| |
Đi
Như Một Dòng Sông
Đường Xưa Mây Trắng
Hạt Giống Đi Xa
Làng Mai Vô Tướng
RUE DE LA GOUTLE D'OR
Sáu Cây Tùng Lọng
Sen Búp Từng Cánh Hé
Liên Hệ Thầy Trò
Hạt giống đi
xa
Ngày xưa tôi cũng đã từng
dạy và đào tạo nhiều lớp tăng sinh, ni sinh nhưng chưa bao giờ tôi
có hạnh phúc nhiều như vậy. Vì thầy trò sống với nhau, thực tập
với nhau nên mỗi ngày tôi đều kiếm cách để trao truyền tất cả những
gì tôi đang có; giống như chiếc lá chuối đầu trao truyền lại cho
chiếc lá chuối thứ hai, thứ ba... Hạnh phúc mà các sư cô, sư chú
trao cho tôi rất lớn. Không biết vì lý do gì mà các sư cô sư chú
ở Làng Mai người nào cũng xinh đẹp, dễ thương, có con mắt rất sáng,
có nụ cười rất tươi. Không biết có phải là vì trước khi đi tu họ
đã đẹp sẵn hay nhờ đi tu mà họ đẹp ra? Hay là vì lý do cha mẹ thường
thường thấy con mình đẹp hơn con người khác? Nhưng mà sự thật thì
tôi thấy các sư cô sư chú Làng Mai rất đẹp, dầu họ gốc Âu châu,
Mỹ châu, hay Á châu. Điều này quý vị chắc cũng có nhiều người đồng
ý với tôi. Xong lễ xuất gia thì đã thấy họ đẹp hơn liền. Mới có
mấy giờ đồng hồ sau lễ xuất gia mà thấy mặt mày họ đã rạng rỡ hơn,
hai mắt họ đã sáng hơn, miệng cười họ đã tươi hơn. Đó là do quyết
tâm, do giới thể, do sự dấn thân của người tu . Và ngồi với các
sư cô sư chú để uống trà, để pháp đàm, để nói chuyện hạnh phúc trong
hiện tại và trong tương lai là một trong những chuyện tôi ưa làm
nhất. Tôi để thì giờ cho các sư cô sư chú rất nhiều và những giờ
đó đem lại cho tôi rất nhiều hạnh phúc. Tôi rất muốn ở trong các
chùa của mình có một số các vị cư sĩ cùng thực tập chung với các
sư cô sư chú để trở thành một cái cầu bắc ngang giữa những người
xuất gia và những người tại gia bên ngoài. Những người đó thực sự
đáng gọi là cận sự: rất gần gũi , rất hiểu biết thì mới chuyển được
tuệ giác, hạnh phúc của tăng đoàn xuất gia tới tập đoàn của người
cư sĩ. Và đó là một trong những lý do khiến cho mình đi tới trên
sự phát triển dòng tu Tiếp Hiện. Trong dòng Tiếp Hiện có rất nhiều
người cư sĩ, họ là cư sĩ nhưng không phải như những người cư sĩ
khác, họ có 14 giới và 14 giới của họ là một cái cầu nối liền tăng
đoàn những người xuất gia với đoàn thể những người cư sĩ. Hiện bây
giờ chúng ta đang có những cố gắng thành lập những cọng đồng những
người tại gia do những người tại gia hướng dẫn như cọng đồng InterSein
bên Đức do ba vị giáo thọ Đức hướng dẫn, cọng đồng Clear View ở
Santa Barbara Mỹ cũng do hai vị giáo thọ Mỹ hướng dẫn. Chúng ta
mong rằng trong những năm tới của thế kỷ 21 sẽ có nhiều tăng thân
tại gia như vậy được thành lập khắp nơi trên thế giới do những người
Tiếp Hiện tại gia lãnh đạo. Chúng ta cũng hy vọng rằng có rất nhiều
cơ sở, trung tâm thực tập chánh niệm mà không có màu sắc tôn giáo,
gọi là Mindfulness Practice Center , được thiết lập ở mỗi thành
phố để cho mọi người bất luận tôn giáo nào, chủng tộc nào đều có
thể đến để thực tập, cảm thấy thoải mái, cảm thấy mình không cần
phải bỏ đạo gốc mà theo một đạo mới.
Thực tập của Làng Mai bây
giờ phải vượt khỏi ranh giới của tôn giáo. Điều này tôi thấy thật
rõ. Trong chuyến đi Trung Quốc vừa rồi, khi gặp Ủy Ban Tôn Giáo
Nhà Nước tăng đoàn của mình có tặng cho họ một bức bút pháp có chữ
"The Spiritual Dimension" (Chiều Hướng Tâm Linh). Ý của
mình muốn nói là Trung Quốc đang phát triển về mọi mặt: kinh tế,
giáo dục, nghệ thuật, chính trị, nhưng mà người ta vẫn khổ nếu người
ta không có yếu tố tâm linh trong đời sống và hoạt động của mình.
Vì vậy yểm trợ cho đạo Bụt để đạo Bụt có thể đóng góp cho phần tâm
linh ấy thì sẽ giúp người ta bớt khổ.
Cách đây độ chừng mấy tuần
trường đại học y khoa Genève có mời tôi qua giảng một bài về bộ
óc của con người. Họ tổ chức một tuần lễ gọi là Semaine du Cerveau
(tuần lễ về bộ óc) và họ quy tụ những nhà khoa học thần kinh, những
nhà khoa học về não bộ để chiếu thêm ánh sáng vào lĩnh vực đó. Tôi
đâu phải một chuyên gia về óc mà họ vẫn mời. Là tại vì người ta
muốn có một cái thấy về phương diện tâm linh. Rồi Davos, tức là
hội nghị quốc tế của những nhà doanh thương lớn cũng mời tôi. Tôi
đâu phải là một nhà doanh thương, vậy mà sao họ cũng mời? Là tại
vì họ thấy giới doanh thương và chính trị cũng có những đau khổ,
lo lắng, sợ hãi và họ cần tới một chiều hướng tâm linh. Rồi trường
y khoa Harvard cũng vậy, mời tôi cho một ngày quán niệm cho các
bác sĩ, cho các nhà khảo cứu y khoa. Trong khắp các lãnh vực người
ta đang cần cái chiều tâm linh để bớt lo lắng, khổ đau, sợ hãi.
Vì vậy đạo Bụt phải vượt khỏi cái giới hạn tôn giáo của mình để
đi tới như một nguồn tuệ giác không có màu sắc tôn giáo. Điều này
mình thấy rất rõ và đó là sứ mạng của Đạo Tràng Mai Thôn. Các thầy,
các sư cô, các Phật tử cư sĩ biết rằng mình phải đem đạo Bụt ra
phụng sự cho đời không phải với tính cách một tôn giáo mà với tính
cách một nguồn tuệ giác, một truyền thống thực tập. Mình phải đem
đạo Bụt vào trong tù, mình phải đem đạo Bụt vào trong trường học,
trong bịnh viện, trong nha cảnh sát. Làm thế nào để cho những người
đó sống đời sống của họ một cách thoải mái, giảm bớt khổ đau. Vì
vậy cho nên chúng ta rất cần học hỏi cống hiến phương pháp thực
tập chánh niệm như thế nào để có thể áp dụng được trong mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội mà không bị hạn hẹp bởi hình thức tôn giáo.
Đứng về phương diện hoạt
động của Làng Mai, chúng ta đã mở những khóa tu không những chỉ
ở Làng Mai mà ở khắp các nước Âu châu, Mỹ châu và Á châu. Chúng
ta đã mở các khóa tu cho sự thực tập trong các gia đình. Chúng ta
đã mở các khóa tu cho các em thiếu nhi (chỉ cho các em thiếu nhi
thôi), nhiều lần ở Mỹ, ở Úc và tại Âu châu. Chúng ta đã mở các khóa
tu cho các nhà tâm lý trị liệu tại Mỹ châu và Âu châu. Chúng ta
đã mở các khóa tu cho các cựu chiến binh, cho các nhà hoạt động
sinh môi, cho các bác sĩ và các y tá, cho những nhà hoạt động hòa
bình. Chúng ta đã đem đạo Bụt vào trong tù. Mỗi năm chúng ta đều
có những khóa tu như vậy, do các vị giáo thọ của Làng Mai tổ chức
hoặc do tăng đoàn ở Làng Mai đi tổ chức. Và năm nay trường đại học
y khoa Harvard muốn tôi qua để nhận một giải thưởng của họ. Họ nói
các khóa tu đó đã giúp người ta trị liệu và bớt khổ rất nhiều. Chúng
ta không phải là bác sĩ, không phải là những nhà tâm lý trị liệu
nhưng những khóa tu đó đã đem lại sức khỏe, niềm vui và hy vọng
cho hàng ngàn người mỗi năm. Vì vậy họ muốn công nhận sự thật đó
bằng một giải thưởng. Nói như vậy có nghĩa là chúng ta đã vượt được
cái ranh giới về tôn giáo và đi vào cuộc đời.
Trong quá trình lớn lên
của Làng Mai, chúng ta đã hiện đại hóa được sự học hỏi và thực tập
của đạo Bụt. Giáo lý của chúng ta được quần chúng tiếp nhận một
cách rất hồ hởi, một cách hoan hỷ. Mỗi khi chúng ta tổ chức một
khóa tu thì Phật tử từ các truyền thống khác nhau đều tới tu tập,
không kỳ thị. Dù theo truyền thống thiền Nhật Bổn hay là thiền Cao
Ly, thiền Vipassana hay là thiền Miến Điện, họ đều tới tu học và
cảm thấy rất thoải mái trong các khóa tu của chúng ta. Pháp môn
và sự thực tập của chúng ta giống như mẫu số chung cho các hệ phái
Phật giáo. Chúng ta đã cống hiến sự học hỏi đó, sự thực tập đó cho
tất cả các giới trong xã hội: giới tâm lý trị liệu, giới bảo vệ
sinh môi, giới bác sĩ, giới doanh thương v.v .. đủ hết. Có những
nhà doanh thương sau khi đã dự khóa tu tổ chức tại Làng Mai nói
rằng hai, ba tháng sau mà họ vẫn tiếp tục có thêm tuệ giác. Những
hạt giống được gieo trong khóa tu từ từ nẩy sinh và cho họ thêm
tuệ giác, cho họ biết nên đi con đuờng nào và không nên đi con đường
nào. Chúng ta đã trình bày được giáo lý và những pháp môn tu tập
mà người trẻ và người trí thức Tây phương có thể hiểu được, chấp
nhận được và áp dụng được. Đó là một thành công lớn của Làng Mai
nhưng không phải là công trình của một người hay công trình của
một vài năm. Đây là công trình của ba mươi năm trong đó có hai mươi
năm của Làng Mai và công trình của cả tăng thân. Chúng ta đã trình
bày được Năm Giới với ngôn ngữ không Phật giáo. Năm Giới là sự biểu
hiện rất trung thực, rất sâu sắc không những giáo lý của đạo Bụt
mà cả sự hành trì của đạo Bụt. Và Năm Giới được trình bày như là
Chánh Niệm, là sự thực tập cụ thể của Chánh Niệm chứ không phải
là những cấm cản. Và chúng ta cũng đã trình bày được 14 giới Tiếp
Hiện như là tinh ba giáo lý và sự thực tập của đạo Bụt. Cho đến
nỗi những người không thuộc về Phật giáo cũng muốn tụng giới Tiếp
Hiện. Chúng ta đã thành lập trên dưới 800 tăng thân ở khắp nơi trên
thế giới. Tại những thành phố lớn như Luân Đôn cũng đã có gần mười
tăng thân, vì thành phố quá lớn. Tại những thành phố nhỏ cũng có
những tăng thân. Ngay tại bên Do Thái cũng đã có những tăng thân
của Làng Mai. Ở Việt Nam có hàng chục ngôi chùa và những tăng thân
khác đang thực tập theo pháp môn của Làng Mai. Nếu chúng ta chưa
thấy được trên dưới 800 tăng thân đó thì ta chưa thấy được Làng
Mai. Bên Úc, bên Đức cũng vậy, có rất nhiều tăng thân.
Năm ngoái ngồi ở Luân Đôn
trong khóa tu tôi rất cảm động khi các thiền sinh ở Edinburgh viết
thư cho tôi. Có mười mấy lá thư từ Edinburgh . Edinburgh ở miền
bắc Anh quốc, thuộc Tô Cách Lan ( Scotland ). Tôi chưa bao giờ bước
chân đến thành phố Edinburgh , vậy mà thiền sinh ở đó viết thư cho
tôi rất tha thiết. Họ nói về sự thực tập của họ, hạnh phúc của họ
và về tăng thân được thành lập ở thành phố đó. Tại sao tôi chú ý
đến Edinburgh ? Tại vì hồi xưa tôi có một người bạn đồng tu xuất
gia đã từng đi du học ở Edinburgh . Vị đó đã được gởi đi Colombo
để học Phật giáo, nhưng học được vài năm thì hơi chán nên đã xin
qua Anh để học và đã được gởi tới Edinburgh . Vị đó đã học nhân
chủng học nhiều năm và đã về Việt Nam nhưng không để lại dấu vết
nào cả. Còn tôi chưa bao giờ bước chân tới đó, vậy mà những hạt
giống của Làng Mai đã đi tới và mọc lên từ vùng đất đó. Đó là điều
làm tôi rất ngạc nhiên và rất vui. Có những vùng đất mình chưa bao
giờ bước tới nhưng những hạt giống đã bay tới. Chúng ta biết rằng
ở nước Pháp có một loại cây cỏ nhỏ gọi là bồ công anh (pissenlit,
tiếng Anh là dandelion). Khi hoa chín rồi thì trở thành màu trắng
và mỗi hạt có những cái cánh, bay đi rất xa. Gió có thể đưa những
hạt hoa bồ công anh này bay xa hàng chục cây số. Những hạt giống
mà tăng thân Làng Mai gieo cũng đi xa lắm. Nó đi vào trong nhà tù,
nó đi vào các tu viện kín của người công giáo.
Hôm chúng tôi kết thúc
khóa tu ở Phổ Đà Sơn, trú xứ của bồ tát Quan Thế Âm ở Trung Quốc,
thầy trò đang chuẩn bị hành lý để đi ra bến tàu thì có một thiếu
nữ chạy vào. Thiếu nữ Trung Hoa đó từ Thượng Hải tới. Cô ta đã được
đọc một cuốn sách của tôi bằng tiếng Hoa, không phải là cuốn Đường
Xưa Mây Trắng . Khi tới Phổ Đà Sơn nghe nói có thầy Nhất Hạnh đang
giảng dạy ở chùa Phổ Tế, cô ta rất ngạc nhiên. Cố nhiên là cô đã
được đọc rất nhiều sách Phật rồi, nhưng khi được đọc tới cuốn sách
ấy thì cảm thấy rằng mình tìm ra được con đường, tìm ra được lý
tưởng của mình. Đang đi trên cầu thang từ nhà bước xuống sân thì
tôi thấy cô ta bước tới và lạy xuống. Sư cô Chân Không đã hướng
dẫn cô ta đến. Cô ta vừa lạy vừa khóc, tại vì không ngờ lại được
gặp tác giả cuốn sách mình hâm mộ ngay trên đất nước Trung Quốc
của cô ta. Điều này chứng tỏ rằng những hạt giống mà tăng thân gieo
trồng đi rất xa, xa lắm và mình không thể tưởng tượng được. Nó đi
xa trong không gian và nó sẽ đi xa trong thời gian. Vì vậy nên mình
không thể biết Làng Mai nằm ở đâu. Không phải tới Meyrac hay Loubès-Bernac
hay Dieulivol thì thấy được Làng Mai đâu.
Còn về dòng Tiếp Hiện:
ngày xưa hồi sư cô Chân Không và chị Nhất Chi Mai thọ giới thì chỉ
có sáu người trong chúng chủ trì thôi. Bây giờ thì dòng Tiếp Hiện
đã lên tới khoảng 700 người và hiện có mặt khắp nơi trên thế giới.
Fleur de Cactus
Hôm nay là ngày 13 tháng
12 năm 2001, chúng ta đang ở tại Xóm Hạ, trong khóa tu mùa đông.
Bây giờ là 11 giờ sáng. Chúng ta nói tiếp bài pháp thoại hồi sáng
bằng tiếng Việt.
Hồi sáng tôi có nói tới
những Lá Thư Làng Mai số 1, số 2 và số 3 mà mình sẽ phóng lớn ra
để cho mọi người cùng được đọc nhân dịp Tết năm nay. Nhân tiện,
tôi xin nhắc quý vị là có một tác phẩm khác tôi viết trong năm thứ
hai của Làng Mai là Tý . Tý là tên một em bé trai khoảng 10 tuổi
tên thật là Hải Triều Âm, là dân làng từ năm đầu. Nó là con của
anh Lê Nguyên Thiều, là một trong những người cốt cán của Làng Mai
trong năm đầu và năm thứ hai. Anh Lê Nguyên Thiều cũng đã là học
trò của tôi ngày xưa ở Việt Nam và đã từng làm tổng thư ký của trường
Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội. Anh đã vượt biên qua và sau đó được
mình mời về để xây dựng Làng. Hồi anh Thiều đưa gia đình về thì
anh chị có ba đứa con. Đứa con đầu là Tý, em trai Tý là Miêu - nó
sanh năm con mèo - và tên thật của nó là Thiều Quang, đứa con thứ
ba mới sanh được có mấy ngày thì tới Làng, nó tên là Chó Con, tên
chữ là Nhật Tâm. Nhật Tâm tức là trái tim mặt trời. Anh Thiều đã
đọc được cuốn Trái Tim Mặt Trời trong trại tỵ nạn và đặt tên con
là Nhật Tâm. Nhật là mặt trời, Tâm là trái tim . Ngày mà gia đình
này về tới Làng Hồng là giữa mùa đông, cháu bị bít bùng trong một
cái giỏ suốt trên xe lửa. Rồi vì là mùa đông giá buốt nên cháu ở
luôn mấy tháng trong phòng. Hôm đó trời hửng nắng, mẹ cháu mới đưa
cháu ra ngoài và đó là lần đầu tiên nó được thấy bầu trời. Lần đầu
thấy bầu trời xanh rộng lớn như vậy nó hơi hoảng, vì lâu nay nó
chỉ thấy những cái nho nhỏ thôi. Cái phòng là cái lớn nhất rồi.
Bây giờ thấy một khoảng không gian xanh rộng như vậy thì nó hoảng.
Nhưng chỉ trong vài giây sau đó nó lấy lại được sự bình thường và
cười lên được. Tôi được chứng kiến giây phút đó. Tý là một em bé
10 tuổi. Tôi đã viết một cuốn sách lấy tên là Tý . Cuốn sách đó
có hai tập, tập đầu tên là Tý, Chiếc Lá Ổi Non và cuốn hai là Tý,
Cây Tre Triệu Đốt . Sách này ít người được đọc lắm, vì chỉ mới in
có mấy trăm bản thôi. Nếu quý vị đọc được bộ sách Tý này thì sẽ
biết rõ những gì đã xảy ra trong năm đầu và năm thứ hai của Làng
Mai. Mình phải tìm cách để tái bản cuốn này. Ngày xuất bản cuốn
đó là ngày 22 tháng 2 năm 1984, tức là trước khi mở cửa làng vào
mùa hè năm thứ hai. Ngày 27 tháng 9 năm 1984 thì tôi đã viết xong
Thi Kệ Nhật Dụng bằng tiếng Việt và vào ngày 5 tháng 11 năm 84 thì
viết xong Việt Nam Phật Giáo Sử Luận III . Ngày 23 tháng 5 năm 85,
tôi viết xong Kinh Pháp Ấn và ngày 2 tháng 9 năm 1985 thì chúng
ta đã có thiền đường Hoa Quỳnh, Fleur de Cactus , ở Paris. Ngày
3 tháng 8 năm 86 thì chúng ta có Kinh Quán Niệm Hơi Thở bằng tiếng
Việt và tháng chạp năm 86 thì tôi viết Đường Xưa Mây Trắng tới đoạn
Bụt nhập Niết Bàn. Tôi đặt bút xuống và thở. Rồi sau đó tôi yêu
cầu độc giả đọc tới đó cũng đặt sách xuống và thở.
|