Chủ nhật, 07 Tháng 3 2010 22:42
Sư Ông Làng Mai
Tháng sáu năm 2008, Thầy đã kết thúc chuyến đi viếng thăm và hoằng pháp của Thầy tại quê hương bằng ba tuần lễ sống và thực tập với các con Bát Nhã của Thầy. Trong suốt ba tuần lễ, bắt đầu từ cuối tháng năm dương lịch, Thầy và các con Bát Nhã của Thầy đã được sống chung và thực tập với nhau tại tu viện Bát Nhã. Về nội dung thì đây đích thực là một khóa tu xuất sĩ rất miên mật: sáng nào cũng có ngồi Thiền, hôm nào cũng có pháp thoại, thiền hành, và ăn cơm im lặng trong thiền đường Cánh Đại Bàng. Chiều nào cũng có pháp đàm hay thiền trà. Có khoảng ba mươi vị xuất gia từ Châu Mỹ và Châu Âu có mặt với Thầy, cùng với tăng thân Bát Nhã, chúng ta sinh hoạt như một gia đình tâm linh khoảng 450 người. Mình không gọi nó là một khóa tu nhưng đó là khóa tu miên mật nhất, sâu sắc nhất, và tràn đầy năng lượng tình huynh đệ, tình thầy trò. Có những dấu hiệu cho Thầy biết đây là lần cuối Thầy sống và tu với các con của Thầy ở Bát Nhã, cho nên Thầy đã sống hết lòng với Bát Nhã và với tăng thân đang ở Bát Nhã. Thầy đã nghĩ rằng có thể chỉ trong một thời gian ngắn nữa thôi thì mình phải rời khỏi Bát Nhã. Nhưng sự thực thì mãi đến mười bốn tháng sau người ta mới trục xuất được mình. Những hôm đi thiền hành tại khuôn viên Bát Nhã, Thầy để ý đến từng tảng đá, từng cây mít, từng bụi sim, và biết rất rõ rằng đây là lần cuối Thầy tiếp xúc với chúng. Thầy mỉm cười với bất cứ cái gì Thầy thấy và Thầy tiếp xúc. Thầy nói: Bây giờ rõ mặt đôi ta.
Lần cập nhật cuối ( Thứ tư, 10 Tháng 3 2010 07:14 )
Thứ bảy, 20 Tháng 2 2010 10:34
Tăng thân Làng Mai
Kính bạch Thầy, chúng con biết muốn làm cho Thầy hạnh phúc thì không
phải dâng cúng những món ngon, vật lạ sang trọng hay những chiếc áo ấm
v,v,, mà là mỗi chúng con phải biết quán chiếu để thấy Thầy luôn có mặt
trong mỗi chúng con, phải thấy rằng mình là sự tiếp nối của Thầy. Vì
vậy muốn thương Thầy thì chúng con phải biết chấp nhận, cảm thông,
thương yêu, tha thứ, đùm bọc, che chở, dìu dắt cho nhau trên bước đường
tu học và cùng nắm tay nhau để xây dựng một tăng thân có hòa hợp, có
thực chất tu học để làm chỗ nương tựa vững chãi cho mọi người. Làm được
như thế là chúng con đã xứng đáng là đệ tử của Thầy, làm được như thế
là chúng con đã có thể đem lại niềm vui lớn cho Thầy rồi.
Lần cập nhật cuối ( Thứ bảy, 20 Tháng 2 2010 10:49 )
Thứ bảy, 13 Tháng 2 2010 15:40
BBT
Phát hành ngày 14.02.2010

Bìa 1
Lần cập nhật cuối ( Chủ nhật, 21 Tháng 2 2010 19:38 )
Thứ sáu, 12 Tháng 2 2010 15:13
Thiền sư Nhất Hạnh
Triệu tập đại hội các truyền thống tôn giáo và nhân bản để thảo luận về một nền đạo đức toàn cầu, đưa ra một văn bản không có tính cách tôn giáo để làm căn bản thực tập của cả nước về một nền đạo đức toàn cầu có công năng lành mạnh hóa và từ bi hóa xã hội và cứu hộ được hành tinh. Mỗi truyền thống đưa ra văn bản thực tập của mình (như đạo Phật đưa ra văn bản Năm Giới Tân Tu) để chia sẻ và đóng góp. Tổ chức các buổi trao đổi học hỏi và đàm luận về phương pháp ứng dụng văn bản trong đời sống gia đình, học đường và sở làm. Tổ chức ôn tụng văn bản hàng tháng tại chùa, giáo đường, nhà văn hóa, thánh thất, thư viện, v.v... và đàm luận về phương pháp ứng dụng văn bản. Các viên chức chính quyền cũng đi ôn tụng văn bản đạo đức học như dân chúng.
Lần cập nhật cuối ( Chủ nhật, 14 Tháng 2 2010 00:23 )
Thứ năm, 11 Tháng 2 2010 01:34
Sư Ông Làng Mai
Steve hỏi tôi ăn cái thứ hạt dưa ấy thì có ích lợi gì. Tôi nói: có nhiều cái lợi lắm chứ. Ở đây tuy người ta ăn rất nhiều trong các cuộc lễ, lễ giáng sinh, lễ tạ ơn vân vân… nhưng người ta không nói đến tiếng ăn. Còn bên xứ chúng tôi người ta nói thẳng thắn là ăn. Ăn Tết, ăn lễ sinh nhật, ăn cưới, ăn hỏi, ăn khảm tháng, ăn ngũ tuần, ăn lục tuần, ăn thượng thọ, ăn giỗ, vân vân… Mà Tết thì kéo dài những ba ngày; trong ba ngày liền phải ăn luôn miệng.
Trích từ sách Nẻo Về Của Ý
Những dòng chữ này có lẽ sẽ đến tay Nguyên Hưng vào những ngày cuối năm, trong khi ở các chợ Saigon thiên hạ đang tấp nập mua bán. Tôi có thể tưởng tượng được những núi dưa hấu cao ngất, những trái dưa hình thật tròn, da thật xanh và ruột đỏ thắm. Mùa này, ở đây, không sao tìm ra được một trái dưa hấu. Nếu có thì chắc chắn thế nào tôi cũng mua một vài trái rồi gọt thành những cái đèn dưa thật đẹp rồi. Hôm qua tôi có nhận được từ bên nhà gởi qua một gói quà tết, trong đó có mấy miếng trầm, mấy cây đèn bạch lạp, một hộp trà, một ít mức gừng, một ít mức trái tắc, và hạt dưa… Tôi mừng lắm. Tối qua, như một người rất nhàn rỗi, tôi đun nước pha trà, thắp bạch lạp và ngồi cắn hạt dưa một mình. Steve không chịu cắn hạt dưa, nói cho đúng là không biết cắn hạt dưa. Steve cũng không thể ăn mứt gừng; chú ta có nếm một tí và nhăn mặt kêu cay quá. Cậu chỉ uống được trà và nhắm nháp ít trái tắc.
Steve hỏi tôi ăn cái thứ hạt dưa ấy thì có ích lợi gì. Tôi nói: có nhiều cái lợi lắm chứ. Ở đây tuy người ta ăn rất nhiều trong các cuộc lễ, lễ giáng sinh, lễ tạ ơn vân vân… nhưng người ta không nói đến tiếng ăn. Còn bên xứ chúng tôi người ta nói thẳng thắn là ăn. Ăn Tết, ăn lễ sinh nhật, ăn cưới, ăn hỏi, ăn khảm tháng, ăn ngũ tuần, ăn lục tuần, ăn thượng thọ, ăn giỗ, vân vân… Mà Tết thì kéo dài những ba ngày; trong ba ngày liền phải ăn luôn miệng. Đi đâu, gặp ai mời, cũng ăn, cũng phải ăn. Mà thức ăn cũng mau no, chỉ có hạt dưa là ăn mãi không no. Như vậy cái lợi thứ nhất là ăn mãi mà không sợ phải no. Cái lợi thứ hai là ăn hoài mà không sợ hại cho sức khỏe. Ăn cái gì nhiều cũng có thể đau bụng, đau gan, trúng thực nhưng mà ăn hột dưa thì không sao; vì tuy cái miệng ăn hoài mà cái dạ dày không bao giờ đầy. Cái lợi thứ ba là đỡ phải nói chuyện nhất là khi ta không biết chuyện gì mà nói. Dù sao thì cái miệng của tôi cũng đang làm việc mà: Tôi ít nói vì cái miệng tôi đang ăn hạt dưa, chứ không phải làtôi không biết nói chuyện. Cái lợi thứ tư là tránh được cái hại đa ngôn đa quá. Hạt dưa dạy người ta ít nói, dạy người ta im lặng để suy nghĩ về những điều mình muốn nói, dạy người ta biết nghe những người khác. Từ đứa trẻ năm tuổi cho đến ông già tám mươi ai cũng có thể dạy cho ta được nhiều điều bằng các câu chuyện của họ - người ta thường là thế. Hạt dưa khiến cho ta chín chắn hơn, và giúp ta tránh được những câu nói vô ích, lầm lỡ, nhất là câu tuyên bố bừa bãi không dựa trên căn bản suy tư và nhận xét nào cả. Trong trường hợp này, biết thì thưa thốt, không biết thì “cắn hạt dưa” mà nghe. Khỏi phải dựa cột. Steve cười ngất khi nghe tôi nói như vậy và bảo rằng tôi có thể viết những ý đó thành bài nói về cái triết học của hạt dưa đỏ.
Ở nơi Nguyên Hưng ở, bây giờ đã bớt rét chưa? Bên này cố nhiên là trời còn rét lắm. Còn độ hai tháng nữa mùa đông mới qua. Tôi chắc ở chùa Từ Hiếu, các đồi thông đã bắt đầu xanh mướt rồi. Các đọt thông ở đấy vào mùa Xuân sao mà thẳng mà đẹp đến thế. Tôi biết thế nào Nguyên Hưng cũng để rất nhìêu thì giờ đi giữa những cây thông xanh mướt. Tôi chưa bao giờ nỡ bẻ một cành thông, thế nhưng tôi biết những đồi thông mang nhiều thương tích vào những ngày đầu Xuân khi thiên hạ đi hái lộc. Một cái vườn chùa đẹp đến mấy mà sau bữa hái lộc cũng trở thành xác xơ. Tôi nhớ có một năm nọ, chùa Xá Lợi phải trồng một ít cành thông để cho tín đồ hái lộc, như vậy đỡ hại cho những cây cảnh mà chùa phải săn sóc hết hơi mới có lên được. Tôi không biết cái gì đã xảy ra vào tối giao thừa. Không lý chùa phải yết thị rằng hái lộc thì chỉ được hái những cây thông còn các cây khác thì chừa ra. Nếu thế thì sẽ không ai hiểu tại sao. Mà nếu hiểu tại sao thì người ta sẽ không hái lộc nữa, bởi vì người ta nghĩ những cành thông kia không phải thực sự hút nhựa từ đất Phật, không thật sự mọc lên từ đất Phật. Cái tục hái lộc thì thật đẹp nhưng mà đông người hái lộc quá thì không còn đẹp nữa. Tôi nghĩ đến những buổi cầu nguyện đông đảo những buổi thuyết pháp đông đảo và tôi ao ước chúng ta còn có thể duy trì được những cảnh chùa thật thanh tịnh, những buổi gặp mặt truyền tâm giữa một thầy và một trò. Tôi ưa đi vào một chánh điện thanh tịnh và nhỏ bé, một chính điện dành cho sự đối thoại cá nhân giữa con người và đức Phật. Sự đối thoại ấy mới dễ trở thành một sự đối thoại tâm linh của chính mình. Chùa chiền và giáo đường bây giờ có khuynh hướng xây cất cho sự cầu nguyện tập thể. Đó là nhu yếu. Tôi cũng khát khao sự truyền tâm giữa một thầy một trò trong đó trò biết là tất cả con người của thầy đang hướng về mình, kêu gọi sự thức tỉnh và đáp ứng nơi mình, và thầy cũng biết là trước mặt mình cũng chỉ có một trò với tất cả con người trọn vẹn và đặc thù của nó. Trong đại hội Linh Sơn, khi Phật đưa cành hoa lên thì chỉ có Ca Diếp mỉm cười. Đột nhiên đại hội Linh Sơn biến mất, sự có mặt của mọi người trở nên không có. Chỉ có hai người: Phật và Ca Diếp là những người thật sư có mặt. Đám đông Nguyên Hưng ơi, trong những trường hợp như thế, chỉ là một con số không.
Có một buổi chiều đi bộ từ Nam Giao lên chùa tôi gặp một đoàn thiếu niên thiếu nữ Phật tử đi cắm trại từ các đồi thông Từ Hiếu về. Họ đi rải rác, người đi bộ, kẻ đi xe đạp. Người đầu tôi gặp cầm trên tay một cành thông. Người thứ hai cũng vậy. Rồi người thứ ba cũng vậy. Rồi đến cả đoàn. Tôi thấy xót ruột và đau xót cho những đồi thông. Có lẽ ngày Tết cơ sự cũng xẩy ra tương tợ như thế. Tết nầy Nguyên Hưng nhớ “bảo vệ” giúp các đồi thông nhé.
Giờ mà Nguyên Hưng đón giao thừa bên đó thì bên này là giữa trưa. Nghĩ cũng là một điều hay. Năm ngoái tôi đón giao thừa ở Princeton vào lúc mười hai giờ trưa, cùng với một em bé Việt Nam mời được ở cách đó không xa. Giờ đó, thành phố đó, thời tiết đó mà trong phòng chúng tôi cũng có giao thừa. Thiên hạ bên này vẫn đi làm việc tám giờ một ngày, chẳng ai để ý rằng ở Việt Nam Nguyên Hưng đang đón giao thừa, đang ăn Tết. Tại vì tôi biết tôi còn ở đây cho nên tôi cũng biết Nguyên Hưng còn ở đó, Việt Nam còn ở đó, và đêm Giao thừa vẫn hiện hữu. Tất cả chỉ là vấn đề nhận thức, chủ thể nhận thức không rời đối tượng nhận thức. Tôi nhớ có một bữa trưa tôi vào đọc sách nơi phòng triết học của thư viện Butler. Khi vào, tôi chỉ thấy có hai người đang ngồi tra cứu, hai người đàn ông lớn tuổi. Bữa đó tôi đi tìm đọc một cuốn sách của giáo sư Sneider. Đọc được một lúc, không biết rõ là bao lâu, bỗng dưng tôi thoáng thấy mùi hoa bưởi. Ban đầu tôi ngạc nhiên hết sức vì tôi nghĩ rằng ở địa phương này làm gì có hoa bưởi. Nguyên Hưng nên nhớ rằng tôi xa nhà đã lâu và bất cứ hình sắc âm thanh hương vị nào của quê hương đối với tôi cũng vô cùng quý giá, cứ tưởng tượng ngòi tại một xứ xa thật xa, mấy năm trời tự dưng được nghe thấy mùi hoa bưởi kỳ diệu ấy:
Bông lài, bông lý, bông ngâu, Chẳng bằng bông bưởi thơm lâu, dịu dàng.
Mùi hoa bưởi, mùa hoa của quê hương của ca dao, tôi không đọc Sneider được nữa. Tôi suy nghĩ, và tôi kết luận rằng mùi đó không có thực, không phải là từ tánh cảnh, đới chất cảnh mà từ độc ảnh cảnh tới, nghĩa là ảnh tượng khứu giác được phát hiện trở lại từ tiềm thức. Như thế thì đã có một vài lần tôi trải qua trường hợp ấy rồi. Tôi yên trí, tiếp tục đọc Sneider. Nhưng chỉ một lát sau, mùi hoa bưởi trở lại, hiện thực hơn nhiều, khiến tôi ngừng đọc, ngồi xét lại. Tôi nghĩ rằng có người nào mới vào phòng đọc sách, trong số đó có thể có một cô nữ sinh có sức nước hoa mùi hoa bưởi. Kỳ thực tôi không biết có thể có thứ nước hoa chế tạo bằng hoa bưởi không. Nhưng tôi cứ cho là có. Và tôi nghĩ, trong lúc đầu vẫn cứ nhìn vào trang sách như từ khi mới ngồi xuống đọc, rằng người phụ nữ trang điểm bằng thứ nước hoa kia phải là một người thanh nhã, có dáng dấp Việt Nam, ít nhất là dáng dấp đông phương. Có một cái gì thúc đẩy tôi nhìn lên coi ai mang theo mùi hoa bưởi thân yêu đó. Nhưng mà tôi vẫn không ngửng đầu lên. Tôi tinh nghịch nhủ rằng nếu ngửng đầu lên và tìm thấy một người không giống gì hết với sự tưởng tượng, nghĩa là một người không trang nhã, không có tính cách đông phương, một người béo tốt đẫy đà phấn son trát đầy đầu đầy cổ thì tôi sẽ bị nếm một thứ thất vọng nào đó. Như vậy mà tôi ngồi cho tới năm phút, không ngững đầu lên mà cũng không đọc Sneider. Rồi kết cuộc thì ra làm sao, tôi biết, Nguyên Hưng sẽ hỏi. Nhưng mà tôi không nói đâu, Nguyên Hưng tự đoán lấy. Ai dại gì mà nói điều ấy cho Nguyên Hưng nghe. Tôi mắc cở lắm. Chỉ khi nào Nguyên Hưng giỏi thật giỏi không cần biết tới các kết thúc của câu chuyện thì tôi mới nói cho Nguyên Hưng nghe mà thôi.

Lần cập nhật cuối ( Thứ sáu, 12 Tháng 2 2010 22:18 )
Thứ bảy, 06 Tháng 2 2010 07:51
Sư Ông Làng Mai
Bạn có rất nhiều việc cần làm và bạn rất thích làm những việc ấy. Làm việc đem lại cho bạn nhiều hứng thú và niềm vui, nhưng làm việc nhiều quá, lo toan nhiều quá thì rất mệt. Bạn muốn thực tập thiền quán để được thảnh thơi hơn, để có thêm sự an lạc và niềm vui sống hàng ngày. Thế nhưng bạn không có thì giờ mỗi ngày để dành cho thiền tập. Vậy phải làm sao đây? Cuốn sách này sẽ đem đến giải pháp cho bạn.

|
BBT xin giới thiệu đến bạn đọc quyển sách "Thiền Tập Cho Người Bận Rộn"
của Sư Ông, và đã được nhà xuất bản Thanh Niên phát hành ngày
22.01.2010. Nếu các bạn muốn có quyển sách này trong tay để đọc hoặc để
tặng bạn bè, xin liên hệ phuongnambook.com để có thể biết thêm chi tiết.
Các bạn cũng có thể đọc trên trang nhà langmai.org. Chúc bạn có nhiều niềm vui và thành công trong sự thực tập
|
Lần cập nhật cuối ( Thứ bảy, 06 Tháng 2 2010 14:29 )
Thứ ba, 19 Tháng 1 2010 00:00
Thiền Sư Nhất Hạnh

Bát Nhã là cơ hội để mình quán chiếu sự thật và tìm ra được bình an trong tâm mình. Không có bình an thì làm sao có hạnh phúc. Mà làm sao để có bình an khi mình chưa thực sự tin vào con đường mà mình đang đi, và nhất là không có niềm tin nơi những người được xem như là bạn đồng hành? Có phải là mình đang cùng ngủ chung trên một chiếc giường, nhưng mỗi người đều có riêng một giấc mộng? Tại sao mình không chia sẻ những cái ưu tư và cái cảm nghĩ của mình với những người mà mình gọi là đồng chí, có phải vì mình sợ bị lên án là đánh mất lập trường? Tại sao tất cả mọi người đều cùng nói như nhau về cái ấy, trong khi không một ai thật sự tin vào cái ấy, cũng giống như trong một câu chuyện cổ tích của Hans Christian Andersen, tất cả các quan trong triều đều khen là vua đang mặc một cái áo rất đẹp, trong khi đó thật sự vua đang ở trần?
Lần cập nhật cuối ( Thứ năm, 21 Tháng 1 2010 06:20 )
Thứ hai, 04 Tháng 1 2010 21:12
Con của Thầy
Chúng con sẽ luôn luôn nhắc nhở nhau, giữ gìn Tâm Bồ Đề thật vững chắc. Bát Nhã không bao giờ mất. Công trình mà Thầy trò mình xây dựng ở Bát Nhã là tình huynh đệ. Dù ở nơi nào cũng thế, mình cũng chỉ có một công trình đó mà thôi. “Công trình xây dựng ngàn đời. Nhưng công trình em xem, đã được ngàn đời hoàn tất.” Có tình huynh đệ là có Bát Nhã và tất cả.
Lần cập nhật cuối ( Thứ hai, 04 Tháng 1 2010 21:31 )
Chủ nhật, 03 Tháng 1 2010 21:55
Giáo sư sử học Nguyễn Lang
Đây là sơ lược về tiểu sử của cụ Thiều Chửu, tác giả sách Hán Việt Tự Điển (kết hợp từ tài liệu của hai học giả Trần Việt Quang và Nguyễn Hải Trần và những lời kể lại của các vị học trò còn sống của cụ, trong đó có sư bà Đàm Ảnh, chùa Phụng Thánh Hà Nội).
Cư Sĩ Thiều Chửu tên là Nguyễn Hữu Kha sinh năm Nhâm Dần (1902) tại làng Trung Tự – phường Đông Tác – Kim Liên – Hà Nội. Cư Sĩ xuất thân từ nhà nghèo phải lao động vất vả từ nhỏ, nhờ bà nội là một người mộ đạo Phật và biết chữ Hán dạy dỗ, được bác ruột hiếm con kèm cặp, lại vốn sáng dạ và rất chăm học nên ông đã sớm có căn bản Hán văn. Với quyết tâm vừa làm vừa học, dần dần ông đã có một số kiến thức văn hóa lớn và hiểu ngày càng sâu về Tam học và thông thạo tiếng Anh, Pháp và Nhật.
Lần cập nhật cuối ( Chủ nhật, 03 Tháng 1 2010 22:39 )
Thứ bảy, 02 Tháng 1 2010 11:00
BAN BIÊN SOẠN
Mục Lục
Làng Mai không phải chỉ là một trung tâm thực tập thiền học mà còn là một tư trào văn hóa. Có cội nguồn Việt Nam, nhưng Làng Mai đã đối diện và tiếp thu những yếu tố của các cội nguồn văn hóa khác trên thế giới để trở nên một tư trào, một nếp sống mà bất cứ từ quốc gia nào, chủng tộc nào hay văn hóa nào, mỗi khi tới với Làng Mai, ai nấy đều cảm thấy thoải mái, an lạc và tìm lại được mình và cội nguồn của mình. Cách sống, cách thương yêu, cách làm việc, cách thực tập, cách tiếp xử theo Làng Mai đã đem lại niềm vui sống, nguồn tin yêu và sự hòa giải đến cho những người đã có duyên được tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với Làng Mai. Hiện đã có gần một ngàn tăng thân và cơ sở trên thế giới đang thực tập và sống theo nếp sống Làng Mai. Có nhiều bạn muốn tìm hiểu thêm về Làng Mai. Từ Điển Làng Mai sẽ giúp các bạn hiểu thêm về nếp sống và tư trào văn hóa Làng Mai. Những từ ngữ nào có mang ý nghĩa đặc biệt của Làng Mai đều có thể được tìm thấy trong Từ Điển này. Những danh từ Phật học không mang màu sắc, không mang những ý nghĩa đặc biệt của Làng Mai và có thể tìm thấy trong bất cứ bộ Từ Điển Phật học nào, thì sẽ không có trong Từ Điển Làng Mai. Những thuật ngữ Làng Mai, những pháp môn tu tập của Làng Mai, những kinh sách của Làng Mai, những cơ sở và tăng thân của Làng Mai trên thế giới, những khóa tu, những bài tụng, những bài hát của Làng Mai, những giai thoại về Làng Mai, tên tuổi những vị giáo thọ Làng Mai, những vị xuất gia Làng Mai, v.v… đều có thể tìm thấy trong Từ Điển Làng Mai.
* Hiện giờ, từ điển trực tuyến đang thực hiện, tuy nhiên vì gặp vài trục trặc nên chưa hoàn tất được, tạm thời xin các bạn có thể tải từ điển làng mai dưới dạng pdf (trên) để coi.
Lần cập nhật cuối ( Chủ nhật, 03 Tháng 1 2010 22:36 )
Thứ ba, 29 Tháng 12 2009 23:16
Con của Thầy
Kính bạch Thầy,
Sáng nay con thức dậy sớm đọc thư của Thầy. Thầy nói đúng quá! Ngọn lửa Bát Nhã đã cháy muôn phương. Nó quả là “Hoa sen trong biển lửa.” Dù con không ở Bát Nhã, nhưng trái tim và trí óc của con đang hướng về Bát Nhã và cũng đang hướng đến tâm liêm khiết, tâm từ bi với các anh chị em của con ở bên kia. Con có điện thoại về hỏi thăm một sư em con về tình hình Bát Nhã/Phước Huệ. Con sợ sư em con không chịu nỗi cảnh ấy, bởi sư em là một công chúa thứ thiệt của gia đình trước khi đi tu. Nhưng sư em đã nói rằng, “Thật đáng sống! Trái tim ban đầu vẫn cháy rực.” Đây là lần đầu tiên trong cuộc đời mà sư em được chứng kiến và tham dự một sự kiện anh dũng và oanh liệt. Sư em nói sư em vẫn còn tốt lắm vì sư em rất hạnh phúc khi có tình chị em, tình Tăng thân. Nó là “chiếc thuyền vượt biển.”
Ngồi viết thư này cho Thầy mà lòng con trỗi dậy biết bao nhiêu niềm biết ơn đến với một vị Thầy khả kính của chúng con. Con kính lạy tạ ơn Thầy, lạy tạ một cuộc đời thánh thiện mà không ngừng khám phá và mở đường cho thế hệ trẻ chúng con đi. Pháp nạn Bát Nhã là chứng tích của lòng từ bi, của liêm khiết, của hướng thượng và hòa bình. Nó cho thấy pháp môn của mình quả thật là hữu hiệu. Con thấy bây giờ pháp nạn cũng không phải là pháp nạn nữa, bởi vì pháp nạn đã trở thành mưa pháp trải khắp cùng nhân thế, để hạt đậu năm xưa được nảy mầm. Đó cũng là nhờ hành động không bạo động của Tăng Thân Bát Nhã.
Con nghĩ sự việc Bát Nhã đã cho người ta một cơ hội nhìn lại đất nước mình, nhìn lại con đường tâm linh và nhìn lại cách nhận thức của mỗi người. Và khi nhìn lại, họ sẽ thấy sự thánh thiện trong sự việc Bát Nhã qua cách hành sử không bạo động với nhiều tình thương của Tăng Thân Bát Nhã. Sự việc Bát Nhã đã có rất nhiều người trẻ theo dõi và lên tiếng. Đó chứng tỏ rằng người trẻ Việt Nam có tâm chí muốn thoát khỏi cảnh hệ lụy, mua chuộc và bất công của xã hội và đất nước, để họ có thể sống như những đồng chí ngày xưa bảo vệ đất nước và dân tộc mình trong tình huynh đệ.
Thưa Thầy, có một hôm con đi kinh hành và niệm Bụt cùng đại chúng. Con thấy hình bóng Thầy hiện ra trước mặt con. Con mỉm cười và thấy rằng Thầy là Bụt của chúng con. Rồi mỗi bước chân, con đồng niệm Bụt và niệm Thầy. Sự thực tập này rất nuôi dưỡng và nó cho con rất nhiều bình an. Trong cuộc đời của con, con chưa bao giờ thấy ai sống có bản lĩnh như Thầy. Con biết nhờ có Thầy mà con có rất nhiều niềm tin với ngôi Tam bảo, có nhiều hiểu biết hơn về các vị Tổ sư và có nhiều tình thương hơn về ông bà tổ tiên và cha mẹ của con.
Thầy kính thương của con, con là đệ tử của Thầy. Con cũng rất muốn sống và tu tập như Thầy, để con có thể là một người đệ tử tiếp nối xứng đáng của Thầy. Con cảm ơn cuộc đời mầu nhiệm vì con đã biết trở về với cuộc sống tâm linh này. Con đã tìm được ra Thầy và con đã tìm ra được Tăng thân. Được sống gần với những con người vĩ đại, dám lên tiếng nói cho hòa bình, cho chính trực, con cảm thấy thương cuộc đời này và cảm thấy thật đáng sống.
Con nguyện sẽ sống đẹp mỗi ngày cho Thầy, cho Bụt và cho cuộc đời.
Con của Thầy
Thứ hai, 28 Tháng 12 2009 06:43
Sư Ông Làng Mai
Những trận mưa Bát Nhã đã rơi xuống mặt đất và đã làm nẩy lên hạt giống Bồ đề, hạt giống bồ đề trong trái tim của Đôn Nghiêm, trong trái tim của các con và trong trái tim của bao nhiêu người trẻ khác. Đó là những hạt giống Kim cương bất hoại, không có ngọn lửa nào có thể đốt cháy. Bát Nhã sẽ tái sinh trong những hình thức mới vì hạt giống Bồ đề của nó đang có mặt khắp nơi.
Lần cập nhật cuối ( Thứ sáu, 08 Tháng 1 2010 12:02 )
Thứ hai, 21 Tháng 12 2009 22:58
Con của Thầy
Thầy kính thương của chúng con,
Mỗi buổi sáng thức dậy biết rằng Thầy vẫn còn đó chúng con vô cùng hạnh phúc và biết ơn. Đây không phải là lá thư đầu tiên mà con viết cho Thầy. Con viết thư cho Thầy nhiều lắm, nhưng những lá thư con viết cho Thầy đều nằm trong quyển nhật ký của con. Hôm nay con muốn tách một lá thư mà con mới viết xong trong nhật ký để gửi cho Thầy. Con muốn chia sẻ niềm hạnh phúc to lớn và lòng biết ơn của con với người Thầy kính thương của chúng con.
Lần cập nhật cuối ( Thứ năm, 24 Tháng 12 2009 11:27 )
Thứ tư, 16 Tháng 12 2009 22:56
Sử Gia Nguyễn Lang
Tác giả: Sử gia Nguyễn Lang
(Nguyên văn chưa bị kiểm duyệt)
Khuynh hướng thân kháng chiến của các tổ chức Phật giáo
Mặt trận kháng chiến Sài Gòn rồi Hà Nội và Huế tan vỡ; tang tóc gieo trên quê hương càng lúc càng nhiều. Một số tăng sĩ và cư sĩ làm việc trong kháng chiến rút theo về các căn cứ chiến khu. Những tăng sĩ và cư sĩ khác tại các địa phương tản cư cũng cùng với đồng bào từ từ hồi cư tìm về nơi trú cũ.
Lần cập nhật cuối ( Thứ bảy, 19 Tháng 12 2009 14:15 )
Thứ hai, 14 Tháng 12 2009 18:51
Sư con của Thầy
Thầy kính thương của chúng con,
Những ngày qua con ý thức rằng mình thật may mắn để được ở Sơn Cốc, hưởng năng lượng an lành, ấm áp nơi ngôi nhà này. Những giờ phút con ngồi cùng các chị em đọc những trang hồi ký của Thầy, con được hiểu biết sâu sắc thêm về Thầy. Con xúc động, thán phục và tự hào về những chặng đường Thầy đã đi qua. Hơn bao giờ hết con học được những bài học vô giá từ sự sống của Thầy. Con biết ơn vô cùng!
Lần cập nhật cuối ( Thứ hai, 28 Tháng 12 2009 15:51 )
|
|