| |
Đi
Như Một Dòng Sông
Đường Xưa Mây Trắng
Hạt Giống Đi Xa
Làng Mai Vô Tướng
RUE DE LA GOUTLE D'OR
Sáu Cây Tùng Lọng
Sen Búp Từng Cánh Hé
Liên Hệ Thầy Trò
Sáu Cây Tùng
Lọng
Ngày 28/9/1982 mình tìm ra được
Xóm Hạ. Trước khi tìm ra Xóm Hạ thì mình đã tìm ra Xóm Thượng nhưng
ông chủ của Xóm Thượng không chịu bán đất. Ông chủ Xóm Thượng có
một đứa con trai. Mẹ của người con trai đó muốn ông chồng bán đất
của Xóm Thượng để đưa cho người con trai làm vốn. Nhưng ông Dezon,
chủ đất của Xóm Thượng, không muốn bán vì ông rất yêu quý miếng
đất ấy. Ông không nỡ buông đất ra. Điều này mình hiểu vì ông đã
từng làm nông dân ở Xóm Thượng lâu ngày rồi. Vì vậy cho nên ông
thương quá và không muốn buông ra. Khi đi thăm Xóm Thượng, tôi rất
ưng ý vì Xóm Thượng đẹp. Thấy con đường thiền hành ở Xóm Thượng
tôi ưng liền, "fall in love" liền ngay khi lúc đầu mới
gặp. Nhưng vì ông Dezon chưa chịu bán thành ra mình phải đi tìm
một chỗ khác và sau đó mấy ngày mình tìm ra được Xóm Hạ. Nhưng tìm
ra được Xóm Hạ rồi mình vẫn còn muốn Xóm Thượng. Vì vậy mình tiếp
tục theo đuổi Xóm Thượng. Năm đó có nhiều mưa đá làm cho nho của
ông Dezon bị hư hết và ông nổi điên, tăng giá. Tăng giá thật ra
không phải là để cho ông có nhiều tiền. Ông tăng giá là để cho mình
khỏi mua, và để cho ông khỏi phải bán. Nhưng vì mình ưa quá thành
ra dù ông tăng giá mà mình vẫn mua như thường. Vì vậy chúng ta có
Xóm Hạ Làng Mai trước rồi sau đó mấy tháng lại có Xóm Thượng Làng
Mai.
Vào đầu năm 1983 trên Xóm Thượng
chúng ta bắt đầu trồng cây. Những cây đầu tiên là tùng lọng, những
cây tùng tỏa phía trên ra như cái lọng, gọi là pin parasol (umbrella
pine). Chúng ta đã trồng được sáu cây tùng lọng ngày hôm đó với
sự cọng tác của một bác nông dân trong vùng với cái máy đào đất.
Đất Xóm Thượng đào tới đâu là có đá ở đó. Phải có cái máy mới đào
được. Ta đã trồng được 6 cây lớn và có bỏ phân bò ở dưới. Ngày hôm
ấy trời mưa và mọi người đều ướt nhẹp hết. Sau khi trồng xong tùng
lọng thì tôi ngã bịnh và nằm luôn ba tuần lễ. Trong làng ai cũng
lo. May quá, sau đó thì tôi dậy được và bắt đầu ăn cháo. Mình quyết
định mở cửa làng ngay năm đó, tức là năm 1983. Mình mua đất vào
mùa đông năm 82 và đã mở cửa làng vào mùa hè năm 83. Vì vậy từ mùa
đông 82 tới mùa hè 83 thầy trò phải làm việc khá nhiều. Trước đó
mỗi mùa hè thì ta mở cửa ở Phương Vân Am. Phương Vân Am ở miền Đông
Nam của Paris , năm nào cũng mở cửa cho thiền sinh về tu học. Nhưng
am nhỏ quá, không tiếp đón được nhiều thiền sinh. Thầy trò đã đi
về miền Nam kiếm đất để làm một trung tâm tu học có thể tiếp đón
được nhiều người. Lịch sử Phương Vân Am cũng rất hay, nhưng sư cô
Chân Không kỳ trước đã nói về Phương Vân Am rồi nên hôm nay tôi
khỏi nói. Bài thơ "Ảo hóa" đã được làm ở Phương Vân Am.
Mùa xuân năm 83 mình đã ấn hành một tập sách hướng dẫn gọi là Sổ
Tay Của Người Về Làng . Hồi đó không gọi là Làng Mai mà gọi là Làng
Hồng tại vì ta còn hoài niệm cái Làng Hồng ở Việt Nam . Làng Hồng
là một trung tâm tu học mà Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội và
Dòng Tiếp Hiện dự trù thành lập để làm chỗ tu dưỡng cho những người
tác viên xã hội. Hồng đây có nghĩa là cây hồng, trái hồng chứ không
phải là hoa hồng. Thật ra trước đó chúng ta đã có Phương Bối Am
ở miền cao nguyên Trung phần, ở Blao. Phương Bối Am mà quý vị biết
đến nhờ cuốn Nẻo Về Của Ý và các vị từng đọc Fragrant Palm Leaves
hay là Feuilles odorantes de Palmier thì đã biết chút ít về Phương
Bối Am. Phương Bối Am cũng là một loại Làng Hồng, xuất hiện sớm
lắm. Từ những năm 1950, Phương Bối Am đã được thành lập và cũng
là một trung tâm tu học. Nhưng vì nó cách thành phố xa quá đi, nên
Dòng Tiếp Hiện và trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội đã muốn có một
làng gần hơn. Khi viết quyển Phép Lạ của Sự Tỉnh Thức tôi cũng đã
có nói tới Làng Hồng và tám năm sau thì mình tậu được Xóm Hạ. Mãi
tới 8 năm sau điều tiên đoán trong Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức mới
được thực hiện và mình có được Làng Hồng. Mình tính trồng hồng nhưng
cuối cùng thì thấy không thực tế nên đã trồng mai. Chúng ta còn
khá ngây thơ, nghĩ là nếu trồng nhiều mai (tức là mận) thì đó là
một nguồn kinh tế tự túc. Nhưng không phải là nông dân chuyên nghiệp
nên ta đã không thành công lắm. Chúng ta đã hưởng hoa mai nhiều
hơn là trái mận. Sư cô Chân Đức đã từng ghi tên học tỉa mận một
tuần lễ và sư cô cũng có khả năng tỉa mận. Nếu không tỉa thì mận
không thể lớn và không có trái.
Không biết sư cô Chân Đức còn nhớ
nghệ thuật tỉa mận không, nhưng sức của sư cô thì chỉ tỉa được vài
chục cây là hết. Ở đây mình lại có tới 1250 cây mận. Chúng ta bắt
đầu trồng mận ngay vào năm đầu của Làng mở cửa, tức là năm 1983.
Và trong số những cây mận được trồng đó có những cây được trồng
bằng tiền túi của các thiếu nhi về Làng. Các em nghe rằng mận này
trong 7 năm sẽ có trái, trái đó sẽ được phơi khô, bán và lấy tiền
gởi về cho trẻ em đói ở Việt Nam và những nước nghèo đói. Vì vậy
nhiều thiếu nhi đã để dành tiền túi mà trồng cây mận. Hồi đó mỗi
cây mận mang tên một em bé Việt Nam hay một em bé ngoại quốc nhưng
số lượng các em bé Việt Nam đông hơn. Mỗi em phải có 35 quan Pháp
thì mới có thể trồng được một cây mận. Còn nếu không có đủ 35 quan
Pháp thì em phải chung vốn với một em khác mới có thể trồng được
một cây mận ở Làng Mai, nghĩ rằng cây mận đó là để nuôi trẻ em đói.
Và chúng ta đã cố gắng để trồng đủ số 1250 cây mận. Đó là con số
của tăng đoàn nguyên thủy của Bụt. Vào tháng 5 năm 83, chúng ta
ấn hành tập Sổ Tay Của Người Về Làng bằng tiếng Việt, sau đó mấy
tháng ấn hành tập bằng tiếng Anh.
Khóa tu mùa hè gọi là Summer Opening.
Mùa hè đầu tiên có 117 thiền sinh về tu học. Trong mùa tu học này
chúng ta chưa có thiền lạy, chưa có thi kệ nhật dụng nhưng đã có
thiền tọa, thiền hành, thiền trà và tham vấn. Hồi đó chưa có các
thầy các sư cô nên tôi phải hướng dẫn thiền sinh từ đầu tới cuối,
từ A tới Z. Từ thiền ngồi qua thiền trà đến thiền hành tôi phải
hướng dẫn hết. Tôi phải đi chữa cái lưng của từng người cho thẳng,
cái đầu của từng người cho ngay. Hồi đó chưa có cuốn Thiền Hành
Yếu Chỉ tức là tập sách viết về phương pháp thiền đi. Trước khi
Làng mở cửa đã có một Lá Thư Làng Mai , nhưng hồi đó gọi là Lá Thư
Làng Hồng . Lá Thư đó chỉ có 3 trang nhưng đọc cũng vui lắm. Tôi
xin đề nghị Tết này mình sẽ photocopy Lá Thư Thứ Nhất, Lá Thư Thứ
Hai, Lá Thư Thứ Ba rồi dán lên tường cho mọi người đọc. Các bạn
của chúng ta sẽ biết những gì xảy ra trong năm đầu của Làng Mai.
Những chi tiết như tôi trồng xong tùng lọng và ngã bệnh nằm luôn
ba tuần cũng được ghi chép trong đó. Mùa thu năm đó có Lá Thư Làng
Hồng Số Hai, tường thuật đầy đủ về những gì đã xảy ra trong khóa
tu mùa hè. Người ta rất hạnh phúc. Ngay mùa hè đầu tiên mà đã có
thiền sinh Tây phương về tu chung với người Việt. Vào mùa hè thứ
hai có 232 người về tu, mùa hè thứ ba có 305 người, mùa hè thứ tư
có 396 người, mùa hè thứ năm có 452 người, mùa hè thứ sáu 463 người,
mùa hè thứ bảy 483 người, mùa hè thứ chín 1030 người. Tới 1996 thì
vào mùa hè có 1200 người về. Vào mùa hè 1998 thì 1450 người về Làng
tu học. Mùa hè 1999 thì có 1500 người và vào năm 2000 thì số lượng
thiền sinh tăng lên 1800. Cố nhiên không phải là 1800 người về Làng
một lần, tại vì có người chỉ về hai tuần, có người về ba tuần, có
người về một tuần, và có người về luôn bốn tuần. Có người về hơn
bốn tuần vì sau khi về bốn tuần thì thấy ưa thích quá, đòi ở lại.
Nói như vậy không có nghĩa là thiền sinh chỉ về mùa hè. Trong các
mùa khác cũng có thiền sinh về để tu học. Những năm đầu thì thiền
sinh ngoại quốc được ở Xóm Thượng. Thiền sinh gốc Việt Nam và Á
châu thì ở Xóm Hạ để được ăn thức ăn quê hương.
Những cây tùng gọi là Cedre Atlantica
mà quý vị thấy ở Xóm Thượng cũng được trồng vào năm đầu. Hồi mình
trồng thì những cây đó chỉ cao có 1m20 thôi. Những cây đó lên chậm
lắm và càng lớn thì chúng càng đẹp. Ba trăm năm thì sẽ rất đẹp.
Cedre Atlantica dịch là Tùng Đại Tây, có hai thứ: một thứ màu lục,
một thứ màu lam. Mỗi khi đi thiền hành ở Xóm Thượng chúng ta đều
xuất phát từ cây tilleul, cây bồ đề. Qua thiền đường Chuyển Hóa,
chúng ta gặp bên tay phải những cây tùng Đại Tây , những cây Cedre
Atlantica. Bây giờ đã đẹp rồi. Mỗi khi đi ngang qua những cây tùng
Đại Tây đó thì tôi hay nghĩ tới các sư chú, các sư cô. Tôi thường
hay đứng lại để ca ngợi "sư chú này làm ăn khá quá", tại
vì các cây tùng đó lên rất tốt tươi, rất xinh đẹp. Tôi thường nhìn
và thấy đó là một sư chú hay một sư cô đang lớn lên rất mạnh khỏe
trên đất Làng Mai. Và mỗi khi đi ngang qua chúng ta hay dừng lại
để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những cây tùng ấy. Hai mươi năm qua,
bây giờ các cây tùng ấy đã lớn, không còn là những cây tùng nhỏ
bé một thước hai như ngày xưa. Ở Làng Mai cũng có nhiều cái đã lớn
như các cây tùng. Không những là các sư cô sư chú đã lớn, các Phật
tử cư sĩ đã lớn, mà những pháp môn thực tập của mình cũng lớn. Và
những kinh nghiệm học hỏi và thực tập của mình cũng lớn như những
cây tùng.
|