Đi gặp những mùa hoa – Phần III
HẠNH THIÊNG NGUYỀN TIẾP NỐI
Từ Hiếu – Diệu Trạm, ngày 24 tháng 4 năm 2025
Sư Ông thương kính của chúng con,
Trở về từ Đại Giới đàn Nước Tĩnh và khóa tu xuất sĩ Gìn Giữ Nếp Nhà tại tu viện Vườn Ươm – Làng Mai Thái Lan, chúng con có nhiều niềm hạnh phúc muốn chia sẻ cùng Sư Ông và Tăng thân.
Tu viện Vườn Ươm đã đón chào hơn 300 người con về với không gian thênh thang của núi rừng Khao Yai. Từ trên xóm Trời Quang xuống đến xóm Trăng Tỏ, niềm vui hội ngộ nở rộ nơi từng góc nhỏ. Dù đã nhiều lần hay chưa từng đặt chân đến, chúng con đều dâng lên trong lòng những niềm thương mến với mảnh đất này, với những con người đang dựng xây một nơi cằn khô sỏi đá trở nên thánh địa. Vì “Đã trót thương tàng cây đung đưa, bầu trời đung đưa, ghế treo đung đưa trên bãi cỏ một sớm nắng xiên tựa hàng me gió hiền nhè nhẹ thổi nơi Vườn Ươm hôm ấy đàn con trai con gái áo nâu của Bụt vui đùa, ấu thơ về lại; gia tài vẫn giàu Chánh Pháp, giúp nghèo Khổ Đau, tiếng cười theo gió, vang vào thiên thâu.” (Trót thương – Chân Trời Hải Thượng)
Những ngày được tham dự các buổi lễ Rước Giới Bổn, Truyền Giới và Truyền Đăng đã thắp lên ngọn lửa bồ đề trong chúng con thật sáng tỏ và rõ ràng. Chúng con thấy được sự vĩ đại, trang nghiêm và hùng tráng của Tăng đoàn – nơi dòng chảy chánh pháp tiếp tục được trao truyền qua các thế hệ. Giữa khung cảnh đó, khó có ai mà không cảm thấy chấn động trong lòng. Nhất là khi chứng kiến các sư anh, sư chị thế hệ Trời và Trăng tiếp nhận ngọn đèn chánh pháp. Chúng con cảm thấy vô cùng khâm phục và biết ơn trước hành trình nỗ lực không ngừng nghỉ của quý thầy, quý sư cô – để ngày hôm nay, có thể nhận lấy ngọn đèn như một sự tiếp nối thiêng liêng đầy trách nhiệm.
Ngọn đèn đó còn là sự chở che, là niềm tin cậy và sự gửi gắm mà Bụt, chư vị Tổ sư và Sư Ông muốn truyền trao cho các thế hệ con cháu. Là tình thương thầm lặng, đậm đà của Sư Cố đã nuôi dưỡng và yểm trợ Sư Ông trong suốt những tháng năm khó khăn ở nước ngoài. Là đức tin vào tương lai và niềm hạnh phúc lớn của Sư Ông khi thấy các con sống và làm việc yên lặng, hòa thuận như một đàn ong, và trong tình huynh đệ. Cho dù có khó khăn đến mấy, chúng con biết rằng mình đang được Sư Ông ôm vào lòng. Để những niềm thương và tin cậy nơi Người trở thành những ánh lửa ấm áp giữ cho bền bỉ, cho tươi mới trái tim ban đầu của chúng con.
Trong những giờ phút linh thiêng và xúc động ấy, chúng con phát khởi trong mình một lời ước nguyện mạnh mẽ: được lớn lên trong dòng chảy tâm linh này để góp phần làm lớn rộng thêm sự nghiệp của Bụt Tổ. Ước nguyện đó đi cùng chúng con – vượt qua những nghi ngờ và chán nản, cùng các sư anh, sư chị xây dựng tương lai ngay chính bây giờ để có thể đền đáp ân tình cao thâm nghìn trùng của Thầy Tổ.
Cúi mình lạy xuống nơi thiền đường Voi Trắng, chúng con mong ước cho tất cả các anh chị em chúng con dù ở bất cứ nơi đâu cũng đều chế tác được bình an, hạnh phúc cũng như có thể chấp nhận, bao dung cho những lỡ lầm, vụng dại của nhau để cùng đi trọn con đường.
Sư Ông kính thương, trên hành trình đó chúng con không hề đơn độc vì phía trước luôn có quý sư cha, sư mẹ, sư anh và sư chị của chúng con. Như những dây leo được lên cao nhờ thân cây tùng, cây bách, chúng con phải nương vào lý tưởng cao đẹp và các bậc đại nhân thì mới có thể trở nên người hữu dụng mà làm lợi ích cho thế gian. Vì vậy, mỗi khi có cơ hội được thân cận quý sư cha nơi chùa Tổ, chúng con luôn khởi lên ước muốn được lắng nghe những chí nguyện, thao thức lớn về công trình tiếp nối sự nghiệp chư Tổ mà các sư cha đang gầy dựng.
Tăng thân muôn dặm một nhà
Sư Ông từng dạy “càng cắm rễ sâu vào tăng thân chừng nào thì nền tảng của sự thực tập của mình càng vững chắc chừng ấy”. Vì vậy “làm thế nào để xem Tăng thân là nhà, xem đây là tình gia đình?” là một câu hỏi lớn trong cuộc đời tu của chúng con. Sư cha Mãn Thành đã luôn phát nguyện đi theo tăng thân với tinh thần của một dòng sông, không bao giờ chịu làm hạt nước nhỏ, chúng con được học hỏi cách hòa vào dòng sông ấy để thảnh thơi về tới đại dương mênh mông:
“Đối với Mãn Thành, chùa Tổ là nhà của mình. Và từ lâu rồi khi Mãn Thành có ý thức hơn, từ ngày thọ giới lớn, đặc biệt là khi cúi xuống nhận ngọn đèn truyền đăng, nhận lấy sự nhắn nhủ, Mãn Thành thấy nơi này là nơi nuôi cả cuộc đời của mình. Và mình phát nguyện, dù ở góc nào, nếu còn rác, cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, từ trong lòng mình ra đến bên ngoài, mình sẽ luôn cố gắng dọn dẹp, làm cho góc đó sạch đẹp hơn. Những người anh em nào ở chùa Tổ cũng đều có chung suy nghĩ như vậy. Mỗi buổi sáng, những ngôi chùa đều có một nếp sinh hoạt rất ấm áp và dễ thương. Mục đích chính của nếp sinh hoạt này không những để chăm sóc không gian của chùa mà còn là một thông điệp sâu sắc. Mỗi công việc được chia ra cho quý thầy và luân phiên với nhau: chăm sóc chánh điện, làm ở thiền đường, lo ở nhà bếp, dọn nhà vệ sinh, quét lá ở hồ Bán Nguyệt và những con đường,… Ai cũng cố gắng làm cho ngôi chùa đẹp nhất có thể với tất cả khả năng của mình. Và quý thầy đều cảm nhận rằng đây là ngôi nhà chung của mình chứ không phải là một nơi mình đến rồi đi. Chùa Tổ là nhà, là gốc gác của mình rồi.
“Đã là nhà của mình thì phải ở thôi và làm cho nó tốt lên mỗi ngày, dù như thế nào cũng không có thái độ từ bỏ. Quý thầy đi xa rồi trở về cũng đều thấy, ai được ở chùa Tổ nơi núi rừng này là những người có diễm phúc nhất, phước đức nhất vì không phải rong ruổi. Mình đang ở trong một kho gia tài rất lớn, và ở đây chỉ có làm cho mình giàu có lên thôi. Ở chùa Tổ mình có hết rồi – mình có không gian, có thời gian, có những bậc thầy – thì không bao giờ mình phải đi tìm, phải làm thân cùng tử nữa. Vì vậy mình phải chấm dứt cuộc đời lãng tử để tiếp nhận được gia tài ở đây, không đâu khác nữa. Có cái thấy rằng đây là nhà, là nơi có đủ để phát triển bản thân mình từ chiều sâu đến chiều rộng nên mình ở lại, làm sáng lên con người của mình. Và khi đã hoàn thiện được tự thân thì sẽ thắp sáng lên không gian này.
“Thỉnh thoảng vào buổi khuya Mãn Thành thích đi dạo quanh vườn tháp chùa Tổ. Ngồi bên cạnh tháp của Ngài Đệ Nhị đọc những dòng tự bạch cùng 15 lời đại nguyện của Ngài làm mình chấn động. Ở bên tháp ngài Huệ Minh, thầy thấy được cuộc đời Ngài hiện ra. Lâu lâu thầy về tháp Sư Cố hay đi quanh thất Sư Ông,… Ở đâu mình cũng chạm đến, tiếp xúc được với những nguồn xúc thực, tư niệm thực và thức thực của quý Ngài. Các sư em sẽ cảm được rằng quý Ngài đã dọn sẵn những “món ăn” rất ngon lành để mình tự nhiên đón nhận vào lòng. Ở đây không thiếu gì của một con người để mà tìm cầu nữa. Có thiếu thì thiếu một điều duy nhất, là thiếu sự tinh tấn, mình chưa hết lòng, chưa chuyên tâm đủ, để rồi những lang thang, ham muốn dẫn mình đi xa.”
Nối nghiệp Tổ lưu truyền
Được lớn lên từ sự nâng đỡ, chở che của những bậc thầy đi trước, lý tưởng tu học của sư cha Từ Hải được hun đúc nên từ hoa trái đẹp đẽ mà các thế hệ tiền nhân đã dày công vun trồng. Sư cha đã luôn thao thức, âm thầm gìn giữ gia tài quý giá của Thầy Tổ. Ngày hôm nay, khi được lắng nghe sư cha Từ Hải, chúng con nhận ra bao hoa trái của Sư Thúc đang tiếp tục biểu hiện nơi sư cha:
“Thầy phát nguyện rằng dù đi đến đâu, ở trung tâm nào, thầy cũng sẽ học cách để hòa vào với nơi đó. Thầy nghĩ, dù có khác biệt ngôn ngữ, văn hóa hay thế nào đi nữa, mình cũng đang cùng đi trên một con đường, cùng hướng tới sự tỉnh thức và thương yêu. Phải làm sao để có thể sống chung được. Quan trọng là mình đừng để cái ngã dẫn dắt mình đi. Phải chăm sóc và chuyển hóa cho được những mặc cảm hơn, kém, bằng. Tập buông xuống cái tôi cá nhân, để hòa đồng, học hỏi với huynh đệ. Nên hoan hỷ và buông bỏ là những thực tập thầy học hỏi mỗi ngày trong đời sống của mình. Có những lúc thầy không vui với anh em, tập khí nóng nảy nổi lên, có nói những lời không dễ thương với nhau. Nhưng chỉ trong lúc đó thôi, nhiều lắm thì một, hai tiếng sau là xả, không để trong lòng. Điều đó tuy không dễ, nhưng vấn đề là mình muốn thực tập buông bỏ cho được để cùng nhau chung sống và xây dựng.”
Bên cạnh đó, sư cha còn cần mẫn vun trồng những đóa hoa thơm ngát của Sư Cố, Sư Ông và của những vị Bồ tát thầm lặng đi vào cuộc đời:
“Thầy luôn cảm thấy mang ơn dòng truyền chưa từng đứt đoạn của chùa Tổ. Thầy ao ước mình có thể tiếp nối được một phần nào công hạnh của chư vị Tổ sư để dòng truyền thừa sẽ còn được tiếp tục. Sư Cố là một vị thầy đức độ, hiền dịu và khiêm cung. Mỗi khi nhắc đến Sư Cố, là các ôn, các mệ – những người từng nhận được ân tình của Sư Cố, đều cung kính gọi Sư cố là Ôn Mậu Thân. Mậu Thân (1968) là năm Sư Cố viên tịch. Thời xưa rất nghèo, mà cứ vào mỗi dịp Xuân về, Sư Cố thường hay mua một thẻ hương, một chai xì dầu. Thêm mấy trái bùi chùa Tổ, Ngài chống gậy đi tặng cho những gia đình ở quanh chùa. Xóm giềng là thành trì bao quanh một ngôi chùa. Hành động kết nối đó cho họ cảm nhận được tình thương của nhà chùa đối với người dân. Là đệ tử của Sư Cố, Sư Ông đã tiếp nối hành động này, không chỉ ở Việt Nam mà sang tận miền Nam nước Pháp. Thầy rất muốn giữ gìn được tinh thần đồng sự, tiếp xúc gần gũi với quần chúng như Sư Cố ngày xưa đã từng làm và Sư Ông đã tiếp nối, truyền trao.
Những năm thập niên 60, Sư Ông đã đưa ra khái niệm “Đạo Bụt dấn thân” (Engaged Buddhism) trong thời cuộc chiến tranh để làm mới lại sức sống đạo Bụt, để đưa đạo Bụt đi vào cuộc đời, phụng sự cuộc đời. Bây giờ là thời bình, nhưng những niềm đau, nỗi khổ vẫn còn đó. Nếu con đường phụng sự xã hội bằng thái độ cởi mở, phá chấp của Sư Ông không được thế hệ sau tiếp cận, học hỏi và tiếp nối để phụng sự thời cuộc, thì đạo Bụt làm sao còn có thể dấn thân? Thầy không làm được những công việc to lớn như chư vị. Làm được chừng nào thì thầy làm chừng đó. Gần đây nhất là khi đi Lào Cai, thầy được cùng với đoàn cứu trợ tiếp tế lương thực và vật dụng cho bà con sau trận bão Yagi. Khi nhìn cho sâu sắc những nỗi khổ của họ, thầy nhận thấy rõ là mình đang có rất nhiều may mắn khi được tu học. Điều đó làm phát khởi trong thầy mong muốn thực tập cho tinh chuyên hơn nữa, để góp đôi bàn tay của mình vào ước nguyện chung “sáng cho người thêm niềm vui, chiều giúp người bớt khổ” của Tăng thân. Đó là hướng đi mà thầy lựa chọn, xuất sĩ và cư sĩ cùng đồng hành với nhau. Trong đó, thực tập chánh niệm là yếu tố đầu tiên và đặt nền tảng cho những sự phát triển khác.”
Vì biết tình thương hôm nay còn đủ sưởi ấm ngày mai
Trong khi đó, một trong những hạnh nguyện mà sư cha Từ Tế và sư cha Mãn Thành đang tiếp nối là mong muốn nuôi dưỡng thế hệ tương lai.
Sư cha Mãn Thành đã lớn lên từ những năm tháng niên thiếu đầy nghịch ngợm, hoang dại, hiếu kỳ và khao khát. Đi qua những trải nghiệm ấy, sư cha hiểu được một phần tâm tư của các sư em nhỏ. Và từ đó, ước nguyện “nâng đỡ và trao truyền cho các sư em” luôn dẫn dắt sư cha trên con đường tiếp nối và phụng sự. Có lẽ Sư Thúc của chúng con đang mỉm cười tin tưởng và khích lệ với những thao thức chân thành ấy.
“Mãn Thành rất “tham lam” khi nhận thấy mình mong muốn cho các em sau này sẽ tốt hơn thế hệ của mình, sẽ vững chãi hơn và tránh được những chuyện lòng vòng mà mình đã trải qua. Khi vào chùa, điều đầu tiên là để hạnh phúc, xa lìa những thứ khổ đau của cuộc đời đã làm mình chìm xuống và trôi lăn trong vòng tranh chấp. Vì vậy Mãn Thành luôn mong các sư em có được đức tin và đạt được thành tựu của một người tu. Mình là những người đệ tử may mắn vì Sư Ông dạy rất kỹ những pháp hành, những giáo lý và mình có rất nhiều những chỉ bày và cảm hứng từ cuộc đời Sư Ông. Thế nên, các sư em phải nắm cho được pháp của Sư Ông, học cho thấu đáo và làm những gì Sư Ông dạy thật cẩn trọng. Vì chính sự học hiểu và hành trì đó sẽ giúp các sư em trau dồi nội lực để đi tới. Còn nếu vào chùa chỉ để có môi trường thuận lợi, nhàn rỗi mà thỏa mãn với những tiện nghi cá nhân bình thường thì sẽ không bao giờ đi xa được.
“Rồi đến lúc có sự va chạm, tự thân mỗi người tu phải phát sáng lên, phải đốt cháy những thứ còn tồn đọng trong năng lượng của mình và hướng về sự tỉnh thức. Năng lượng của sự kiên trì, miên mật khi được đốt lên sẽ tạo ra sức nóng giúp quả khinh khí cầu bay lên cao. Còn khi không đủ sức nóng nữa, như lúc Bồ đề tâm bị xói mòn, thì khinh khí cầu sẽ hạ xuống và không còn trông thấy được những khung trời cao rộng. Thành ra Mãn Thành luôn luôn thao thức. Bây giờ mình có con đường, có pháp môn, có cách điều hợp chúng rồi đó, nhưng phải luôn luôn uyển chuyển, phải làm sao cho nhịp nhàng, tương ứng, và tạo ra sức khỏe thân thể và tâm hồn. Trên cả những trăn trở đó, Mãn Thành luôn đặt niềm tin vào các sư em và tạo ra những cơ hội, thử thách để các em vươn tới, chủ động hơn và tiến xa hơn nữa.
“Đối với Mãn Thành, chỉ khi nào mình rơi xuống tận cùng, khi mà khó quá rồi, khổ cùng cực không chịu nổi nữa thì mình mới dùng những từ “khó khăn”, “khổ đau”. Còn những vấn đề nhỏ hơn, ngày xưa thầy nhìn khác, vì mình thường hay đổ lỗi. Các sư em chưa dễ thương, đại chúng có chuyện này chuyện kia khiến mình lùi bước hoặc đứng qua một bên. Nhưng bây giờ Mãn Thành nhìn rõ đó là tính hữu cơ của một dòng chảy. Dòng chảy luôn gặp trắc trở; quan trọng là khi gặp trở ngại mà dòng mạch vẫn tiếp tục, vẫn hướng tới nơi cần đến, sống cùng nhau trong một Tăng thân như những gì Sư Ông và Sư Thúc đã tạo ra, thì tự nhiên tính sáng trong mình tự đi tới thôi. Và khi những chuyện đó xảy ra thì biết mình đang như vậy vì nguyên do của nội tại, không phải vì ngoại tại.
“Nhận thức ở chùa giúp mình hiểu rõ: mình là một sự tồn tại đẹp đẽ trong trú xứ này, mình là nhịp nối của những thế hệ trước mình và sau mình. Thành ra làm sao huynh đệ mình có thể tạo ra sự liên kết hài hòa của một cỗ máy, chứ không phải mình xem mình là ai. Làm sao để đi qua những khúc cua cho mượt mà, nhịp nhàng, đừng có để lật. Mà nếu có lật, thì cũng phải lồm cồm ngồi dậy. Hư là phải sửa chữa, nổ máy đi tới và tìm ra nơi chốn mình muốn đến. Cỗ máy vốn có đường về, nhiều khi vì một chút sơ sẩy mình bước trật ra khỏi con đường đó. (Lạc đường cũng vui vì mình có cơ hội khám phá ra con đường mới). Cái quan trọng là cuối cùng mình đến được đích.”
Với chúng con, “ngọn đèn tiếp nối” của tuổi trẻ thật đẹp đẽ với lý tưởng cao cả, kiên định. Dù có lúc le lói, ánh lửa vẫn âm ỉ cháy và được tiếp thêm sức mạnh bởi niềm tin vào chính mình và vào sự thực tập. Còn ngọn đèn của sư cha Từ Tế – đã đi qua biết bao mùa nắng mưa, sương gió – vẫn đang tỏa sáng ấm áp cùng chí nguyện độ đời, giúp người. Đó là cách sư cha báo đáp công ơn sâu dày của Thầy Tổ.
“Các con biết không. Niềm vui của người tu không phải của riêng mình, mình có được là nhờ phước báu của Bụt Tổ, của người đi trước, của những thiện tri thức. Thiện tri thức là những người nâng đỡ, hướng dẫn mình trên con đường thực tập. Nhưng ngay cả những người gây khó khăn, thử thách cũng là những thiện tri thức của mình. Các con đừng thấy chướng ngại mà cho đó là cái không tốt. Vì chướng ngại cho mình lớn lên trên đường tu. Nếu thầy không bị bệnh nặng thì chưa chắc thầy đã thực tập ngồi thiền, chưa chắc thầy đã thực tập Thái cực quyền, đã nghiên cứu trị liệu sức khỏe bệnh tật như bây giờ. Vì cơ thể có bệnh nên mình mới bắt đầu nghiên cứu, và nó có dáng dấp nên mình đi vào thiền tập rất dễ.
Và thầy thấy mình được hun đúc bởi nhiều phước đức của tổ tông, cùng tình thương yêu và sự yểm trợ của Thầy và huynh đệ xung quanh. Vì vậy, thầy tự nhắc mình phải tu học sao cho không phụ lòng các bậc tiền bối và Tăng thân. Do đó, mỗi khi đủ sức khỏe và thời gian, thầy luôn nuôi dưỡng tinh thần có mặt cùng đại chúng trong các lớp học và các khóa tu.
“Khóa tu nào đi được thì thầy đi, chỗ nào có khó khăn thì thầy giúp. Mặc dù đi khóa tu không đơn giản. Vì khi sức khỏe không đủ, đi máy bay thầy dễ bị say, và thời khóa liên tục thì mệt hơn nhiều so với việc ở nhà. Thế nhưng khi gặp các vị Phật tử thân quen thì thầy vẫn muốn tiếp xúc, hỏi han nhiều. Người ta có niềm vui thì thầy thấy không uổng phí đời mình sinh ra, không uổng phí cuộc đời thực tập. Giúp người ta thoát được chút nào khó khăn là hạnh phúc rất lớn của thầy.
Trong các lớp học của các sư em hay của các bạn thiền sinh, thầy không quan tâm ai vắng, ai đi học. Không phải thầy không biết ai vắng nhưng thầy không phán xét. Các vị đề nghị thầy phải ra bài tập hay kiểm tra để mọi người chia sẻ sự thực tập. Nhưng thầy thấy điều đó không thật sự cần thiết. Bởi người tu cần thời gian thì mới lớn lên được. Còn các vị cư sĩ vừa lo chuyện vợ chồng, con cái, thời gian đâu mà thực tập. Chỉ cần thực tập được một chút thôi cũng đã rất lợi lạc rồi. Không cần phải thực tập để đạt cho được một thành tựu gì cả. Chỉ cần khi gặp khó khăn, mình biết trở về với hơi thở, thực tập để nuôi dưỡng thân tâm và giữ được sự cân bằng trong đời sống.
“Thầy chỉ dạy dỗ, trao truyền, khích lệ làm sao cho tốt lên. Chứ mình đừng phán xét, trách móc, đòi hỏi cái này, cái kia mà mình tháo gỡ ra đó mới là người tu. Cái đó mới chính là mình đang trả ơn Bụt Tổ, nhớ đến ơn người đi trước, Sư Ông, Sư Thúc. Cho nên trách nhiệm của người tu là phải có chánh niệm, có cái trí. Cái trí là không giải quyết vấn đề với tâm phán xét, đúng sai, dễ thương hay dễ ghét, mà tìm cách tháo gỡ ra. Vì sao vị đó không thích cái này là biết có vấn đề. Mình làm cho vị đó thích hoặc tìm cái khác khiến họ thích hơn. Giúp cho người ấy có khả năng an trú được trong Tăng thân mới chính là người trí. Đừng đặt nặng vấn đề giữa mình và người, đúng và sai, mà luôn tìm cách nâng nhau lên. Khi thầy thấy vấn đề này nọ, thầy không đặt quan niệm đúng sai, phải trái, cái này cái kia mà cứ để tự nhiên nhờ vậy mọi người thấy dễ chịu hơn.
Sư Ông từng dạy: “Không ai là không có tài năng, nếu không có tài này thì có tài khác. Một tài năng căn bản là sống không có vấn đề ở trong chúng”. Là khả năng thực tập ổn định của mình. Chỉ cần thực tập vững là vị đó đã đóng góp được tính vững chãi, bình an và hạnh phúc cho Tăng thân. Còn thành đạt cái gì chưa biết nhưng đời sống mình đừng làm người khác buồn là được. Đôi khi mình đưa ra các tiêu chuẩn, tiêu chí rất lớn. Nhưng trồng cây thì cần có năm tháng, mình ép cho cây phát triển thân lá nhanh quá nhưng bộ rễ chưa vững chắc thì chỉ cần một cơn bão thôi là bật gốc liền. Đời tu cũng vậy, không thể nóng vội mà phải cần thời gian bồi đắp, trau dồi. Tuổi tập sự, sa di các con còn nhỏ cứ vừa tu vừa chơi, tu là rèn luyện thêm vi chất và chơi là va chạm để mình đụng chạm gió sương mà cứng cáp thêm. Khi đã có gốc rễ vững vàng thì đi đâu mình cũng không mất gốc.”
Thưa Sư Ông, chúng con ý thức rằng, giây phút nào chúng con nuôi lớn được năng lượng của lý tưởng và Bồ đề tâm thì giây phút đó chúng con đang thực sự sống xứng đáng với tư cách của người tu. Lý tưởng chính là nhịp đập trong trái tim của mỗi người xuất sĩ, và lý tưởng âm thầm nuôi dưỡng đời sống tu học của chúng con. Bên cạnh đó, chính những sự thực tập rất đơn giản mà vô cùng đẹp mỗi ngày cũng đang từng bước tưới tẩm và làm lớn mạnh chí nguyện của những người con Bụt. Mỗi khi cài từng nút áo nhật bình, chúng con có mặt với trọn vẹn ý thức rằng, màu nâu sồng của tấm áo vách núi là một lời nhắc nhở cho chúng con về nếp sống thanh bần, giản dị, và về nguồn năng lượng Bồ đề tâm hùng tráng của một người tu.
Thầy trò mình vẫn tiếp tục leo đồi thế kỷ, hiến tặng yêu thương, hiểu biết, thảnh thơi và vững chãi cho cuộc đời hôm nay và mai sau. Con đường xuất gia không phải là một xa lộ êm ái mà là một con đường cheo leo. Thế nhưng, chúng con chỉ cần đi từng bước nhỏ, biết tự khích lệ mình, mỉm cười chào nhau và kiên trì đi tiếp, thì nhất định chúng con sẽ có thể leo đến đỉnh đồi, với rất nhiều niềm vui và hạnh phúc.
Đường Xưa Hoa Nở – Để tạm kết “Đi Gặp Những Mùa Hoa”
Sư Ông kính thương, những bức thư “Đi gặp những mùa hoa” là chùm niềm vui nho nhỏ các sư bé chúng con kính dâng lên Sư Ông. Những dòng chữ đã được viết nên từ niềm hạnh phúc và biết ơn đối với dòng chảy chánh pháp đang lưu nhuận nơi trái tim tinh khôi và niềm tin vững chãi của chúng con. Sư Ông có hạnh phúc không ạ?
Chúng con biết sự có mặt của quý sư cha, sư mẹ, sư anh, sư chị của chúng con qua năm tháng là những đoá hoa nở ra từ nụ thơm trong của nguyện ước thuở ban đầu mà chư vị Tổ sư đã truyền đạt lại. Sự có mặt đó cũng chính là gia tài tâm linh quý báu mà thế hệ chúng con đang được tiếp nhận.
Chúng con sẽ cùng nhau viết tiếp câu chuyện nơi suối nguồn tâm linh này bằng chính sự thực tập của tự thân. Để những đóa hoa đức hạnh tiếp tục nở rộ, dâng hiến cho đời hương thơm của tình thương, tự do và hạnh phúc.
Hướng về Sư Ông với tấm lòng hiếu thảo và kính thương.
Chúng con, các sư bé Diệu Trạm của Sư Ông.
ĐI GẶP NHỮNG MÙA HOA – PHẦN II





