>
Trang chủ Thư viện Tình Thầy trò Bây giờ rõ mặt đôi ta - thư Sư Ông viết cho đệ tử

Bây giờ rõ mặt đôi ta - thư Sư Ông viết cho đệ tử

Email In PDF.
Chỉ mục bài viết
Bây giờ rõ mặt đôi ta - thư Sư Ông viết cho đệ tử
trang 02
Tất cả các trang

Tháng sáu năm 2008, Thầy đã kết thúc chuyến đi viếng thăm và hoằng pháp của Thầy tại quê hương bằng ba tuần lễ sống và thực tập với các con Bát Nhã của Thầy. Trong suốt ba tuần lễ, bắt đầu từ cuối tháng năm dương lịch, Thầy và các con Bát Nhã của Thầy đã được sống chung và thực tập với nhau tại tu viện Bát Nhã. Về nội dung thì đây đích thực là một khóa tu xuất sĩ rất miên mật: sáng nào cũng có ngồi Thiền, hôm nào cũng có pháp thoại, thiền hành, và ăn cơm im lặng trong thiền đường Cánh Đại Bàng. Chiều nào cũng có pháp đàm hay thiền trà. Có khoảng ba mươi vị xuất gia từ Châu Mỹ và Châu Âu có mặt với Thầy, cùng với tăng thân Bát Nhã, chúng ta sinh hoạt như một gia đình tâm linh khoảng 450 người. Mình không gọi nó là một khóa tu nhưng đó là khóa tu miên mật nhất, sâu sắc nhất, và tràn đầy năng lượng tình huynh đệ, tình thầy trò. Có những dấu hiệu cho Thầy biết đây là lần cuối Thầy sống và tu với các con của Thầy ở Bát Nhã, cho nên Thầy đã sống
hết lòng với Bát Nhã và với tăng thân đang ở Bát Nhã. Thầy đã nghĩ rằng có thể chỉ trong một thời gian ngắn nữa thôi thì mình phải rời khỏi Bát Nhã. Nhưng sự thực thì mãi đến mười bốn tháng sau người ta mới trục xuất được mình. Những hôm đi thiền hành tại khuôn viên Bát Nhã, Thầy để ý đến từng tảng đá, từng cây mít, từng bụi sim, và biết rất rõ rằng đây là lần cuối Thầy tiếp xúc với chúng. Thầy mỉm cười với bất cứ cái gì Thầy thấy và Thầy tiếp xúc. Thầy nói: Bây giờ rõ mặt đôi ta.

Phương Khê Nội Viện
Ngày 07 tháng 03 năm 2010

Thư gửi các con Bát Nhã và các con khác của Thầy ở xa và ở gần.

Con Ong Chúa

Thân gửi các con của Thầy,

Khóa tu bảy ngày dành riêng cho người Xuất sĩ tại Làng Mai đã chấm dứt nhưng dư âm cũng như năng lượng hạnh phúc của nó vẫn còn vang vọng và kéo dài. Tăng thân ở Thiền đường Hơi Thở Nhẹ ở Paris cũng như ở Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu ở Waldbroel đã rời khoá tu và về lại trú xứ của mình. Tại Làng Mai, đại chúng đang được thực tập mười ngày làm biếng. Có vị súc ruột, có vị nhịn ăn, có vị nhập thất, có vị viết thư hay đọc sách. Tại Nội Viện, Thầy đang có dịp hoàn tất bản dịch Kinh Nghĩa Túc. Ở đây cũng đang có mười vị nhập thất. Thầy mong rằng ở đâu các con của Thầy cũng đã theo dõi được khóa tu, nghe được các bài pháp thoại, các buổi vấn đáp, các buổi pháp đàm, và các tin tức cũng như hình ảnh của khóa tu. Như các con đã biết, chủ đề của khoá tu là "Làm mới lại Tâm Bồ Đề".

Làm mới lại Tâm Bồ Đề? Chắc các con ai cũng cảm thấy là Tâm Bồ Đề của mình còn mới tinh. Những biến cố xảy ra trong năm qua cũng đã giúp chúng ta nhìn lại và thấy được cái sơ tâm ấy vẫn còn nguyên vẹn, đã không bị tổn thất mà còn trở nên vững mạnh hơn. Sơ tâm là cái quý giá nhất. Còn sơ tâm là còn tất cả. Chúng ta còn sơ tâm mà cũng còn nhau. Chúng ta vẫn còn nhau như một tăng thân dù bị ly tán. Ta không có cảm giác bị ly tán bởi vì sơ tâm còn đó trong mỗi chúng ta. Sơ tâm là con ong chúa. Tất cả đàn ong nhờ có con ong chúa nên bao giờ cũng có cơ hội trở về với nhau, bằng cách này hay bằng cách khác, dưới hình thức này hay hình thức khác. Thầy không lo lắng và Thầy muốn các con cũng đừng lo lắng. Hãy mỉm cười và thấy mình đang có dịp để lớn lên.

Dòng Chảy

Trong khóa tu đại chúng đã nghe và thực tập pháp môn " Thấy mình là một dòng chảy." Khi lễ lạy, ta có thể ý thức được sự có mặt của Cha và Mẹ trong ta, Bụt, Tổ và Thầy trong ta. Và qua các vị ấy, ta tiếp xúc được với hai dòng tổ tiên tâm linh và huyết thống trong ta. Ta thoát ra khỏi cái vỏ bản ngã nhỏ hẹp tạo nên bởi tập khí vô minh. Ta thấy ta là sự tiếp nối của tổ tiên, ta là một dòng chảy chứ không phải là một ao hồ nằm nguyên tại chỗ. Ta cũng thấy được sự có mặt của các em của ta trong ta, cũng như sự có mặt của con em các vị ấy trong ta. Ta đang tự trao truyền ta cho các em và các người trẻ mà ta đang chăm sóc và giáo dưỡng, dù là xuất sĩ hay cư sĩ. Ta thấy họ trong ta và ta trong họ. Ta đang có cơ hội trao truyền những gì tốt đẹp nhất, lành mạnh nhất của ta cho các vị ấy, và đó là một niềm vui, một sự mãn nguyện. Mỗi cái lạy, mỗi hơi thở, mỗi bước chân, mỗi nụ cười đều có giá trị tiếp nhận và trao truyền, giúp ta thấy ta đang là một dòng chảy. Trong những giây phút như thế, vô ngã không còn là một ý niệm mà là một thực tại sống động: ta, tổ tiên ta và con cháu ta đang hợp nhất trong một dòng chảy. Không còn sự ngăn cách, sự hối tiếc, không còn sự cô đơn. Và ta cảm thấy thông suốt, rỗng rang, thư thái và khỏe mạnh.

Cây Anh Đào

Sáng nay khi đi thiền hành bên bờ suối Phương Khê, Thầy thấy mình cũng có thể thực tập như một cây anh đào, một cây táo, hay một cây bưởi. Ở Phương Khê không có bưởi nhưng có táo và anh đào. Chỉ vài tuần lễ nữa thôi là những cây này sẽ nở hoa. Hồi đại chúng ăn Tết thì trời còn rét lắm, sương tuyết vẫn còn nhiều. Nhưng bây giờ thủy tiên ở xóm Thượng đã bắt đầu nở và những nụ hoa ngọc lan ở Phương Khê đã bắt đầu lớn dậy. Hoa anh đào màu trắng và hoa táo màu hồng. Ta thực tập như một cây anh đào hay một cây táo. Khi ngồi thiền, đi thiền, tập thở, chấp tác, pháp đàm, ta nuôi dưỡng ta như cây anh đào đang tiếp nhận ánh sáng, sức ấm mặt trời, mưa, nắng, những chất bổ dưỡng trong lòng đất và trong không khí để cây anh đào chuẩn bị làm lá, làm hoa, làm trái. Để ta có hoa trái của chánh niệm, của hiểu, của thương mà trao truyền lại cho các thế hệ tương lai. Quá trình là một quá trình tiếp nhận, hiến tặng và trao truyền. Cây anh đào làm như thế thì ta cũng làm như thế. Cây anh đào có niềm vui khi làm như thế thì ta cũng có nhiều niềm vui khi làm như thế. Nhìn cây táo rực rỡ với hàng vạn khóm hoa màu hồng chuẩn bị cho sự ra đời của những trái táo tròn trĩnh và trĩu nặng, ta nghe tiếng hát của cây táo. Nhìn một người tu đang tiếp nhận và trao truyền hoa trái của sự thực tập, ta thấy đời người tu cũng là một bài hát.

Đứng yên ngoài hàng dậu,

em mỉm nụ nhiệm mầu.

Lặng nhìn em kinh ngạc

Vừa thoáng nghe em hát,

lời ca em thiên thâu.

Ta sụp lạy cúi đầu.

Đó là bài thơ của một thi sĩ trẻ tên là Quách Thoại mà Thầy đã được gặp lần đầu ở chùa Giác Nguyên, Khánh Hội, năm 1949. Bài thơ ấy có tên là Hoa Thược Dược.

Thầy đang hình dung các con là những đóa hoa đang đứng mỉm cười bên hàng dậu của quê hương và đang hát bài ca của Chánh Pháp. Cái quan trọng là bông hoa không ngưng lại lời hát ca.

Bây Giờ Rõ Mặt

Tháng sáu năm 2008, Thầy đã kết thúc chuyến đi viếng thăm và hoằng pháp của Thầy tại quê hương bằng ba tuần lễ sống và thực tập với các con Bát Nhã của Thầy. Trong suốt ba tuần lễ, bắt đầu từ cuối tháng năm dương lịch, Thầy và các con Bát Nhã của Thầy đã được sống chung và thực tập với nhau tại tu viện Bát Nhã. Về nội dung thì đây đích thực là một khóa tu xuất sĩ rất miên mật: sáng nào cũng có ngồi Thiền, hôm nào cũng có pháp thoại, thiền hành, và ăn cơm im lặng trong thiền đường Cánh Đại Bàng. Chiều nào cũng có pháp đàm hay thiền trà. Có khoảng ba mươi vị xuất gia từ Châu Mỹ và Châu Âu có mặt với Thầy, cùng với tăng thân Bát Nhã, chúng ta sinh hoạt như một gia đình tâm linh khoảng 450 người. Mình không gọi nó là một khóa tu nhưng đó là khóa tu miên mật nhất, sâu sắc nhất, và tràn đầy năng lượng tình huynh đệ, tình thầy trò. Có những dấu hiệu cho Thầy biết đây là lần cuối Thầy sống và tu với các con của Thầy ở Bát Nhã, cho nên Thầy đã sống hết lòng với Bát Nhã và với tăng thân đang ở Bát Nhã. Thầy đã nghĩ rằng có thể chỉ trong một thời gian ngắn nữa thôi thì mình phải rời khỏi Bát Nhã. Nhưng sự thực thì mãi đến mười bốn tháng sau người ta mới trục xuất được mình. Những hôm đi thiền hành tại khuôn viên Bát Nhã, Thầy để ý đến từng tảng đá, từng cây mít, từng bụi sim, và biết rất rõ rằng đây là lần cuối Thầy tiếp xúc với chúng. Thầy mỉm cười với bất cứ cái gì Thầy thấy và Thầy tiếp xúc. Thầy nói: Bây giờ rõ mặt đôi ta. Đây không phải là một giấc chiêm bao. Đây là một sự thật. Thầy cảm thấy tiếc. Không phải tiếc cho Thầy mà tiếc cho Thầy Đức Nghi và tiếc cho cây cỏ núi rừng ở đây sẽ không còn cơ duyên làm trụ xứ cho một tăng thân như tăng thân Bát Nhã. Thầy nhớ lại hôm Thầy Đức Nghi từ chối không làm giấy bảo trợ cho Thầy Pháp Khâm để Thầy Pháp Khâm có thể xin gia hạn thị thực. Nghe Thầy Pháp Khâm thuật lại thì hôm ấy Thầy Đức Nghi nằm quay mặt vào vách và không nói gì. Đó là một trong những dấu hiệu giúp Thầy biết rằng Thầy trò chúng ta sẽ không được tiếp tục ở Bát Nhã. Và Thầy biết trước Bát Nhã sẽ trở thành huyền thoại.

Bát Nhã Trong Tâm

Trong thời gian mà khoảng 200 vị thuộc tăng thân Bát Nhã đang tị nạn tại chùa Phước Huệ ở Bảo Lộc, các em Sa di cũng đã làm được một số báo Thềm Trăng Sa di, có ghi ngoài bìa: ấn bản mùa loạn lạc. Có một bài trong tờ báo ấy nói về chuyện hai sư em vì nhớ Bát Nhã đến đứt ruột nên đã trốn tăng thân lén về thăm Bát Nhã. Các em này vì là dân địa phương nên đã tìm về được Bát Nhã một cách không khó khăn gì. Nhưng khi về tới, các em lại cảm thấy rất bơ vơ, rất buồn khổ. Cũng cảnh vật ấy, nhưng nó lạnh lùng, trống vắng và điêu tàn làm sao! Cũng như Kim Trọng sau khi hộ tang Chú, trở về thăm nhà Viên Ngoại họ Vương. Kiều đã bán mình, đi lưu lạc. Cha mẹ và hai em đã phải dời đi nơi khác, may thuê, viết mướn kiếm ăn lần hồi.

Vội qua vườn Thúy dò la.

Nhìn ra phong cảnh nay đà khác xưa.

Đây vườn cỏ mọc, lau thưa.

Song trăng lạnh lẽo, vách mưa rã rời.

Trước sau nào thấy bóng người

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông

Xập xòe én liệng lầu không

Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày

Cuối tường gai góc mọc đầy.

Đi về này những lối này năm xưa.

Chung quanh lạnh ngắt như tờ.

Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?

Các sư em cũng đã gặp Thầy Đồng Hạnh hôm ấy. Thầy đang bận rộn đi chăm sóc và thu hoạch trà và cà phê. Các em thấy Thầy Đồng Hạnh không còn là thầy Đồng Hạnh năm xưa của các em. Cũng như các cư xá Bếp Lửa Hồng, Mây Đầu Núi, Rừng Phương Bối, v,v... cũng không còn là các cư xá ấy của năm xưa. Bụt ngồi một mình trong thiền đường Cánh Đại Bàng, trong ấy không còn gì cả, kể cả tọa cụ, mõ, chuông, hương đèn. Bàn thờ Phật cũng không có. Bát Nhã không còn là Bát Nhã. Linh hồn của Bát Nhã,  tăng thân Bát Nhã, đã lìa khỏi cái xác Bát Nhã. Bát Nhã bây giờ chỉ là một cái xác không hồn. Cho nên hai sư em đã hối hận. Mình đã đi tìm về Bát Nhã nhưng mình đã không gặp được Bát Nhã, dù Bát Nhã đang sờ sờ trước mặt. Đừng về mà hay hơn. Thì ra Bát Nhã nằm trong tâm của mình chứ không phải ở ngoài.

Tiếc Thương

Có một sư em Bát Nhã đến tham vấn Thầy về vấn đề hiện pháp lạc trú, nói rằng vì cái tiếc thương Bát Nhã còn nặng quá trong em, nên em không thật sự thừa hưởng được cái vui đang có trong giây phút hiện tại. Thầy đã nhìn em với thật nhiều thiện cảm và Thầy nói: Con là một người còn nhiều may mắn, bởi vì con có một cái để tiếc thương. Có những người bất hạnh hơn con nhiều: họ không có gì để tiếc thương cả. Họ chỉ có khổ đau, hệ lụy và hận thù.

Trong thời gian tị nạn ở Phước Huệ, một số không ít các con Bát Nhã của Thầy đã nổ lực thực tập để sống cho được tròn đầy những ngày ở đấy. Thời khoá các con rất miên mật, dù các con biết tình trạng rất bấp bênh, và các con cũng có thể sẽ bị đánh đuổi khỏi Phước Huệ một ngày nào đó như đã bị đánh đuổi khỏi Bát Nhã trước đó. Thay vì ngồi thiền một ngày hai thời, các con đã ngồi tới bốn thời. Thầy Thái Thuận trú trì Phước Huệ đã thấy được giá trị của sự thực tập ấy nên Thầy đã đem hết lòng thương yêu và bảo hộ cho các con. Vì các con tới tị nạn tại chùa Thầy cho nên Thầy đã có cơ hội biết các con là ai. Chứ trước đó Thầy cũng chỉ có một ý niệm không rõ ràng về các con, và cố nhiên là không chính xác bằng ý niệm Thầy có bây giờ. Có hiểu mới có thương nghĩa là như thế. Cơ hội để hiểu và để thương là một điều  may mắn lớn. Mà muốn hiểu thì phải buông bỏ thành kiến và buông bỏ mọi ý định chiếm hữu của mình. Mình là con người, mình có quyền tiếc thương, nhưng mình có thể đi xa hơn. Mình tự đặt câu hỏi: tôi tiếc thương cái ấy vì cái ấy không còn nữa, nhưng trong khi cái ấy đang còn, tôi đã sống hết lòng với cái ấy hay chưa? Cái yếu kém của phần lớn chúng ta là không trân quý và sống hết lòng với những gì ta đang có: một con người, một khung cảnh, một cơ hội. Và đến khi vô thường xảy đến thì ta tiếc thương. Tiếc thương như thế là đã quá muộn: người ấy đã đi rồi, hay đã qua đời. Cảnh vật ấy không còn nữa. Sở dĩ Thầy Bát Nhã của các con không tiếc thương Bát Nhã bởi vì trong ba tuần lễ sống với các con Bát Nhã của Thầy ở đấy, Thầy đã sống hết mình. Thầy đã nhìn từng bông hoa, từng bụi trúc. Thầy đã hỏi: bây giờ rõ mặt đôi ta. Cho nên Thầy không còn tiếc thương. Tiếc là tiếc cho ai đó, thế thôi. Nếu các con đã sống hết lòng với Bát Nhã như Thầy thì các con sẽ không còn tiếc thương Bát Nhã đến nỗi không có khả năng sống an lạc được trong giây phút hiện tại.

Vậy thì trong khi thực tập, ta phải hỏi ta câu ấy: ta đã hết lòng sống với Bát Nhã trong giờ phút Bát Nhã đang biểu hiện hay không? Và ta sẽ đạt được khá nhiều tuệ giác khi ta tự hỏi ta câu hỏi ấy.




Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Lần cập nhật cuối ( Thứ tư, 10 Tháng 3 2010 07:14 )