Duy biểu học – Hiểu sự vận hành của tâm

Bài tụng 20: Các tâm sở tương ưng

Tương ưng năm biến hành
Bốn phiền não và tuệ
Cùng các thứ đại tùy
Đều hữu phú, vô ký.

 

Năm tâm sở biến hành: Tác dụng tư lượng của thức thứ bảy được biểu hiện qua năm tâm sở biến hành là xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư.  Năm tâm sở này có mặt trong tất cả các thức cho nên gọi là biến hành (universal).

Những tâm sở khi tương ưng với một tâm vương (hay là một thức) thì nó mang tính chất và đường lối của  tâm vương (thức) đó. Cho nên tâm sở xúc ở thức thứ tám khác (vô phú), mà xúc ở thức thứ bảy khác (hữu phú), xúc ở thức thứ sáu khác và xúc ở thức thứ năm cũng khác. Phải hiểu như vậy. Khi nói thức thứ bảy tư lượng, suy nghĩ thì sự tư lượng, suy nghĩ đó của thức thứ bảy khác với sự tư lượng, suy nghĩ của thức thứ tám.

Thức thứ bảy thường xuyên xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư về tàng rồi níu lấy tàng, cho đó là cái ta. Năm tâm sở biến hành này thường xuyên biểu hiện cùng với bốn tâm sở phiền não (ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái) trong Mạt-na. Ngoài ra Mạt-na còn tương ưng với tám tâm sở đại tùy và tâm sở tuệ trong năm tâm sở biệt cảnh.

Ngã si (ātma-moha, ignorance about self) là một quan niệm sai lầm về ngã. Si nghĩa là hiểu lầm. Ví dụ như cho rằng ta là thân thể này, là cảm thọ này, tri giác này, còn những gì không phải là thân thể này, không phải là cảm thọ này, tri giác này thì không phải là ta. Những chuyện gì xẩy ra trên thế giới, cho những người khác thì không liên quan gì tới ta. Như vậy gọi là ngã si vì thật ra thì chúng ta có liên hệ tới vạn hữu, vạn vật. Chỉ nắm lấy một phần nhỏ và tạo ra bóng dáng của thực tại đó mà cho đó là cái ta thì cái ta đó không phải là cái ta chân thật cho nên mới gọi nó là ngã tướng, là đới chất chứ không gọi là tánh cảnh.

Ngã kiến (ātma-dṛṣṭi, self view) là nhận thức sai lạc về ngã. Cho rằng có một cái ngã độc lập, thường tại ngoài những cái khác gọi là ngã kiến.

Ngã mạn (ātma-māna, self-pride) là thái độ cho mình là giỏi hơn, hay hơn, đẹp hơn, quan trọng hơn.

Ngã ái (ātma-sneha, self love) là yêu mình nhiều quá. Tất cả những lời nói, việc làm, suy tư đều mang nặng tính chất ràng buộc vào cái ta.

Trong Mạt-na cũng có một trong năm tâm sở biệt cảnh là tâm sở Tuệ. Năm tâm sở biệt cảnh không hiện diện trong tất cả các thức. Năm tâm sở biệt cảnh là dục, thắng giải, niệm, định và tuệ.

Dục (chanda – zeal): sự ham muốn nhìn vào sự việc gì đó để tìm hiểu.

Thắng giải (adhimokṣa – certainty): khả năng nhận diện và xét đoán một sự vật nào đó

Niệm (smṛti – mindfulness/memory): sự chú ý, có ý thức về một sự vật (dù có khi nó chỉ là hình ảnh trong quá khứ)

Định: (samādhi – concentration): khả năng chú tâm vào một sự vật

Tuệ/Huệ: (prajñā – understanding) trong Mạt-na, tuệ hay huệ là cái thấy, cái hiểu ta tưởng là đúng, trong khi chưa chắc cái hiểu đó đúng với chân tướng đối tượng.

Chúng ta có thể nhầm về ý nghĩa của 5 tiếng Phạn chỉ 5 tâm sở biệt cảnh trên, vì trong các thức khác nhau, chúng cùng tên nhưng có ý nghĩa khác nhau. Cả năm tâm sở biệt cảnh trên đều bị ngăn che (hữu phú) trong Mạt-na, nên không giống với các tâm sở cùng tên trong A-lại-gia.

Đặc biệt tâm sở tuệ trong Mạt-na không phải là chánh tuệ (prajñāpāramitā), không phải là sự hiểu biết chân lý, vì nó thường căn cứ vào các nhận thức sai lầm của Mạt-na (đó là tà tuệ, tiếng Phạn là mati). Bạn tin là mình đúng, nhưng sự thực bạn hiểu sai. Giống như bạn nhìn cái thừng trong đêm tối mà nghĩ đó là con rắn.

Bài tụng thứ 20 này cũng nói tới các tâm sở phiền não (kleśa, afflictions) liên hệ tới Mạt-na. Các tâm sở phiền não chia làm hai loại: phiền não căn bản (basic afflictions) và tùy phiền não (secondary afflictions).

Phiền não căn bản là những tâm trạng nặng nề, độc hại nhất, có khi gọi là độc tố. Phiền não căn bản gồm có tham, sân, si, mạn, nghi và kiến. Tham, sân, si thường được gọi là tam độc. Nghi là một độc tố rất lớn: nghi ngờ người khác, nghi ngờ tất cả mọi thiện chí trên đời, tất cả mọi giáo lý. Kiến là những cái thấy sai lầm, những thành kiến.

Tùy phiền não là những phiền não nhẹ hơn, được chia làm ba loại: 8 Đại tùy, 2 Trung tùy, và 10 Tiểu tùy.

Trong thức thứ bảy (Mạt-na), ngoài 5 tâm sở biến hành, 4 trong sáu phiền não căn  bản là tham, si, kiến và mạn, tâm sở tuệ trong 5 tâm sở biệt cảnh, còn có tám đại tùy phiền não: trạo cử (restlessness), hôn trầm   (drowsiness), bất tín (lack of faith), giải đãi (laziness), phóng dật (negligence), thất niệm (forgetfulness), tán loạn (distraction), bất chánh tri (lack of discernment).

 

Tất cả các tâm sở trong Mạt-na, cũng giống như Mạt-na, đều bị mê mờ vì vô minh (hữu phú). Nhưng chúng đều có tính chất vô ký (không thiện cũng không ác). Vì vậy, các hạt giống trong đó đều có thể được chuyển hóa nhờ công phu thực tập chánh niệm.

_______________________

Ghi chú

Danh sách 51 tâm sở:

* 5 Tâm sở biến hành: xúc (Sparśa – contact), tác ý (Manaskāra – attention), thọ (Vedanā – feeling), tưởng (Samjñā – perception), tư (Cetanā – volition)

* 5 Tâm sở biệt cảnh: dục (Chanda – zeal), thắng giải (Adhimokṣa – certainty), niệm (Smṛti – mindfulness, memory), định (Samādhi – concentration), tuệ (Prajñā – wisdom).

* 11 Tâm sở thiện: Tín (Śraddhā – faith), tàm (Hrī – xấu hổ với chính mình – inner shame), quý (Apatrapā – xấu hổ với người khác – shameless before other), vô tham (Alobha – Absence of craving), vô sân (Adveṣa – absence of hatred), vô si (Amoha – absence of ignorance), cần (Vīrya – diligence/energy), khinh an (Praśrabdhi – tranquility/ease), bất phóng dật (Apramāda – Viligence), hành xả (Upekṣā – equanimity), bất hại (Ahiṃsā – non harming)

* 4 tâm sở bất định: tầm (Vitarka – Initial thought), từ hay tứ (Suy tư, tìm hiểu một cách tinh tế) (Vicāra – sustained thought), hối (Kaukṛtya – Regret), miên (Middha – Sleepiness) – tùy trường hợp mà nó có tính chất thiện hay bất thiện

 

*    26 Tâm sở bất thiện:

*    6 Tâm sở bất thiện căn bản: tham (Rāga – greed/craving), sân (Pratigha – hatred, hostility), si (Moha – ignorance), mạn (Māna – complex of superiority, inferiority and equality), nghi (Vicikitsā -doubt/suspicion), kiến (Kudṛṣṭi – wrong view).

*   10 Tâm sở bất thiện tiểu tùy: phẫn (Krodha – anger), hận (Upanāha – resentment/enmity), phú (Che dấu – Mrakṣa – Concealment), não (Pradāśa – malicious), tật (īrṣyā -jealousy), xan (Ích kỷ – mātsarya – selfishness, parsimony), cuống (Lừa gạt – śāṭhyaṃ – Deceitfulness/fraud), Xiểm (Giả dối – Māyā – guile), hại (Vihiṃsā –  desir to harms), kiêu (Mada – pride)

2 Tâm sở bất thiện trung tùy: , vô tàm (ahrikya – lack of inner shame), vô qúy (anapatrāpa – shameless before other).

*   8 Tâm sở bất thiện đại tùy: trạo cử (Auddhatya – restlessness),  hôn trầm (Styāna – drowsiness), bất tín (aśraddya – lack of faith), giải đãi (Kausīdya – laziness), phóng dật (Pramāda  – negligence), thất niệm (Muṣitasmṛti – forgetfulness), tán loạn (Vikṣepa – distraction), bất chánh tri (Asamprajanya – lack of discernment).

Chúng ta cần học thuộc lòng tên các tâm sở. Những căn bệnh muôn đời này chúng ta rất cần biết và gọi tên mỗi khi chúng phát hiện trong ta. Theo kinh điển đạo Bụt Nam truyền, ngoài 51 tâm sở trên, còn có thêm ba tâm sở thiện khác. Đó là các tâm sở Nhu nhuyễn (Cittamudutā – Softness) – Tâm sở Thích ứng (Cittakammaññatā – Flexibility) và tâm sở Hữu năng hay tâm Diệu xảo (Cittapaguṇata – competence).  (Trích sách Hạnh phúc, mộng và thật – Kinh Tam di đề bình giải – pháp thoại năm1994 Làng Mai)

*Sư ông Làng Mai thêm vào trong danh sách này một số tâm sở thiện và bất thiện như sau:

Các tâm sở thiện (10):  Vô úy (Abhayam – No fear); Vô ưu (Aśokam – absence of anxiety); Kiên (Sthira – Stability/solidity); Từ (Maitrī – loving kindness); Bi (Karuṇā – compassion); Hỷ (muditā – joy); Khiêm (Apanita-māna – Humility); Lạc (Sukha – happiness); Thanh lương (Nirjvara – feverlesness); Tự tại (Vaśin –  sovereignty)

Các tâm sở bất thiện (3): Sợ hãi (Bhaya – fear); Lo lắng, hồi hộp (Soka – anxiety); Tuyệt vọng (Visada – despair)