Giảng kinh
(Phiên tả Pháp thoại ngày 05 tháng 02 năm 1998, tại xóm Mới, Làng Mai, Pháp)
Kinh Tám điều giác ngộ của các bậc đại nhân, nguyên văn chữ Hán là Bát đại nhân giác kinh (八大人覺經). Đây là kinh thứ hai thầy được học với tư cách một sư chú, kinh thứ nhất là kinh Vô thường. Hồi đó thầy học thuộc lòng bằng chữ Hán chứ không có chữ Việt.
Kinh Bát đại nhân giác được thầy An Thế Cao dịch vào đầu thế kỷ thứ III tại Lạc Dương. Bản kinh được Đại thừa hóa từ kinh Bát niệm (Tám điều tâm niệm hay là Tám điều quán niệm). Trong văn học Pāḷi và văn học A hàm của Bắc tông cũng có kinh này. Vì vậy, trước khi học kinh Tám điều giác ngộ của các bậc đại nhân ta nên tìm hiểu nguồn gốc của kinh này trong tạng A hàm và Pāḷi.
Kinh A Na Luật bát niệm thuộc Tăng nhất A hàm, quyển thứ 37, kinh số 6. Chúng ta đọc thấy trong kinh hình ảnh thầy A Na Luật (tức là thầy Anuruddhā) thực tập thiền định ở chỗ vắng và nhận ra sự học hỏi của mình tuy là quan trọng nhưng không quan trọng bằng sự thực tập giới và uy nghi. Thầy A Na Luật nghĩ rằng giới và uy nghi tức là chánh niệm. Chánh niệm chế tác ra định và định chế tác ra tuệ, cho nên giới và uy nghi quan trọng hơn cái học trí thức. Thầy A Na Luật muốn đến gặp đức Thế Tôn để hỏi xem nhận thức của thầy có đúng hay không.
Trước khi đi, thầy ngồi yên để quán chiếu và tìm ra bảy điều có liên hệ đến đời sống của một người xuất gia. Thầy thấy rằng trong giáo pháp của đức Thế Tôn có một số nguyên tắc mà mình phải theo, phải tâm niệm, nếu không thì mình không phải là một người xuất gia đích thực.
Trước tiên, thầy nêu ra nguyên tắc thiểu dục (vô dục). Trong pháp và luật của đức Thế Tôn, nếu người nào không thực tập thiểu dục thì người đó không thành công được. Thiểu dục hay vô dục có nghĩa là không ham muốn. Nếu ta có những ham muốn: ham danh, ham lợi, ham tài, ham sắc, ham cái gì đó thì ta không thể thành công trong giáo pháp này.
Thứ hai là tri túc. Tri túc dịch là biết đủ, là bằng lòng với những điều kiện vật chất hay điều kiện sinh sống đang có và không có nhu cầu đòi hỏi gì thêm.
Thứ ba là nhàn cư, nghĩa là sống một cách thư thả, thanh thản, ung dung, không bận rộn và không đua đòi theo đám đông, không bị đám đông kéo đi, không bị ai thúc đẩy. Ta sống chánh niệm một mình và trong khi sống một mình, ta không cảm thấy trống vắng, đó là nhàn cư. Nếu sống một mình mà biết thực tập hơi thở, thiền hành, quán chiếu, an trú trong giây phút hiện tại thì ta không cảm thấy trống rỗng trong lòng để phải chạy đi tìm một người khác mà tâm sự hay cố gắng hòa mình vào đám đông. Chúng ta đã học điều này trong kinh Người biết sống một mình. Khi ta sống với một ý tưởng, một nỗi buồn, một sự lo lắng hay mong cầu thì đó không phải là sống một mình mà là “sống hai mình”. Ở giữa đám đông và tự đánh mất mình, điều đó trái với giáo pháp này, không phải là sống một mình, không phải là nhàn cư.
Thứ tư là trì giới. Người không trì giới thì không thành công được trong nếp sống của giáo pháp.
Thứ năm là tam muội, tức là sống chú tâm tới những gì đang xảy ra. Tam muội nghĩa là định, là tâm ta không vẩn vơ từ tư tưởng này sang tư tưởng khác, từ quá khứ sang tương lai như một con vượn hoặc con khỉ luôn chuyền từ cành này sang cành khác. Tâm của ta an trú vào định tĩnh và sống sâu sắc trong mỗi giây phút hiện tại.
Thứ sáu là trí tuệ. Tuệ tức là khả năng nhìn sâu và có thể thấy được bản chất của thực tại (thực tại tự thân và thực tại cuộc đời).
Thứ bảy là đa văn, tức là siêng năng học hỏi. Chúng ta có thể phân biệt sự khác nhau giữa tuệ và đa văn. Tuệ là cái thấy sâu sắc về thực tại. Đa văn là sự chuyên cần học hỏi và nghe pháp. Tuệ là thấy được đạo. Đa văn có thể giúp cho tuệ nhưng đa văn không phải là tuệ. Learning không phải là insight, nhưng learning cũng rất cần. Chúng ta nhớ đừng nên nhầm lẫn hai cái.
Trường Đại học Vạn Hạnh ở Việt Nam thường dùng câu Duy tuệ thị nghiệp (唯慧是業) lấy từ kinh Bát đại nhân giác. Duy tuệ thị nghiệp nghĩa là chỉ có trí tuệ mới làm nên sự nghiệp của đời mình. Duy là chỉ có, tuệ là tuệ giác, thị là là, nghiệp là sự nghiệp. Sự nghiệp duy nhất của đời mình là trí tuệ. Khi sử dụng bốn chữ đó cho một Học viện Phật giáo, chúng ta phải rất thận trọng. Chúng ta có thể hiểu lầm rằng sự nghiệp của ta là phải học thật nhiều. Kỳ thực, sự nghiệp của ta không phải là học cho nhiều. Sự nghiệp của ta là đạt tới tuệ giác, bởi vì giúp ta thoát khỏi khổ đau là từ tuệ giác, chứ không phải là từ sự học hỏi nhiều. Nhiều vị, cả giáo sư và sinh viên trong viện đều hiểu lầm rằng tuệ đây tức là sự học hỏi. Học hỏi thuộc về phương diện hiểu biết (intellect – tri thức) không phải là tuệ giác. Tuệ giác (insight) không phải là sự học hỏi (learn). Tuệ giác là hoa trái của niệm, giới và định. Chúng ta đừng hiểu lầm bốn chữ Duy tuệ thị nghiệp là sự nghiệp học hỏi. Sự nghiệp của chúng ta là sự nghiệp tuệ giác.
Sau khi đã tìm ra bảy điều (thiểu dục, tri túc, nhàn cư, trì giới, tam muội, trí tuệ và đa văn), thầy A Na Luật (Anuruddhā) đứng dậy, đi về nơi cư trú của đức Thế Tôn. Khi gặp được đức Thế Tôn, thầy trình bày cái thấy của mình cho đức Thế Tôn nghe. Đức Thế Tôn khen ngợi: “A Na Luật, thầy nói đúng lắm. So sánh giới luật với đa văn thì giới luật quan trọng hơn. Bởi vì giới luật sinh định và tuệ, còn đa văn chưa chắc sinh định và tuệ”. Bụt nói rằng, nếu thực tập theo bảy điều thầy A Na Luật mới nêu ra thì hành giả có thể thành công được trong cuộc sống của một người xuất gia. Khen ngợi học trò của mình xong, Bụt đề nghị thêm điều thứ tám. Đó là không hý luận, tức là không tự đánh mất mình trong những suy luận và đàm thuyết về siêu hình (no metaphysical speculation). Hý là chơi; như hý kịch. Hý luận là nói lý hay lý luận mà chơi với nhau, nói huyên thuyên, đàm thuyết suông, không đi vào thực chất của sự tu học. Các thầy, các sư cô và cả cư sĩ đều mắc phải bệnh này rất nhiều. Rất nhiều người trong chúng ta học để hý luận và đàm thuyết suông với nhau. Hý luận không đưa tới một kết quả nào đáng kể, đứng về phương diện tu học và giải thoát.
Bài kinh chúng ta vừa đọc có thể gần nhất với nguyên bản, thuộc Tăng nhất A hàm. Chúng ta sẽ thấy kinh này ở những bộ kinh khác nữa, thứ nhất là Trung A hàm. Trung A hàm có Bát niệm kinh (Tám điều tâm niệm hoặc Tám điều quán niệm). Kinh này đã được phát triển và có những yếu tố mới không còn nguyên chất như trong Tăng nhất A hàm. Trong kinh Bát niệm, ta thấy hình ảnh đức Thế Tôn thiền tọa tại nơi cư trú của mình. Từ nơi ở của đức Thế Tôn tới chỗ của thầy A Na Luật rất xa, nhưng đức Thế Tôn thấy được những suy nghĩ của thầy A Na Luật nên Ngài dùng thần thông biến mất và trong giây lát xuất hiện trước mặt thầy A Na Luật. Đức Thế Tôn mở lời khen ngợi thầy A Na Luật: “Thầy nghĩ rất đúng”. Trong kinh này ta thấy có yếu tố thần thông: “Như một lực sĩ co cánh tay lại và duỗi ra, trong thời gian đó thì đức Thế Tôn biến mất tại chỗ Ngài đang cư trú, xuất hiện trước mặt A Na Luật, và mở lời: “Lành thay, lành thay, A Na Luật, những điều ngươi suy tư và chứng nhận đó rất đúng với sự thật.” Người ta đã thêm vào chuyện thần thông này. Trong nguyên bản của Tăng nhất A hàm ghi lại rằng sau khi thầy A Na Luật quán chiếu và thấy được bảy điều có liên hệ đến đời sống của một người xuất gia thì thầy đi tới gặp đức Thế Tôn để trình bày rõ ràng, không cần đức Thế Tôn dùng phép thần thông để đến với thầy. Vì thế, những chi tiết thêm thắt đó không quan trọng. Người ta điểm tô cho đức Thế Tôn những phép thần thông, điều đó chưa chắc đã có lợi cho Ngài.
Có một bản khác trong tạng Pāḷi, đó là kinh Tăng chi bộ (Aṅguttara Nikāya), 830. Tăng chi bộ được sắp đặt theo pháp số, những giáo pháp nào có số tám đều nằm trong chương Tám pháp. Ví dụ: Bát chánh đạo, Bát đại nhân giác. Trong kinh này, cũng giống như trong kinh Trung A hàm, đức Thế Tôn cũng hóa phép thần thông: “Rồi Thế Tôn với tâm của mình biết rõ tâm tư của tôn giả Anuruddhā, ví như người lực sĩ duỗi bàn tay đang co lại hay co lại bàn tay đang duỗi ra, cũng vậy đức Thế Tôn biến mất giữa dân chúng Bhagga tại núi Sumsumara, vườn Lộc Uyển và hiện ra giữa dân chúng Sêti trước mặt tôn giả Anuruddhā. Thế Tôn ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn rồi Thế Tôn nói với tôn giả Anuruddhā đang ngồi một bên: “Lành thay, lành thay, này Anuruddhā, thầy đã suy nghĩ đến bảy niệm của bậc đại nhân.” Trong kinh này có một chi tiết làm chúng ta hơi buồn cười là đức Thế Tôn tới không báo trước nhưng khi đức Thế Tôn hiện ra tại đó thì ngồi vào chỗ đã soạn sẵn cho Ngài. Những chi tiết này cho chúng ta biết rằng người đời sau thêm vào một cách vụng về.
Sự khác nhau giữa kinh Pāḷi (Tăng chi bộ, Aṅguttara Nikāya) và kinh Hán tạng (Trung A hàm, Madhyama Āgama) đó là trong kinh Anuruddhā của Pāḷi đề cập tới tứ thiền, còn trong kinh Bát niệm của chữ Hán thì không nói đến tứ thiền. Như vậy, chúng ta biết rằng tứ thiền đã được thêm vào trong kinh Pāḷi. Trong khi đó, cả hai kinh đều nói tới hiện pháp lạc trú, nhưng bản chữ Hán không nói là hiện pháp lạc trú (dṛṣṭa dharma sukha vihāra) mà nói là hiện pháp lạc cư. Cư là ở, giống như trú. Và cụm từ hiện pháp lạc cư được lặp lại gần mười lần trong bản chữ Hán cũng như Pāḷi. Điều này cho chúng ta biết rằng giáo pháp hiện pháp lạc trú là một giáo pháp quan trọng trong đạo Bụt: sống an lạc và hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại.
Tám điều giác ngộ của các bậc đại nhân đã được các kinh này truyền đạt lại gần giống nhau. Trong kinh A hàm, tám điều giác ngộ là vô dục, tri túc, viễn ly, tinh cần, niệm, định, tuệ và không hý luận (đức Thế Tôn thêm vào). Điều mà chúng ta gọi là nhàn xứ, tức là sống một mình thảnh thơi, thì kinh này gọi là viễn ly, tức là đừng hòa mình vào đám đông và đừng để bị kéo đi bởi tình cảm, sở thích, sự vui nhộn của đám đông. Trong kinh Tăng chi bộ (Aṅguttara Nikāya), tám điều giác ngộ lại là ít dục, biết đủ, sống thanh vắng, tinh tấn, chánh niệm, thiền định, trí tuệ và Bụt cũng thêm vào không ưa hý luận.
Bây giờ, chúng ta học kinh Tám điều giác ngộ của các bậc đại nhân. Tinh túy của tám điều kia được trình bày rất mới mẻ và văn chương ở đây rất điêu luyện. Ngôn ngữ của kinh đã được trình bày theo hình thức một kinh Đại thừa. Trong kinh này có những danh từ như Bồ tát, Đại thừa.
Thầy đã dịch và chú giải bản kinh này từ tiếng Hán sang tiếng Việt trong thời gian thầy đang tổ chức cứu trợ thuyền nhân tại vịnh Thái Lan. Vừa làm công việc cứu trợ thuyền nhân vừa dịch kinh để tâm mình được vững chãi và để cầu nguyện cho thuyền nhân có nhiều may mắn.
Đại nhân là những người có tâm hồn lớn, có người dịch là superman. Bát đại nhân giác, tức là tám điều giác ngộ của những con người lớn, những người vĩ đại. Người có tâm hồn lớn ở đây chính là các vị Bồ tát, các vị Tổ sư.
Là đệ tử Bụt thì nên hết lòng, ngày cũng như đêm, đọc tụng và quán niệm về tám điều mà các bậc đại nhân đã giác ngộ.
Vi Phật đệ tử, thường ư trú dạ, chí tâm tụng niệm, Bát đại nhân giác.
為佛弟子。常於晝夜。至心誦念。八大人覺。
Vi Phật đệ tử, tức là là đệ tử của Bụt.
Thường ư trú dạ, tức là thường ở ngày và đêm.
Chí tâm tụng niệm, tức là hết lòng tụng và niệm.
Bát đại nhân giác, tức là tám điều giác ngộ của các bậc đại nhân.
Khi đọc câu: “Là đệ tử Bụt thì nên hết lòng, ngày cũng như đêm, đọc tụng và quán niệm về tám điều mà các bậc đại nhân đã giác ngộ” thì chúng ta nhớ ngay đến thầy Anuruddhā.
Điều thứ nhất là giác ngộ rằng cuộc đời là vô thường, chế độ chính trị nào cũng dễ sụp đổ, những cấu tạo của bốn đại đều trống rỗng và có tác dụng gây đau khổ, con người do tập hợp của năm ấm mà có, lại không có thực ngã, sinh diệt thay đổi không ngừng, hư ngụy và không có chủ quyền. Trong khi đó thì tâm ta lại là một nguồn suối phát sinh điều ác và thân ta thì là một nơi tích tụ của tội lỗi. Quán chiếu như trên thì dần dần thoát được cõi sinh tử.
Trong khi các kinh trình bày về Bát niệm đều dạy về vô dục đầu tiên thì kinh Tám điều giác ngộ của các bậc đại nhân đưa nội dung của sự quán chiếu lên trước. Đây là sự thông minh và tinh tế của người trình bày. Trong đoạn này, chúng ta thấy Bụt khuyên nhủ ta phải quán chiếu về vô thường, khổ, không và vô ngã. Đây là những đề tài quán chiếu, thực tập, là những điểm chính của giáo lý Bụt dạy, và quán chiếu về vô thường, khổ, không, vô ngã sẽ đưa đến tuệ giác. Điều giác ngộ thứ nhất này có liên hệ đến sự thực tập quán chiếu niệm, định và tuệ.
Đệ nhất giác ngộ: thế gian vô thường, quốc độ nguy thúy, tứ đại khổ không, ngũ ấm vô ngã, sinh diệt biến dị, hư ngụy vô chủ, tâm thị ác nguyên, hình vi tội tẩu. Như thị quán sát, tiệm ly sinh tử.
第一覺悟。世間無常。國土危脆。四大苦空。五陰無我。生滅變異。虛偽無主。心是惡源。形為罪藪。如是觀察。漸離生死。
Đệ nhất giác ngộ: thế gian vô thường. Tức là điều giác ngộ thứ nhất là thế gian vô thường.
Quốc độ nguy thúy. Quốc độ tức là đất nước. Đất nước đây cũng có nghĩa là chế độ chính trị. Nguy thúy nghĩa là có thể sụp đổ.
Tứ đại là đất, nước, lửa và gió. Tứ đại khổ không, nghĩa là bốn đại có tác dụng gây đau khổ và trong bản chất của chúng vốn là trống rỗng, không có một cái ngã.
Ngũ ấm vô ngã, tức là trong hợp thể của sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì không tìm ra một yếu tố nào thường còn.
Sinh diệt biến dị, tức là tất cả đều đi ngang qua một quá trình sinh, diệt và thay đổi. Biến dị là đổi khác.
Hư ngụy vô chủ. Hư ngụy là có tính cách đánh lừa. Ta tưởng nó là nó, thật ra nó không phải là nó. Chữ hư ngụy tương đương với chữ vô tướng của kinh Kim cương. Kinh Kim cương nói rằng: “Nơi nào có tướng là nơi đó còn có sự lường gạt”. Vô chủ tức là không có một chủ thể, không có một chủ quyền; chủ quyền đây tức là ngã. Ta “tưởng” là ta có chủ quyền, kỳ thực ta không có chủ quyền.
Tâm thị ác nguyên: Tâm là một nguồn suối của tội lỗi, của tội ác. Từ tâm ta, những tư tưởng, thèm khát, giận hờn biểu hiện ra. Ác nguyên tức là nguồn ác. Tâm là ác nguyên nhưng tâm cũng là thiện nguyên vì trong tâm luôn có những hạt giống tốt. Ở đây chỉ nói về một nửa sự thật thôi.
Hình vi tội tẩu: Cái thân (hình hài) của ta là một rừng tội, là nguồn gốc của biết bao nhiêu lỗi lầm. Nếu không biết cách chăm sóc hình hài ta thì tham, sân, si sẽ nổi lên. Nhà thơ Huy Cận nói rằng nếu Thượng Đế biết rõ về thân thể này thì Ngài sẽ mắc cỡ vì đã sinh ra thân thể này. Bởi vì từ thân thể này sinh ra nhiều điều rất kỳ cục, rất tội lỗi. Tám chữ tâm thị ác nguyên, hình vi tội tẩu là một tiếng chuông chánh niệm. Nếu chúng ta không tu tập, không biết bảo trì thân và tâm thì thân là một rừng tội và tâm là một nguồn ác. Nhưng nếu chúng ta biết chăm sóc thân tâm thì thân và tâm là nguồn gốc của rất nhiều hạnh phúc và giác ngộ. Chúng ta sẽ chỉ thấy được một khía cạnh mà không thấy được tổng thể nếu chúng ta đọc kinh với nhận thức hẹp hòi.
Như thị quán sát, tiệm ly sinh tử: Nghĩa là nhờ sự quán sát đó mà từ từ xa lìa được thế giới của sinh tử. Câu này rất hay. Quán sát ở đây tức là quán chiếu, không phải là học hỏi về kiến thức. Phải quán chiếu về vô thường, khổ, không và vô ngã. Phải thấy được rõ ràng thân và tâm ta có thể là nguồn gốc của tội lỗi. Nếu mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút đều nuôi dưỡng tuệ giác này, đều quán chiếu như vậy thì từ từ hành giả sẽ vượt thoát khỏi sinh tử. Cho nên điều giác ngộ thứ nhất bao gồm cả niệm, định và tuệ. Trong kinh này, bản chất đạo Bụt được trình bày rõ ràng hơn trong nguyên bản. Bản chất và tinh túy của giáo lý đạo Bụt đã được nói lên trong điều giác ngộ đầu tiên này với văn từ rất mỹ lệ, dễ dàng học thuộc.
Điều thứ hai là giác ngộ rằng càng lắm ham muốn thì lại càng nhiều khổ đau, rằng bao nhiêu cực nhọc trong cõi sinh tử đều do ham muốn mà có. Trong khi đó người ít ham muốn thì không bị hoàn cảnh sai sử, lại cảm thấy thân mình và tâm mình được thư thái.
Điều giác ngộ thứ hai là vô dục.
Hạnh phúc chỉ có mặt khi nào ta có tự do. Tự do ở đây là tự do đối với ham muốn. Khi có ham muốn, ta sẽ bị ràng buộc. Tâm niệm ham muốn đó như một sợi dây ràng buộc ta, khiến ta co rúm lại và nhận chịu đủ khổ đau. Khi cởi được sợi dây ham muốn (vô dục), ta sẽ là người hạnh phúc nhất trên đời. Ít ham muốn gọi là thiểu dục.
Càng lắm ham muốn thì lại càng nhiều khổ đau. Đó là lý thuyết hay sự thật? Thực tập quán chiếu, chúng ta sẽ thấy rằng hễ lúc nào có ham muốn là lúc đó chúng ta khổ đau. Lúc nào không còn ham muốn thì lúc đó ta không còn khổ đau nữa. Vô dục là câu trả lời để có hạnh phúc.
Rằng bao nhiêu cực nhọc trong cõi sinh tử đều do ham muốn mà có. Ham muốn, tiếng Anh là craving.
Trong khi đó người ít ham muốn thì không bị hoàn cảnh sai sử, lại cảm thấy thân mình và tâm mình được thư thái. Thư thái ở đây là tự do.
Đệ nhị giác tri: Đa dục vi khổ, sinh tử bì lao, tùng tham dục khởi; thiểu dục vô vi, thân tâm tự tại.
第二覺知。多欲為苦。生死疲勞。從貪欲起。少欲無為。身心自在。
Đa dục vi khổ. Ham muốn nhiều là khổ.
Sinh tử bì lao. Bì là mệt mỏi, lao là cực nhọc. Bì lao tức là những mệt mỏi cực nhọc của cõi sinh tử.
Tùng tham dục khởi, tức là đều từ tham dục mà phát sinh.
Thiểu dục vô vi, thân tâm tự tại. Vô vi nghĩa là không chạy chọt, không rượt bắt, không bị hoàn cảnh sai sử, không cực nhọc, không chạy theo, không lăng xăng, không bị nô lệ. Chữ vô vi ở đây không có nghĩa là Niết bàn, không có nghĩa là asaṃskṛta. Đây là văn phong của thế kỷ thứ III.
Điều thứ ba là giác ngộ rằng vì tâm ta rong ruổi chạy theo danh lợi không bao giờ biết chán cho nên tội lỗi ta cũng theo đó mà càng ngày càng lớn. Các bậc Bồ tát thì khác hẳn: họ luôn luôn nhớ nghĩ đến phép tri túc, an vui sống đời đạm bạc để hành đạo và xem sự nghiệp duy nhất của mình là sự thực hiện trí tuệ giác ngộ.
Đệ tam giác tri: tâm vô yếm túc, duy đắc đa cầu, tăng trưởng tội ác. Bồ tát bất nhĩ, thường niệm tri túc, an bần thủ đạo, duy tuệ thị nghiệp.
第三覺知。心無厭足。唯得多求。增長罪惡。菩薩不爾。常念知足。安貧守道。唯慧是業。
Điều giác ngộ thứ ba nói về tri túc.
Yếm là nhàm chán, túc là đầy đủ. Tâm vô yếm túc nghĩa là tâm ta không bao giờ thấy chán, không bao giờ thấy đủ, có được chừng đó rồi thì lại ao ước có gấp đôi. Giả dụ nếu may mắn có được gấp đôi thì ta vẫn thấy thiếu như thường. Túi tham không có đáy tức là tâm vô yếm túc. Tâm tham của ta không bao giờ thấy nhàm chán, không bao giờ cho là đủ và luôn chạy theo danh lợi.
Đắc là đạt được. Đa là nhiều. Duy đắc đa cầu, là chỉ muốn sở hữu thật nhiều, chỉ muốn tóm thâu được nhiều.
Tăng trưởng tội ác là làm cho tội lỗi của mình càng ngày càng lớn.
Bồ tát bất nhĩ là các vị Bồ tát thì không như vậy. Bất nhĩ là không phải như vậy. Yếu tố Đại thừa được đưa vào ở đây.
Thường niệm tri túc: các vị Bồ tát thường nhớ nghĩ, thường tâm tâm niệm niệm về pháp tri túc. Tri túc là biết đủ, biết rằng “chừng này” là đủ rồi. Trong giáo đoàn Nguyên thủy, các thầy chỉ có ba chiếc áo cà sa, một cái bình bát, một cái lọc nước, như thế là đã đủ.
An bần thủ đạo. An bần là an vui với đời sống đạm bạc. Bần nghĩa là nghèo. Các thầy tu châu Á thường tự xưng là “bần đạo”. Bần đạo nghĩa là “ông đạo nghèo”, đó là một danh từ khiêm nhường. Nhưng cũng có nhiều “ông bần đạo” giàu lắm.
Có một lần đức Thế Tôn tự xưng bần đạo với vua Tần Bà Sa La. Lúc ấy đức Thế Tôn chưa thành đạo. Vua Tần Bà Sa La muốn mời đức Thế Tôn về làm Quốc sư nhưng Ngài không đồng ý. An bần thủ đạo là an vui với cuộc đời đạm bạc mà giữ gìn sự hành đạo của mình. Thủ là nắm lấy, giữ lấy, đừng để cho mất. Bần, nhưng không khổ vì bần mà hạnh phúc với cái bần nên gọi là an bần – rất an ổn, rất thảnh thơi với cái nghèo của mình. Người xưa dùng chữ rất ít nhưng rất sâu. Thầy dịch sang tiếng Việt là an vui sống với đời đạm bạc để hành đạo.
Duy tuệ thị nghiệp (The only career of a monk is insight) nghĩa là xem việc thực hiện trí tuệ giác ngộ là sự nghiệp duy nhất của mình. Chỉ có tuệ giác là sự nghiệp của mình, đó là phương châm của người tu. Sự nghiệp của ta không phải là dựng chùa lớn, không phải là đúc tượng Phật to, không phải được tấn phong Hòa thượng, Hội chủ, Pháp chủ hay Tăng thống, mà sự nghiệp của ta là thành tựu tuệ giác lớn. Quý thầy ở viện Đại học Vạn Hạnh đã dùng bốn chữ “duy tuệ thị nghiệp”, chúng ta nên nhớ tuệ ở đây là tuệ giác (insight) chứ không phải là kiến thức (learning).
Điều thứ tư là giác ngộ rằng thói quen lười biếng đưa đến chỗ đọa lạc; vì vậy con người phải chuyên cần hành đạo, phá giặc phiền não, hàng phục bốn loài ma và ra khỏi ngục tù của năm ấm và ba giới.
Điều thứ tư nói về tinh tấn.
Thầy có dịch và chú giải kinh Bát đại nhân giác bằng tiếng Việt và đã được xuất bản bằng tiếng Anh, nếu ai muốn đọc thì có thể sử dụng sách đó.
Phiền não (affliction, tiếng Phạn là kleśa) là tham, sân, si, mạn, nghi, kiến, trạo cử, hôn trầm, phóng dật, thất niệm, phẫn, hận, phú, não, tật, xan, cuống, xiểm, hại, kiêu. Hàng phục bốn loài ma, trong đó có ma phiền não, ma ngũ ấm. Có thể giải thích bốn loài ma một cách khác nhau, cho nên xin coi lại trong cuốn kinh Bát đại nhân giác chú giải.
Và ra khỏi ngục tù của năm ấm và ba giới. Năm ấm là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Ba giới là dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Ma ở đây là ma phiền não, ma ngũ ấm từ thân và tâm của ta đi ra chứ không phải từ ngoài đi vào. Đó là những phiền não có mặt trong chúng ta dưới hình thức các hạt giống trong thân và tâm. Thân và tâm ta đều có cả hạt giống tốt và hạt giống xấu.
Đệ tứ giác tri: giải đãi đọa lạc, thường hành tinh tấn, phá phiền não ác, tồi phục tứ ma, xuất ấm giới ngục.
第四覺知。懈怠墜落。常行精進。破煩惱惡。摧伏四魔。出陰界獄。
Giải đãi đọa lạc. Giải đãi là lười biếng, đọa là rơi xuống, lạc là rụng xuống. Sự lười biếng đưa đến tình trạng rơi rụng.
Thường hành tinh tấn là luôn luôn thực tập tinh tấn. Tinh tấn tức là Tứ chánh cần. Tứ chánh cần: hạt giống xấu chưa phát sinh thì đừng để phát sinh; hạt giống xấu phát sinh rồi thì làm thế nào để nó trở về lại trạng thái hạt giống; hạt giống tốt chưa phát sinh thì làm cho phát sinh; hạt giống tốt phát sinh rồi thì giữ cho nó ở lại càng lâu càng tốt.
Phá phiền não ác là đánh phá những cái xấu ác của các loại phiền não.
Tồi phục tứ ma. Tồi là xô ngã. Xô ngã bốn loài ma.
Xuất ấm giới ngục là ra khỏi ngục tù của ấm và giới. Ấm là sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Giới là dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Những vị không biết danh từ Phật học thì sẽ không hiểu cụm từ “xuất ấm giới ngục”, họ có thể nghĩ là ra khỏi ngục tù tên là ấm giới. Do đó, khi dịch sang tiếng Việt, thầy vừa dịch vừa chú giải. Nếu quý vị có chí nguyện dịch thuật kinh điển thì nên làm theo phương pháp vừa dịch vừa chú giải, làm cho lời kinh sáng ra.
Điều thứ năm là giác ngộ rằng chính vì vô minh nên mới bị giam hãm trong cõi sinh tử. Các vị Bồ tát thường xuyên nhớ rằng phải học rộng, biết nhiều, phát triển trí tuệ, đạt được biện tài để giáo hóa cho mọi người, để cho tất cả đạt tới niềm vui lớn.
Đây là điều giác ngộ có liên hệ tới đa văn và cũng phần nào liên hệ tới tuệ. Đa văn chỉ có ích lợi khi việc học hỏi này đóng góp vào sự thành tựu tuệ giác chứ không phải sử dụng đa văn để hý luận.
Vô minh ở đây không phải là người thiếu kiến thức, người thiếu học mà là người đầy dẫy những tri giác sai lầm. Một người có thể rất thông minh nhưng chưa có cơ hội học hỏi thì không thể nói người đó là ngu si. Chỉ cần học hỏi, người đó sẽ biết được. Học là để chuyển hóa những tri giác sai lầm chứ không phải để chất chứa kiến thức. Cho nên, những kiến thức ta tiếp nhận mà không có tác dụng chuyển hóa vô minh thì sự học đó không có ích lợi, dù ta có học mười năm ở Phật học viện đi nữa. Nếu tu học giáo lý đạo Bụt mười năm mà không làm vô minh suy suyển chút nào thì mười năm đó quả là vô ích. Điều quan trọng là phải học như thế nào để giúp chuyển hóa vô minh. Câu trả lời là áp dụng những cái ta học vào sự thực tập thiền quán. Quán chiếu thì mới có thể chuyển hóa vô minh.
Điều thứ năm là giác ngộ rằng chính vì vô minh nên mới bị giam hãm trong cõi sinh tử. Ở đây cần gọi đúng tên của thủ phạm, nguyên nhân chính làm ta chìm đắm trong cõi sinh tử khổ đau. Hãy gọi đúng tên tôi. Tên tôi là vô minh. Tôi đã làm cho anh chìm đắm, trôi nổi bao nhiêu ngày đêm trong cõi sinh tử.
Các vị Bồ tát thường xuyên nhớ rằng phải học rộng, biết nhiều, phát triển trí tuệ, đạt được biện tài… Học rộng là một chuyện, phát triển trí tuệ là một chuyện khác. Học rộng biết nhiều và sử dụng cái học, cái biết đó để tu tập, gọi là phát triển trí tuệ. Chúng ta có trình tự: văn (learning), tư (reflecting), tu (practicing).
Văn, tư, tu xin quyết hành trì.
Thân, miệng, ý noi về chánh kiến.
Văn là học hỏi, tư là quán chiếu, tu là hành trì. Vì vậy, đa văn ở đây tuy là cần nhưng phải đặt đa văn vào trình tự “văn, tư, tu”. Kinh này trình bày những tuệ giác của thầy Anuruddhā và của Bụt rất khéo.
Biện tài là chinh phục người khác, khiến cho người khác có niềm tin và bắt đầu tu tập. Còn nói tới sùi bọt mép, nói chỉ để cho sướng miệng, cho vui, để mà chơi, chứng tỏ ta giỏi,… chứ không mang lại lợi ích gì, thì đó gọi là hý luận.
Đức Bồ tát Quan Thế Âm được xưng tụng là người có biện tài và Ngài không cần phải hý luận. Trí tuệ bừng lên đóa biện tài (Trí tuệ hoằng thâm đại biện tài). Biện tài của Ngài phát sinh từ tuệ giác chứ không phải từ sự học hỏi. Cho nên ta phải phân biệt hai trường hợp, một là đàm thuyết suông (mere speculation), đàm thuyết về siêu hình (metaphysical speculation); hai là biện tài (eloquence). Biện tài phát sinh từ tuệ giác. Khi có cái thấy và cái hiểu sâu sắc thì lời nói của ta có khả năng chinh phục, khiến người khác có niềm tin và thực tập theo. Nếu cái thấy của ta còn mù mờ, khi nói ra điều gì, ta sẽ không biểu hiện được sức mạnh biện tài.
Các vị Bồ tát thường xuyên nhớ rằng phải học rộng, biết nhiều, phát triển trí tuệ, đạt được biện tài để giáo hóa cho mọi người, để cho tất cả đạt tới niềm vui lớn.
Điều giác ngộ thứ năm có yếu tố không hý luận. Không hý luận không có nghĩa là phải ngậm miệng lại. Khi cần mở miệng, chúng ta mở miệng để thực tập biện tài chứ không phải để hý luận. Chữ hý luận rất hay, ngôn ngữ thế gian không có chữ nào hay bằng chữ hý luận.
Chúng ta đọc lại bản chữ Hán:
Đệ ngũ giác ngộ: ngu si sinh tử, Bồ tát thường niệm, quảng học đa văn, tăng trưởng trí tuệ, thành tựu biện tài, giáo hóa nhất thiết, tất dĩ đại lạc.
第五覺悟。愚癡生死。菩薩常念。廣學多聞。增長智慧。成就辯才。教化一切。悉以大樂。
Ngu si sinh tử là ngu si tạo ra sự sinh tử, là nguồn gốc của sinh tử. Người xưa dùng chữ hà tiện vô cùng, chữ càng ít thì càng hay. Thay vì dùng chữ vô minh, ở đây nói: “Anh ngu si thì anh sinh tử, có gì đâu!”
Bồ tát thường niệm, quảng học đa văn. Quảng học là học cho rộng, đa văn là nghe cho nhiều. Bồ tát nên luôn ghi nhớ học rộng, nghe nhiều. Mỗi tuần mà chỉ nghe hai buổi pháp thoại đâu có nhiều lắm!
Tăng trưởng trí tuệ là làm lớn thêm tuệ giác của mình. Tăng là thêm, trưởng là lớn. Ở đây không nói là tăng trưởng kiến thức.
Thành tựu biện tài, giáo hóa nhất thiết. Thành tựu là làm cho viên mãn. Giáo hóa là dạy dỗ, độ người. Nhất thiết là tất cả mọi người. Biện tài viên mãn để độ thoát cho tất cả mọi người.
Tất dĩ đại lạc là khiến cho tất cả đều có niềm vui lớn.
Đó là sự khác nhau giữa đa văn và tuệ giác.
Điều thứ sáu là giác ngộ rằng vì nghèo khổ cho nên người ta sinh ra có nhiều oán hận và căm thù, và vì thế lại tạo thêm nhiều nhân xấu. Các vị Bồ tát biết thế cho nên chuyên tu phép bố thí, coi kẻ ghét người thương như nhau, bỏ qua những điều ác mà người khác đã làm đối với mình và không đem tâm ghét bỏ những ai đã làm ác.
Đây là một điều giác ngộ mới không có trong nguyên bản của tạng A hàm và của cả tạng Pāḷi, đó là bố thí. Bố thí Ba la mật là một trong sáu phép Ba la mật của Phật giáo Đại thừa. Chúng ta thấy mỗi câu mỗi chữ đều có “hương vị” của Đại thừa. Những ngôn ngữ như biện tài, giáo hóa nhất thiết, niềm vui lớn đều có hương vị của Đại thừa, thế nhưng bản chất giáo lý Bát niệm vẫn y nguyên và còn giàu có hơn nữa. Cho nên gọi thầy An Thế Cao là Bồ tát An Thế Cao quả không sai chút nào. Thầy Tăng Hội cũng là một vị Bồ tát có công Đại thừa hóa các kinh điển và trình bày những kinh điển đó dưới một ánh sáng rất mới, thích hợp với căn cơ của thời đại, đã không mất đi bản chất của giáo lý Nguyên thủy mà còn làm tăng thêm giá trị của giáo lý Nguyên thủy. Đệ tử của Bụt nếu thực hiện được như vậy thì mới có thể tiếp nối và làm cho Bụt vui mừng. Phải tu học và hành đạo bằng sự thông minh của mình chứ không phải chỉ có sự thành kính là đủ.
Có những người đầy oán hận, căm thù nhưng chúng ta không đem tâm ghét bỏ họ. Những người đó đã khổ vì nghèo đói, vì áp bức cho nên mới gây ra những vụ bạo động: đốt xe, đốt nhà, đặt bom, giết người. Họ là những nạn nhân của bất công xã hội. Điều giác ngộ này cho ta thấy một tuệ giác sâu sắc rằng những người bạo động, căm thù, tạo ra sự chết chóc, khổ đau, tan nát như vậy là tại vì họ nghèo khổ, họ chịu đựng sự bất công trong một thời gian dài. Bùng phát bạo động là kết quả của sự chịu đựng ấy. Thay vì giận họ, ta phải thương họ. Thay vì trừng phạt họ, ta phải giúp đỡ và bố thí cho họ. Đây là một quan niệm rất Đại thừa.
Trong điều giác ngộ này chúng ta cũng học được giáo lý về xả (equanimity), nghĩa là không theo phe. Người hiền mình thương mà người dữ, người ác mình cũng thương, người ở gần cũng thương mà người ở xa cũng thương. Chúng ta không đem tâm trách móc, ghét bỏ những người đã dại dột làm ác. Họ đã quá khổ cho nên mới làm điều bất thiện. Giáo lý này rất quan trọng. Đây là một tuệ giác rất lớn, rất hiện đại, có thể áp dụng vào trường hợp của người Do Thái, người Palestine, Nam Tư, Nam Mỹ, Nam Phi, người da đen và da trắng ở Mỹ Châu,…
Vì nghèo khổ (ta nên thêm vào vì áp bức) cho nên người ta sinh ra có nhiều oán hận và căm thù, và vì thế lại tạo thêm nhiều nhân xấu. Vì oán hận và căm thù cho nên họ mới đặt mìn, đốt xe.
Các vị Bồ tát biết thế cho nên chuyên tu phép bố thí, coi kẻ ghét người thương như nhau, bỏ qua những điều ác mà người khác đã làm đối với mình và không đem tâm ghét bỏ những ai đã làm ác.
Đọc lại một bản kinh đã được chế tác ra cách đây trên 2.500 năm, chúng ta thấy rõ ràng đây là phương thuốc để chữa trị những khổ đau của xã hội hiện tại. Những người kia đã gây ra tội lỗi, đã làm nên tội ác, nhưng chúng ta không được ghét bỏ họ. Chúng ta cần phải thương và giúp đỡ họ.
Đệ lục giác tri: bần khổ đa oán, hoạnh kết ác duyên. Bồ tát bố thí, đẳng niệm oán thân, bất niệm cựu ác, bất tắng ác nhân.
第六覺知。貧苦多怨。橫結惡緣。菩薩布施。等念冤親。不念舊惡。不憎惡人。
Bần khổ đa oán: Vì nghèo khổ nhiều nên có oán thù nhiều.
Hoạnh là ngang. Kết là tạo thành, gây nên. Hoạnh kết ác duyên: Đúc kết thành, dệt nên những ác duyên. Ở đây, thầy dịch là tạo thêm những nhân xấu.
Đẳng niệm oán thân: Phải thấy được người thương kẻ ghét như nhau. Đẳng là như nhau, niệm là quan niệm. Đẳng niệm là nhìn như nhau, thấy như nhau. Oán là người mình ghét. Những người đã gây ra những bất công, khổ đau cho mình gọi là oan gia. Thân là những người gần gũi, thân cận. Oán thân bình đẳng là kẻ ghét người thương như nhau.
Bất niệm cựu ác: Đừng nhớ, đừng khư khư ôm lấy kỷ niệm về ngày xưa, rằng người đó đã từng chơi xấu mình, đã từng làm mình đau khổ. Theo giáo lý oán thân bình đẳng – kẻ oán và người thân như nhau, tuy người đó đã làm cho ta đau khổ nhưng ta có thể buông bỏ được.
Bất tắng ác nhân: Tắng nghĩa là ghét. Câu này nghĩa là không ghét những người đã làm ác vì những người này rất đau khổ, họ đang bị tù tội, trong lòng họ không có hạnh phúc, ta đừng ghét thêm họ, đừng trừng phạt họ.
Điều thứ bảy là giác ngộ rằng năm thứ dục vọng gây nên tội lỗi và hoạn nạn. Người xuất gia tuy sống trong thế tục nhưng không nhiễm theo cái vui phàm tục, thường quán niệm rằng tài sản của mình chỉ là ba chiếc áo ca sa và một chiếc bình bát, tất cả đều là pháp khí, rằng chí nguyện xuất gia của mình là sống thanh bạch để hành đạo, giữ phạm hạnh cho thanh cao và đem lòng từ bi để tiếp xử với tất cả mọi người.
Người xuất gia tuy sống trong thế tục nhưng không nhiễm theo cái vui phàm tục. Câu này rất hay. Chúng ta ở trong cuộc đời chứ không cần phải xa lánh cuộc đời. Ở trong cuộc đời nhưng không bị chìm đắm bởi cuộc đời. Tiếng Anh có thể nói là in the world, but not of the world, ở trong cuộc đời nhưng không thuộc về cuộc đời. Người xuất gia cũng vậy, sống trong xã hội mà vẫn giữ được mình, giữ được chất giải thoát, giác ngộ, thương yêu của mình, không bị xã hội kéo theo, như bông sen ở dưới bùn nhưng không hôi mùi bùn (in the mud, but not of the mud).
Thường quán niệm rằng tài sản của mình chỉ là ba chiếc áo ca sa và một chiếc bình bát, tất cả đều là pháp khí. Pháp khí, tiếng Anh là dharma instrument.
Rằng chí nguyện xuất gia của mình là sống thanh bạch để hành đạo (live simply to practice the way).
Giữ phạm hạnh cho thanh cao. Phạm là cao quý; phạm hạnh tức là sống đời sống trinh nguyên của người xuất gia, không bị vẩn đục bởi những hành động tà dục.
Và đem lòng từ bi để tiếp xử với tất cả mọi người. Ở đây, chúng ta nhớ đến kinh Pháp hoa: Mắt thương nhìn cuộc đời – từ nhãn thị chúng sanh. Kinh Đại thừa hay Tiểu thừa đều là kinh. Tiểu thừa hay Đại thừa chỉ là danh từ. Những lời Bụt dạy sáng tỏ như gương: mắt thương nhìn cuộc đời. Đem lòng thương để tiếp xử với tất cả mọi người, dù người ác hay người hiền, người khó hay người dễ. Người tu chỉ có một câu trả lời duy nhất, đó là tình thương, là từ bi. Chúng ta không thể trả lời bằng cách nào khác. Bất cứ một đáp án nào khác cũng không phải là cách trả lời xứng đáng của một người tu.
Điều giác ngộ thứ bảy này nói về viễn ly (nhàn xứ). Hình ảnh của đoạn kinh này khiến ta liên tưởng đến một đóa hoa sen không dính bùn. Ở trong cuộc đời nhưng không thuộc về cuộc đời, đó là viễn ly. Không phải chạy trốn vào trong rừng thì mới được gọi là viễn ly. Người biết sống một mình không trốn vào trong rừng để sống một mình. Người đó sống viễn ly, có thể hòa nhập vào xã hội nhưng vẫn giữ được chánh niệm, sống trong giây phút hiện tại mà không bị đám đông kéo theo.
Đệ thất giác ngộ: ngũ dục quá hoạn, tuy vi tục nhân, bất nhiễm thế lạc, thường niệm tam y, ngõa bát pháp khí, chí nguyện xuất gia, thủ đạo thanh bạch, phạm hạnh cao viễn, từ bi nhất thiết.
第七覺悟。五欲過患。雖為俗人。不染世樂。常念三衣,瓦鉢法器。志願出家。守道清白。梵行高遠。慈悲一切。
Quá là những lỗi lầm, tội lỗi. Hoạn là những tai ương. Ngũ dục quá hoạn tức là năm đối tượng của sự thèm khát tạo ra những lỗi lầm và tai ương.
Tuy vi tục nhân: Tuy là người ở trong cõi phàm tục này. Người tu cũng là người ở trong cõi phàm tục này, gọi là tuy vi tục nhân.
Bất nhiễm thế lạc là không bị nhiễm theo những cái vui phàm tục. Thế ở đây tức là phàm tục.
Thường niệm tam y là nên nhớ nghĩ rằng mình có ba chiếc áo ca sa.
Ngõa bát pháp khí. Ngõa bát là cái bình bát bằng đất sét.
Ba y và bình bát đều là pháp khí. Người chiến sĩ ra trận thì có thanh gươm, nhạc sĩ có cây đàn, còn người tu thì chỉ có ba y và một chiếc bình bát. Đó là pháp khí của người tu. Ta tung hoành trong thế gian, độ người, độ đời, chỉ với pháp khí đó của Bụt trao truyền, đi đâu chúng ta cũng có khả năng đem hạnh phúc đến cho mọi người. Bây giờ, chúng ta có thể mang thêm một pháp khí nữa, đó là cái chuông.
Chí nguyện xuất gia, thủ đạo thanh bạch: Chí nguyện rằng ta là người xuất gia thì phải giữ đạo, sống cuộc đời thanh bạch (simple lifestyle). Đây vẫn là con đường thoát của thế giới bây giờ. Ngày hôm qua nghe đọc giới sa di, chúng ta thấy rõ rằng một trong Mười giới Sa di là sống một cuộc đời vật chất không xa hoa. Ngồi, nằm, mặc áo, đi xe,… tất cả đều phải đơn giản, đó là cái đẹp của người xuất gia. Cái đẹp của ta đâu phải là bôi phấn, bôi sáp hay mặc áo lụa là. Cái đẹp của ta là sự giản dị và ta trang điểm tự thân bằng cái đẹp đó. Nếu không biết trang điểm tự thân bằng những cái đẹp đó thì ta đã đánh mất nét đẹp chân thật của người xuất gia.
Phạm hạnh cao viễn. Phạm hạnh là đời sống không vướng dâm dục, rất thanh tịnh, trong sáng và cao quý. Cao viễn tức là cao xa.
Từ bi nhất thiết là đem tâm từ và tâm bi để đối xử với tất cả mọi người. Không chỉ từ bi với những người ta thương mà còn phải từ bi với những người không thương ta, những người làm khổ ta. Đối với mọi người và mọi loài ta đều hành xử với trái tim đầy từ bi. Với người dễ thương hay không dễ thương, kể cả người dễ ghét, ta cũng dùng tâm từ bi giúp đỡ. Đó gọi là từ bi nhất thiết. Nếu vị nào muốn viết thư pháp (calligraphy) thì viết bốn chữ đó: Từ bi nhất thiết (Thương phải thương hết – I don’t exclude anyone from my love).
Điều thứ tám là giác ngộ rằng vì lửa sinh tử cháy bừng cho nên mọi loài đang chịu biết bao niềm thống khổ. Biết vậy cho nên ta phải phát tâm Đại thừa, nguyện cứu tế cho tất cả mọi người, nguyện thay thế cho mọi người mà chịu khổ đau vô lượng, khiến cho tất cả chúng sinh đều đạt tới niềm vui cứu cánh.
Điều tâm niệm thứ tám không có trong nguyên bản vì kinh này được hình thành vào buổi bình minh của Phật giáo Đại thừa. Phật giáo Đại thừa là một sự phản ứng đối với Phật giáo Bộ phái. Phật giáo Bộ phái được xem là chỉ lo tu tập và giải thoát cho bản thân mình mà không để ý tới những người xung quanh. Tu tập cũng phải tu tập cho mọi người chứ không phải chỉ tu riêng cho mình, phải tu cho cha mẹ, cho gia đình, cho xã hội, cho tất cả.
Vì vậy, tinh thần Đại thừa được biểu lộ ở điều giác ngộ thứ tám này một cách rất rõ ràng. Phải luôn luôn nhớ rằng kinh này được hình thành vào buổi bình minh của Đại thừa cho nên chữ Bồ tát đã được dùng nhiều lần. Phải ý thức rằng xung quanh ta có nhiều người đang đau khổ chứ không phải chỉ một mình ta đau khổ. Vì vậy phải phát tâm Đại thừa cứu giúp cho mọi người, đừng chỉ lo tu và tìm cách thoát khổ cho riêng mình. Điều giác ngộ thứ tám này không có trong tám điều giác ngộ của nguyên bản.
Đệ bát giác tri: sinh tử xí nhiên, khổ não vô lượng, phát Đại thừa tâm, phổ tế nhất thiết, nguyện đại chúng sinh, thọ vô lượng khổ, linh chư chúng sinh, tất cánh đại lạc.
第八覺知。生死熾然。苦惱無量。發大乘心。普濟一切。願代眾生。受無量苦。令諸眾生。畢竟大樂。
Sinh tử xí nhiên là một quan điểm rất Phật giáo. Tam giới bất an, do như hỏa trạch (kinh Pháp hoa) là ba cõi không yên, giống như một căn nhà đang bốc cháy. Xí nhiên là cháy bừng lên. Khổ não vô lượng là cuộc sống sinh tử có rất nhiều điều khổ đau.
Phát Đại thừa tâm. Cho nên anh phải phát tâm Đại thừa, đừng chỉ tu cho riêng mình, phải tu thêm cho người khác nữa! Đây là tinh thần tăng thân, ta phải chăm sóc cho đệ nhị thân, đệ tam thân, đệ tứ thân. Đệ nhị thân chăm sóc đệ tam thân, đệ tam thân chăm sóc đệ tứ thân… Chúng ta phải chăm sóc cho nhau. Thực tập như vậy là phát Đại thừa tâm.
Phổ tế nhất thiết. Phổ là khắp nơi (universal), rộng lớn. Tế là giúp đỡ, như tế độ. Tế độ cùng khắp cho tất cả.
Đại là thay thế. Nguyện đại chúng sinh, thọ vô lượng khổ: là xin thay thế cho chúng sinh mà chịu khổ vô lượng.
Tất cánh là cuối cùng, đại lạc là sự giải thoát của Niết bàn. Linh chư chúng sinh, tất cánh đại lạc: Mong cho tất cả chúng sinh, cuối cùng đều đạt tới niềm vui lớn.
Tám điều nói trên là những điều giác ngộ của các bậc đại nhân, Bụt và Bồ tát; những vị này đã tinh tiến hành đạo, tu tập từ bi và trí tuệ, đã cưỡi thuyền pháp thân đến được bến Niết bàn.
Trong đoạn này, danh từ Bồ tát được nhắc lại một lần nữa, ngoài ra còn xuất hiện thêm một danh từ Đại thừa, đó là từ pháp thân. Ngày xưa cũng có danh từ pháp thân nhưng nó chỉ có nghĩa là thân thể của giáo lý. Còn chữ pháp thân ở đây bắt đầu mang ý nghĩa là bản thể chân thật của hiện hữu.
Khi trở về lại cõi sinh tử độ thoát cho chúng sinh, các vị đều dùng tám điều giác ngộ ấy để khai mở và chỉ đường cho mọi người, khiến cho chúng sinh ai cũng giác ngộ được cái khổ của sinh tử, lìa bỏ được ngũ dục và hướng tâm vào con đường thánh.
Nếu đệ tử Bụt mà thường đọc tụng tám điều này thì mỗi khi quán niệm diệt được vô lượng tội, tiến tới giác ngộ, mau lên chính giác, vĩnh viễn đoạn tuyệt với sinh tử, thường trú trong sự an lạc.
Chúng ta thấy rằng kinh Bát đại nhân giác này là một tác phẩm của thầy và trò. Khởi đầu là thầy A Na Luật nói, rồi Bụt mới thêm vào. Sau khi về đến tịnh xá, Bụt dạy tám điều này cho các vị đệ tử khác. Vì vậy, tuệ giác của trò đã phối hợp với tuệ giác của thầy để được trình bày thành một kinh. Thầy trò Bụt làm việc chung với nhau rất hay. Thầy thấy và chấp nhận được những cái hay của đệ tử, và những điều đó trở thành cái hay của thầy. Các đệ tử thấy được cái hay của thầy và những điều đó cũng trở thành cái hay của đệ tử. Cho nên trong dòng sinh mạng của chánh pháp, tuệ giác là tuệ giác chung, tuệ giác không phải là tuệ giác của riêng thầy hay của riêng đệ tử. Tất cả tuệ giác mà các thế hệ đệ tử có được cũng là tuệ giác của thầy. Kinh Bát nhã có dạy rằng những thành tựu mà các thế hệ đệ tử gặt hái được trong đời sống tâm linh cũng là do uy lực của đức Như Lai tối thắng. Điều này có nghĩa là kinh Bát nhã sở dĩ ra đời được cũng là phát xuất từ đức Thế Tôn chứ không phải từ đệ tử. Điểm hay ở đây là ta luôn luôn nhìn nhận cội nguồn của mình. Ngày hôm nay làm được điều gì, ta cũng hồi hướng cho nguồn gốc của ta. Ta tự nhủ: “Mình có tài giỏi gì đâu, tất cả những điều này là do tổ tiên tâm linh của mình làm ra hết, mình chỉ là sự tiếp nối của quý vị mà thôi.”
Như thử bát sự nãi thị chư Phật, Bồ tát đại nhân, chi sở giác ngộ. Tinh tấn hành đạo, từ bi tu tuệ, thừa pháp thân thuyền, chí Niết bàn ngạn, phục hoàn sinh tử, độ thoát chúng sinh. Dĩ tiền bát sự, khai đạo nhất thiết, linh chư chúng sinh, giác sinh tử khổ, xả ly ngũ dục, tu tâm thánh đạo. Nhược Phật đệ tử, tụng thử bát sự, ư niệm niệm trung, diệt vô lượng tội, tiến thú Bồ đề, tốc đăng chánh giác, vĩnh đoạn sinh tử, thường trụ khoái lạc.
如此八事。乃是諸佛菩薩大人之所覺悟。精進行道慈悲修慧。乘法身船至涅槃岸。復還生死度脫眾生。以前八事。開導一切。令諸眾生覺生死苦。捨離五欲修心聖道。若佛弟子。誦此八事。於念念中。滅無量罪。進趣菩提。速登正覺。永斷生死。常住快樂。
Như thử bát sự: Tám điều nói trên.
Nãi thị chư Phật, Bồ tát đại nhân, chi sở giác ngộ: Đều là những điều giác ngộ của các vị đại nhân, Bụt và Bồ tát. Bụt là đại nhân, Bồ tát cũng là đại nhân.
Tinh tấn hành đạo, từ bi tu tuệ: Siêng năng hành đạo, sử dụng từ và bi để tu tập chung với trí tuệ.
Thừa pháp thân thuyền: Cưỡi lên trên chiếc thuyền của pháp thân. Thừa ở đây có nghĩa là cưỡi, leo. Đại thừa là xe lớn.
Chí Niết bàn ngạn: Để tới được bờ của Niết bàn. Đây là một hình ảnh rất thi ca. Ngạn là bờ.
Phục hoàn sinh tử: Sau đó trở về lại cõi sinh tử. Phục là lại, hoàn là trở về.
Độ thoát chúng sinh: Để mà độ thoát cho chúng sinh.
Dĩ tiền bát sự: Sử dụng tám điều nói trên.
Khai đạo nhất thiết: Mở ra và chỉ đường cho tất cả mọi loài. Khai là mở ra, đạo là dẫn đường. Chữ đạo (導) này có chữ thốn (寸) ở dưới, nghĩa là chỉ đường; còn chữ đạo (道) không có chữ thốn ở dưới, nghĩa là con đường.
Linh chư chúng sinh: Khiến cho tất cả mọi loài chúng sinh. Linh là khiến cho.
Giác sinh tử khổ: Tỉnh ra và thấy rằng sinh tử là khổ đau.
Xả ly ngũ dục: Rời xa ngũ dục (năm đối tượng của sự thèm khát). Xả là buông bỏ, ly là tách rời.
Tu tâm thánh đạo: Đem tâm mình trở về để tu tập theo con đường thánh.
Nhược Phật đệ tử, tụng thử bát sự: Nếu những đệ tử của Bụt ôn tụng tám điều này.
Ư niệm niệm trung, diệt vô lượng tội: Trong mỗi giây phút có quán niệm (chánh niệm) theo tám điều này thì có thể tiêu diệt vô lượng lỗi lầm. Niệm niệm tức là giờ giờ phút phút.
Tiến thú Bồ đề. Tiến thú là đi tới được mục đích, tới được địa chỉ cần tới. Nơi cần tới là Bồ đề, là giác ngộ.
Tốc đăng chánh giác: Mau lên được quả vị chánh giác. Tốc là mau chóng, đăng là lên, chánh giác là giác ngộ chân chính cao tột.
Vĩnh đoạn sinh tử: Vĩnh viễn xa lìa sinh tử.
Thường trụ khoái lạc: Luôn luôn an trú ở cõi hạnh phúc.
Có một điều lạ lùng là lâu nay chúng ta dùng chữ hạnh phúc để dịch chữ happiness. Chúng ta đã quen dùng chữ hạnh phúc vì đó là cổ văn. Bây giờ bên Trung Quốc không dịch chữ happiness là hạnh phúc nữa mà là khoái lạc. Trong kinh này cũng dùng chữ khoái lạc để nói về hạnh phúc. Chúng ta không quen dùng như vậy. Mỗi khi nghe chữ khoái lạc ta liên tưởng đến tính chất thể xác nhiều hơn tâm hồn. Nhưng hiện nay chữ khoái lạc đang được dùng khá phổ biến. Cho nên ta đừng thành kiến chữ khoái lạc, cho rằng nó có nghĩa là những thú vui về thể chất. Theo kinh này thì những thú vui thanh cao về tâm hồn cũng có thể được gọi là khoái lạc.
Chúng ta liệt kê lại Tám điều trong kinh Tăng nhất A hàm:
1. Vô dục
2. Tri túc
3. Viễn ly
4. Tinh cần
5. Niệm
6. Định
7. Tuệ
8. Không hý luận
Ban đầu, trong kinh chỉ có những danh từ đó, những danh từ này có thể có nội dung rất sâu xa, nhưng nếu chúng ta tụng niệm như đọc theo thứ tự trong danh sách thì rốt cuộc ta cũng chỉ đơn thuần thuộc lòng những danh từ: vô dục, tri túc, viễn ly, tinh cần, niệm, định, tuệ,… như những danh từ pháp số mà thôi. Trong khi đó, đọc kinh Bát đại nhân giác của thầy An Thế Cao dịch, chúng ta thấy có nội dung của tám điều trên; đọc tới đâu chúng ta thấy rõ nội dung tới đó chứ không phải chỉ là những danh từ suông. Trong khi đọc kinh này ta thấy những pháp số đó biến thành xương thành thịt, rất sống động. Tuy rằng kinh Bát đại nhân giác mà chúng ta học đây là một văn bản không xưa nhất so với những văn bản khác mà bây giờ ta đang có, nhưng chúng ta đã chọn văn bản này vì khi tụng ta thấy được hình hài, xương thịt của Bát niệm chứ không chỉ nghe tên của Bát niệm. Và đứng về phương diện nội dung, kinh Tám điều giác ngộ của các bậc đại nhân chuyên chở hết tất cả những tinh túy của nguyên bản. Đứng về phương diện hình thức, kinh trình bày Bát niệm bằng thứ ngôn ngữ mà chúng ta có thể tiếp xúc được với những giáo lý ấy như tiếp xúc với những gì rất cụ thể bằng xương bằng thịt. Đây là điều rất hay. Thứ tự của tám điều trong kinh Tám điều giác ngộ của các bậc đại nhân không giống so với văn bản cũ, có một vài điều trong văn bản cũ đã được phối hợp lại và có những điều mới được thêm vào. Tuy cũng là tám điều nhưng không hoàn toàn giống hệt tám điều cũ. Tuy nhiên tất cả tám điều cũ đều được đưa vào trong bản kinh mới.
Trong Nhật tụng Thiền môn năm 2000, chúng ta sẽ đặt tên là:
Điều giác ngộ thứ nhất: Niệm định tuệ hoặc là quán chiếu thực tại
Điều giác ngộ thứ hai: Vô dục
Điều giác ngộ thứ ba: Tri túc
Điều giác ngộ thứ tư: Tinh cần
Điều giác ngộ thứ năm: Đa văn, tuệ, biện tài
Điều giác ngộ thứ sáu: Bố thí, không kỳ thị, không trách phạt
Điều giác ngộ thứ bảy: Viễn ly
Điều giác ngộ thứ tám: Đại thừa (mở rộng lòng ra cho mọi người)
Tinh ba của toàn bộ giáo lý đạo Bụt được đưa lên làm điều giác ngộ thứ nhất. Đây là cái hay của bản văn mới. Chỉ một điều giác ngộ này là đã bao trùm được tất cả giáo lý đạo Bụt.
Trong một kinh khác thuộc Tăng nhất A hàm, chúng ta thấy có điều giác ngộ về “đa văn”. Đặc biệt, điều thứ tám, mang sắc thái Đại thừa, là điều mới: tức là đừng chỉ lo tu một mình để giải quyết đau khổ của riêng mình, mà phải thấy được cái khổ của những người xung quanh, phải tu cho tất cả mọi người.
Ngoài ra, còn một điều giác ngộ mới nữa là Bố thí trong tinh thần không kỳ thị, không trách phạt. Như vậy, trong bản kinh Bát đại nhân giác này ta có hai điều giác ngộ mới, còn những điều giác ngộ cũ đã được đề cập đến trong tất cả những điều giác ngộ khác. Các yếu tố niệm, định, tuệ có trong văn bản cũ đã được trình bày theo lối mới. Cái hay là toàn bộ tinh túy của giáo lý đạo Bụt được đưa vào điều giác ngộ thứ nhất. Đó là chúng ta nghiên cứu theo kiểu khoa học, chúng ta thấy được cái tâm của người đang muốn hiện đại hóa đạo Bụt, muốn Đại thừa hóa sự học hỏi và tu tập để cho đạo Bụt được làm mới, để đạo Bụt trả lời được những vấn đề của những người sinh ra vào khoảng thời gian 500 năm sau khi đức Thế Tôn nhập diệt. Chúng ta một phần nào có thể thấy được sự tài ba, sáng tạo của đạo Bụt Đại thừa, tuy kinh này bản chất là kinh Nguyên thủy.

Nếu muốn so sánh các kinh, ta sử dụng bộ Tăng nhất A hàm, kinh 125 của tạng kinh Đại chánh, quyển thứ 37, kinh số 6. Tiếp theo là bộ Trung A hàm cũng bằng chữ Hán, kinh Bát niệm, kinh số 74. Bằng chữ Pāḷi, thì ta dùng kinh Anuruddhā trong Tăng chi bộ (Aṅguttara Nikāya), phần Tám pháp, kinh thứ 30.
