Chuyển đến nội dung. | Chuyển đến mục định hướng

Các công cụ cá nhân
Mục
Bạn đang ở: Trang chủ Pháp đường Pháp thoại phiên tả Tìm lại Giáng Kiều

Tìm lại Giáng Kiều

Kính thưa quý thầy, quý sư cô và các vị, học đạo tức là đi tìm một con đường đưa ta tới sự vượt thoát khổ đau và đem lại hạnh phúc cho ta và cho những người ta thương. Không phải chỉ những vị xuất gia mới cần tìm học đạo mà tất cả chúng ta đều cần đi tìm con đường cho chúng ta. Mục đích của sự học đạo là tìm thấy con đường (kiến đạo). Nhưng thấy được con đường chưa chắc ta đã đi được trên con đường đó. Có những người đọc sách, nghe kinh, nghe giảng, biết rằng mỗi khi bị sự giận hờn chi phối thì phải thực tập thở và đừng nói năng. Chúng ta biết là mỗi khi bị cơn giận chi phối thì lời nói và hành động của ta có thể gây đổ vỡ, đào sâu hố chia cách giữa ta và người. Chúng ta cũng được dạy là mỗi khi giận dữ thì phải nắm giữ hơi thở, đừng nói, đừng làm gì hết để tìm cách thiết lập sự bình yên trong trái tim. Nhưng mỗi khi cơn giận trào lên thì chúng ta vẫn cứ nói và vẫn cứ làm. Chúng ta chứng tỏ sự bất lực của chúng ta. Cho nên tu đạo, giai đoạn thứ ba, tức là phải thực tập, thực tập cái mà mình đã thấy, đã hiểu.

Tu hành có bạn

Có câu ngạn ngữ là ăn cơm có canh, tu hành có bạn. Nếu chúng ta không có những người bạn cùng thực tập thì sự thực tập đó trở thành khó khăn. Do đó trong đạo Bụt sau khi chúng ta quy y Bụt, quy y Pháp, thì chúng ta phải quy y Tăng. Tăng ở đây là đoàn thể của những người cùng thực tập, cùng đi trên một con đường. Tăng không phải là danh từ để chỉ riêng cho những người xuất gia. Những người tại gia cũng thuộc về Tăng. Tăng thân gồm có bốn thành phần: các thầy, các sư cô, nam cư sĩ và nữ cư sĩ. Bốn thành phần đó được gọi là tứ chúng. Tăng (Sangha), được dịch bằng tiếng Hán Việt là chúng. Để có thể thực tập được, ta cần sự có mặt của các thầy và các sư cô nhưng ta cũng cần sự có mặt của những người cư sĩ, nam và nữ, bên cạnh ta. ‘‘Ăn cơm có canh, tu hành có bạn’’, nếu chúng ta không có bạn tu thì dù chúng ta hiểu đạo đi nữa, sự tu học cũng trở thành rất khó khăn. Ở Á Châu, chúng ta lại nghe câu là tăng ly chúng tăng tàn, hổ ly sơn hổ bại, nghĩa là người tu học mà xa lìa đoàn thể tu học của mình thì sẽ thất bại trong sự tu học; cũng như con cọp khi lìa khu rừng của nó và đi xuống đồng bằng thì thế nào cũng bị con người bắt giết và lột da. Nếu quý vị thực sự muốn thực tập pháp môn mà đức Thế Tôn đã dạy thì quý vị phải thực tập với một tăng thân, tức là một đoàn thể tu học. Quy y Tăng không phải chỉ là một vấn đề tín ngưỡng mà là một vấn đề thực tập. Quy y Tăng có nghĩa là phải sinh hoạt chung với một đoàn thể tu học, phải tham dự những ngày tụng giới, những buổi pháp đàm, những ngày tu học. Quy y Tăng không có nghĩa là đọc lên một công thức. Khi đã quy y Tăng và được sự yểm trợ bởi những thành phần khác trong tăng thân, chúng ta sẽ đạt được những kết quả mong ước, cái đó gọi là chứng đạo. Chứng đạo không có nghĩa là phải làm một vị xuất gia. Ta hãy lấy ví dụ về thiền hành. Xung quanh chúng ta có những người anh, có những người chị, có những người em đã biết thực tập thiền hành. Họ thấy rằng đi thiền hành rất cần thiết trong những lúc tâm ta có sự giận hờn, xáo động và buồn rầu. Những người ấy mỗi khi nghe nói đến phương pháp thiền hành thì mắt họ sáng ra, tại vì họ có đức tin nơi pháp môn ấy. Khi có chất liệu của niềm tin trong trái tim, chúng ta mới quyết tâm thực tập. Chúng ta biết rằng mỗi khi có một niềm lo lắng hay một nỗi giận hờn mà thực tập phương pháp thiền hành thì thế nào chúng ta cũng đạt được sự chuyển hóa và thuyên giảm. Đó là kinh nghiệm của bản thân, đó cũng là kinh nghiệm của những người bạn tu của chúng ta, đã tu lâu hay là mới tu.

Học đạo có nghĩa là đi tìm con đường. Nhờ có thầy có bạn, chúng ta thấy được con đường, con đường chuyển hóa khổ đau, đem lại an lạc và hạnh phúc. Nhưng thấy được con đường chưa có nghĩa là chúng ta đi được trên con đường. Vì vậy cho nên, sau khi học đạo và thấy đạo, chúng ta phải tu đạo, nghĩa là phải hạ thủ công phu. Hạ thủ công phu không phải là vấn đề dễ nếu chúng ta không có những người bạn tu. Nếu chúng ta có một đoàn thể tu học và tu học chuyên cần theo đoàn thể đó thì chắc chắn chúng ta sẽ đạt tới kết quả của sự tu học, nghĩa là thoát khổ và bắt đầu có hạnh phúc.

Chăm sóc bản thân

Trong số những người mà chúng ta nguyện thương yêu và chăm sóc, có cả bản thân của chúng ta. Theo lời dạy của đức Thế Tôn, nếu ta không có khả năng chăm sóc và thương yêu bản thân thì ta sẽ không có khả năng chăm sóc và thương yêu một người khác. Bản thân ta gồm có thân thể, cảm giác, tri giác và tâm tư. Thân thể ta, ta phải chăm sóc bằng cách ăn uống và làm việc có chánh niệm. Chúng ta nguyện chỉ ăn những thức ăn có tác dụng nuôi dưỡng và ngăn ngừa tật bệnh. Chúng ta biết rằng nếu không có chánh niệm khi ăn uống thì chúng ta sẽ đưa vào cơ thểnhững độc tố và sau này chúng ta sẽ đau khổ. Đứng về phương diện cảm giác, tri giác và tâm tư cũng vậy. Nếu chúng ta tiêu thụ những sản phẩm độc hại thì chúng ta sẽ đưa vào trong ta rất nhiều khổ đau. Ví dụ những lúc đọc báo, đọc sách, hay xem vô tuyến truyền hình, có thể là những lúc chúng ta đưa vào trong tâm tư của chúng ta những độc tố. Ngay cả những câu chuyện chúng ta nói với nhau cũng có thể có độc tố. Quý vị có nhớ là có lúc sau khi nói chuyện với một người nào đó vào khoảng một giờ đồng hồ, ta cảm thấy chán đời, ta cảm thấy tê liệt, ta cảm thấy không còn muốn sống nữa hay không? Đó là vì trong câu chuyện mà ta nghe có rất nhiều độc tố. Người kia đã gieo rắc vào tâm ta nhiều độc tố của nghi ngờ, hận thù và bạo động. Trong khi lắng nghe người đó một giờ đồng hồ, ta tiếp thu không biết bao nhiêu là độc tố của câu chuyện. Một bài báo, một cuộn phim, một cuốn tiểu thuyết cũng có thể chứa rất nhiều độc tố. Có khi chúng ta để con cháu chúng ta liên tục tiếp nhận những độc tố đó vào trong tâm của các cháu, và chính chúng ta cũng tiêu thụ những độc tố đó trong đời sống hàng ngày. Đó là những hành động không phải là thương yêu đối với bản thân của chúng ta. Mỗi khi giận, chúng ta không biết cách bảo trì thân thể và tâm hồn ta. Chúng ta không biết cách săn sóc và đối phó với cái giận của chúng ta. Chúng ta để cho cái giận trấn ngự và sai sử chúng ta nói lên và làm ra những điều có thể làm tan vỡ hạnh phúc gia đình của chúng ta. Cái giận của chúng ta có thể thúc đẩy chúng ta hành động và phản ứng dại dột làm tan nát hết cả cái liên hệ giữa chúng ta và những người ta thương. Chúng ta chưa biết cách chăm sóc và bảo vệ cho thân tâm của chúng ta. Vì vậy chúng ta không thể nói là chúng ta đang thương yêu và chăm sóc bản thân của chúng ta. Đức Thế Tôn có lần nói: ‘‘Nhiều người trong thế gian tưởng là họ thương yêu bản thân của họ lắm, kỳ thực họ có thể là kẻ thù số một của bản thân họ.’’ Điều này, nếu chúng ta suy ngẫm cho kỹ, chúng ta thấy rất đúng. Chúng ta thường nghĩ rằng người làm khổ ta là người kia, nhưng nhìn cho kỹ thì chúng ta có thể khám phá rằng cái người làm khổ ta nhất là chính ta. Chúng ta tự làm khổ chúng ta rồi chúng ta làm khổ những người khác, và tệ hơn hết là chúng ta làm khổ luôn những người chúng ta thương yêu nhất ở trên đời. Vậy thì làm thế nào để trong đời sống hàng ngày chúng ta đừng đưa độc tố vào trong cơ thể và tâm thức của chúng ta? Chúng ta làm thế nào để có thể chăm sóc và chuyển hóa cái giận, cái buồn, cái bực bội và cái sầu lo của chúng ta? Đó là nguyên tắc thực tập. Chúng ta phải học để thấy được con đường, thấy được phương pháp và khi thấy được phương pháp rồi thì chúng ta sẽ cùng thực tập với những người bạn tu của chúng ta. Những khóa tu một tuần, hai tuần hay là ba tuần rất là quan trọng. Trong thời gian chúng ta tham dự một khóa tu không phải chúng ta chỉ học để thấy được con đường mà chúng ta phải thực sự thực tập để đặt chân trên con đường đó và cùng đi với những người bạn tu khác.

Hạnh lắng nghe

Nhìn lại tình trạng của nhiều gia đình trong xã hội ngày nay, chúng ta thấy rằng hạnh phúc rất hiếm hoi mà đau khổ và hận thù lại rất lớn, trong giới người ngoại quốc cũng như trong giới đồng bào. Có những gia đình trong đó cha không còn nói chuyện được với con, vợ không còn nói chuyện được với chồng, và anh em không còn nói chuyện được với nhau. Sự truyền thông coi như là bị cắt đứt. Nếu chúng ta nhìn lại chúng ta, tự hỏi tại sao cha không nói chuyện được với con hay vợ không nói chuyện được với chồng, chúng ta sẽ thấy rằng tại vì trong lòng của mỗi người có quá nhiều niềm đau, quá nhiều sự hận thù, quá nhiều sự bực tức. Chúng ta đã đánh mất khả năng lắng nghe của chúng ta và chúng ta cũng đã đánh mất khả năng truyền thông với một thứ ngôn ngữ hòa ái. Chúng ta biết rằng mỗi khi đau khổ hay bực bội mà nếu có một người nào đó chịu khó lắng nghe để hiểu được những đau khổ bực bội trong lòng chúng ta thì chúng ta sẽ bớt khổ nhiều lắm. Nếu trong gia đình không có ai có khả năng lắng nghe chúng ta thì làm sao chúng ta có thể bớt khổ? Người nào cũng chứa đầy những khối đau khổ trong lòng họ. Khi nói, chúng ta không có khả năng sử dụng ngôn ngữ hòa ái và vì vậy người kia chỉ nghe được ba bốn câu là đã không thể chịu đựng được nữa và phải bỏ đi. Khả năng nói và khả năng nghe của chúng ta đã bị đánh mất. Trong xã hội Tây phương, chúng ta thấy có hiện tượng không ai nói chuyện được với ai. Cuối cùng, đau khổ và uất ức chất chứa nhiều quá khiến người ta bị bệnh tâm thần, và người ta phải đi tới những bác sĩ trị liệu tâm lý (psychotherapist). Chúng ta tới với những nhà tâm lý trị liệu là tại vì những người đó có bổn phận phải ngồi yên để lắng nghe chúng ta. Theo nguyên tắc, những người ấy phải ngồi yên và lắng nghe chúng ta. Trong nhà, vì không có ai có khả năng lắng nghe chúng ta cho nên chúng ta phải đi tìm một chuyên viên lắng nghe. Tôi đã từng tổ chức những khóa tu cho những nhà tâm lý trị liệu ở Hoa Kỳ cũng như ở Âu Châu. Cách đây sáu năm, tôi đã hướng dẫn một khóa tu cho chừng ba bốn trăm nhà tâm lý trị liệu ở Denver tiểu bang Colorado. Tôi nhớ đã gặp nhiều nhà tâm lý trị liệu đầy nỗi khổ trong trái tim. Chính họ cũng không có khả năng lắng nghe những người thương trong gia đình họ thì làm sao họ có thể lắng nghe được những khổ đau của chúng ta? Trong đạo Bụt chúng ta có bồ tát Quán Thế Âm. Quán Thế Âm là một con người có khả năng lắng nghe rất lớn, lắng nghe với lòng từ bi. Chúng ta biết rằng người kia có nhiều đau khổ, nhiều uất ức mà không bày tỏ được, bây giờ đây chúng ta ngồi và lắng nghe người đó, lắng nghe với tất cả trái tim, lắng nghe mà không phán xét, không lên án, không chỉ trích. Nếu chúng ta ngồi yên và lắng nghe được với chất liệu của tình thương, của từ bi, thì một giờ đồng hồ ngồi lắng nghe như vậy đã có thể làm vơi bớt nỗi khổ của người kia rất nhiều. Nhìn kỹ, chúng ta thấy trong gia đình ít người còn gìn giữ được khả năng lắng nghe. Người nào cũng muốn lẩn tránh ta giống như là muốn tẩy chay ta, cô lập hóa ta. Kỳ thực không phải như vậy. Vì họ không có khả năng lắng nghe và vì chúng ta không có khả năng truyền thông bằng ngôn ngữ hòa ái, cho nên ta chỉ cần nói một hoặc hai câu thôi người kia đã sợ và bỏ chạy mất. Đó là tại người kia sợ chứ không phải vì người ấy muốn cô lập hóa ta. Trong đời sống hiện đại, chúng ta có rất nhiều phương tiện truyền thông rất là xảo diệu. Chúng ta có máy fax, chúng ta có điện thoại, chúng ta có electronic mail và các phương tiện truyền thông khác. Chỉ cần một phút thôi, những tin tức từ bên kia trái đất có thể đánh sang bên này. Tuy vậy trong gia đình chúng ta, khả năng truyền thông giữa cha con và vợ chồng hầu như không còn có mặt nữa. Chúng ta biết rằng khi nào mà cha còn nói chuyện được với con, hoặc vợ còn nói chuyện được với chồng thì tình trạng chưa đến nỗi nào. Nhưng nếu trong trường hợp mà sự truyền thông giữa cha con, vợ chồng không còn nữa thì gia đình đã biến thành địa ngục. Tu tập cách nào, học đạo cách nào để ta có thể thiết lập lại được truyền thông giữa cha và con, giữa vợ và chồng, giữa anh và em?

Mì gói Giáng Kiều

Quý vị chắc đã nghe câu chuyện chàng Tú Uyên. Tú Uyên là một chàng sinh viên khá đẹp trai nhưng nhiều đau khổ. Tú Uyên có vấn đề với bố, với mẹ, không nói chuyện được với bố, với mẹ. Tú Uyên cứ nghĩ rằng tất cả những niềm đau và nỗi khổ của chàng là do bố mẹ gây ra. Tú Uyên cũng không nói chuyện được với anh, với chị và với em. Tú Uyên sống một cuộc sống rất cô đơn. Nghĩ rằng không ai hiểu được mình, nhưng Tú Uyên không biết rằng chàng không hiểu được ai. Chàng nghĩ rằng chàng là người đau khổ duy nhất ở trên đời và người làm chàng đau khổ là những người khác. Người đó có thể là bố, mẹ, anh, chị, em, bạn bè và xã hội. Tú Uyên học đại học và sống côi cút một mình trong cư xá đại học. Không truyền thông được với cha mẹ và với anh em đã đành, chàng ta cũng không truyền thông được cả với thầy, với bạn. Tú Uyên rất thèm có được một người bạn, nhưng Tú Uyên không có khả năng sống được với bạn, vì trong lòng chàng đầy những thói quen giận hờn, thù hận, khổ đau. Tú Uyên không có khả năng nói với ngôn ngữ hòa ái. Tú Uyên cũng không có khả năng lắng nghe bạn. Bạn của Tú Uyên chỉ có thể chơi với chàng chừng một hai tuần là bỏ chàng, rốt cuộc Tú Uyên một mình một bóng sống trong cư xá đại học. Niềm đau, nỗi khổ chất chứa trong tâm nhiều quá, không chịu nổi, cho nên Tú Uyên đi tìm những phương tiện làm khuây khỏa những niềm đau của chàng. Tú Uyên nghiện rượu. Tối nào chàng cũng ra quán rượu uống cho say mèm mới về. Mỗi khi say chàng nói và làm những điều có thể làm tan nát tình nghĩa. Sáng hôm đó, Tú Uyên cảm thấy cô đơn. Chàng muốn lên chùa, mong gặp được một người bạn mới. Chùa là nơi duy nhất mà Tú Uyên hy vọng có thể gặp được một người bạn mới. Tới cổng chùa, Tú Uyên thấy một đoàn người ở trong cổng chùa đi ra, rất sang trọng, và trong đám đó có một thiếu nữ xinh đẹp lạ thường. Hình bóng của thiếu nữ va chạm mạnh vào tâm thức Tú Uyên. Chưa bao giờ chàng thấy một cô thiếu nữ xinh đẹp như vậy. Tự nhiên anh chàng nảy sinh một ao ước: nếu mình có được một người bạn như vậy thì mình sẽ đem hết tất cả những khéo léo, những thiện chí của mình để giữ người bạn này lại với mình. Chúng ta biết rằng cái mà Tú Uyên đói và thiếu nhất ở trên đời là một người bạn, một người để tâm sự, trao đổi những khổ đau và những ước vọng của mình. Tú Uyên vốn là người hoàn toàn bị cô lập trong xã hội của chàng. Tú Uyên quyết định không vào chùa nữa mà quay lại đi theo đám người kia. Nhưng rủi cho chàng, chỉ trong vài phút sau cô thiếu nữ xinh đẹp kia biến mất trong đám đông. Từ đó về sau, hình bóng của cô thiếu nữ cứ lảng vảng trong đầu chàng, Tú Uyên không thể nào quên được. Đi cũng nhớ, ngồi cũng nhớ, nằm cũng nhớ, đọc sách chàng cũng không đọc được. Một đêm, Tú Uyên nằm mơ thấy một cụ già tóc bạc phơ. Cụ nói với chàng: ‘‘Ngày mai vào lúc sáu giờ sáng, con đi ra chợ cửa Đông con sẽ gặp lại cô thiếu nữ.’’ Chàng thức dậy đúng một giờ khuya. Trời còn tối quá. Đợi tới sáu giờ sáng thì quá lâu, nhưng chàng ngủ không được nữa. Tới năm giờ sáng, chàng đi ra nhắm hướng chợ cửa Đông. Ra tới, thấy chợ chưa đông, chàng ghé vào tiệm sách để mua vài cuốn sách. Ngước đầu lên nhìn, chàng thấy cô thiếu nữ mình gặp hôm trước trong một bức tranh treo trên tường. Đó chỉ là một bức tranh nhưng người trong tranh đúng là cô thiếu nữ đó. Cũng hai con mắt đó, cái mũi đó, cái miệng đó, và cô thiếu nữ như đang mỉm cười với Tú Uyên. Chàng đổ hết tất cả tiền ở trong túi ra mua bức tranh ấy về treo ở phòng chàng trong cư xá đại học. Từ đó về sau, ngày nào chàng cũng nói chuyện với người đẹp trong tranh. Chúng ta thấy trên cõi đời này có những người rất cô đơn, họ không có ai để trò chuyện, đôi khi phải nói chuyện một mình. Có những người vì cô đơn quá nên phải nuôi một con mèo hay một con chó để rồi đem tất cả tình thương của mình dồn vào con mèo hay con chó ấy, và chỉ nói chuyện được với nó. Rất tội nghiệp. Sống với một con mèo cố nhiên là dễ hơn sống với một con người. Khi chúng ta nói một điều gì không dễ thương thì con mèo không la mắng và trả đũa trở lại, nhưng nếu chúng ta nói một câu không dễ thương với một người thì chưa chắc người đó sẽ để cho chúng ta yên thân. Chúng ta không trách móc Tú Uyên, chúng ta chỉ thấy tội nghiệp cho anh chàng sinh viên đó mà thôi. Tuy đẹp trai nhưng anh chàng hết sức cô đơn. Tú Uyên không có hạnh phúc, tại vì chàng không có bạn, không có khả năng truyền thông. Mỗi ngày Tú Uyên chỉ biết ăn mì gói. Mì gói tức là mì ăn liền. Buổi trưa cũng mì gói, buổi tối cũng mì gói. Chỉ cần bỏ mì vào một cái tô, đổ nước sôi vào, đợi vài phút là ăn thôi. Tú Uyên không biết sử dụng các thứ rau tươi và rau thơm cho nên ngày nào chàng cũng chỉ ăn mì gói suông như vậy. Hôm ấy Tú Uyên làm hai tô mì gói, một tô để dành cho người đẹp ở trong tranh và một tô để chàng ăn. Tú Uyên đặt ra hai đôi đũa. Ăn mì gói một hồi chán quá, chàng nuốt không trôi nữa. Chàng buông đũa, nhìn lên bức tranh. Tự nhiên chàng thấy người trong tranh mỉm cười với chàng. Rồi từ bức tranh nàng thiếu nữ bước xuống và trở nên một con người bằng xương bằng thịt. Nàng tự xưng là Giáng Kiều. Giáng Kiều nghĩa là người đẹp từ trên trời đi xuống. Quý vị có biết câu nói đầu tiên mà Giáng Kiều nói với Tú Uyên là câu gì không? ‘‘Mì nấu như thế này mà anh ăn được thì tôi cũng phục anh thiệt.’’ Rồi nàng mỉm cười: ‘‘Anh đợi một chút!’’ Và Giáng Kiều biến mất. Chỉ trong vài phút sau, Giáng Kiều lại xuất hiện với một cái xách trong đó có rau thơm, rau ngò, đủ thứ. Cô nàng rất tài tình. Chỉ trong ba phút thôi cô đã làm xong được hai tô mì rất hấp dẫn, rất thơm tho. Chúng ta hãy tưởng tượng niềm hạnh phúc lớn lao của Tú Uyên. Tự nhiên có một người đẹp xuất hiện trong đời mình, tự nhiên có những thức ăn rất mầu nhiệm. Hạnh phúc của Tú Uyên không thể nào tả được. Nhưng chắc quý vị đã dư biết cái gì sẽ xảy ra cho Tú Uyên sau đó vài tháng. Một con người như Tú Uyên thì luôn luôn có quá nhiều niềm đau và nỗi khổ trong lòng. Tú Uyên không có khả năng sử dụng ngôn ngữ hòa ái. Tú Uyên không có khả năng lắng nghe. Tú Uyên say rượu mỗi bữa tối, và thường nói những lời làm cho tan nát cả tình nghĩa. Vì vậy cho nên ba tháng sau Giáng Kiều đã bỏ Tú Uyên mà đi. Có thể là có những buổi tối say rượu về Tú Uyên đã đánh đập Giáng Kiều. Giáng Kiều đã làm hết cách để đem lại hạnh phúc cho Tú Uyên, nhưng Tú Uyên không có khả năng sống hạnh phúc. Cuối cùng thì Giáng Kiều đã bỏ đi. Một ngày nọ, Tú Uyên thấy cuộc đời không có ý nghĩa gì nữa, chàng muốn treo cổ tự tử. Nếu quý vị có đọc báo, có nghe ngóng về tin tức của thanh niên ở Hoa Kỳ thì quý vị đã biết rằng số thanh niên ở Hoa Kỳ tự tử như Tú Uyên nhiều lắm. Hầu hết đó là những người đã chống báng gia đình, đã mất gốc trong gia đình cũng như trong xã hội. Nếu muốn gặp Tú Uyên không khó. Chỉ cần đưa mắt nhìn xung quanh là quý vị sẽ gặp vô số những chàng Tú Uyên. Và những nàng Tú Uyên nữa. Họ thù hận cha mẹ, họ không có gốc rễ hạnh phúc trong gia đình. Họ đi bơ vơ trong cuộc đời, họ không có bạn, họ chỉ có những niềm đau nỗi khổ trong lòng mà thôi. Họ không có cái gì đẹp để tin tưởng, không có cái gì thật để tin tưởng, họ sống một cách không trách nhiệm và họ tàn phá thân thể họ và tâm hồn họ. Không những họ sử dụng rượu mà còn sử dụng đủ các loại ma túy. Nếu để tâm thì quý vị sẽ thấy rằng cái số lượng các chàng Tú Uyên và các nàng Tú Uyên sử dụng ma túy trong thời đại chúng ta lớn lắm. Chính quyền có thể dùng quân đội, dùng máy bay, dùng trực thăng để kiểm soát việc nhập cảng những chất liệu ma túy, nhưng những biện pháp dữ dằn ấy cũng vô hiệu quả là tại vì số lượng các chàng Tú Uyên ở trong nước quá đông đảo. Số lượng các nàng Tú Uyên ở trong nước cũng quá đông đảo. Tại sao họ phải đi tìm rượu? Tại sao họ phải đi tìm các chất ma túy? Tại vì nỗi khổ niềm đau trong lòng họ quá lớn, họ không thể nào gánh chịu được nổi, cho nên họ phải tìm bất cứ cách thức nào để có thể quên đi trong chốc lát những khổ đau ấy trong lòng họ. Xã hội của chúng ta tổ chức như thế nào mà cứ chế tạo ra hàng trăm ngàn Tú Uyên mỗi tuần lễ? Chúng ta có nên trách móc hay là la mắng Tú Uyên hay không? Cha mẹ Tú Uyên đã làm gì cho Tú Uyên và đã dạy dỗ Tú Uyên như thế nào? Cha mẹ Tú Uyên có khả năng lắng nghe con hay không? Có khả năng nói với con bằng những lời hòa ái hay không, hay là chỉ biết dùng quyền uy cha mẹ để đàn áp và la mắng mà thôi? Nếu con chúng ta không có khả năng lắng nghe chúng ta và không có khả năng nói những lời hòa ái với chúng ta, thì chúng ta có khả năng lắng nghe con của chúng ta hay không và khả năng nói những lời hòa ái với con hay không?

Giáng Kiều lái xe

Câu chuyện Tú Uyên còn nữa, nhưng trước khi kể tiếp, tôi sẽ xin nói một câu chuyện nhỏ xảy ra ở tại Làng Mai cách đây hai tháng mấy. Ở Làng Mai có vào khoảng 100 thiền sinh thường trú tu học, trong đó có 50 vị xuất gia gồm các thầy, các sư cô và các sư chú. Sư chú trẻ nhất tên là Chân Pháp Cảnh, năm nay mới hai mươi tuổi. Làng Mai có tới bốn xóm, xóm Thượng là để cho các thầy, các sư chú và những nam cư sĩ; xóm Hạ là để cho các sư cô và những nữ cư sĩ; xóm Trung và xóm Đoài được sử dụng vào mùa Hè nhiều hơn. Tôi có một cái am trên xóm Thượng gọi là thất Ngồi Yên. Mùa Hè năm nay thị giả của tôi là sư chú Chân Pháp Cảnh. Sư chú này đã lớn lên ở Mỹ. Mỗi buổi sáng hai thầy trò ngồi thiền ở thất Ngồi Yên, sau đó sư chú xuống xóm Hạ bằng xe hơi, (xóm Thượng cách xóm Hạ chỉ có hai cây số thôi), và đem thức ăn sáng lên cho thầy. Hai thầy trò ăn sáng im lặng trong chánh niệm. Nếu buổi sáng thầy thuyết pháp ở tại xóm Thượng thì thôi, nhưng nếu thầy thuyết pháp ở xóm Hạ thì sư chú sẽ lấy chiếc xe hơi màu đen ấy đưa thầy xuống xóm Hạ. Sư chú lái xe rất có chánh niệm, tuy mới có hai mươi tuổi. Sư chú đã có ước muốn đi xuất gia từ hồi mười bốn tuổi, nhưng mãi tới năm mười tám tuổi thì mới đạt được ước nguyện. Mới được thọ giới sa di, và tu được một năm và bốn tháng thôi, nhưng sư chú đã đạt được những tiến bộ rất lớn. Sáng hôm ấy, sau khi ăn sáng xong, thấy còn có chút thì giờ, tôi mới kể cho sư chú nghe câu chuyện chàng Tú Uyên. Sư chú đã được học trong trường Mỹ thành ra ít biết về những câu chuyện truyền kỳ và cổ tích Việt Nam. Sau khi kể cho sư chú nghe chuyện Tú Uyên, tôi nhìn vào mặt sư chú và nói: ‘‘Này sư chú, con có biết rằng con là Giáng Kiều của thầy không? Con đã từ trong một bức tranh bước ra, đi vào đời thầy, và con đã làm cho thầy rất hạnh phúc.’’ Thực sự là thầy trò chúng tôi sống với nhau rất hạnh phúc, và sự truyền thông giữa thầy trò được xem như là tuyệt hảo. Trò có cái gì trong lòng thì nói cho thầy nghe, thầy có cái gì trong lòng thì nói cho trò nghe. Giữa hai thầy trò hoàn toàn không có một sự khó khăn nào về truyền thông hết. Tôi nhìn vào sư chú và nói tiếp: ‘‘Vì vậy thầy đã nguyện rằng thầy sẽ sống như thế nào để con sẽ không bao giờ bỏ thầy mà đi.’’ Vừa nói, tôi vừa nhìn sư chú. Tôi thấy rõ là sư chú rất cảm động. Nhưng sư chú đã trả lời lại một câu giọng còn ngây thơ: ‘‘Nhưng thưa thầy, con đâu có làm mì gói ngon bằng Giáng Kiều.’’ Tôi cười và nói: ‘‘Con không cần phải làm mì ngon như Giáng Kiều. Con có rất nhiều sư chị và sư anh có thể làm được chuyện đó; con chỉ cần lái xe cho thầy có chánh niệm từ xóm Thượng xuống xóm Hạ như con đã từng lái là thầy đã có nhiều hạnh phúc rồi.’’ Sư chú nở một nụ cười rất tươi, rất hạnh phúc. Ở Làng Mai, gia đình chúng tôi có tới một trăm người. Chúng tôi biết rằng hạnh phúc của những người thường trú trong Làng rất quan trọng. Nếu chúng tôi sống với nhau không có hạnh phúc, không có hòa điệu, nếu chúng tôi không nói chuyện được với nhau, nếu chúng tôi không làm được hạnh phúc cho nhau thì làm sao chúng tôi có thể làm hạnh phúc cho những thiền sinh trên thế giới về Làng tu học? Mỗi mùa Hè thiền sinh từ trên hai mươi nước trên thế giới về Làng tu tập. Có những lúc Làng có cả ngàn người tu học cư trú trong bốn xóm, có người Đức, người Hòa Lan, người Bỉ, người Anh, người Ý, người Đan Mạch, người Hoa Kỳ, có cả những người tới từ Á Châu. Khi chúng ta không có hạnh phúc, không có an lạc, thì làm sao chúng ta có thể làm cho người khác có hạnh phúc và có an lạc? Chúng tôi biết rằng trong đời sống hàng ngày, chúng tôi phải có hạnh phúc và an lạc thì chúng tôi mới có thể đem an lạc và hạnh phúc ra chia sẻ với người khác. Vì vậy sự thực tập ở Làng có thể gọi là sự thực tập an lạc và hạnh phúc.

Trong thiền phòng của tôi, tôi có treo một bức ảnh có đủ một trăm nàng Giáng Kiều của tôi, đang sống ở Làng Mai. Buổi tối nào vào giờ ngồi thiền tôi cũng đến chắp tay xá các nàng Giáng Kiều, rồi tôi mới ngồi xuống.

Tâm hương

Thôi để tôi nói tiếp về những gì đã xảy ra cho Tú Uyên. Sau khi Giáng Kiều bỏ đi, Tú Uyên đau khổ lắm. Chàng biết chàng đã đánh mất cơ hội chót của chàng. Giáng Kiều đi rồi, mình sống làm gì nữa? Tú Uyên bị trầm cảm (depression) nặng. Chàng không chịu đựng nỗi đau khổ nữa. Chàng muốn tự tử. Và chàng quyết định treo cổ tự tử.

Đột nhiên trong khi chuẩn bị tự tử, Tú Uyên nhớ lại một câu mà Giáng Kiều nói với chàng một buổi sáng khi hai người từ trên chùa đi về nhà. Hôm ấy Giáng Kiều rủ chàng đi chùa dâng hương và nghe thuyết pháp. Thầy trú trì đã thuyết pháp về ngũ phận hương: hương giới, hương định, hương tuệ, hương giải thoát và hương giải thoát tri kiến. Tú Uyên đã nghe pháp bằng nửa lỗ tai thôi, vì chàng không có đủ định tâm. Buổi thuyết pháp chấm dứt, hai người ra về. Ra tới cổng, Giáng Kiều nói với chàng: ‘‘Thầy đã giảng về hương như là một phương tiện truyền thông. Thắp hương là để truyền thông với tổ tiên, tổ tiên tâm linh cũng như tổ tiên huyết thống. Nếu một ngày kia anh thấy thiếu vắng em mà muốn nhắn em điều gì thì anh có thể thắp hương lên. Em sẽ trở về.’’ Nhớ tới đó, Tú Uyên lập tức bỏ sợi dây xuống, chạy ù ra phố, mua một bó nhang. Về tới phòng, chàng thắp luôn một lượt mấy chục cây hương, mong cho Giáng Kiều trở về lập tức với chàng. Khói hương xông lên mờ mịt cả gian phòng, nhưng chàng không thấy động tĩnh gì hết. Mấy giờ đồng hồ sau vẫn chưa thấy Giáng Kiều trở về. Tú Uyên ngồi ngay ngắn trở lại. Chàng ngồi yên bất động. Trong tư thế ngồi yên ấy, một hồi lâu chàng thấy được Giáng Kiều quả thật là một người hiếm có. Giáng Kiều có một trái tim biết thương và biết cảm. Giáng Kiều kiên nhẫn, có lắng nghe, có chịu đựng. Giáng Kiều đã làm đủ mọi cách để giúp Tú Uyên, nhưng chàng đã vẫn chứng nào tật ấy, không chịu chuyển hóa. Tú Uyên thấy rằng nếu sống với một người như Giáng Kiều mà chàng không sống được thì chàng sẽ không có thể sống với bất cứ một ai khác. Chàng bắt đầu thấy lỗi của mình, và chàng để rơi những giọt nước mắt hối hận và thương cảm.

Những giọt nước mắt ấy làm trái tim Tú Uyên êm dịu và mát mẻ lại. Chàng nhớ lại những điều thầy trú trì đã giảng trên chùa. Thầy nói: ‘‘Thứ hương mà mình đốt lên để cúng dường phải là tâm hương: hương giới, hương định, hương tuệ...’’ Chàng chưa bao giờ đốt được hương giới. Chàng đã quen để cho tập khí lôi kéo, chàng chưa biết hành trì giới luật. Giới thứ tư dạy về cách lắng nghe và sử dụng ngôn ngữ từ ái. Chàng đã từng trách móc mẹ cha, anh chị, từng nghĩ rằng những người ấy đã gây khổ đau cho chàng, nhưng chính thực thì chàng chưa từng biết lắng nghe họ và biết sử dụng ngôn ngữ từ ái với họ. Chàng đã gây khổ đau cho họ rất nhiều mà chàng không biết. Thấy được điều này, tự dưng niềm xót thương dâng lên trong lòng chàng: chàng bắt đầu thấy hối hận, thấy thương mẹ, thương cha, thương anh, thương em, thương thầy, thương bạn. Chàng thấy mọi người đều đã khổ vì chàng, và chàng không còn có khuynh hướng trách móc họ, lên án họ, phê phán họ. Tự dưng ngồi đó mà chàng cảm thấy một niềm bình an dâng lên trong trái tim. Chàng thấy khỏe. Chàng thấy chàng không còn có nhu yếu đi vào quán rượu để nhận chìm những nỗi khổ niềm đau của mình trong những ly rượu. Và chàng có cảm tưởng là chàng có thể thực tập được không khó khăn giới thứ năm là giới không sử dụng các chất ma túy. Chàng biết mỗi khi say rượu, chàng đã gây đổ vỡ rất nhiều và sau đó tình trạng không thể hàn gắn được nữa.

Tú Uyên ngồi yên như vậy trong căn phòng của chàng, chỉ mới trên một tiếng đồng hồ mà đã đạt tới những cái thấy rất sâu sắc. Chàng đã thực sự đốt được ba thứ tâm hương: giới, định và tuệ. Chàng bắt đầu hiểu tại sao Giáng Kiều đã từng khuyên nhủ chàng thọ trì năm giới. Nếu không thực tập năm giới, chàng sẽ không chuyển hóa được tập khí và khổ đau, và sẽ không bao giờ có hạnh phúc. Chàng rơi nước mắt. Chàng nói: ‘‘Giáng Kiều, em ở đâu? Sao em không về với anh?’’

Chính vào lúc ấy thì có tiếng gõ cửa, và Giáng Kiều bước vào. Tâm hương đã giúp chàng tái lập được sự truyền thông. Tú Uyên đã thay đổi. Giáng Kiều rất mừng. Nàng nói: ‘‘Anh mới chỉ thực tập có một giờ đồng hồ mà đã chuyển hóa nhiều như thế thì em tin rằng sau một thời gian thực tập vài tháng anh sẽ có rất nhiều hạnh phúc, anh sẽ có thể hòa giải lại được với ba má anh, với các anh, chị và em của anh. Em sẵn sàng tha thứ cho tất cả những lầm lỗi của anh trong quá khứ.’’

Em ở đâu?

Thưa quý vị, tôi xin mời quý vị cùng quán chiếu. Trong giờ phút này, nàng Giáng Kiều của quý vị đang ở đâu, khổ đau hay là hạnh phúc? Người ấy đã từ trong một bức tranh bước xuống, đi vào cuộc đời của quý vị, nguyền chia sẻ cuộc đời với quý vị. Quý vị đã đối xử với Giáng Kiều của quý vị như thế nào? Quý vị đã từng làm cho người ấy khóc bao nhiêu lần? Người ấy còn sống với quý vị, hay đã bỏ đi? Người ấy hiện giờ ở đâu? Quý vị có khả năng truyền thông với người ấy hay không? Quý vị đã từng chửi mắng và hành hạ nàng Giáng Kiều của quý vị hay không? Quý vị có biết lắng nghe để hiểu được những niềm đau nỗi khổ của nàng hay không? Quý vị có biết sử dụng ngôn ngữ hòa ái với người ấy hay không? Nàng Giáng Kiều của quý vị có thể là cha, là mẹ, là chồng, là vợ, là con trai, con gái của quý vị. Hạnh phúc của quý vị tùy thuộc vào hạnh phúc của những người đó. Quý vị đã làm gì để cho họ có hạnh phúc, hay quý vị chỉ lên án, trách móc và hành hạ những nàng Giáng Kiều của quý vị?

Tôi biết trong trái tim của Giáng Kiều bao giờ cũng có thương yêu và tha thứ. Nếu quý vị biết nhìn sâu, biết nhận diện gốc rễ của những niềm đau và nỗi khổ của mình, quý vị sẽ thấy rằng những khổ đau của chúng ta đã được tạo tác ra vì tập khí không lành mạnh của chúng ta: chúng ta không biết lắng nghe, không biết nói lời từ ái, chúng ta chỉ lên án, trách móc và đàn áp. Thấy được như thế là ta đã đốt lên được hương tuệ. Nguyện thực tập hạnh lắng nghe và ái ngữ, đó là thực tập hương giới. Có giới thì sẽ có định. Có định thì có tuệ. Và có tuệ tức là có hiểu biết. Hiểu biết đưa tới chấp nhận và thương yêu. Nếu quý vị không chấp nhận và thương yêu được nàng Giáng Kiều của quý vị thì làm sao quý vị có hạnh phúc?

Chuyện Tú Uyên và Giáng Kiều là chuyện của mỗi chúng ta, chuyện đang xảy ra cho chúng ta trong giờ phút hiện tại. Chúng ta ai cũng là Tú Uyên, ai cũng là Giáng Kiều. Mỗi người trong chúng ta phải đóng vai Tú Uyên và Giáng Kiều của mình cho khéo léo, cho hết lòng, thì hạnh phúc là một cái gì có thể nắm bắt được ngay trong phút giây hiện tại.

Hiện có những Tú Uyên và Giáng Kiều trong pháp hội này. Xin chúc quý vị thực hiện được những gì mà đức Thế Tôn mong mỏi: chúng ta hãy đốt lên tâm hương giới, định và tuệ để thiết lập lại sự truyền thông giữa chúng ta. Hạnh phúc tùy thuộc ở sự thành công này của liệt vị.

_________
pháp thoại nói tại Washington D.C. ngày 15.10.95

Pháp thoại phiên tả