Chuyển đến nội dung. | Chuyển đến mục định hướng

Các công cụ cá nhân
Mục
Bạn đang ở: Trang chủ Pháp đường Pháp thoại phiên tả Ngon và lành

Ngon và lành

Trước khi ăn cơm, mình chúc người kia ăn ngon. Trước khi ngủ mình cũng chúc người kia ngủ ngon. Khi đi thiền hành mình cũng có thể chúc “chị đi thiền hành ngon”, ngồi thiền thì mình chúc “chị ngồi thiền ngon”.

Trong tiếng Việt chữ “ngon” thường đi đôi với chữ “lành”. Cái ngon phải đi với cái lành cho nên chúng ta phải làm thế nào để cái ngon có nghĩa là cái lành. “Ngon” có nghĩa là ăn như thế nào để có sức khỏe, để đừng tàn phá cơ thể và sinh môi.

Trong đời sống tu tập, mình phải làm thế nào để buổi ngồi thiền vừa ngon vừa lành tức mình tận hưởng mỗi giây phút của giờ ngồi thiền, làm cho buổi ngồi thiền có tính cách nuôi dưỡng và trị liệu. “Chúc chị có buổi ngồi thiền ngon lành!” Trong khi ngồi thiền, mình theo dõi hơi thở, buông thư và quán chiếu. Mình sử dụng hơi thở, thân và tâm ý để làm cho mỗi giây phút của buổi ngồi thiền được lành. Trong buổi ngồi thiền, nếu mình chưa hưởng được cái ngon lành đó là mình chưa biết ngồi thiền, mình phải học thêm tại vì ngồi thiền là một sự tiêu thụ giống như ăn cơm vậy. Nếu mình chưa thấy hạnh phúc lắm, chưa thấy nuôi dưỡng, chưa thấy ngon lành trong buổi ngồi thiền thì mình phải tham khảo với các sư anh, sư chị và các bạn đồng tu để có thể tận hưởng hạnh phúc của giây phút ngồi thiền.

Sống trong tu viện, mình có được quyền lợi tiêu thụ một bữa ngồi thiền sáng, một bữa ngồi thiền chiều. Đó là quyền lợi mà mình phải tận hưởng. Trong một bữa cơm, mình phải biết nghệ thuật tiêu thụ thì bữa cơm đó mới ngon lành và bổ dưỡng. Cũng như vậy, mình phải chuẩn bị buổi ngồi thiền để đừng bị uổng phí, mình phải sử dụng hơi thở, thân và tâm cho khéo để giây phút của buổi thiền tọa trở nên ngon lành, nuôi dưỡng và phát khởi được niềm vui, hạnh phúc, tình thương.

Ăn cơm không phải chỉ để có chất bổ dưỡng cho cơ thể mà thôi. Bữa ăn cơm, dù là ăn sáng hay ăn trưa, cũng phải ngon và lành. Mình phải có hạnh phúc trong khi ăn sáng, trong khi ăn trưa. Tại Làng Mai mình được dạy rất kỹ làm thế nào để có hạnh phúc, có nuôi dưỡng trong khi ăn, làm thế nào để bữa ăn vừa ngon vừa lành. Hôm chủ nhật đi khất thực tôi thấy trên bàn có hai chai tương ớt. Tương ớt có thể ngon nhưng không lành và mình muốn lấy hai chai tương ớt bỏ vào thùng rác. Ngon thì phải lành, nếu chưa lành thì chưa ngon.

Trước khi ăn mình thực tập “năm quán” ăn cơm là một sự thực tập để nuôi dưỡng thân và tâm của mình. Chất liệu nuôi dưỡng không phải chỉ là thức ăn mà còn là sự có mặt của mình, của tăng thân, sự có mặt của chánh niệm. Chúng ta quán niệm ăn cơm như thế nào để có thảnh thơi tức tự do, giải thoát. Trong khi ăn, nếu bị một trăm sợi dây ràng buộc (những lo lắng, buồn khổ, suy tư, dự tính) thì mình ăn không ngon. Khi ăn thì mình chỉ ăn thôi, mình buông bỏ những suy tư, lo lắng. Mình ăn cơm như thế nào để có sự thảnh thơi, có tình anh chị em và có hạnh phúc trong khi ăn. Thức ăn nuôi dưỡng mình nhưng sự thảnh thơi, tình anh chị em và niềm vui cũng nuôi dưỡng mình.

Trong cửa thiền chúng ta nói: Thiền tập có công năng nuôi dưỡng (thiền duyệt vi thực) tức niềm vui của sự thực tập thiền là thức ăn hàng ngày. Vì vậy ăn cơm là ăn mà ngồi thiền cũng là ăn. Bữa cơm nào mình cũng đọc “ngũ quán”, mình cũng được nhắc ăn cơm như thế nào để được thảnh thơi. Mình ngồi lưng có thẳng, có buông thư, có thảnh thơi không hay là mình co rúm lại, bị giam hãm trong thế giới của lo lắng, của buồn khổ riêng mình. Mình không thật sự có mặt với tăng thân, mình không đóng góp được cho tăng thân sự có mặt tươi mát của mình.

Ăn cơm là một phép thực tập ngồi cho thảnh thơi, ngồi cho có tươi mát, có niềm vui. Sự thảnh thơi, sự có mặt đích thực của mình, nụ cười của mình góp phần tạo ra tình anh chị em mà tình anh chị em có tính cách nuôi dưỡng rất lớn. Mình ăn cơm như thế nào để có thảnh thơi, có hạnh phúc và có tình anh chị em. Chúng ta người nào cũng phải cố gắng chế tác được ba chất liệu đó.

Khi đồng hồ điểm nhạc mỗi mười lăm phút thì tất cả mọi người ngừng ăn, lắng tai nghe, tự nhiên một năng lượng chánh niệm tập thể được chế tác ra trong giây phút đó. Chúng ta thấy rõ ràng là mình đang có mặt với tăng thân. Mình thấy mình đang có mặt đó, mình đang hiến tặng sự có mặt của mình cho tăng thân và tăng thân cũng đang có mặt đó cho mình. Đó là một sự thức tỉnh, sự thức tỉnh do đồng hồ gợi lên. Đồng hồ là một trợ duyên giúp tạo ra cái gọi là như lý tác ý. Như lý tác ý khiến mình phát khởi được tuệ giác: mình đang có mặt trong tăng thân và tăng thân đang có mặt cho mình, mình đang được ngồi ăn với tăng thân như một gia đình tâm linh. Chuyện này rất hiếm, rất ít có được. Chỉ có mấy nốt nhạc mà tạo ra được không khí đó.

Nếu trong khi ăn mà mình bị tư duy xâm chiếm, mình đánh mất ý thức là mình đang có mặt, tăng thân đang có mặt và đây là một giây phút hạnh phúc thì có tiếng đồng hồ nhắc mình. Xóm Hạ, xóm Mới, xóm Thượng đều có đồng hồ trong nhà ăn, rất hay. Tiếng nhạc đồng hồ có một ý nghĩa rất đặc biệt đối với mình. Nhà nào cũng có đồng hồ, nhưng khi đồng hồ điểm nhạc thì người ta không thực tập như mình vì mình trao cho âm thanh của đồng hồ một ý nghĩa. Cũng như mình trao cho tiếng chuông một ý nghĩa, khi nghe tiếng chuông nhấp thì mình ngưng nói năng, suy nghĩ và mình bắt đầu thở vào, thở ra rất ngon lành ba lần. Ba tiếng chuông cung cấp cho mình cơ hội thở vào, thở ra chín lần. Cái ngon không phải chỉ do mình tiếp xúc được với những điều kiện hạnh phúc trong giây phút hiện tại mà còn do mình tiếp xúc được với sự thật là mình đang có đó và tăng thân đang có đó với mình. Nghe chuông, mình chế tác được một năng lượng tập thể của chánh niệm để nuôi dưỡng. Năng lượng ấy rất quí giá, rất hiếm hoi, không thể mua được ngoài siêu thị.

Trong khóa tu cho thiền sinh nói tiếng Đức tổ chức tại Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu, ngồi ở hàng đầu có bốn, năm thiếu phụ và các em bé nhỏ xíu. Các bà mẹ cho các em bé vào pháp đường cùng nghe pháp, các bé rất ngoan không khóc nên không ảnh hưởng gì tới buổi pháp thoại. Trong đó tôi để ý thấy có hai ba bà mẹ đang cho em bé bú. Không biết trong nhà thờ người ta có được phép cho con bú trong giờ giảng đạo không, còn với tăng thân Làng Mai thì được phép làm như vậy. Tôi thấy rất rõ mỗi khi tiếng chuông vọng lên và gần một ngàn người chú tâm vào hơi thở thì năng lượng chánh niệm trong thiền đường rất hùng hậu, rất nhiệm mầu. Đó là một thức ăn rất tốt, mấy em bé chưa biết tiếng chuông, chưa biết chánh niệm là gì, chưa hiểu được tiếng người, nhưng cảm được năng lượng bình an đó. Trong giây phút đó các em bé vừa được nuôi bằng sữa mẹ vừa được nuôi bằng năng lượng hòa bình, an lạc, chánh niệm được chế tác một cách tập thể trong pháp đường. Đó là thức ăn rất quí không thể tìm được ngoài chợ.

Mình có rất nhiều cơ hội, trong khi ngồi thiền, trong khi ăn cơm mình có cả một tăng thân cho nên mình chế tác được năng lượng tập thể. Năng lượng đó quí hơn vàng, nó bảo hộ, trị liệu cho mình. Nếu những người bệnh tới mà biết mở lòng ra để năng lượng tập thể đó đi vào trong cơ thể, trong trái tim thì sẽ lành bệnh rất mau.

Trong bữa cơm mình phải sắp đặt, hành trì như thế nào để bữa cơm trở thành một buổi thực tập có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu. Đứng về phương diện vật chất mình làm cho bữa cơm được ngon lành. Đứng về phương diện tâm linh mình cũng ăn với tinh thần đó mới xứng đáng. Chúng ta có những người rất giỏi về phương diện tổ chức. Chúng ta cần những người như vậy để tổ chức những buổi ngồi thiền và những bữa ăn cơm rất ngon, rất lành và rất trị liệu.

 

(Phiên tả từ bài pháp thoại ngày 13 tháng 01 năm 2011 của Sư ông Làng Mai)

Pháp thoại phiên tả