cao; từng nụ hoa, chiếc lá, con đường và màu áo nâu dài đang thiền hành nhẹ bước tươi vui bên lũy tre xanh. Những chú chim non rủ nhau cất tiếng hót chào ngày mới… Con đang ngồi ngắm cảnh Tịnh độ trong hiện tại thì có một nhóm các bạn trẻ đến chơi. Các bạn tu tập theo pháp môn của Làng đã lâu.

Uống trà một lúc, các bạn hỏi: ‘’Thưa sư cô, chúng con muốn tiếp tục học hỏi và có thêm nhiều chuyển hóa thân tâm. Được hành trì pháp môn, chúng con thấy hạnh phúc khi mình khám phá được rất nhiều hạt giống thiện lành nơi tâm thức. Thật tâm chúng con muốn phụng sự và trưởng thành hơn nữa để giúp cho nhiều bạn trẻ có bình an như thế”. Con mỉm cười và nói: “Vậy các bạn học và thực tập để hiểu thêm về dòng tu Tiếp Hiện nhé”.

Đôi mắt các bạn bừng sáng ngạc nhiên:“Thật hả thưa sư cô? Chúng con cứ nghĩ các cô chú lớn tuổi tài giỏi mới là Tiếp Hiện. Làm sao chúng con có thể làm được?”. Con kể lại lời Thầy từng hướng dẫn trong một buổi ngồi chơi với các cô chú Tiếp Hiện người Việt ở Úc. Thầy nói rằng một vị Tiếp Hiện khi khoác lên mình chiếc áo nâu là để nhắc chúng ta khiêm cung hơn, sống đẹp hơn như màu của đất. Tiếp là tiếp nhận, tiếp nối. Hiện là biểu hiện, thực hiện. Chúng ta thực hiện những hoài bão mà Bụt đã giao phó: đem đạo Bụt đi vào cuộc đời để giúp cho ta và những người chung quanh ta bớt khổ. Vì vậy trách nhiệm của một vị Tiếp Hiện không phải là để làm le cho thiên hạ, mà làm sao sống cho đẹp và có hạnh phúc thật sự.

Các bạn lắng nghe chăm chú. Hạt giống bồ đề trong tim người trẻ yêu quê hương, yêu con người, được đánh thức và thắp sáng. Ngoài kia những chiếc lá tre rơi nhè nhẹ lấp lánh trong ánh nắng mai; tiếng cười của gió và của mấy đứa trẻ rộn vang cả vườn Làng. 

‘’Nếu gọi tên Thầy, con sẽ tự khắc thấy Thầy ngay

Con đi đâu? Cây mộc già đã nở hoa, thơm nức sáng nay

Thầy trò ta thật chưa bao giờ từng cách biệt

Xuân đã về, các cội thông đã ra chồi óng biếc và bên mé rừng đã nở rộ hoa mai.”

 ( Trích: Bên mé rừng đã nở rộ hoa mai, Thơ Sư Ông Làng Mai)

 

Thầy ơi! Trong Đại giới đàn Nước Tĩnh năm 2025 tại Thái Lan, có rất nhiều bạn trẻ từ Việt Nam, và cả các nước Indonesia, Malaysia, Singapore tham dự và thọ giới Tiếp Hiện. Một gia đình tâm linh chan chứa niềm vui, sự thao thức và cùng nhau góp nhặt thiền cơ mà tự thân chứng đạt nên công.

 

Bền sắt tươi son

Thầy ơi, có những giây phút con ngồi với các bạn trẻ với đôi mắt trong và trái tim bồ đề dũng mãnh, con thấy Thầy ngồi ở đó. Con nhớ một bài pháp thoại Thầy nói rằng:“Khi tu tập có hạnh phúc thì mắt con sẽ sáng tươi và tràn đầy năng lượng của Bồ đề tâm’’.

Con cảm nhận điều này khi con ngồi với các sư anh, sư chị, sư em của con. Nhưng ngạc nhiên thay khi điều này cũng có cả trong những vị cư sĩ – những người âm thầm theo bước chân Thầy. Không mang hình tướng xuất phàm nhưng vẫn trọn vẹn tình thương tinh khôi.

Sau khi nhận giới Tiếp Hiện, các bạn trẻ ở miền Trung hẹn nhau ngồi lại tụng giới và chia sẻ sự hành trì. Không ngừng học thi kệ, nghe pháp thoại và làm bài tập đều đặn vun bồi tầm hiểu biết. Các bạn làm gì cũng đồng lòng và thắp sáng tinh thần tương tức như một con rồng lớn dang đôi cánh rộng bay cao khắp bầu trời, không ngại ngần bất cứ điều gì. Vì có sự đồng lòng hướng dẫn của quý thầy quý sư cô, đặc biệt là các người chị Tiếp Hiện từ tâm nên các bạn đã đi vào phụng sự và hiến tặng một cách tự nhiên và tràn đầy hào khí.

“Như chưa bao giờ từng vắng mặt

Như chưa bao giờ trên thế gian

Đã từng có cơn bão lửa

…..

Con ngồi đó

Im lặng trời xanh cao

Núi tuyết in nền trời

Và nắng reo phơi phới

Thế Tôn là tình yêu đầu

Thế tôn là tình yêu tinh khôi

Nghĩa là không bao giờ

Sẽ cần tình yêu cuối

Người là dòng sông tâm linh…”  

(Trích Tìm nhau, thơ Sư Ông Làng Mai)

 

Mùa lũ

Lần đầu các Tiếp Hiện trẻ ra trận tổ chức khóa tu cho quê hương Đà Nẵng thân yêu, tức thì gặp chướng duyên. Bão lốc xoáy là bài toán lớn thứ nhất. Mưa to kéo dài gây lụt là bài toán khó, lớn thứ hai; thách thức tinh thần cho mỗi pháp lữ. 

Nhưng các bạn cùng nhau cầu nguyện, ngồi thiền và thiền hành để làm dịu lắng những lo âu. Đưa ra các đề xuất cần thiết với nhiều phương án cụ thể nhất cho ban tổ chức và người tham dự khoá tu làm sao để thuận tiện, an toàn nhất.

Ngoài kia mưa nhẹ nhẹ, trời tối dần. Bên trong phòng thiền, huynh đệ vừa ngồi bàn bạc với nhau, vừa nâng ly trà trong hai tay, trân quý sự có mặt. Ngọn nến lung linh mỉm chi cười, hương trầm thoang thoảng, thư giãn, bay nhẹ nhàng vào không gian hoà lẫn mưa phùn cuối thu, chớm đông về.

Có bạn cười, nói nhỏ bên tai con: “Sư cô ơi, có Bụt lo!”   

Và quả nhiên nhờ sự che chở của chư Tổ, Thầy và thầy Trụ trì nên khoá tu đã diễn ra một cách nhẹ nhàng, huy hoàng, chan chứa tình thương yêu. Bão chuyển hướng, bầu trời xanh trong veo – cứ ngỡ như là giấc mơ vậy đó, thưa Thầy.

Những ngày khoá tu rất thơ mộng trong cảnh núi sông thanh bình. Núi Ngũ Hành Sơn cheo leo ôm lấy không gian tịch tĩnh, chảy dài là dòng sông với hàng liễu cúi mình chào những chú cá vẫy đuôi tung tăng nô đùa. 

Các bạn chọn tên cho khóa tu là Bền sắt tươi son – nhớ mãi rằng chúng ta còn đây là nhờ Thầy dẫn lối. Pháp môn tu tập trưởng dưỡng mỗi chúng con như hôm nay: khỏe  mạnh, kiện khương, thông thương gia đình, giúp đỡ được cho cộng đồng làm việc và được xã hội tin tưởng, nhờ cậy.

“Quê hương tôi là đây

Chỉ có dòng sông, hàng cau, bụi tre, vườn chuối

Mặt trái đất dù mang đầy cát bụi

Nhưng trăng sao vẫn đẹp những đêm rằm

….

Giữ cho bền sắt tươi son

Giữ cho tâm lặng giữa cơn ba đào”

(Trích Tươi son bền sắt, thơ Sư Ông Làng Mai)

 

Muôn kiếp nguyện tương phùng 

Sau khóa tu, về đến Phố Hội nước lụt đã trước nhà. Có nhiều bạn về đến nhà là nước đã lên đến đầu gối. Nước lên mau, mưa lớn kéo về, bão lũ cứ tràn vào nhiều lần không ngưng. Dần dần lụt ngập cả Phố cổ Hội An, Quảng Nam, thành phố Huế, các tỉnh miền Bắc rồi đến miền Nam và cả Tây Nguyên. Không sót nơi nào. 

Tinh thần phụng sự trỗi dậy quyết liệt nơi quý thầy, quý sư cô ở khắp các trung tâm Làng Mai tại Việt Nam, các bạn trẻ cùng lòng cứu trợ và khích lệ tinh thần đồng bào. Tăng thân khắp chốn quê mình cùng thầy cô đến các vùng sâu vùng xa, gởi tấm lòng thương yêu san sẻ – có nhau. 

Lũ lụt năm nay lớn như năm 1964. Lúc đó còn chiến tranh, người dân nghèo rất đông. Thầy đi trên sông Thu Bồn và chắp tay nguyện cầu vì chung quanh, hai phần ba người dân chết vì đói. Chung quanh toàn mùi máu. Thầy nhỏ xuống dòng sông ba giọt máu và phát nguyện lớn tu tập, độ người dân bớt khổ, giúp cho quê hương đất nước yên bình. 

Và chính câu chuyện ấy cũng làm con hiểu sâu về Đạo Bụt dấn thân: Khi nào mình giúp người cũng là đang giúp chính mình. Thật vậy. Là đệ tử của Thầy, chúng con – các vị xuất sĩ cũng như cư sĩ, luôn hướng về đất nước, dân tộc, con người trong nhiều lĩnh vực như khoa học, giáo dục, tuổi trẻ, sức khoẻ…

Bởi vì chúng con đâu chỉ là tu sĩ mà còn là bác sĩ, họa sĩ, thi sĩ, ….và là dũng sĩ.  Chúng con là những người con của Bụt, của Thầy đang không ngừng học hỏi, dang tay phụng sự đi vào cuộc đời.

 

Ngàn xưa ta đã hẹn

Ba giọt máu thủy chung

Sông Thu Bồn năm ấy

Muôn kiếp nguyện tương phùng.

(Kệ kiến giải)

 

Những trái me non đang chín dần.

Hai hàng hoa mộc thơm thoang thoảng dẫn lối đi vào con đường Vườn Ươm vừa mới trồng rợp bóng, tựa cảnh tiên bồng lại có khí thiêng hào hùng đưa người về chốn bình an, thảnh thơi chi lạ. Ở vườn me, nơi có những chiếc xích đu dễ thương, chúng con ngồi lại với các bạn trong ban tổ chức từ các nước Indonesia,  Malaysia, Singapore, Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam, Trung Hoa… Các bạn học với nhau về phương pháp thực tập, phụng sự. Các bạn đóng vai trò khác nhau và có nhiều điểm nổi bật làm cho chúng con hiểu hơn về mỗi dân tộc cũng như văn hoá của mỗi nước để từ đó tìm cách đưa Đạo Bụt vào đời sống sao cho thiết thực và lợi ích nhất.

Mỗi tháng các bạn đều có chủ đề thực tập và chia sẻ trực tuyến cùng quý thầy, quý sư cô. Như những trái me non đang chín dần, cho quả ngọt thơm, các bạn đang là những thành viên chủ chốt trong tăng thân của mỗi nước, mang trong mình hoài bão đưa đời sống tỉnh thức vào gia đình, công việc, xã hội và cả công tác bảo vệ môi sinh. 

 

Cây mộc già đã nở hoa

Thầy ơi, Thầy đi hái thuốc thật xa, thấm thoát mới ba năm mà Vườn Ươm đã có gần 50 đệ tử xuất gia của Thầy biểu hiện. Hầu như các bạn còn nhỏ, trẻ, mang trong mình Bồ đề tâm dũng mãnh và kiên cường. Có sư chú chỉ 15 tuổi thôi nhưng không bỏ ngồi thiền mà lại biết chăm sóc các sư anh nữa. Có sư bé 20 tuổi thôi nhưng đã gánh vác các công việc bảo trì, tri khách cùng các sư chị.

Quý sư em đã mang đến Vườn Ươm một mùa xuân rực rỡ từ sự tiếp nối của Thầy. Chúng con nhớ lời Thầy dạy: “ Tài năng lớn nhất của con là sống hạnh phúc và hòa hợp trong Tăng thân”. Lúc đó, nghe Thầy nói, ai ai cũng ngỡ ngàng vì cứ tưởng làm vi tính giỏi, tổ chức giỏi hay giỏi ngoại ngữ mới là “number one”. Nhưng chính lời hướng dẫn của Thầy đã giúp chúng con: làm người tu cho xứng đáng và hết lòng.

Mắt sư em con sáng như ngọc – chịu tu, chịu học, chịu chơi và chịu khó. Có sư em bảo con là: “Nơi nào khó là có sư em”. Nghe như thế chúng con mát lòng cùng đi tới. Tất cả các sư em như những nụ hoa, là món quà Thầy để lại cho chúng con. Chúng con không ngừng vun bón, tưới nước,….để những búp măng non trở thành cây đại thụ cho mai sau. 

An cư năm nay cũng đặc biệt lắm, thưa Thầy. Có 30 cận sự nữ và 20 cận sự nam về tu tập cùng quý thầy, quý sư cô và đến từ rất nhiều nước: Nhật, Singapore, Trung Quốc, Mỹ, Việt, Mexico, Đài Loan, Thái Lan, Indonesia, Hong Kong,…. Phần lớn các bạn là người trẻ, với rất nhiều ước muốn học hỏi, hiểu chính mình và áp dụng đạo Bụt để chuyển hóa não phiền. 

Sau an cư đã có 10 bạn nữ và 4 bạn nam xin tập sự xuất gia. Thế là chúng con chuẩn bị tư thế sẵn sàng chăm em tiếp. Nhìn quý sư em còn nhỏ mà ham tu, con nhớ về Thầy. Mỗi lần có đợt xuất gia, Thầy luôn chuẩn bị rất nhiều hành trang để hướng dẫn chúng con, khích lệ và làm cho chúng con cảm thấy không bị thiếu thốn tình thương khi xa nhà, không hề thiếu pháp khi tầm sư học đạo. 

Còn đó…

Từng bước chân thảnh thơi, Thầy dạo chơi bên dòng suối Phương Khê. Thầy nhặt vài chiếc lá vàng khô bỏ vào túi áo ấm rồi lấy ra tặng chúng con với tình thương trân trọng, bình an… Con đường cỏ xanh ngát vẫn lặng lẽ theo Thầy. Nắng phủ lấy dáng Người ung dung, nhịp thở vẫn an yên chưa bao giờ dừng lại, tiếng thênh thang còn mãi tận nơi đây… Có Thầy rồi!

Là tri k biết răng chừ

Nói chi vài dòng đôi ba chữ

Ngồi cười ha hả

Mắt nhìn trời, ngửa mặt rong chơi

Nhìn đã hiểu tứ diệu tâm thường trực lui tới

Thì thỏa mặt cùng đất cùng trời,

Cùng gió mát trăng thanh.






      

 

 




  



 










                                             

 










Bắc một nhịp cầu

Lê Minh Châu (Chân Biểu Thiện)

 

Là một nhà văn và nhà sử học sống tại San Francisco, California (Hoa Kỳ), Minh Châu đã dành nhiều năm nghiên cứu Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX và các phong trào xã hội trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, đặc biệt là những nỗ lực dẫn đến sự hình thành của dòng tu Tiếp Hiện và cộng đồng Làng Mai. Chị chính thức trở thành một thành viên Tiếp Hiện vào năm 2017. Dưới đây là chia sẻ của chị về hành trình tâm linh của mình. 

 

Hồi nhỏ, tôi học đọc tiếng Việt bằng cách ngồi cạnh mẹ mỗi tối và lần theo từng chữ khi mẹ tụng kinh. Hai mẹ con ngồi trên sàn phòng thờ, với quyển kinh mở ra trước mặt, giữa làn khói hương nghi ngút và bóng đèn chập chờn. Phía trên cao là những pho tượng Phật với ánh mắt hiền từ và những bức chân dung nghiêm nghị của ông bà – những người tôi chưa từng được gặp. Hồi ấy, tôi không biết rằng chính những buổi tối ấy lại là những bước đầu tiên dẫn tôi đến với con đường chánh niệm và tăng thân Tiếp Hiện.

 

Di sản của tổ tiên đã đi vào đời sống của tôi qua con đường Phật pháp. Suốt thời thơ ấu, cộng đồng Phật tử người Việt tuy nhỏ nhưng đầy sức sống ở Raleigh, Bắc Carolina (Hoa Kỳ) giống như một đại gia đình thứ hai của tôi. Chúng tôi gắn bó với nhau trong các ngày Chủ nhật và cùng nhau đón mừng tất cả những ngày lễ truyền thống của người Việt. Khi đến tuổi thiếu niên, mỗi mùa hè tôi đều đến tu viện Lộc Uyển ở miền Nam California để làm việc, vui chơi, học tập và thiền tập cùng các thầy, các sư cô – những người cùng chung một cội nguồn. Chính những cộng đồng ấy đã dạy tôi biết cách ôm ấp những điều làm mình khác biệt; cho tôi thấy hạnh phúc đích thực là gì, và giúp tôi hiểu được vị trí cũng như ý nghĩa của mình trong cuộc đời này.

 

Tôi thuộc thế hệ đầu tiên trong gia đình được sinh ra tại Hoa Kỳ sau khi cha mẹ tôi phải rời bỏ quê hương Việt Nam. Là con của những người tị nạn chiến tranh, sự hiện diện của tôi đã được tạo nên từ lịch sử đầy đau thương và bạo lực — đồng thời cũng từ phép màu của sự sống sót, tái định cư và khởi đầu mới. Càng suy ngẫm về dòng lịch sử đầy sóng gió đã đưa gia đình tôi — và cả pháp môn này — đến đất Mỹ, tôi càng cảm nhận sâu sắc hơn sự nhiệm mầu của việc mình có mặt ở đây, tiếp nối truyền thống tâm linh này ở nửa bên kia của địa cầu. Với tôi, pháp môn này luôn là sợi dây giúp tôi nối kết với tổ tiên, nương tựa vào trí tuệ và kinh nghiệm trải dài hàng bao thế kỷ để tìm hướng đi cho cuộc đời mình.

 

Tôi cảm nhận trọn vẹn sức nặng và sự linh thiêng của mối liên hệ với tổ tiên vào ngày tôi được truyền giới Tiếp Hiện, mùa thu năm 2017. Sau buổi lễ truyền giới vào sáng sớm tại tu viện Bích Nham, tôi được trao tặng một chiếc áo nâu – do chính tay của một cô Tiếp Hiện trong tăng thân may tặng – cùng những món quà nhỏ từ những vị giáo thọ gửi gắm tình thương và sự nâng đỡ: một vỏ sò trắng hình trái tim, một chiếc vòng đeo tay bằng đá hồng, và một cuốn sổ nhỏ in hình Bụt. Chúng tôi cùng đi thiền hành trong rừng, tận hưởng không khí trong lành của mùa thu. Đi trên con đường ấy, tay nắm tay cha mẹ hai bên, tôi cảm thấy mình kết nối với vũ trụ hơn bao giờ hết. Nhìn những bụi dương xỉ phủ đầy mặt đất, tôi nghĩ: “Những bụi dương xỉ này chính là tổ tiên của mình” và những giọt nước mắt hạnh phúc trào dâng nơi mắt. Từ đó, mỗi khi nhìn thấy một cây dương xỉ, tôi lại nhớ đến khoảnh khắc quý báu ấy và mỉm cười với tổ tiên mình.

 

Nguyện ước của tôi trong đời này là trở thành một nhịp cầu chữa lành giữa quá khứ và tương lai. Tôi thấy mình như một cây cầu nối giữa vô số thế hệ Phật tử trong quá khứ, có gốc rễ từ Việt Nam, và vô số thế hệ những người đi tìm con đường tâm linh trong tương lai, đang bén rễ ở nhiều nơi khác trên thế giới. Là một nhà sử học chuyên nghiên cứu về Phật giáo hiện đại và Chiến tranh Việt Nam, công việc của tôi là tìm hiểu, gìn giữ những gì đã xảy ra trong quá khứ và viết lại chúng theo cách giúp mang lại sự chữa lành. Tôi mong rằng qua cách kể lại lịch sử, tôi có thể làm sâu sắc thêm sự hiểu biết của chúng ta về chính mình và mối liên hệ giữa mình với thế giới rộng lớn hơn.

 

Ước nguyện được phụng sự như một cây cầu nối giữa quá khứ và tương lai ấy được truyền cảm hứng từ những thế hệ hành giả Phật giáo đi trước — những người đã giữ gìn và truyền trao chánh pháp qua những thăng trầm của thời cuộc. Các bậc tổ sư tâm linh của chúng ta đã nắm giữ Đạo pháp khi đi qua thời kỳ thực dân, chiến tranh và công cuộc xây dựng lại đất nước. Chư vị đã chống chọi lại sự chia rẽ và bạo lực bao trùm xã hội lúc bấy giờ, đi đến những nơi có nhiều đau khổ nhất để hiến tặng tình thương và sự giúp đỡ, mà không phân biệt lập trường hay khuynh hướng chính trị. Như tác viên xã hội từng viết vào năm 1972, sứ mệnh của họ đơn giản là “hiện diện cùng con người trước cỗ máy chiến tranh khổng lồ này”. Chính sự hiện diện đó đã là một hành động phản kháng sâu sắc; đó là Pháp sống. Cũng với tinh thần ấy, Thầy đã sáng lập dòng tu Tiếp Hiện năm 1966, tạo nên một cấu trúc chính thức cho các hành giả thực tập và biểu hiện những giá trị đó trong tăng thân.

 

Khi quán chiếu nhân dịp kỷ niệm 60 năm thành lập dòng tu Tiếp Hiện, tôi thấy vừa có sự tiếp nối, vừa có sự chuyển hóa. Thầy đã sáng lập dòng tu trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam, với 14 Giới Tiếp Hiện nhằm kêu gọi hành giả dấn thân vào khổ đau của thời đại, đồng thời giữ vững gốc rễ tâm linh sâu dày. Sáu mươi năm sau, chúng ta đối mặt với những thử thách khác, nhưng tiếng gọi căn bản ấy vẫn không thay đổi: có mặt trọn vẹn với khổ đau và đáp lại bằng trí tuệ cùng lòng từ bi.

 

Từ một nhóm nhỏ những thanh niên phụng sự xã hội trẻ người Việt, tăng thân Tiếp Hiện đã trở thành một cộng đồng toàn cầu, trải rộng khắp các châu lục và các nền văn hóa khác nhau. Dù đến từ nhiều hoàn cảnh khác nhau, chúng ta được kết nối bởi cam kết cùng thực tập 14 Giới Tiếp Hiện và nguyện ước xây dựng một thế giới đầy tình thương. Có người, giống như tôi, tiếp nối pháp môn qua di sản tổ tiên; người khác lại tìm thấy pháp môn này trên con đường đi tìm ý nghĩa và sự bình an trong đời. Vậy dòng tu Tiếp Hiện trong năm 2026 sẽ mang ý nghĩa gì? Với tôi, điều đó có nghĩa là: 

  • Sẵn sàng chuyển mình nhưng vẫn bám rễ vào những nguyên tắc vượt thời gian. 
  • Xây dựng những tăng thân có khả năng đón nhận tất cả mọi người từ mọi truyền thống khác nhau, đồng thời tôn trọng chiều sâu của truyền thống Phật giáo. 
  • Sử dụng cả những pháp môn cổ xưa lẫn phương tiện hiện đại để đối diện với những thách thức của thời đại mới. 
  • Quan trọng nhất, đó là sống trọn vẹn với cái thấy rằng chúng ta tu tập không chỉ vì sự giải thoát của riêng mình, mà vì sự giải thoát của muôn loài.

 

Nhìn về tương lai, tôi mong rằng tăng thân Tiếp Hiện sẽ vẫn tiếp tục là chính mình — như xưa nay vẫn vậy: một cộng đồng biểu hiện một lối sống đẹp giữa cuộc đời này. Giữa thời đại đầy thử thách và biến động chưa từng có, chúng ta vừa có cơ hội, vừa có trách nhiệm chứng minh rằng việc nuôi dưỡng trí tuệ, từ bi, niềm vui và sự tương tức không chỉ là một lý tưởng đẹp, mà còn là câu trả lời thiết thực trước những khủng hoảng của thời đại. Nguyện cho chúng ta trở thành những người đi trước mà các thế hệ tương lai sẽ trân quý và biết ơn — những người tiếp nối và gìn giữ Đạo pháp với tinh thần can đảm và tận tâm như các bậc tiền nhân.

 

Hoa tuyết đầu mùa

Sư cô Chân Tuyết Nghiêm

 

Món quà đầu đông

Hôm qua tôi mới biết tin là hôm nay sẽ có tuyết. Thức dậy trong một buổi sáng làm biếng thảnh thơi, an lành, lòng tôi nghe như có tiếng gọi đất trời rất rõ. Tôi mở cửa bước ra thì đúng như ước hẹn: một khung trời tuyết trắng. Tôi thấy sướng vui trong bình an bởi vì chỉ mình tôi trong khung cảnh ấy. Trời vẫn còn tối nên cảnh vật chưa hiện rõ, tiết trời cũng khá lạnh. Tôi chỉ biết trở vào lại trong phòng, đốt nến, uống trà và nghe vài chương pháp thoại của Thầy, chờ trời sáng. 

Nghe pháp của Thầy mỗi sáng là một thói quen thật nuôi dưỡng. Dù chỉ 15 hoặc 30 phút thôi nhưng vườn tâm tôi được thắp sáng bởi những ngọn đèn. Cũng khá lâu rồi tôi bỏ đi thói quen này vì chỉ thích ngồi yên, uống trà vào buổi sáng. Nhưng mùa đông này tôi muốn nuôi lại tập khí đã nuôi dưỡng tôi rất nhiều năm từ sau khi tôi xuất gia. Những điều Thầy dạy chưa bao giờ là cũ cả nên tôi cứ luôn lắng nghe bằng trái tim hiện tại, và nhờ vậy mà bao giờ những lời Thầy chia sẻ cũng chạm sâu đến cuộc sống của tôi trong bất kỳ thời điểm nào. 

Sáng nay, khi đang thưởng thức cái bình yên quen cũ ấy, sư em mời tôi đi uống trà ngắm tuyết. Tôi có chút tiếc nuối bài pháp thoại đang nghe dang dở, nhưng rồi tôi dừng lại, sắp xếp, tìm xuống khung cửa sổ phòng em để chị em cùng uống trà ngắm tuyết. Với tôi giây phút ngồi với sư em cũng như giây phút ngồi bên Thầy. Vì đó là thiên đường của hiện tại. Mà nơi nào có thiên đường hiện tại thì sẽ có Thầy ở đó. Ly trà nóng, sự có mặt trân quý nhau thật ấm áp, thật thân thương. Những phút giây đầy đủ tình chị em, tôi trân quý – cảm ơn em với món quà ngày đầu đông ý nghĩa. 

Những bông hoa tuyết rơi trước mặt chị em tôi càng lúc càng nhiều. Khi thời gian chị em có mặt cho nhau đã đủ, tôi từ biệt em và mang đồ thật ấm để ra ngoài trời thưởng thức những cơn mưa tuyết. Vẫn không gian bình yên buổi sáng, tôi một mình thưởng thức những bước chân dưới cơn mưa tuyết đầu mùa. Hạnh phúc thật tự nhiên, bình an cũng thế và Thầy cũng có mặt thật gần, vì Thầy yêu thiên nhiên lắm. Thầy sẽ không bỏ lỡ bất cứ một mầu nhiệm nào mà thiên nhiên ban tặng, dù là một cơn mưa, một nụ hoa, một chồi cúc,… Tôi thấy mình đang tiếp nối tình yêu cao sang ấy của Thầy. 

 

 

Đóa vô ưu ngập cả trời

Tôi đưa hai tay ra hứng lấy những bông tuyết nhỏ. Tuyết sáng nay còn nặng nước mưa. Bất giác câu nói của Thầy trở lại rất gần trong tâm thức tôi: “Giọng hô canh của con vừa có mưa, vừa có tuyết”. 

Tôi nhớ đó là lần đầu Thầy nghe tôi hô canh trước đại chúng. Khi thời ngồi thiền vừa dứt, Thầy hỏi một vị trong đại chúng: “Sáng nay ai hô canh vậy con?”. Một sư chị gần bên trả lời Thầy: “Dạ bạch Thầy, sư em Tuyết Nghiêm của con ạ”. Và Thầy nói: “Giọng hô canh vừa có mưa, vừa có tuyết”. Lúc ấy tôi không hiểu được ý Thầy. Câu nói ấy lui tới trong tâm thức tôi rất nhiều năm. Tôi không dám hỏi Thầy trực tiếp nên bao năm cứ trăn trở, rồi phải tự hiểu theo kiểu của riêng mình. Tuyết nếu có mưa sẽ rất ướt át. Có lẽ Thầy thấy tôi tuy bên ngoài là bông tuyết rất đẹp trong mắt mọi người nhưng hoa tuyết ấy đang âm thầm mang nặng nhiều tổn thương, đau khổ thâm sâu như cất trong nó những hạt mưa trĩu nặng. 

Và đúng hôm nay tôi đang đứng trong trời có tuyết và có mưa. Rõ ràng mưa cũng là tuyết, tuyết cũng là mưa, nhưng mưa có nhiều nên hoa tuyết nặng chứ không nhẹ nhàng như bản chất của tuyết. Tôi thấu hiểu tôi của ngày xưa rõ ràng là những bông tuyết còn nặng hạt mưa. Trong tâm thức tôi có lẽ chứa thật nhiều nỗi niềm sầu muộn, mà chính tôi cũng không thể gọi được tên.  Có lẽ vì vậy mà qua giọng hô canh của tôi, Thầy thấy được hạt giống buồn khổ ướt át còn lưu giữ trong ấy. Tuyết trong sáng và tôi cũng thế, nhưng có lẽ nỗi buồn tủi nằm sâu trong giọng hát là những bí mật tôi đã giữ cho riêng mình. Hồi trước nhiều người nói rằng tôi có giọng hát giàu cảm xúc, đi vào được trái tim người, nhưng giọng hát ấy còn buồn lắm, nên mỗi lần nghe thấm thía nỗi buồn. Và Thầy, đúng là người thầy tinh tường, nên có thể nhìn sâu thấy rõ vấn đề tồn đọng của tôi, dù rằng tôi chưa có cơ hội mở lòng với Thầy. 

 

Cũng từ đó tôi bắt đầu làm việc thật nhiều với nội tâm mình. Hai mươi mốt tuổi, tôi thao thức muốn hiểu được chính mình. Đây là điều mà tôi cho là quan trọng nhất trong đời tu của mình. Mỗi lần tôi phải đối diện với những tâm tư, cảm xúc trong mình là những lần thật khó khăn, như phải đào xới đống rác đã lấp vùi bao năm để thấy rõ đằng dưới đó tôi đã chôn giấu những gì. Công phu ấy là một quãng đường rất dài, để tôi từng bước làm quen lại với khổ đau của mình, để thấu hiểu, chấp nhận và chăm sóc nó. Tôi đã tái lập lại truyền thông với đứa bé bên trong mình. Nhờ vậy mà tôi cũng giải phóng sự mong manh ẩn núp trong tôi bấy lâu. Đối diện với sự mong manh của chính mình, tôi mới thật hiểu về sức mạnh của sự mạnh mẽ. Và nhờ đó, tôi bắt đầu xây dựng lại thiên đường của chính tôi: trị liệu được quá khứ, trân quý được hiện tại và xây dựng được tương lai bình an. Tự đáy lòng, tôi thấy được bông tuyết hôm nay đã khô ráo, nhẹ nhàng và tự do bay giữa đất trời thật tuyệt vời sáng nay.

 

Những bông tuyết trắng nhẹ nhàng rơi

Những đóa vô ưu ngập cả trời 

Trong sáng, tinh sạch và thanh tịnh 

Có ai ngắm tuyết lòng thảnh thơi

 

Những bông tuyết trắng nhẹ nhàng rơi

Cơn mưa thanh thoát thấm vườn đời 

Lặng lẽ, bình an và hoan hỷ

Trọn vẹn ân tình một cuộc chơi

 

Những bông tuyết trắng nhẹ nhàng rơi

Bài ca rộng lượng viết thành lời 

Yêu thương, hiểu biết và dâng hiến 

Niềm tin trong đôi mắt sáng ngời 

 

Những bông tuyết trắng nhẹ nhàng rơi

Từng bước chân vui đóng dấu rồi

Vững chãi, yên lành trong hiện tại

Ai cười một kiếp biết rong chơi.

Sáng nay trong những bước chân dẫm lên tuyết trắng, tôi gọi tên Thầy và mỉm cười: 

“Thầy ơi, con đã thấy rõ tuyết và mưa rồi, nó ở trong nhau và làm nên con mầu nhiệm. Con không chối bỏ mưa nữa vì nó là một phần của cuộc sống con. Nhưng con biết hoa tuyết của con bây giờ khô ráo và nhẹ nhàng lắm, Thầy ơi”. 

Khung trời tuyết trắng đầu mùa cho tôi được gặp lại tôi. Cho tôi hội ngộ với Thầy, vui vẻ kể Thầy nghe hành trình chuyển hóa của mình. Tôi biết, nếu tôi không kể, chắc Thầy cũng là người hiểu sâu nhất về điều ấy. 

Tuyết rơi mỗi lúc một nhiều. Những bông tuyết nhẹ nhàng hơn, không còn nặng mưa như ban đầu. Những giây phút một mình khiến tôi tận hưởng sâu sắc và thiêng liêng khung cảnh ngày tuyết rơi, sáng trắng thanh tịnh. Cũng buổi sáng nay, tôi cùng em tung tăng đi hứng những cơn mưa tuyết trên những con đường ngỡ là cổ tích, và rồi ngồi trên tầng hai của ni xá, kể cho nhau nghe những câu chuyện chuyển hóa: nuôi nhau, thấu hiểu, chân tình. Tôi gởi em một niềm tin, mong rằng em cũng thành công trên con đường chuyển hóa của em – con đường mà tôi đã đi qua thật đẹp và muốn trao em sức sống của niềm tin ấy. 

Giây phút nhiệm mầu

Chị em chúng tôi bỏ giờ nghỉ trưa để vào rừng chơi tuyết. Thật bất ngờ vì dòng suối đã chảy trở lại sau nhiều ngày khô hạn. Tiếng suối reo trong trẻo, khu rừng sáng trắng với những bông tuyết trĩu nặng trên những cành cây, ngọn lá, phủ trắng thảm rêu xanh. Những bông tuyết cũng rơi vào dòng suối tan nhanh. Rõ ràng tuyết là mưa, là suối, biến chuyển không ngừng. Vậy có gì nắm bắt được đâu; chỉ có thể mỉm cười với hiện tại mới tiếp xúc được với hoa tuyết chân thật. Như những đứa bé lạc trong khu rừng huyền thoại tuyết trắng, đón chào những cơn mưa tuyết không ngừng rơi. Không có gì diễn tả được khung cảnh ấy. Từng bước chân in lên nền tuyết trắng, từng hơi thở và nụ cười mãn ý đi qua từng phút giây. Tôi là nàng công chúa đang có quyền lực tối thượng trong thiên đường tuyết trắng. Mộc dấu bình an, thanh thản, hạnh phúc truyền đi những tin vui từ một công chúa hạnh phúc. Xứ sở của phút giây hiện tại ngập tuyết trắng như ngày hội vui mầu nhiệm – công phu nhất của đất Mẹ thiết kế cho cuộc đời. Cô công chúa của Mẹ đang tận hưởng tất cả kỳ quan mầu nhiệm ấy. Cảm ơn đất Mẹ, cám ơn Thầy đã trao cho đôi mắt biết nhìn và biết cảm để hạnh phúc là sự sống tự nhiên, hiện thực và đầy trân trọng. 

Thiên đường tuyết trắng có tình thầy trò, có tình huynh đệ, có mối tình tri kỷ của tôi dành cho chính mình và với Mẹ thiên nhiên. Những bước chân giẫm lên tuyết trắng đã tan đi lặng lẽ trong nụ cười mặc nhiên. 

(Bích Nham – một ngày tuyết đầu mùa)

Tâm đăng – Nhất hạnh tam muội

 

Năm 1966 là năm mà Thầy phải rời quê hương để đi vận động hòa bình, bởi vì chiến tranh Việt Nam vào lúc đó đã đến giai đoạn khốc liệt. Khốc liệt đến nỗi ban đêm mình không ngủ được vì sự chết chóc diễn ra hằng ngày, hằng đêm. Ngay tại xung quanh thành phố Sài Gòn, sự chết chóc cũng diễn ra từng ngày, từng đêm. Vì vậy, Thầy nói với các vị cộng sự xuất gia và tại gia: hãy lo lắng mọi công việc ở quê nhà để Thầy có thể xuất ngoại đi vận động chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

Thầy lên đường vào ngày 11 tháng 5 năm 1966. Năm đó có Nhuần hai tháng Ba. Sau khi bà bác sĩ Hiệu, chị Uyên và chị Phượng, chị Phượng là sư cô Chân Không bây giờ, vận động xin được cho Thầy giấy xuất ngoại. Thầy liền bay về Huế để từ biệt Sư Ông: Bạch Sư Ông! Con phải đi xuất ngoại, ít nhất là ba tháng. Con sẽ cố gắng vận động dư luận thế giới, tìm cách chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Thầy không biết lần đó là lần cuối cùng được gặp Sư Ông. Nhưng hình như có linh tính báo cho Sư Ông biết trước nên Sư Ông nói: Con hãy ở lại thêm một ngày nữa để Thầy làm lễ truyền đăng cho con trước khi con đi. Khuya hôm sau, một lễ truyền đăng được tổ chức trong chánh điện. Sư Ông đã ban cho Thầy bài kệ truyền đăng mà các con đã thấy treo ở trên tường:

Nhất hướng Phùng Xuân đắc kiện hành
Hành đương vô niệm diệc vô tranh
Tâm đăng nhược chiếu kỳ nguyên thể
Diệu pháp Đông Tây khả tự thành

Ngày xuất gia và được thọ giới sa di, Thầy được trao pháp danh là Trừng Quang, pháp tự là Phùng Xuân. Phùng Xuân nghĩa là gặp mùa xuân. Thầy không thích cái pháp tự này mấy, vì Thầy cho rằng pháp tự này giống tên con gái. Hồi đó, Thầy chưa biết rằng Phùng Xuân là một từ để đối lại với từ Khô Mộc. Khô Mộc tức là cây khô. Giọt nước cam lồ của bồ tát Quan Thế Âm một khi rưới lên cây khô, cây khô đó biến thành một mùa xuân mới.

Trong thiền môn, có những đoàn thể không hiểu tu tập như thế nào mà người ta trở thành những cây khô. Vì vậy ngày nay chúng ta có những danh từ Khô Mộc Đường, Khô Mộc Chúng, v.v… Họ ngồi thiền ngày đêm, mục đích là làm sao để những ước muốn, những mơ tưởng của mình khô cạn hết, như một cây khô vậy thôi; làm sao để giải thoát ra khỏi những khổ đau, những bức rức ở trong lòng để đừng đau khổ. Truyền thống thiền đó gọi là “Khô Mộc Thiền”.

Đi Về Hướng Mùa Xuân

Thiền của chúng ta là thiền của tình thương. Chúng ta thực tập thương yêu hai mươi bốn giờ trong một ngày. Chúng ta đi, cốt yếu vì thương mà đi, chúng ta ngồi cũng vì thương mà ngồi, chúng ta ăn cơm cũng vì thương mà ăn cơm, chứ không phải là để làm khô kiệt dòng suối thương yêu trong lòng của chúng ta. Bụt là một con người của tình thương. Chúng ta phải tiếp nối tình thương của Bụt mới được.

Trong sách Ngũ Đăng Hội Nguyên, có câu chuyện của một bà cụ. Bà cúng dường cho một vị tu sĩ ở trong một am cốc suốt 20 năm. Ngày nào Bà cũng đem cơm đến để cúng dường cho vị tu sĩ đó. Khi không đi được thì bà nhờ cô con gái đem cơm đến cho Thầy. Suốt 20 năm như vậy. Một hôm, bà cụ nói với con gái: Này con, con lên ngồi chơi với Thầy, con xin Thầy ôm con, thử xem Thầy phản ứng như thế nào? Cô thiếu nữ lên am cốc và làm y như vậy. Thầy kia xích ra một bên và đọc hai câu kệ:

Khô mộc ỷ hàn nham

Tam đông vô noãn khí

Nghĩa là:

Cây khô dựa vào hòn núi lạnh. Suốt trong ba mùa đông nó không hề có một chút hơi ấm nào cả! Khi cô gái về báo cáo với mẹ, bà cụ ngửa mặt than rằng: Hai mươi năm cúng dường rất là uổng. Ông Thầy tu này không được tích sự gì hết! Chiều hôm đó, bà đến châm lửa đốt cháy túp lều của vị tu sĩ.

Chúng ta tu như thế nào để tình thương trong ta luôn đầy tràn, để niềm tin trong ta không cạn mất. Nếu tu chỉ để làm dịu bớt một vài khổ đau ở trong lòng, hay để chạy trốn khổ đau ở cuộc đời thì chưa phải là tu đúng phương pháp. Tu mà không thấy được những khổ đau ở xung quanh, không đem lại sự chuyển hóa, sự tươi mát và hạnh phúc cho người xung quanh ta thì cách tu đó không phải là bản hoài của Đức Thế Tôn. Vì vậy phải vượt qua giai đoạn “Khô mộc”, phải đi để gặp mùa xuân!! Đó là pháp tự mà Sư Ông đã đặt cho Thầy: Phùng Xuân. Nó có một ý nghĩa rất sâu sắc mà hồi đó vì chưa hiểu, vì dại dột, Thầy đã cho rằng cái tên này giống tên con gái.

Nhất hướng Phùng Xuân đắc kiện hành

Hành đương vô niệm diệc vô tranh

Câu đầu có chữ Nhất. Câu hai có chữ Hành. Nhất hướng là đi chuyên về một hướng. Hướng đó là hướng Phùng Xuân. Do đó, các học trò của Thầy hãy cứ an tâm nhắm vào hướng mùa Xuân mà đi tới. Đắc là được. Kiện hành là một thế đi rất hùng dũng và vững chãi. Đó là Lăng Nghiêm. Tiếng Pháp gọi là “La marche héroique”. Danh từ “la marche héroique” là để dịch chữ surangama. Dịch tiếng hán việt là kiện hành, tức là thế đi hùng dũng. Thế đi của người xuất gia phải là một thế đi dũng cảm. Cho nên, các sư cô và sư chú nên biết mình phải đi như thế nào. Nhất hướng Phùng Xuân đắc kiện hành: Đi về một hướng thôi: gặp được mùa xuân và đạt tới một thế đi vững chãi. Hành tức là hành động. Nếu là động từ thì ta đọc là hành. Nếu là danh từ thì ta đọc là hạnh. Hành tức là active, còn hạnh là action. Hành đương vô niệm diệc vô tranh: Trong hành động, ta phải theo các nguyên tắc vô niệm và vô tranh.

Vô Niệm và Vô Tranh

Vô niệm tức là không để bị kẹt vào ý niệm. Vô tranh nghĩa là không có óc hơn thua, ganh tỵ với người. Trong bao nhiêu năm hành đạo, Thầy thấy vô tranh dễ làm hơn vô niệm. Trong công cuộc hành đạo, khi có người đến tranh chấp và hơn thua với mình thì Thầy buông bỏ rất dễ, còn vô niệm thì phải thực tập nhiều mới có thể buông bỏ được. Vô niệm là không bị kẹt vào bất cứ một khái niệm hay một ý niệm nào cả.

Trong kinh Pháp Bảo Đàn, tổ Huệ Năng định nghĩa vô niệm như sau: nhược kiến nhất thiết pháp bất nhiễm trước thị vi vô niệm. Nghĩa là khi mình đối diện với các pháp mà tâm không bị dính kẹt vào đó thì gọi là vô niệm. Như khi thấy một cái hoa thì ta liền khởi lên ý niệm về nó, cho nó là đẹp và muốn nó thuộc về mình. Đó không phải là vô niệm mà là đang kẹt vào một cái niệm. Có một ý niệm về Thầy, về bạn, về người hàng xóm của mình, chúng ta có thể bị kẹt vào ý niệm đó và chúng ta vướng mắc, giận hờn hoặc tham đắm là do ý niệm đó. Một khi chúng ta đã bị kẹt vào bởi ý niệm đó rồi thì hành động của ta không còn tự do nữa.

Chẳng hạn như chúng ta có một ý niệm về hạnh phúc. Chúng ta cho rằng phải như thế này, phải như thế kia mình mới có hạnh phúc, và vì chúng ta bị kẹt vào ý niệm hạnh phúc ấy nên chúng ta không có hạnh phúc. Trong khi đó, hạnh phúc có thể đến với ta một cách rất dễ dàng nếu ta có tự do, nếu ta không bị kẹt vào một ý niệm nào. Ví dụ có một sinh viên nghĩ rằng: “mình phải có bằng Tiến sĩ thì mới có hạnh phúc.” Vậy là chết anh ta rồi. Anh ta bị kẹt vào một ý niệm: phải có bằng Tiến sĩ mới có hạnh phúc.

Trong khi đó, rất nhiều người hạnh phúc quá chừng mà không cần có bằng Tiến sĩ gì cả! Tại sao anh lại giam anh vào trong một ý niệm để rồi anh khổ? Cho nên những ý niệm của mình rất nguy hiểm, dù là ý niệm về hạnh phúc, ý niệm về lý tưởng, về Bụt. Mình phải có tự do hoàn toàn. Cho nên trong hành động, chúng ta phải có tự do, phải vô niệm, phải vô tranh thì hành động đó mới là hành động đích thực.

Trong ba mươi năm ở quốc ngoại, Thầy đã cố gắng đi theo lời chỉ dẫn của Sư Ông. Trong những năm hành đạo ở quê nhà, Thầy đã sáng lập Viện Đại Học Vạn Hạnh, trường Cao Đẳng Phật Học, trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, nhà xuất bản Lá Bối, tuần san Hải Triều Âm, tuần san Thiện Mỹ, v.v… Trong lĩnh vực văn hóa và xã hội, Thầy đích thực thấy câu thứ hai này là kim chỉ nam hướng dẫn cho đời mình. Thầy luôn sống và hành động với tất cả con tim mình để phụng sự mà cố gắng không bị dính kẹt vào một ý niệm, một phe phái hay một sự tranh chấp nào cả.

 

 

Tâm Đăng Nhược Chiếu Kỳ Nguyên Thể

Tâm đăng

Tâm đăng là cây đèn trong tâm. Mỗi chúng ta đều có một cây đèn bên trong. Chính cây đèn này chúng ta phải thắp lên. Đó là ánh sáng chánh niệm. Ánh sáng duy nhất để chiếu soi vào những ngõ ngách của tâm hồn. Tâm đăng nhược chiếu kỳ nguyên thể: lấy ngọn đèn tâm mà soi rọi trở lại cái bản chất, cái thể tính của mình. Làm được như vậy thì: Diệu pháp Đông Tây khả tự thành. Cái chánh pháp mầu nhiệm tự động được thành tựu thôi, dù ở phương Đông hay phương Tây. Những năm gần đây, có khi Thầy bất giác giật mình. Dường như Sư Ông đã biết trước rằng Thầy có thể đóng góp được ít nhiều cho công trình hoằng pháp ở cả Tây phương và ở Đông phương. Ngày xưa, khi leo lên máy bay để qua Tây phương, Thầy không hề có ý niệm ở lại Tây phương để hoằng pháp. Nhưng sau khi Thầy đã lên tiếng kêu gọi hòa bình rồi, thì các chánh phủ ở Việt Nam không cho phép Thầy trở về nước nữa.

Nhất hành (nhất hạnh)

Bây giờ chúng ta đi sang danh từ nhất hành. Nhất là một và hành là hành động. Có một tam muội gọi là nhất hạnh tam muội, có khi gọi là chân như tam muội, có khi gọi là nhất tướng trang nghiêm tam muội. Kinh luận giải thích: trong tam muội này ta quán chiếu được cái tướng nhất như bình đẳng của tất cả các pháp. Đưa mắt nhìn ra, ta thấy vạn sự vạn vật muôn hình vạn trạng, khác biệt nhau và tách rời nhau ra. Nhưng nếu quán chiếu thì ta sẽ thấy tất cả những cái khác nhau đó đều cùng chung một bản thể. Tuy là đa dạng, nhưng nằm dưới cái đa dạng đó có cái một, cái nhất như và cái bình đẳng, vì vậy không cái nào hơn cái nào. Đứng về phương diện hình tướng thì một trái núi lớn hơn một hạt sỏi và chúng ta thấy có sự chênh lệch giữa một trái núi và một hạt sỏi. Nhưng đứng về phương diện nội dung thì trái núi và hạt sỏi là một, chứ không có sự khác biệt. Trái núi mầu nhiệm bao nhiêu thì hạt sỏi cũng mầu nhiệm bấy nhiêu. Nếu không có trái núi thì không có hạt sỏi. Nếu không có hạt sỏi thì không có trái núi.

Đứng về phương diện Bụt và chúng sanh cũng vậy. Nếu nhìn về phía hình thức, chúng ta sẽ thấy Bụt khác, chúng sanh khác. Bụt có đại từ, đại bi và đại trí, có thọ mạng vô lượng, còn chúng sanh có tham, sân, si, có sanh tử luân hồi. Nhưng sự phân biệt đó sẽ tan biến đi khi ta an trú vào trong “nhất hạnh tam muội”. Khi quán chiếu ta sẽ thấy được tính cách bình đẳng và nhất tướng của mọi sự và mọi vật trong pháp giới. Tướng đó gọi là tướng “vô sai biệt”.

Tâm đăng trong ánh sáng của nhất hạnh tam muội

Theo phương pháp quán chiếu của nhất hạnh tam muội, trong những tư thế hằng ngày của ta như đi, đứng, nằm, ngồi, tâm ta luôn hướng về cái “định” đó để ta có thể thấy được không có cái gì lớn hơn cái gì, không có cái gì nhỏ hơn cái gì, không có cái gì cao hơn, không có cái gì thấp hơn và chúng ta thấy được tính cách nhất như bình đẳng của vạn sự vạn vật. Ta không cần bước ra khỏi đạo tràng mà vẫn có thể đi vào cõi Hoa nghiêm, cõi Tịnh độ. Đó là định nghĩa của Thầy Long Thọ trong tác phẩm Đại Trí Độ Luận.

Thực tập theo khuynh hướng tịnh độ, ban đầu tâm của chúng ta duyên tưởng tới một vị Bụt như Bụt Thích Ca, Bụt Từ Thị hay Bụt Di Đà. Chúng ta để tâm của ta quán chiếu thường trực từ giây phút này tới giây phút khác. Qua vị Bụt đó, chúng ta liên hệ được với tất cả các vị Bụt trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Chúng ta thấy rằng dù cho tất cả các vị Bụt đông đảo bằng số cát sông Hằng, chúng ta vẫn có thể tiếp xúc được qua một vị Bụt và chính bản thân ta cũng là một vị Bụt. Qua bản thân ta, ta có thể tiếp xúc được với tất cả các vị Bụt ở quá khứ, hiện tại và tương lai. Đó là định nghĩa trong kinh Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa.

Tại đạo tràng Làng Mai, chúng ta thường thực tập theo tinh thần này. Ban đầu, chúng ta dùng chánh niệm, để thắp lên ngọn đèn tâm. Trong bài kệ này Sư Ông gọi ngọn đèn ấy là “tâm đăng”. Khi ăn cơm, ta biết là ta ăn cơm. Ngồi với tăng thân, ta biết ta đang ngồi với tăng thân. Ngọn đèn của ta đang cháy. Nếu ngồi với tăng thân mà mơ tưởng đến chuyện khác, đến quá khứ, đến tương lai, hoặc lo âu buồn rầu là ngọn đèn của ta đang tắt. Dù Thầy đã có truyền cho ta cây đèn rồi thì cây đèn ấy cũng đang bị tắt như thường. Tâm đăng là cây đèn của lòng mình, phải thắp sáng không những mỗi ngày một lần mà phải thắp sáng suốt ngày trong mỗi giây mỗi phút, tại vì ngọn đèn đó là để chiếu sáng hiện hữu của chúng ta.

Trong bài kệ của Sư Ông, ta thấy: “Tâm đăng nhược chiếu kỳ nguyên thể”, nếu cây đèn tâm chiếu được vào nguồn gốc của nó thì ngọn đèn đó là một năng lượng ánh sáng rất thật, chứ không phải là một cái gì trừu tượng. Tất cả chúng ta đều biết ngọn đèn đó là ngọn đèn gì. Trong chúng ta đây ai cũng đều đã học được cách thắp nó lên và giữ cho nó cháy sáng từ niệm này sang niệm khác, từ giờ phút này sang giờ phút khác. Nhờ ánh sáng đó mà chúng ta thấy biết chuyện gì xảy ra trong giây phút hiện tại.

Trong thế giới của cảm thọ, khổ thì ta biết là khổ, vui thì ta biết là vui, không khổ không vui thì ta biết là không khổ không vui. Trong thế giới của tri giác, có một ý niệm thì biết là mình có một ý niệm, có một tri giác thì biết là mình có một tri giác. Đó là cái nguyên thể, tức là tâm của mình. Đèn tâm thắp lên từ tâm, trở lại chiếu rọi vào tâm. Phải thắp lên mới thấy được tâm của mình.

Nhiều khi tâm của mình đi những nước cờ rất lạ lùng, mình không thể biết. Mình tưởng là mình không như vậy, kỳ thực là mình đang như vậy. Mình có những ganh tỵ, giận hờn, đam mê, v.v… mà mình không biết là mình có. Rồi mình dùng những lý luận rất hay, tự biện hộ rằng: “cái đó không phải đam mê, cái đó không phải là giận hờn, v.v…” Trong tất cả chúng ta luôn luôn có mặt một ông trạng sư. Ông này tìm cách bào chữa cho ta để cho ta có những cảm giác dễ chịu. Nếu không cẩn thận, không có chánh niệm ta sẽ bị đánh lừa, dễ gây đổ vỡ và khổ đau cho chính ta và những người xung quanh, những người mà ta đã nguyện thương yêu và che chở.

Thực tập của chúng ta là thắp ngọn đèn tâm lên và giữ cho nó sáng cả ngày đêm. Khi nó tỏa ra ánh sáng thì ta phải theo ánh sáng đó mà nhìn, mà quan sát. Chính nhờ sự quan sát này mà chúng ta thấy được sâu sắc trong lòng của sự vật, trong lòng của những tri giác và những cảm thọ của chính mình và nhờ đó mà mình hiểu được mình. Chính từ cái thấy của mình mà mình được chuyển hóa, được giải thoát. Sự cứu độ, sự cứu chuộc (tiếng Pháp gọi là le salut) và sự giải thoát (la liberation) hoàn toàn căn cứ vào cái yếu tố gọi là “cái hiểu”.

Trong đạo Bụt, sự cứu độ chính là bằng sự hiểu biết, bằng tuệ giác (la compréhension). Tuệ giác của ta giải phóng cho ta. Nhưng Tuệ giác làm sao có được nếu đèn tâm không được thắp lên? Chúng ta, những thiền giả đang thực tập, mỗi người đều có một ngọn đèn trong tâm. Sự thực tập của chúng ta là thắp ngọn đèn đó lên để quán chiếu ngày đêm, từ giây phút này sang giây phút khác, không ngừng nghỉ. Cái đó gọi là “nhất hạnh tam muội”. Khi đã quán chiếu sâu sắc, ta sẽ thấy ta và Thầy là một, ta với muôn loài chúng sanh là một. Có được cái thấy bình đẳng và nhất như đó, ta đạt đến cái trí gọi là “vô phân biệt trí”. Nhất hạnh tam muội là như thế đó! Vậy là quý vị có thể hiểu được ý nghĩa của hai chữ “nhất hạnh” rồi.