Chuyển đến nội dung. | Chuyển đến mục định hướng

Các công cụ cá nhân
Mục
Bạn đang ở: Trang chủ Pháp đường Pháp thoại phiên tả Tâm sáng chói

Tâm sáng chói


Tổ Lâm Tế dạy rằng mỗi chúng ta đều có cái tâm sáng chói. Nếu tìm về được tâm sáng chói ấy, vận dụng được tâm sáng chói ấy thì ta cũng làm được như các vị Bụt và các vị Bồ tát. Ta có thể làm được ngay bây giờ. Nhưng cái tâm sáng chói đó của ta bây giờ không được sáng lắm tại vì ta không chịu tu tập. Trong kinh Tăng Nhất A Hàm, đức Thế Tôn có nói rằng tâm của ta vốn sáng chói nhưng vì phiền não làm uế nhiễm cho nên đen tối. Vì vậy muốn sử dụng tâm sáng chói đó ta phải trở về và tu tập. Cũng giống như một mảnh vườn lâu ngày không trồng trọt thì đất sẽ khô cứng, sẽ có gai góc và cỏ dại mọc đầy. Tâm ta cũng vậy. Tâm không tu tập thì cũng giống như một khu vườn đầy gai góc cỏ dại, và vì vậy tu tập là trở về làm việc trên miếng đất tâm của mình. Chữ tu có nghĩa là làm cho tốt trở lại, như trong danh từ "tu bổ", chữ tập có nghĩa là luyện cho quen, làm cho quen. Tâm của ta là đất và trong đất đã có những hạt giống tốt. Đất Xóm Thượng có sẵn hạt rau dền, ta chỉ cần cày lên và tưới nước thì rau dền mọc lên. Sự tu tập cũng vậy. Từ chỗ không có ta làm cho có. Tâm sáng chói có đó nhưng vì ta không tu tập cho nên nó không biểu hiện ra. Nó không biểu hiện ra được thì ta không làm được như Bụt, như các vị bồ tát. Cái diệu dụng đó không phải đi tìm ở ngoài, nó đã có sẵn ở nơi đất tâm của ta.

Đây là một đoạn trong kinh Tăng Chi Bộ "Này các thầy, tôi không thấy một pháp nào khác lại đưa đến bất lợi lớn như là tâm không tu tập". Tâm không tu tập thì đưa đến rất nhiều phiền não, giận hờn, chia rẽ, oán thù, khổ đau, bất lợi rất lớn cũng như một mảnh đất không được chăm sóc gieo trồng thì sẽ đưa tới gai góc bụi rậm. "Này các thầy, tôi không thấy một pháp nào khác lại đưa đến ích lợi lớn như là tâm được tu tập". Tâm mà được tu tập thì sẽ đưa đến lợi ích lớn, sẽ có từ, có bi, có trí, có dũng làm hạnh phúc cho ta và cho đời.

Tâm sáng chói mà Tổ Lâm Tế đề cập tới là tâm đã có sẵn trong mỗi người của chúng ta. Tâm ta mà không sáng chói được tại vì bị phiền não che lấp. Phiền não có nhiều loại như tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến. Tâm của ta giống như một con ngựa hoang. Muốn con ngựa hoang trở thành một con ngựa hữu dụng ta phải có nghệ thuật gọi là điều mã. Tâm ta giống như một con vượn chuyền cành. Nó kéo ta đi, ta không điều phục được nó. Vì vậy cho nên ta không làm được như Bụt và các vị bồ tát đang làm. Tâm ta mà như vậy thì dù ta có học hỏi cách mấy đi nữa, ta có học thuộc lòng tam tạng kinh điển và diễn giảng giáo lý ba thừa trôi chảy đến mấy thì ta vẫn bị kéo đi. Vì vậy cho nên vấn đề là phải trở về nắm lấy tâm và điều phục tâm mình. Nếu không thì sẽ đau khổ nhiều. Còn nếu điều phục được tâm thì sẽ đưa lại lợi ích lớn, hạnh phúc lớn.

Ở Thái Lan và ở một số các nước Á châu khác người ta điều phục được cả những con voi rừng rất hung hăng. Có khi họ dùng những sợi xích bằng sắt để cột chân voi lại, đem về huấn luyện và điều phục. Những con voi rừng hung hăng như vậy mà có thể trở thành những con voi hữu dụng có thể chuyên chở, có thể giúp người. Chính những con cọp trong các gánh xiệc cũng do người ta điều phục được và làm được những điều mà những con cọp thường không làm được. Tâm ta cũng vậy. Nó là một con voi hoang, một con ngựa hoang. Ta phải làm thế nào để cột con voi hoang, cột con ngựa hoang đó lại và luyện tập cho nó. Ban đầu ta phải có những sợi dây để cột nó lại. Những người đi bắt ngựa hoang có một sợi dây thòng lọng dài. Họ cỡi trên lưng một con ngựa đã thuần thục rồi và cầm sợi dây đó chạy theo con ngựa hoang. Khi vừa tầm thì họ liệng sợi dây ra tròng lấy con ngựa. Con ngựa hoang bị cái thòng lọng kéo lại thì vùng vẫy muốn thoát đi mà không được, từ từ con ngựa đó được đưa về và được luyện tập để trở nên hữu dụng. Tâm ta cũng vậy. Tâm ta là con ngựa hoang, và phương pháp thực tập chánh niệm là những sợi dây cương giữ con ngựa hoang lại để con ngựa từ từ thuần đi.

Ở Làng Mai chúng ta có nhiều phương pháp, chúng ta có những sợi dây cương nắm và cột được tâm, cột được ý. Nắm lấy ý gọi là thủ ý, thủ tức là nắm và ý là tâm. Ta có thể nắm được ý bằng nhiều phương pháp. Phương pháp đầu là hơi thở có chánh niệm, gọi là an ban thủ ý. An ban tức là hơi thở vào hơi thở ra.

Tại Làng Mai ta lại có phương pháp đi. Ta nắm lấy hơi thở và nắm lấy bước chân. Nếu quý vị không sử dụng những sợi dây của Làng Mai thì quý vị không nắm lấy được tâm của mình. Vì vậy ai tới Làng Mai cũng phải sử dụng những sợi dây đó. Những sợi dây đó không phải của những người khác đưa ra để cột ta mà chính ta làm ra và sử dụng lấy để tự cột tâm mình lại. Nếu không thì có học cách mấy, có thực tập quán chiếu cách mấy cũng không được. Trước hết là phải nắm lấy tâm, gọi là thủ ý, tức là nắm lấy tâm ý. Nếu quý vị thực tập độ chừng vài tuần lễ thì quý vị sẽ thấy tình trạng thay đổi. Phải thực tập cho miên mật chứ không thể thực tập khơi khơi. Tôi đã đi ngang qua những thời gian thực tập rất miên mật như thế nên tôi đã có sự chuyển hóa. Quý vị không thể làm nửa vời, làm lưng chừng được. Phải cương quyết nắm cho được tâm mình mà trước hết là nắm lấy thân tại vì thân tâm đi đôi với nhau. Hơi thở thuộc về thân, hai chân cũng thuộc về thân nhưng nắm được hơi thở và bước chân thì ta từ từ nắm được tâm.

Trong sinh hoạt hàng ngày, khi ta lái xe đi chợ, nấu bếp hoặc rửa chén, những lúc đó là những lúc ta thực tập nắm lấy tâm. Đừng làm việc suông. Làm việc suông thì ở ngoài đời người ta làm bao nhiêu rồi, không lý ta vô chùa để rồi cũng làm việc giống hệt như ngoài đời? Trong khi rửa chén, nấu cơm, tưới nước, ta làm thế nào để ta có thể nắm được tâm mình. Ta trở về với tâm mình cũng giống như người điều mã luôn luôn ở với con ngựa.

Ở Làng Mai chúng ta có một số bài kệ để thực tập. Chúng ta đã thuộc lòng những bài kệ đó nhưng chúng ta phải đem áp dụng thực tập cho đàng hoàng. Nắm lấy hơi thở, nắm lấy bước chân thì một vài tuần sau chúng ta bắt đầu nắm lấy được tâm của chúng ta. Tâm chứa đựng thân và thân cũng chứa đựng tâm. Những bài này là những thiền phổ rất hay, rất đơn giản. Bài Quay về nương tựa hải đảo tự thân là một bài rất mầu nhiệm. Những lúc tâm ta hoang mang, ta không biết nên làm gì cho đúng; những lúc tình trạng trở nên nguy hiểm mà ta trở về được với hơi thở để thở theo bài đó thì tâm ta an lại liền lập tức. Ví dụ như khi đang ở trên máy bay, ta nghe tin rằng không tặc đã chiếm lấy máy bay rồi và có thể làm nổ máy bay bất cứ lúc nào. Chính lúc đó là lúc ta phải thực tập những bài này. Ta sẽ sống hay sẽ chết, nhưng ta sẽ sống hoặc sẽ chết trong sự vững chãi của tâm. Nếu mỗi người trên máy bay đều có thực tập thì ta có cơ hội sống nhiều hơn, tại vì người nào cũng vững chãi, người nào cũng không náo loạn; không náo loạn thì có thể thấy được rõ ràng là mình nên làm gì và không nên làm gì để tình trạng nguy hiểm có thể được chấm dứt.

Quay về nương tựa
Hải đảo tự thân
Chánh niệm là Bụt
Soi sáng xa gần
Hơi thở là pháp
Bảo hộ thân tâm
Năm uẩn là tăng
Phối hợp tinh cần
Thở vào, thở ra
Là hoa tươi mát
Là núi vững vàng
Nước tĩnh lặng chiếu
Không gian thênh thang.

Quay về nương tựa hải đảo tự thân, đây là lời dạy của đức Thế Tôn khi ngài 80 tuổi. Ngài biết rằng sau khi ngài tịch đi thì sẽ có vô số các vị đệ tử xuất gia và tại gia cảm thấy bơ vơ không nơi nương tựa, cho nên Ngài dạy rằng có một hải đảo tự thân và mỗi khi ta thấy bơ vơ, lạc lõng, buồn chán, do dự không biết làm gì cho đúng thì ta hãy trở về cái hải đảo đó để có sự an toàn. Đó là cái tâm vững chãi của ta. Một hơi thở đưa ta về hải đảo đó ngay, hải đảo có sự vững chãi. Hải đảo đó không phải tìm ở ngoài. Trong tâm có hạt giống của sự vững chãi, của sự thảnh thơi, có hạt giống của Bụt, và ta quay về nương tựa nơi ấy. Ở bên Cơ Đốc giáo, những lúc hoang mang sợ hãi người tín đồ cũng quay về nương tựa nơi Chúa, nhưng sự thực tập không duy lý bằng, không rõ ràng bằng. Ta biết trong mỗi người đều có hạt giống của sự vững chãi, sự thảnh thơi, sự không sợ hãi, ta trở về nương tựa nơi những hạt giống đó, thì những hạt giống đó có tính cách cụ thể hơn ý niệm về Chúa, ý niệm về Bụt. Trong ta có những hạt giống tốt và những hạt giống xấu, trong số các hạt giống tốt có hạt giống của sự vững chãi, của tự do, của hiểu biết và của trí tuệ. Chính cái đó làm chỗ nương tựa che chở cho ta, về nương tựa vào những cái có thật chứ không phải vào những cái gì mơ hồ trong tương lai.

Trong tư thế ngồi ta thở vào và trong khi thở vào ta có thể đọc bốn chữ "quay về nương tựa". Khi thở ra ta đọc bốn chữ "hải đảo tự thân". Trong tư thế đi cũng vậy, khi thở vào thì ta đọc "quay về nương tựa", khi thở ra ta đọc "hải đảo tự thân". Phải có sự quay về thật sự chứ không phải chỉ có lời tụng niệm. Trong các tư thế ngồi, nằm, đứng, đi, ta đều có thể thực tập được quay về nương tựa, hoặc ta có thể "quay về" trong hơi thở vào, "nương tựa" trong hơi thở ra, "hải đảo" thở vào, "tự thân" thở ra. Khi quay về ta sẽ gặp gì? Chánh niệm là Bụt, soi sáng xa gần. Quay về ta sẽ gặp Bụt mà Bụt không phải là một cái gì trừu tượng. Bụt đây là chánh niệm. Ngoài chánh niệm ra không thể nào có Bụt được. Chánh niệm là khả năng trở về với giây phút hiện tại, biết được những gì đang xảy ra. Những gì đang xảy ra là hơi thở vào và hơi thở ra. Đó gọi là an ban thủ ý tức là chánh niệm về hơi thở. Khi một người thở vào có ý thức, thở ra có ý thức thì trong người ấy phát khởi ra năng lượng chánh niệm, chánh niệm đó là Bụt. Nếu không có chất liệu của chánh niệm người đó không thể được gọi là Bụt. Vì vậy chánh niệm là Bụt. Khi niệm "Nam mô A Di Đà Phật" chưa chắc ta đã có thể chế tác chánh niệm tại vì ta có thể đang niệm như một con vẹt. Niệm Bụt mà niệm Bụt đúng là trong khi niệm ta chế tác được chánh niệm. Nếu không niệm Bụt mà ta niệm hơi thở, niệm bước chân, niệm đám mây, niệm hòn sỏi với chánh niệm thì đó cũng là Bụt. Vì vậy cho nên chánh niệm là Bụt chứ không phải danh từ "Bụt" là Bụt. Khi trở về với hải đảo tự thân ta gặp Bụt liền, Bụt dưới hình thức chánh niệm và chánh niệm là ánh sáng soi cho ta thấy những gì ở gần, những gì ở xa nên gọi là "soi sáng xa gần". Chánh niệm là ánh sáng. Khi uống nước mà ta biết rằng ta đang uống nước thì đó là có ánh sáng rồi, còn khi uống nước mà không biết mình đang uống nước thì đó là bóng tối; bước đi một bước biết là bước đi một bước thì đó là ánh sáng. Chánh niệm có nghĩa là nhận diện được cái gì đang xảy ra và sự nhận diện đó là ánh sáng soi chiếu. Khi có ánh sáng soi chiếu thì ta không sợ hãi nữa. Có chánh niệm tức là có năng lượng để soi sáng và biết cái gì đang xảy ra. Định nghĩa căn bản của chánh niệm là biết những gì đang xảy ra. "Hơi thở là pháp, bảo hộ thân tâm", hơi thở ở đây là hơi thở chánh niệm chứ không phải hơi thở thường. Mỗi ngày ta đều thở ra, thở vào không ngừng, nhưng cái đó không phải là Pháp. Khi ta thở vào mà biết ta đang thở vào, khi ta thở ra mà ý thức được có hơi thở ra thì đó mới là Pháp. Pháp này không phải là Pháp nói hay Pháp viết mà là Pháp linh hoạt đích thực (the living dharma) cũng như chánh niệm là "the living Buddha". Phật sống có mặt khi ta có chánh niệm, Pháp sống có mặt khi ta có hơi thở chánh niệm và khi có hơi thở chánh niệm rồi thì pháp này bảo hộ cho cả thân và tâm. Khi ta thất thần, sợ hãi, hoảng hốt, sắp điên loạn thì ta trở về với hơi thở. Ta thở vào, thở ra có chánh niệm thì hơi thở vào, thở ra đó sẽ đưa ta vào trong trạng thái của sự an ổn. Ví dụ có người báo cho ta hay là ta có bệnh ung thư hay người thân của ta vừa bị thương không biết có sống sót được qua tai nạn hay không v.v... Trong tất cả những trường hợp đó ta đều phải trở về với hải đảo tự thân và thực tập bài này. Bài này rất hay. Tôi đã sử dụng rất hiệu nghiệm trong những lúc khó khăn của tôi và lúc nào cũng thành công. Khi thân ta lâm vào tình trạng nguy biến và khi tâm ta rơi vào tình trạng khủng hoảng, thực tập bài này ta sẽ lấy lại được thăng bằng. Bài này đích thực là bài tập Quy y Tam bảo. Tuy nó không nói Quy y Tam bảo nhưng kỳ thực nó là quy y Tam bảo đích thực. Tam bảo không phải ở những đối tượng thờ cúng mà Tam bảo là thực tại có thật trong tâm ta. Nếu quý vị thực tập mà không thành công thì tôi hứa là tôi sẽ không đi dạy nữa. Khi ta thực tập hơi thở chánh niệm thì hơi thở chánh niệm trở thành ra một năng lượng bảo vệ cho thân và tâm. Năng lượng đó là Pháp linh động. Có Pháp sống cùng với Phật sống trong ta thì không có lý gì ta phải lo sợ nữa. Trong những trường hợp khi ta không biết nên làm gì cho đúng thì ta biết rằng cái mà ta có thể làm được trong giờ phút này là trở về để nương tựa nơi Tam bảo, nhờ sức Tam bảo để che chở cho mình. Tam bảo đây không phải đối tượng của sự kính ngưỡng hay thờ cúng mà Tam bảo đây là những năng lượng có thật.

Năm uẩn là tăng phối hợp tinh cần. Khi ta thực tập hơi thở chánh niệm thì hơi thở chánh niệm đó gọi là Pháp sống, Pháp linh hoạt. Hơi thở này bắt đầu điều hòa năm uẩn của ta, đưa tâm trở về với thân, nhận diện và ôm ấp những cảm thọ, cảm xúc và tạo ra sự hòa hợp ở trong cơ thể ta cho nên gọi năm uẩn là tăng. Năm uẩn là thành phần của tăng thân ở trong con người ta và năm uẩn đó có thể rời rạc, có thể chống đối nhau, có thể hỗn loạn nhưng khi có hơi thở chánh niệm tức là Pháp linh hoạt tới rồi thì năm uẩn đó bắt đầu tới với nhau trong một trạng thái có hòa điệu. Chỉ cần thực tập năm, mười phút là ta thấy được sự hòa điệu đó của năm uẩn và sự hòa điệu đó đưa lại sự bình an, sự vững chãi của thân tâm. Thiền phổ này rất mầu nhiệm.

Trong một kiếp trước, khi đức Thế Tôn còn đi tìm đạo thì ngài có gặp một dạ xoa. Con dạ xoa nói: "Ta biết một câu kệ về chánh pháp nhưng mà ta chỉ có thể đọc cho ngươi nghe nếu ngươi bằng lòng để ta ăn thịt ngươi sau đó". Tiền thân của đức Thế Tôn nói: "Được, bây giờ anh nói cho tôi nghe bài kệ chánh pháp đó đi rồi tôi sẽ để cho anh ăn thịt tôi". Bài kệ này cũng có giá trị thực tập rất lớn. Bài này có giá trị trong mọi hoàn cảnh. Dù cho khó khăn, điên đảo, nguy biến cách mấy mà nếu quý vị trở về hơi thở và thực tập bài này thì quý vị sẽ có an ninh, sẽ có Tam bảo hộ trì. Tam bảo hộ trì không phải như một quyền phép mê tín mà Tam bảo là chánh niệm, có khả năng soi sáng cho ta và cho ta biết nên làm gì và không nên làm gì trong lúc này. Hơi thở chánh niệm là Pháp sống, có khả năng điều hợp thân tâm và đưa lại sự thăng bằng của thân tâm. Riêng tôi, tôi đã thừa hưởng được rất nhiều từ bài thực tập này và tôi không đợi đến khi có khó khăn mới sử dụng. Đó là sự thực tập hàng ngày, mà sự thực tập có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong ngày. Lái xe cũng có thể thực tập bài này mà ăn cơm cũng có thể thực tập bài này. Khi nhai ta có thể nhai theo nhịp của bài này và khi nhai hết bài này thì cơm trong miệng rất nhuyễn, nuốt vô sẽ rất dễ tiêu. Thay vì nói chuyện này, chuyện kia, nghĩ chuyện người này, chuyện người kia, nghĩ chuyện bên này, nghĩ chuyện bên kia thì ta an trú trong bài kệ này để ăn cơm. Tôi đã ăn cơm vô số lần với bài kệ này. Ngồi đó và trong khi ăn cơm tôi thực tập quy y Tam bảo. Quy y Tam bảo một cách rất khoa học chứ không phải quy y như một người theo tôn giáo. Từ Bụt ở đây được định nghĩa là chánh niệm, Pháp là hơi thở chánh niệm và Tăng là năm uẩn điều hợp với nhau dưới ánh sáng của chánh niệm. Trong khi đi ta có thể thực tập được bài này. Nếu ta đi hai bước với hơi thở vào thì ta niệm "quay về, quay về" rồi khi thở ra ta niệm "nương tựa, nương tựa". Khi đi mau hơn, ví dụ hơi thở vào ba bước, hơi thở ra ba bước, thì ta đọc thêm "tôi quay về, và nương tựa, nơi hải đảo, của tự thân, chánh niệm ấy, tức là Bụt, đang soi sáng, khắp xa gần, hơi thở ấy, là chánh pháp, đang bảo hộ, cả thân tâm, năm uẩn kia, là tăng thân, đang phối hợp, rất tinh cần." Ta chỉ cần một chút thông minh thì hai chữ trở thành ba chữ. Trong khi chạy bộ quý vị cũng có thể thực tập được theo bài này. Khi chạy tôi thường thực tập bài này hoặc một bài khác chứ không bao giờ tôi chạy mà không thực tập theo một bài kệ.

Thành ra những vị nào chưa thuộc lòng như cháo những bài này thì phải học và đem ra thực tập liền. Ta nên biết rằng những lúc ta bơ vơ, bối rối không biết làm gì cho đúng để bảo hộ thân và tâm thì bài này là bài cần thực tập để trở về được trong những lúc đó. Điều hay nhất ta có thể làm để đối phó với những trường hợp như thế là trở về hơi thở và thực tập những bài này. Phải biết rằng ta đang làm cái mà ta đang cần làm, ta có thể làm; đã làm được rồi thì tự nhiên ta không còn lo lắng nữa. Ta chỉ lo lắng sầu khổ, sợ hãi khi ta không biết rằng mình phải làm gì cho đúng. Còn khi biết rằng ta đang làm cái ta có thể làm hay nhất trong lúc này, trong những cơn bối rối đó là thực tập trở về thì trạng thái đánh mất tự thân được chấm dứt liền lập tức. Mầu nhiệm vô cùng. Bài này rất đáng để cho ta đổi thân mạng của mình để nghe, nghe rồi thì để cho dạ xoa ăn thịt cũng được.

Thở vào, thở ra
Là hoa tươi mát

Làm sao ta trở thành một bông hoa trong khi ta thở vào, và làm sao ta cảm thấy sự tươi mát trong khi ta thở ra? Đây là thiền sỏi của các bé. Nếu các bé làm được thì ta cũng phải làm được. Khi đi một mình, ta có thể đi thiền rất chậm. Chậm nhiều hay ít tùy theo ta nhưng khi ta làm được rồi thì tại sao ta phải đi chậm quá, tuy mỗi bước chân phải có đủ thì giờ để ta sống cho thấu đáo cái thấy đó. Cái thấy là ta đã quay về, ta đang nương tựa, ta đang thật sự ở trong hải đảo của tự thân và ta đang tiếp xúc với thực tại một cách sâu sắc. Nếu chưa tiếp xúc được thì ta chưa nhấc chân lên, giống như khi ta đóng một dấu ấn có son, ta muốn dấu ấn đầy đủ thì ta phải đè mạnh con dấu các phía để cho son in lên đủ rồi ta mới nhấc con dấu lên. Bước chân của ta cũng vậy. Khi ta chưa hoàn toàn tới được với giây phút hiện tại thì bước chân ta vẫn còn một chút tính cách của sự đi như bị ma đuổi. Thành ra khi đi thiền một mình, ta có cơ hội đi chậm bao nhiêu cũng được, còn khi đi chung với đại chúng ta phải đi với một tốc độ trung bình của đại chúng. Ví dụ bước đi và nói "bây giờ", ta phải nếm, phải tiếp xúc cho được cái bây giờ rồi lúc đó ta mới bước khác và nói "ở đây", giống như dấu ấn in sát vào văn bản. Thỏa mãn rồi thì ta mới bước bước khác và nếu chưa tiếp xúc được thì ta có thể để vậy cho đến khi nào ta tiếp xúc được với cái bây giờ thật sâu thật vững rồi ta mới đi bước tiếp. Trong những bước ấy tâm ta hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của ta. Sợi dây của tâm ý được cột lại rất đàng hoàng, rất dễ chịu. Con ngựa hoang, con voi hoang đau khổ khi bị buộc bằng những sợi dây xích sắt, bị đánh ở trên đầu, nhưng khi thực tập ta không đau khổ như vậy, trái lại sự thực tập có thể đưa tới niềm an lạc và hạnh phúc rất lớn. Vì vậy nên thay vì dùng thì giờ của ta để nói chuyện này, chuyện kia, để cười giỡn thì ta để giờ ra để làm chuyện này. Ta trở về chăm sóc vườn tâm của ta tại vì ta đi tu là để làm chuyện đó. Ta đi một mình trong vườn sồi, ta đi một mình trong vườn tre, ta tha hồ mà thực tập. Với mỗi bước chân như vậy ta dẫm vào sự thật, dẫm vào thực tại gọi là "bộ bộ đạp trước thật địa", đó là một câu kệ của vua Trần Thái Tông. Mỗi bước đều dẫm vào thực tại cả chứ không phải là ta đi trong giấc mơ, ta không đi như bị ma đuổi. Khi làm được như vậy bằng cách thực tập một mình thì đến khi đi với tăng thân ta thực tập rất dễ. Làm chậm được rồi thì nhanh ta đi cũng được, chứ không hẳn là phải đi chậm ta mới tiếp xúc được hiện tại với tất cả mầu nhiệm. Cũng như khi nhìn một bông hoa, ta nhìn làm sao để có thể thực sự thấy được nó và ta mỉm cười, thấy được nó như một thực tại chứ không phải như một bóng ma.

Trong tiểu thuyết L'étranger của Albert Camus, có một người tử tù bốn mươi mấy tuổi rồi mà chưa bao giờ thật sự thấy trời xanh. Ông ấy bị ở tù tại vì trong một cơn bực bội ông đã giết chết một người, ông tên là Meursault. Hôm đó ông biết rằng là ngày mai ông sẽ bị đem xử tử. Nằm trong phòng giam, ngửa đầu lên ông thấy một cái khung cửa tò vò, qua khung cửa tò vò đó ông thấy được trời xanh. Ông rất ý thức chỉ còn hai mươi bốn giờ đồng hồ nữa ông sẽ bị xử tử, và kỳ này không biết tại sao ông thật sự thấy được trời xanh. Chưa bao giờ ông thấy được trời xanh như vậy mà trời xanh đó chỉ được thấy qua một khung cửa nhỏ. Sống tới bốn mươi mấy tuổi rồi mà ông ta chưa bao giờ nhìn và thấy được trời xanh một cách sâu sắc như vậy. Khi ta nhìn một cái gì, ta phải nhìn sao để cho thấy được sâu sắc và sau này khi người ta có hỏi: "Sao, anh sống ở trên thế gian mấy chục năm anh đã thấy trời xanh lần nào chưa?" Ta phải nói là có thấy. Khi thấy được trời xanh như thế thì trời xanh không còn ở trong một giấc mơ nữa mà đó là thực tại, đó gọi là thật địa. "Bộ bộ đạp trước thật địa", mỗi bước ta đi đều dẫm vào đất đai của thực tại. Có một lần tôi tiếp một ký giả của nhật báo San Francisco Chronicle, sau khi phỏng vấn xong tôi đưa ông ra xe và chỉ cho ông bước những bước chân chánh niệm như thế từ chỗ ngồi phỏng vấn dưới ba cây tùng cho đến bãi đậu xe. Nửa đường tôi mời ông dừng lại, ngửng lên nhìn trời xanh và đề nghị ông thực tập: "thở vào tôi thấy trời xanh, thở ra tôi mỉm cười với trời xanh". Trước khi từ biệt ông nói với tôi: "Tôi chưa bao giờ nhìn trời xanh như vậy cả!" Có chút năng lượng chánh niệm thì trời xanh thật sự là trời xanh. Mỗi giây phút trong đời sống hàng ngày của ta, ta phải sống như vậy. Có chánh niệm thì tất cả đều trở thành thật. Trong khi sống như vậy thì tâm của ta ở trong vòng tay của ta, nó không còn đi như con ngựa hoang nữa. Vì vậy cho nên có sự khác biệt giữa việc điều phục con ngựa hoang với việc điều phục tâm. Nếu ta biết phương pháp điều phục tâm thì điều phục tâm không làm ta đau khổ như khi con ngựa bị điều phục, tại vì phương pháp chánh niệm thực tập ở Làng Mai rất dễ chịu, mỗi giây phút đều có thể đưa tới sự an lạc và hạnh phúc. Hơi thở cũng vậy mà bước chân cũng vậy. Thực tập đưa lại sự hoan lạc và nuôi dưỡng chứ không làm cho ta phải trầy da tróc vẩy như sợi xích cột chân voi lại hay sợi thòng lọng cột cổ con ngựa lại. Tâm ta hung hăng nhưng ta có những phương pháp bất bạo động để ôm lấy tâm của ta như nắm lấy bước chân và nắm lấy hơi thở. Ta có thể thực tập bài kệ này trong khi ngồi thiền. Nếu trong khi ngồi thiền mà không biết làm gì thì quý vị hãy thực tập bài này đi. Ta có thể bắt đầu buổi ngồi thiền của mình bằng bài này. Trước khi thỉnh chuông cũng vậy, trước khi ăn cơm và trong khi ăn cơm cũng vậy, khi rửa chén, nấu nước, chạy bộ, bất cứ giờ phút nào ta cũng thể thực tập quy y Tam Bảo cả. Bản chất của bài này là quy y Tam bảo và như đã nói, Tam bảo đây không phải đối tượng của sự thờ cúng, tín ngưỡng. Tam bảo đây là những năng lượng có thật ở trong ta, ta chạm tới là nó phát khởi. Đó là năng lượng của chánh niệm, của pháp, của năm uẩn.

Nếu ta chỉ có một bài kệ để thực tập thì sau một thời gian bài kệ có thể bị soi mòn và bài đó sẽ không còn hiệu nghiệm nữa. Dù bài đó có hay mấy đi nữa mà ta sử dụng nhiều quá nó sẽ lờn. Cũng như một bài hát mà ta ưa thích, ta cứ nghe hoài nhưng nghe tới tuần thứ hai thì ta sẽ ngán. Ngán như thế thì rất uổng. Ta phải giữ cho bài đó luôn luôn được tươi mát. Cũng vì vậy cho nên ta phải xen kẽ và sử dụng những bài khác nữa.

Bài thứ hai cũng là một thiền phổ rất quý, đó là bài "Vào ra sâu chậm". Bài này tiếng Anh và tiếng Pháp có khác thành ra khi dịch, quý vị phải linh động.

Vào ra
Sâu chậm
Khỏe nhẹ
Lặng cười
Hiện tại tuyệt vời.

Đây là một thiền phổ rất đơn giản có thể thực tập trong bất cứ lúc nào trong ngày. Thiền ngồi cũng như thiền đi: "Vào ra" tức là thở vào biết thở vào, thở ra biết thở ra, nói tắt lại. Khi thở vào ta biết là hơi thở vào đang xảy ra. Tâm của ta không nghĩ đến chuyện gì khác. Tâm ta nắm lấy hơi thở. Nắm lấy hơi thở tức là nắm được tâm, tâm không chạy nữa. Hơi thở có chánh niệm là sợi cương nắm lấy tâm. Nội thực tập được câu đầu này là ta nắm được tâm rồi. Thở vào, đây là hơi thở vào của tôi, nhận diện hơi thở vào là hơi thở vào. Khi thở vào tôi biết rằng tôi đang thở vào và khi thở ra tôi biết tôi đang thở ra, đó là bài tập đầu do chính đức Thế Tôn dạy trong kinh An Ban Thủ Ý. Sâu chậm có nghĩa là hơi thở vào đã sâu, hơi thở ra đã chậm. Nếu ta thực tập thở vào biết thở vào, thực tập thở ra biết thở ra trong một hai phút mà thành công rồi thì tự nhiên hơi thở vào sâu hơn và hơi thở ra sẽ chậm hơn, cả hai hơi thở vào ra đều sâu đều chậm. Đây là sự nhận diện tôi thở vào và tôi biết rằng hơi thở vào của tôi đã sâu hơn trước, chứ không phải tôi đang thở vào và cố gắng làm cho hơi thở vào sâu thêm. Sâu hơn chậm hơn có nghĩa là phẩm chất của hơi thở đã cao hơn trước. Trước khi ta thực tập thì hơi thở vào và hơi thở ra của ta ngắn và hổn hển, nhưng khi ta thực tập được nửa phút hoặc một phút rồi thì hơi thở vào của ta nhẹ lại, sâu lại, lắng lại, chậm lại và bắt đầu có sự thư thái ở trong thân tâm. Sở dĩ như vậy là vì nếu có sự thư thái nhẹ nhàng trong hơi thở thì cũng có sự nhẹ nhàng thư thái trong thân và tâm của mình. Hơi thở là môi giới giữa thân và tâm. Thở vào tôi nhận thức rằng hơi thở vào của tôi đã bắt đầu sâu, thở ra tôi nhận thấy rằng hơi thở ra của tôi bắt đầu chậm lại. Phẩm chất của hơi thở đã lên cao. Thở vào tôi thấy khỏe. Thấy khỏe đây không phải tự kỷ ám thị. Tại sao đó không phải là tự kỷ ám thị? Tại vì nếu ta thành công trong hai bài tập đầu rồi, thì tự nhiên trong người ta thấy khỏe. Khi ta khỏe mà ta biết ta đang khỏe thì ta sẽ thấy khỏe thêm. Thở vào tôi cảm thấy khỏe, thở ra tôi cảm thấy nhẹ, chữ nhẹ ở đây là "khinh an", ta có thể dịch là "I feel light" hay "I feel at ease", chữ khỏe ở đây ta có thể dịch là "I feel good". Thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười, an trú trong hiện tại, giây phút đẹp tuyệt vời. Ta chỉ có một giây phút để sống thôi, đó là giây phút hiện tại. Nếu trở về giây phút hiện tại, ta sẽ tiếp xúc được với bao nhiêu mầu nhiệm ở trong ta và xung quanh ta. Bài kệ này ta có thể hát được bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh hoặc tiếng Việt. Có một cái lợi cho những người thực tập bằng tiếng Việt, tại vì ngôn ngữ Việt Nam là đơn âm nên phối hợp với bước chân rất dễ, mỗi bước đều nhau; nhưng những người nói tiếng Pháp và tiếng Anh, nếu khôn một chút, cũng có thể tạo ra được những nhịp như khi ta tụng Tâm Kinh theo đơn âm, theo tiếng mõ và ta có thể tụng chung được cả chúng một lần rất dễ. Tôi xin cam đoan với quý vị chỉ sau vài tuần thực tập, quý vị sẽ thấy có sự thay đổi. Thở vào tôi thấy tâm tôi đã tĩnh lặng và thở ra tôi mỉm cười để công nhận rằng trong tôi có sự tĩnh lặng. Thở vào tâm tĩnh lặng cũng là bài tập của đức Thế Tôn. Khi ta có một cảm thọ hoặc cảm xúc nào đó và ta thực tập bài này thì cảm xúc hoặc cảm thọ đó sẽ êm dịu trở lại, đó gọi là thở vào tâm tĩnh lặng. Khi thực tập bài này ta đưa tới sự buông thư của thân và của tâm. Sự buông thư của tâm không thể có được khi không có sự buông thư của thân, cho nên bài này cũng có thể thực tập trong tư thế nằm. Trong bốn tư thế đi, đứng, nằm, ngồi ta đều có thể thực tập được bài này. Bài trước cũng vậy. Bài này cũng có thể thực tập trong khi ăn vì trong khi ăn ta không nói chuyện, ta vẫn tiếp tục thở có chánh niệm như thường và ta có thể nhai cơm theo bài này được. Bài này là một thiền phổ rất hay, quan trọng không kém một bài thoại đầu và đáng giá ngàn vàng. Tôi thực tập rất nhiều với bài này: khi bước ba bước thì ta đếm vào, vào, vào, ra, ra, ra, sâu, sâu, sâu, chậm, chậm, chậm. Phải vào, ra một thời gian, đi cho vững rồi ta mới đi tới sâu chậm. Ta thở bằng hai chân của ta và ta đừng tụng kinh "vào, vào, ra, ra" mà ta phải thực sự vào ra, thực sự sâu chậm. Cố nhiên ta có thể không dùng bài kệ nào hết mà vẫn có thể dẫm vào thực tại, an trú chánh niệm trong từng bước chân. Nhưng khi tâm ta còn là con ngựa hoang thì ta phải cần dùng một vài dây cương, một vài sợi dây để kéo lại. Còn khi ta đã đi giỏi rồi thì đâu cần bài gì nữa, mỗi bước chân của ta thành ra một dấu ấn in xuống đất sự an lạc, sự thảnh thơi của ta. Đi như vậy một hồi thì mảnh đất ta đi trở thành thánh địa. Ta đi và để lại dấu ấn của sự an lạc, sự hạnh phúc của ta trên đó, người khác bước lên sẽ cảm thấy. Khi con ngựa thuần rồi, ta không cần những sợi dây cột nữa nhưng khi ta chưa nắm được nó thì ta phải sử dụng những sợi dây cho thật vững. Những sợi dây này dễ chịu lắm, không làm cho ta trầy da như những sợi xích sắt cột chân voi hay sợi thòng lọng xiết cổ ngựa.

Đây là Tịnh độ
Tịnh độ là đây
Mỉm cười chánh niệm
An trú hôm nay
Bụt là lá chín
Pháp là mây bay
Tăng thân khắp chốn
Quê hương nơi này
Thở vào hoa nở
Thở ra trúc lay
Tâm không ràng buộc
Tiêu dao tháng ngày.

Đây là một bài khác, bài "Đây là Tịnh Độ". Với bài này quý vị có thể thực tập mỗi hơi thở vào bốn bước, mỗi hơi thở ra bốn bước. Bài này đem lại cho ta nhiều hạnh phúc. Pháp môn của Làng Mai là không đi tìm Tịnh Độ trong tương lai. Tương lai có thể là một ảo tưởng, nếu trong giây phút hiện tại ta không tiếp xúc được với Tịnh Độ thì đừng mong gì trong tương lai ta có Tịnh Độ. Nếu trong giây phút hiện tại mà ta tiếp xúc với Tịnh Độ rồi thì chắc chắn Tịnh Độ sẽ có ở tương lai thật sự. Những mầu nhiệm mà ta trở về tiếp xúc được trong giây phút hiện tại đều thuộc về Tịnh Độ. Chính thân của ta cũng thuộc về Tịnh Độ, cũng mầu nhiệm như Tịnh Độ. Không phải Tịnh Độ là một cái gì có ngoài thân và tâm ta. Thân của ta cũng mầu nhiệm như Tịnh Độ. Tịnh độ không phải là một khung cảnh, một xứ sở có ngoài ta. Thân tâm ta mà không thuộc về Tịnh Độ thì không bao giờ ta vào được Tịnh Độ. Chỉ khi nào thân và tâm của ta thuộc về Tịnh Độ thì ta mới đi vào Tịnh Độ. Cho nên sự thực tập của ta là mỗi bước chân đi vào Tịnh Độ. Và nếu anh không bước vào Tịnh Độ trong khi anh đang còn có mặt ở đây thì sức mấy mà anh bước vào được Tịnh Độ trong tương lai. Mà bước vào Tịnh Độ nhờ cái gì? Nhờ chánh niệm, tại vì chánh niệm đánh tan thất niệm, đánh tan tán loạn và đưa tới tuệ giác. Tuệ giác cho ta biết rằng trong giây phút hiện tại ta đang sống những giây phút mầu nhiệm của Tịnh Độ ở trong ta và chung quanh ta.

Đây là Tịnh Độ
Tịnh độ là đây
Mỉm cười chánh niệm
An trú hôm nay

Nụ cười này không phải nụ cười ngoại giao, nụ cười làm duyên mà là nụ cười của chánh niệm. Tại sao phải cười? Tại vì sự sống mầu nhiệm quá chừng. Ta đã sống bao nhiêu năm rồi: ba chục, bốn, năm chục năm rồi. Thời gian vừa qua ta từng chạy theo những bóng dáng, những ảo tưởng. Bây giờ tỉnh rồi, ta biết quý những giây phút, những ngày giờ còn lại của ta và nguyện không xài phí một cách oan uổng ngày giờ của ta nữa. "Mỗi phút một viên ngọc quý, tóm thâu đất nước trời mây, chỉ cần một hơi thở nhẹ là bao phép lạ hiển bày: chim hót thông reo hoa nở, trời xanh mây trắng là đây". Sống như vậy mới là nghệ thuật sống và điều này ta có thể làm được bây giờ. Với tâm sáng chói đó, với chánh niệm đó ta có thể làm được như Bụt. Mỗi bước chân đi vào Tịnh Độ ở đây không phải chuyện mơ tưởng. Thực tập của Làng Mai không phải là chuyện mơ tưởng. Ta không đầu tư vào tương lai vì những gì ta muốn đều có thể có trong giây phút hiện tại. Mỉm cười chánh niệm là như vậy, an trú hôm nay tức là trở về giây phút hiện tai. Bụt ở đâu? Bụt là lá chín. Bài này được viết trong mùa thu khi lá đang vàng tươi hay đỏ au. Người ta nói tới trái cây chín nhưng lá cũng chín và rất đẹp. Nhìn vào một tờ lá đỏ hay vàng au mà thấy Bụt, thấy Tịnh Độ trong đó tức là ta đã thành công rồi. Ta còn muốn đi tìm Bụt, tìm Pháp và Tịnh Độ ở đâu nữa? Nếu ta thấy được một tờ lá đỏ đẹp và mầu nhiệm như vậy thì Bụt, Tịnh Độ ở ngay trong tờ lá đó. Bụt là lá chín, Pháp là mây bay, những người theo Cơ Đốc giáo cũng phải thực tập như vậy. Đừng tìm Thượng để ở trên mây, trên trời mà phải tìm Thượng đế ngay trong giây phút hiện tại. Phải tìm Thượng đế ngay trong tờ lá đỏ, trong đám mây bay và phải có hạnh phúc ngay trong lúc đó thì mới tiếp xúc được với Thượng đế, còn nếu không thì Thượng đế chỉ là một ý niệm mơ hồ viễn vông. Đó là sự hy vọng vào tương lai. Thấy lá mình thấy Bụt, thấy mây mình thấy Pháp. Tăng thân khắp chốn, tăng thân ở đây không hẳn chỉ là người mà có thể là cây, là rừng, là lá, chỗ nào cũng có tăng thân. Quê hương nơi này, cũng như tổ Lâm Tế nói, giây phút nào cũng là giây phút trở về nhà mình. Trở về quê hương đích thật của ta là giây phút hiện tại thì ta không đi tìm hạnh phúc ở đâu nữa cả. Quê hương là giây phút hiện tại, ngay chỗ này, ngay giây phút này và như vậy là ta tiếp xúc được với Bụt, Pháp và Tăng.

Quý vị thực tập bài này cũng là quy y Tăng, cũng là thực tập nương tựa Tam bảo. Thở vào thì anh thấy gì? Hoa nở nghĩa là những mầu nhiệm của sự sống. Thở ra anh thấy gì? Thấy trúc lay. Tâm không ràng buộc, không ràng buộc đây tức là không ràng buộc bởi những dự án, những mong ước tương lai của mình bởi vì ngay bây giờ, ở tại đây là đã có hạnh phúc tràn trề rồi. Ta không cần thiết kế một tương lai hay ao ước những gì mà ta chưa có. Ta cũng không tiếc thương quá khứ vì tất cả những cái đó đều là những ràng buộc. Tiếc thương về quá khứ hay ngóng trông những gì trong tương lai đều là ràng buộc. Tâm không ràng buộc, tiêu dao tháng ngày. Tiêu dao tức là tự do và có hạnh phúc trong mỗi giây phút. Khi ăn cơm, quý vị có thể ăn cơm theo bài này. "Đây là Tịnh Độ, Tịnh Độ là đây", thì ta còn đi tìm Tịnh Độ ở đâu nữa, đi tìm hạnh phúc ở đâu nữa. Được ngồi ăn cơm với tăng thân trong chánh niệm cũng là đang ngồi ăn với Bụt và giáo đoàn nguyên thủy. Bụt và giáo đoàn nguyên thủy không phải thuộc về quá khứ đâu, nếu ta an trú trong hiện tại thì Bụt và giáo đoàn nguyên thủy đang có mặt ngay trong hiện tại. Và vì Bụt là chánh niệm nên không giây phút nào, không bữa cơm nào mà ta không được ăn chung với Bụt. Bài này cũng có bằng tiếng Pháp bằng tiếng Anh.

Bài thứ tư là bài "Đã về đã tới."

Đã về, đã tới
bây giờ ở đây
Vững chãi, thảnh thơi,
Quay về nương tựa ...

Nhờ Bụt và chư Tổ gia hộ lắm tôi mới nói ra được hai chữ "đã về, đã tới". Đã về, đã tới là pháp ấn của Làng Mai. Bất cứ sự thực tập nào, giáo lý nào mà không mang dấu ấn đã về đã tới thì không phải giáo lý và sự thực tập của Làng Mai - "I have arrived, I am home". Khi thực chứng được điều đó, thực tập được điều đó thì hạnh phúc có liền lập tức. Nếu anh chưa có hạnh phúc là tại vì anh chưa thành công ở chỗ đã về, đã tới; còn khi anh đã về, đã tới rồi thì anh thành công, anh có hạnh phúc liền. Vì vậy các cô, các chú nào mà chưa hạnh phúc là biết rằng mình chưa về, mình chưa tới.

Vững chãi, thảnh thơi. Vững chãi là không bị quá khứ và tương lai lôi kéo, thảnh thơi là tự to. Vững chãi thảnh thơi là hai đặc tính của hạnh phúc, của Niết bàn. Khi không có vững chãi, không có thảnh thơi thì anh không thể nói có Niết bàn được.

Quay về nương tựa. Quay về tức là quay về giây phút hiện tại, và nương tựa là nương tựa nơi hải đảo của tự thân, tức là nơi chánh niệm, hơi thở và bước chân. Chánh niệm về bước chân và hơi thở là những điều rất cụ thể, không phải là những gì trừu tượng. Tổ Lâm Tế dạy chúng ta phải quay về hiện tại và sử dụng tâm sáng chói của mình để đi vào thế giới Hoa tạng, đi vào cõi Bụt, vào thế giới Tịnh độ, nắm tay Bụt cùng đi chơi. Chuyện đó ta có thể làm được hôm nay. Tổ dạy một cách tổng quát như vậy và chỉ có những bậc đại căn đại trí mới làm được nhưng ở Làng Mai chúng ta có thể đi xa hơn, chúng ta đưa ra những phương pháp cụ thể, những pháp môn mà ai cũng có thể làm được. Ta không cần phải là bậc đại căn đại trí cũng có thể làm được và sống hạnh phúc như Bụt được.

Đã về, đã tới
Bây giờ, ở đây
Vững chãi, thảnh thơi
Quay về nương tựa
Nay tôi đã về
Nay tôi đã tới
An trú bây giờ
An trú ở đây
Vững chãi như núi xanh,
Thảnh thơi dường mây trắng,
Cửa vô sanh mở rồi,
Trạm nhiên và bất động.

Bốn bài này giúp ta thực tập để nắm lấy tâm mình. Đừng chỉ thực tập một bài mà nên thực tập luôn cả bốn bài để cho bài nào cũng còn mới. Thực tập bài này một thời gian rồi thực tập bài kia, đến khi ta trở lại thì bài này vẫn còn mới. Ta đừng để cho bài nào bị soi mòn. Trong khi mở khóa tu ta có thể sử dụng các bài này để giúp cho thiền sinh tại vì ai cũng có một cái tâm hoang sơ, một cái tâm chưa tu tập và do đó đã làm nên những lẫm lỗi khổ đau. Cho nên ta giúp họ nắm lấy tâm họ và đưa cho họ những sợi dây xích để buộc tâm của họ lại. Tâm mà không tu tập dễ bị thất niệm kéo đi. Thất niệm là không có chánh niệm: ăn không biết mình ăn, uống không biết mình uống, đi không biết mình đi, nói những điều ác độc mà không biết là mình đang nói những điều ác độc, đang vướng mắc mà không biết mình vướng mắc, đang sống trong mầu nhiệm mà không biết mình đang sống trong mầu nhiệm ... Thất niệm đi đôi với tán loạn. Thất niệm và tán loạn đưa tới bất chánh tri. Tri là biết, chánh là đúng, bất chánh tri là không có kiến giải chân chính. Khi tâm ta tán loạn thì ta nhìn sự vật một cách hời hợt, ta không thấy được sự thật và ta có những tri giác sai lầm. Trong khi đó Bụt là người có chánh biến tri. Bụt có chánh tri mà chánh tri này được áp dụng vào trong mọi trường hợp thời gian và không gian nên gọi là chánh biến tri, biến là cùng khắp. Vì muốn có được chánh biến tri ta phải thoát ra khỏi tình trạng thất niệm, tình trạng tán loạn và tình trạng bất chánh tri; đó là ba tâm sở bất thiện đem tới phiền não. Khi ta không có chánh niệm, khi tâm ta tán loạn, ta hiểu lầm nhiều lắm. Ta không nhận diện được gì cả và ta gây ra những đổ vỡ, những xáo trộn hiểu lầm ở giữa anh em, chị em. Tâm không tu tập là như vậy. Do đó cho nên khi ta trở về nắm được tâm ta thì từ từ ta có chánh niệm, có chánh định. Chánh niệm để đối trị với thất niệm, chánh định để đối trị với tán loạn và khi ta có niệm, có định rồi thì bắt đầu ta có chánh tri. Ta có được cái thấy sâu hơn và ta sẽ không tạo ra những lầm lỗi, những khổ đau. Đó gọi là tâm có tu tập. Dù ta học giỏi cách mấy đi nữa mà ta không trở về nắm được tâm và tu tập cày cấy miếng đất của tâm, tưới tẩm hạt giống tốt trong tâm thì ta cũng không thành công.

"Này các thầy, tôi không thấy một pháp nào khác lại đem đến đau khổ như tâm không được tu tập, tâm không được tu tập đem lại rất nhiều đau khổ. Này các thầy, tôi không thấy một pháp nào có thể lại đem lại an lạc như là tâm được tu tập, tâm được tu tập thì đem lại an lạc rất nhiều", đó là lời Bụt dạy. Tôi mong rằng tất cả mọi người trong đại chúng xuất gia cũng như tại gia đem hết tâm thành của mình ra mà thực tập những bài này. Nếu quý vị thực tập hết lòng trong một vài tuần thì quý vị sẽ thay đổi và khi quý vị biết thực tập tháng này sang tháng khác, năm này sang năm khác thì cố nhiên cái tuệ của quý vị sẽ được khơi mở ra. Ta sẽ có tuệ khi ta thực tập chánh niệm và chánh định. Mà chánh niệm, chánh định trước hết là cột tâm mình lại. Ở Làng Mai, muốn cột tâm mình lại thì trước hết ta cột hơi thở, cột bước chân vào trong chánh niệm. Ta có những bài tập rất hay để làm chuyện đó. Xin quý vị sử dụng cho hết lòng tại vì mục tiêu của người tu là giải thoát an lạc chứ không phải là để trở thành một học giả về Phật học.

 

Pháp thoại  ngày 02 tháng 11 năm 2003 - chùa Từ Nghiêm Xóm Mới

Pháp thoại phiên tả