Giảng kinh

(Phiên tả Pháp thoại ngày 21 tháng 12 năm 1997 tại xóm Thượng, Làng Mai, Pháp)

Quy nguyện có nghĩa là quy y và phát nguyện. Quy tức là quay về nương tựa để có sự an ổn, để có hướng trở về. Nguyện tức là phát ra tâm nguyện để có thêm nguồn năng lượng nơi thân và nơi tâm mà đi tới. Vì vậy trong khi tụng bài Quy nguyện, chúng ta phải đạt được hai mục tiêu đó: thấy mình đang trở về, mình có an ổn và bắt đầu có năng lượng để đi tới. 

Trầm hương xông ngát điện

Sen nở Bụt hiện thân

Pháp giới thành thanh tịnh 

Chúng sinh lắng nghiệp trần.

Đây là khung cảnh mà trong đó ta nuôi dưỡng ta bằng hai nguồn năng lượng: năng lượng quy và năng lượng nguyện. Khung cảnh này là do vị hương đăng tạo ra. Vị hương đăng là người chăm sóc chánh điện: đốt trầm, đốt đèn, lau chùi tượng Bụt. Những động tác đó, những công đức đó giúp ta quán tưởng. Quán tưởng, trước hết phải hình dung ra khung cảnh. Bốn câu này là để hình dung ra khung cảnh. Quán tưởng, tiếng Anh có thể dịch là visualization (觀想), ta phải thấy cho được, thấy bằng hình ảnh chứ không phải thấy bằng ý niệm trừu tượng. Chúng ta biết rằng bản chất của thi ca phải là hình ảnh và phải có nhạc tính. Nếu anh làm thơ mà anh chỉ dùng những danh từ trừu tượng thì thơ của anh không phải là thơ. Thơ được làm bằng hình ảnh. Ví dụ thầy nói: “Chiều nay tôi buồn”; thì trong lúc làm thơ anh phải nói “Chiều nay mây giăng trong hồn tôi”,  “mây giăng trong hồn tôi” là hình ảnh. “Tôi buồn” là một cái gì đó rất trừu tượng. Ở đây cũng vậy, “quán tưởng” là phải sử dụng hình ảnh. Khi chắp tay tụng bốn câu này, người thực tập phải dựng lên được khung cảnh mà trong đó, phải nuôi dưỡng được thân và tâm của mình. Trầm hương xông ngát điện. Trầm và hương đã được đốt lên và không khí trở nên  thơm ngát, xứng đáng cho một vị Bồ tát, một vị toàn giác xuất hiện. Trầm hương xông ngát điện. Sen nở Bụt hiện thân. Trong nghi thức cũ có câu Hoa khai kiến Phật, ngộ vô sanh, tức là khi hoa nở thì ta thấy Phật. Đây là giáo lý Tịnh độ. Hoa ở đây là hoa sen. Hoa sen nở thì mình thấy Bụt. Cố nhiên trên bàn thờ có khi có hoa sen, nhưng có khi không có hoa sen, mà khi không có hoa sen thì ta cũng không ngại gì vì ta đang dùng hoa sen của sự quán tưởng. Không những Bụt hiện khi hoa sen nở mà Người còn hiện ra bất cứ khi nào có hoa nở, dù đó là hoa thược dược, hoa hướng dương hay một bông hoa tím bên vệ đường mà ta đi ngang qua. Vì vậy Bụt có rất nhiều cơ hội để nở, để biểu hiện, chỉ có ta không có con mắt để nhận diện Bụt mà thôi. Thật ra Bụt có thể xuất hiện bất cứ lúc nào. Một cây hoa dại nhỏ xíu bám vào một chút đất ở trên bức tường rêu đang nở hoa, đó cũng là cơ hội cho Bụt hiện thân. Chỉ tại ta u mê, ta kẹt vào những lo lắng, phiền giận nên không thấy thôi, hễ hoa khai thì thế nào Bụt cũng hiện thân, nhất là khi đóa hoa đó là trái tim của mình. Trái tim ta là một bông hoa. Trái tim ta có thể nở bất cứ giờ phút nào. Sen nở Bụt hiện thân, đây là một hình ảnh thi ca rất tuyệt diệu. Ngay trong giờ phút ta chắp tay lại quán tưởng là Bụt đã có mặt. Bụt có mặt vì chánh niệm của ta có mặt. Bấy giờ ta không còn than phiền rằng ta sinh ra quá trễ, 2.600 năm sau khi Bụt nhập diệt. Ta không than phiền vì ta biết rất rõ nếu ta muốn, ta có mặt thì Bụt cũng có mặt ngay giây phút đó.

Trầm hương xông ngát điện

Sen nở Bụt hiện thân

Pháp giới thành thanh tịnh

Chúng sinh lắng nghiệp trần.

Tự nhiên thế giới của khổ đau biến mất và pháp giới thanh tịnh hiện tiền. Thế giới của khổ đau biến mất vì Bụt đã hiện, mà Bụt đã hiện thì pháp giới hiện. Chúng ta có sự phân biệt giữa hai danh từ Lokadhātu và Dharmadhātu. Loka là thế gian. Dhātu là giới, là cõi, là thế giới. Thế giới là một cõi, trong đó có đau khổ, có sự xáo trộn, chia cắt. Thế giới là một cõi mà người này không phải người kia; cái này nằm ngoài cái kia; sư anh không phải là sư em; sư em không phải là sư anh; cha không phải là con, con không phải là cha; người không phải là cây cỏ, cây cỏ không phải là người. Lokadhātu là thế giới của sự ngăn cách, của sự phân biệt, kỳ thị. Từ đó có sự giận hờn, có sự chia rẽ và có những đau thương. 

Trong khi đó, Pháp giới là Dharmadhātu, là một thế giới trong đó có sự hiện diện của Bụt. Trong đó, sư anh cũng là sư em, cha cũng là con, và người cũng là cây cỏ. Người ta thấy được người trong cây cỏ, cây cỏ trong người. Người ta thấy cha ở trong con, con ở trong cha. Người ta thấy sư anh ở trong sư em, sư em ở trong sư anh. Vì có ánh sáng của Bụt nên người ta mới thấy được như vậy. Vì thấy được như vậy cho nên ở đó không có sự chia rẽ, không có những hàng rào kẽm gai, không có sự rách nát, rướm máu của sự chia cách, mà chỉ có hạnh phúc. Trong khi chúng ta chắp tay để quán tưởng thấy trầm hương xông ngát điện, thấy hoa nở Bụt hiện thân thì thế giới biến thành pháp giới, cõi Ta bà trở thành cõi Tịnh độ. Pháp giới thành thanh tịnh là như vậy. Chúng sinh lắng nghiệp trần là như vậy. Tất cả các loài chúng sinh cảm nhận những khổ đau, hệ lụy được lắng xuống, và cảm thấy có sự an lành trong tâm. Trong số những chúng sinh đó có chúng ta. 

Nghiệp trần, là dịch chữ “trần nghiệp”. Chữ trần  ở đây chỉ có nghĩa là bụi bặm.. Trần là trần thế, là thế tục, là cuộc đời, of the world,  worldly. Trần thế tức là cõi bụi, với tất cả những đau thương, hệ lụy của nó. Cõi đời có những đau thương và hệ lụy như vậy nên ta cũng gọi là cõi bụi. Bụi thường có màu đỏ, gọi là bụi đỏ, là hồng trần. Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi. Ta tu là đi theo cái tốt đẹp, giải thoát, thanh thoát, an lạc của người tu. Tại sao ta còn chen vào chốn bụi hồng làm gì nữa. Sự đời đã tắt lửa lòng, còn chen vào chốn bụi hồng làm chi là hai câu thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Lửa lòng tức là lửa dục, lửa tham, lửa sân, lửa si. Tắt cái đó đi là có sự thanh lương mát mẻ. Có sự thanh lương mát mẻ là hạnh phúc rồi, tại sao lại chen vào chốn bụi hồng làm gì nữa? Bài sám Quy mạng có cụm từ trần nghiệp bất xâm, nghĩa là nghiệp trần không làm tổn hại đến thân tâm của mình. Nghiệp trần là nghiệp thế gian, nghiệp đời. Chúng sinh lắng nghiệp trần là những quả báo khổ đau, những hành động đưa tới quả báo khổ đau còn vương vấn trong tâm mình, bây giờ chúng bắt đầu lắng xuống và ta bắt đầu thấy nhẹ trong lòng. Do đó, trong khi tụng bốn câu này, ta phải thực tập quán tưởng để cho khung cảnh đó được thể hiện. Bốn câu nhưng nhiều lắm. Nếu ta tụng như một con vẹt thì uổng quá. 

Đệ tử tâm thành 

Hướng về Tam bảo

Bụt là thầy chỉ đạo

Bậc tỉnh thức vẹn toàn.

Đây là sự thực tập quán tưởng về Bụt, gọi là Phật tưởng, Buddhānusmṛti. Quán tưởng về Bụt là một phép thiền. Trong khi tụng kinh, chúng ta đang thực tập thiền. Có người tụng kinh như một con vẹt thì không phải là đang thực tập thiền. Nếu tụng kinh mà ta quán chiếu thì tụng kinh cũng là thực tập thiền. Chúng ta phải thấy Đệ tử tâm thành hướng về Tam bảo. Tâm thành, chữ thành ở đây trước hết là hoàn toàn có mặt. Nếu không có mặt thật sự thì đó là sự giả dối. Nếu ta đang chắp tay về phương diện thân, mà tâm ta nghĩ tới chuyện ngày mai, ngày mốt hay ngày hôm qua thì ta giả dối rồi phải không? Ta đâu có thành. Vì vậy cho nên thành ở đây trước hết là hoàn toàn có mặt, tức là có niệm và có định. Nhiều khi mình không thành mà mình tưởng là mình thành. Mình tưởng không giả dối nhưng thiệt là có giả dối bên trong. “Tôi nói thiệt mà, tôi rất là thành kính. Tôi rất là thành tâm”, nhưng chưa chắc đã thành. Thành hay không là do năng lượng của niệm có mặt hay không. Nếu có niệm thì thế nào cũng có định. Đệ tử tâm thành nghĩa là đệ tử có mặt hoàn toàn, thân và tâm nhất như. Đệ tử không suy nghĩ chuyện khác, không giận sư anh, không buồn sư chị, không lo chuyện ngày mai, không tiếc chuyện ngày hôm qua, đó mới gọi là tâm thành, one pointed mind, tâm nhất điểm. Tam bảo tức là triratna. Tri là ba, ratna là viên ngọc. Hướng về Tam bảo mà có chất liệu thành tâm, gọi là tâm nhất điểm, đây mới là hướng thượng. 

Bụt là thầy chỉ đạo. Bụt trước hết là một bậc thầy, điều này rất quan trọng. Bụt không phải là một vị thần linh. Bụt không phải là thượng đế. (Buddha is not a god, Buddha is a human being.) Bụt cũng là một con người như chúng ta, nhưng vì trong con người đó có chất liệu của trí, của bi, của hạnh, của nguyện, cho nên người đó xứng đáng làm thầy của chúng ta. Bởi vậy ta gọi Bụt là Thầy. Nếu chúng ta nghĩ rằng Bụt là một vị thần để ban phúc, để giáng họa thì chúng ta chưa thấy được bản chất của Bụt. Bụt là thầy chỉ đường cho mình để đừng sa vào hầm hố của lầm lỡ, của tội lỗi, của khổ đau. Thầy chỉ đạo gọi là đạo sư (導師). Chữ đạo có bộ thủ ở dưới, tức có cái tay, nghĩa là sự dẫn đường. Còn không có bộ thủ ở dưới thì chỉ có nghĩa là con đường thôi. Và khi nói đạo sư là nói về Bụt. 

Bụt là thầy chỉ đạo

Bậc tỉnh thức vẹn toàn. 

Tỉnh thức là bodhi, tiếng Anh là enlightenment. Vẹn toàn là complete Bậc tỉnh thức vẹn toàn: The completely enlightened one. Ở đây, chúng ta thấy rằng bản chất của bậc chỉ đạo là đại trí, là sự giác ngộ toàn vẹn. Đứng về hình tướng thì rất đẹp, đoan trang; đứng về nội dung thì đầy đủ trí và bi. 

Tướng tốt đoan trang

Trí và bi viên mãn.

Đoan tức là ngay thẳng, thẳng trong khi ngồi, thẳng trong khi đứng, thẳng trong khi nói năng, thẳng trong khi suy nghĩ. Ngược lại là nghiêng, nghiêng gọi là tà. Trang trong chữ trang nghiêm, nghĩa là đẹp đẽ. Đó là nói về tướng thân. Tướng thân thì đoan trang. Nói về tâm thì trí và bi viên mãn. Viên là tròn, mãn là đầy. Tròn và đầy. Vì vậy ta thường xưng tụng Bụt là đại viên mãn giác, bậc giác ngộ vĩ đại, tròn và đầy. Tròn và đầy cái gì? Tròn đầy trí và bi, understanding and love. Ta có bốn câu để đọc, và trong bốn câu đó chúng ta phải hình dung ra được Bụt với bản chất của Người. Bụt đây không phải làm bằng gỗ, và cũng không phải chỉ làm bằng da thịt. Bụt ở đây được làm bằng năng lượng giác ngộ. Năng lượng trí và năng lượng bi. Khi ta tiếp xúc với những năng lượng đó thì gọi là Phật tưởng.

Pháp là con đường sáng

Dẫn người thoát cõi mê 

Đưa con trở về 

Sống cuộc đời tỉnh thức.

Bây giờ chúng ta quán tưởng về Pháp, Dharmānusmṛti. Chúng ta tiếp xúc với Bụt rồi, bây giờ chúng ta tiếp xúc với Pháp. Pháp là con đường sáng, có thể đưa ta ra khỏi cõi mê. Mê tức là không có sự tỉnh thức. Vì vậy, con đường này là con đường của sự tỉnh thức. Con đường của sự tỉnh thức thế nào cũng đưa chúng ta ra khỏi thế giới của sự mê mờ. Mê mờ tức là không thấy được sự thật, vì mê mờ nên ta đã sống cuộc đời lãng quên. Con đường tỉnh thức có khả năng đưa ta trở về sống cuộc đời tỉnh thức. Cuộc đời tỉnh thức trước hết là cuộc đời chánh niệm. Ta ý thức được mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. Ta có mặt thực sự trong mỗi giây phút hằng ngày. Nhờ đó mà ta có thể tiếp xúc một cách sâu sắc với tất cả những gì xảy ra trong giây phút hằng ngày, đó gọi là cuộc đời tỉnh thức, mindful living. Có niệm thì cố nhiên có định, có tuệ. Niệm, định, tuệ làm ra chất liệu tỉnh thức. Cuộc sống chúng ta đang sống phải là cuộc sống tỉnh thức. Cuộc sống tỉnh thức đó không phải ngày mai mới có, nó phải có ngay từ hôm nay, trong giờ phút này. 

Tăng là đoàn thể đẹp 

Cùng đi trên đường vui.

Hình ảnh này rất đẹp. Hình ảnh này giúp chúng ta nhận diện được thế nào là chân tăng. Nếu một đoàn thể mà không đẹp, không vui, không có hạnh phúc thì không thể gọi là Tăng. Đây là một đoạn văn có thể gọi là hay nhất trong bài. Tăng là đoàn thể đẹp cùng đi trên đường vui. Cùng đi chứ không phải là đi riêng từng người. Nếu đi riêng từng người thì không gọi là Tăng được. Lời nguyện của ta là không làm một giọt nước nhỏ bé, mà là một dòng sông. Chỉ có một dòng sông mới có thể đi tới được biển cả. Tăng là một dòng sông. Ta phải đồng hóa với Tăng, phải làm một với Tăng, phải lấy Tăng làm thân của chúng ta, cho nên ta có Tăng thân. 

Xin nguyện làm dòng sông 

Không làm giọt nước nhỏ

Trên đường về đại dương

Vầng trăng khuya sáng tỏ.

Tăng là đoàn thể đẹp. Đoàn thể của Tăng là phải đẹp. Cái đẹp của đoàn thể này được làm bằng chất liệu của giới luật, của uy nghi, của sự hòa hợp. Nhìn vào giới luật, uy nghi và sự hòa hợp đó, người ta đột nhiên phát khởi tín tâm. Hễ nơi nào có giới luật, có uy nghi, có sự hòa hợp, harmony, thì nơi đó có hạnh phúc, có sự đẹp đẽ. Vì vậy chúng ta gọi Tăng là đoàn thể đẹp, cùng đi trên đường vui, the joyful path. Vừa rồi phái đoàn qua Mỹ đúng vào mùa thu, có lá vàng, lá đỏ rất đẹp. Chúng ta có cơ hội đến gần ngắm những cành phong. Chúng ta thấy những cành phong rất đẹp. Khi quan sát các lá phong trên cành, mỗi lá đứng ở vị trí của nó, và tạo ra sự hòa điệu tuyệt mỹ. Khi mùa thu đến, những ngọn lá bắt đầu chín, có những con sâu tới ăn thủng lốm đốm, ta thấy không có chiếc lá nào có được sự toàn hảo. Thế nhưng nhìn tổng quát thì thấy những cành lá trông rất đẹp vì lá nào cũng đứng vững tại vị trí của nó. Cái đẹp của một cành cây là do sự hòa điệu của những chiếc lá. Tăng cũng vậy, nhìn vào Tăng thân ta thấy rất đẹp. Cái đẹp đó được làm bằng chất liệu của sự hòa điệu, của Lục hòa. 

Tăng là đoàn thể đẹp 

Cùng đi trên đường vui

Tu tập giải thoát 

Làm an lạc cuộc đời. 

Phận sự của Tăng, cái business của Tăng là tu tập giải thoát. Cái business của Tăng không phải để xây chùa, làm công việc xã hội mà là để tu (practice), để tập (training) cái gọi là giải thoát. Tu tập chỉ nhắm về một hướng, là cởi sợi dây trói buộc ra khỏi thân tâm mình. Sợi dây đó là khát ái, là giận hờn, là si mê, là ganh tị,… Đó là chủ đích của sự tu tập giải thoát. Và sự tu tập này đem đến tự do, thảnh thơi, làm an lạc cuộc đời. Tu tập giải thoát cho ai? Tu tập giải thoát cho mình và cũng giúp giải thoát những người khác, do đó sự tu tập có thể đem lại an và lạc cho cuộc đời. An là peace, lạc là happiness. Nếu không có an thì không có lạc. Nếu không có peace thì không có happiness.

Sau khi niệm Bụt, có một tiếng chuông thỉnh lên và chúng ta đi sang niệm Pháp. Cuối cùng chúng ta niệm Tăng. Mỗi niệm như vậy có bốn câu. Chúng ta có cơ hội thực tập thiền quán về Bụt, về Pháp, về Tăng trong một, hai phút. Ở công phu chiều Chủ nhật, chúng ta sẽ có bài thực tập niệm Bụt, Pháp và Tăng đầy đủ hơn. 

Đệ tử nương nhờ Tam bảo 

Trên con đường học đạo

Biết Tam bảo của tự tâm

Nguyện xin chuyên cần

Làm sáng lòng ba viên ngọc quý.

Trên con đường học đạo chúng ta phải biết nương tựa, tức là quy y vào Tam bảo, the Three Jewels. Nếu chúng ta lìa một trong ba ngôi báu thì chúng ta đánh mất sự nghiệp tu hành của mình. Chúng ta biết rằng Tam bảo bao quanh ta, che chở ta, nhưng Tam bảo cũng ở trong tự tâm ta. Đây là giáo lý Tự quy y Phật, tự quy y Pháp, tự quy y Tăng. Trong ta cũng có chất liệu của Tam bảo. Chính chất liệu của Tam bảo trong tự tâm tạo ra chất liệu của Tam bảo trong hoàn cảnh để bao bọc ta. Nguyện xin chuyên cần làm sáng lòng ba viên ngọc quý. Ba viên ngọc quý, đó là Tam bảo, là Bụt, Pháp, Tăng. Càng tu tập bao nhiêu thì Tam bảo trong ta càng sáng lên bấy nhiêu. 

Nguyện theo hơi thở 

Nở nụ cười tươi.

Hơi thở ở đây tức là hơi thở chánh niệm. Theo hơi thở, là tùy tức. Trong đời sống hằng ngày chúng ta phải theo dõi hơi thở. Dù ta đang nấu cơm hay giặt áo, làm vườn thì cũng phải theo dõi hơi thở. Nếu không theo dõi hơi thở thì ta sẽ đánh mất giây phút hiện tại. Nụ cười tươi chứng tỏ rằng ta đang có chánh niệm. Nụ cười này là nụ cười chánh niệm, không phải nụ cười xã giao. Trong khi ta cười, ta phải biết rằng nụ cười này không phải là nụ cười thế gian. Nụ cười này nở ra từ bản chất của chánh niệm. Nụ cười nở ra từ sự tỉnh thức rằng ta đang được đi trên con đường chánh pháp. Ta có rất nhiều may mắn, ta có rất nhiều hạnh phúc. Ta rất hân hoan được đi trên con đường này. Nụ cười được nở ra trên căn bản của ý thức sáng tỏ là nụ cười có thể làm tươi mát cả thân tâm và tươi mát hoàn cảnh của chúng ta. Là một hành giả, ta phải biết thực tập cười. 

Thế nhưng không phải bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể cười được. Có những nụ cười chúng ta không nên cười, không nên tham dự. Đó là nụ cười đầy chất vô minh, đầy chất kỳ thị, đầy chất chế giễu. Chúng ta nhất định không tham dự vào những cái cười đó. Nụ cười chúng ta đang thực tập ở đây là nụ cười chánh niệm, nụ cười giác ngộ, từ bi. Khi chúng ta cười được như vậy rồi thì người ta thấy rất rõ Tăng là đoàn thể đẹp, cùng đi trên đường vui.

Nguyện học nhìn cuộc đời 

Bằng con mắt quán chiếu. 

Chúng ta có hai mắt, chúng ta nhìn cuộc đời như những người khác trên thế gian. Nhưng  người khác nhìn cuộc đời, họ nhìn hời hợt và họ bị cuộc đời cuốn đi. Còn người tu hành phải nhìn một cách sâu sắc. Cái nhìn đó là nhìn bằng con mắt quán chiếu. Càng nhìn càng hiểu, càng nhìn càng thương, nên mới gọi là Mắt thương nhìn cuộc đời. Từ nhãn thị chúng sinh là câu kinh bất hủ trong kinh Pháp hoa. Thị là nhìn. Mắt thương nhìn chúng sinh. Sở dĩ chúng ta nhìn được bằng mắt thương là vì chúng ta biết nhìn bằng con mắt quán chiếu. 

Nguyện xin tìm hiểu 

Nỗi khổ của mọi loài. 

Bài thuyết pháp đầu tiên của đức Thế Tôn là bài thuyết pháp về Tứ diệu đế, bốn sự thật. Sự thật đầu tiên mà Bụt đưa ra là sự thật về sự có mặt những khổ đau trong cuộc đời. Trong giới thứ Tư của Mười bốn giới Tiếp hiện, Ý thức về khổ đau nhắc nhở chúng ta không được trốn tránh thực tại khổ đau, nhắm mắt trước khổ đau và đánh mất ý thức về khổ đau của cuộc sống.

Chúng ta phải tìm tới với khổ đau, phải công nhận sự có mặt của khổ đau, để chúng ta có cơ hội nhìn sâu vào bản chất của những khổ đau đó. Nhìn sâu vào bản chất khổ đau là phương thức duy nhất để thấy được con đường ra khỏi khổ đau. Nguyện xin tìm hiểu nỗi khổ của mọi loài, trong đó có nỗi khổ của chính mình.

Tập từ bi 

Hành hỷ xả. 

Từ, bi, hỷ, xả là bốn tâm vô lượng. Từ, bi, hỷ, xả là bản chất đích thực của tình thương. Chúng ta sẽ có cơ hội học nhiều về bốn yếu tố của tình thương chân thật, từ, bi, hỷ, xả. Bốn yếu tố này càng thực tập thì càng mở rộng. Càng mở rộng thì hạnh phúc ta càng lớn, và hạnh phúc những người xung quanh ta cũng càng lớn. 

Sáng cho người thêm niềm vui 

Chiều giúp người bớt khổ.

Sáng cho người thêm niềm vui, có nghĩa là buổi sáng làm cho ít nhất một người có thêm niềm vui. Chiều giúp người bớt khổ, là buổi chiều giúp ít nhất cho một người bớt khổ. Đây là những câu kinh rất thực tế. Miệng ta nói rằng: “Con muốn buổi sáng hiến tặng cho một người niềm vui, và con muốn buổi chiều giúp cho một người bớt khổ”. Đó là một lời nguyện nằm trong tầm tay của chúng ta. Bằng một cái nhìn, bằng một câu nói, bằng sự săn sóc, ta có thể thực hiện được điều đó. Đây là sự thực tập của chúng ta. Chúng ta không nói suông, rằng tôi thực tập từ, tôi thực tập bi, tôi thực tập hỷ, tôi thực tập xả. Chúng ta thực sự thực tập với những người xung quanh vì xung quanh ta có những người chưa đủ hạnh phúc. Cho nên buổi sáng ta làm cho ít nhất một người được vui, buổi chiều làm cho ít nhất một người bớt khổ. Tăng thân cũng là môi trường để chúng ta thực tập. Bản dịch tiếng Anh,nói có vẻ thiết thực hơn: “I vow to make one person happy/ to offer joy to one person in the morning”. Nói chữ one tức là một người thôi, ít nhất ta phải hiến tặng được niềm vui cho một người chứ đừng nói suông.. Nếu ta làm được điều đó cho một người rồi, thì ta mới nói đến chuyện làm cho hai người, ba người. Nếu ta nói chúng sinh vô biên thề nguyện độ thì làm sao người khác tin được. Đúng là hơi khó để mọi người có thể tin. Chúng sinh một người mà còn độ không được, nói gì đến chúng sinh vô biên thề nguyện độ, đó chỉ là nói dóc mà thôi. 

Đệ tử nguyện sống cuộc đời thiểu dục.

Thiểu dục nghĩa là ít ham muốn. Đây là nguyên tắc chỉ đạo cho đời sống văn minh ngày nay. Trong xã hội tiêu thụ bây giờ, người ta cứ nghĩ hạnh phúc là mua sắm cho nhiều. Trong khi đó, hướng đi của chúng ta là càng sống đơn giản, càng ít ham muốn thì càng có hạnh phúc. Thiểu dục thường đi với tri túc. Thiểu dục tức là ít ham muốn. Tri túc là biết đủ. Nghĩ rằng chừng đó là đủ rồi, khỏi phải chạy đi mua thêm, đây là một nguyên tắc chỉ đạo cho những người sắp đi chợ để mua quà Noel năm nay. 

Nếp sống lành mạnh an hòa

Cho thân thể kiện khương.

Lành mạnh (healthy) có thể đi đôi với thiểu dục. Càng tiêu thụ nhiều thì có thể thân tâm càng bệ rạc nhiều. An là peaceful. Hòa là harmony. Làm thế nào để mỗi giây phút hằng ngày có an và có hòa, có sự bình an và hòa điệu trong tâm, có bình an giữa mình và người kia, có hòa điệu giữa mình và người kia, như vậy gọi là an hòa. Từ đó mới giúp cho thân thể được kiện khương. Tu không phải là tu tâm mà thôi, tu là phải tu thân nữa. Tu như thế nào để thân thể được kiện khương. Nếu ta có những khó khăn về đường ruột thì ta phải cẩn thận trong sự ăn uống. Ta phải biết nhịn đói, thanh lọc cơ thể, đó là sự thực tập của ta. Làm được theo hai câu này đều là nhờ vào sự thực tập chánh niệm.

Nguyện rũ bỏ âu lo

Học tha thứ bao dung

Cho tâm tư nhẹ nhõm. 

Có những âu lo trong lòng khiến ta nặng thêm mấy ký, vì vậy ta phải học cách buông bỏ những lo lắng, những ưu tư, những phiền muộn. Nếu buông bỏ chưa được thì phải cầu cứu đến thầy, cầu cứu đến sư anh, sư chị, sư em để họ giúp ta bỏ những hành lý không cần thiết đó xuống. Có vậy, cuộc đời ta mới nhẹ nhàng. Nếu cứ mang những phiền muộn đó ngày này sang ngày khác, mang nó đi ngủ, mang nó đi vào thiền đường,… thì tội nghiệp cho chúng ta. Như vậy chúng ta không hưởng được pháp lạc của sự thực tập hằng ngày. Nguyện rũ bỏ âu lo, cho tâm tư nhẹ nhõm. Tâm tư nhẹ nhõm, tức là có giải thoát, có thảnh thơi, you feel light within yourself. Khi ta nhẹ nhàng, thảnh thơi thì sư anh, sư chị, sư em của ta rất được nhờ từ ta. 

Đệ tử xin nguyện ơn sâu đền báo. 

Tức là ta phải làm gì đó, để giúp cha mẹ ta. Cha mẹ ta còn sống hay đã qua đời thì ta phải tu tập như thế nào để cha mẹ ta được nhẹ nhàng, thong dong, giải thoát. Cha mẹ ta vừa có trong ta, vừa có ngoài ta, sự tu tập hằng ngày của ta giúp ta được nhẹ nhàng, thảnh thơi, giải thoát. Điều đó cũng giúp cho cha mẹ trong ta và ngoài ta được nhẹ nhàng, thảnh thơi, giải thoát. Người nào tu học tinh tiến, thảnh thơi thì người đó luôn luôn giúp được gia đình của mình. 

Ơn cha mẹ, ơn thầy 

Ơn bè bạn, chúng sinh. 

Ơn cha mẹ, thầy tổ, bè bạn và chúng sinh, đó là bốn ơn. 

Nguyện tu học tinh chuyên 

Cho cây bi, trí nở hoa.

Tinh chuyên nghĩa là ngày nào cũng siêng năng, đem hết tâm ý dồn vào chuyện tu tập giải thoát, không để tâm ý lo lắng về những việc khác, những việc không quan trọng. Quan trọng nhất là tu tập giải thoát. Tinh chuyên nghĩa là dồn hết năng lượng vào việc tháo gỡ những khổ đau, những ràng buộc của tâm ý. Cho cây bi, trí nở hoa. Trong ta có một cây hoa và cây hoa đó là sự tu tập của ta. Nếu chúng ta biết chăm sóc và vun bón thì cây hoa đó sẽ nở ra hoa tình thương (hoa bi) và hoa hiểu biết (hoa trí). 

Mong một ngày kia 

Có khả năng cứu độ mọi loài 

Vượt ra ngoài cõi khổ. 

Mong một ngày kia ta cũng làm được như Bụt. Nhưng trong khi chờ đợi, ta cũng có thể giúp được ít nhiều. Ta giúp được sư anh, sư chị, sư em. Ta giúp được các thiền sinh tới với ta. Do đó, ta biết ngày mai ta cũng có thể làm được như Bụt. Bởi vì ngày hôm nay ta cũng bắt đầu làm được những việc Bụt đang làm. 

Xin nguyện Bụt, Pháp, Tăng chứng minh

Gia hộ cho đệ tử chúng con 

Viên thành đại nguyện. 

Gia hộ có nghĩa là che chở, yểm trợ thêm năng lượng. Viên thành tức là thành đạt một cách viên mãn. Đại nguyện ở đây là hạnh nguyện của đức Phổ Hiền và đức Địa Tạng.