Chuyển đến nội dung. | Chuyển đến mục định hướng

Các công cụ cá nhân
Mục
Bạn đang ở: Trang chủ / Pháp đường / Pháp thoại phiên tả / Tìm niết bàn trong sinh tử

Tìm niết bàn trong sinh tử

Sanh Phật bất nhị

Chúng ta biết rằng trong giới thần học Cơ Đốc giáo, người ta có đặt vấn đề: Thượng đế có phải là một con người hay không? (Is God a person or not a person?). Nếu Thượng đế không phải là một con người thì làm sao mình cầu nguyện được? Vấn đề này là một vấn đề khá lớn.

Vào nửa cuối thế kỷ 20, có những nhà thần học nói rằng tuy Thượng đế không phải là con người nhưng mà không phải là Ngài ít hơn một con người. Câu này hơi rắc  rối, tiếng Anh là “God is not a person but is not less than a person”. Các vị ấy đã đi tới quan niệm: Thượng đế không phải chỉ là một con người. Đó là một bước tiến rất lớn.

Trong đạo Bụt, mình có quan niệm về chúng sinh và về Bụt: chúng sinh là những người mê muội đang đau khổ, còn Bụt là một người giác ngộ và không còn đau khổ. Thường thường mình phân biệt chúng sinh khác và Bụt khác. Mình có khuynh hướng cho rằng khi thành Bụt rồi thì mình không còn là chúng sinh nữa. Nhưng cái nhìn đó không đúng với cái thấy của đạo Bụt đại thừa. Vì theo cái thấy của đạo Bụt đại thừa thì nếu không có chúng sinh thì cũng không có Bụt, vì vậy chúng ta mới có lý thuyết Sanh Phật bất nhị.

Sanh Phật bất nhị nghĩa là chúng sinh và Bụt không phải là hai thực tại tách rời riêng biệt, không có cái này thì không có cái kia. Sở dĩ có Bụt là nhờ có chúng sinh, nếu không có chúng sinh thì không bao giờ có Bụt. Thành ra Bụt và chúng sinh là một cặp đối lập; bề ngoài thấy như hai cái đối lập nhau nhưng sự thực cả hai phải nương vào nhau mà thành. Cũng giống như bùn và sen. Nếu không có bùn thì đố mà có sen được.

Điều này cũng dễ hiểu. Theo đạo lý duyên khởi, tất cả đều là duyên sinh. Ví dụ như con người. Khi nhìn vào con người thì mình thấy những yếu tố không phải là con người. Những yếu tố đó là đất đá (khoáng chất), cây cỏ, cầm thú, đất, nước, lửa, gió. Những thứ đó khi đủ điều kiện thì sinh ra cây cỏ và những loài chúng sinh khác. Có những loài ấy rồi mới có con người. Thành ra, nhìn vào con người thì thấy những yếu tố không phải con người. Nếu lấy khoáng chất, cây cỏ và cầm thú ra khỏi con người thì con người không còn nữa. Cho nên con người cũng là đất đá, con người cũng là cây cỏ, con người cũng là cầm thú. Nếu không có đất đá, cây cỏ, cầm thú thì không có con người. Mình không thể nói rằng khi trở thành con người rồi thì mình không còn là đất đá, cây cỏ, cầm thú nữa. Không phải! Mình vẫn tiếp tục làm cây cỏ, cầm thú và đất đá trong cơ thể mình. Những yếu tố không phải con người vẫn còn trong con người.

Cũng như vậy, mặc dù đã thành Bụt rồi nhưng những yếu tố không phải là Bụt vẫn có trong Bụt. Trong Bụt có những yếu tố nào? Nhìn cho kỹ thì thấy có chúng sinh, có khổ đau, phiền não, có những si mê đã được chuyển hóa. Cũng như khi mình nhìn vào đóa sen thì mình thấy sen những yếu tố không phải là sen, trong đó có bùn. Mình biết rằng đã thành sen rồi nhưng mà sen không thể nào tiếp tục có mặt được nếu không có bùn. Nếu sen muốn tiếp tục là bông sen thì phải tiếp tục sử dụng những chất bùn đó. Mình là con người rồi nhưng nếu không có đất đá, không có cây cỏ, không có cầm thú thì mình không thể tiếp tục làm con người được. Vậy cho nên con người và cái mình gọi là sinh môi, không phải là hai cái khác nhau, hai cái đó dựa  trên nhau mà có. Chừng nào không còn chúng sinh thì không còn Bụt, chừng nào không còn cầm thú, đất đá và thảo mộc thì không còn con người. Sự thực là như vậy.

Thành ra mình đừng có hy vọng hão huyền là khi thành Bụt rồi thì mình vĩnh biệt chúng sinh. Cho nên Sanh Phật bất nhị là cái thấy bất nhị, mà cái thấy này phải áp dụng cho tất cả mọi trường hợp. Như là tay trái và tay phải. Chừng nào có tay phải thì chừng đó có tay trái. Anh không thể nào nói rằng tay phải có thể có mặt một mình mà không có tay trái. Bụt và chúng sinh cũng như vậy. Con người, cây cỏ và cầm thú cũng vậy. Không có cái này thì không có cái kia. Cái đó gọi là duyên sinh. Cái đó gọi là tương đãi.

 

Thành Bụt rồi có còn thực tập nữa không?

Trong Bụt có hạnh phúc, có tuệ giác, có bồ đề. Bồ đề là cái ngược với phiền não, tuệ giác là cái ngược lại với si mê, hạnh phúc là cái ngược lại với khổ đau. Nhưng theo tuệ giác do mình quán chiếu mà có, thì tất cả đều vô thường. Không những khổ đau cũng vô thường mà hạnh phúc cũng vô thường. Không phải chỉ phiền não mới vô thường mà bồ đề cũng vô thường. Anh có bồ đề nhưng nếu anh không tiếp tục nuôi dưỡng thì bồ đề của anh cũng hao mòn. Đừng tưởng là một khi mình có bồ đề rồi là mình có bồ đề mãi mãi, tại vì bồ đề cũng vô thường. Quan niệm bất thối cần được xét lại.

Có giác ngộ rồi nhưng nếu không nuôi nấng thì cái giác ngộ đó sẽ bị lu mờ, và mình không sử dụng được nó. Điều này rất rõ. Có nhiều cái mình đã biết rõ, mình đã có tuệ giác về nó, nhưng vì không chịu đem ra sử dụng cho nên mình vẫn cứ hành xử giống như là mình không có tuệ giác. Bụt cũng vô thường và Bụt cũng vô ngã. Nếu mình muốn tiếp tục làm Bụt thì mình phải tiếp tục sử dụng những chất liệu khổ đau, phiền não và si mê để chế tác và nuôi dưỡng hạnh phúc, bồ đề và tuệ giác.

Vì vậy cho nên mới có câu hỏi: thành Bụt rồi thì có còn thực tập nữa không? Câu hỏi này đơn sơ hết sức nhưng lại rất quan trọng. Tại vì phần lớn chúng ta, có thể nói là tới 99% nghĩ rằng khi đã thành Bụt rồi thì khỏi tu, vì thành Bụt rồi thì còn tu làm gì nữa. Thành Bụt nghĩa là có bồ đề, có tuệ giác, có hỷ lạc. Nhưng sự thực thì Đức Thế Tôn vẫn đi thiền hành, vẫn ngồi thiền, vẫn thực tập An  Ban Thủ Ý. Tại vì hạnh phúc, bồ đề, tuệ giác đều vô thường. Và vì vậy cho nên nếu muốn nuôi dưỡng hạnh phúc, bồ đề và tuệ giác ấy cho lâu dài thì Đức Thế Tôn cũng phải tiếp tục thực tập. Và Ngài cũng sử dụng các chất liệu khổ đau, phiền não và si mê để chế tác ra những cái đó. Giống như bông sen. Bông sen đã thành bông sen rồi nhưng muốn còn mãi là bông sen thì nó  không thể nào nhảy ra khỏi bùn được. Nếu nó muốn tiếp tục là bông sen thì nó vẫn phải ở với bùn và sử dụng bùn, nước …để tiếp tục làm ra sen. Cái mê và cái ngộ cũng vậy.

 

Vượt thoát ý niệm Bụt chỉ là một con người

Trong đạo Bụt đại thừa, cố nhiên Bụt có thể có hình dáng của một con người, như Bụt Sakya đã là một con người. Chúng ta biết rằng con người là một sinh vật sinh sau đẻ muộn. Con người xuất hiện trên địa cầu này rất trễ, trễ hơn hầu hết các chủng loại khác. Và như vậy, trước  khi có Bụt dưới hình thức người thì không có Bụt sao? Trước khi có Bụt, không có tuệ giác sao, không có bồ đề sao, không có hạnh phúc sao? Câu trả lời là trước khi có Bụt, vẫn có tuệ giác, vẫn có bồ đề, vẫn có hạnh phúc, nhưng dưới những hình thức khác.

Bây giờ mình hãy thử đặt một câu hỏi đơn sơ: Bụt có thể được nhận diện qua một hình thức khác hay không, nghĩa là một hình thức không phải con người hay không? Kinh Kim Cương nói rất rõ: Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng (phàm cái gì có hình tướng đều là hư vọng). Nếu anh bị mắc kẹt vào tướng, như tướng người thì anh không thấy được Bụt. Bụt không phải chỉ là con người. Trong kinh Kim Cương nói rõ rằng: nếu đi tìm Bụt qua hình tướng, qua âm thanh thì chắc không tìm ra được đâu. Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai. Người nào đi tìm Bụt qua hình sắc, qua âm thanh thì người đó đang đi trên con đường tà và ít có cơ hội để thấy được Như Lai.

Thành ra, mình đã từng bị kẹt vào tướng người của Bụt. Bụt có thể là một hành tinh. Chẳng hạn như trái đất cũng là một vị Bụt. Trong trái đất có tuệ giác, có bồ đề, có hạnh phúc, có nhiều đức tính khác. Và vị Bụt này là một bà mẹ. Bụt không phải chỉ là đàn ông. Trong Cơ Đốc giáo, người ta thường nghĩ tới Thượng Đế là đàn ông, không thể nào là đàn bà được. Nhưng trong đạo Bụt thì có Phật Bà. Vì vậy cho nên trái đất là Phật Bà, là Mẹ. Mẹ của ai? Mẹ của các vị Bụt dưới hình thái con người và mẹ của những vị Bụt dưới những hình thức khác. Tại vì một cây thông hay một bông hoa hồng cũng có thể là Bụt. Và không những con người thành Bụt biết thuyết pháp mà cây thông cũng đang thuyết pháp, cây tùng cũng đang thuyết pháp và bông hoa cũng đang thuyết pháp. Thuyết pháp gì? Thuyết pháp về vô thường, vô ngã, tứ diệu đế, bát chánh đạo, ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần.

Trong đạo Bụt, nhìn với con mắt đại thừa, ta thấy Bụt khắp nơi, thấy Bụt nơi một đóa hồng, nơi một cây tùng. Nếu thấy được như vậy thì mình sẽ không có khó khăn để nhận diện trái đất là một vị Đại Bồ Tát, gọi là Bồ Tát Thanh Lương Đại Địa. Hay mặt trời là một vị Bụt, gọi là Đại Nhật Như Lai. Và mình không bị kẹt vào tướng. Không bị kẹt vào tướng thì mình nhận diện Bụt dễ dàng hơn.

Mình hay có tính kỳ thị. Khi nói tới bùn với sen thì mình thích sen, mình không thích bùn. Mình kỳ thị bùn nhưng sự thật là nếu không có bùn thì không có sen. Và vì vậy cho nên không những trong sen có tính Bụt mà trong bùn cũng có tính Bụt. Kinh Bát Nhã nói rất rõ ràng, rằng tính Bụt đó không dơ cũng không sạch, không thêm cũng không bớt. Cho nên mình cần phải có con mắt vô tướng (animitta) thì mình mới có thể nhận diện được sự có mặt của Bụt. Bụt không phải chỉ biểu hiện dưới hình thức của một con người. Bụt có thể là một hành tinh, Bụt có thể là một bông hoa, một viên sỏi. Vì vậy cho nên ở trong kinh có nói tất cả chúng sinh đều có tính Bụt. Mình phải làm sao để lấy được đi cái ranh giới giữa Bụt và chúng sinh.

Trước khi lạy Bụt, mình được dạy rằng mình phải quán chiếu tính duyên sinh đó của Bụt. Mình đọc bài: Năng lễ sở lễ tánh không tịch. Đứng trước tượng Bụt mình nói rằng: Bạch Đức Thế Tôn, Ngài cũng duyên sinh như con vậy. Tự tánh của Ngài cũng là không, Ngài cũng được làm bằng những yếu tố không phải là Ngài. Cũng như bông sen được làm bằng những yếu tố không phải là sen, một vị Bụt cũng được làm bằng những yếu tố không phải là Bụt. Nhờ có phiền não, nhờ có khổ đau mà Ngài đã có thể thành Bụt. Cũng như bông sen nhờ có bùn mà làm nên bông sen. Con thấy Ngài như vậy, cho nên con thấy được có con ở trong Ngài.

Nhìn vào Bụt mình thấy tính không (the nature of emptiness). Và mình thấy Bụt chứa đựng tất cả, chứ không phải Bụt chỉ có trí tuệ, từ bi, tuệ giác, bồ đề, hạnh phúc mà thôi. Rồi mình nhìn lại mình. Tuy mình là chúng sinh, nhưng mình cũng có tính Bụt, và mình thấy có Bụt trong mình, và trong mình có Bụt. Khi thấy được như vậy rồi thì mới nên lạy. Lạy như vậy thì mới thật sự có truyền thông. Còn nếu Bụt chỉ là Bụt, mình chỉ là mình, thì không thể có truyền thông đích thực. Cho nên ta phải lấy ra cái ranh giới giữa Bụt và ta thì lúc đó lạy Bụt mới có hiệu quả.

Bụt không phải ở ngoài ta, Bụt có thể ở trong ta, cho nên khi lạy Bụt, mình tiếp xúc được với tính Bụt ở trong mình, cái đó mới là đúng. Còn nói Bụt là khác, mình là khác thì vĩnh viễn mình chỉ có thể là mình, và Bụt chỉ có thể là Bụt mà thôi. Bụt không bao giờ trở thành mình, mình không bao giờ trở thành Bụt. Và sự thông cảm giữa hai bên không có. Cảm ứng đạo giao nan tư nghị, nghĩa là sự cảm thông giữa hai bên, Bụt và chúng sinh, khó có thể diễn tả được. Tại vì ta đã thoát được cái thấy lưỡng nguyên, cái thấy phân biệt.

Kinh Kim Cương nói rất rõ: mình có một ý niệm về ngã, về nhân, về chúng sinh. Những ý niệm đó là những ý niệm cần phải vượt thắng. Nhìn vào ngã thì phải thấy những cái vô ngã, nhìn vào con người thì phải thấy những yếu tố không phải là con người, và nhìn vào chúng sinh thì phải thấy Bụt. Đó là kinh Kim Cang. Kinh Kim Cang nói mình phải lấy ra bốn ý niệm: ngã, nhân, chúng sinh và thọ mạng. Thọ mạng tức là thời gian tồn tại của con người, 100 năm. Và khi lấy được ý niệm thọ mạng ra rồi thì mình trở thành bất tử. Mình không phải chỉ có mặt ở đây 100 năm thôi.

 

Vượt thoát ranh giới giữa hữu tình và vô tình


Có một ranh giới nữa mà chúng ta phải vượt thoát, đó là ranh giới giữa hữu tình và vô tình. Hữu tình tức là chúng sinh, còn vô tình tức là những cái không phải chúng sinh, như đất, nước, lửa, gió, khoáng chất (tiếng Anh gọi là “inanimate things”). Có một thi sĩ Pháp hỏi: Objets inanimés, avez vous donc une âme? Hỡi các vật vô tri kia, các ngươi có linh hồn không ? Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng nói tương tự: Làm sao em biết bia đá không đau? Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau. Những cái mà mình cho là vô tình đều có tình. Thành ra không thể gọi những cái đó là vô tình được.

Học về lịch sử của sự sống trên trái đất, mình thấy trái đất thuở sơ khai chỉ có những loài vô tình thôi, rồi trong “nước cháo” của thời nguyên thủy, từ từ mới sinh ra các loài hữu tình, những sinh vật  đơn tế bào ở dưới nước. Rồi những sinh vật đơn tế bào đó phát triển thành những sinh vật đa tế bào. Và từ dưới nước chúng bò lên trên mặt đất, thành ra cây cỏ, rong rêu, rồi thành các loài động vật, và sau cùng thành ra con người. Như vậy cho nên không có ranh giới thực sự giữa các vật vô tình và hữu tình.

Khoa học bây giờ đã khám phá ra rằng những cái mà mình cho là vô tình như những quang tử hay điện tử, chúng thông minh lắm, chúng có cái biết trong tự thân. Nhìn vào trong một hạt bắp, mình không thể nói hạt bắp là loài vô tình được. Trong hạt bắp có cái thức, có cái biết. Hạt bắp có tài năng, có cái biết. Mình chỉ cần gieo hạt bắp xuống đất thì chỉ trong 7 ngày là nó biết nảy mầm, và trở thành ra cây bắp con. Và nếu tiếp tục thì nó có thể làm ra lá, ra hoa và thành trái bắp. Như vậy nói hạt bắp là vô tình thì không đúng. Nó cũng là một thứ hữu tình vậy.

Mình được làm bằng những chất liệu vô tình. Giữa hữu tình và vô tình không có ranh giới đích thực. Cho nên đất đá cũng có tính Bụt. Không chỉ con chó có tính Bụt mà cục đá kia cũng có tính Bụt (trong thiền môn có công án: con chó có Phật tánh không ?).  Vì vậy ta phải tìm cách vượt thoát ý niệm Bụt chỉ là một con người.

Bụt là hơi thở nhẹ, Bụt là dáng ngồi yên

Chúng ta có một bài thiền hướng dẫn khá hay, đó là bài: mời Bụt thở, mời Bụt ngồi. Không biết quý vị có thực tập bài này chưa, bài này hay lắm! Tôi rất ưa thực tập bài này.

Bài tập đầu tiên:
Mời Bụt thở nhẹ, mời Bụt ngồi yên

Ngồi xuống rồi mình nói: mời Bụt thở, mời Bụt ngồi. Bụt ở đây không phải là một thực tại ở ngoài mình. Mình nói: Lạy Đức Thế Tôn, xin Ngài dùng lưng của con để ngồi; xin Ngài dùng hai lá phổi của con để thở. Mời Bụt thở, mời Bụt ngồi. Bụt không phải là một cái ngã. Mỗi khi mình thở có an lạc, có hạnh phúc, có bình an là có Bụt. Mỗi khi ngồi có vững chãi, có thảnh thơi là có Bụt. Thành ra Bụt không phải chỉ là con người. Đồng nhất Bụt với con người là sai. Hễ khi nào có vững chãi, có thảnh thơi, có an lạc là có Bụt.

Bụt không ngồi thì thôi, còn nếu Bụt ngồi thì Ngài ngồi rất thẳng và thoải mái. Bụt không thở thì thôi, còn nếu Bụt thở thì Bụt thở rất nhẹ và thở có ý thức. Mình dâng hai lá phổi mình cho Bụt thở, mình dâng cái sống lưng mình cho Bụt ngồi. Mình bắt đầu vượt thoát ý niệm Bụt là một thực thể ở ngoài mình rồi. Nếu Bụt thở bằng phổi của mình và ngồi bằng sống lưng của mình thì như vậy mình với Bụt rất gần.

Bài tập thứ hai:
Bụt đang thở nhẹ, Bụt đang ngồi yên.
Mình được thở nhẹ, mình được ngồi yên.

Bụt đang dùng phổi của mình để thở, Bụt đang dùng sống lưng của mình để ngồi. Và nếu Ngài đang thở nhẹ, Ngài đang ngồi yên thì mình cũng đang được thở nhẹ, mình cũng đang được ngồi yên. Rất hay. Lúc đó mình không thấy Bụt là một cái gì ở ngoài mình nữa. Bụt đang thở nhẹ, Bụt đang ngồi yên. Mình được thở nhẹ, mình được ngồi yên. Và nếu quý vị thích thú, khỏe, nhẹ, thấy yên thì cứ như vậy mà tiếp tục thở. Bao nhiêu phút cũng được.

Hai câu đầu mời Bụt thở nhẹ, mời Bụt ngồi yên. Mình thực tập vài phút, để cho mình và Bụt trở thành một. Bụt đang thở nhẹ, Bụt đang ngồi yên. Mình được thở nhẹ, mình được ngồi yên. Bài tập thứ hai này đưa lại hạnh phúc và thoải mái rất nhiều, thành ra mình muốn thực tập bao lâu cũng được. Rồi tiến tới một bước nữa, mình thực tập bài tập thứ ba.

Bài tập thứ ba :
Bụt là hơi thở nhẹ, Bụt là thế ngồi yên.
Mình là hơi thở nhẹ, mình là thế ngồi yên.

Đi tìm một vị Bụt ngoài hơi thở nhẹ, ngoài thế ngồi yên là không thể được. Hễ anh là Bụt thì anh biết thở nhẹ, anh biết ngồi yên. Nếu anh không có cái đó thì anh không phải là Bụt. Vì vậy nên Bụt không phải là một hình hài. Bụt là sự có mặt của hơi thở nhẹ nhàng và dáng ngồi bình yên. Bụt là thở nhẹ, Bụt là ngồi yên. Đi tìm Bụt ở đâu nữa? Mình thấy hơi thở đang nhẹ và dáng ngồi đang bình yên thì biết là có Bụt rồi đó, ngay trong giây phút hiện tại. Đó là cái nhìn vô tướng về Bụt.

Bụt đang thở nhẹ, Bụt đang ngồi yên. Mình được thở nhẹ, mình được ngồi yên. Bụt là hơi thở nhẹ, Bụt là thế ngồi yên. Mình cũng vậy, mình không có cái ngã riêng. Mình là hơi thở nhẹ, mình là thế ngồi yên. Vì vậy cho nên ranh giới giữa mình và Bụt được xóa liền lập tức. Bụt là hơi thở nhẹ, Bụt là thế ngồi yên. Mình là hơi thở nhẹ, mình là thế ngồi yên. Như vậy mình với Bụt là một rồi. Mình vượt thoát cái nhìn nhị nguyên. Bước tới một cái nữa thì mình đốn ngã được cây ngã chấp. Đó là bài tập thứ tư.

Bài tập thứ tư:
Chỉ có thở nhẹ, chỉ có ngồi yên.
Không ai thở nhẹ, không ai ngồi yên.

Đó là vô ngã. Có Bụt và có mình, nhưng Bụt và mình đều là hơi thở nhẹ, đều là dáng ngồi yên, không cần có một chủ thể, không cần có một cái ngã để làm cái việc thở nhẹ và ngồi yên. Với bài thứ tư đó mình vượt thoát được cái chấp là có một cái ta đang thở nhẹ, có một cái ta đang ngồi yên. Sự thật là chỉ có sự thở nhẹ và sự ngồi yên đang xảy ra thôi. Không cần có một cái ta đang thở nhẹ, một cái ta đang ngồi yên.

Ta nói gió thổi, mây bay, hay mưa rơi. Gió cố nhiên là thổi rồi. Nếu mà không có thổi thì đâu phải là gió. Còn mưa mà không rơi thì đâu phải là mưa. Nếu nhìn cho kỹ thì mình thấy không có một cái ngã chủ trương thổi, hay một cái ngã chủ trương rơi (There is no blower, there is no rainer. There is only the wind and the rain).

Chỉ có thở nhẹ, chỉ có ngồi yên. Không ai thở nhẹ, không ai ngồi yên. Bụt và mình không phải là những cái ngã.

Nhìn địa cầu, mình thấy địa cầu cũng đang thở nhẹ, địa cầu cũng đang ngồi yên. Vì vậy cho nên địa cầu cũng là một vị Bụt. Mình không cần phải tưởng tượng vị Bụt dưới hình tướng của một con người. Khi nào có sự yên tĩnh, khi nào có sự an lạc thì khi đó có Bụt. Bụt không phải là một chủ thể và vì vậy cho nên khi đi tới bài kệ thứ 5 thì mình thấy rất là rõ.

Bài tập thứ 5:
An khi thở nhẹ, lạc khi ngồi yên
An là thở nhẹ, lạc là ngồi yên

Hiện tại, có an và có lạc là tại vì có hơi thở nhẹ và có thế ngồi yên. Không cần phải có người để an và người để lạc mà vẫn có thể có an và có lạc như thường. Đâu cần phải có một cái ngã thì mới có an, có lạc. An khi thở nhẹ, lạc khi ngồi yên. An là thở nhẹ, lạc là ngồi yên. Nói tóm lại là chỉ có hơi thở nhẹ, chỉ có thế ngồi yên, và nhờ vậy mà có an và có lạc. Không cần có một cái ngã, không cần có Bụt, không cần có mình mà những cái đó vẫn có.

Vì vậy cho nên muốn đi tìm Bụt, mình không cần trở về Ấn Độ 2600 năm trước. Mình cũng không cần đi vô chùa, vì vô chùa chỉ thấy tượng Bụt bằng đồng hay bằng cẩm thạch. Nếu mình chưa thoát khỏi cái thấy hữu tướng, nghĩa là còn thấy Bụt phải là con người, phải có 32 tướng tốt, 80 tướng đẹp thì lúc đó mình còn đang kẹt. Tại mình đang đi tìm Bụt qua hình sắc và âm thanh. Vì vậy cho nên nếu mình ngồi yên, nếu mình thở nhẹ được và chế tác được hỷ, lạc, và giải thoát thì lúc ấy có Bụt liền. Và Bụt đó là Bụt thật, chứ không phải là Bụt bằng đồng hay bằng đá.

Chính nhờ những phiền não, những bất an, những lăng xăng, những rối loạn nên mình mới có khuynh hướng đi tìm Bụt. Rồi từ những rối loạn, những lăng xăng, những bức xúc, những khổ đau, những buồn tủi đó mà mình làm ra chất thảnh thơi và an lạc, cũng như nhờ bùn mà mình làm ra được những bông sen. Cho nên đừng chạy trốn phiền não và khổ đau. Nếu mình biết cách thì những phiền não, những khổ đau đó được sử dụng để trở thành hạnh phúc, bồ đề và tuệ giác.

Như vậy câu hỏi đơn sơ: thành Bụt rồi có cần phải tu nữa không? là một câu hỏi rất hay. Thành Bụt có nghĩa là có hạnh phúc, có bồ đề, có tuệ giác. Có rồi mà nếu mình không tiếp tục thực tập thì những cái đó cũng mất từ từ thôi. Vì vậy cho nên phải nuôi dưỡng chúng bằng sự thực tập. Mà nuôi dưỡng chúng, thực tập chúng thì phải sử dụng những chất khổ đau, si mê để tiếp tục tạo hạnh phúc, bồ đề và tuệ giác. Phật giáo Đại thừa nói rất rõ: phiền não tức bồ đề. Và Niết bàn nằm trong sinh tử. Niết bàn và sinh tử là một cặp bài trùng. Nếu không có cái này thì không có cái kia. Cũng như mặt trái và mặt phải là một cặp bài trùng, không có trái thì không có phải. Niết bàn và sanh tử cũng vậy. Nếu mình nghĩ khi có Niết bàn rồi thì không còn sanh tử nữa, tức là mình còn bị kẹt vào cái thấy lưỡng nguyên.

Một vị thiền sư, khi được đệ tử hỏi: con phải đi tìm Niết bàn ở đâu, đã nói: con tìm nó ngay trong sanh tử. Rất rõ. Nhìn cho kỹ sinh tử thì thấy Niết bàn. Cho nên sự thực tập hàng ngày của mình phải thực tế. Với những bước chân, với những hơi thở, với những lời nói, mình làm sao tạo ra chất bình an, chất hỷ và chất lạc. Từ những cái không bình an, không hỷ, không lạc, mà mình tạo ra được cái bình an, cái hỷ và cái lạc. Luôn luôn sử dụng bùn để làm ra sen. Luôn luôn sử dụng phiền não để chế tác bồ đề, đó là công phu hàng ngày của mình. Cho nên chuyện chế tác hạnh phúc có liên hệ tới chuyện xử lý phiền não. Hễ xử lý phiền não được là chế tác hạnh phúc được. Hai cái tuy là hai nhưng kỳ thực là một. Đừng chạy trốn khổ đau, phải nắm lấy khổ đau và học cách chuyển hóa nó thành hạnh phúc. Ngã ở đâu thì chống ở đó và đứng dậy.

 

 


Phiên tả từ pháp thoại của Ts. Thích Nhất Hạnh ngày 1/12/2013 tại xóm Thượng, khóa an cư kiết đông 2013 – 2014

Pháp thoại phiên tả